Pháp thoại theo chủ đề

 

Nụ cười vô úy

Bây giờ và ở đây

Một nhóm người Đại Hàn đến thăm tu viện Bích Nham trong vài giờ đồng hồ. Họ được hướng dẫn tổng quát, đi thiền hành với đại chúng và thực tập thiền buông thư. Sau đó, họ có một buổi vấn đáp với quý sư cô, trong đó có tôi.

Trước khi rời phòng để đến tham dự sinh hoạt này, tôi đã bị tiêu chảy rất nặng. Trong quá khứ tôi đã phải uống thuốc trụ sinh cả ba tháng để trị bệnh Lyme và đã một năm trôi qua nhưng tôi vẫn còn bị tiêu chảy mỗi ngày, khiến cho phần hậu môn bị rát và đau đớn. Tôi phải ngồi yên trên bồn cầu thật lâu để thở và buông thư toàn thân. “Cảm ơn em chịu đựng nỗi đau này”, tôi thì thầm với hình hài của mình. Lòng biết ơn giúp tôi chịu đựng cơn đau mà không cảm thấy buồn phiền hay sợ hãi.

Trên đường đi đến thiền đường Đại Đồng, tôi đi mỗi bước với mỗi hơi thở vì sự co thắt và cơn đau vẫn còn. Đi trong chánh niệm, tôi để ý thấy nắng chiều rất nhẹ; những bông hoa vàng, tím trang điểm hai bên đường; một phụ nữ hối hả đi trước tôi. Thật là một ngày tuyệt đẹp!

Tôi đến thiền đường và thầm đọc câu kệ ở ngưỡng cửa trước khi bước vào:

Vào thiền đường thấy chân tâm,

Một ngồi xuống dứt trầm luân.

Mọi người đang ngồi yên trong hai vòng tròn lớn. Tôi đi thật chậm đến chiếc bồ đoàn trống dành cho tôi ngay kế bên chuông gia trì. Tôi đứng yên sau bồ đoàn, xá và đọc câu kệ:

Ngồi đây ngồi cội Bồ đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.

Ngồi xuống, lưng thẳng, tôi lập tức điều thân với hơi thở chánh niệm để toàn thân được thư giãn. Ánh mắt tôi nhìn xuống và nụ cười nhẹ nở trên môi.

Ngoài tôi, còn có ba sư cô khác. Quý sư cô đã bắt đầu buổi sinh hoạt, nên tôi ngồi im lặng để không làm động năng lượng của đại chúng vì sự đến trễ của mình. Sau vài câu hỏi, một ông lớn tuổi giơ tay xin phép hỏi tôi một câu. Ông ấy nói bằng tiếng Anh: “Thưa sư cô, con cảm nhận được rất nhiều bình an trong năng lượng của sư cô, và sư cô xinh đẹp  như tài tử. Xin cho con hỏi sư cô đã có sự chứng đắc nào? Nếu sư cô đã đạt được thì xin chia sẻ với chúng con”.

Có những tiếng cười khúc khích trong khi câu hỏi của ông được dịch ra tiếng Đại Hàn. Tôi mỉm cười và chỉ có thể nghĩ đến cơn tiêu chảy vừa mới xảy ra. Chắc chắn mặt tôi tái xanh, làm sao tôi có thể tin rằng tôi xinh đẹp trong giây phút này!

Tôi thong thả trả lời: “Cả đời tôi không hề cảm thấy mình thuộc về bất cứ nơi nào. Ngay cả trong gia đình với mẹ và với bà con họ hàng của tôi. Ngay cả tại quê hương Việt Nam của tôi. Tôi có nhiều mặc cảm tự ti vì tôi là con lai Mỹ nên nhìn khác biệt với bọn trẻ, vì tôi mồ côi, vì tôi xuất thân từ một gia đình nghèo. Ở Hoa Kỳ, tôi cũng khác biệt như một loài hoa kiêu sa trong cái nhìn của người Mỹ. Tuy tôi rất cố gắng hội nhập vào văn hóa và nếp sống của người Mỹ, tôi vẫn biết rằng tôi sẽ không bao giờ có thể được nhìn nhận là người Mỹ hoàn toàn vì màu da và nét mặt Á châu của tôi tức khắc phản bội tôi.

Sau khi xuất gia một thời gian, tôi phát hiện rằng tôi thường có những giấc mơ được lặp lại, tuy bối cảnh thay đổi nhưng vẫn cùng một chủ đề. Trong các giấc mơ, tôi bỗng nhận ra mình đang bị lạc rất xa nhà và cần phải tìm cách trở về nhà. Mỗi lần thức dậy, tim tôi đập nhanh và cả người co cứng hoặc run rẩy. Những giấc mơ này tiếp tục xảy ra sau khi tôi xuất gia nhưng dần dần, nhận thức và phản ứng của tôi bắt đầu thay đổi. Khi phát hiện là mình đang bị lạc, tôi biết tự nói với mình: “Không sao đâu! Nếu cứ đi thẳng thì mình sẽ về đến nhà”. Sự định hướng giúp tôi cảm thấy tự tin và nhẹ nhõm hơn.

Trong một giấc mơ khác, tôi thấy mình đang cố gắng bắt kịp một nhóm quý thầy, quý sư cô đang trên đường đến một nơi để thọ trai. Khung cảnh chung quanh đông nghịt người và thật huyên náo khiến tôi bị mất dấu tích của quý thầy, quý sư cô. Tôi cảm thấy hoảng hốt, lo sợ bị bỏ rơi đằng sau. Rồi bỗng dưng tôi thầm nhủ: “Mình không thật sự cần phải đến nơi đó hay phải dự bữa ăn đó”. Ngay lập tức toàn thân tôi nhẹ tênh, mọi người đều biến mất, mọi tiếng ồn ào đều im bặt, chung quanh tôi và trong tôi tuyệt đối tĩnh lặng, an bình!

Trong giấc mơ gần đây nhất, tôi lại thấy mình bị lạc trong một khu siêu thị khổng lồ, nhưng tôi ý thức rằng mẹ đang đứng đợi tôi đâu đó, chỉ cần tìm ra cổng chính là tôi gặp mẹ .

U buồn và sợ hãi của đứa bé trong tôi biểu hiện qua những giấc mơ cứ lặp lại này nhiều năm qua dù tôi đã lớn lên và trưởng thành. Khi chưa biết tu tập, tôi đã không biết cách để nuôi dưỡng chánh niệm và sự trị liệu trong cuộc sống hàng ngày. Vậy nên khi sự sợ hãi và những vết thương biểu hiện trong giấc mơ, đứa bé trong tôi lại thêm một lần đi qua cơn khủng hoảng. Thức dậy, tâm trí tôi tràn ngập lo âu và tuyệt vọng.

Qua nhiều năm tu tập, năng lượng chánh niệm giờ đây có thể biểu hiện trong giấc ngủ của tôi, soi sáng để tôi không tư duy và hành xử mù quáng như một nạn nhân nữa. Ánh sáng chánh niệm giúp tôi có khả năng phân tích tình huống một cách rõ ràng, giúp tôi thay đổi sự phản ứng của mình để có thể tìm hướng đi ra. Đây là thành quả của sự tu học, được gọi là chuyển y, sự chuyển hóa tận gốc trong tâm lý học Phật giáo.

Tôi đã nhận ra rằng nhà của tôi không phải là một nơi bằng gạch, hay xi măng, hay có mái ngói trên đầu. Nhà của tôi là giây phút hiện tại, là nơi này và ở đây. Bất cứ nơi  nào tôi đến hay đi, tôi đều có thể tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình trong hơi thở và trong bước chân. Tôi cũng thực tập về nhà với đất Mẹ. Điều này giúp tôi an trú sâu sắc hơn trong giây phút hiện tại và chữa lành những ám ảnh bị bỏ rơi, bị lạc lõng, hoang mang, chao đảo từ thời ấu thơ. Sự thực tập miên mật trong khi thức đã và đang giúp tôi chuyển hóa những tri giác và tập khí ngay cả trong giấc mơ. Vậy nên nếu tôi có chứng ngộ được điều gì thì đó là quê hương luôn có trong tôi, bây giờ và nơi đây”.

Nụ cười vô úy

Một người đàn ông Đại Hàn khác phát biểu: “Tôi thấy quý sư cô thường hay mỉm cười và xin phép được hỏi về ý nghĩa của nụ cười này”.

Nhiều người cũng đã từng hỏi tôi: “Có phải sư cô lúc nào cũng hạnh phúc nên cười tươi như vậy?”. Tôi trả lời rằng có những lúc tôi hạnh phúc, nhưng phần nhiều tôi mỉm cười với những suy nghĩ không ngừng khởi lên trong tâm. Tư duy của tôi có thể tích cực và vui vẻ, cũng có thể vớ vẩn, hỗn loạn, tiêu cực, xấu ác. Thay vì ghét bỏ chính mình hay chối từ sự khiếm nhã đó, tôi học mỉm cười với nó, một nụ cười vô úy – không sợ hãi.

 

 

Trên con đường tâm linh, ta học không sợ hãi bất cứ điều gì, nhất là khi nó phát sinh từ trong tự thân. Có thể ta ao ước mình được thánh thiện và toàn mỹ nhưng ta phải thực tâm công nhận ta không thánh thiện cũng không toàn mỹ. Bất cứ điều gì khởi lên từ ta – thánh thiện hay không thánh thiện, toàn mỹ hay không toàn mỹ – đều là một phần của ta, một phần của tâm thức tự muôn đời. Ta chỉ cần mỉm cười với ý nghĩ ganh tị, giận dữ, buồn bã, thèm khát, sợ hãi thì chúng sẽ lắng xuống, mất dần đi sức hút và quyền lực của chúng.

Khi các vị thiền sư nhập diệt, các ngài khác với người thường như thế nào? Họ có thể mỉm cười an nhiên để xả bỏ hình hài! Là những người có tu có học, ta cũng có thể thực tập mỉm cười với tất cả những gì đến đi trong cuộc sống hàng ngày để trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời, ta có thể buông xả hình hài mà không nuối tiếc hay hoảng sợ. Ra đi với nụ cười hàm tiếu và tiếp nối trong những hình thái khác. Vấn đề chính là ta có đủ thời gian và tình thương cho tự thân để luyện tập nụ cười vô úy này hay không?

Có những người nhìn khá căng thẳng trong khi ngồi thiền, trán nhăn thành nhiều lằn ngang, môi mím lại hoặc trễ xuống. Sư Ông Làng Mai có câu thư pháp Thở và Cười. Hãy ý thức các cơ mặt và thư giãn với một nụ cười nhẹ và bền để toàn thân cũng như các cảm thọ, tri giác, tư duy cũng được lắng dịu trong các buổi ngồi thiền.

Thông thường chúng ta cười khi có niềm vui hoặc khi cần phải cười xã giao, cười gượng gạo. Đó không hẳn là chức năng duy nhất của nụ cười. Ta có thể học cười trong khi nước mắt tuôn trào. Ta có thể học cười trong khi con sóng giận trồi lên hoặc một ý nghĩ bất thiện sôi sục bên trong. Chỉ cần ta nhớ để mỉm cười thì nó sẽ mất đà và lặn xuống chiều sâu tâm thức. Nụ cười cũng giúp ta không trở nên quá nghiêm trọng, không bị đắm chìm trong những tri giác và cảm thọ mà có sự sáng suốt, quảng đại để có thể thấy và chăm sóc tình huống một cách hữu hiệu, công bình. Nụ cười trượng phu đem đến tự do và hạnh phúc chân thật.

 

Chân Đẳng Nghiêm

 

Thiền đóng cửa và mở cửa

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Quán Niệm Về Các Tư Thế Của Thân

Theo lời Bụt dạy trong kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, sau khi quán chiếu về tứ đại trong cơ thể, hành giả quán về các tư thế của thân. Có tất cả bốn tư thế, gọi là tứ uy nghi: đi, đứng, nằm và ngồi. Ta ý thức rõ ràng các tư thế căn bản của thân ta. Khi đi, biết mình đang đi; khi đứng, biết mình đang đứng; khi ngồi, biết mình đang ngồi; khi nằm, biết mình đang nằm. Ta chiếu dụng ánh sáng chánh niệm vào các tư thế của thân thể ấy. Các thầy, các sư cô được tập luyện rất kỹ về bốn tư thế hoạt động của thân, gọi là tứ uy nghi. Tuy nhiên đừng nghĩ rằng Bụt chỉ dạy kinh này riêng cho người xuất sĩ, người cư sĩ cũng có thể thực tập. Phép quán này thuộc về lĩnh vực quán thân trong thân. Chúng ta bắt đầu thực tập ý thức về hơi thở, nhận diện tình trạng của hơi thở và làm lắng dịu hơi thở. Kế đó ta thực tập ý thức về thân, ôm ấp, chăm sóc thân, làm cho thân thể lắng dịu, chú ý và mỉm cười với từng bộ phận của thân. Ta quán chiếu những yếu tố tạo nên thân thể và mỉm cười với từng yếu tố ấy trong thân thể ta. Rồi ta thực tập quán niệm về các tư thế của thân trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc. Chúng ta sẽ cùng thực tập với nhau trong suốt khóa tu này. Đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc cho thật vững chãi và thảnh thơi.

 

 

Quán niệm về thân đưa tới sự quán niệm về các hoạt động của thân. Khi khom xuống, ý thức rõ ràng là mình đang khom xuống. ”Thở vào, biết mình đang khom xuống để nhặt cây bút. Thở ra, biết mình đang nhặt cây bút.” Ta ý thức từng động tác, từng cử chỉ của thân thể ta. Ví dụ, mỗi buổi sáng khi đun nước để chế cà phê hoặc pha trà, ta có thể sử dụng thời gian chế cà phê hoặc pha trà để thực tập chánh niệm. Ta ý thức từng cử chỉ, từng động tác của ta trong lúc chế cà phê hoặc pha trà. Ta mỉm cười với từng động tác, cử chỉ ấy của thân thể, dù đó là một động tác rất nhỏ. Thực tập như thế giúp ta thiết lập được vững mạnh năng lượng chánh niệm và nó đem lại cho ta rất nhiều niềm vui. Ta hạnh phúc là vì trong đời sống hàng ngày ta biết cách thắp lên ánh sáng chánh niệm và chiếu dụng vào mỗi cử chỉ và hoạt động của thân thể. Ta không còn sống trong sự quên lãng, không sống như một người mộng du nữa. Ta làm tất cả mọi cái trong ánh sáng chánh niệm. Ta hoàn toàn làm chủ các hoạt động của thân thể ta. Chánh niệm là sự hiện diện của Bụt, là năng lượng của Chúa Ki Tô, là chất thánh trong ta. Chánh niệm không phải là một cái gì trừu tượng. Hạt giống chánh niệm đã sẵn có trong tâm thức ta. Tất cả chúng ta đều có khả năng tiếp xúc với hạt giống chánh niệm và làm cho nó biểu hiện thường xuyên trong đời sống hàng ngày.

Thiền Đóng Cửa Và Mở Cửa

Thời còn làm sa di, một hôm Thầy của tôi dạy tôi làm giùm Thầy một việc. Tôi rất thương kính Thầy và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Thầy giao phó, làm bất cứ điều gì có thể để đem lại niềm vui cho Thầy. Sau khi tiếp nhận xong lời dạy, tôi liền lui ra để đi làm. Nhưng do hạnh phúc quá, tôi đã mở cửa và đóng cửa rất hấp tấp, không có chánh niệm. Thấy vậy, Thầy tôi gọi tôi trở lại và nói rất nhỏ nhẹ rằng: ”Này con, con hãy đi ra trở lại. Lần này con nhớ mở cửa và đóng cửa cho thật từ tốn, nhẹ nhàng, có chánh niệm nghe con.” Tôi chắp tay xá Thầy, rồi lui ra. Lần này tôi biết tôi phải làm gì. Tôi đã đi từng bước thật chánh niệm tới cửa, đặt bàn tay lên núm cửa, rồi nhẹ nhàng mở cửa, bước ra ngoài và đóng cửa thật từ tốn; tất cả mọi động tác, mọi cử chỉ đều được làm trong chánh niệm. Từ đó về sau Thầy tôi không cần phải nhắc nhở tôi lần thứ hai. Tôi không bao giờ quên bài học quý giá ấy.

Vào năm 1966, tôi viếng thăm cha Thomas Merton tại thành phố Kentucky, một vị tu sĩ thuộc dòng Luyện tâm (Trappist – dòng tu kín- giáo phái sống rất khắc khổ và phát nguyện không nói, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài). Cuộc gặp gỡ của hai chúng tôi rất lý thú. Sau này cha Thomas có nói với các môn đệ của ngài rằng: ”Quý vị chỉ cần quán sát cách thầy Nhất Hạnh mở cửa, đóng cửa thì đủ biết thầy là một vị chân tu.” Năm trước có một cô thiền sinh người Đức đến tu học tại tu viện Làng Mai. Cô ấy đã ở lại tu tập khoảng một tháng. Ngày rời Tu Viện, cô chia sẻ với chúng tôi rằng sở dĩ cô đến Làng Mai là vì cô có nghe cuốn băng thuyết giảng của cha Thomas Merton; trong bài thuyết giảng đó cha có nói về phong cách mở cửa, đóng cửa của thầy Nhất Hạnh. Và vì tâm hiếu kỳ, tâm tò mò muốn thấy tận mắt cách thầy Nhất Hạnh mở cửa và đóng cửa như thế nào mà cha Thomas khen ngợi đến thế. Trong thời gian một tháng ở Làng Mai, cô cảm thấy rất thoải mái, hạnh phúc và mục đích chính của chuyến viếng thăm Tu Viện Làng Mai là để mắt quán sát cách thầy trò chúng tôi mở cửa và đóng cửa.

 

 

Đóng cửa và mở cửa là một phần của sự thực tập chánh niệm để làm cho thân tâm lắng dịu và bình an trở lại. Xin quý vị thực tập mở cửa và đóng cửa trong chánh niệm để nhiều người, trong đó có Thầy tôi nữa được thừa hưởng niềm an lạc và hạnh phúc tỏa ra nơi hành động mở cửa và đóng cửa của quý vị. Thầy tôi vẫn còn có mặt đó với chúng ta trong giây phút này. Quý vị đã được học cách chăm sóc, tiếp xúc với cơ thể bằng hơi thở chánh niệm. Đây là sự thực tập rất quan trọng. Quý vị không cần phải trở thành một vị giáo thọ mới có thể tổ chức được những ngày tu chánh niệm. Quý vị có thể dành một ngày cuối tuần để trở về với chính mình, thực tập chăm sóc cơ thể và sống hài hòa với cơ thể mình. Nếu muốn, quý vị có thể mời thêm một số bạn bè đến tham dự ngày tu. Một ngày hoặc vài giờ thực tập chánh niệm như thế là cơ hội để thân tâm được nghỉ ngơi, phục hồi lại sự tươi mát và thư thái. Bốn phép thở đầu của kinh Quán Niệm Hơi Thở nếu được thực tập đúng cách, ta thấy tình thương của Bụt dành cho ta rất lớn. Bụt chỉ dạy cho ta những phương pháp tu tập thật thực tiễn, khoa học và hữu hiệu.

Y báo và chánh báo

Y báo theo chánh báo

Trong đạo Bụt chúng ta có nói tới hai thứ quả báo. Quả báo tiếng Anh là retribution. Một là chánh báo và một là y báo. Chánh báo tức là thân và tâm của chúng ta. Y báo là hoàn cảnh của chúng ta. Ví dụ trồng hoa hướng dương thì ta sẽ gặt hoa hướng dương. Gặt hoa hướng dương tức là báo. Trong quá khứ ta đã sống như thế nào, đã có những hành động nào về thân, miệng và ý, cho nên hôm nay ta có cái thân thể như thế này và cái tâm thức như thế này. Đó gọi là chánh báo. Hình hài, thân thể, sức khỏe và tâm tư ta là chánh báo của ta. Và cái hoàn cảnh bao quanh chánh báo đó gọi là y báo. Y là chỗ mình nương tựa vào. Hoàn cảnh tiếng Anh gọi là environment. Ta đừng tưởng hoàn cảnh nằm ở bên ngoài. Hoàn cảnh cũng do mình tạo ra. Tại vì cả hai đều là “báo” hết cho nên chánh báo cũng là mình mà y báo cũng là mình.

Làng Mai này là cái mà quý vị đã tạo ra trong quá khứ, vì vậy cho nên hôm nay nó ôm lấy quý vị, nó làm thành cái môi trường trong đó quý vị đang sống. Nếu trong quá khứ ta đã không gieo trồng những hạt giống Làng Mai thì ngày hôm nay ta đã không ngồi ở đây và không được bao bọc bởi hoàn cảnh này. Cho nên hoàn cảnh này là y báo của ta. Do hành động trong quá khứ, ta đã tạo ra chánh báo và y báo của ta, và cả hai đều là ta cả. Ta có bổn phận phải nâng cao chất lượng của cả hai cái. Ta nâng cao chất lượng của thân thể, làm cho thân thể mạnh khỏe và vững chãi hơn. Ta nâng cao chất lượng của tâm thức để cho tâm ta nhẹ nhàng, vững chãi và an lạc hơn. Và ta nâng cao chất lượng của hoàn cảnh để cho sự tu tập có nhiều thuận duyên hơn.

 

 

Giữa chánh báo và y báo có sự liên hệ mật thiết, ta không thể tách rời hai cái ra được. Cái gọi là ngã có dính líu tới cái mà ta tưởng là phi ngã. Ngã và phi ngã thực ra là một. Chúng ta không thể chia ra giới hạn giữa ta và không ta, giữa chánh báo và y báo, giữa con người ta và hoàn cảnh. Ví dụ ở đây có một người đang chia sẻ cùng một y báo với ta. Ta trở nên một thành phần y báo của người đó. Thành ra, ta vừa là chánh báo của ta mà vừa là y báo của người sư anh của ta. Vì vậy phẩm chất tu học của ta có liên hệ tới phẩm chất tu học của người sư anh của ta. Ta thấy không còn ranh giới giữa chánh báo và y báo. Ta là chánh báo của ta, nhưng đồng thời cũng là y báo cho người sư em của ta. Vì vậy cho nên xây dựng cho ta hay xây dựng cho người sư em của ta cũng là xây dựng cho cái y báo của cả hai.

Có thể trong một giây phút nào đó, ta có cảm tưởng là y báo này không thích hợp cho ta, ta muốn đi tìm một hoàn cảnh khác, thì ta nên nhớ rằng y báo luôn luôn đi theo chánh báo như bóng theo hình. Chúng ta đi đâu thì cái loại y báo đó cũng đi theo. Đi đâu ta cũng sẽ gặp những điều kiện tương tự. Tốt hơn hết là chúng ta nên chuyển hóa thân tâm của ta để tìm cách chuyển hóa cái y báo của ta ngay bây giờ và ở đây và chấm dứt hành động chạy quanh.

Thiết kế y báo

Trong thời đại chúng ta, chúng ta nói rất nhiều tới hoàn cảnh, tới sinh môi. Chúng ta biết rằng sinh môi và hoàn cảnh có ảnh hưởng trực tiếp tới hạnh phúc của thân tâm, tức là của chánh báo. Người kiến trúc sư vẽ ra một kiểu nhà phải có những kiến thức về khoa học, phải biết về những nhu yếu của cơ thể, của tâm hồn con người để có thể tạo ra môt ngôi nhà trong đó con người cảm thấy thoải mái. Có khi chúng ta bước vào một căn nhà mà thấy ngộp thở, chúng ta thấy những khối bê tông rất nặng, chúng ta cảm thấy tù túng và chúng ta nghĩ rằng nếu phải sống trong ngôi nhà đó, chúng ta sẽ không có hạnh phúc.

Người kiến trúc sư phải thấu rõ nhu yếu của sinh lý, tâm lý, nhu yếu của kinh kế và xã hội của con người để có thể làm ra một ngôi nhà trong đó người cư trú cảm thấy thoải mái và an lạc. Kiến trúc sư phải là một người chuyên môn thiết kế y báo. Chúng ta biết rằng mỗi thành phố lớn có một công viên, ít nhất phải có một công viên, như New York City có Central Park. Nếu là một nhà thiết kế đô thị, chắc chắn ta phải để một công viên trong thành phố, tại vì nếu không có công viên, dân trong thành phố đó sẽ chết bí, không những đứng về phương diện cơ thể mà còn đứng về phương diện tâm hồn nữa. Có những lúc không đi vào công viên được, chúng ta thấy ngộp thở muốn chết. Cho nên những nhà thiết kế đô thị cũng phải biết về khoa học sinh lý, khoa học tâm lý, về những nhu yếu tinh thần và thể chất của con người. Những nhà chuyên môn thiết kế những trục giao thông cũng vậy. Thiết kế thế nào để sự liên lạc giữa các đô thị và vùng quê được dễ dàng, có những con đường có thể đi từ đô thị về miền quê một cách mau chóng. Chúng ta biết rằng cứ mỗi cuối tuần những con đường ở thành phố Paris đi ra ngoại ô đều bị ứ đọng, tại vì nhu yếu thoát ra khỏi thành phố của thị dân rất lớn.

Chúng ta biết rằng sự an vui, hạnh phúc của chánh báo tùy thuộc rất nhiều vào lề lối chúng ta tổ chức y báo của chúng ta. Những nhà kiến trúc, những nhà chuyên môn thiết kế đô thị và những người trông coi sắp đặt lãnh thổ phải có kiến thức vững chãi về những nhu yếu đích thực của con người. Con người có những nhu yếu gọi là nhu yếu đích thực. Có những nhu yếu không phải là nhu yếu đích thực mà chỉ là những thèm khát hay ham muốn. Chúng ta ai cũng có nhu yếu đích thực, chúng ta phải khám phá ra đâu là nhu yếu đích thực của chúng ta và khi chúng ta thực hiện được những nhu yếu đích thực đó, tự nhiên chúng ta có sức khỏe, có sự an vui về cơ thể cũng như về tinh thần. Nhưng trong đời sống hiện đại, ít người trong chúng ta thấy được những nhu yếu đích thực trong chúng ta tại vì chúng ta chỉ sống bởi sự ham muốn. Chúng ta ham muốn cái này, chúng ta ham muốn cái kia, mà những đối tượng của sự ham muốn đó không phải là nhu yếu đích thực.

 

 

Một kiến trúc sư mới có thể nghĩ ra chuyện để làm thỏa mãn những ham muốn, tức là những nhu yếu không đích thực của chúng ta. Ví dụ khi chủ nhà về, ông ta chỉ cần nói với cánh cửa rằng: “Ta đây, ta là chủ nhà này đây” thì cánh cửa tự động mở ra, còn nếu một người khác nói thì vì giọng nói đó không phải là giọng nói của ông chủ nên cánh cửa sẽ không bao giờ mở. Khỏi cần lấy chìa khóa ra, khỏi cần lắp vô và khỏi cần mở. Bây giờ nền kiến trúc mới đang đi về hướng đó. Chúng ta không cần giặt áo quần nữa vì đã có máy giặt. Cà-phê, chúng ta cũng không cần làm nữa, chỉ cần thiết kế cho đúng giờ thì có cà-phê uống. Đó là nhu yếu của thời đại.

Ngày xưa có những người ra bờ sông để giặt lụa như nàng Tây Thi. Thiếu nữ giặt áo ở bờ sông là một hình ảnh rất đẹp. Các cô có thể đùa giỡn với nhau, khoát nước vào nhau…, những cái đó bây giờ ta không thấy nữa, vì nhà nào bây giờ cũng có máy giặt và máy sấy. Chúng ta đi tìm cái gọi là tiện nghi nhưng nhiều khi chúng ta đi quá xa. Có những cậu bé ăn thịt bò mà chưa bao giờ thấy con bò. Có những cô bé ăn cá mà chưa bao giờ thấy cá, nghĩ rằng cá là một cái gì hình vuông vì con cá bán ở siêu thị hình vuông. Và sự kiện những chai sữa tìm tới nhà mình mỗi sáng không còn là một cái gì làm cho cậu bé ngạc nhiên nữa. Cậu nghĩ rằng chuyện sữa xuất hiện mỗi bữa sáng trước cửa nhà mình là một chuyện dĩ nhiên trên đời. Trong khi đó thì những nhu yếu đích thực của chúng ta thì chúng ta không có để mà thỏa mãn.

Y báo ở đây cũng vậy. Y báo đẹp hay không đẹp, thuận lợi hay không thuận lợi, thích hợp hay không thích hợp cho ta, một phần lớn là do cách thức ta tiếp nhận. Nếu có tri giác sâu sắc và cởi mở hơn, ta sẽ khám phá ra rằng trong môi trường đó ta có thể thỏa mãn những nhu yếu đích thực của thân tâm ta, và tự nhiên ta cảm thấy hạnh phúc và an toàn trong cái hoàn cảnh đó, và ta quyết định cùng nhau xây dựng cho cái y báo đó càng ngày càng đẹp để nuôi dưỡng ta, và tư tưởng rời bỏ chốn này đi tìm chốn khác sẽ không bao giờ nẩy sinh nữa.

 

Gọi niềm tin thức dậy

 

Tôi gặp Thầy lần đầu tiên khi đến xóm Mới vào năm 2007 nhân dịp Giáng sinh. Sau này, mỗi khi có thể đến Làng, tôi đều chọn thời điểm ấy.

Những nét văn hóa và ngôn ngữ giao thoa, hòa quyện nhau, hân hoan tạo nên một bảng màu lung linh, không ngừng đổi mới. Đó cũng là Thầy trong công cuộc dựng xây hòa bình cho thế giới.

Trong tôi, tăng thân Làng Mai chính là một biểu hiện của Thầy. Đó là tăng thân yêu quý mà Thầy đã nhẫn nại ấp ủ trong trái tim, để rồi tổ chức, thương yêu và nuôi dưỡng bằng nghệ thuật sống của mình.

Niềm vui lớn của tôi là được đi thiền hành, được ngồi thiền, được ăn cơm, được thở, được quán chiếu và hoàn toàn thả mình trong sự hiện diện của Thầy. Những giây phút im lặng thân tình, chan chứa sự thấu cảm, được ôm ấp trọn vẹn bởi con người Thầy. Khi ấy, mọi thứ trở nên trong trẻo đến mức mọi suy tư đều biến mất, chỉ còn lại sự sáng suốt và bình an nội tâm.

Tình thương thuần tịnh của Thầy bao trùm và đón nhận tất cả như chúng là, không một mảy may phân biệt.

Đặc biệt, tôi nhớ những giây phút trọn vẹn, thực sự an trú, lòng đầy mãn nguyện không vì một đối tượng nào, khi mọi người ngồi trên cỏ thành những vòng tròn xung quanh Thầy, giống như một mạn đà la. Sự vui thích được ở bên cạnh Thầy thật không thể diễn tả được! Tựa như ta đang được bao bọc trong một trường năng lượng đầy ý thức, trong đó vườn hoa nhân loại đang bừng nở niềm tin và niềm vui sống tròn đầy.

 

 
 

Tôi thấy Thầy trong những nụ cười rạng rỡ, trong sự tử tế, sẵn lòng và sự nhẹ nhàng của quý sư cô người Việt khi đón tiếp chúng tôi.

Tôi cũng thấy Thầy trong sự hòa hợp, trong bầu không khí nhẹ nhàng, êm dịu. Sự yên lặng ngọt ngào, dễ cảm nhận này thu phục mọi trái tim.

Tôi lại thấy Thầy qua những cử chỉ thanh thoát trong bài múa hòa điệu của những bóng áo nâu, đang khởi hoạt và tương tác với nhau một cách thật tinh tế và đầy sự kính trọng. Đó chính là Thầy trong hành động.

Tiếng chim vút cao, tiếng tre xào xạc vui đùa trong gió cùng tiếng chuông vang lên trong yên lặng, gõ nhịp cho một thời khắc vượt ra ngoài không gian và thời gian. Đó là tiếng Thầy đang thì thầm bên tai chúng ta: “Con đã về, con đã tới!”.

Trong một ngày quán niệm ở xóm Hạ, Thầy lại đến đánh thức trái tim tôi, khi tôi thấy lòng mình tràn ngập niềm biết ơn, giống như một cơn rùng mình tuyệt diệu, một con sóng dịu dàng vỗ về khắp châu thân không thể nào chống cự lại.

Tôi biết ơn đã được lắng nghe và thấy được hình hài tiếp nối của Thầy, một cách sống động và đầy cảm hứng qua bài chia sẻ của thầy Pháp Hữu, vị trụ trì trẻ tuổi.

Tôi biết ơn được thưởng thức đậu hũ do chính quý thầy, quý sư cô làm và các loại rau củ quả từ “nông trại hạnh phúc” trong bữa ăn quá đường nơi thiền đường rộng lớn; được tắm mình trong bầu không khí của tình huynh đệ mộc mạc, bình dị, trong năng lượng định tâm và buông thư.

Tôi biết ơn buổi pháp đàm của gia đình nói tiếng Pháp, nơi tôi cảm nhận được nguồn năng lượng tập thể, rung lên bởi lòng từ bi và sự lắng nghe sâu, đang hiến tặng một cơ hội quý giá để ta có thể dùng lời nói mà làm lắng dịu và vén lên tấm màn ảo tưởng về một cái ta riêng biệt.

Và sau cùng, tuệ giác của Thầy về tương tức và từ bi trong hành động là những cọc tiêu tỏa sáng, dẫn dắt tôi và mang tôi về lại với con đường tâm linh mỗi khi tâm trí tôi bị sự nghi ngờ và rối loạn xâm chiếm.

Những gì sống động và cụ thể nhất mà Thầy đã trao truyền cho tôi, chính là kiệt tác về cuộc đời Thầy.

Xin tạ ơn Thầy

Chân Trời Đức Hiền

 

 

Lễ xuất gia cây Hoa Mộc

Cây Hoa mộc xuất gia ngày 18.11.2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam, gồm 4 sư chú: Chân Trời Phương Ngoại, Chân Trời Biển Đức, Chân Trời Vắng Lặng, Chân Trời Thênh Thang và 14 sư cô: Chân Trăng Hương Thiền, Chân Trăng Yên Hòa, Chân Trăng Yên Thảo, Chân Trăng Biển Tuệ, Chân Trăng Khai Hội, Chân Trăng Yên Hiếu, Chân Trăng Yên Phương, Chân Trăng Yên Thuần, Chân Trăng Bảo Tích, Chân Trăng Phương Ân, Chân Trăng Yên Thư, Chân Trăng Thanh Khê, Chân Trăng Yên Thanh, Chân Trăng Yên Nhã.

Phật Đản 2021

“Giáo lý của Bụt dạy rất rõ rằng Bụt cũng là một con người như chúng ta. Nếu không có con người thì Bụt cũng không thể có được. Vì vậy để làm Bụt chúng ta cần làm một con người và để làm một con người chúng ta cần làm Bụt. Hai là một. Nếu Phật tánh không có trong ta thì ta không thể là một con người. Ai cũng có Phật tánh trong mình. Chúng ta có thể thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt và ăn uống như Bụt. Thực tập chánh niệm giúp ta thành Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta đi tìm Bụt cách đây hai ngàn sáu trăm năm thì chúng ta sẽ mất Ngài, còn nếu chúng ta thở và thắp sáng ý thức rằng chúng ta là Bụt, là sự tiếp nối của Bụt thì Bụt sẽ có mặt ngay trong chúng ta”.

(Sư Ông Làng Mai)

Kỷ niệm ngày Bụt đản sanh và để nuôi dưỡng ý thức sáng tỏ về sự tiếp nối của Bụt, tứ chúng Làng Mai đã có một buổi lễ Tắm Bụt trong không khí trang nghiêm và ấp áp tại chùa Từ Nghiêm-Xóm Mới.

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ, kính mời mọi người cùng thưởng thức:

Bảy bước mầu nhiệm

Trích trong sách “Bụt là hình hài, Bụt là tâm thức” của Sư Ông Làng Mai

Theo truyền thống đạo Bụt thì khi vừa mới sinh ra Bụt đã bước đi bảy bước. Bụt bắt đầu đi thiền hành khi mới lọt lòng mẹ. Số bảy là con số rất linh thiêng. Vì vậy chúng ta có thể hiểu bảy bước đó như là bảy yếu tố giác ngộ. Để kỷ niệm ngày Bụt đản sanh, cách hay nhất là chúng ta đi bảy bước, hoàn toàn an trú trong chánh niệm. Tôi luôn thấy mình may mắn và mầu nhiệm có mặt trên hành tinh này, bước đi như một con người tự do. Không cần phải làm gì cả. Chúng ta chỉ đi cho bình an trên hành tinh này. Phi hành gia Apollo đã chụp hình trái đất và gởi đến cho chúng ta, nhờ đó chúng ta thấy được trái đất rất xinh đẹp, là thành trì của sự sống. Trái đất là Tịnh Độ của chúng ta. Thật kỳ diệu!

Nếu chúng ta bay lên không trung, chúng ta sẽ thấy sự sống ở đó rất hiếm hoi. Khí hậu quá khắc nghiệt, khi thì quá nóng, khi thì quá lạnh làm cho sự sống không thể tồn tại. Trở về trái đất, chúng ta mới thấy được sự mầu nhiệm của sự sống. Chúng ta thấy được cây xanh, thấy được các loài thảo mộc và động vật. Chúng ta tiếp xúc được với mặt đất, với cỏ cây bằng đôi chân của ta, chúng ta ngắm nhìn những bông hoa, quan sát những chú sóc chuyền cành, lắng nghe tiếng chim hót, tiếng gió rủ rỉ qua các cành thông, hít thở và tiếp xúc với không khí trong lành. Nhiều người trong chúng ta cần phải xa nhà một tuần để khi trở về biết trân quý cõi Tịnh Độ của mình hơn. Chúng ta hay xem thường những gì mình đang có, cứ cho rằng đó là những điều hiển nhiên. Nếu có chánh niệm chúng ta sẽ ý thức rằng còn sống và có mặt trên trái đất này, bước được những bước chân trên hành tinh xinh đẹp là một phép lạ. Thiền sư Lâm Tế nói: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên không trung mà là đi trên mặt đất.” Tất cả chúng ta đều có thể đạt được phép lạ khi đi trên mặt đất. Chúng ta có thể bắt đầu bằng bảy bước. Nếu thành công, chúng ta có thể bước tiếp bước thứ tám, thứ chín. Với năng lượng chánh niệm, chân của ta trở thành chân Bụt. Thực tập hơi thở chánh niệm sẽ giúp ta chế tác năng lượng chánh niệm và với năng lượng chánh niệm đó, chúng ta ủy quyền cho đôi chân của ta để chân ta trở thành chân Bụt. Khi chúng ta đi bằng chân Bụt thì nơi ta đi là đất Bụt. Bụt ở đâu thì đất Bụt và cõi Tịnh Độ ở đó. Nước Chúa cũng luôn luôn có mặt ở đây, ngay bây giờ. Tịnh Độ của Bụt cũng vậy. Vấn đề là chúng ta có có mặt cho nước Chúa, có mặt cho cõi Tịnh Độ hay không? Có thể chúng ta quá bận rộn, không thể rong chơi trong cõi Tịnh Độ hay trong nước Chúa. Vì vậy mà Siddhartha muốn chứng minh rằng Ngài có thể bắt đầu đi trong cõi Tịnh Độ ngay khi vừa mới ra đời.

 

 

Quay về nương tựa Bụt, Pháp, Tăng và tiếp nhận năm giới là chúng ta được tái sinh trở lại trong gia đình tâm linh. Cũng giống như Siddhartha chúng ta có thể đi bảy bước thành công. Bước thức nhất, ta tiếp xúc với mặt đất, bước thứ hai ta thấy được trời xanh trên trái đất này v.v… Chúng ta chỉ cần bảy bước để giải thoát, giác ngộ. Chúng ta có thể giác ngộ trong mỗi giây phút của cuộc sống hằng ngày. Ý thức rằng chúng ta đang còn sống và đang đi trên mặt đất đã là một sự giác ngộ rồi. Chúng ta phải làm mới sự giác ngộ của mình mỗi ngày. Đi trong nước Chúa, đi trong cõi Tịnh Độ của Bụt là một niềm hân hoan, tươi mới, rất nuôi dưỡng, rất trị liệu. Chúng ta biết mình có khả năng làm được điều đó nhưng thông thường chúng ta không làm. Chúng ta cần bạn, cần thầy nhắc nhở chúng ta.

Bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể thực tập hơi thở chánh niệm và chế tác năng lượng chánh niệm. Ai cũng có khả năng bước được một bước chân, tiếp xúc với mặt đất, tiếp xúc với nước Chúa bằng năng lượng chánh niệm. Một số người trong chúng ta cần phải bay lên không trung để biết trân quý trái đất hơn. Chúng ta hay xem thường nhiều thứ. Chúng ta không biết trân quý những gì ta đang có. Rất nhiều điều kiện hạnh phúc, an lạc có sẵn cho chúng ta, nhưng chúng ta đã không tiếp nhận được. Pháp Bụt giúp ta thực tập chánh niệm, ý thức là chúng ta đang ở đây, bầu trời vẫn xanh, cỏ cây, mây nước, dòng sông vẫn còn đó. Chúng ta có thể tận hưởng từng phút giây của cuộc sống để sự tiếp nối của chúng ta có cơ hội đi lên.

Chánh niệm có khả năng làm cho mỗi giây phút của sự sống trở thành giây phút mầu nhiệm. Đó là món quà quý nhất mà chúng ta có thể hiến tặng cho con cháu của chúng ta. Con cháu của chúng ta là ai? Con cháu chúng ta chính là chúng ta. Bởi vì con cháu chúng ta là sự tiếp nối của chúng ta. Vì vậy mỗi giây phút của đời sống hằng ngày có thể trở thành món quà cho con cháu chúng ta và cho toàn thế giới.

Địa xúc

Đi là một hình thức tiếp xúc. Tiếp xúc với mặt đất bằng đôi chân của mình là chúng ta trị liệu cho mặt đất, trị liệu cho chính mình và trị liệu cho toàn nhân loại. Lúc nào có năm, mười hay mười lăm phút chúng ta nên đi thiền. Mỗi bước chân đều có khả năng trị liệu và nuôi dưỡng thân tâm. Mỗi bước chân đi trong chánh niệm, thảnh thơi có thể giúp ta chuyển hóa và trị liệu cho tự thân, cho thế giới.

Chúng ta chỉ cần khởi đầu như đức Bụt sơ sinh, bắt đầu đi bảy bước. Chúng ta trở về ngôi nhà của chính mình ngay trong giây phút hiện tại và bước một bước: “Tiếp xúc với mặt đất, tôi biết hành tinh này thật mầu nhiệm.” Bước bước thứ hai tuệ giác của ta sẽ sâu hơn: “Không những tôi tiếp xúc với mặt đất mà còn tiếp xúc với bầu trời đang có mặt trong lòng đất. Tôi tiếp xúc được tính tương tức.” Bước thứ ba chúng ta có thể tiếp xúc được với tất cả các loài sinh vật trên trái đất, kể cả tổ tiên và con cháu của chúng ta. Chúng ta giác ngộ ngay nơi mỗi bước chân mình. Đi như thế không phải là một lao tác mệt nhọc mà chúng ta đang chế tác niệm, định, tuệ. Niệm, định, tuệ chính là nguồn an lạc, hạnh phúc của chúng ta. Chúng ta có muốn trở thành một hành giả không? Đơn giản lắm. Chỉ cần chúng ta đi chánh niệm như Bụt sơ sinh ngay trong giây phút hiện tại, hoàn toàn ý thức về những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt chung quanh ta.

 

 

Địa xúc cũng là một phép thực tập mang lại khả năng trị liệu rất lớn. Chúng ta có thể tâm sự trực tiếp với Bụt. Sau khi nói chuyện với Bụt ba bốn phút, chúng ta thực tập địa xúc, không phải chỉ bằng đôi chân mà bằng năm vóc của mình (hai tay, hai chân và trán). Giao hết thân mạng mình cho đất, chúng ta với đất là một. Để cho đất ôm ấp và trị liệu chúng ta. Chúng ta không cần phải ôm khổ đau một mình. Ta xin đất ôm ấp những khổ đau của ta như người mẹ ôm ấp đứa con của mình để được trị liệu và chuyển hóa.

Hy vọng mỗi người trong chúng ta đều thực tập được như thế. Chúng ta có thể thực tập bằng hai cách. Trước tiên chúng ta có thể đi đến một gốc cây, hay bất cứ ở đâu mà chúng ta thích và thực tập địa xúc một mình. Chúng ta theo dõi thở thở và tâm sự với Bụt, chúng ta có thể sử dụng những hướng dẫn trong sách hoặc thêm vào những điều mình muốn tâm sự với Bụt. Sau hai ba phút tâm sự với Bụt, chúng ta lạy xuống. Chúng ta cũng có thể thực tập chung với gia đình hoặc với tăng thân. Thực tập một lần là ta đã thấy có sự trị liệu và chuyển hóa rồi. Không thể khác được. Cũng giống như khi ăn cơm, bất cứ lúc nào ăn, ta cũng nhận được chất dinh dưỡng của thức ăn, không còn nghi ngờ gì nữa. Tôi tin rằng sau một hai tuần thực tập chúng ta sẽ có sự chuyển hóa và trị liệu, không chỉ cho chúng ta mà còn cho những người ta mang theo trong mình.

Bụt không thuộc về quá khứ. Bụt có mặt trong giây phút hiện tại. Kỷ niệm Đức Bụt Đản sanh, chúng ta phải để cho Bụt sinh ra trong mỗi chúng ta. Chúng ta nên đặt câu hỏi cho chính mình: “Bụt là ai?” Và chúng ta có thể trả lời: “Tôi là Bụt”, bởi vì có chánh niệm, chánh định là ta đã trở thành Bụt. Chúng ta ý thức là chúng ta luôn mang theo sự nghiệp của Ngài.

Mang tăng thân theo mình

Mỗi người trong chúng ta đều tiếp nối Bụt bằng con đường của mình. Cho dù xã hội có tạo ra những hoàn cảnh khắc nghiệt khiến chúng ta khó sống với giây phút hiện tại thì chúng ta vẫn luôn có Bụt, có Pháp, có Tăng bên mình nếu chúng ta biết thực tập chánh niệm và chánh định. Với tấm lòng thương yêu và quyết tâm của mình, chúng ta có thể mang theo Tịnh Độ của Bụt và chia sẻ với những người chung quanh. Sở dĩ tôi còn sống sót trong ba mươi chín năm qua là nhờ tôi luôn mang theo tăng thân bên mình. Có tăng thân trong mình chúng ta không bị khô héo như một tế bào văng ra khỏi cơ thể.

Thỉnh thoảng trong khi đi thiền, nấu ăn, lái xe, chúng ta có thể dừng lại để tiếp xúc với tăng thân trong mình. Chúng ta có thể hỏi:  “Tăng thân ơi, tăng thân có còn đó trong con không?” Và chúng ta sẽ nghe tăng thân trả lời: “Tăng thân luôn có trong con. Tăng thân đang nâng đỡ con. Tăng thân sẽ không để con khô héo như một tế bào riêng lẻ bị tách ra khỏi cơ thể.”

Ý thức về tăng thân trong ta và chung quanh ta, chúng ta sẽ có năng lượng để đi tới. Mỗi chúng ta đều là một ngọn đuốc, mỗi chúng ta đều là nhân tố gây cảm hứng cho nhiều người và mỗi chúng ta phải là một vị Bồ Tát. Bồ Tát không cần phải làm gì to tát, chỉ cần thực tập sống đời sống hằng ngày của mình cho đàng hoàng là chúng ta đã trở thành Bồ Tát rồi.

Giáo lý của Bụt dạy rất rõ rằng Bụt cũng là một con người như chúng ta. Nếu không có con người thì Bụt cũng không thể có được. Vì vậy để làm Bụt chúng ta cần làm một con người và để làm một con người chúng ta cần làm Bụt. Hai là một. Nếu Phật tánh không có trong ta thì ta không thể là một con người. Ai cũng có Phật tánh trong mình. Chúng ta có thể thở như Bụt, đi như Bụt, ngồi như Bụt và ăn uống như Bụt. Thực tập chánh niệm giúp ta thành Bụt ngay trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta đi tìm Bụt cách đây hai ngàn sáu trăm năm thì chúng ta sẽ mất Ngài, còn nếu chúng ta thở và thắp sáng ý thức rằng chúng ta là Bụt, là sự tiếp nối của Bụt thì Bụt sẽ có mặt ngay trong chúng ta.

 

 

Cuối cuộc hành trình là bắt đầu một sự tiếp nối. Tôi hy vọng và nguyện cầu chư Bụt, chư vị Bồ Tát gia hộ cho quý vị được an lành, khỏe mạnh và hạnh phúc. Chúng tôi tin tưởng ở quý vị. Bụt cũng đang tin tưởng nơi mỗi chúng ta. Hôm nay chúng ta hãy đi cho thảnh thơi. Chỉ cần đi bảy bước, chúng ta sẽ thấy được những mầu nhiệm của cuộc sống đang hiển bày.

 

Con đã biết vì sao con cần tăng thân

 

Con vốn là người thích đi một mình, thích tự học, tự nghiên cứu. Con đã thực tập pháp môn của Sư Ông Làng Mai được 3 năm, rất chuyên tâm, luyện tập từng giờ, từng ngày nhưng đều thông qua việc đọc sách và nghe pháp thoại của Sư Ông trên Youtube. Có lần, con gặp một người bạn là phật tử lâu năm, con kể về việc thiền tập, bạn hỏi con tu tập như thế nào, có ai là người hướng dẫn không, và tỏ ra nghi hoặc về con đường con đang thực tập? Sau hôm đó, con vô cùng hoang mang, và tự nghi ngờ chính chính bản thân mình. Con vô cùng khát khao tìm gặp người chỉ dẫn, để tự tin trên con đường tu tập. Con tìm trên Facebook, tìm những nhóm mang tên Sư Ông, tìm kết bạn với những thành viên tích cực trong nhóm, để hằng ngày theo dõi những lời dạy được trích dẫn trên đó. Dạo gần đây, con có cảm giác bớt cô đơn hơn vì tham dự cùng những người trong Tăng thân “ảo” như thế. Dù vậy, trong tâm con vẫn ao ước một ngày có thể sang Làng Mai tại Thái Lan tham dự một khóa tu của Làng. 

 

 

Con đã đọc được hơn 10 cuốn sách của Sư Ông rồi. Vào một ngày gần cuối năm 2020, con mua cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng. Khi đọc hơn 10 chương đầu, con vừa đọc vừa khóc, có những chương khóc nức nở. Lần đầu tiên trong đời, con đã biết thế nào là những giọt nước mắt hạnh phúc. Ngay trong thời điểm đó, con bỗng thấy có người chia sẻ trên Facebook khóa tu trực tuyến Thương Như Bụt Thương. Vậy là, từ lúc con phát tâm nguyện tu học tới lúc gặp được khóa tu chỉ có vài tuần. Con vui mừng lắm, không đắn đo, xin nghỉ làm để chuyên tâm ở nhà tham gia khóa tu. Lúc tham gia con còn không hề biết tới ngày cuối khóa tu con được thọ 5 giới. Khi được nhận Pháp danh mới, được chính thức là đệ tử của Sư Ông, con thấy tự hào và tự tin vô cùng. Vậy là từ nay con đã chính thức có tổ tiên tâm linh. 

Bốn tháng sau khóa tu, con lại kiên trì tự đi một mình, không nghĩ ra việc cần tìm tới tăng thân. Nhưng cảm giác khó khăn lại sớm quay trở lại. Con cảm thấy đang rất cô đơn, cảm giác mình lạc lõng vì xung quanh không có những người cùng quan điểm sống và tu tập. Nhiều khi con chỉ muốn tìm một người để chia sẻ về những điều con mới học được…mà không có ai. Con đã cố gắng hằng ngày để duy trì học tập, nhưng thấy tiến bộ rất chậm, và nhiều khi phải tự vực dậy cảm xúc của mình. Con biết hiểu về lý thuyết, để được đến hạnh phúc, nhưng thực tập thực sự khó. 

Con rất bất ngờ khi nhận được email của sư cô Thể Nghiêm từ ban tổ chức khóa tu “Thương Như Bụt Thương” về việc liên hệ với sư cô Nhẫn Nghiêm để nhận Điệp hộ giới, nhân dịp sư cô ra Hà Nội hỗ trợ cho triển lãm thư pháp của Sư Ông tại đây. Khi gặp sư cô Nhẫn Nghiêm, sư cô chỉ hỏi một câu: “Khó khăn lớn nhất của em trong việc tu tập là gì?”. Con vô cùng bất ngờ. Con đã lạc đường nên tới muộn, sư cô phải đứng chờ con gần 25 phút, mà trời trở gió lạnh, con áy náy vô cùng. Sư cô không còn nhiều thời gian để nói chuyện với con mà chỉ hỏi đúng có câu đó thôi. Nghe xong, con thấy sững sờ như chạm trúng vào cái trăn trở nhất lâu nay của mình. Trước khi tới, con đã tưởng tượng ra đủ thứ để tâm sự với sư cô về quá trình con tự tu học. Nhưng khi sư cô hỏi thế, con không có chút suy nghĩ, trả lời luôn rằng: “Con cô đơn, lẻ loi, bơ vơ quá. Con cứ bơ vơ một mình bao lâu nay.” Nhờ câu hỏi đó, mà con đã có cơ duyên tham gia một buổi sinh hoạt với tăng thân. Ngay ngày hôm sau, con được nghe thầy Pháp Khâm thuyết pháp trong buổi sinh hoạt của tăng thân cư sĩ Vô Sự. Rồi con lại được tham gia lễ bế mạc triển lãm thư pháp cùng tăng thân. 

Buổi sinh hoạt đầu tiên tại gia đình Vô Sự, con được nghe thầy Pháp Khâm giảng về một đoạn trong cuốn sách Đường Xưa Mây Trắng. Lúc đầu, khi mới tới, thầy hỏi thăm mọi người, con chỉ nhìn thầy như một vị thầy bình thường như bao vị thầy khác con từng gặp, không có gì khác biệt. Nhưng trong lúc thầy giảng, mắt thầy lần lượt nhìn từng phía, rồi thầy nhìn về phía con. Khi đó, con mới nhận ra, con chưa từng gặp ai có đôi mắt nhân từ, điềm tĩnh, lâu lắng, bình yên như thế. Thầy giảng về tăng đoàn của Bụt ngày xưa, về câu hỏi của một vị đệ tử “Sau khi chết, Bụt còn hay không còn?”. Lúc đó, con tự hỏi, người có đôi mắt nhân từ ngồi trước mặt con đây là ai? Có phải là thầy Pháp Khâm không? Con thấy đôi mắt đó giống đôi mắt của Sư Ông – người mà con chỉ được gặp qua những video trên Youtube, qua ảnh, qua những trang sách. Lúc sau, con lại thấy đôi mắt đó, hình hài đó dường như lại là của Bụt, người con đã gặp qua những trang sách trong Đường Xưa Mây Trắng. Rồi con lại thấy chính con và những thành viên trong tăng thân Vô Sự đang ngồi đây, dường như cũng đã ngồi cùng nhau vào 2600 năm trước để quây quần nghe Bụt giảng, cảm giác thân thuộc vô cùng. Thầy nói rằng nếp sinh hoạt của tăng đoàn trong sách Đường Xưa Mây Trắng đã được tái hiện lại trong nếp sinh hoạt của Làng Mai hiện tại. Con dường như đã hiểu ra tại sao con khóc rất nhiều trong hơn 10 chương sách đầu tiên. 

Lần thứ hai là 3 ngày sau đó, con tham dự lễ bế mạc triển lãm thư pháp. Dù đây là lần đầu tiên con được cùng tăng thân hát thiền ca, nhưng con bỗng tự hát theo được (Có lẽ con đã nghe nhiều trên Youtube). Cảm giác rõ rệt như trở về nhà, con không còn nhu cầu phải nói để vơi bớt sự cô đơn trong tu tập nữa. Chỉ cần ngồi đó cùng tăng thân là đã đủ và hạnh phúc rồi. Con đã rất kìm nén, vì lúc đó nước mắt cứ muốn trào ra rất nhiều. Con tâm đắc từng lời chia sẻ của các sư thầy, sư cô, của tăng thân. Chưa bao giờ con thấy một bầu không khí tràn đầy năng lượng hùng tráng và an lành như thế. 

 

 

Hơn 2 tuần, kể từ lần đầu gặp tăng thân, nhờ tiếp thu được năng lượng yểm trợ, con đã hiểu tại sao con cần tăng thân. Hai tuần vừa rồi, cuộc sống của con vô cùng hạnh phúc. Con không còn thấy thời gian trôi nhanh như trước nữa mà đã biết tận hưởng từng phút giây hơn.

Hôm nay con bỗng nhận ra mình chính thức thọ 5 giới vào 1/1/2021, tức là mới có 5 tháng, vậy mà con cảm giác tưởng chừng như đã cả năm rồi. Điều này chứng tỏ rằng, con đã làm thời gian của con trôi chậm lại, con đã biết sống sâu sắc trong từng giây phút hơn. Con không còn bị lặp lại cái câu nói: “Ồ, thời gian trôi nhanh quá, vừa mới Tết xong mà đã lại sắp nghỉ lễ 30/4 – 1/5 rồi”. Bây giờ con đã thấy mình có thêm rất nhiều thời gian thảnh thơi để làm những việc con muốn làm và dành thời gian cho những người thân thương của con nữa.

 

Tâm Xuân Hạnh