Chương 7: Chế tác truyền thông

 

Chưa bao giờ trong lịch sử loài người có quá nhiều phương tiện truyền thông như ngày nay: điện thoại di động, máy nhắn tin, điện thư (email), phương tiện truyền thông trực tuyến… nhưng chúng ta lại xa cách mọi người hơn bao giờ hết. Mọi người trong gia đình, trong xã hội và giữa các quốc gia ít có truyền thông với nhau thực sự.

Là một nước văn minh, chúng ta phải đảm bảo là không chế tác những nghệ thuật nghe nói chỉ nhằm để thỏa mãn một nhu yếu bình thường nào đó. Chúng ta thật sự không biết lắng nghe nhau. Hầu hết chúng ta có rất ít khả năng quý giá là bày tỏ chính mình và lắng nghe người khác với một tinh thần cởi mở, thành thật. Khi không thể truyền thông được thì năng lượng bên trong bị bế tắc, làm cho ta bệnh hoạn. Khi bệnh tình tăng trưởng thì ta lại khổ đau và khổ đau của ta lại đổ lên người khác.

Nếu muốn truyền thông với người khác tốt hơn, ta không cần phải nhắn tin thêm cho họ, mà ta chỉ cần lắng nghe họ thêm. Lắng nghe sâu đưa tới cái hiểu. Hiểu đưa tới liên hệ tốt hơn. Cách lắng nghe sâu không đơn thuần là cố gắng nhiều hơn. Trái lại, ta cần thời gian thực tập bắt đầu bằng sự im lặng, tắt đài NST trong đầu (đài suy nghĩ liên tục, không ngừng).

Truyền thông bằng chánh niệm

Tất cả chúng ta đều mong muốn (thèm khát) truyền thông và nhiều người trong chúng ta tìm cách truyền thông qua điện thoại, email. Ta thấy ngọt ngào dễ chịu khi ai đó gởi cho ta một tin nhắn hay một email, và cảm thấy lo lắng khi không có điện thoại hay không ở gần điện thoại.

Tôi không có điện thoại nhưng không thấy mất truyền thông với bạn bè và đệ tử. Tôi thường nghĩ tới họ. Tôi viết thư cho họ trên giấy viết thực sự. Nó cũng mất thời gian, đôi khi cần vài ngày hay cả tuần để viết một trang thư cho một người bạn. Nhưng trong lúc đó, tôi lại có nhiều thời gian để nghĩ về người bạn của tôi. Tôi cũng có những người bạn đến thăm. Chúng tôi không nói chuyện thường xuyên, ngay cả trên điện thoại. Nhưng khi ngồi chơi với nhau, chúng tôi thật sự trân quý thời gian đó. Tôi nhìn họ và lắng nghe họ kỹ càng. Lời nói của họ rất quý giá bởi vì tôi sẽ không được nghe những lời như thế nữa trong một thời gian.

Bạn có bao giờ ngồi chơi với bạn thân mà không cần nói gì hết không? Với tôi, đó là một tình bạn sâu sắc nhất, một tình bạn tâm linh chân thật. Điều này rất quý hiếm. Một người bạn tâm linh, một thiện hữu tri thức, trong một ý nghĩa nào đó, là người thầy của mình. Người thầy đích thực là người có tự do và không sợ sự im lặng. Người đó không cần phải được gọi là thầy, người đó có thể nhỏ hơn ta. Nếu trong đời, ta có một thiện hữu tri thức, một người bạn tâm linh tốt như vậy thì ta đã quá may mắn rồi. Người ta nói rằng gặp được thiện hữu tri thức thì quý hiếm giống như hoa Ưu Bát Đa La ba ngàn năm mới nở một lần.

Khi gặp được một thiện hữu tri thức, ta phải biết thừa hưởng những cái tốt từ người bạn đó. Người đó có hiểu biết, có hạnh phúc, có tự do và ta có thể nương tựa người đó để tưới tẩm những hạt giống hiểu biết, tự do cho chính ta. Cuối cùng, ta cũng nhận ra rằng ta không cần nhiều những tiện nghi tình cảm và tiện nghi vật chất. Chúng ta không cần thiện hữu tri thức, hay người bạn tâm linh khen ngợi ta, gọi điện cho ta mỗi ngày. Ta không cần những món quà mua ở tiệm hay những đối xử đặc biệt.

Chúng ta phải sử dụng thời gian của mình cho có hiệu quả. Nếu ta lãng phí thời gian với những đòi hỏi tầm thường thì ta sẽ không có khả năng thừa hưởng những món quà đích thực quý giá từ người bạn tâm linh. Chúng ta có thể gặt hái được những tuệ giác giá trị bằng cách quan sát cách người ấy hành xử qua những trường hợp khác nhau. Chúng ta có thể kinh nghiệm được cái hiểu biết lớn mà họ có được. Ta không cần phải ngồi cạnh họ suốt ngày, hay bắt họ chú ý tới ta, công nhận sự có mặt của ta. Đơn giản ta chỉ thưởng thức sự có mặt của họ mà không cần họ phải làm, hay cho ta bất cứ thứ gì.

Người bạn tâm linh, thiện hữu tri thức có thể là bất cứ người nào, có thể là người mà ta không mong đợi. Nhưng khi gặp được một người như thế, ta hạnh phúc vô cùng.

Nuôi dưỡng sự im lặng dễ chịu

Khi sống với một ai đó, có thể ta ý thức được sự tĩnh lặng từ người thân quen làm cho ta cảm thấy thoải mái. Nhưng nếu ta không gìn giữ chăm bón thì sự thoải mái dễ chịu này có thể khiến ta nhờn đi sự có mặt của người ấy. Antoine de Saint-Exupéry, tác giả cuốn Hoàng tử đã viết: “Thương nhau không phải nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng.” Tôi nghĩ ông ta nói như vậy không có nghĩa là ngồi trong phòng cùng coi ti vi với nhau.

Có thể lý do mà cả hai người cùng nhìn về một hướng ti vi là bởi vì nhìn nhau không mang lại hạnh phúc nhiều như trước đây. Khi mới gặp nhau, ta nghĩ người thương của ta rất dễ thương và hấp dẫn. Người ấy là thiên thần của đời ta, ta nói rằng: “Không có em ta không thể sống được.” Nghe giọng nói của người kia như là nghe tiếng chim hót, rất ngọt ngào, nhìn nhau thấy lòng ấm áp như mặt trời lên. Còn bây giờ, nhìn nhau, nghe nhau không còn mang đến cho nhau niềm vui và hạnh phúc nữa. Có thể ta đã cãi cọ quá nhiều và không biết cách hòa giải, không biết cách tìm lại nguồn hạnh phúc. Nếu ta không tìm cách nói chuyện, truyền thông mà cứ xem ti vi thì tình trạng chỉ tệ hại thêm năm này qua năm khác.

Có lần một phụ nữ đến phỏng vấn quý sư cô xóm Mới, Làng Mai cho tờ báo Phụ nữ. Ngày nọ, khi nhà báo đang nói chuyện với quý sư cô thì tôi đến thăm. Cô ta nắm lấy cơ hội này để phỏng vấn tôi. Cô ta muốn tôi nói về thiền và chánh niệm. Nhưng tôi thấy mình nên gây cảm hứng cho người ta thực tập hơn. Đây là những đề nghị của tôi cho độc giả báo Phụ nữ thực tập:

Tối nay, sau khi ăn tối, khi chồng mình mở ti vi lên, hãy thực tập những hơi thở thật sâu, làm cho thân tâm lắng dịu rồi mỉm cười với anh ta và nói: “Anh ơi, anh có thể tắt ti vi được không? Em có chuyện muốn nói với anh.” Với lời nói ái ngữ, bạn nói với chồng như thế. Có thể anh chồng hơi bực mình và chờ đợi một cuộc cãi lộn hay chuyện gì đó tương tự xảy ra.

Sau khi anh ta tắt ti vi, bạn tiếp tục mỉm cười và nói: “Anh ơi, tại sao vợ chồng mình không có hạnh phúc? Dường như mình có tất cả. Cả hai đều có lương cao. Mình có nhà đẹp và có đủ tiền trong ngân hàng. Vậy tại sao mình không hạnh phúc? Chúng ta có thể dành vài phút để xem lại điều này không? Ban đầu chúng ta sống với nhau rất dễ thương, chúng ta có hạnh phúc. Chúng ta có thể nói cho nhau nghe để cùng nhau tìm ra nguyên nhân tại sao hạnh phúc của chúng ta lại ra đi?”

Đó là thiền tập. Đó mới đích thực là thiền. Thông thường, chúng ta chỉ đổ lỗi cho người kia, nhưng trong bất kỳ mối quan hệ nào, cả hai bên đều cùng có trách nhiệm cho những gì xảy ra. Cả hai bên đều không biết cách nuôi dưỡng tình yêu và hạnh phúc. Hầu hết chúng ta không biết cách xử lý khổ đau hoặc giúp người khác xử lý khổ đau của họ. Vì vậy, tôi đã nói những điều đó với độc giả báo Phụ nữ. Để cho những chia sẻ của mình dễ thương và có ích, bạn phải chuẩn bị, sắp xếp những lời nói của mình, như là: “Em đã có lỗi, em đã suy nghĩ, đã nói và đã làm những điều gây tổn hại đến hạnh phúc và truyền thông của chúng ta.”

Khi thấy hai bên có sự xung đột thì ta phải trở về với chính mình và nhìn lại kỹ hơn. Nếu nhận ra được cách ta nghĩ, ta nói, ta làm có hại cho mối quan hệ của hai bên, thì ta có thể xin lỗi người kia. Với sự thành thật và chánh niệm, chúng ta có thể bày tỏ mong muốn làm mới trở lại.

Thực tập mà tôi đề nghị với nhà báo kia có thể gia đình nào cũng làm được. Chúng ta bắt đầu bằng cách tắt ti vi đi và nói chuyện với nhau. Sử dụng ngôn ngữ bình thường, cùng nhau nhìn sâu vào tình trạng của mình. Chúng ta có thể khởi đầu bằng những cuộc hội thoại như thế.

Khi một cặp vợ chồng đang khổ đau và cùng nhau nhìn về một hướng, thì hướng đó không phải là hướng ti vi. Những người thương yêu nhau thực sự thì nên nhìn về hướng an lạc. Tất cả chúng ta cần thực tập nuôi dưỡng tình thương và giúp nhau xử lý những khổ đau đang có trong mỗi chúng ta, trong chồng mình, vợ mình, bạn mình và trong thế giới. Người ta khổ đau trên khắp thế giới, chúng ta phải yểm trợ họ. Đây là điều mà ta có thể làm được. Bất cứ lúc nào ta giúp được cho mọi người bớt khổ thì hạnh phúc của ta sẽ lớn lên.

Trong các khóa tu ở Làng Mai, có những cặp vợ chồng sắp bị đổ vỡ đến tham dự. Đăng ký tham dự khóa tu là phương cách cuối cùng. Và sau mỗi khóa tu năm ngày, sáu ngày hay bảy ngày luôn luôn có những cặp vợ chồng có thể hòa giải được. Điều đó nuôi dưỡng hạnh phúc của tất cả mọi người.

Bạn và vợ hay chồng bạn là những người thương của nhau, bạn có thể mơ, nghĩ và hành xử như thế nào để giúp nhau bớt khổ. Một khi biết cách trưởng dưỡng hạnh phúc và xử lý khổ đau trong mình và trong người kia thì cả hai có thể tiếp tục giúp đỡ những người khác. Đó là cùng nhau nhìn về một hướng. Điều này làm cho hạnh phúc của ta vững chắc và tăng trưởng.

Âm nhạc im lặng

Trong âm nhạc có những khoảng lặng, không có âm thanh. Nếu không có không gian cho những khoảng lặng ấy thì nó sẽ trở nên rối rắm và hỗn độn. Âm nhạc mà không có những khoảng lặng sẽ rất rối loạn và nặng nề. Khi chúng ta ngồi yên với một người bạn mà không nói gì cả, nó quý giá và quan trọng như những dấu lặng cần thiết trong âm nhạc. Những người bạn ngồi yên lặng với nhau có thể tốt hơn là nói chuyện.

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được nhiều người mến mộ. Ông sinh năm 1939. Ông được gọi là Bob Dylan của Việt Nam. Người ta nói rằng khi ông qua đời năm 2001, hàng ngàn người đến tham dự buổi hòa nhạc tự phát trong lễ tang của ông.

Trịnh Công Sơn rất mệt mỏi với những tiếng ồn cho dù đó là những tiếng kêu gào khen ngợi hay vỗ tay hoan hô. Ông trân quý những giây phút tĩnh lặng. Ông viết: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta một sự thoải mái thảnh thơi tựa hồ như niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải cố gắng lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện gắng gượng, nhạt nhẽo.” Trịnh Công Sơn thích những lúc ngồi im lặng với bạn bè mà không cần nói năng hay làm gì cả, chỉ nuôi dưỡng bởi tình bạn. Tất cả chúng ta đều cần những tình bạn như thế.

Ở Làng Mai, chúng tôi thích ngồi thiền, đặc biệt là ngồi với tăng thân, ngồi như một gia đình tâm linh. Trong suốt buổi ngồi thiền, ta không nói gì cả. Ấy vậy mà nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngồi ba, bốn người hay nhiều hơn thì vui hơn là ngồi một mình. Ngồi yên với nhau như thế, mỗi người đều được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của nhau.

Trong tác phẩm Tỳ bà hành có kể một câu chuyện về một người phụ nữ đang chơi đàn Tỳ bà, bỗng dưng ngưng bặt không chơi nữa. Nhưng giây phút mà người chơi đàn Tỳ bà ngưng đàn thì tuy không có tiếng đàn mà còn hay hơn có tiếng đàn nữa. “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay”.

“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là ngay bây giờ. Vô thanh nghĩa là không có âm thanh. Thắng là chiến thắng. Hữu thanh là có âm thanh. Vô thanh thắng hữu thanh, hay nói cách khác là âm thanh nhường cho sự im lặng. Không gian giữa các nốt nhạc rất hào hùng và rất có ý nghĩa. Nó hùng hồn hơn bất cứ loại âm thanh nào. Sự im lặng có thể dễ chịu, sâu sắc hơn âm thanh. Trịnh Công Sơn cũng thấy như vậy.

Một trong những học trò người Mỹ của tôi nói với tôi là ông David Sanborn người Mỹ, chơi kèn Xắc-xô, cũng nói những điều tương tự như vậy trong một cuộc phỏng vấn. Sanborn nói, theo như anh bạn Hank Crawford, người chơi Xắc-xô, và Miles Davis, người sáng tác và chơi kèn trumpet nổi tiếng: “Hank hiểu rằng khoảng lặng mà ta ngưng lại quan trọng như âm thanh ta phát ra… Và khi nghe Miles Davis, tôi đã bị cuốn hút bởi sự đơn giản và cách sử dụng khoảng lặng của anh ta để làm đầy những khoảng không gian kia.”

Thầy Ananda và âm nhạc truyền thông

Mối quan hệ và sự truyền thông cũng giống như một loại âm nhạc. Ngồi với bạn bè ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần có sự hiểu biết cảm thông và trân quý sự có mặt mà chúng ta hiến tặng cho nhau là đủ rồi. Tôi tin là trong những năm khổ cực của chiến tranh Việt Nam, điều an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giây phút ngồi yên với bạn bè. Tuy nhiên, nếu một người không biết cách ngồi như thế, nếu anh ta chỉ biết rót rượu từ ly này qua ly khác thì những giây phút ấy sẽ mất đi.

Một lần nọ, khi Bụt đang ở tu viện Jetavana Ấn Độ, trong khi 200 vị khất sĩ thường trú chuẩn bị cho khóa an cư hằng năm thì có 300 người từ Kosambi đến. Các vị khất sĩ rất vui mừng khi gặp nhau và họ nói chuyện với nhau rất lớn. Từ phòng của mình nghe ồn, Bụt hỏi vị đệ tử lớn Shariputta: “Có chuyện gì mà ồn dữ vậy?”

Thầy Shariputta trả lời: “Có quý thầy từ Kosambi đến, gặp nhau họ mừng rỡ, nói cười lớn tiếng và đánh mất uy nghi. Xin Ngài tha lỗi cho họ.”

Bụt nói: “Nếu họ ồn ào, thô tháo như vậy thì mời họ đi nơi khác. Không thể ở lại đây được.” Đức Bụt muốn dạy cho quý thầy sử dụng năng lượng của mình có ý thức và chánh niệm hơn.

Thầy Shariputta thông báo cho quý thầy nghe những gì Bụt nói. Quý thầy im lặng và dời đi một nơi khác gần đó để an cư. Trong suốt 90 ngày an cư, quý thầy nhớ lại lời Bụt dạy, không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò vô bổ. Họ hết lòng thực tập chế tác niệm định, và cuối mùa an cư họ chuyển hóa được rất nhiều. Điều này không làm cho họ trở nên nặng nề, nghiêm trọng mà trái lại khuôn mặt của họ sáng ngời, nụ cười họ rất tươi.

Vào ngày tự tứ, kết thúc mùa an cư, quý thầy muốn trở lại cám ơn Bụt đã chỉ dạy cho họ. Khi tin này đến tai thầy Shariputta, thầy nói với Bụt: “Bạch thầy, quý thầy đã hoàn tất ba tháng an cư và muốn đến bày tỏ niềm cung kính đối với Ngài.” Bụt cho gọi các thầy đến và chắp tay xá chào.

Lúc đó vào khoảng 7 giờ tối, khoảng 300 thầy đến từ Kosambi và vài trăm thầy thường trú ngồi với Bụt trong thiền đường. Thầy trò ngồi với nhau im lặng từ 7 giờ tối cho đến nửa đêm, không ai nói với ai lời nào.

Thầy Ananda, thị giả của Bụt, đi đến bên Bụt và nói: “Bạch thầy, bây giờ đã là nửa đêm, thầy có gì nói cho quý thầy nghe không?” Bụt không trả lời, và mọi người ngồi với nhau như thế cho đến 3 giờ sáng, ngồi với nhau mà không nói một lời nào. Thầy Ananda hơi lung túng, vì vậy thầy đi đến bên Bụt và nói: “Bây giờ là 3 giờ sáng rồi. Thầy có nói gì với quý thầy không?” Bụt vẫn tiếp tục ngồi yên im lặng với mọi người.

Đến 5 giờ sáng, thầy Ananda trở lại và năn nỉ: “Bạch thầy, mặt trời lên rồi, Ngài không nói gì với quý thầy chăng?”

Cuối cùng Bụt lên tiếng: “Thầy muốn ta nói điều gì? Thầy trò ngồi với nhau hạnh phúc, bình an như vậy không đủ hay sao?”

Có khả năng hiểu và trân quý sự có mặt của người kia là một hạnh phúc rất lớn. Đơn giản như vậy thôi. Mặc dù không nói gì, không có một âm thanh nào phát ra, nhưng hoàn toàn có giá trị hơn bất kỳ một âm thanh nào khác.

Đến với nhau bằng sự im lặng

Trong đời sống hằng ngày, nhiều người cứ chuyện trò qua lại với người khác suốt ngày. Nhờ chánh niệm, ta luôn có khả năng chạm được vào cái tĩnh cư dễ chịu, tươi mát bên trong. Như tôi đã nói trước đây, độc cư không có nghĩa là sống một mình trong một cái cốc trong rừng sâu núi thẳm, cắt đứt mọi liên hệ với nền văn minh bên ngoài, cho dù sống độc cư là một trong những khía cạnh tâm linh mà chắc chắn ta cần thực tập.

Độc cư đích thực đến từ một trái tim an định vững vàng mà không bị lôi kéo bởi đám đông, bởi những buồn đau trong quá khứ, những lo lắng về tương lai, hay những căng thẳng, kích động trong hiện tại.

Nương tựa vào hơi thở chánh niệm, trở về với giây phút hiện tại là nương tựa vào hải đảo xinh đẹp và thanh tịnh mà mỗi chúng ta đều có trong lòng. Chúng ta không đánh mất mình, không đánh mất chánh niệm.

Chúng ta có thể ngồi chơi với nhau, với những người khác mà không bị đánh mất mình trong những cảm thọ hay kẹt vào những tri giác. Trái lại, ta có thể xem người kia như là những người yểm trợ ta. Khi thấy một ai đó đi trong chánh niệm, nói những lời thương yêu, an trú trong công việc mình đang làm thì người đó nhắc nhở ta trở về với suối nguồn chánh niệm trong mình. Khi ta thấy một người nào đang xao lãng, tán tâm thì đó cũng có thể là một tiếng chuông chánh niệm, nhắc nhở chúng ta tinh tấn trở về tiếp xúc với sự có mặt đích thực của ta, để hiến tặng cho tự thân và hiến tặng cho người khác. Có thể người kia nhận ra được phẩm chất của sự có mặt của ta và can đảm trở về với tự thân người ấy.

Khi chúng ta có mặt, chơi với những người chung quanh mà không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò thì bất kỳ ở đâu chúng ta cũng có thể mỉm cười, thở vào bình yên và an trú hạnh phúc trong hải đảo tự thân của mình.

Có được một tăng thân yểm trợ cho sự thực tập đều đặn của chúng ta là rất quan trọng. Nếu ta có cơ hội ngồi với người khác và để cho năng lượng chánh niệm tập thể ôm lấy nỗi khổ đau của ta thì chúng ta giống như một giọt nước đang trôi trong một dòng sông bao la và chúng ta sẽ thấy khỏe hơn nhiều.

Điều quý giá nhất mà ta có thể hiến tặng cho nhau là sự có mặt của chúng ta đóng góp vào năng lượng chánh niệm và an lạc tập thể. Chúng ta có thể ngồi cho những người không thể ngồi được, đi cho những người không thể đi được, chế tác năng lượng bình an và yên tĩnh cho những ai không yên tĩnh bình an được.

Có thể chúng ta không cần phải làm gì để tháo gỡ những nội kết của chúng ta trong bầu không khí như thế, nội kết tự nó được chuyển hóa.

Với mỗi bước chân chánh niệm, mỗi hơi thở ý thức, ta có thể vừa trị liệu bản thân vừa trị liệu thế giới.

Phát triển thói quen tập thể

Tâm thức cộng đồng có thể là một loại thức ăn độc hại hay hiền thiện. Cũng vậy, thói quen suy nghĩ, nói năng và hành động của cộng đồng có thể lành mạnh hay không lành mạnh. Nếu chúng ta, những người làm việc chung với nhau, những người trong gia đình hay bạn bè, cùng cam kết với nhau thở chánh niệm trước khi trả lời điện thoại, hay dừng lại nghe chuông, nghe điện thoại, nghe chuông đồng hồ điểm, nghe tiếng còi hoặc tiếng máy bay, điều này sẽ trở thành những thói quen tập thể mang đến rất nhiều lợi lạc.

Thói quen tập thể có thể rất hùng mạnh. Chúng ta có thể yểm trợ nhau để dừng lại những thói quen cổ hủ, không lành mạnh và đi tới một hướng đi tốt đẹp hơn. Cùng với nhau, chúng ta có thể dừng lại những suy nghĩ và tập trung vào hơi thở của mình. Chúng ta có thể yểm trợ nhau để thở vào nhẹ nhàng và tập trung vào hơi thở vào, thở ra nhẹ nhàng và tập trung vào hơi thở ra. Điều này rất đơn giản nhưng hiệu quả thì vô cùng lớn lao. Nếu mọi người dừng lại những suy nghĩ và thở với nhau bằng ý thức thì tự nhiên ta không còn bị cô lập hóa bởi cái cá nhân nữa, chúng ta là một tập thể vui tươi. Chúng ta không hành xử như những cá nhân riêng lẻ mà hành xử như một tập thể, một cơ thể siêu việt. Nguồn năng lượng mới được tạo ra này thậm chí còn mạnh hơn nguồn năng lượng được tạo ra khi ta đi và thở có chánh niệm.

Khi chúng ta cho phép mình buông thư và để cho nguồn năng lượng Chánh Niệm và Chánh Định tập thể đi vào mình thì việc trị liệu có thể xảy ra rất dễ dàng. Khi tuyệt vọng, nếu chúng ta mở thân tâm mình ra và để cho năng lượng Chánh Niệm Chánh Định tập thể đi vào thì chúng ta được trị liệu rất nhiều.

Nuôi dưỡng người khác

Chúng ta có thể học cách chế tác sự im lặng có công năng trị liệu hùng hậu, không chỉ trong gia đình hay trong những nhóm tu học địa phương mà còn trong những tăng thân rộng lớn hơn. Nếu là thầy giáo cô giáo, chúng ta phải biết cách nuôi dưỡng sự Im Lặng Hùng Tráng tươi mát này trong lớp học. Nếu là những thương gia, những nhà lãnh đạo, chúng ta có thể đề nghị mở đầu một buổi họp, hoặc bắt đầu ngày làm việc bằng sự im lặng này.

Năm 1997, ở Ấn Độ, khi viếng thăm chủ tịch quốc hội, tôi đã đề nghị ông giới thiệu pháp môn thực tập nghe chuông, thở và cười trong các buổi họp lập pháp. Tôi đề nghị các thành viên trong quốc hội bắt đầu các buổi họp bằng hơi thở chánh niệm và nghe chuông. Khi sự trao đổi và bàn cãi lên cao độ, mọi người không còn khả năng lắng nghe nhau nữa thì có thể thỉnh lên một tiếng chuông để cho toàn quốc hội có thể dừng lại, thở những hơi thở chánh niệm, làm lắng dịu thân tâm trước khi tiếp tục bàn luận và lắng nghe nhau. Mười ngày sau, ông ta lập ra một hội đồng đạo đức học (ethics committee) trông coi những thực tập đem lại văn minh cho quốc hội.

Nếu ta khắc những giây phút yên tĩnh bao la nho nhỏ vào những sinh hoạt khác nhau của đời sống hằng ngày thì ta sẽ đạt tới một tự do vô bờ bến. Chúng ta không còn tranh giành địa vị, danh tiếng với hy vọng những thứ này sẽ đem đến cho ta hạnh phúc nữa. Chúng ta có thể hạnh phúc ngay bây giờ. Chúng ta có thể có bình yên và an vui ngay nơi phút giây này. Dù chúng ta đã từng lăng xăng bất ổn suốt đời và chỉ còn hai phút nữa để sống trước khi nhắm mắt thì chúng ta vẫn có thể dừng suy nghĩ để thở những hơi thở chánh niệm, tìm lại sự yên tĩnh và bình an. Nhưng tại sao phải đợi đến khi nằm trên giường bệnh mới ý thức và trân quý phép lạ là mình đang còn sống?

Thực tập: Ngồi chỉ để ngồi

Thỉnh thoảng ta nghe người ta nói: “Đừng có ngồi không đó, làm gì đi chứ.” Họ rất muốn làm. Nhưng những người thực tập chánh niệm thì thường hay nói: “Đừng làm gì hết, hãy ngồi yên đó.” Không làm thực ra cũng là làm. (Vô hành tức là hành.) Có những người dường như họ không làm gì nhiều nhưng sự có mặt của họ rất quan trọng cho sự an sinh của thế giới. Phẩm chất của người đó thật sự cần thiết cho người khác và cho cuộc sống. Không làm đối với họ đã là làm rồi. Có thể đôi khi ta cũng muốn ngồi yên không làm gì cả nhưng khi có cơ hội, ta lại không biết ngồi yên, không biết thưởng thức giây phút hiện tại.

Điều này rất phổ biến vì xã hội của ta là một xã hội phải luôn có mục tiêu để hướng tới. Chúng ta có khuynh hướng luôn đi theo một chiều hướng nào đó và luôn có một mục tiêu đặc biệt trong tâm thức. Trái lại, đạo Bụt tôn trọng giáo lý vô nguyện (vô tác). Giáo lý này dạy ta không cần phải đặt ra một mục tiêu phía trước để chạy theo, bởi vì mọi thứ đã có sẵn trong ta rồi. Ngồi cũng vậy. Đừng ngồi để đạt được mục tiêu gì cả. Mỗi giây phút ngồi thiền đều mang ta trở về với sự sống. Bất kể làm gì, tưới vườn, đánh răng, rửa bát, chúng ta phải xem thử mình có khả năng làm với tinh thần vô nguyện không.

Chúng ta có thể ước mơ, có thể đặt ra mục đích cho đời mình. Nhưng đừng để cho chúng trở thành chướng ngại, không cho ta sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây.

Ngồi im lặng có thể là sự thực tập vô nguyện tuyệt vời. Chúng ta có thể thực tập thiền hướng dẫn theo hướng vô nguyện. Đây là thiền tập giúp ta vun trồng sự tự nhiên, tươi mát, vững chãi, trong sáng và không gian bao la trong lòng.

Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

(Vào/ra)

 

Thở vào, tôi thấy mình là hoa.

Thở ra, tôi thấy tươi mát.

(Hoa/tươi mát)

 

Thở vào, tôi thấy tôi là núi.

Thở ra, tôi thấy vững vàng

.(Núi/vững vàng).

Thở vào, tôi thấy mình là nước tĩnh.

Thở ra, lặng chiếu.

Nước tĩnh/lặng chiếu)

 

Thở vào, tôi thấy mình là không gian.

Thở ra, tôi thấy thênh thang.

(Không gian/ thênh thang)

Chương 6: Chú tâm

 

Càng thường xuyên trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, càng có nhiều thời gian thực tập chánh niệm thì ta càng ý thức được nỗi khổ đau của ta. Hơi thở chánh niệm và sự vắng lặng không những giúp ta tiếp xúc với niềm vui, mà còn giúp ta tiếp xúc được với nỗi đau, đặc biệt là khi ta ý thức hơn về nỗi đau mà ta đang trốn chạy.

Chúng ta có một khuynh hướng tự nhiên là muốn trốn chạy khổ đau. Nhưng không có khổ đau thì ta không thể lớn lên thành người.

Đối diện với khổ đau bằng cách này thì chúng ta sẽ bớt khổ đi nhiều, khổ đau có thể tự nó được chuyển hóa dễ dàng hơn.

Thay vì tiếp tục chạy trốn khổ đau hay đẩy khổ đau vào những xó xỉnh xa xôi nào đó trong tâm thức, ta chỉ cần nhận diện nó.

Nếu không bao giờ khổ đau, ta sẽ không có nền tảng hoặc động lực để phát triển trí tuệ và từ bi. Khổ đau rất quan trọng. Chúng ta phải học cách nhận diện và ôm ấp khổ đau vì ý thức về khổ đau sẽ giúp ta lớn lên.

Chúng ta khá thường xuyên tránh né sự im lặng, nghĩ rằng như vậy là chúng ta sẽ tránh được khổ đau, nhưng sự thật là dành thời gian tĩnh lặng để ý thức trở về ngôi nhà đích thực của chúng ta là cách duy nhất giúp ta trị liệu khổ đau.

Nhận diện khổ đau

Nhiều bài giảng của tôi có mục đích giúp mọi người học cách nhận diện khổ đau, ôm ấp khổ đau và chuyển hóa khổ đau. Chúng ta có khả năng mỉm cười với nỗi khổ của ta bằng sự bình an giống như ta mỉm cười với bùn vậy, bởi vì ta biết rằng, chỉ khi nào có bùn và biết cách tận dụng bùn thì chúng ta mới có thể trồng được sen.

Có thể có những nguồn khổ đau lớn, những nỗi đau do những cảm xúc mạnh gây nên và ở lại với ta lâu dài tạo thành những vết thương căn để. Tuy nhiên, cũng có những khổ đau nho nhỏ, mà tiếng Pháp gọi là les petites misères, nhưng lại làm chúng ta mòn mõi, hao gầy từ ngày này qua ngày khác. Nếu biết cách xử lý những khổ đau nho nhỏ ấy thì chúng ta sẽ không trở thành nạn nhân của những công việc hằng ngày. Khi khổ đau kết thành khối, cho dù là từ những khổ đau lớn hay từ những khổ đau nho nhỏ, chúng ta cũng nên học cách nhận diện và ôm ấp nó.

Khổ đau mà chúng ta đang có có thể được trao truyền từ cha mẹ, ông bà, tổ tiên của chúng ta. Nếu có khả năng nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa thì không những ta chuyển hóa cho chính ta mà còn chuyển hóa cho cha mẹ, ông bà và tổ tiên ta nữa.

Chúng ta không thể trốn thoát nỗi đau. Nó có mặt khắp nơi. Bên cạnh những khổ đau cá nhân và khổ đau của cộng đồng loài người, thì cũng có những khổ đau từ thiên nhiên. Những thiên tai và thảm họa do con người gây ra xảy ra hằng ngày trên toàn cầu, như sóng thần, cháy rừng, đói kém, chiến tranh… những trẻ em vô tội chết mỗi ngày do thiếu nguồn nước sạch, thiếu thức ăn hoặc thuốc uống. Chúng ta cũng liên hệ mật thiết với những khổ đau này cho dù chúng ta không trực tiếp gánh chịu những khổ đau ấy. Em nhỏ kia, người đàn bà già nua kia, người thanh niên thiếu nữ kia… khi họ chết thì ta cũng chết với họ dưới hình thức này hay hình thức khác. Tuy nhiên, ta đang còn sống, nghĩa là họ cũng đang còn sống với chúng ta bằng một cách nào đó. Chúng ta phải thiền tập quán chiếu về điều này. Hiểu được sự thực sâu sắc này giúp chúng ta phát khởi nguồn Tư Niệm Thực, ước muốn sống như thế nào để có thể giúp người khác vẫn được tiếp tục sống như mình.

Hải đảo tự thân

Khi bước vào ngôi nhà của mình, ta có thể thư giãn, trở về với chính mình. Ta cảm thấy ấm cúng, thoải mái, an toàn và hạnh phúc.

Nhưng thực sự thì ngôi nhà đích thực của ta ở đâu?

Ngôi nhà đích thực của ta, cái mà Bụt gọi là hải đảo tự thân, là một nơi bình an bên trong. Thường thì ta không thấy nó ở đó, thậm chí ta không biết thật sự ta đang ở đâu, bởi vì môi trường bên ngoài và bên trong ta đầy những tiếng ồn. Ta cần một ít tĩnh lặng để tìm lại hải đảo tự thân.

Mỗi khi thấy mệt mỏi, bực bội, buồn rầu, sợ hãi, lo lắng…, ta sử dụng hơi thở chánh niệm để trở về ngôi nhà của chính mình, trở về với hải đảo chánh niệm. Nếu thực tập chánh niệm đều đặn, luôn trở về với hải đảo tự thân, thì khi có vấn đề khó khăn, ta sẽ dễ dàng và thích thú hơn để tìm lại nơi an toàn, trở về lại ngôi nhà của chính mình. Chúng ta có đủ may mắn để biết các pháp môn thực tập chánh niệm, chúng ta phải tận dụng sự thực tập để làm lớn mạnh sự liên hệ với ngôi nhà đích thực của mình. Đừng đợi đến khi bị sóng lớn đánh ta mới trở về hải đảo tự thân. Thực tập trở về càng nhiều càng tốt bằng cách sống chánh niệm trong những giây phút của đời sống hằng ngày. Làm được như vậy thì chắc chắn khi những lúc khó khăn đến, ta sẽ dễ dàng và tự nhiên thoải mái trở về ngôi nhà của mình.

Đi thiền, ngồi thiền, uống trà, ăn cơm, thở trong chánh niệm là những thực tập nương tựa cụ thể mà chúng ta có thể thực tập nhiều lần trong ngày. Hạt giống chánh niệm luôn có trong ta. Hơi thở vào ra của ta cũng luôn có đó. Chúng ta có hải đảo tự thân. Nương tựa hải đảo tự thân bằng chánh niệm là thực tập hằng ngày của chúng ta.

Thầy Đạo Dừa

Ở Việt Nam có một thầy tu mà người ta gọi là thầy Đạo Dừa, bởi vì thầy thích leo lên cây dừa ngồi thiền trên đó. Trên đó thầy làm một tấm ván để ngồi và ngồi rất mát. Khi còn trẻ, thầy đã học kỹ sư ở Pháp. Nhưng khi trở lại Việt Nam, chiến tranh xảy ra khắp nơi nên thầy không muốn làm kỹ sư nữa, thầy muốn làm thầy tu, thực tập như một người tu. Thầy viết một lá thư ca ngợi Nhất Chi Mai, đã tự thiêu để kêu gọi hòa bình, chấm dứt chiến tranh. Thầy nói: “Tôi sẽ tự thiêu như em. Chỉ có một điều khác là tôi sẽ tự thiêu chậm hơn.” Thầy nói rằng thầy dành cả đời mình để kêu gọi hòa bình.

Thầy Đạo Dừa làm nhiều điều để dạy hòa bình. Có lần thầy mở một trung tâm thực tập ở đồng bằng sông Mê Kông và kêu gọi mọi người đến ngồi thiền với thầy. Thầy đi lượm những mảnh vỏ bom đạn trong vùng để đúc thành một cái chuông lớn, một cái chuông chánh niệm. Thầy treo lên trong trung tâm tu học để đêm ngày thỉnh lên cho mọi người nghe. Thầy viết một bài trong đó thầy nói: “Những mảnh bom đạn ơi, kiếp trước con đã tàn phá và giết hại, bây giờ qua đã lượm các con về đây để cho các con tu. Khi qua thỉnh lên một tiếng chuông, thì các con trở thành Bồ tát hết, các con thức người ta tỉnh dậy, đánh thức tình nhân loại, tình thương yêu và sự hiểu biết để thiên hạ đừng bắn giết lẫn nhau nữa.” Thầy thỉnh chuông mỗi sáng và mỗi tối. Sự có mặt của cái chuông là biểu tượng chứng minh rằng sự chuyển hóa là điều có thể xảy ra.

Một ngày nọ, thầy đến dinh Tổng thống, muốn gởi một thông điệp hòa bình. Những người canh gác không muốn cho thầy vào. Nói chuyện với họ không thành công, thầy đành im lặng. Thầy ở lại và ngủ ngay bên ngoài cổng dinh tổng thống. Thầy mang theo một cái lồng trong đó có một con mèo và một con chuột đã học làm bạn với nhau. Con mèo không ăn con chuột. Một người hộ vệ hỏi: “Mục đích ông đến đây làm gì?” Thầy Đạo Dừa nói: “Tôi muốn chỉ cho Tổng thống thấy là ngay cả mèo và chuột mà cũng có thể sống chung hòa bình với nhau.” Thầy muốn mọi người tự hỏi lại chính mình rằng nếu mèo và chuột có thể sống hòa bình an lạc với nhau thì tại sao loài người chúng ta không thể sống hòa bình được?

Thầy Đạo Dừa sống im lặng một mình trong một thời gian dài. Ước muốn của thầy là đóng góp một phần vào công việc tạo ra một môi trường hòa bình an lạc hơn cho đất nước. Để làm được điều này, thầy cần phải rất sáng suốt và định tâm. Có người nói thầy điên. Nhưng tôi không nghĩ là thầy điên. Tôi nghĩ thầy là một nhà hoạt động cho hòa bình rất vững chãi trong ngôi nhà đích thực, trong hải đảo tự thân của thầy.

Độc cư

Khi nghe đến “hải đảo tự thân” hay “một mình tĩnh cư,” người ta thường nghĩ ngay là họ phải sống tách rời với mọi người, không tiếp xúc với ai cả, không liên hệ đến bất cứ thứ gì khác. Kỳ thực, sự thực tập này, cách sống một mình này không có nghĩa là tách rời ra với những người chung quanh, mà là biết thiết lập thân tâm vững chãi trong cái bây giờ ở đây, và ý thức được những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại.

Chúng ta dùng chánh niệm để ý thức những gì đang xảy ra: ý thức về cảm thọ, tri giác cũng như những gì đang xảy ra trong tăng thân chung quanh mình. Chúng ta luôn trở về với chính mình, luôn là chính mình, không đánh mất mình. Đây là cách sống độc cư sâu sắc nhất.

Thực tập sống một mình là thực tập có mặt đích thực trong mỗi một giây phút, không bị kẹt vào quá khứ, không mơ tưởng về tương lai và không bị đám đông lôi kéo. Chúng ta không cần phải đi vào rừng để sống một mình tĩnh cư. Chúng ta có thể sống chung với mọi người, có thể đi chợ, đi bách bộ với người khác mà vẫn có thể sống một mình và im lặng được. Trong xã hội ngày nay, có quá nhiều thứ chung quanh bắt ta phải chú ý và phản ứng, nên sống một mình tĩnh cư là điều mà ta cần phải học hỏi.

Mỗi ngày ta cần để ra một ít thời gian để ngồi yên một mình. Có thể ta nghĩ rằng ta chỉ có thể vui được khi có ai bên cạnh, nói chuyện, cười giỡn chung quanh ta. Nhưng niềm vui, hạnh phúc khi được ở một mình cũng có thể rất lớn lao và thâm sâu, giúp ta có nhiều khả năng để chia sẻ hơn. Nếu ta có những niềm vui và hạnh phúc sâu sắc trong việc sống độc cư, ta sẽ có nhiều khả năng để cho đi. Không có khả năng sống một mình thì càng ngày ta càng suy yếu, kiệt quệ. Và khi chúng ta không đủ chất dinh dưỡng nuôi lấy tự thân thì ta không có gì nhiều để hiến tặng cho người khác. Vì vậy, học cách sống một mình rất quan trọng.

Mỗi ngày, chúng ta nên dành một ít thời gian để sống một mình, bởi vì nó sẽ giúp ta nuôi dưỡng tự thân và nhìn sâu dễ dàng hơn. Điều này không có nghĩa là ta không thể sống độc cư một mình tĩnh cư và nhìn sâu khi chung quanh ta có quá đông người. Ta có thể làm được. Thậm chí ngồi giữa chợ ta cũng có thể sống một mình mà không bị đám đông lôi kéo. Ta vẫn có thể là ta, vẫn làm chủ được chính mình. Cũng như vậy, ta vẫn có thể là ta cho dù ta đang ở trong một cuộc đàm luận sôi nổi hay trong một cộng đồng đang có nguồn năng lượng cảm xúc mạnh của tập thể. Ta có thể tiếp tục an trú vững chãi và an toàn trong hải đảo tự thân của ta.

Có hai khía cạnh độc cư và cả hai đều quan trọng. Thứ nhất là sống một mình. Thứ hai là có khả năng trở về với chính mình và không bị chi phối bởi những thứ chung quanh, ngay cả khi mình ở giữa một đám đông người. Chính vì cảm thấy thoải mái khi ở một mình mà ta có thể quan hệ giao thiệp với thế giới. Tôi thấy gần gũi truyền thông tốt với quý vị vì tôi hoàn toàn là tôi. Rất đơn giản, để thực sự liên hệ được với thế giới, trước hết, ta phải trở về liên hệ truyền thông với chính mình.

Vượt thoát tập khí

Tất cả chúng ta đều có những khối tập khí bên trong chúng ta. Tập khí là một năng lượng vô thức khiến ta cứ lặp đi lặp lại những thói quen cũ, lặp lại những cách hành xử giống nhau cả hàng ngàn lần. Tập khí đẩy ta chạy, luôn luôn phải làm một cái gì đó, khiến ta đánh mất mình trong những suy tư về quá khứ, những mơ tưởng về tương lai và đổ lỗi cho người khác vì những khổ đau của mình. Nó cản trở ta, không cho ta có khả năng bình an và hạnh phúc trong giây phút hiện tại.

Tập khí được trao truyền cho ta qua nhiều thế hệ tổ tiên, và chúng ta tiếp tục làm cho nó mạnh thêm. Mạnh lắm. Chúng ta thông minh đủ để biết rằng nếu chúng ta làm những điều đặc thù này, nếu chúng ta phê bình buộc tội, chúng ta sẽ gây đổ vỡ trong mối quan hệ của chúng ta. Chúng ta không muốn phê phán buộc tội, không muốn làm những điều gây đau buồn, ấy vậy mà khi gặp khó khăn căng thẳng, chúng ta đã nói hoặc làm những điều mà chúng biết là sẽ gây đổ vỡ phá hoại. Tại sao? Tại vì nó mạnh hơn chúng ta. Tập khí luôn đẩy chúng ta đi. Vì vậy, thực tập chánh niệm có mục đích giải phóng chúng ta ra khỏi các tập khí.

Tôi nhớ có một ngày nọ ở Ấn Độ đang ngồi trên xe buýt với một người bạn, đi thăm tăng thân Dalit. Chúng tôi đã đi đến nhiều tiểu bang ở Ấn Độ để mở những ngày quán niệm, các khóa tu và những pháp thoại công cộng. Khung cảnh ở bên ngoài rất đẹp, những cây cọ, những ngôi đền, những con trâu và những đồng lúa. Tôi thích nhìn mọi thứ, nhưng người bạn của tôi thì rất căng thẳng, rõ ràng là người ấy đã không thưởng thức cảnh đẹp như tôi. Ông ta đang đấu tranh. Thấy vậy, tôi nói: “Này bạn, bây giờ không có gì phải lo lắng cả. Tôi biết là anh muốn làm cho chuyến đi của tôi được vui vẻ, làm cho tôi hạnh phúc, nhưng ngay bây giờ tôi đã hạnh phúc rồi, cho nên anh hãy tận hưởng đi. Ngồi lại và mỉm cười. Khung cảnh ở bên ngoài rất đẹp.”

Anh ta: “Dạ.” Và ngồi lại thoải mái hơn. Nhưng chỉ vài phút sau, khi nhìn lại thì thấy anh ta cũng căng thẳng như trước. Anh ta vẫn lo lắng, băn khoăn, sốt ruột, không yên tâm. Anh ta không thể buông được những giằng co trong lòng, những giằng co đó đã diễn ra cả hàng ngàn năm. Anh ta không có khả năng an trú trong giây phút hiện tại và tiếp xúc sâu sắc với sự sống trong giây phút ấy. Tôi thấy anh ta không có khả năng tiếp xúc được với chính mình. Bây giờ anh ta có gia đình, có nhà đẹp, có nghề giỏi, nhưng anh ta vẫn bị tập khí, khổ đau lôi kéo, khổ đau của tổ tiên trong hàng ngàn năm quá khứ. Anh ta đã vật lộn, đấu tranh đêm ngày, ngay cả trong giấc mơ vẫn còn đấu tranh. Anh ta không có khả năng buông bỏ và thư giãn.

Tổ tiên của chúng ta có thể may mắn hơn anh ta, nhưng nhiều người trong chúng ta vẫn bị ám ảnh, bất an như thế. Chúng ta không cho phép mình buông thư, không cho phép mình an trú trong giây phút hiện tại bây giờ ở đây. Tại sao ta phải chạy, và phải luôn chạy? Ngay cả khi ta đang chuẩn bị buổi ăn sáng, ăn trưa, đi bộ hay ngồi chơi cũng có một cái gì đó luôn thúc đẩy, kéo ta đi. Chúng ta chạy theo cái gì?

Đức Bụt dạy về vấn đề này rất rõ ràng. Ngài nói: “Đừng khổ đau tuyệt vọng vì quá khứ, vì quá khứ đã qua rồi. Đừng lo lắng về tương lai, vì tương lai chưa đến. Chỉ có giây phút mà mình có thể sống được, đó là giây phút hiện tại. Trở về với giây phút hiện tại, sống sâu sắc với giây phút ấy, chúng ta sẽ được tự do, vượt thoát được khổ đau hệ lụy.

Tháo gỡ nội kết

Có hai loại nội kết. Nội kết thứ nhất bao gồm những quan điểm, tư tưởng, ý niệm, khái niệm và kiến thức. Ai cũng có những quan điểm, những ý niệm, nhưng khi bị kẹt vào đó thì ta mất tự do, ta không có cơ hội tiếp xúc với sự thật của cuộc sống. Nội kết thứ hai là những phiền não, tập khí khổ đau như sợ hãi, giận dữ, kỳ thị, tuyệt vọng, kiêu căng. Chúng ta phải lấy đi những thứ ấy mới được tự do.

Hai loại nội kết này khắc sâu trong tâm ý và trí não của ta, làm cho ta mù mắt, khiến ta làm những điều mà ta không muốn làm, khiến ta nói những điều ta không muốn nói. Vì vậy, ta không có tự do. Bất cứ lúc nào làm điều gì vì tập khí, vì những ý niệm quan điểm đã khắc sâu vào trí não mà không xuất phát từ ước muốn đích thực của ta thì ta không có tự do.

Đọc sách, thiền tập, không phải là để ta có thêm kiến thức, khái niệm mà thực chất là để buông bỏ những quan điểm khái niệm. Đừng thay thế những ý niệm quan điểm cũ bằng những ý niệm quan điểm mới. Đừng chạy theo những ý niệm hạnh phúc này đến ý niệm hạnh phúc nọ. Đừng thay đổi quan điểm này thành quan điểm khác.

Tất cả chúng ta đều có những cách hành xử, những tập khí rất sâu dày. Mỗi ngày ta đã để cho những năng lượng vô hình này thống trị đời sống của ta. Chúng ta hành động, phản ứng theo những ảnh hưởng của những khuynh hướng này trong ta. Tuy nhiên, tâm ta cũng uyển chuyển rất tự nhiên. Như các nhà khoa học não bộ đã nói, não ta có tính mềm dẻo. Chúng ta có thể chuyển hóa chúng.

Có khả năng dừng lại và ý thức giây phút hiện tại là một phần định nghĩa của hạnh phúc. Không thể có hạnh phúc ở tương lai. Đây không phải là vấn đề tín ngưỡng, không phải là niềm tin mà là kinh nghiệm sống.

Khi dừng lại những hành động của thân thì ta sẽ nghe rõ những tiếng nói lẩm nhẩm trong tâm. Và khi dừng lại được những tiếng nói lẩm nhẩm, những cuộc độc thoại trong đầu, những lao xao liên tục, ta sẽ thấy được một không gian bên trong cho ta cơ hội sống đời sống của ta một cách thỏa mãn và hoàn toàn mới.

Ta không thể có hạnh phúc được nếu ta không có những khoảng lặng, những không gian yên lắng. Tôi biết đây là kinh nghiệm và sự quán sát trực tiếp. Tôi không cần cái máy của nhà khoa học não bộ nói cho tôi nghe. Khi thấy một ai đó đi ngang qua, thông thường tôi có thể nói được người đó có hạnh phúc hay không, có bình an hay không, có tình thương hay không. Không có sự im lặng, ta không thể sống trong giây phút hiện tại, và giây phút này là cơ hội tốt nhất để tìm thấy hạnh phúc.

Angulimala (Ương Quật Ma)

Vào thời của Bụt, có một người tên là Angulimala (Ương Quật Ma). Ông ta là một kẻ sát nhân, giết người hàng loạt mà ai cũng biết đến. Ông khổ đau cùng cực và lòng đầy hận thù.

Một ngày nọ, ông đi vào thành phố, tất cả mọi người đều sợ hãi. Lúc ấy, Bụt và tăng đoàn đang ở gần đó và sáng hôm ấy đức Bụt cũng đi vào thành để khất thực. Một người trong thành khẩn nài: “Bạch đức Thế Tôn, hôm nay đi ra đường rất nguy hiểm. Thỉnh mời Ngài đến nhà con, con xin được cúng dường Ngài. Angulimala đang có mặt trong thành phố này.”

Bụt nói: “Không sao. Đừng lo lắng. Ta sẽ đi khất thực từng nhà, không phải đến một nhà mà đến nhiều nhà. Ta đi khất thực không chỉ để kiếm miếng ăn hằng ngày mà còn để cho họ có cơ hội thực tập bố thí và ta có cơ hội tiếp xúc với họ, để giảng dạy cho họ.” Vì vậy, Bụt đã không tán thành lời cầu khẩn đầy lo lắng của người kia. Ngài có đủ bình an, có đủ can đảm và sức mạnh tâm linh để tiếp tục sự tu học của mình. Trước khi đi tu, Ngài cũng là một người có võ công cao cường.

Bụt ôm bát, rất bình an và định tĩnh, đi từng bước ung dung, chánh niệm. Sau khi khất thực xong, Ngài đi vào rừng. Nghe tiếng ai đó chạy theo sau lưng, Ngài nhận ra ngay là Angulimala. Đây là lần đầu tiên Angulimala thấy có một người không sợ mình. Bất kỳ người nào khi thấy Angulimala đến gần cũng đều bỏ chạy càng nhanh càng tốt, trừ những người vô phúc, thiếu may mắn bị tê liệt vì sợ hãi nên không chạy được.

Nhưng với Bụt thì khác hẳn. Ngài cứ tiếp tục đi, bình thản. Angulimala giận điên lên khi thấy có người không hề bối rối sợ hãi mình chút nào. Đức Bụt rất chánh niệm. Ngài ý thức tình trạng của mình, nhưng không run sợ, nhịp tim của Ngài vẫn đập ổn định, bình thường, không có một chất adrenaline[1] nào xuất hiện trong cơ thể Ngài. Ngài không hề luống cuống đắn đo là nên bỏ chạy hay nên chống lại. Ngài rất bình tĩnh. Ngài thực tập rất hay.

Khi Angulimala đến gần Ngài, ông ta la lớn: “Này ông thầy tu kia, hãy dừng lại.” Bụt vẫn tiếp tục đi, phong thái Ngài rất điềm tĩnh, uy nghiêm và thanh tịnh. Ngài là hiện thân của bình an và vô úy (sự không sợ hãi). Angulimala đến ngay bên cạnh Bụt và nói: “Này ông thầy tu kia, ta biểu ngươi dừng lại sao ngươi không dừng lại?”

Vẫn tiếp tục bước đi, Ngài nói: “Angulimala, ta đã dừng lại từ lâu rồi, chỉ có anh là chưa dừng lại thôi”.

Angulimala sửng sốt: “Ngươi muốn nói gì? Ngươi vẫn còn đang bước đi mà nói là đã dừng lại à?”

Sau đó Bụt nói cho Angulimala nghe dừng lại thực sự nghĩa là gì. “Angulimala, anh không nên tiếp tục làm những điều anh đang làm nữa. Anh có biết là anh đang gây khổ đau cho chính anh và cho nhiều người khác không? Anh phải học cách thương yêu.”

“Thương yêu? Ngươi đang nói với ta về thương yêu ư? Loài người rất độc ác. Tôi ghét tất cả bọn họ. Tôi muốn giết hết tất cả. Trên đời này không có tình thương yêu.”

Đức Bụt ôn tồn nói: “Angulimala, ta biết anh rất đau khổ. Nỗi giận dữ, hận thù của anh rất lớn. Nhưng nếu nhìn chung quanh, anh sẽ thấy có những người rất dễ thương, họ có tâm tốt. Anh đã từng gặp vị tỳ kheo, tỳ kheo ni nào trong tăng đoàn của ta chưa? Anh đã từng gặp những người học trò cư sĩ của ta chưa? Họ rất từ bi và bình an, không ai có thể phủ nhận điều này.

Anh không nên che mờ sự thật là trên cuộc đời này vẫn có tình thương, vẫn có những người có khả năng thương yêu. Này Angulimala, hãy dừng lại.”

Angulimala trả lời: “Quá trễ rồi. Bây giờ đã quá trễ cho tôi dừng lại rồi. Cho dù tôi có cố gắng dừng lại thì người ta cũng không chấp nhận tôi. Người ta sẽ giết tôi trong tích tắc. Tôi không thể dừng lại được nếu tôi muốn sống sót.”

Bụt nói: “Này anh bạn, không bao giờ là quá trễ cả. Hãy dừng lại ngay đi. Ta sẽ làm bạn với anh và sẽ giúp anh. Tăng thân của ta sẽ bảo vệ cho anh.” Nghe được điều này, Angulimala quăng kiếm, quỳ xuống và xin Ngài nhận vào tăng đoàn của Ngài. Angulimala trở thành một hành giả thực tập chuyên cần nhất trong tăng đoàn. Ngài chuyển hóa hoàn toàn và trở thành một người vô cùng nhẹ nhàng, Ngài là hiện thân của bất bạo động.

Nếu Angulimala có khả năng dừng lại thì tất cả chúng ta cũng có khả năng dừng lại. Không ai trong chúng ta bận rộn, lo lắng, điên rồ hơn kẻ giết người này. Chúng ta không thể tìm thấy an lạc trong sự im lặng nếu ta không dừng lại. Chạy càng nhanh, đẩy mình càng nhiều thì ta sẽ không bao giờ đạt được bình an. Chúng ta chỉ tìm thấy bình an ở đây thôi, không thể tìm thấy bình an ở bất cứ nơi nào khác. Giây phút mà ta có thể dừng lại thật sự, trên cả hai phương diện hành động và những tiếng ồn bên trong, thì ta bắt đầu tìm thấy được sự im lặng và trị liệu. Im lặng không phải là một sự mất mát, trống trỗng. Càng có không gian cho sự yên tĩnh và im lặng, ta càng có khả năng hiến tặng cho chính mình và cho người khác.

Thực tập: Hải đảo tự thân

Khi Bụt lâm bệnh vào lần cuối cùng, Ngài biết rằng nhiều vị đệ tử của Ngài sẽ cảm thấy mất mát khi Ngài qua đời. Vì vậy, Ngài dạy đệ tử không nên nương tựa vào bất cứ một thứ gì ngoài mình mà phải nương tựa vào hải đảo tự thân. Thực tập hơi thở ý thức, chế tác chánh niệm trong tự thân, ta sẽ trở về khám phá ra người thầy trong mình và hướng về hải đảo tự thân.

Hải đảo tự thân cũng có chim, có cây, có suối giống như trên đất liền vậy. Thực sự không có ranh giới phân chia giữa cái bên trong và bên ngoài. Nếu ta không có mặt đó, nếu ta không thật sự là ta trong hải đảo của chính mình thì ta cũng không thực sự tiếp xúc được với thế giới bên ngoài. Tiếp xúc sâu sắc với bên trong, ta cũng tiếp xúc được với bên ngoài, và ngược lại. Truyền thông thực sự có mặt chỉ khi nào ta có đủ Niệm và Định. Vì vậy, trở về với hải đảo tự thân trước hết là chế tác Niệm Định.

Ở Làng Mai có bài hát “The Island of Self” (Hải đảo tự thân). Chúng ta có thể sử dụng bài hát này để thực tập như các bài thiền tập có hướng dẫn mỗi khi ngồi hay đi.

Breathing in,

I go back to the island within myself.

There are beautiful trees within the island.

There are clear streams of water.

There are birds, sunshine and fresh air.

Breathing out, I feel safe.

I enjoy going back to my island.

 

(Thở vào, tôi quay về nơi hải đảo tự thân, ở đó có cây cối xanh tươi, có dòng suối trong xanh, có chim chóc ca hát, có ánh nắng mặt trời và không khí trong lành.

Thở ra, tôi thấy an toàn. Tôi muốn trở về nơi hải đảo tự thân.)

 

 

[1] Adrenaline là một loại hormone được sản xuất ra khi cơ thể sợ hãi hay tức giận

Chương 5: Sức mạnh tĩnh lặng

 

Tôi vẫn còn nhớ khoảng thời gian ở Huế, năm 1947, khi còn là học tăng ở Phật Học Viện Báo Quốc, không xa chùa Tổ bao nhiêu (chùa Tổ là nơi tôi được xuất gia và tu học). Lúc đó, quân đội Pháp đã chiếm đóng toàn bộ vùng này và thiết lập căn cứ quân sự ở đây. Vì vậy, chung quanh chúng tôi thường nghe tiếng súng nổ giữa quân đội Pháp và lính Việt Nam. Những người dân sống trên các đồi cao thường lập nên những pháo đài bảo vệ. Có những đêm dân làng phải rút vào nhà để tránh những đợt nã súng. Buổi sáng khi thức dậy, có khi người ta thấy vài thi thể rớt lại từ trận đánh của đêm trước với những khẩu hiệu trên đường được viết bằng vôi trắng hòa với máu. Thỉnh thoảng, cũng có các tu sĩ đi ngang qua những con đường vắng vẻ này nhưng hầu như không ai dám đi vào khu vực đó, đặc biệt là những người dân thành phố Huế vừa mới trở về sau đợt sơ tán. Cho dù chùa Báo Quốc nằm gần nhà ga, cũng hiếm có ai liều mạng đến đó, điều ấy cũng nói lên được sự hiểm nguy của vùng này.

Mỗi tháng, từ Phật Học Viện Báo Quốc, tôi thường về thăm chùa Tổ một lần. Sáng hôm ấy, trời còn khá sớm, khi những giọt sương còn đọng trên đầu ngọn cỏ, tôi về thăm chùa Tổ, trong đãy mang theo một chiếc y và vài quyển kinh, trên tay cầm chiếc nón lá. Tôi thấy lòng nhẹ nhàng, hân hoan khi nghĩ đến chuyện được thăm Thầy, thăm huynh đệ và thăm ngôi chùa cổ kính, uy nghiêm.

Vừa băng qua ngọn đồi, tôi bỗng nghe một tiếng gọi lớn. Trên đỉnh đồi, phía trên con đường, tôi thấy một người lính Pháp đang vẫy tay ngoắt tôi lại. Tôi nghĩ anh ta đang chọc ghẹo tôi vì tôi là một ông thầy tu, nên tôi quay lại và tiếp tục đi xuống đường. Nhưng bỗng nhiên, tôi có cảm giác đó không phải là chuyện chọc phá. Tôi nghe tiếng gót giầy của anh lính Pháp chạy theo sau lưng tôi. Có lẽ anh ta muốn tìm tôi, cái đảy tôi mang theo trông có vẻ đáng nghi ngờ. Tôi ngừng lại và đứng đợi. Một người lính trẻ, với khuôn mặt gầy nhưng đẹp trai, tiến lại gần tôi.

“Anh đi đâu đó?” Anh ta hỏi tôi bằng tiếng Việt. Qua cách phát âm, tôi biết anh ta là người Pháp và vốn liếng tiếng Việt của anh còn rất giới hạn.

Tôi mỉm cười và hỏi anh bằng tiếng Pháp: “Nếu tôi trả lời bằng tiếng Việt anh có hiểu không?”

Khi nghe tôi nói bằng tiếng Pháp, gương mặt anh sáng lên. Anh nói rằng anh không có ý định điều tra tôi, anh chỉ muốn hỏi tôi một vài điều. “Thầy sống ở chùa nào?” Anh ta hỏi.

Khi tôi trả lời là tôi đang sống ở chùa Báo Quốc, anh ta trông có vẻ thích thú.

“Chùa Báo Quốc,” anh ta lặp lại. “Đó có phải là ngôi chùa lớn trên đồi gần nhà ga không?”

Khi tôi gật đầu, anh bèn chỉ lên một trạm bơm (pump house) trên đồi, với vẻ cảnh giác, và nói: “Nếu thầy không quá bận, chúng ta hãy lên trên kia nói chuyện một lát.” Chúng tôi ngồi xuống gần trạm bơm, anh ta kể cho tôi nghe về cuộc viếng thăm chùa Báo Quốc của anh và 5 người lính khác cách đó 10 ngày. Họ đến chùa vào lúc 10 giờ tối để lùng sục Việt Minh sau khi được nghe báo cáo là Việt Minh sẽ tụ tập ở đó.

“Chúng tôi mang theo súng và quyết bắt cho được họ. Chỉ thị của cấp trên là bắt họ, thậm chí thủ tiêu họ nếu cần thiết. Nhưng khi vào trong chùa, chúng tôi rất sửng sốt.”

“Bởi vì có quá đông Việt Minh ở đó hả?”

“Không, không.” Anh ta kêu lên. “Nếu thấy Việt Minh, chúng tôi đã không sửng sốt. Chúng tôi sẽ tấn công cho dù có nhiều bao nhiêu đi nữa.”

“Vậy các anh ngạc nhiên vì điều gì?”

“Những gì xảy ra quá bất ngờ cho tôi. Trong quá khứ, bất kể nơi nào chúng tôi lùng sục, hoặc là người ta bỏ chạy hoặc là người ta rơi vào tình trạng sợ hãi, hoảng loạn.”

“Người ta đã bị khủng bố quá nhiều lần, cho nên họ mới sợ hãi bỏ chạy.” Tôi giải thích.

“Tôi không có thói quen khủng bố hoặc đe dọa người khác.” Anh trả lời. “Có lẽ vì họ đã bị hại bởi những người đến trước chúng tôi nên họ hoảng sợ như vậy.”

“Nhưng khi chúng tôi vào đến sân chùa Báo Quốc, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào một nơi hoàn toàn hoang vắng. Những cây đèn dầu được vặn rất nhỏ. Chúng tôi cố tình dậm chân thật mạnh trên nền sỏi, tôi có cảm giác rằng có rất nhiều người trong chùa, thế nhưng chúng tôi lại không nghe tiếng ai cả. Mọi thứ im lặng khủng khiếp. Tiếng la lối của những người bạn tôi làm tôi thấy khó chịu. Không ai trả lời. Tôi mở đèn pin lên, soi vào một căn phòng mà chúng tôi nghĩ là không có ai trong đó, và tôi thấy khoảng 50, 60 vị tu sĩ đang ngồi thiền trong yên lặng.”

“Đó là vì các anh đã đến đúng vào giờ ngồi thiền.” Tôi gật đầu, nói.

“Vâng, chúng tôi như đang bị một sức mạnh lạ lùng và vô hình chi phối,” anh ta nói. “Chúng tôi như bị giật lùi lại, chúng tôi quay lại và đi trở ra ngoài sân. Những vị tu sĩ không biết có chúng tôi đó! Họ không trả lời chúng tôi một lời nào và không tỏ ra một dấu hiệu nào cho thấy sự sợ hãi hoặc hoảng loạn.”

“Không phải họ không biết các anh, mà họ đang chú tâm vào hơi thở của họ. Chỉ có vậy thôi.”

“Tôi cảm thấy như bị chìm vào sự yên tĩnh của họ,” anh thừa nhận. “Điều đó thực sự khiến tôi phải kính phục. Chúng tôi đứng yên trong sân dưới một gốc cây lớn và đợi ở đó, có lẽ khoảng nửa tiếng. Sau đó, một hồi chuông vang lên và ngôi chùa trở lại những sinh hoạt bình thường. Một thầy cầm một cây đuốc, đến mời chúng tôi vào trong, nhưng chúng tôi chỉ nói cho ông ta biết lý do tại sao chúng tôi ở đó rồi rút lui. Kể từ ngày đó, tôi bắt đầu thay đổi quan điểm của mình về người Việt.”

“Trong số chúng tôi có rất nhiều thanh niên trẻ,” anh ta tiếp tục. “Chúng tôi rất nhớ nhà, nhớ gia đình và đất nước. Chúng tôi đã được cử sang đây để tiêu diệt Việt Minh, nhưng không biết là chúng tôi sẽ giết họ hay bị họ giết và không bao giờ có thể trở về quê hương với gia đình mình nữa. Nhìn thấy những người dân ở đây hết sức cực khổ để xây dựng lại cuộc đời tan hoang của họ nhắc tôi nhớ đến những cuộc đời tan nát của những người thân của tôi ở Pháp. Cuộc sống bình an và thanh thản của các vị tu sĩ làm tôi nghĩ đến cuộc sống của toàn thể nhân loại trên trái đất này. Và tôi tự hỏi tại sao tôi lại đến đây. Mối thù hận nào giữa Việt Minh và chúng tôi khiến chúng tôi phải du hành suốt một chặng đường dài đến đây để đánh họ?”

Trong tôi dâng lên một sự xúc động sâu sắc, tôi cầm tay anh ta, kể cho anh ta nghe câu chuyện về một người bạn cũ của tôi, được tuyển nhập ngũ để đánh Pháp và đã giành được chiến thắng trong nhiều trận đánh. Một ngày nọ, anh bạn tôi đến chùa nơi tôi đang ở, rồi đột nhiên ôm lấy tôi và khóc òa lên. Anh kể rằng trong một cuộc tấn công, khi đang trốn sau những tảng đá, anh đã thấy hai người lính Pháp đang ngồi nói chuyện với nhau. Anh nói: “Khi tôi thấy gương mặt sáng láng, đẹp trai và ngây thơ của những cậu bé này, tôi không thể đành lòng nhả đạn được, thưa Thầy. Người ta có thể cho là tôi yếu đuối, nhu nhược, họ có thể nói rằng nếu tất cả những người lính Việt Nam đều như tôi thì chẳng mấy chốc cả nước sẽ thua cuộc và bị chiếm mất. Thế nhưng, lúc đó, tôi đã thương kẻ thù của mình như mẹ tôi thương tôi vậy! Tôi biết rằng cái chết của hai người lính trẻ đó sẽ làm cho mẹ của họ ở Pháp đau khổ, giống như mẹ tôi đã từng đau khổ về cái chết của em trai tôi.”

“Vì vậy, anh thấy đó,” tôi nói với anh lính Pháp, “trái tim của người lính Việt Nam mang đầy tình yêu thương nhân loại.”

Anh lính trẻ ngồi yên lặng, chìm trong suy tư. Có lẽ, giống như tôi, anh đã ý thức hơn về sự mù quáng của giết chóc, thảm họa của chiến tranh, nỗi đau khổ của biết bao nhiêu người đang chết dần trong sự nhẫn tâm và vô lý.

Mặt trời lên cao và đã đến lúc tôi phải về. Người lính nói cho tôi biết tên anh là Daniel Marty, 21 tuổi. Anh vừa mới học xong trung học trước khi sang Việt Nam. Anh cho tôi xem hình mẹ, em trai và em gái anh. Chúng tôi chia tay với cảm giác hai bên hiểu và thông cảm nhau. Anh ta hứa sẽ đến chùa thăm tôi vào ngày Chủ nhật.

Trong những tháng tiếp theo sau đó, mỗi khi có dịp, anh đến thăm tôi. Tôi mời anh vào thiền đường ngồi thiền với tôi. Tôi đặt cho anh pháp danh là Thanh Lương, có nghĩa là “tinh khiết và tươi mát.” Tôi dạy cho anh tiếng Việt, anh chỉ biết được vài câu, học trong quân đội. Sau vài tháng, chúng tôi đã có thể trao đổi với nhau một chút bằng ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Anh ta kể rằng anh không còn làm những cuộc đột kích như trước đây nữa và tôi đã chia sẻ được nỗi buồn của anh. Mỗi khi nhận được lá thư nào từ gia đình, anh đều đem đến cho tôi xem. Và lần nào gặp tôi, anh cũng chắp tay xá chào.

Một ngày nọ, chúng tôi mời Thanh Lương đến ăn cơm chay tại chùa. Anh ta rất hạnh phúc nhận lời mời và hết sức ca ngợi những quả bùi ngon lành cũng như những món ăn đầy hương vị mà chúng tôi đãi. Anh khen món cháo nấm hương sư huynh tôi nấu ngon tuyệt vời và không thể tin được đó là thức ăn chay. Tôi phải giải thích cho anh cách chế biến cặn kẽ để anh tin.

Có những ngày ngồi bên cạnh tháp chuông, chúng tôi cùng nhau thảo luận một cách tương đắc về những vấn đề tâm linh và văn chương. Khi tôi ca ngợi văn học Pháp, mắt Thanh Lương sáng lên đầy tự hào về văn hóa của đất nước anh. Tình bạn của chúng tôi càng ngày càng sâu sắc.

Rồi đến một ngày, khi đến thăm, Thanh Lương cho tôi biết đơn vị của anh sẽ chuyển đến một vùng khác và có lẽ anh sẽ sớm được trở về Pháp.

Tôi đưa anh ra đến cổng tam quan và chúng tôi ôm tiễn biệt nhau. “Tôi sẽ viết thư cho thầy,” anh nói.

“Tôi rất mừng nếu nhận được thư của anh và sẽ hồi âm cho anh.”

Một tháng sau, tôi nhận được thư của anh báo tin là anh sẽ trở về Pháp để đi Algeria. Anh hứa khi nào đến đó sẽ viết thư cho tôi. Nhưng từ lúc đó, tôi không còn nghe tin tức gì về anh nữa. Có ai biết bây giờ Thanh Lương đang ở đâu không? Có được an toàn không? Tôi biết rằng, khi tôi gặp anh vào lần cuối, anh rất bình an.

Cái giây phút im lặng sâu sắc trong chùa ngày hôm ấy đã thay đổi anh. Anh đã mang sự sống của tất cả các loài hữu tình vào trong trái tim anh, đồng thời thấy được tính chất vô nghĩa và hoại diệt của chiến tranh. Điều làm cho mọi sự trở nên có thể là dừng lại hoàn toàn và mở ra một đại dương kỳ diệu hùng tráng, có công năng trị liệu, mà ta gọi là sự tĩnh lặng.

Để hiển lộ được bản tính chân thật, chúng ta cần phải dừng lại cuộc đối thoại nội tâm liên miên, chiếm hết tất cả không gian trong lòng ta. Chúng ta có thể bắt đầu bằng cách tắt đài phát thanh NST vài lần mỗi ngày, mỗi lần một chút, để đem niềm vui vào trong không gian nội tâm ta.

Hơi thở chánh niệm

Như chúng ta đã biết, cách dễ nhất để giải thoát chúng ta ra khỏi vòng quay suy nghĩ liên tục là thực tập hơi thở chánh niệm. Lúc nào chúng ta cũng thở, thế nhưng chúng ta lại hiếm khi để ý và thưởng thức hơi thở của mình.

Hơi thở chánh niệm là một bữa tiệc để thưởng thức khi ta mang toàn bộ sự chú tâm vào suốt chiều dài của từng hơi thở vào và hơi thở ra. Khi ta chú tâm vào trong từng hơi thở thì cũng giống như tất cả các tế bào não và phần còn lại của cơ thể ta đang hát lên cùng một bài hát.

Bằng hơi thở chánh niệm, ta đi vào bên trong.

Cơ thể ta đang thở;

cơ thể ta chính là nhà của ta.

Mỗi hơi thở đều có thể đưa ta trở về.

Có thể ta đang có những nỗi buồn, cơn giận hoặc nỗi cô đơn. Khi tiếp xúc được với hơi thở vào ra, ta có thể tiếp xúc được với những cảm xúc đó mà không sợ trở thành nạn nhân của chúng. Trở về với hơi thở chánh niệm là một cách nói rằng: “Đừng sợ. Tôi đang có mặt ở nhà đây. Tôi sẽ chăm sóc những cảm thọ này.”

Hơi thở chánh niệm là trụ sở chính. Nếu muốn thực hiện được những nguyện ước của mình, muốn xây dựng truyền thông với gia đình và bạn bè, muốn giúp đỡ cho đoàn thể, ta nên bắt đầu với hơi thở. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi hành động được làm trong chánh niệm sẽ nuôi dưỡng ta.

Tạo không gian cho chánh niệm dễ hơn ta nghĩ

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cuộc sống của chúng ta quá bận rộn, không còn chỗ để nuôi dưỡng chánh niệm. Thế nhưng, thực ra, sống chánh niệm là vấn đề thay đổi thái độ và nhớ lại mục đích thực sự của mình mà không phải nhét thêm mục “thiền tập” vào lịch sinh hoạt hàng ngày. Ta không cần phải ở trong phòng thiền hoặc đợi có giờ rảnh để thực tập chánh niệm, tuy đó dĩ nhiên là điều tuyệt vời để tận hưởng khi ta có cơ hội. Hơi thở yên tĩnh, chánh niệm là điều mà ta có thể làm bất cứ lúc nào. Bất cứ ở đâu cũng đều có thể là một nơi linh thiêng nếu tâm ta thanh tịnh, thư thái, theo dõi hơi thở và tập trung tâm ý vào những gì ta đang làm.

Thức dậy vào buổi sáng, trong khi còn ở trên giường, ta có thể bắt đầu một ngày mới bằng hơi thở chánh niệm. Trong giây phút đó, việc đầu tiên là theo dõi hơi thở vào ra và ý thức là ta đang có 24 giờ tinh khôi để sống. Đó là món quà cuộc sống ban tặng cho ta.

Khi mới xuất gia làm một chú sa di, tôi phải học thuộc lòng nhiều bài thi kệ để giúp tôi thực tập chánh niệm. Bài thi kệ đầu tiên là:

Thức dậy miệng mỉm cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Như chúng ta thấy, bài kệ có bốn câu. Câu đầu đi với hơi thở vào. Câu thứ hai đi với hơi thở ra. Câu thứ ba đi với hơi thở vào kế tiếp. Và câu thứ tư đi với hơi thở ra kế tiếp. Khi thở, chúng ta dùng bài thi kệ để tập trung tâm ý vào chiều hướng thiêng liêng của những gì chúng ta đang làm. Ta muốn sống 24 giờ mà cuộc sống ban tặng cho ta trong bình an và hạnh phúc. Ta quyết tâm không lãng phí 24 giờ đó bởi vì ta biết rằng 24 giờ đó là món quà tặng của cuộc sống và ta đón nhận món quà đó một lần nữa vào mỗi buổi sáng.

Nếu ta có khả năng ngồi cho thoải mái thảnh thơi thì ngồi thiền là một cách mầu nhiệm để thực tập hơi thở chánh niệm. Có nhiều người không thể cho phép họ có thời gian để chỉ ngồi thở mà không làm gì cả. Họ cho đó là lãng phí hoặc xa xỉ. Người ta nói: “Thời gian là tiền bạc.” Nhưng thời gian quý hơn tiền bạc nhiều lắm. Thời gian là sự sống. Sự thực tập ngồi yên đều đặn đơn thuần có thể có công năng trị liệu rất lớn. Dừng lại và ngồi yên là một cách hữu hiệu để tập trung vào hơi thở ý thức và không làm gì khác.

Cũng giống như ta có thể tắt ti vi trong lúc ăn, nếu chú tâm vào hơi thở, vào thức ăn và những người đang ngồi ăn với mình, ta có thể tắt đài phát thanh NST trong đầu. Khi lau nhà bếp hoặc rửa chén, ta cũng có thể làm trong tỉnh thức với tinh thần thương yêu, hoan hỷ và biết ơn. Khi đánh răng, ta cũng có thể đánh răng trong chánh niệm. Đừng nghĩ đến những việc khác, chỉ chú tâm vào việc đánh răng. Ta có thể dành hai hay ba phút để đánh răng. Trong thời gian này, ta chỉ ý thức về răng và động tác đánh răng. Đánh răng như vậy có thể mang lại cho ta nhiều niềm vui. Khi đi vệ sinh, ta cũng có thể thưởng thức thời gian ở trong nhà vệ sinh. Chánh niệm có thể làm thay đổi những mối liên hệ của ta đến với mọi thứ. Chánh niệm giúp ta thực sự có mặt và thực sự thưởng thức những gì ta đang làm.

Thực tập thiền hành là một cơ hội khác để tạo ra những giây phút hạnh phúc và trị liệu. Mỗi khi bước một bước chân, kết hợp với hơi thở vào ra, ta có thể tận hưởng cảm giác mà bàn chân ta đang tiếp xúc với mặt đất. Khi bước đi một bước trong chánh niệm, ta trở về với chính mình. Mỗi bước chân giúp ta tiếp xúc với cơ thể, mang ta về với ngôi nhà của chính mình, bây giờ và ở đây. Vì vậy, khi đi từ bãi đậu xe, hoặc trạm xe buýt đến chỗ làm, đi đến bưu điện hoặc ra chợ, tại sao ta không về nhà với mỗi bước chân của mình?

Trong bất kỳ hoạt động nào, mỗi khi tâm ta tĩnh lặng và có ý thức, ta có cơ hội tiếp xúc với chính mình. Phần lớn thời gian chúng ta đi mà không biết rằng mình đang đi. Chúng ta đang đứng đây mà không biết là mình đang ở đây, tâm ta đã đi xa hàng nghìn dặm. Chúng ta sống, mà không biết là mình đang sống. Chúng ta tiếp tục đánh mất chính mình. Vì vậy, an tịnh thân tâm, và ngồi chỉ để có mặt với chính mình là một hành động cách mạng. Hãy ngồi xuống và chấm dứt sự rong ruổi. Khi ngồi xuống, ta có thể trở về tiếp xúc với chính mình. Ta không cần một chiếc iphone hoặc một chiếc máy vi tính để làm chuyện đó. Ta chỉ cần ngồi xuống trong chánh niệm và thở vào, thở ra ý thức thì chỉ trong vài giây, ta sẽ trở về tiếp xúc với chính mình. Ta biết được những gì đang xảy ra – trong thân thể, trong những cảm thọ và trong nhận thức. Ta đã trở về nhà, và ta có thể chăm sóc ngôi nhà của mình đàng hoàng.

Có thể ta đã đi khỏi nhà mình một thời gian dài và ngôi nhà của ta đang lộn xộn, bừa bãi. Chúng ta thật có lỗi biết bao nhiêu khi phớt lờ những gì mà cơ thể chúng ta đang cảm nhận. Những cảm xúc nào đang trỗi dậy trong chúng ta? Những tri giác sai lầm nào đang dẫn dắt suy nghĩ và lời nói của chúng ta?

Thực sự quay về nhà có nghĩa là ngồi xuống và có mặt với chính mình, thiết lập lại truyền thông với chính mình và chấp nhận tình trạng hiện tại. Cho dù đó là một bãi chiến trường, ta cũng có thể chấp nhận nó, và đó là khởi điểm để thay đổi thái độ (định hướng lại chính mình) nhằm đi xa trên một hướng đi tích cực hơn. Tôi thường nghĩ về Thanh Lương, khi anh có thể có được một khoảng yên lặng sâu sắc trong ngôi chùa Báo Quốc và mang nó theo cùng anh vào cuộc chiến tranh hỗn loạn. Cho dù chúng ta đang có những rối loạn đặc biệt của riêng mình, chúng ta vẫn có thể tìm ra không gian cho sự yên tĩnh mỗi ngày, giúp chúng ta có được bình an cho tình trạng đó, thậm chí có thể chỉ cho chúng ta một hướng đi mới để ra khỏi đám hỗn độn đó.

Có lần tôi tổ chức một khóa tu trong một tu viện trên núi ở phía Bắc California. Bắt đầu khóa tu, bỗng có một đám cháy lớn lan nhanh ở cạnh bên. Trong khi ngồi thiền và đi thiền hành, chúng tôi nghe tiếng của nhiều chiếc máy bay trực thăng. Âm thanh đó thực sự không dễ chịu chút nào. Đối với nhiều người, kể cả tôi, cho dù là người Việt hay người Mỹ gốc Việt, tiếng máy bay trực thăng đồng nghĩa với súng ống, với chết chóc, với bom đạn, hoặc với cả cái chết nữa. Chúng tôi đã sống qua suốt một thời kỳ chiến tranh khốc liệt, do đó có cảm giác rất bất an khi nghe tiếng máy bay trực thăng và nó gợi cho chúng tôi nhớ lại cái thời kỳ bạo động đó. Cho dù có những người trong khóa tu chưa từng trải qua chiến tranh thì cái âm thanh đó vẫn rất nặng nề và nhiễu loạn

Tuy nhiên, những chiếc máy bay trực thăng vẫn ở đó, và chúng tôi cũng vậy. Vì thế, chúng tôi chọn cách thực tập lắng nghe tiếng máy bay trực thăng bằng chánh niệm. Nghe một âm thanh dễ chịu, như tiếng chuông, người ta sẽ muốn đặt sự chú tâm vào đó. Chú tâm vào một âm thanh dễ chịu, thật dễ dàng để cảm thấy hạnh phúc và có mặt. Giờ đây, chúng tôi phải học cách chú tâm tích cực với tiếng máy bay trực thăng. Bằng chánh niệm, chúng tôi có khả năng nhắc nhở bản thân rằng đây không phải là máy bay trực thăng thời chiến tranh. Máy bay trực thăng này đang giúp dập tắt những đám cháy. Với ý thức đó, chúng tôi có thể chuyển hóa một cảm giác không dễ chịu thành cảm giác biết ơn và cảm kích. Vì tiếng máy bay trực thăng đến đều đặn mỗi vài phút, nếu không thực tập chánh niệm theo cách đó, chúng tôi sẽ rất mỏi mệt.

Vì vậy, mỗi người trong số khoảng 600 người tham dự khóa tu, đã thực tập thở vào và thở ra với tiếng máy bay trực thăng. Chúng tôi đọc thầm bài kệ nghe chuông, được sửa đổi lại để phù hợp với hoàn cảnh đó:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe.

Tiếng máy bay trực thăng

Đưa tôi về với giây phút hiện tại.

Và chúng tôi đã sống với nhau rất vui trong những ngày đó. Chúng tôi đã biến tiếng máy bay trực thăng thành một thứ hữu ích.

Năm phút cho cuộc sống

Nếu bạn chỉ mới bắt đầu thực tập, thì hãy cố gắng dành 5 phút mỗi ngày để đi bộ trong im lặng và chánh niệm. Nếu ở một mình, bạn có thể làm việc chậm lại, càng chậm càng tốt.

Bạn sẽ thấy rất hay nếu bắt đầu bằng việc đi thật chậm. Bước một bước, bạn thở vào, bước thêm một bước, bạn thở ra. Khi thở vào, bạn bước một bước và bạn phải dừng lại mọi suy nghĩ để hoàn toàn tập trung tâm ý vào bước chân cũng như hơi thở. Nếu bạn không dừng lại được những suy nghĩ thì hãy đứng lại, thở vào thở ra cho đến khi bạn hoàn toàn dừng lại được những suy nghĩ. Bạn sẽ cảm nhận được điều đó. Trong trạng thái chánh niệm, có một cái gì đó sẽ thực sự làm thay đổi thân tâm bạn.

Nếu bạn thành công khi đi được một bước như vậy thì bạn sẽ biết cách để đi tiếp bước thứ hai. Bạn hãy bắt đầu trong 5 phút thôi, nhưng sau đó có thể bạn sẽ rất thích thú để làm tiếp vài lần như vậy trong ngày.

Bây giờ người ta quá bận rộn. Chúng ta luôn luôn bị đẩy ra khỏi giây phút hiện tại. Chúng ta không có cơ hội để thực sự sống đời sống của chúng ta. Chánh niệm giúp ta có thể nhận diện được điều đó. Đó đã là giác ngộ rồi. Vì thế, chúng ta bắt đầu từ sự giác ngộ, tỉnh giác này: chúng ta thực sự muốn sống cuộc sống của chính mình, chúng ta thực sự muốn dừng lại mà không bị đẩy ra khỏi cuộc sống. Và với sự thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền và đi thiền, ngay cả trong khi đánh răng, chúng ta cũng có thể dừng lại. Sự thực tập dừng lại có thể được thực hiện bất kỳ lúc nào trong ngày, kể cả lúc chúng ta đang lái xe.

Buông bỏ, ta sẽ đạt được tự do. Với tự do đó, với sự buông bỏ đó, sự trị liệu có thể xảy ra. Sự sống trở thành có thật. Và niềm vui là điều mà chúng ta có thể đạt được.

Ngày nay, người ta thường nói về cân bằng giữa công việc và cuộc sống. Người ta có khuynh hướng nghĩ rằng công việc và cuộc sống là hai thứ tách biệt nhau. Thế nhưng, đó không phải là cách nghĩ đúng. Sau khi lái xe đến chỗ làm và đậu xe xong, bạn có thể lựa chọn giữa cách đi thiền hành trong chánh niệm vui tươi hay là đi một cách hối hả, gấp gáp vào văn phòng. Dù sao đi nữa, bạn cũng phải đi qua quãng đường đó. Nếu bạn biết cách để đi, biết cách có mặt đó cho mình thì quãng đường từ bãi đậu xe vào đến văn phòng có thể mang lại cho bạn nhiều niềm vui và hạnh phúc. Bạn có thể buông bỏ những căng thẳng trong thân và tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống với từng bước chân của bạn.

Khi đi trong chánh niệm, bạn để 100% con người mình trong khi đi. Bạn có ý thức trong từng bước chân của mình: chính bạn là người đang đi một cách có ý thức chứ không phải là những tập khí đang đẩy bạn đi. Bạn lấy lại chủ quyền của mình. Bạn là vua hay hoàng hậu đang quyết định. Bạn bước đi vì bạn có chủ quyền trong khi đi, và bạn có tự do trong mỗi bước chân. Bạn chú tâm bước từng bước chân và mỗi bước chân trong chánh niệm mang bạn về tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt bây giờ và ở đây. Đi như vậy, bạn để toàn bộ thân và tâm trong mỗi bước chân. Đó là lý do tại sao, khi đi, bạn không suy nghĩ. Nếu bạn suy nghĩ thì những ý nghĩ sẽ lấy mất buổi thiền hành của bạn. Bạn không nói chuyện, bởi vì nói chuyện cũng lấy đi mất những bước chân chánh niệm của bạn.

Bước đi như vậy là một niềm vui. Khi Niệm và Định có mặt sống động trong bạn, bạn hoàn toàn là chính mình. Bạn đi như Bụt đi. Không có chánh niệm, bạn có thể nghĩ rằng đi là một việc chán phèo hoặc bị bắt buộc. Còn với chánh niệm, bạn thấy bước đi chính là sự sống.

Tương tự, khi rửa chén sau mỗi bữa ăn, cách bạn rửa chén sẽ quyết định đó là một công việc chán ngán, buồn tẻ hay là một giây phút hạnh phúc của đời sống thật sự. Có một cách rửa chén giúp bạn thưởng thức mỗi giây phút. Khi bạn lau nhà hay nấu ăn sáng, nếu bạn biết làm trong chánh niệm thì đó là sự sống, chứ không phải là công việc.

Những người tách rời cuộc sống và công việc không thực sự sống trong phần lớn cuộc đời họ. Không phải chỉ có khi chơi, khi thiền tập ta mới có niềm vui, không gian hay chánh niệm. Chúng ta phải tìm cách mang những yếu tố chánh niệm, không gian và niềm vui vào tất cả mọi sinh hoạt hằng ngày của ta. Nếu chúng ta mang chánh niệm vào mỗi sinh hoạt hằng ngày, 5 phút một lần, thì sự chia rẽ tưởng tượng của chúng ta giữa công việc và cuộc sống sẽ biến mất và mỗi sinh hoạt trong ngày của chúng ta là thời gian cho chính mình.

Thực tập: Thiền hành

Người ta nói rằng phép lạ là đi trên không trung, đi trên mặt nước hoặc trên than hồng. Nhưng đối với tôi, bước đi bình an trên mặt đất đã là một phép lạ. Chính đất Mẹ là một phép lạ. Bước từng bước chân tỉnh thức trên hành tinh xinh đẹp này có thể mang lại cho ta sự trị liệu và hạnh phúc. Thiền hành là một cách tuyệt vời để quay về với giây phút hiện tại và quay về với cuộc sống.

Khi thực tập thiền hành, hãy ý thức hoàn toàn vào bàn chân, mặt đất và sự tiếp xúc giữa bàn chân và mặt đất. Hãy để hơi thở tự nhiên và kết hợp bước chân với hơi thở. Bước vài bước với hơi thở vào và vài bước khác với hơi thở ra. Hơi thở ra có khuynh hướng hơi dài hơn, vì vậy bạn cần nhiều bước chân hơn. Khi có thời gian và nơi chốn thích hợp, có lẽ là nơi nào không quá đông người, bạn có thể thực tập đi thiền hành chậm, bước một bước cho hơi thở vào và một bước khác cho hơi thở ra, điều này đặc biệt giúp cho ta trị liệu. Với mỗi hơi thở vào ra, bạn nói thầm “vào/ra” hoặc “đã về/đã tới.” Với mỗi bước chân, bạn sẽ quay về với ngôi nhà đích thực của mình, là giây phút hiện tại.

Nếu bạn cảm thấy lạc lõng hay đang trong một tình trạng chao đảo, hoặc cho dù bạn cảm thấy hơi lười biếng thì cũng đừng lo lắng, bạn không cần phải cố gắng để thực tập hơi thở chánh niệm, ngồi thiền hay đi thiền. Thở thôi là đủ rồi, ngồi thôi là đủ rồi, đi thôi là đủ rồi. Bạn hãy để mình trở thành một với hành động. Mình là đi.

Tôi nhớ một ngày, năm 2003, tôi đang ở Hàn Quốc để hướng dẫn một buổi đi thiền hành qua những con đường ở Seoul. Có rất nhiều người đến để tham gia vào buổi đi bộ đó. Nhưng vì có quá nhiều nhiếp ảnh gia và phóng viên chen chúc với nhau phía trước, tôi thấy không thể nào bắt đầu đi được. Tôi bèn nói: “Bụt ơi, con đầu hàng rồi. Xin Bụt đi cho con đi.” Tôi bước một bước. Ngay lập tức, một con đường được mở ra và tôi có thể bước đi tiếp. Sau kinh nghiệm này, tôi đã viết bài kệ dưới đây mà đến bây giờ tôi vẫn còn dùng để thực tập thiền hành. Có thể, nó cũng sẽ giúp ích được cho bạn.

Để Bụt thở

Để Bụt đi

Con khỏi thở

Con khỏi đi.

Bụt là thở

Bụt là đi

Con là thở

Con là đi.

Chỉ có thở

Chỉ có đi

Không người thở

Không người đi.

Chương 4: Lắng nghe sâu

 

Lúc nào đầu ta cũng đầy suy nghĩ, vì vậy ta không có không gian để lắng nghe ta và lắng nghe người khác. Có thể ta được học ở trường, hoặc từ ba mẹ là ta phải nhớ nhiều, phải nhớ bài vở, từ ngữ, quan điểm, khái niệm… và ta nghĩ rằng kho dự trữ kiến thức này giúp ích cho đời ta. Nhưng khi nói chuyện chân thành với ai đó thì ta thấy khó nghe, khó hiểu được họ. Im lặng cho phép ta lắng nghe sâu và trả lời có chánh niệm, đó là chiếc chìa khóa để mở ra cánh cửa truyền thông chân thật và toàn vẹn.

Nhiều cặp vợ chồng đã chung sống với nhau lâu rồi nhưng không lắng nghe nhau được nữa, vì vậy, họ đến các trung tâm tu học chánh niệm. Đôi khi có người lại nói với tôi: “Vô ích, bà ta không lắng nghe tôi.” Hay: “Ông ta sẽ không bao giờ thay đổi. Nói chuyện với ông ta giống như nói với bức tường.” Tuy nhiên, người đang phàn nàn đó có thể là người không có không gian để lắng nghe. Mỗi người chúng ta ai cũng muốn người kia hiểu mình. Tất nhiên rồi, nhưng ta cũng cần có khả năng để thực sự hiểu được người kia.

Đơn giản là nhiều người trong chúng ta đã chất chứa quá nhiều. Chúng ta không có không gian để thực sự nghe được người khác và hiểu được người khác. Có thể ta suy nghĩ quá nhiều trong công việc; tám, chín tiếng đồng hồ mỗi ngày, không ngừng nghỉ. Ta hiếm khi chú ý đến hơi thở hay những thứ khác. Ta tin rằng nếu muốn thành công, ta phải làm như vậy, không thể khác được.

Lắng nghe với lòng khinh an

Gần đây tôi gặp một phụ nữ đến từ Paris. Cô xin tôi hướng dẫn cho cô thực tập trong ngành vận động học (kinesiology). Là một nhà cố vấn sức khỏe, cô muốn biết làm thế nào để có thể thành công nhất trong nghề nghiệp của cô. Tôi nói: “Nếu cô có sự nhẹ nhàng và không gian trong lòng, thì lời nói của cô sẽ chuyên chở được tuệ giác sâu sắc, sẽ đưa tới sự truyền thông đích thực.” Tôi chia sẻ với cô:

Để thực tập lắng nghe sâu, trước tiên ta phải có thời gian để nhìn sâu vào tự thân, nhìn sâu vào người trước mặt mình, để ngôn từ có khả năng chế tác được sự hiểu biết, cảm thông và làm vơi đi nỗi khổ đau của cả hai bên.

Khi nói, tất nhiên, ta chỉ nói những gì ta nghĩ là đúng. Nhưng đôi khi do cách ta nói, người nghe không tiếp nhận được, vì vậy lời nói của ta không có hiệu quả mãnh liệt giúp người kia thấy rõ vấn đề và hiểu thêm tình trạng. Ta nên tự hỏi lại mình: “Tôi có đang nói ‘chỉ để nói’ không, hay tôi nói vì tôi nghĩ rằng lời nói của tôi có thể giúp người kia trị liệu?” Khi ta nói với lòng từ bi, dựa trên nền tảng của yêu thương và tương tức, về mối liên quan mật thiết giữa ta và người kia thì lời nói của ta mới có thể được gọi là lời nói ái ngữ.

Khi ta trả lời liền cho một ai đó, thường thì ta chỉ tung ra những kiến thức mà ta đã học hoặc phản ứng vì cảm xúc. Khi nghe lời chia sẻ hoặc vấn đề của người khác, ta không để thời gian để lắng nghe sâu và nhìn sâu vào những gì người kia nói, ta chỉ phát ra những lời đối đáp, những câu trả lời nhanh lẹ. Điều này không ích lợi gì cả.

Lần tới có ai hỏi mình điều gì thì đừng trả lời ngay. Hãy tiếp nhận câu hỏi hoặc lời chia sẻ và để cho nó thấm vào mình để người kia thấy là họ đang được lắng nghe thật sự. Tất cả chúng ta, đặc biệt là những người có nghề nghiệp giúp đỡ người khác, rèn luyện mình bằng kỹ năng này sẽ mang lại nhiều lợi lạc. Chúng ta phải thực tập làm cho được và làm cho hay. Trước tiên ta phải lắng nghe chính mình, nếu không lắng nghe chính mình sâu sắc thì ta không thể lắng nghe người khác sâu sắc được.

Chúng ta cần vun trồng và nuôi dưỡng con đường tâm linh trong đời sống hằng ngày nếu ta thực sự muốn nhẹ nhàng, thảnh thơi và khinh an. Ta cần phải thực tập để khôi phục lại không gian trong ta. Chỉ khi nào ta có khả năng khơi mở không gian trong lòng thì ta mới có thể thực sự giúp được người khác. Dù ta đi bộ hay đi xe buýt, bất kỳ ở đâu, ta cũng có thể dễ dàng nhận ra những người có không gian trong lòng. Có lẽ chúng ta đã từng gặp những người này rồi, cho dù ta không biết họ là ai, nhưng ta thấy thoải mái với họ, bởi vì họ dễ chịu và thư thái. Họ không có nhiều lịch trình trong đầu.

Nếu mở rộng không gian trong lòng, ta sẽ thấy mọi người muốn đến gần ta, ngay cả những người trước đây đã từng lánh mặt ta như con gái tuổi mới lớn, vợ hay chồng mà mình từng cãi lộn, cha mẹ… Ta không cần phải làm gì cả, không cần phải dạy gì, thậm chí không cần phải nói gì. Nếu ta thực tập cho chính mình, tạo không gian và sự yên tĩnh trong lòng thì người khác sẽ hướng về không gian ấy. Mọi người chung quanh ta sẽ cảm thấy thoải mái khi gần ta vì phẩm chất có mặt của ta.

Đó là đạo đức vô hành. Chúng ta dừng suy nghĩ, đưa tâm về đoàn tụ với thân và có mặt thật sự. Vô hành rất quan trọng. Vô hành không phải thụ động hay trì trệ, nó là một trạng thái cởi mở, sáng tạo và phong phú. Chúng ta chỉ cần ngồi yên, rất tỉnh thức, nhẹ nhàng, và khi người khác đến ngồi với ta, họ cảm thấy nhẹ nhàng khinh an ngay. Cho dù ta không làm gì để giúp, người kia cũng nhận được rất nhiều từ ta.

Có không gian để lắng nghe bằng tâm từ bi là tinh yếu cho một tình bạn chân thật, một tình đồng nghiệp chân thật, một người cha, người mẹ đích thực, một người bạn hôn phối đích thực.

Người đó không cần phải là một chuyên gia tâm lý để lắng nghe giỏi. Thực tế, nhiều nhà tâm lý trị liệu không có khả năng lắng nghe, bởi vì họ có quá nhiều khổ đau. Họ học về tâm lý nhiều năm, biết rất nhiều phương pháp kỹ thuật, nhưng trong tim họ có nhiều khổ đau mà họ không có khả năng trị liệu và chuyển hóa, không có khả năng hiến tặng cho chính họ niềm vui, không có khả năng giải trí để quân bình với những khổ đau mà họ đã nhận vào từ khách hàng. Vì vậy, họ không có không gian để giúp đỡ người khác cho có hiệu quả. Người ta phải trả nhiều tiền cho các nhà tâm lý trị liệu để gặp họ từ tuần này qua tuần khác, hy vọng được trị liệu, nhưng các nhà tâm lý trị liệu không thể giúp được nếu họ không có khả năng lắng nghe chính họ bằng tâm từ bi. Các nhà tâm lý trị liệu cũng là con người, cũng khổ đau như bao người khác. Khả năng lắng nghe người khác trước hết phụ thuộc vào khả năng lắng nghe chính mình bằng tâm từ bi.

Các nhà chuyên nghiệp muốn giúp người khác cần phải có bình an trong lòng thì mới giúp được, nếu không chỉ làm lãng phí thời gian của khách hàng và lấy tiền của họ. Tất cả những gì ta cần trước hết là sự dễ chịu, khinh an, nhẹ nhàng và bình yên trong thân tâm. Bình an này ta có thể chế tác được bằng mỗi bước chân, mỗi hơi thở của ta. Chỉ khi đó chúng ta mới thực sự lắng nghe người khác.

Điều này đòi hỏi một ít thực tập. Mỗi ngày ta dành một ít thời gian cho hơi thở và bước chân, đưa tâm trở về với thân và nhớ rằng ta có một cái thân. Mỗi ngày dành ra một ít thời gian để lắng nghe em bé trong mình, lắng nghe những điều trong lòng đang kêu gào được lắng nghe. Sau đó ta sẽ biết cách lắng nghe người khác.

Nghe chuông

Trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, tiếng chuông được sử dụng để giúp mọi người đến với nhau, tạo ra sự hài hòa trong mình và trong người khác. Ở nhiều nước Á châu, mỗi gia đình đều có ít nhất là một cái chuông nhỏ ở nhà. Ta có thể dùng bất cứ loại chuông nào để thưởng thức. Sử dụng tiếng chuông như một lời nhắc nhở chúng ta nhớ thở, nhớ trở về với thân thể, trở về ngôi nhà đích thực của chính mình để chăm sóc chính mình và làm lắng dịu tâm hành. Trong đạo Bụt, tiếng chuông được xem như tiếng gọi của Bụt. Khi nghe chuông, ta dừng lại mọi nói năng, hành động và suy nghĩ. Trở về với hơi thở. Lắng nghe với tất cả thân tâm mình.

Lắng nghe như vậy ta cho phép niềm an vui và hạnh phúc thấm vào mỗi tế bào cơ thể ta. Ta không chỉ lắng nghe bằng đôi tai, không chỉ lắng nghe bằng trí năng, mà ta mời tất cả các tế bào trong cơ thể ta cùng lắng nghe chuông với ta.

Chuông không lấy mất nhiều không gian. Chắc chắn ta có thể tìm một chỗ trên bàn hay trên kệ để đặt nó. Dù ta sống ở đâu, thậm chí trong một căn phòng nhỏ, ta cũng có thể tìm được chỗ cho nó. Trước khi thỉnh chuông về nhà, ta phải đảm bảo là tiếng chuông này hay. Chuông không cần lớn nhưng âm thanh phải hay, phải dễ chịu.

Mỗi khi nghe và tiếp nhận tiếng chuông, ta phải chuẩn bị thân tâm. Thay vì nói đánh chuông, ta nói là thỉnh chuông. Nhìn vào chuông như nhìn một người bạn, một bậc giác ngộ giúp ta tỉnh thức và trở về ngôi nhà đích thực của mình. Nếu muốn, ta có thể đặt chuông trên một cái đế nhỏ, giống như bất kỳ một vị Bồ tát nào đang ngồi thiền.

Khi nghe chuông, ta thở vào và buông bỏ tất cả những căng thẳng đã chất chứa trong ta, buông bỏ tập khí chạy trong thân và đặc biệt là trong tâm. Dù có thể ta đang ngồi, nhưng thường bên trong ta vẫn chạy. Tiếng chuông là một cơ hội đón ta trở về với chính mình, theo dõi hơi thở vào ra để có thể buông bỏ căng thẳng và dừng lại hoàn toàn. Tiếng chuông và cách lắng nghe của ta giúp cho con tàu suy nghĩ và cảm xúc đang chạy đêm ngày trong ta dừng lại.

Mỗi sáng, trước khi đi làm hay trước khi con mình đi học, mọi người có thể ngồi lại với nhau nghe ba tiếng chuông và theo dõi hơi thở. Thở và nghe chuông như vậy ta sẽ bắt đầu một ngày mới bằng sự bình an, vui tươi và hạnh phúc. Ngồi thở một mình hay với gia đình như thế rất hay. Ta có thể nhìn vào một vật nào đó có ý nghĩa trong nhà, hay một cái cây bên ngoài cửa sổ và mỉm cười. Điều này sẽ trở thành một sự thực tập đều đặn, là nơi nương tựa đáng tin cậy cho gia đình. Không mất nhiều thời gian, nhưng là một phần thưởng vô giá, một sự thực tập rất đẹp, mang lại bình an, sự có mặt và hòa hợp trong gia đình.

Phòng thở

Chúng ta hãy dành một phòng hoặc một phần của căn phòng để thiền tập. Không cần phải có một không gian lớn. Chỉ cần một góc nhỏ của căn phòng mà ta có thể biến thành một nơi yên tĩnh để quán chiếu và thiết lập bình an là đã tuyệt vời rồi. Đó là phòng thở, là thiền đường nhỏ. Khi có ai đó trong gia đình ngồi trong chỗ yên tĩnh này thì những người khác không nên vào nói chuyện với người ấy. Chúng ta phải đồng ý với nhau là nơi này dành cho sự bình an và yên tĩnh.

Mọi người trong gia đình nên ngồi lại để đồng lòng với nhau là bất kỳ lúc nào không khí trong gia đình ồn ào, nặng nề hoặc căng thẳng thì bất kỳ ai cũng có quyền vào phòng thở để thỉnh chuông. Mọi người đều thực tập theo dõi hơi thở vào ra và khôi phục lại sự yên tĩnh, bình an, tình thương mà họ đã đánh mất vì những suy nghĩ, lời nói hay hành động thiếu khéo léo, thiếu chánh niệm.

Bất kỳ lúc nào ai đó có vấn đề, có cảm giác bất an hay khổ đau, người đó có quyền đi vào không gian này, ngồi xuống, thỉnh chuông và theo dõi hơi thở. Khi có người làm điều này thì những người khác trong gia đình phải tôn trọng. Nếu thực tập giỏi thì người kia cũng ngưng lại những gì đang làm để lắng nghe chuông và cùng thở những hơi thở chánh niệm bình an. Nếu muốn, mình cũng có thể vào thở chung với người đó.

Vì vậy, nếu người bạn hôn phối của ta đang có tâm trạng không tốt, nếu trong gia đình ta có người đang lo lắng, thì ta có thể nhắc nhở người kia: “Mình nên vào phòng thở để nghe chuông và thở với nhau vài phút.” Điều này rất đơn giản, ta có thể làm được. Hoặc giả mình thấy con mình đang giận, rồi sau đó mình nghe chuông, thì biết rằng con mình đang thở, mình cũng nên dừng công việc lại và theo dõi hơi thở vào ra để yểm trợ cho con. Trước khi đi ngủ, nếu mọi người trong gia đình cùng ngồi lại với nhau nghe ba tiếng chuông, theo dõi hơi thở vào ra chín lần thì rất hay, rất dễ thương.

Người nào thực tập nghe chuông như thế sẽ có khả năng chế tác bình an và hòa hợp. Tôi gọi đó là nền văn minh đích thực. Ta không cần nhiều dụng cụ thiết bị hiện đại để được văn minh. Chúng ta chỉ cần một cái chuông nhỏ, một nơi yên tĩnh cùng với hơi thở vào ra trong chánh niệm.

Lắng nghe với tổ tiên

Nhiều người nghĩ rằng tổ tiên của mình đã qua đời rồi, điều đó không đúng. Vì chúng ta còn đây, còn đang sống, nên tổ tiên ta cũng tiếp tục sống trong ta. Tổ tiên ta đã trao truyền họ cho ta với tất cả những tài năng, kinh nghiệm, hạnh phúc và khổ đau của họ. Họ hoàn toàn có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Cha ta, mẹ ta đều có mặt trong ta. Chúng ta không thể lấy họ ra khỏi mình.

Khi nghe chuông, ta có thể mời tất cả các tế bào trong ta cùng nghe chuông với ta, đồng thời tất cả tổ tiên từ bao đời cũng đang lắng nghe chuông với ta. Nếu biết cách nghe, bình an sẽ thấm vào mỗi tế bào cơ thể ta. Không chỉ ta có bình an và thư giãn mà tất cả tổ tiên trong ta cũng hưởng được giây phút hiện tại mầu nhiệm này. Có thể trong cuộc đời, họ có nhiều khổ đau và không có nhiều cơ hội để an vui. Nhưng qua ta thì họ có được cơ hội này.

Thông thường ta nghĩ rằng, lắng nghe là lắng nghe người khác, lắng nghe những thứ khác quanh mình. Nhưng như đã nói trước đây, lắng nghe chính mình là bước đầu tiên để có thể nghe được người khác. Nếu lắng nghe mình, ta sẽ thấy rằng không có một tiếng nói đơn độc nào, không có một cái ta riêng biệt nào. Đây là một tuệ giác có được nhờ sự thực tập chánh niệm. Chúng ta khám phá ra mối liên hệ thâm sâu giữa ta và những người đi trước. Nhờ họ mà ta có thể biểu hiện. Chúng ta là một cộng đồng tế bào, tất cả tổ tiên ta đều có mặt trong ta. Chỉ cần lắng tai nghe là ta có thể nghe được tiếng nói của họ.

Đừng kẹt vào ngôn từ

Nếu mỗi ngày ta thực tập im lặng một ít, cho dù chỉ vài phút thôi, ta sẽ ít bị kẹt vào ngôn từ hơn. Thực tập Im Lặng Hùng Tráng nhuần nhuyễn ta sẽ tự do như một con chim, tiếp xúc được với những tinh hoa của sự sống.

Ngài Vô Ngôn Thông, một trong những người sáng lập ra thiền phái Phật giáo ở Việt Nam, có viết: “Đừng hỏi tôi thêm một điều gì nữa. Bản chất của tôi là vô ngôn.” Muốn thực tập nói lời chánh niệm ta phải có khả năng thực tập im lặng. Rồi ta có thể kiểm nghiệm kỹ càng những cái thấy của ta và những nội kết ảnh hưởng đến lối suy nghĩ của ta. Im lặng là nền tảng tốt nhất để nhìn sâu. Khổng Tử có nói: “Thượng đế không nói gì cả.” Tuy nhiên, thượng đế nói với ta rất nhiều nếu ta biết lắng nghe.

Nếu ta lắng nghe bằng tâm tĩnh lặng, thì mỗi tiếng chim, mỗi tiếng gió thủ thỉ qua cành thông sẽ nói chuyện với ta.

Tất cả chúng ta ai cũng muốn truyền thông với người thương của mình, và có rất nhiều cách truyền thông mà không cần lời nói. Một khi dùng ngôn từ, ta có khuynh hướng biến chúng thành nhãn hiệu mà ta cho là sự thật, là chân lý. Chẳng hạn như những từ “công việc lặt vặt”, “con cái”, “đàn ông”, “đàn bà” mang đến trong tâm thức ta những hình ảnh, những nhận thức nào đó, có thể khó để thấy được một bức tranh tổng thể vượt ngoài sự xây dựng của tâm thức. Nếu thật sự muốn truyền thông với người thương, ta cần ý thức đến những cách vô ngôn, không cần lời nói mà vẫn truyền thông được, dù bằng ý thức hay vô thức.

Thanh lọc tâm ý

Nhiều nền văn hóa thực tập thanh lọc cơ thể (bằng cách nhịn ăn) trong các ngày lễ tôn giáo, những buổi lễ nhập môn, những buổi lễ khai mạc, hay vì những lý do khác. Có những người thanh lọc vì lý do sức khỏe. Điều này không những có giá trị cho thân thể mà còn có giá trị cho tâm thức. Mỗi ngày chúng ta tiếp nhận vào rất nhiều thứ như ngôn từ, hình ảnh, âm thanh… nên chúng ta cần một ít thời gian dừng lại để tiêu thụ những thứ ấy, để cho tâm thức ta được nghỉ ngơi. Một ngày mà không có Xúc Thực (thức ăn ta đưa vào cơ thể qua đường mắt, tai, mũi, thân và ý) như email, video, sách báo, chuyện trò là một cơ hội cho ta thanh lọc tâm ý, buông bỏ những sợ hãi, lo lắng, khổ đau đã đi vào tâm thức ta và tích lũy ở đó.

Cho dù ta không nghĩ là ta có thể sống một ngày mà không có những phương tiện truyền thông công cộng, ta cũng có thể nghỉ ngơi đôi chút, sử dụng một âm thanh nào đó để dừng lại nếu ta muốn. Ngày nay, hầu hết mọi người không thể sống thiếu âm thanh. Bất cứ lúc nào ở một mình (đi bộ trên đường phố, lái xe, ngồi trên xe buýt hay trên tàu, mở cửa đi ra ngoài…) hay thậm chí ngồi chơi với đồng nghiệp, với người thương ngay trước mặt ta, ta vẫn cố nhét vào tâm thức một cái gì đó. Nếu ta quyết định chỉ làm một lúc một việc trong sự im lặng đích thực, dù là đang lái xe, đang chuẩn bị đồ ăn sáng, đang đi quanh xóm… chúng ta sẽ hiến tặng cho mình một cơ hội nghỉ ngơi, không để cho những dòng kích thích liên tục xâm chiếm tâm thức ta. Tôi biết có một người, mỗi khi đi siêu thị, nghe nhạc trong đó làm cho cô ta rất buồn. Những bài hát ấy gợi cho cô nhớ lại giai đoạn khó khăn trong đời cô, cô thấy tâm mình hướng về những ký ức ấy mà không tập trung vào việc đi chợ. Khi nhận ra được điều này, cô rất ý thức và quyết định rất sáng suốt là cô phải chăm sóc tâm thức mình. Bây giờ, mỗi khi đi siêu thị, cô ta đóng tai lại để không bị tán tâm hay trầm cảm bởi những bài hát đó.

Thực ra, ta không cần phải đóng tai lại để thanh lọc âm thanh. Mỗi ngày chúng ta chỉ cần dành vài phút cho sự vắng lặng. Không có ngôn ngữ nào từ bên ngoài đi vào, hay không có ngôn ngữ nào đang cuồn cuộn từ trong tâm thức đi lên, thì chúng ta sẽ có cơ hội để thực sự lắng nghe chính mình. Đây là một món quà quý giá, sâu sắc mà ta có thể hiến tặng cho chính mình và cho người khác, vì nó sẽ giúp ta lắng nghe người khác trọn vẹn hơn.

Thực tập: Bốn câu thần chú

Bốn câu thần chú là pháp môn thực tập mà bất kỳ ai cũng có thể làm được kể cả trẻ em. Những câu thần chú giúp ta làm lớn mạnh khả năng lắng nghe sâu và khả năng có mặt trong mối quan hệ giữa mình và người mình thương. Thần chú là một công thức thần diệu có thể chuyển hóa tình trạng ngay lập tức mà không cần phải đợi thêm một giây phút nào cả. Điều kiện làm cho sự thực tập này có hiệu quả tốt là chánh niệm và chánh định. Không có hai yếu tố này thì thần chú sẽ không linh ứng, sẽ không có hiệu quả.

Để thực tập những câu thần chú này, điều quan trọng là ta phải làm lắng dịu những suy nghĩ cho tâm tư định tĩnh và tạo không gian thoáng rộng trong lòng. Nếu không thì ta không thật sự có mặt cho người khác. Duy trì sự định tĩnh và không gian ngay cả khi người khác trả lời mình. Đặc biệt là khi thực tập câu thần chú thứ ba và thứ tư, nếu người kia muốn nói điều gì thì phải đảm bảo là ta đang theo dõi hơi thở, đang lắng nghe một cách trầm tĩnh và kiên nhẫn mà không phán xét, không phản ứng. Khi thực hiện câu thần chú thứ tư, ta sử dụng sự trầm tĩnh bên trong cùng với những lời nói đã được chọn lựa kỹ càng để mang lại sự trị liệu, hòa giải và cảm thông. Ta tạo không gian bên trong cho chính ta và hiến tặng không gian cho người khác.

Câu thần chú thứ nhất là: “Mẹ ơi, con đang có mặt cho mẹ đây.” (Hoặc là: “Em ơi, anh đang có mặt cho em đây”.) Khi thương ai, ta muốn hiến tặng những gì đẹp nhất của ta cho người đó, đó là sự có mặt đích thực của ta. Ta chỉ có thể thương yêu khi nào ta có mặt thật sự. Chỉ nói lên thôi thì không có kết quả. Chúng ta phải thực tập có mặt cho chính ta và cho người ta thương bằng hơi thở chánh niệm, bằng bước chân thiền hành hay bất kỳ pháp môn thực tập nào giúp ta có mặt như một người tự do. Trước hết, hãy sử dụng câu thần chú này với chính bản thân mình. Trở về với chính mình, chế tác năng lượng trầm tĩnh và tạo không gian trong lòng cho phép ta thật sự có mặt cho người kia và nói lên câu thần chú một cách thành thật.

Câu thần chú thứ hai là: “Mẹ ơi, con biết mẹ có đó nên con rất hạnh phúc.” (Hoặc là: “Em ơi, anh biết em có đó nên anh rất hạnh phúc.”) Thương nghĩa là công nhận sự có mặt của người ta thương. Câu thần chú này chỉ có thể thực hiện được khi ta đã thực tập câu thần chú thứ nhất. Chỉ khi nào ta có mặt 100%, ta mới có thể nhận diện sự có mặt của người kia một cách trọn vẹn và người kia mới cảm được tình thương chân thật mà ta dành cho họ.

Nếu có mặt thật sự và có chánh niệm, ta sẽ có khả năng thấy được khi nào người thương của ta đau khổ. Lúc đó ta thực tập có mặt sâu sắc và trọn vẹn. Rồi đến bên người đó và đọc lên câu thần chú thứ ba: “Mẹ ơi, con biết mẹ đang khổ đau nên con có mặt đây cho mẹ.” Hoặc là: “Em ơi, anh biết là em đang khổ đau nên anh có mặt cho em đây.” Khi khổ đau, người ta muốn người mình thương biết là mình đang khổ đau. Điều này rất con người và rất tự nhiên. Nếu người ta thương không ý thức, hoặc không biết là ta đang đau khổ, thì ta lại càng khổ hơn. Vì vậy, sử dụng câu thần chú này để nâng cao ý thức của mình. Và khi người kia nhận ra là ta biết được họ đang khổ đau thì nỗi khổ của họ sẽ vơi đi rất nhiều. Cho dù ta chưa làm gì cả mà người kia cũng bớt khổ đi rồi.

Câu thần chú thứ tư, có lẽ ta sẽ không sử dụng thường xuyên, nhưng sẽ rất mạnh khi ta cần dùng nó. Ta thực tập câu thần chú thứ tư này khi chính ta khổ đau, đặc biệt là khi ta tin rằng nỗi khổ của ta do người kia gây nên. Khi người kia chính là người ta thương yêu nhất thì ta càng khổ đau hơn. Vì vậy, ta đến bên người ấy, thiết lập Chánh Niệm, Chánh Định trước mặt mình và phát ra câu thần chú thứ tư: “Mẹ ơi, con đang khổ. Mẹ giúp con đi.” (Hoặc là: “Em ơi, anh đang khổ. Em giúp anh đi.”) Điều này hơi khó nhưng ta có thể làm được. Chỉ cần một ít luyện tập thôi. Khi khổ đau, ta có khuynh hướng muốn ở một mình. Cho dù người kia cố gắng muốn đến gần ta, muốn hòa giải với ta, ta cũng không muốn buông bỏ cái giận. Điều này cũng rất bình thường và rất con người. Nhưng khi thương nhau, chúng ta rất cần nhau, đặc biệt là khi ta khổ đau. Ta tin rằng, nỗi khổ của ta do người kia gây nên. Nhưng ta có thật sự chắc không? Có thể là ta đã sai. Có thể người kia không có ý muốn làm ta khổ. Có thể do ta hiểu lầm và có tri giác sai lầm.

Đừng vội vàng phát ra câu thần chú này. Khi thấy trong lòng đã sẵn sàng rồi, ta hãy đến bên người kia, thở vào thở ra thật sâu, trở về với chính mình và có mặt 100%. Sau đó, hãy nói lên câu thần chú với tất cả trái tim mình. Có thể ta không muốn thực tập điều này. Có thể ta muốn nói là ta không cần người kia. Lòng tự ái và tự trọng của ta đã bị tổn thương. Nhưng đừng để tự ái xuất hiện giữa mình và người mình thương. Trong tình thương chân thật không có chỗ cho sự tự ái. Nếu tự ái vẫn còn đó thì ta biết rằng ta cần phải thực tập để chuyển hóa tình thương của ta thành tình thương chân thật. Thực tập đi thiền, ngồi thiền, thở chánh niệm đều đặn để phục hồi lại sự tươi mát của thân tâm cũng giúp ta rèn luyện chính mình, chuẩn bị cho lần sau, khi có khổ đau, ta có thể sử dụng câu thần chú thứ tư này.

 

 

 

Chương 3: Im lặng sấm sét

 

Căn bệnh chung của con người trong thời đại chúng ta là nhu cầu luôn tìm kiếm cái gì đó để khỏa lấp khoảng trống trong mình. Do đó, ở chợ hay siêu thị, người ta sẵn sàng bán cho chúng ta tất cả các loại sản phẩm để chúng ta lấp đầy chính mình. Các nhà quảng cáo không ngừng dọa dẫm rằng đời sống thật thê thảm nếu ta không có vật dụng này hay vật dụng kia, và dụ dỗ ta tiêu thụ để tránh đi tình trạng thê thảm đó. Tuy nhiên, trong nhiều thứ mà ta tiêu thụ, kể cả thức ăn Đoàn Thực và Xúc Thực, đều chứa đựng nhiều độc tố trong đó. Sau khi ăn một gói khoai tây chiên, ta cảm giác nặng nề hơn. Sau khi ngồi hàng giờ trên những trang web truyền thông xã hội hoặc chơi những trò chơi điện tử, ta thấy mệt mỏi hơn. Ta tiêu thụ để cố ngăn chặn hoặc khỏa lấp những cảm thọ khó chịu trong ta, nhưng sau đó, ta lại càng cô đơn, giận dữ và tuyệt vọng hơn.

Chúng ta phải ngưng tiêu thụ những thức ăn Xúc Thức có tác dụng đối phó với sự thúc bách mà trốn tránh chính mình. Điều đó không có nghĩa là chúng ta bắt buộc phải ngưng sử dụng điện thoại và Internet hoàn toàn. Giống như thức ăn Đoàn Thực, chúng ta cũng cần những thức ăn Xúc Thức. Nhưng chúng ta có thể ý thức và thông minh hơn nhiều khi chọn lựa loại thức ăn Xúc Thức mà chúng ta sẽ cho vào, đặc biệt là chúng ta phải ý thức tại sao lúc này ta chọn lựa thức ăn này để tiêu thụ.

Có nhiều người kiểm tra email một ngày không biết mấy lần để tìm kiếm một cái gì đó mới mẻ, cho dù hầu như lần nào mở email ra, họ cũng chẳng thấy gì mới cả. Cách đảm bảo nhất để hiến tặng cho mình điều mới mẻ thực sự, như cảm giác tươi tắn, hạnh phúc, thoải mái, dễ chịu, đó là mở ra không gian trong lòng cho sự thực tập chánh niệm.

Buông xả

Nhiều thiền sư đã nói rằng không suy nghĩ là chìa khóa để thực tập thiền chánh niệm. Thiền tập không có nghĩa là ngồi yên và suy nghĩ. Khi bị những suy nghĩ dẫn dắt, chúng ta sẽ mất liên lạc với thân thể và mất liên lạc với ý thức rộng lớn hơn. Loài người chúng ta nắm giữ rất chắc những ý nghĩ, quan niệm và những cảm xúc của mình. Chúng ta tin rằng những điều đó là thật và buông bỏ chúng nghĩa là từ bỏ tính cách của mình.

Như hầu hết mọi người, có thể chúng ta có một ý niệm là chúng ta sẽ không thể hạnh phúc nếu không đạt được cái này hay cái kia. Cái đó có thể là bằng cấp, sự thăng tiến trong nghề nghiệp, mức thu nhập cao, hoặc địa vị xã hội. Tuy nhiên, ý niệm đó có thể là chướng ngại ngăn cản ta hạnh phúc. Để buông bỏ ý niệm đó và tạo ra nhiều không gian hơn cho hạnh phúc chân thực biểu hiện, đầu tiên, chúng ta phải trải nghiệm một sự thật là việc nuôi dưỡng cái ý tưởng hiện thời đó đang làm ta đau khổ. Chúng ta có thể ấp ủ cái ý tưởng đó trong 10 hoặc 20 năm mà không hề biết rằng nó đang gây trở ngại cho khả năng hạnh phúc của chúng ta.

Có một đêm tôi nằm mơ thấy mình là một sinh viên đại học, khoảng chừng 21 tuổi. Lúc đó, tôi khoảng sáu mươi mấy tuổi rồi, nhưng trong giấc mơ tôi còn khá trẻ. Tôi vừa mới được nhận vào một lớp do một vị giáo sư rất nổi tiếng giảng dạy, giáo sư được nhiều người yêu thích nhất trong trường đại học. Rất vui sướng được làm học trò của vị giáo sư này, tôi đi đến văn phòng và hỏi thăm lớp của giáo sư ở đâu. Khi tôi đang hỏi thì có một người trông giống hệt tôi cũng đi vào văn phòng. Màu áo quần của anh ta, khuôn mặt anh ta, tất cả mọi thứ đều giống y tôi. Tôi rất ngạc nhiên. Anh ta là tôi hay anh ta không phải là tôi? Tôi hỏi nhân viên làm việc trong văn phòng là có phải anh bạn trẻ đó cũng được nhận vào lớp này hay không? Cô ta trả lời: “Không, làm sao được. Anh thì được còn anh ấy thì không.”

Lớp học nằm ở tầng trên cùng của tòa nhà, và giờ học bắt đầu vào buổi sáng hôm ấy. Tôi phải đi thật nhanh để đến đúng giờ, đang lên cầu thang, tôi tự hỏi thành tiếng: “Lớp này học gì nhỉ?” Có ai đó cạnh bên trả lời cho tôi đó là lớp học âm nhạc. Tôi rất ngạc nhiên, bởi vì tôi hoàn toàn không phải là sinh viên âm nhạc.

Khi đi đến cửa phòng học, tôi nhìn vào và thấy có hơn một ngàn sinh viên đang ngồi trong lớp, như một hội chúng thật sự. Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy bên ngoài một khung cảnh tuyệt đẹp, một đỉnh núi bao phủ bởi tuyết trắng, có cả trăng và những vì sao. Tôi cảm động sâu sắc trước vẻ đẹp ấy. Nhưng rồi, ngay trước khi vị giáo sư bước vào, tôi được cho biết là chúng tôi phải làm một buổi thuyết trình về âm nhạc và tôi là người trình bày đầu tiên. Tôi cảm thấy choáng váng vì tôi không biết một chút gì về âm nhạc cả.

Tôi lục tìm trong túi áo của mình xem thử có cái gì giúp tôi không thì tôi thấy có một thứ bằng kim loại. Tôi lấy ra. Đó chính là một cái chuông nhỏ. Tôi tự nhủ: “Đây là một dụng cụ âm nhạc. Tôi có thể trình bày về cái chuông này. Được, tôi có thể làm việc đó.” Tôi chuẩn bị sẵn sàng, nhưng ngay khi có người thông báo vị giáo sư đang vào lớp thì tôi tỉnh dậy. Tôi tiếc vô cùng. Nếu giấc mơ có thể kéo dài thêm hai hay ba phút nữa thì tôi đã có thể gặp được ông ấy, vị giáo sư xuất chúng mà ai cũng ngưỡng mộ.

Sau khi tỉnh dậy, tôi cố nhớ lại những chi tiết của giấc mơ và tìm hiểu ý nghĩa của nó. Tôi đi đến một kết luận rằng anh bạn trẻ mà tôi đã gặp trong văn phòng cũng chính là tôi, nhưng có thể anh ta còn bị kẹt vào những cái thấy nào đó, cho nên anh ta không có đủ thảnh thơi và tự do để được chấp nhận. Anh ta có thể là một phần nào đó trước đây của tôi mà tôi đã để lại đằng sau, vì tôi đã đạt được tuệ giác giúp tôi buông bỏ được những vướng mắc và cố chấp về quan điểm của mình.

Buông bỏ phải là buông bỏ cái gì đó. Điều mà chúng ta đang nắm giữ có thể đơn giản chỉ là một sáng tạo phẩm của tâm thức ta, một tri giác sai lầm về một cái gì đó chứ không phải là thực tại chính nó. Mọi thứ đều là đối tượng của tâm thức ta và được tô vẽ nên bởi tri giác của ta. Ta có một ý niệm và trước khi thực hiện thì ta đã bị kẹt vào ý niệm đó. Ta có thể trở nên sợ hãi vì cái ý niệm mà ta đang tin theo. Thậm chí, ta còn có thể bệnh vì cái ý niệm đó. Có thể cái ý niệm đó mang đến cho ta nhiều điều bất hạnh, lo lắng và ta muốn được tự do. Nhưng nếu muốn tự do thôi thì chưa đủ. Ta phải cho mình có đủ không gian và tĩnh lặng để được tự do.

Thỉnh thoảng, chúng ta cần dành ra một chút thời gian để nhìn sâu vào một ý niệm hay một cảm xúc và khám phá cho ra gốc rễ của nó. Cuối cùng, ta biết nó từ đâu đến, có thể nó được hình thành từ thời thơ ấu của ta, hoặc thậm chí trước khi chúng ta sinh ra. Một khi nhận ra được gốc rễ của một cảm xúc hay một ý niệm, chúng ta sẽ có khả năng buông bỏ nó.

Bước đầu tiên là dừng suy nghĩ. Chúng ta cần quay về với hơi thở và an tịnh thân tâm. Điều này sẽ mang lại cho ta nhiều không gian và giúp ta sáng suốt hơn để ta có thể nhận diện và gọi tên cái ý niệm, ham muốn hay cảm xúc đang quấy rầy ta. Hãy chào hỏi nó và cho phép mình buông bỏ.

Tìm ra câu trả lời mà không suy nghĩ

Không phải là chúng ta không bao giờ được quyền suy nghĩ. Mới đây, có một sư cô nói với tôi: “Con có rất nhiều khó khăn cần giải quyết, nếu Thầy nói con đừng suy nghĩ thì làm sao con có thể giải quyết được vấn đề?” Chỉ có suy nghĩ đúng (Chánh Tư Duy) mới giúp giải quyết được vấn đề, mới thực sự có ích lợi. Chánh tư duy sẽ mang lại những hoa trái tốt. Thông thường, khoảng 90% suy nghĩ của chúng ta không phải là Chánh Tư Duy. Những suy nghĩ đó chỉ dẫn chúng ta đi vòng quanh và cuối cùng không đi đến đâu cả. Càng suy nghĩ theo cách đó thì thân và tâm ta càng bị phân tán và bực dọc. Loại suy nghĩ như vậy sẽ không giải quyết được bất cứ vấn đề nào.

Chánh Tư Duy đòi hỏi phải có Niệm và Định. Giả sử có một vấn đề cần giải quyết, nếu chúng ta áp dụng cách suy nghĩ lòng vòng thì sẽ mất rất nhiều thời gian để tìm ra một giải pháp tốt.    Chúng ta phải cho ý thức nghỉ ngơi và để cho tàng thức tìm ra giải pháp. Chúng ta phải nhường quyền dẫn dắt của trí năng và cảm xúc, để giao phó những vấn đề khó khăn và thử thách cho tàng thức. Cũng như khi gieo hạt, chúng ta phải gởi chúng cho đất trời. Ý thức của chúng ta – cái tâm suy nghĩ – không phải là đất, nó chỉ là bàn tay gieo hạt và nuôi dưỡng đất bằng sự thực tập chánh niệm về những gì mà chúng ta đang làm trong đời sống hàng ngày. Tàng thức của chúng ta mới chính là mảnh đất màu mỡ giúp cho hạt giống nảy mầm.

Sau khi đã gởi hạt giống cho mảnh đất tàng thức, chúng ta cần kiên nhẫn. Trong khi chúng ta ngủ, tàng thức của chúng ta vẫn tiếp tục làm việc. Trong khi đi, khi thở, nếu chúng ta không để cho những suy nghĩ của ta xen vào thì tàng thức của chúng ta vẫn luôn làm việc. Vào một ngày nào đó, chúng ta sẽ bất ngờ có được giải pháp, bởi vì chúng ta không dựa vào cái tâm suy nghĩ mà nương tựa vào tàng thức.

Chúng ta cần tập luyện cho mình theo cách thiền tập này, như vậy chúng ta có thể giao phó những câu hỏi, những khó khăn của ta cho tàng thức. Chúng ta phải tin tưởng tàng thức, sử dụng Niệm, Định để tưới tẩm những hạt giống tốt và chăm sóc cho mảnh đất của chúng ta. Một hoặc vài ngày sau, giải pháp sẽ xuất hiện, ta gọi đó là giây phút thức tỉnh hay giây phút giác ngộ.

Tinh yếu của tĩnh lặng

Buông bỏ những ý niệm, nhận thức là chúng ta tạo ra thêm không gian cho tâm mình. Cái tâm thực sự của ta thì vắng bặt tất cả những ngôn từ, ý niệm và nó rộng lớn hơn rất nhiều so với những sáng tạo phẩm hạn hẹp của tâm. Chỉ khi nào mặt đại dương yên tĩnh, chúng ta mới có thể thấy được mặt trăng phản chiếu lên đó.

Yên lặng là một điều tối hậu đến từ trái tim chứ không phải từ bất cứ điều kiện bên ngoài nào. Sống trong sự yên tĩnh không có nghĩa là không nói chuyện, không làm việc, không tham dự vào gì cả. Đơn giản là chúng ta không bị xáo động bên trong; không có những cuộc chuyện trò huyên thuyên không dứt bên trong. Nếu thực sự im lặng, chúng ta có thể tìm thấy chính mình trong bất kỳ hoàn cảnh nào, chúng ta có thể thưởng thức cái không gian rộng lớn êm dịu của sự tĩnh lặng.

Có những lúc chúng ta nghĩ rằng mình đang yên lặng vì không có một âm thanh, tiếng động nào xung quanh phát ra, nhưng kỳ thực, những cuộc nói chuyện vẫn luôn tiếp diễn trong đầu ta, trừ khi chúng ta làm yên lắng được tâm mình. Đó không phải là yên lặng thật sự. Do đó, chúng ta cần học cách làm sao có được sự yên lặng trong những hoạt động thường ngày. Hãy thử thay đổi cách suy nghĩ và cách nhìn của ta.

Ngồi ăn trưa có thể là một thời gian thích hợp để tự hiến tặng cho mình một sự yên tĩnh dễ chịu. Cho dù những người khác đang nói chuyện, ta vẫn có thể thoát khỏi sự suy nghĩ thường lệ và rất yên tĩnh trong lòng. Ta có thể ngồi ở một nơi đông đúc mà vẫn thưởng thức được sự yên tĩnh, thậm chí ta có thể sống một mình được.

Hãy nhận ra rằng yên tĩnh đến từ trái tim ta chứ không phải do vắng mặt những cuộc chuyện trò.

Cũng giống như sự yên tĩnh bên trong không đòi hỏi sự im lặng bên ngoài, một mình tĩnh cư không có nghĩa là không có ai xung quanh ta. Ta nhận ra được ý nghĩa sâu sắc của sự có mặt một mình khi ta có thể an trú vững chãi trong cái bây giờ và ở đây, ý thức được về những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Sử dụng chánh niệm để ý thức về mỗi cảm thọ, tri giác mà ta đang có. Ý thức về những gì đang xảy ra chung quanh ta nhưng ta cũng có mặt trọn vẹn cho chính mình. Ta không đánh mất mình vì những điều kiện xung quanh. Đó mới thực sự là tĩnh cư.

Im lặng an vui và im lặng ngột ngạt

Đôi khi nghĩ về im lặng, chúng ta nghĩ đến sự hạn chế, ép buộc, như có một kẻ độc tài cắt đứt mọi quyền tự do ngôn luận hoặc một người lớn đang thuyết giảng rằng “trẻ con thì phải lắng nghe chứ không được nói,” hoặc một thành viên trong gia đình đang ngăn cấm những người khác nói về một chủ đề nhạy cảm. Sự im lặng này thật ngột ngạt và chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn.

Một số người trong chúng ta đã có kinh nghiệm về kiểu im lặng căng thẳng này trong chính gia đình mình. Khi cha mẹ tranh cãi với nhau thì thường kéo theo sau đó là một sự im lặng nặng nề và cả nhà ai cũng khổ đau. Nếu mọi người đều giận dữ và lo âu thì im lặng có thể làm cho sự lo âu và giận dữ của cả nhà lớn mạnh hơn. Sự im lặng sôi sục và căng thẳng đó rất tiêu cực. Chúng ta không thể chịu đựng loại im lặng đó lâu được. Nó sẽ giết chết chúng ta. Nhưng sự im lặng tình nguyện thì hoàn toàn khác hẳn. Khi chúng ta biết cách ngồi lại với nhau, thở với nhau, liên hệ với không gian rộng lớn luôn sẵn có trong mỗi chúng ta, chế tác ra năng lượng bình an, thư giãn và tươi vui, thì năng lượng chung của sự im lặng đó có công năng trị liệu và nuôi dưỡng rất lớn.

Giả sử ta đang ngồi ngoài trời và chú tâm vào ánh nắng, vào những cây xinh đẹp, vào thảm cỏ xanh, vào những bông hoa nhỏ đang hé nở khắp nơi. Nếu đang thư giãn trên thảm cỏ và thở vào thở ra nhẹ nhàng, ta có thể nghe thấy tiếng chim, tiếng gió đang rì rào, vi vút qua những cành cây. Ngay cả sống trong thành phố, ta cũng có thể nghe được tiếng chim và tiếng gió. Nếu biết cách làm lắng lại những ý nghĩ đang sôi sục, ta không cần phải tìm đến sự tiêu thụ thiếu chánh niệm để cố gắng chạy trốn những cảm xúc khó chịu. Ta có thể chỉ lắng nghe một âm thanh sâu sắc và thưởng thức âm thanh đó. Ta sẽ có bình an cùng niềm vui trong sự lắng nghe đó và sự im lặng của ta là một sự im lặng đầy sức mạnh. Im lặng như vậy không phải là im lặng kiềm nén mà là im lặng đầy sức sống và có tính xây dựng.

Trong đạo Bụt, chúng ta gọi đó là Im Lặng Sấm Sét. Sự im lặng đó rất hùng hồn và đầy năng lượng. Thông thường chúng tôi có những khóa tu, trong đó cả ngàn người cùng thực tập hơi thở chánh niệm trong im lặng. Nếu bạn tham dự vào một trong những khóa tu như vậy, bạn sẽ hiểu được im lặng hùng mạnh như thế nào.

Bạn có từng để ý là trẻ con, dù là những em rất nhỏ, cũng có thể thưởng thức sự im lặng nhiều thế nào chưa? Có một cái gì đó rất thư giãn. Ở Làng Mai, trẻ con ở đủ mọi độ tuổi có thể ngồi ăn với nhau và đi với nhau trong im lặng với một niềm thích thú tuyệt vời. Trong các khóa tu, chúng tôi không xem ti vi và chơi trò chơi điện tử. Có một cậu bé, lần đầu tiên đến Làng, đấm đá và la hét trên suốt đoạn đường đến Làng. Cậu bé năm đó 8 tuổi, đi xe cùng cha mẹ từ Paris xuống. Đến Làng cậu bé không muốn ra khỏi xe vì cậu biết cậu sẽ không được xem ti vi và chơi trò chơi điện tử trong một tuần. Tuy nhiên, sau đó, cậu bé đã sống rất vui, có nhiều bạn bè, và vào ngày cuối, cậu không muốn rời Làng nữa. Bây giờ, cậu bé và cha mẹ về Làng mỗi năm và cậu bé rất trông chờ dịp đó. Hiện nay cậu đã được 16 tuổi.

Im Lặng Hùng Tráng

Im lặng có ý thức và có chủ ý là một sự im lặng cao đẹp. Đôi khi người ta nghĩ rằng im lặng là phải nghiêm trang, thực ra im Lặng Hùng Tráng rất nhẹ nhàng. Im Lặng Hùng Tráng là một loại im lặng có thể mang đến nhiều niềm vui như một nụ cười sảng khoái vậy.

Im Lặng Hùng Tráng cho chúng ta cơ hội nhận diện những tập khí của chúng ta qua cách chúng ta phản ứng với mọi người và với những tình huống chung quanh. Có những người ở đây chọn thực tập im lặng trong một hoặc hai tuần, thậm chí ba tháng hoặc hơn nữa. Sau một khoảng thời gian im lặng, chúng ta có khả năng chuyển hóa cách phản ứng của chúng ta với bất kỳ tình huống nào. Sự im lặng này được gọi là Hùng Tráng bởi vì nó có sức mạnh chữa trị. Thực tập Im Lặng Hùng Tráng, không phải là ta không nói mà là làm yên tĩnh và lắng dịu lại những suy nghĩ. Ta đang tắt đài phát thanh NST (Non Stop Thinking, suy nghĩ liên tục) trong đầu.

Ta có thể nhận ra được sự Im Lặng Hùng Tráng của ai đó qua cách hành xử của họ. Có một số người luôn luôn im lặng, nhưng không thực sự im lặng. Họ đang ở đâu đó, họ không thực sự có mặt cho sự sống, cho chính họ hoặc cho bạn. Một số người khác bày tỏ thái độ hùng hồn, cho dù họ không mở miệng. Có thể bạn đã từng có kinh nghiệm ở bên cạnh một người dù họ không nói bất cứ điều gì, nhưng bạn vẫn có cảm giác rất rõ ràng là người đó đang phê bình, chỉ trích bạn. Đó không phải là Im Lặng Hùng Tráng, bởi vì Im Lặng Hùng Tráng sẽ làm lớn mạnh thêm hiểu biết và từ bi. Vì vậy, phải ý thức rằng cho dù bạn không nói bất cứ điều gì thành lời, nhưng nếu trong lòng bạn đang phản ứng một cách mạnh mẽ thì người khác nhìn vào gương mặt bạn sẽ có thể thấy được.

Thở chánh niệm và ý thức về cách ứng xử của mình với mọi người và những sự việc chung quanh là một sự thực tập sâu sắc. Thay vì phản ứng lại, hay suy nghĩ, bạn hãy cho phép mình là mình. Bạn thực tập chánh niệm để có mặt với hơi thở, bước chân, với những cội cây, bông hoa, trời xanh và nắng ấm.

Bạn có thể chọn một cái gì đó để tập trung tâm ý vào, và rồi, bạn sẽ “là” cái đó. Bạn có thể chọn hơi thở vào và hơi thở ra. Bạn có thể chọn cách lắng nghe tiếng mưa và tiếng gió với toàn bộ con người mình, rồi từ từ, bạn là một với tiếng mưa và tiếng gió ấy. Lắng nghe những âm thanh như vậy là một điều rất vui thích. Khi bạn tiếp xúc được với những yếu tố tươi mát và trị liệu này, thì bạn hiện hữu mà không suy nghĩ.

Thực tập cách này thì khi đi ra ngoài hay ở đâu đó, mà nghe tiếng còi xe hoặc tiếng người ta cãi nhau, hoặc nhìn thấy một cảnh không vui thích, bạn đều có thể ứng xử lại với lòng từ bi. Đối diện với bất kỳ khiêu khích nào, bạn đều có thể giữ được sự Im Lặng Hùng Tráng, duy trì được sự tự chủ và bình an.

Hành động im lặng

Một số người có thể nghĩ rằng im lặng là một hình thức của sự yếu đuối hoặc ẩn tránh thế gian. Thế nhưng, sự thật là có một sức mạnh không tưởng trong sự im lặng này. Có một chương trong bộ kinh Pháp Hoa nổi tiếng kể về một vị Bồ tát, một bậc đại nhân với lòng từ bi lớn, tên là Dược Vương. Trong đạo Bụt Đại Thừa, mỗi vị Bồ tát được mô tả như một cánh tay khác nhau của Bụt, và mỗi vị Bồ tát đại diện cho mỗi công hạnh khác nhau. Tương truyền trong một kiếp xa xưa, Bồ tát Dược Vương được gọi là “vị Bồ tát mà ai gặp cũng thấy hoan hỷ.” Thỉnh thoảng, chúng ta cũng gặp những người như vậy, người mà ai gặp được cũng thấy hoan hỷ.

Cho dù người đó là trẻ em hay người lớn, sự hiện diện tuyệt vời, tươi mát và thú vị của họ làm cho ai cũng hạnh phúc khi gặp. Bồ tát Dược Vương thực tập hạnh thương yêu và dâng hiến. Chúng ta có cần thương yêu để thành công trong sự nghiệp giải thoát, giác ngộ không? Câu trả lời là có. Vai trò của tình thương yêu đối với sự trưởng thành của một em bé rất quan trọng. Và vai trò của tình thương yêu trong sự lớn lên của hiểu biết, cảm thông cũng rất quan trọng. Sự có mặt đầy thương yêu của người mẹ là điều cốt yếu cho sự trưởng thành của em bé. Sự có mặt đầy thương yêu của một vị thầy và những người huynh đệ là rất quan trọng cho sự phát triển của chúng ta trong sự thực tập. Chúng ta cần thương yêu để lớn lên và đi đường xa.

Bồ tát Dược Vương đã trưởng thành tốt đẹp trong đời sống tâm linh của Ngài, đã đạt được giải thoát, tự do và tuệ giác. Ngài không còn thấy mình bị giới hạn trong hình hài này nữa. Ngài đã đạt được Định, cho phép Ngài hóa thân dưới muôn vàn hình thức khác nhau. Nếu cần làm một đứa trẻ, Ngài sẽ hóa thân làm một đứa trẻ. Nếu cần làm một phụ nữ, Ngài sẽ hiện thân là một phụ nữ. Nếu cần làm một thương gia, Ngài có thể biểu hiện thành một thương gia. Ngài không bị kẹt trong ý niệm hình hài này là Ngài. Đó là lý do tại sao Ngài buông bỏ được hình hài một cách rất dễ dàng. Bồ tát Dược Vương thấy rằng xung quanh Ngài đang có rất nhiều khổ đau, nghèo đói và độc ác. Ngài đã tẩm nước thơm lên khắp người, tự châm lửa và đốt cháy mình thành một ngọn lửa để cúng dường. Thân thể của Bồ tát Dược Vương đã cháy suốt hàng triệu năm và trong suốt thời gian đó, nền giáo dục diễn ra. Thân thể cháy sáng của Bồ tát là một lời nhắc nhở im lặng hùng hồn, cho tất cả những ai đã nhìn thấy Về những gì mà Bồ tát muốn hy sinh.

Có lẽ chúng ta đã từng nghe về những vị tu sĩ Việt Nam tự thiêu trong thời kỳ chiến tranh những năm 1960. Gốc rễ hành động đó xuất phát từ chương kinh Pháp Hoa này. Những ai không xem thân thể này là mình, đôi khi họ dùng thân thể họ để gởi gắm một thông điệp. Khi những tu sĩ Việt Nam tự thiêu, họ đang cố gắng gửi đi một thông điệp im lặng, hùng hồn nhất mà họ có thể làm, bởi vì đã không có ai lắng nghe tiếng kêu cứu của những người đang đau khổ. Những vị tu sĩ này đã cố gắng lên tiếng, bằng hành động hơn là lời nói, về sự đàn áp, kỳ thị và khổ đau ở Việt Nam. Họ dùng chính thân thể họ làm ngọn đuốc để cố gắng kêu gọi sự ý thức về tình trạng đau khổ này.

Nếu chúng ta không có tự do, nếu chúng ta xem thân thể này là mình, nếu chúng ta nghĩ rằng khi thân thể này tàn hoại thì mình cũng không còn tồn tại nữa thì chúng ta sẽ không thể thực hiện được những hành động như vậy. Chỉ khi nào chúng ta có tự do và có thể nhìn thấy mình dưới nhiều hình thức khác, chứ không chỉ giới hạn trong thân thể này, thì chúng ta mới có đủ can đảm và tuệ giác để hiến tặng thân mình như một ngọn đuốc sống.

Vị tu sĩ đầu tiên tự thiêu vào năm 1963 là hòa thượng Thích Quảng Đức. Tôi đã có dịp biết thầy. Thầy là một người rất dễ thương. Khi còn là một tu sĩ trẻ, tôi đã ở tại chùa của thầy trong Sài Gòn. Vào thời đó, tôi là biên tập viên của một tạp chí Phật giáo và đang nghiên cứu về những truyền thống tâm linh khác. Chùa của thầy có một bộ sưu tập tất cả những tạp chí mà tôi cần sử dụng cho việc nghiên cứu.

Hòa thượng Thích Quảng Đức đã viết những lá thư đầy từ bi để thúc đẩy Tổng thống (miền Nam) Việt Nam ngừng việc ngược đãi Phật tử. Ngài là một phần tử trong phong trào bất bạo động mà các vị tu sĩ và cư sĩ tổ chức để đối phó với sự gia tăng đổ máu do chính quyền gây ra. Một ngày kia, hòa thượng Thích Quảng Đức tự mình lái chiếc xe hơi cũ đến một ngã tư Sài Gòn. Ngài bước xuống xe, tẩm xăng lên khắp người, ngồi xuống rất đẹp trong tư thế hoa sen rồi đánh một que diêm để châm vào người. 5 giờ đồng hồ sau, hình ảnh Ngài ngồi chìm trong ngọn lửa giữa ngã tư đường đã được đưa lên khắp thế giới, và người ta bắt đầu biết về những đau khổ của người dân Việt Nam. Một hoặc hai tháng sau, chính quyền sụp đổ bởi một đòn quân sự, kết thúc chính sách kỳ thị và đàn áp tôn giáo.

Tôi biết tin về cái chết của hòa thượng Thích Quảng Đức qua tờ báo New York Times. Khi đó, tôi đang dạy ở trường đại học Columbia, New York, về tâm lý học Phật giáo. Nhiều người đã đặt câu hỏi: “Đó có phải là một hành động phạm giới tự sát không?” Tôi đã viết cho ngài Martin Lutter King một lá thư chia sẻ rằng đây không thực sự là hành động tự sát. Khi bạn muốn tự sát, bạn sẽ rất tuyệt vọng, bạn không còn muốn sống nữa. Nhưng Ngài Thích Quảng Đức thì không phải như vậy. Ngài rất muốn sống. Ngài muốn những bạn bè và những người khác được sống. Ngài rất thương những loài hữu tình.

Thế nhưng, Ngài có đủ tự do để hiến tặng thân thể mình nhằm truyền đi một thông điệp: “Chúng tôi đang đau khổ và chúng tôi cần được giúp đỡ.” Với lòng từ bi bao la, Ngài đã có thể ngồi yên trong lửa, trong một trạng thái định toàn hảo. Tôi đã chia sẻ với tiến sỹ. King rằng khi đức Chúa chết trên cây thập giá, Ngài cũng đã lựa chọn để chết vì lợi ích của những người khác, vì mong muốn giúp đỡ chứ không phải vì tuyệt vọng. Đó đúng là những gì mà Ngài Thích Quảng Đức muốn làm. Ngài thực hiện hành động này không phải vì tuyệt vọng mà vì hy vọng và thương yêu; sử dụng thân thể mình để làm thay đổi một tình trạng tuyệt vọng.

Tự thiêu như vậy là một hành động hiến tặng. Những gì mà Ngài Thích Quảng Đức và Bồ tát Dược Vương muốn hiến tặng trong hành động tự thiêu không chỉ là thân thể, mà còn là quyết tâm mạnh mẽ giúp đỡ những người khác. Quyết tâm xuất chúng này là nền tảng của hành động gây chấn động, chuyển tải thành công một thông điệp không thể quên được và truyền trao tuệ giác của họ đi khắp nơi một cách kín đáo.

Tôi kể câu chuyện này không phải vì tôi nghĩ bạn nên làm một cái gì đó mạnh mẽ và quyết liệt như vậy, mà chỉ đơn giản là để minh họa cho sức mạnh của hành động im lặng. Tất cả chúng ta đều muốn thay đổi một số việc hay thuyết phục ai về một điều gì đó. Nếu bạn có một vài vấn đề nhỏ ở nơi làm việc hay trong một mối quan hệ mà bạn muốn thay đổi, và bạn đã cố gắng nói về nó nhưng không có kết quả, thì hãy xem thử có thể bạn tìm thấy sức mạnh trong hành động không lời.

Thực tập: Trị liệu

Nếu đời sống hàng ngày của ta đầy ắp tiếng ồn, vội vã, hoang mang thì chúng ta sẽ dễ dàng đánh mất ý thức về những yếu tố lành mạnh, nâng đỡ chung quanh như không khí tươi mát, ánh nắng mặt trời hoặc những loài cây cối.

Bài tập sau đây có thể được thực tập bất cứ ở đâu và bất cứ lúc nào. Ta chỉ cần có một nơi thoải mái để ngồi thở, thư giãn và mỉm cười. Một nụ cười nhẹ nhàng có thể làm buông thư tất cả những cơ mặt và đem đến sự dễ chịu cho thân tâm. Vì vậy, không chỉ nói “mỉm cười” mà hãy thực sự mỉm cười đi. Ta cũng có thể tự làm những bài thơ ngắn nuôi dưỡng mình.

Ta có thể tự làm mới mình bằng cách tiếp xúc với những yếu tố nuôi dưỡng và trị liệu quanh ta. Ta cũng có thể mang những hình ảnh đẹp đẽ, tươi mát trong tàng thức lên để nuôi mình. Ví dụ như khi đứng giữa một thành phố bận rộn, ta có thể nhớ lại những hình ảnh trên núi hoặc ở biển.

Thở vào, tôi ý thức về không khí.

Thở ra, tôi tận hưởng không khí.

(Ý thức về không khí/ Tận hưởng)

 

Thở vào, tôi ý thức về mặt trời.

Thở ra, tôi mỉm cười với mặt trời.

(Ý thức về mặt trời/Mỉm cười)

 

Thở vào, tôi ý thức về những cây xanh.

Thở ra, tôi mỉm cười với những cây xanh.

(Ý thức về cây xanh/Mỉm cười)

 

Thở vào, tôi ý thức về các em bé.

Thở ra, tôi mỉm cười với các em bé.

(Ý thức về các em bé/Mỉm cười)

 

Thở vào, tôi ý thức về không khí miền đồng quê.

Thở ra, tôi mỉm cười với không khí miền đồng quê.

(Không khí miền đồng quê/Mỉm cười)

Chúng ta thường vội vàng hấp tấp khi ăn, thậm chí có khi còn không có thời giờ để ngồi xuống ăn. Nếu ta đang ở trong tình trạng này, thì hãy tặng cho mình một cơ hội để ngồi xuống ăn đàng hoàng như một con người thực sự mà không phải là một người máy đang chạy. Trước khi ăn, hãy ngồi yên một chút, cảm nhận trọng lượng cơ thể mình (trên ghế hoặc trên sàn nhà) để tâm tư lắng dịu lại, quán niệm về thức ăn và nguồn gốc của chúng. Đất mẹ, mặt trời, cơn mưa, công phu lao tác và rất nhiều điều kiện hỗ trợ khác đã tập hợp lại để chúng ta có được bữa ăn hôm nay. Ý thức là ta thật may mắn có được thức ăn này trong khi rất nhiều người còn đang đói khổ thiếu thốn.

Khi ngồi ăn với những người khác, hãy đưa ý thức trở về với thức ăn và những người mà ta đang ngồi chung. Đó có thể là một cơ hội thú vị để ngồi với nhau như một cộng đồng thực sự.

Thở vào, tôi ý thức về thức ăn trong đĩa của tôi.

Thở ra, tôi cảm thấy may mắn khi có thức ăn này.

(Ý thức về thức ăn/May mắn)

 

Thở vào, tôi ý thức những cánh đồng lúa.

Thở ra, tôi mỉm cười với những cánh đồng lúa.

(Ý thức về cánh đồng lúa/ Mỉm cười)

 

Thở vào, tôi ý thức về rất nhiều điều kiện đã mang thức ăn này lại cho tôi.

Thở ra, tôi cảm thấy biết ơn.

(Ý thức về những điều kiện/Biết ơn)

 

Thở vào, tôi ý thức về những người đang cùng ngồi ăn với tôi.

Thở ra, tôi cảm thấy biết ơn sự có mặt của họ.

 (Ngồi ăn chung/ Biết ơn)

 

 

Chương 2: Đài NST

 

Cho dù không nói chuyện với ai, không đọc sách, không nghe đài, không xem ti vi, không lên mạng, thì hầu hết chúng ta vẫn không thấy an ổn hay yên tĩnh. Đó là vì chúng ta đang mở đài NST trong đầu mình. (Đài NST – Non Stop Thinking – đài suy nghĩ liên tục không ngừng.)

Dù có khi ta ngồi yên, không có một tác nhân nào bên ngoài tác động thì cuộc đối thoại không có hồi kết thúc vẫn liên tục diễn ra trong đầu ta. Ta luôn luôn suy nghĩ. Những con trâu, con bò, con dê sau khi ăn xong chúng ựa lên nhai lại nhiều lần. Chúng ta không phải là chúng, nhưng chúng ta cũng nhai đi nhai lại những suy nghĩ của chúng ta giống như vậy, những suy nghĩ tiêu cực, thiếu may mắn. Tiêu thụ xong rồi ta lại đưa chúng lên nhai đi nhai lại nhiều lần giống như con bò nhai lại thức ăn.

Chúng ta phải học cách tắt đài NST trong đầu. Tiêu thụ bằng cách này không tốt cho sức khỏe. Ở Làng Mai, chúng tôi chú trọng vào việc thực tập chánh niệm trong khi tiêu thụ thức ăn, Đoàn Thực cũng như Xúc Thực. Không những chúng tôi chọn không uống rượu và không ăn thịt mà còn thực tập nói và suy nghĩ ít lại, càng ít càng tốt, trong khi ăn, khi uống, khi rửa bát cũng như khi làm những công việc khác. Bởi vì trong khi đi, nếu ta suy nghĩ và nói chuyện thì ta sẽ bị kẹt vào câu chuyện hoặc suy nghĩ đó, và ta bị đánh mất mình trong quá khứ hoặc tương lai, trong những lo toan và dự án. Nhiều người sống cả cuộc đời mình chỉ để làm những chuyện đó. Thật là một sự lãng phí thảm thương. Chúng ta phải thực sự sống với những giây phút mà cuộc đời ban tặng cho ta. Để có khả năng sống được, ta phải tắt đài trong mình, tắt những cuộc đàm luận trong đầu.

Làm sao ta có thể thưởng thức được từng bước chân của mình khi ta chú tâm vào những cuộc độc thoại trong đầu? Điều quan trọng là ta phải ý thức những gì ta cảm, những gì ta làm mà không phải là những gì ta suy nghĩ. Khi tiếp xúc với mặt đất, ta phải có khả năng cảm được bước    chân của ta đang tiếp xúc với đất. Thực tập như vậy ta có rất nhiều niềm vui trong khi đi. Khi đi, ta có thể đầu tư tất cả thân tâm vào bước chân và định tâm hoàn toàn vào mỗi giây phút quý báu của sự sống.

Chú tâm vào sự tiếp xúc giữa bàn chân và mặt đất, ta không bị những suy nghĩ lôi kéo, ta bắt đầu cảm nhận thân thể và môi trường hoàn toàn khác. Thân thể ta là một mầu nhiệm. Nó hành xử theo hàng triệu cách khác nhau. Ta chỉ trân quý nó trọn vẹn khi ta dừng lại được những suy nghĩ liên miên và có đủ niệm định để tiếp xúc với những mầu nhiệm của thân thể, của đất mẹ và của bầu trời.

Điều này không có nghĩa là những suy nghĩ luôn xấu. Suy nghĩ có thể rất hữu ích. Suy nghĩ thường là sản phẩm của cảm thọ và tri giác. Vì vậy, suy nghĩ có thể được xem như một loại hoa trái. Có một số loại hoa trái rất nuôi dưỡng, nhưng một số khác thì không. Nếu ta có nhiều sợ hãi, lo lắng, khổ đau, thì đó là mảnh đất màu mỡ cho những suy nghĩ cằn cỗi, tai hại, vô bổ phát sinh.

Ta là suy nghĩ của ta, nhưng đồng thời ta lớn hơn suy nghĩ nhiều lắm. Ta còn là cảm thọ, là nhận thức, là tuệ giác, là hạnh phúc, là thương yêu. Khi biết ta lớn hơn suy nghĩ của ta thì ta có quyết tâm không để cho những suy nghĩ trấn ngự và khống chế. Suy nghĩ của ta có yểm trợ cho những ước muốn chân chính của ta không? Nếu không, ta phải cài đặt lại chương trình. Nếu không ý thức về những suy nghĩ, chúng sẽ lộng hành và trấn ngự trong tâm ta mà không đợi mời mọc.

Tập khí suy nghĩ tiêu cực

Tâm lý học Phật Giáo (Duy Biểu Học) cho rằng tâm ta có ít nhất là hai phần lớn: ý thức và tàng thức. Tàng thức là phần dưới của tâm, nơi chứa đựng tất cả các loại hạt giống của suy tư, cảm thọ. Hạt giống thương yêu, trung thành, tha thứ, vui tươi và hạnh phúc, nhưng cũng có những hạt giống khổ đau như giận dữ, hận thù, kỳ thị, sợ hãi, bực bội, bất an, v.v. Tất cả những tài năng và yếu kém của tổ tiên trao truyền lại cho ta qua cha mẹ ta, ở sâu trong tàng thức dưới hình thức hạt giống.

Tàng thức giống như cái nhà kho, trong khi đó, ý thức, phần cao hơn, thì giống như phòng khách. Hạt giống được cất giữ trong kho và bất kỳ khi nào bị kích thích hay tưới tẩm, chúng sẽ đi lên và biểu hiện lên trên mặt ý thức.

Chúng không còn là hạt giống ngủ yên nữa mà là một vùng năng lượng, gọi là tâm hành. Nếu là hạt giống thiện như chánh niệm, từ bi thì chúng là một vị khách quý đem đến cho ta nhiều hạnh phúc. Nhưng nếu hạt giống bất thiện bị kích thích, tưới tẩm thì nó sẽ xâm chiếm phòng khách của ta như một vị khách khó tính đến không đúng lúc.

Chẳng hạn như khi xem ti vi, có thể hạt giống tham dục trong ta bị chạm đến và đi lên biểu hiện trên mặt ý thức thành năng lượng tham đắm. Một ví dụ khác là khi hạt giống giận dữ nằm ngủ yên trong tàng thức thì ta thấy hạnh phúc, tươi vui. Nhưng khi có người đến nói hay làm điều gì đó tưới tẩm hạt giống giận ấy thì nó sẽ biểu hiện trên mặt ý thức thành một vùng năng lượng giận.

Chúng ta thực tập tiếp xúc và tưới tẩm những hạt giống hiền thiện để chúng biểu hiện trong đời sống hằng ngày của ta, mà không tưới tẩm những hạt giống tham lam, thù hận. Trong đạo Bụt ta gọi sự thực tập này là Tứ Chánh Cần. Ở Làng Mai gọi là tưới tẩm hạt giống tốt. Chẳng hạn như khi những hạt giống bạo động, hận thù nằm yên trong tàng thức thì ta thấy an vui. Nhưng nếu ta không biết cách chăm sóc tâm thức ta thì những hạt giống này sẽ không ngủ yên, trái lại nó sẽ bị tưới tẩm và biểu hiện. Điều quan trọng là phải ý thức, khi hạt giống bất thiện biểu hiện trên mặt ý thức thì đừng để nó một mình. Bất cứ khi nào thấy tâm hành khổ đau biểu hiện thì ta gọi hạt giống chánh niệm lên, chánh niệm như một nguồn năng lượng thứ hai có khả năng nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu những tâm hành tiêu cực để có thể nhìn sâu và tìm ra nguồn gốc của nó.

Hầu hết chúng ta ai cũng có giận hờn và khổ đau. Có thể trong quá khứ ta đã đè nén hoặc đối xử không tốt nên những khối khổ đau ấy vẫn còn đó, nằm sâu trong tàng thức ta. Ta đã không xử lý và chuyển hóa những gì xảy ra cho ta và ta đã ôm cái giận dữ, hận thù, tuyệt vọng và khổ đau một mình. Nếu hồi còn trẻ ta đã bị lạm dụng, mà ta lại tiếp tục nghĩ về chuyện đó thì giống như ta đang bị lạm dụng lại vậy. Và ta đã để cho mình bị lạm dụng đi lạm dụng lại như thế nhiều lần trong ngày. Đó là ta đang nhai lại thức ăn độc hại trong tâm thức ta.

Tuổi thơ của ta cũng có thể có nhiều giây phút hạnh phúc. Ấy vậy mà ta cứ trở đi trở lại đắm mình trong tuyệt vọng và những tâm hành không lành mạnh. Chúng ta phải tìm đến một môi trường tốt có bạn bè cùng thực tập chung với nhau, bạn bè sẽ nhắc nhở cho ta: “Này bạn, đừng nhai lại quá khứ nữa.” Người ta thường nói: “Sao anh cứ mãi mê suy nghĩ thế?” Ta có thể hỏi: “Bạn đang nhai lại cái gì vậy? Khổ đau quá khứ à?” Chúng ta có thể giúp nhau phá vỡ những suy nghĩ tiêu cực đã trở thành tập khí, để trở về tiếp xúc với những mầu nhiệm trong ta và chung quanh ta. Chúng ta có thể giúp nhau để đừng rơi vào tình trạng nhai lại những con ma khổ đau và tuyệt vọng của quá khứ.

Suy nghĩ của ta đối với thế giới

Thường suy nghĩ của ta cứ đi lòng vòng nên ta đánh mất niềm vui sống. Hầu hết những suy nghĩ của ta không có ích lợi mà còn làm hại ta nữa. Có thể ta tin rằng nếu chỉ suy nghĩ thôi thì ta sẽ không gây ra tổn hại nào, nhưng thực tế thì suy nghĩ đi qua tâm thức ta và cũng đi ra thế giới. Giống như cây nến vừa tỏa chiếu ánh sáng, hơi nóng và hương thơm cùng một lúc, thì suy nghĩ của ta cũng biểu hiện ra bằng nhiều cách khác nhau, kể cả qua lời nói và hành động.

Ta là sự tiếp nối của suy nghĩ và cách nhìn của ta.

Chúng là con ta, do ta sinh ra trong mỗi giây mỗi phút.

Khi ai đó quanh ta không hạnh phúc hay bị những suy nghĩ tiêu cực lôi kéo, ta cũng có thể thấy được ngay. Mỗi khi ta suy nghĩ về bản thân hay về thế giới, về quá khứ hoặc tương lai, thì bằng cách này hay cách khác, ta cũng phát ra những tư duy và cách nhìn dựa trên suy nghĩ ấy. Ta tạo ra suy nghĩ và suy nghĩ chuyên chở cái nhìn và năng lượng của ta.

Khi bị kẹt vào những lo lắng, kẹt vào những suy nghĩ tiêu cực, ta rất dễ tạo ra sự hiểu lầm và khổ đau. Khi dừng suy nghĩ và làm cho tâm lắng dịu, ta sẽ tạo thêm không gian cho mình và ta sẽ cởi mở hơn.

Vì thế, mỗi chúng ta đều có quyền chọn lựa. Suy nghĩ của ta có thể làm cho ta và thế giới khổ ít hay khổ nhiều. Đừng cố thay đổi người khác, chúng ta hãy bắt đầu bằng cách tạo ra một bầu không khí tập thể hài hòa trong sở làm và trong tăng thân ta. Cái ưu tiên hàng đầu là tìm một nơi yên tĩnh bên trong để học thêm về chính mình.

Ta phải ý thức và hiểu được nỗi khổ đau của ta. Khi sự thực tập của ta trở nên vững chãi, ta đã gặt hái được hoa trái trong việc tìm hiểu chính mình thì ta có thể xem xét tìm cách đưa sự im lặng, nhìn sâu, hiểu biết và thương yêu vào sở làm và tăng thân ta.

Chánh niệm nghĩa là lấy lại sự chú tâm

Không suy nghĩ là một nghệ thuật như bất kỳ nghệ thuật nào, đòi hỏi sự thực tập và kiên nhẫn. Lấy lại sự chú tâm và đưa tâm trở về với thân, chỉ trong vòng 10 hơi thở thôi thì cũng đã khác đi rất nhiều rồi. Tuy nhiên, với sự thực tập liên tục, ta có thể khôi phục lại khả năng có mặt và học cách sống trong giây phút hiện tại.

Ngồi yên vài phút là cách dễ nhất để bắt đầu tập luyện buông bỏ tập khí suy nghĩ. Khi ngồi yên, ta có thể quan sát suy nghĩ của ta vọt lên như thế nào và ta có thể thực tập không nhai lại những suy nghĩ đó. Ta định tâm vào hơi thở và vào sự im lặng, để cho chúng đến rồi đi.

Có nhiều người không thích ngồi yên. Thậm chí họ thấy rất đau nhức, khổ sở. Chỉ vì họ không biết cách buông thư. Có một người người phụ nữ quyết định là sẽ không bao giờ thiền tập nữa, chỉ vì cô ta thực tập không thành công. Tôi mời cô ta đi bộ với tôi, tôi không gọi là thiền hành, nhưng chúng tôi đi rất chậm và rất ý thức, thưởng thức không khí trong lành, tận hưởng những bước chân đặt trên mặt đất, và chỉ đi với nhau như vậy thôi. Khi trở về, hai mắt cô sáng lên, tươi mát trở lại và thấy lòng quang đãng hơn.

Chỉ cần ta để ra vài phút cho bản thân làm lắng dịu thân thể, cảm thọ, tri giác bằng cách này thì niềm vui sẽ xuất hiện. Niềm vui của sự yên tĩnh sẽ trở thành thức ăn trị liệu hằng ngày của chúng ta.

Đi bộ là một cách tuyệt hảo để thanh lọc tâm mà không cần phải cố gắng. Ta không nói: “Bây giờ tôi phải thiền tập,” hay, “Bây giờ tôi sẽ không suy nghĩ.” Chúng ta chỉ đi thôi, và khi ta tập trung vào việc đi thì niềm vui và ý thức sẽ phát khởi một cách rất tự nhiên.

Để thực sự thưởng thức từng bước chân khi đi, ta phải cho phép tâm ta buông bỏ hoàn toàn những lo lắng và kế hoạch. Ta không cần phải mất nhiều thời gian và nỗ lực để dừng suy nghĩ. Chỉ cần một hơi thở vào trong chánh niệm là ta đã có thể dừng lại rồi. Thở vào, ta bước một bước. Với hơi thở vào này, ta mất hai, hoặc ba giây để dừng lại những tâm hành đang vọng đọng. Nếu đài NST (Suy nghĩ liên tục) vang lên, đừng để cho năng lượng tán loạn lòng vòng này lôi kéo ta như một cơn lốc xoáy. Nhiều người trong chúng ta cứ để cho tình trạng này xảy ra liên tục. Thay vì sống hạnh phúc, ta để cho mình bị càn quét nhiều lần trong ngày, từ ngày này sang ngày khác. Với sự thực tập chánh niệm, ta có thể an trú trong giây phút hiện tại, vì chỉ có trong giây phút hiện tại thì sự sống và những mầu nhiệm của nó mới có thực và có mặt cho ta.

Ban đầu có thể ta cần nhiều thời gian hơn, có thể 10 hay 20 giây thở trong chánh niệm thì suy nghĩ mới ra đi. Ta có thể bước một bước với hơi thở vào và một bước với hơi thở ra. Nếu tâm ta lang thang thì ta nhẹ nhàng đưa tâm về với hơi thở.

10 hay 20 giây là nhiều lắm. Một cái vọng thức, một hành động bộc phát chỉ cần một phần nghìn giây để phát khởi. Cho mình 20 giây là cho mình 20 nghìn lần của một phần nghìn giây để dừng lại con tàu suy nghĩ. Nếu muốn, ta có thể cho ta thêm thời gian.

Trong khoảng thời gian này, ta có thể nếm được hạnh phúc, niềm vui sướng của việc dừng lại. Trong khi dừng lại, cơ thể ta có khả năng trị liệu. Tâm ta cũng có khả năng trị liệu. Không một ai và không một thứ gì có thể ngăn cản ta tiếp tục chế tác niềm vui sướng trong khi ta bước bước thứ hai hay thở hơi thở thứ hai. Bước chân và hơi thở của ta luôn có mặt đó để giúp ta trị liệu cho chính mình.

Khi bước đi, có thể tâm ta bị thúc đẩy hoặc lôi kéo bởi tập khí tham đắm, giận hờn sâu dày và lâu đời. Thực tế, tập khí này luôn thúc đẩy ta bất kể ta đang làm gì, kể cả khi ta đang ngủ. Chánh niệm có khả năng nhận diện tập khí này. Nhận diện nó, mỉm cười với nó và tắm nó trong chánh niệm, trong sự im lặng ấm áp và bao la. Với sự thực tập này, ta có khả năng buông bỏ được tập khí tiêu cực. Trong khi đi, khi nằm, khi rửa bát, khi đánh răng, ta có thể để cho sự im lặng ấm áp và bao la này ôm lấy ta.

Im lặng không có nghĩa là không nói. Hầu hết những tiếng ồn ào náo loạn mà ta nếm trải là những cuộc độc thoại trong đầu. Chúng ta suy đi nghĩ lại lòng vòng. Vì vậy, khi bắt đầu ăn, ta nhắc nhở chính mình là chỉ ăn những thức ăn nuôi dưỡng mà không ăn những suy nghĩ. Ta thực tập chú tâm đến việc ăn. Không suy nghĩ, chỉ ý thức đến thức ăn và những người chung quanh.

Điều này không có nghĩa là ta không được suy nghĩ hay đè nén suy nghĩ của ta. Đơn giản là khi đi, ta hiến tặng cho ta một sự nghỉ ngơi không suy nghĩ, bằng cách đưa sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Nếu thật sự muốn suy nghĩ về điều gì đó, ta có thể dừng lại để suy nghĩ về vấn đề đó với tất cả sự chú tâm của ta.

Thở và đi trong chánh niệm cho phép ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống chung quanh ta, những suy nghĩ tán loạn sẽ tan biến đi rất tự nhiên. Ý thức được những mầu nhiệm đang có mặt đó cho ta, giúp cho hạnh phúc của ta phát khởi. Nếu có trăng tròn trên trời mà ta bận suy nghĩ thì trăng sẽ biến mất, nhưng nếu ta chú tâm vào trăng thì suy nghĩ của ta sẽ dừng lại rất tự nhiên. Ta không cần phải ép buộc hay la rầy mình, cũng không cần cấm mình suy nghĩ.

Im lặng không nói đã có thể mang đến một mức độ an lạc đáng kể rồi.  Nếu ta có khả năng hiến tặng cho ta một sự im lặng sâu lắng hơn, không suy nghĩ thì trong sự  yên lắng đó, ta có thể tìm thấy sự nhẹ nhàng và tự do tuyệt hảo.

Từ suy nghĩ, ta chuyển sự chú tâm về định trên những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, đó là sự thực tập chánh niệm căn bản. Ta có thể thực tập điều này bất cứ lúc nào, ở đâu, và ta sẽ thấy thích thú hơn trong cuộc sống. Dù đang nấu ăn, làm việc, đánh răng, giặt áo hay ăn cơm, ta cũng có thể thưởng thức sự im lặng tươi mát trong suy nghĩ và lời nói của ta.

Thực tập chánh niệm đích thực không yêu cầu ta phải ngồi thiền hay để tâm về những hình thức bên ngoài, mà đòi hỏi ta phải nhìn sâu để thưởng thức được sự tĩnh lặng bên trong. Nếu không làm được điều này, ta không thể chăm sóc được năng lượng bạo động, sợ hãi, hèn nhát và hận thù trong ta.

Khi tâm ta đang ồn ào hay phóng đi mà ta đi tìm sự yên tĩnh bên ngoài thì đó chỉ là một hình thức lừa gạt. Nhưng nếu tìm được một không gian tĩnh lặng trong lòng, thì không cần phải cố gắng, chúng ta cũng tỏa chiếu được bình an và niềm vui sống. Ta có khả năng giúp đỡ người khác, có khả năng tạo ra một môi trường có công năng trị liệu hơn mà không cần phải phát ra một lời nào.

Không gian thực hiện giấc mơ

Đôi khi ta buộc mình vào những giấc mơ nghe có vẻ to lớn nhưng thực chất thì trống rỗng. Có thể do ta quá bận rộn đến nỗi không tin được là ta có khả năng sống với những ước muốn sâu sắc nhất và thật nhất của ta. Sự thực là ngay tại đây, trong đời sống hằng ngày, mỗi hơi thở, mỗi bước chân là những điều cụ thể để biến giấc mơ thành hiện thực. Nhưng thay vào đó, nếu ta đeo đuổi những giấc mơ được làm sẵn mà người ta lừa bịp, quảng cáo, và thuyết phục mình rằng đây là “chiếc nhẫn” tốt nhất, đẹp nhất, thì ta sẽ hy sinh thời gian quý báu của ta, thời gian mà ta được hiến tặng để sống và thương yêu, để đổi lấy những tham vọng trống rỗng không mang một ý nghĩa đích thực nào. Ta có thể đổi lấy cả đời ta với những thứ như thế.

Có nhiều người cho đến cuối đời hay đến khi nằm trên giường bệnh mới thấy buồn bã. Đột nhiên họ tự hỏi là họ phải chỉ bảo cho những thập niên của công việc và bận rộn điều gì đây. Có thể họ trở thành nạn nhân cho chính sự thành công của họ, nghĩa là họ kiếm được nhiều tiền, đạt được danh vọng mà họ theo đuổi nhưng họ không bao giờ có thời gian và không gian để sống hạnh phúc, để tiếp xúc với những người họ thương yêu. Họ cứ phải chạy mỗi ngày chỉ để nắm giữ địa vị mà họ đã đạt được.

Tuy nhiên, không ai trở thành nạn nhân của hạnh phúc cả. Có thể ta nhận ra được rằng, khi ưu tiên cho con đường hạnh phúc, ta cũng thành công hơn trong công việc. Thường những người có bình an, hạnh phúc hơn thì công việc của họ cũng trở nên tốt đẹp hơn. Tuy nhiên, chúng ta không cần phải quyết định ước muốn sâu sắc nhất thực sự của ta là gì. Có những người muốn thực tập chánh niệm để thành công hơn trong sự nghiệp hay trong công việc mà không phải để giúp đỡ người khác hay để hạnh phúc hơn. Có nhiều người hỏi tôi: “Chúng ta có thể thực tập chánh niệm để kiếm thêm tiền không?”

Nếu thực tập chánh niệm đúng cách, ta sẽ không bao giờ làm tổn hại ai. Nếu sự thực tập của ta không đem lại từ bi thì đó không phải là chánh niệm. Có thể giấc mơ của ta không trở thành hiện thực và ta nghĩ rằng ta cần phải làm thêm, suy nghĩ thêm hoặc tìm thêm phương pháp mới. Nhưng thực tế, cái ta cần không phải là thêm mà là bớt lại, bớt những tiếng ồn trong đầu và những tiếng ồn từ bên ngoài, để ta có không gian cho ước mơ đích thực nhất của trái tim ta được nảy mầm và phát triển.

Thực tập: Dừng lại và buông bỏ

Dừng lại để đưa tâm trở về với thân trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây. Chỉ cần dừng lại là ta đã có khả năng định tĩnh và tiếp xúc được với sự sống. Bằng cách ngồi yên, dừng lại những lao xao trong thân tâm, lắng nghe những lặng im trong thân thể và tâm hồn là ta đã trở nên vững chãi, định tĩnh hơn, tâm ta trở nên sáng suốt hơn. Ta có thể ý thức được những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta.

Ta có thể bắt đầu bằng cách dừng lại những lăng xăng của thân thể. Khi thân yên, khi không còn chú ý đến bất kỳ hoạt động nào ngoại trừ hơi thở thì tâm ta cũng dễ dàng buông bỏ tập khí chạy hơn, mặc dù điều này cũng cần thời gian và sự luyện tập. Một khi ta học cách dừng lại cái tâm thì thân ta cũng được dừng lại. Ta sẽ có khả năng dừng lại cái tâm khi ta đang đi hoặc đang làm việc. Kết hợp hơi thở với những thao tác trong các sinh hoạt hằng ngày, ta có thể sống trong ý thức thay vì thất niệm, lãng quên.

Giống như mọi thứ trên thế gian, suy nghĩ của ta cũng vô thường. Nếu ta không nắm bắt suy nghĩ, thì suy nghĩ đến, ở lại một lúc rồi ra đi. Bám vào những suy nghĩ hay cột mình vào tiền tài, danh vọng, dục lạc có thể mang lại sự tham đắm và vướng mắc, dẫn ta đến con đường nguy hiểm, gây nên khổ đau cho ta và cho kẻ khác. Nhận diện những suy nghĩ, những tham vọng, để cho chúng đến rồi đi, cho ta không gian để nuôi dưỡng tự thân và tiếp xúc được hạnh nguyện sâu sắc nhất của ta.

Chúng ta có thể sáng tác thêm những câu thiền ngữ để thêm vào phần thiền hướng dẫn dưới đây.

Thở vào, tôi ý thức về những suy nghĩ của tôi.

Thở ra, tôi ý thức về tính vô thường.

(Suy nghĩ/Vô thường)

 

Thở vào, tôi ý thức về tính tham tiền của tôi.

Thở ra, tôi ý thức tiền bạc là vô thường.

(Ý thức tính tham tiền/Vô thường)

 

Thở vào, tôi ý thức tính tham đắm tiền bạc có thể mang lại khổ đau cho tôi.

Thở ra, tôi buông bỏ tính tham đắm.

(Ý thức tính tham đắm/Buông bỏ)

 

Thở vào, tôi ý thức về sự tham muốn dục lạc trong tôi.

Thở ra, tôi biết dục lạc cũng vô thường.

(Ý thức dục lạc/Vô thường)

 

Thở vào, tôi ý thức về sự nguy hiểm của sự tham muốn dục lạc

Thở ra, tôi buông bỏ sự tham muốn dục lạc.

(Ý thức sự tham muốn/Buông bỏ)

 

Thở vào, tôi quán chiếu về tính buông bỏ.

Thở ra, tôi cảm thấy khinh an vì sự buông bỏ ấy.

(Buông bỏ/Khinh an)

 

 

Chương 1: Chừng mực với tiếng ồn

 

Suốt ngày ta phải tiếp nhận các thông tin, âm thanh và tiếng ồn liên miên bất tận, trừ khi ta sống một mình trên núi không có điện. Cho dù không có ai nói với ta và ta cũng không đang nghe đài hoặc bất kỳ chương trình truyền thanh nào khác thì cũng có những bảng thông tin, quảng cáo, những cuộc điện thoại, tin nhắn, các loại truyền thông đại chúng, màn hình máy tính, hóa đơn, những tờ rơi, cũng như những ngôn từ và âm thanh từ nhiều phương tiện khác nhau đang cố chen vào đời sống của chúng ta. Đôi khi ở sân bay, ta không thể tìm được một góc nào không có màn hình ti vi đang chiếu ầm ĩ. Buổi sáng của ta trôi qua bằng “tweet[1]”, tin nhắn, trò chơi điện tử và cập nhật thông tin trên điện thoại cầm tay.

Cho dù có những giây phút hiếm hoi không có âm thanh, ngôn từ hay những thông tin đến từ bên ngoài thì đầu óc chúng ta cũng đầy ắp những suy nghĩ liên miên không dứt. Như vậy, nếu có, thì chúng ta có được bao nhiêu phút yên lặng thật sự mỗi ngày?

Yên lặng là một điều thiết yếu.

Chúng ta cần yên lặng như cần không khí, như cây cần ánh sáng.

Nếu tâm trí chúng ta đầy ắp những ngôn từ và suy nghĩ

thì chúng ta sẽ không có không gian.

Những người sống trong đô thị sẽ dần trở nên quen thuộc với những tiếng ồn chung quanh như tiếng reo hò, tiếng còi xe hoặc tiếng nhạc ầm ĩ. Tuy nhiên, đôi khi, chính những tiếng ồn không dứt đó là thứ làm cho người ta yên tâm. Tôi biết một vài người bạn, khi đi về những miền quê vào ngày cuối tuần hoặc đến các khóa tu thiền, thấy im lặng thì sợ hãi và không yên được. Họ không thấy an toàn và thoải mái vì họ đã quen với những tiếng ồn liên miên bất tận.

Cây không thể phát triển được nếu không có ánh sáng, người ta cũng không thở được nếu không có không khí. Tất cả mọi thứ sống được đều cần có không gian để trưởng thành và phát triển.

Nỗi sợ im lặng

Tôi có cảm giác rằng nhiều người trong chúng ta rất sợ sự im lặng. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm một thứ gì đó như sách báo, âm nhạc, radio, tivi, thậm chí là những suy nghĩ để nhét vào đầu, để lấp đầy không gian trong ta. Nếu biết yên lặng là không gian rất quan trọng cho hạnh phúc của ta thì tại sao ta không kiến tạo thêm những thứ đó cho đời sống của mình?

Một trong những học trò lâu năm của tôi có một người bạn trai rất tử tế, biết lắng nghe và không nói quá nhiều. Tuy nhiên, ở nhà, anh ta luôn luôn phải mở radio hay tivi lên, và lúc nào ngồi ăn sáng cũng có một tờ báo đặt trước mặt.

Tôi biết một người phụ nữ có đứa con gái rất thích đến chùa ngồi thiền, thường động viên  cô đi chung. Người con gái nói với cô: “Dễ lắm Mẹ à. Mẹ không phải ngồi dưới đất đâu, có ghế cho Mẹ ngồi đó. Mẹ không cần phải làm gì hết. Chỉ ngồi yên như vậy thôi.” Người Mẹ đã trả lời rất thật lòng là: “Ôi, Mẹ sợ phải làm chuyện đó lắm.”

Có thể chúng ta cảm thấy cô đơn cho dù có rất nhiều người đang vây quanh ta. Chúng ta cô đơn chung với nhau. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một khoảng trống trong lòng và không thấy thoải mái với khoảng trống đó, cho nên ta cố lấp đầy nó hay tống khứ nó đi. Những phương tiện kỹ thuật cung cấp cho chúng ta những tiện nghi để chúng ta được “kết nối, truyền thông”. Ngày nay, chúng ta luôn luôn “được kết nối”, thế nhưng chúng ta vẫn cảm thấy cô đơn. Chúng ta kiểm tra điện thư (email) và những trang mạng truyền thông xã hội (web) nhiều lần trong ngày. Chúng ta gửi email, gửi hết tin nhắn này đến tin nhắn khác. Chúng ta muốn chia sẻ và muốn tiếp nhận. Chúng ta cố gắng kết nối truyền thông nên bận rộn cả ngày.

Điều gì làm chúng ta quá sợ hãi như vậy? Có thể chúng ta cảm thấy có một khoảng trống trong lòng, một cảm giác trơ trọi, một cảm giác buồn phiền, một cảm giác lăng xăng, dao động. Có thể chúng ta cảm thấy bơ vơ và không được thương yêu. Có thể chúng ta cảm thấy thiếu vắng một thứ gì đó quan trọng. Một số cảm giác này đã có từ rất lâu rồi và chúng luôn luôn hiện diện trong ta, ẩn nấp bên dưới những hoạt động và suy nghĩ của ta. Khi có những thứ khác kích thích, ta dễ dàng quên đi những cảm giác đó. Nhưng khi yên lặng, không có gì đi vào ta thì tất cả những thứ đó sẽ hiển hiện ra, rất rõ ràng.

Thức ăn đầy những kích thích

Tất cả những loại âm thanh xung quanh ta và tất cả những ý nghĩ mà chúng ta cứ quay đi quay lại thường xuyên trong tâm trí có thể được xem như một loại thức ăn. Chúng ta đã quen thuộc với những loại thức ăn đoàn thực – những thức ăn mà chúng ta có thể nhai, nuốt được. Nhưng con người chúng ta tiêu thụ không chỉ loại thức ăn đó. Những gì chúng ta đọc, những cuộc trao đổi, những chương trình tivi, những trò chơi điện tử trên mạng, cũng như những lo âu, suy nghĩ, căng thẳng… đều là thức ăn của chúng ta. Khi chúng ta thấy tâm mình không có đủ không gian cho cái đẹp hoặc cho sự yên lặng thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì chúng ta cứ liên tục đưa vào trong mình vô số loại thức ăn khác nhau ấy.

Có bốn loại thức ăn mà người ta đang tiêu thụ mỗi ngày. Đạo Bụt gọi những thức ăn này là Bốn Loại Thực Phẩm. Đó là Đoàn Thực, Xúc Thực, Tư Niệm Thực và Thức Thực (tâm thức cá nhân và tâm thức tập thể).

Đoàn thực, cố nhiên là loại thực phẩm mà chúng ta ăn bằng đường miệng mỗi ngày.

Loại thực phẩm thứ hai là Xúc Thực, là những kinh nghiệm thuộc về cảm giác mà chúng ta tiếp nhận qua mắt, tai, mũi, thân và ý. Loại thực phẩm này bao gồm những gì ta nghe, ta đọc, ta ngửi hoặc xúc chạm, kể cả những cuộc điện thoại, những tin nhắn, tiếng xe bus ngoài đường và những bảng quảng cáo mà ta đọc khi đi ngang qua. Dù cho tất cả những thứ này ta không ăn bằng đường miệng nhưng chúng cũng là những thông tin và ý tưởng đi vào tâm thức ta và ta đang tiêu thụ chúng mỗi ngày.

Loại thực phẩm thứ ba là Tư Niệm Thực. Tư niệm là ý chí, là những quan tâm, mong muốn của ta. Chúng được gọi là thức ăn vì chúng “nuôi” những quyết định, hành động và hoạt động của ta. Nếu không có bất kỳ một ý muốn (tư niệm) nào, không có bất kỳ mong ước làm một việc gì, chúng ta sẽ không cử động được. Đơn giản là ta sẽ héo mòn đi.

Loại thực phẩm thứ tư là Thức Thực. Loại thực phẩm này bao gồm tâm thức cá nhân của ta và cách mà tâm ta nuôi lấy chính nó, nuôi những ý nghĩ và hành động của ta. Thực phẩm này còn bao gồm tâm thức tập thể và cách thức nó ảnh hưởng lên chúng ta.

Tất cả những loại thức ăn này có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh, bổ dưỡng hay độc hại, phụ thuộc vào những gì ta tiêu thụ, số lượng ta tiêu thụ và ý thức về sự tiêu thụ của ta. Ví dụ, thỉnh thoảng chúng ta ăn vặt và những thứ đồ ăn vặt này làm chúng ta bệnh; hoặc khi chao đảo, bấn loạn, chúng ta uống quá nhiều với hy vọng là những thứ này sẽ làm chúng ta khuây khỏa, cho dù sau đó chúng làm cho ta tệ hại hơn.

Chúng ta cũng làm như vậy đối với những loại thực phẩm khác. Đối với Xúc Thực, chúng ta có thể ý thức để mở lên những chương trình lành mạnh, có tính cách giáo dục, nếu không, chúng ta lại chơi những trò chơi điện tử, xem phim, đọc tạp chí, hay tán gẫu để quên đi đau khổ.

Tư Niệm Thực có thể lành mạnh (động lực xây dựng) hoặc không lành mạnh (thèm khát, ám ảnh). Tương tự như vậy, tâm thức tập thể có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh.

Hãy nghĩ đến những ảnh hưởng đến từ tâm thức của những nhóm người mà ta đang tiếp xúc và đang sống cùng: nhóm người đó có hạnh phúc, có cảm thông, có biết khích lệ hay không; hay giận dữ, ngồi lê đôi mách, ganh đua, hờ hững…

Mỗi loại thực phẩm đều có ảnh hưởng sâu xa lên chúng ta, do đó, chúng ta phải rất ý thức về những gì mình tiêu thụ và với số lượng bao nhiêu. Sự thức tỉnh chính là chìa khóa bảo vệ cho ta. Không có sự bảo vệ, chúng ta sẽ hấp thụ quá nhiều độc tố. Không nhận ra điều này, con người ta sẽ tràn đầy những âm thanh và tâm thức độc hại, mà chính những thứ này gây bệnh cho chúng ta. Ý thức, chánh niệm cũng giống như một loại kem chống nắng bảo vệ làn da nhạy cảm của các em bé sơ sinh. Không có kem chống nắng, da sẽ bị phỏng và phồng rộp lên. Với sự bảo hộ của chánh niệm, chúng ta có thể an toàn, lành mạnh và chỉ đưa vào những thực phẩm giúp chúng ta phát triển tốt.

Đoàn Thực

Hầu hết chúng ta đều ý thức được thức ăn của chúng ta ảnh hưởng lên sức khỏe của thân và tâm như thế nào. Đồ ăn vặt có thể làm chúng ta cảm thấy mỏi mệt, cáu kỉnh, bồn chồn, tội lỗi, và thường chỉ làm chúng ta thỏa mãn một vài giây phút nào đó thôi. Ngược lại, trái cây và rau quả lại làm chúng ta cảm thấy có sinh lực, lành mạnh và bổ dưỡng. Thông thường, chúng ta ăn một cái gì đó không phải vì đói mà chỉ để khuây khỏa và quên đi những cảm giác không dễ chịu. Giả sử ta đang cảm thấy lo lắng hoặc cô đơn, ta không thích cảm giác này, do đó ta đứng dậy mở tủ lạnh ra và tìm một cái gì đó để ăn. Ta biết rằng ta không đói và ta không cần ăn. Thế nhưng, ta cũng tìm một cái gì đó để ăn, bởi vì ta muốn khỏa lấp cảm giác khó chịu trong lòng.

Khi tổ chức một khóa tu ở bất kỳ trung tâm tu học nào, chúng tôi cũng đều có ba buổi ăn chay mỗi ngày, được chuẩn bị với rất nhiều tình thương và chánh niệm. Ấy vậy mà có những thiền sinh vẫn lo lắng về thức ăn. Có một thiền sinh, lần đầu tiên tới khóa tu, anh ta chỉ nghĩ đến bữa kế tiếp sẽ ăn gì. Vào hai ngày đầu khóa tu, lúc nào anh ta cũng thấy đói, anh ta không thích phải xếp hàng dài để lấy thức ăn. Anh ta lo là sẽ hết thức ăn. Bất kỳ thời khóa nào, anh ta cũng luôn muốn rời sớm hơn giờ kết thúc để có thể xếp hàng đầu tiên lấy thức ăn.

Vào ngày thứ ba của khóa tu, trong nhóm pháp đàm, anh chia sẻ ra được một số cảm giác của anh về cha anh (vừa mới qua đời) và nhận được rất nhiều cảm thông trong nhóm. Sau đó, nhóm của anh ra hơi trễ một chút, nhưng khi đứng vào hàng lấy thức ăn, anh chợt nhận ra là anh không còn lo lắng nữa, anh có cảm giác là sẽ có đủ thức ăn và cảm thấy an ổn.

Xúc Thực

Xúc Thực là những gì mà chúng ta nhận vào qua các giác quan và ý thức. Đó là tất cả những thứ mà chúng ta thấy, ngửi, nghe và xúc chạm. Những âm thanh bên ngoài như những cuộc trao đổi, chuyện trò, giải trí và âm nhạc đều thuộc vào nhóm thức ăn này. Những gì chúng ta đọc, những thông tin chúng ta nghe cũng là một dạng của xúc thực.

Có thể, ảnh hưởng của Xúc Thực lên thân tâm ta còn nhiều hơn Đoàn Thực. Chúng ta có thể cầm một tờ báo lên đọc hoặc vào mạng để xem ảnh và nghe nhạc. Chúng ta muốn kết nối với mọi người, với thế giới và muốn biết tin tức. Ta muốn một sự thoải mái. Đó là những lý do chính đáng để tiêu thụ Xúc Thực, nhưng thường thì mục đích thật sự của chúng ta trong những giờ phút đó chỉ là để trốn chạy chính mình và khỏa lấp những đau khổ trong lòng. Khi chúng ta nghe nhạc, đọc sách hoặc cầm một tờ báo lên, thông thường không phải vì chúng ta cần những hoạt động hoặc thông tin đó. Chúng ta thường làm những điều đó một cách máy móc, có lẽ vì chúng ta đã quen nó, hoặc muốn “giết thời gian” và lấp đầy cảm giác trống vắng khó chịu. Có thể chúng ta làm điều đó để tránh đối diện với chính mình. Nhiều người trong chúng ta sợ phải trở về với chính mình, vì không biết cách xử lý những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Do đó, chúng ta luôn cố tìm kiếm thêm và thêm nhiều những loại thức ăn Xúc Thực để tiêu thụ.

Những gì ta cảm và nhận thức đều là ta. Nếu ta giận dữ thì ta chính là sự giận dữ. Nếu ta thương yêu thì ta là tình thương. Nếu ta ngắm nhìn một ngọn núi tuyết thì ta là núi. Khi ta mơ thì ta là giấc mơ.

Mới đây, một cậu bé đã thú nhận với tôi rằng em chơi trò chơi điện tử ít nhất là tám giờ đồng hồ một ngày. Em không thể dừng lại được. Ban đầu, em chơi chỉ để quên đi những cảm giác buồn chán về cuộc sống khi em cảm thấy những người trong gia đình, trong trường học và trong cộng đồng sinh sống không hiểu em.

Nhưng bây giờ, em đã nghiện trò chơi điện tử. Lúc nào em cũng nghĩ đến nó, cho dù những lúc không chơi. Nhiều người trong chúng ta cũng rơi vào những trường hợp tương tự như vậy, chúng ta cố gắng lấp đầy nỗi cô đơn trống vắng trong lòng bằng những thức ăn Xúc Thực.

Những giác quan của chúng ta là những cánh cửa mở ra thế giới bên ngoài. Nhiều người trong chúng ta đã mở cửa mọi lúc mọi nơi, để cho những hình ảnh, âm thanh của thế giới xâm chiếm ta, thẩm thấu vào ta, hòa trộn khổ đau vào con người của ta vốn đã có nhiều buồn rầu và xáo động. Chúng ta cảm thấy lạnh lẽo, cô đơn và sợ hãi khủng khiếp. Có bao giờ ta xem một chương trình tivi rất kinh khủng mà ta không thể tắt đi không? Những tiếng động chát chúa và những tiếng súng nổ làm chúng ta hoảng loạn, ấy vậy mà chúng ta không chịu đứng dậy để tắt tivi. Tại sao chúng ta lại tra tấn mình bằng cách này? Chúng ta không muốn đóng những cánh cửa giác quan lại cho tâm tư an dịu sao? Có phải ta sợ cô đơn, sợ những khoảng trống vắng và bơ vơ khi phải đối diện với chính mình?

Xem một chương trình truyền hình tệ hại thì chúng ta cũng là chương trình truyền hình đó. Chúng ta có thể trở thành bất cứ thứ gì chúng ta muốn mà không cần đến cây đũa thần.

Nhiều bộ phim được dựng lên bởi những nhà sản xuất thích giật gân, thích gây cảm giác mạnh để dễ kiếm tiền. Những bộ phim làm tim ta đập thình thịch, tay chân co cứng lại, và rồi đưa chúng ta về lại con đường kiệt sức. Tại sao chúng ta lại mở những cánh cửa của mình ra để cho những phim ảnh và chương trình tivi độc hại như thế đi vào người mình?

Những cuộc chuyện trò trao đổi cũng là một loại thức ăn thuộc về Xúc Thực. Giả sử bạn đang nói chuyện với một người đầy cay đắng, đố kỵ hoặc thèm khát. Suốt buổi nói chuyện đó, bạn sẽ nhận vào năng lượng tiêu cực của người ấy. Sự thật là nhiều loại thức ăn thuộc về Xúc Thực mà chúng ta tiêu thụ làm chúng ta tệ hơn, chứ không khỏe mạnh hay tốt đẹp hơn. Chúng ta sẽ suy nghĩ hết cái này đến cái khác rằng mình chưa đủ, rằng mình cần mua thêm thứ này hay thứ kia, hoặc phải thay đổi cái gì đó trong chính mình để làm cho mình khá hơn.

Tuy nhiên, chúng ta luôn có thể lựa chọn để bảo hộ sự bình an của ta. Điều này không có nghĩa là lúc nào ta cũng phải đóng tất cả các cánh cửa lại. Vẫn có rất nhiều điều mầu nhiệm trên thế giới mà chúng ta gọi là “bên ngoài.” Hãy mở cánh cửa của bạn ra cho những điều mầu nhiệm đi vào. Và nhìn chúng dưới ánh sáng của sự tỉnh thức. Cho dù khi ngồi cạnh một dòng suối trong, lắng nghe một bản nhạc hay, hoặc xem một bộ phim hấp dẫn, cũng đừng hoàn toàn giao phó mình cho dòng suối, bản nhạc hoặc bộ phim đó. Hãy tiếp tục ý thức về chính mình và về hơi thở. Khi ánh mặt trời tỉnh thức soi chiếu trong bạn, bạn có thể tránh được hầu hết những hiểm nguy. Bạn sẽ cảm nhận được dòng suối trong xanh hơn, bản nhạc hòa điệu hơn và cảm nhận được tâm hồn của người nghệ sĩ cũng hoàn toàn có mặt trong bộ phim ấy.

Tư Niệm Thực

Tư Niệm Thực là loại thực phẩm thứ ba, là ước muốn, là động lực thúc đẩy ta làm điều gì đó. Nó nuôi ta và dẫn ta tới kết quả. Những huyên náo chung quanh ta, dù là quảng cáo, phim ảnh, trò chơi điện tử, âm nhạc hay những cuộc chuyện trò… đều gửi đến cho chúng ta những thông điệp là chúng ta nên làm gì, chúng ta nên như thế nào, thành công ra sao và trở thành ai. Bởi do tất cả những huyên náo đó mà hiếm khi ta để tâm đến những mong ước đích thực của ta. Chúng ta làm, nhưng không có sự chú tâm, vì không có đủ không gian hoặc sự tĩnh lặng cần thiết.

Nếu không có một mục đích nào để nuôi mình thì ta sẽ như lục bình trôi riu ríu. Có một số người mà tôi chỉ gặp mỗi năm được một lần, nhưng khi tôi hỏi họ đã làm gì trong năm vừa qua thì đa số đều không nhớ được. Đa số chúng ta, có khi cũng để thời gian trôi qua như vậy, ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần kia, thậm chí tháng này sang tháng nọ, như trong một màn sương mù mịt. Đó là vì chúng ta không ý thức được về mục đích của mình trong những ngày tháng đó. Đôi khi mục đích duy nhất của mình chỉ là để sống cho qua ngày.

Bất kể chúng ta làm gì, dù là đi đến tiệm hoa, tiệm sách, gọi điện cho một người bạn, bước một bước chân, hay đi làm việc, trong chúng ta đều có một ý định, một động lực làm chúng ta chuyển động được, cho dù chúng ta có nhận ra điều đó hay không. Thời gian trôi qua rất nhanh, một ngày nào đó, có thể chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi khám phá ra cuộc đời mình đã gần đến chỗ kết thúc và chúng ta không biết mình đã làm được gì với tất cả thời gian sống của mình. Có thể chúng ta đã lãng phí suốt ngày trong sự giận dữ, sợ hãi và ganh tỵ.

Chúng ta ít khi tự tặng cho mình đủ thời gian và không gian để nghiền ngẫm rằng: Mình có đang làm những gì mà mình muốn làm nhất trong đời mình không? Hay mình có biết đó là điều gì chưa? Tiếng ồn trong đầu và xung quanh chúng ta đã át đi những tiếng nhỏ nhẹ bên trong. Chúng ta quá bận rộn làm “gì đó” mà hiếm khi dùng một chút thời gian để nhìn sâu và kiểm lại những ước mong sâu sắc nhất của mình.

Tư Niệm Thực là một nguồn năng lượng mạnh mẽ, hùng hậu. Nhưng không phải Tư Niệm Thực nào cũng xuất phát từ trái tim. Nếu mong muốn của ta chỉ là làm ra một số tiền khổng lồ hoặc có một số lượng người theo dõi trên trang Twitter lớn nhất, thì có thể điều này sẽ không dẫn ta đến một cuộc sống hạnh phúc. Có nhiều người có rất nhiều tiền bạc và quyền lực mà vẫn không hạnh phúc, vẫn cảm thấy cô đơn. Họ không có thời gian để sống đời mình một cách xác đáng. Không ai hiểu họ, và họ cũng không hiểu bất kỳ ai.

Để trải nghiệm trọn vẹn cuộc sống này với tư cách một con người, tất cả chúng ta cần phải tìm cho ra mong ước sâu sắc nhất của mình, để thực hiện những điều lớn lao hơn cái bản ngã cá nhân.

Điều này có thể là động lực mạnh mẽ để thay đổi cách sống của ta, giúp ta tìm được sự lắng dịu từ những tiếng lao xao đầy ắp trong đầu.

Có thể chúng ta sống cả đời để nghe những tiếng nói trong lòng hay tìm kiếm những tin tức bên ngoài mà chưa từng nghe được mong ước sâu sắc nhất của mình. Ta không cần phải là một tu sĩ hoặc một kẻ tử vì đạo để làm điều này. Nếu có đủ không gian và sự yên lặng để lắng nghe kỹ càng chính mình, chúng ta có thể tìm ra trong lòng mình một mong ước mạnh mẽ là giúp đỡ người khác, mang tình thương và từ bi đến cho cuộc đời hoặc tạo ra những chuyển đổi tích cực cho thế giới. Cho dù công việc của ta là gì, cho dù ta có đang lãnh đạo một tập đoàn doanh nghiệp, phục vụ thức ăn, dạy học hay chăm sóc người khác, nếu chúng ta có được một sự hiểu biết rõ ràng, mạnh mẽ về mục đích của mình và sự liên hệ giữa mục đích này với công việc của ta, thì đó có thể là một nguồn vui lớn lao cho đời ta.

Tâm thức cá nhân

Cho dù chúng ta có “nhịn” hết những thức ăn cảm giác, cắt đứt hết những tiếng động bên ngoài và những thông tin đưa vào ta, ta vẫn đang tiếp tục tiêu thụ một nguồn thực phẩm tiềm tàng. Đó chính là tâm thức của ta. Tâm thức này, cùng với tâm thức tập thể, là nguồn thực phẩm thứ tư.

Khi chúng ta hướng sự chú tâm vào những yếu tố tâm thức nào đó thì có nghĩa là chúng ta cũng đang “tiêu thụ” chúng. Giống như đối với những bữa ăn, những gì chúng ta tiêu thụ từ tâm thức mình có thể lành mạnh hay độc hại. Ví dụ, khi chúng ta đang có một suy nghĩ giận dữ, độc ác và chúng ta cứ lặp đi lặp lại suy nghĩ đó trong tâm là chúng ta đang tiêu thụ thức ăn độc hại. Ngược lại, nếu chúng ta ghi nhận những cái đẹp trong ngày, cảm giác biết ơn về sức khỏe của ta và tình thương ta dành cho những người chung quanh, thì chúng ta đang tiêu thụ thức ăn lành mạnh.

Mỗi người trong chúng ta đều có khả năng hiểu biết, thương yêu, từ bi và tha thứ. Nếu ta biết cách gieo trồng những yếu tố này trong tâm thức thì tâm thức có thể nuôi dưỡng ta với loại thức ăn lành mạnh này, làm cho ta cảm thấy rất sung sướng và mang lại lợi lạc cho những người chung quanh. Tuy nhiên, trong tâm thức mỗi người cũng có những hạt giống của ám ảnh, lo lắng, tuyệt vọng, cô đơn và hờn tủi. Nếu ta tiêu thụ những thức ăn Xúc Thực mà làm tăng trưởng những yếu tố tiêu cực này trong tâm thức, như đọc chuyện giật gân, chơi trò chơi điện tử bạo động, dành hết thời gian lên mạng để so đo ganh tỵ với những gì người khác đã làm, hay tham gia vào những cuộc chuyện trò vô bổ, thì sự giận dữ, tuyệt vọng, ganh tị sẽ trở thành những năng lượng lớn mạnh hơn trong tâm thức ta. Như vậy là ta đang gieo trồng loại thức ăn không lành mạnh này vào chính tâm ta. Cho dù sau đó ta có tránh xa những quyển sách hoặc trò chơi điện tử trên máy vi tính, tâm ta vẫn tiếp tục lui tới và tiêu thụ lại những yếu tố độc hại đó từng giờ, từng ngày và từng tuần sau đó, bởi vì ta đã tưới tẩm những hạt giống tiêu cực đó vào trong tâm thức ta.

Có những loài cây có thể làm ta lâm bệnh, như cây độc cần (hemlock) hoặc cây cà độc dược (belladonna). Nếu ăn chúng, ta sẽ bị ngộ độc. Thường thường, người ta không chủ ý trồng những cây này trong vườn. Tương tự như vậy, ta có thể chọn lựa gieo trồng những điều lành mạnh để nuôi dưỡng tâm thức ta, thay vì những thứ độc hại sẽ làm ta tàn hại và khổ đau.

Dù có ý thức hay không thì ta cũng vẫn tiếp tục tưới tẩm cái này hay cái kia trong tâm mình, và chắc chắn chúng ta sẽ tiêu thụ lại sau đó. Những gì ta tưới tẩm và tiêu thụ một cách vô thức có thể hiện lên trong những giấc mơ của ta, biểu hiện qua những điều mà ta buột miệng nói ra trong những cuộc chuyện trò. Và rồi sau đó, ta tự hỏi: “Điều này đến từ đâu trong thế giới này?” Nếu không chú tâm vào những gì ta đang đưa vào trong mình và nuôi dưỡng tâm mình, ta có thể gây ra rất nhiều tổn hại cho chính bản thân và cho các mối liên hệ.

Tâm thức tập thể

Cùng với tâm thức cá nhân, chúng ta còn tiếp nhận tâm thức tập thể (cộng đồng). Cũng giống như Internet được hợp thành từ nhiều trang web cá nhân, tâm thức cộng đồng cũng được hợp thành từ nhiều tâm thức cá nhân. Mỗi tâm thức cá nhân chứa đựng tất cả những yếu tố của tâm thức cộng đồng. Tâm thức cộng đồng có thể thuộc loại hủy diệt, như bạo động của một nhóm người đang giận dữ, hoặc tinh tế hơn là sự thù nghịch của một nhóm người hay chỉ trích, phán xét hoặc mưu mô xảo quyệt. Bên cạnh đó, giống như tâm thức cá nhân, tâm thức cộng đồng cũng có thể có khả năng trị liệu, ví dụ như chúng ta đang cùng với những người bạn dễ thương, những người trong gia đình, hoặc một nhóm người khác, thưởng thức và nhận định những giá trị âm nhạc, nghệ thuật hoặc thưởng ngoạn thiên nhiên. Khi chúng ta sống chung với những người đã cam kết sống cuộc đời hiểu biết, cảm thông và thương yêu, thì chúng ta được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của họ, và những hạt giống hiểu biết, thương yêu trong ta cũng được tưới tẩm. Còn khi chúng ta sống chung với những người mưu mô xảo quyệt, hay than phiền, chỉ trích, thì chúng ta cũng hấp thụ những chất độc hại ấy.

Tôi có một người bạn nhạc sĩ di cư đến California từ khi còn là một thanh niên, và khi về già, anh chọn trở về Việt Nam để sinh sống. Người ta hỏi tại sao anh lại trở về: “Ở California, ông có thể ăn bất cứ thứ gì ông muốn, làm bất cứ điều gì ông thích, bệnh viện cũng rất tốt, đầy đủ những phương tiện y khoa. Ông có thể mua bất cứ nhạc cụ nào ông cần. Ông có tất cả mọi thứ. Vậy tại sao ông chọn trở về Việt Nam?” Ông trả lời:

Ở California, ông sống cùng với những người xa xứ, đầy giận dữ và hận thù, mỗi lần đến thăm ông, họ đầu độc ông bằng sự oán giận của họ. Ông không muốn tiếp nhận thêm những cơn thịnh nộ và cay đắng trong những năm quý giá còn lại của đời ông. Vì vậy, ông phải cố tâm tìm kiếm một nơi để được sống với những người hạnh phúc, biết quan tâm và thương yêu nhau.

Nếu chúng ta sống ở một nơi đầy bạo lực, sợ hãi, giận dữ, tuyệt vọng, chúng ta sẽ tiêu thụ năng lượng tập thể của những giận dữ và sợ hãi này, dù chúng ta không muốn. Nếu chúng ta sống trong một khu vực với những tiếng còi xe hoặc tiếng còi báo động ầm ĩ, chúng ta cũng tiêu thụ năng lượng náo loạn này và trở nên lo lắng. Trừ những hoàn cảnh vượt quá khả năng, bắt buộc ta phải sống trong một khu vực như vậy, chúng ta có thể chọn sống ở những nơi yên tĩnh, có sự yểm trợ của những người chung quanh. Và dù có sống trong một môi trường ồn ào, chúng ta cũng có thể tạo cho mình một hải đảo yên tĩnh. Chính chúng ta là những tác nhân tích cực làm thay đổi cuộc đời của chúng ta.

Nếu ta bắt đầu suy nghĩ cách tạo thêm sự yên tĩnh và không gian cho cuộc sống để có thể nuôi dưỡng niềm vui, thì hãy nhớ rằng, không ai trong chúng ta có thể làm điều đó một mình. Nếu có một môi trường tốt hỗ trợ, chúng ta sẽ làm được và tận hưởng được sự yên tĩnh dễ dàng hơn nhiều. Nếu ta không thể tự dời đến một môi trường yên tĩnh và bình an hơn, thì hãy tiếp cận nhiều với những người có khả năng thúc đẩy một năng lượng tập thể từ bi và bình an. Ý thức chọn lựa những gì và những ai chúng ta gần gũi, sống với, là một trong những chiếc chìa khóa mở ra không gian cho niềm vui và hạnh phúc của chúng ta.

Thực tập: Nuôi dưỡng

Mỗi khi có cảm giác cô đơn và lo sợ, hầu hết chúng ta đều có tập khí tìm một cái gì đó để giải khuây. Điều này dần dần đưa chúng ta đến một hình thức tiêu thụ không lành mạnh, dù chỉ là ăn một bịch bánh snack khi không đói, “lướt” mạng một cách vô thức, hay đọc một thứ gì đó. Vì vậy, để nuôi dưỡng thân tâm bằng chánh niệm, ta phải quay về với hơi thở ý thức. Sau một hoặc hai hơi thở chánh niệm, ta sẽ bớt đi ý muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng trống trong lòng hoặc để giải khuây. Thân và tâm ta trở về đoàn tụ với nhau và cả hai cùng được nuôi dưỡng bởi hơi thở chánh niệm. Hơi thở của ta sẽ dần dần êm dịu một cách tự nhiên, những căng thẳng trong thân ta cũng được buông thư.

Trở về với hơi thở ý thức sẽ cho ta cơ hội nghỉ ngơi bổ ích và làm cho chánh niệm của ta lớn mạnh hơn, cho nên khi muốn nhìn sâu vào nỗi lo sợ và những cảm xúc khác, ta sẽ có đủ bình an và định tĩnh để có thể làm chuyện đó.

Từ thời của Bụt đã có thực tập thiền hướng dẫn. Khi ngồi hoặc đi, chúng ta có thể thực tập theo những bài tập sau đây. Khi thiền tọa, điều quan trọng là ta cảm thấy thoải mái, giữ cột sống cho thẳng và thư giãn. Chúng ta có thể ngồi trên một chiếc gối với hai chân bắt chéo nhau, hoặc ngồi trên ghế đặt hai bàn chân chạm đất. Khi thở vào hơi thở đầu, ta nói thầm câu đầu tiên; khi thở ra, ta nói thầm câu thứ hai. Với những hơi thở vào ra tiếp theo, ta có thể chỉ cần sử dụng những từ khóa.

Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

 (Vào/Ra)

 

Thở vào, hơi thở của tôi đã sâu hơn.

Thở ra, hơi thở của tôi đã chậm hơn.

 (Sâu/Chậm)

 

Thở vào, tôi ý thức về thân thể tôi.

Thở ra, tôi làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh.

 (Ý thức về thân/An tịnh)

 

Thở vào, tôi mỉm cười.

Thở ra, tôi buông thư.

 (Mỉm cười/Buông thư)

 

Thở vào, tôi an trú trong giây phút hiện tại.

Thở ra, tôi tận hưởng giây phút hiện tại.

 (Giây phút hiện tại/Tận hưởng)

 

 

[1] Tweet là mẩu tin nhỏ được đăng trên mạng xã hội Twitter. (chú thích của biên tập viên)

Nẻo về tiếp nối đường đi


 Kịch của Sư Ông Làng Mai
sáng tác vào mùa Giáng Sinh 1967 tại New York City.

Vào lúc mười hai giờ rưỡi khuya ngày 5 tháng 7 năm 1967, tại xã Bình Phước, tỉnh Gia Định, năm thanh niên bị một toán người lạ mặt tới dẫn đi và bắn chết trên sông Sài Gòn. Năm người đều là tác viên của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động thuần túy bất bạo động cho sự hàn gắn thương tích chiến tranh và tái thiết thôn xóm. Họ tên là Hy, Tuấn, Thơ, Lành và Đính. Tuấn là một tu sĩ trẻ tuổi.

Hy, Tuấn, Thơ và Lành chết ngay tại chỗ. Đính chưa chết, nhưng máu ra đẫm ướt hết áo quần, nằm mê man. Toán người lạ tưởng năm người đều đã chết, liền kéo đi. Yên lặng trên sông. Trời có rất nhiều sao, nhưng không có trăng. Bỗng một chiếc thuyền nhẹ nhàng cập bến. Nhất Chi Mai hiện về trên chiếc thuyền. Nhất Chi Mai hiện về với chiếc thuyền con đủ để chở bốn người thanh niên đi. Bốn người thôi, bởi vì Đính, người thứ năm, còn sống và ở lại.

Trời có rất nhiều sao nhưng không có trăng.

Tác giả nói : “Tôi cam đoan rằng câu chuyện tôi viết sau đây là có thật”. Câu chuyện nào có thực? Câu chuyện năm người thanh niên bị một toán người lạ mặt tới dẫn đi và bắn chết trên bờ sông ư? Chuyện này ai lại không biết là có thực mà tác giả phải cam đoan? Tác giả muốn nói : Những gì xảy ra sau đó, “những gì tôi viết sau đây”, là có thực. Chuyện Nhất Chi Mai hiện về với chiếc thuyền, chuyện năm chị em bơi bằng những bàn tay để đưa chiếc thuyền con đi tới.

Có thiệt hay không ai mà biết. Nhưng tác giả đã cam đoan, thì ta hãy tạm nghe tác giả. Chuyện thật giả như thế nào? Tác giả viết : “Tôi còn nhớ khi đặt bút xuống mở đầu câu chuyện, tôi thấy mười bốn con mắt nhìn về phía tôi. Mười bốn con mắt mở to. Tôi nói tôi cam đoan rằng câu chuyện này có thực. Ai có thể chứng được cho tôi?

“Tôi nói có thực tại vì tôi đã sống trong câu chuyện, đã sống trong sự sống của câu chuyện”. Không có khoa học nào hay thước đo nào có thể kiểm chứng được tính cách hiện thực của sự sống trong câu chuyện.

Tình yêu cho ta thấy những sự thực mà kẻ kia, vì không thương yêu, không thể trông thấy.

“Ai đã đi qua và ai còn ở lại? Ta từ đâu tới và sẽ về đâu? Bên đó với bên này là hai hay là một? Có một dòng sông chia ngang hay không ; có một dòng sông mà thuyền bè không thể qua lại – Có thể có một sự chia cách đứt đoạn như thế hay không?

“Xin hãy xuống thuyền. Tôi sẽ cho anh thấy là chúng ta có một dòng sông, nhưng không có một sự chia cách.”

“Xin chớ ngại; tôi sẽ tự tay cầm chèo đưa anh đi thăm. Hãy chèo rất trầm tĩnh và im lặng.”

 

Mai : Để chị ngồi trước mũi thuyền cho. Các em ngồi cho có thăng bằng. Thơ, ngồi tới một chút nữa, gần chị đây. Được rồi, bây giờ các em mỗi em dùng một bàn tay để chèo. Ngồi bên trái thì dùng bàn tay trái, ngồi bên mặt thì dùng bàn tay mặt. Nhè nhẹ chứ, Thơ ; mày làm nước văng ướt cả chị đây này.

Hy : Thuyền đi nhanh quá, phải không chị.

Mai : Tại vì chúng mình nhẹ. Chú Tuấn, chú coi thằng Thơ kìa. Nó bơi liếng thoắng làm cho thuyền chao qua chao lại. Chú mắng nó đi.

Thơ : Em đâu có sợ chú Tuấn chị. Em nghịch ngợm quen mất thói đi rồi, bây giờ chết xuống đây mà vẫn còn nghịch ngợm. Thôi để em ngồi cho nghiêm kẻo chị mắng.

Tuấn : Thơ nó nghịch như vậy nhưng mà dễ thương lắm đó chị. Hồi nó còn sống, em cứ thỉnh thoảng cốc cho nó một cái trên đầu. Chị Chín nói nó là một thằng thông minh. Không biết nó có thông minh thật không, chứ cái đầu của nó rất cứng. Em cốc trên đầu nó mà thấy đau cả ngón tay.

Thơ : Tại vì chú ác cho nên mới bị đau tay. Chớ như chị Mai thì chị có bị đau tay bao giờ đâu, bởi vì chị không có “bạo động” mà cốc lên đầu em như chú. Nào bây giờ cả chú và em đều chết rồi thì khó mà kiểm soát được là tại đầu của em cứng hay là cái tay của chú quá mềm.

Mai : Thôi đừng nói xạo nữa Thơ. Em thông minh đấy. Nhưng em phải ngồi yên kẻo thuyền chòng chành khó chèo lắm. Chúng ta phải đi suốt mười hai giờ đồng hồ mới tới nơi được.

Hy : Đi thăm chị Liên phải không chị.

Mai : Ừ đi thăm Liên và Vui. Vui thì đang làm làng[1] và học vẽ. Còn chị Liên thì đi chơi, đọc Đại Bát Nhã và dạy cho Vui vẽ.

Thơ : Chị Vui chết rồi mà còn làm làng nữa hả chị?

Mai : Ở đâu mà chả có làng. Nhân gian, địa ngục hay thiên đàng gì thì cũng có người. Mà hễ có người là có làng. Vui thì ham làm làng lắm, không làm làng thì không chịu nỗi. Kỳ rồi gặp Vui chị thấy Vui đang dán nhãn hiệu mấy chai meo nấm rơm.

Thơ : (cười khanh khách): Bộ muốn trồng nấm rơm bán cho dân làng hả. Chị Vui đáng lẽ phải đi chơi đây đó cho khuây khỏa. Sống làm làng suốt đời rồi mà chết cũng còn muốn làm làng.

Mai : Vui thì có ham chơi như em đâu. Vui lớn rồi.

Thơ : Bộ chị cho em còn nhỏ lắm hả. Em chỉ nhỏ hơn chị Vui có một hai tuổi gì đó thôi chớ mấy. Em làm làng siêng năng lắm, chớ bộ. Nếu không, sao em lại được bầu làm trại trưởng trại công tác Bình Phước.

Mai: Oai lắm rồi. Ai mà không biết Thơ làm việc giỏi. Nhưng mà dù sao em vẫn chưa chín chắn bằng Vui.

Thơ : Thôi chị cứ coi thường em mãi, em không chịu đâu.

Hy : Thơ, sao cậu cứ “nhỏ em” với chị Mai hoài vậy. Trại trưởng như vậy thì ai phục.

Thơ : Thơ đâu có cần ai phục. Hồi còn sống cần “lấy le” để cho anh Hy phục chơi chứ ; bây giờ chết rồi thì cần gì nữa. Này anh Hy, bây giờ chết rồi anh có buồn không?

Hy : (cười) Đừng hỏi vớ vẩn. Vui buồn là việc của người sống, đâu phải là việc của người chết. Nào tất cả các cậu chèo cho đều tay và im lặng nghe tôi :

(hát)

                    hãy nghe lời tôi như nghe suối reo
                    hãy nghe lời tôi như nghe chim hót
                    như xem liễu lục bông hồng
                    như ngắm hoa vàng trúc biếc
                    như nhìn bạch vân minh nguyệt
 …

(ngừng hát. Im lặng. Tiếng sóng nhỏ va mạn thuyền. Một lát sau.)

Thơ : anh Hy đi đâu thì đem thi ca và âm nhạc đến đó. Tôi không biết anh hát khúc hát nào mà nghe quen tai quá.

Mai : Thơ có hiểu ý khúc hát đó không.

Thơ : Em không giải nghĩa được nhưng em cảm thấy như là em không cần hiểu. Tiếng hát và câu hát thấm sâu vào lòng em và như nâng em lên cao.

Tuấn : Như vậy thì đủ lắm rồi. Cần chi phải giải nghĩa được mới gọi là hiểu.

Thơ : chị Mai, chị cho tụi em biết chết rồi thì tụi em phải làm gì đây chị? Em có phải đi làm làng như là chị Vui hay không?

Mai: Em không phải làm gì hết. Em có thể đi chơi suốt ngày.

Thơ : Thế thì thích quá. Cũng như chị Liên phải không chị? Chị Liên cũng đi chơi … À mà chị Liên còn đọc Bát Nhã và dạy cho chị Vui vẽ nữa…

Mai : Ừ, cũng như chị Liên.

Thơ : Nhưng mà tại sao chị Vui lại phải làm làng? Mà thế giới của người chết làm sao mà lại có làng có nước được chị ?

Mai : Chị đâu có nói Vui phải làm làng. Nếu Vui muốn làm làng thì tự nhiên có làng cho Vui làm. Thế giới của người chết chúng mình biến đổi tùy theo sự ước muốn của mỗi chúng mình. Mà chị thấy thế giới của người sống cũng vậy. Cũng như chị Liên muốn vẽ gì thì vẽ và có thể vẽ ra bất cứ cái gì chị ấy ưa vẽ.

Tuấn : (lẩm bẩmTâm như họa sư, năng họa nhất thiết hình tượng …

Thơ : Chú Tuấn lại xổ triết học của Phật Học Viện ra đó nữa rồi. Chị ơi, thế giới của mình là âm phủ hay thiên đường đây hả chị. Sao em thấy nó giống hệt như là thế giới của người sống?

Mai : Đây không phải là âm phủ mà cũng không phải thiên đường, mà cũng không phải là một thế giới cách biệt với dương gian như người sống thường tưởng.

Lành : Và dương gian cũng không cách biệt với âm phủ và thiên đường như người sống thường tưởng, phải không chị? Em có cảm tưởng là em có thể hát cho những người sống nghe được chị ơi.

Mai : Nãy giờ mới thấy Lành góp ý. Em nói rất đúng. Nói “âm dương cách trở” là sai. Người sống sở dĩ sầu não là tại vì họ cứ tưởng dương gian âm phủ cách biệt ngàn trùng. Em có thể hát cho những người sống nghe được. Cũng như chị đã hát … Cũng như bài hát vừa rồi của Hy.

Thơ : Hồi còn sống, Hy làm trưởng ban văn nghệ của chúng em. Chết rồi Hy vẫn còn làm trưởng ban văn nghệ … Anh Hy, ngày xưa hồi chúng mình còn sống, văn nghệ là một phương tiện xây dựng nông thôn, phát triển xã hội. Chúng mình đã dùng văn họa nhạc kịch để phục vụ lý tưởng nhân bản và dân tộc. Bây giờ anh định dùng những thứ ấy để làm gì hở anh?

Hy : không để làm gì hết. Văn nghệ chính là sự sống … Hồi còn sống chúng ta có văn nghệ. Bây giờ nói rằng chết rồi, kỳ thực chúng ta vẫn còn sống (cười), vẫn bơi thuyền, vẫn chuyện trò. Và vì vậy chúng ta vẫn còn văn nghệ… Nói cho đáng, không có sự chết làm gì có sự sống. Chúng ta liên tục chết trong lúc chúng ta liên tục sống.

Thơ : Anh nói giọng sao nghe như giọng chú Tuấn ấy.

Tuấn : (đằng hắng) Giọng chú Tuấn thì sao hả Thơ?

Thơ : Giọng triết học.

Mai : (cười) Chính Thơ cũng nói giọng đó mà Thơ không biết. Tất cả chúng ta đều nói giọng đó mỗi khi chúng ta tỉnh táo. Chị em mình bây giờ tỉnh táo hơn ngày xưa…

Tuấn : Em thấy hình như mình đang còn bơi trên sông Sài Gòn phải không chị. Phải rồi, đây còn là đất nước của mình mà.

Mai : Phải, đây còn là đất nước của mình. Các em mới chết hồi khuya. Ở khúc sông phía sau lưng, cách đây chừng tám cây số. Chị đã đem thuyền đến đón các em ngay lúc đó. Bây giờ chúng ta đang bơi ngược dòng sông. Chúng ta ngược dòng lên vùng sát biên giới (im lặng một lúc lâu).

Tuấn : (mỉm cười) Thế mà chúng em tưởng như chúng em chết đã lâu lắm rồi. Thật giống như một giấc mộng. Bây giờ thì em tỉnh táo lắm, chớ lúc mới trông thấy chị, em vẫn cứ như mới ngủ dậy.

Thơ : Em chẳng ngạc nhiên tí nào khi trông thấy chị. Em cho như thế là chuyện dĩ nhiên. Nếu chị không đến đón, thì ai mà đến đón tụi em.

Mai : Thơ làm tàng hoài ! Bộ em tưởng chị cưng em lắm hả. Chị cũng có việc phải làm chứ. Nói thế nhưng chị đâu đến nỗi bận bịu gì mà không đến đón các em.

Lành : Nếu chị không đến đón thì giờ này chúng em còn ngồi bên bờ sông. Giả sử lúc đó tụi em nhớ tới chị và muốn đi tìm chị thì không biết tụi em sẽ đi về hướng nào.

Mai : Nếu các em nhớ tới chị và muốn tìm chị thì tự khắc các em trông thấy chị đến. Chị đã nói: ở đây mọi sự đều xảy ra do ý muốn của chúng ta.

Lành : Sao lòng em không hề gợn một chút buồn thương. Không một chút xót xa, chị ạ. Em đã tưởng là sau khi chết, người ta có thể mang theo nhiều uất hận. Ở dương gian người ta nói chuyện thác oan, người ta nói chuyện những linh hồn báo oán và sợ sệt đến nỗi bị ám ảnh. Em thấy người chết hình như bình tĩnh và sáng suốt hơn người sống chị ạ. Chẳng ai nghĩ đến sự báo oán đâu. Chỉ thấy thương xót cho người sống thôi, dù đó là kẻ đã giết mình.

Thơ : Thơ có cảm tưởng là nếu Thơ còn sống, Thơ có thể tìm tới nhà cái anh chàng đã bắn Thơ mà hỏi cho ra cái nguyên cớ nào trong ban đêm lại đem người ta ra bờ sông mà bắn chết. Nhưng bây giờ Thơ lại thấy không oán hận kẻ kia một tí nào. Chắc có lẽ tại người chết hay có lòng tha thứ.

Hy : Có lẽ tại người chết không còn xác thân nặng nề cho nên những tham vọng giận hờn cũng không còn. Bởi vì tham vọng giận hờn phần lớn đều phải bám vào thân xác trĩu nặng. Bây giờ bọn mình không còn xác thân nữa thì …

Mai : Sao mà không còn xác thân, em. Nếu không còn xác thân tại sao chị lại trông thấy em. Có một điều là xác thân chúng ta không nặng nề, thế thôi. Em xem, chiếc thuyền này vốn mảnh khảnh mà chở được tới năm chị em mình …

Thơ : Ừ nhỉ, chị em mình nhẹ thật. Hèn chi mà thuyền đi nhanh thật nhanh. Chị ơi, hồi mấy anh chàng ấy bắn tụi em, chị có mặt đó không?

Mai : Không. Chị không có mặt tại đó. Nhưng chị thấy nóng ruột. Và chị biết. Thế rồi chị mang chiếc thuyền lại. Lúc chị đến thì cả bốn đứa em đều còn ngồi trên bờ, riêng Hy thì áo quần ướt và hơi run.

Hy : Khi bị bắn thì em ngã xuống sông. Tay em bị trói ra đằng sau, nên em chỉ có thể xử dụng hai chân để trồi lên mặt nước. Vậy mà em bị họ bắn theo, cho đến khi xác thân em chìm nghỉm mới thôi.

Mai : Tội nghiệp em tôi.

Hy : Chị đừng tội nghiệp cho em làm chi. Chị nên tội nghiệp cho những người còn sống. Một vài giây phút đau đớn, đó là tất cả những gì em gánh chịu. Nhưng những người thân yêu của chúng ta, những người còn sống .. em thấy tội nghiệp cho họ. Và cả những người giết chúng em nữa. Họ mờ mờ mịt mịt có biết gì đâu.

Mai : Em kể cho chị nghe từ đầu.

Hy : Để em nhớ lại chút đã. Ừ phải rồi, lúc nửa đêm, chú Tuấn, Lành và em đang ngủ tại trạm Y tế thì một toán người có súng đến bắt chúng em dẫn đi. Trước khi đi, họ nỗi lửa đốt trạm y tế sáng rực. Họ trói tay chúng em ra phía sau và dẫn chúng em đến hồ nước gần nhà thể thao của hội Tinh Võ, bắt chúng em ngồi đó đợi. Một lát sau, có hai người lạ mặt khác dẫn Thơ và chú Đính tới ; hai người này cũng bị trói tay phía sau như chúng em. Họ đưa năm người chúng em ra bờ sông, bảo để đợi đò. Chúng em ngồi yên bên bụi tre. Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần xem có chắc chúng em là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không. Họ nói : Chúng tôi rất tiếc nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Thế rồi họ bắn chúng em. Bốn chúng em chết, còn chú Đính tuy bị thương nặng, vẫn còn sống. Họ tưởng chú Đính cũng đã chết rồi nên bỏ đi.

Tuấn : Họ gồm tất cả mười một người. Có người còn trẻ lắm, độ mười sáu mười bảy. Người lớn tuổi nhất cũng chỉ độ hăm bảy hăm tám. Một số mặc đồ đen, một số mặc đồ nhà binh. Có người mặc áo mưa nilon, có người choàng poncho. Có người đội nón nhà binh và mang thắc lưng đạn. Em biết họ là ai rồi.

Mai : Chị cũng biết họ là ai rồi. Em không cần phải nói.

Hy : Em thấy hình như họ cũng chưa quen với công việc giết người chị ạ. Họ muốn bắn tụi em mà cứ chần chờ hoài.

Thơ : Chắc chắn là họ đã nhận được thượng lệnh phải giết tụi mình. Cái anh chàng chỉ huy cả toán đó chị, cái anh chàng bắn em hai phát liên tiếp vào đầu đó chị, cũng phải làm gan làm dạ, bặm môi lại mới bóp cò súng được đó chị à. Họ cũng hiền lắm.

Tuấn : Cái thằng này chết rồi mà còn trào phúng hoài.

Thơ : Thật đó mà chú Tuấn. Hồi họ bắt em và chú Đính tại nhà ông ủy viên y tế xã, họ trói tay chúng em ra sau và cột chung hai đứa lại cho chúng em khỏi trốn. Em và chú Đính phải nhảy qua hai con mương rộng một thước dùng để dẫn nước vào ruộng mía đấy mà. Chú Đính té ngã khi nhảy qua con mương thứ hai. Họ đỡ chú dậy. Em bảo họ cắt dây rời ra để cho dễ đi. Họ cắt dây. Và họ hỏi han tử tế, nói chuyện với tụi em như bạn bè.

Lành : Suốt quãng đường đi và trong những lúc nghỉ chân, họ xử sự với tụi em một cách dịu dàng, tử tế và có khi thân mật nữa. Làm em tưởng không đến nỗi nào đâu. Lúc Thơ nó luồn hàng rào kẽm gai, bị dây kẽm gai sướt trên trán, một người trong bọn họ đưa tay sờ trán Thơ, săn sóc như anh em ruột thịt với nhau vậy. Em, chính em cũng được họ vỗ vai.

Hy : Vậy mà rốt cuộc họ cũng giết chúng em.

Mai : Thân phận con người. Tội nghiệp lắm em. Và con người thì yếu đuối..

Hy : Chị cũng biết rằng em không nói câu đó với giọng trách móc. Mắt em mở sáng từ lúc em thoát khỏi thân phận con người. Em chỉ mong con người có thể tìm thấy  một con đường ít chông gai hơn, thế thôi.

Mai : Em nào mỏi tay thì đổi tay chèo. Đổi chỗ cho người ngồi bên cạnh. Thơ sang ngồi bên phía kia, nhường chỗ đó cho chú Tuấn. Còn Hy đổi chỗ cho Lành. Được rồi, thong thả mà đi. Chúng ta không vội. Sao sáng quá. Thực ra, Hy à, nói tới thân phận là nói tới những điều kiện con người. Con mắt người dương gian không thấy hoặc khó thấy được diện mục của cuộc đời cũng vì những điều kiện đó.

Hy : Có cách gì thay đổi được những điều kiện đó không chị? Để mà thay đổi được cái thân phận đó không chị?

Mai : (chậm rãi) Con người có đi tới, Hy ạ. Có điều là đi tới chậm quá. Bởi vì vậy mà ngày tháng ở dương gian đi mau đối với nhận thức của chúng ta. À này các em, trước khi họ bắn các em, họ có nói gì không?

Lành : Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần xem chúng em có phải là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không. Rồi họ đi ra xa, bàn luận thầm thì với nhau năm bảy lượt mà chưa chịu hạ thủ. Cuối cùng họ hỏi: các anh còn muốn hỏi gì nữa không? Lúc em nghe câu hỏi đó, em thấy lạnh xương sống. Thằng Thơ nó trả lời rằng không muốn hỏi gì hết. Thế rồi viên chỉ huy tiến lại, tay trái sờ lên trán của Thơ, miệng nói rất nhanh : chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi buộc lòng phải bắn anh, và tay phải đưa súng vào mang tai Thơ nổ liền hai phát. Bốn người khác cũng bị bắn nhào ngay sau đó. Hy trúng đạn té xuống sông, cố trồi lên, nhưng bị bắn theo cho tới khi chìm.

Mai : Tội nghiệp. Chú Văn mà nghe nói lại chắc chú khóc ngất.

Tuấn : Vâng, mọi người thân thuộc đều sẽ phải đau đớn, không riêng gì chú Văn. Nhưng cũng may cho họ một điều, (mỉm cười) là người dương thế mau quên. Trong một vài tháng, sự xót xa trong lòng họ sẽ dịu dần. Những lo lắng mới và những buồn phiền mới sẽ khiến họ lãng quên. Thật ra nếu không quên thì họ không thể sống được.

Mai : Nghĩ cũng tội nghiệp. Có người biết trước rằng mình sẽ quên nên tìm cách ghi lại nỗi nhớ niềm thương của mình trên gạch đá hay giấy mực, để có thể nhớ mãi. Nhưng cái hình ảnh quan trọng nhất là cái hình ảnh trong lòng họ, có phải không các em. Chị thì chị muốn những người thân yêu của chị quên chị cho thật chóng để mà khỏi khổ đau, thế thôi.

Tuấn : Coi kìa cái thằng Thơ. Nó làm cái gì vậy.

Mai : Cái thằng nghịch quá. Nó biến nhỏ lại thành đứa trẻ con. Khéo mất thăng bằng thuyền nghiêng bây giờ Thơ.

Thơ : Em trở lại hình hài em lúc tám tuổi, mấy đứa bạn học của em ở trường nếu có nhớ em thì chúng nhớ cái thằng Thơ to đầu hai mươi mốt tuổi chớ đâu chúng có nhớ cái thằng Thơ tám tuổi này. Chỉ có em là biết cái thằng Thơ tám tuổi của em thôi. Nhưng mà bây giờ có thể trở về lớn hay nhỏ tùy ý rồi thì em lại không còn nhớ cái thời tuổi nhỏ của em nữa.

Tuấn : Lớn trở lại đi Thơ. Tao chẳng quen cái thằng Thơ tám tuổi. Tao chỉ biết cái thằng Thơ hai mươi mốt tuổi. Lớn trở lại đi để mà nói chuyện, Thơ.

Thơ : Thì em lớn trở lại đây. Chú còn “chấp tướng” quá. “Bất khả dĩ “tuổi tác” nhi kiến “thằng Thơ của chú”, chú nghe chưa. Đáng lẽ chú tu thì có thể nhìn thấy thằng Thơ của chú dưới bất cứ hình thức nào cũng được chứ, hà tất phải là dưới hình thức thằng Thơ hai mươi mốt tuổi.

Tuấn : Mày lắm chuyện lắm. Không cần dạy kinh Kim Cương cho tao đâu.

Mai : Hai chú cháu gọi là mày tao quen rồi à?

Thơ : Xin chị đừng chấp. Khi nào chú Tuấn xưng mày tao với em tức là chú nói giọng thân mật đó. Tức là chú cháu chúng em thương nhau lắm đó. Chú cứ gọi như thế đi chú Tuấn. Em thích như thế lắm.

Tuấn : Bộ tao không biến thành một đứa nhỏ được sao? Chỉ sợ khi tao biến thành tám tuổi mày lại năn nỉ tao lớn trở lại để mày có thể nhận ra chú Tuấn của mày thôi.

Thơ: Chú là người tu chứ em đâu phải là người tu. Em không nhận được ra chú trong hình thái tám tuổi đó là chuyện thường.

Mai : Thôi Thơ đừng trêu chú Tuấn nữa. Ngồi cho ngay ngắn lại. Chú Tuấn, chú có nhớ gì hồi chú bị bắn không?

Tuấn : Em thấy nó bắn thằng Thơ. Em niệm Phật, tức thì súng nổ vào đầu em vào thân thể em. Em chết rất mau… không đau đớn gì lắm đâu chị. Em không biết chú Đính hiện giờ ra sao.

Mai : Chú Đính không chết đâu. Chú bị một phát đạn xuyên qua tay, qua phổi, lủng lá lách. Máu ra nhiều. Chị có ghé lại nhìn. Lúc đó những người giết các em đã đi xa rồi và chú còn tỉnh. Chú ho và mỗi lần ho là máu vọt ra ướt thêm, đỏ cả cái áo cánh trắng của chú. Họ tưởng chú không còn sống. Chú sẽ được cấp cứu kịp thời, các em đừng lo.

Thơ : (trầm ngâm) Rồi khi bình phục, chú sẽ kể chuyện lại cho các bạn… Chẳng biết chú có còn nhớ gì mà kể hay không.

Lành : Chuyện đó có quan trọng gì đâu Thơ… Chú chẳng kể gì hết cũng không sao. Chưa biết chừng càng hay. Tôi tin các bạn vẫn giữ được thái độ không oán hờn thù ghét. Chúng ta chết đi là để xây dựng cho tình thương, không phải để tạo thêm oán hận căm thù.

Mai : Chị có đức tin nơi chú Văn và những người bạn của chị. Chị có đức tin nơi tất cả các em, những người còn sống. Họ sẽ từ chối con đường hận thù…(im lặng hồi lâu. Trái sáng bắn lên hai bên bờ sáng rực dòng sông).

Hy : Họ bắn hỏa châu suốt đêm trên đất nước ta.

Lành : Nếu họ có giác quan của người chết, chắc là họ trông thấy chúng ta đang bơi thanh thản giữa dòng sông. Và họ cũng nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền trong đêm hôm khuya khoắt.

Hy : Thực ra tại vì họ không biết và không nghĩ đến chúng ta nên không trông thấy được chúng ta đó thôi. Tôi tin rằng nếu có chú Đức đứng bên bờ sông chắc chắn là chú trông thấy bọn ta và thế nào chú cũng đưa tay vẫy.

Lành : Chị Mai, sao đất nước chúng mình chìm đắm mãi trong khói lửa vậy chị? Bao giờ thì chúng ta mới thoát cảnh thịt nát xương rơi?

Mai : Em hãy yên lòng. Đất nước chúng ta còn bị tàn phá nhiều nữa trong những ngày sắp tới. Phải tròn một chu kỳ. Sống chết là chuyện thường. Cuối cùng Hòa Bình cũng phải tới (tiếng súng nổ ran bốn phía).

Thơ : Súng nổ nhiều quá. Mẹ em nghe súng bà ngủ không được chị Mai ơi.

Mai : Má em ở có một mình thôi à ? Có đứa nhỏ nào ngủ với bà không?

Thơ : Bà có nuôi một đứa cháu nhỏ và ngủ với nó. Em là con trai mà lại là con một.

Hy : Nghe nói thân sinh của Thơ cũng chết vì bạo lực. Không biết ai giết ông hả Thơ?

Thơ : Hồi nhỏ tôi có nghe mang máng ông làm cách mạng… Mà thôi, đừng nói chuyện đó nữa. Chị Mai, hồi nãy chị nói chị Vui đang làm làng, em vẫn chưa hiểu.

Mai : Rồi em sẽ hiểu. Em làm thế nào mà hiểu hết tất cả mọi chuyện trong một buổi khuya. Chị sẽ đưa em đi thăm làng của Vui. Vui dạy rất nhiều trẻ em. Làng của Vui cũng có đủ trâu bò, dòng sông, vườn chuối, cây chanh, cây khế…

Lành : Trời ơi, thế thì chắc em cũng sẽ tiếp tục làm làng như Vui. Em còn nhớ cây chanh, cây khế lắm. À mà chị ơi, chị chưa kể cho chúng em nghe câu chuyện của chị. Chị làm gì từ khi từ biệt chúng em?

Hy : Ừ, chị hy sinh thân cho Hòa Bình tự những ngày nào xa xăm lắm rồi kia. Mấy năm rồi hả hả chị?

Thơ : đâu mà tới mấy năm lận; mới có mấy tháng trước đây mà thôi, phải không chị?

Mai : Ý niệm về thời gian mỗi người mỗi khác. Chị thấy như đã là cách đây mấy kiếp rồi.

Thơ : Lửa có nóng lắm không hả chị?

Mai : Em hỏi gì buồn cười quá. Chị quên rồi, không biết là có nóng hay không. Nhưng mà chị nhớ là định lực của chị khá vững. Chị đạt được lời nguyện. Trước giờ hy sinh chị chỉ cầu nguyện mong sao ngồi thật yên trong lửa đỏ. Chị đã ngồi yên.

Lành : Khi bọn em hay tin, đứa nào đứa nấy khóc sướt mướt. Bọn em nghĩ là chị không thương chúng em nên chị mới nỡ ra đi như vậy.

Mai : Em đừng nói vậy mà buồn lòng chị. Không có sự lựa chọn nào mà không khổ đau…

Lành : Đó là em nói sự phân bì của chúng em đối với lý tưởng chị – hồi xưa tụi em còn tai phàm mắt thịt, thế thôi. Bây giờ thì em hiểu chị rồi.

Thơ : Rồi chị đi đâu sau đó hả chị?

Mai: (trầm ngâm một lát) Chị đứng trên lan can nhìn xuống thân xác của chị đang bốc cháy. Chị mỉm cười nhưng hai mắt chị thì ướt đẫm. Người nào đứng đó cũng khóc. Chị cũng khóc vì thấy người ta khóc. Nhưng khi ba của chị tìm đến được thì chị không khóc nữa. Đó là giây phút khó khăn nhất của chị. Không còn gì làm mình đau đớn hơn là trông thấy người thân yêu của mình đang đau đớn vì mình. Chị đã viết để lại cho ba má chị những lá thư rất dễ thương, khuyên dặn đủ điều. Nhưng em biết, những lá thư thì có nghĩa gì…

Hy : Rồi sao nữa chị.

Mai: Ba của chị ngất đi. Rồi tỉnh lại. Rồi lại ngất đi. Cũng may lúc đó cái ông đại úy đòi khám nghiệm tịch thu xác chị, làm ba chị giận run lên. Cái giận này làm cho sự thương đau bớt phần mãnh liệt.

Thơ : Hoan nghênh ông đại úy.

Mai : Chị cũng thảnh thơi lắm từ lúc bắt buộc phải xa các em. Lòng chị rất thanh thản. Chị rất thương các em. Chị đã che chở cho các em rất nhiều lần. Cơ sự xảy ra hồi khuya là định mệnh…

Hy : Chị đi nhiều nơi lắm phải không chị?

Mai : Chị đi rất nhiều nơi. Lên non, xuống biển. Tóc chị vẫn cài hoa bưởi trắng đây, em thấy không? Ruộng vườn quê hương mình xác xơ, nhưng chị không còn ngậm ngùi. Sớm muộn đất nước cũng sẽ thanh bình. Bánh xe đang chuyển về hướng đó. Chị đi qua những vùng rừng núi cháy nám, bom đạn cày nát. Chị gặp những đoàn người tỵ nạn chiến tranh, nồi niêu quang gánh, bước thấp bước cao…

Lành : Người chết có thể giúp gì được không hả chị?

Mai : (cười) Chị chết đã lâu, đã khá lâu rồi nên chị biết rõ là chị không thật sự chết. Hình dáng và âm thanh của chị đối với em… Chị vẫn còn có mặt trên dương thế và vì vậy chị vẫn còn tiếp tục làm công việc của chị.

Thơ : Có mặt trên dương thế. Làm sao chết rồi mà vẫn còn có mặt trên dương thế được hả chị?

Mai : Điều đó rất giản dị. Chắc chú Tuấn có thể cắt nghĩa cho em.

Tuấn : Thì chị cứ nói cho Thơ nghe đi chị.

Mai : Em đốt một viên than cháy hồng, viên than biến thành nhiệt lực. Khi viên than tàn thành tro bụi, nhiệt lực kia chính là hậu thân của viên than. Nhiệt lực đó sẽ tạo nên những ảnh hưởng dây chuyền không bao giờ dứt, hoặc trong trạng thái năng lực hoặc trong trạng thái vật chất. Và sự diễn biến dây chuyền đó xãy ra trong liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với những dòng diễn biến khác.

Tuấn : Tức là liên hệ nhân duyên.

Mai : Phải rồi, tức là liên hệ nhân duyên. Không có cái gì mất đi cả, tuy nhiên không có cái gì ngồi yên một chỗ và giữ mãi được hình thái của nó.

Hy : Cũng như là hồi nãy Thơ nó biến hình lại nhỏ như đứa bé tám tuổi. Ta không nhận ra nó nhưng quả thực nó là nó.

Thơ : Nó là nó nhưng mà nó không giống nó, vì thế mà hồi nãy chú Tuấn mới bắt buộc nó trong hình thức kia phải trở về với nó trong hình thức này, trong hình thức hăm mốt tuổi.

Tuấn : Mày cứ trêu tao hoài.

Mai : Chết là một sự chuyển biến có vẻ hơi đột ngột, thế thôi. Nếu Thơ nó chết hồi tám tuổi thì bây giờ làm gì có Thơ hăm mốt tuổi để mà chết và để mà ngồi đây. Thật ra các em ạ, chính Thơ tám tuổi đã phải chết để nhường chỗ cho Thơ hăm mốt tuổi. Nhưng cái chết của Thơ tám tuổi là sự chuyển biến không đột ngột. Người ta gọi đó là sự thay đổi chậm, là sự lớn lên.

Tuấn : Người ta cũng gọi là sát na vô thường, sự chuyển biến từng giây. Còn cái chết của mình hồi khuya chẳng hạn, người ta gọi là nhất kỳ vô thường – sự chuyển biến của một giai đoạn, một chu kỳ.

Mai : Chú dùng danh từ Phật học thì nghe gọn hơn tôi nhiều. Đúng như vậy đó Hy. Để mà lớn lên, Thơ đã phải tiếp nhận vô số những điều kiện từ vạn nẻo hiện hữu: không khí cho Thơ thở, rau trái cho Thơ ăn, học vấn cho Thơ khôn, tình yêu cho Thơ lớn… và muôn ngàn cái “nhân duyên” lớn bé khác. Cho nên trong Thơ, có sự có mặt của nhiều khuôn mặt hữu tình và vô tình. Hữu tình là người và vô tình là vật. Ba má Thơ cũng có mặt nơi Thơ này, chị cũng có mặt nơi Thơ này, và cô thiếu nữ má đỏ sẽ khóc Thơ sáng nay cũng đang có mặt trong Thơ. Cô thiếu nữ giờ này còn ngủ an lành trên dương thế…

Thơ : Thôi chị đừng trêu em nữa. Em hiểu rồi. Có phải là chị muốn nói em cũng đang có mặt nơi nàng, và có mặt trong bao nhiêu người thương yêu khác đang ở trên dương thế – và vì vậy em con hiện hữu trên đó, còn tiếp tục gây tác động dây chuyền trên đó…

Mai : Em quả thực là thông minh. Không những em còn có mặt trong họ, em lại còn có mặt ngoài họ nữa. Những gì em nói em làm trong suốt bao nhiêu năm cũng đã lên đường gây tác động dây chuyền. Em có mặt khắp nơi.

Lành : Thành ra cái hình bóng của Thơ mà em thấy đây không phải là tất cả Thơ…

Mai : Làm sao mà là tất cả Thơ cho được? Thơ hăm mốt tuổi đã không phải là Thơ tám tuổi rồi mà. Thơ trước mặt chúng ta chỉ là Thơ của tầm mắt ngắn của chúng ta, chỉ là Thơ của tâm tình hẹp của chúng ta mà thôi. Thơ trước mặt ta là Thơ của khái niệm ta nhiều hơn…

Lành : (đưa một ngón tay lên) Vậy để em nói thử thế này xem chị có cho là đúng không nhé. Chúng mình đang đi thuyền ngược sông Sài gòn, nói là để lên biên giới thăm chị Liên và cô Vui. Chúng mình muốn đi thăm Liên và Vui của tâm tư mình, chứ thực ra hiện hữu của Liên và Vui to lớn hơn nhiều. Chúng ta chỉ cần ngó lại là thấy Liên và Vui trên mọi nẻo đường. Có phải thế không chị?

Mai : Em nói rất đúng. Chúng ta đang đi tìm Liên và Vui của tình cảm chúng ta, của thói quen chúng ta. Vì vậy chúng ta mới cần ngược dòng sông lên biên giới. Liên và Vui kỳ thực còn có mặt một cách hiện thực trên dương gian. Sự có mặt ấy còn rõ ràng hơn sự có mặt của Liên và Vui ở thế giới này nữa.

Thơ : Nhưng dù sao em vẫn muốn tới thăm cái làng của chị Vui, xem thử chị ấy làm làng có giỏi hơn hồi năm ngoái không. Và em muốn xem lại cây chanh khế của quê hương em.

Mai : Thì ai cấm em đâu nào. Em sẽ gặp Vui. Em có muốn làm trại trưởng một trại công tác ở dưới này cũng còn được, nữa là.

Thơ : Còn chị Phương Liên ở đâu?

Mai : Chị ấy ở chơi với Vui. Chị Liên có vẻ thanh thoát lắm. Chị ấy cười luôn. Hai chị em hay lẩn quẩn bên nhau. Lần cuối gặp chị Liên, chị thấy chị Liên cầm trong tay một cuốn Đại Bát Nhã. Chị ấy đang đọc toàn bộ Đại Bát Nhã.

Tuấn : Bây giờ nếu em đọc lại Bát Nhã chắc em sẽ thấu đạt dễ dàng hơn xưa chị nhỉ ? Em thấy tâm hồn em yên tĩnh lắm, không có lo lắng, ưu phiền.

Mai : Chừng gặp chị Liên chúng ta sẽ bắt chị ấy giảng Bát Nhã cho nghe.

Tuấn : Hồi còn sống ngày nào em cũng đọc Bát Nhã Tâm Kinh. Em tưởng là em hiểu. Mãi cho đến khi anh chàng mặc choàng tấm poncho chĩa súng vào đầu em, em mới thấy được cái điều cốt tủy của Tâm Kinh.

Lành : Chú thấy như thế nào, nói cho chúng tôi nghe đi.

Tuấn : Khó nói quá. Đây không phải là một vấn đề hiểu, mà là một vấn đề thấy, Lành à. Cái hiểu thì còn có thể diễn tả lại, chớ cái thấy thì khó quá. Nó trực tiếp, nó đột ngột như một làn chớp giật.

Lành : (năn nỉ) Nhưng mà chú thử nói cho chúng tôi nghe xem sao.

Tuấn : Cái khi mà anh chàng choàng poncho chĩa súng vào đầu tôi, tôi thấy một cách chớp nhoáng, không biết tại vì sao, là không phải anh chàng bắn tôi. Anh chàng đang bắn một cái gì khác ấy, không phải là tôi. Anh chàng có biết tôi là ai đâu mà bắn tôi. Và tôi tự hỏi, từ khuya đến giờ, là tại sao người ta  lại có thể bắn vô đầu một kẻ mà mình không biết là ai?

Thơ : Cái chú nầy nói mới lạ chứ. Ông ta hỏi năm lần bảy lượt để biết chắc rằng chúng ta là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội rồi ông ta mới bắn. Ông ta bắn chú bởi vì ông biết chú là ai, chú là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Người ta muốn bắn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Vậy nên người ta bắn chú.

Lành : Sao chị Mai lại cười.

Mai : Chị cười vì Thơ nó nói giọng “luận lý học”. Chính Bát Nhã là khí giới dùng để đập vỡ lý luận hình thức đó.

Tuấn : Chị nói như vậy là đúng với điều em nghĩ. “Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội,” chỉ là một cái nhãn hiệu. Hoặc chỉ là nhãn hiệu trên đối tượng của một sự thù ghét hay sợ hãi. Đối tượng của sự thù ghét hoặc sự sợ hãi đó là một cái gì nằm trong nhận thức chủ quan của con người ta. Nó có dính dáng gì đến con người của em đâu. Họ bắn vào đối tượng của sự thù ghét và sợ hãi của họ, và vì họ dán nhãn hiệu đối tượng đó vào em cho nên em chết lây, cho nên họ bắn luôn cả em. Họ bắn em vì quả thực họ không biết em là ai.

Hy : Chú Tuấn muốn nói đến sự lầm lạc của nhận thức con người, phải không? Vì sợ hãi và thù ghét nên con người trở nên không sáng suốt. Họ không thấy nhau. Họ không thể thiết lập được sự cảm thông giữa họ với nhau, cho nên không thể nhìn thấy mặt mũi của nhau. Họ chỉ thấy mặt mũi của những con quái vật và do đó họ có can đảm giết nhau. Chừng nào họ giết được sự lầm lạc của nhận thức họ, họ mới nhìn nhận ra được mặt mũi của nhau mà thôi.

Mai : Cuộc chiến đang diễn ra trên quê hương ta một phần lớn cũng do sự mê muội đó của con người. Những kẻ đang giết nhau quả thực không biết nhau là ai. Họ đều là nạn nhân cho những quan niệm sai lạc. Và người ta lợi dụng họ.

Lành : Thực vậy chị. Cũng như những người đã giết chúng em. Có lẽ họ cũng thoáng thấy được chúng em là những con người, nhưng rốt cuộc vẫn phải bắn chúng em. Họ phải vâng theo một mệnh lệnh nào ấy, như là mệnh lệnh ác nghiệt của số phận con người.

Thơ : Thì còn mệnh lệnh siêu hình nào nữa. Mệnh lệnh của thượng cấp họ, chớ mệnh lệnh của ai.

Mai : Thơ, em chưa hiểu ý của Lành. Đã đành những người giết em vâng theo mệnh lệnh của thượng cấp họ, nhưng chính cái thượng cấp ấy cũng là nạn nhân của sự mờ ám, thù ghét và sợ hãi. Những người bắn em đã biểu lộ nhân tính của họ – họ ngập ngừng không muốn giết nhưng cuối cùng họ phải giết. Điều kiện trên đe dưới búa của họ. Vợ con họ, số phận họ, mạng sống của họ nữa. Đó là chưa kể nhận thức của họ có thể đã bị hôn ám một phần lớn mất rồi.

Hy : Em nhớ là một người trong bọn họ có buột miệng kêu “trời, sao các anh còn trẻ quá”. Em cho câu đó là một lời than trách không những cho số phận chúng em mà là cho số phận của chính họ nữa.

Mai : Người ta giết nhau một phần là tại họ không biết mặt mũi của nhau, một phần là tại bị dồn vào thế không thể không giết nhau. Chị nhớ câu chuyện chú Đức kể cho chị nghe hồi năm ngoái. Bữa đó chú ngồi đợi máy bay dân sự ở một phi trường nhỏ rất hẻo lánh ở cao nguyên. Ngồi đợi với chú là năm sáu người lính Mỹ trẻ tuổi. Họ đợi chiếc Karibou quân sự để đi tác chiến. Phi trường vắng vẻ không có ai ngoài họ. Một anh lính Mỹ ngồi buồn, tới gợi chuyện chú Đức. Anh lính chẳng biết gì về đất nước văn hóa Việt Nam cả, chẳng biết gì về sự thực cuộc chiến ở xứ này. Anh chỉ biết kẻ thù anh là Việt Cộng – anh phải giết Việt Cộng vì sự sinh tồn của người Việt Nam và của thế giới tự do mà nước Mỹ của anh lãnh đạo – Chú Đức buồn lắm. Chú hỏi: anh có sợ Việt Cộng không? Đột nhiên người lính Mỹ hoảng hồn. Anh thoáng nghi rằng cái người đang nói chuyện với anh là Việt Cộng. Việt Cộng nó âm mưu tài tình lắm, anh nghĩ, và vì anh sợ cho nên ở đâu lúc nào anh cũng nghi và cũng thấy toàn Việt Cộng. Anh ta hỏi gấp: ông có phải là Việt Cộng không? Chú Đức kể lại rằng tuy câu hỏi rất ngây ngô nhưng chú không dám cười. Nhìn vào mặt người lính Mỹ chú biết anh ta sợ thật tình. Chú biết nếu chú nói đùa là “phải” thì chắc chắn nó bắn chú. Cho nên chú liền nói “không” và nói cho nó biết chú là giáo sư dạy ở Sài Gòn đang đợi máy bay về Sài Gòn. Chú kể câu chuyện xong rồi thì chú nói : nếu chú chết lúc đó thì không phải là nó muốn giết chú mà chỉ vì nó muốn giết Việt Cộng. Thực ra nó chẳng biết Việt Cộng là gì cho nên nó mới thù ghét được Việt Cộng đến mức ấy. Nó cứ nghĩ Việt Cộng là loài ác quỷ – cần phải tiêu trừ. Bên xứ sở họ, người dân cũng bị nhóm cầm quyền và khối liên hợp quân sự – kỹ nghệ tuyên truyền như thế cho nên vẫn để cho chính quyền họ gửi người sang để chém giết và bị chém giết. Dù giết người thì cũng giết oan mà bị giết là cũng bị giết oan. Chính đồng bào họ giết họ chớ ai. Người ta chịu trách nhiệm về sự giết hại đồng bào của mình và cứ nghĩ rằng mình không nhúng tay vào sự giết chóc. Ai giết họ? Sự sợ hãi, sự thù ghét và những thành kiến của họ.

Lành : Cái cõi dương gian quả là mờ mịt chị ạ. Thân phận con người thật đáng thương. Người trần mắt thịt không thấy được gì qua lớp màn vọng tưởng của mình. Đúng là đi đêm, mờ mờ nhân ảnh.

Mai : Chị nói sang chuyện khác nhé. Chị muốn đưa các em lên thăm chị Liên cũng là để cho các em có dịp xem tranh của chị ấy. Đắc thể lắm. Hồi còn trên dương gian, chị Liên cũng rất ưa thích hội họa. Tranh vẽ của chị Liên đã đạt lắm rồi. Chắc chắn chị ấy rút cảm hứng từ nguồn Bát Nhã.

Hy : Vui hồi ở dương gian cũng rất thích hội họa. Chắc hai chị em bây giờ tương đắc lắm. Em cũng ưa hội họa. Chị có nghĩ rằng em sẽ hiểu được tranh chị Liên không. Nghe nói cảm hứng ở Bát Nhã, em ngại quá.

Mai : Có gì đâu mà không hiểu được hả em. Vừa rồi chúng ta đàm luận về Bát Nhã đấy, về một đề tài có liên hệ đến nguồn cảm hứng ấy đấy. Chúng ta tự vẽ ra cuộc đời của chính chúng ta. Nét vẽ của em phóng đạt thì cuộc đời của em phóng đạt, thế thôi. Thế giới chúng ta do chúng ta tạo dựng nên bằng cái nhìn, bằng quan niệm và bằng ý lực của chúng ta. Chúng ta có thể tạo ra cho chúng ta một thế giới bưng bít ngục tù, sầu thảm, đau thương. Chúng ta cũng có thể tạo ra cho chúng ta một thế giới bao la tự do – đẹp đẽ không cùng … Điều cần yếu là chúng ta đạt đến tinh thần quán tự tại, đến một nhận thức khai phóng cởi mở.

Hy : Bây giờ thì em hiểu câu nói hồi nãy của chú Tuấn : “tâm như họa sư …”

Mai : (cười lớn) Đúng như vậy. Thì các em tự vẽ lấy đời mình từ nay nhé. Nhà nghệ sĩ nào cũng có thể đạt đến đích tuyệt diệu của sự sống bằng nghệ thuật mình.

Lành : Xem chừng bức họa của em, chị ơi, thế nào cũng giống với bức họa của chị Vui và của anh Thơ. Thế giới của em thế nào cũng phải có cây chanh, cây khế. Em đã dọa chú Đức là nếu Niết Bàn không có cây chanh và cây khế thì em nhất định không về rồi mà. Thiên đường cũng vậy. Thế giới của em còn phải có những cây dừa nước, những con rạch nước trong buổi sáng, những mái trường lợp lá có tiếng hát trẻ em vọng về bữa trưa : “nước non Lam Sơn, nước non Lam Sơn, bóng cờ bay phấp phới …”

Thơ : Trời ơi, nhớ quá. Cái thằng Cu Thanh ở xóm Bình Phước bây giờ còn ngủ chắc. Sáng mai này thức dậy, nghe tin thầy giáo nó chết chắc nó khóc hết nước mắt.

Lành : Thế giới của chúng mình phải còn có thằng cu, còn có những buổi hợp thân mật trong làng mà mục đầu của chương trình bao giờ cũng là : ông Cả có vài lời. Thế giới của chúng mình còn có những bến sông tắm rất mát. Để thỉnh thoảng chúng mình bơi nhè nhẹ qua bên kia sông bẻ trộm vài bắp ngô đem về nướng ăn với nhau. Thế giới như thế có phải là quá nhỏ hẹp không chị?

Mai : (cười đại lượng) Thế giới đó đâu có nhỏ hẹp. Những nét vẽ của các em là những nét vẽ của tình yêu. Nét vẽ phóng đạt đâu phải chỉ là những nét vẽ núi, mây, khung trời bao la và một cây thông đứng đơn độc hùng mạnh bên sườn tuyết. Thế giới của Trì Địa, các em thấy đó, có đủ cả ao hồ đồi núi, những chiếc cầu cong, những con đường đất đỏ …

Lành : (bí mật) Và cả những con đường tráng nhựa.

Mai : Ừ, và cả những con đường tráng nhựa. Chính vì tình yêu mà các em vẽ nên cây chanh, cây khế, bụi tre, bến nước đầu làng. Cuộc chiến tranh kéo dài sẽ tạo thêm trong lòng người chất liệu hận thù. Tình yêu bị đe dọa. Khi những người thân yêu bị giết hại oan ức, người ta khó giữ được tâm trạng bình tĩnh để thương yêu. Lấy oán báo oán, oán hận chập chùng. Người tạo ra tình yêu thì mỗi ngày một ít, còn người tạo ra oán hận thù ghét càng ngày càng nhiều. Lòng người thay đổi; con người thuần phát của dân tộc ta , sau cơn lửa đạn, sẽ mang trong tâm hồn nhiều vết thương hận thù. Xót xa biết mấy.

Lành : Đó là niềm lo lắng lớn nhất của chúng ta, phải không chị ? Thà rằng tan nát trong thời gian ngắn để mà tái tạo còn hơn là kéo dài để giết chết niềm tin và tình thương trong lòng người.

Tuấn : Phải, đó là niềm lo lắng căn bản của chúng ta. Tôi ra đời năm 1945, một lần với cách mạng. Tôi là con út trong một gia đình ba anh em. Chúng tôi lớn lên chỉ thấy chiến tranh và hận thù. Bến Tre quê hương tôi  là một nguồn sinh lực cách mạng sôi động không ngừng. Cuồn cuộn như nước sông Tiền Giang ba bề bốn bên chảy về cửa biển. Gia đình tôi nhận thức được sự cần yếu của đạo đức của tình thương nên đã khuyến khích tôi đi vào đời sống xuất gia. Phật Học Viện Giác Sanh, Phật Học Viện Trà Vinh rồi Phật Học Viện Ấn Quang. Tiếp đến là những năm tháng thụ huấn ở trường xã hội và những ngày hoạt động. Tôi hăng hái làm việc không phải vì có ảo tưởng công trình lửa xe nước gáo có thể thay đổi tình trạng, mà vì tin rằng công tác chúng ta quan trọng ở nơi gieo rắc tình yêu trong lòng người.

Lành : Chỉ mong cái sống và cái chết của chúng ta đã có thể gieo rắc thêm hạt giống tình yêu … Như chị Mai chẳng hạn, cái chết của chị đã không hề gây căm phẫn hận thù mà chỉ tạo nên hạt giống thông cảm và hy sinh nơi lòng người, dù là những người ở rất xa…

Mai : Chúng mình đã lên gần tới nguồn rồi đó. Các em có thấy rừng núi  rậm rạp hai bên bờ không.

Hy : Thuyền đi nhanh thật. Làng của chị Vui nằm gần biên giới hả chị?

Mai : Gần biên giới. Đi khoảng hai mươi cây số nữa thì ta lên bộ. Nước sẽ chảy xiết không bơi ngược dòng được nữa. (tiếng vượn hú vang rừng)

Thơ : Trời đã sáng rồi đó các bạn. Trông về phía rừng núi ửng hồng kìa, chú Tuấn. Mà hình như có ai đứng đón thuyền phía trên kia hả chị Mai? Trông như chị Liên ấy.

Mai : (cười) Chị Phương Liên đấy chứ ai. Chèo mạnh tay lên tí nữa, các em.

 

________________

[1] làm làng: về làng quê giúp dân quê cải tiến và phát triển nông thôn về các phương diện giáo dục, y tế, kinh tế và xã hội 

 

 

 

Sắc Thu 2020

 

Mùa Thu ở Làng đang vào độ chín. Đi thiền hành trong rừng bạch dương trên thảm lá xào xạc, chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua, những chiếc lá sẽ theo nhau rụng xuống ngoạn mục như vũ điệu của một cơn mưa. Bước lên thảm lá một cách có ý thức chúng ta sẽ tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt của những chiếc lá. Lá đã được biểu hiện vào mùa xuân và mang trên mình chiếc áo mới xanh non. Suốt cuộc đời của mình, lá vui chơi, nhận ánh sáng, làm việc để nuôi cây và tự nuôi mình. Đến mùa Thu lá chín. Mặc dù thế nào cũng rụng vào đầu mùa đông nhưng lá không sợ hãi. Lá thấy mình trong cây, lá cũng là cây. Trở về với đất, lá sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cây. Lá chẳng có gì phải lo sợ cả. Khi rời cành bay bổng trong không trung, lá mỉm cười vẫy tay chào cây: “Ta sẽ gặp lại nhau một ngày rất gần.” Tiếp xúc với mùa Thu, với chiếc lá, với bông hoa, với những điều đơn sơ, bình dị của sự sống quanh mình ta sẽ thấy thêm yêu Đất Mẹ, thêm yêu cuộc đời này biết mấy.

Đất Mẹ là vị một vị Bồ Tát xinh đẹp. Nếu ta biết nuôi dưỡng chính mình bằng những cái đẹp, thiện và lành từ Đất Mẹ thì ta cũng sẽ biết cách thương yêu, nuôi dưỡng và bảo vệ cho Đất Mẹ.

Mời bạn buông thư, thở nhẹ, mỉm cười và thưởng thức mùa Thu như thưởng thức một ly trà ấm trong hai tay với trọn vẹn sự có mặt và trân quý.

 

 

Nụ cười tỏa chiếu niềm tin
“Nụ cười tỏa chiếu niềm tin”

(Phỏng vấn sư cô Thuận Nghiêm)

Sư cô Thuận Nghiêm xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, nước Pháp, trong gia đình Cây Bông Sứ. Sư cô đã có nhiều năm gắn bó với Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) ở Hong Kong. Từ mùa xuân năm 2019, sư cô đã về nhập chúng xóm Mới (Làng Mai – Pháp) và tiếp tục hiến tặng rất nhiều tiếng cười, niềm vui cho mọi người, đặc biệt là các sư em nhỏ. Nhân dịp này, Ban biên tập đã có buổi trò chuyện với sư cô về hành trình tâm linh cũng như những kỷ niệm của buổi ban đầu sư cô đến với đời sống xuất sĩ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

BBT: Thưa sư cô, điều gì đã đưa sư cô từ Mỹ qua tới Pháp để trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai? Điều gì gây ấn tượng nhiều nhất khi sư cô tới Làng Mai lần đầu tiên?

Năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp ở Mỹ. Mẹ của chị nói: “Con chở mẹ tới nghe buổi pháp thoại công cộng của Thầy”. Địa điểm diễn ra buổi pháp thoại rất gần nhà chị ở Virginia. Vì mẹ rất muốn nghe Thầy giảng nên chị đồng ý lái xe đưa mẹ đi.

Thầy thuyết pháp tại giảng đường của một trường trung học cho khá nhiều người nghe. Trước đó chị chưa bao giờ nghe nói tới Thầy. Hôm đó, chị chỉ nhớ Thầy nói về phòng thở và chị thấy điều đó chẳng hứng thú gì mấy và cũng không thực tế cho lắm, ít người có thể thực sự làm được.

Chị nói với mẹ là chị muốn đi về nhưng mẹ trả lời: “Được, con cứ về nhưng mẹ sẽ ở lại”. Lúc ấy mẹ chị đã là một sư cô rồi, xuất gia với Sư Ông Trúc Lâm. Vậy nên cuối cùng chị cũng đành ở lại. Cuối buổi pháp thoại, chị thấy có một bàn đầy những sách của Thầy. Mẹ nói với chị: “Đường xưa mây trắng là cuốn sách rất hay, con nên đọc nó”. Chị trả lời: “Con không đọc đâu. Cuốn đó dày quá”. “Vậy con thỉnh cuốn đó cho mẹ được không? Mẹ muốn đọc nó”. Chị nghĩ mẹ chị đã cố gắng tạo mọi điều kiện cho chị được gặp Pháp, được gặp Thầy.

Chị đã thỉnh cuốn sách về nhà nhưng không đọc ngay, vì vào những ngày cuối tuần chị thường đi chơi với các bạn. Tụi chị thích đi xe đạp lắm. Lúc đó, chị làm việc ở Washington DC nơi có rất nhiều những tượng đài lớn, mỗi đời Tổng thống đều có một tượng đài khác nhau! Trong thành phố cũng có nhiều công viên rất đẹp, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa anh đào nở. Nước Nhật đã tặng cho thủ đô Washington rất nhiều cây anh đào. Cuối tuần nào chị cũng đạp xe với bạn bè, chị đâu còn thì giờ để đọc sách. Cho đến một lần, tất cả đám bạn đều đi nghỉ lễ hết, chỉ còn mình chị ở nhà. Lúc đó, chị mới bắt đầu đọc cuốn sách. Khi đã cầm tới nó, chị không thể để nó xuống được nữa. Chị đọc một mạch tới hai giờ sáng. Chị nghĩ trong lòng: “Có một cách sống khác, đơn giản nhưng quả thật rất có ý nghĩa”.

Thầy đã viết cuốn sách này thật hay. Chị nghĩ bụng có lẽ khi nào đó chị sẽ đi du lịch ở châu Âu và sẽ dừng chân ở Làng Mai để “mục sở thị”cuộc sống ở đó. Và rồi mùa hè tiếp theo – hè 1999 – chị đã tới Làng Mai. Khi chị tới nơi, ở Làng gần như chẳng có ai. Thầy đã đưa một phái đoàn đi hoằng pháp ở Trung Quốc. Người đầu tiên chị được gặp là sư cô Phúc Nghiêm và sư chú Pháp Bảo. Chị tới vào thứ Bảy, hôm sau là ngày Phật đản. Thầy đã đưa hầu hết các vị xuất sĩ Tây phương đi cùng trừ sư chú Pháp Bảo vì sư chú vừa mới xuất gia.  Chị rất ấn tượng với buổi lễ mừng Phật đản, giản dị nhưng vô cùng cảm động và hoàn toàn khác với những nghi lễ mà chị đã thấy trong các chùa truyền thống.

Chị chỉ ở lại Làng hai đêm ba ngày. Trước khi rời Làng, chị đã hỏi: “Ở đây quý thầy, quý sư cô được xuất gia như thế nào?”. Khi đặt câu hỏi này, chị cũng thực sự ngạc nhiên với chính mình. Cuộc sống của chị trước khi tới Làng vốn cũng đơn giản. Khi nhìn thấy cách sống đơn sơ và mộc mạc ở Làng chị cảm thấy như về đến nhà. Vào thời điểm đó, chị chẳng có chút ý niệm nào về cứu độ chúng sanh, chị cũng chưa có một tâm bồ đề dũng mãnh hay điều gì đó tương tự. Chị chỉ muốn sống một đời sống đơn giản.

Chị về lại Mỹ, sắp xếp mọi thứ và chỉ khoảng năm tháng sau chị đã quay lại Làng xin được xuất gia. Rất nhanh chóng! Khi còn ở Mỹ chị có viết một bức thư hết sức buồn cười cho Thầy. Chị viết: “Kính gửi Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Con đã đến Làng Mai, Hòa thượng không có ở đó nhưng con đã gặp tăng thân của Hòa thượng và con muốn đến đó sống, con không biết làm sao để được chấp nhận”. Thầy dạy Sư cô Chân Không viết thư trả lời chị.

Trong thư, Sư cô viết: “Con hãy thu xếp mọi việc rồi tới đây”. Khi chị trở lại Làng, Sư cô nói với chị: “Con là trường hợp dễ nhất. Sư cô không cần phải thuyết phục con gì hết. Con đã tự mình đến”. Lúc đó là vào tháng 12 năm 1999. Chị quyết định tới Làng trước năm 2000, vì xung quanh chị ai cũng nói tới sự cố máy tính đầu thiên niên kỷ mới. Chị sợ rằng nếu có chuyện xảy ra, hệ thống máy điện toán bị sụp thì mọi thứ có thể bị ngưng trệ hay trì hoãn. Thế nên, chị quyết định phải đến Làng trước năm 2000! Chị đã tới Làng như vậy đó!

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô có thể kể cho chúng con về thời sadi của sư cô không? Điều gì khó khăn nhất với sư cô trong giai đoạn này, khi sư cô mới vào chùa? Sư cô đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Sống cùng và chia sẻ phòng với người khác là điều khó khăn nhất với chị. Chị đã quen sống một mình và có phòng riêng. Điều gì đã giúp chị vượt qua thử thách này? Chị nghĩ rằng nhớ lại tâm ban đầu đã giúp chị rất nhiều. Trước khi xin xuất gia, chị phải viết xuống những tâm nguyện của mình. Chị đã viết: “Con muốn sống hòa đồng với mọi người”. Đó là nguyện ước duy nhất của chị. Chị nghĩ chắc Thầy sẽ cho chị cái tên Đồng Nghiêm. Nhưng cuối cùng chị lại được mang tên Thuận Nghiêm. Có lần Thầy hỏi chị: “Con có biết vì sao thầy đặt tên con là Thuận Nghiêm không?”. Chị trả lời Thầy: “Thưa Thầy, con không biết”. Thầy nói: “Chẳng lẽ thầy đặt tên con là Nghịch Nghiêm?”. Chị đã phá lên cười và Thầy cũng cười khi thấy chị phản ứng lại với câu hỏi của Thầy.

BBT: Ngoài khó khăn trong chuyện ở chung, sư cô còn gặp những trở ngại nào khác không?

Có chứ, thức ăn! Trước khi xuất gia, chị không hề ăn chay. Trong quá khứ, thông thường sau khi xuất gia mình sẽ không ra khỏi tu viện trong vòng một năm. Thầy dạy rằng mình cần ở trong tu viện vì như vậy sẽ giúp bảo hộ sáu căn dễ hơn. Khi chị mới xuất gia, ở Làng còn rất ít người. Có lần sư cô Thoại Nghiêm cần chị làm đệ nhị thân cho sư cô đi chợ ở Ste Foy la Grande. Chỗ ấy có tiệm bán gà nướng! Khi đi qua đó, chị thèm ăn thịt kinh khủng. Chị chỉ muốn mua nguyên cả con gà, chứ không chỉ một miếng, và ngồi xuống ăn hết ngay tại chỗ. Mùi thịt nướng thật không thể chịu nổi. Sư cô Thoại Nghiêm phải nói với chị: “Mình đi thôi, sao sư em cứ đứng đó hoài vậy?”. Khi mình không thấy thì không thèm. Không phải ra ngoài nhiều quả thật đã giúp chị rất nhiều. Tuy vậy, cơ thể chị cũng mất cả năm để thích nghi với chế độ ăn chay.

BBT: Xin sư cô chia sẻ với chúng con một vài kỷ niệm với Thầy mà sư cô ấn tượng nhất?

Khi chị mới xuất gia, tăng thân của mình chưa lớn như bây giờ. Thầy thường hay mời các sư con tới thiền trà cùng. Một lần sau bữa tối, chuông điện thoại reo, giọng Thầy ở điện thoại: “Các con tới chơi với Thầy”. Khi mọi người tới là khoảng 7 hay 8 giờ tối. Tất cả cùng ngồi chừng hai tiếng chờ ngắm hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh thường nở lúc 10 hay 10 giờ 30 đêm. Chậu hoa được đặt ở giữa phòng Thầy, mọi người ngồi xung quanh. Thầy rót trà mời mỗi người rồi nói: “Con hát đi”. Thầy nói như vậy với chị tới ba lần nhưng chị bướng bỉnh không chịu hát. Thế là Thầy hát. Thầy hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Thầy học ở trường mẫu giáo. Thường thì mỗi khi Thầy mời ai hát, Thầy sẽ chuẩn bị sẵn bài hát của mình. Người được mời hát trước rồi Thầy sẽ hát sau. Riêng với ca của chị, chị không hát bài nào vì thực sự là trước khi xuất gia chị chẳng bao giờ hát.

Một bữa khác, sư cô Diệu Nghiêm (sư cô Jina) đem trà đen từ Ái Nhĩ Lan về. Thầy pha trà và chuẩn bị rót vào ly cho mỗi người. Chị biết đó là trà đen, rất đậm, mà lúc đó đã là buổi tối rồi. Chị nhìn Thầy đang rót trà và thưa: “Bạch Thầy, con không uống trà”. Thầy nhìn chị nói: “Ngồi yên đi con, đây là thất Ngồi Yên”. Rồi Thầy đưa ly trà cho chị. Uống hết ly trà, chị thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con có thể xin thêm một ly nữa được không ạ?”. Ôi, thời sadi của chị, toàn là những điều trái khoáy!

BBT: Thưa sư cô, chúng con biết là Thầy luôn quan tâm chăm sóc mỗi đệ tử của mình. Khi sư cô có dịp được đi cùng Thầy trong những chuyến hoằng pháp, sư cô được Thầy chăm sóc như thế nào?

Trong cuốn Tay thầy trong tay con – cuốn sách tập hợp những bức thư Thầy viết cho đệ tử – có một đoạn Thầy viết về cách mình thực tập khi đi ra ngoài. Mỗi khi đứng đợi làm thủ tục check-in ở sân bay Thầy luôn đi qua đi lại nhắc nhở: “Các con, mình đang check-in nhưng nhớ là mình cũng đang thở”. Trước khi lên máy bay, trong phòng chờ, Thầy luôn ngồi ở hàng ghế đầu để anh chị em có thể nhìn thấy Thầy dễ dàng. Thấy Thầy là ai cũng nhớ để trở về với hơi thở. Đó là cách Thầy nhắc nhở đệ tử. Lúc ấy, mới là một sadi, chị không thấy được điều đó, chị chưa có nhiều chánh niệm. Nhưng bây giờ, chị nhớ lại hết những điều này. Cách Thầy dạy học trò của mình là như vậy đó, khi thì bằng lời nói, khi thì bằng thân giáo của Thầy. Thầy luôn là người lên máy bay cuối cùng. Sư cô Chân Đức từng chia sẻ có lần Sư cô lên máy bay trễ vì Sư cô phải đi vệ sinh, khi Sư cô còn đang tìm xem mình phải lên cửa nào thì bỗng có ai vịn vào vai Sư cô từ phía sau, người đó chính là Thầy. Thầy luôn là người đi cuối cùng trong đoàn để đảm bảo là ai cũng đã lên máy bay.

Trong một chuyến hoằng pháp, tăng thân đi từ miền Nam Cali lên miền Bắc bằng xe bus. Trong 6 giờ đồng hồ trên xe đại chúng hát thiền ca. Trước khi xe chuyển bánh, Thầy là người lên cuối cùng. Thầy cười và nói: “Chúng ta đang làm công việc của Bụt, các con mời Bụt trong mình lên thở và có mặt với mình trong xe”. Rồi chuông được thỉnh lên. Boong, boong… Thầy luôn tận dụng mọi cơ hội để nhắc đại chúng trở về với sự thực tập chánh niệm.

Có thời gian Thầy khuyến khích tất cả mọi người đọc cuốn Những người con của tiến sĩ Lương (Kinfolk) của Pearl S. Buck, một tác giả Mỹ đã đoạt giải Nobel Văn học. Lần đó, chị đọc cuốn sách trên xe bus, chị chăm chú hoàn toàn vào cuốn sách, không biết gì tới xung quanh mọi người đang ăn uống, hát ca, trò chuyện,… Rồi tự nhiên có người đến bên cạnh, vỗ vào vai chị và đưa cho chị một bịch khoai tây chiên, đó là Thầy.

Lần khác, sau khi kết thúc một khóa tu ở Colorado, đại chúng lấy xe bus để đi tới điểm mình sẽ đi dã ngoại. Ai cũng đã lên xe và Thầy là người lên sau cùng. Thầy nhìn các con một lượt và hỏi: “Thầy có một câu đố cho các con, cái gì trắng ở bên ngoài nhưng nâu ở bên trong?”. Các sư em thử đoán xem! Đó chính là… cái xe bus. Bên ngoài nó được sơn màu trắng nhưng bên trong da bọc ghế có màu nâu. Cả xe không ai trả lời được câu đố của Thầy, không ai trong đoàn có đủ chánh niệm lúc đó để nhìn rõ cái xe bus. Thầy thực sự sống rất sâu sắc mỗi giây phút của đời sống.

Thầy luôn cố gắng hết sức để nhắc nhở, dạy dỗ các đệ tử của mình trở về với tự thân, với hơi thở bằng nhiều cách rất khéo và cũng rất vui.

BBT: Thưa sư cô, có khi nào sư cô cảm thấy Thầy dạy mình đúng theo cách của một Thiền sư không? Chúng con thường hay nghe kể rằng Thầy hay dạy quý thầy khá mạnh nhưng nhẹ nhàng với quý sư cô?

Đúng là như vậy, Thầy thường nhẹ nhàng hơn với quý sư cô. Chị cũng từng bị Thầy rầy nhưng đó là sau này khi chị đã lớn hơn, chứ không phải trong thời gian còn là sadi. Thầy biết lúc đó chị còn yếu, nếu bị Thầy la mạnh chắc chị không chịu nổi! (cười)

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã giữ tâm bồ đề của mình như thế nào? Đã có khi nào sư cô nghĩ tới chuyện rời khỏi tăng thân chưa?

Chưa. Mình không bao giờ chắc chắn được về bản thân mình. Chị thường cố gắng không nói không bao giờ. Đó thực sự là một cách để thử bản thân. Những thử thách luôn đến từ bên trong. Chị luôn thận trọng khi trả lời câu hỏi này. Câu trả lời của chị là: Chưa, chị chưa khi nào nghĩ tới chuyện rời bỏ tăng thân.

Năm năm đầu tiên sau khi xuất gia quả thật là khó khăn đối với chị. Chị nhận ra rằng những khó khăn đó đến là vì chị đã không thực sự bám vào sự thực tập. Chị để cho tâm mình luôn chạy hết chỗ này tới chỗ khác. Sau năm năm, chị có thêm nhiều không gian bên trong và bắt đầu liên hệ được với mọi người.

Chìa khóa ở đây là sự thực tập chánh niệm. Nếu mình có đủ chánh niệm, mình có thể nhìn thấy mình rõ hơn: nhìn ra cách mình suy tư, hành xử, nói năng. Khi nhìn ra được thì mình có thể chuyển hóa được.

BBT: Thưa sư cô, có câu “thần chú” nào giúp sư cô dừng lại tâm mình khi nó chạy rất nhanh hoặc muốn chạy trốn không?

Chị thực tập thiền hành mỗi ngày sau bữa ăn trưa. Mình phải chọn một sự thực tập và thực sự để hết lòng mình vào sự thực tập ấy cho tới khi nắm vững nó. Thầy hay nói: “Thầy cho rất nhiều nhưng các con nhận chẳng bao nhiêu”, “Thầy nạo xương tủy của Thầy ra để cho các con”. Điều đó có nghĩa là mình chưa thực sự để hết năng lượng, cố gắng của mình vào sự thực tập.

Hãy chọn thực tập một thứ thôi, như là thực tập không nói trong khi đi, nhưng phải thực sự thực tập hết lòng. Các sư em hãy thử đi. Đối với chị cách thực tập này đã giúp chị rất nhiều trong việc chuyển hóa tự thân vì nhờ đó mà chị có khả năng chú tâm, chị có thể nhìn ra được cách tâm mình vận hành, những thói quen của nó và từ đó chị mới có thể chuyển hóa được nó.

Trong quá khứ, ai vắng mặt thiền tọa hoặc thiền hành ba lần mà không có lý do chính đáng sẽ phải ra sám hối trước đại chúng. Điều này cũng giúp rất nhiều cho sự thực tập. Khi mình ở trong một tăng thân nhỏ, đại chúng sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình ngay. Với đại chúng khoảng 70 người như hiện nay ở xóm Mới, sẽ khó nhận ra sự vắng mặt của ai đó hơn. Vì vậy, mình càng phải ý thức thực tập hơn. Đó chính là công phu của mình. Nếu mình không hạ thủ công phu, không giữ nề nếp thực tập mỗi ngày, thời gian trôi qua rất nhanh, mình sẽ không có nền tảng gì hết và mình sẽ gặp khó khăn. Thầy hay nói: “Đừng có thực tập sơ sơ hay thực tập ngoài da”.

Tưởng tượng rằng mình đang bị chìm trong nước, nếu ai đó ném cho mình một cái phao thì mình sẽ ngay lập tức bám chặt lấy nó, vì đó là vấn đề sống hay chết, không phải chuyện đùa. Các sư em hãy nghĩ về chuyện thực tập hơi thở ý thức với tinh thần như vậy. Đã bao lần Thầy bệnh nặng, thập tử nhất sinh nhưng nhờ vào hơi thở Thầy đã qua được. Cho nên, hãy chọn một sự thực tập và đầu tư hết mình vào đó, thật sự đặt hết sinh lực của mình vào đó.

Chị nghĩ rằng chị đã có những thói quen tốt là nhờ được sống gần Sư cô Chân Đức trong ba năm đầu khi chị còn là sadi. Đó thực sự là một may mắn lớn. Sư cô rất kỷ luật và nghiêm túc trong sự thực tập. Sống cùng Sư cô một thời gian đã giúp chị dần hình thành thói quen không bỏ thời khóa. Chị tham gia đều đặn mọi thời khóa hàng ngày của tăng thân, trừ những khi bị bệnh. Khi mình mới xuất gia mình còn có rất nhiều tập khí, nó mạnh hơn ước muốn thực tập của mình. Đi theo thời khóa đều đặn, từ từ kỷ luật sẽ được hình thành và mình sẽ có được sự điều độ trong mọi thứ, giờ ăn thì mình ăn, giờ thiền hành thì mình thiền hành, giờ ngủ thì mình ngủ, giờ để thực tập yên lặng thì mình yên lặng,… Thực tập đúng giờ nào việc nấy, sự điều độ và kỷ luật sẽ được hình thành.

Nếu cứ sống theo ý thích của mình thì dù sống nhiều năm trong tăng thân mình cũng không rèn được tính kỷ luật và nếu không có kỷ luật, các tập khí rất khó để được chuyển hóa.

Rất nhiều sư cô muốn học cách để quản lý thời gian của mình tốt hơn. Cách hay nhất là chỉ cần theo đúng thời khóa. Nếu mình có thể theo thời khóa thì mình sẽ biết cách để sử dụng thời gian của mình hay hơn.

 

 

 

BBT: Chúng con rất hạnh phúc và biết ơn sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.