Nội gánh nắng mưa

Sư cô Chân Trăng Vô Ưu

Nội kính thương,
Đêm đã buông xuống, mọi âm thanh thường nhật dường như cũng lắng vào không gian, chỉ còn lại tiếng côn trùng gần xa hòa cùng nhịp thở của đất trời. Trong nhịp sống ở tu viện, cứ đến những khoảng giờ thực tập im lặng hùng tráng là con có cảm hứng và thấy thích thú lắm. Sự vắng mặt của bao thanh âm sinh hoạt hằng ngày, của tiếng nói cười giúp cho con dễ dàng trở về và ý thức rõ hơn mình đang là một người tu, là một sư cô được may mắn sống trong một nếp chùa bình an, bao dung và đầy hiểu biết. Im lặng là một sự có mặt đàng hoàng cho chính tự thân, giúp con khám phá thêm những ngõ ngách bên trong mình hay chuyển hóa những thiếu sót trong sự thực tập, hoặc đơn giản chỉ là lúc con buông mình trên chiếc đơn cho cơ thể được thư giãn với từng hơi thở vào ra rồi tâm tư con nhờ đó mà trở nên nhẹ nhàng bình lặng. Cái yên đang về nơi góc nhỏ ấm cúng của con, con chợt nhớ đến nội lạ. Khi nhớ nghĩ đến một ai đó hay một điều gì đó, con có thói quen lấy giấy bút ra rồi tâm sự hết nỗi lòng vào từng câu chữ. Con thích chia sẻ bằng ngôn ngữ hơn nhưng sao con vẫn còn tính hay mắc cỡ nên con cũng ít thực hiện được điều này. Nội thấy con có tếu không? Chỉ có nói nhớ nội thôi mà con cũng làm không được nữa. Không biết dạo này nội ra sao rồi? Sức khỏe của nội vẫn tốt chứ ạ? Mỗi lần nghĩ tới nội không hiểu sao con lại thấy nhớ ba con. Mà khi nói chuyện điện thoại với ba, con lại thấy hình ảnh của nội. Từ ngày con đi tu, con ít có cơ hội truyền thông với nội hơn.

 

 

Nội không xài điện thoại, lại không sống cùng nhà với ba con nên nhiều lúc con chỉ hỏi thăm được nội qua ba con mà thôi. Thế nhưng con chưa một lần cảm thấy tình bà cháu xa cách, sợi dây gắn kết tình nội vẫn luôn có đó trong con. Con nhớ hồi con còn nhỏ, con thường ở với ông bà ngoại, phần nhiều vì ba mẹ con bận đi dạy không tiện chăm sóc con. Ông bà ngoại lúc nào cũng thương con cả, có của ngon hay áo quần đẹp cũng đều để dành cho con vì con là đứa cháu đầu tiên của ông bà ngoại mà. Nhưng cũng không phải vì đứa cháu đầu mà ông bà ngoại cưng chiều con đâu. Tuy còn bé và được nhận bao nhiêu là tình thương nhưng mỗi lần con làm gì chưa hay, hoặc không vâng lời, ông bà ngoại vẫn thường dạy bảo con rất nghiêm khắc. Có khi con bướng bỉnh, tỏ ra thái độ không chấp nhận mình hư, thế là con càng bị la thêm nữa. Mỗi lần bị la rầy, con đều nghĩ đến nội và thường nói với ông bà ngoại rằng: “Con không ở với ông bà ngoại nữa. Bà nội thương con hơn, cho con đi chơi mà không cần ngủ trưa, không bao giờ la con. Con thương bà nội hơn ông bà ngoại”. Những lời nói vô tư ấy của con phát ra một cách ngây ngô, không sợ làm ông bà ngoại buồn. Nhưng không phải chỉ vì giận mà con lại nói thế. Thật sự con thấy nội như một trận mưa rào xuất hiện khi trời đang nóng bức, có khả năng tưới mát và xoa dịu những cơn khó chịu trong lòng. Con nít dường như chỉ thích những gì ngọt ngào và được dỗ dành thì phải? Con nhớ hoài những kỉ niệm hồi nhỏ ấy của con. Mỗi lần được ba chở lên nhà nội chơi, lúc nào con cũng gọi nội từ ngoài ngõ: “Nội ơi, nội mô rồi? Có xoài ngoéo chưa nội?”. Con thích xoài ngoéo nhà nội lắm, trái vừa xanh vừa giòn lại vừa ngọt nữa. Có thêm chén muối ớt được giã thật cay với bột ngọt là ăn ngon tuyệt vời luôn. Nội hay nhìn con ăn rồi cười và bảo: “Coi cái miệng hắn ăn ngon chưa tề”. Nội thích nghe con kể chuyện lắm, con không nhớ rõ mình kể chuyện gì vì hồi bé thì có bao nhiêu là thứ để huyên thuyên, duy chỉ có một điều con luôn nhớ mãi đó là nụ cười hiền từ và ánh mắt thương yêu vô bờ mà nội dành cho con.

Nội biết không, những ngày qua thời tiết ở Thái có nhiều thay đổi bất thường lắm. Lúc thì trời trở lạnh nửa đêm, lạnh đến thấu xương nhưng kéo dài đến trưa hôm sau, khi mặt trời lên hết mực chiếu soi muôn triệu tia nắng, thì lại hanh nóng. Đang bắt nhịp lại với khí hậu nóng rồi thì cái lạnh ở đâu từ từ lan về khiến ai cũng phải xuýt xoa: “Ui, lạnh nữa rồi!”. Vậy mà thoáng đâu đó, lòng con nghĩ đến nội giữa những phút chốc giao thời ấy. Tính cách của nội như có nét gì hao hao với sự bền bỉ thầm lặng mà vô cùng mạnh mẽ của thiên nhiên. Con thấy không phải là thiên nhiên biến chuyển mau chóng mà dường như nó còn đang phải xoay sở mong tìm cho được một bến đỗ yên ổn, định tĩnh nào đó để dừng lại nhưng nhất quyết sẽ luôn kiên trì và không bao giờ từ bỏ. Thường thì tâm lý con người sẽ ít thấy hạnh phúc bởi những thay đổi mau chóng xung quanh hoặc đôi lúc sẽ có cảm giác chán chường, mệt mỏi khi những khó khăn này chưa xong thì cái khác lại tới. Nếu nhìn cho kỹ và nhìn thật sâu mình sẽ tìm thấy được những cái đẹp, cái giá trị mầu nhiệm chứa trong đó. Nhờ đi tu mà nhiều lúc ngắm nhìn thiên nhiên, con học được rất nhiều bài học và có khi lại liên tưởng đến hình ảnh những người thân thương của mình.

Nội của con một đời vất vả, dù nắng hay mưa lúc nào cũng tảo tần gánh hai rổ rau đi bán ở chợ mỗi ngày để nuôi sáu người con trong khi ông nội mất rất sớm trong thời chiến tranh. Nội dồn hết tình thương, hy vọng và sức sống của mình vào tâm hồn của những người con. Trái tim nội chứa đầy ý chí dũng mãnh và bền bỉ để vượt qua bao nhiêu khổ cực của cuộc đời mà bước tiếp chặng đường phía trước. Nội không cần đến ai hay nương vào ai khác cả. Nội rất tự chủ trong đời sống của mình. Ngay cả khi các con của nội lớn lên, có nghề nghiệp và lập gia đình, nội vẫn có thể tự chăm sóc bản thân mình dù tuổi nội ngày càng pha màu sương khói. Con như muốn khóc mỗi khi nhìn thấy nội đạp xe đạp lên nhà con chơi rồi kể là nội mới đạp xe đi khám bệnh từ thị trấn về. Con hỏi: “Sao nội không nhờ ba con hay chú bác nào chở nội đi, nội đã bệnh mà còn tự đạp xe đi nữa, lỡ có chuyện gì thì sao?”. Nội trả lời con sao mà nghe khỏe nhẹ như không có chuyện gì cả: “Thôi nội đạp xe còn được, nội tự lo được chớ không lại phiền hà ba con hay các chú”. Đoạn đường từ nhà nội lên bệnh viện thị trấn không phải là ngắn, gần hai mươi cây số lận. Nội con lúc nào cũng vậy đó, lớn tuổi rồi vậy mà vẫn còn thương con, sợ làm liên lụy tới công việc của con mình mà không dám nhờ ai giúp cả. Nội vẫn luôn âm thầm và lặng lẽ chịu đựng như vậy dù con có khuyên nội bao nhiêu thì nội vẫn không bao giờ thay đổi ý chí trong nội cả. Đó là nội còn khỏe đủ để đạp xe, dần dà thân nội trở nên yếu đi, nội vẫn kiên quyết không nhờ đến con cái. Nội chỉ cần một cái mũ bảo hiểm thôi, rồi đứng sẵn ở một góc đường và chờ quá giang khi thấy ai đó lái xe máy đi về hướng thị trấn.

Nội trong con lúc nào cũng như người nữ anh hùng vậy. Con muốn giống như nội lắm. Sau này con lớn, đi học xa nhà, tuổi của nội thêm cao, những lần về thăm nội, con thường mua một món quà nào đó để tặng nội. Làm điều gì khiến nội vui là con thấy hạnh phúc lắm. Nội thường thích những thứ con mua về cho nội và thường hay cất chúng vào tủ để dành, chờ dịp đặc biệt nào đó mới đem ra xài. Nhìn cách nội trân quý cái kẹp tóc, túi xách, áo quần hay dây chuỗi, dây cườm con tặng, lòng con rất đỗi hạnh phúc và xúc động. Ở nhà, con thương ba con lắm. Khi nào con cũng thấy hình ảnh mưa nắng lấm lem trên vai nội trong ba con, mỗi khi ba làm điều gì cho con với một tình thương dịu dàng, chở che. Ba không biết là con gái ba cũng biết xúc động đến thế nào vì con giỏi giấu cảm xúc lắm nên ba chỉ thấy mỗi nụ cười hạnh phúc của con thôi. Con thương ba nên con cũng thương nội nhiều, con có ba hôm nay tất cả đều nhờ tình thương yêu sâu rộng vô bờ của nội. Mỗi lần nghĩ đến đó thôi là con thấy biết ơn và hạnh phúc nhiều lắm.

Trên bước đường tu học của con, khi khó khăn hay những nhân duyên bất như ý xuất hiện, nhiều lần con muốn buông xuôi vì quá mệt, vì cố gắng hoài mà không thấy mình tiến bộ gì cả. Con thường nhớ đến lời Thầy con dạy: “Ngồi yên đi, mọi chuyện cũng sẽ qua”. Nhưng có phải nghĩ qua là qua được đâu, tính con thì cứ vội vàng, cái gì cũng muốn làm cho xong cho mau, nên có lúc con dùng phương pháp thay chốt. Con tìm về gia đình huyết thống của mình để nương thêm nguồn lực từ tổ tiên. Thầy con dạy cách trở về tiếp xúc với dòng chảy huyết thống đang lưu nhuận bên trong để giúp mình thêm niềm tin và động lực mà đi qua khó khăn. Nghe lời Thầy nên con cũng thực tập theo. Gặp khó khăn ở đâu thì con tiếp xúc với mỗi người thương trong gia đình mình ở đó. Có khi con mời ông ngoại trong con đi lên với một tâm trí đầy hiểu biết xuất phát từ một trái tim dung chứa nhiều tình thương, kiên nhẫn và độ lượng, để làm niềm tin cho con tiếp tục xây dựng những phẩm chất thiện lành mà mình cần vun bồi. Có lúc con mời bà ngoại với những đức hạnh vị tha, rộng lượng và hiền từ trong con biểu hiện để ôm ấp và nâng đỡ những vụng về của con. Nhưng khi con đối diện với những gập ghềnh sóng gió, đòi hỏi con phải nhẫn nại, bền bỉ, quyết tâm không từ bỏ thì con liền nghĩ đến nội với những đức tính kiên trì, chịu thương chịu khó. Dù khó khăn đã vội ập đến bên dáng dấp gầy gò của người phụ nữ tuổi còn thanh xuân ấy nhưng chẳng gì có thể ngăn được ý chí sống của nội cả. Con thấy lòng mình được an ủi, được hiểu và được nội đặt kỳ vọng nơi con. Chỉ cần nghĩ đến đó thôi là mắt con đã nghe cay cay mà lòng lại chạnh đi vì hổ thẹn về bản thân mình.

Nhờ ơn Thầy sinh con ra trong một ngôi nhà tâm linh mà con biết trân quý dòng máu tổ tiên huyết thống vẫn còn đang luân chuyển trong con. Không những con nương vào những đức hạnh và lối sống của ông bà để chuyển hóa nỗi khổ mình đang mang mà còn tưới tẩm những hạt giống thiện lành cho vườn tâm của con nữa. Những gì con được trao truyền hôm nay đều là những phước phần mà con được thừa hưởng từ những thế hệ tổ tiên nhiều đời nhiều kiếp trước. “Làm ăn” có đàng hoàng hay không là tùy thuộc nơi lòng biết ơn dày sâu hay vơi cạn trong con. Con thấy sự sống của con trở nên có ý nghĩa hơn chính là khi con tìm ra đâu là mình, mình là ai và mình không phải được ba mẹ sinh ra, nuôi nấng nên người để rồi tồn tại một cách riêng biệt như vậy. Những cái hay cái đẹp của ông bà, ba mẹ tự lúc nào đi vào con và làm thành những khả năng mà con có thể đóng góp và cống hiến cho đại chúng. Mỗi khi con được quý sư cô khen ngợi làm cái gì đó giỏi, hay được ai đó tưới hoa con có đôi bàn tay khéo, hoặc khi quý sư cô mời con vào tổ chức chung một hoạt động nào đó,… con thấy lòng biết ơn trong con đối với tổ tiên tràn dâng. Tâm con không mang một niềm tự hào nào ngoài việc nhớ nghĩ đến ông bà, ba mẹ, Thầy và cả tăng thân của con nữa. Điều đó làm con cảm thấy hạnh phúc nhiều lắm. Nó nuôi từng tế bào cơ thể con trở nên khỏe mạnh lạ kỳ và con cũng tận hưởng được những bông hoa đang nở rộ một cách rực rỡ, xinh tươi nơi mảnh vườn tâm của mình. Hạnh phúc có tác dụng kì diệu như linh dược vậy đó nội à!

Nội thương, nhờ đi tu mà con chạm được những giá trị sâu sắc nằm ẩn mình trong tàng thức của con. Có lẽ vì tuổi trẻ, vì còn ưa thích những thứ bên ngoài mình, và vì sợ đối diện với khổ đau mà con vô tình bị chúng dẫn lối. Cho đến khi con nếm trải được vị mặn của gian nan, con đường về nhà, về với nguồn năng lượng của tổ tiên, lúc nào cũng có mặt đó, thủy chung chờ đợi mà không bao giờ đòi hỏi, trách than con cả. Con nuôi lại tình thương của gia đình huyết thống, con làm ấm lại niềm tin của Thầy và con vững vàng đứng vững trên đôi chân mình hơn. Cứ vậy, mỗi giây phút hiện tại đang mài dũa và điêu khắc nên con bằng những niềm vui giản đơn hằng ngày như: đi thiền hành có phẩm chất, ngồi thiền lắng yên được tâm ý hay được học hỏi kinh nghiệm quý báu của các sư cha, sư mẹ qua đời sống tu học và tiếp nối lý tưởng của Thầy, hoặc nhìn thấy nụ cười của sư em tỏa sáng trong đôi mắt khi sư em thực tập có niềm vui,… Những niềm vui tưởng chừng đơn sơ và dung dị ấy có khi cũng không thể nào tìm thấy được nếu mình vẫn chưa thật sự sống hết lòng.

Con tìm thấy một trái tim đã đập và đã sống hết lòng một cuộc đời đáng sống từ nội của con. Trái tim ấy tuy thiếu thốn nhiều thứ nhưng lại giàu có tình thương và “kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương” đó. Viết đến đây tự dưng con nghe mình xúc động nội ạ, tự dưng hình ảnh mộc mạc của nội đi lên trong con. Mà tại sao lại tự dưng được nội nhỉ? Con không biết phải lý giải như thế nào nữa. Tự dưng con nhớ nội, thế thôi! Có người nói: “Tức cảnh sinh tình”, có lẽ mấy hôm nay nhân duyên bên ngoài biểu hiện nên làm con nghĩ đến nội nhiều. Mưa nắng làm nên cái khắc nghiệt nhưng mưa nắng cũng mang đầy mầu nhiệm lung linh. Con biết ơn nội thật nhiều. Nội đã biểu hiện tròn đầy nơi sự sống của nội. Nghĩ về nội con nguyện bước đi thật hạnh phúc và an vui trên con đường này, để mãi là món quà xứng đáng với tình thương mà nội dành cho con.

 

Nếp lành

Sư chú Chân Trời Ruộng Đức

Sư chú Trời Ruộng Đức, người Malaysia, xuất gia ngày 19 tháng 10 năm 2019 trong gia đình cây Bạch Quả tại Làng Mai, Pháp. Hiện nay sư chú đang tu học ở xóm Thượng. Bài viết chia sẻ niềm vui tu học và sự thực tập chuyển hóa của sư chú, do BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Xóm Thượng năm nay khá yên tĩnh. Vì dịch bệnh nên Làng phải đóng cửa trong thời gian này. Mọi người không còn được nghe tiếng nô đùa, cười giỡn của trẻ em và cha mẹ chúng nữa. Tuy nhiên, dù đóng cửa, Làng vẫn tổ chức những khóa tu qua mạng để kết nối và tiếp tục hỗ trợ nhau trong thời điểm này. Dù thiền sinh không được đến Làng tham dự khóa tu trực tiếp nhưng sự liên hệ vẫn còn đó một khi chúng ta còn cùng nhau thực tập.

Năm nay là năm thứ hai con sống đời sống của một vị sadi. Với sự thực tập, con thấy đời sống xuất gia của mình đã có nhiều hạnh phúc hơn. Đây là một trong những bước đột phá trong cuộc sống mới này của con.

Con cảm ơn tất cả những điều kiện đã đến với nhau, cho con có được những gì mà con đang có hôm nay để tiếp tục sống cuộc đời của mình một cách đẹp đẽ hơn. Con muốn chia sẻ về năm đầu tiên làm sadi của con ở Làng. Viết tiếng Anh không dễ dàng lắm cho con, nhưng con sẽ cố gắng.

Con vẫn nhớ, mỗi buổi sáng khi thức dậy, từ từ mở mắt ra, con đọc bài kệ Thức dậy. Trong khi đọc kệ, con thưởng thức và theo dõi từng hơi thở của mình. Thỉnh thoảng, vì còn chưa thực sự tỉnh ngủ nên con cảm thấy mình không được tươi mát cho lắm. Có nhiều khi con cần lặp lại hai lần hoặc hơn nữa để thở với bài kệ và từ từ mang thân và tâm lại với nhau. Khi đó, con mới có thể bắt đầu cảm thấy tươi tỉnh hơn. Đôi khi sau buổi ngồi thiền tối, con mang theo sự bình an và niềm vui vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, khi thức giấc, con vẫn còn có thể cảm nhận được niềm vui và sự bình an đó nơi tự thân. Buổi sáng sớm, sau khi thức dậy cũng là thời gian tuyệt vời nhất để thưởng trăng. Ánh trăng sáng chiếu soi qua rừng cây bàng bạc làm tôn lên vẻ đẹp của thiên nhiên xung quanh. Nhìn lên bầu trời, thấy trăng sao đang cười với mình, con cũng mỉm cười đáp lại.

Năm nay đối với con là một năm khá đặc biệt vì con có cơ hội được ở chung phòng với một thầy và một sư em cùng gia đình xuất gia với con. Con rất biết ơn điều đó. Nhiều khi, lắng nghe tiếng ngáy của anh em cùng phòng cũng là một niềm vui và nó đã trở thành thói quen của con. Buổi sáng con thực tập sám pháp địa xúc. Để cho thân tâm tiếp xúc với đất Mẹ, con cảm nhận được một năng lượng trầm tĩnh, dễ chịu. Nguồn năng lượng đó yểm trợ cho sự thực tập của con suốt cả ngày.

Trước khi đi ngồi thiền, con thích pha trà cho các sư anh, sư em trong phòng. Giây phút ngồi uống trà với nhau thực sự rất nuôi dưỡng tình huynh đệ, rất thú vị dù chỉ với một ly trà sáng.

 

 

Trong thời gian làm biếng, khi ngồi uống trà một mình, con thường mời ba mẹ cùng uống trà với con, nhất là ba con. Dù ba đã qua đời cách đây vài tháng, con luôn mời ba ngồi cạnh con, thưởng thức với con một ly trà. Con có thể thấy ba cười, thấy cách ba nâng ly trà và uống trà. Con có thể cảm thấy ba trong con, rất thật. Con vô cùng biết ơn tổ tiên mình. Họ đã phải trải qua rất nhiều khó khăn và nhờ có họ mà bây giờ con mới có thể ngồi đây. Không có tổ tiên, không biết bây giờ con đang ở đâu trong cuộc đời này. Cuộc sống thật là quý giá! Con không muốn lãng phí cuộc sống của mình. Con đang trân quý cuộc sống với những gì con đang có hiện nay. Qua ba con, con chạm đến được sự sống của tổ tiên và nhờ đó cũng có thể chạm đến được tương lai. Sau khi xuất gia, con đã nhận được những lời dạy từ tổ tiên tâm linh. Với sự tu tập, con bắt đầu cảm nhận được khổ đau của bản thân và khổ đau của tổ tiên huyết thống. Con biết rằng những khổ đau của mình đã được trao truyền từ tổ tiên huyết thống và chúng liên hệ rất mật thiết với những khổ đau của họ. Lúc còn sống, ắt hẳn họ đã rất khó khăn bởi vì chưa biết đến sự thực tập. Nhưng hôm nay, có một tin vui mà con đang thưa với tổ tiên là: “Khi con tu tập thì tổ tiên cũng đang cùng tu tập với con. Những sợ hãi và giận dữ nhờ vậy mà được chăm sóc, được chuyển hóa. Vì con và tổ tiên đang được ôm ấp bởi lòng từ bi và tình thương nên chúng ta không còn khổ nữa. Chúng ta cùng tu tập chánh niệm với nhau”.

Trong quá khứ, khi ta khổ mà không biết mình khổ, ta luôn luôn kháng cự và muốn xua đuổi chúng đi. Điều đó khiến ta tiếp tục khổ đau. Bây giờ con biết nỗi khổ có đó, nên con có mặt đây. Con sẽ không xua đuổi nỗi khổ đi nữa. Nó cần tình thương và sự quan tâm của con. Con sẽ cư xử với những nỗi khổ niềm đau bằng sự không phân biệt, không bạo động, chỉ có mặt đó và học cách lắng nghe chúng. Từng thời khắc, bất kể ngày đêm, con sẽ có mặt đó và thực sự chăm sóc chúng. Với sự điềm tĩnh, nhìn sâu vào khổ đau và cố gắng hiểu được gốc rễ của chúng, con biết có một con đường đã dẫn đến khổ đau. Chánh niệm, định và tuệ giúp chúng ta thực tập giới luật và uy nghi. Tất cả đã giúp con có một hướng đi về chánh đạo, một lối sống mới. Nhờ tiếp xúc được với khổ đau, con dần dần hiểu được chúng từng chút một và có thể vun trồng những yếu tố thiện lành trong con. Vun trồng từ bi, hiểu biết và tình thương sẽ có công năng trị liệu và nuôi dưỡng, nhờ đó chúng ta được an toàn. Sự thực tập này luôn làm con xúc động đến rơi nước mắt.

Sau khi uống trà, con tận hưởng từng bước chân đến thiền đường lớn cho buổi công phu. Ngồi thiền trở thành một nguồn an lạc cho con mỗi sáng. Khi con có một nỗi khổ sâu sắc, con mời năng lượng của Sư Ông và đại chúng yểm trợ và cùng thở với con. Khi mở bàn tay ra, đặt lên đùi và quán chiếu Sư Ông cùng đại chúng đang ngồi và yểm trợ mình với năng lượng tích cực, con nhận được năng lượng đó để nuôi dưỡng và trị liệu cho những giây phút khó khăn của mình.

 

 

Vào năm đầu của thời sadi, gia đình cây Bạch Quả chúng con đã rất may mắn được thầy Pháp Ứng dạy lớp sadi và thầy cũng là y chỉ sư của con. Thông thường, chúng con có lớp trong cốc Ngồi Yên của Sư Ông. Trước khi bắt đầu lớp, chúng con thắp hương lên bàn thờ, chuẩn bị trà để mời Sư Ông và thầy. Mỗi người đều có một cái ly riêng và chúng con cùng thưởng thức trà trong im lặng. Con nhớ bài học đầu tiên mà chúng con học là về cách thỉnh chuông và nghe chuông. Thầy Pháp Ứng đã dạy chúng con cách lắng nghe tiếng chuông và thỉnh chuông giống như thả một con chim từ trong lồng bay ra. Kể từ ngày đó, việc thưởng thức tiếng chuông của con đã có chất lượng hơn nhiều. Con cảm thấy rất hạnh phúc.

Lớp đầu tiên của chúng con là Trái tim của Bụt. Ở lớp này, chúng con học cách để học, để nghe, ghi chú, chia sẻ, quán chiếu và biết phương pháp cắm rễ vào sự thực tập. Vì vốn tiếng Anh của con không nhiều, con phải học bằng bản tiếng Hoa và dò theo bản tiếng Anh để có thể hiểu được những gì thầy dạy.

Để giúp chúng con hiểu được bài giảng và cách thực tập, thầy luôn cố gắng hết sức và liên tục thay đổi cách giảng. Theo con, điều này rất thực tế, giúp con hiểu thêm các pháp môn và sự thực tập. Lúc đầu thì không dễ, nhưng khi con gắng học và áp dụng các pháp môn vào sự thực tập thì càng lúc con càng hiểu bài giảng sâu hơn và nó không còn quá khó nữa. Mỗi lớp học đều có phần chia sẻ. Đây là phần con thường gặp khó khăn vì mỗi khi bắt đầu chia sẻ, con cảm thấy căng thẳng, tim đập thình thịch, và càng căng thẳng thì con lại càng thấy khó chia sẻ. Con nhận ra mình có khuynh hướng muốn chia sẻ như thế nào để sự chia sẻ của mình hay hơn những người khác. Vì tri giác và cái ngã đó, con không thể chia sẻ trọn vẹn từ trái tim. Khi y chỉ sư của con biết điều này, thầy đã hướng dẫn và dạy con cách chia sẻ khéo léo và cụ thể hơn. Cùng lúc, con cũng học được từ cách chia sẻ của các sư anh, sư em của mình. Trong lớp, thầy cho chúng con đặt câu hỏi và trả lời những câu hỏi đó một cách thật tinh tế, khéo léo bằng những kinh nghiệm và cái thấy của thầy. Với con, sự hướng dẫn, dạy dỗ của thầy rất quý giá, rất nuôi dưỡng và lợi lạc. Con có nhiều hứng thú với lớp học này và con sẽ không quên những điều thầy dạy.

Có một chuyện để lại trong con nhiều ấn tượng. Đó là một ngày, trong giờ y chỉ sư – y chỉ đệ, chúng con cùng nhau đi bộ. Trên đường đi, có một chú mèo đã theo chúng con suốt đoạn đường. Khi quay về, chú mèo nhìn chúng con kêu như xin giúp đỡ. Có lẽ, đoạn đường quá xa đã làm nó mệt. Bạn biết chuyện gì xảy ra không? Khi thầy y chỉ sư của con hiểu được sự việc, thầy đã bồng nó cả đoạn đường về đến tăng xá. Thật ấn tượng và cảm động! Con thấy thầy không chỉ hiến tặng tình thương cho con người mà cả những loài khác thầy cũng làm vậy. Nhìn cách thầy chăm sóc những con vật trong hồ nước, trong vườn; cách thầy chơi với những con ếch, con cá… con có thể cảm được lòng từ bi của thầy đối với tất cả những loài hữu tình. Với con, thầy xứng đáng với cái tên Pháp Ứng của mình.

Thầy thật sự muốn chúng con có thể cắm rễ vào giáo pháp của Sư Ông. Khi biết được điều này, lòng con tràn ngập lòng biết ơn. Con cần cắm rễ sâu hơn bằng cách đầu tư tất cả năng lượng của mình sao cho đúng cách nhất vào những lời dạy con nhận được. Con cần để 100% thân tâm mình vào mỗi sự thực tập: thở chánh niệm, đi thiền hành, thỉnh chuông, nấu ăn trong đội luân phiên, làm việc, thậm chí tập thể dục. Hơi thở chánh niệm là nền tảng của mọi sự thực tập.

Con cũng rất thích nghe pháp thoại từ quý thầy, quý sư cô lớn, nhất là các chia sẻ về sự thực tập, những kinh nghiệm cá nhân và những gì các vị đã học được từ Sư Ông. Khi nhận được những lời khích lệ quý báu từ quý thầy, quý sư cô, tâm con tràn đầy niềm an lạc. Đó là lý do vì sao con thích và có nhiều cảm hứng để nghe pháp thoại.

Có lần khi con đang nghỉ trưa trong phòng thì một sư anh cố tình có những cử chỉ gây ra nhiều tiếng động… Lúc đó, con cảm thấy rất sợ và giận dữ. Nhưng con ôm ấp cảm thọ của mình bằng hơi thở và tiếp tục nhắm mắt như không có chuyện gì xảy ra. Con biết lúc đó sư anh con đang có rất nhiều khổ đau. Và con nhận ra rằng có thể con cũng đã gây ra đau khổ nào đó cho sư anh nên sư anh đã hành xử như vậy. Con bắt đầu hiểu ra rằng khổ đau của con và của sư anh không hề tách biệt, cả hai chúng con liên hệ mật thiết với nhau. Vài ngày sau, con mời sư anh một ly trà và chia sẻ với sư anh những quán chiếu của con. Con bắt đầu hiểu thêm một chút về giáo lý khổ đau và hạnh phúc không tách rời nhau; chúng không phải là những thực thể riêng biệt, chúng liên hệ mật thiết với nhau. Khi có khổ đau, ta mới biết thế nào là hạnh phúc. Chúng ta có thể trị liệu những vết thương và những cảm thọ đau buồn trong quá khứ bằng chất liệu hạnh phúc. Đó là bản chất của tương tức. Tất cả các pháp đều cũng như vậy, chúng không có một cái ngã riêng biệt. Chúng liên hệ lẫn nhau. Không có gì có thể tồn tại độc lập một mình. Khổ đau của sư anh là khổ đau của con. Hạnh phúc của sư anh cũng là hạnh phúc của con. Con phải biết cách nuôi dưỡng và vun trồng những yếu tố tích cực vốn sẵn có trong con, để có thể tưới tẩm những hạt giống hiền thiện trong những người khác. Khi con nhìn những sư anh, sư chị của mình, con tự hỏi làm sao mà họ có nhiều năng lượng tích cực đến thế? Năng lượng đó có thể mang lại hạnh phúc cho thế giới. Con muốn học hỏi từ họ.

Con thật may mắn gặp được một tăng thân đẹp và lành trên con đường tâm linh của mình. Tăng thân là gia đình thứ hai của con. Với năng lượng của tăng thân, con có thể phát triển những cái thấy của con theo hướng đúng đắn. Con có một cảm giác rất rõ rằng chúng ta là người trong cùng một gia đình. Chúng ta không có một cái ngã riêng biệt, cũng như liên hệ giữa đất Mẹ, thiên nhiên, cây cối, hoa, cỏ,… và con. Tất cả đều không có một cái ngã riêng, chúng ta cùng tồn tại với nhau. Chúng ta phải chăm sóc nhau, và có thể lớn mạnh cùng nhau. Con nghĩ đó là lý do Sư Ông luôn nhấn mạnh: “Chúng ta cần xây dựng tình huynh đệ”. Nhờ có tuệ giác của Sư Ông, nhờ có tăng thân, nhờ có sự thực tập, bài hát của gia đình xuất gia cây Bạch Quả đã ra đời:

 

Sư anh yêu quý

Sư chị yêu quý

Sư em yêu quý

Ngôi nhà của gia đình tâm linh

 

Từ khi chúng ta cùng tu tập với nhau

Đó là hạnh phúc lớn nhất

 

Tưới tẩm một hạt giống tốt

Trong mỗi người

Là nuôi dưỡng nhau

 

Cười với em và nhìn thấy em cười

Là món quà tôi dành cho em

 

Khi anh khổ

Thì tôi cũng khổ

Chúng ta không phải là những cái ta riêng lẻ

 

Khi chị vui

Thì tôi cũng vui

Chúng ta là nhau

 

Có khổ đau

Có hạnh phúc

Tình thương và hiểu biết cũng luôn có đó.

 

Tôi biết em ở đó

Tôi rất hạnh phúc

Tôi cũng có mặt đây cho em

 

Trở về nhà

Đầy hạnh phúc

Đây là giây phút hạnh phúc

 

Chỉ một ly trà

Thưởng thức cùng nhau

Hoàn toàn có mặt cho nhau.

 

Sư anh hạnh phúc ơi,

Sư chị vui tươi ơi,

Thật tuyệt vời giây phút chúng ta có nhau

 

Những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt bây giờ và ở đây,

Chúng ta bước đi trên cõi Tịnh độ của Bụt.

 

Tôi sẽ chọn thương yêu

Sư chú Chân Trời Khiết Minh

Sư chú Trời Khiết Minh xuất gia năm 2017 trong gia đình cây Bạch Dương. Những hạnh phúc, niềm vui và chuyển hóa trong thời gian sống và tu tập tại xóm Thượng được sư chú chia sẻ rất thật và hóm hỉnh trong bài viết sau đây.

“Ai thương?”, “Thương ai?”, hoặc “Thương điều gì?”, mà “Thương là gì?”, “Tại sao lại phải thương?” và “Như thế nào mới là tình thương đích thực?”. Đây là những câu hỏi, hay cũng có thể gọi là công án thiền tập của con trong năm 2020, và chắc hẳn sẽ là một công trình tu tập “đồ sộ, đại bự và siêu to”, chỉ chấm dứt khi và chỉ khi các nhà khoa học chứng minh vô cực có điểm bắt đầu và kết thúc! Phán một câu thế này, con thấy có gì đó không ổn lắm. Lỡ người ta chứng minh được thì sao? Mà thôi kệ, lúc đó hẵng đính chính. Độc giả ắt hẳn là những người rất bao dung và rộng lượng phải không?

Mọi chuyện bắt đầu vào đầu năm 2020, khi con đang “thăng hoa và bay cao” trong sự thực tập. Nhìn đâu cũng thấy hoa thấy hẹ. Diễn tả cho chính xác trạng thái tâm trong chuỗi thời gian ấy là đang cưỡi mây đi ngắm trăng, ngắm chị Hằng Nga cùng các thánh, các tiên không cần đợi họ giáng trần. Tuy nhiên, những bước tiến này cũng khá dài và khá nguy hiểm. Nguy hiểm ở đây là con bị kẹt vào những cảm thọ êm ái, siêu việt kia và cho nó là chuẩn mực của cuộc sống. Vì thế trong tâm lúc nào cũng có sự đòi hỏi, phải chánh niệm sáng trưa chiều tối và ngay cả lúc ngủ cũng thế! Con còn nhớ những lúc con đối trị với thất niệm bằng cách ép thân, ép xác, ép tâm như một sự trừng phạt. Đi từng bước thì gồng mình cứ như đi diễu binh chuẩn bị ra mặt trận kháng chiến giành giật hòa bình thế giới. Ngồi thiền thì bặm môi, cắn răng, nheo mày cứ như vừa bị ai huých cùi chỏ vào hông. Lúc ấy con thường rất khổ sở. Từ trạng thái đi ngắm tiên, và, vèo, trong một nốt nhạc rưỡi, hai bạn đầu trâu mặt ngựa tiễn thẳng xuống địa ngục. Thi kệ cùng những câu tác ý quay về và có mặt cho những mầu nhiệm trong giây phút hiện tại là những thần chú góp phần rất lớn trong việc ngắm tiên của con. Thế nhưng trong những lúc như vậy, đọc bao nhiêu thần chú, gọi mây hô bão, cũng không ra em nào. Biệt tăm cả. Mong cho có một chiếc xe bò xốc xếch để leo ra khỏi động địa ngục này cũng không có. Khổ quá, không biết làm sao! Kho tàng pháp thoại của Sư Ông thì lớn, tìm cho đúng chìa khóa trong lúc này quả không hề dễ. Thực chất, con đã nhận được chiếc chìa khóa này qua những bài pháp thoại về 16 Hơi thở chánh niệm và Bốn lĩnh vực quán niệm nhưng con không nhận thức được điều đó vì công phu và kinh nghiệm thực tập còn rất non nớt.

 

 

Con đã xin phép tham vấn một vị thầy lớn. Sau khi nghe con trình bày sự việc, vị ấy bảo: “Sở dĩ như thế là vì sư em còn kỳ thị chính bản thân mình, kỳ thị những hạt giống bất thiện trong sư em. Hãy thương tất cả những gì trong mình và hãy để tình thương theo thời gian ôm ấp chuyển hóa những hạt giống ấy”. Thoạt đầu con có một hoài nghi hoặc nói đúng hơn là không hiểu. Nói ra thì thật thất lễ. Con rất tôn trọng và trân quý sư anh nhưng trong tâm lúc ấy con thật sự nghĩ: “Sao mà ‘sến’ quá vậy!”. Từ ngày đến Làng, con đã nhiều phen choáng váng với “độ sến” của những câu nói, văn và thơ của quý thầy, quý sư cô. Thoạt nghe qua, con không thể nào chấp nhận được. Có lẽ vì ở ngoài đời con không được nhận những lời ái ngữ như vậy và chưa hiểu tác dụng của chúng. Mà, sao tình thương lại là mấu chốt cho việc gỡ cái nút thắt đại bự này? Kỳ thị ư? Thì đúng là con có cảm nhận được, đâu đó, nó là một trong những lý do chính. Nhưng tình thương và kỳ thị thì liên quan gì, có họ hàng gì với nhau đâu chứ? Nhất là câu “để tình thương theo thời gian ôm ấp và chuyển hóa hạt giống bất thiện”. Nội dung siêu tưởng của các phim khoa học viễn tưởng tầm cỡ thế giới còn thua xa cái khái niệm này – một phạm trù mà con khó lòng không nói từ: chối bỏ.

Cái hiểu khá nông cạn của con về các tâm hành là chúng hiện hữu riêng biệt và cứng ngắc như những khối đá nhấp nhô xù xì. Có sự phân biệt rạch ròi và rõ ràng. Tình thương và các tâm hành bất thiện như hai cục đá vô tri, vô cảm, vô thức mà bảo chúng ôm nhau và chuyển hóa nhau thì đúng là không tưởng. Không! Không tưởng tượng được, dù cho con có đặt hai đứa ngay trước mặt mà sôi nổi chứng minh, chứng tỏ cho chúng! Mặc dù vậy, nhờ phước đức ông bà, thay vì chê bai, bác bỏ dựa trên những cái hiểu đó, cái cục tò mò trong con lại đi lên. Một phần lớn là vì không điều khiển được rồi khổ đến tận cùng với mấy bạn đầu trâu mặt ngựa kia, nên con chẳng còn lựa chọn nào hơn là thử áp dụng phương pháp thực tập và tư duy đó.

Giai đoạn đầu thiệt như là tẩy não, y hệt như lúc con thực tập uy nghi vào năm trước. Thêm một may mắn nữa là hạt giống lỳ lợm trong con khá to và cũng rút kinh nghiệm từ sự thực tập uy nghi nên dù có nhiều phen không thành công, con vẫn cố gắng hết mình. Con luôn để ý những gì mình làm và quay trở về để quán chiếu. Như là một nhà nghiên cứu hóa học nhiệt thành, hôm nay thì đổ chất A vào chất B xem nó phản ứng thế nào, có đúng như giả thuyết hay kết quả mà vị đi trước đã tuyên bố hay không. Không đúng thì, hôm sau, đổ A vào C, và tiếp tục B vào C, v.v. Bên cạnh đó, con thực tập đặt những câu hỏi có tính cách khai mở, đi vào tâm điểm của tâm thức và thực tại. Quan trọng nhất là để cho những trải nghiệm của sự thực tập lên tiếng, những phản ứng của thân và tâm chứng minh hay trực giác tự trả lời, hạn chế tư duy tới mức tối đa. Điều này con được một vị thầy lớn khác chỉ bảo. Đây chính là cột mốc quan trọng thứ hai, yểm trợ cho con đường thực tập và cho phép con gặt hái những cái thấy về bản thân cũng như thực tại trong năm qua. 

Ví dụ dùng hình ảnh lấy chất này đổ vào chất kia, nếu không đúng thì mang đi đổ bỏ nghe dễ nuốt nhưng làm thì ôi thôi, trầy vi tróc vảy. À không! Tróc móng chứ, người chứ có phải cá phải bọ đâu, dân gian mình sao lại truyền nhau thế nhỉ? Sự thật là ngay sau khi được chỉ điểm, con đã cảm giác có một cái gì đó rất lớn mở ra trong lòng. Cái mà vị ấy dạy đánh động tâm con nhất là con đang có sự kỳ thị với những biểu hiện tâm hành mà lúc đó con cho là kẻ thù của mình, kẻ thù không bao giờ ngồi chung trong một buổi tiệc tất niên, nói gì đến chuyện chấp nhận đội chung trời, đạp chung đất. Thất niệm, tán loạn, sợ hãi, lo lắng, đánh giá, vướng mắc v.v. được liệt vào cái mà con gọi là danh sách tội phạm truy nã hạng nặng. Khi chúng xuất hiện là liền lập tức bật còi hú báo động đỏ,  khởi trống, thổi kèn, dựng cờ và khai triển tất cả thiên binh, thiên tướng toàn vũ trụ mà trấn áp. Phải dùng “tiệt chiêu” để giải quyết chúng! Tại sao lại là “tiệt chiêu” mà không phải tuyệt chiêu? Đơn giản thôi, tuyệt chiêu là những chiêu thức hay và mang lại kết quả tuyệt vời. Tuy thế vẫn chưa đủ vì chúng vẫn còn quay lại. Còn “tiệt chiêu” là chiêu thức với tối chủ trương “tiệt chủng hóa” chúng, không cho chúng một cơ hội thoi thóp nào hết! “Ta là chủ nhân của hiện hữu tên là Khiết Minh này, mi là cái gì mà dám làm mưa làm gió ở đây!Ta sẽ xóa sổ đen lẫn đỏ của chúng mi khỏi vũ trụ này!”. Và cứ thế, “hạt giống Hít Le” lên ngôi. Giờ nghĩ lại thật là rùng mình với những tư tưởng ấy.

Cho nên sau đó, khi con nhận thức được những gì mình đang có, thí dụ như tâm hành thất niệm, thì con sẽ thực tập. Con thử phát khởi tư duy như: “Tôi đang thất niệm, buông và thương NÓ”. Thế nhưng lại xuất hiện tư duy khác: “NÓ xấu xí thế này thì thương như thế nào hả trời! Thôi cứ làm vài ngày xem thế nào”. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng trong thân tâm con có một sự gượng ép và gồng gánh không hề nhẹ. Lúc trước, khi con bắt đầu thực tập uy nghi thì kết quả đến liền sau ba, bốn ngày, nhưng thực tập thương mình và những tâm hành bất thiện của mình thì con phải thật sự kiên nhẫn vì mãi đến hơn một tuần mới có dấu hiệu của chút ít thay đổi. Với con, để có những diễn tiến của sự buông bỏ và tình thương thật sự đối với một tâm hành bất thiện, phải mất từ ba tháng đến sáu tháng, mà con cảm nhận đó chỉ là phần nổi của vấn đề, đủ để gãi cho đỡ ngứa thôi. Như đối với tâm kỳ thị, để con nhìn rõ được nàng thì, chỉ cách cái ngày con ngồi viết bài này chừng một tuần đổ lại, con còn cảm giác là mình chỉ thấy rõ được cấu trúc trên bình diện tổng thể của gương mặt nàng – trái xoan, trái xoài hay mận mít gì đó. Còn trán nàng thế nào, nhăn hay láng; mắt nàng thế nào, trong hay đục; da mặt nàng thế nào, hồng hào, trắng tinh hay sô cô la và có bao nhiêu vết nám v.v. thì chắc phải mất thêm vài chục năm nữa. Nhưng ít ra, con thấy nó có dấu hiệu thay đổi dù chỉ là như một hạt bụi. Trên một phương diện nó là hạt bụi nhưng đối với con nó là viên ngọc quý, là tia sáng của hy vọng. Và, hạt bụi này, với sự kiên trì góp nhặt từng ngày của mình, đến một lúc nào đó, sẽ đủ cho con nung thành một viên gạch lót trên con đường đi đến sự tự do đích thực. Nhiều khi chỉ góp được một nắm cát trên tay thôi mà mình đã cảm thấy tự do và hạnh phúc vô cùng. Những phút giây này con thường thấm thía cái câu “Không có con đường đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường”. Thậm chí với con, chưa cần tính đến chuyện nhận thức con đường và cái tên của nó, từng hạt bụi, hạt cát mình góp nhặt trên tay để lót cho con đường này đã là tự do và hạnh phúc rồi! 

 

 

Sau khi nhận được dấu hiệu đó, con bắt đầu có sự thay đổi nhận thức về cái chữ thương mà vị thầy kia dạy, cũng như về tất cả những biểu hiện của những tâm hành trong con. Dần dần con tập mỉm cười với tất cả trạng thái thân tâm của mình. Con cũng thay đổi ngôn ngữ dùng để nói với tâm. Thay vì dùng từ “nó” thì con dùng từ “em” hoặc “nàng”. Và cứ thế “Hít Le” chấm dứt nhiệm kỳ, nhường lại ghế nóng cho bạn “Sến Súa”. Câu nói của con cũng thay đổi rất nhiều “Em (sợ hãi, thất niệm, vướng mắc v.v.) đây rồi, em hãy ngồi đây trong vòng tay tôi. Tôi xin lỗi em thật nhiều vì bấy lâu nay tôi đã kỳ thị em, tôi đã dám gọi em là nó này nó nọ, em xứng đáng với tất cả niềm thương yêu tôi đã dành cho bao nhiêu tâm hành thiện khác”.

Nhiều lúc con chỉ cảm nhận được sự bứt rứt khó chịu từ thân. Con thực tập bốn hơi thở đầu trong 16 hơi thở chánh niệm, quay về theo dõi hơi thở, buông thư thân thể. Rồi sau đó con tác ý: “Tôi đang khổ, tôi đang có tâm hành khổ, tôi chưa biết tên em là gì, nhưng không sao, em là một phần hiện hữu của tôi. Tôi có mặt cho em đây và tôi thương em như tất cả”. Cái thương này khởi đầu xuất hiện từ điều kiện là mình vẫn có ý định ngầm đâu đó trong chiều sâu tâm thức là muốn vứt bỏ các em, nhưng càng về sau này thì nó là một tình thương vô điều kiện. Mà yếu tố vô điều kiện này bắt đầu đến từ một sự kiện rất quan trọng trong đời con. Hôm ấy, giữa khóa tu xuất sĩ tại EIAB, con có một nội kết và khổ thọ rất lớn. Tối đó, lúc con ngồi thiền với đại chúng, con thật sự hết cách vì đã dùng nhiều “công cụ” để “đối trị” phiền não: nào là phép quán tưởng về vô thường, vô ngã (Xin chú thích, ở đây con vẫn còn thực tập trên phương diện tư duy chứ chưa phải là trải nghiệm hai thực tại ấy), nào là theo dõi hơi thở, nào là chế tác hỷ lạc… thế nhưng càng làm thì em càng “nặng ký” ra. Gần như là tuyệt vọng, con đành buông hết sự chống trả và đầu hàng. Trong tâm chỉ phát khởi lên một ý nghĩ: “Thôi! Tôi không cần chuyển hóa em nữa. Bây giờ tôi chỉ muốn nhìn rõ mặt em, và hiểu em thôi!”, rồi con ngồi theo dõi hơi thở và “nhìn” tâm của mình. Tự dưng lúc đó cảm xúc nặng nề bứt rứt ngay chính giữa ngực con dần dần được buông lỏng; tiếp theo cảm giác dễ chịu, ấm áp và êm ái lớn dần ra. Trong một khoảng thời gian ngắn sau đó, con không còn cảm nhận khổ thọ nữa. Thay vào đó là một cảm giác nhẹ tênh, lâng lâng, hạnh phúc lạ kỳ. Cũng ngay trong lúc này, lời Thầy nói trong một bài pháp thoại nào đó được lập lại trong ý thức con: “Hạnh phúc và khổ đau là một, không phải là hai”. Và nó dần trở thành một niềm tin rất lớn trong con sau những lần trải nghiệm tương tự như vậy.

Cũng từ đó, con thương yêu và chấp nhận tất cả biểu hiện trong con và sự khác biệt của mọi người xung quanh một cách tự nhiên và dễ dàng hơn rất nhiều. Con có thêm một niềm tin nữa là khi mình có hiểu và thương đích thực thì mình sẽ được tự do!

Để kết thúc bài viết này, con xin được cúng dường độc giả bài thơ ghi lại những cảm nhận của con trong thời gian thực tập tại Làng:

 

Cười với tôi đi,

bằng ánh mắt bao dung và thương mến.

Để cho tôi vơi bớt nỗi cô đơn.

 

Cười với tôi đi,

bằng đôi tai lắng dịu.

Để bao nhiêu nỗi niềm được vỗ về và trái tim tôi rộng mở

 

Cười với tôi đi,

bằng vòng tay vị tha âu yếm.

Để bao nhiêu lỗi lầm được ôm ấp trong tình thương và lòng nhân ái

Vì…

 

Tôi nào muốn như thế

Tổ tiên tôi dạy tôi thế

Người ta dạy tôi thế

Xã hội dạy tôi thế

 

Nếu như có sự lựa chọn…

Tôi sẽ chọn thương yêu mọi người và mọi loài bằng tất cả hiện hữu tôi

 

Cười với tôi đi,

bằng đôi bàn tay ấm áp và rắn chắc,

dắt tôi qua những cánh đồng thơm mùi cỏ non và vạn loài hoa dại,

để được lắng nghe tiếng chim reo và bản giao hưởng của gió và rừng xanh

để tôi được xúc chạm sự sống thiêng liêng và tự do tôi dần tỉnh giấc

 

Cười với tôi đi,

bằng những bước chân vững chãi cùng hơi thở bình an

để mỗi khi cuồng phong ùa về tôi còn có nơi nương náu

 

Cười với tôi đi… cười với tôi đi,

dù không còn gì để cười,

nhưng chí ít nụ cười ấy cho tôi một tia sáng soi lối trong đêm tối tuyệt vọng đảo điên

Và nếu một mai tôi qua đời,

hãy cứ cười bằng những nụ cười xinh tươi nhất

Để nhắc cho tôi biết rằng tôi không đi đâu cả!

 

Cùng nhau ra biển lớn

Sư cô Chân Trăng Lộc Uyển

Sư cô Trăng Lộc Uyển, xuất gia năm 2010 trong gia đình cây Trúc Vàng, hiện đang là một vị giáo thọ tập sự trẻ năng động của xóm Hạ, Làng Mai, Pháp. Sư cô phát nguyện cùng những sư cô khác làm thị giả chăm sóc sư cô Lan Nghiêm (người Hà Lan) trong thời gian sư cô Lan Nghiêm bệnh nặng cho tới lúc xả báo thân. Bài viết này là những trải nghiệm tâm linh trong thời gian thị giả.

 

 

Nhân duyên

Đó là một buổi chiều tháng Bảy khi con mới tới xóm Hạ. Sư chị trong cây dẫn con đi chào quý sư cô. Có một sư cô chào con rất thân mật, hỏi con có biết nói tiếng Anh không. Con thì thầm trong bụng: “Trời đất ơi, sao trên đời lại có người to cao thế nhỉ?”. Đó là sư cô Lan Nghiêm.

Nhân duyên đưa đẩy, con được ở chung phòng với sư cô nhiều lần – phòng của những người, vốn rất ít ỏi ở xóm Hạ, thích không khí mát lạnh và mở cửa vào mùa đông.

Ngày sư cô về lại chúng sau sáu tháng nghỉ ngơi và phát hiện bị ung thư, con đang làm văn phòng cho các khóa tu online. Dù rất muốn, nhưng công việc liên tục, thật khó tìm ra giờ để đến chơi với sư cô. Con áy náy lắm. Quyết định làm thị giả cho sư cô là cách hay nhất để bộc lộ tình thương đến người bạn “trẻ” của con mấy năm nay. Chuyến hành trình bắt đầu.

Làm quen

Lúc mới hóa trị lần một, sư cô còn khoẻ và kể đủ thứ chuyện cho con nghe. Nào là chuyện hồi sư cô còn nhỏ, đi thuyền với ba, cho tới chuyện sư cô mua nhà mới ở Amsterdam (Hà Lan) rồi bỏ hết mọi thứ để qua Pháp, sống với cộng đồng nuôi bò làm cheese (phô mai)…

Bao nhiêu năm ở với sư cô, con cứ ngỡ khả năng lắng nghe những câu chuyện không hồi kết của sư cô trong con đã rất vững chãi. Vậy mà sau một, hai tuần làm thị giả, con trở nên sợ hãi. Sợ hãi vì bất cứ lúc nào con cũng nghe thấy giọng nói của sư cô. Khi con nhắm mắt ngồi thiền hay trước khi ngủ con cũng chỉ thấy sư cô với những hành động và cử chỉ. Sợ hãi vì trong con mang nhiều năng lượng của sư cô và con có cảm giác như con không còn là mình. Con là bản sao của sư cô.

Cho đến khi, trong một buổi ngồi thiền, con thấy rõ: đúng rồi, làm sao con không giống sư cô được. Bất cứ ai, khi gần gũi như thế cũng bị ảnh hưởng lẫn nhau. Tất cả đều đi vào tâm thức hết cho dù mình muốn hay không. Tự dưng, những tâm trạng sợ hãi khi thấy mình đón nhận rất nhiều năng lượng từ người mình chăm sóc làm con nghĩ tới các y tá ở bệnh viện hay những người chăm sóc người già. Con chăm sư cô nhưng con được ở trong chúng, môi trường rất tốt, được ngồi thiền và thiền hành… mà còn có những khó khăn này thì những y tá, điều dưỡng ở bệnh viện sẽ ra sao? Ý thức này giúp con có động lực để nhìn sâu vào phương pháp thực tập và chăm sóc mình trong khi thị giả. Vào một buổi sáng, con thấy rất rõ sự liên hệ mật thiết giữa mình và mọi thứ xung quanh. Con thấy mình còn khỏe và là người gián tiếp đón nhận sự sợ hãi, khó chịu từ sư cô mà còn bị lên xuống như vậy, huống hồ là sư cô, người đang phải đối diện trực tiếp với những cơn đau nhức từng giờ, cộng thêm sự sợ hãi hoang mang khó tránh khỏi khi phải đối diện với dấu hiệu của cái chết đang đến gần, một sự thật mà phải công phu dày dặn mới vượt thoát được. Cái thấy này giúp con có thêm động lực thực tập. Con nói thầm trong tâm: “Sư cô chịu đau cho con và con thực tập cho sư cô”. Con tiếp nhận sự thật về tương tức. Thay vì sợ hãi và chối từ những năng lượng đó, con chấp nhận nó như một loại bùn quý hiếm để tạo động lực nhìn sâu vào nỗi sợ chết vẫn thường âm ỉ trong chiều sâu tâm thức con.

Mỗi buổi ngồi thiền, nhất là trước khi ngủ con đều đặt mình vào hoàn cảnh là người đang hấp hối và thực tập bài Thân này không phải là tôi…

Mỗi khi gần gũi chăm sóc sư cô, con luôn nhắc nhở mình cảnh tỉnh: Tôi thế nào cũng phải như thế, thế nào cũng già, cũng bệnh, cũng sợ hãi cái chết, sợ hãi không biết sẽ đi về đâu.

Thực tập như vậy, con thấy niềm biết ơn tràn dâng. Với con, sư cô là một vị Bồ tát hiện thân, chấp nhận sự đau nhức, khổ sở của thân thể trước mặt con để giúp con tỉnh giấc: đừng nghĩ là mình còn trẻ. Cái bệnh, cái chết có thể tới bất cứ lúc nào và không trừ một ai. Phải tinh chuyên tu học để nếm được tuệ giác vô sinh bất diệt. Con nói với mạt na: “Em không đủ sức để đánh lừa ta nữa đâu. Cái chết có thể tới bất cứ lúc nào. Ta có thể chết bất cứ lúc nào”.

Con đã trực tiếp cảm ơn sư cô vì sư cô chấp nhận về chúng để được chúng chăm sóc. Điều này ý nghĩa vô cùng với đại chúng: Thật yên lòng khi được bệnh trong chúng. Có rất nhiều người, khi biết mình bị bệnh thì không dám ở trong chúng vì sợ làm phiền chúng. Sư cô là sư cô Tây phương đầu tiên bị bệnh nặng và ở lại trong chúng để đại chúng chăm sóc suốt thời gian điều trị cho đến khi qua đời. Con biết chăm sóc sư cô cũng là chăm sóc cho tương lai của con và của đại chúng. Những biểu hiện bệnh của sư cô như tiếng chuông cho đại chúng xóm Hạ trở về tự thân để thực tập quán già, bệnh, chết và trân quý lẫn nhau.

 

 

Trong khu rừng của sợ hãi, hoang mang

Đó là buổi sáng trước khi sư cô đi hóa trị lần hai. Bốn giờ sáng, một sư em thức con dậy, báo là sư cô đang rên la trong phòng và gọi con. Khi con đến, sư cô khóc và nói: “Lộc Uyển, giúp sư chị. Sư chị không biết sư chị đang ở đâu. Tại sao cái giường lại di chuyển thế này?”. Sư cô khóc sướt mướt như một em bé đầy sợ hãi, hoang mang. Sư cô không hiểu tại sao lại thấy mình đang ở trên tàu lửa để đi tới Ý. Nhờ kinh nghiệm làm thị giả trước đây nên con biết cách mát xa để đưa máu về tim và làm mềm các cơ bắp ở cổ, đầu. Con tiếp tục một tay xoa tai để sư cô được buông thư, tay còn lại đặt trực tiếp lên bụng để truyền hơi ấm cho sư cô. Con bắt đầu làm thiền hướng dẫn. Con hỏi sư cô có cảm nhận được bàn tay con đang đặt lên bụng sư cô không? Sư cô trả lời có. Rồi sư cô lại hỏi con, tại sao sư cô ở trên tàu lửa và tàu lại đi tới Ý. Con không trả lời mà tiếp tục hướng tâm sư cô tới bàn tay ấm của con bằng cách vừa hướng dẫn vừa hỏi sư cô về cảm nhận bàn tay ấm và sự phồng lên, xẹp xuống của bụng.

Được vài phút, sư cô hỏi, tại sao sư chị lại bị như vậy? Câu hỏi được lặp lại nhiều lần. Con tiếp tục giữ sự hướng dẫn. Gần hai tiếng đồng hồ như vậy. Trong thời gian đó, sư cô rất sợ ở một mình và không cho con đi đâu hết. Con còn nhớ, sư cô nói rất mạnh: “Xin đừng để sư chị ở một mình, xin đừng để sư chị ở một mình”.

Con tiếp tục làm thiền hướng dẫn. Sư cô từ từ trở về với hơi thở rồi ngủ lúc nào không hay. Con cũng vậy, một tay vẫn đặt lên bụng sư cô, tay kia vịn vào cái giường rồi vừa ngồi vừa ngủ lúc nào không hay.

Nửa tiếng sau sư cô tỉnh dậy. Sư cô nhìn con: “Hơ, bây giờ sư chị về rồi”. Bây giờ sư cô đã trở lại bình thường, sư cô biết mình đang ở đâu.

Ngồi yên nhìn lại, con nghĩ là sư cô đã rất hoang mang trước khi đi hóa trị lần hai. Vì thế các cơ bắp co cứng lại, máu không về được tim và lên não nên sư cô rơi vào sự hoảng loạn. Chuyến tàu đi Ý đó là chuyến tàu tới gặp bác sĩ hóa trị vì cô bác sĩ ấy là người Ý.

Một thời gian sau đó, sư cô phải nhập viện một tuần để truyền máu và potassium. Về xóm, sư cô trở nên khó tính đến kỳ lạ, dễ cáu gắt và muốn làm chủ tất cả mọi thứ, nhưng lại hay quên. Chúng con hơi cảm thấy bất lực. Con quyết định thử nghiệm một cách khác. Con cũng biết tính sư cô nên mới dám làm như vậy. Sư cô cáu gắt với con sau khi con chuẩn bị thuốc (lần đầu tiên sư cô khó chịu với con vậy), con thở sâu một lúc rồi tâm sự: “Thưa sư cô, chúng con rất thương và tình nguyện chăm sóc sư cô với tất cả tấm lòng. Nhưng chúng con cũng có những yếu kém và hạn chế, nhất là kiến thức về thuốc ở xứ Tây này. Nếu sư cô thấy chúng con không giúp được gì, sư cô cứ nói với sư cô Thủy Nghiêm để thay thị giả. Chúng con không muốn làm cho sư cô mệt”. Nói xong, con chuẩn bị tâm lý để đón nhận hậu quả. Nhưng sư cô yên lại hẳn, giọng nói trở nên mềm hơn, nhưng buồn hơn. Con cũng lo lắm. Con hỏi sư cô cần gì thêm không trước khi con rời đi. Sư cô nói sư cô làm được với giọng hơi buồn. Sáng hôm sau, một sư em thị giả cho con biết là sư cô đã trở nên ngọt ngào hẳn, làm gì sư cô cũng cảm ơn hết. Ôi, hú hồn! Vậy là thành công. Từ đó, sư cô hoàn toàn tin tưởng chúng con, và tin tưởng sư cô Đào Nghiêm, người giúp về thuốc thang và liên lạc bác sĩ.

Ung thư bắt đầu di căn lên não. Sư cô từ từ không hiểu nhiều vấn đề và không biết mình đang ở đâu. Có nhiều khi sư cô hỏi mấy câu hỏi mà con nửa muốn khóc, nửa muốn cười: “Tại sao người ta lại làm đồng hồ? Tại sao sư chị lại ở đây? Làm sao mà người ta phát hiện ra chị bị ung thư ?”.

Cơ thể yếu dần, nhưng tâm thức thì có thể chưa thực sự chấp nhận sự thật ung thư, nói gì là cái chết. Nếu sư cô ra đi trong trạng thái như vậy thì không hay một chút nào. Cả chúng ai cũng biết như thế nhưng chưa biết tìm cách nào để giúp. Con còn nhớ, thời gian đó, hôm nào con cũng niệm Bồ tát Quán Thế Âm, mong sao năng lượng từ bi trong con cũng được thức tỉnh để con có thể làm gì đó giúp sư cô.

Sức mạnh của tăng thân

Một thời gian sau, cả đại chúng mới biết là sư cô bị ung thư giai đoạn cuối. Hai lần hóa trị sau, người ta chỉ bơm hóa chất vào để sư cô không bị lở loét thôi chứ không thể cho đúng liều như người thường được. Không thể giúp sư cô phục hồi. Bây giờ là giai đoạn giúp sư cô đi qua được sự trầm cảm và chấp nhận sự thật rằng mình sẽ chết trong một thời gian ngắn nữa. Chị em thị giả bắt đầu hát nhiều bài về tuệ giác không sinh, không diệt. Đại chúng cũng bắt đầu có lễ cầu an hai lần mỗi tuần.

Có một buổi tối, sư cô trở mình thức dậy, con hỏi: “Cơ thể của sư cô thế nào?”.

Sư cô trả lời: “Ờ, sư chị cảm thấy vui và dễ chịu”.

Nghe được câu nói đó con vui quá chừng. Không biết đã bao lâu rồi cơ thể của sư cô mới cho sư cô được một sự bình an, dễ chịu như vậy. Con nói: “Sư cô có biết tại sao sư cô lại thấy vui không? Bởi vì đại chúng đang gửi năng lượng bình an cho sư cô đó”.

Nghe vậy sư cô nói: “Ồ! Vậy hả, cảm ơn đại chúng”.

Có một hôm, sau buổi thiền tọa, con thấy để sư cô có thể chấp nhận sự thật sống chết phải nhờ tới sư cô Chân Đức. Sáng đó sư cô Chân Đức sang thăm, con đã chia sẻ với sư cô về tình trạng hiện tại của sư cô Lan Nghiêm. Sư cô Chân Đức đến ngồi bên cạnh sư cô Lan Nghiêm. Sau khi hát một hai bài, sư cô bắt đầu bỏ mũ ra và con biết, bài pháp thoại bắt đầu. Sư cô chia sẻ hạnh phúc khi được làm đệ tử của Sư Ông, được biết tới sự thực tập chánh niệm và được sống với quý sư chị, sư em dễ thương. Rồi sư cô hỏi sư cô Lan Nghiêm có biết bài pháp thoại mà ngài Xá Lợi Phất chia sẻ với ngài Cấp Cô Độc trước khi ông ấy lâm chung không? Không đợi trả lời, sư cô tiếp tục:

Con mắt này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào con mắt này.

Cái tai này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào cái tai này.

Thân thể này không phải là tôi, tôi không bị

kẹt vào thân thể này.

(Kinh Độ người hấp hối – Nhật tụng Thiền môn)

Càng lúc, giọng nói của sư cô càng mạnh và càng đầy định lực. Con còn nhớ như in ánh mắt của sư cô Lan Nghiêm khi nằm yên lắng nghe, không nhúc nhích như một em bé đang được bố mẹ chỉ dạy những điều quan trọng nhất.

Sau khi khai thị xong, sư cô Chân Đức hát thêm mấy bài nữa rồi chào ra về. Cơn đau kéo tới dồn dập nơi sư cô Lan Nghiêm ngay sau đó. Chúng con xoa bóp cho sư cô cả giờ vẫn không thuyên giảm. Con ý thức rằng đây là một cơn đau giá trị. Sư cô đã bắt đầu tỉnh thức trước sự thật mà không tránh né nữa. Mạt na đã phải quay đầu nhìn lại.

Chấp nhận được bùn thì sen nở

Mười ngày trước khi buông bỏ cơ thể, sư cô đau hơn mọi hôm. Con thưa: “Sư cô ơi, sư cô biết chúng con thương và không ngại khi chăm sư cô. Nhưng con thấy ung thư đang lan nhanh. Nếu lúc nào đó sư cô chịu không nổi thì sư cô cứ buông bỏ cái thân này đi nhé. Đại chúng luôn có mặt để hộ niệm cho sư cô”.

Sư cô trả lời: “Sư chị đang nghĩ tới chuyện đó. Tình hình càng trở nên khó khăn hơn”.

Con vui quá khi nghe vậy. Những câu nói đó chứng tỏ dấu hiệu của sự chấp nhận nơi sư cô – chấp nhận sự thật.

Tự tin hơn, con hỏi:“Thế sư cô nghĩ sư cô có thể tiếp tục như vậy trong bao lâu?”. Sư cô chưa chịu trả lời. Biết tính sư cô, con mở lời: “Vài tháng, vài tuần hay vài ngày?”. Sư cô nói: “Sư chị nghĩ có thể tiếp tục khoảng hai tuần”.

Không tin chắc vào những gì mình nghe, con hỏi lại: “Ý sư cô là hai ngày hay hai tuần ạ?”. Sư cô nói: “Sư chị nghĩ có thể tiếp tục khoảng hai tuần”.

“Sư cô có muốn con làm gì cho sư cô không? Có điều gì sư cô còn hối hận hay hối tiếc không?”. “Không!”, sư cô trả lời.

Con tiếp tục: “Vậy sư cô có muốn quý thầy, quý sư cô tới hát cho sư cô nghe không?”. Sư cô gật đầu.

Từ hôm đó, căn phòng lại tràn đầy tiếng ca hát và lời chia sẻ về những kỷ niệm đẹp từ các thiên thần áo nâu.

Hai ngày sau đó là phiên trực đêm của con. Trước khi ngủ, con hát bài Đã về đã tới. Ngạc nhiên thay, sư cô hát cùng con. Lúc này, lưỡi của sư cô đã thụt vào rồi nên giọng không còn nghe rõ. Tuy nhiên tới đoạn cửa vô sinh mở rồi thì sư cô hát với rất nhiều quyết tâm. Con cảm nhận là sư cô đang có một quyết tâm lớn muốn thấy tuệ giác không sinh không diệt. Con thưa: “Con được biết mục đích cao nhất của người tu là thấy được tuệ giác không sinh, không diệt. Tuy còn trẻ nhưng con cũng muốn thấy được tuệ giác này”. Sư cô liền trả lời: “Sư chị cũng vậy”.

Nghe được câu này, con sung sướng vô cùng. Lấy lại mấy hơi thở sâu, con tiếp tục: “Hiện tại, sư cô đang thực chứng già, bệnh và có thể cả cái chết trước con, nên có thể sư cô sẽ thấy tuệ giác này trước con. Nếu sư cô thấy, sư cô chia sẻ cho con với nhé”. Lúc đó, sư cô nói giọng ngọng ngọng mà cho tới giờ phút này, mỗi lần nghĩ tới là con không cầm được nước mắt và sẽ không bao giờ quên: “Sư chị nhất định sẽ nói cho sư em biết trước khi sư chị lên đường. Sư chị nhất định sẽ nói cho sư em biết trước khi sư chị lên đường”. Sau đó, con mở bài pháp thoại Sư Ông giảng về tuệ giác vượt thoát sinh diệt, đến đi. Nụ cười nở trên môi sư cô. Nụ cười đó còn mãi cho tới sáng hôm sau, và cho tới giờ phút sư cô buông bỏ thân thể.

 

 

Hai người em gái của sư cô cho biết, ngay sau ngày sư cô nghe pháp thoại, đang nằm, tự dưng sư cô nói lên hai lần: “Tôi thấy rồi, tôi thấy rồi”.

Con vui quá. Từ hôm đó trở đi, năng lượng của sư cô khác hẳn. Từ sự sợ hãi lo lắng và nằm ngủ để quên sự thật thì sư cô trở nên bình an lạ thường và nghỉ ngơi rất sâu. Cơn đau thì càng ngày càng tăng nhưng tâm thức càng lúc càng nhẹ nhàng. Những hôm đó trở đi, mỗi tối con ngồi thiền ở phòng sư cô với một sự bình an đến lạ kỳ. Có khi con có cảm giác đang được ngồi với Sư Ông như trước đây con được thị giả Sư Ông.

Rồi sư cô không chịu để y tá lấy máu hay truyền thức ăn nữa. Cơ thể sư cô càng ngày càng yếu, nhưng năng lượng tỏa ra thì bình an vô cùng. Con để ý, nếu như trước đây mỗi khi đau đầu, bàn tay trái của sư cô sẽ ôm và bóp đầu thì sau này, sư cô chỉ bắt ấn cát tường và để trên đầu thôi.

Tối Chủ nhật ngày 29 tháng 11, sư cô trở nên khó thở. Nhớ lại lời hứa cách đây một tuần, con thưa: “Sư cô thương, tuy sư cô không chia sẻ bằng lời với con nhưng qua biểu hiện, con biết sư cô đã nếm được tuệ giác không sinh, không diệt. Con cảm nhận rất rõ rằng sư cô đã thấy, đã biết sư cô sẽ đi về đâu và không còn sợ hãi nữa”. Sư cô Đào Nghiêm thấy và cho con biết là sư cô đã nhíu mày để trả lời con.

Hôm sau, hơi thở sư cô yếu lắm, nhẹ lắm, phải nhìn bụng mới biết sư cô còn thở. Tối thứ Hai, ba chị em thị giả, sư cô Đào Nghiêm và hai người em gái của sư cô ngủ lại phòng sư cô. Năm giờ sáng, cả nhà ngồi lại uống trà. Con pha trà đen, loại sư cô thích, để mọi người cùng uống. Chúng con chia sẻ bao nhiêu kỉ niệm đẹp về sư cô. Buổi sáng đó thật huyền thoại và linh thiêng đối với con.

Hai tiếng sau đó, con đi rửa bình trà trở vào, thấy sư cô Đào Nghiêm ngồi sát giường, tay đặt trên bụng sư cô. Sư cô đã đi rồi. Con đặt tay lên bụng sư cô. Cơ thể đã yên nghỉ. Một sự bình yên vô tận của cơ thể và tâm thức. Tất cả trở nên tĩnh lặng.

Con tới thiền đường Hội Ngàn Sao báo tin. Lúc đó, đại chúng vừa kết thúc buổi lễ. Sư cô đã chờ đại chúng tụng giới xong mới ra đi. Sư cô đi lúc 7 giờ 15 phút sáng ngày 1 tháng 12 năm 2020.

 

 

Người đã đi, thế còn người ở lại?

Đã 49 ngày từ lúc sư cô buông bỏ sắc thân, nhưng lâu lâu, câu nói mà sư cô đã nói khi có một nhóm quý thầy tới thăm, cứ vang vọng trong con: “Tôi nghĩ tôi thông minh nhưng bây giờ nó không có ích gì nữa”.

Đúng vậy, chứng kiến những gì xảy ra cho sư cô, con thấy rõ ràng rằng tài năng, trí thông minh không giúp ích gì khi mình nằm trên giường bệnh và khi mình sắp chết. Chính tình thương yêu, săn sóc của những người sư chị, sư em xung quanh, chính sự nương tựa hết lòng nơi tăng thân của mình mới giúp mình đi qua giai đoạn khó khăn đó. Con tự hỏi, vậy mình phải tu học như thế nào, phụng sự ra sao để mình không bị kéo đi bởi công việc, bởi thích thú phát triển tài năng mà quên đi giá trị của tình huynh đệ và mục đích cao cả của người xuất gia?

 

Tự nhiên

Sư cô Chân Bội Nghiêm

Khi gõ từ “tự nhiên” trên trang Google Image, chúng ta thấy những hình ảnh tuyệt đẹp từ thiên nhiên. Thiên nhiên tuy đôi lúc có xấu đi, thậm chí có lúc giận dữ, nhưng vẫn luôn có đức tính đẹp, đó là sự tự nhiên.

Trong bài hát Và tôi cũng yêu em, nhạc sĩ Đức Huy có câu:

“Tôi yêu những gì đến tự nhiên

Những câu nói thành thật

Và yêu ngày nắng.”

Sự tự nhiên có mặt không có nghĩa hiển nhiên là như thế. Sự tự nhiên cần thời gian, kiên nhẫn và những điều kiện thuận duyên khác để biểu hiện, cũng như bao “sự” khác trên thế giới. Tự nhiên không có nghĩa là sống cô lập hay không cần chăm sóc, không cần để ý đến. Trong sự tự nhiên vắng đi sự cố gắng hay cưỡng ép. Khi nhắc đến tự nhiên thì hầu như thiên nhiên là người bạn gần nhất, như hình với bóng. Mà thiên nhiên thì đâu cần phải cố gắng. Thiên nhiên rất chậm nhưng việc gì cũng xong (Nature is slow, but everything is accomplished). Cũng như thế, tự nhiên cần sự nâng niu, hiểu biết và nương tựa.

Lời nói thành thật hay ngày nắng hiện hữu vì trước đó đã đi qua những giai đoạn, những chặng đường và những khổ đau. Tôi cũng thích và quý những gì đến tự nhiên. Những lúc cầm máy chụp hình, tôi thường muốn chụp những khoảnh khắc người kia đang làm một hành động tự nhiên. Tôi luôn thích thú quan sát những em bé tập làm quen với bạn bè cùng trang lứa.

Thời đại này, ai cũng muốn dùng những thực phẩm tự nhiên và từ thiên nhiên. Không ai muốn đem vào trong mình nhiều hóa chất. Khi đi chợ, siêu thị để mua thức ăn hoặc đồ dùng trong nhà, chúng ta thường tìm những sản phẩm thiên nhiên (green, organic, natural) vì biết nó đem đến sự an toàn và không có sự tàn phá. Có những loại trái cây, rau củ quả nhìn bên ngoài rất lớn và xanh tươi nhưng nhiều chất hóa học đã được bơm vào. Sau một thời gian sử dụng, sức khỏe của chúng ta sẽ bị suy giảm và sinh ra nhiều bệnh trong cơ thể.

Thức ăn tự nhiên đem lại nhiều lợi lạc, con người tự nhiên đem lợi lạc đến gấp bội phần. Khi ngồi bên cạnh một em bé, một bác sĩ, một giám đốc điều hành, một nông dân hay một cái cây, hãy dùng ánh mắt thiện cảm, thân thiện và đầy từ bi để người bạn “tự nhiên” xuất hiện. Tự nhiên không có nghĩa là tự tiện hay vô duyên. Trong tự nhiên có sự ý tứ, khiêm cung, quan tâm và tôn trọng từ con người đến cây cỏ. Tự nhiên đem con người lại gần với nhau, tự tiện sẽ làm ta xa nhau. Tôi nhớ vào tháng Hai năm 2020, tôi được sự cho phép và yểm trợ của quý sư cô tại tu viện Mộc Lan để đến San Francisco cùng với sư cô Học Nghiêm hướng dẫn thiền tập và chánh niệm cho những vị quản lý của công ty Salesforce. Chúng tôi được nghỉ ngơi hai ngày trước khi chương trình bắt đầu. Chẳng may sư cô Học Nghiêm không được khỏe nên tôi đi chia sẻ cũng như đi dùng tối một mình.

Những buổi dùng cơm tối, tôi ngồi cùng bàn với những vị khách mời đặc biệt của ông chủ Marc Benioff. Tôi nghĩ đến Sư Ông và để ý mỗi khi Sư Ông ngồi bên cạnh một ai, Sư Ông vẫn là Sư Ông, vẫn giữ sự chánh niệm, bình an và tràn đầy tình thương. Tôi tự nhủ mình cũng muốn được như Sư Ông. Tôi ngồi thẳng lưng, nhìn vào ánh mắt người kia mỗi khi nói chuyện hoặc khi lắng nghe vị ấy chia sẻ, và quan trọng là theo dõi hơi thở. Sự tự nhiên của ông Marc Benioff giúp tôi thoải mái hơn. Tôi xem ông như bao nhiêu thiền sinh khác tôi đã tiếp xúc, không để địa vị hoặc quyền lực của ông làm cản trở sự truyền thông và sự tự nhiên của tôi. Ngồi bên cạnh ông Marc, mỗi khi ông chuyền bánh mì thì tôi nhận một cách hoan hỷ, và tôi chuyển đến ông dĩa salad.

 

 

Trong sự tự nhiên vắng đi sự sợ hãi nhưng đầy sự tôn trọng. Những năm đầu khi mới vào tu, tôi có cơ hội được làm thị giả cho Sư Ông. Rất nhiều quý thầy, quý sư cô trẻ được trao cơ hội này. Tôi để ý những vị thị giả trước của Sư Ông và thấy rằng có những vị rất tự nhiên và thoải mái. Trong đời sống hàng ngày như thế nào thì khi làm thị giả vẫn như vậy. Tôi muốn được như thế và thường xuyên nhắc mình thực tập điều đó khi làm thị giả. Nhưng thực sự không phải dễ, và tôi thấy tôi làm chưa hay lắm. Đôi khi tôi lại hơi tự nhiên quá, nên có lúc ngồi nghe Sư Ông cho pháp thoại, tôi đã ngủ gục một cách rất “tự nhiên”. Rồi một ngày tôi tiễn Sư Ông lên xe để trở về Sơn Cốc, Sư Ông nhìn tôi và nói nhỏ nhẹ: “Bội Nghiêm, con nhớ đi ngủ cho sớm nhé”. Tuy Sư Ông nói rất tự nhiên nhưng trong tôi cảm nhận được một chút buồn từ Người vì sự “tự nhiên” của mình.

Chị Linh, cô giáo tiếng Việt của tôi, chia sẻ rằng: “Khi xem sư cô giới thiệu các thời khóa, các hoạt động trong khóa tu online dịp năm mới vừa rồi, con cảm thấy mình rất kết nối và gần gũi với sư cô”. Tôi ngạc nhiên khi nghe điều này nên hỏi lại: “Em có điều gì làm cho chị cảm nhận như thế?”. Chị trả lời: “Dạ, sư cô có sự tự nhiên”. Nhìn lại, tôi nghĩ mình không phải là người thông minh, trí nhớ cũng chưa tốt như mong muốn, nhưng chính nhờ tấm lòng và sự tự nhiên đã giúp tôi làm được những công việc người khác cho là khó.

Chắc ai cũng đã từng chiêm nghiệm rằng trong những mối “tình” mình có, sự tự nhiên đóng vai trò quan trọng như thế nào. Mối tình này gồm có tình gia đình, tình bạn, tình yêu đôi lứa, tình thầy trò, tình huynh đệ và tình thương với chính mình. Khi sự tự nhiên vắng mặt trong các mối “tình”, mình và những người đó cảm thấy ngột ngạt, mệt mỏi, trái tim đóng lại và sự truyền thông không còn. Thậm chí đôi lúc có ngày không nói với nhau, cũng không muốn nhìn thấy mặt (Sám nguyện – Nhật tụng Thiền môn). Tuy có cố gắng cách mấy để tự nhiên trở lại nhưng trên khuôn mặt vẫn sẽ lộ vẻ sượng sùng, như thức ăn chưa chín mà mình muốn dọn ra. Ăn vào rồi lại đầy bụng, khó tiêu. Sự tự nhiên của mình giúp những người ngồi bên cạnh cảm thấy dễ chịu, thoải mái, bình an, tươi mát và chắc chắn là tự nhiên nữa.

Tôi rất may mắn đã có những giây phút dễ chịu, ngồi bên cạnh những người rất tự nhiên như ba mẹ, anh chị, các cháu, quý sư anh, sư chị, sư em hay các bạn thiền sinh. Những giây phút như thế vẫn còn đọng lại trong trái tim của tôi. Từ đó, tình thương và sự truyền thông giữa tôi và những người thương mỗi ngày mỗi lớn mà không cần phải dùng một chất liệu “nhân tạo” nào.

Tôi cũng thấy mình may mắn khi có thể tự cho phép mình hãy là chính mình và tôi cũng rất biết ơn khi có những người bạn và những người thân cho phép tôi được là chính bản thân tôi. Những liên hệ đó rất vững bền, vắng đi những hiểu lầm. Tôi có thể chia sẻ những khó khăn hay những băn khoăn đang có trong lòng. Hoặc hỏi những câu hỏi tế nhị với mục đích muốn hiểu thêm về “con người” vì con người không đơn giản chút nào. Những lúc đó, tôi chia sẻ và ngồi lắng nghe với lòng biết ơn. Nhiều lúc chỉ ngồi bên cạnh nhau uống trà hoặc uống trà qua viber hay qua zoom, tôi thấy mình trân quý những người bạn tự nhiên của mình quá!

Nhưng không phải cái gì đến tự nhiên cũng tốt. Có những cái đến một cách tự nhiên nhưng nếu cứ tiếp tục thì sau một thời gian sẽ không mang lại lợi lạc cho mình. Như những khổ đau, vết thương trong quá khứ hay hiện tại đi lên trong tâm thức mình một cách tự nhiên, không cần mời mọc. Còn hạnh phúc thì sao? Hạnh phúc có đến một cách tự nhiên không? Hay mình phải tìm nhiều cách để nhắc nhở mình hạnh phúc.

Và phải chăng trong sự tự nhiên sẽ cần có việc “biết quên”?

Với sự hỗ trợ của công nghệ, có thể tự tin nói rằng, giờ đây con người nhớ được tất cả những gì cần nhớ. Chỉ cần một chiếc máy điện thoại kết nối mạng, ký ức của chúng ta có thể được lưu giữ, được khơi lại sống động bất cứ lúc nào. Quá khứ có thể trở thành hiện tại thậm chí ngoài tầm kiểm soát của chính chúng ta.

Nhưng liệu chúng ta đã nhận ra được tầm quan trọng của việc quên và biết quên?

Có người nghĩ rằng nhớ nhiều sẽ giúp mình có thêm trí thông minh và đi qua chướng ngại một cách dễ dàng. Điều đó có thể đúng với trường học, sở làm nhưng những lúc nói chuyện với người thân hay những giây phút đối diện với chính mình thì việc quên và biết quên không thiếu tầm quan trọng.

Nếu đứng trước một người quen, mình chỉ nhớ đến những câu nói đầy sân hận và thái độ thiếu thanh lịch của người đó thì mình có thể mất đi sự bình tĩnh và tình thương. Những gì đẹp nhất trong hiện tại ở xung quanh đều tan biến, trở thành vô vị, im lặng trong sự ồn ào của tâm ý. Mình có muốn điều đó trở nên tự nhiên không?

Có thể Trịnh Công Sơn đã quá mệt mỏi với những cái nhớ “tự nhiên” của ông nên ông đã viết câu: Biết quên nên đời bỗng nhiên biết cất tiếng hát. Biết thương, biết tôn trọng là việc phải làm, nhưng mình cũng cần biết quên. Quên đi những việc tốt mình đã làm để cho ước muốn được công nhận có thể tan biến. Quên đi những câu nói nặng lời bởi có thể chính người này sẽ giúp mình ra khỏi hiểm nguy trong tương lai, hoặc chính họ không cố ý làm mình đau lòng. Quên đi những gì đẹp của ngày hôm qua để biết rằng ngày hôm nay đẹp không kém. Càng quên thì mình lại càng biết. Đôi khi nhớ lại trở thành một chướng ngại vì mình cho rằng mọi thứ hẳn nhiên là thường, luôn luôn là như thế. Cuộc đời đẹp hơn khi con người biết quên đi những hận thù, trách móc, sợ hãi và âu lo.

Tự nhiên có thể như con dao hai lưỡi. Cái tự nhiên mình muốn vươn tới, nếm được, thẩm thấu được là cái tự nhiên không dẫn đến sầu đau, tức giận, ganh ghét, trách móc hay chỉ lợi cho mình mà hại người.

Những lúc mình làm một cử chỉ chứa đựng tình thương và tình người rồi có một ai đó khen ngợi cử chỉ ấy, mình hãy vui mừng, biết đó là bản chất của mình, một điều tự nhiên mà không cần sự cố gắng. Tâm hồn mình sẽ rộng mở để lắng nghe tiếng chim hót, tiếng thông reo. Cất giọng, và tình thương trong mình sẽ được hát ca.

 

Ngồi yên trên sóng

Sư cô Chân Hội Nghiêm

Tôi muốn kể cho em nghe những câu chuyện về biển cả. Biển đẹp và bao la quá nên tôi không biết phải bắt đầu từ đâu và như thế nào, nhưng cứ mỗi lần nghĩ về biển là tôi thấy thích thú, thấy lòng tràn đầy không gian. Tôi cũng không biết mình thích biển từ lúc nào. Chỉ nhớ khi còn đi học, thỉnh thoảng chúng tôi được thầy cô giáo cho đi biển vào những dịp hè, để được tung tăng nhảy sóng và bơi lội. Lúc còn học ở Nha Trang, mỗi sáng Chủ nhật, tôi và một người em họ thường rủ nhau đi tắm biển, ai cũng thích ngắm biển từ sớm nhưng lúc nào đến nơi thì mặt trời cũng đã lên cao. Rồi có lần tôi đi biển vào một buổi chiều, ngồi ngắm những hòn đảo xa xa đang từ từ chìm vào bóng đêm yên tĩnh. Hình ảnh đối lập của những ánh đèn đang sáng rực của phố xá nhộn nhịp sau lưng và những hòn đảo im lìm đang từ từ chìm vào bóng đêm yên tĩnh với ánh trăng tròn treo lơ lửng trước mặt làm tôi ấn tượng và nhớ hoài. 

Đứng trước cái bao la của biển cả, tự nhiên hai cánh tay của mình cũng muốn dang rộng ra để ôm lấy tất cả mọi người, mọi loài và vũ trụ. Tôi nhớ trong chuyến đi hoằng hóa ở Mỹ năm 2001, đại chúng có tổ chức một khóa tu ở gần biển. Hôm ấy, Thầy rủ vài anh chị em đi biển cùng Thầy. Được đi biển với Thầy tôi hạnh phúc như một đứa trẻ mới lên ba và lòng rộn ràng những niềm vui không sao giấu giếm được. Có lẽ vì vui quá nên tôi nói hơi nhiều, Thầy bảo: “Lắng nghe âm ba của biển đi con”. Tôi im lặng lắng nghe. Lắng nghe biển, lắng nghe tiếng sóng vỗ bờ. Từ đó tôi biết ngắm biển và thích nghe biển. Tôi có thể ngồi trước biển hàng giờ không chán. Càng ngồi càng thấy thích, càng thấy yên bình và hạnh phúc. Đôi khi tôi thích ngồi thật lâu, hít thở thật sâu, để cho tất cả những tế bào trong cơ thể mình ướp đầy không gian bao la, đầy lòng bao dung độ lượng, đầy vẻ uy hùng tĩnh lặng, đầy nét đẹp đẽ thanh cao, đầy màu xanh trong vắt và đầy vị mặn của biển. Để rồi, sau đó, dù có đang ngồi ở đâu, chỉ cần nhắm mắt lại và nghĩ về biển là tôi cũng cảm nhận được nét trong xanh xinh đẹp và sự tĩnh lặng bao la của biển đang từ từ đi vào lòng mình. Cảm nghe như mình đang ngồi trước biển thực sự vậy.

Tôi thích ngồi uống trà trên biển, ngắm bình minh đang lên hay hoàng hôn buông xuống, đặc biệt là những khi biển vắng người, không có những tiếng cười nói ồn ào, mà chỉ có tiếng thầm thì của biển và tiếng ầm ào của sóng. Trời, mây và biển cả biến hiện đủ sắc màu kỳ ảo. Những đàn chim bay lượn, những tàu thuyền đánh cá ngoài khơi, tất cả đều sinh động và đẹp đến tuyệt hảo. “Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào”, không có bờ biển nào giống bờ biển nào, mà biển nào cũng xinh, sáng nào cũng đẹp. Những buổi sáng như thế làm tâm hồn mình yên lắng. Thiên nhiên mới thật kỳ vĩ làm sao! Ở Pháp không khí lạnh hơn quê hương mình nhiều lắm, tháng Hai, tháng Ba khí trời vẫn còn khá lạnh mà mấy chị em vẫn rủ nhau đi biển. Ngồi yên ngắm biển, ngắm mình, sưởi ấm lòng bàn tay bằng ly trà nóng, hương thơm và hơi ấm bốc lên nghi ngút, thật là thi vị.

Những lần có cơ hội về thăm nhà vào dịp hè, sáng nào mấy anh chị em tôi cũng rủ nhau đi biển. Bốn giờ sáng mọi người đã thức dậy nấu nước rồi mang trà ra biển ngồi uống với nhau, cùng ngắm mặt trời lên. Thật là thanh bình. Sau những giây phút uống trà mọi người chơi thể thao, đi bộ hay chạy ào xuống biển, nhảy sóng, bơi lội hoặc nằm buông thư trên mặt nước, ngắm nhìn trời xanh mây trắng và nghe những lao xao của biển. Bao nhiêu mệt mỏi căng thẳng đều tan biến hết. Sau một chuyến đi biển, tâm hồn ai cũng sảng khoái, vui tươi. Biển là một bệnh viện xanh thiên nhiên dành cho tất cả mọi người. Có nhiều người ra biển để ngồi yên, ngắm cảnh, để vui chơi, để ngâm mình và cũng có những người ra biển để được thiên nhiên trị liệu. Ở Việt Nam người ta thân thiện và thoải mái, nên nhiều khi có những câu chuyện được bắt đầu trên biển. Mọi người có thể dễ dàng nhìn nhau mỉm cười, rồi bắt chuyện với nhau rất cởi mở, chân tình, vừa ngâm mình trong nước vừa chuyện trò. Quê hương mình thật dễ thương làm sao!

Có những nơi, nước biển xanh trong vắt, ngồi trên những ghềnh đá ngắm nhìn những dòng nước trong xanh ấy, tự nhiên tôi thấy lòng mình cũng trong và đẹp ra. Cái đẹp đi vào lòng mình làm cho mình cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thoát, khoáng đạt và bao dung. Những lao xao, lo lắng, bận rộn, rối ren nhờ thế mà lắng xuống, lòng mình theo đó cũng sâu lắng và tĩnh lặng hơn. Giữa đời sống hối hả bận rộn, sự yên tĩnh và cái đẹp làm cho cuộc sống quân bình.

Tôi cũng thích những lần được đi tàu trên biển, ra tít ngoài khơi, được ngắm nhìn cái mênh mông và sâu thẳm của đại dương, ngắm nhìn những con sóng vỗ vào mạn thuyền, đưa tay khoát nước, đùa sóng hay ngồi yên đón gió. Tôi nhớ có lần, từ biển Nha Trang, mấy anh chị em có dịp đi tàu ra thăm các hòn đảo lân cận. Đến đảo San Hô, mọi người được lặn xuống đáy biển xem san hô và cá. Ở đảo có rất nhiều loại san hô và nhiều loại cá, chúng sống thành những quần thể, đầy màu sắc, phong phú và sinh động. Đôi khi tôi cũng mơ mình làm một người thủy thủ lái thuyền rất uy hùng, an nhiên tự tại giữa không gian mênh mông bát ngát của biển, trời. Mỗi giây phút trên biển là một giây phút hạnh phúc, có khi yên lắng, có khi vui nhộn nhưng tất cả đều lưu lại trong tôi những kỷ niệm đẹp mà mỗi lần nghĩ về tôi như được đi biển, được sống với biển thêm một lần nữa.

Lại có những bãi biển trải dài với bờ cát trắng mịn màng, phẳng lặng. Tôi thường thích đi dạo trên những bờ biển ấy và cứ muốn đi hoài như thế, không cần phải dừng lại. Bình an lạ! Những lúc trong lòng có tâm sự, tôi sẽ thả những bước chân dọc theo bãi biển, dần dần những nỗi buồn cũng được thả xuống theo. Thật lắng dịu và an yên. Có những bãi biển có rất nhiều sỏi đẹp, có biển lại có những vỏ sò rất xinh. Đi nhặt những viên sỏi, những chiếc vỏ sò trên bãi biển cũng là một điều thú vị. Tôi nhớ có lần đi biển Bretagne ở Pháp, mấy chị em rủ nhau đi nhặt rong biển về nấu canh chua, chế mì gói và phơi khô để đem về Làng ăn dần. Ở đây có nhiều loại rong biển, trong đó có một loại rất giòn mà ai cũng thích. Biển là một bà mẹ đầy tình thương yêu, có khả năng dung chứa được tất cả các loài sinh vật biển và cũng có khả năng dung chứa được mọi tâm hồn. Tôi về với biển như người con trở về với mẹ, tận hưởng tình thương, tận hưởng vẻ đẹp và lòng bao dung của mẹ. Có khi đứng trước biển tôi lại hát cho biển nghe, hay cất giọng xướng lên một bài kệ. Có khi tôi ngồi tâm sự với biển. Và có khi là gửi vào lòng biển một lời cầu nguyện. Ngắm biển, ngồi yên với biển, nghe biển, chơi với biển, để đến một lúc nào đó thấy mình cũng là biển cả bao la.

 

 

Nói đến biển là phải nói đến những con sóng. Tôi thích biển, thích ngắm nhìn màu xanh, thích sự tĩnh lặng, bao la, uy hùng của biển mà cũng thích nghe và ngắm nhìn những con sóng, có khi êm đềm có khi dữ dội. Có những con sóng tung mình lên cao rồi rơi xuống thành những bọt sóng trắng xóa rất đẹp. Tôi thích chơi với sóng, nhảy cùng con sóng và thích ngắm nhìn những người lướt sóng. Họ có thể đứng yên và giữ thăng bằng trên những con sóng lớn. Con sóng càng lớn càng đưa họ lên cao và con sóng càng cao thì lại càng đẹp. Cũng có khi con sóng đánh úp họ, nhưng họ không hề sợ hãi, vẫn tiếp tục lên ván và lướt sóng. Tôi thích nhìn hình ảnh những em bé Tây phương mới sáu, bảy tuổi, trong bộ đồ nhái, trên tay cầm một tấm ván lướt sóng ra biển, được các huấn luyện viên chỉ dạy kỹ càng. Dễ thương làm sao! Các em được học kỹ lưỡng từ bé, thảo nào khi lớn lên các em rất bình thản, tự tin vui chơi với sóng, không hề biết sợ là gì.

Trong cuộc đời, có khi mình cũng phải đi qua nhiều con sóng, như ganh tỵ, thị phi, thương ghét, giận hờn, vui buồn, khen chê… Tôi cũng tập học hỏi để đón nhận, xử lý và vui chơi với tất cả những con sóng ấy. Có những con sóng lao xao, mình chỉ cần ngồi yên ngắm nhìn nó, thì nó cũng nhìn mình mỉm cười và lắng xuống. Nhưng cũng có những con sóng lớn đến bất ngờ làm mình trở tay không kịp. Đôi khi chúng lại đến như những con sóng ngầm, có thể cuốn trôi mình hồi nào không hay. Những lúc như thế tôi phải trở về an trú thật vững vàng nơi hải đảo tự thân, tự neo thuyền thật chặt bằng hơi thở ý thức để giữ cho chiếc thuyền của mình được yên ổn.

Cuộc đời không thể tránh khỏi những con sóng. Vấn đề là mình phải học hỏi, rèn luyện như thế nào để có thể ngắm nhìn nó, bình thản đi qua nó mà không hề sợ hãi. Làm sao để vẫn có thể lướt sóng, nắm tay nhau nhảy sóng và tiếp tục làm một chàng thủy thủ lái thuyền rất uy hùng giữa đại dương mênh mông. Đôi khi tôi thấy mình cũng là một chàng thủy thủ, đang tận hưởng không gian bao la của biển cả, lúc nào có sóng thì lướt qua, còn lúc có bão, gặp sóng to gió lớn thì tạm trú vào một hòn đảo nào đó để tránh bão, tránh sóng. Có lúc chỉ cần ngồi yên để giữ vững cho con thuyền của mình không bị lật là quý lắm rồi, bởi vì đôi khi càng cố gắng thì lại càng làm cho chiếc thuyền chông chênh. Cố nhiên, con sóng nào lên cao rồi thì cũng phải có lúc hạ xuống, và sau cùng, sóng sẽ yên, biển sẽ lặng. Nhưng cũng chính nhờ những con sóng ấy mà một phần tập khí trong mình được bào mòn và giúp mình cẩn trọng hơn.

 

 

Tăng thân mình cũng đã từng đi qua những con sóng lớn như những con sóng thần. Mọi người phải đối diện với những bất an, lo lắng. Tôi nhớ, lúc mình bị đánh văng ra khỏi Bát Nhã, không ít anh chị em đã rất hoang mang và sợ hãi. Có em đã đặt ra nhiều câu hỏi: Không biết mình có tương lai không? Tương lai mình sẽ như thế nào và sẽ đi về đâu?Lúc đó, tôi trả lời với các sư em rằng: Bây giờ là tương lai của mình bốn năm về trước. Sao lúc trước mình thấy tương lai mình xán lạn, còn bây giờ thì lại thấy bấp bênh và không có tương lai? Tương lai của mình nằm nơi ý chí tu học và bồ đề tâm của mình. Nếu mỗi ngày chúng ta đều chế tác niệm và định, nuôi lớn bồ đề tâm thì chúng ta sẽ có bình an, vững chãi. Còn con đường, còn bồ đề tâm, còn tăng thân là còn tất cả. Chúng ta hãy nương vào hơi thở ý thức, vào bước chân chánh niệm, vào những pháp môn căn bản và vào tăng thân. Đó là tương lai của mình. “Tương lai đã có rồi chỉ vì mình không thấy đó thôi”. Chúng ta đã đối diện với con sóng lớn ấy, học được rất nhiều bài học từ đó, một trong những bài học quý giá mà tôi học được là bài học của tình huynh đệ, bài học nhẫn nhịn và biết chế tác niềm vui trong mọi hoàn cảnh. Con sóng ấy đã đánh mình văng ra khỏi Bát Nhã nhưng lại đưa anh chị em mình lên cao và đi rất xa. Bây giờ ngồi kể lại là cả một kho tàng, biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp đẽ, bao nhiêu niềm vui được cất giữ từ trong ấy.

Thầy bệnh cũng là một con sóng lớn khác. Con sóng này làm cho nhiều người chao đảo bất an, sợ mất đi người thương yêu nhất của mình. Nhiều người bàng hoàng, lo lắng và sợ hãi. Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra: Thầy mất đi rồi tăng thân Làng Mai còn tồn tại không? Ai là người thay Thầy lãnh đạo tăng đoàn? v.v và v.v. Trong khi đó, Thầy bệnh thì bao nhiêu tuệ giác của các sư anh, sư chị từ từ có cơ hội biểu hiện. Khóa tu mùa hè đầu tiên sau khi Thầy bệnh, thiền sinh về rất đông, quý sư anh, sư chị cho pháp thoại rất hay, rất phong phú và đa dạng. Đại chúng ai cũng hết lòng thực tập để cầu nguyện cho Thầy. Mọi người đều mang theo Thầy trong lòng và nguyện thực tập vì Thầy. Mỗi người đều là một tiếp nối đẹp của Thầy bằng cách này hay cách khác. Và cho đến lúc này, tăng thân vẫn tiếp tục lớn mạnh.

Mặc dù khi đi qua những con sóng lớn ấy, chiếc thuyền tăng thân có lúc cũng tròng trành, và cá nhân ít nhiều cũng bị suy sút, hao gầy. Nhưng rồi con sóng ấy đã rèn luyện nên những chiến sĩ dạn dày sương gió và học được những bài học kinh nghiệm quý giá. Tôi thấy được tấm lòng nhẫn nại bao dung của quý thầy, quý sư cô đang thương yêu chăm sóc Thầy hết mực; tấm lòng của những người anh, người chị chịu thương chịu khó vì đại chúng; tấm lòng của những người em hết lòng tin tưởng vào tăng thân và vào con đường của mình. Qua những biến cố ấy ta thấy rõ một điều là cùng với tăng thân, ta có thể nắm tay nhau nhảy qua được tất cả những con sóng lớn.

Rồi con sóng dịch bệnh Covid-19 đã cuốn mất nhiều mạng sống của con người. Ở châu Âu và châu Mỹ số người chết tăng lên rất nhanh. Nhiều người đã không nhìn được mặt người thân của mình trước lúc ra đi. Ba, mẹ, người thân mất cũng không về được. Những bất an, lo lắng, căng thẳng của xã hội cũng ảnh hưởng đến đời sống tăng thân. Tôi nhớ lúc có một thầy được bác sĩ chẩn đoán là bị covid, đại chúng cũng đã căng thẳng lên rất nhiều. Em nào mới bị sốt một tí là phải đi cách ly ngay để bảo vệ an toàn cho đại chúng. Tuy nhiên, chưa bao giờ chúng ta lại thấy trân quý người thân, trân quý hơi thở của mình như giai đoạn đó. Đại chúng đêm nào cũng ngồi thiền cầu nguyện và gửi năng lượng lành đến cho thầy ấy và cho tất cả mọi người.

 

 

Những lúc có sóng lớn lại là những lúc mình tu tập nhiều và miên mật nhất. Tôi nhớ hồi ở Bát Nhã khi sự kiện xảy ra, các chị em cũng ngồi thiền cầu nguyện và gửi năng lượng thương yêu đến những người đã hại mình, có khi ngồi một lần đến sáu, bảy tiếng đồng hồ. Ngồi quên cả ăn. Tôi không hiểu năng lượng đâu để cho mình làm được điều ấy, mặc dù đại chúng lúc đó còn rất trẻ, có em chỉ mới tu một vài năm thôi. Lúc Thầy mới bệnh cũng vậy, mọi người ai cũng thực tập miên mật, hết lòng và nguyện chuyển hóa một tập khí cụ thể nào đó của mình để gửi năng lượng thương yêu, hòa thuận đến cho Thầy.

Giáng sinh năm nay tôi không gói quà tặng cho mọi người mà dành phần đó tặng cho đồng bào bão lụt. Bên cạnh đó, tôi đọc kinh và thu thanh lại, để gửi tặng cho ba mẹ, người thân và cho tất cả những ai cần đến. Hễ rảnh mười lăm, hai mươi phút hay nửa giờ là tôi đi thu thanh. Thật kỳ lạ, tôi thấy mình khỏe khoắn ra, trong lòng thì vui tươi và tràn đầy năng lượng. Tôi thấy mình có nhiều không gian hơn, thảnh thơi và thư thái hơn. Mặc dù những công việc, dự án vẫn còn đó mà lòng thì thấy nhẹ nhàng, rỗng lặng. Không hiểu vì sao tinh thần tôi lại phấn chấn như thế. Tôi thấy rõ là không phải vì lời kinh đánh động tôi, mà có lẽ là có một nguồn năng lượng tâm linh nào đó của Bụt, Tổ yểm trợ tôi, cho tôi nguồn năng lượng tinh thần này. Một món quà cho đi là được nhận lại ngay, xứng đáng và giá trị hơn cả món quà mình hiến tặng. Mùa Noel qua rồi mà tôi vẫn còn tiếp tục đọc kinh và thu thanh. Có lẽ không phải để tặng cho ai khác mà là để tặng cho chính mình.

Mặc dù con sóng dịch bệnh bây giờ vẫn còn đang dâng cao ở các nước châu Âu nhưng anh chị em có thể mỉm cười đón nhận mà không còn sợ hãi nữa. Đi cùng với con sóng dịch bệnh, nhu yếu được đến với nhau, được tu học cùng nhau của mọi người cũng lên cao vì Làng đóng cửa không nhận khách gần cả năm nay. Để đáp ứng những nhu yếu đó, đại chúng cũng đã tổ chức những khóa tu online cho thiền sinh. Ban đầu cũng khá căng thẳng vì đây là một lĩnh vực mới mà mọi người chưa có nhiều kinh nghiệm, đặc biệt là về vấn đề kỹ thuật. Tuy nhiên, ai cũng hết lòng dấn thân, cùng nhau học hỏi, xử lý căng thẳng, xử lý lo lắng, để rồi sau nhiều khóa tu online suốt năm qua, cuối năm 2020 và đầu năm 2021 này, đại chúng đã tổ chức thêm được một khóa tu online trong năm ngày cho hơn 1200 thiền sinh. Thiền sinh khắp nơi ai cũng an vui và hạnh phúc, không kém gì khóa tu xảy ra tại Làng. Điều này cũng làm cho quý thầy, quý sư cô phấn chấn vì thấy rằng mình có khả năng đem đến hạnh phúc cho rất nhiều người. Niềm vui và lòng biết ơn lại thêm một lần nữa tràn dâng. Nếu chúng ta không biết ngồi yên trên những con sóng ấy thì chắc chắn cũng sẽ không tổ chức được một khóa tu như thế. Các anh chị em bây giờ lại có thêm nhiều niềm vui và tự tin hơn để mở những khóa tu online khác. Tuy đi qua những con sóng đó, có khi thật vất vả, khó khăn và hao gầy, nhưng trong lòng mỗi người, ai cũng có được những kinh nghiệm quý giá, những kỷ niệm và thành quả tốt đẹp cho mình. Những con sóng lớn ấy đã lưu lại những dấu ấn lịch sử rất đẹp cho tăng thân.

Tuy nhiên, cuộc đời không phải chỉ là những con sóng. Cuộc đời còn là biển cả bao la. Sau những đợt sóng cuồn cuộn, biển lúc nào cũng trở lại bình yên để hiến tặng những tinh hoa cho cuộc đời, để cho những chàng thủy thủ tiếp tục lái thuyền ra khơi và tận hưởng sự mênh mông của biển cả. Biển muôn đời vẫn thế, luôn dạt dào yêu thương.

 

Lặng lẽ vầng trăng khuya

Sư cô Chân Tuyết Nghiêm

 

Ánh trăng ghé qua thềm

Đưa tiễn một màn đêm

Cho ban mai tìm đến

Gặp gỡ ngày bình yên

Một ngày nữa lại mở ra nhiệm mầu, tôi thấy lòng mình nhẹ nhàng và hân hoan. Ở Trạm Tịch, tôi vẫn còn thói quen thưởng thức buổi sáng lặng yên nơi góc nhỏ của mình. Ngày nào cũng vậy, sau khi thức dậy tôi thắp nến, đốt trầm và ngồi nơi góc nhỏ, pha và thưởng cho mình những ly trà nóng. Nó đã trở thành một thói quen rất nuôi dưỡng tôi. Cũng bởi thói quen ấy nên đã rất lâu rồi tôi không bước ra với thiên nhiên những phút yên đầu ngày như thế này.

Sáng nay ngày làm biếng, tiếng chuông đại hồng trầm hùng đã thức tôi dậy sớm để thưởng thức một ngày của riêng mình dài hơn. Tôi thức dậy, cũng như mọi ngày, định sẽ ngồi vào góc nhỏ, nhưng rồi có gì đó âm thầm đưa tôi đi ra hướng cửa lớn nhà Lưng Đồi. Nhìn ra bồn hoa hồng trước sân, ánh sáng rõ ràng như chiếc đèn pha chiếu rõ cả sân. Tôi nhận ra hiện hữu của một vầng trăng qua luồng ánh sáng đó. Chân tôi bỗng tìm đôi dép và bước ra ngoài trời như không kịp suy nghĩ gì, chỉ thoáng thấy lòng bình an lắm. Bước ra sân, ngước nhìn lên bầu trời, quả là một tặng phẩm tuyệt vời của thiên nhiên! Một vầng trăng nhỏ nhắn, tròn trịa và trong vắt. Thoáng lên trong tâm một suy nghĩ: “Ôi! Lâu quá không thưởng thức một ánh trăng đúng nghĩa”. Nghĩ rồi, tôi vào lại góc nhỏ lấy trà, nến và nước gọn trên hai tay rồi ra trước sân để hội ngộ với vầng trăng khuya.

Trăng sáng quá, tôi không cần thắp nến mà vẫn pha trà một cách dễ dàng. Ly trà nóng tôi nâng trên tay, mỉm cười với chính mình, với người bạn quen cũ, với phút giây nhiệm mầu sâu lắng, với mối tình lặng lẽ giữa mình và thiên nhiên.

Tôi ngồi đó, thở những hơi thở bình an “vững như trái núi, lặng dòng tâm trong”. Nụ cười cũng tự nhiên đến trầm mặc, có lẽ không ai biết, nhưng rất ý nghĩa với riêng tôi. Khung cảnh trời khuya làm cho tâm tư tôi lắng yên, thênh thang. Tôi ngồi yên và có dịp để quan sát những đến đi trong tâm tư mình, quan sát mọi sự vận hành xung quanh. Một mình nhưng tôi không thấy mình đơn độc như đã từng, mà trái lại, tôi thấy trong lòng ngập tràn sự ấm áp. Tôi bắt gặp sự sống mầu nhiệm nơi mình và thiên nhiên, là bức tranh tôi tự vẽ và thấy vừa lòng.

Càng có mặt để thưởng thức, tôi lại càng cảm thấy ánh trăng thật đẹp và thật gần gũi. Hình ảnh ánh trăng lại giúp tôi tiếp xúc với tình thương lớn rộng của Bụt, của Thầy và của tự thân nó. Vầng trăng thảnh thơi, vầng trăng tự do…

Có một bài hát tiếng Anh đơn giản mà tôi rất thích lại cũng đến góp vui trong buổi sáng này.

“The Sun, it shines for everyone

Non discrimination

The rain, it falls for everyone

Non discrimination…”

Tôi tạm dịch là:

“Mặt trời soi chiếu cho tất cả mọi người không phân biệt
Cơn mưa tắm mát cho tất cả mọi người không phân biệt…”

Lời bài hát chỉ vậy thôi, nhưng nó là sự thật rõ ràng, hiển nhiên đã đi vào tôi sâu sắc. Nhìn vầng trăng sáng nay, tôi cũng thầm hát bài hát đó:

“The moon, it shines for everyone,

Non discrimination“

“Vầng trăng tỏa chiếu cho tất cả mọi người, không có sự phân biệt”.

 

 

Tôi cảm nhận được cái tự nhiên thanh cao và giải thoát ấy. Và tôi cũng muốn mình là mặt trời, là cơn mưa, là vầng trăng, để tình thương tôi tiếp tục lớn rộng, trang trải không phân biệt. Tôi cảm nhận mối tình của tôi và trăng thật sâu sắc trong giờ phút này. Trăng không nói, nhưng tôi cảm nhận được sự có mặt và tình thương lặng lẽ ấy. Tôi không nói, nhưng cũng âm thầm hiến tặng trăng tình thương thanh cao, đẹp đẽ và lặng lẽ bằng sự có mặt, sự trân quý. Tôi biết trăng là của mọi người nên không cố tâm giữ cho riêng mình và hẳn trăng cũng thế. Mối tình ấy tự do thật, không bao giờ mất, mà có ẩn tàng cũng không làm mình đau khổ.

Tôi nhớ đến ba, nhớ đến bài thơ tôi viết trên biển Kim Hải tháng Chín vừa rồi cũng là những cái thấy bao la ấy. Những cái thấy đã giúp tôi mạnh mẽ buông đi nỗi niềm của sự mất mát, để chấp nhận sâu hơn sự thật ẩn tàng của ba một cách bình an nhất. Rõ ràng chỉ có ánh sáng tuệ giác mới có đủ sức mạnh để dẫn đường cho tâm hồn thoát khổ. Tôi biết ơn sự tu tập của 15 năm qua đã cho tôi một hành trang đủ để chấp nhận sự ra đi của ba, để thấy được ba vẫn còn trong tôi sâu sắc, trong hơi thở bình an, trong sự tiếp nối thiêng liêng. Lời bài hát Mặt trời có lặn bao giờ là tự sự lòng tôi, một tấm lòng đã được ánh sáng con đường tâm linh làm cho dịu nhẹ, làm cho thanh thoát,…

Ba đã đi rồi như mặt trời đi ngủ

Con có buồn khi vắng bóng ba không?

Con mỉm cười với hoàng hôn buông xuống

Ánh sáng đỏ hồng phủ biển sóng mênh mông

 

Mặt trời đâu rồi, bầu trời vẫn rực rỡ

Biển xanh cát vàng cũng đã nhuốm màu thơ

Ba ở đâu rồi, phải chăng là con sóng

Vỗ vào chân con khoảnh khắc lặng như tờ

 

Chào mặt trời, từng phút giây buông xả

Thật huy hoàng, hùng dũng lẫn thiêng liêng

Chạm sự thật không đến đi còn mất

Gặp lại ba nắng trong biển cười hiền

 

Tôi hứng đầy hạt nắng còn vương lại

Dẫu mặt trời đã khuất núi xa xa

Tôi nhận ra trong mình đã tiếp nhận

Một kho tàng nắng ấm của tình cha

 

Xin cất nắng để ngày mai dâng tặng

Cho cuộc đời những buổi sáng bình minh

Để cánh đồng được thơm mùa lúa chín

Cho yêu thương vẫn cứ mãi bên mình.

Là giây phút trên biển vắng ngắm mặt trời lặn và hoàng hôn buông xuống, là bàn chân xúc chạm với từng con sóng nhỏ, là giây phút hùng dũng, huy hoàng,… Và là phút giây tôi gặp lại và sống với mối tình thiêng liêng, sâu sắc với ba tôi. Tôi kết nối được với chính mình, với biển cả và với ba trong cùng một giây phút.

Những cái thấy đến rất sâu trong tâm thức rất đỗi tự nhiên. Tôi thấy những yêu thương của ba vẫn còn đây cùng tôi trên con đường này. Mỗi lần tôi làm được một điều gì đó hay ho cho mọi người, cho cuộc đời, tôi gặp được ba ở đó. Ba tôi vẫn tấm lòng rộng rãi muốn cho đi không ngần ngại, ba tôi luôn hướng sống vì mọi người, ba tôi rất kiên định với những ước mơ… Tôi biết tôi đã được tiếp nhận cả một kho gia tài tình ba rất lớn, tôi sẽ cùng ba đi tới hạnh phúc trên con đường hiến tặng thương yêu của mình. Vì tôi luôn có ba nên tôi luôn được cùng ba thỏa lòng thực hiện ước muốn hiểu sâu, thương lớn, là con đường mà ba đã từng trợ duyên đồng hành cùng tôi trong những bước chân đầu tiên.

Tôi thấy ánh trăng khuya nay cũng là ba đang hiện hữu. Thời gian cứ chậm trôi, và vầng trăng khuya cũng đã mờ dần khi bình minh tỏ rõ. Khu vườn đã sáng hơn, tôi và trăng lại tạm xa nhau, nhưng tôi biết trăng vẫn có đó nuôi tôi và tất cả mọi người. Hẳn cũng sẽ có nhiều người như tôi, cùng một giây phút tận hưởng được món quà thanh cao này. Tôi nhận ra lòng càng lớn rộng, lòng càng hạnh phúc.

Nhìn khu sân vườn vẫn lặng yên nhưng tỏ tường, đã luôn tự do đón nhận tình của nắng, của mưa, của mặt trời, của ánh trăng, vì tất cả đều là tình thương lớn rộng, cao quý và luôn mãi còn. Tôi sẽ mãi lên đường với tình thương của Bụt, của Thầy, của ba và của cả bao la đất trời.

 

Lòng đất nở hoa trời

Sư cô Chân Trăng Giác Ân

Sư cô Trăng Giác Ân xuất gia năm 2017 trong gia đình cây Bạch Dương tại Làng Mai, Pháp. Sư cô người Singapore, trước đây sống và làm việc tại Hawaii. Hiện nay sư cô đang tu học ở xóm Hạ. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Mùa thu là mùa con thích nhất trong năm. Đó là thời gian con có thể vào rừng hái nấm dại và khám phá ra biết bao mầu nhiệm trong lòng đất Mẹ. Con luôn luôn tâm đắc với câu “Tuệ giác chân thật chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe… Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút” trong giới thứ hai của mười bốn giới Tiếp hiện. Con tin rằng khi làm bất cứ điều gì, dù đó là khoa học, nấu ăn hay làm vườn,… nếu ta thật sự khám phá đến tận cùng của nó, ta sẽ tìm ra bản chất đích thực của sự sống đang tiềm ẩn bên trong. Dưới đây, con xin chia sẻ một vài điều mà con đã học được từ rừng cây và những tai nấm.

Cái gì thế?

Khi con gặp một con thú trong rừng, thí dụ như một con chim hay một con nai, cách hay nhất để ngắm nó là đứng thật yên, thư giãn và nhìn vẩn vơ đâu đó. Cuối cùng thì con thú sẽ thư giãn ra, yên tâm tiếp tục những gì mà nó đang làm. Khi đó con có thể ngắm nó một cách thật tận tường.

Con khám phá ra nguyên tắc này không chỉ có hiệu lực với những loài thú hoang, nó cũng có hiệu lực với những khổ đau đi lên khá thường xuyên trong con nữa. Những lúc như vậy, con không thấy vui, trong lòng phiền muộn mà không biết nguyên do, tâm ám ảnh bởi cái gì không thể gọi tên. Con chỉ có thể nói đó là một cái gì cũ kĩ, quen thuộc và có mùi không dễ chịu. 

Khi ấy, con chơi trò chơi kiên nhẫn chờ đợi và giữ ý thức là mình đang khổ. Con tìm cách để lắng yên, thư giãn và đồng thời vẫn để ý dõi theo nỗi khổ của mình. Tương tự như cách con quan sát một con thú trong rừng. Con không khơi gợi, cũng không đào bới nó mà cứ sống cuộc sống hàng ngày của mình một cách bình thường, cho đến khi nó nhúc nhích trong tâm thức và đột nhiên con thấy rõ ràng mặt mũi của nó. Thường thường chỉ cần biết nó là cái gì thì đã thấy khỏe hơn rồi. Bởi vì đi cùng với cái biết ấy là tình thương yêu hay sự ưu ái con dành cho chính bản thân mình. Và thường thì con cũng biết là mình cần phải làm gì tiếp sau đó.

 

 

Muốn tìm ra điều gì, bạn cần phải dừng suy nghĩ

Khi chúng con đang đứng trong rừng, bạn con đã hỏi cách tìm nấm dại. “Thường thường khi nhìn những cái khác thì mình hay tìm ra chúng”, con trả lời. “Ở trên đời, phần lớn các chuyện khác cũng đều tương tự như vậy, không đúng sao?”, bạn con đáp. Câu trả lời này của người bạn làm con kinh ngạc. Trước đây, là một nhà sinh vật học, phần lớn cuộc đời con đã được huấn luyện trong việc tìm kiếm các tiêu bản động thực vật. Hồi đó, con đã đi lùng trong thiên nhiên các loài dơi, chim, cá, bạch tuộc, cây cỏ, thậm chí đến cả lông chim nữa. Con đã phát hiện ra rằng cách tốt nhất để tìm ra mẫu vật là biết mình đang tìm cái gì, đặt ý định sẽ tìm ra nó, rồi chỉ đơn thuần bắt đầu bước đi và dừng lại mọi suy tư. Thế rồi đâu đó, từ nơi sâu thẳm trong tâm thức, khi có một cái gì đó giống như nấm xuất hiện, dường như có một tiếng chuông đang ngân lên trong tâm, bộ não của con thức tỉnh, và ngay khi ấy con nhìn thấy.

Như thế con có thể giữ cho đầu óc thư giãn trong khi tìm kiếm, và vẫn có thể thưởng thức sắc màu của thiên nhiên. Mỗi lần tìm ra một loại nấm ăn được cũng giống như tìm ra một kho tàng, thật là thích! Trong khi đó, nếu phải cố gắng quá nhiều, đầu óc căng thẳng, mắt tìm kiếm ngược xuôi, con rất dễ bị mệt và dễ cảm thấy thất vọng. Đến khi tìm ra được cái muốn tìm thì không hiểu sao con không còn thấy mừng vui gì nữa cả. “Không suy nghĩ” là một cách tìm kiếm “vô nguyện”. Cách này thật sự hay hơn nhiều so với cách cố công tìm kiếm.

“Không suy nghĩ” cũng là một phương cách giúp con rất nhiều trong các buổi họp. Nhất là khi chúng ta cần bàn thảo hay giải thích những điều phức tạp. Trước đây, con hay tính trước xem mình nên nói cái gì trước, cái gì sau để điều con muốn nói được rõ ràng. Con cũng muốn có ái ngữ nên cố gắng chuẩn bị trước những lời muốn nói và vì vậy nó dễ trở thành sáo ngữ. Ngoài ra cũng khó giữ những gì mình muốn nói trong đầu nếu đó là một chia sẻ dài. Cuối cùng, con khám phá ra mình chỉ cần tác ý là muốn dùng ái ngữ trong khi nói, muốn dễ thương với mọi người và biết rõ điều mình muốn truyền thông. Rồi con dừng lại tất cả mọi suy nghĩ và giao từ ngữ cho tàng thức làm việc. Cho đến bây giờ thì phần lớn các cuộc thảo luận đều diễn ra khá suôn sẻ và con không tự làm tâm mình căng thẳng nữa.

Bình thường là thiêng liêng

“Chỉ cần đi một vòng trong rừng là đã tìm được nhiều thứ để ăn. Điều đó chẳng phi thường hay sao?”. Trên đường về với một rổ đầy nấm trong tay, con chia sẻ điều này với bạn mình. “Đó có phải là thấy được sự thiêng liêng trong những khoảnh khắc bình thường không?”, người bạn thông thái của con trả lời. Thật vậy sao? Câu trả lời của người bạn làm con kinh ngạc. Tìm nấm không khác gì mấy so với việc đi ngang qua một cánh rừng từ tuần này sang tuần khác. Đó là một việc thật bình thường. Tuy nhiên, nhờ sự bình thường đó mà con đã có cơ hội thấy rằng khi một loại nấm ngưng mọc, nó được thay thế bởi những loại nấm khác. Có những loại mọc đầu mùa và có những loại mọc cuối mùa. Loại nào cũng rất ngon.

Đi ngang qua một khu rừng từ tuần này sang tuần khác, con bắt đầu cảm được “đây là chỗ tốt cho nấm mọc” và “đây là một chỗ không thuận lợi để nấm mọc”. Con không thể giải thích được sự khác biệt giữa một nơi rất tốt cho nấm mọc và một chỗ chưa tốt. Nhưng con biết là cái cảm ấy đến từ sự kết nối thật sâu của con với rừng và đất đai. Cứ như là đất đai bắt đầu trò chuyện thì thầm với mình, và một mối liên hệ riêng giữa mình với đất, với cây đã nảy sinh. Đồng thời, con cũng cảm thấy gần gũi và được hiểu.

Đột nhiên con cũng cảm nghe như mình có một liên hệ họ hàng thân thuộc với người Pháp qua nhiều thế hệ. Những người đã từng qua lại trong cánh rừng này, xách giỏ đi hái nấm. Khi con nhìn thấy một cặp vợ chồng người Pháp lớn tuổi, chống gậy và xách giỏ vào rừng, con có cảm giác như mình đã từng quen biết họ. Khi nghe các sư cô người Pháp kể lại là ba mươi, bốn mươi năm trước, lúc còn nhỏ, các sư cô đã theo cha mẹ vào rừng hái nấm, con thấy mình có thể dễ dàng hình dung ra được cảnh tượng đó. Con rất biết ơn tổ tiên đất đai và đất nước này đã cho phép con được sống ở đây.

 

 

Có chắc không?

Một bài viết về nấm không thể hoàn tất nếu không nhắc đến vô số các loại nấm không ăn được, nấm độc và những loại nấm đẹp trong rừng. Những loại này nhiều hơn loại nấm ăn được rất nhiều. Có những loại nhìn như có vẻ ăn được (nghĩa là chúng phù hợp với quan điểm của chúng ta về hình dáng của các loại nấm ăn được), trong khi những loại khác thì rất thơm, hoặc rất đẹp, nhưng phần lớn chúng là các loại nấm không ăn được.

Ta thường có khuynh hướng nghĩ rằng hoặc hầu như chắc chắn rằng “nấm này có thể ăn được”, nhất là khi ta gặp một ổ nấm lớn. Nhưng trước sự nguy hiểm của việc ngộ độc nấm (đôi khi có thể làm mất mạng), sự thực tập “Bạn có chắc không?” rất quan trọng. Nếu con không thể tự nói với mình một cách chắc chắn là: “Tôi biết rất rõ về loại nấm này”, thì con phải bước đi. Con không muốn chính mình hoặc các sư cô bị ngộ độc. Đôi khi con thu nhặt một vài tai nấm mẫu và nhờ những người có kinh nghiệm hơn xem xét giúp. Phần lớn câu trả lời con nhận được đều giống nhau: “Chúng là nấm không ăn được” hoặc “Chúng tôi không chắc lắm, nên tốt nhất là đừng nên ăn!”. Là những người đi tìm nấm, chúng ta cũng phải là những người thực tập giỏi câu “Bạn có chắc không?”.

 

 

Bài viết này dành tặng cho những người bạn kiên nhẫn của con, những người cùng phòng học, cùng làm việc trong văn phòng – là những người phải “chịu đựng” các tiêu bản nấm xuất hiện khắp nơi trên bàn làm việc hoặc bên ngoài phòng làm việc của con. Đồng thời cũng dành tặng cho những người bạn dũng cảm và đội luân phiên của con vì đã đủ can đảm ăn thử nấm cùng.