Áp dụng pháp môn vào đời sống

(Trích pháp thoại ngày 14 tháng 08 năm 1997 của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Trong các pháp môn thực tập, chúng ta có thiền tọa, thiền hành và nhiều pháp môn khác. Khi tới Làng Mai, quý vị học được cách ngồi thiền, đi thiền, cách ăn cơm, lắng nghe và nói năng có chánh niệm. Những phương pháp đó chúng ta phải học và phải nắm cho vững. 

Theo kinh nghiệm của những người thực tập ở đây thì ngồi thiền không đủ sức để chuyển hóa tập khí của mình, dù cho mỗi ngày mình ngồi 4-5 giờ. Đó là điều chắc chắn. Vì nếu ngồi 5 hoặc 6 giờ một ngày mà những giờ còn lại không thực tập thì những tập khí vẫn thúc đẩy, dẫn dắt mình đi theo những nẻo xấu như thường. Có những người ngồi thiền rất gắt, rất nghiêm túc, ngồi như một tảng đá, nhưng đến khi hết ngồi thiền thì họ lại lăng xăng như cũ. Dường như sự sống trong giờ ngồi thiền không ảnh hưởng gì đến sự sống trong những giờ không ngồi thiền. Muốn cho sự thực tập có chuyển hóa, chúng ta phải thực tập cả 24 giờ một ngày và thiền tọa chỉ là một phần nhỏ của sự thực tập mà thôi. Cơ thể chúng ta có nhiều tư thế. Chúng ta có thể đặt cơ thể trong tư thế ngồi, nằm, đứng, đi hay làm việc. Bất kể trong tư thế nào cũng phải có sự thực tập. Chỉ thực tập cả ngày mới chuyển hóa được bởi vì tập khí và thói quen trong ta rất mạnh. 

Thực tập trong mỗi giây phút

Những người học trò biết thực tập cả ngày là những học trò thương của tôi. Đó là những người trong khi đi, đứng, làm việc đều theo dõi hơi thở, có thực tập quán chiếu cảm thọ, tri giác của mình. Tôi không tin lắm vào những người chỉ ngồi thiền mà không thực tập trong các giây phút khác của đời sống hằng ngày. Những người nào nghe lời Thầy mà thực tập thiền hành, theo dõi hơi thở trong lúc làm việc trong bếp, ngoài vườn hay trong văn phòng thì những người đó là những người được Thầy tin cậy nhất tại vì người đó sẽ đi tới chuyển hóa được. Có những người có thể rất đảm đang, làm việc rất giỏi, ngồi thiền và tụng kinh rất nghiêm túc, nhưng nếu những người đó không thực tập trong đời sống hằng ngày thì tôi không tin tưởng những người đó mấy. Vì tôi biết rằng thực tập 2, 3 hay 5 giờ đồng hồ một ngày không đủ để chuyển hóa. Vậy nên nếu quý vị muốn đi tới sự chuyển hóa trong chiều sâu tâm thức của mình thì không thể nào thực tập sơ sơ, mỗi ngày ngồi thiền nửa giờ, một giờ hoặc là hai giờ được. Quý vị phải thực tập lái xe, nấu cơm, quét nhà, rửa chén, lên hay xuống cầu thang trong chánh niệm thì mới có thể đạt tới sự chuyển hóa.  

 

 

Nếu may mắn có một tăng thân hay một gia đình cùng thực tập với mình thì quý vị có thể đi đến chuyển hóa rất mau chóng. Còn nếu quý vị “đơn thân độc mã”, thực tập một mình thì trong một vài tuần hoặc vài tháng, quý vị sẽ rơi vào quên lãng và bị kéo theo nếp sống gọi là thất niệm của xã hội mà thôi. Quý vị đã tới Làng, sau một tháng những tâm tư trong lòng đã nhẹ đi rất nhiều và nghĩ rằng về nhà mình có thể giữ được sự nhẹ nhàng, sự chuyển hóa đó nhưng cũng chưa chắc. Ở đây mọi thứ đều dễ dàng vì người nào cũng biết đi thiền hành, thiền tọa và giữ năm giới. Không ai buông lung cho những hình ảnh hay âm thanh trái với chánh pháp xâm nhập lỗ tai và con mắt của mình, thành ra mình thực tập giống như chơi. Khi về tới nhà, năng lượng mình có do thực tập với tăng thân có thể giúp mình an trú được trong vài tuần nhưng từ từ mình bị những thứ trong đời sống hằng ngày kéo đi. Mình đánh mất sự thực tập trong vài tháng sau. Cho nên thực tập với tăng thân rất quan trọng.

Chúng ta phải tổ chức đời sống sao cho cả gia đình cùng thực tập và duy trì sự thực tập thì mới mong đạt tới sự chuyển hóa lâu bền và sâu đậm. Mình biết rằng phải hiểu mới thương được nhưng đâu phải chỉ muốn là được. Muốn hiểu được người kia mình phải có công phu, phải sống ngày này qua ngày khác, phải quán chiếu, tìm tòi và nhìn sâu để hiểu tại sao người đó có tật xấu, có thói quen đó và nó bắt đầu từ lúc nào. Mình nhận diện những thói quen, tật xấu của người kia và đồng thời thấy được những thói quen, tật xấu của chính mình. Mình phải nói với người kia rằng: “Em đang có những thói quen, tật xấu như vậy và em đang cố gắng để chuyển hóa. Mỗi lần anh thấy thói quen, tật xấu đó của em hiện ra thì anh hãy giúp em bằng cách giơ ngón tay lên và mỉm cười thì em sẽ biết. Em cũng rất muốn chuyển hóa nó nên thay vì trách móc thì xin anh hãy làm như vậy để giúp em ngừng lại. Em sẽ trở về ôm lấy nó để chuyển hóa.” Đó là phương pháp rất hay. Mình là người thương của nhau, muốn giúp cho nhau thì mình phải làm một cách thông minh như vậy. “Em cũng hứa rằng khi thói quen, tật xấu của anh bắt đầu hiện ra thì em sẽ không buồn, không la lối hay phản đối mà em sẽ giơ ngón lên và mỉm cười để giúp anh”.

Đem tuệ giác áp dụng vào đời sống 

Khi nghe Thầy giảng, ta có thể hiểu và bớt khổ liền lập tức. Điều đó có thể xảy ra vì chúng ta bắt đầu có tuệ. Tuệ tức là những cái thấy sáng. Nhưng mà chỉ thấy thôi vẫn chưa đủ. Chúng ta phải đem chúng áp dụng vào đời sống hằng ngày. Những cái thấy đó phải được sống trong lúc mình rửa chén, nấu cơm, làm vườn hay lái xe. Nhờ sự thực tập trong đời sống hằng ngày mà mình đi tới sự chuyển hóa vững chãi. Không chỉ nghe và hiểu được những lời Thầy giảng, cởi mở được trái tim là đã đủ. Tập khí có thể trở lại và làm mất đi tuệ giác, mất đi sự giác ngộ của mình. Trong lúc mình đọc kinh, nghe băng giảng, nghe Thầy giảng hay đi thiền hành mà có một cái thấy nào đó đi lên thì mình phải lập tức viết cái thấy của mình lại. Tuệ giác đó là một điều rất cụ thể. Ví dụ mình đang có khó khăn, khổ đau khi sống với một người nào đó. Hôm nay đi thiền hành, mình thấy ra rằng nếu mình nói năng, hành xử với người đó theo cách khác thì sẽ bớt khó khăn cho đôi bên, giúp người đó và mình bớt khổ. Thấy được như vậy thì mình phải lập tức viết cái thấy đó xuống một trang giấy. Cái thấy đó có thể cứu mình ra khỏi tình trạng khó khăn của bản thân. Mỗi buổi sáng mình có thể đem nó ra đọc hoặc trong giờ ngồi thiền có thể đem ra để ôn lại. Mình quyết tâm sống ngày hôm nay theo đúng tuệ giác mà mình đã thấy khi đọc kinh hay ngồi thiền. 

 

 

Nhiều khi sự giác ngộ đó có thể không phải do Thầy nói mà do chính mình tìm ra. Nhưng dù cho cái thấy đó là từ tâm phát ra mà mình không đem áp dụng vào đời sống hằng ngày thì cũng không có sự chuyển hóa. Thấy đạo nhưng phải hành đạo. Thấy thôi thì chưa đủ. “Kiến đạo” cần đi kèm với “tu đạo” rồi mới “chứng đạo” được. Ví dụ khi sống với một người, thỉnh thoảng mình hay bực bộivới lời nói và việc làm của người đó. Hôm nay, lúc đang rửa chén trong chánh niệm mình tìm ra cách là mỗi khi người đó nói mà mình thấy hơi bực thì mình lập tức thở, không tiếp tục suy nghĩ đến lời nói của người đó nữa. Chỉ thở và mỉm cười. Có những bài hát có thể giúp mình thực tập như bài “Quay về nương tựa”. Khi thấy sự bực bội bắt đầu nhen nhóm trong tâm, mình có thể thở theo bài hát:

               Quay về nương tựa hải đảo tự thân

                 Chánh niệm là Bụt soi sáng xa gần…

Hay:        Thở vào, thở ra là hoa tươi mát..

Nếu nắm được lời của bài hát mà thở thì mình không nói ra những điều tai hại có thể làm đổ vỡ mối liên hệ của mình và người đó. Trong khi rửa chén mình quyết định như vậy thì lúc rửa chén, lau tay xong, mình viết và bỏ vào trong túi, để nó làm vật tùy thân như là chiếc đồng hồ của mình vậy. Mỗi khi người đó nói hay làm một điều gì khiến mình bực thì mình lấy nó ra, nhìn vào những gì đã viết và mỉm cười. Người đó không biết là tại sao mình mỉm cười và mỉm cười với cái gì. Người đó chỉ thấy rằng sau khi mỉm cười thì mình bắt đầu thực tập thở. “Thở vào, thở ra là hoa tươi mát”. Chúng ta có thể ngồi đó hay là đi ra ngoài vườn để thực tập. Thực tập như vậy là thực tập Ba La Mật và mình vượt ra khỏi sự bực bội trong tâm. Nếu làm được thành công một lần rồi thì mình có thể làm lần thứ hai. Mình có thể bỏ miếng giấy đó trở lại vào túi để mỗi khi cần thì lấy ra lại. Giống như mỗi khi đi làm về, mình lấy chìa khóa ra mở cửa và vào nhà, miếng giấy nhỏ đó cũng là một loại chìa khóa giúp mình mở cửa bước vào căn nhà “vô sân”, nghĩa là căn nhà của sự không sân giận. Cái đó gọi là tụng kinh. Mỗi khi người đó tưới hạt giống giận của mình thì mình nhắc người kia: ”Anh đã được nghe Thầy giảng rồi mà, nếu anh thương em thì đừng tưới hạt giống đó của em”. Sau khi nhìn vào tờ giấy, sự sân giận đã dịu bớt, mình ngẩng đầu lên, vừa cười vừa nói như vậy với người kia thì mình tước khí giới của người kia liền lập tức vì người kia cũng đã được nghe giảng, cũng đã biết sự thực tập rằng thương nhau thì không nên tưới tẩm hạt giống tiêu cực của nhau. Sống với nhau mà mỗi ngày mình tưới tẩm hạt giống giận cho nhau thì không thể ở với nhau lâu dài được. 

Thiền lái xe và thiền rửa chén

Những cái thấy, những tuệ giác đó nhiều khi mình có nhưng mình không sống được với nó. Lâu lâu tới chùa để nghe Thầy giảng cho bớt khổ nhưng nếu chùa hơi xa, Thầy hơi xa thì mình than phiền rằng mười mấy năm nay Thầy hứa mà Thầy không trở về nước Úc gì cả. Kỳ thực Thầy nằm ở trong túi mình đó. Mỗi khi muốn có Thầy thì lấy tờ giấy ấy ra, nhìn vào, thở và mỉm cười thì Thầy có mặt với mình ngay lập tức và mình giải quyết được vấn đề. Mình không cần phải chạy đến Làng Mai mới giải quyết được. Làng Mai nằm trong túi của mình, nằm trong trái tim của mình. Vì vậy phải tổ chức đời sống một cách thông minh. Khi từ Làng về tới thành phố, về tới nơi ở rồi, mình ngồi xuống và làm ra một phương án để áp dụng những gì đã học được vào đời sống. Ví dụ mỗi khi lái xe đến ngã tư, gặp đèn đỏ, thay vì bực bội, mình ngả lưng ra ghế, buông thư hai chân và hai tay, mỉm cười với đèn đỏ và thở theo bài “Quay về nương tựa hải đảo tự thân”. Thầy đã dạy như vậy rồi mà. Có những người nhìn đèn nhấp nháy của xe trước mặt thấy như là Thầy đang nháy mắt với mình, đang ra hiệu cho mình thở. Có những người thực tập được như vậy thì tại sao mình không thực tập như vậy. Ban đầu khi chưa nhớ thực tập, mình có thể dán một tờ giấy với dòng chữ “Đèn đỏ thì thở” trên vô lăng hay trên kính xe. Mỗi lúc gặp đèn đỏ, nhìn miếng giấy đó, mình nhớ thở. Mình làm cho đến khi nào việc thở khi gặp đèn đỏ trở thành một thói quen thì mình lấy miếng giấy đó xuống và bỏ đi. Mỗi khi tới một cái đèn đỏ là mình có cơ hội để thở. Những lúc như vậy thì Thầy ngồi bên cạnh mình chứ không đâu xa.

Thầy cũng dạy cho mình cách rửa chén sao cho có an lạc và hạnh phúc ngay trong khi rửa chén. Mình có thể rửa chén lâu hơn một chút nhưng trong đó có sự sống, có an lạc. Nếu trong lúc đó mà bực bội, giận hờn, buồn bã thì mình đang đánh mất và tiêu diệt sự sống, đánh mất sự an lạc của mình. Như vậy là mình chưa học được gì từ Thầy. Khi đã ý thức rồi thì mình bắt đầu rửa chén một cách kính cẩn như là đang tắm cho một đức Bụt sơ sinh. Mình có an lạc, hạnh phúc ngay trong khi rửa chén. Ngày xưa Thầy rửa chén cho đại chúng một trăm người mà không có nước nóng hay xà phòng, chỉ có tro bếp và xơ dừa thôi. Bây giờ mình rửa chén có xà phòng, nước nóng, có đủ thứ hết mà tại sao không có hạnh phúc trong lúc đó. Nếu mình tự hỏi câu hỏi đó thì rửa chén trở thành ra một phương pháp thực tập. Mình có thể viết một mảnh giấy nhỏ “Rửa chén cho có hạnh phúc” ngay nơi rửa. Chỉ khi nào đạt tới thói quen rửa chén có hạnh phúc rồi, mình mới gỡ tờ giấy ấy ra. Thực tập được như vậy thì bất cứ lúc nào mình mở nước ra chuẩn bị rửa chén thì Thầy, Bụt cũng đứng đó rửa chén với mình và mình có hạnh phúc.

 

 

Bức tranh xà lách của Thầy

Những năm đầu khi Làng Mai mới mở cửa, Thầy có một căn phòng trên xóm Thượng. Đó là tầng trên quán cà rem của thầy Pháp Ứng. Vì thiền sinh tới đông nên Thầy phải chia phòng với ba em thiếu nhi Việt Nam. Thầy cũng dùng phòng đó để tiếp khách và cho các thiền sinh tham vấn, nhất là các đệ tử. Tham vấn với đệ tử không phải lúc nào cũng dễ chịu tại vì có những vị rất cứng đầu và nói những câu rất khó nghe khiến mình bị tổn thương. Người đó không tiến bộ, có những nhận thức sai lầm, có những cái có thể gây bực mình. Những điều Thầy mong muốn người đó thực hiện thì người đó làm không được. Người đó trồi lên, sụp xuống trong sự thực tập.

Thầy muốn làm sao buổi tham vấn đó trở thành dễ chịu cho Thầy và cho người tới tham vấn. Cho nên Thầy cố tình thực tập để nửa giờ tham vấn đó có lợi lạc cho cả hai bên. Vì vậy Thầy treo một tờ giấy lên tường để nhắc Thầy. Trên tờ giấy đó, Thầy vẽ một cây xà lách và những đám mây với những hạt mưa đang rơi xuống trên cây xà lách. Thầy ngồi đối diện với bức tường và người tham vấn, như vậy Thầy vừa nhìn được người tham vấn vừa nhìn được bức tranh. Bức tranh đó là tiếng chuông chánh niệm của Thầy. Nó nhắc Thầy rằng khi mình trồng xà lách mà chúng không lên tươi tốt, mình không nên dại dột mà trách những cây xà lách. Nếu mình cho đủ nước, bón đủ phân thì chúng phát triển tốt tươi còn nếu chúng èo uột, xấu xí nghĩa là mình chăm sóc chưa đúng cách. Thầy cũng nghĩ như vậy đối với những người đệ tử. Mỗi vị là cây xà lách của Thầy. Nếu mình dạy dỗ không khéo thì người đó tiến bộ chậm. Nếu Thầy bực mình thì chỉ vô ích, chỉ có hại cho Thầy và người đệ tử thôi.

Trong khi ngồi tham vấn, Thầy vừa thấy người đệ tử vừa thấy bức tranh kia. Thầy vừa thở vừa nghe nên Thầy không bực mình. Thỉnh thoảng người đệ tử nói những điều rất dại dột và không dễ thương, Thầy chỉ ngồi đó thở và mỉm cười thôi. Sau đó Thầy từ tốn dùng lòng từ bi soi sáng, giúp đỡ cho vị đó. Ngoài Thầy ra không ai hiểu được ý nghĩa của bức tranh và nó giúp Thầy rất nhiều. Nhờ nó mà những buổi tham vấn đều thành công hết tại vì trong đó có tuệ giác, có tình thương. Điều đó không có nghĩa là Thầy không có tuệ giác và tình thương nhưng mình không giữ nó có mặt 100% được trong suốt nửa giờ đồng hồ nên mình cần tự nhắc mình bằng cách treo lên bức tranh đó. Thầy làm như vậy thì đệ tử cũng nên làm như vậy. Phải tìm cách nhắc nhở mình, tìm cách đem tuệ giác của mình áp dụng vào đời sống hằng ngày chứ đừng đợi đến lúc có những khổ đau, khó khăn rồi mới chạy lên chùa, nghe Thầy giảng cho đỡ khổ một chút rồi trở về. Mình phải thực tập thông minh. 

Thiền điện thoại

Thầy đã dạy và mình đã học được phương pháp nghe chuông điện thoại. Mỗi khi có người gọi đến là một cơ hội cho mình dừng lại để thở, mỉm cười. Khi về nhà, mình nên tìm cách thuyết phục mọi người thực tập chánh niệm khi nghe chuông điện thoại. Nếu thực tập được điều này trong gia đình thì chỉ nội trong vài ngày không khí gia đình đã dễ chịu hơn rồi. Khi chuông điện thoại vang lên thì tất cả mọi người đều ngồi yên tại chỗ của mình. Người nào cũng thở và mỉm cười hết. Và nếu trong nhà của mình đang có một người khách, người đó có thể sẽ ngạc nhiên và hỏi rằng tại sao tiếng chuông điện thoại vang lên mà ai cũng ngồi yên, không nói năng gì cả. Mình có cơ hội giải thích cho người đó về thiền điện thoại. Lần tới, khi người đó gọi đến, nghe tiếng đổ chuông thì biết là mọi người trong gia đình đang thở. Vào lúc ấy, người ấy cũng sẽ thở vì biết rằng trước khi ba tiếng chuông kết thúc thì sẽ không ai nhấc máy lên. Ai cũng thở và mỉm cười thì tại sao mình không làm tương tự? Và sự thực tập sẽ lan tới những người khác.

Trong một khóa tu trước, Thầy có kể chuyện về cái cầu thang. Nhiều sư cô, sư chú ở Làng đã kí Hiệp ước với cái cầu thang. Mỗi khi đi lên hay xuống cầu thang là họ đi trong chánh niệm. Đi từng bước thong thả để có sự sống, an lạc, thanh tịnh và sự dừng lại. Nếu đi nửa chừng mà biết rằng mình đã bước một, hai bước trong thất niệm thì không bước tiếp nữa, đi trở lui xuống để bước lên lại. Nếu nhà mình không có cầu thang, mình có thể kí hiệp ước với một đoạn đường nào đó. Mỗi khi đi trên đoạn đường đó, mình phải đi những bước có chánh niệm, thảnh thơi và vững chãi. Nếu đi được nửa chừng mà mình thấy phẩm chất của những bước chân không được như vậy thì mình không đi tiếp nữa mà quay trở lui lại về nơi bắt đầu để bước lại những bước chân thật sự có ý thức. Sau một thời gian thực tập, đi bất cứ đâu mình cũng bước được những bước chân vững chãi như vậy, nắm được thân và tâm của mình. Thầy cũng kí hiệp ước với cầu thang và thực tập đi như vậy trong suốt hai mươi năm mà chưa bao giờ phản bội lời ước nguyện của mình với cái cầu thang cả. Đi đâu Thầy cũng đi thảnh thơi, an lạc, không chạy như bị ma đuổi nữa vì Thầy đã thành công trong hiệp ước với cái cầu thang. Nhà nào không có cầu thang, ít nhất cũng có con đường đi từ ngoài cổng vào nhà. Tại sao mình không dùng để làm nấc thang cho con đường chuyển hóa của mình? Đừng nói rằng ở chỗ của tôi không tu được. Chỗ nào cũng tu được.

 

 

Chúng ta để cho ai quản lý cuộc đời của mình? Cuộc đời chúng ta, chúng ta phải tự quản lý. Chúng ta phải dùng hết tài năng, sự thông minh để tổ chức cuộc đời của mình. Chúng ta không thể đi tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác. Trong gia đình không có hạnh phúc nên mình tìm tới học đường. Ở học đường không có hạnh phúc, mình tìm tới nhà thờ. Tới nhà thờ không có hạnh phúc, mình tìm đến chùa. Nếu tới chùa không có hạnh phúc nữa thì mình đi đâu? Bất cứ trong một trường hợp hay hoàn cảnh nào, chúng ta cũng phải phá một đường thoát, tìm nó ngay trong hoàn cảnh đó chứ đừng chạy trốn. Nếu chúng ta chạy quanh thì chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta sẽ không đi về đâu hết. Khi về tới nhà chúng ta tổ chức như thế nào để có thể tiếp tục áp dụng những pháp môn mà chúng ta học được ở Làng Mai như thiền điện thoại, thiền lái xe, thiền hành vào trong đời sống hằng ngày. Nếu biết tu thì bất kì một gốc cây, tảng đá, một con đường hay một mảnh trời xanh đều có thể trở thành ra một phương tiện cho mình tu học cả.

 

 

 

Kệ truyền đăng trong khóa tu An cư 2022 tại Làng Mai Pháp

Lễ Phó pháp truyền đăng là một truyền thống sinh hoạt rất đẹp, rất đặc thù và có ý nghĩa trong đạo Bụt. Ở Làng Mai, trong buổi lễ này mỗi vị giáo thọ đắc pháp đều được nhận một cây đèn và một bài kệ truyền đăng. Cây đèn tượng trưng cho ánh sáng chánh pháp, là ngọn đèn tuệ giác chư Bụt, chư Tổ và Thầy trao truyền lại. Bài kệ với tên của người được truyền đăng là những hạnh nguyện, những lời gửi gắm, nhắn nhủ từ Thầy và tăng thân đến vị giáo thọ mới. 

Dưới đây là những bài kệ truyền đăng trong khóa tu An cư diễn ra vào ngày 13 tháng 11 năm 2022 tại Làng Mai Pháp: 

 Sư cô Chân Trăng Tin Yêu

Trăng quê hương vẫn sáng

Chí nguyện chưa từng quên

Niềm Tin không phai nhạt

Đem Yêu thương mọi miền

       Chân Quang Trang  
( True Adornment with Light )
 
Understanding is the clear light
 
That dispels all hatred and fear
 
 It adorns the untended garden
 
 Where all beings can enjoy the fruit.
 
      
         Chân Hạnh Toàn 
( Vraie Conduite Parfaite )
 

Tấm lòng hiếu hạnh vẹn toàn 

Nguyện theo gương sáng theo dòng Tổ tiên

Không bùn không đóa hoa sen

Trời xanh mây trắng thênh thang đường về
 
 
         True Source of Listening
 
By listening to the cries of the world 
 
Drops of compassion well up at the source
 
 By transforming mud into lotuses
 
Faith in the three precious jewels deepens.
 
       
            Chân An Đạo 
 (Vrai Chemin de la Paix )
 

 An ban thủ ý phá tâm nghi

Lắng nghe, nhìn thấu đạo thâm sâu

Một tâm bước vững vào rừng tía

Vượt sóng ba đào như dạo chơi

 

Lễ truyền đăng trong khóa tu An cư 2022 tại Làng Mai Pháp

Mùa an cư đã đi được hai phần ba chặng đường. Đại chúng ai cũng hết lòng đầu tư thời gian và năng lượng vào sự thực tập. Dù cho nắng hay mưa, yên bình hay gió bão, nhịp sống vẫn trôi chảy và thời khóa cứ miên mật đưa con thuyền Tăng thân đi tới. Kho tàng của nếp sống tỉnh thức Thầy trao, chúng con đang cùng nhau gìn giữ. Ngọn đèn tâm ngày trước Thầy thắp sáng giờ đây tiếp tục được cháy lên trong lòng tăng thân khắp chốn. 

Vào ngày 13 tháng 11, thầy Pháp Ứng và sư cô Chân Không đã thay mặt tăng thân thực hiện truyền đăng phó pháp cho 5 vị giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ mới. Từ giây phút ngọn đèn tuệ giác được tiếp nhận, dòng chảy chánh pháp có cơ hội lưu nhuận xa hơn đến mọi nẻo đường sự sống nhờ vào nếp sống tỉnh thức và ngọn lửa bồ đề tâm nơi mỗi người con Bụt.

Trong buổi lễ, sư cô Chân Không đã gửi những những lời chia sẻ đầy tình thương và niềm tin đến những vị giáo thọ mới: “Ngọn đèn trí tuệ này đã được gìn giữ qua nhiều thế kỉ bằng sự thực tập Giới, Định, Tuệ của liệt vị tiền nhân. Hãy mang nó về đất nước của con để nó lan tỏa đến với mọi người thuộc những truyền thống tâm linh khác nhau.”

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:

 

 

Sự kiện trực tuyến: Ngày thứ 6 màu nâu (Brown Friday)

Những năm gần đây, Black Friday (Ngày thứ 6 đen tối) đã dần trở nên quen thuộc hơn với nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Black Friday là ngày thứ sáu ngay sau Lễ Tạ Ơn (một ngày lễ hằng năm được tổ chức chủ yếu tại Mỹ và Canada, rơi vào thứ năm cuối cùng của tháng 11), đây được coi là ngày mở đầu cho mùa mua sắm Giáng sinh ở Mỹ. Các doanh nghiệp, các cửa hàng đều giảm giá mạnh để khuyến khích người tiêu dùng mua sắm. Việc mua sắm này thường được miêu tả là dấu hiệu của một nền kinh tế phát triển và là một hình thức tận hưởng ngày nghỉ lễ.

 

 

Tuy vậy, dồn hết năng lượng và bỏ nhiều thì giờ vào việc mua sắm có thể tưới tẩm những hạt giống thèm khát, giận dữ và cả lo lắng trong chúng ta. Cảnh tượng những bảng giảm giá có mặt khắp nơi hay người người chen chúc, đổ xô vào các cửa hàng trong ngày Black Friday ngày càng phổ biến trên các đường phố. Sự sản xuất và tiêu thụ thiếu chánh niệm của xã hội hiện nay đang làm dấy lên những lo ngại về sinh môi cũng như tương lai của Trái đất. Sức hút của sự tiêu thụ rất lớn, chỉ có năng lượng chánh niệm và ý thức chung của cộng đồng mới đủ khả năng kháng cự lại.

Vào ngày 25/11/2022, lúc 9h00 sáng (giờ ở tu viện Lộc Uyển), tương đương với khoảng 00h00 (giờ Việt Nam) ngày 26/11/2022, quý thầy, quý sư cô tại Tu viện Lộc Uyển, Làng Mai, Mỹ sẽ hiến tặng một buổi gặp gỡ trực tuyến với chủ đề “Brown Friday” (ngày thứ 6 màu nâu). Với việc thắp sáng ngọn đuốc chánh niệm nơi tự thân, mỗi cá nhân sẽ góp phần chuyển đổi nếp sống tiêu thụ của xã hội đi về hướng giản đơn, chừng mực với tượng trưng là màu nâu bình dị-màu áo của những người nông dân cũng như của những vị xuất sĩ Làng Mai.

Trong khung cảnh một buổi tối đầm ầm chúng ta sẽ có mặt, thưởng thức một tách trà nóng, chia sẻ về hành trình tâm linh hay những kinh nghiệm xung quanh việc sở hữu hay buông bỏ một món đồ. Cùng nhau, chúng ta chống lại cám dỗ của nhu yếu tiêu thụ, thiết lập lại chủ quyền cũng như có cơ hội khám phá ra rằng mình đã có đủ những điều kiện hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Buổi gặp mặt sẽ chủ yếu bằng tiếng Anh với thông dịch tiếng Việt, tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp.

Dưới đây là đường dẫn đăng kí:

  25/11BrownFriday(ngaythu6maunau)

 

 

 

 

Đem chánh niệm vào trường học

(Bài viết được chuyển ngữ bởi An Ban Team, Wakeup schools Việt Nam)

Richard Brady (Chân Pháp Kiều) là một giáo viên toán trung học đã nghỉ hưu, và là một giáo thọ cư sĩ của Làng Mai. Richard cũng là người hướng dẫn khóa tu, là nhà văn, nhà tư vấn giáo dục và điều phối viên của Chương trình Wake Up Schools (cấp độ II) ở Bắc Mỹ. Gần đây ông đã viết một cuốn sách có tựa đề “Walking the Teacher’s Path with Mindfulness” (tạm dịch: “Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm”). Đây là đoạn trích của một cuộc phỏng vấn do Kaira Jewel Lingo thực hiện vào tháng 8 năm 2021, được tổ chức bởi Wake Up Schools, Làng Mai. Các bạn có thể xem toàn bộ cuộc phỏng vấn tại youtu.be/o68kYh2N_U4.

 

 

Đi tìm con đường chánh niệm

Thưa bác, nhân duyên nào đưa bác đến với con đường chánh niệm và sự thực tập chánh niệm đã giúp bác thay đổi ra sao?

Năm 1987, tôi tìm thấy cuốn sách Phép lạ của sự tỉnh thức. Khi đọc câu chuyện đầu tiên trong cuốn sách về cách làm sao tìm được thời gian không có giới hạn cho chính bản thân, tôi đã nghĩ, tôi cần mang cuốn sách này vào lớp toán và đọc cho học sinh của mình. Tôi tin các em sẽ nhận được rất nhiều lợi ích từ việc này. Học sinh có quá nhiều bài vở và chịu áp lực học hành khá lớn nên việc chạm vào được thời gian không giới hạn cho bản thân sẽ là món quà tuyệt vời nhất mà tôi có thể dành cho các em.

 

 

Mỗi ngày đến lớp, tôi bắt đầu tiết học với một trích đoạn trong cuốn sách. Khi nghe hết cuốn sách đó, các em nói là thích nghe một cuốn sách khác. Vậy là tôi đọc tiếp cuốn Trái tim mặt trời. Lúc đó, đọc sách của Thầy đối với tôi giống như đọc sách khoa học viễn tưởng vậy, bởi tôi không thấy bất kỳ ai sống theo cách Thầy mô tả, và cũng không biết làm thế nào mà có thể sống theo cách đó.

Vào cuối năm học, các học sinh cuối cấp được phép thực hiện các dự án đặc biệt, sau đó báo cáo kết quả dự án với cả lớp. Tôi rất xúc động khi nghe một em chia sẻ về hai tuần của mình tại một trung tâm thiền ở Washington, DC, nơi em đến mỗi ngày để thực tập và phụ giúp công việc. Quay trở lại trường, em ấy nhìn thật rạng rỡ và tràn đầy năng lượng. Trong phần hỏi đáp, một bạn trong lớp hỏi em: “Chris, mình thấy bạn dường như đã thay đổi sau trải nghiệm này. Bạn đã dành rất nhiều thời gian để ngồi thiền, nhưng điều gì thật sự làm cuộc sống của bạn thay đổi?” Chris suy nghĩ một phút và trả lời: “Chánh niệm đã làm thay đổi cuộc sống của mình theo nhiều cách. Rất khó diễn đạt thành lời! Nhưng mình có thể nói là mình bớt nóng tính hơn”. Khi nghe câu trả lời của Chris, tôi nghĩ: “Đây là người thầy của tôi!” Tôi nói với Chris, “Thầy cần phải làm những gì em đang làm. Thầy cần bắt đầu thực tập thiền”.

Đó là khởi đầu dẫn dắt tôi đến với Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Mọi thứ sau đó dường như là định mệnh.

Đem chánh niệm vào trường học

Thưa bác, bác đã bắt đầu đưa sự thực tập chánh niệm vào trường học như thế nào và nó tác động đến các học sinh ra sao?

Khi gặp được Thầy và bắt đầu con đường thiền tập, tôi vẫn chưa sẵn sàng mang pháp môn này vào trường Quaker, nơi tôi giảng dạy. Lúc ấy, tôi chưa thấy cơ hội nào thuận tiện và sự thực tập của tôi còn rất non yếu. Vì vậy, tôi chỉ chuyên tâm thực tập. Một vài năm sau, trường đưa ra một khóa học mới, có tính bắt buộc, dành cho học sinh lớp chín. Khóa học này có một học phần về sức khỏe. Tôi đến gặp giáo viên dạy môn đó và hỏi liệu tôi có thể dạy một buổi về cách giảm căng thẳng không? Cô bạn đồng nghiệp hoan hỷ yểm trợ. Thế là tôi bắt tay soạn giáo án.

Tôi chỉ có 45 phút, vì vậy bất cứ điều gì tôi làm cần phải gây một ấn tượng đáng nhớ trong lòng các em. Tôi tự hỏi, các em thực sự quan tâm đến điều gì? Frank McCourt, tác giả của cuốn “Teacher Man” (Người thầy – Hồi ức của một nhà giáo Mỹ), cho rằng có hai thứ mà học sinh trung học của ông quan tâm: tình dục và thức ăn. Còn đối với tôi, tôi muốn thêm một điều, đó là các em rất muốn tìm hiểu chính mình. Các em là những đứa trẻ mười bốn tuổi đang cố hình dung xem mình là ai. Vậy thì tại sao tôi không thử mời các em khám phá tâm trí của chính các em?

Tâm trí thường là một phần chưa được biết, chưa được khám phá của chính chúng ta. Chúng ta biết cách sử dụng nó nhưng lại không biết điều gì đang diễn ra bên trong. Vì vậy, tôi mời các em học sinh làm một bài thực hành, đó là quan sát điều gì xảy ra trong tâm trí của mình trong vòng năm phút. Tôi so sánh tâm trí như một sân khấu nơi sẽ xuất hiện những vai diễn khác nhau. Nhân vật sẽ ở đó một lúc, rồi sẽ rời đi. Sau đó, tôi mời cả lớp cùng chia sẻ về những gì các em có thể nhìn thấy trên sân khấu của chính mình. Các em nhận ra là mình có ý thức hơn về những cảm xúc, suy tư, những cảm giác đến từ bên trong cũng như từ những tác động của thế giới bên ngoài.

Các em được hướng dẫn là chỉ tập trung chú ý đến những gì đi lên trong tâm trí mà thôi. Tôi hỏi: Các em có nghĩ là trên sân khấu có thể có nhiều diễn viên xuất hiện cùng một lúc không? Hầu như các em đều trả lời rằng điều đó có thể xảy ra, nhưng các em không chắc. Sau đó tôi lại hỏi: liệu sân khấu có thể để trống trong một thời gian hay không? Chỉ có một vài em nghĩ rằng điều này là có thể. Sau khi cả lớp thử nghiệm quan sát tâm trí của mình, tôi chuyển sang câu hỏi: Có bao nhiêu người đã có suy nghĩ hoặc cảm xúc tiêu cực trong năm phút vừa qua? Hầu như các em đều trả lời có. Những suy nghĩ đều liên quan đến những việc chưa xảy ra, những việc đã xảy ra, hoặc một vấn đề có thể liên quan đến bạn bè hoặc cha mẹ, và đôi khi là một vấn đề đang xảy ra ngay thời điểm hiện tại khi mà các em không thích những gì mình đang làm. Vì vậy, thật dễ dàng để tôi bắt đầu chia sẻ với các em về những gì đang diễn ra trong tâm trí ảnh hưởng như thế nào đến cuộc sống của các em.

Khi có nhiều suy nghĩ tiêu cực đi lên trong tâm trí, có thể ta sẽ cảm thấy chán nản nếu ta chú ý quá nhiều đến chúng, trừ khi ta có thể làm gì đó với những suy nghĩ này. Vì vậy, tôi đã nói: “Có một điều các em có thể làm!” Và chúng tôi đã cùng nhau thực hành một bài thiền tập ngắn:

Thở vào, tôi thấy tôi là bông hoa.
Thở ra tôi cảm thấy tươi mát.
Thở vào, tôi thấy tôi là trái núi.
Thở ra, tôi cảm thấy vững vàng.

Qua bài thực hành, các em bắt đầu nhận thấy tâm trí có ảnh hưởng vô cùng quan trọng đến cuộc sống của mình. Và các em biết rằng mình có thể làm một điều gì đó để tâm trí trở nên cởi mở, tích cực hơn.

Nhiều năm sau, một số em khi về thăm tôi còn nhắc lại kỷ niệm cả lớp cùng nghe một đoạn trích trong các tác phẩm của Thầy vào đầu buổi học. Có em thì nhớ những điều tôi đã chia sẻ trong các tiết học về giảm căng thẳng. Tôi nhận thấy rằng giảm căng thẳng không chỉ là vấn đề của trường học mà thôi. Thực ra, cả thế giới đang trong tình trạng căng thẳng. Tôi có thể thấy chánh niệm sẽ trở thành một con đường hết sức quan trọng, giúp ta chủ động đối diện với những khó khăn, thách thức trong thế giới mà tất cả chúng ta đang bước vào.

Trong hai năm cuối trước khi về hưu, tôi đã bước thêm một bước nữa. Tôi được nhà trường cho phép bắt đầu mỗi tiết học của mình với năm phút thực tập chánh niệm. Đôi khi tôi cho các em đọc một bài thơ hoặc một truyện ngắn của Thầy cũng như của nhiều tác giả khác. Mỗi tuần một lần, các em có giờ “tự do sáng tác” (“free writing”). Trong giờ đó, các em được hướng dẫn ghi lại bất cứ cái gì đi lên trong đầu mình trong vòng năm phút. Đây là một trải nghiệm có tính cách mạng đối với nhiều em. Cuối năm học, các em đã viết thư kể cho tôi nghe những đột phá quan trọng, cũng như những điều các em thấy được về chính mình trong quá trình viết hay sáng tác trong chánh niệm.

 

 

Chánh niệm và toán học

Thưa bác, là một giáo viên dạy toán, làm thế nào mà bác có thể kết nối chánh niệm với toán học trong việc giảng dạy của mình?

Ban đầu, việc kết nối chánh niệm với toán học quả là một thách thức đối với tôi. Bởi vì toán học tập trung vào việc phân tích và tìm câu trả lời. Toán học hướng đến điểm cuối cùng, đến kết quả. Trong khi đó, chánh niệm lại là sự có mặt trong từng khoảnh khắc và có mặt cho bất cứ điều gì đang biểu hiện. Điều quan trọng đối với tôi trong việc giảng dạy là giúp các em học được cách ngồi yên và nhìn sâu vào một bài toán, mặc dù chưa có đáp án, hoặc chưa tìm ra phương pháp để giải nó. Em chỉ cần ngồi với bài toán mà không cảm thấy rằng em sẽ bị phạt nếu em không tìm ra đáp án.

Trên thực tế, đôi khi tôi sẽ hỏi: “Câu hỏi nào đi lên trong các em khi nhìn vào bài toán này? Cái gì đi lên trong đầu các em?” Tôi muốn các em học cách suy tư và thấy rằng các em có thể ngồi với một vấn đề nào đó và để cho những câu hỏi tự đi lên trong mình, chỉ cần như vậy thôi. Tôi phải thừa nhận rằng đây không phải là một quá trình dễ dàng đối với những học sinh đã quen với việc tìm ra đáp án và không quen với việc tự đặt ra các câu hỏi.

Tôi thấy mình thành công trong lớp học khi bày cho học sinh cách hiểu bản thân mình hơn, cho dù các em chưa hẳn có nhiều tiến bộ trong việc học toán. Trước khi bắt đầu tiết học, chúng tôi đều thực tập chánh niệm trong năm phút. Sau đó, các em sẽ làm việc theo nhóm bốn người. Sự tập trung mà các em dành cho nhau khi làm việc nhóm, sự chú ý mà các em dành cho bài học đã làm chất lượng của cuộc thảo luận tăng cao hơn. Đó là nhờ các em có cơ hội ngồi yên và viết xuống giấy những gì làm các em vướng bận từ tiết học trước đó hay bất cứ một cái gì trong lòng.

Cả lớp cũng sẽ ngồi thiền năm phút trước khi làm bài kiểm tra. Nửa đầu của bài thiền tập, tôi mời các em chú ý xem mình đang cảm giác như thế nào, đang suy nghĩ gì trước khi bước vào bài kiểm tra. Đối với những học sinh không cảm thấy thoải mái hay tự tin, tôi muốn gửi đến các em một thông điệp rằng: không có gì sai với những cảm xúc đó. Điều đó hoàn toàn có thể hiểu được do khối lượng bài vở và áp lực của bài kiểm tra trước đó đã có ảnh hưởng đến thân tâm của các em. Thông điệp của tôi là “Không sao cả! Những cảm xúc đó không phải là thứ có thể chế ngự các em trong 45 phút tới”.

Sau đó, tôi hướng dẫn các em chú ý đến một điều gì mà các em đã làm liên quan đến toán học khiến các em cảm thấy tự hào và hạnh phúc. Đó có thể là khi các em giải được một bài toán khó, hoặc hiểu được một khái niệm toán học phức tạp. Tôi mời các em nhắm mắt lại, ngồi với cảm xúc đó và ý thức rằng những giây phút hào hứng với toán học vẫn còn đó trong các em, cho dù ngay lúc này đây các em đang cảm thấy lo lắng. Tôi cũng mời các em làm tương tự khi các em cảm thấy đầu óc mình căng lên, không nhớ được điều gì hết trong quá trình làm bài kiểm tra.

Khát vọng chia sẻ sự thực tập chánh niệm với các nhà giáo

Thưa bác, điều gì khiến cho bác có ước muốn chia sẻ chánh niệm với các thầy cô giáo và tạo động lực để bác viết nên cuốn sách ‘Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm’?

Ở trường trung học nơi tôi từng giảng dạy, tôi là giáo viên duy nhất biết đến sự thực tập chánh niệm và cũng là người tìm đủ cách để khéo léo chia sẻ sự thực tập này với các em học sinh. Giờ đây nhìn lại, tôi thấy sở dĩ điều này đã có thể làm được như vậy là nhờ tôi đã thay đổi cách tiếp cận của mình đối với việc dạy học. Đây là điều khá quan trọng. Tôi cho mình đủ thời gian để thong thả làm những việc cần làm mà không phải là làm cho xong. Và tôi cũng dạy các em thực tập như vậy đối với những gì các em đang làm.

Có khi, tôi bắt đầu buổi học bằng cách cho các em ăn một trái nho khô, trong năm phút. Sau đó, chúng tôi cùng chia sẻ về cách ăn và làm thế nào để ý thức trọn vẹn những gì đang xảy ra trong khi ăn. Tôi gợi ý rằng các em có thể áp dụng sự thực tập đó trong khi làm bài tập: đừng vội vàng làm cho xong mà hãy dành ba mươi hay bốn mươi phút để làm bài tập, cho dù các em chưa hoàn thành cũng không sao. Cách các em làm quan trọng hơn là số lượng bài vở mà các em hoàn thành.

Khi viết cuốn sách Bước đi trên con đường nhà giáo cùng chánh niệm, tôi mong muốn các giáo viên cảm nhận được quyền tự chủ của mình trong việc chọn lựa những gì mình muốn truyền đạt cho học sinh. Tôi đã làm điều đó bằng cách kể lại những câu chuyện của chính tôi, những gì đã nuôi dưỡng và giúp cho tôi lớn lên trong quá trình dạy học. Sau mỗi câu chuyện, tôi đưa ra ba hoặc bốn câu hỏi để người đọc chiêm nghiệm. Hy vọng cuốn sách này giúp các giáo viên bắt đầu dành nhiều thời gian hơn để suy ngẫm về cuộc sống của chính họ. Điều quan trọng mà tôi muốn hiến tặng cho các giáo viên qua cuốn sách này không phải là những lời hướng dẫn, chỉ bày những gì họ cần làm khi đến lớp, mà là lời khích lệ các giáo viên nuôi dưỡng sự thực tập chánh niệm cho chính mình. Một khi giáo viên đã nếm được lợi lạc của chánh niệm, bắt đầu cảm thấy thoải mái và sẵn sàng chia sẻ sự thực tập đó, họ sẽ tìm ra những cách phù hợp để trao truyền cho học sinh của mình.

Gần đây, tôi làm ra một bài thực tập có tên “Tự do trong làm việc” (“Free at work”), dành cho bất kỳ ai đi làm và đặc biệt là dành cho các giáo viên. Bài tập này giúp ta nhìn sâu vào cách làm việc của mình để xem ta có đủ tự do hay không. Từ đó, ta bắt đầu nhận thấy hầu hết các rào cản khiến cho ta không có cảm giác tự do trong công việc đều đến từ bên trong. Khi các giáo viên biết thực tập để nhận diện và tháo gỡ những rào cản bên trong chính mình, điều đó sẽ làm thay đổi cách dạy học của họ và những gì họ dạy sẽ có tác động rất lớn đối với học sinh. Đây là những gì tôi mong muốn truyền đạt cho các giáo viên qua cuốn sách của mình.

Mạng lưới chánh niệm trong giáo dục

Năm 2001, Mạng lưới Chánh niệm trong Giáo dục (Mindfulness in Education Network) được thành lập với hơn 1000 thành viên trên khắp thế giới. Là một trong những giáo viên đi tiên phong trong lĩnh vực này, tôi thường nhận được nhiều câu hỏi qua email từ các giáo viên về sự thực tập chánh niệm. Tôi chỉ có thể trả lời một ít câu hỏi trong số đó từ kinh nghiệm của chính mình. Khi không có câu trả lời hữu ích, tôi sẽ mời người đã viết thư cho tôi truy cập trang web của Mạng lưới Chánh niệm trong Giáo dục (mindfuled.org), tham gia vào danh sách email chung của cộng đồng và đăng câu hỏi của mình lên đó. Quý vị sẽ nhận được câu trả lời từ tuệ giác tập thể của mạng lưới các nhà giáo khắp nơi trên thế giới.

 

     Trung tâm thực tập chánh niệm Morning Sun, New Hampshire

Nơi hẹn về là chốn an vui

Em thương của chị,

Ngày chị đến Làng, cách đây 30 năm, em mới lên một tuổi. Em sẽ không tưởng tượng được Làng Mai lúc đó ra sao và cũng không hình dung được chị là một cô gái 22 tuổi, phải không em? Em sẽ hỏi lý do vì sao chị đến Làng trong thời điểm dân chúng Làng Mai rất ít và nhà cửa rất đơn sơ. Cái gì đã khiến chị chọn Làng Mai làm nơi nương tựa và sống đời xuất sĩ. Ba mươi năm thật dài nhưng cũng trôi qua thật nhanh!

Lần đầu chị đến Làng Mai, lúc đó còn gọi là Làng Hồng, vào khoá tu mùa Hè năm 1992. Làng tổ chức ăn mừng 10 tuổi. Ấn tượng đầu tiên của chị là được trở về quê hương Việt Nam. Lớn lên ở Mỹ từ năm 10 tuổi nhưng chị luôn thấy mình không thực sự hòa nhập được vào môi trường và xã hội ở đó. Mình không thể được công nhận là người Mỹ vì mái tóc đen và nước da vàng của mình. Đến Làng năm ấy, chị đã làm quen với những người trẻ Việt Nam lớn lên từ nhiều nước Tây phương. Có thể ai cũng có tâm trạng như chị, vì vậy khi đến với nhau, ai cũng thấy được chấp nhận hoàn toàn con người của mình. Ai cũng mở lòng để yểm trợ, nâng đỡ và thương yêu nhau. Không khí của Làng, cũng như những bài pháp thoại của Sư Ông và sự hiện diện của các thầy, các sư cô đã tạo nên một môi trường thật hiền lành, thật trong sáng, đầy bình an, yên ổn và thương yêu. Trong một tuần thôi, chị và những người trẻ đã trở thành bạn rất thân. Tình thương và tình bạn đó nuôi dưỡng chị rất nhiều suốt 30 năm qua. Đây là quê hương đích thực của chị vì ở đây có tình thương, có tình người, có sự chấp nhận, có niềm vui, có sự an toàn, có giáo pháp giúp chị ôm ấp khó khăn và sống hiền lành.

 

 

Sư Ông thích người trẻ mặc áo dài, dù đó là con gái hay con trai. Mỗi tuần, trong các buổi sinh hoạt, mình có nhiều cơ hội mặc áo dài: khi đi nghe pháp thoại Sư Ông giảng bằng tiếng Việt, hay trong buổi thiền trà và trong những buổi lễ. Lần đầu tiên trong đời chị mặc áo dài thường xuyên như vậy đó em. Sau giờ cơm trưa và chiều, các bạn trẻ xúm lại với nhau để ca hát dưới hai cây sồi ở xóm Hạ, bên cạnh khóm trúc. Mỗi ngày chị được nuôi lớn bằng tiếng ca, bằng những lời nhạc thiền và những tiếng cười giòn tan trong tình thương bè bạn. Sau một tháng chị trở về Mỹ với rất nhiều niềm vui và một trái tim ấm áp khi biết rằng mình đã có con đường đẹp và lành. Lại có thêm những người bạn rất dễ thương, hiền lành từ Âu châu, Mỹ châu cùng đi với mình.

Chị quyết định trở lại Làng sống một năm vì đây là thời gian để chị khám phá cuộc đời sau khi tốt nghiệp đại học và trước khi tiếp tục việc học của mình. Chị về Làng trước khóa tu mùa Đông. Sự khác biệt giữa mùa hè và mùa đông quá rõ ràng. Lần này chỉ có khoảng 15 thầy và sư cô cùng một vài cư sĩ. Chị là người trẻ duy nhất ở xóm Hạ. Không khí lạnh lẽo, mưa ẩm ướt, bùn lầy. Không có những người bạn bao quanh, không tivi, phim ảnh, không internet, không bận rộn để trốn tránh đối diện con người của mình. Chị đã đi qua giai đoạn này rất nhọc nhằn. Những khó khăn trong lòng, những khổ đau xưa đã có đủ điều kiện và không gian để biểu hiện. Không còn cách nào khác, chị phải tìm cách xoa dịu những khó khăn và khổ đau đó. May quá, những lời dạy của Sư Ông, tình thương của quý sư cô cũng như của người anh ruột là thầy Pháp Đăng đã giúp chị có đủ dũng cảm để trở về ôm ấp và nhìn vào tâm mình.

Một yếu tố giúp chị rất nhiều chính là thiên nhiên, là đất Mẹ. Cả ngày, ngoài giờ ngủ nghỉ, ăn, hoặc ngồi thiền, chị đã sống ngoài thiên nhiên với cây cối, trời đất. Thiên nhiên trở thành người bạn giúp chị có đủ niềm vui, đủ sức mạnh để đối diện với những khổ đau trong lòng.

Lúc đó, Làng còn nghèo lắm. Nhà cửa đơn sơ, nghèo nàn. Chị ngủ trong căn nhà mà trước đó là nơi người ta phơi thuốc lá. Căn nhà này có vách tường gạch đỏ và sàn bằng xi măng. Giường ngủ cũng chỉ là một tấm ván kê trên bốn tấm gạch đỏ. Giữa đêm lạnh buốt mà muốn đi vệ sinh thì phải đi ra ngoài trời mới đến được nhà vệ sinh. Không có nước nóng ở những vòi rửa mặt. Có nước nóng để tắm đã là một sự nhiệm mầu và hạnh phúc lắm rồi. Em tưởng tượng đi, một điều chị luôn luôn trân quý và biết ơn là những căn phòng này có máy sưởi trung ương (central heating). Có những căn nhà khác chỉ dùng lò đốt củi thôi. Giữa đêm mà củi đốt hết thì căn phòng lạnh như ngoài trời vậy.

 

Quý sư cô: Định Nghiêm, Tuệ Nghiêm và Giải Nghiêm

 

Tuy chỉ mười mấy thầy và sư cô thôi nhưng không khí như một gia đình ấm cúng. Ngày nào cũng có tiếng hát, tiếng ngâm thơ, tiếng cười. Trước khi thiền hành, đại chúng hát với nhau. Đôi khi sau bữa ăn cũng ngồi lại để uống ly trà thơm, ca hát, ngâm thơ, kể chuyện. Mỗi thời khóa của chúng, ai cũng có mặt. Tuy Làng nghèo và thiếu đủ điều nhưng rất giàu tình thương, tình huynh đệ, tình bạn. Chị được nuôi dưỡng mỗi ngày trong không khí bình an, thương yêu, trong cái đẹp và lành của đời sống tâm linh. Trái tim chị mở ra rất nhiều. Chị trân quý mỗi ngày, trân quý mọi cơ hội trở về nếp sống đơn giản, lành mạnh mà nhờ đó chị có nhiều thì giờ để làm mới tự thân. Nếp sống này đã làm cho chị thấy rất mãn nguyện, giống như đã thực hiện được một ước mơ gì đó trong mình.

Sau một năm ở Làng, chị trở về Mỹ. Trở về nhà như là đi xuống núi để vào cuộc đời nhiều phiền phức và rắc rối. Lần này, rất khác, chị đã đi vào cuộc đời với đôi mắt sáng để thấy những gì trước kia mình không thấy hoặc đã coi đó là chuyện thường. Điều đầu tiên chị thấy là ai cũng lo làm để có nhiều tiền. Hình như đó là cách đi tìm hạnh phúc của mọi người. Sự tiêu thụ tạo ra nhiều rác thải trên đất Mẹ mà ít ai lưu tâm. Điều thứ hai, chị thấy rằng ai cũng có những khó khăn và khổ đau nhưng không biết cách xử lý mà chỉ tìm cách chạy trốn để quên lãng, rồi từ đó làm khổ chính mình và những người mình thương. Chị cũng thấy các anh chị của chị khổ đau rất nhiều trong liên hệ vợ chồng và con cái, trong khi người anh xuất gia của chị lại có nhiều niềm vui và giúp nhiều người khác hạnh phúc. Nếp sống đơn giản và sâu sắc của một xuất sĩ ở Làng Mai trở thành hướng đi, là con đường chị chọn lựa. Đó là những nguyên do mà chị đã quyết định trở về Làng Mai và xin trở thành một người xuất sĩ.

Ba mươi năm trôi qua là một quãng đường dài. Nhìn lại, môi trường ở Làng đã có nhiều thay đổi và chị cũng đã đi qua nhiều giai đoạn trong lòng. Chị nhớ trước khi bước vào đời sống tâm linh, chị cũng có những lo sợ. Liệu chị có hạnh phúc suốt đời và đi trọn con đường này không? Tuy vậy, khi nhìn vào anh của chị và Sư Ông – những người đang bước đi vững chãi, có hạnh phúc và giúp được bao người bớt khổ – chị vững niềm tin để bước vào đời sống của một xuất sĩ trẻ. Có những thăng trầm đến trong cuộc đời tu của chị. Những lúc như vậy giúp chị thấy rằng: mình đi tu cũng vì muốn hiểu được gốc gác của những khó khăn trong mình và chuyển hóa chúng. Có những lúc chị thấy mình hơi yếu trước những liên hệ tình cảm. Chị đã tranh đấu với nội tâm rất nhiều và chị xác định rất rõ rằng chị đi tu là để được tự do khỏi những tình cảm vướng bận, để nuôi lớn tình thương của Bụt trong mình. Dần dần chị thấy được mục đích cao cả của đời sống xuất gia là chuyển hóa khổ đau, đi đến vùng ánh sáng của hạnh phúc và tự do, trở thành pháp khí để giúp nhiều người thấy con đường đẹp và lành. Nhìn lại, chị thấy những khó khăn đó là chất liệu củng cố và nuôi lớn tâm ban đầu, giúp chị tiếp xúc được không gian trong lòng và hiểu sâu hơn về chính mình.

Khó khăn có đó, nhưng đồng thời niềm vui, hạnh phúc và bình an luôn có mặt. Chị đã được nuôi lớn mỗi ngày bằng những chất liệu lành mạnh của những bài thiền ca, những bài thơ, những bài thi kệ, thiên nhiên, tiếng cười và tình huynh đệ. Chị đâu cần gì nữa. Chị đã có những gì mình ước mơ cho cuộc đời mình rồi. Chị đâu phải chạy quanh để tìm hạnh phúc nữa. Hạnh phúc, bình an là chất liệu chị có thể tiếp xúc và nếm được mỗi ngày. Dần dần những khó khăn xưa kia của chị được chuyển hóa khi nào không hay.

 

 

Càng sống lâu trong tăng thân, chị càng thấy mình được lột xác. Càng thực tập, chị càng thấy những nhiệm mầu biểu hiện xung quanh và bên trong mình, cũng như hiểu được những điều mà xưa nay chỉ hiểu trên lý thuyết. Mẹ qua đời là điều đánh động sâu sắc nhất trong cuộc đời chị. Mẹ chị đã bị bệnh sáu năm trước khi qua đời. Thân thể mẹ càng ngày càng yếu và hết khả năng hoạt động bình thường. Khi mẹ qua đời, tuy rằng chị biết đã đến lúc mẹ phải bỏ cái thân già bệnh đó và mẹ đang tiếp nối trong các con, các cháu nhưng chị vẫn cảm thấy trống vắng, mất mát và buồn nhớ vô cùng. Chị sẽ không còn thấy hình dáng của mẹ, nghe tiếng nói của mẹ, ôm mẹ, và chạm đến thân thể mẹ. Khi mới tới Làng, chị được dạy rằng chỉ khi nào ôm ấp được cảm giác buồn nhớ và mất mát này thì mới có thể hiểu, làm lắng dịu và chuyển hóa được. Những bài học đó đã trở thành tiếng chuông chánh niệm cho chị trở về và nhận ra rằng: mẹ đang có mặt trong mình. Chị đã chạm được vào mẹ. Mẹ đang có mặt. Mẹ luôn luôn có mặt. Mình là sự tiếp nối của mẹ qua những đức hạnh và tập khí của mình. Chỉ cần trở về với hơi thở, với thân tâm, với giây phút hiện tại để thấy mẹ trong mình. Đây là một sự thật, sự thật tương tức, mẹ và con là một. Con là sự tiếp nối của mẹ.

Khi chạm được sự thật này, niềm buồn nhớ, cảm giác mất mát đã dần dần chuyển hóa. Mỗi khi bất an, chị trở về với thân thể và hơi thở, thầm gọi “Mẹ ơi mẹ” thì mẹ có mặt ngay để thương yêu và giúp chị đối diện với những tâm hành bất an đó. Chị thấy chị tu cho chị, mà đồng thời cũng tu cho mẹ. Thấy được mẹ con tương tức là cửa ngõ để chị có thể đi tới cái thấy tương tức giữa mình và mọi người, giữa mình và vũ trụ.

Em à, nếu mình nếm được tuệ giác vô ngã và tương tức nơi thân tâm mình thì mình có thể nếm được hạnh phúc và tự do lớn ngay bây giờ và ở đây. Đây chính là con đường của một người xuất sĩ đó em.

(Sư cô Chân Tuệ Nghiêm)

Thời gian là sự sống

Thời gian là dòng suối trong xanh
Thời gian là những chồi non mới nhú
Thời gian là cánh rừng im mát
Ngày ngày thay áo mới tươi xanh

Thời gian là tiếng chim ca lảnh lót
Vang khắp các từng không
Là tiếng cúc cu gọi về
Cho lắng lại những lao xao
Thời gian là cánh đồng hoa cải vàng
Còn đọng sương mai mỗi sớm
Là bình minh,
Là nắng ấm,
Là nụ cười hồn nhiên
Vang mãi trong tim người.

Thời gian là đóa sen đầu mùa mới chớm
Gợi về bao kỷ niệm thân thương
Là cánh đồng hoa hướng dương mênh mông bát ngát
Là con đường thanh thoát đón trăng lên.

Thời gian là những cánh rừng thu đỏ thắm
hay rực rỡ sắc vàng tươi,
Là những chiếc lá chín rơi, rơi vào trang vở
Chở nét chữ trinh nguyên
Mang thông điệp yêu thương đi vào cuộc đời.

Thời gian là những bông tuyết nhẹ nhàng rơi
Là rạo rạc bước chân trên những thảm cỏ trắng thong dong,
Là ngọn nến lung linh, lấp lánh tấm lòng trinh bạch
Là lò sưởi đỏ quần tụ bao người sưởi ấm những ngày đông.

Thời gian là buổi chiều yên ả ngồi ngắm cánh đồng,
Là những ngọn đồi cao cho em thấy mình bao la như vũ trụ
Là trang sách mở ra đưa em về gặp lại những tri âm,
Đón tiếp bao tấm lòng cao thượng.

Thời gian là ngọn gió an lành
Thời gian là bước chân nhẹ nhàng thanh thản
Thời gian là những trang kinh mở ra mỗi sáng
Thời gian là hơi thở bình an.

Thời gian là sự sẻ chia,
Là tâm tình ta gởi đến cho nhau
Thời gian là sự hiến tặng,
Là tình thương cho đi không cần điều kiện.

Thời gian là sự sống
Hãy sống những gì em yêu thích
Và thả trôi tất cả những muộn phiền.

 

Theo Thầy làm báo

Thầy Pháp Hội nhiều năm gắn bó với Lá Thư Làng Mai. Ban biên tập đã có cơ hội nghe thầy kể về khoảng thời gian đáng nhớ ấy. Những chia sẻ dưới đây được trích từ buổi nói chuyện này.

Biên tập báo Lá Thư Làng Mai (LTLM) là tham dự vào công việc tạo ra một món ăn tinh thần quan trọng để hiến tặng cho thế giới. Rất nhiều người tôn kính Sư Ông, muốn học hỏi giáo lý từ Sư Ông, đồng thời cũng quan tâm tới sinh hoạt diễn ra hàng năm của Làng. Mỗi năm, Sư Ông là người biên tập chính của báo Làng Mai. Sư Ông làm báo rất kỹ và là người chỉ dạy cho quý thầy, quý sư cô từng chút một trong việc tạo ra món ăn tinh thần này. Pháp Hội may mắn được tham dự vào việc làm báo từ rất sớm. Xuất gia năm 1997, Pháp Hội đã được theo chân thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Khâm và các sư anh, sư chị khác để cùng với Sư Ông làm LTLM từ năm 1998. Pháp Hội cảm nhận Sư Ông dành nhiều tâm huyết cho tờ báo bằng cách chỉnh sửa, chọn lựa từng câu chữ, và giúp cho ban biên tập hiểu tinh thần của món ăn đó phải như thế nào để thể hiện được cốt tủy của truyền thống Làng Mai trên phương diện pháp môn tu học cũng như xây dựng tăng thân.

Sư Ông rất vui khi báo LTLM biết chọn lọc đưa những tin tích cực, có chất lượng và không bị những tin tức kiểu quảng cáo xen vào. Nội dung tờ báo không phải chỉ đến từ những gì Sư Ông giảng dạy mà từ chính những cái thấy trong sự tu học của quý thầy, quý sư cô hay của những vị cư sĩ đến Làng. Chính vì vậy báo đã thể hiện được nhiều góc nhìn khác nhau về hạnh phúc trong sự tu học, về quá trình xây dựng tăng thân và về những gì tăng thân đã đóng góp được cho thế giới. Bên cạnh đó, báo LTLM còn là nguồn tư liệu lịch sử vô cùng quý giá về quá trình hình thành và phát triển truyền thống Làng Mai. Những chuyến hoằng pháp của Sư Ông khắp nơi trên thế giới để tiếp nối sự nghiệp của chư Tổ, hay những câu chuyện kể về những phương thức đầu tiên được áp dụng trong mỗi pháp môn tu học… đều được ghi chép lại. LTLM trở thành một thông lệ được nhiều người mong chờ và cũng được gọi với cái tên vô cùng thân quen là báo Tết. Sư Ông mong muốn LTLM là một món quà tinh thần ý nghĩa cho năm mới, do đó mình thường cố gắng hoàn thành báo trước Tết để kịp in và gửi đi cho mọi người. Và vì thế, BBT cũng có một chút “áp lực” về thời gian.

Sư Ông luôn năng động và cởi mở để chấp nhận những phương pháp làm việc mới mang lại hiệu quả hơn. Các thầy, các sư cô được học hỏi nhiều trong việc biên tập báo. Mặc dù LTLM chỉ ra một năm một lần nhưng rất có chất lượng. Cả nội dung và hình thức đều mang chất liệu thiền vị, chuyên chở được năng lượng của sự tu học, cũng như mô tả chân thực cách thức thực hiện và kết quả các công việc từ thiện của Làng. Sư Ông cũng để nhiều tâm sức cho việc kêu gọi từ thiện. Công việc này được làm theo cách khác so với từ xưa đến nay và mang lại nhiều hiệu quả, đồng thời cho thấy bên cạnh việc chú trọng thực tập, người tu còn trợ giúp và đóng góp một cách cụ thể cho thế giới bên ngoài.

 

 

Khi còn chưa xuất gia, Pháp Hội cũng có một bài ngắn được đăng trên LTLM, nói về hạnh phúc của mình trong đại chúng. Bài viết ngây thơ lắm! Chỉ là liệt kê những niềm vui khi hòa nhập vào đời sống sinh hoạt, tu học tại Làng: tả phòng mình ở như thế nào, mình hạnh phúc với nó ra sao, rồi chuyện có con mèo mùa đông lạnh quá tới phòng mình để sưởi ấm hằng đêm. Thầy Pháp Ấn cũng có sáng kiến đưa vào tờ báo lá thư soi sáng của một vị trong chúng. Đó chính là thư soi sáng của đại chúng dành cho Pháp Hội, nhưng được đổi tên. Những thực tế sống động như vậy của đời sống tu học thường được đưa vào báo.

Trong quá trình làm việc, Pháp Hội cũng như các thầy, các sư cô trong BBT có cơ hội được học hỏi và tiếp xúc với Sư Ông. Sư Ông là một người làm báo tuyệt vời và rất nhà nghề! Có những lúc bị công việc cuốn đi, năng lượng của mình không còn đủ tươi mát nữa. Mình không nhận ra điều đó nhưng Sư Ông nhận ra. Mặc dù đã gấp lắm rồi nhưng Sư Ông vẫn bảo: “Thôi bây giờ nghỉ đi, đừng làm gì cả, để thầy chiên cơm cho ăn”.

Công việc không quan trọng bằng sự thực tập. Sau này, Pháp Hội mới nhận ra tại sao lại như vậy. Làm việc với Sư Ông không phải chỉ là học hỏi những kỹ năng làm báo mà còn học hỏi cách chăm sóc chính mình, cách làm sao để có hạnh phúc trong công việc. Đó mới là chuyện quan trọng. Ta còn có thể sử dụng tinh thần đó để làm những cuốn sách của Sư Ông. Người nào có may mắn được làm sách, làm báo với Sư Ông đều được học hỏi về cách làm sao để làm một cuốn sách thể hiện được rõ nét đời sống tinh thần của mình trong đó.

Khi đến Làng, Pháp Hội mang theo bộ phông chữ tiếng Việt mới. Bộ chữ này đẹp về mặt hình thức và cũng tiện sử dụng hơn cho máy tính. Lúc đó, ở Làng đang dùng loại máy Macintosh của Apple. Máy này đã cũ và bộ chữ trong đó tuy dùng được nhưng còn nhiều hạn chế. Khi ấy, Sư Ông đang thiết kế cuốn Nhật tụng thiền môn và đang sử dụng bộ chữ cũ. Khi có bộ chữ mới, vị cư sĩ phụ trách về máy tính đề nghị chuyển toàn bộ sang hệ thống mới. Sư cô Thoại Nghiêm là người phát nguyện đánh máy lại toàn bộ bộ kinh đó sang phông chữ mới, và phải làm thật nhanh. Vì vậy, tuy còn nhiều lỗi nhưng sư cô phải bỏ qua để phần chữ được chuyển sang kiểu mới trước. Hồi đó, máy tính không có hệ thống chuyển đổi phông chữ như bây giờ, mỗi máy có một bộ chữ khác nhau, và là tiếng Anh thôi. Do đó, mình cần nhiều người để chỉnh sửa ngữ pháp, chính tả. Pháp Hội là người Bắc nên khá vững về điều đó. Công việc này được Sư Ông gọi là “bắt sâu”.

 

                       Thầy cho pháp thoại dưới gốc cây sồi tại xóm Hạ năm 1987

 

Gần như phần lớn thời gian ở Làng, Pháp Hội không chỉ làm báo thôi mà còn làm sách nữa, như cuốn Ngày Xuân bói Kiều, Truyện Kiều… Pháp Hội được Sư Ông trực tiếp chỉ dạy nên làm cuốn đó như thế nào, và cũng mạnh dạn làm trên một phương thức mới, bằng máy móc mới. Đó là những cuốn sách đầu tiên được thiết kế trên máy tính một cách hoàn chỉnh chứ không phải như phương thức cũ, rời rạc. Tuy nhiên, khi gửi sang Mỹ để in thì gặp vấn đề là khổ giấy của Mỹ khác với khổ giấy của Pháp. Chính vì vậy, những cuốn sách sau này được thiết kế để có thể in được ở Pháp và ở cả những nơi khác.

Trong quá trình làm sách báo, Pháp Hội học hỏi được cách sử dụng từ ngữ cho đúng và phù hợp với tông chỉ của Làng Mai. Sư Ông rất chú trọng chuyện này. Mặc dù rất thành thạo về ngôn ngữ, văn chương, hiểu sâu sắc văn hóa Việt Nam nhưng đồng thời Sư Ông cũng luôn chấp nhận, học hỏi từ những đệ tử của mình cách sử dụng ngôn ngữ. Ví dụ, thế hệ của Sư Ông quen dùng tên các địa danh theo phiên âm Hán Việt, chẳng hạn Canada là Gia Nã Đại. Pháp Hội mạnh dạn thưa lên rằng mình nên dùng tiếng Việt hiện đại, nếu cần phiên âm thì dùng trực tiếp từ ngôn ngữ đó sang tiếng Việt chứ không dùng phiên âm như trước nữa. Sư Ông cởi mở chấp nhận đề nghị của Pháp Hội và từ từ không dùng những tên gọi cũ đó nữa. Mình thấy rõ rằng các đệ tử được thừa hưởng nhiều từ Sư Ông và Sư Ông cũng luôn luôn là người đi đầu trong việc học hỏi với các đệ tử.

Sư Ông không ngại việc tra cứu từ điển. Khi một từ có nhiều nghĩa khác biệt, Sư Ông sẽ đi tìm nguồn gốc của từ đó để đảm bảo nó được dùng đúng ý. Ví dụ như “khuôn viên” với “khuông viên”, Sư Ông cũng phải tra từ điển rất kỹ để hiểu được là người ta đang dùng sai nghĩa mà mình muốn nói hay người ta đang dùng theo ngôn ngữ mới. Cũng có lúc Sư Ông rất kiên trì với việc phải dùng đúng với nghĩa mà Sư Ông muốn, cho dù mọi người chưa hiểu đến mức đó. Ví dụ như từ “tỉnh thức”, đôi khi vì lỗi đánh máy hoặc vì lỗi sao chép mà sau nhiều năm, khi về tới Việt Nam, Sư Ông thấy có nhiều người hiểu là “tính thức”, và suy diễn theo đó, dẫn tới chuyện bị hiểu sai ý.

Khi làm việc, có lúc mình tưởng đã hiểu ý Sư Ông rồi nhưng hóa ra không phải. Năm đó, đại chúng đang vui vẻ chuẩn bị cho Tết sắp đến. Pháp Hội và một nhóm nhỏ quý thầy, quý sư cô theo Sư Ông làm báo. Sư Ông chỉnh sửa các bản thảo rất hết lòng, còn mình, đôi khi vì còn trẻ nên ham chơi và cũng hết hứng thú rồi nên chỉ làm qua loa, không hết lòng. Bình thường trong bản thảo, Sư Ông chỉ ký chữ “nh” thôi. Bữa đó Pháp Hội mới đi chơi về và nhận được bản thảo ký đầy đủ là “Thích Nhất Hạnh”. Pháp Hội giật mình và hiểu ngay rằng đối với cả với bản thảo, Sư Ông cũng làm việc rất nghiêm túc. Pháp Hội là người duy nhất được Sư Ông ký tên đầy đủ trong một bản thảo. Ẩn ý đằng sau việc đó là mình đã không làm việc hết lòng. Đây là lời nhắc nhở của Sư Ông cho Pháp Hội. Với một bản thảo hay một bài viết, Sư Ông có thể chỉnh sửa từ tám đến mười lần. Còn thấy lỗi là còn chỉnh sửa chứ không chịu bỏ qua. Làm việc với Sư Ông mà Pháp Hội còn mải chơi! Chuyện đó trở thành một kỷ niệm thầy trò thật đáng nhớ.

 

 

Pháp Hội luôn luôn thu thập lại những bản thảo có chữ ký của Sư Ông và để vào hồ sơ lưu trữ của Làng. Sau này Pháp Hội rời Làng, mười hai năm sau mới quay lại. Đại chúng có quá nhiều thay đổi, kể cả các nhà kho, nên Pháp Hội đã không thể tìm lại những bản lưu trữ đó nữa.

Lúc trước, Pháp Hội còn thu thập những bản Sư Ông viết nháp cho câu đối của thiền đường các xóm. Sư Ông đã làm thật hết lòng. Nội dung các câu đối thực sự xuất sắc và ai cũng phục. Các vế đối rất chuẩn dù theo từng từ hay theo một nhóm từ. Về mặt hình thức, Sư Ông cũng phải tập luyện để làm sao viết cho đẹp. Sư Ông lấy từng tờ giấy, viết từng chữ xuống để xem khoảng cách đó có vừa với tấm gỗ không, viết đến bao nhiêu thì vừa hết từ mà vẫn có thể chừa lại khoảng không gian vừa đủ cho trên, dưới và hai bên. Sư Ông viết từng từ một lên tờ giấy, đặt tờ giấy theo tấm gỗ và chụp hình cho mỗi tờ. Pháp Hội sưu tập được các bản nháp như thế. Nó có giá trị đôi khi còn hơn cả bản chính, bởi vì bản nháp là duy nhất, còn bản sách thì người ta có thể in lại hàng trăm, hàng nghìn bản. Pháp Hội rất có hứng thú với điều đó, vì mình cảm nhận được tấm lòng, năng lượng và sự coi trọng của Sư Ông trong từng chi tiết. Mặc dù có những chữ cần nhiều không gian hơn so với những chữ khác, nhưng Sư Ông lại có thể cân đối một cách tuyệt vời. Vậy nên, trong khi theo chân Sư Ông làm sách, làm báo, mình học hỏi và lớn lên rất nhiều. Mình cũng biết là mình chưa làm được đúng mức như Sư Ông mong muốn.

Khi không làm sách nữa, Pháp Hội làm những việc khác trong chúng và nhường cơ hội đó cho những vị khác. Có một sư cô sau khi làm cuốn sách xong thì đem lên cho Sư Ông chỉnh sửa. Sau đó, vị ấy thắc mắc với Pháp Hội và thầy Pháp Niệm rằng lần này làm mà không được Sư Ông khen gì cả. Hai anh em cười ha ha và nói rằng vậy là tốt rồi. Đó là cơ hội để Sư Ông đào luyện mình, để mình có được nhiều hạnh phúc trong công việc đó. Nó cũng là một phần của sự tu học. Khi làm lần đầu tiên thì Sư Ông khen rất nhiều để động viên mình, nhưng sau đó mình phải tự biết làm những việc được Sư Ông giao, chứ còn đợi Sư Ông khen mới có hạnh phúc thì không được. Theo sự thực tập mà Sư Ông trao truyền thì mình phải có hạnh phúc ngay trong khi làm việc chứ không phải đợi nó hoàn thành rồi mới có hạnh phúc. Đó mới là tu học đích thực!

(Thầy Chân Pháp Hội)

 

Tập khí hạnh phúc

( Trích trong sách “Bụt là hình hài, Bụt là tâm thức” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh )

Làm thế nào để thực tập vô ngã? Khi học hỏi điều gì đó lần đầu, chúng ta thường dùng ý thức để hiểu. Sau một thời gian điều đó trở thành tập khí thì ý thức không cần phải làm việc nữa. Tập khí cũng cần một thời gian, một quá trình để hình thành. Khi đã trở thành tập khí, chúng ta chỉ dùng tàng thức của mình và làm một cách tự nhiên. Cho dù không để ý những gì ta đang làm, ta vẫn có thể làm đúng, như đi bộ chẳng hạn. Khi đi, tâm chúng ta có thể hoàn toàn đắm chìm trong những suy nghĩ về chuyện này chuyện nọ, nhưng nhãn thức hợp tác với tàng thức đủ để chúng ta tránh được tai nạn.

 

 

Chúng ta phải cho các thông tin đi vào tàng thức để tạo ra những tập khí mới. Nếu làm việc quá nhiều bằng ý thức, chúng ta sẽ già đi rất nhanh. Những lo lắng, suy nghĩ, quán chiếu, lên kế hoạch tiêu hao rất nhiều năng lượng. Vào thời Trung cổ, ông Ngũ Tử Tư chỉ lo lắng và sợ hãi một đêm mà sáng mai ra tóc đã bạc trắng. Đừng làm như thế! Đừng dùng ý thức nhiều quá. Nó làm tiêu hao rất nhiều năng lượng của ta. Tốt hơn là chúng ta nên “sống với” mà không nên “nghĩ về”. (It’s better to be than to think.)

Điều đó không có nghĩa là chúng ta đánh mất chánh niệm mà chánh niệm của ta đã trở thành tập khí, nên ta có thể thực tập một cách tự nhiên, không cần phải ép buộc. Ý thức là nơi để tập luyện tập khí chánh niệm và tập khí này sẽ đi vào tàng thức, tạo ra một năng lương chánh niệm mới ở tàng thức. Chánh niệm có khả năng kích thích não và giúp ta có mặt với những gì chúng ta đang tiếp xúc để chúng ta không hành động một cách máy móc. Liệu chúng ta có thể cài đặt lại tàng thức để trong tàng thức luôn có chánh niệm hay không? Liệu chúng ta có khả năng giữ những tập khí hạnh phúc trong tàng thức hay không?

Để làm được điều đó chúng ta phải học bài học chánh niệm về thân thể và tàng thức mà không phải chỉ về ý thức thôi. Chúng ta phải đối xử với thân thể như đối xử với thức. Sự thực tập phải bao gồm cả thân thể trong đó. Chúng ta không thể chỉ chú trọng về tâm ý, bởi vì thân là một phần của thức và thức là một phần của thân.

Khi tàng thức và năm thức đầu (trong đó có thân thức) làm việc hài hòa với nhau, chúng ta sẽ dễ nuôi lớn tập khí hạnh phúc. Lúc mới thực tập, mỗi khi nghe chuông chúng ta phải cố gắng tập trung tâm ý để nghe chuông, chúng ta dùng nhiều năng lượng để thực tập dừng lại, theo dõi hơi thở chánh niệm, làm cho tâm tư lắng đọng… nhưng sau khi thực tập một thời gian, sáu tháng, một năm, hai năm, tiếng chuông qua nhĩ thức đi thẳng vào tàng thức và chúng ta dừng lại một cách tự nhiên mà không cần ý thức xen vào. Chúng ta không cần phải cố gắng hay dùng nhiều năng lượng như ban đầu. Vì vậy, thực tập có thể trở thành một tập khí. Khi sự thực tập đã trở thành tập khí, chúng ta không cần phải cố gắng quá nhiều bằng ý thức. Điều này cho ta thấy rằng thực tập tốt, ta có khả năng chuyển hóa những tập khí cũ và chúng không còn trở lại quấy rầy ta nữa. Thực tập tốt cũng có thể tạo ra những tập khí tốt. Sẽ đến lúc chúng ta không còn dùng ý thức để quyết định mà ta thực tập một cách tự nhiên. Nhiều người trong chúng ta không cần phải làm quyết định là mình phải thực tập hơi thở chánh niệm. Khi nghe chuông, chúng ta theo dõi hơi thở một cách tự nhiên và chúng ta thấy rất được nuôi dưỡng. Vì vậy một khi sự thực tập đã trở thành tập khí thì chúng ta ít hao tốn năng lượng.

 

 

Thực tập chánh niệm là để tận hưởng mà không phải để tạo thêm nhiều lao tác mệt nhọc, và tận hưởng có thể trở thành một tập khí. Một số người trong chúng ta có tập khí khổ đau, một số khác lại nuôi dưỡng tập khí tươi cười và hạnh phúc. Khả năng hạnh phúc là điều quý nhất mà chúng ta có thể vun trồng. Vì vậy, chúng ta hãy đi thiền, ngồi thiền một cách hứng thú. Chúng ta đi thiền, ngồi thiền cho chính chúng ta, cho tổ tiên ta, cho cha mẹ ta, cho bạn bè ta, cho những người ta thương và cho cả những người mà ta gọi là kẻ thù của ta. Hãy đi như Bụt đi, đó là sự thực tập. Chúng ta không cần phải học và hiểu tất cả các kinh điển hay tất cả những điều Bụt dạy mới có thể đi như Bụt. Không, chúng ta không cần thêm gì nữa ngoài đôi chân và ý thức của ta. Chúng ta có thể uống trà trong chánh niệm, đánh răng trong chánh niệm, thở trong chánh niệm hay bước một bước chân trong chánh niệm. Chúng ta có thể làm tất cả những điều đó với sự thích thú mà không cần phải đấu tranh hay cố gắng gì cả. Đó là tận hưởng.

Hạnh phúc chân thực chỉ đến từ chánh niệm. Chánh niệm giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong giây phút hiện tại và định lực giúp ta tiếp xúc sâu sắc hơn với những điều kiện ấy. Nếu chúng ta có đủ niệm và định thì tuệ giác sẽ phát sinh. Khi đã có tuệ giác lớn chúng ta sẽ vượt thoát được những tri giác sai lầm và duy trì được tự do lâu dài. Nếu định sâu, chúng ta sẽ không còn giận, không còn thất vọng nữa và chúng ta có thể tận hưởng được từng phút giây của cuộc sống hàng ngày.

Có một số người trong chúng ta cần một liều lượng khổ đau nào đó để có thể nhận diện hạnh phúc. Khi thực sự khổ đau chúng ta mới thấy được không khổ đau là mầu nhiệm. Tuy nhiên, có những người không cần khổ đau mà vẫn có khả năng nhận biết được không khổ đau là một điều kiện hạnh phúc, là một mầu nhiệm của cuộc sống. Nhờ chánh niệm, chúng ta ý thức được những khổ đau đang diễn ra xung quanh chúng ta. Có những người không thể ngồi yên và an toàn như chúng ta được; một trái bom, một tên lửa có thể rơi xuống trúng họ bất cứ lúc nào. Như ở Trung Đông hay ở Iraq, họ mong ước được hòa bình, họ muốn ngưng cảnh giết chóc nhưng họ không làm được. Nhiều người trong chúng ta được sống trong một môi trường an toàn, không có những loại khổ đau như vậy, được có cơ hội ngồi như thế này, bình yên hơn, nhưng dường như chúng ta không biết trân quý.

Chánh niệm giúp chúng ta ý thức được những gì đang diễn ra quanh ta và biết trân quý những điều kiện an lạc, hạnh phúc đang có mặt ngay bây giờ và ở đây. Thực ra chúng ta không cần phải đi đâu khác để hiểu được khổ đau là gì. Chúng ta chỉ cần chánh niệm. Chúng ta có thể ở ngay nơi mình đang ở, chánh niệm sẽ giúp chúng ta tiếp xúc được với những khổ đau của thế giới và nhận diện nhiều điều kiện hạnh phúc mà ta đang có. Chúng ta sẽ thấy an toàn, hạnh phúc, vui tươi và có đủ sức mạnh để thay đổi tình trạng xung quanh ta.

 

 

Thất vọng là điều tệ hại nhất có thể xảy ra cho con người. Khi thất vọng, chúng ta muốn tự tử hay muốn giết ai đó cho hả giận. Có rất nhiều người đã tự tử để trừng phạt người khác bởi vì họ khổ đau quá nhiều. Làm thế nào để có thể hiến tặng cho họ một giọt nước cam lộ? Làm thế nào để giọt nước cam lộ ấy có thể rơi vào trái tim họ, một trái tim đang chứa đầy hận thù và tuyệt vọng? Thực tập chánh niệm không những giúp chúng ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của cuộc sống để nuôi dưỡng và trị liệu mà còn giúp chúng ta có khả năng tiếp xúc với khổ đau để trái tim của chúng ta tràn đầy thương yêu. Và chúng ta trở thành cánh tay của Bồ Tát Quan Thế Âm – Bồ Tát đại từ đại bi. Chúng ta luôn có khả năng làm được như Bồ Tát Quan thế Âm, mang giọt nước thanh lương đến những nơi còn nhiều khổ đau và tuyệt vọng.

 

 

 

Đạo Bụt đi vào cuộc đời