Khóa tu Nuôi lửa – 6.2026 kỷ niệm 60 năm dòng tu Tiếp Hiện

Kính thưa quý tăng thân và thân hữu gần xa,

Ngày 1.6.2026 khóa tu “Nuôi lửa” (Nourishing Fire) đã bắt đầu diễn ra tại các xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới, Làng Mai trong 3 tuần liên tiếp để kỷ niệm 60 năm Dòng Tu Tiếp Hiện.

Tuần đầu tiên (1 – 8.6) có đề tài “Con đường của Đạo Bụt Dấn Thân” (The Path of Engaged Buddhism) mở ra cho tất cả những ai muốn tìm hiểu và thực tập pháp môn chánh niệm. Hiện tại rất tiếc không còn chỗ để nhận ghi danh nữa.

Tuần lễ thứ hai và thứ ba (9-23.6) là cơ hội để các vị Tiếp Hiện và các vị Tiếp Hiện tập sự về Làng cùng nhau tu tập, xây dựng tình huynh đệ và nhìn lại quãng đường mà Dòng tu Tiếp Hiện đã và đang đi qua để quán chiếu về sự thực tập, tình trạng và tương lai cũng Dòng tu trong tư cách một tăng thân nhiều chúng.

Dòng tu Tiếp Hiện do Sư Ông Làng Mai sáng lập năm 1966.
Trong quyển Hiện đại hóa đạo Phật do Lá Bối xuất bản năm 1965, trong chương 5, Sư Ông đã nhắc tới những dòng tu Tiếp Hiện trong đó giới tướng của 14 giới Tiếp Hiện đầu tiên. Các giới được lấy từ giáo lý đạo Bụt.

Vào năm 1966, Sư Ông đã chính thức truyền giới Tiếp Hiện cho 6 người trẻ, và như thế, dòng tu đã chính thức được thành lập.

Sư Ông Làng Mai giảng về Ý nghĩa của Tiếp Hiện

Nghĩa đầu tiên của chữ Tiếp l à tiếp nhận. Ta tiếp nhận từ tổ tiên huyết thống những cái hay, cái đẹp, những tuệ giác và đức độ. Ta tiếp nhận từ tổ tiên tâm linh giáo pháp nhiệm mầu, hạt giống tuệ giác. Đó là vốn liếng của ta. Vì vậy cho nên việc làm đầu tiên của người Tiếp Hiện là phải tiếp nhận cho được những cái hay, cái đẹp của tổ tiên trao lại.

Nghĩa thứ hai của chữ Tiếp là tiếp nối. Tiếp nối Bụt, tiếp nối Tổ, tiếp nối Thầy, tiếp nối tổ tiên. Một người con hiếu thảo là một người con tiếp nối được chí hướng của cha ông. Một người học trò có hiếu là một người học trò có thể tiếp nối được sự nghiệp của Thầy Tổ. Và muốn tiếp nối được thì ta phải tiếp nhận cho được chí nguyện và sự hành trì từ chư Bụt, từ chư Tổ và từ Thầy.

Nghĩa thứ ba của chữ Tiếp là tiếp xúc. Trước hết là tiếp xúc với hiện tại mầu nhiệm, với sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong mình và quanh mình. Nhưng muốn tiếp xúc được với sự sống thì ta phải có mặt. Tiếp xúc như vậy để được nuôi dưỡng, để được chuyển hóa, để được lớn lên. Tiếp xúc đây cũng là tiếp xúc với những nỗi khổ niềm đau trong tự thân, trong hoàn cảnh, trong gia đình và xã hội của ta. Chỉ khi nào hiểu thấu được những nỗi khổ niềm đau của bản thân, của gia đình và của xã hội rồi thì ta mới biết cần phải làm gì và không nên làm gì để có thể chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau đó. Một mặt là tiếp xúc với những mầu nhiệm để được nuôi dưỡng, mặt khác là tiếp xúc với những khổ đau để hiểu, để thương và để chuyển hóa.

Chữ Hiện có bốn nghĩa:

Trước hết, chữ Hiện có nghĩa là hiện tại. Cái gì đang có mặt là sự sống, cái gì đang có mặt là tịnh độ. Chữ hiện có khi còn dịch là kiến, nghĩa là thấy những gì đang xảy ra xung quanh.

Nghĩa thứ hai của chữ Hiện là hiện pháp, là những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Hiện còn có thể dịch là kiến pháp, là những gì ta đang trông thấy trong giây phút hiện tại. Cái ta đang trông thấy là tăng thân, là cây thông, là những cơn mưa, là mặt trời v.v… Tất cả những cái đó ta phải tiếp xúc được. Những khổ đau hiện thực trong cuộc sống là những cái ta đang thấy và ta phải tiếp xúc. Ta không ở trong tháp ngà của tưởng tượng, của hý luận, của lý thuyết. Ta phải thực sự tiếp xúc với sự thật, với những mầu nhiệm của sự thật. Và nhờ có khả năng tiếp xúc với những gì đang thực sự xảy ra cho nên ta mới thực tập được cái gọi là Hiện Pháp Lạc Trú.

Nghĩa thứ ba của chữ Hiện là thực hiện, là làm cho mong muốn trở thành cụ thể. Sự tu chứng của ta cũng là thực hiện. Ước mơ, chí nguyện của ta là đạt tới tự do. Ta không muốn sống một cuộc đời hệ lụy, nô lệ. Ta muốn có tự do, tại vì chỉ có tự do mới đem lại hạnh phúc thực sự. Cho nên ta muốn xé toang những tấm lưới của đam mê, thù hận và ganh tị đang giam hãm ta. Những chiếc lưới ấy đang cuốn lấy ta nhưng ta không muốn kẹt vào những chiếc lưới ấy, ta muốn thoát ra.

Công phu thực tập hàng ngày là giá trị của vị hành giả. Nó giải phóng ta khỏi những chiếc lưới của địa vị, của danh lợi, của tham ái. Cái ta cần thực hiện là giải thoát, là tự do.

Nghĩa thứ tư của chữ Hiện là hiện đại hóa. Nghĩa là những pháp môn khế cơ, khế lý và thích hợp với thời đại.

Hai chữ Tiếp Hiện có gốc Hán-Việt, hiểu được ý nghĩa hai chữ đó thì sẽ hiểu được bản chất, hiểu được sự hành trì cũng như hướng đi của dòng tu Tiếp Hiện.

Tham khảo:

Chương 5, sách HIện đại hóa đạo Phật – Thích Nhất Hạnh: https://langmai.org/tang-kinh-cac/vien-sach/thien-tap/dao-phat-hien-dai-hoa/chuong-5-nhung-dong-tu-tiep-hien/

Dòng tu Tiếp Hiện và con đường phụng sự – Pháp thoại Sư Ông Làng Mai 06-07 tháng 05 năm 2008 tại Hà Nội, Việt Nam và pháp thoại ngày 11 tháng 06 năm 2010 tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Đức https://langmai.org/cong-tam-quan/dong-tu-tiep-hien/dong-tu-tiep-hien-va-con-duong-phung-su/

 

 

 

 

 

 

NOI THEO ÁNH SÁNG CỦA BỤT

Thư gửi Bụt mùa Phật đản

Xóm Hương Trà, ngày 20.05.2026

Bụt kính thương,

Sáng nay khi chuông đại hồng vừa dứt, con đi về phía Bụt ở cội bồ đề trước khi lên thiền đường An Ban cho buổi công phu sáng. Bụt ngồi đó đầy tự tại dù đang ướt đẫm trong sương sớm, đêm qua mưa đầu mùa thật lớn. Con đứng lại bất giác mỉm cười vì nhớ người đồng bào ở đây hay nói: “ Khi nào thấy em bé một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất là biết mùa mưa về”. Cách nhắm chừng thời tiết dễ thương thiệt mà cũng đúng lắm, mùa Phật Đản đến rồi. Sắp tới ngày tiếp nối của Bụt nên đề tài của buổi thiền quán là: Con đang làm gì để nuôi dưỡng tính Bụt trong con? Con biết ơn muôn ngàn nhân duyên đã cho con được làm con của Bụt và được ở trong đại gia đình áo nâu.

“Bụt đã cho con nếp sống tâm linh,

suốt đời con nguyện noi theo ánh sáng của Bụt mà đi.”

                                                                (Bài tụng Hướng Về Tam Bảo – Sư Ông Làng Mai)

Mỗi lần lạy xuống trong tư thế phủ phục, con mở hai lòng bàn tay ra trên mặt đất, tất cả con là đây! Không có gì che giấu cả, con thấy mình thật nhỏ bé. “Bụt ơi, xin Bụt soi sáng cho con thấy rõ con hơn mỗi ngày để con biết làm hạnh phúc cho con và mọi người xunh quanh”. Trong giây phút ấy, con được Bụt hiểu Bụt thương như con là con và con không còn phải gồng lên nữa. Con thấy mình thật nhỏ bé với những vụng về, những tủi đau chưa được gia công chuyển hóa tận gốc và những hạn hẹp trong tâm thức do thiếu hiểu biết. Con tập buông xuống cái tôi hay tự ái, buông xuống những suy nghĩ muốn được hiểu, được chấp nhận. Con biết con còn học hoài mới được nhưng con thấy mình đang đi tới theo ánh sáng của Bụt. Con không mong mình trở thành ai giỏi giang lớn lao. Con chỉ mong khi bước đến đâu, con có thể mang theo một chút bình an; khi nhìn ai, con có thể nhìn bằng con mắt từ ái hơn và khi ai đó đang khổ, con đủ an để có mặt cho họ bằng sự lắng nghe thật lòng.

 

 

Bụt ơi, sắp tới ngày tiếp nối của Bụt, là một đứa con nhỏ của Người, con xin nguyện thực tập tiếp nối Bụt bằng cách đi, cách thở cho có phẩm chất hơn để Bụt tính trong con được lớn lên mỗi ngày trong từng suy nghĩ, lời nói và việc làm. Con xin thực tập ngồi cho yên để chất liệu tỉnh thức, vững chãi và thảnh thơi mà Bụt đã trao truyền được lớn mạnh thêm. Con xin cẩn trọng thủ hộ thân ý mỗi khi có điều bất như ý xảy đến, con có thể dừng lại, nhìn sâu để cái nghe và cái thấy của con được soi tỏ bởi chánh niệm. Con xin nguyện góp bàn tay nhỏ bé vào sự nghiệp xây dựng Tăng thân. Con biết mình còn non lắm, nhưng con nguyện sẽ không bao giờ bỏ cuộc trên con đường hiểu và thương này. Xin Bụt tiếp thêm cho con năng lượng để những lúc chênh vênh con đủ vững để đứng yên mà nương vào Đất Mẹ rồi tiếp tục bước tới.

Con cúi đầu đảnh lễ Bụt bằng tất cả lòng biết ơn và thương kính của con.

Con của Bụt,

Chân Lộc Nghiêm

 

Bụt đã sinh ra rồi!

Sáng ngày 21/5/2026  (nhằm ngày 5 tháng 4 âm lịch), đại chúng ba xóm ở Làng Mai Pháp đã tổ chức Ngày quán niệm mừng Bụt đản sinh tại chùa Pháp Vân, Xóm Thượng.

Ngày quán niệm bắt đầu bằng bài pháp thoại của thầy Trời Bảo Tạng về chủ đề tưới tẩm những hạt giống Bụt bên trong mỗi người, để chất liệu Bụt, chất liệu chánh niệm, chất liệu hiểu biết và thương yêu trong chúng ta mỗi ngày một lớn thêm. Đó là sự tiếp nối đẹp đẽ nhất của chúng ta khi làm một người con của Bụt. Sau đó đại chúng vân tập tại thiền đường Nước Tĩnh để bắt đầu nghi thức của buổi lễ mừng Bụt đản sinh. Đại chúng cùng ngồi yên và thở cùng nhau trong bình an theo những lời thiền hướng dẫn từ thầy Pháp Hữu, ý thức mình đang thở những hơi thở bình an mà Bụt đã trao truyền. Sau phần dâng hương lên Bụt và chư vị tổ tiên, đại chúng cùng tụng bài nhạc kinh “Praising the Buddha” tán dương đức Bổn sư. Tiếng tụng vang lên hào hùng trong một bầu không khí ấm cúng và trang nghiêm.

Nghi thức tắm Bụt bắt đầu khi đại chúng từ từ đứng dậy và trong tiếng niệm “Nam mô Bụt Sakyamuni” đi từng bước chậm rãi hướng ra khu vườn trước thiền đường Nước Tĩnh, nơi ba tượng Bụt sơ sinh đã được đặt trên ba chậu nước được trang trí và phủ đầy các loại hoa. Tại đây mỗi vị có cơ hội xá xuống trước đức Bụt sơ sinh và múc một gáo “nước hoa” rồi khoan thai dội lên mình đức Bụt. Nắng cuối xuân và đầu hạ ấm và lấp lánh trong làn nước, trong từng gàu nước, trong những cánh hoa đủ sắc màu, trong những chiếc lá ve vẫy phất phơ, và trong mỗi nụ cười bình an và lặng lẽ của những bàn tay khi xá xuống để bắt đầu một nghi thức gọi dậy đức Bụt sơ sinh trong chính mình.

Tuần này, tại xóm Thượng đang diễn ra khoá tu dành cho những người Mỹ La-tinh và tại xóm Hạ có khoá tu dành cho những người thích làm vườn nên thiền sinh từ nhiều quốc gia cũng có duyên tham gia lễ tắm Bụt. Khá đông đồng bào các cô chú, anh chị em người Việt đã tìm về Làng hôm nay để dự ngày Phật đản. Những chiếc áo dài màu lam, màu trắng, màu nâu, màu xanh của các cô, các bà, các chị người Việt làm cho bầu không khí quốc tế thoang thoảng nét hồn Việt. 

Kính mời quý tăng thân và thân hữu khắp nơi cùng lắng lòng thưởng thức những khoảnh khắc của buổi lễ này qua bộ ảnh “Bụt đã sinh ra rồi!”.

 

Phật đản 2026

   Hôm nay, ngày 21/5/2026  (nhằm ngày 5 tháng 4 âm lịch), đại chúng ba xóm ở Làng Mai Pháp đã tổ chức Ngày quán niệm mừng Bụt đản sinh tại chùa Pháp Vân, Xóm Thượng.

   Kính mời quý tăng thân và thân hữu khắp nơi cùng lắng lòng thưởng thức những khoảnh khắc của buổi lễ tắm Bụt trong ngày này qua bộ ảnh “Bụt đã sinh ra rồi!”.

 

Tắm Bụt sơ sinh trong ta

Hôm nay chúng ta được làm lễ tắm Bụt. Mỗi khi có một gáo nước dội lên trên Bụt sơ sinh, chúng ta cảm thấy mát mẻ. Được tắm cho Bụt sơ sinh là một hạnh phúc rất lớn. 

 

 

Khi một đức Bụt xuất hiện trên trái đất thì đó là một điềm lành rất lớn, rất mầu nhiệm. Chúng ta phải làm thế nào để cho Bụt sơ sinh được xuất hiện mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút bằng sự thực tập của chúng ta.

Chúng ta có thể có khả năng làm cho Bụt giáng sinh trong mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi phút của đời sống thực tập. Mỗi khi chúng ta từ bỏ thế giới của thất niệm, trở về với hơi thở, mỉm cười và tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống là mỗi lần Bụt giáng sinh. Mỗi khi Bụt giáng sinh như vậy thì chúng ta thấy mát mẻ, khỏe khoắn, an lạc và có niềm tin trong tương lai.

Bụt là một thực tại linh động

Bụt không phải là một thực tại đã nhập diệt. Bụt nằm trong trái tim của chúng ta và chúng ta chỉ cần thở nhẹ và mỉm cười là chúng ta tiếp xúc được với Bụt ở trong ta. Bụt có mặt cho ta 24 giờ đồng hồ. Không phải chỉ khi nào ta vào chánh điện, đốt hương và lạy xuống thì Bụt mới có mặt. Cho nên chúng ta đang vô cùng giàu có. Và chúng ta phải làm thế nào để có Bụt trong ta và với ta trong mỗi giờ phút của sự sống.

Như vậy, sự thực tập là làm thế nào để Bụt giáng sinh mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Mỗi khi chúng ta làm lễ đản sinh, mỗi khi chúng ta làm lễ kỷ niệm thành đạo, mỗi khi chúng ta làm lễ kỷ niệm Bụt nhập Niết bàn, mỗi khi chúng ta tới viếng thăm cây bồ đề ở Bồ Đề Đạo Tràng hay leo lên núi Thứu là chúng ta có cái ý nguyện muốn được cảm thấy sự có mặt, cảm thấy sự gần gũi của Bụt với chúng ta. Mỗi bước chân của sự hành hương, mỗi cây nhang chúng ta thắp, mỗi tiếng chuông ta thỉnh đều có cái chủ đích là làm thế nào để Bụt có mặt với ta trong giây phút đó. 

Ta đã học và biết rằng ta không cần đi sang tới Ấn Độ, leo lên núi Thứu, tới quỳ gần cội bồ đề trên kim cang tòa ta mới có thể cảm thấy được sự có mặt vô cùng quý giá của Bụt. Ta không cần phải đi vào trong chánh điện, đốt một cây hương và lạy xuống ba lạy mới cảm thấy sự có mặt của Bụt. Cố nhiên là đi qua Ấn Độ, leo trên núi Thứu, ngồi dưới gốc bồ đề, đốt một cây nhang, lạy xuống là những sự thực tập của ta. Nhưng mà không phải chỉ có những sự thực tập đó mới làm lộ ra sự có mặt của Bụt trong tâm tưởng. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười đều có thể làm hiển lộ sự có mặt của Bụt.

Trong sách “Phép lạ của sự tỉnh thức”, tôi có viết rằng: trong khi rửa bát hay rửa chén, ta nên quán chiếu cái bát trong tay ta có thể là Bụt. Và ta rửa bát một cách trân trọng như ta đang tắm cho Bụt sơ sinh. Cho nên chính trong khi rửa bát, ta cũng cảm thấy được sự có mặt của Bụt mà không đợi đến khi vào chùa, thắp lên cây nhang và lạy xuống. Ta đi vào chùa, thắp cây hương, lạy xuống để cảm thấy sự có mặt của Bụt, nhưng ở trong nhà bếp, vặn nước, rửa một cái chén, chúng ta cũng phải đạt tới sự thành công đó. Điều này chúng ta đã được chỉ dẫn cặn kẽ để có thể làm cho Bụt có mặt trong mỗi giây phút của đời ta. 

Bụt là một bông hoa

Bụt Thích Ca Mâu Ni, Bụt Ca Diếp, hay là Bụt Di Lặc là những bông hoa nở trong khu vườn của nhân loại. Những bông hoa đẹp nhất trong khu vườn của nhân loại. Nhưng bông hoa đó không phải chỉ nở cho loài người mà nở cho tất cả mọi loài, trong đó có các loài cầm thú, chim chóc, cây cối và cả những loài đất đá. Điều này chúng ta phải quán chiếu.

 

 

Ngày Bụt đản sinh, về Huế chúng ta sẽ thấy ở ngoài chợ, người ta không có bán đồ mặn mà bán toàn đồ chay. Tại vì ngày hôm đó tất cả mọi người ăn chay, không có ai sát sanh, giết một con gà hay một con heo. Vì vậy chúng ta biết rằng sự ra đời của Bụt không những đem lại hạnh phúc, an toàn cho con người mà còn đem lại hạnh phúc và an toàn cho mọi loài trong đó có các loài cầm thú, cỏ cây và đất đá. 

Ngày đó, ở Sri Lanka, trước sân nhà nào cũng có thức ăn bày ra để cúng dường. Không phải để cúng dường các thầy mà thôi; tất cả những người giàu, nghèo, sang, hèn, hễ ai tới nhà là đều được khoản đãi cơm nước. Người giàu cũng ăn những thức đó mà những người nghèo cũng ăn thức những thức đó. Có những nước Phật giáo, ngày đó không có ai đói cả. Trong một ngày mà không có ai đói cả. Ai có gạo, có cơm, có thức ăn đều nấu ra, dọn ra cho tất cả những người khác ăn. Đó là một điều rất đẹp. 

Giả dụ không chỉ có một ngày, mà ta có 365 ngày trong năm như vậy thì trên trái đất này sẽ không có ai đói hết. Đó là một điều rất đẹp. Ngày mừng Phật đản, ta nên để tâm quán chiếu những điều đó. Chúng ta thấy rằng một người, và chỉ một người thôi, ra đời mà lại tạo ra được không biết bao nhiêu là phép lạ như vậy trong nhân gian, không những ở một nước mà ở rất nhiều nước; không những trong một năm mà trong 2500, 2600 năm. Và sẽ còn tiếp tục. Chúng ta là con cháu của Ngài, chúng ta sẽ tiếp tục làm cho phép lạ của từ bi, của hiểu biết, của thương yêu tiếp tục trong lịch sử của loài người và trong lịch sử của muôn loài.

Bụt đản sinh trong trái tim ta mỗi giờ, mỗi phút

Là đệ tử của Bụt, làm lễ mừng Phật đản, ta phải nhìn sâu vào trong tự tánh của ngày lễ. Ta biết rằng nhờ sự thực tập chánh niệm ta có thể nuôi dưỡng được chất liệu của Bụt, chất liệu chánh niệm, chất liệu chế tác hiểu biết và thương yêu. Hai ngàn sáu trăm năm rồi mà chất liệu đó vẫn còn tiếp tục làm cho người ta bớt khổ, đem cho người ta rất nhiều niềm vui.  Là con của Bụt, mình có bổn phận phải tiếp tục sự nghiệp của Bụt. Và phương pháp tiếp tục hay nhất là làm thế nào để cho Bụt tiếp tục được đản sinh trong trái tim của mình mỗi giờ và mỗi phút. Ánh sáng của chánh niệm là chất liệu của tình thương và của sự hiểu biết, chúng ta cần phải chế tác cho thế gian ngày hôm nay, ngày mai, cho trái đất này và cho con cháu chúng ta. 

Nếu chúng ta không có yếu tố của sự tỉnh thức, của sự an lạc thì trái địa cầu xinh đẹp này sẽ không có tương lai và con cháu của chúng ta cũng không có tương lai.

Theo pháp thoại Sư Ông Làng Mai 30.5.1996 

Sau đây là vài hình ảnh lễ Tắm Bụt tại Xóm Hạ, Làng Mai 2025

 

Ngày trăng tròn tháng tư Bụt ra đời

Đường xưa mây trắng-06

Hồi mới chín tuổi, Siddhatta (Tất Đạt Đa) đã nghe kể lại rằng ngày có mang Siddhatta, mẹ của Siddhatta nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà từ trên trời đi xuống. Trên không nhã nhạc vang lừng và tiếng ca hát chúc tụng của chư thiên vọng lên không ngớt. Con voi trắng đi xuống càng lúc càng gần, da của nó trắng như tuyết trên đỉnh núi và vòi của nó quấn một đóa sen hồng. Con voi tới gần bà, đưa đóa hoa chạm vào người bà. Rồi con voi ấy đi vào trong bà. Tự nhiên bà thấy trong người sảng khoái lạ thường. Bà có cảm tưởng rằng từ nay bà sẽ không bao giờ còn khổ đau, lo lắng, giận dữ và phiền muộn nữa. Bà thức giấc. Chưa bao giờ bà cảm thấy hạnh phúc như thế. Bà trỗi dậy. Những tiếng hát ca của chư thiên và nhạc trời êm ái còn như văng vẳng bên tai bà. Bà đi tìm vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và kể cho vua nghe về giấc mộng. Vua chia sẻ niềm vui với bà. Sáng hôm ấy, vua vời những đạo sĩ và những thầy Bà la môn nổi tiếng ở kinh đô vào cung để nhờ đoán mộng. Sau khi đã nghe kể về giấc mộng của hoàng hậu, các vị đều nói:

– Tâu bệ hạ, hoàng hậu sẽ hạ sinh một hoàng nam. Thái tử sau này sẽ là một người xuất chúng. Thái tử có thể sẽ là một vị chuyển luân thánh vương trị vì cả bốn cõi; thái tử cũng có thể sẽ đi tu và trở thành vị lãnh đạo tinh thần cho cả cõi người và cõi trời. Cõi đất của chúng ta, tâu bệ hạ, đã chờ đợi từ lâu rồi một người như thái tử.

Vua Suddhodana rất vui mừng. Sau khi hội ý với hoàng hậu, vua cho lệnh lấy bớt tài vật trong kho ban phát cho những người ốm đau và bệnh tật trong xứ. Thần dân ở vương quốc Sakya đều được thấm nhuần ơn đức của vua và hoàng hậu.

Mẹ của Siddhatta tên là Mahamaya người nước Koliya. Hoàng hậu Maya là một người đức hạnh. Bà thương yêu con người, nhưng bà cũng biết thương yêu các loài cầm thú và cỏ cây. Mùa Xuân năm sau, đúng vào ngày trăng tròn tháng tư, hoàng hậu hạ sinh thái tử trên đường từ Kapilavatthu (Ca tỳ la vệ ) về thủ đô Ramagama của vương quốc Koliya quê hương của bà.

Tục lệ của nước bà là người con gái có chồng phải về sinh con tại nhà cha mẹ. Trên đường đi, bà đã ghé vào nghỉ tại vườn Lumbini (Lâm Tỳ Ni). Trong vườn muôn hoa đang nở rộ, chim chóc ca hát vang lừng. Những con công xòe đuôi rực rỡ trong nắng mai. Thấy một cây vô ưu hoa nở rực đầy cành, bà bước tới. Khi tới gần cây này, bà thấy hơi lảo đảo. Bà vội đưa tay nắm chặt một cành cây vô ưu. Một giây sau đó, bà sinh em bé. Thái tử Siddhatta được các thị nữ nâng lên và bọc lại trong một tấm khăn choàng bằng lụa màu vàng. Các thị nữ biết rằng chuyến đi Ramagama không cần thiết nữa cho nên dìu hoàng hậu ra xe bốn ngựa đi trở về Kapilavatthu. Thái tử được đem tắm bằng nước ấm rồi được đặt lên giường bên cạnh hoàng hậu. Được tin, vua Suddhodana lập tức vào thăm hai mẹ con. Vua vui mừng khôn xiết. Mặt vua sáng rỡ. Vua đặt tên cho thái tử là Siddhatta.

Hôm đó tất cả quần thần đều được nghe tin, mọi người đều đến chúc mừng vua và hoàng hậu. Vua Suddhodana truyền mời các ông thầy tướng giỏi đến coi tướng cho Siddhatta. Ông thầy nào cũng nói rằng Siddhatta có tướng của một vị chuyển luân thánh vương, và cũng đều tiên đoán rằng thái tử sẽ là một vị vua trị vì không phải một phương mà cả bốn biển.

Một tuần lễ sau đó, có một ông đạo sĩ Bà la môn tên là Asita Kaladevala (A Tư Đà) đến thăm. Đạo sĩ Asita là một ẩn sĩ trên núi. Vị đạo sĩ này đã già lắm, lưng ông đã còm. Ông phải chống gậy đi từ trên núi xuống.

Khi được quân hầu báo tin, vua Suddhodana đích thân ra khách đường chào ông và đưa ông vào cung thăm thái tử. Ông nhìn thái tử một hồi mà không nói năng gì. Bỗng nhiên ông nấc lên khóc. Thân hình ông rung rung trên chiếc gậy. Vua hoảng kinh, hỏi:

– Tại sao, tại sao thầy khóc như thế? Có điều gì không hay sẽ xảy ra cho trẫm hoặc cho thái tử đây không?

Đạo sĩ Asita lấy tay quệt nước mắt. Ông lắc đầu:

– Tâu bệ hạ không có chuyện gì xấu cả. Tôi khóc là khóc cho số phận tôi. Tôi biết thái tử sau này sẽ thành một bậc vĩ nhân, thấu suốt được mọi lẽ huyền vi trong vũ trụ. Thái tử sẽ không làm vua đâu: thái tử sẽ làm một vị đạo sĩ lấy trời đất làm quê hương, lấy muôn loài làm thân tộc. Tôi khóc là vì tôi sẽ chết trong nay mai, và chẳng có diễm phúc được nghe tiếng nói chân thốt ra từ miệng người. Bệ hạ có phúc lớn lắm, nước nhà có phúc lớn lắm mới có được thái tử.

Tâu xong đạo sĩ Asita lập tức rời bỏ hoàng cung để về núi, vua Suddhodana tìm đủ mọi cách để lưu ông lại, nhưng vua không thành công.

Cuộc viếng thăm của đạo sĩ Asita làm vua bâng khuâng. Vua không muốn rằng sau này Siddhatta đi tu. Vua chỉ muốn sau này Siddhatta nối nghiệp vua để làm vua, và mở rộng bờ cõi. Vua nghĩ rằng vị đạo sĩ Asita chỉ là một đạo sĩ trong hàng trăm hàng ngàn vị đạo sĩ khác. Có thể là ông nói sai. Và có thể những vị đạo sĩ khác đã nói đúng. Nghĩ như thế, vua thấy yên dạ.

Hoàng hậu Maya sinh thái tử được tám ngày thì mất. Cả nước thương tiếc bà. Vua Suddhodana tuyển ngay em ruột của bà là bà Maha Pajapati (Maha Ba Xà Ba Đề) vào cung và đưa lên ngôi hoàng hậu. Phu nhân Pajapati cũng được gọi là Gotami. Bà thay thế chị để chăm sóc Siddhatta. Siddhatta là cháu gọi bà bằng dì, nhưng bà thật sự xem Siddhatta như con ruột của chính bà. Lớn lên, Siddhatta đã nhiều lần hỏi bà về mẹ. Siddhatta biết rằng dì Gotami thương mẹ lắm và cũng biết rằng trong trời đất có lẽ ngoài dì Gotami không ai có thể thương mình bằng mẹ của mình. Được săn sóc và thương yêu, Siddhatta lớn lên rất mau.

(Trích Đường Xưa Mây Trắng – Chương 6: Bóng mát cây hồng táo – Thích Nhất Hạnh)

Học đời sống của Bụt

Cuộc đời Bụt là sự sống của Ngài

Chúng ta thường nghe nói tới những kỳ nhập thất ba năm, hoặc chương trình bốn năm học Phật Pháp cơ bản hay sáu năm Phật Pháp cao cấp. Chúng ta có thể học rất nhiều, có thể thuộc rất nhiều kinh, viết được những bài giảng rất dài. Nhưng điều quan trọng là chúng ta có được thật sự nuôi dưỡng bằng pháp lạc hay không? Bụt đã để lại cho ta những gì? Và ta đã thừa hưởng được những gì? Bụt đã để lại cho ta ba tạng Kinh điển, Bụt đã để lại cho ta lịch sử của một giáo đoàn. Nhưng trước hết Bụt đã để lại cho chúng ta cuộc đời của Bụt.

Cuộc đời của Bụt nghĩa là sự sống của Bụt. Bụt đã sống như thế nào? Bụt có phải là một nhà trí thức không? Bụt có phải một nhà văn viết hết từ bộ sách này sang bộ sách khác hay không? Hay Bụt chỉ là một người đi bộ, đi từ khu vườn này sang mái tranh kia, đi từng bước thảnh thơi, tiếp xử với mọi người bằng lòng từ bi, bằng nụ cười khoan lạc của mình? Bụt là như vậy. Bụt không phải là một nhà trí thức. Bụt không phải là một nhà nghiên cứu. Bụt không phải là một người tổ chức. Bụt không phải là một uy quyền cầm đầu một giáo hội lớn lao. Bụt chẳng qua là một ông thầy tu, một ông thầy tu có lòng từ bi lớn và có tuệ giác lớn. Và quanh Bụt có những người học trò, có những người bạn. Họ cũng muốn làm như Bụt: đi bộ từng bước thảnh thơi, đi xin thức ăn mỗi ngày để tiếp xúc và độ đời, thực tập hơi thở, thực tập chánh niệm.

 

 

Chính vì thế Bụt đã cứu giúp cho không biết bao nhiêu người. Không phải giúp bằng cách tổ chức cứu trợ có hàng trăm triệu, mà giúp bằng cách dạy cho người ta biết đi, đứng, nói, cười, thở, và chuyển hóa. Và Bụt là một người vui tươi, không rầu rĩ, Ngài có một nụ cười sống mãi 2500 năm cho tơi bây giờ.

Đời sống của Bụt là thông điệp của Ngài

Thông điệp đó, ta phäi tiếp nhận cho được. Còn những hệ thống tư tưởng trong đạo Bụt liên hệ gì với đời sống của Ngài, có liên hệ gì với an lạc, hạnh phúc trong sự sống của Ngài, câu hỏi đó chúng ta sẽ phải đặt ra.

Có những giờ phút nghe như là huyền sử về cuộc đời Bụt. Ví dụ những giờ phút Ngài ngọa bịnh ở Vaisali. Bịnh nặng đến nỗi thầy A Nan phải ra bên ngoài đứng khóc. Nhưng sau đó Bụt lành bịnh và cho triệu các thầy trong vùng đến để nói chuyện. Bụt biết rằng Ngài sẽ tịch trong một thời gian ngắn. Khi gặp các đệ tử Bụt dạy: ‘‘Này các thầy, các thầy hãy thực tập quay về nương tựa nơi hải đảo của tự thân. Đừng tìm nương tựa vào một nơi nào khác. Vì nơi hải đảo tự thân vốn có Bụt, có Pháp, có Tăng. Đừng tìm kiếm nơi khác, không cần đi đâu xa. Ở trong tâm ta đã có đủ hết những gì ta muốn tìm kiếm.’’ Đó là những giây phút rất ấm cúng và mầu nhiệm, chỉ có thầy với trò ngồi với nhau thôi. Lời dạy ấy cho ta thấy một tình thương rất lớn. Và khi thầy trò lên đường đi về phương Bắc thì có lúc Bụt quay lại và đưa mắt nhìn thành phố Vaisali một lần chót. Bụt nhìn với tất cả chánh niệm. Kinh ghi chép: ‘‘Đức Thế Tôn ngoái lại nhìn thành phố Vaisali bằng đôi mắt của một con voi chúa, rồi Ngài mỉm cười hướng về phía Bắc và bước tới.’’ Đó là lần chót Đức Thế Tôn nhìn thành phố Vaisali, và Ngài đã nhìn bằng con mắt của chánh niệm, con mắt của một tượng vương.

Mỗi bước chân đi của Bụt là một huyền sử, mỗi cái nhìn của Bụt là một huyền sử. Bốn mươi lăm năm trước, vào một buổi sáng, lúc sao mai mọc, Bụt đã thành đạo. Nhìn sao mai vừa mọc, Ngài giác ngộ, và mỉm cười. Đó là một giây phút đẹp như một huyền thoại. Những sự việc xảy ra tuy có thật, nhưng đẹp đến nỗi ta không thể diễn tả được. Ta chỉ biết nói: mỗi giây phút trong đời sống của Bụt là một huyền sử. Ngồi trên núi Thứu, ăn cơm với các đệ tử, leo lên núi, đi xuống núi, từng bước chân, tất cả những giây phút đó đều tràn đầy an lạc và hạnh phúc. Mục đích của sự tu học là để sống được những giây phút như vậy. Chúng ta hãy sống như thế nào để mỗi giây phút của đời ta trở nên một giây phút linh diệu. Cho con cháu sau này nghĩ tới sẽ tự hào về cha ông. Những điều kiện của hạnh phúc, của giác ngộ, của thương yêu có sẵn bây giờ và ở đây. Ta làm thế nào để tiếp xúc, để sống an lạc ngay, đừng đợi mười năm sau, đừng đợi phải nghiên cứu hết cả ba tạng giáo lý của đạo Bụt rồi mới bắt đầu.

 

 

Đi bằng chân Bụt, nhìn bằng mắt Bụt

Năm 1968, tôi được leo núi Linh Thứu với thầy Maha Gosananda, sư cô Chân Không, thầy Thế Tịnh và một số người khác. Lên đến đỉnh núi Thứu, chúng tôi chỉ ngồi xuống mà thôi, ngồi cho đến khi mặt trời lặn. Và cũng chỉ muốn lặp lại những gì mà ngày xưa Bụt đã từng làm. Lên núi Thứu chúng tôi không đọc Kinh, không pháp đàm, chúng tôi chỉ ngồi xuống thôi. Ngày xưa Bụt đã ngồi ở đó, và bây giờ ta cũng chỉ muốn ngồi ở đó. Đột nhiên nhìn về phương Tây, tôi thấy mặt trời huy hoàng đang lặn. Chưa bao giờ tôi thấy mặt trời lặn đẹp như vậy. Tự nhiên tôi ý thức được tôi đang nhìn mặt trời bằng con mắt của Bụt ngày xưa. Ngày xưa Bụt đã từng ngồi nhìn mặt trời lặn. Bao nhiêu năm tháng đã trôi qua. Chiều nay mình cũng ngồi như thế, cũng nhìn như thế. Không có gì khác. Đức Thế Tôn đã ngồi nhìn mặt trời lặn. Ta sống lại giây phút huyền sử ấy bằng cái nhìn của ta. Khi xuống núi, chúng tôi cũng đi từng bước ý thức. Không ai nói với ai một lời nào. Trong tâm không lo lắng, không gợn một chút buồn phiền hoặc chút giận hờn. Đó là những điều mà hôm nay chúng ta có thể làm được. Bắt đầu từ ngày đó trở về sau, đi đâu tôi cũng đi theo kiểu thiền hành. Tôi đã hướng dẫn những đoàn người hai chục người, năm chục người, một trăm người, hai ngàn người ở Âu Châu, Mỹ Châu, Á Châu, Úc châu, đi những bước thảnh thơi như Bụt đã đi.

Đi như thế nào, ngồi như thế nào, ăn như thế nào để mỗi giây phút của đời sống ta có thể trở thành huyền sử. Ngày các sư cô Chân Đức, Chân Không và Chân Vị thọ giới trên núi Thứu, chúng tôi cũng đã thực tập ngồi yên trên ấy. Chúng tôi đã bắt đầu leo lên núi Thứu từ lúc bốn giờ sáng để kịp chứng kiến giờ phút mặt trời mọc. Chúng tôi nghĩ nếu mặt trời lặn trên núi Thứu đẹp, thì mặt trời mọc trên núi Thứu cũng rất đẹp. Thầy trò leo núi rất sớm, có một ông cảnh sát được mời đi thiền hành với chúng tôi cho có thêm an ninh. Quả nhiên là mặt trời mọc trên ấy cũng đẹp không thua gì mặt trời lặn.

Ta phải biết rằng mặt trời ở đâu cũng đẹp như mặt trên núi Linh Thứu. Mặt trời ở bên Úc, ở bên Hoa Kỳ, ở Âu Châu, ở Á Châu đều đẹp. Chúng ta có con mắt nào để nhìn mặt trời hay không, có hai chân nào để tiếp xúc với mặt đất hay không? Tại Làng Mai có những buổi sáng và buổi chiều tuyệt đẹp. Những ngày có sương rất đẹp, những ngày không có sương cũng đẹp. Trời mưa hay nắng đều đẹp. Cây ‘‘bồ đề’’ trước thiền đường Chuyển Hóa, mùa xuân, mùa Hạ, mùa đông hay mùa thu gì đều đẹp. Chúng ta chỉ cần nhìn cây với một chút chánh niệm, là đã có thể tiếp xúc được với cái đẹp ấy.

Thực tập dừng lại


Phương pháp thiền tập do Đức Thế Tôn giảng dạy gồm hai phần: dừng lại và nhìn sâu (chỉ và quán).

Dừng lại (chỉ)

Bước thứ nhất của thiền tập là dừng lại. Hầu hết chúng ta từ khi sinh ra, chúng ta luôn luôn rong ruổi không ngừng nghỉ. Đó là một tập khí sâu đậm mà tổ tiên đã truyền lại cho ta: luôn luôn căng thẳng, dễ bị cuốn đi bởi những thứ quanh mình và hoàn toàn không có mặt một cách bình an cho giây phút hiện tại. Chúng ta quen nhìn sự vật một cách hời hợt, bị cuốn đi bởi những tri giác sai lầm và từ đó cảm thọ tiêu cực biểu hiện làm cho ta hành xử một cách lệch lạc và cuộc sống của chúng ta cũng trở nên khổ sở hơn. Chúng ta phải huấn luyện mình dừng lại. Dừng lại sự rong ruổi. Ngay cả những khi ta được bình an, không có gì phải lo lắng, sợ hãi, chúng ta vẫn theo đuổi hết dự án này tới dự án khác hay suy tư hết việc này tới việc khác, không phút nào yên nghỉ. Vậy cho nên ngay những lúc được bình yên và vô sự thì hãy thực tập thư giãn, thực tập dừng lại để trở về với những mầu nhiệm của hiện tại.

Khi tâm được an thì trí sẽ sáng. Nếu dừng lại thật sự thì bạn không cần phải thực tập nhìn sâu bởi vì ngay khi bạn dừng lại là bạn đã nhìn sâu rồi. Dừng lại và nhìn sâu là một, là hai mặt của một tâm thức. Chú tâm vào một việc gì quan trọng tức là sử dụng định lực. Khi có định lực là có dừng lại và nhìn sâu. Khi dừng lại và tiếp xúc với những gì tốt đẹp, ta sẽ trở nên thoải mái, sáng suốt và vui tươi. Sự thực tập chính là thức ăn nuôi dưỡng ta và giúp ta nuôi dưỡng những người khác bằng phong thái sáng suốt, nụ cười và niềm vui. Có thể rằng bạn đang gặp nhiều khó khăn nhưng nếu nhìn cho sâu, bạn sẽ thấy rất nhiều niềm vui còn đó cho bạn. Vậy thì không nên rong ruổi tìm kiếm. Hãy trở về với phút giây hiện tại để chế tác định lực, nhờ đó giúp ta có thể tiếp xúc với sự vật một cách sâu sắc và sáng suốt hơn. Đây là một phép thực tập rất đơn giản mà quan trọng.



Hãy an trú thảnh thơi với hơi thở vào ra trong giây phút hiện tại. Nếu cảm xúc quá mạnh và hơi thở không đủ giúp ta dừng lại và thư giãn thì hãy đi ra ngoài thiền hành. Chú tâm vào từng bước chân giúp ta dừng lại. Đừng để cho tâm trí bị lôi cuốn vì suy tư, phán xét, phiền muộn và cảm xúc nặng nề. Hãy trở về với phút giây hiện tại, thư giãn và dừng lại. Ngay cả lúc không có cảm xúc quá mạnh thì cũng nên thực tập để khi gặp việc cần giải quyết bạn cũng có thể ngồi yên và nhìn sâu để tìm ra giải pháp.

Nhờ thực tập, bạn có thể thư giãn và làm giảm đi những đau nhức trong cơ thể. Bạn có thể nhận diện những cảm giác đau buồn trong bạn và biết cách ôm ấp, chăm sóc những khổ thọ ấy. Bạn có thể chế tác niềm vui bất cứ khi nào bạn muốn. Nếu thực tập giỏi, bạn sẽ không sợ những chướng ngại và khó khăn. Bạn có thể thích ứng với những khó khăn mà bạn gặp. Nếu thực tập giỏi, bạn không có gì để lo sợ, bởi vì bạn đã có con đường. Khi biết cách làm chủ cơ thể, cảm thọ, tri giác thì không có gì để lo lắng nữa.

Dù là khi đi, đứng, hay ngồi thiền, bạn đều có thể sử dụng hơi thở để giúp bạn dừng lại. Khi bạn dừng lại là bạn làm chủ thân và tâm. Bạn không để những tập khí cuốn bạn đi trong những suy tư về quá khứ hay những kế hoạch cho tương lai. Ngồi thiền không phải là đấu tranh. Bạn buông xuống hết mọi thứ.

Khi một ý tưởng dấy lên, bạn nói “xin chào”, rồi ngay tức khắc giã từ. Đừng chống cự, đừng để một bãi chiến trường trong đầu bạn. Đừng nói: “Ôi, bậy quá, tôi suy nghĩ lung tung quá.” Không cần phải tự trách mình như thế. Chỉ cần cất tiếng chào (Hi!) và tức khắc từ giã (Bye). Buông thư và thả trôi mọi thứ. Đem tâm trí về với hiện tại, an trú trong ý thức minh mẫn về cơ thể của mình. Cũng giống bạn ngâm những hạt đậu xanh trong chậu nước, nước sẽ từ từ thấm vào hạt đậu. Hạt đậu sẽ nở. Hiện tượng ấy cũng xảy ra tương tự cho bạn. Buông thả sẽ làm cho căng thẳng tan biến từ từ, từ từ. Bạn sẽ thư giãn hơn, bình an hơn. Phép thực tập là chỉ cần đem thân về hợp nhất với tâm trong giờ phút hiện tại.

Khi đi, thường thường thân bạn một nơi và tâm bạn một ngả. Bạn tiếp tục trở về với phút giây hiện tại. Thân tâm hợp nhất có ảnh hưởng rất sâu đậm. Bạn sẽ cảm nhận sự vật thông suốt hơn, bình an hơn. Nếu có một ý nghĩ tiêu cực đến lúc đó thì bạn chỉ gửi lời chào (hello), ghi nhận mà không phán xét. Ý nghĩ tiêu cực ấy có thể đến từ cha mẹ bạn hay từ một ai đó. Hãy buông xả và mỉm cười. Hãy thực tập để luôn luôn có một cơ thể trong chánh niệm. Khi ngồi thì biết là mình đang ngồi, hoàn toàn ý thức rằng mình đang ở trong tư thế ngồi. Mỗi bước chân đặt trên mặt đất là một bước chân của bình an, an nhiên, vững chãi.

Thiền tập là nuôi dưỡng

Thiền tập mang lại hạnh phúc ngay tức khắc. Bạn sẽ không còn bị lo âu, sợ hãi, hay bị những dự án cuốn bạn đi. Trở về với giây phút hiện tại, tiếp xúc với cảm thọ vui tươi còn đó trong bạn thì bạn sẽ đạt được niềm vui của thiền tập, niềm vui khi thực tập theo giáo lý của Đức Thế Tôn. Niềm vui khi thiền tập cũng giống như thức ăn hằng ngày (Thiền Duyệt Vi Thực). Không có thức ăn hằng ngày ấy, không có niềm vui mỗi ngày, bạn sẽ khô héo như một bông hoa tàn phai. Khi bạn trở về và có mặt một cách trọn vẹn thì bạn sẽ tiếp xúc liền với những yếu tố tích cực còn đó trong bạn, tâm trí bạn sẽ vui tươi. Hãy tặng cho mình một nụ cười, bạn sẽ rạng rỡ và tươi mát ra. Vậy thì không nên gạt bỏ thức ăn đặc biệt đó vì đó chính là nguồn vui của sự thiền tập.

Thân tâm nhất như

Khi tâm trí bạn buông xả thì cơ thể bạn sẽ thư giãn bởi vì thân và tâm là hai mặt của một thực tại. Nếu tâm trí bạn căng thẳng, gặp nhiều khó khăn, cơ thể bạn cũng sẽ bị ảnh hưởng không ít.

Nhờ dừng lại, dù là đang đi thiền hay ngồi thiền, bạn có thể làm chủ được hoàn cảnh. Thân tâm bạn là do bạn nắm quyền tự chủ; đừng để những lo lắng, sợ hãi, dằn vặt cuốn bạn đi. Khi bị cuốn đi bởi những lo lắng sợ hãi, bạn sẽ giống như một vị quốc vương bị tước hết quyền hành. Thực tập là giành lấy quyền tự chủ. Khi bạn đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm, bạn đang nắm chủ quyền trong tay mình.

An trú trong hiện tại giúp bạn thấy rõ những gì làm bạn đau khổ, những gì làm bạn hạnh phúc. Với năng lượng của định và tuệ, bạn sẽ suy tư, hành động và nói năng sáng suốt hơn.

Chúng ta biết rằng người thương của chúng ta đều vô thường, nhưng trong cuộc sống hằng ngày mình luôn coi họ là thường, sẽ có mặt với chúng ta mãi mãi. Ý thức được như vậy, chúng ta sẽ đối xử với họ một cách yêu thương hơn vì một mai nào đó họ sẽ ra đi. Nhờ ý thức đó, chúng ta có thể hiểu sâu thêm về những khổ đau bên trong mình. Thay vì đổ lỗi cho người khác, chúng ta có thể nhìn lại mình và những vụng về của tự thân đã góp phần gây khó khăn cho người kia.

Hiệp ước sống chung an lạc

(Trích trong pháp thoại ngày 09/11/1997 của Sư Ông Làng Mai)

Chúng ta là những người chưa phải là thánh nhân. Chúng ta còn bị kẹt vào những tri giác sai lầm của mình rất nhiều. Và chúng ta ôm giữ những nghi ngờ, những hờn giận không có căn cứ. Người kia không muốn làm ta khổ, nhưng ta cứ tin chắc rằng người kia muốn trừng phạt, muốn làm ta đau khổ. Vì vậy, chúng ta kéo dài sự giận hờn ấy, có khi suốt cả cuộc đời.

Cho nên, hai người đừng làm như chàng Trương và người thiếu phụ Nam Xương. Hai người là ai? Hai người là vợ chồng với nhau. Hai người là ai nữa? Hai người là cha con với nhau. Nhiều khi vợ chồng, cha con, mẹ con giận nhau chỉ vì một tri giác sai lầm mà cứu tiếp tục làm khổ nhau. Vì vậy, phải tìm đến với nhau để nói cho rõ.

Nhưng khi đến với nhau, phải có khả năng ngồi yên, sử dụng ngôn ngữ hòa ái và phương pháp lắng nghe. Trong đạo Phật, phương pháp lắng nghe gọi là đế thính. Tiếng Anh gọi là deep listening hay compassionate listening. Đó là hạnh của Đức Quan Thế Âm.

Còn ngôn ngữ hòa ái thì gọi là ái ngữ. Tiếng Anh gọi là loving speech. Loving speechdeep listeninglà hai điều mà mỗi người đoàn sinh, mỗi người huynh trưởng phải thực tập cho thật vững, rồi mới có thể tạo dựng và khôi phục hạnh phúc trong gia đình cũng như trong đoàn của mình.

Hiệp ước chung sống trong an lạc sở dĩ có thể thực tập thành công là nhờ hai phương pháp ấy, hai sự thực tập ấy. Tức là deep listening — lắng nghe sâu — và loving speech — ái ngữ.

Từ bây giờ, theo hiệp ước này, khi chúng ta viết một mảnh giấy đưa cho người kia thì có thể viết rằng:

“Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó. Thứ Sáu này chúng ta sẽ ngồi lại để cùng quán chiếu.”

Quán chiếu tức là deep looking — nhìn sâu. Nhưng muốn nhìn sâu thì phải có hai phương tiện thực tập: lắng nghe và ái ngữ. Nếu không có hai điều đó mà ngồi lại với nhau thì chỉ dẫn đến cãi vã và tổn thương thêm.

Vì vậy, trong gia đình mọi người đều phải thực tập hai điều ấy. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là người có khả năng lắng nghe rất sâu và rất giỏi. Ngài cũng sử dụng những lời nói đầy hòa ái. Ngoài ra còn có một vị Bồ Tát khác tên là Diệu Âm. Quan Âm thì lắng nghe rất giỏi, còn Diệu Âm thì nói ra những lời rất hòa ái. Hai vị Bồ Tát ấy đều có mặt trong kinh Pháp Hoa.

Có được hai điều ấy thì việc khôi phục hạnh phúc trong gia đình sẽ trở nên rất dễ dàng.

Từ giờ cho đến thứ Sáu, ta thực tập. Nếu nhận ra rằng mình đã thất niệm, đã vô ý trong lời nói hay hành động và gây khổ cho người kia, thì phải gọi điện thoại xin lỗi ngay. Hoặc nếu trong quá trình thực tập, ta thấy rằng nỗi khổ và sự giận hờn của mình phát sinh từ sự hấp tấp, từ nhận thức sai lầm — rằng người kia không hề muốn làm ta khổ mà ta cứ tưởng như vậy — thì ta phải lập tức gọi điện thoại và nói:

“Anh ơi, em đã giận lầm anh rồi. Em đã có nhận thức sai lầm, đã quá vội vàng và hấp tấp, nên mới sinh ra tri giác sai lầm và vọng tưởng như vậy. Thôi, thứ Sáu này mình chỉ ngồi chơi với nhau, uống trà hay ăn bánh thôi, khỏi cần quán chiếu gì nữa.”

Nói như vậy để người kia bớt buồn.

Nhưng nếu đến chiều thứ Sáu mà vẫn chưa giải quyết được, thì hai người phải ngồi lại với nhau trong không khí thân tình và thanh thản. Trước tiên, thực tập thở khoảng năm phút. Sau đó, một người được phép cầm bông hoa trên tay, và người ấy sẽ nói hết tất cả nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia nghe.

Trong bình hoa đặt giữa hai người chỉ có một bông hoa thôi. Chỉ khi cầm bông hoa trên tay thì mới có quyền nói. Người không cầm hoa thì không được nói. Người nói phải bày tỏ hết những điều trong lòng mình, nhưng với điều kiện là phải sử dụng ái ngữ. Nếu trong lúc nói mà cơn giận dâng lên quá mạnh, đến mức cảm thấy mình không còn có thể dùng lời hòa ái nữa, thì phải dừng lại ngay. Nếu không, mình sẽ vi phạm hiệp ước sống chung an lạc.

Nói tóm lại, theo nguyên tắc, mình có quyền nói hết nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia biết, và cũng có bổn phận phải nói ra. Nhưng điều kiện là phải nói bằng ái ngữ. Nếu cảm thấy mình chưa thể nói bằng ái ngữ, thì có thể xin lỗi:

“Em xin lỗi anh. Em đã cố gắng hết sức, nhưng hôm nay em chưa đủ khả năng để nói bằng lời hòa ái. Xin anh cho phép em hoãn lại khoảng năm ngày hoặc đến tuần sau.”

Làm cha cũng vậy, làm mẹ cũng vậy, làm vợ hay làm chồng cũng vậy. Phương pháp này rất hay. Có những cặp vợ chồng mới cưới thực tập theo phương pháp này và sống rất hạnh phúc. Mỗi tuần, dù không có giận nhau, họ vẫn ngồi lại để “làm mới” với nhau. Vì ngay từ đầu đã có những hạt giống nhỏ của sự không hạnh phúc. Nếu không chăm sóc và chuyển hóa, những hạt giống ấy sẽ lớn dần thành những khối nội kết rất khó tháo gỡ.

Cho nên, mỗi tuần làm mới là điều rất cần thiết.

Trong gia đình, mỗi tuần nên thực tập “làm mới”. Tiếng Anh gọi là beginning anew. Danh từ xưa gọi là “sám hối”. Nhiều người nghĩ sám hối là lạy lên lạy xuống để cầu xin Bụt tha tội. Nhưng bản chất của sám hối không phải là cầu xin tha tội, mà là làm mới lại tâm mình. Những vụng về, lỗi lầm đều phát sinh từ tâm. Nếu mình làm mới và làm sạch được tâm mình, nguyện từ nay không tiếp tục như vậy nữa, thì đó chính là sám hối.

Có câu:

“Tội tùng tâm khởi, tùng tâm sám.

Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong.

Tội vong tâm diệt, lưỡng câu không.

Thị tắc danh vi chân sám hối.”

Nghĩa là những lỗi lầm phát sinh từ tâm mình. Nhưng nếu tâm mình chuyển hóa rồi thì lỗi lầm ấy cũng không còn nữa.

Và khi mình thấy được rằng mình đã vụng về, vội vã, đã vì vọng tưởng và tri giác sai lầm mà nói hay làm những điều gây đổ vỡ, rồi nay mình tỉnh thức và thấy ra điều đó, thì mình phát nguyện từ nay sẽ không tiếp tục như vậy nữa.

“Anh ơi, em biết rằng trong lúc vội vã, bực bội và thất niệm, em đã nói và làm những điều gây đổ vỡ. Em thấy được điều đó rồi. Em nguyện từ nay về sau sẽ cẩn thận hơn, có chánh niệm hơn, sẽ không nói và làm như vậy nữa.”

Đó gọi là “làm mới”, hay theo danh từ xưa là “sám hối”.

Thành ra trong gia đình, mỗi tuần đều nên thực tập làm mới. Dù không có giận hờn, mình cũng nên ngồi lại với nhau, uống trà, ăn bánh và hỏi xem có ai muốn cầm bông hoa lên để nói hay không. Bông hoa lúc nào cũng có đó. Nếu mình có chuyện gì hơi buồn hay hơi bực một chút thì đừng nên giữ lại một mình, vì để lâu rất nguy hiểm. Cho nên, hễ có điều gì buồn hay giận thì đó chính là cơ hội để nói ra và làm mới lại với nhau.

Lúc ấy, mình chắp tay lại và nói:

“Con xin được nói. Con xin được cầm bông hoa để nói.”

Khi bố gật đầu, mẹ gật đầu, anh chị em gật đầu, thì mình đứng dậy, đi từng bước nhẹ nhàng đến bình hoa. Mình nâng cành hoa lên, rồi trở về chỗ ngồi, thở ba hơi thật sâu và bắt đầu nói:

“Hôm trước ba nói như thế này, con thấy đau khổ lắm. Tại vì ba chưa hiểu con nên mới nói như vậy. Sự thật là như thế này, như thế này… Con muốn ba hiểu con hơn.”

Mình nói ra hết tất cả những điều ấy. Phương pháp này rất tốt, rất nhẹ nhõm. Nó giúp đưa những độc tố của giận hờn ra khỏi cơ thể mình — get it out of your system.

Trong khi mình nói, tất cả mọi người trong gia đình đều thực tập lắng nghe. Bởi vì không ai có bông hoa trên tay nên không ai có quyền nói. Chỉ người đang cầm bông hoa mới có quyền nói thôi. Nói xong, mình đi từng bước trở lại, đặt bông hoa vào bình rồi chắp tay cảm tạ mọi người đã lắng nghe mình. Bởi vì tất cả những người ngồi quanh bình hoa đều là đệ tử của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, nghĩa là ai cũng có khả năng lắng nghe sâu.

Một gia đình mà không ai biết lắng nghe nhau thì gia đình ấy là một địa ngục. Mà hiện nay có rất nhiều gia đình như vậy. Không ai biết lắng nghe ai, cũng không ai biết dùng ái ngữ với nhau. Hễ mở lời là nói chua chát, trách móc, lên án nhau. Vì vậy, chúng ta phải học hai điều: hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Âm và hạnh ái ngữ của Bồ Tát Diệu Âm.

Ví dụ như mình là cha, và con mình đang có đau khổ nên nói ra. Khi nghe con nói, mình đừng trả lời ngay lập tức. Trả lời liền thường không có hiệu quả tốt. Mình chỉ nên nói:

“Con đã nói, và bố đã nghe, đã ghi nhận rồi. Bây giờ hai cha con mình uống trà nhé.”

Dù con có nói chưa đúng sự thật, hay còn hiểu lầm, mình cũng cứ để cho con nói hết. Mình chưa cần phản hồi ngay. Cách đó rất hay.

Rồi đến tuần sau, hoặc vài ngày sau, khi con đã nhẹ lòng rồi, mình mới nói lại. Vì nếu phản ứng ngay lúc đó thì rất dễ biến thành đôi co, tranh cãi, và làm mất đi niềm hạnh phúc của người vừa được nói ra nỗi lòng mình. Phải để cho người ấy được hưởng cảm giác nhẹ nhõm ấy trong vài ngày.

Vài ngày sau, trong lúc hai cha con đang vui vẻ với nhau, người cha có thể nhẹ nhàng nói:

“Con ơi, hôm trước con nói thì cha chỉ lắng nghe thôi. Nhưng có lẽ con hiểu lầm cha rồi. Cha đâu có ý như vậy, cha muốn nói thế này nè…”

Trong khung cảnh hòa ái như vậy, con sẽ nghe được. Phương pháp này ở Làng Mai chúng tôi thực tập rất thường xuyên.

Trong phương pháp “làm mới”, bình hoa chỉ có một bông hoa thôi, và người cầm bông là người duy nhất được nói. Tất cả những người khác đều thực tập lắng nghe theo hạnh của Đức Quan Thế Âm. Còn người cầm bông thì thực tập hạnh của Bồ Tát Diệu Âm, tức là nói bằng lời từ ái.

Nếu mình có cơ hội nói mà cảm thấy hôm nay mình chưa đủ khả năng nói bằng ái ngữ, thì mình có thể xin lỗi:

“Hôm nay con chưa đủ vững chãi để nói bằng lời hòa ái. Xin cho con được nói vào dịp khác.”

Bây giờ tôi xin mời một vài thầy và sư cô lên trình bày thêm về hiệp ước sống chung an lạc này. Mỗi chúng ta rồi sẽ có một bản văn để nghiên cứu thêm.

Trước đó, tôi muốn kể thêm một chuyện. Hôm trước, trong một buổi giảng cho ba ngàn người Mỹ ở Santa Monica, tôi có chia sẻ một phương pháp rất đơn giản. Vì chỉ có một tiếng rưỡi để thuyết pháp nên tôi không thể trình bày đầy đủ về “Hiệp ước sống chung an lạc”, mà chỉ đưa ra một phiên bản rất cô đọng.

 

 

Tôi nói rằng khi mình giận, sau khi đi thiền hành xong, mình hãy về viết lên một mảnh giấy ba câu.

Câu thứ nhất:

“Darling, I am angry at you. I suffer. I want you to know it.”

(Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó.)

Nhưng chỉ câu đó thôi thì chưa đủ. Nó cho thấy mình chưa biết thực tập. Vì vậy phải viết thêm câu thứ hai:

“Darling, I am doing my best.”

(Em đang cố gắng hết sức.)

Tức là mình đang cố gắng thực tập hơi thở chánh niệm, đi thiền hành và nhìn sâu. Mình không chỉ là nạn nhân của cơn giận. Mình là con của Bụt, là học trò của thầy, là người thương của anh — nên khi giận thì phải biết thực tập.

Rồi câu thứ ba:

“Please help me.”

(Anh hãy giúp em.)

Cả ba câu ấy đều là ngôn ngữ của thương yêu. Khi đau khổ và giận hờn, mình phải cho người thương của mình biết. Và mình cũng nói rằng mình đang thực tập chứ không buông xuôi theo cơn giận. Hơn nữa, mình không muốn thực tập một mình, nên mình mời người kia cùng thực tập với mình.

Nếu mình là người trẻ và lỡ giận ba mình thì cũng có thể làm như vậy:

“Ba ơi, con đang giận ba. Con đang khổ lắm và con muốn ba biết điều đó.”

Rồi thêm câu thứ hai:

“Con đang cố gắng thực tập theo lời Bụt dạy, theo lời thầy dạy.”

Và câu thứ ba:

“Ba ơi, ba giúp con với.”

Câu đó rất hay. Bởi vì khi giận, người ta thường nói:

“I don’t need you. Stay away from me. Leave me alone. I hate you.”

Tức là: “Tôi không cần anh nữa. Tránh xa tôi ra. Để tôi yên. Tôi ghét anh.”

Giận thường làm người ta nói những điều như vậy.

Vì thế, trong buổi giảng ở Santa Monica, khi tôi trao truyền phương pháp này cho ba ngàn người Mỹ, nhiều người đã rơi nước mắt. Phương pháp rất đơn sơ, nhưng nếu biết thực tập thì sẽ tránh được rất nhiều đổ vỡ.

(Nghe toàn bộ nội dung của bài pháp thoại tại đây)

Sống thật hôm nay

Sư cô Chân Lộc Nghiêm

 

 

Em ơi!

“Hôm nay là ngày trẻ nhất

Trong quãng đời còn lại của ta”.

Bầu trời xanh như mới vừa được sinh ra

Ngọn lá rung mình trong hơi thở chớm thu đầu gió.

 

Cơn mây lững thững trôi, như một câu hỏi nhỏ

Ai đã hứa sẽ sống thật từ lâu?

Mà sáng nay,

mặt trời rọi qua kẽ lá

Thấy tim mình đang khẽ hé xem.

 

Ta chạm vào hơi sương, 

ừ! cũng là phép lạ.

Nghe tiếng chim gọi mặt trời lên,

Mỗi âm thanh là một bông hoa nhỏ

Mở ra trong tâm thức yên lành.

 

Ta đi, nhẹ như đám mây.

Không cần phải đến đâu,

Chỉ cần biết rằng từng bước chân này

Là quà tặng.

 

Sống thật nhé!

Đừng đợi ngày khác để yêu thương,

Đừng hẹn mùa sau để thở sâu thêm một nhịp.

Bởi hôm nay,

chính là kỳ diệu.

 

Và ta,

trong buổi sớm tinh khôi này,

vẫn còn đây,  giữa trời xanh và ngọn lá,

Cười khẽ:

Ơ hay,

Thì ra sống thật

chỉ là biết

đang sống!