Trân quý và nâng niu cuộc đời ta

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 08/11/1990)

Các vị còn trẻ tuổi thường có một ảo tưởng, là đời sống của mình kéo dài tới vô biên, tức là mình còn rất nhiều năm tháng để sống. Chính Bụt ngày xưa cũng đã nói như vậy. Bụt nói rằng, khi còn thiếu niên, ta có sự tự hào về sức khỏe và về tuổi trẻ của ta. Ta không thấy được cuộc đời là vô thường và ta cũng bị sanh lão bệnh tử rình rập như bất cứ một người nào khác. Quý vị đang còn trẻ nên nhớ lời nói đó của Bụt. Tuổi trẻ đi qua rất mau và có khi tuổi trẻ của chúng ta bị tàn phá, tiêu hoại tuổi trẻ bằng những thao thức, bằng các dự án, bằng những hoạt động không thực sự đem lại hạnh phúc và an lạc cho chúng ta. Những người lớn tuổi nhìn lại thời thiếu niên của mình thì thấy rằng: trong thời gian còn trẻ mình có dạ dục, mình không biết dừng lại để sống một cách sâu sắc những giờ phút của mình. Những năm tháng của tuổi trẻ đã đi qua như là một giấc mộng và năm tháng đó đã đi qua một cách oan uổng. Chúng ta đã làm gì với năm tháng của chúng ta, chúng ta đã làm gì với đời của chúng ta?

Bây giờ chúng ta đã lớn tuổi, khi nhận ra được điều đó mình có một khuynh hướng muốn trân quý những tháng ngày còn lại của mình. Không biết mình còn sống được bao nhiêu năm nữa, có thể là 5 năm, có thể là 7 năm, có thể là 10 năm và cũng có thể là 2 năm. Tại vì cuộc đời vô thường và vì vậy sự tu học bắt đầu từ một hành động tỉnh thức. Tỉnh thức và biết rằng mình đã xài phí những năm tháng của đời mình một cách oan uổng, mình đã không sống một cách sâu sắc những năm tháng đó, những giờ phút đó. Mình phát tâm làm lại cuộc đời và sống cho thật đàng hoàng những năm tháng còn lại.

 

 

Tôi còn nhớ Tino Rossi – một ca sĩ nổi tiếng của Pháp. Năm 60 tuổi, ông làm một bài hát và đặt tên là “La vie commence à 60 ans” – đời sống bắt đầu từ năm 60 tuổi. Khi nghe tên của bài hát, mình biết rằng ông đã giác ngộ và ông biết rằng, mình đã tiêu phí tuổi trẻ một cách oan uổng. Ông nhất định bắt đầu sống đàng hoàng từ năm 60 tuổi. Bây giờ ông ta đã thích và đã quyết tâm sống ngày tháng của ông ta một cách rất đàng hoàng. Một điều hơi tiếc là ông ta thức tỉnh như vậy nhưng ông ta không được trao truyền một phương pháp quán niệm hơi thở, phương pháp thiền hành, thiền tọa. Cho nên ông ta đã không thể sống một cách sâu sắc những giờ phút còn lại của ông ta, như chúng ta may mắn là những người trong truyền thống đạo Bụt.

Tôi viết lên bản hai chữ là “trân quý” và hai chữ nữa là “nâng niu”. Tôi muốn quý vị trân quý những ngày tháng còn lại của quý vị. Chúng ta đừng tiêu phí ngày tháng của chúng ta một cách oan uổng như trong quá khứ. Chúng ta phải nâng niu từng giờ từng phút của đời sống. Cuộc đời chúng ta đừng vì tương lai, đừng vì quá khứ, đừng vì lý tưởng mà tàn phá cuộc sống của chúng ta. Tại vì nếu cuộc sống của chúng ta đích thực là một cuộc sống có an lạc, có hạnh phúc thì cuộc sống đó là nền tảng của lý tưởng.

Bụt sống 45 năm sau khi thành đạo và 45 năm đó của Bụt là 45 năm có hạnh phúc. Mỗi bước chân, mỗi cái nhìn, mỗi hơi thở đều mang theo chất liệu của hạnh phúc. Cho nên biết bao nhiêu người được thừa hưởng sự hạnh phúc và tuệ giác của Bụt. Nếu Bụt chỉ có một lý thuyết, dầu là lý thuyết cao siêu mà không có hạnh phúc đó, không có 45 năm hạnh phúc và an lạc đó thì giáo lý của Bụt sẽ không có tầm quan trọng như đã có và đang có.

Hạnh phúc là điều căn bản của lý tưởng. Nếu quý vị có lý tưởng giúp người thì lý tưởng đó chỉ có thể thực hiện được với hạnh phúc của quý vị, phải sống ngày hôm nay cho hạnh phúc. Nếu bước những bước chân mà không có hạnh phúc, nếu nâng một chén trà lên uống không có hạnh phúc, nếu đi thiền hành không có hạnh phúc, nếu ôm người bạn của mình trong hai tay mà không có hạnh phúc thì mình biết rằng mình không có tự do, mình đang bị ràng buộc bởi những nỗi đau buồn tiếc thương của quá khứ hoặc là những sự phóng tưởng về tương lai hoặc là những hối hận, những giận hờn. Tất cả những điều đó, mình phải nhận diện chúng để trân quý và nâng niu cuộc đời của chúng ta và không để chúng trôi qua một cách oan uổng.

Phật Đản 2024

“Giờ phút linh thiêng
Gió lặng chim ngừng
Trái đất rung động bảy lần
Khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt
Bàn tay chuyển Pháp
Trong hương đêm tinh khiết
Ấn cát tường nở trắng một bông hoa
Thế giới ba ngàn đồng thanh ca ngợi Văn Phật Thích Ca”

Trong những ngày Rằm tháng tư, tất cả những người con Bụt đều hân hoan, chào đón ngày Bụt Đản sanh. Người đã đem sự tỉnh thức, sự hiểu biết và thương yêu khai sáng cho chúng ta. Niềm hạnh phúc hơn là khi mỗi người trong chúng ta đều có tính Bụt trong lòng. 

Lễ Tắm Bụt sơ sinh là cơ hội làm tưới mát, thức tỉnh em bé Bụt trong mình. Những hạt giống của tình thương, bao dung và tha thứ,… được nở hoa mỗi ngày để cho sự buồn phiền, lo âu được lắng dịu và ngủ yên.

Ngày 19/05/2024 quý Thầy, quý Sư cô và Tứ chúng đạo tràng Mai Thôn đã vân tập tại thiền đường Trăng Rằm, chùa Từ Nghiêm, xóm Mới để mừng ngày Bụt Đản sanh và làm lễ Tắm Bụt sơ sinh. Trong không khí ấm áp và trang nghiêm, ai ai cũng thắp lên ý thức và phát nguyện tiếp nối con đường của Bụt bằng cách chế tác và vun trồng thêm những chất liệu bình an cho tự thân và lan toả đến tất cả mọi người.

Xin mời đại chúng cùng thưởng thức những khoảnh khắc bình an đó qua một vài bức hình dưới đây:

Đức Bụt tương lai đã có mặt rồi

(Sư cô Chân Uyển Nghiêm)

Tình thương của Thầy

Nhắc đến tình thương, tôi không khỏi nghĩ đến Thầy. Mỗi lần nhắc đến Thầy hay tăng thân, tôi cũng như nhiều quý thầy và quý sư cô đều dễ xúc động. Tôi nhớ có lần tôi được làm thị giả cho Thầy. Lúc đó Thầy chuẩn bị đi khóa tu ở Anh. Tôi còn rất mới và tu tập chưa giỏi nên chưa biết cách quan sát. Thời gian ấy, Thầy nghỉ ngơi và làm việc ở Sơn Cốc. Sáng ngày đưa Thầy ra sân bay đi Anh, sư cô Chân Không làm tài xế lái xe. Trước khi rời khỏi Sơn Cốc, Thầy gọi tôi vào thư viện để giúp cho Thầy vài việc. Sau đó, hai thầy trò đi kiểm tra một vòng xung quanh để chắc chắn đèn đã tắt, cửa đã khóa, gas đã được khóa lại,… Khi thấy mọi thứ đã ổn, hai thầy trò ra xe để đi.

 

 

Trên đường đi ra sân bay, Thầy nói với tôi: “Ồ, con kể chuyện cho Thầy nghe đi. Dạo này con tu học có vui không? Các anh chị em sống với nhau như thế nào?”. Vâng lời Thầy, tôi ngồi líu lo kể hết chuyện này sang chuyện kia và thầy trò cười với nhau rất vui. Cứ như vậy, đi được hơn nửa đường, Thầy chợt hỏi tôi: “Lúc nãy đi ra, con có cầm cái đãy (túi vải) của Thầy không?”. Tôi hết hồn, trả lời Thầy: “Dạ không”.

Trong đãy của Thầy có máy ghi âm. Những lúc Thầy đi dạy ở ngoài, những bài pháp thoại có lúc được quay phim, có lúc không, nhưng thường thì Thầy có đem theo máy ghi âm để tự thâu lại những bài giảng. Thứ nhất là để lưu lại làm tư liệu, thứ hai là Thầy biết đó là tài sản mà Thầy để lại cho thế hệ tương lai. Đi chung với Thầy vui quá nên tôi hoàn toàn không nhớ và cũng không biết là mình cần đem theo cái gì cho Thầy.

Giây phút nghe Thầy hỏi, tôi từ trạng thái vui vẻ, hạnh phúc chuyển sang trạng thái hối hận, ray rứt và sợ hãi. Tôi sợ đến nỗi không dám nói xin lỗi Thầy. Đặc biệt là khi nghe sư cô Chân Không nói rằng bây giờ đã gần đến sân bay rồi, nếu quay lại lấy sẽ trễ giờ. Tôi run rẩy và chỉ biết ngồi im thôi. Lúc đó, từ băng ghế trước, Thầy đưa tay lại phía sau và hỏi: “Tay con đâu?”. Thời điểm ấy, tay tôi run và lạnh ngắt. Tôi đưa tay ra và Thầy nắm lấy tay tôi. Bàn tay Thầy rất mềm và ấm. Thầy nói với tôi: “Không sao đâu con. Chắc thầy thị giả có đem một cái sơ-cua. Mà nếu không đem cũng không sao, không có gì quan trọng cả”. Nghe Thầy nói như vậy, tôi cảm thấy nhẹ hẳn. Tôi không bao giờ quên khoảnh khắc đó. Tôi cảm nhận rằng đối với Thầy, lưu lại bài giảng tuy quan trọng nhưng nuôi dưỡng tâm hồn người đệ tử vẫn quan trọng hơn. Thầy không muốn tôi có cảm giác ray rứt và tội lỗi. Thầy luôn muốn đệ tử mình có những kí ức đẹp.

Thầy dạy bằng tình thương. Tình thương của Thầy khiến tôi nhớ và biết rằng mình sẽ không bao giờ phạm lại những lỗi như vậy. Tôi cũng hứa với lòng sau này làm một người thầy, tôi cũng sẽ cố gắng thương đệ tử của mình, thương em của mình như Thầy thương. Nhưng thật sự điều này rất khó bởi tôi tu còn yếu. Tuy rằng rất muốn thương, nhưng vì vẫn còn đang trên đường thực tập, nhiều khi tôi vẫn làm em mình tổn thương như thường. Tuy vậy, đã có con đường và phương pháp, tôi có niềm tin rằng chỉ cần cố gắng tu tập, mọi việc rồi sẽ ổn.

Có một người lớn chưa trưởng thành

Lúc còn nhỏ tôi thường mơ ước mình mau lớn, tôi thích được làm người lớn. “Ăn rau sẽ mau lớn”, bà vẫn thường dỗ tôi ăn rau bằng cách này vì tôi không thích ăn rau.

Năm mười sáu tuổi, khi đi làm thẻ căn cước công dân, tôi có cảm giác rằng mình đã lớn rồi nên việc đầu tiên tôi làm là…trốn nhà đi tu. Thế nhưng tôi đã nhầm. Khi ba mẹ lên chùa tìm, Sư bà đã bảo tôi về đi học lại vì chưa đủ mười tám tuổi, ba mẹ có thể kiện nếu Sư bà nhận tôi. Lúc đó tôi nghĩ, “Vậy là mười tám tuổi mới lớn, mới được gọi là trưởng thành”.

Tùy theo mỗi quốc gia mà độ tuổi trưởng thành được quy định khác nhau. Thông thường trưởng thành nghĩa là ta có quyền đi bầu cử, tự lo cho bản thân mình, chịu trách nhiệm trước pháp luật và không cần đến sự trợ giúp của gia đình nữa. Nhưng đến năm ba mươi tuổi, khi đi tu cũng được khá lâu rồi, tôi mới hiểu được ý nghĩa thật sự của hai từ “trưởng thành”.

Thời điểm ấy, tôi rất giận một sư em. Trong cơn giận đó, tôi muốn tới và la sư em một trận. Tôi đã chuẩn bị sẵn một “bài la” rất bài bản. Lúc đi đến cửa phòng sư em, tôi bỗng xoay người và trở về lại bàn học của mình, ngồi đó rất lâu và khóc. Sau đó tôi lấy ra một mảnh giấy và viết:

“Có một đứa trẻ không chịu lớn và có một người lớn chưa trưởng thành.”

Tôi khóc cho sư em và cũng khóc cho chính mình. Khóc cho sư em vì tôi thấy sư em có đủ tất cả những điều kiện để lớn lên: được dạy dỗ, được chăm sóc và nhắc nhở rất nhiều nhưng em không muốn lớn. Em chỉ muốn nương tựa vào người khác mà không chịu đứng trên đôi chân của mình. Dù mọi người có thương bao nhiêu, sư em cũng không thấy đủ. Khóc cho bản thân vì đã tu bao nhiêu năm rồi mà vẫn còn sân si quá, không chăm sóc được cảm xúc của chính mình, muốn đi la sư em. Một cái thấy bất chợt xuất hiện: “La sư em thì có ích gì, la xong thì sư em cũng đâu thể lớn lên ngay được mà mình cũng khổ luôn”. Giây phút đó tôi nhận ra là mình vẫn chưa trưởng thành.

Đó cũng là lần đầu tiên tôi hiểu được trưởng thành nghĩa là mình có khả năng thấu hiểu mình và người khác, chăm sóc được cảm xúc, tri giác cũng như tâm hành của mình. Chỉ khi làm được như vậy tôi mới trưởng thành. Có thể năm mươi, sáu mươi tuổi nhưng mình vẫn hành xử như một đứa trẻ và làm tổn thương những người xung quanh.

Trưởng thành là cả một quá trình mà người làm con hay làm cha mẹ, ông bà đều phải học. Không có ai hoàn hảo, chỉ nhờ rèn luyện mà làm tốt hơn mỗi ngày.

Sư bạn

Trong tu viện, chúng tôi gọi những thầy, những sư cô lớn là sư cha, sư mẹ. Đó là những vị tuổi đạo cao, sống lâu trong chúng, có tình thương và dành sự chăm sóc cho những người nhỏ. Tuy là anh, là chị mà cũng là cha, là mẹ. Rồi có những “sư em”, tuy là em nhưng cũng là những người thầy của mình. Dù cho mới xuất gia, sự thực tập vững chãi và tươi mát của sư em giúp tôi tỉnh ra những lúc đắm chìm trong phiền não. Lúc đó, sư em trở thành một vị thầy dạy tôi dừng lại, trở về thực tập.

 

 

Ngoài ra còn có thêm một danh từ nữa, đó là “sư bạn”. Những người bạn đến tu cùng cũng là những người thầy của mình. Khi sống trong tăng thân, ai cũng là bạn của mình. Mỗi người đều dạy cho mình một bài học nào đó. Người nào khiến mình nổi giận, họ là người thầy dạy mình rằng mình chưa đủ kiên nhẫn. Tôi cảm ơn vị thầy ấy đã cho tôi một bài trắc nghiệm về lòng từ và sự kiên nhẫn. Còn người cho tôi sự bao dung, tha thứ, tôi cảm ơn vị đó đã cho tôi hiểu thế nào là tình thương đích thực. Vậy nên trong tăng thân, chúng ta có thể gọi nhau là sư bạn. Mỗi lần gặp huynh đệ, tôi hay chắp tay chào và gọi người đó là “sư bạn”.

Đức Bụt tương lai đã có mặt rồi

Ai trong chúng ta cũng có khả năng hiểu biết và thương yêu, khả năng hiến tặng tình thương của mình. Ai cũng có phẩm chất của một vị Bụt. Thời buổi hiện nay, mọi người nói rất nhiều về “self love” (thương yêu chính mình). Thương yêu chính mình không có nghĩa là tích trữ thật nhiều thứ như áo quần, phải có nhà đẹp, xe đẹp. Yêu bản thân mình có nghĩa là mỗi người biết quay về, chăm sóc tốt cho tự thân. Từ nền tảng của việc thương yêu chính mình, chúng ta sẽ có khả năng hiến tặng tình thương cho những người xung quanh.

Bụt Sakya là đức Bụt của quá khứ, đức Bụt tương lai là Bụt Maitreya (Từ Thị), biểu hiện cho tình thương. Nhiều người hay đặt câu hỏi với Thầy rằng bao giờ thì đức Bụt Từ Thị sẽ xuất hiện để cứu khổ cho chúng sanh. Tình hình thế giới hiện nay ngày càng có nhiều bạo động, giận dữ; những vấn đề như bất công xã hội cũng càng ngày càng leo thang.

Thầy trả lời rằng đức Bụt tương lai đã có mặt rồi. Tại vì mình không thật sự có mặt nên mình mới không thấy mà thôi. Đức Bụt của tương lai không phải là một cá nhân dù đó là một cá nhân xuất sắc. Đức Bụt tương lai là một đoàn thể tu học. Chỉ có sức mạnh của cộng đồng mới đủ khả năng, đủ trí tuệ và tình thương để chữa lành cho thế giới. Tất cả chúng ta đều có cơ hội là một phần của cộng đồng đó, cùng đóng góp vào sự nghiệp chung đó.

Sen búp xin tặng người. Một vị Bụt tương lai.

 

Khoá tu Bồi đắp gốc rễ (03.05-10.05.2024)

Xóm Hạ đang ở trong những ngày cuối cùng của khoá tu Asian, khoá tu có tên “Bồi đắp gốc rễ” dành cho các bạn thiền sinh người gốc châu Á sinh ra lớn lên hoặc đang sống và làm việc tại các nước Tây phương.

Khoá tu diễn ra trong không khí bình yên của những cơn mưa tháng Năm. Tiếng mưa rơi lộp độp trên mái thiền đường. Những dòng mưa trắng xoá nối nhau khi nhìn qua ô cửa kính. Những chiếc ô sắc màu dưới cơn mưa với những bước chân thiền hành trên đất Mẹ. Đất trời có lẽ cũng muốn giúp làm dịu mát những tâm hồn tìm về với nơi đây. Gần một tuần trôi qua, đã có biết bao nhiêu nụ cười dưới những cơn mưa!

Khoá tu diễn ra từ ngày 3-10/5. Ngày đầu khoá tu, Xóm Hạ chào đón những nụ cười hân hoan, háo hức của các bạn thiền sinh. Vào buổi tối, các bạn được đi vào phần thực tập đầu tiên là thiền buông thư, cơ hội để các bạn bắt đầu trở về, tiếp xúc lại với thân thể của mình một cách sâu sắc, sẵn sàng dành một tuần lễ để học cách hiểu và thương mình nhiều hơn.

Khoá tu có chủ đề “Bồi đắp gốc rễ”, nên xuyên suốt những ngày qua các bạn được nghe những bài pháp thoại xoay quanh đến việc kết nối trở lại với gốc rễ tổ tiên bên trong mình, học cách hiểu và chấp nhận để yêu thương và chuyển hóa hay tiếp nối những hạt giống từ gia tài mà tổ tiên trao truyền. Các buổi pháp đàm cũng như những buổi ngồi ăn cơm thân mật cùng nhau cũng diễn ra những chia sẻ rất sôi nổi. Những đề tài đưa ra được mọi người quan tâm, từ những đề tài rất thú vị và gần gũi như trở về thiết lập liên lạc với khu vườn tuổi thơ để nhận diện trở lại những điều kiện hạnh phúc, đến những vấn đề phức tạp gây nhiều cảm xúc như những khó khăn trong việc thiết lập kết nối với hai gốc rễ, hố ngăn cách thế hệ, hố ngăn cách văn hóa tạo nên sự mất truyền thông trong gia đình, hay những vấn đề liên quan đến mặc cảm tự ti tự tôn, những sự phân biệt kỳ thị màu da chủng tộc mà các bạn phải đối diện trong tâm thức cộng đồng. Những băn khoăn trăn trở này cũng được các bạn đặt ra trong buổi vấn đáp cùng những câu hỏi liên quan đến cách thiết lập bình an trong nội tâm, và mối liên hệ giữa bình an trong nội tâm và hoà bình cho thế giới xung quanh. Đa phần các bạn thiền sinh trong khoá tu là những người trẻ nên trong trái tim các bạn có rất nhiều nhiệt huyết và thao thức đóng góp cho cộng đồng và nỗi quan tâm đến các vấn đề xã hội. Đồng thời, năng lượng trẻ trung, sáng tạo của các bạn cũng làm cho năng lượng khoá tu thêm phần sôi nổi và tươi vui.

Đăng ký khóa tu lần này chiếm đến 80% các bạn có gốc là người Việt. Nên quý Sư cô trong các đội nấu ăn cũng rất để tâm và nấu rất nhiều món ăn quê hương. Từ bún măng, mỳ quảng, bún thì là, bún riêu đến các loại rau mang những mùi hương đặc trưng như rau húng, rau răm, diếp cá, ngò rí, thì là,… Đến các hủ chao, mắm măng, muối sả, muối đậu phộng, tất cả đều “ưu tiên” cho các bạn. Có bạn rưng rưng khi chia sẻ rằng, bên trong như có tiếng gào thét lên vì sung sướng khi ăn vào một muỗng cơm trắng với món cà tím kho nước tương hình ảnh cô bé ấu thơ trong em trở về.

Khoá tu không chỉ rạng rỡ với những nụ cười mà còn lung linh theo những giọt nước mắt. Những tiếng nức nở trong buổi ngồi thiền với bài hướng dẫn thiết lập truyền thông với em bé 5 tuổi. Hay những giọt nước mắt trong những buổi pháp đàm,  chia sẻ khi các bạn được lắng nghe, được thấu hiểu, được kết nối, được cảm thông. Hay những giọt nước mắt vỡ òa khi vừa khai mở, sáng ra một điều gì đó. Những giọt nước mắt sung sướng và hạnh phúc bởi cảm giác linh thiêng, xúc động của buổi lễ truyền năm giới. Và đâu đó có những giọt nước mắt luyến tiếc khi bắt đầu có cảm giác muốn gọi đây là nhà.

Buổi be-in của  khoá tu khép lại với lời đồng tâm nguyện cầu hướng đến chư vị tổ tiên. Những câu kệ trong bài hồi hướng quyện hòa trong tiếng dìu dặt, tĩnh lặng của những phím dương cầm còn để lại đây bao nhiêu dư âm cho những tâm hồn khát khao tìm về gốc rễ…..

Xin mời đại chúng thưởng thức vài khoảnh khắc được lưu lại trong khóa tu vừa qua.

 

 
 
 
 
 
 
 

Về Làng

(Thầy Chân Pháp Khả)

Khi về Làng hồn bé thơ sống lại 
Nét anh nhi gặp nét đạo vui mừng 
Khi tựa gối đầu hoa bên mép suối 
Lúc cúi đầu lên vai ngọc rưng rưng
 
Khi về Làng ngữ ngôn im bặt hết 
Để tình Không may vá một niềm đau
Dòng nước mát tụng ca bài chuyển hóa 
Ta về đâu nơi đại thể lao xao
 
Khi về Làng dựng thước phim hiện tại 
Mỗi góc quay chứa sự sống nhiệm màu
Tua lại cảnh khi lòng không suy nghĩ
Thấy ba thời lặng lẽ đến bên nhau
 
Khi về Làng cứ để Làng nuôi nấng
Hồn quê hương ai gọi lại mà sâu
Mưa cuối ngõ chở bông hoa diệu lý
Nắng đầu đường soi tỏ dáng thiên thâu.
 
 
 
 
 
 

Đức Bụt của thế kỷ chúng ta

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 13.02.2005 tại Chùa Hoằng Pháp, Việt Nam)

Kính thưa Ðại chúng! Hôm nay là ngày 13 tháng 2 năm 2005. Chúng ta đang vào ngày thứ ba của khóa tu dành cho người cư sĩ, được tổ chức tại chùa Hoằng Pháp, hôm nay chúng ta nghe bài pháp thoại cuối của khóa tu. Đề tài của bài pháp thoại là Đức Phật của thế kỷ chúng ta, Đức Phật của thương yêu. Theo cái thấy của tôi thì Đức Từ Thị, Đức Di Lặc đã giáng sanh rồi, Ngài đã hạ sanh và Ngài hiện bây giờ chắc khoảng năm hay sáu tuổi. Khi quý vị nghe như vậy thì quý vị muốn hỏi rất nhiều câu hỏi.

Ngài Giáng Sanh rồi hả? Thiệt không thầy? Con trai hay con gái và sinh ra ở nước nào?  Con có thể gửi phẩm vật tới cúng dường được hay không? Con có thể tới thăm Ngài hay không? Cố nhiên là quý vị sẽ có những câu hỏi như vậy và tôi sẽ tìm cách trả lời những câu hỏi của quý vị.

 

 

Trước hết tôi muốn nói rằng, kỳ này Đức Như Lai giáng sanh có thể không phải là trong hình thức của một cá nhân mà hình thức của một tập thể, một tập đoàn, một cộng đồng, một tăng thân. Thế kỷ thứ 20 là thế kỷ của chủ nghĩa cá nhân, individualism và chủ nghĩa cá nhân đã lộng hành tạo ra biết bao nhiêu chia rẽ, bao nhiêu hận thù, một thế kỷ đẫm máu. Và chúng ta biết rằng nếu thế kỷ thứ 21 vẫn tiếp tục theo chủ nghĩa cá nhân thì chúng ta sẽ có sự tiêu diệt. Vì vậy cho nên thế kỷ thứ 21 phải là thế kỷ tâm linh, thế kỷ của tình thương, nếu không thì sẽ có sự hoại diệt của trái đất này. Sự Giáng Sinh của Bụt Di Lặc, Bụt Từ Thị trong thế kỷ này là một điều rất thiết yếu, nếu Ngài không giáng sinh trong thế kỷ này thì chắc chắn trái đất này sẽ tan tành vì chiến tranh, vì hận thù, vì chủ nghĩa cá nhân. Ngài đã giáng sinh không phải dưới hình thức của một cá nhân mà Ngài sẽ giáng sinh dưới hình thức của một cộng đồng tu tập. Một tứ chúng trong đó có người xuất gia nam, người xuất gia nữ, người tại gia nam và người tại gia nữ. Nếu chúng ta biết chuẩn bị thì chúng ta sẽ trở thành một thành phần của tứ chúng đó. Mỗi chúng ta sẽ là một tế bào trong cơ thể của Đức Bụt tương lai. Bụt Từ Thị tên là Maitreya, Maitreya ta dịch là Di Lặc hay là Từ Thị, mà “Từ” tức là thương yêu, cho nên Đức Bụt của thế giới chúng ta là Đức Bụt của thương yêu.

Hôm nay bài giảng này nói về bản chất của thương yêu để cho chúng ta có thể chuẩn bị thực tập. Thực tập thương yêu tức là chuẩn bị để đón tiếp Đức Bụt của thế kỷ chúng ta, Bụt Từ Thị. Bụt Di Lặc là một sự nối tiếp của Bụt Thích Ca tại vì Ngài cũng đã là đệ tử của Đức Thích Ca.

Ngày xưa có một chàng trai tên là Maitreya. Trong thời Đức Thế Tôn còn tại thế có một chàng trai tên là Maitreya cùng tới thăm Đức Thế Tôn với một số các nhà triết học và đạo học khác. Sau khi những nhà triết học và đạo học khác đặt những câu hỏi cho Đức Thế Tôn thì chàng trai Maitreya cũng đặt những câu hỏi. Chàng trai Maitreya đã đặt những câu hỏi rất thông minh. Sau này Bụt của chúng ta, thầy của chúng ta, tức là Bụt Thích Ca đã tiên đoán rằng Maitreya sẽ là Đức Bụt kế tiếp. Vì vậy Maitreya cũng là đệ tử của Đức Thích Ca và cũng là sự tiếp nối của Đức Thích Ca.

 

 

Maitreya dịch là con người của thương yêu, Đức Bụt của tình thương. Chữ Maitreya phát sinh ra từ gốc chữ Maitri. Maitri có nghĩa là Từ, Từ tức là khả năng ban phát hiến tặng hạnh phúc. Đức Thích Ca đã giảng dạy về phương pháp thương yêu và Ngài đã nói tới Từ, Bi, Hỷ và Xả, đó là bốn chất liệu, bốn khía cạnh của tình thương đích thực. Maitreya, Từ Thị từ chữ Maitri mà ra, mà chữ Maitri có nghĩa là Từ, và chữ Maitri cũng có gốc từ chữ Mitra. Mitra tức là bạn, tức là tình huynh đệ. Đức Bụt mới của chúng ta là Đức Bụt của tình huynh đệ. Tại vì chữ Maitri cũng nghĩa là tình huynh đệ. Chúng ta không có thể nhân danh một tôn giáo hay một chủ nghĩa nào để giẫm nát tình huynh đệ. Tình huynh đệ là cái cao quý nhất. Vì vậy chúng ta đừng nhân danh một công trình nào, một sự nghiệp nào, một tôn giáo nào hay một chủ thuyết nào để làm tan nát tình huynh đệ. Tại vì tình huynh đệ là cao nhất, đó là tự thân của Bụt Thích Ca.

Trong bài thơ Lửa Từ Bi của Vũ Hoàng Chương, ca ngợi Hòa Thượng Thích Quảng Ðức, có hai câu mà tôi rất là thích, hai câu đó như thế này:

“Muôn vạn khối sân si vừa mở mắt

  Ta nhìn nhau tình huynh đệ bao la.”

Những khối sân si ở trên thế gian nó gây chiến tranh, gây đau khổ, gây kỳ thị, gây chia rẽ. Và khi Đức Bụt Di Lặc xuất hiện thì tất cả những khối sân si đó đều mở mắt và đều có khả năng thấy được tình huynh đệ. Ngọn lửa của thầy Quảng Ðức là ánh sáng giúp cho những khối sân si hay muôn vạn khối sân si mở mắt ra để thấy được tình huynh đệ bao la. Thấy được tình huynh đệ bao la tức là thấy được Bụt Di Lặc.

Hôm trước tôi có viết thư cho Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, tôi có đề nghị thành phố nên xây một cái tháp chín tầng để kỷ niệm Hòa Thượng Thích Quảng Ðức. Ngày xưa tôi rất thân quen với Hòa Thượng Quảng Ðức từ Nha Trang cho tới chùa Long Vĩnh ở Sài Gòn. Khi tôi đi ngang qua ngã tư Phan Đình Phùng thì thấy có một cái tháp rất là nhỏ, không xứng đáng với tầm vóc vĩ đại của Hòa Thượng Quảng Ðức. Cho nên tôi đã viết thư cho ông Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh yêu cầu nghĩ tới chuyện nên xây một toà tháp chín tầng để kỷ niệm một vĩ nhân của đất nước Việt Nam. Hòa Thượng Thích Quảng Ðức không phải chỉ là người của đạo Phật, Hòa Thượng là người của dân tộc Việt Nam và ánh sáng của Hòa Thượng đã làm lay chuyển, đã mở mắt cho không biết bao nhiêu khối sân si trên thế giới. Câu chót của bài thơ Lửa Từ Bi của Vũ Hoàng Chương là câu:

“Đồng loại chúng con nắm tay nhau tràn nước mắt

Tình thương hiện tháp chín tầng xây”

Tình thương hiện thành một bảo tháp có chín tầng, vì vậy tôi đã đề nghị với ông Chủ tịch là phải xây một cái tháp chín tầng cho Hòa Thượng Quảng Ðức. Ở tầng trệt chúng ta sẽ có một tấm bia khắc bài thơ đó của Vũ Hoàng Chương.

Nhạc sĩ Phạm Duy cũng có làm một bài thơ để ca tụng Hòa Thượng Quảng Ðức. Bài này là một bài Âu Ca, chỉ sáu hay bảy dòng thôi và đó là bài kết thúc của trường ca “Mẹ Việt Nam”. Phạm Duy viết như thế này:

 “Việt Nam trên đường tương lai

Lửa thiêng soi toàn thế giới,

Việt Nam ta nguyện tranh đấu cho người.

Tình yêu đây là khí giới,

Tình thương đang về muôn nơi.”

Việt Nam đây tiếng nói đi xây tình người.

Câu lửa thiên soi toàn thế giới tức là nói về ngọn lửa của Hòa Thượng Thích Quảng Ðức.

Ta tranh đấu cho thế giới, không phải bằng võ khí nguyên tử, võ khí hạt nhân mà ta tranh đấu bằng khí giới của tình yêu. Đó là sứ mạng của Bụt Di Lặc. Chúng ta phải có bổn phận yểm trợ Đức Di Lặc và giúp cho Ngài thành lập, tạo dựng một Tăng thân gồm có Tứ Chúng, biểu lộ được tình thương trong tinh thần Từ, Bi, Hỷ và Xả.

 

 

Trước hết tôi xin nói về “Từ”. Từ tức là ước muốn và khả năng hiến tặng hạnh phúc. Thương yêu nghĩa là hiến tặng hạnh phúc, nếu không hiến tặng được hạnh phúc thì tình thương đó không phải là tình thương đích thực. Theo tinh thần Phật giáo, ta phải hiến tặng hạnh phúc cho cha và cho mẹ trong đời sống hàng ngày. Đôi khi ta có ý chí muốn làm cho cha mẹ hạnh phúc nhưng trên thực tế ta không có khả năng làm cho cha mẹ ta có hạnh phúc. Ý chí đó, ước muốn đó chưa phải là tình thương. Cho nên phải học các phương pháp làm thế nào để cha mẹ có hạnh phúc. Nếu ta yêu con trai hay con gái thì ta phải làm sao cho ngày hôm nay con ta có hạnh phúc. Ta nói thương con thôi thì chưa đủ, ta tin rằng ta thương con, ta tin rằng trong trái tim ta có rất nhiều tình thương dành cho con. Nhưng nếu ta không biết cách thì con ta vẫn đau khổ như thường. Khả năng có thể dâng tặng hạnh phúc mới gọi là Từ, mới gọi là thương yêu. Chúng ta phải thực tập làm thế nào để cho mỗi ngày ta có thể hiến tặng được hạnh phúc cho người ta thương.

Chúng ta muốn hiến tặng hạnh phúc cho người ta thương trước hết ta phải có sự tươi mát. Nếu ta không có tươi mát thì sự có mặt của ta không làm cho người kia hạnh phúc được. Trước hết ta phải thực tập như thế nào để ta có sự tươi mát. Ở Làng Mai có một bài thực tập là hoa tươi mát. Mỗi người trong chúng ta đều có hạt giống của sự tươi mát, dễ chịu, dễ thương trong mỗi người. Nhưng nếu chúng ta không sống theo phương pháp Bụt dạy thì sự tươi mát của chúng ta càng ngày càng ít đi và chúng ta trở thành khô cằn, héo hon, bực bội và chúng ta không có gì để hiến tặng cho người chúng ta thương yêu. Phải thực tập thở, thực tập mỉm cười, thực tập thư giãn, thực tập như thế nào để phục hồi sự tươi mát cho cơ thể  và tâm hồn ta.

Chúng ta biết rằng con người khi sinh ra đẹp như một bông hoa. Con người là một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Nhưng có những người trong chúng ta mất đi sự tươi mát đẹp đẽ, tại vì chúng ta không biết cách nuôi dưỡng bông hoa tươi mát ở trong chúng ta. Ta vốn có tính tươi mát của bông hoa. Ta vốn có tính đẹp đẽ của một bông hoa. Nhưng tại vì ta giận hờn, ta trách móc, ta sầu thương, ta lo lắng nhiều quá cho nên tính hoa của chúng ta càng ngày càng khô cằn và ta không có được sự tươi mát, sự đẹp đẽ đó để hiến tặng cho người ta thương. Trong bài thơ gửi cho chị Trúc, thi sĩ Nguyễn Bính có hứa với chị rằng sang năm mới em sẽ không than nữa, không rầu nữa, không khóc nữa. Và em hy vọng nếu em làm được như vậy thì hai mắt của em sẽ trong và sẽ tươi ra.

“Em không khóc nữa, không than nữa.

Đây một bài thơ hận cuối cùng

Không than chắc hẳn hồn tươi lại,

Không khóc tha hồ đôi mắt trong.”

Cho nên ta phải thực tập như thế nào để phục hồi tính tươi mát, tính trong sáng của thân thể và của tâm hồn ta. Đó là món quà quý giá nhất mà ta có thể tặng cho người thương của ta. Và là món quà quý nhất mà chúng ta có thể tặng cho cha, cho mẹ, cho con của ta.

 

 

Tôi đã từng nói chuyện với những người trẻ. Một trong những hạnh phúc lớn của đời tôi là chưa bao giờ bị xa cách với người trẻ, người trẻ rất tin tôi và tôi rất tin người trẻ. Cho nên không có cái hố ngăn cách về tuổi tác cũng như về văn hóa giữa tôi với người trẻ tuổi, dù là người trẻ tuổi xuất gia hay là người trẻ tuổi tại gia. Tôi đã viết rất là nhiều sách cho người trẻ tuổi, như là nói với tuổi 20, tuổi trẻ tình yêu và lý tưởng… nếu quý vị muốn đọc thì quý vị lên mạng của Làng Mai và quý vị sẽ đọc được những lời thương yêu đó, những lời tâm tình đó với tuổi trẻ. Đối với người xuất gia tôi đã viết quyển nói với người xuất gia trẻ với giọng điệu rất là thương yêu, rất là tâm tình. Tôi đã nói chuyện với những người trẻ và họ đồng ý với tôi một điểm rằng món quà quý nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu là sự hạnh phúc của cha mẹ. Cha mẹ thương nhau, cha mẹ hiến tặng cho con cháu niềm vui hạnh phúc. Những người trẻ không cần cha mẹ để lại cho họ tiền bạc, nhà cửa, xe hơi. Họ chỉ muốn cha mẹ sống với nhau hạnh phúc. Đó là gia tài quý nhất của cha mẹ có thể tặng cho con cái. “Từ” tức là maitri, còn “Bi” là karuna. “Bi” có nghĩa là ước muốn và khả năng lấy đi nỗi khổ niềm đau trong người ta thương. Người ta thương có những nỗi đau, những nỗi khổ, những khó khăn. Nếu ta là một người thương đích thực, có khả năng thì ta có thể  giúp chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau, những bế tắc, những mắc kẹt của người ta thương, đây mới thiệt là thương. Người nào mà không có những khó khăn, người nào mà không có những bức xúc trong lòng, người nào mà không có những khổ đau, người nào mà không có ước vọng. Chúng ta là người thương đích thực thì phải nhìn sâu vào người đó để thấy những nỗi khổ đau của người đó. Đôi khi những khổ đau đó chồng chất từ hồi ta còn ấu thơ mà chưa có ai lắng nghe cả, ta giúp cho người kia nói ra được tất cả những khổ đau mà người kia chưa có dịp nói với ai hết, thì đó gọi là Bi. “Bi” tức là làm cho nhẹ những nỗi khổ niềm đau của người ta thương. Cho nên trong khi thực tập Từ cũng như thực tập Bi, chúng ta phải nhìn sâu vào đối tượng thương yêu của ta. Đối tượng đó có thể là con trai hay con gái của ta. Ta phải thực sự có mặt một cách tươi mát để lắng nghe, để hiểu và đó là Từ và Bi. Người nào cũng có thể thực tập được Từ và Bi mỗi ngày. Người xuất gia cũng vậy, người tại gia cũng vậy. Quý vị đừng nói là quý vị không thực tập Từ và Bi được, tại vì mỗi vị ngồi ở đây đều có hạt giống của Từ và Bi. Hạt giống đó có thể còn nhỏ nhưng nó luôn có mặt đó. Nếu mỗi ngày ta thực tập Từ và thực tập Bi thì hạt giống đó sẽ lớn lên. Khi hạt giống Từ và Bi trở thành quan trọng, lớn mạnh thì hạnh phúc của ta sẽ nhiều lắm. Người hạnh phúc là nhờ có nhiều Từ và Bi. Sở dĩ tôi có hạnh phúc nhiều là tại vì tôi có rất nhiều Từ, tôi có rất là nhiều Bi. Tôi có thì giờ để hiến tặng sự có mặt của tôi cho những người thương của tôi, những người đang gặp khó khăn, những người đang có những cái bức xúc trong lòng, có những khổ đau, có những ước vọng chưa thành tựu. 

Khóa tu Việt Wake Up 2024 “Dám sống chân thực”

Xin chào các bạn trẻ,

Phong trào Wake Up do Sư Ông Làng Mai (Thiền Sư Thích Nhất Hạnh) thành lập vào năm 2008 và đã được quý thầy và quý cô Làng Mai hướng dẫn khắp nơi trên thế giới trong mấy năm qua. Chủ đề của khóa tu lần này là “Dám sống chân thực”.

“Dám sống chân thực” là một lựa chọn có ý thức để thoát khỏi chuỗi đồng nhất nhân tạo. Sống chân thực có nghĩa là luôn trung thực với các giá trị của mình, nuôi dưỡng những kết nối chân thực trong thời đại kỹ thuật số và lèo lái mê cung các triết lý xung đột một cách chính trực. Tính xác thực trở thành nguyên tắc chỉ đạo, một lời nhắc nhở rằng ngay cả khi công nghệ tiến bộ, cốt lõi của con người chúng ta – khả năng phản ánh, cảm nhận, sáng tạo và kết nối vẫn cực kỳ quan trọng. Tính xác thực là nguồn sức mạnh và khả năng phục hồi sâu sắc.

Các khoá tu trong chuyến hoằng pháp Viet Wake Up sẽ do quý thầy và quý sư cô Làng Mai hướng dẫn trực tiếp bằng tiếng Anh. Xin mời các bạn thanh thiếu niên, đặc biệt là các bạn có gốc Việt và các nước châu Á khác. Trong các khóa tu này, các bạn sẽ học những giáo lý thiết yếu của đạo Phật và những phương pháp thực hành chánh niệm giúp các bạn trở nên chân thực và phát triển tuệ giác đích thực trên con đường khám phá bản thân và thể hiện bản thân đầy ý nghĩa.

Chuyến đi Việt Wake Up 2024 sẽ được tổ chức tại các thành phố ở Bắc Mỹ như sau:
 
  • Miami, FL: từ ngày 17-20/05
  • Dallas, TX: từ ngày 30/05 – 02/06
  • Seattle, WA: từ ngày 06/06 – 09/06

Mọi chi tiết xin liên lạc qua email và số điện thoại đính kèm trên poster. 

 

Khóa tu Sức khỏe thân tâm (26.04 – 03.05.2024)

“Khi thực tập chánh niệm, chúng ta tiếp xúc sâu sắc và biết cách phối hợp giữa thân và tâm một cách nhẹ nhàng. Sự phối hợp này giúp ta chăm sóc bản thân chu đáo, thấy được sự thật tương tức và có nhiều an lạc. Chúng ta trở nên ý thức hơn về những cảm nhận của thân thể, hiểu được chính mình và những cảm thọ của mình, có khả năng đáp lại những thông điệp quan trọng mà thân thể nói cho ta nghe về tình trạng sức khỏe nơi thân cũng như nơi tâm. Với những bài tập thể dục nhẹ nhàng toàn thân, chúng ta gửi đến thân thể sự lân mẫn và niềm biết ơn, cải thiện sức khoẻ, thể lực, sự bền bỉ, dẻo dai và đem lại sự bình an, định tĩnh cho tâm hồn. Học cách buông thư giúp chúng ta hồi phục sức khoẻ, trị liệu cho cả thân lẫn tâm, giảm thiểu những vấn đề về tâm thần như căng thẳng, giận dữ, trầm cảm và lo lắng.” – Sư Ông Làng Mai

Khóa tu Sức khỏe thân tâm vừa được diễn ra tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới trong một tuần lễ vừa qua, từ ngày 26/04 đến 03/05/2024. Trong xã hội con người có quá nhiều vấn đề về tâm lý, điều đó làm ảnh hưởng trực tiếp lên thân thể của chúng ta với những mệt mỏi, chán chường. Khóa tu là cơ hội cho các bạn thiền sinh trở về chăm sóc thân thể và tâm hồn qua những bài pháp thoại của quý Sư cô. Hay các buổi ngồi thiền có hướng dẫn là thời gian lắng yên trở về có mặt, ôm ấp em bé 5 tuổi trong mỗi chúng ta và được lắng nghe những buổi thảo luận về cách đối trị với cảm xúc mạnh. Đặc biệt hơn là lớp học viết thư pháp, từng nét bút mềm mại là khi thân tâm mình có mặt, buông thư, nhẹ nhàng, thư giãn. Qua một tuần thực tập, từng bước chân của các bạn thiền sinh chậm rãi hơn, những bông hoa trong lòng được chăm sóc và tỏa ngát hương thơm. Điều đó được biểu hiện qua từng gương mặt rạng rỡ, tràn đầy sức sống tươi mới. Khi trong lòng có đủ không gian và bình yên cũng giúp cho thân được thư thái. 

Cuối tiết trời tháng tư nhưng vẫn không ngăn được những cơn mưa kéo dài cả ngày. Tuy phải cắm lều và bị ướt dột nhưng các bạn thiền sinh vẫn được nuôi dưỡng hạnh phúc từ sự thực tập. Đó cũng là lúc trở về tắm mát trong dòng suối tâm linh, tiếp xúc sâu sắc với vẻ đẹp của thiên nhiên mà đất trời đã ban tặng cho chúng ta.

Xin mời đại chúng thưởng thức vài khoảng khắc được lưu lại trong khóa tu vừa qua.

Còn tu là còn thấy nhau

(Sư chú Chân Trời Tương Tức)

Có ai thắm đượm tình xuân
Để cho lá lộc tần ngần xuyến xao
Pháp âm tiếp nối truyền trao
Giờ nay vắng bóng lối vào chông chênh
Gió đưa hương thoảng nhẹ tênh
Nỗi lòng tựa núi, mông mênh biển trời
Nguyện cầu mây trắng thảnh thơi
Nguồn tâm tuôn chảy mỉm cười mát trong
Nắng vàng chiếu rọi cõi lòng
Thở sâu, bước vững nối vòng hiểu thương
Xa xôi cách trở trăm đường
Còn tu còn thấy tỏ tường trong nhau
Bây giờ cho đến ngàn sau
Cùng chung nhịp bước qua cầu bình an.

 

Vui buồn rồi cũng sẽ đi qua

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 13.04.2000 tại xóm Mới, Làng Mai)

 

Hôm nay Thầy muốn nói tới một khía cạnh khác của sự thực tập. Thầy đề nghị phương pháp thực tập là khi có một tâm hành buồn chán, lo âu, không có hạnh phúc, thì mình hãy ôm lấy tâm hành buồn chán, tâm hành lo âu đó. Đừng vội tìm cách xua đuổi mà hãy ôm lấy nó. Mình hỏi: “Tâm hành của ta ơi, ngươi có phải là sự đau khổ không?” Chúng ta đừng có vội vàng tìm cách đày ải nó, trái lại chúng ta ôm ấp, mời nó ở lại. “Này tâm hành buồn chán của ta ơi, ta biết ngươi có đó. Ngươi ở lại chơi với ta một thời gian đi. Ngươi có phải là sự đau khổ thật sự không?”. Chúng ta nên có một cái nhìn khác.

Tâm tư ta buồn chán hay lo âu là chuyện rất thường. Cũng như bầu trời. Bầu trời có khi xanh trong, nhưng có khi cũng có mây. Tại sao ta phải lo lắng quá sức về chuyện thời tiết. Nếu ở trong trời đất có thời tiết thì trong tâm hồn ta cũng có thời tiết. Nhiều người than phiền rằng con người hay thay đổi, nhưng ông trời cũng vậy thôi. Nhà thơ Nguyễn Bính nói rằng mưa chiều, nắng sớm, người ta bảo cả đến ông trời cũng đổi thay. Nếu ông trời có lúc trong, có lúc đục, thì tại sao ta không cho phép ta có lúc trong, có lúc đục? Vì vậy có một tâm hành buồn buồn, chán chán, lo lo, đó là chuyện rất dĩ nhiên. Ta phải chấp nhận sống với cái đó và ta mỉm cười với nó.

“Tâm hành buồn chán của ta ơi ta biết người có đó.” Và ta phải sống hạnh phúc với tâm hồn đó, trong lúc tâm trạng đó đang có thật. Tâm trạng buồn chán lo lo có thật, đúng phải không? Nhưng ta còn có thêm cái khác nữa, đó là sự thực tập; tâm trạng của ta, thái độ mới của chúng ta đối với tâm hành này. Ta ôm lấy nó, làm bạn với nó, thân thiết với nó thì tự nhiên nó trở thành rất dễ chịu. Một niềm đau nho nhỏ, một nỗi buồn nho nhỏ, hay là sự lo âu nho nhỏ, đều trở thành rất dễ chịu. Điều này là một điều rất quan trọng. Chúng ta đừng tưởng hạnh phúc thực sự là sự vắng mặt của tất cả những đau khổ. Nếu chúng ta hiểu như vậy thì chúng ta chưa hiểu hạnh phúc là gì?

Chúng ta không cần phải đày ải tất cả đau khổ ra khỏi ta thì ta mới có hạnh phúc. Chúng ta vẫn có thể có hạnh phúc như thường nếu những đau khổ vẫn còn ở trong ta. Cũng như khi làm vườn, nếu là một người làm vườn giỏi, làm theo kiểu biologic (hữu cơ), thì mình biết rằng khu vườn của mình thế nào cũng có hoa và có rác. Tại vì có hoa thì thế nào cũng phải có rác, người làm vườn giỏi không bao giờ đem rác mà đốt, hoặc thả đi chỗ khác. Người làm vườn giỏi luôn luôn giữ rác đó lại để ủ thành phân và phân đó sẽ làm hoa trái ở trong vườn tốt thêm.

 

 

Chúng ta cũng vậy, là người tu, chúng ta cũng là một người làm vườn. Những tâm hành gọi là buồn chán, lo âu, bực bội đó phát hiện ra là chuyện rất dĩ nhiên. Chúng ta muốn có rau, có trái mà chúng ta không có muốn có rác thì đâu có được. Chúng ta hái những trái mướp, những trái cà, những trái đậu hay những lá xà lách thì thế nào cũng còn giữ lại những gốc rễ, những lá úa để biến chúng thành phân xanh nuôi dưỡng những hoa trái của tương lai. Là người thực tập cũng giống như một người làm vườn. Chúng ta biết rằng khu vườn là cái tâm của chúng ta. Tâm ta bao gồm những tâm hành tích cực, dễ chịu và cả những tâm hành tiêu cực, không dễ chịu. Là một người làm vườn giỏi ta phải có trái tim lớn, có hiểu biết lớn. Ta chấp nhận được cả phần hoa và phần rác ở trong khu vườn của ta. Mỗi khi thấy rác ta không giận, không buồn tại ta biết rằng rác thế nào cũng thành hoa. Do đó cho nên thao thức vội vã muốn chuyển hóa tâm hành đó, muốn đày ải tâm hành đó, muốn thay chốt liền chưa chắc đã là tốt.

Một khi tâm hồn mình có sự u ám như là bầu trời không trong sáng thì mình nên đem lòng ưu ái trở về với tâm hành đó và làm quen với nó. Tâm hành của ta ơi, ngươi có phải là sự đau khổ không? Ta biết ngươi là bạn của ta. “Ngươi đã là bạn của ta trong quá khứ, ngươi là bạn của ta trong hiện tại và ngươi cũng sẽ là bạn của ta trong tương lai. Chúng ta phải biết sống chung với nhau, với an lạc, với hòa bình và nhất là với thái độ bất nhị.” Tại vì muốn có hoa mà không có rác, đó là chuyện không tưởng. Muốn có hạnh phúc mà không có khổ đau, đó cũng là một chuyện không tưởng. Chính vì nhờ những giây phút khổ đau, cho nên mình mới biết được giá trị của những giây phút hạnh phúc. Có những ngày trời mưa âm u kéo dài thì khi nắng lên bầu trời trong, mình mới thấy được tất cả những cái đẹp, mầu nhiệm của bầu trời trong. Vì vậy cho nên chấp nhận những ngày mưa là rất quan trọng.

Khi trời mưa, chúng ta không buồn phiền, không đau khổ. Chúng ta có những phương pháp của chúng ta, đối xử với trời mưa. Trời mưa thì ta không đi ra ngoài ăn cơm. Trái lại, ta đóng cửa cho kĩ để mưa gió đừng có lọt vào và ta đốt lò sưởi lên, cho có sự ấm cúng ở bên trong. Trời nắng thì ta mở cửa ra và ta đi ra ngoài bãi cỏ, ta ngồi xuống, uống trà, ăn cơm. Tâm hành của ta cũng vậy. Khi bầu trời của tâm tư ta nó trong, ta làm chuyện khác mà khi bầu trời tâm tư của ta nó đục, có mây thì ta làm chuyện khác. Ta không lo sợ. Trong thì trong, đục thì đục, ta không chống đối và đó là thái độ của người tu.

 

 

Sau khi ngồi với tâm hành u ám của chúng ta với tất cả thái độ ưu ái và thương tưởng thì chúng ta sẽ bắt đầu hiểu được nó. Chúng ta sẽ nói tâm hành u ám của ta ơi, ngươi rất cần thiết cho ta. Chính nhờ ngươi, ta mới có khả năng thấy được những tâm hành tốt đẹp của ta. Ta không muốn đày ải ngươi đâu, ta biết rằng ngươi rất cần thiết cho sự biểu hiện và lớn lên của những tâm hành tích cực. Khi mình biết nắm tay cùng đi thiền hành chung với tâm hành u ám của mình, không có ý muốn xua đuổi nó, chỉ muốn cầm tay nó, nhìn kĩ vào nó và tỏ lòng thân thiện với nó thì tự nhiên tình cảnh trở nên dễ chịu vô cùng. Khi đó mình có thể chấp nhận một ngày mưa, một ngày gió rất dễ dàng, mình có thể có hạnh phúc ngay trong ngày mưa và ngày gió đó. Đó là sự thực tập của Thầy. Sự thực tập này được căn cứ trên nhận thức gọi là nhận thức bất nhị.

Có một hôm Thầy hỏi một sư em rất nhỏ, rất trẻ, hỏi rằng có khi nào tâm hồn của con u ám như là bầu trời ngày hôm nay không? Thì sư em trả lời, dạ có. Sư em còn trẻ lắm nhưng mà cũng có thể có những ngày tâm hồn u ám. Thầy hỏi trong những trường hợp đó, con làm sao, nói cho Thầy nghe. Trong câu chuyện chứng tỏ rằng sư em không lo sợ, tại vì tuy sư em còn nhỏ nhưng đã có kinh nghiệm trong quá khứ, là những giờ phút tâm hồn u ám bao giờ cũng đi qua để nhường chỗ cho những tâm hành trong sáng và nhẹ nhàng. Cái đó không làm gì nó cũng qua, không cần thực tập nó cũng qua. Sư em nghĩ như vậy và thấy như vậy cho nên sư em không lo lắng về những tâm hành u ám. Tuy nhiên niềm vui đi tới tại vì trong sư em có những hạt giống của niềm vui. Các sư chị, các sư anh cũng có những hạt giống của niềm vui. Do đó khi tiếp xúc thì tự nhiên những hạt giống của niềm vui được tưới tẩm, được tiếp xúc và biểu hiện ra và tâm hành u ám kia, buồn phiền kia biến mất.

Nhưng mà hôm đó, Thầy chưa có dịp dạy sư em về phương pháp nắm tay tâm trạng u ám, buồn chán đó để đi thiền hành để tỏ lòng ưu ái của mình và biết ơn của mình đối với nó. Chúng ta biết ơn hoa nhưng mà chúng ta cũng biết ơn rác. Tại vì nhờ có rác cho nên mới có hoa; tại vì có hoa thế nào cũng phải có rác. Và ta chấp nhận đó như là một sự thật.

Một vị Ni sư nổi tiếng ở đời Lý là Ni sư Diệu Nhân đã làm một bài kệ rất hay. Ni sư nói rằng: “Sinh lão bệnh tử là cái thường nhiên, tại sao phải đi cầu tìm cái chuyện giải thoát. Nóng nảy đi tìm chuyện giải thoát khỏi sinh lão bệnh tử thì tự nhiên bị sinh lão bệnh tử nó cột mình.” (Sinh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên, dục cầu xuất ly, giải phược thiêm triền.) Đó là một vị Ni sư ở đời Lý. Nếu mình nắm tay sinh lão bệnh tử, mình cười với nó, chơi với nó, không sao hết. Nếu mình cố ý muốn chạy, muốn đày ải, muốn tiêu diệt sinh lão bệnh tử thì mình sẽ bị bỏ cuộc. Tại vì trong thái độ tranh đấu, trốn chạy đó có cái nhìn lưỡng nguyên, cho nên mình bị cột.

 

 

Do đó phương pháp mình đề cập tới sáng hôm nay là đừng mang theo thái độ lưỡng nguyên đó ở trong sự thực tập của mình. Mình phải tìm cách nhìn những tâm hành tiêu cực của mình với cặp mắt bất nhị, với sự thương tưởng và mình làm bạn với nó. Thành ra nếu chúng ta, nếu các bạn chúng ta hiện bây giờ đang có những nỗi khổ niềm đau thì đừng quá thao thức, đừng quá hành hạ, chống phá, tranh đấu, đày ải và chạy trốn những niềm đau nỗi khổ đó. Trái lại mình phải biết mời niềm đau nỗi khổ đó ngồi xuống với mình và hỏi niềm đau của ta ơi, nỗi khổ của ta ơi, bản chất của ngươi là gì? Hỏi câu hỏi đó và mình sẽ nắm tay niềm đau, nắm tay nỗi khổ của mình đi thiền hành và cùng ngồi thiền với mình. Mình biết rằng chính niềm đau nỗi khổ đó sẽ giúp cho mình thấy được, kinh nghiệm được an lạc, giải thoát, hạnh phúc. Mình phải tỏ lòng cám ơn niềm đau nỗi khổ đó, vì nếu không có những niềm đau nỗi khổ thì không cách nào chúng ta lớn lên được mà có thể chúng ta chỉ có khả năng tiếp nhận được niềm vui của giải thoát, của an lạc mà thôi. Cho nên thái độ trốn chạy, đập phá, đày ải, nỗi khổ niềm đau của chúng ta không phải là một thái độ khôn ngoan.

Có một lần trong khi đi thiền hành, Thầy thực tập ôm lấy tâm trạng đó và Thầy hỏi: “Tâm trạng đó ơi, ngươi có phải là sự đau khổ thật hay không?”. Và Thầy thấy nó không phải thật sự lao khổ, nó chỉ là một chuyện rất thường, cũng như hễ có trời nắng thì thế nào cũng có trời mưa. Nắng thì làm ra mưa, mưa thì sẽ làm ra nắng. Thầy thấy rất rõ điều đó nên không cần phải đày ải nó. Thì tự nhiên đó không còn là một mối đe dọa, là một nỗi khổ đau cho mình nữa và mình sống với nó rất tự nhiên, rất mầu nhiệm. Xin mời đại chúng thực tập và đại chúng sẽ thấy phương pháp này rất hay.