Hiệp ước sống chung an lạc

(Trích trong pháp thoại ngày 09/11/1997 của Sư Ông Làng Mai)

Chúng ta là những người chưa phải là thánh nhân. Chúng ta còn bị kẹt vào những tri giác sai lầm của mình rất nhiều. Và chúng ta ôm giữ những nghi ngờ, những hờn giận không có căn cứ. Người kia không muốn làm ta khổ, nhưng ta cứ tin chắc rằng người kia muốn trừng phạt, muốn làm ta đau khổ. Vì vậy, chúng ta kéo dài sự giận hờn ấy, có khi suốt cả cuộc đời.

Cho nên, hai người đừng làm như chàng Trương và người thiếu phụ Nam Xương. Hai người là ai? Hai người là vợ chồng với nhau. Hai người là ai nữa? Hai người là cha con với nhau. Nhiều khi vợ chồng, cha con, mẹ con giận nhau chỉ vì một tri giác sai lầm mà cứu tiếp tục làm khổ nhau. Vì vậy, phải tìm đến với nhau để nói cho rõ.

Nhưng khi đến với nhau, phải có khả năng ngồi yên, sử dụng ngôn ngữ hòa ái và phương pháp lắng nghe. Trong đạo Phật, phương pháp lắng nghe gọi là đế thính. Tiếng Anh gọi là deep listening hay compassionate listening. Đó là hạnh của Đức Quan Thế Âm.

Còn ngôn ngữ hòa ái thì gọi là ái ngữ. Tiếng Anh gọi là loving speech. Loving speechdeep listeninglà hai điều mà mỗi người đoàn sinh, mỗi người huynh trưởng phải thực tập cho thật vững, rồi mới có thể tạo dựng và khôi phục hạnh phúc trong gia đình cũng như trong đoàn của mình.

Hiệp ước chung sống trong an lạc sở dĩ có thể thực tập thành công là nhờ hai phương pháp ấy, hai sự thực tập ấy. Tức là deep listening — lắng nghe sâu — và loving speech — ái ngữ.

Từ bây giờ, theo hiệp ước này, khi chúng ta viết một mảnh giấy đưa cho người kia thì có thể viết rằng:

“Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó. Thứ Sáu này chúng ta sẽ ngồi lại để cùng quán chiếu.”

Quán chiếu tức là deep looking — nhìn sâu. Nhưng muốn nhìn sâu thì phải có hai phương tiện thực tập: lắng nghe và ái ngữ. Nếu không có hai điều đó mà ngồi lại với nhau thì chỉ dẫn đến cãi vã và tổn thương thêm.

Vì vậy, trong gia đình mọi người đều phải thực tập hai điều ấy. Đức Quan Thế Âm Bồ Tát là người có khả năng lắng nghe rất sâu và rất giỏi. Ngài cũng sử dụng những lời nói đầy hòa ái. Ngoài ra còn có một vị Bồ Tát khác tên là Diệu Âm. Quan Âm thì lắng nghe rất giỏi, còn Diệu Âm thì nói ra những lời rất hòa ái. Hai vị Bồ Tát ấy đều có mặt trong kinh Pháp Hoa.

Có được hai điều ấy thì việc khôi phục hạnh phúc trong gia đình sẽ trở nên rất dễ dàng.

Từ giờ cho đến thứ Sáu, ta thực tập. Nếu nhận ra rằng mình đã thất niệm, đã vô ý trong lời nói hay hành động và gây khổ cho người kia, thì phải gọi điện thoại xin lỗi ngay. Hoặc nếu trong quá trình thực tập, ta thấy rằng nỗi khổ và sự giận hờn của mình phát sinh từ sự hấp tấp, từ nhận thức sai lầm — rằng người kia không hề muốn làm ta khổ mà ta cứ tưởng như vậy — thì ta phải lập tức gọi điện thoại và nói:

“Anh ơi, em đã giận lầm anh rồi. Em đã có nhận thức sai lầm, đã quá vội vàng và hấp tấp, nên mới sinh ra tri giác sai lầm và vọng tưởng như vậy. Thôi, thứ Sáu này mình chỉ ngồi chơi với nhau, uống trà hay ăn bánh thôi, khỏi cần quán chiếu gì nữa.”

Nói như vậy để người kia bớt buồn.

Nhưng nếu đến chiều thứ Sáu mà vẫn chưa giải quyết được, thì hai người phải ngồi lại với nhau trong không khí thân tình và thanh thản. Trước tiên, thực tập thở khoảng năm phút. Sau đó, một người được phép cầm bông hoa trên tay, và người ấy sẽ nói hết tất cả nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia nghe.

Trong bình hoa đặt giữa hai người chỉ có một bông hoa thôi. Chỉ khi cầm bông hoa trên tay thì mới có quyền nói. Người không cầm hoa thì không được nói. Người nói phải bày tỏ hết những điều trong lòng mình, nhưng với điều kiện là phải sử dụng ái ngữ. Nếu trong lúc nói mà cơn giận dâng lên quá mạnh, đến mức cảm thấy mình không còn có thể dùng lời hòa ái nữa, thì phải dừng lại ngay. Nếu không, mình sẽ vi phạm hiệp ước sống chung an lạc.

Nói tóm lại, theo nguyên tắc, mình có quyền nói hết nỗi khổ niềm đau của mình cho người kia biết, và cũng có bổn phận phải nói ra. Nhưng điều kiện là phải nói bằng ái ngữ. Nếu cảm thấy mình chưa thể nói bằng ái ngữ, thì có thể xin lỗi:

“Em xin lỗi anh. Em đã cố gắng hết sức, nhưng hôm nay em chưa đủ khả năng để nói bằng lời hòa ái. Xin anh cho phép em hoãn lại khoảng năm ngày hoặc đến tuần sau.”

Làm cha cũng vậy, làm mẹ cũng vậy, làm vợ hay làm chồng cũng vậy. Phương pháp này rất hay. Có những cặp vợ chồng mới cưới thực tập theo phương pháp này và sống rất hạnh phúc. Mỗi tuần, dù không có giận nhau, họ vẫn ngồi lại để “làm mới” với nhau. Vì ngay từ đầu đã có những hạt giống nhỏ của sự không hạnh phúc. Nếu không chăm sóc và chuyển hóa, những hạt giống ấy sẽ lớn dần thành những khối nội kết rất khó tháo gỡ.

Cho nên, mỗi tuần làm mới là điều rất cần thiết.

Trong gia đình, mỗi tuần nên thực tập “làm mới”. Tiếng Anh gọi là beginning anew. Danh từ xưa gọi là “sám hối”. Nhiều người nghĩ sám hối là lạy lên lạy xuống để cầu xin Bụt tha tội. Nhưng bản chất của sám hối không phải là cầu xin tha tội, mà là làm mới lại tâm mình. Những vụng về, lỗi lầm đều phát sinh từ tâm. Nếu mình làm mới và làm sạch được tâm mình, nguyện từ nay không tiếp tục như vậy nữa, thì đó chính là sám hối.

Có câu:

“Tội tùng tâm khởi, tùng tâm sám.

Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong.

Tội vong tâm diệt, lưỡng câu không.

Thị tắc danh vi chân sám hối.”

Nghĩa là những lỗi lầm phát sinh từ tâm mình. Nhưng nếu tâm mình chuyển hóa rồi thì lỗi lầm ấy cũng không còn nữa.

Và khi mình thấy được rằng mình đã vụng về, vội vã, đã vì vọng tưởng và tri giác sai lầm mà nói hay làm những điều gây đổ vỡ, rồi nay mình tỉnh thức và thấy ra điều đó, thì mình phát nguyện từ nay sẽ không tiếp tục như vậy nữa.

“Anh ơi, em biết rằng trong lúc vội vã, bực bội và thất niệm, em đã nói và làm những điều gây đổ vỡ. Em thấy được điều đó rồi. Em nguyện từ nay về sau sẽ cẩn thận hơn, có chánh niệm hơn, sẽ không nói và làm như vậy nữa.”

Đó gọi là “làm mới”, hay theo danh từ xưa là “sám hối”.

Thành ra trong gia đình, mỗi tuần đều nên thực tập làm mới. Dù không có giận hờn, mình cũng nên ngồi lại với nhau, uống trà, ăn bánh và hỏi xem có ai muốn cầm bông hoa lên để nói hay không. Bông hoa lúc nào cũng có đó. Nếu mình có chuyện gì hơi buồn hay hơi bực một chút thì đừng nên giữ lại một mình, vì để lâu rất nguy hiểm. Cho nên, hễ có điều gì buồn hay giận thì đó chính là cơ hội để nói ra và làm mới lại với nhau.

Lúc ấy, mình chắp tay lại và nói:

“Con xin được nói. Con xin được cầm bông hoa để nói.”

Khi bố gật đầu, mẹ gật đầu, anh chị em gật đầu, thì mình đứng dậy, đi từng bước nhẹ nhàng đến bình hoa. Mình nâng cành hoa lên, rồi trở về chỗ ngồi, thở ba hơi thật sâu và bắt đầu nói:

“Hôm trước ba nói như thế này, con thấy đau khổ lắm. Tại vì ba chưa hiểu con nên mới nói như vậy. Sự thật là như thế này, như thế này… Con muốn ba hiểu con hơn.”

Mình nói ra hết tất cả những điều ấy. Phương pháp này rất tốt, rất nhẹ nhõm. Nó giúp đưa những độc tố của giận hờn ra khỏi cơ thể mình — get it out of your system.

Trong khi mình nói, tất cả mọi người trong gia đình đều thực tập lắng nghe. Bởi vì không ai có bông hoa trên tay nên không ai có quyền nói. Chỉ người đang cầm bông hoa mới có quyền nói thôi. Nói xong, mình đi từng bước trở lại, đặt bông hoa vào bình rồi chắp tay cảm tạ mọi người đã lắng nghe mình. Bởi vì tất cả những người ngồi quanh bình hoa đều là đệ tử của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm, nghĩa là ai cũng có khả năng lắng nghe sâu.

Một gia đình mà không ai biết lắng nghe nhau thì gia đình ấy là một địa ngục. Mà hiện nay có rất nhiều gia đình như vậy. Không ai biết lắng nghe ai, cũng không ai biết dùng ái ngữ với nhau. Hễ mở lời là nói chua chát, trách móc, lên án nhau. Vì vậy, chúng ta phải học hai điều: hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Âm và hạnh ái ngữ của Bồ Tát Diệu Âm.

Ví dụ như mình là cha, và con mình đang có đau khổ nên nói ra. Khi nghe con nói, mình đừng trả lời ngay lập tức. Trả lời liền thường không có hiệu quả tốt. Mình chỉ nên nói:

“Con đã nói, và bố đã nghe, đã ghi nhận rồi. Bây giờ hai cha con mình uống trà nhé.”

Dù con có nói chưa đúng sự thật, hay còn hiểu lầm, mình cũng cứ để cho con nói hết. Mình chưa cần phản hồi ngay. Cách đó rất hay.

Rồi đến tuần sau, hoặc vài ngày sau, khi con đã nhẹ lòng rồi, mình mới nói lại. Vì nếu phản ứng ngay lúc đó thì rất dễ biến thành đôi co, tranh cãi, và làm mất đi niềm hạnh phúc của người vừa được nói ra nỗi lòng mình. Phải để cho người ấy được hưởng cảm giác nhẹ nhõm ấy trong vài ngày.

Vài ngày sau, trong lúc hai cha con đang vui vẻ với nhau, người cha có thể nhẹ nhàng nói:

“Con ơi, hôm trước con nói thì cha chỉ lắng nghe thôi. Nhưng có lẽ con hiểu lầm cha rồi. Cha đâu có ý như vậy, cha muốn nói thế này nè…”

Trong khung cảnh hòa ái như vậy, con sẽ nghe được. Phương pháp này ở Làng Mai chúng tôi thực tập rất thường xuyên.

Trong phương pháp “làm mới”, bình hoa chỉ có một bông hoa thôi, và người cầm bông là người duy nhất được nói. Tất cả những người khác đều thực tập lắng nghe theo hạnh của Đức Quan Thế Âm. Còn người cầm bông thì thực tập hạnh của Bồ Tát Diệu Âm, tức là nói bằng lời từ ái.

Nếu mình có cơ hội nói mà cảm thấy hôm nay mình chưa đủ khả năng nói bằng ái ngữ, thì mình có thể xin lỗi:

“Hôm nay con chưa đủ vững chãi để nói bằng lời hòa ái. Xin cho con được nói vào dịp khác.”

Bây giờ tôi xin mời một vài thầy và sư cô lên trình bày thêm về hiệp ước sống chung an lạc này. Mỗi chúng ta rồi sẽ có một bản văn để nghiên cứu thêm.

Trước đó, tôi muốn kể thêm một chuyện. Hôm trước, trong một buổi giảng cho ba ngàn người Mỹ ở Santa Monica, tôi có chia sẻ một phương pháp rất đơn giản. Vì chỉ có một tiếng rưỡi để thuyết pháp nên tôi không thể trình bày đầy đủ về “Hiệp ước sống chung an lạc”, mà chỉ đưa ra một phiên bản rất cô đọng.

 

 

Tôi nói rằng khi mình giận, sau khi đi thiền hành xong, mình hãy về viết lên một mảnh giấy ba câu.

Câu thứ nhất:

“Darling, I am angry at you. I suffer. I want you to know it.”

(Anh ơi, em đang giận anh. Em đang khổ và em muốn anh biết điều đó.)

Nhưng chỉ câu đó thôi thì chưa đủ. Nó cho thấy mình chưa biết thực tập. Vì vậy phải viết thêm câu thứ hai:

“Darling, I am doing my best.”

(Em đang cố gắng hết sức.)

Tức là mình đang cố gắng thực tập hơi thở chánh niệm, đi thiền hành và nhìn sâu. Mình không chỉ là nạn nhân của cơn giận. Mình là con của Bụt, là học trò của thầy, là người thương của anh — nên khi giận thì phải biết thực tập.

Rồi câu thứ ba:

“Please help me.”

(Anh hãy giúp em.)

Cả ba câu ấy đều là ngôn ngữ của thương yêu. Khi đau khổ và giận hờn, mình phải cho người thương của mình biết. Và mình cũng nói rằng mình đang thực tập chứ không buông xuôi theo cơn giận. Hơn nữa, mình không muốn thực tập một mình, nên mình mời người kia cùng thực tập với mình.

Nếu mình là người trẻ và lỡ giận ba mình thì cũng có thể làm như vậy:

“Ba ơi, con đang giận ba. Con đang khổ lắm và con muốn ba biết điều đó.”

Rồi thêm câu thứ hai:

“Con đang cố gắng thực tập theo lời Bụt dạy, theo lời thầy dạy.”

Và câu thứ ba:

“Ba ơi, ba giúp con với.”

Câu đó rất hay. Bởi vì khi giận, người ta thường nói:

“I don’t need you. Stay away from me. Leave me alone. I hate you.”

Tức là: “Tôi không cần anh nữa. Tránh xa tôi ra. Để tôi yên. Tôi ghét anh.”

Giận thường làm người ta nói những điều như vậy.

Vì thế, trong buổi giảng ở Santa Monica, khi tôi trao truyền phương pháp này cho ba ngàn người Mỹ, nhiều người đã rơi nước mắt. Phương pháp rất đơn sơ, nhưng nếu biết thực tập thì sẽ tránh được rất nhiều đổ vỡ.

(Nghe toàn bộ nội dung của bài pháp thoại tại đây)

Sống thật hôm nay

Sư cô Chân Lộc Nghiêm

 

 

Em ơi!

“Hôm nay là ngày trẻ nhất

Trong quãng đời còn lại của ta”.

Bầu trời xanh như mới vừa được sinh ra

Ngọn lá rung mình trong hơi thở chớm thu đầu gió.

 

Cơn mây lững thững trôi, như một câu hỏi nhỏ

Ai đã hứa sẽ sống thật từ lâu?

Mà sáng nay,

mặt trời rọi qua kẽ lá

Thấy tim mình đang khẽ hé xem.

 

Ta chạm vào hơi sương, 

ừ! cũng là phép lạ.

Nghe tiếng chim gọi mặt trời lên,

Mỗi âm thanh là một bông hoa nhỏ

Mở ra trong tâm thức yên lành.

 

Ta đi, nhẹ như đám mây.

Không cần phải đến đâu,

Chỉ cần biết rằng từng bước chân này

Là quà tặng.

 

Sống thật nhé!

Đừng đợi ngày khác để yêu thương,

Đừng hẹn mùa sau để thở sâu thêm một nhịp.

Bởi hôm nay,

chính là kỳ diệu.

 

Và ta,

trong buổi sớm tinh khôi này,

vẫn còn đây,  giữa trời xanh và ngọn lá,

Cười khẽ:

Ơ hay,

Thì ra sống thật

chỉ là biết

đang sống! 

 

Lễ xuất gia cây Xà Cừ 02.05.2026

Xà cừ là một loài cây thân gỗ lớn, tuổi thọ cao, thường được trồng làm cây che bóng mát. Đặc biệt đối với những vùng đất tự nhiên, rừng núi thì cây cắm rễ cọc rất sâu và vững chãi. Vùng đất Cam Lâm, Khánh Hòa tuy đất đai không màu mỡ lắm nhưng đó lại là điều kiện thúc đẩy tự thân mỗi cây xà cừ phải cắm rễ cọc sâu xuống lòng đất để hút chất dinh dưỡng.

Trước sân chánh điện chùa Từ Đức và vùng núi chùa được trồng rất nhiều cây xà cừ. Có những cây đã trên 20 năm tuổi, nhưng cũng có những cây thì chỉ mới được trồng 1-2 năm gần đây. Chúng tạo thành một quần thể cây xà cừ vững chãi phủ bóng mát cho không biết bao người đến đây nương tựa.

Năm sư em cây Xà Cừ (2 sư em gái và 3 sư em trai) vừa biểu hiện trong lòng tăng thân vào ngày 02.05.2026 là một món quà, là một niềm biết ơn sâu sắc mà chúng con muốn dâng lên cho Sư Ông và Thầy Từ Đức. Tâm nguyện sâu sắc nhất trên hành trình tu tập và phụng sự của Thầy Từ Đức là xây dựng được một tăng đoàn có đầy đủ tứ chúng đồng tu và đặc biệt là hai chúng xuất sĩ thường trú nam, nữ. Gia đình xuất gia cây Xà Cừ là gia đình xuất gia đầu tiên được tổ chức tại chùa Từ Đức mà có được sự biểu hiện của cả sư em trai (chúng Từ Đức) và sư em gái (chúng Trạm Ân).

Thật may mắn cho các sư em và tăng thân, vào ngày biểu hiện của các sư em cây Xà Cừ đã có hơn 350 bạn trẻ (tham dự khóa tu Wake Up năm thứ 3 tại Từ Đức – Trạm Ân), gia đình và bạn bè cùng nhau thực tập thiền hành, ăn cơm im lặng, ngồi thiền…, tứ chúng đã cùng nhau chế tác ra một nguồn một năng lượng tỉnh thức tập thể rất hùng hậu.

Cùng tăng thân xin nguyền ở lại

Nơi cõi đời làm việc độ sanh

Giờ phút này sông núi chứng minh

Cúi xin đức Từ Bi nhiếp thọ.

Các sư em gia đình cây Xà Cừ có pháp tự theo thứ tự:

Sư cô Chân Quảng Hạnh

Sư chú Chân Nhất Dũng

Sư chú Chân Nhất Lữ

Sư chú Chân Nhất Ứng

Sư cô Chân Châu Hạnh

Chúng con kính gửi đại chúng những hình ảnh kỷ niệm ngày biểu hiện của cây Xà Cừ trong dòng chảy áo nâu.

Biết nghe, biết lắng, biết thương sâu

 

Sư cô Giác Nghiêm xuất gia năm 1999 trong gia đình Cây Anh Đào. Từ khi gặp Sư Ông lần đầu tiên vào năm 1985, con đường đạo Bụt dấn thân đã trở thành lẽ sống của sư cô. Sư cô là trụ trì của Maison de l’Inspir (Thiền đường Hơi Thở Nhẹ), một trung tâm Làng Mai gần Paris. Ban biên tập (BBT) may mắn có dịp ngồi chơi và nghe sư cô chia sẻ về niềm vui cũng như những thử thách mà sư cô đã đi qua trên con đường phụng sự. Dưới đây là phần trích từ buổi ngồi chơi này (được dịch từ nguyên bản tiếng Pháp). 

 

BBT: Thưa sư cô, sau bao nhiêu năm tu học và phụng sự, đạo Bụt dấn thân có ý nghĩa như thế nào đối với sư cô ạ?

Sư cô Giác Nghiêm (GN):

Đó chính là điều đã đưa GN đến với Sư Ông và tăng thân. GN có thể đã chọn con đường tôn giáo chiêm niệm (thiên về cầu nguyện), nhưng đời sống của Sư Ông và sư cô Chân Không, mà GN được gặp lần đầu năm 1985, đã khiến GN chọn con đường này. Lúc ấy, Sư Ông đang giảng pháp lần đầu tại Lyon. Khi tiếp xúc với những lời dạy của Sư Ông, GN tự nhủ: “Mình phải áp dụng ngay những pháp môn này – không chỉ cho riêng mình”. Với GN, đó là ý nghĩa của hai chữ dấn thân.

Thời gian đó, GN đang là chuyên viên vật lý trị liệu trong một bệnh viện, chăm sóc cho những người cao tuổi và người bệnh giai đoạn cuối. GN đã chứng kiến rất nhiều cảnh đau khổ: Họ không biết phải làm sao để đối diện, xử lý những cảm xúc và đau đớn của mình, và không biết làm sao để tiếp tục sống. GN đã đem pháp môn thực tập vào nơi ấy, một cách rất tự nhiên, không hề nói đó là “thiền”. GN thực tập thiền hành khi đi lại dọc hành lang bệnh viện, để giúp cho tâm ý an tĩnh lại. Từ phòng bệnh này sang phòng bệnh khác, GN thực tập hơi thở ý thức. Trước khi bước vào phòng của một bệnh nhân mới, GN buông xuống tất cả những gì người bệnh trước đã chia sẻ, chỉ giữ lại điều thiết yếu nhất để trao đổi với các đồng nghiệp. Sư Ông đã dạy GN như thế.

Khi bước vào phòng, GN nhìn bằng đôi mắt mới – một cái nhìn thật nhanh – để thấy điều gì thật sự quan trọng. Không cần phải nói gì, GN đem thiền tập đến bên giường bệnh – thiền tập về tương tức. Có những người cảm thấy rất cô độc. GN chỉ cho họ tấm vải trải giường và kể cho họ nghe về tất cả những điều kiện hội tụ để tạo nên tấm vải trải giường này: từ cách cây bông được trồng ở châu Phi, người ta tưới từng hạt giống nhỏ, rồi có người dệt vải, người vận chuyển, kể cả mưa, nắng, những chú bướm nhỏ hay những con côn trùng đất…Tất cả đều có mặt trong đó. Đó chính là sự thực tập nhìn sâu. Một cách gián tiếp, mình giúp cho họ thấy rằng họ không cô độc. GN thấy họ nhẹ nhõm hẳn ra.

Với bệnh nhân bị liệt nửa người hoặc bị Parkinson, GN dạy họ thiền hành trong hành lang – nhưng không hề dùng chữ “thiền”. GN cùng bước đi với bệnh nhân một cách chậm rãi, trong im lặng. Khi người bệnh gặp khó khăn khi bước tiếp, nhất là với người bị Parkinson, cả hai đều dừng lại. Họ cố gắng bước tiếp, nhưng GN sẽ nói với họ: “Chúng ta hãy thực tập dừng lại”. Rồi GN sẽ hỏi: “Anh/chị thích cây nào nhất?”. Nếu họ trả lời “Cây anh đào” thì GN sẽ nói: “Vậy bây giờ mình cùng trở thành cây anh đào nở hoa ngay trong hành lang bệnh viện này nhé!”. Thế là nỗi bất lực trong họ được giải tỏa. Đó là một cách để giúp họ thực tập dừng lại và họ rất thích.

Trong não chúng ta có các khớp thần kinh (synapses) – nơi liên kết và dẫn truyền xung động điện giữa hai tế bào thần kinh khác nhau hoặc giữa một tế bào thần kinh và một tế bào cơ. Ở người mắc bệnh Parkinson, ngay cả khi họ đang còn trẻ, dopamine không truyền dẫn một cách dễ dàng, chúng bị cạn kiệt. Khi ta thực tập dừng lại, ta không làm mệt các dây thần kinh nữa, các khe thần kinh có thể được nạp đầy dopamine trở lại và họ lại có thể tiếp tục bước đi.

GN chẳng làm gì đặc biệt, chỉ trợ giúp họ mà thôi. GN trao truyền “thiền bên giường bệnh”, thực tập đặc biệt hữu ích khi thay băng gạc cho những bệnh nhân có vết loét – thường rất đau đớn – cũng như đối với người đã mất trí nhớ hay không còn nhận thức được thế giới xung quanh. GN sẽ tới thăm, hỏi về những điều đẹp đẽ trong đời họ để làm dịu nỗi đau.

GN giúp họ tập dừng lại – thấy và nhận diện thực tại như nó là – rồi nhẹ nhàng “thay chốt” (hay “thay CD”) như Sư Ông hay nói. Khi nghe tiếng xe đẩy bông băng của y tá, họ thường thở dài “Ah!”. GN sẽ nói: “Vâng, xe thay băng tới rồi. Bây giờ bác hãy kể cho tôi nghe về cây sáo mà con trai của bác hay thổi nhé!”. Và như thế đến lúc họ nằm xuống, chúng tôi có thể bắt đầu thay băng trong sự nhẹ nhàng.

GN không phủ nhận sự thật. Khi tháo băng, họ đau lắm, GN nói: “Đúng rồi, đau lắm! Hãy quay về hơi thở, và nhẹ nhàng nói ‘Đau lắm’ trong khi thở chậm rãi”. Rồi GN hỏi: “Cũng có những chỗ khác trên cơ thể anh/chị nữa. Nếu GN đặt tay ở chỗ này, anh/chị thấy ấm hay mát?”. Điều đó giúp họ chuyển hướng sự chú ý. Và nếu cơn đau vẫn còn quá mạnh, hơi thở ý thức và sự có mặt trọn vẹn sẽ khiến nó dễ chịu đựng hơn. Họ không còn la hét vì đau nữa. GN cũng chia sẻ thực tập này với các y tá: “Chúng ta có thể cùng nhau làm được điều này”. Nếu không thì người bệnh sẽ chịu đau đớn khủng khiếp. 

GN cũng giúp “hồi sinh trở lại” cơ thể của người bệnh – những vùng bị lãng quên không hề được chạm tới. GN dạy cho điều dưỡng viên cách tắm rửa bệnh nhân trong chánh niệm – luôn báo trước cho người bệnh những gì họ sắp làm: “Bây giờ tôi nhúng khăn vào nước ấm nhé” (để bệnh nhân có thể ngửi mùi xà phòng và nhận diện hương thơm trước), hoặc “Tôi sắp chạm vào cánh tay của bác, vào khuôn mặt của bác. Bác có cảm nhận được bàn tay tôi không?”. Việc tắm rửa cơ thể theo cách này giúp đánh thức lại hình ảnh cơ thể trong não — khơi dậy những vùng đã bị lãng quên vì quá lâu không được tiếp xúc.

Một ngày nọ, trưởng khoa gọi GN đến và nói: “Cô đã làm việc theo cách này suốt vài tháng rồi. Tôi không biết chính xác cô đang làm gì, nhưng tôi rất cảm ơn cô – nó thực sự có hiệu quả. Cô có toàn quyền thực hiện tiếp như thế nhé!”. Dĩ nhiên, kết quả này không đến từ GN mà là từ sự thực tập!

GN giải thích với vị trưởng khoa lý do mình làm việc theo cách đó, rằng GN thuộc về một cộng đồng thiền tập. GN nói với ông rằng đi cũng là thiền – rằng khi bước vào phòng bệnh nhân với tâm rỗng rang, sáng tỏ, GN mới thấy được thật sự họ cần gì, điều gì ổn và không ổn. 

Đối với GN, đạo Bụt là sự dấn thân vào đời sống ngay trong hiện tại. Dù làm nghề gì, ta cũng có thể tìm ra những pháp môn thiền tập giúp mang lại sự bình an và chữa lành.

GN đã áp dụng pháp môn thiền hành rất nhiều – GN muốn nhấn mạnh điều này. Kết quả của đạo Bụt dấn thân rõ ràng đến mức các sinh viên vật lý trị liệu bắt đầu mời GN đến dạy ở trường. Y tá và điều dưỡng cũng mời GN đến nói chuyện tại Khoa Y học phục hồi chức năng. 

Họ vô cùng kinh ngạc trước những kết quả ấy. Không phải nhờ GN, dĩ nhiên rồi, mà nhờ sự thực tập.

 

BBT: Sư cô tiếp nối rất đẹp hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Sư cô có thể chia sẻ cho chúng con biết điều gì đã truyền cảm hứng cho sư cô trong sự thực tập lắng nghe sâu không ạ?

Sư cô Giác Nghiêm: Phẩm chất này một phần là do di truyền. Mẹ của GN hay lắng nghe người khác. Thỉnh thoảng mẹ hay mang người vô gia cư về nhà. Họ có thể ngủ, tắm rửa và nghỉ ngơi trước khi lại tiếp tục lên đường. Ông bà GN cũng vậy. Lắng nghe sâu là một phẩm chất đã ở trong máu của gia đình, là một phần của cuộc sống gia đình GN rồi. GN không có công lao gì đặc biệt khi lắng nghe như vậy.

Nhưng GN có thể kể một câu chuyện về sự chuyển hóa nhờ vào sự thực tập lắng nghe sâu của tăng thân. 

Một ngày nọ, tại Maison de l’Inspir (Thiền đường Hơi Thở Nhẹ), ở Noisy-le-Grand có một người đàn ông đến — đi xe mô-tô, người đầy hình xăm, tóc tai rối bời, áo khoác da đen — một rocker chính hiệu. Lúc đó, đâu phải ai cũng có hình xăm như bây giờ! Anh nói: “Tên tôi là François”. Anh lắng nghe pháp thoại, tham dự thiền hành, chia sẻ trong pháp đàm. 

Trong buổi pháp đàm, anh kể mình từng bị bỏ rơi từ nhỏ, sống lang thang, uống rượu từ khi mới lên 10-12 tuổi, rồi nghiện hút. Dù còn rất trẻ, cơ thể anh đã bị tàn phá trầm trọng. Tất cả tăng thân – xuất sĩ và cư sĩ – chỉ ngồi lắng nghe anh. Không ai ngắt lời, không nhận xét, chỉ lắng nghe sâu. Anh nói: “Hôm nay tôi đến đây vì tôi suýt giết người tình của vợ tôi. Tôi đã cầm dao trong tay, sẵn sàng giết hắn – nhưng rồi tôi đã không làm. Tôi nhớ mình đã thấy một cuốn sách có ghi địa chỉ – Noisy-le-grand, Maison de l’inspir – nên tôi đến đây”

Từ hôm đó trở đi, mỗi thứ Năm hàng tuần anh đều đến tham dự ngày Quán niệm, học cách sống, cách lắng nghe, cách thương yêu. Một hôm, anh dẫn con gái đến và nói: “Đây là con gái tôi. Tôi đã xin con tặng tôi một món quà đẹp cho ngày sinh nhật của mình. Con gái tôi nói: ”Điều gì có thể làm cho ba hạnh phúc nhất?”, và tôi nói: “Hãy tặng cho ba một ngày”. Con tôi hỏi ‘ngày nào?’, và tôi đã nói ‘Thứ năm’. Thế là chúng tôi có mặt ở đây. Tôi đến để dành trọn ngày này với con mình”. 

Cùng nhau, trong vòng tay của tăng thân, anh đã sám hối và xin con gái tha thứ. Mọi người đều rơi nước mắt. Thật vô cùng cảm động—nhất là khi biết cuộc đời mà anh đã trải qua. Sau đó, anh cũng làm như vậy với con trai của mình, đưa cậu đến Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, để cậu thấy nơi mà cha mình đang nương tựa. Một lần nữa, anh sám hối trước con trai—một chàng trai mười bảy tuổi. Anh đã thay đổi hoàn toàn.

Một ngày nọ, chúng tôi có một nhóm rất nhỏ – chỉ năm người thôi – trong đó có một viên cảnh sát đến để học về bất bạo động và sự định tĩnh. Chúng tôi không hề nói về nghề nghiệp của mình, chỉ giới thiệu tên thôi. Khi đến lượt François, anh nhìn GN với đôi mắt long lanh: 

“Sư cô biết gì không?”

“Không”, GN nói, mỉm cười và khuyến khích anh tiếp tục.

“Tôi đã tìm hết mọi vũ khí có trong nhà”

Ngay lập tức, mặt viên cảnh sát trở nên tái xanh. Có thể anh đang nghĩ “Ôi trời, tôi đang ở đâu thế này?”

François tiếp tục: “Tôi gom tất cả vũ khí trong nhà thành một đống ngay giữa phòng khách – một núi to”. Ta có thể hình dung anh đã mang trong lòng biết bao sợ hãi! 

“Thế anh định làm gì với chúng, François?”, GN hỏi.

Tôi có một ý tưởng, thưa Sư cô Elisabeth. Tôi có một người bạn là thợ rèn. Tôi sẽ mang tất cả tới cho anh ấy. Anh ấy sẽ đúc thành bức tượng của tự do. Không phải tự do ở ngoài kia, mà là tự do ta cảm thấy bên trong mình khi ta thật sự tự do”.

Anh đã ngừng uống rượu, ngừng dùng thuốc, chất kích thích. Anh sống bình an. Anh đã nung chảy hết vũ khí để tạo ra bức tượng của tự do nội tâm.

“Một ý tưởng tuyệt vời, Francois ạ! Anh phải làm thế nhé!”, GN nói. Trong khi đó, gương mặt viên cảnh sát càng tái xanh hơn! 

Rồi anh nhìn GN một cách nghiêm nghị và nói: “Tôi giữ lại một thứ”.

GN cười và nói: “Việc anh buông bỏ hết những thứ khác là rất tuyệt vời rồi. Anh giữ lại thứ gì?”

“Một cái búa – có cán dài – để phòng khi tôi lái xe mô tô mà ai đó tới gần”. Bạn có thể thấy nỗi sợ hãi cũ vẫn đang còn đó.

GN nhẹ nhàng nói: “Anh đã thực hiện một sự hy sinh lớn. Nếu bây giờ anh vẫn cần nó, thì hãy giữ lấy”. Anh sửng sốt.

Giáng sinh đó, GN đang chuẩn bị về thăm mẹ thì thấy anh tới. “Sư cô Elisabeth”, anh nói, “tôi có quà tặng Sư cô!”. Anh đưa GN một vật được gói trong tấm khăn. Đó là cái búa. Anh đã buông bỏ vũ khí cuối cùng của mình, nhờ có tăng thân.

GN nói với anh: “Anh hãy gói lại và đặt lên bàn thờ Bụt trong vòng năm ngày, để nó được tẩy tịnh. Anh dâng lên Bụt và thưa rằng: ‘Đây là vũ khí cuối cùng của con, thưa Bụt’”. 

GN đã kể cho anh nghe câu chuyện về Angulimala. Sau này, anh trở thành nhà làm phim. Anh làm một bộ phim về chính đời mình, trong đó con trai anh đóng vai anh khi còn trẻ – bộ phim rất thành công. Anh rất hạnh phúc. Thật là một sự chuyển hóa kì diệu.

Có rất nhiều trường hợp như thế – hòa giải giữa vợ chồng, giữa bố mẹ và con cái, giữa con người và cuộc đời. Đó chính là bàn tay của Sư Ông vươn ra giúp cho những người đau khổ.



Quý độc giả có thể xem toàn bộ nội dung bài phỏng vấn tại: https://langmai.org/tang-kinh-cac/la-thu-lang-mai/la-thu-lang-mai-49-2026/biet-nghe-biet-lang-biet-thuong-sau/ 

Living Gems – Kho tàng pháp thoại Sư Ông Làng Mai

Living Gems – Kho tàng pháp thoại đầy đủ nhất của Sư Ông Làng Mai – Thiền sư Thích Nhất Hạnh 

Sau gần ba năm sưu tập, phục hồi và sắp xếp lại những bài pháp thoại của Sư Ông, tăng thân Làng Mai rất vui mừng trình làng kho tàng pháp thoại Living Gems để những ai đang đi tìm cho mình một đường hướng tâm linh có thể tiếp cận với giáo pháp một cách dễ dàng. Trong thời đại mà sự chú tâm của chúng ta bị phân tán rất nhiều, Living Gems cống hiến một vùng ánh sáng với chiều sâu, niềm tin, những giáo lý đơn giản mà lại rất uyên thâm, có thể được áp dụng trong cuộc sống hàng ngày.

(Xin chọn phụ đề Việt ngữ khi xem video giới thiệu về Living Gems dưới đây:)

 

Living Gems là một kho lưu trữ sống động, dễ tra cứu có gần 3000 bài giảng của Sư Ông, đã được chọn lọc, phục hồi và bảo tồn kỹ lưỡng để giờ đây có thể được chia sẻ cho mọi người. Nó bao gồm những bài pháp thoại, vấn đáp, thiền hướng dẫn và những cuộc phỏng vấn, trong đó có nhiều bài chưa bao giờ được phát hành.

Đề án này là một bộ sưu tập rất phong phú, được làm với rất nhiều tình thương và sự chăm chút. Đây là một sự tiếp nối của Sư Ông. Nó chuyên chở tâm nguyện của tăng thân Làng Mai (xuất sĩ và cư sĩ) trong việc gìn giữ, trao truyền tuệ giác và từ bi của Sư Ông đến tất cả mọi người ở khắp nơi trên thế giới.

 

“Kho tàng giáo pháp này giúp chúng ta không cảm thấy mình bị thiệt thòi: “tiếc là mình đã không được tham gia chuyến hoằng pháp này của Sư Ông,” hay “ước gì mình được có mặt trong thiền đường đó”, …  Nó cho phép chúng ta được tiếp xúc trực tiếp với tuệ giác của Sư Ông để tuệ giác ấy đi thẳng vào lòng mình mà không qua một sự chắt lọc nào. Nhờ vậy ta sẽ không bao giờ thấy tiếc vì đã không đủ duyên được gặp Người bằng xương bằng thịt.”
– Sư cô Chân Hiến Nghiêm 

 

Một kho tàng sống động cho thời đại của chúng ta

Tại Làng Mai, giáo pháp không những chỉ được trao truyền qua ngôn ngữ mà còn qua sự có mặt, qua tăng thân và qua sự thực tập cụ thể trong đời sống. Tuy nhiên, không phải ai cũng có cơ hội để tham gia một khóa tu hay được ngồi trong một thiền đường để trực tiếp nghe pháp thoại.

Living Gems đáp ứng thực tại này vì nó giúp cho thiền sinh, tăng thân và những người mới bắt đầu thực tập có cơ hội được tiếp xúc với giáo pháp ngay tại nhà mình, tùy theo nhịp sống và nhu cầu của cá nhân.

Kho lưu trữ đã được thiết kế với rất nhiều chánh niệm để người sử dụng không bị các quảng cáo làm gián đoạn và phân tâm, do đó người sử dụng sẽ có một môi trường bình an và đơn giản để học hỏi và hành trì. Mỗi bài pháp thoại sẽ đi kèm với phiên tả theo ngôn ngữ của bài pháp thoại đó bằng tiếng Việt, tiếng Anh, hay tiếng Pháp. Nhờ vậy sự tiếp thu giáo pháp sẽ rõ ràng và sâu sắc hơn.

Một trong những đặc tính nổi bật của Living Gems là giúp hành giả tra cứu dựa vào trực giác và sự quán chiếu của người đó. Bạn có thể có một câu hỏi quan trọng về cuộc đời mình, và nó đã nằm trong lòng bạn hoặc bạn đã thực tập với nó một thời gian. Living Gems có thể đem tới cho bạn những bài pháp thoại phù hợp cho câu hỏi ấy. Thí dụ: bạn có thể thử tìm các bài pháp thọai đáp ứng với câu hỏi “Làm thế nào để sống hạnh phúc dù đang có nỗi khổ niềm đau?” Bạn nhập câu “làm thế nào để sống hạnh phúc dù đang có nỗi khổ đau” vào thanh tìm kiếm. 

Và bạn sẽ tìm ra những bài pháp thoại có các lời dạy liên quan, giống như Sư Ông đang nói trực tiếp về tình trạng hiện tại của bạn dù những bài pháp thoại ấy đã được nói cách đây nhiều năm. Và như thế, giáo pháp có thể đáp ứng ngay tại chỗ cho hoàn cảnh của bạn. (Xem hình dưới đây)

 

Sống hạnh phúc dù đang có nỗi khổ trong lòng

 

“Có những bài pháp giàu có và uyên áo nhất được Sư Ông nói bằng tiếng Việt. Và công cụ tìm kiếm của Living Gems cho phép chúng ta tìm các bài pháp thoại ấy một cách dễ dàng hơn rất nhiều.”
– Sư cô Chân Hiến Nghiêm 

 

Tiếp xúc và tu tập

Điều làm nên nét độc đáo của Living Gems không chỉ là số lượng các bài giảng, mà còn là chất lượng của sự trải nghiệm.

Thay vì phải cất công tìm kiếm hay bị các thuật toán dẫn đi lan man, bạn có thể khám phá những chủ đề đã được tuyển chọn hay các bộ sưu tập, thí dụ như Hỏi & Đáp, hoặc tự tạo danh sách phát riêng để nâng đỡ sự thực tập của mình hay của tăng thân.

Và còn có một niềm vui thầm lặng trong những khám phá bất ngờ — khi bạn tình cờ gặp một bài giảng mà trước đó mình không biết là đang cần, nhưng lại đánh động trực tiếp tới đời sống của mình. 

 

Khám phá bộ sưu tập Hỏi & Đáp với Sư Ông Làng Mai

 

Living Gems yểm trợ công trình hiểu thương và chuyển hóa của bạn

Sư Ông thường dạy hiểu và thương đi đôi với nhau. Hiểu sâu nghĩa là quá trình chuyển hóa đã bắt đầu. Living Gems nâng đỡ tiến trình ấy bằng cách giúp ta dễ dàng trở về với những lời dạy, hết lần này đến lần khác, như một nguồn soi sáng và hướng dẫn. Dù bạn là một người thực tập lâu năm, một giáo thọ đang hướng dẫn tăng thân, một vị xuất gia, hay là một người mới bắt đầu khám phá con đường thực tập chánh niệm, Living Gems là một nguồn tài nguyên đáng tin cậy và xác thực. Nó có thể đồng hành với sự thực tập của bạn trong cuộc sống hàng ngày, yểm trợ các nhóm nghiên cứu, học hỏi giáo pháp, hay chỉ đơn giản là nơi bạn tìm về nương tựa khi bạn đang bị nhấn chìm trong một ngày bận rộn.

 

“Có thể thấy Sư Ông đang mỉm cười khi thấy chúng ta cùng chung tay làm giáo pháp của Người càng lúc càng dễ tiếp cận.”
– Thầy Chân Pháp Hữu

 

Suối nguồn chảy mãi

Living Gems là một nỗ lực tập thể. Phía sau đề án này là các vị xuất sĩ và cư sĩ làm các công việc thông dịch, biên tập cùng một một đội ngũ kỹ thuật tận tâm, tất cả đều đóng góp thời gian và năng lượng của mình để gìn giữ và truyền bá những lời dạy này bằng cả tấm lòng.

Món quà này là thành quả của gần 3 năm làm việc liên tục trong chánh niệm, đó là cả một quá trình kiên trì thu thập, phục chế, dịch thuật, số hóa (từ băng video và cassette) và tuyển chọn hàng ngàn bài pháp thoại. Mỗi bước đều được thực hiện một cách rất cẩn trọng, để sự toàn vẹn và chiều sâu của những lời dạy của Sư Ông được truyền lại một cách trung thực nhất có thể.

 

“Số hóa thêm nhiều tài liệu, nâng cao chất lượng âm thanh và hình ảnh, đồng thời thêm các tính năng và bản dịch mới… còn rất nhiều điều chúng ta có thể làm, nhiều hơn cả những gì mà ngay bây giờ chúng ta có thể hình dung ra được.”
– Maarten

 

Yểm trợ đề án Living Gems là tham gia vào dòng chảy, giúp giáo pháp của Sư Ông dễ tiếp cận, phù hợp và sống động cho các thế hệ tương lai. Kho lưu trữ này tự thân nó là một thực thể linh động, tiếp tục phát triển bởi vì Làng Mai vẫn tiếp tục tìm ra, số hóa, và phục hồi những bài pháp thoại khác của Sư Ông.

 

Phía sau hậu trường

 

Như vậy Living Gems không chỉ là một kho lưu trữ mà còn là một biểu hiện sống động của sự thực tập, mời gọi mỗi chúng ta lắng nghe sâu, nhìn sâu và đem những lời dạy vào trong cuộc sống của chính mình. Hãy bước vào dòng chảy của Living Gems và để những lời dạy của Sư Ông gặp gỡ bạn: plumvillage.org/gems

Sự kiện đặc biệt: Kính mời quý tăng thân và thân hữu tham gia sự kiện trực tuyến đặc biệt Mừng dự án Living Gems thành tựu. 

Thời gian: 2 giờ 30 chiều ngày 24.5.2006 (giờ Paris) – dành cho người sống ở Á châu.

Và 6 giờ 30 giờ chiều ngày 24.5.2006 (giờ Paris) – dành cho người sống ở Mỹ châu.

Ngôn ngữ: Tiếng Anh

Xin bấm vào đây: https://plumvillage.org/gems/live-event/celebrating-living-gems

Sự kiện sẽ được thu lại với phụ đề Việt ngữ và sẽ được phát hành sau.

 

 

Hành trình của niềm vui: Ăn thuần chay

Luise, pháp danh Nguyên Vô Điều Kiện Ái (Unconditioned Love of the Source) và Valentin, pháp danh Nguyên Chân Bi (True Compassion of the Source) sinh hoạt với tăng thân Wake Up ở Aachen, Đức. Hai bạn rất thích học hỏi về cách truyền thông có từ bi, xây dựng tăng thân, tâm lý học Phật giáo và cách chuyển hóa khổ đau.

Từ những lần chứng kiến nỗi đau của động vật, Luise và Valentin kể lại hành trình học cách sống với lòng trắc ẩn dành cho chính mình — nhiều hơn, rõ ràng hơn, vui hơn và không còn phán xét.

Bài viết được BBT chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Anh Embarking on the Joyful Journey of a Plant-Based Diet đăng trên Mindfulness Bell ngày  11.10. 2023 

ĐỐI DIỆN VỚI KHỔ ĐAU

Nhiều người trong chúng ta đã nghe Thầy dạy về việc ăn uống có chánh niệm và cách nhìn sâu để thấy những thực phẩm mà chúng ta dùng hằng ngày có gây ra những khổ đau cho các loài trong quá trình làm ra một sản phẩm nào đó hay không. 

Có thể chúng ta đã cảm thấy rằng mình phải thay đổi cách ăn uống để có thể góp phần vào việc xây dựng một xã hội, một thế giới có nhiều bình an hơn. Nhưng ngày qua ngày, có lẽ ta cảm thấy khó mà thực hiện được thiện chí, hoặc khó để duy trì sự thay đổi trong cách ăn uống ấy bởi vì ta đã quá gắn chặt với lối ăn uống cũ. 

Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ với các bạn một số thử thách mà chúng tôi đã trải qua trong quá trình ăn thuần chay. Chúng tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có cùng những trải nghiệm trên hành trình hướng tới một lối sống nhiều tình thương và bền vững hơn, mặc dù ta có thể chọn những cách hành động khác nhau.

Trước tiên, chúng tôi muốn chia sẻ lý do tại sao chúng tôi đã quyết định thay đổi thói quen ăn uống của mình. 


 

Trải nghiệm của Valentin: 

Lên 15 tuổi, trên đường trở về nhà từ một đợt nghỉ hè với mấy đứa bạn thân, lúc ở trên đường cao tốc, phía trước chúng tôi là một chiếc xe tải đang làm rơi rớt trên đường những thứ đang vận chuyển trên xe. Tôi không thấy rõ đó là những thứ gì. Mãi đến khi cả chiếc xe tải và xe của chúng tôi cùng dừng lại nơi một trạm xăng, tôi mới nhận ra trên thùng xe tải, phía sau những thanh chắn hàng hóa vận chuyển chính là những con gà.

Trong cơn hoảng sợ, những con gà tội nghiệp đang mổ lông nhau. Trông chúng thật tơi tả nhưng vẫn tiếp tục tấn công nhau. Chứng kiến cảnh tượng đau lòng đó, lòng từ bi đã làm tôi ứa nước mắt. Chính giây phút đó tôi đã quyết định sẽ không dùng thực phẩm làm từ động vật nữa.

Trải nghiệm của Luise:

Một ngày nọ, đang trải qua một học kỳ ở Hàn Quốc, tôi đi ngang một chợ cá. Tôi chưa từng thấy một nơi nào như thế trước đây. Những con cá sống chứa trong các thùng nhựa được treo trên các cây sào rải rác đó đây để cho khách hàng biết là cá còn tươi sống. 

Những con cua lớn hơn hai nắm tay của tôi, với những cái càng dài đang lúc nhúc trong những bồn kính chứa nước. Trước mặt tôi, một người bán hàng bắt một con cua ra và liên tục giáng xuống nó những nhát đập bằng một dụng cụ kim loại.

Con cua oằn oại và sau cùng nằm yên bất động. Nó đã chết. Sẵn sàng để “được ăn”. Tôi bật khóc. Cảm thấy ngượng với mọi người xung quanh, tôi cố giấu nước mắt. Chưa bao giờ tôi nhìn thấy cảnh động vật bị giết một cách tàn bạo như vậy. Tôi cũng chưa bao giờ đối diện trực tiếp với nỗi khổ đau của các loài vật mà chúng ta ăn thịt. Giây phút chứng kiến nỗi khổ đau đầu tiên đó là giây phút tôi quyết định rằng mình không thể nào dùng các sản phẩm từ động vật làm thức ăn được nữa.

Những khoảnh khắc đó và những khoảnh khắc tương tự mà chúng tôi chứng kiến trong nhiều năm sau đó, dù rất đau lòng, đã trở thành nguồn sức mạnh, sự sáng tỏ và lòng quyết tâm để chúng tôi tiếp tục đi tới với tâm từ bi.

Lòng từ bi giúp chúng tôi biến nỗi đau thành hành động.

 

Ảnh: Valentin

 

NẾP SỐNG TỪ BI MANG LẠI NHIỀU HỶ LẠC

Khi nghĩ đến một chế độ ăn thuần chay, ta có thể tin là mình đang hy sinh hay đang hạn chế bản thân. 

Thế nhưng chưa chắc đã là như vậy. Những nhận thức này có thể trở thành chướng ngại thật sự trên con đường hiểu biết và thương yêu của ta. Nếu ta không nhìn sâu vào những nhận thức ấy, có thể ta sẽ dễ dàng buông bỏ ý định thay đổi thói quen ăn uống, vì cảm thấy quá choáng ngợp và tê liệt.

Không làm một điều gì đó không nhất thiết phải là một sự hạn chế khổ sở; trái lại, nó có thể là một sự thực tập, một niềm vui nuôi dưỡng tình thương mỗi ngày. Đối với phần lớn chúng ta, việc không đánh vào mặt một người lạ không hề giới hạn sự tự do của ta. Mỉm cười chào nhau là một biểu hiện rất tự nhiên của sự tử tế và ta cảm thấy dễ chịu khi làm như vậy.  Việc thực tập ăn thuần chay cũng có thể mang lại cảm giác tương tự.

Chúng tôi đã nghiệm ra rằng sự thay đổi góc nhìn là điều thiết yếu để ta có thể thấy rõ mình đang thật sự làm gì.

Với chánh niệm và ý thức sáng tỏ, bạn có thể tận hưởng cảm giác dễ chịu khi chúng ta thể hiện từ bi qua hành động. Ăn thuần chay nghĩa là ta chọn cách hành động với nhiều từ bi hơn, ta tôn trọng sự chính trực và tâm nguyện của mình. Bằng cách hướng tâm đến những khía cạnh tích cực và nuôi dưỡng này trong sự lựa chọn của mình, việc thực tập ăn thuần chay trở thành phương tiện giúp ta lớn lên về mặt tinh thần. Ta sẽ có một sự mãn nguyện sâu sắc khi sống hài hòa với ý thức công bằng trong lòng mình.

Đây là một phương pháp thực hành cụ thể để chúng ta có thể dần dần thay đổi cách nhận thức hành động của mình. Theo thời gian, nó sẽ trở thành một thói quen làm chúng ta hạnh phúc khi chọn ăn chay với ý thức và với lòng trắc ẩn. Đồng thời, chúng ta cũng có thể khám phá và thưởng thức nhiều loại thực phẩm ngon, tươi và bổ dưỡng trong cuộc sống hằng ngày.

 

Về Làng tập nấu chay – Khóa tu nấu ăn tại xóm Mới 2025

 

CHĂM SÓC CƠN GIẬN 

Khi mới bắt đầu ăn chay, chúng tôi thấy trong lòng có rất nhiều buồn giận đi lên. Buồn vì các sinh vật có tri giác phải chịu nhiều đau khổ do thói quen ăn uống của con người. Giận những người đang tiếp tay gây ra sự đau khổ đó chỉ để đáp ứng những khoảnh khắc khoái lạc ngắn ngủi của họ. Chúng tôi bắt đầu đặt ra cho họ những câu hỏi thẳng thắn kiểu như: “Các bạn không quan tâm việc một con vật đã phải chết vì điều này sao?”. Chúng tôi gây áp lực lên những người xung quanh. Nhưng tất nhiên làm như vậy không mang lại hiệu quả. Hiếm khi người ta xem những lời lẽ gay gắt như vậy là một lời mời gọi để suy ngẫm.

Vì vậy sau nhiều năm, chúng tôi tập nhìn sâu vào cơn giận của mình và nhận ra rằng một phần là vì mình có những tri giác sai lầm về con người, phần khác là vì những lý do dẫn họ tới việc hành động theo những cách gây ra đau khổ.

Thay vì phán xét họ, chúng tôi thấy những hành vi gây đau khổ cho sinh vật xuất phát từ những quan niệm quá sức sai lầm, chẳng hạn họ tin rằng mình và những sinh vật khác là hoàn toàn tách biệt.  Họ không có khả năng trải nghiệm tự tính tương tức của sự vật, sự việc. Nhờ hiểu được như vậy mà lòng từ bi dần nảy sinh trong lòng chúng tôi.

Phán xét người khác có nghĩa là chơi cùng một trò chơi “bạn sai và xấu, tôi đúng và tốt”, vốn là cốt lõi của tư duy nhị nguyên. Phân biệt đối xử, vốn tự nó đã gây ra rất nhiều đau khổ.

Những khám phá này giúp chúng tôi nhận ra các khuôn mẫu tư duy phân biệt đối xử đã ăn sâu vào văn hóa và tâm trí của chúng ta như thế nào.

Chúng tôi rất vui mừng chia sẻ với các bạn sau một thời gian thực tập và quán chiếu như vậy, trái tim chúng tôi đã nhẹ nhàng và từ bi hơn rất nhiều đối với bản thân và người khác.

Hành trình khám phá này cũng giúp chúng tôi học cách ôm ấp và chăm sóc sự phẫn nộ và nỗi buồn khi chúng nảy sinh một cách rất tự nhiên trong lòng mình khi chứng kiến ​​cảnh làm tổn thương nhau của muôn loài. Sự thực tập cho phép chúng ta có mặt và chăm sóc cho những cảm xúc đó với sự dịu dàng và lòng từ bi sâu sắc. Đối với chúng tôi, điều đó tạo ra sự bình tĩnh và ổn định nội tâm.

Đối với chúng tôi thì sau nhiều năm, chế độ ăn thuần chay đã chuyển hóa  hành động phản kháng tuyệt vọng thành sự thực tập yêu thương đối với bản thân và thế giới.

Mong rằng sự tỉnh thức chung của chúng ta sẽ càng ngày càng nở rộ!

 

Luise và Valentin

Tình yêu hướng về ngôi sao xanh biếc

 

Có nhiều khi phải đi rất xa chúng ta mới thấy được cái mà chúng ta muốn thấy. Ở sát một bên nhưng chúng ta không thấy. Chung đụng hằng ngày, trong mỗi giờ, mỗi phút nhưng không thấy. Đợi đến khi đi rất là xa, xa cách tưởng như không còn có thể có cơ hội gặp nhau trở lại thì lúc đó mình mới bắt đầu thấy được những gì rất đỗi gần gũi đó.

 

Năm 1969, lần đầu tiên loài người tổ chức một chuyến đi rất là xa. Đi lên mặt trăng. Apollo 11 là đoàn thám hiểm đó. Bao nhiêu công phu và tiền bạc đã đổ ra để loài người gửi những người đầu tiên đi lên mặt trăng. Khi phi thuyền bay ra khỏi bầu khí quyển và nhìn lại, đó là cảnh tượng chưa bao giờ ai trông thấy. Trên đường lên mặt trăng, máy ảnh đã ghi lại được hình ảnh của trái đất lần đầu tiên trong lịch sử. Ngày xưa Thầy cũng đã viết một bài thơ:

 “Trên đường lên nguyệt cầu

Quay nhìn lại

Tôi thấy em

Và tôi không ngừng kinh ngạc:

Em xinh đẹp quá chừng

Em là một chiếc bong bóng nước

Nổi trên biển không gian mông mênh…”

(Trích “An tịnh tâm hành”, thơ Sư Ông Làng Mai)

 Đi ra ngoài không gian nhìn lại thì mới thấy hành tinh của mình là đẹp. Trong thái dương hệ này, trong vũ trụ này, mình chưa bao giờ thấy một cái gì đẹp như vậy và cũng mong manh như vậy. Khi lên tới mặt trăng rồi, mình thấy mặt trăng rất khác, không có sự sống. Ban đêm trên mặt trăng, người ta thấy đường được là nhờ ánh sáng của mặt trời phản chiếu bởi trái đất. Và trên mặt trăng mình có thể thấy trái đất đang lên. Ở dưới đất mình thấy trăng lên, mà ở trên trăng thì mình thấy đất lên. Đất lên rất là đẹp, rất là xanh. Nó không phải màu vàng như khi trăng lên, mà xanh xanh trắng trắng. Và những hình ảnh đó đã được gửi về cho đồng loại trên trái đất.

 

Nguồn ảnh: Wikipedia

  

Tất cả những thành viên của phi đoàn Apollo 11 đều có cảm xúc rất sâu sắc khi nhìn lại hình ảnh của trái đất. Họ nói khi ở trong không gian nó lạnh lùng vô cùng, khắc nghiệt vô cùng. Màu đen trên đó rất là đen. Ở dưới đất chưa bao giờ thấy một màu đen như vậy. Dầu một đêm đen kịt thì cái đen kịt ở trái đất cũng rất linh động. Nó có hương, có sức nóng, có âm thanh. Còn cái đen ở trên đó rất lạnh lùng, cái đen tuyệt đối. Tuy có vầng thái dương chiếu nhưng không thấy gì hết, vì vũ trụ trên đó rất trống. Ánh sáng phải chạm vào một vật gì đó thì mình mới thấy được cái đó. Còn nếu ánh sáng chỉ đi trong khoảng không thì mình không thấy có ánh sáng. Màu xanh mà mình thấy mỗi khi ngửa mặt nhìn lên trời, ở trên đó không có. Nhờ có bầu khí quyển và ánh sáng mặt trời chiếu lên đó nên mình mới thấy màu xanh trời. Đi ra khỏi bầu khí quyển thì không có màu xanh đó nữa, mà nó đen, đen kịt, đen tuyệt đối, đen lạnh lùng.

 Và khi nhìn thấy trái đất, một niềm cảm thương lớn trào ra trong trái tim. Mình thấy mấy tỷ người ở trong đó đang làm gì. Họ đang ăn, họ đang ngủ, họ đang làm việc, họ đang chọc nhau giận, họ đang đánh nhau, họ đang giết nhau. Họ tranh nhau từng tấc đất. Người da trắng chống người da đen, người da đen chống người da trắng. Người miền Nam chống người miền Bắc, người miền Bắc chống người miền Nam. Người Do Thái chống người Ả Rập. 

Khi ngồi từ một điểm rất xa nhìn trở lại, mình thấy rất khác; thấy rằng chúng ta đang rất điên rồ, rất dại dột. Chúng ta có một hành tinh xinh đẹp như vậy, mầu nhiệm như vậy mà chúng ta đang làm cho nó tan nát. Một phi hành gia không gian khi trở về trái đất có nói rằng khi đi thì họ đi với tư cách của những nhà chuyên môn, và khi trở về, họ là những con người thật sự. Những người có trái tim của con người. Cần một chuyến đi như vậy mới thấy rõ được mình là ai, hành tinh của mình quý giá đến như thế nào, mới thấy được rằng chúng ta quá dại dột.

 Chúng ta ở gần, ở ngay sát đó, chúng ta ở trong đó mà chúng ta không biết đó là cái gì. Chúng ta không quý giá nó, chúng ta để cho mất đi. Sự sống quý giá như vậy, mỗi người chúng ta đều đang có sự sống. Nhưng chúng ta không trân quý sự sống của chúng ta. Chúng ta để cho ngày giờ qua đi một cách dại dột, rất là oan uổng. Chúng ta tiêu phí thời gian và sự sống như cách chúng ta đốt lấy những tờ một trăm đô la, hết tờ này tới tờ khác. Chúng ta làm khổ nhau. Chúng ta đi tìm những cái mà chúng ta cho là hạnh phúc. Trong khi đó chúng ta chất chứa khổ đau và tạo ra khổ đau cho nhau. Điều đó đang xảy ra bây giờ ở đây, ngay tại chỗ này. Nhưng chúng ta không thấy. Chúng ta cần phải đi rất xa, chúng ta phải đi vào địa ngục rồi nhìn lại thì chúng ta mới thấy thiên đường chính là nơi mình đã từng cư ngụ.

 Các phi hành gia nói rằng trăng sao rất đẹp nhưng lại cực kỳ lạnh lùng. Nó không chào đón mình. Chỉ có chỗ đó, chỉ có hành tinh nhỏ xíu đó, xanh xanh trắng trắng đó, mới là nhà của mình, mới chào đón mình. Chúng ta đang ở trong nhà của chúng ta, nhưng chúng ta không biết trân quý. Chúng ta không trân quý cái nhà của chúng ta, không trân quý thời gian mà chúng ta đang được ở nhà. Những bức hình mà các phi hành gia không gian gửi về cho mình là những tiếng chuông chánh niệm. Nhìn vào một bức hình như vậy thì cũng như nghe một tiếng chuông, mình phải thức dậy. Thức dậy để hiểu, để thấy và để thương. Chánh niệm là như vậy. Chánh niệm là để thức dậy, để thấy, để hiểu, để thương và để trân quý.

 Số các nhà phi hành gia không gian đi ra được ngoài kia có cơ hội nhìn lại trái đất chỉ mới chừng mấy trăm người, nhưng đó là anh em của chúng ta, đó là đại diện của chúng ta. Những người đó đi ra, nhìn và báo cáo cho chúng ta biết. Cũng như con mắt của chúng ta, chỉ có mấy chục gram thôi nhưng mà nó thấy và nó báo cáo lại cho toàn khối cơ thể mấy chục kilogram những gì nó thấy. Những người phi hành gia không gian đầu tiên bay ra khỏi quỹ đạo trái đất để đi lên mặt trăng biết rằng chuyến đi rất nguy hiểm. Có thể lên trên đó rồi và không bao giờ trở về nữa. Đôi khi phi thuyền mới lên tới thượng tầng không khí thì đã nổ, và người ta đã chết trên đó. Như vậy họ đi không phải cho chính họ, một mình họ, mà đi cho cả nhân loại. Nhân loại cần phải đi những bước tiến cho nên phải có những người hy sinh đi trước. Các phi hành gia không gian cũng có vợ con, và họ biết rằng cái hiểm nguy đang chờ đợi họ. Một phi hành gia khi được hỏi: “Hồi hôm anh có ngủ được không? Có ngủ không?” “Có, tôi có ngủ.” “Anh có uống thuốc ngủ không?” “Không, tôi không uống thuốc ngủ. Tôi ngủ nhưng gặp ác mộng rất khủng khiếp.” Anh biết rằng có thể ngày mai khi mình bước vào trong phi thuyền đó rồi mình sẽ đi hoài, sẽ không bao giờ về.

 Đó là con mắt của mình. Mình gửi ra ngoài không gian để nhìn cho mình. Và khi con mắt báo cáo về, mình có nghe không? Mình có thấy không?

 Chúng ta phải giáo dục con cái chúng ta như thế nào để chúng thấy được điều đó. Đó là giác ngộ. Thấy được sự quý giá của hành tinh này, thấy được cái quý giá của sự sống, thấy sự quý giá của cái cơ hội mình được sinh ra, lớn lên, đi và thở trong hành tinh này. Và thấy được rồi thì bước đi một bước là hạnh phúc, nói ra một lời là hạnh phúc. Bước đi đó có chánh niệm, có thương yêu. Mình động, mình chạm tới Đất Mẹ thì bước chân của mình đầy thương yêu. Mình nói một lời, lời nói đó có thương yêu. Nó thay đổi con người của mình. Vì sao nó thay đổi? Vì mình có được cái thấy. Ngày xưa Đức Thế Tôn cũng là một con mắt. Ngài không cần phải đi du hành ra ngoài không gian. Ngài chỉ ngồi dưới cây bồ đề nhưng với con mắt của tâm, Ngài đã thấy được và Ngài đã báo cáo. Ngài báo cáo cho mình biết là có một thế giới của tự do. Đó là niết bàn. Và có một con đường để đi tới tự do, đó là con đường Bát Chánh Đạo. Đức Thế Tôn là một con mắt. Ngày xưa có nhiều vị đệ tử đã xưng tán Ngài là con mắt của thế gian. Thì các nhà phi hành gia không gian đó, họ cũng đi theo con đường đó, họ cũng tình nguyện làm con mắt cho mình, nhìn cho mình. Và họ đã truyền cho mình cái thấy đó. Mình có thấy hay không?

 Nếu quý vị là cha mẹ, nếu quý vị là cô giáo, thầy giáo, là anh, là chị, quý vị phải có được cái thấy đó. Và quý vị phải truyền cái thấy đó cho các con của mình, các em của mình. Chúng ta phải thức dậy đi thôi. Nếu không thì quá trễ. Đạo Bụt được gọi là đạo tỉnh thức. Tỉnh thức nghĩa là như vậy. Biết bao nhiêu tiếng chuông đã gióng lên, biết bao nhiêu hình ảnh đã được gửi về, nhưng chúng ta vẫn còn sống trong mê ngủ. Chúng ta tiếp tục làm khổ nhau. Và chúng ta tiếp tục làm hư hoại cái tác phẩm có một không hai này của vũ trụ là trái đất.

 

(Trích từ bài pháp thoại Sư Ông giảng ngày 13/2/2011 tại chùa Từ Nghiêm, xóm Mới, Làng Mai trong mùa an cư kết đông)

 

 

 

 

Giọt sương giữa lòng đoá sen

Có lần, trong một buổi vấn đáp, một bé gái đã đặt ra câu hỏi này với Sư Ông: “Khi ai đó đang buồn, con nên làm gì để an ủi và giúp người ấy cảm thấy dễ chịu hơn?”

Bạn đoán thử xem Sư Ông đã trả lời như thế nào!

Umbala, và đây là điều mà Sư Ông đã chia sẻ với cháu bé: “Khi một người đang buồn thì điều đơn giản và dễ thương nhất mà con có thể làm là có mặt và thở cùng với họ. Con có thể nói: ‘Có con bên cạnh đây./Có em bên cạnh đây./Có tớ bên cạnh đây.’ Như vậy, con đang hiến tặng sự có mặt của mình, và đó là món quà quý giá nhất con có thể mang đến cho người khác.” (trích “Trong cái không có gì không?”)

 

 

Tôi còn nhớ câu chuyện sau đây mà tôi được học trong cuốn sách tập đọc hồi lên lớp bốn. Hình minh hoạ của câu chuyện là một cô bé cầm tay một cụ già lọm khọm. Hình ảnh và câu chuyện đó vẫn cứ sống mãi trong tôi cho tận đến ngày hôm nay.

“Lúc ấy, tôi đang đi trên phố. Một người ăn xin già lọm khọm đứng ngay trước mặt tôi.

Đôi mắt ông lão đỏ đọc và giàn giụa nước mắt. Đôi môi tái nhợt, áo quần tả tơi thảm hại… Chao ôi! Cảnh nghèo đói đã gặm nát con người đau khổ kia thành xấu xí biết nhường nào!

Ông già chìa trước mặt tôi bàn tay sưng húp, bẩn thỉu. Ông rên rỉ cầu xin cứu giúp.

Tôi lục tìm hết túi nọ túi kia, không có tiền, không có đồng hồ, không có cả một chiếc khăn tay. Trên người tôi chẳng có tài sản gì.

Người ăn xin vẫn đợi tôi. Tay vẫn chìa ra, run lẩy bẩy.

Tôi chẳng biết làm cách nào. Tôi nắm chặt lấy bàn tay run rẩy kia:

– Ông đừng giận cháu, cháu không có gì để cho ông cả.

Người ăn xin nhìn tôi chằm chằm bằng đôi mắt ướt đẫm. Đôi môi tái nhợt nở nụ cười và tay ông cũng siết lấy tay tôi:

– Cháu ơi, cảm ơn cháu! Như vậy là cháu đã cho lão rồi. – Ông lão nói bằng giọng khản đặc.

Khi ấy, tôi chợt hiểu rằng: cả tôi nữa, tôi cũng vừa nhận được chút gì của ông lão.”

(“Người ăn xin”, S. Turgenev)

 

Đâu đó chúng ta bắt gặp điểm chung giữa câu chuyện của Turgenev và lời dạy của Sư Ông. Đôi khi chúng ta cảm thấy mình không có cách nào giúp người khác và cảm thấy bất lực, thế nhưng có một món quà vô giá mà lúc nào chúng ta cũng có thể hiến tặng, đó là sự có mặt đích thực và sự cảm thông của mình.

Khi nghĩ đến tình thương, đến lòng từ bi, tôi vẫn thường nghĩ đến những đứa trẻ. Và ở những đứa trẻ, chúng ta cũng thường dễ nhận thấy những sự biểu hiện tình thương một cách ngây thơ, thành thật và bằng tất cả sự có mặt trọn vẹn. 

Ở đây, mỗi mùa hè chúng tôi đón rất nhiều thiếu nhi về Làng. Thiếu nhi đến từ khắp các quốc gia trên thế giới, năm châu bốn bể, không phân biệt màu da, ngôn ngữ, tôn giáo. Các em chơi với nhau rất vui. Các em hoà vào chung trong dòng chảy năng lượng tâm linh của đại chúng, một đại chúng lớn cả mấy trăm người. Các em cũng ngồi nghe nhạc tụng Bồ tát Quán Thế Âm. Các em giúp quý thầy quý sư cô quét nhà, xếp dọn thiền đường, rửa cà chua, nhặt hành. Nhưng có lẽ điều quý nhất là các em có thể chia sẻ những điều trong lòng với bố mẹ, làm mới với bố mẹ, thiền ôm với bố mẹ. Các em được hướng dẫn để trở về tiếp xúc với giá trị tâm linh, hạt giống tình thương trong lòng các em được tưới tẩm. 

Bởi khi dòng chảy của xã hội cuốn con người vào vòng xoáy của vật chất hoá thì khi đó trong thẳm sâu, nhu yếu được quay trở về với giá trị tinh thần lại càng réo gọi con người hơn bao giờ hết. Đó là nơi mà người ta gọi bằng hai chữ rất đơn sơ: Tình Thương. “Nơi lạnh giá nhất không phải là Bắc Cực mà là nơi thiếu vắng tình thương.”

Sư Ông từng nói mỗi lần thấy đông thiếu nhi về Làng tu tập, Sư Ông rất vui. Các em là những mảnh đất rất mỡ mầu mà bao nhiêu hạt giống đẹp, lành thiện có thể được gieo trồng, tưới tẩm để nó được biểu hiện thành những bông hoa đẹp cho vườn hoa cuộc đời. Các em là hy vọng của ngày mai. Một thế giới có nhiều tình thương, nhiều từ bi hơn, nhiều thấu hiểu, nhiều bao dung hơn. Đó chính là nhờ vào công phu gieo trồng chăm bón của chúng ta hôm nay. 

 

 

Một vị phụ huynh đã đặt ra câu hỏi này: “Con phải dạy con cái như thế nào để chúng sống chánh niệm, từ bi hơn?”

Chúng ta hãy thử lắng nghe câu trả lời của Sư Ông: “Nếu cha mẹ thực tập chánh niệm và từ bi trong đời sống hằng ngày thì các con đương nhiên sẽ sống theo gương cha mẹ. Không thể bắt con cái làm một điều gì mà chính mình không làm được. Khi tôi đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm thì các đệ tử của tôi sẽ theo gương tôi mà đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm. Đôi khi cũng cần nhắc nhở con cái một cách nhẹ nhàng, nhưng trẻ em theo gương người lớn là chuyện tự nhiên. Thỉnh thoảng cha mẹ cũng nên bàn luận với con cái về chánh niệm và từ bi, khuyến khích con cái thực tập chánh niệm và từ bi.

Bằng ái ngữ, ta có thể tưới tẩm những hạt giống chánh niệm và từ bi trong con cái và ta phải làm gương cho chúng. Ta không cần lo lắng hay trừng phạt. Chỉ cần sử dụng ái ngữ và tự mình thực tập thì con cái sẽ thấy và làm theo.” (trích “Hỏi đáp từ trái tim”)

Những đứa trẻ là tấm gương phản chiếu của người lớn. Mọi thứ đều có gốc rễ và nguyên do của nó. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh các em nhỏ đắm chìm trong màn hình của một thiết bị điện tử như điện thoại hoặc ipad hàng giờ liền ở khắp nơi. Nhưng cũng có những em thanh thiếu niên dù đang ở trên ghế học đường nhưng cũng đã có ý thức rất cao về những vấn đề lớn của xã hội như môi trường, công bằng xã hội, giữ gìn văn hoá truyền thống, v.v. Và mọi thứ đều theo quy luật vô thường, nghĩa là luôn luôn trong những chu trình biến đổi. Nên chúng ta có quyền hy vọng vào những gì đẹp đẽ, tươi sáng mà những thế hệ tiếp nối mang tới miễn là chúng ta cũng đang ý thức được vai trò của mình trong việc gieo mầm và gìn giữ, bảo hộ những hạt giống đẹp đẽ ấy để chúng được đơm hoa, kết trái ngọt lành.

 

 

Ở Làng, chúng tôi thường dạy các em thiếu nhi học bài hát “Hai lời hứa”. Xin kết thúc bài viết này với những lời hát đơn sơ, mộc mạc ấy để chúng ta cùng tưới tẩm, nuôi dưỡng trở lại hạt giống bé thơ trong lòng mình, em bé đầy thương yêu, đầy thấu cảm với sự sống. Để em bé của ta sẽ tiếp xúc và kết nối được với những em bé chung quanh ta. Tình thương yêu trong lòng mỗi bé thơ hiện diện giữa sự sống như một giọt sương mai. Một giọt sương mai giữa lòng đoá sen, lấp lánh, tinh khiết, phản chiếu đẹp đẽ sự sống nhiệm mầu! Hãy cùng trân trọng để giọt sương ấy được biểu hiện tròn đầy như chính sứ mệnh của nó giữa lòng bao la vũ trụ…

“Con xin hứa mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài… um… à… um… à… um… à… 

Con xin hứa mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và sống chung với mọi người và mọi loài… um… à… um… à… um… à…”

 






 

Khoá tu Tiếng Pháp 2026

Khoá tu tiếng Pháp đã diễn ra từ ngày 3 đến ngày 10 tháng 04 năm 2026. Có khoảng 110 người nói tiếng Pháp đã về dự khóa tu, trong đó có một số ít người trẻ gốc Việt, thế hệ thứ 2 sinh ra ở Pháp.

Khóa tu năm nay được thời tiết yểm trợ. Suốt cả tuần, trời xanh mây trắng, gió mát, nắng ấm, cỏ hoa mùa xuân nở rộ hiến tặng sự có mặt đồng đều cho tất cả mọi người.

Năm nay vì khóa tu chỉ diễn ra tại xóm Mới nên trong suốt một tuần, thiền sinh không cần di chuyển, chỉ ở một nơi nên năng lượng rất tập trung. Rất nhiều tiếng cười và cũng nhiều giọt nước mắt đã rơi trong hạnh phúc, vì được tỏ bày những tâm tư sâu lắng, được thấu hiểu và lắng nghe, vì cảm thấy mình “đã về, đã tới”, đã tìm được một ngôi nhà đích thực để nương tựa – hải đảo tự thân.

Mọi người đã cùng nhau chế tác một năng lượng tu tập tươi vui, hùng hậu với rất nhiều chuyển hóa. Đại chúng trong đó có các bạn tình nguyện viên và toàn thể thiền sinh đều hoan hỷ. Tin chắc rằng tổ tiên đất đai ở đây cũng rất là hoan hỷ.

Kính mời mọi người cùng thưởng thức vài hình ảnh của khoá tu.

Trân kính.

Chị không khác gì em: Chân dung sư cô Chân Không

Tên của Sư cô lúc chưa xuất gia là Phượng. 

Sư cô cùng Thầy thành lập Làng Mai năm 1982. Làng Mai trở thành một nơi chúng ta thấy hôm nay từ tầm nhìn và tâm thức của Thầy một phần lớn nhờ sự yểm trợ bền bỉ và những sáng kiến không bao giờ cạn của Sư cô. Nếu ta biết ơn những nhân duyên đã giúp ta tiếp xúc được với những lời dạy của Thầy chừng nào thì ta cũng có ngần ấy sự tri ân đối với những công đức của Sư cô. Hai cái đó như chỉ là một hơi thở vậy.

Năm 1984, tôi gặp Thầy và chị Phượng lần đầu tiên tại một khóa thiền tập cuối tuần tại Amsterdam. Buổi tối có một chương trình đặc biệt về âm nhạc Việt Nam. Giữa chừng, đột nhiên tiếng nhạc dừng lại và chị Phượng bắt đầu hát. Giọng hát của chị làm tôi rất xúc động. Tôi chưa bao giờ nghe ai hát như vậy. Giọng hát của chị làm trái tim tôi mở rộng và tôi cứ khóc mà không dừng lại được, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình nữa.

Mùa hè đầu tiên khi tôi đến Làng Mai, chị Phượng chưa là một sư cô. Mọi người chỉ gọi chị là “Phượng”. Chị có mái tóc đen dài rất đẹp, và chị thường quấn tóc thành một búi rồi xỏ ngang bằng một cây bút. 

Trong những ngày này, các thiền sinh Tây phương (với số lượng không nhiều) đến Làng Mai đã được chị đón tiếp rất thân tình và làm đủ cách để chúng tôi cảm thấy như đây là nhà của mình. Lúc đó chị là người duy nhất có thể thông dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Khi Thầy cho pháp thoại, hoặc có một sự kiện gì đó bằng tiếng Việt, chị luôn ngồi cạnh chúng tôi và thông dịch từ giờ này qua giờ khác mà không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Chị Phượng có một phong cách thông dịch rất biểu cảm. Thậm chí sau khi thông dịch mấy giờ liền, giọng chị vẫn hào hứng và thú vị như lúc chị mới bắt đầu.

 

Thiền ca với các bạn thiền sinh , chị Phượng ngồi phía sau – 1986

 

Ba năm sau đó, tôi đến lưu trú tại Làng Mai và hầu như là người duy nhất cần được thông dịch trong mùa đông khi Thầy cho pháp thoại và vào cuối các bữa ăn. Chúng tôi có khoảng 10 người, và sau bữa ăn tối, trong khi mọi người uống trà hết ly này đến ly khác thì luôn luôn sẽ có những cuộc trò chuyện bằng tiếng Việt. Thường thường, những lúc như vậy, tôi cảm thấy mình bị đứng ngoài lề. Nhưng nếu chị Phượng có mặt thì chị luôn đến ngồi cạnh tôi, và vừa tham gia một cách hào hứng vào câu chuyện, chị vừa thông dịch cho tôi. Tôi rất thưởng thức những giây phút ấy với chị. Khoảng 2 năm trước, tôi để ý thấy chị có một thói quen mới là trong khi thông dịch, bàn tay chị bắt ấn. Khi tôi hỏi lý do, chị nói là làm như vậy chị sẽ nhớ giữ chánh niệm trong khi thông dịch.

Chị cũng làm lớn mạnh niềm tin trong tôi rằng bất cứ vấn đề gì cũng có cách giải quyết. Một mùa đông nọ, tôi nhận cắm hoa trang trí cho một buổi thiền trà ở Xóm Hạ. Tôi tìm khắp nơi nhưng không thấy một bông hoa nào cả. Khi tất cả mọi người đã yên vị trong thiền đường, chị Phượng vừa định bước vào thì tay cầm cái bình không, tôi chạy đến nói với chị một cách kém vui là tôi không thể giữ lời hứa trang trí cho thiền trà được. Tôi chưa kịp dứt lời thì chị đã bứt một vài búi cỏ, nhặt một nắm sỏi trên lối đi mà chúng tôi đang đứng, thêm một cành khô trên mặt đất gần bên rồi đem tất cả vào để ở chính giữa vòng tròn, cắm cành khô vào nữa. Thế là, hấp, tác phẩm của chị đã hoàn thành, mọi người có thể bắt đầu buổi thiền trà. Vừa bước vào thiền đường, chị vừa nháy mắt với tôi: “Thiên nhiên thuần túy.”

Nhiều năm trôi qua, càng ngày càng có nhiều người đến Làng Mai và vì vậy cần tạo thêm cư xá cho khách. Một trong những chỗ được chọn để biến thành cư xá là gác xép ở phía trên phòng tôi đang ở. Dọn dẹp ở trên đó là cả một công trình: mạng nhện giăng từ sàn tới nóc và bụi bặm lưu cữu không biết bao nhiêu đời ở khắp nơi. Sau vài phút dọn dẹp, nhìn tôi y như một thợ mỏ. Sau nhiều giờ cật lực lau, quét dọn, tôi thấy mình chẳng làm được bao nhiêu. Một buổi chiều kia, sau mấy ngày tôi đơn độc làm việc trong cái gác xép ảm đạm đó, chị Phượng đột nhiên xuất hiện, cùng làm với tôi một cách rất hăng hái. Tôi rất hoan hỷ được chị giúp và đón nhận sự nhiệt tình của chị, nhưng tôi cũng thấy hơi ngượng vì chị đến lau sàn nhà với tôi trong khi chị có cả ngàn việc khác phải làm, những việc mà không ai có thể làm thay chị được. Dù bao nhiêu lần tôi nói chị nên đi làm những việc khác, chị vẫn không nghe và tiếp tục làm với tôi cho đến khi mọi việc hoàn thành. Chị không bao giờ thấy có cái gì mà chị không làm được.

Vì người không mệt mỏi

Năng lượng không bao giờ cạn của chị thường làm tôi kinh ngạc. Nếu có việc gì cần hoàn tất, chị cứ làm cho đến khi nó được làm xong, có khi đến quá nửa đêm, không ăn uống và thường là làm một mình. Khi cần gửi các gói thuốc về Việt Nam, chị ngồi hàng giờ trên sàn nhà, viết địa chỉ và thư động viên cho từng gia đình. Những người khác tới giúp chị và sau khi họ ra về, chị tiếp tục làm. Chưa bao giờ tôi thấy bất cứ một dấu hiệu tủi thân nào nơi chị. 

Làm việc nhiều như thế nhưng tôi chưa bao giờ nghe chị phàn nàn là chị quá bận rộn. Tôi cũng chưa bao giờ nghe chị than lạnh, dù mùa đông ở Làng mà sống trong các phòng đơn sơ như vậy, người ta có đủ lý do để phàn nàn. Đầu mùa thu tôi đã phải mang đến hai đôi vớ, trong khi đó tôi thấy chị đi chân trần. Tên Chân Không cũng có nghĩa là chân trần. Chưa bao giờ chị lưu tâm đến tiện nghi của bản thân mình.

Khi nói tới tình trạng ở Việt Nam là chị luôn luôn hết mình tham gia. Nhiều năm trước, trong một buổi thiền trà, chị kể chúng tôi nghe chị vừa nhận tin từ Việt Nam là một số văn nghệ sĩ vừa bị cầm tù. Vừa kể chị vừa khóc một cách không giấu giếm làm tôi rất xúc động. Trong khi tôi khổ vì nỗi đau của chính mình, tôi thấy chị khổ vì nỗi đau của những người khác. Ngoài những lúc như vậy, tôi thường nghe tiếng cười giòn của chị vì chị rất dễ dàng thấy được khía cạnh hài hước của một vấn đề. 

Lần nọ, một nhóm nhỏ chư tôn đức người Việt từ Hoa Kỳ tới thăm Làng Mai. Sáng hôm quý ngài rời đi, khoảng 12 người chúng tôi được triệu tập tới thiền đường. Chúng tôi ngồi thành vòng tròn và Thầy nói bằng tiếng Việt. Chúng tôi vừa có một lệ mới là hễ có ai rời Làng thì một vị thường trú sẽ đại diện dân Làng làm thiền ôm với người đó trong buổi họp chúng.

Sáng hôm đó, Thầy bảo một sư cô ra đứng giữa vòng tròn để đại diện chia tay với một vị tôn túc (mà tôi đoán là một vị trụ trì). Thầy giải thích cho vị ấy về thiền ôm. Chắc chắn vị đó chưa bao giờ biết cách thiền trong hình thức đó. Và chắc chắn là không bao giờ với một sư cô. Những ai biết rõ về truyền thống thì mới hiểu rằng điều Thầy làm lúc ấy là vô cùng cách mạng. Hai người đứng đối diện nhau. Sau khi đưa mắt nhìn nhau một cách lúng túng, hai vị cúi chào nhau rất cung kính. Và điều không tránh khỏi đã xảy ra: đầu của hai người va vào nhau cái cốp. Tất cả mọi người phải cố gắng nhịn cười một cách khổ sở. Cũng như tất cả chúng tôi, Sư cô Chân Không ngồi rất lâu với khuôn mặt méo xệch mà dù cố gắng thế nào cũng không thể đưa trở lại biểu cảm bình thường.

Mặc dù có vô số việc liên tục đòi hỏi sự chú ý của Sư cô, Sư cô vẫn luôn để mắt đến chúng tôi, xem chúng tôi đang ra sao. Và nếu Sư cô cảm thấy có điều gì đó không ổn nơi một người trong chúng tôi, Sư cô sẽ hỏi ngay lập tức. Khi có bất cứ chuyện gì cần trao đổi, Sư cô luôn đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề.

Khi tôi muốn kể với Sư cô điều gì, thường thì Sư cô đã nắm được ý chính từ rất lâu trước khi tôi nói xong. Sư cô lắng nghe rất chăm chú và không phán xét. Mỗi khi nói chuyện với Sư cô, tôi luôn cảm thấy có rất nhiều không gian. Tuy vậy, qua trải nghiệm, tôi cũng biết rằng cách giao tiếp của Sư cô có những “nguyên tắc” riêng, và đôi khi điều đó khiến tôi khá khó khăn.

Điều khó chấp nhận nhất là cách Sư cô đột ngột chấm dứt một cuộc trò chuyện — hoàn toàn bất ngờ, ngay giữa câu chuyện, giữa một câu nói. Từ khi hiểu rằng khoảnh khắc ấy có thể đến bất cứ lúc nào, tôi học cách nói ngay điều mình muốn chia sẻ, nếu không thì Sư cô sẽ rời đi khi tôi chưa kịp nói điều mình định nói. Và như vậy thì thật là đáng tiếc, vì Sư cô rất bận, bạn sẽ không bao giờ biết khi nào mới có cơ hội nói chuyện với Sư cô lần tới.

Sư cô cũng có thể đột ngột cắt ngang một cuộc trò chuyện qua điện thoại. Đã hơn một lần, khi tôi đang nói dở giữa câu, bỗng nhiên tôi nghe “bíp, bíp, bíp” bên tai — Sư cô đã cúp điện thoại. Ban đầu tôi cảm thấy rất tổn thương, nhưng theo thời gian, tôi học chấp nhận Sư cô là như vậy, cũng như chấp nhận nhiều khía cạnh khác của Sư cô.

Theo như tôi quan sát, giữa Thầy và chị Phượng luôn luôn có sự hòa hợp và không căng thẳng. Tuy nhiên, có một lần, vào cuối bữa ăn chiều, Thầy bất ngờ nói với chị Phượng bằng một giọng rất nghiêm khắc: “Con ăn cho xong đi.” Vì đó là một giọng rất khác so với cách Thầy thường nói với chị Phượng cho nên tôi không bao giờ quên được. Trên đĩa của chị Phượng còn sót lại một vài hạt cơm (khoảng 8 hay 12 hạt), Thầy nói tiếp là rất nhiều người hiện đang bị đói. Tôi rất ngạc nhiên thấy chị Phượng có vẻ ân hận. Chị không nói hay biện hộ gì mà bắt đầu vét hết những hạt cơm trên đĩa.

Xuất gia

Năm đầu tiên khi tôi ở Làng, Thầy là vị xuất gia duy nhất. Nhưng sau chuyến đi Ấn độ năm 1988, chị Phượng, chị Annabel và Sư cô Chân Vị (chị Thanh Minh) trở về Làng trong hình tướng xuất gia. Sự thay đổi đột ngột này là một cú sốc lớn cho tôi. Có lẽ Thầy cảm được điều đó nên sau khi trở về không lâu, có lần Thầy bảo tôi sờ đầu chị Phượng xem tôi có cảm tưởng như thế nào khi đầu không có tóc. Trong khi tôi thận trọng sờ đầu chị, chị cười vui vẻ và thân thiết ôm tôi trong hai tay, chị nói: “Chị đâu có khác em chút nào, ngay cả khi chị mặc đồ khác và cạo sạch mái tóc. Không có sự khác biệt nào giữa chị em mình hết.”

 

Nguồn: Robert Harrison

 

Tôi thấy có gì đó đã thay đổi nơi chị Phượng, tôi thấy sự thực tập đã trở thành ưu tiên hàng đầu của chị và chị đã phát nguyện để sống chánh niệm bằng hết khả năng của chị. Thí dụ tôi quan sát thấy giữa một cuộc nói chuyện càng lúc càng ồn ào, chị trở nên yên lặng hơn; hoặc khi đang làm cái gì đó rất nhanh, tự dưng chị làm chậm lại. Vì tôi chứng kiến sự thay đổi nơi chị, rất tự nhiên, tôi bắt đầu gọi chị là Sư cô.

Có lần chị chia sẻ với tôi là chị muốn cẩn thận để không trở nên tự hào vì bây giờ chị là một sư cô. Chị giải thích rằng chuyện này rất dễ xảy ra vì người Việt thường có truyền thống trọng tăng.

Trong suốt thời gian tôi tiếp xúc với Sư cô Chân Không, tôi thấy Sư cô là một người đa năng. Theo Sư cô thì Sư cô không có nhiều năng lượng so với 10 năm trước. Nhưng khi tôi thấy Sư cô làm việc nhiều như thế mà không có vẻ gì phải gắng sức, tôi thật sự rất cảm phục. Nhiều năm trước, trong một khóa tu tại một tu viện Tây Tạng ở Pháp, Thầy bị bệnh. Từ phút đó trở đi, Sư cô Chân Không chăm sóc mọi mặt liên quan đến khóa tu, kể cả cho pháp thoại. Sư cô nấu ăn ngày hai bữa cho Thầy và cho 3 người dân làng thường trú, đi theo để làm chương trình trẻ em. Thời gian còn lại, Sư cô có mặt cho thiền sinh khi họ cần tham vấn. Và nếu chương trình trẻ em xảy ra không suôn sẻ, Sư cô cũng có mặt để hỗ trợ. Sư cô là người cuối cùng đi ngủ và là người thức dậy đầu tiên mà vẫn giữ được tinh thần tươi mới.

 

Sư cô Chân Không và Sư cô Chân Đức – 2026

 

Tôi thường tự hỏi nguồn năng lượng dồi dào của Sư cô đến từ đâu. Tôi cho rằng một phần là vì Sư cô thật sự sống trong giây phút hiện tại; từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, Sư cô tiếp xúc và xử lý những gì đang phát sinh, và không đánh mất năng lượng vào việc lo lắng về những gì sẽ đến. Với tôi, đó là biểu hiện của một niềm tin rất sâu sắc. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả là lòng từ bi của Sư cô. Khi xuất gia, Sư cô đã được Thầy trao cho pháp danh Chân Không. “Hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi”, “nỗi khổ của bạn là nỗi khổ của tôi” thực sự là điều Sư cô đang sống. Thấy được cái vô ngã trong cái ngã không phải là một lý thuyết mà chính là nền tảng của tự thân Sư cô.

Dịch từ nguyên bản tiếng Anh I am not different from you của  Eveline Beumkes – đăng trên Mindfulness Bell, tháng 6 năm 2002tháng 10 năm 2012

Eveline Beumkes, Chân Hòa, là một vị giáo thọ cư sĩ  được Sư Ông truyền đăng năm 1994. Cô sống thường trú tại Làng Mai từ 1988 đến 1991. Cô giúp tổ chức và hướng dẫn tu tập cho tăng thân cư sĩ tại Amsterdam và dịch nhiều quyển sách của Sư Ông ra tiếng Hà Lan. 
(Ảnh: https://mindfulcommuniceren.nl/eveline-beumkes/)