Tình yêu hướng về ngôi sao xanh biếc

 

Có nhiều khi phải đi rất xa chúng ta mới thấy được cái mà chúng ta muốn thấy. Ở sát một bên nhưng chúng ta không thấy. Chung đụng hằng ngày, trong mỗi giờ, mỗi phút nhưng không thấy. Đợi đến khi đi rất là xa, xa cách tưởng như không còn có thể có cơ hội gặp nhau trở lại thì lúc đó mình mới bắt đầu thấy được những gì rất đỗi gần gũi đó.

 

Năm 1969, lần đầu tiên loài người tổ chức một chuyến đi rất là xa. Đi lên mặt trăng. Apollo 11 là đoàn thám hiểm đó. Bao nhiêu công phu và tiền bạc đã đổ ra để loài người gửi những người đầu tiên đi lên mặt trăng. Khi phi thuyền bay ra khỏi bầu khí quyển và nhìn lại, đó là cảnh tượng chưa bao giờ ai trông thấy. Trên đường lên mặt trăng, máy ảnh đã ghi lại được hình ảnh của trái đất lần đầu tiên trong lịch sử. Ngày xưa Thầy cũng đã viết một bài thơ:

 “Trên đường lên nguyệt cầu

Quay nhìn lại

Tôi thấy em

Và tôi không ngừng kinh ngạc:

Em xinh đẹp quá chừng

Em là một chiếc bong bóng nước

Nổi trên biển không gian mông mênh…”

(Trích “An tịnh tâm hành”, thơ Sư Ông Làng Mai)

 Đi ra ngoài không gian nhìn lại thì mới thấy hành tinh của mình là đẹp. Trong thái dương hệ này, trong vũ trụ này, mình chưa bao giờ thấy một cái gì đẹp như vậy và cũng mong manh như vậy. Khi lên tới mặt trăng rồi, mình thấy mặt trăng rất khác, không có sự sống. Ban đêm trên mặt trăng, người ta thấy đường được là nhờ ánh sáng của mặt trời phản chiếu bởi trái đất. Và trên mặt trăng mình có thể thấy trái đất đang lên. Ở dưới đất mình thấy trăng lên, mà ở trên trăng thì mình thấy đất lên. Đất lên rất là đẹp, rất là xanh. Nó không phải màu vàng như khi trăng lên, mà xanh xanh trắng trắng. Và những hình ảnh đó đã được gửi về cho đồng loại trên trái đất.

 

Nguồn ảnh: Wikipedia

  

Tất cả những thành viên của phi đoàn Apollo 11 đều có cảm xúc rất sâu sắc khi nhìn lại hình ảnh của trái đất. Họ nói khi ở trong không gian nó lạnh lùng vô cùng, khắc nghiệt vô cùng. Màu đen trên đó rất là đen. Ở dưới đất chưa bao giờ thấy một màu đen như vậy. Dầu một đêm đen kịt thì cái đen kịt ở trái đất cũng rất linh động. Nó có hương, có sức nóng, có âm thanh. Còn cái đen ở trên đó rất lạnh lùng, cái đen tuyệt đối. Tuy có vầng thái dương chiếu nhưng không thấy gì hết, vì vũ trụ trên đó rất trống. Ánh sáng phải chạm vào một vật gì đó thì mình mới thấy được cái đó. Còn nếu ánh sáng chỉ đi trong khoảng không thì mình không thấy có ánh sáng. Màu xanh mà mình thấy mỗi khi ngửa mặt nhìn lên trời, ở trên đó không có. Nhờ có bầu khí quyển và ánh sáng mặt trời chiếu lên đó nên mình mới thấy màu xanh trời. Đi ra khỏi bầu khí quyển thì không có màu xanh đó nữa, mà nó đen, đen kịt, đen tuyệt đối, đen lạnh lùng.

 Và khi nhìn thấy trái đất, một niềm cảm thương lớn trào ra trong trái tim. Mình thấy mấy tỷ người ở trong đó đang làm gì. Họ đang ăn, họ đang ngủ, họ đang làm việc, họ đang chọc nhau giận, họ đang đánh nhau, họ đang giết nhau. Họ tranh nhau từng tấc đất. Người da trắng chống người da đen, người da đen chống người da trắng. Người miền Nam chống người miền Bắc, người miền Bắc chống người miền Nam. Người Do Thái chống người Ả Rập. 

Khi ngồi từ một điểm rất xa nhìn trở lại, mình thấy rất khác; thấy rằng chúng ta đang rất điên rồ, rất dại dột. Chúng ta có một hành tinh xinh đẹp như vậy, mầu nhiệm như vậy mà chúng ta đang làm cho nó tan nát. Một phi hành gia không gian khi trở về trái đất có nói rằng khi đi thì họ đi với tư cách của những nhà chuyên môn, và khi trở về, họ là những con người thật sự. Những người có trái tim của con người. Cần một chuyến đi như vậy mới thấy rõ được mình là ai, hành tinh của mình quý giá đến như thế nào, mới thấy được rằng chúng ta quá dại dột.

 Chúng ta ở gần, ở ngay sát đó, chúng ta ở trong đó mà chúng ta không biết đó là cái gì. Chúng ta không quý giá nó, chúng ta để cho mất đi. Sự sống quý giá như vậy, mỗi người chúng ta đều đang có sự sống. Nhưng chúng ta không trân quý sự sống của chúng ta. Chúng ta để cho ngày giờ qua đi một cách dại dột, rất là oan uổng. Chúng ta tiêu phí thời gian và sự sống như cách chúng ta đốt lấy những tờ một trăm đô la, hết tờ này tới tờ khác. Chúng ta làm khổ nhau. Chúng ta đi tìm những cái mà chúng ta cho là hạnh phúc. Trong khi đó chúng ta chất chứa khổ đau và tạo ra khổ đau cho nhau. Điều đó đang xảy ra bây giờ ở đây, ngay tại chỗ này. Nhưng chúng ta không thấy. Chúng ta cần phải đi rất xa, chúng ta phải đi vào địa ngục rồi nhìn lại thì chúng ta mới thấy thiên đường chính là nơi mình đã từng cư ngụ.

 Các phi hành gia nói rằng trăng sao rất đẹp nhưng lại cực kỳ lạnh lùng. Nó không chào đón mình. Chỉ có chỗ đó, chỉ có hành tinh nhỏ xíu đó, xanh xanh trắng trắng đó, mới là nhà của mình, mới chào đón mình. Chúng ta đang ở trong nhà của chúng ta, nhưng chúng ta không biết trân quý. Chúng ta không trân quý cái nhà của chúng ta, không trân quý thời gian mà chúng ta đang được ở nhà. Những bức hình mà các phi hành gia không gian gửi về cho mình là những tiếng chuông chánh niệm. Nhìn vào một bức hình như vậy thì cũng như nghe một tiếng chuông, mình phải thức dậy. Thức dậy để hiểu, để thấy và để thương. Chánh niệm là như vậy. Chánh niệm là để thức dậy, để thấy, để hiểu, để thương và để trân quý.

 Số các nhà phi hành gia không gian đi ra được ngoài kia có cơ hội nhìn lại trái đất chỉ mới chừng mấy trăm người, nhưng đó là anh em của chúng ta, đó là đại diện của chúng ta. Những người đó đi ra, nhìn và báo cáo cho chúng ta biết. Cũng như con mắt của chúng ta, chỉ có mấy chục gram thôi nhưng mà nó thấy và nó báo cáo lại cho toàn khối cơ thể mấy chục kilogram những gì nó thấy. Những người phi hành gia không gian đầu tiên bay ra khỏi quỹ đạo trái đất để đi lên mặt trăng biết rằng chuyến đi rất nguy hiểm. Có thể lên trên đó rồi và không bao giờ trở về nữa. Đôi khi phi thuyền mới lên tới thượng tầng không khí thì đã nổ, và người ta đã chết trên đó. Như vậy họ đi không phải cho chính họ, một mình họ, mà đi cho cả nhân loại. Nhân loại cần phải đi những bước tiến cho nên phải có những người hy sinh đi trước. Các phi hành gia không gian cũng có vợ con, và họ biết rằng cái hiểm nguy đang chờ đợi họ. Một phi hành gia khi được hỏi: “Hồi hôm anh có ngủ được không? Có ngủ không?” “Có, tôi có ngủ.” “Anh có uống thuốc ngủ không?” “Không, tôi không uống thuốc ngủ. Tôi ngủ nhưng gặp ác mộng rất khủng khiếp.” Anh biết rằng có thể ngày mai khi mình bước vào trong phi thuyền đó rồi mình sẽ đi hoài, sẽ không bao giờ về.

 Đó là con mắt của mình. Mình gửi ra ngoài không gian để nhìn cho mình. Và khi con mắt báo cáo về, mình có nghe không? Mình có thấy không?

 Chúng ta phải giáo dục con cái chúng ta như thế nào để chúng thấy được điều đó. Đó là giác ngộ. Thấy được sự quý giá của hành tinh này, thấy được cái quý giá của sự sống, thấy sự quý giá của cái cơ hội mình được sinh ra, lớn lên, đi và thở trong hành tinh này. Và thấy được rồi thì bước đi một bước là hạnh phúc, nói ra một lời là hạnh phúc. Bước đi đó có chánh niệm, có thương yêu. Mình động, mình chạm tới Đất Mẹ thì bước chân của mình đầy thương yêu. Mình nói một lời, lời nói đó có thương yêu. Nó thay đổi con người của mình. Vì sao nó thay đổi? Vì mình có được cái thấy. Ngày xưa Đức Thế Tôn cũng là một con mắt. Ngài không cần phải đi du hành ra ngoài không gian. Ngài chỉ ngồi dưới cây bồ đề nhưng với con mắt của tâm, Ngài đã thấy được và Ngài đã báo cáo. Ngài báo cáo cho mình biết là có một thế giới của tự do. Đó là niết bàn. Và có một con đường để đi tới tự do, đó là con đường Bát Chánh Đạo. Đức Thế Tôn là một con mắt. Ngày xưa có nhiều vị đệ tử đã xưng tán Ngài là con mắt của thế gian. Thì các nhà phi hành gia không gian đó, họ cũng đi theo con đường đó, họ cũng tình nguyện làm con mắt cho mình, nhìn cho mình. Và họ đã truyền cho mình cái thấy đó. Mình có thấy hay không?

 Nếu quý vị là cha mẹ, nếu quý vị là cô giáo, thầy giáo, là anh, là chị, quý vị phải có được cái thấy đó. Và quý vị phải truyền cái thấy đó cho các con của mình, các em của mình. Chúng ta phải thức dậy đi thôi. Nếu không thì quá trễ. Đạo Bụt được gọi là đạo tỉnh thức. Tỉnh thức nghĩa là như vậy. Biết bao nhiêu tiếng chuông đã gióng lên, biết bao nhiêu hình ảnh đã được gửi về, nhưng chúng ta vẫn còn sống trong mê ngủ. Chúng ta tiếp tục làm khổ nhau. Và chúng ta tiếp tục làm hư hoại cái tác phẩm có một không hai này của vũ trụ là trái đất.

 

(Trích từ bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 13/2/2011 tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai trong mùa an cư kết đông)

 

 

 

 

Giọt sương giữa lòng đoá sen

Có lần, trong một buổi vấn đáp, một bé gái đã đặt ra câu hỏi này với Sư Ông: “Khi ai đó đang buồn, con nên làm gì để an ủi và giúp người ấy cảm thấy dễ chịu hơn?”

Bạn đoán thử xem Sư Ông đã trả lời như thế nào!

Umbala, và đây là điều mà Sư Ông đã chia sẻ với cháu bé: “Khi một người đang buồn thì điều đơn giản và dễ thương nhất mà con có thể làm là có mặt và thở cùng với họ. Con có thể nói: ‘Có con bên cạnh đây./Có em bên cạnh đây./Có tớ bên cạnh đây.’ Như vậy, con đang hiến tặng sự có mặt của mình, và đó là món quà quý giá nhất con có thể mang đến cho người khác.” (trích “Trong cái không có gì không?”)

 

 

Tôi còn nhớ câu chuyện sau đây mà tôi được học trong cuốn sách tập đọc hồi lên lớp bốn. Hình minh hoạ của câu chuyện là một cô bé cầm tay một cụ già lọm khọm. Hình ảnh và câu chuyện đó vẫn cứ sống mãi trong tôi cho tận đến ngày hôm nay.

“Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi.

Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại… Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!

Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin cứu giúp.

Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.

Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra, run lẩy bẩy.

Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia:

– Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.

Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt nở nụ cười và tay ông cũng siết lấy tay tôi:

– Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. – Ông lão nói bằng giọng khản đặc.

Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.”

(“Người ăn xin”, S. Turgenev)

 

Đâu đó chúng ta bắt gặp điểm chung giữa câu chuyện của Turgenev và lời dạy của Sư Ông. Đôi khi chúng ta cảm thấy mình không có cách nào giúp người khác và cảm thấy bất lực, thế nhưng có một món quà vô giá mà lúc nào chúng ta cũng có thể hiến tặng, đó là sự có mặt đích thực và sự cảm thông của mình.

Khi nghĩ đến tình thương, đến lòng từ bi, tôi vẫn thường nghĩ đến những đứa trẻ. Và ở những đứa trẻ, chúng ta cũng thường dễ nhận thấy những sự biểu hiện tình thương một cách ngây thơ, thành thật và bằng tất cả sự có mặt trọn vẹn. 

Ở đây, mỗi mùa hè chúng tôi đón rất nhiều thiếu nhi về Làng. Thiếu nhi đến từ khắp các quốc gia trên thế giới, năm châu bốn bể, không phân biệt màu da, ngôn ngữ, tôn giáo. Các em chơi với nhau rất vui. Các em hoà vào chung trong dòng chảy năng lượng tâm linh của đại chúng, một đại chúng lớn cả mấy trăm người. Các em cũng ngồi nghe nhạc tụng Bồ tát Quán Thế Âm. Các em giúp quý thầy quý sư cô quét nhà, xếp dọn thiền đường, rửa cà chua, nhặt hành. Nhưng có lẽ điều quý nhất là các em có thể chia sẻ những điều trong lòng với bố mẹ, làm mới với bố mẹ, thiền ôm với bố mẹ. Các em được hướng dẫn để trở về tiếp xúc với giá trị tâm linh, hạt giống tình thương trong lòng các em được tưới tẩm. 

Bởi khi dòng chảy của xã hội cuốn con người vào vòng xoáy của vật chất hoá thì khi đó trong thẳm sâu, nhu yếu được quay trở về với giá trị tinh thần lại càng réo gọi con người hơn bao giờ hết. Đó là nơi mà người ta gọi bằng hai chữ rất đơn sơ: Tình Thương. “Nơi lạnh giá nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương.”

Sư Ông từng nói mỗi lần thấy đông thiếu nhi về Làng tu tập, Sư Ông rất vui. Các em là những mảnh đất rất mỡ mầu mà bao nhiêu hạt giống đẹp, lành thiện có thể được gieo trồng, tưới tẩm để nó được biểu hiện thành những bông hoa đẹp cho vườn hoa cuộc đời. Các em là hy vọng của ngày mai. Một thế giới có nhiều tình thương, nhiều từ bi hơn, nhiều thấu hiểu, nhiều bao dung hơn. Đó chính là nhờ vào công phu gieo trồng chăm bón của chúng ta hôm nay. 

 

 

Một vị phụ huynh đã đặt ra câu hỏi này: “Con phải dạy con cái như thế nào để chúng sống chánh niệm, từ bi hơn?”

Chúng ta hãy thử lắng nghe câu trả lời của Sư Ông: “Nếu cha mẹ thực tập chánh niệm và từ bi trong đời sống hằng ngày thì các con đương nhiên sẽ sống theo gương cha mẹ. Không thể bắt con cái làm một điều gì mà chính mình không làm được. Khi tôi đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm thì các đệ tử của tôi sẽ theo gương tôi mà đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm. Đôi khi cũng cần nhắc nhở con cái một cách nhẹ nhàng, nhưng trẻ em theo gương người lớn là chuyện tự nhiên. Thỉnh thoảng cha mẹ cũng nên bàn luận với con cái về chánh niệm và từ bi, khuyến khích con cái thực tập chánh niệm và từ bi.

Bằng ái ngữ, ta có thể tưới tẩm những hạt giống chánh niệm và từ bi trong con cái và ta phải làm gương cho chúng. Ta không cần lo lắng hay trừng phạt. Chỉ cần sử dụng ái ngữ và tự mình thực tập thì con cái sẽ thấy và làm theo.” (trích “Hỏi đáp từ trái tim”)

Những đứa trẻ là tấm gương phản chiếu của người lớn. Mọi thứ đều có gốc rễ và nguyên do của nó. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh các em nhỏ đắm chìm trong màn hình của một thiết bị điện tử như điện thoại hoặc ipad hàng giờ liền ở khắp nơi. Nhưng cũng có những em thanh thiếu niên dù đang ở trên ghế học đường nhưng cũng đã có ý thức rất cao về những vấn đề lớn của xã hội như môi trường, công bằng xã hội, giữ gìn văn hoá truyền thống, v.v. Và mọi thứ đều theo quy luật vô thường, nghĩa là luôn luôn trong những chu trình biến đổi. Nên chúng ta có quyền hy vọng vào những gì đẹp đẽ, tươi sáng mà những thế hệ tiếp nối mang tới miễn là chúng ta cũng đang ý thức được vai trò của mình trong việc gieo mầm và gìn giữ, bảo hộ những hạt giống đẹp đẽ ấy để chúng được đơm hoa, kết trái ngọt lành.

 

 

Ở Làng, chúng tôi thường dạy các em thiếu nhi học bài hát “Hai lời hứa”. Xin kết thúc bài viết này với những lời hát đơn sơ, mộc mạc ấy để chúng ta cùng tưới tẩm, nuôi dưỡng trở lại hạt giống bé thơ trong lòng mình, em bé đầy thương yêu, đầy thấu cảm với sự sống. Để em bé của ta sẽ tiếp xúc và kết nối được với những em bé chung quanh ta. Tình thương yêu trong lòng mỗi bé thơ hiện diện giữa sự sống như một giọt sương mai. Một giọt sương mai giữa lòng đoá sen, lấp lánh, tinh khiết, phản chiếu đẹp đẽ sự sống nhiệm mầu! Hãy cùng trân trọng để giọt sương ấy được biểu hiện tròn đầy như chính sứ mệnh của nó giữa lòng bao la vũ trụ…

“Con xin hứa mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài… um… à… um… à… um… à… 

Con xin hứa mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và sống chung với mọi người và mọi loài… um… à… um… à… um… à…”

 






 

Khoá tu Tiếng Pháp 2026

Khoá tu tiếng Pháp đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 04 năm 2026. Có khoảng 110 người nói tiếng Pháp đã về dự khóa tu, trong đó có một số ít người trẻ gốc Việt, thế hệ thứ 2 sinh ra ở Pháp.

Khóa tu năm nay được thời tiết yểm trợ. Suốt cả tuần, trời xanh mây trắng, gió mát, nắng ấm, cỏ hoa mùa xuân nở rộ hiến tặng sự có mặt đồng đều cho tất cả mọi người.

Năm nay vì khóa tu chỉ diễn ra tại xóm Mới nên trong suốt một tuần, thiền sinh không cần di chuyển, chỉ ở một nơi nên năng lượng rất tập trung. Rất nhiều tiếng cười và cũng nhiều giọt nước mắt đã rơi trong hạnh phúc, vì được tỏ bày những tâm tư sâu lắng, được thấu hiểu và lắng nghe, vì cảm thấy mình “đã về, đã tới”, đã tìm được một ngôi nhà đích thực để nương tựa – hải đảo tự thân.

Mọi người đã cùng nhau chế tác một năng lượng tu tập tươi vui, hùng hậu với rất nhiều chuyển hóa. Đại chúng trong đó có các bạn tình nguyện viên và toàn thể thiền sinh đều hoan hỷ. Tin chắc rằng tổ tiên đất đai ở đây cũng rất là hoan hỷ.

Kính mời mọi người cùng thưởng thức vài hình ảnh của khoá tu.

Trân kính.

Chị không khác gì em: Chân dung sư cô Chân Không

Tên của Sư cô lúc chưa xuất gia là Phượng. 

Sư cô cùng Thầy thành lập Làng Mai năm 1982. Làng Mai trở thành một nơi chúng ta thấy hôm nay từ tầm nhìn và tâm thức của Thầy một phần lớn nhờ sự yểm trợ bền bỉ và những sáng kiến không bao giờ cạn của Sư cô. Nếu ta biết ơn những nhân duyên đã giúp ta tiếp xúc được với những lời dạy của Thầy chừng nào thì ta cũng có ngần ấy sự tri ân đối với những công đức của Sư cô. Hai cái đó như chỉ là một hơi thở vậy.

Năm 1984, tôi gặp Thầy và chị Phượng lần đầu tiên tại một khóa thiền tập cuối tuần tại Amsterdam. Buổi tối có một chương trình đặc biệt về âm nhạc Việt Nam. Giữa chừng, đột nhiên tiếng nhạc dừng lại và chị Phượng bắt đầu hát. Giọng hát của chị làm tôi rất xúc động. Tôi chưa bao giờ nghe ai hát như vậy. Giọng hát của chị làm trái tim tôi mở rộng và tôi cứ khóc mà không dừng lại được, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình nữa.

Mùa hè đầu tiên khi tôi đến Làng Mai, chị Phượng chưa là một sư cô. Mọi người chỉ gọi chị là “Phượng”. Chị có mái tóc đen dài rất đẹp, và chị thường quấn tóc thành một búi rồi xỏ ngang bằng một cây bút. 

Trong những ngày này, các thiền sinh Tây phương (với số lượng không nhiều) đến Làng Mai đã được chị đón tiếp rất thân tình và làm đủ cách để chúng tôi cảm thấy như đây là nhà của mình. Lúc đó chị là người duy nhất có thể thông dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Khi Thầy cho pháp thoại, hoặc có một sự kiện gì đó bằng tiếng Việt, chị luôn ngồi cạnh chúng tôi và thông dịch từ giờ này qua giờ khác mà không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Chị Phượng có một phong cách thông dịch rất biểu cảm. Thậm chí sau khi thông dịch mấy giờ liền, giọng chị vẫn hào hứng và thú vị như lúc chị mới bắt đầu.

 

Thiền ca với các bạn thiền sinh , chị Phượng ngồi phía sau – 1986

 

Ba năm sau đó, tôi đến lưu trú tại Làng Mai và hầu như là người duy nhất cần được thông dịch trong mùa đông khi Thầy cho pháp thoại và vào cuối các bữa ăn. Chúng tôi có khoảng 10 người, và sau bữa ăn tối, trong khi mọi người uống trà hết ly này đến ly khác thì luôn luôn sẽ có những cuộc trò chuyện bằng tiếng Việt. Thường thường, những lúc như vậy, tôi cảm thấy mình bị đứng ngoài lề. Nhưng nếu chị Phượng có mặt thì chị luôn đến ngồi cạnh tôi, và vừa tham gia một cách hào hứng vào câu chuyện, chị vừa thông dịch cho tôi. Tôi rất thưởng thức những giây phút ấy với chị. Khoảng 2 năm trước, tôi để ý thấy chị có một thói quen mới là trong khi thông dịch, bàn tay chị bắt ấn. Khi tôi hỏi lý do, chị nói là làm như vậy chị sẽ nhớ giữ chánh niệm trong khi thông dịch.

Chị cũng làm lớn mạnh niềm tin trong tôi rằng bất cứ vấn đề gì cũng có cách giải quyết. Một mùa đông nọ, tôi nhận cắm hoa trang trí cho một buổi thiền trà ở Xóm Hạ. Tôi tìm khắp nơi nhưng không thấy một bông hoa nào cả. Khi tất cả mọi người đã yên vị trong thiền đường, chị Phượng vừa định bước vào thì tay cầm cái bình không, tôi chạy đến nói với chị một cách kém vui là tôi không thể giữ lời hứa trang trí cho thiền trà được. Tôi chưa kịp dứt lời thì chị đã bứt một vài búi cỏ, nhặt một nắm sỏi trên lối đi mà chúng tôi đang đứng, thêm một cành khô trên mặt đất gần bên rồi đem tất cả vào để ở chính giữa vòng tròn, cắm cành khô vào nữa. Thế là, hấp, tác phẩm của chị đã hoàn thành, mọi người có thể bắt đầu buổi thiền trà. Vừa bước vào thiền đường, chị vừa nháy mắt với tôi: “Thiên nhiên thuần túy.”

Nhiều năm trôi qua, càng ngày càng có nhiều người đến Làng Mai và vì vậy cần tạo thêm cư xá cho khách. Một trong những chỗ được chọn để biến thành cư xá là gác xép ở phía trên phòng tôi đang ở. Dọn dẹp ở trên đó là cả một công trình: mạng nhện giăng từ sàn tới nóc và bụi bặm lưu cữu không biết bao nhiêu đời ở khắp nơi. Sau vài phút dọn dẹp, nhìn tôi y như một thợ mỏ. Sau nhiều giờ cật lực lau, quét dọn, tôi thấy mình chẳng làm được bao nhiêu. Một buổi chiều kia, sau mấy ngày tôi đơn độc làm việc trong cái gác xép ảm đạm đó, chị Phượng đột nhiên xuất hiện, cùng làm với tôi một cách rất hăng hái. Tôi rất hoan hỷ được chị giúp và đón nhận sự nhiệt tình của chị, nhưng tôi cũng thấy hơi ngượng vì chị đến lau sàn nhà với tôi trong khi chị có cả ngàn việc khác phải làm, những việc mà không ai có thể làm thay chị được. Dù bao nhiêu lần tôi nói chị nên đi làm những việc khác, chị vẫn không nghe và tiếp tục làm với tôi cho đến khi mọi việc hoàn thành. Chị không bao giờ thấy có cái gì mà chị không làm được.

Vì người không mệt mỏi

Năng lượng không bao giờ cạn của chị thường làm tôi kinh ngạc. Nếu có việc gì cần hoàn tất, chị cứ làm cho đến khi nó được làm xong, có khi đến quá nửa đêm, không ăn uống và thường là làm một mình. Khi cần gửi các gói thuốc về Việt Nam, chị ngồi hàng giờ trên sàn nhà, viết địa chỉ và thư động viên cho từng gia đình. Những người khác tới giúp chị và sau khi họ ra về, chị tiếp tục làm. Chưa bao giờ tôi thấy bất cứ một dấu hiệu tủi thân nào nơi chị. 

Làm việc nhiều như thế nhưng tôi chưa bao giờ nghe chị phàn nàn là chị quá bận rộn. Tôi cũng chưa bao giờ nghe chị than lạnh, dù mùa đông ở Làng mà sống trong các phòng đơn sơ như vậy, người ta có đủ lý do để phàn nàn. Đầu mùa thu tôi đã phải mang đến hai đôi vớ, trong khi đó tôi thấy chị đi chân trần. Tên Chân Không cũng có nghĩa là chân trần. Chưa bao giờ chị lưu tâm đến tiện nghi của bản thân mình.

Khi nói tới tình trạng ở Việt Nam là chị luôn luôn hết mình tham gia. Nhiều năm trước, trong một buổi thiền trà, chị kể chúng tôi nghe chị vừa nhận tin từ Việt Nam là một số văn nghệ sĩ vừa bị cầm tù. Vừa kể chị vừa khóc một cách không giấu giếm làm tôi rất xúc động. Trong khi tôi khổ vì nỗi đau của chính mình, tôi thấy chị khổ vì nỗi đau của những người khác. Ngoài những lúc như vậy, tôi thường nghe tiếng cười giòn của chị vì chị rất dễ dàng thấy được khía cạnh hài hước của một vấn đề. 

Lần nọ, một nhóm nhỏ chư tôn đức người Việt từ Hoa Kỳ tới thăm Làng Mai. Sáng hôm quý ngài rời đi, khoảng 12 người chúng tôi được triệu tập tới thiền đường. Chúng tôi ngồi thành vòng tròn và Thầy nói bằng tiếng Việt. Chúng tôi vừa có một lệ mới là hễ có ai rời Làng thì một vị thường trú sẽ đại diện dân Làng làm thiền ôm với người đó trong buổi họp chúng.

Sáng hôm đó, Thầy bảo một sư cô ra đứng giữa vòng tròn để đại diện chia tay với một vị tôn túc (mà tôi đoán là một vị trụ trì). Thầy giải thích cho vị ấy về thiền ôm. Chắc chắn vị đó chưa bao giờ biết cách thiền trong hình thức đó. Và chắc chắn là không bao giờ với một sư cô. Những ai biết rõ về truyền thống thì mới hiểu rằng điều Thầy làm lúc ấy là vô cùng cách mạng. Hai người đứng đối diện nhau. Sau khi đưa mắt nhìn nhau một cách lúng túng, hai vị cúi chào nhau rất cung kính. Và điều không tránh khỏi đã xảy ra: đầu của hai người va vào nhau cái cốp. Tất cả mọi người phải cố gắng nhịn cười một cách khổ sở. Cũng như tất cả chúng tôi, Sư cô Chân Không ngồi rất lâu với khuôn mặt méo xệch mà dù cố gắng thế nào cũng không thể đưa trở lại biểu cảm bình thường.

Mặc dù có vô số việc liên tục đòi hỏi sự chú ý của Sư cô, Sư cô vẫn luôn để mắt đến chúng tôi, xem chúng tôi đang ra sao. Và nếu Sư cô cảm thấy có điều gì đó không ổn nơi một người trong chúng tôi, Sư cô sẽ hỏi ngay lập tức. Khi có bất cứ chuyện gì cần trao đổi, Sư cô luôn đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề.

Khi tôi muốn kể với Sư cô điều gì, thường thì Sư cô đã nắm được ý chính từ rất lâu trước khi tôi nói xong. Sư cô lắng nghe rất chăm chú và không phán xét. Mỗi khi nói chuyện với Sư cô, tôi luôn cảm thấy có rất nhiều không gian. Tuy vậy, qua trải nghiệm, tôi cũng biết rằng cách giao tiếp của Sư cô có những “nguyên tắc” riêng, và đôi khi điều đó khiến tôi khá khó khăn.

Điều khó chấp nhận nhất là cách Sư cô đột ngột chấm dứt một cuộc trò chuyện — hoàn toàn bất ngờ, ngay giữa câu chuyện, giữa một câu nói. Từ khi hiểu rằng khoảnh khắc ấy có thể đến bất cứ lúc nào, tôi học cách nói ngay điều mình muốn chia sẻ, nếu không thì Sư cô sẽ rời đi khi tôi chưa kịp nói điều mình định nói. Và như vậy thì thật là đáng tiếc, vì Sư cô rất bận, bạn sẽ không bao giờ biết khi nào mới có cơ hội nói chuyện với Sư cô lần tới.

Sư cô cũng có thể đột ngột cắt ngang một cuộc trò chuyện qua điện thoại. Đã hơn một lần, khi tôi đang nói dở giữa câu, bỗng nhiên tôi nghe “bíp, bíp, bíp” bên tai — Sư cô đã cúp điện thoại. Ban đầu tôi cảm thấy rất tổn thương, nhưng theo thời gian, tôi học chấp nhận Sư cô là như vậy, cũng như chấp nhận nhiều khía cạnh khác của Sư cô.

Theo như tôi quan sát, giữa Thầy và chị Phượng luôn luôn có sự hòa hợp và không căng thẳng. Tuy nhiên, có một lần, vào cuối bữa ăn chiều, Thầy bất ngờ nói với chị Phượng bằng một giọng rất nghiêm khắc: “Con ăn cho xong đi.” Vì đó là một giọng rất khác so với cách Thầy thường nói với chị Phượng cho nên tôi không bao giờ quên được. Trên đĩa của chị Phượng còn sót lại một vài hạt cơm (khoảng 8 hay 12 hạt), Thầy nói tiếp là rất nhiều người hiện đang bị đói. Tôi rất ngạc nhiên thấy chị Phượng có vẻ ân hận. Chị không nói hay biện hộ gì mà bắt đầu vét hết những hạt cơm trên đĩa.

Xuất gia

Năm đầu tiên khi tôi ở Làng, Thầy là vị xuất gia duy nhất. Nhưng sau chuyến đi Ấn độ năm 1988, chị Phượng, chị Annabel và Sư cô Chân Vị (chị Thanh Minh) trở về Làng trong hình tướng xuất gia. Sự thay đổi đột ngột này là một cú sốc lớn cho tôi. Có lẽ Thầy cảm được điều đó nên sau khi trở về không lâu, có lần Thầy bảo tôi sờ đầu chị Phượng xem tôi có cảm tưởng như thế nào khi đầu không có tóc. Trong khi tôi thận trọng sờ đầu chị, chị cười vui vẻ và thân thiết ôm tôi trong hai tay, chị nói: “Chị đâu có khác em chút nào, ngay cả khi chị mặc đồ khác và cạo sạch mái tóc. Không có sự khác biệt nào giữa chị em mình hết.”

 

Nguồn: Robert Harrison

 

Tôi thấy có gì đó đã thay đổi nơi chị Phượng, tôi thấy sự thực tập đã trở thành ưu tiên hàng đầu của chị và chị đã phát nguyện để sống chánh niệm bằng hết khả năng của chị. Thí dụ tôi quan sát thấy giữa một cuộc nói chuyện càng lúc càng ồn ào, chị trở nên yên lặng hơn; hoặc khi đang làm cái gì đó rất nhanh, tự dưng chị làm chậm lại. Vì tôi chứng kiến sự thay đổi nơi chị, rất tự nhiên, tôi bắt đầu gọi chị là Sư cô.

Có lần chị chia sẻ với tôi là chị muốn cẩn thận để không trở nên tự hào vì bây giờ chị là một sư cô. Chị giải thích rằng chuyện này rất dễ xảy ra vì người Việt thường có truyền thống trọng tăng.

Trong suốt thời gian tôi tiếp xúc với Sư cô Chân Không, tôi thấy Sư cô là một người đa năng. Theo Sư cô thì Sư cô không có nhiều năng lượng so với 10 năm trước. Nhưng khi tôi thấy Sư cô làm việc nhiều như thế mà không có vẻ gì phải gắng sức, tôi thật sự rất cảm phục. Nhiều năm trước, trong một khóa tu tại một tu viện Tây Tạng ở Pháp, Thầy bị bệnh. Từ phút đó trở đi, Sư cô Chân Không chăm sóc mọi mặt liên quan đến khóa tu, kể cả cho pháp thoại. Sư cô nấu ăn ngày hai bữa cho Thầy và cho 3 người dân làng thường trú, đi theo để làm chương trình trẻ em. Thời gian còn lại, Sư cô có mặt cho thiền sinh khi họ cần tham vấn. Và nếu chương trình trẻ em xảy ra không suôn sẻ, Sư cô cũng có mặt để hỗ trợ. Sư cô là người cuối cùng đi ngủ và là người thức dậy đầu tiên mà vẫn giữ được tinh thần tươi mới.

 

Sư cô Chân Không và Sư cô Chân Đức – 2026

 

Tôi thường tự hỏi nguồn năng lượng dồi dào của Sư cô đến từ đâu. Tôi cho rằng một phần là vì Sư cô thật sự sống trong giây phút hiện tại; từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, Sư cô tiếp xúc và xử lý những gì đang phát sinh, và không đánh mất năng lượng vào việc lo lắng về những gì sẽ đến. Với tôi, đó là biểu hiện của một niềm tin rất sâu sắc. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả là lòng từ bi của Sư cô. Khi xuất gia, Sư cô đã được Thầy trao cho pháp danh Chân Không. “Hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi”, “nỗi khổ của bạn là nỗi khổ của tôi” thực sự là điều Sư cô đang sống. Thấy được cái vô ngã trong cái ngã không phải là một lý thuyết mà chính là nền tảng của tự thân Sư cô.

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh I am not different from you của  Eveline Beumkes – đăng trên Mindfulness Bell, tháng 6 năm 2002tháng 10 năm 2012

Eveline Beumkes, Chân Hòa, là một vị giáo thọ cư sĩ  được Sư Ông truyền đăng năm 1994. Cô sống thường trú tại Làng Mai từ 1988 đến 1991. Cô giúp tổ chức và hướng dẫn tu tập cho tăng thân cư sĩ tại Amsterdam và dịch nhiều quyển sách của Sư Ông ra tiếng Hà Lan. 
(Ảnh: https://mindfulcommuniceren.nl/eveline-beumkes/)

 

Nghìn mắt nghìn tay – Biểu tượng của tình thương và tuệ giác

Ở miền Bắc Việt Nam có tượng Quan Âm nghìn tay nghìn mắt rất đẹp. Nghìn tay nghĩa là hoạt động nhiều cách vì tình thương phải được thể hiện ra bằng nhiều cách. Khi thương, người ta muốn có mặt, muốn nâng đỡ, muốn giải quyết khổ đau cho người mình thương. Nếu người mình thương đông quá thì mình phải có mặt nhiều nơi và mình phải có nhiều tay.

 

Tượng Đức Quan Âm nghìn mắt nghìn tay phỏng theo tượng chùa Bút Tháp

 

Tinh thông nghìn mắt nghìn tay,

cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

Đó là hai câu thơ trong tác phẩm Nam Hải Quan Âm, bằng chữ Nôm. Hai câu đó chứng tỏ rằng cái thương phải được thực hiện bằng hành động. Vì vậy phải có cánh tay để duỗi tới, để vươn tới. Thành ra trong đức Bồ tát Quan Âm có đức Phổ Hiền,  tức là hành động, là đại hạnh. Do đó chúng ta thấy cái chân lý của Pháp Hoa, của Hoa Nghiêm nó thấm nhuần vào tất cả các hình ảnh. Bồ tát Quan Thế Âm mang trong tự thân cánh tay của Bồ tát Phổ Hiền.

Nghìn mắt là cái để đi với hành động, tức là nhận thức, là hiểu biết. Một con mắt là để thấy và để hiểu. Con mắt tượng trưng cho Bồ tát Văn Thù Đại Trí. Con mắt là để nhìn sâu, nhìn kỹ, để phát hiện ra sự thật, cái chân tướng của sự vật, gọi là thiền quán. Vì vậy con mắt là tượng trưng cho thiền quán, Vipassanā. Như vậy trong Bồ tát Quan Thế Âm có con mắt của Bồ tát Đại trí Văn Thù. Trong Bồ tát Văn Thù mình cũng thấy trái tim của Quan Thế Âm và cánh tay của Phổ Hiền. Cho nên một vị Bồ tát chứa đựng tất cả các vị Bồ tát khác. Đó là chân lý của Hoa Nghiêm.

Tinh thông ngàn mắt ngàn tay,

cũng trong một điểm linh đài hóa ra.

Xem trong biển nước Nam ta,

Phổ Môn có đức Phật Bà Quan Âm.

Tại sao lại một ngàn? Một ngàn có nghĩa là rất nhiều. Thiên thủ thiên nhãn.

Bàn tay mà không có con mắt là nguy hiểm vô cùng. Hành động mà không đi theo với sự hiểu biết thì hành động đó sẽ đem lại đau khổ cho người mình thương, chứ đừng nói là người mình không thương. Tình thương mà không có sự hiểu biết thì chưa hẳn là tình thương và nó có thể gây đổ vỡ dù mình có đầy thiện chí. Thiện chí chưa phải là tình thương. Cái ý chí muốn thương chưa phải là thương. Cái khả năng thương là khả năng thấy và khả năng hiểu. Cho nên nhìn vào trong mỗi bàn tay của Bồ tát Quan Âm mình thấy được cái con mắt ở trong đó.

Và sự tu hành của mình, nói tóm lại, là để đặt vào trong lòng bàn tay của mình một con mắt. Chừng nào mình đặt được một con mắt vào trong lòng bàn tay thì bất cứ hành động nào của mình cũng sẽ đem lại sự an ủi, hạnh phúc cho người và cho chính mình. Còn nếu không có con mắt ở trong lòng bàn tay, hoặc là chưa có thì chúng ta phải cẩn thận. Và tu quán là để có con mắt, gọi là mắt tuệ, tuệ nhãn. Có tuệ nhãn thì dầu muốn hay không cũng sẽ có từ bi. Tại vì cái thấy nó đưa tới cái thương, cái hiểu nó đưa tới cái thương. Và mình không thể nào không hành động được.

Trong chúng ta, người nào cũng đã có những giây phút kinh nghiệm về hiểu, về thương và về một cái ước muốn hành động. Khi chúng ta có cái hiểu đó, thấy được, thương được và muốn hành động là chúng ta biết rằng hình ảnh của Đức Quan Thế Âm đã ngự trong trái tim của chúng ta rồi. Và chúng ta cứ tiếp tục như vậy thì không có lý do gì mà Đức Quan Thế Âm, cái tin lực của Đức Quan Thế Âm không tiếp tục tuôn tràn vào trong trái tim của chúng ta.

Vì vậy những người niệm Quan Thế Âm phải niệm một cách thông minh và phải biết rằng khi nào niệm bằng phương pháp nào thì nó có kết quả. Mình phải giúp cho những người xung quanh đừng để cho họ niệm một cách mê tín, đừng để cho họ niệm một cách sai lạc. Niệm Đức Quan Thế Âm như là một vị thần linh chỉ biết ăn hối lộ. Cúng chuối, cúng xôi, cúng nhang thật nhiều thì tự nhiên là Đức Quan Thế Âm sẽ về phe mình và đánh dẹp cái phe kia. Niệm như vậy ngàn đời Đức Quan Thế Âm Bồ tát cũng không có hiện thân ở trong trái tim của chúng ta. Tại vì Bồ tát Quan Thế Âm là hiện thân của hiểu, của thương và của hành động.

Mình đừng phân biệt rằng Đức Bồ tát Quan Thế Âm là một thực tại hoàn toàn ở ngoài mình.

Khi thấy được sự tiềm phục của Bồ tát Quan Thế Âm trong ta thì tự nhiên ta có sự cung kính đối với chính ngũ uẩn của chúng ta. Tại vì ngũ uẩn của chúng ta có chứa đựng Bồ tát Quan Thế Âm. Chúng ta sẽ không chê trách, mắng nhiếc, hay khinh lờn đối với ngũ uẩn của chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng không chê trách, khinh lờn, hay đối xử tệ bạc với những hợp thể ngũ uẩn xung quanh, tức là những người bạn tu của chúng ta. Những người xung quanh chúng ta đều có đức Quan Thế Âm ở trong đó cả. Vì chúng ta chưa biết cách cho nên chưa có đánh động và làm sống dậy được Bồ tát Quan Thế Âm ở trong những người đó. Có thể ta nghĩ người đó không có tình thương, không có hiểu biết, không có hành động, không biết lo cho những người cùi, những người đói hay là những em bé mồ côi. Người đó giống như là không có trái tim. Điều đó không có đúng.

Điều đó chỉ chứng tỏ một điều là đức Quan Âm ở trong người đó đang ở trong thế tiềm phục và chúng ta chưa đủ khả năng để tháo gỡ giùm cho người đó, để cho người đó được hưởng cái chất liệu cam lồ tiết ra từ cái hình ảnh Quan Thế Âm ở bên trong. Cho nên khi chúng ta biết lễ lạy đức Quan Thế Âm ở trong ta thì ta cũng biết lễ lạy đức Quan Thế Âm của người khác.

Và tu học tức là dùng những biện pháp rất là quyền xảo, phương tiện. Đôi khi mình nói một câu mà có thể tháo gỡ được tình thương ở trong người đó. Mình có thể tháo gỡ được sự hiểu biết trong người đó. Và người đó chuyển hóa. Không cần làm nhiều, chỉ cần làm đúng.

(Lược trích từ pháp thọai tại xóm Thượng của Sư Ông Làng Mai ngày 13 tháng 1 năm 1992)

Kệ truyền đăng 20-27.3.2026 tại Làng Mai, Pháp

Lễ truyền đăng năm nay đã diễn ra trong không khí rất đơn sơ, gần gũi, ấm cúng mà không kém trang nghiêm tại Làng Mai. Sư cô Chân Đức và thầy Pháp Ứng đã đại diện Sư Ông và tăng thân Làng Mai truyền đăng cho 21 vị Tiếp hiện, trong đó có một vị xuất sĩ và 20 vị  cư sĩ.  Ngọn lửa chánh Pháp đã được Bụt và nhiều thế hệ cao tăng gìn giữ và trao truyền đã và đang  được tiếp tục gìn giữ và thắp sáng ở những vùng đất khác nhau như Mỹ, Canada, Anh Quốc, Pháp Quốc, … Đặc biệt năm nay, một vị tân giáo thọ có nguồn gốc tổ tiên huyết thống  Zulu (Châu Phi) và Ấn độ.

Dưới đây là những bài kệ truyền đăng trong tuần lễ truyền đăng 20-27.3 2026 tại Làng Mai Pháp:

Ngày 23.03.2026

1. Sư cô Chân Trăng Thường Chiếu 

(Lê Thị Kiều Linh
Tâm Diệu Lạc)

Ánh trăng thường chiếu rèm hiên
Sáng ai tỉnh lặng sen khuya hé nhìn
Nâu sòng bạc ấm con tim
An nhiên thấm đẫm thân tâm nhẹ nhàng

2. True Root of Understanding

(John Hussman
Genuine Friend of the Heart)

The roots of goodness are not hard to find
when understanding and merit go together.
A heart of non-attachment lights up the world,
not attached, not averse and not indifferent.

3. True Lotus Wisdom – Chân Liên Tuệ

(Sita Brand
Compassionate Understanding of the Heart)

True presence is the what the world needs most of all
The wisdom of the lotus knows how to use the mud
Every breath is a miracle healing the world.
Skilful means bring the teachings to many places.

4. True Healing ConfidenceChân Liệu Tín

(Maru Moonlion
Noble Commitment of the Heart)

Healing and injury interare
Like collective and individual.
Confidence in the power of Mother Earth
Cuts through all imaginary boundaries.

5. True Cloud of the Nectar of Immortality – Chân Cam Lộ Vân 

(Lorraine Sherman
Bright Way of the Heart)

The Dharma like a cloud cools the heat of the world.
When transmitted clearly it is healing nectar.
Together with the sangha we face the afflictions.

6. True Garden of Concentration – Chân Định Uyển 

(Sue Rempel
Virtuous Action of the Heart)

We stop and we have concentration;
We have time for the garden of mind.
Running towards and away from ceases.
The Dharma transmits itself with ease.

7. True Deep Source – Chân Thâm Nguyên

(Rehena Harilall
Transforming Love of the Heart)

Deep is the pain but deep also the relief
when touching the source in what is not self.
By healing ourself we learn to heal others
and the other shore is not far away.

8. True Lotus of Peace  – Chân Liên An

(Heather Lyn Mann
Non-Attainment of the Heart)

The jewel is always in the lotus.
Where there is peace, there is happiness.
This is what we offer to all realms.
Wisdom is a grace; grief is transformed.

Ngày 24.03.2026

1. True Fragrant Field – Chân Hương Điền

(Tracey Pickup
Compassionate Patience of the Heart)

Jasmine fragrance permeates the drone of bees
The field path wends its way through fresh spring growth
A cry for succor is relieved by the dew of understanding
The loquats ripen as bird and beast feed freely

2. True Gentle Oak – Chân Sồi Nhẹ Nhàng

(Anthony Leete
Joyful Clarity of the Heart)

In a gentle voice one transmits the Dharma
As leaves that fall from the oak tree in autumn.
As we hold the sangha in our two hands
Our practice repays our great gratitude.

3. True River of Enlightenment – Chân Giác Hà

(Rhonda Fabian
Grateful Nurturance of the Heart)

The river swells with the arrival of spring rain
The shore of enlightenment appears when the morning fog clears
Boundless compassion heals the pain of seven generations
On the forest slope each daffodil blooms an entire universe

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Mưa xuân vừa xuống, dâng đầy
Sương sớm tan rồi, bờ Giác đây
Từ bi vô lượng chữa bảy đời
Sườn rừng hoa thủy tiên nở một vũ trụ

4. True Mountain of Non-Fear – Chân Vô Uý Sơn

(Lauri Bower
Mindful Builder of the Heart)

The highest gift is the  gift of non-fear
A solid-mountain refuge for many.
Not attached to ideas of right and wrong
we build harmony in the sangha.

5. True Source of Virtue – Chân Đức Nguyên

(Nomi Green
Applied Understanding of the Heart)

Virtue shines forth from the field of boundless action
Freedom manifests from the pure source of understanding
Overcoming all hindrance the deer bounds through forest depths
As the fog lifts the sun’s rays illuminate a new world.

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Đức sáng chiếu từ ruộng hành vô lượng
Tự do hiện từ tịnh Nguyên hiểu biết
Không ngăn ngại, nai băng rừng sâu thẳm
Sương tan rồi, nắng mở một trời mới

6. Chân Hành Uyển – True Garden of Practice

(Nguyễn Như Mai
Awakened Dwelling of the Heart)

Chân tâm thanh tịnh, sớm chiều hành,
Chăm vườn tuệ uyển, đẹp công phu.
Chuyển hoá bùn nhơ ra hoa tuệ
Nắng vàng tỏa sáng, khúc xuân ru.

With a joyful heart, I walk on the true path,
Tending the garden of practice, ever fresh and green.
Embracing mud and mire, transforming into flowers,
Golden sunlight radiates, singing a song of spring.

7. True Perfect Wisdom

(Jacquelien van Galen
Mindful Direction of the Heart)

Beyond perfection and imperfection,
Wisdom born from mindfulness
Shines like a lighthouse in the night
A beacon for anyone in need.

8. Chân Nghiêm

(Nguyễn Thị Thanh Yến
Pháp danh: Chơn Minh)

Chân như mây bạc trăng vàng
Nghiêm trang cõi tịnh rõ ràng quê hương
Mỗi hơi thở, vạn niềm thương
Đèn tâm chiếu sáng rõ đường độ sinh

9. Chân Bi Trú – True Compassionate Dwelling

(Karla Johnston
Radiant Understanding of the Heart)

In the heart of compassion flows the nectar of immortality
In peace the sequoia dwells building its girth for millenia
All afflictions transformed a chrysanthemum blooms
Truth not here, not there, radiates everywhere through the cosmos.

Bản dịch của thầy Pháp Dung:

Trong tim Bi chảy cam lồ bất tử
Cây củ tùng an Trú bồi gốc nghìn năm
Phiền não chuyển rồi, cúc vàng khai nở
Chân lý không đây không đó, chiếu cùng pháp giới

Ngày 26.03.2026

1. True Flower of Happiness – Chân Lạc Anh

(Lindsay Catherine Lumsden
Gentle Service of the Heart)

Building sangha is arranging flowers,
Seeing the happiness in everyone,
placing the flowers carefully, wisely
and placing your own flower among them.

2. True Lotus Meditation – Chân Liên Thiền

(Jane Ellen Combelic
Sweet Wisdom of the Heart)

The lotus flower does not need to fear the mud
Meditation teaches us non-duality.
All rivers find their way to the great ocean
Where collective enlightenment is possible.

3. True Pure Peace – Chân Thanh An

(Harry Bradshaw
Joyful Simplicity of the Heart)

Pure and clear is the right view of non-self.
It brings peace to oneself and the world.
Ending complexes of better or worse,
We enjoy true freedom and happiness.

4. True Root of Healing

(Terri Hussman
Forest Insight of the Source)

With roots in blood, spiritual, land ancestors,
we see the path of healing so clearly.
Mindful steps touch the ground of reality,
realising peace for oneself and for the world.

Bấm vào đây để xem album hình ảnh Lễ truyền đăng

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Vững một niềm thương

Thầy Chân Pháp Niệm

 

Nếu hỏi Pháp Niệm muốn tiếp nối Sư Ông điều gì nhất, chắc chắn đó là xây dựng tăng thân. Cũng như rất nhiều quý thầy và quý sư cô khác, Pháp Niệm muốn duy trì và phát triển cho tăng thân Làng Mai mỗi ngày mỗi khỏe mạnh hơn và tiếp nối được sự nghiệp tu học và dấn thân mà Sư Ông đã trao truyền. 

 

Những thử thách mới

Trong bối cảnh xã hội bây giờ, xây dựng tăng thân và sống chung với nhau là một thách thức rất lớn. Tăng thân chúng ta đang gặp nhiều thử thách sau khi Sư Ông không còn biểu hiện dưới hình tướng quen thuộc. Thử thách này có nhiều góc độ, không dễ dàng, nhưng chúng ta đang thử nghiệm và quán chiếu. 

Hồi xưa, tất cả xuất sĩ đều hướng về Sư Ông và thiết lập tình thầy trò một cách dễ dàng. Còn bây giờ, tình thầy trò không giống tình thầy trò thời Sư Ông còn tại thế. Sau khi Sư Ông viên tịch, các sư chú, sư cô vào xuất gia là con chung của tăng thân. Đó là một điều hay, nhưng đồng thời cũng là một khác biệt so với thời trước. Hiện nay, các sư em xuất gia và được rất nhiều các thầy, các sư cô làm y chỉ sư luân phiên nhau chăm sóc. Ngày xưa mình cũng làm như vậy, nhưng vẫn có Sư Ông để hướng về như một người cha chung. Ở một góc nhìn mới, điều này có lẽ cũng là một sự cách mạng trong cách tiếp nhận đồ chúng xuất gia để có thể tránh việc “đệ tử người này, đệ tử người kia…”, đặc biệt trong tinh thần sống chung với nhau như một đoàn thể, một tăng thân lâu dài. Khi trong một chúng mà nhiều thầy nhận đệ tử riêng, dù là xuất sĩ hay cư sĩ Năm giới, thì thật khó tránh chuyện phân bì. Trách nhiệm của tăng thân là làm thế nào để đánh thức vị thầy trong chính bản thân của mỗi người. Nói chung, muốn duy trì nếp sống tăng thân như Sư Ông mong muốn, cách tiếp nhận đệ tử xuất sĩ và cư sĩ như hiện nay là tương đối hay. Trên thực tế, có những vị xuất gia có thầy bổn sư hẳn hoi nhưng vẫn không kết nối được sâu sắc với thầy của mình. Vì vậy, điều đó cũng tương đối thôi. Quan trọng là các sư em cảm nhận được tình thương, sự chăm sóc, dạy dỗ và được dẫn dắt rõ ràng, cụ thể, hiệu quả để có thể chuyển hóa, trị liệu được bản thân và trở thành một pháp khí cho đạo pháp. 

Bên cạnh đó, xã hội hiện đại đang có những biến động mạnh mẽ trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, giáo dục, v.v. Cho nên đó cũng là một thách thức rất lớn trong việc chăm sóc và dạy dỗ các sư em của mình. Hoàn cảnh bây giờ không giống như thời cách đây 15 – 20 năm trước, vì vậy cũng khá thách thức đối với nội chúng. Đối với các thế hệ có nhận thức rất khác như thế hệ Gen Z, Gen Y…, nếu mình vẫn giữ nguyên phương pháp và cách tiếp cận cũ thì chắc chắn là mình sẽ rất khó để tiếp độ được các sư em thế hệ đó. Ngay cả các sư em thuộc thế hệ 9x là đã rất khác rồi.

 

Vai trò của tăng thân

Ai trong chúng ta cũng biết tăng thân có một vai trò rất quan trọng. Sự có mặt của tăng thân tạo ra cảm hứng rất lớn và đem con người lại gần với nhau. Khi một người đến với tăng thân, họ cảm nhận được tình thương yêu, ấm áp – điều rất khác biệt với những gì mà họ tiếp cận thông qua công nghệ, dù là AI.

Tăng thân cũng chính là môi trường mà chúng ta đến với nhau để cùng tu tập và cùng nhau chuyển hóa. Do đó, việc quan trọng của chúng ta là làm sao nuôi dưỡng được tăng thân. Đối với tăng thân xuất sĩ Làng Mai, Pháp Niệm thấy để nuôi dưỡng và gìn giữ được tăng thân, chúng ta cần có sự thay đổi trong tư duy, cách giáo dục, cách mình hiểu anh chị em, và làm thế nào đặt các thành viên trong tăng thân đúng vị trí để phát huy được tài năng, khả năng và đam mê của họ. 

Vì vậy, điều mà Pháp Niệm muốn tiếp nối nhất khi nghĩ tới Sư Ông, chắc chắn đó là tăng thân. Xây dựng tăng thân là tâm huyết cả đời của Sư Ông. Đứng về phương diện thực tập thì tất nhiên mình muốn tiếp nối sự thảnh thơi, an lạc và tình thương của Sư Ông, cách Sư Ông xử lý những chuyện xảy ra trong chúng và dạy dỗ các đệ tử. Mỗi ngày, mình có thể tiếp nối Sư Ông bằng cách hiểu và thương mọi người hơn một chút. 

Xây dựng tăng thân và duy trì nếp sống của tăng thân để có thể phát triển một cách bền vững là một câu hỏi lớn. Điều này cần có sự học hỏi, quán chiếu và cải cách để phù hợp hơn. 

 

Tinh thần cởi mở và đổi mới không ngừng

Theo thời gian, Pháp Niệm được chứng kiến Sư Ông đưa ra rất nhiều sáng kiến đổi mới trong cách thức tu tập và vận hành của tăng thân. Sư Ông bắt đầu từ những sự thực tập nho nhỏ như là đổi phòng ở, thay đổi người ở cùng phòng, đổi đội luân phiên nấu ăn… Sau đó, Sư Ông chế tác thêm những phương pháp như là đệ nhị thân, soi sáng… Trong nếp sống tự viện ngày xưa không có những phương pháp đó. Sư Ông làm cho những sinh hoạt đó trở nên những pháp môn để chúng ta có thể duy trì và nuôi dưỡng sự lành mạnh của tăng thân. 

Trong truyền thống Phật giáo cũng có soi sáng, nhưng mình chỉ tới một vị Hòa thượng rồi tác bạch ngắn gọn. Nhưng tại Làng Mai, huynh đệ được ngồi lại soi sáng cho nhau theo cách Sư Ông hướng dẫn. Đó là những bước đột phá đầu tiên trong nếp sống sinh hoạt tăng thân mà Sư Ông đã tạo dựng.

Khi tăng thân xuất sĩ trở nên lớn mạnh, nhiều người vào xuất gia thì Sư Ông bắt đầu xây dựng hệ thống tổ chức vận hành theo Hội đồng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni. Ban đầu, Hội đồng trưởng lão đứng ra chăm sóc cho đại chúng. Sau đó, hình thành một Nhóm quản chúng (committee) bên phía quý thầy trước. Về sau, Sư Ông và tăng thân thành lập ra Ban chăm sóc (Care Taking Council – CTC) để mà thực hành những điều Hội đồng Tỳ kheo/ Tỳ kheo ni đưa ra, rồi thêm Hội đồng Giáo thọ. Cách tổ chức ba ban – gồm Hội đồng Tỳ kheo/Tỳ kheo ni, Hội đồng Giáo thọ và Ban chăm sóc (CTC) – là những bước đột phá vào thời điểm đó, giúp đưa chúng vào nề nếp. Từ năm 1999, cả ba ban bắt đầu chính thức vận hành rất mạnh. Tiếp đến, Sư Ông từ từ đưa ra những vai trò như trụ trì hay các vai trò khác…

Thực ra, cơ cấu này không hẳn là mới; mình có thể thấy Sư Ông quay lại hệ thống tổ chức của một thiền viện, một tu viện nhiều hơn. Vì đại chúng bắt đầu có nề nếp và Sư Ông muốn trao truyền cho các thầy, các sư cô cách vận hành như một tăng thân. Đồng thời, Sư Ông học hỏi thêm những phương pháp của phương Tây, làm mới lại về cách tổ chức, họp hành, cách chia sẻ,…   để áp dụng vào trong đời sống của chúng, bên cạnh  áp dụng những phương pháp có sẵn trong truyền thống.

Khi tăng thân mở những trung tâm mới, Sư Ông luôn thực hiện với tư cách của cả tăng thân, chứ không phải vài cá nhân đi ra để làm riêng. Đó cũng là một sự đột phá so với các phương pháp của truyền thống, khi các chùa chỉ cần một thầy đi ra lập chùa là được. Mong là mình giữ được tinh thần Đi như một dòng sông mà Sư Ông đã dạy. 

Xây dựng tăng thân ở châu Á 

Năm 2006, khi đang ở Lộc Uyển, Sư Ông gọi Pháp Niệm về Từ Hiếu để chăm các sư em. Sư Ông rất thương Việt Nam. Sư Ông có trách nhiệm với những gửi gắm từ Sư Cố, từ liệt vị Tổ sư để phát triển chùa Tổ. Gốc mà mạnh thì ngọn mới khỏe. Vì vậy, Sư Ông luôn hướng về quê hương đất nước, chùa Tổ, để đưa pháp môn trở lại như một hoa trái cúng dường lên Sư Tổ, để mọi người dân Việt Nam được thừa hưởng, đặc biệt là giới trẻ.

Năm 2009, Pháp Niệm trở lại Làng. Đến mùa An cư 2013, Sư Ông dạy Pháp Niệm về Thái Lan. Thời điểm đó, đại chúng ở Thái còn rất mới, sinh hoạt chưa được ổn định. Thầy Pháp Khâm và thầy Trung Hải cũng được cử về để giúp xây dựng. Sư Ông mong muốn xây dựng Làng Mai Thái Lan thành một trung tâm tu học cho cả Đông Nam Á, đặc biệt là nơi nương tựa cho người Việt sang tu học, đóng một vai trò rất quan trọng là tiếp tục gieo hạt giống bồ đề. Có thể với tầm nhìn đó mà Sư Ông lấy tên là tu viện Vườn Ươm – vườn gieo hạt giống bồ đề cho các thầy, các sư cô trẻ người Việt, kể cả cư sĩ. Đúng như dự đoán, sau này người Việt qua tu học rất đông, nhất là các bạn trẻ. 

Sư Ông cũng dạy các anh em là: “Các con ở Thái Lan nhưng thỉnh thoảng nên đi về Việt Nam để tiếp tục gieo trồng hạt giống chánh niệm tại quê hương”. Vì vậy, Pháp Niệm, thầy Trung Hải, thầy Pháp Khâm cùng một số anh em, mặc dù ở Thái Lan nhưng vẫn thường xuyên trở về Việt Nam để hướng dẫn tu học.

 

Chương trình học nội chúng 

Khi về Thái Lan, Pháp Niệm cùng với các anh em tổ chức lại chúng và hệ thống hóa những điều Sư Ông dạy bằng cách mở ra các lớp học giống như trong trường học nhưng không cần thi cử. Tăng thân đã chia chương trình Phật học bốn năm thành chương trình bảy năm, để đơn giản hóa, dễ truyền đạt và phù hợp với trình độ của các sư em nhỏ. Đó là khởi đầu của chương trình giáo dục tại Làng Mai Thái Lan. 

Ngoài Phật học, các sư em còn được học thêm một số môn ngoại điển như lịch sử, văn học, văn hóa, tâm lý học cơ bản, v.v. Khi đó, mình chưa chú trọng vấn đề xây dựng nhà cửa mà chú trọng về giáo dục. Chỗ ở tuy còn chật nhưng đại chúng vẫn vận động xây các lớp học cấp bốn đơn sơ. Đó là những bước đầu tiên, mình chưa nghĩ tới tổ chức các khóa tu, chỉ nghĩ tới chuyện dạy học cho các sư em thôi.

Điều thứ hai, mình cũng nghĩ tới là sau này các thầy, các sư cô sẽ phải giảng dạy. Trước giờ Sư Ông dạy hết nên mình hơi thụ động. Do đó, nếu không bắt đầu tập giảng dạy thì mình sẽ  không biết giảng dạy. Không phải anh chị em xuất sĩ nào cũng có trình độ sư phạm hay ăn nói lưu loát, cũng như số lượng các vị có khả năng đó không nhiều. Thành ra, các vị giáo thọ, tân giáo thọ cũng cần phải được đào tạo và tiếp tục học hỏi. Vì vậy, chương trình giáo dục đó không chỉ để giảng dạy cho các sư em, mà đồng thời là để quý thầy, sư cô đứng lớp rèn luyện cho chính bản thân mình. Chỉ sau một thời gian, các thầy, các sư cô giáo thọ trẻ bắt đầu cảm thấy tự tin hơn để giảng dạy. Đó cũng là một thành công lớn. Chương trình học trong khung cảnh thời khóa, tu học và phụng sự nên rất hài hòa. 

Dần dần, nhiều người bắt đầu tìm tới tu học. Khi Sư Ông về Thái năm 2016, số lượng người đến tu học tăng lên rất nhanh. Có thời điểm, đại chúng hai xóm đã có đến gần 200 vị xuất sĩ.

 

Chánh niệm đi vào xã hội Việt Nam

Năm 2007, trong chuyến về Việt Nam, Sư Ông có một buổi nói chuyện với giới doanh nhân. Năm 2008, khóa tu doanh nhân đầu tiên đã được tổ chức tại Palm Garden Resort, Hội An. Khi đó, Sư Ông chỉ mới tiếp xúc với giới doanh nhân miền Nam. Sau năm 2009, chương trình đưa chánh niệm vào trong giới doanh nhân Việt Nam bị gián đoạn. 

Đến năm 2018, tăng thân được mời về tổ chức khóa tu doanh nhân đầu tiên ở miền Bắc. Ban đầu cũng gặp không ít khó khăn, nhưng sau đó, khóa tu được tổ chức và duy trì đều đặn, liên tục hàng năm cho tới bây giờ. 

Dần dần, các giới khác như y tế, giáo dục cũng tìm đến với tăng thân. Tinh thần của Sư Ông là tạo ra một sự giác ngộ tập thể, theo tinh thần “Một đức Bụt là không đủ” (One Buddha is not enough). Và nguyện ước của tăng thân là đưa đạo Bụt ứng dụng (Applied Buddhism) vào đời sống xã hội.

Ở Việt Nam, hiện nay tăng thân có các khóa tu cho các ngành giáo dục, y tế, khóa tu cho gia đình, cho người trẻ, cũng như khóa tu cho các nhóm công ty, tập đoàn và doanh nhân. Riêng về giới nghệ sĩ, mình chưa tổ chức được khóa tu riêng, nhưng hy vọng trong tương lai có thể thực hiện vì họ cũng rất quan tâm và biết đến pháp môn nhiều lắm. Đó là những điều tăng thân đã làm được trong việc gieo hạt bồ đề tại Việt Nam. 

Tuy nhiên, Pháp Niệm nghĩ rằng tăng thân phải luôn luôn chuẩn bị để “đủ trình” và “đủ chất”. Mình không thể nào tiếp tục mãi theo cách cũ. Qua thời gian quan sát, Pháp Niệm thấy có dấu hiệu “bão hòa” trong một số khóa tu và sinh hoạt mình tổ chức. Có những người tâm huyết sẽ ở lại, nhưng cũng có những người sẽ đi tìm những thức ăn mới, cách thức mới. Cho nên, một trong những điều mình phải nhìn lại bây giờ là làm sao tránh được chuyện “bão hòa”, làm sao trang bị, đào tạo cho các thầy, các sư cô có những hành trang mới phù hợp hơn. 

Bên cạnh đó, Pháp Niệm cũng mong các thầy, các sư cô gìn giữ được những thực tập căn bản, những giới luật và uy nghi để có thể gìn giữ được nếp sống phạm hạnh của mình. Có những thực tập rất hay để bảo hộ cho sự tu học với tư cách của cá nhân và tập thể như phương pháp đệ nhị thân, đi hướng dẫn các khóa tu thì luôn đi như một tăng thân, kể cả việc thành lập một nơi tu học mới cũng vậy. Đó là tinh thần Đi như một dòng sông

Chúng ta đang sống trong thời đại trí tuệ nhân tạo, với nhiều cơ hội hoằng pháp bằng kỷ thuật số và môi trường online. Điều này đúng là một cơ hội lớn, nhưng đồng thời cũng là một thách thức không nhỏ. Vì vậy, tăng thân cần tiếp tục học hỏi và tìm cách hoằng pháp hiệu quả hơn nữa, cũng như vẫn biết cách bảo hộ, giữ gìn được cho nhau trên con đường tu học. 



Hội ngộ ẩn sơn

Sư cô Chân Huệ Tri

 

Con đã về nơi thâm sơn hùng vĩ

Khoác áo mây và tắm nắng hoàng hôn

Tiếng chuông khuya thức tỉnh tận đáy hồn

Mừng hạnh ngộ, lắng yên đời ẩn sĩ. 

 

Con đã đến lạc loài bao thế kỷ

Tìm kiếm hoài, vách đá, am tranh

Mãi loay hoay để thế sự xoay vần

Tâm rong ruổi giữa dòng đời náo nhiệt. 

 

Con đến đây núi đồi tràn bóng nguyệt

Tỉnh giấc khuya, khoác áo ngắm trăng rơi

Đêm thanh vắng, núi đồi thêm diễm tuyệt

Con nhận ra Tịnh độ ở đây rồi. 

 

Từ dạo ấy tâm ruổi rong dừng lại

An trú sâu trong hơi thở tuyệt vời

Chốn yên bình con sống thật thảnh thơi

Tâm bồ đề lớn thêm, rực sáng. 

 

Niềm tin ấy tràn vào tim sáng loáng

Tràn núi xanh in dấu mỗi bước chân

Đến hoa cỏ cũng thêm sắc thêm dáng

Chốn thâm sơn con sống trọn chân tình. 

 



 

 



Giếng nước thơm trong

Hành trình của một tờ Tập san Phật học

Thầy Chân Trời Nguyện Ước

 

Con chim sau khi đã mổ vỏ quả trứng chui ra thì sẽ không thể nào trở lại trạng thái cũ nữa. Đó là hình ảnh ví dụ nổi tiếng của Hermann Hesse trong tác phẩm Demian (1919) nói về sự thức tỉnh của cái tôi, sự vượt thoát khỏi cái vỏ an toàn cũ để bước vào một đời sống mới, nhiều thách thức nhưng cũng đầy những điều mới lạ để chúng ta thỏa sức học hỏi, khám phá và chinh phục. Điều đó đúng với trường hợp khi bạn đã “lỡ” thai nghén trong tâm một ý tưởng, một hoài bão muốn thực hiện, bạn sẽ không thể nào còn “ung dung” được như trước nữa. Bạn sẽ phải bắt đầu suy tư, lên dự tính, lập kế hoạch, đi tìm người cộng tác, đối mặt với những vấn đề hóc búa… Bạn dồn hết sự quyết tâm và lòng nhiệt thành của mình để cho ra đời “đứa con tinh thần” đó. Để rồi bạn vượt ra được những giới hạn an toàn của bản thân, mở toang được cánh cửa vào những khung trời mới, lan tỏa được niềm cảm hứng đến với mọi người. Đây chính xác là những gì mà tôi và các huynh đệ trong Ban biên tập (BBT) tập san Giếng nước thơm trong đã trải qua trong suốt chặng đường khai sinh và phát triển tờ tập san Phật học đầu tiên ở Làng Mai.

 

 

Ngày khai sinh tờ tập san, 22.09.2022, chúng tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác hạnh phúc hân hoan khó tả. Xin được mượn lại đây mấy lời của thầy Trời Minh Lượng ghi lại khoảnh khắc đó: 

 

“Buổi sáng hôm ấy, một nhóm quý thầy, quý sư cô đã giới thiệu với tăng thân ấn phẩm mới có tên Giếng nước thơm trong – tập san Đạo Bụt ứng dụng Làng Mai Thái Lan. Trong đó có bài khảo cứu về các câu đối ở Tổ đình Từ Hiếu. Các câu đối này được dùng để trang trí nhiều nơi trong chùa, từ cổng tam quan cho đến chánh điện. Nhưng vì các câu đối được viết bằng chữ Hán nên nhiều quý thầy, quý sư cô không hiểu hết được ý nghĩa.

 

Bài khảo cứu với bản dịch và chú giải rõ ràng đem đến cho người đọc cơ hội được học hỏi và hiểu một cách sâu sắc hơn ý nghĩa của các câu đối. Cặp mắt của người huynh đệ ấy sáng lên khi chia sẻ về bài viết. Mỗi ý lại được nhấn mạnh bởi nụ cười đầy cảm hứng. Bài viết đã giúp cho đại chúng khám phá ra một viên ngọc quý trong kho tàng quý giá của gốc rễ tâm linh Từ Hiếu. Tôi có thể cảm nhận được niềm tự hào và hân hoan nơi người huynh đệ về gốc rễ tâm linh của mình và sự giàu có của truyền thống tâm linh ấy. Làm sao không tự hào, không vui cho được! Có quá nhiều thứ để khám phá về những công trình mà các vị tổ sư đi trước đã khai mở. Ai có thể nói được có bao nhiêu pháp bảo chứa đựng trong những đôi mắt sáng rỡ ấy của đệ huynh?” (Trích Lá Thư Làng Mai số 46).

 

Tuy chính tôi là tác giả của bài nghiên cứu được nhắc đến ở trên, nhưng như đã thỏa thuận từ trước, ngày hôm đó người đứng lên giới thiệu bài viết này lại chẳng phải là tôi; “đôi mắt sáng rỡ” ấy là của một sư cô thành viên tích cực trong BBT! Tôi đã không được cơ hội nhìn thấy đôi mắt đó của người huynh đệ như thầy Trời Minh Lượng; đứng trước đại chúng, tôi nhớ mình chỉ nói được vài câu nghe có vẻ buồn cười thôi. Đại khái như thế này: “Kính thưa đại chúng, bây giờ con nghĩ con đã hiểu cái cảm giác hạnh phúc của một bà mẹ trong khoảnh khắc thấy được đứa con mình mang nặng đẻ đau chào đời”. Nhớ lại quãng thời gian hơn một năm trời ấp ủ cho dự án được thành hình, các anh chị em trong BBT đã làm việc miệt mài và hăng say. Chúng tôi lúc đó người thì ở Thái, người ở Việt Nam, người ở Đức, người ở Mỹ nên các buổi họp cũng như trao đổi thông tin bài viết với nhau đều phải thực hiện online. Ôi cái thời đại dịch ovid giãn cách xã hội đó, chúng tôi cũng làm việc online như bao người! Thật ra trong giai đoạn tượng hình ý tưởng này, điều chúng tôi lo lắng nhất không phải đến từ việc tìm kiếm nội dung bài viết cho tập san, mà chính là sự chần chừ ái ngại không biết tờ tập san ra đời có phù hợp với nhu cầu và được sự đón nhận của mọi người trong tăng thân vốn thường không thích lý thuyết trừu tượng mà chỉ trọng về trải nghiệm thực tế hay không. Và quan trọng hơn hết, chúng tôi – những người tu vốn còn rất trẻ, có đủ sức đứng ra cáng đáng một tờ tập san chuyên về phạm trù tư tưởng và giáo lý Làng Mai hay không? 

Tôi đã dành nhiều thời gian quán chiếu về những mối băn khoăn lớn này, điều mà tôi biết nếu mình không có được câu trả lời thích đáng, dự án của chúng tôi cũng sẽ phải dừng lại giống như biết bao nhiêu ý tưởng khác của huynh đệ vẫn luôn chỉ ngủ yên ở giai đoạn “gieo mầm”. Và rồi sau đó không lâu, tôi nhớ mình đã viết cho thầy Trời Hải Thượng – một thành viên nòng cốt trong BBT: “Cũng có điều này thật xin chia sẻ với Hải Thượng, lúc mới lên ý tưởng tuy rất hào hứng nhưng Nguyện Ước vẫn thấy mình có một sự nghi ngại trong lòng. Mình là ai, xuất gia đã được bấy lâu mà dám đòi làm báo, lại là một tờ báo để nói về chuyện tư tưởng và giáo lý của Làng nữa chứ? Nhưng rồi Nguyện Ước vẫn tiếp tục xây dựng ý tưởng, kêu gọi mọi người cùng đóng góp, để mặc cho mối nghi ngại nằm yên đó. Rồi một sáng nọ thức dậy tự nhiên trong đầu đi lên cái thấy: ‘Thì mình cứ làm thôi, vì đó là cái mình muốn làm mà!’. Hải Thượng nên biết là dự án của mình có thể thành công hoặc thất bại, nhưng giờ đây đối với Nguyện Ước điều đó không còn là vấn đề nữa rồi. Cái quan trọng nhất là mình đã DÁM ước mơ và DÁM LÀM những gì mình ước mơ!”. Và thế là chúng tôi tiếp tục.

Nguyên nhân sâu xa thúc giục tôi có ước mơ xây dựng tờ tập san Phật học này có lẽ đến từ vài năm trước đó. Lần ấy tôi vô tình đọc được bài báo của một thầy trong Làng đăng trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo Việt Nam. Bài viết thực chất là bài thu hoạch của thầy trong lớp học về Tuệ Trung Thượng Sĩ tại Làng Mai Thái, nói về những cái thấy sâu sắc mà thầy đã học hỏi và chiêm nghiệm được qua tác phẩm Tuệ Trung Thượng Sĩ Ngữ Lục. Đọc bài viết tôi nhớ mình có cảm xúc vừa vui vừa băn khoăn. Tôi vui vì lần đầu tiên được đọc một bài nghiên cứu khá kì công và nhiều tâm huyết của huynh đệ mình, điều mà hầu như tôi chưa được thấy qua trong các ấn phẩm báo chí của Làng trước đây. Băn khoăn vì tôi tự hỏi tại sao một bài viết như thế lại không tìm được chỗ đứng trong các ấn phẩm của Làng như Lá thư Làng Mai hay Lá thư Vườn Ươm để huynh đệ cùng được thừa hưởng, mà phải tìm đến một ”sân chơi” khác từ bên ngoài? Mà thực tế là dù cho có được miễn cưỡng đặt vào một tờ “Lá thư” nào đó của Làng đi nữa, nó trông cũng khá lạc lõng và dị hợm so với những bài viết khác. Làng Mai mình hình như vẫn còn thiếu một sân chơi mang tính học thuật cho huynh đệ thì phải. 

 

Nhớ lại thời còn là một vị giáo thọ trẻ, Sư Ông đã để rất nhiều thời gian và tâm huyết xây dựng những tờ báo, tờ tập san để phổ cập kiến thức Phật học cũng như chia sẻ những cái thấy, những phát kiến mới của mình đến mọi người nhằm vận động cho công cuộc làm mới đạo Bụt, đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời. Các tờ báo và tập san như Liên Hoa (Đà Lạt), Phật giáo Việt Nam, Giữ thơm quê Mẹ, Hải Triều Âm, Thiện Mỹ… lần lượt ra đời trên tinh thần ấy. Những tờ nội san như Hoa sen, Tiếng sóng, Sen hái đầu mùa… cũng là những sân chơi khác, nơi Sư Ông khuyến khích người xuất sĩ trẻ học hỏi, sáng tạo và chia sẻ ra những cái thấy, lý tưởng, tâm tư tình cảm của mình. Rất nhiều bài viết của Sư Ông trong các tác phẩm báo chí này đã được tập hợp lại thành những cuốn sách quan trọng và mang tính định hướng cho pháp môn Làng Mai sau này. Dĩ nhiên rằng BBT chúng tôi không kham nổi ước vọng cao xa như của Sư Ông, chúng tôi chỉ muốn tạo thêm một sân chơi bên cạnh những sân chơi đã có sẵn xưa nay của Làng mà thôi. Một sân chơi mới trước hết sẽ cho chính chúng tôi, và sau đó thì cho các huynh đệ có cùng cảm hứng trong việc mong muốn trở về tiếp xúc, trau dồi và khám phá thêm chiều sâu của pháp môn. Cái tên Giếng nước thơm trong được chọn vì đã nói lên đầy đủ ước vọng đó: 

Giếng nước thơm trong gợi cho chúng ta nhớ đến câu chuyện thời niên thiếu của Sư Ông khi Người đi tìm ông Đạo trên núi Na, được uống nước trong một cái giếng thiên nhiên bằng đá và có được trải nghiệm tâm linh đầu tiên. Bắt nguồn từ đó, dòng suối tâm linh trong lành tuôn chảy không ngừng qua Sư Ông cho đến những người học trò xuất gia và tại gia, lan tỏa ra khắp năm châu bốn biển cho đến tận hôm nay. Lấy cảm hứng từ câu chuyện ông Đạo và giếng nước thơm trong, tập san này mong muốn góp một phần nhỏ giúp cho những người tu trẻ được trở về tìm hiểu, tắm mát lại nơi mạch nguồn thơm ngọt đó để cùng trau dồi và khơi mở dòng chảy tâm linh của pháp môn Làng Mai.”

(Trích Giếng nước thơm trong số thứ nhất)

Trong bức thư mời một thành viên tham gia vào BBT, tôi đã tâm sự thật lòng như thế này: ”[…] Nguyện Ước nhận thấy rõ rằng không phải là dự án chỉ nhắm đến phục vụ nhu cầu của đại chúng không thôi, mà ngay chính chúng ta – những người cùng xây dựng dự án, là những người được thừa hưởng lợi lạc nhiều nhất. Chúng ta sẽ có cơ hội được trở về để cùng tìm hiểu, cùng quán chiếu, và cùng khám phá những bảo vật trong gia tài của Thầy truyền trao, trong tăng thân và trong mỗi huynh đệ. Ban biên tập thực ra chính là một nhóm tự học đúng nghĩa, và sản phẩm của công trình tự học đó chính là tờ Tập san mà chúng ta sẽ có cơ hội giới thiệu đến đại chúng, không chỉ ở Thái Lan mà còn có thể ở nhiều nơi khác nữa”. 

Thầy Pháp Niệm từng kể rằng Sư Ông thường rất vui mỗi khi nhìn thấy một vị đệ tử nào đó của mình say mê nghiên cứu, tự tìm tòi học thêm về kinh điển và giáo lý. Và thông qua tờ tập san, chúng tôi cũng chỉ mong muốn khơi dậy thêm niềm cảm hứng đó trong huynh đệ mà thôi. Sau hơn ba năm, không rõ tờ tập san đã truyền được cảm hứng thực sự cho bao nhiêu người, nhưng ít nhất tôi biết trong số đó có mình. Tôi có thêm lý do để buông điện thoại xuống, để chấm dứt vài ba câu chuyện phiếm với huynh đệ, để bỏ bớt mấy công việc linh tinh làm mất thời gian… mà ngồi vào bàn học, mà chịu khó viết lách, mà đọc lại mấy cuốn sách và nghe thêm pháp thoại của Thầy, mà lục soạn trong thư viện nhiều hơn… Tờ tập san đã giúp tôi tự chủ động trong việc học và sử dụng hiệu quả hơn thì giờ rảnh rỗi của mình.

Là người khởi đầu của dự án, tôi vì thế bị các huynh đệ gán cho cái mác ”tổng biên tập”. Ngoài lòng hăng hái nhiệt tình có thừa ra, kinh nghiệm làm báo của tôi xưa nay vỏn vẹn chỉ là một con số 0 tròn trĩnh. Và chính tôi cũng tự nhận thấy mình là một ông tổng biên tập tồi. Sau hơn ba năm với sáu số báo phát hành, tờ tập san vẫn chỉ dừng lại ở một phạm vi độc giả khiêm tốn: nó vẫn là một cái gì đó còn khá xa lạ với hầu hết các huynh đệ trong Làng. Tôi không hề biết một chiến lược quảng bá hay phát hành gì hay ho cả. Cho nên hôm nay, vì một nhân duyên đặc biệt, tôi ngồi đây viết xuống đôi lời giới thiệu để nếu hữu duyên, bạn sẽ biết đến về sự tồn tại âm thầm của tờ tập san này. Tiện đây, cũng xin được giới thiệu để bạn biết qua một chút về phong cách và nội dung tổng quát của tờ tập san. Ngay từ buổi ban đầu chúng tôi đã xác định cho nó một hướng đi rõ ràng: 

Tập san sẽ được xây dựng với một phong cách vừa mang tính học thuật, vừa mang tính thực dụng, vừa đi kèm với tính nghệ thuật, sự sáng tạo mới mẻ.  

  1. Tính học thuật: Tập san có thể được xây dựng để trở thành một nguồn tài liệu bổ trợ cho việc học tập, nghiên cứu về giáo lý, pháp môn và tổ chức đời sống Tăng thân. 
  2. Tính thực dụng: thông qua tập san có thể giúp độc giả tự tháo gỡ những vấn đề, những khó khăn còn tồn đọng trong đời sống để hướng đến sự trị liệu, chuyển hóa. 
  3. Tính sáng tạo, nghệ thuật: tập san tạo điều kiện và khơi được nguồn cảm hứng cho những ý tưởng, những quan điểm, những tuệ giác của huynh đệ được trình bày ra; là sân chơi cho những nghiên cứu, những sáng tác mới về thơ, truyện, bình luận, tiểu luận, …

Điều làm được là trong suốt sáu số báo đã ra mắt, chúng tôi vẫn luôn duy trì ba đặc tính nền tảng này. Dựa trên định hướng đó, nội dung của tập san sẽ được chia làm sáu phần với mỗi phần là một số bài viết tập trung vào một khía cạnh nhất định. Phần một khai thác về chủ đề Văn hóa Làng Mai; phần hai là phần Chuyên đề: Thiền tập Làng Mai trong dòng chảy lịch sử Đạo Bụt; phần Luận văn số ba trình bày những góc nhìn đa chiều về các vấn đề giáo lý, sự thực tập và các vấn đề nổi cộm khác trong đời sống tăng thân; những bài nghiên cứu của các huynh đệ sẽ được chọn lọc và đăng tải trong phần Nghiên cứu số bốn; phần Văn nghệ số năm là sân khấu cho những sáng tác thơ, văn, truyện ngắn, những dòng tâm sự…; và cuối cùng, phần Vòng tay nhận thức sẽ là một khung cửa sổ nhìn ra thế giới bên ngoài dưới thế đứng của Làng Mai, trên tinh thần năng-sở, trong-ngoài bất nhị.

BBT chúng tôi cũng cảm thấy may mắn vì trong suốt quá trình làm việc, chúng tôi rất được sự yểm trợ đầy tận tâm của quý thầy quý sư cô trong Ban cố vấn của tờ tập san, bao gồm thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Khâm, sư cô Quy Nghiêm và thầy Pháp Anh. Quý vị đã giúp đóng góp bài viết, soi sáng cho những điểm còn thiếu sót hoặc cần điều chỉnh trong các bài viết của huynh đệ gửi về để mỗi ấn bản đến tay người đọc luôn là ấn bản hoàn chỉnh nhất có thể về mặt nội dung. Nếu như không có sự đỡ đầu của quý thầy quý sư cô Ban cố vấn, tờ báo chúng tôi cũng không thể nào thành hình được. Còn nhớ lúc tờ tập san mới chỉ được tượng hình trong ý tưởng, quý vị đã là những người đầu tiên mà chúng tôi tìm đến để chia sẻ. Dù có thể chưa hình dung được tờ báo đó sẽ như thế nào, sẽ có tác động ra sao, nhưng quý vị đều rất hết lòng yểm trợ, khuyến khích và nhiệt tâm giúp đỡ cho dự án không chút do dự. Chính quý vị đã tiếp thêm sự tự tin và là điểm tựa vững chắc cho chúng tôi tiếp tục đi tới. Sẵn sàng trao cho chúng tôi một sân chơi, để cho chúng tôi tự vấp ngã, học hỏi và trưởng thành trong vòng tay bảo hộ của quý vị, đó là một trong những sự yểm trợ tuyệt vời nhất của các bậc anh chị đi trước đã dành cho thế hệ xuất sĩ trẻ chúng tôi.

Hôm nay ngồi đây, nhìn lại chặng đường hơn ba năm phát triển tờ tập san Giếng nước thơm trong, tôi không thể nào diễn tả được hết niềm biết ơn của mình đối với những nhân duyên đã đến và giúp cho ước mơ này được trở thành hiện thực. Tôi biết ơn tăng thân đã là cái nôi nuôi dưỡng lý tưởng của huynh đệ được đơm hoa kết trái mỗi ngày. Tôi biết ơn quý thầy quý sư cô lớn, những bậc đàn anh đàn chị đi trước đã luôn sẵn sàng dang rộng cánh tay để nâng đỡ cho chúng tôi trưởng thành. Tôi biết ơn huynh đệ khắp nơi đã bao dung chấp nhận cho sự ra đời của tờ tập san vốn còn nhiều vụng về và khiếm khuyết, đồng thời tích cực đóng góp các bài viết quý giá cho ấn phẩm. Tôi biết ơn tấm lòng của các vị Phật tử thân tín đã âm thầm đóng góp tài chính cho việc in ấn và phát hành, để tờ báo không tiêu tốn một đồng nào trong ngân quỹ vốn còn hạn hẹp của chúng xuất sĩ. Và đặc biệt, tôi biết ơn những người huynh đệ cùng đồng hành trong BBT, những người đã đến với nhau bằng lý tưởng, bằng cả trái tim trong sáng và đầy nhiệt huyết của mình để cùng nhau biến giấc mơ chung thành hiện thực. Ba năm và sáu số báo chưa thể gọi là nhiều, nếu như không muốn nói là còn quá non trẻ so với những ấn bản báo chí khác của Làng. Những gì mà BBT chúng tôi làm được cũng còn quá khiêm tốn. Vì vậy chúng tôi biết mình luôn cần phải nỗ lực học hỏi, trau dồi nhiều hơn nữa để tờ tập san mỗi ngày mỗi hoàn thiện hơn, và để không phụ tấm lòng của tất cả  những ai đã đặt kỳ vọng vào nó. Nói về tương lai thì ai mà biết được, chính tôi cũng không dám chắc chắn những gì sẽ xảy đến cho tờ báo trong vài năm tới: tiếp tục phát hành, hay dừng lại, hoặc chuyển qua một hình thức mới. Nhưng đối với các anh chị em BBT chúng tôi, tờ tập san vẫn mãi mang một giá trị thiêng liêng, mãi là ”minh chứng cho trái tim, khối óc và bàn tay của những người xuất sĩ trẻ với đầy hoài bão và nhiệt huyết trên con đường lý tưởng xuất gia và phụng sự”. 



Còn hôm nay là còn tất cả

Sư cô Chân Quy Nghiêm

 

5g30 sáng thứ Năm, đại chúng hai xóm Trời Quang và Trăng Tỏ, tu viện Vườn Ươm Thái Lan, cùng ngồi thiền chung với nhau trên sân cỏ trước Cốc Nhìn Xa của Sư Ông. 

Thật là bình yên được ngồi với nhau trong không khí yên tĩnh của buổi sớm mai. Mọi sự có mặt đều rất thầm lặng mà thấy rất gần gũi, rất thân thiết. 

Có lẽ phải ngồi cho yên mới có thể cảm được điều đó. Khi không còn lăng xăng, lao xao nữa, để cho hồ tâm của mình lắng yên lại, không còn gợn sóng, thì mọi cái mới có thể hiển bày một cách tự nhiên và trung thực, rõ ràng, trong trẻo và tươi mới. 

Như khi được nghe Sư Ông đọc bài thơ Tiếng gọi, và thầy Pháp Niệm hát, mình thấy mọi cái trở nên tươi mới và trong trẻo. Mình thấy Sư Ông và thầy Pháp Niệm cũng đang có mặt ở đây, trong giây phút này.

 

 

“Sáng hôm nay

Tới đây

Chén trà nóng

Bãi cỏ xanh

Bỗng dưng hiện bóng hình em ngày trước

Bàn tay gió

Dáng vẫy gọi

Một chồi non xanh mướt

Nụ hoa nào 

Hạt sỏi nào

Ngọn lá nào 

Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.” 

 

 

 

Có em ngày trước là có em hôm nay thôi. Có em hôm nay là có em ngày mai thôi. Đâu có gì đã qua và đã mất, đâu có gì sẽ qua và sẽ mất, như Sư Ông vẫn thường nhắc nhở. 

 

Vì em chính là sự sống luôn biểu hiện rất mầu nhiệm dưới mọi hình thức. Em là nơi quy tụ của vạn pháp, và tất cả đều đồng thời có mặt cùng một lúc. Không có gì có thể tách biệt hay chia cắt, vì đó là bản chất muôn đời của em. 

Cho nên có em là có tôi, có tôi là có em, có tất cả những gì đang có mặt: có đất trời, cỏ cây, hoa lá, có từng phiến đá, từng con đường đi, có bàn tay và tấm lòng của từng huynh đệ. Làm sao mà không thấy được? Chỉ cần ngồi cho yên là thấy được thôi. 

Một thi sĩ người Pháp nào đó đã từng thốt lên:

Em nói không có ai thương em sao?

Em hãy nhìn kỹ đi, tình thương tuôn chảy khắp nơi, len lỏi trong từng ngõ ngách của sự sống.

Em hãy nhìn kỹ đi. 

Cho nên phải ngồi cho yên để có thể nhìn kỹ hơn và sâu hơn: tình thương không bao giờ vắng mặt. Tình thương luôn có mặt, dù rất thầm lặng, để tiếp tục kết nối, giữ gìn và nuôi dưỡng mọi hình thức của sự sống, để làm lớn lên ý nghĩa cao cả của một con người, cũng như của muôn loài. 

Thấy được như vậy, tự nhiên thấy lòng ấm lại và đầy sự biết ơn. Và lúc ấy, mình mới thực sự biết cách giúp mình và giúp người tháo gỡ được những tri giác sai lầm. Phiền não sẽ không còn quấy rầy mình nữa, ngày và đêm. 

 

 

Nụ hoa nào

Hạt sỏi nào 

Ngọn lá nào 

Cũng thuyết Pháp Hoa Kinh.

 

Đâu có gì đã qua và đã mất, 

đâu có gì sẽ qua và sẽ mất…

 

Mình luôn sống trong nhau, 

trùng trùng duyên khởi…

 

Đó là điều Sư Ông vẫn muốn mình nhớ. 

Sư Ông vẫn thường nói rằng đâu phải là chuyện ngẫu nhiên mà mình được gặp nhau hôm nay. Phải vượt qua muôn ngàn sinh diệt mới còn được gặp nhau hôm nay. Cho nên phải biết trân quý nhau và hết lòng yểm trợ nhau. 

Và trong một dịp chúc tết đầu năm, Sư Ông nói:

“Còn hôm nay là còn tất cả.” 

Chúng ta đã hiểu được lời Sư Ông dạy bảo, nên hôm nay chúng ta vẫn còn có mặt cho nhau.