Mùa an cư năm nay (17.9.2020-15.12.2020), đại chúng đã có cơ hội nhìn sâu vào chủ đề “không phân biệt” dưới góc nhìn tâm phân biệt biểu hiện nơi cá nhân mình và sự biểu hiện của nó trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội để tìm cách làm lớn mạnh hạt giống không phân biệt trong mỗi người chúng ta. Chân Đức xin chia sẻ dưới đây một chút những gì mình đã học hỏi được.
Trong bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, thầy có nhắc đến cuộc thí nghiệm do một cô giáo người Mỹ thực hiện trong lớp học với học sinh người da trắng thuộc các gia đình trung lưu. Cô giáo đã chia lớp học ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các em mắt xanh, và nhóm thứ hai gồm các em mắt nâu. Trước tiên cô bảo các học sinh mắt xanh rằng vì có mắt xanh nên các em thông minh, và bảo các em học sinh mắt nâu là vì mắt nâu nên các em không thông minh. Khi Chân Đức nghe nói về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức nghĩ thầm: “Một nhà giáo sao lại có thể làm như vậy?”. Cô giáo cũng có nói rằng cô cảm thấy không thoải mái chút nào trong suốt cuộc thí nghiệm, nhưng cô nghĩ rằng nó rất đáng công để thử. Các em học sinh sẽ có thể học được một bài học thực tế từ đời sống thật.
Sau khi các em học sinh mắt xanh nghe nói tính thông minh có thể được căn cứ theo màu mắt,sự tự tin của các em gia tăng và các em học khá hẳn lên. Trong khi đó, các em học sinh mắt nâu mất hết tự tin và học kém đi. Ngày hôm sau, cô giáo lại nói với các em điều ngược lại làm sự tự tin của các em học sinh mắt nâu tăng lên, và các em mắt xanh thì mất hết tự tin. Cuối cùng, cô cho cả lớp biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm. Sau đó, cả lớp đều học khá hẳn lên vì các em đều nhận ra rằng khả năng học tốt là một khả năng bẩm sinh, có sẵn trong mỗi cá nhân. Một điều quan trọng khác nữa mà các em học được là không nên kỳ thị người khác vì vẻ ngoài của họ.
Cô giáo theo dõi học sinh trong lớp cho đến khi các em trưởng thành. Sau khi các em đã ra đời đi làm, các thành viên trong lớp vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm về sự thực tập không kỳ thị theo cách thức mà người da trắng tầng lớp trung lưu thường không làm.
Sau khi nghe chia sẻ về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức có dịp nhìn vào tâm phân biệt của chính mình và tự hỏi: “Mình có đánh giá người khác dựa vào bề ngoài của họ không?”. Chân Đức bắt đầu thấy mình phân biệt như thế nào khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Khi thấy một sư cô hay một thầy mà Chân Đức có ấn tượng tốt, trong lòng Chân Đức ghi nhận “mình thích người này”, trong trường hợp ngược lại thì “mình không thích người này”. Chân Đức không thấy người ấy trong hiện tại như chính họ. Đây là một tập khí sâu dày mà Chân Đức có thể sửa đổi bằng cách dùng chánh niệm quán chiếu về cảm thọ và tri giác. Trong những buổi pháp đàm sau bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, quý thầy, quý sư cô và nhiều vị thiền sinh đến từ các quốc gia khác nhau đã chia sẻ về tâm phân biệt biểu hiện dưới kinh nghiệm cá nhân của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc. Thí dụ như ở Việt Nam, người miền Nam phân biệt người miền Bắc; tại Guatemala, người gốc Latinh phân biệt người bản địa.
Trong một đoạn video ngắn do thầy Pháp Linh chia sẻ, chúng ta nhận thấy trẻ con có thể kỳ thị chính mình dựa trên vẻ bề ngoài. Mộtembédamàucóthểnóirằngconbúpbê da màu là không đẹp, con búp bê da trắng mới đẹp. Người ta có thể mất tự tin vì những thông điệp nhận được từ xung quanh. Một sư cô sang Úc tị nạn nói với Chân Đức rằng trở ngại lớn nhất của sư cô là mặc cảm sâu dày mình là một người tị nạn. Sư cô đã nhận ra việc chuyển hóa mặc cảm tự ti ấy có ý nghĩa đến mức nào. Chân Đức cũng nhận ra rằng việc làm người khác tự tin hơn quan trọng đến thế nào. Có những người vì vẻ bên ngoài hay vị trí xã hội (thí dụ người tị nạn) bằng cách này hay cách khác đã nhận được thông điệp rằng họ là thấp kém. Họ đã nhận thông điệp ấy từ khi còn thơ ấu, hay có khi trước đó nữa, do tổ tiên trao truyền lại. Bởi vì tổ tiên của họ có thể cũng đã nhận cùng một thông điệp ấy.
Thầy Pháp Linh cũng chia sẻ một đoạn video với một thí nghiệm khác được tiến hành ở Ba Lan. Ở đó, người tị nạn từ Trung Đông, Syria được sắp xếp thành cặp với người Ba Lan. Một người Ba Lan bản xứ ngồi đối diện với một người tị nạn, và họ chỉ ngồi nhìn vào mắt nhau, không nói năng hoặc suy nghĩ gì cả. Đã có một sự cảm thông vượt thoát ngôn từ được thiết lập giữa hai người, một sự thấu hiểu lẫn nhau vượt lên trên giới hạn của kiến thức và tâm phân biệt. Chúng ta học từ Bồ tát Quán Thế Âm cách nhìn bằng con mắt từ bi, và đây là khả năng mà tất cả loài người chúng ta đều có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tập luyện qua những tương tác hàng ngày, để có thể nhận ra khi nào chúng ta đang không nhìn bằng mắt thương.
Chân Đức cũng có dịp lắng nghe vài cô thiền sinh da đen, thành viên của tăng thân, qua Zoom. Nhóm có bốn người, hai người da trắng và hai người Mỹ da đen. Sau một lần họp mặt, Chân Đức mời một thầy người Tây phương hướng dẫn lần gặp kế tiếp vì nghĩ rằng thầy làm khá tốt. Thầy ấy từ chối và bảo rằng tại sao chúng ta không mời một người khác? Vì thế Chân Đức đã mời một cô người da đen và thấy cô đã hạnh phúc như thế nào khi được mời làm chủ tọa buổi lắng nghe sâu sau đó.
Năm 2016, khi Chân Đức đến Hội Chủng viện Thần học ở New York đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp, tại đó có lễ khánh thành một phân khoa mới với ba giảng viên là người da đen. Chúng tôi được cho biết là Hội dự định sẽ có 50% người da màu trong phân khoa. Ở đây, người ta muốn gửi đi một thông điệp mới thay thế cho thông điệp cũ mà mọi người đã tiếp nhận từ lâu nay là một người da đen không học giỏi bằng một người da trắng. Chúng ta có thể cho rằng hướng đi này là phù hợp với đạo đức. Nó không phải là việc sửa sai quá khứ mà hơn thế nữa, nó cung cấp cho xã hội một cái nhìn mới.
Một số thành viên tăng thân người da đen và da màu đặt câu hỏi là tăng thân của chúng ta góp phần như thế nào trong thông điệp này? Ai trong chúng ta cũng muốn đem giáo pháp chia sẻ cho đồng bào của mình. Các thầy, các sư cô người Việt muốn đem pháp môn Làng Mai về chia sẻ ở Việt Nam; các thầy, các sư cô người Trung hoa muốn đem pháp môn Làng Mai về Trung quốc, vậy thì lẽ đương nhiên người Mỹ da đen cũng muốn chia sẻ pháp môn với đồng bào người Mỹ da đen của họ. Ở Baltimore, tăng thân người da màu đã sở hữu được một nhà thờ cũ, đủ rộng rãi cho vài trăm người, biến nó thành một nơi mà người da đen và người da màu có thể đến với nhau như một tăng thân, cùng chia sẻ và tham gia các sinh hoạt văn hóa. Họ nói rằng các pháp môn cần được chia sẻ trong một bối cảnh hoàn toàn không mang tính tôn giáo.
Ngôn ngữ sử dụng để chia sẻ giáo pháp phải phù hợp với người tiếp nhận. Do đó, khi giới thiệu sự thực tập cho người da màu, tiếng Mỹ được sử dụng có thể sẽ rất khác với tiếng Mỹ dùng giới thiệu pháp môn cho người da trắng, là nhóm của đa số. Người sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất cho người da màu chính là người da màu. Giáo pháp luôn luôn nhu nhuyến như thế. Cũng như ở Việt Nam, giáo pháp đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa Việt thời trước đạo Bụt, như bàn thờ Tổ tiên chẳng hạn. Ở Tây Tạng và Nhật, đạo Bụt cũng tiếp thu văn hóa của các nước này. Ở Tây phương đạo Bụt cũng cần phải như vậy. Có nghĩa là người Mỹ da đen, người Mỹ bản xứ… cần một đạo Bụt thấm nhuần văn hóa Mỹ. Bạn có thể thắc mắc là: chúng ta không thể chỉ có một đạo Bụt Bắc Mỹ duy nhất cho tất cả mọi người tới từ bất cứ nguồn gốc nào hay sao? Không ai muốn có sự chia rẽ, càng có nhiều điểm chung càng tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn cần chăm sóc những nhu cầu riêng của mình. Nhưng nếu thực sự muốn làm lớn lên tâm không phân biệt của mình, chúng ta cần chăm sóc những nhu cầu riêng này trong tinh thần tương tức “hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi, và khổ đau của bạn cũng là khổ đau của chính tôi”.
Chúng ta công nhận nhu cầu của người Mỹ da đen trong việc phát triển một ngôn ngữ mà họ thấy phù hợp cho chính đồng bào của họ. Thế nhưng sau cùng, chúng ta cũng vẫn cần đến với nhau. Thí dụ như trường hợp những khóa tu cho nhiều lứa tuổi đã được tổ chức. Chúng ta cần phong trào Wake Up của người trẻ bởi vì những người trẻ có những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều đó không ngăn ta tổ chức các khóa tu cho mọi lứa tuổi để tất cả mọi người có thể cùng chia sẻ kinh nghiệm và sự thực tập với nhau. Ai thực tập niệm, định, tuệ cũng sẽ có sự giác ngộ. Sự giác ngộ ấy vượt thoát màu da, chủng tộc và, một cách rất tự nhiên, sẽ mang mọi người đến với nhau.
Trong bài pháp thoại về lập trường đạo đức kiên định (moral courage), sư cô Lăng Nghiêm chia sẻ về khuynh hướng thủ thế tiềm ẩn trong ta, về bản năng bảo tồn bản sắc nằm sâu trong mỗi chúng ta. Thật khó để chúng ta đôi khi nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác nếu như ta không có tuệ giác tương tức. Lập trường đạo đức kiên định là khả năng buông bỏ tự tánh riêng biệt của ta. Sư cô Giác Nghiêm cũng nói về ao ước nguyên thủy và cái sợ nguyên thủy làm ta không có khả năng hiểu và chấp nhận người khác.
Sư cô Thuận Nghiêm nói về việc ta sinh ra trong những đặc quyền hoặc trong sự thua thiệt như thế nào. Tương lai của một em bé sơ sinh da trắng trên phương diện giáo dục, vị trí xã hội, chămsócytếhơnhẳnsovớinhữnggìmàmột em bé sơ sinh da đen sinh ra trong cùng một thời điểm tại nước Mỹ nhận được.
Trong khóa an cư năm nay, Chân Đức có ý thức hơn về những khổ đau do sự phân biệt chủng tộc gây ra trong thời đại của chúng ta. Chân Đức bắt đầu thấy, trong tư cách là một người thực tập, mình có thể làm gì để gửi một thông điệp khác ra thế giới. Chân Đức có thể có chánh niệm hơn về tâm phân biệt của mình. Đôi khi sự phân biệt cần thiết và hữu ích, nhưng có lúc nó lại dẫn đến những tri giác sai lầm và khổ đau. Trong một buổi vấn đáp, thầy Pháp Biểu có nói rằng ngôn ngữ tự nó đã có tính phân biệt. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ để phân biệt ta nên để ý một chút. Thí dụ như khi nói: “Các sư cô là như thế này…” hay “Các thầy là như thế kia…”, có thể sẽ có một ít sự thật trong câu nói mang tính khái quát hóa đó. Nhưng chúng ta đừng nên bị kẹt và nên biết là ta đang nói một câu có tính cách phân biệt. Ta cũng hay nói những câu như “các thầy, các sư cô người Việt” trong nghĩa đối đãi với “các thầy, các sư cô người Tây phương”. Có khi nói như vậy cũng có vẻ thích hợp, nhưng điều quan trọng là khi sự phân biệt ấy đi lên trong tâm thì ta phải tự hỏi chính mình về giá trị của nó và biết rằng ta đang khái quát hóa một điều chưa chắc đã 100% chính xác.
Trong khóa an cư này, Chân Đức cùng một thầy nữa có cơ hội thực tập lắng nghe sâu với một vài thành viên người da đen trong tăng thân. Lắng nghe sâu là một trong những pháp môn quý báu nhất mà Sư Ông đã trao truyền cho chúng ta. Và thật may mắn, trước khi đại dịch Covid xảy ra chúng ta đã có phương tiện truyền thông trực tuyến để có thể chia sẻ và lắng nghe nhau mà không cần phải di chuyển. Việc lắng nghe sâu là một yếu tố căn bản trong công tác xây dựng tăng thân. Nó cũng là bước thứ nhất và quan trọng nhất trong sự thực tập bao dung. Ta có thể hỏi người kia: “Bạn có thể nói cho tôi nghe tôi đã hành xử như thế nào làm cho bạn khổ?”. Chỉ cần lắng nghe sâu thôi chúng ta đã có thể biết mình cần phải làm gì cho tình trạng khá hơn. Chúng ta có thời gian. Nếu ta cần có ba buổi lắng nghe sâu thì ta không nên cố gắng dồn tất cả vào một buổi.
Loài người chúng ta có vẻ dẫn đầu tất cả các loài trong vấn đề kỳ thị. Việc ông George Floyd bị sát hại là một tiếng chuông cảnh tỉnh cả thế giới về thực trạng này. Chỉ có một con đường duy nhất để đi tới mà thôi: ta phải có một tâm thức và trái tim tương tức. Thực tập chánh niệm, nói năng nhẹ nhàng, nhìn và lắng nghe sâu như một tăng thân sẽ giúp chúng ta đạt tới vô phân biệt trí.
Tháng 6 năm 1994, khi đặt chân đến xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là được tiếp xúc với Sư Ông trong chiếc áo tràng nâu cũ giản dị, phai phai màu. Và tôi càng ấn tượng hơn khi thấy Sư Ông đi đôi guốc, không phải guốc mộc mà guốc màu đen, quai nâu, một sản phẩm được sản xuất từ Hà Lan hay Đan Mạch. Tôi hơi tò mò rồi tìm hiểu nơi quý thầy tại sao ở đây Sư Ông và quý thầy đa số đều đi guốc. Sau đó, tôi được biết là mặc áo tràng, nhật bình nâu và đi guốc mộc là hình ảnh của một ông thầy tu truyền thống. Ở Việt Nam, ngày xưa các thầy đều đi guốc mộc trong tu viện. Tôi rất ấn tượng và hạnh phúc vì biết mình sẽ được mặc chiếc áo nâu và đi guốc mộc sau khi được xuất gia.
Khoảng tầm năm 1998 – 1999, Sư Ông đã cho đặt mua guốc mộc từ Việt Nam sang để cho các thầy, các sư cô mang. Ở Làng vào các khóa tu mùa Hè, Sư Ông và tăng thân vẫn đắp y ăn cơm quá đường. Mỗi thầy, sư chú, sư cô đều được phát cho một đôi guốc mộc làm bằng loại gỗ cây thị hoặc gỗ cây sầu đông và quai nhựa trong suốt. Thú thật, các thầy, các sư cô, nhất là các vị xuất gia người phương Tây khi thấy guốc mộc đó là nhăn mặt, không thích mang. Mang vào rất khó đi và trông nó yểu điệu thế nào ấy. Nhưng dù không thích cũng phải mang, ít nhất là vào những buổi ăn cơm quá đường. Tôi nhớ trong tu viện có sư anh cả Giác Thanh, nhất quyết không mang. Nhưng vì thương kính Sư Ông nên cuối cùng thầy cũng mang.
Sau đó không lâu, Sư Ông dạy lược phần đắp y khi ăn cơm quá đường. Mặc chiếc áo tràng nâu, đi guốc mộc, mang nón lá là đẹp lắm rồi và cũng rất trang nghiêm. Một trong những lý do mà càng về sau Sư Ông càng lược bớt những yếu tố lễ nghi là vì thiền sinh đến tu học càng ngày càng đông. Và để cho họ không cảm thấy quá đầy bởi các lễ nghi do đa phần họ đến từ các truyền thống khác như Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo,… Một số người có thể sẽ bị dị ứng với những yếu tố tôn giáo khiến họ không có cơ hội tiếp xúc được với nguồn tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt. Đó cũng là lý do mà Làng Mai không xây chùa có mái cong theo kiểu truyền thống, không thờ tự theo kiểu truyền thống mà chỉ tạo dựng tu viện theo mô hình một ngôi Làng (Village), một cộng đồng sống hài hòa với thiên nhiên.
Cũng từ năm đó, tăng thân bắt đầu mặc áo tràng nâu, đi guốc mộc, mang nón lá trong các buổi ăn cơm quá đường. Sau này vì đi lại khó khăn, nhất là đối với các thầy, đặc biệt các thầy, sư chú người phương Tây nên guốc mộc kiểu Việt Nam đã bị mai một, nhưng tăng thân vẫn đi loại guốc Hà Lan hay Đan Mạch. Qua thời gian, áo tràng hay nhật bình nâu và chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng và trang phục của văn hóa xuất sĩ Làng Mai. Thiền sinh khắp nơi trên thế giới khi nhìn thấy một vị xuất sĩ trong chiếc áo tràng nâu và nón lá thì họ nhận diện ra được ngay đó là quý thầy, quý sư cô Làng Mai. Ở Làng Mai, các thầy và các sư cô được phép sử dụng ba màu cho y phục: màu vàng cháy là màu y (sanghati), màu nâu và màu lam. Năm 2018, trước khi Sư Ông về lại Việt Nam, trong một buổi họp mặt giáo thọ châu Á tại Làng Mai Thái Lan, chúng tôi bàn về chuyện y phục và đặt vấn đề có nên dừng sử dụng màu lam không. Đang lúc có nhiều ý trái chiều thì Sư Ông đến, chúng tôi trình lên sự việc và xin Sư Ông chỉ dạy. Sư Ông lập tức chỉ tay vào màu nâu. Thế là từ đó, ở Thái Lan các thầy, các sư chú, sư cô chỉ dùng màu nâu cho y phục.
Gìn giữ văn hóa
Tôi nhớ có lần Sư Ông rầy la hai thầy khách Việt Nam đến tham dự khóa tu dành cho người xuất gia tại tu viện Kim Sơn, California, Mỹ. Đó là vào năm 2001. Hai thầy khách đã đến tham dự khóa tu trong trang phục áo tu của truyền thống Đài Loan. Tất nhiên là áo tu và giày dép theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc. Nhìn từ trên xuống dưới không tìm đâu ra dấu vết của nét văn hóa y phục của người xuất gia Việt Nam. Sư Ông đang đi dạo, thấy hai thầy ăn mặc như thế, Sư Ông gọi lại và nghiêm dạy. Tôi nhớ từng câu rõ mồn một:
-“Quý thầy làm cái gì vậy? Tại sao quý thầy lại ăn mặc cái kiểu như thế? Dân tộc mình đã bị đô hộ một ngàn năm chưa đủ sao? Quý thầy muốn làm nô lệ tiếp nữa hay sao? Tại sao quý thầy không biết tự hào mặc chiếc áo tràng nâu thuần Việt, không mặc những bộ vạt hò thuần Việt mà lại đi mặc mấy bộ y phục như thế? Quý thầy là những người đi tiên phong trong trách nhiệm gìn giữ văn hóa. Nếu quý thầy không làm, không gìn giữ thì làm sao mà khích lệ người dân gìn giữ được?”.
Hai thầy nghe Sư Ông rầy một trận thất kinh, choáng váng. Lời nhắc nhở ấy như tiếng hét của một vị thiền sư nhằm thức tỉnh thế hệ xuất gia trẻ đang chạy theo xu hướng mất gốc, đang hướng ngoại mà quên rằng mình là người xuất gia Việt Nam, mình có truyền thống, bản sắc văn hóa xuất sĩ của mình. Sư Ông là người thầy đặc biệt tôn trọng và quan tâm đến vấn đề văn hóa, thấy các thế hệ xuất gia trẻ hướng ngoại, Sư Ông không ngần ngại nhắc nhở để họ biết tự hào khi mặc y áo truyền thống xuất sĩ Phật giáo Việt Nam. Đó là màu nâu sồng giản dị mà bao thế hệ thầy tổ đã mặc và giữ gìn. Người xuất gia phải là người luôn đi tiên phong trong trách nhiệm gìn giữ văn hóa, đặc biệt là trong nếp sống và công việc hành đạo của mình!
Trong những chuyến hoằng pháp tại Trung Quốc năm 1999, 2001, 2002, Sư Ông và tăng thân được tiếp đón tới các tu viện, chùa chiền để diễn thuyết, pháp thoại, hay hướng dẫn khóa tu… Sư Ông luôn xuất hiện trong chiếc áo tràng nâu, đôi guốc mộc và chiếc nón lá. Hiếm khi Sư Ông đắp y trong các buổi lễ cung nghênh, tiếp đón. Phật giáo Trung Quốc đa phần rất nặng về lễ nghi long trọng. Và có vẻ như trước cái hình thức lễ nghi long trọng như thế, Sư Ông có dụng ý muốn giới thiệu cho họ thấy lại cái đơn giản, mộc mạc của một người xuất sĩ, phong thái của một thiền giả, vốn là nét đặc thù trong nhà thiền mà họ đã từng biết đến từ các bậc thiền sư trong truyền thống thiền của họ. Trong những sự kiện như vậy, có hai màu tương phản rõ ràng: hình thức trang nghiêm long trọng của y giáo phục rực rỡ màu vàng, đỏ (một số chư tăng ở Trung Quốc đắp y màu đỏ, áo hậu màu vàng, thường phục màu lam) và sự giản dị, mộc mạc, chân chất của màu nâu từ tăng thân Làng Mai. Người Trung Hoa luôn tự hào họ là người anh cả, Phật giáo ở Việt Nam là du nhập từ Trung Hoa. Nhưng theo sử sách thì không hẳn như vậy. Qua tác phẩm Thiền sư Khương Tăng Hội, chúng ta thấy có thể Phật giáo ở Trung Hoa do ngài Khương Tăng Hội truyền qua vào cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III. Qua thời gian, cũng ít thấy có vị tăng nào tiếp tục công việc hoằng pháp qua Trung Hoa từ Việt Nam. Mãi đến thế kỷ 20 – 21 mới có Thiền sư Thích Nhất Hạnh sang Trung Hoa hoằng pháp trong chiếc nón lá và áo tràng nâu giản dị của một tu sĩ Việt Nam.
Các thầy, các sư cô, sư chú thuộc tăng thân Làng Mai chỉ mặc y phục như áo vạt hò, áo nhật bình, áo tràng thuần truyền thống Phật giáo Việt Nam mà không mặc những mẫu y phục kiểu các sư tăng Trung Quốc hay Đài Loan. Như các kiểu áo cổ La hán hay áo tràng có sợi dây thòng xuống bên hông phải và có những đường chỉ chạy sít nhau ở cổ áo. Nói tới đây tôi nhớ năm 2008, tôi rời tu viện Bát Nhã ra Hà Nội gấp để làm một số việc, nghĩ là đi một hai hôm rồi vào lại nên không mang theo đồ đạc gì nhiều, chỉ mang trên mình một chiếc áo tràng. Ở Hà Nội, tôi bị mất giấy tờ, không đi đâu được và cuối cùng phải rời Việt Nam. Trước khi đi, tôi ghé mua một cái áo tràng ở tiệm bán y áo gần chùa Quán Sứ, nhưng ở đó họ chỉ bán áo tràng của người xuất sĩ kiểu Trung Quốc. Tôi đã mua một cái để mặc. Về tới xóm Thượng, Pháp, tôi mặc cái áo tràng đó vào hầu Sư Ông tại thất Ngồi Yên. Sư cô Định Nghiêm thấy tôi mặc cái áo đó bèn la lên:“A! Thầy Pháp Niệm mặc áo sư Tàu”. Sư Ông nhìn với ánh nhìn “thông điệp”, và tôi hiểu rằng Sư Ông không muốn tôi mặc cái áo đó. Thời đó, để có một chiếc áo tràng hay nhật bình nâu tại Làng Mai là khá hiếm và tôi biết tôi cần tạm sử dụng chiếc áo tràng này. Thế là sau khi về phòng, tôi đã cắt bỏ hết các sợi chỉ trên cổ áo và hai sợi dây lòng thòng đó đi. Thế là ổn.
“Phật tánh không phân chia Nam Bắc” nhưng mỗi dân tộc đều có văn hóa Phật giáo thấm nhuần những nét văn hóa mang bản sắc riêng của dân tộc đó. Văn hóa thì rất đa dạng và phong phú. Người ta nói rằng văn hóa còn thì đất nước còn. Điều này luôn đúng ở mọi thời đại. Theo Sư Ông Làng Mai, người xuất gia là những người luôn tiên phong cho việc gìn giữ văn hóa. Văn hóa chúng ta đang nói đến ở đây là văn hóa y phục của người xuất sĩ trong truyền thống đạo Bụt Việt Nam. Là người tiên phong trong công cuộc làm mới đạo Bụt, để cho đạo Bụt thích ứng được với những nhu cầu của thời đại, nhưng Sư Ông Làng Mai đồng thời cũng là một người có thể nói là vô cùng bảo thủ, nhất là trong việc khôi phục và giữ gìn những giá trị hay, đẹp của truyền thống dù với những chi tiết rất nhỏ như đôi guốc mộc, chiếc nón lá và y phục màu nâu: áo tràng, nhật bình và vạt hò.
Hình ảnh ông thầy tu Việt Nam trong chiếc áo tràng hay nhật bình nâu và chiếc nón lá đã trở nên một hình ảnh thân quen đối với cộng đồng quốc tế, cũng giống như hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam trong chiếc áo dài và nón lá bài thơ. Người phương Tây khi thấy một ông thầy tu mang áo tràng nâu và đội nón lá thì biết ngay đó là ông thầy tu truyền thống Việt Nam. Mỗi dân tộc, truyền thống Phật giáo đều có y phục đặc trưng của họ, nhìn vào họ là biết họ thuộc dân tộc nào, truyền thống Phật giáo nào.
Chân chất màu thiền
Áo tràng nâu, đôi guốc mộc và chiếc nón lá không chỉ là vấn đề văn hóa trang phục mà nó còn nói lên tinh thần giản dị, chân chất và thanh thoát của một ông thầy tu. Ngày xưa, các ngài đều chỉ mặc áo tràng nâu, đi guốc mộc và đội nón lá. Sư Cố Thanh Quý cũng thường hay chống gậy, đội nón lá đi chơi khắp vườn chùa hoặc khi xuống đường tham gia cuộc vận động bất bạo động năm 1963. Hình ảnh đó trong lòng Phật giáo, nhất là Phật giáo miền Trung, đã trở thành bất diệt. Là một cảm hứng để thế hệ sau noi theo mà tập sống một đời sống giản dị, chân chất và thanh thoát của một người tu. Hình ảnh này hiện nay vẫn còn được một số các vị xuất sĩ gìn giữ, còn phần nhiều đã mai một đi. Màu y áo của chư tăng bây giờ đã biến dạng khá nhiều, cái màu đất nâu, giản dị, chân chất, thanh thoát của Nâu sồng từ trở màu thiền đang dần bị thay thế. Tôi luôn cảm thấy ấm áp và biết ơn khi nhìn thấy những vị vẫn còn giữ được nét “sồng” tâm linh ấy.
Tôi luôn cảm thấy ấn tượng mỗi khi nhìn thấy bóng dáng người xuất sĩ, dù họ xuất hiện một mình hay với một đoàn thể có khi lên tới hàng trăm người. Họ đi từng bước thong dong trên các đường phố náo nhiệt, đông người để hóa duyên, khất thực, độ người, giúp đời như ở thành phố New York, London, Los Angeles, Hà Nội hay Sài Gòn… Ấn tượng trong tôi thật sâu đậm khi tận hưởng những giây phút cùng Sư Ông và tăng thân đi trên các vùng cao nguyên núi đồi của tu viện, đặc biệt trong các buổi ăn cơm quá đường. Tôi biết dù Sư Ông và tăng thân xuất hiện ở đâu, hình ảnh áo nâu và nón lá trong bước đi thong dong, thầm lặng, tĩnh tại luôn gây ấn tượng mạnh trong lòng người và tạo cảm hứng cho tất cả nhớ quay về với nếp sống giản dị, tri túc và thảnh thơi.
Sư cô Chân Trăng Biển Tuệ xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế.
Ba kính thương! Diệu Trạm chỉ cách nhà mình tầm 45km nhưng thời tiết mưa lạnh vẫn làm con nhớ nhà, nhớ về phá Tam Giang và nhớ bếp củi của mạ. Mạ thường nhen lửa vào mỗi tối trời mưa lạnh và mỗi buổi sáng sớm khoảng ba đến bốn giờ, lúc ba mạ vừa đi thả lưới trở về. Bên bếp lửa, ba mạ cùng hơ tay và đôi chân thô ráp cho ấm lên rồi mới đi ngủ. Ngoại trừ những ngày giông bão, dù cho trời mưa lạnh cách mấy ba mạ cũng gắng ra phá Tam Giang đánh bắt để có tiền nuôi ba anh em chúng con ăn học.
Bây chừ con gái của ba đã xuất gia tròn một tháng rồi. Khi con nhận được tên mới Chân Trăng Biển Tuệ, con vui lắm. Cái tên mới của con là biển, là nước, là quê hương nơi ba và con lớn lên. Mới ngày nào đó ba đã khóc và ngăn cản không cho con đi tu, cái không khí trầm lặng thiếu tiếng cười ấy con vẫn chưa quên. Con ở bên này nghe được bên kia cửa sổ cuộc nói chuyện của ba mạ và anh Minh khá căng thẳng. Ba nói: “Không cho đứa mô đi hết, một đứa đi đã đứt ruột đứt gan rồi, bây chừ mà đi nữa là tao chết cho bây coi”. Nói rồi ba bỏ vào nhà lớn, lên giường nằm im không ăn tối, cho đến sáng hôm sau ba mới dậy. Còn mạ và anh đều cứng rắn cố thuyết phục ba, dù buồn nhưng mạ đã sẵn sàng tinh thần trong một năm qua. Trước đó một năm, khi sư chú Trời Nắng Mới (em trai con) vừa mới xuất gia, con xin đi tu nhưng không được. Nhà mới sửa lại nên con cần phải đi làm để trả tiền ngân hàng. Thấy tình hình trong nhà căng thẳng nên con rất lo. Chỉ ít ngày nữa là quý thầy, quý sư cô và các anh chị trong tăng thân Tự Do – Huế về sinh hoạt quán niệm ở nhà mình và trên phá Tam Giang. Lỡ ba giận ba làm gì đó không hay thì con phải làm răng đây? Lúc đó con chỉ biết cầu nguyện và thầm gọi Sư Ông: “Sư Ông ơi! Sư Ông yểm trợ năng lượng cho con và gia đình con Sư Ông nhé!”.
Có Bụt, Tổ và Sư Ông lo rồi
Ngày nớ rồi cũng tới, tăng thân đã về nhà. Thiệt bất ngờ khi con thấy ba chào đón quý thầy, quý sư cô và các anh chị nhiệt tình. Ba còn tham dự thời khóa trọn ngày cùng tăng thân. Trong buổi pháp đàm, ba chia sẻ là ba đã chấp nhận cho con đi tu rồi. Ôi, con nghe chị kể lại mà vui quá chừng. Ba đã cảm nhận được năng lượng từ tăng thân và tình huynh đệ dành cho nhau trong một ngày qua. Ba đã yên tâm! Con thật sự biết ơn tăng thân nhiều lắm.
Những ngày con sắp vào chùa làm tập sự là khoảng thời gian hạnh phúc đối với con. Ba rủ con với bọn trẻ trong xóm chạy ghe ra phá tắm, chơi ngụp lặn coi ai lặn lâu hơn, ai bơi nhanh hơn và trồng cây chuối dưới nước nữa… Ba cũng trồng hoa mười giờ và làm chong chóng cùng bọn trẻ. Ba thật sự trở về làm một em bé mười tuổi, là bạn của con và bọn trẻ.
Buổi tối cuối cùng ở nhà, ba, mạ, dì, chị Khỏe và con cùng ngồi thiền tụng kinh gởi năng lượng bình an cho con. Sau đó ba ngồi lại dặn dò: “Đã không chịu lấy chồng rồi thì chừ gắng mờ tu răng cho có hạnh phúc, tu thì phải tu cho trọn đời…”
Vào chùa ba biết điều đầu tiên con hạnh phúc là chi không? Đó là con không còn ăn những bạn cá, bạn cua nữa. Con biết ba cũng thương các bạn cá, bạn cua lắm, nhưng vì mưu sinh, là cái nghề từ tổ tiên ông bà truyền lại cho ba và con cháu, ba đã gắn bó từ thuở niên thiếu cho đến năm hơn 60 tuổi. Ba đã kiên trì tập bỏ thuốc lá, là thứ giúp cho người ngư dân ấm lên trong những đêm khuya lạnh cóng. Trong suốt thời gian hơn năm năm mạ bệnh, ba đi làm một mình trên đầm phá, sáng sớm vào bờ, có cá ngon là ba để dành nấu cho mạ dù có những đêm ba làm được chừng bốn đến năm mươi ngàn, hay nhiều hơn nữa là chỉ một trăm ngàn đồng. Có lần con đi thả lưới với ba, con đã làm cho ba bực bội vì cái tội làm rối lưới. Ba phải dừng lại để gỡ ra rồi mới tiếp tục chống đò đi. Ba phải dùng sức nhiều mới đi lại được, rứa mà con lại giận và trách móc ba vì khi mô ba cũng la lối. Năm phút sau ba bắt chuyện vui vẻ với con nhưng con vẫn im lặng không cười. Bỗng dưng một cơn mưa đá rơi xuống, hai ba con chạy vào mui đò để núp, ngồi ngắm mưa đá rơi… và con đã cười lại với ba.
Sau ngày sư chú Trời Nắng Mới xuất gia, cả nhà đã quyết định chuyển nghề, không để ba đi đánh bắt cá nữa. Ba đã suy nghĩ một thời gian rồi chấp nhận buông cái nghề đã gắn bó với ba từ rất lâu. Mạ cũng bắt đầu ăn chay trường. Đó là một sự thay đổi lớn của nhà mình. Con thấy con rất may mắn khi được sinh ra trong ngôi nhà có đầy đủ tình thương của ba mạ, anh chị em và bạn bè.
Con biết ơn tổ tiên ông bà, ba mạ đã trao truyền cho con những hạt giống lành thiện, chân quê, biết thương người. Dù còn những hạt giống chưa dễ thương như bực bội, so sánh,… con xin chuyển hóa và tiếp nối những gì tổ tiên đang gửi gắm cho hai chị em chúng con.
Con kính tri ân Bụt, Tổ, Sư Ông và tăng thân đã cho con có cơ hội sống trong môi trường lành thiện, dạy cho con cách sống với lòng biết ơn, làm một người đẹp hơn – đẹp từ tâm.
Ba mạ, anh chị ơi, tu cùng hai chị em con cho vui nhé! À, khi mô có dịp ba nhớ hát “Vè cá”cho con nghe với nhé!
Theo lời Bụt dạy trong kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, sau khi quán chiếu về tứ đại trong cơ thể, hành giả quán về các tư thế của thân. Có tất cả bốn tư thế, gọi là tứ uy nghi: đi, đứng, nằm và ngồi. Ta ý thức rõ ràng các tư thế căn bản của thân ta. Khi đi, biết mình đang đi; khi đứng, biết mình đang đứng; khi ngồi, biết mình đang ngồi; khi nằm, biết mình đang nằm. Ta chiếu dụng ánh sáng chánh niệm vào các tư thế của thân thể ấy. Các thầy, các sư cô được tập luyện rất kỹ về bốn tư thế hoạt động của thân, gọi là tứ uy nghi. Tuy nhiên đừng nghĩ rằng Bụt chỉ dạy kinh này riêng cho người xuất sĩ, người cư sĩ cũng có thể thực tập. Phép quán này thuộc về lĩnh vực quán thân trong thân. Chúng ta bắt đầu thực tập ý thức về hơi thở, nhận diện tình trạng của hơi thở và làm lắng dịu hơi thở. Kế đó ta thực tập ý thức về thân, ôm ấp, chăm sóc thân, làm cho thân thể lắng dịu, chú ý và mỉm cười với từng bộ phận của thân. Ta quán chiếu những yếu tố tạo nên thân thể và mỉm cười với từng yếu tố ấy trong thân thể ta. Rồi ta thực tập quán niệm về các tư thế của thân trong khi đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc. Chúng ta sẽ cùng thực tập với nhau trong suốt khóa tu này. Đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc cho thật vững chãi và thảnh thơi.
Quán niệm về thân đưa tới sự quán niệm về các hoạt động của thân. Khi khom xuống, ý thức rõ ràng là mình đang khom xuống. ”Thở vào, biết mình đang khom xuống để nhặt cây bút. Thở ra, biết mình đang nhặt cây bút.” Ta ý thức từng động tác, từng cử chỉ của thân thể ta. Ví dụ, mỗi buổi sáng khi đun nước để chế cà phê hoặc pha trà, ta có thể sử dụng thời gian chế cà phê hoặc pha trà để thực tập chánh niệm. Ta ý thức từng cử chỉ, từng động tác của ta trong lúc chế cà phê hoặc pha trà. Ta mỉm cười với từng động tác, cử chỉ ấy của thân thể, dù đó là một động tác rất nhỏ. Thực tập như thế giúp ta thiết lập được vững mạnh năng lượng chánh niệm và nó đem lại cho ta rất nhiều niềm vui. Ta hạnh phúc là vì trong đời sống hàng ngày ta biết cách thắp lên ánh sáng chánh niệm và chiếu dụng vào mỗi cử chỉ và hoạt động của thân thể. Ta không còn sống trong sự quên lãng, không sống như một người mộng du nữa. Ta làm tất cả mọi cái trong ánh sáng chánh niệm. Ta hoàn toàn làm chủ các hoạt động của thân thể ta. Chánh niệm là sự hiện diện của Bụt, là năng lượng của Chúa Ki Tô, là chất thánh trong ta. Chánh niệm không phải là một cái gì trừu tượng. Hạt giống chánh niệm đã sẵn có trong tâm thức ta. Tất cả chúng ta đều có khả năng tiếp xúc với hạt giống chánh niệm và làm cho nó biểu hiện thường xuyên trong đời sống hàng ngày.
Thiền Đóng Cửa Và Mở Cửa
Thời còn làm sa di, một hôm Thầy của tôi dạy tôi làm giùm Thầy một việc. Tôi rất thương kính Thầy và sẵn sàng làm bất cứ điều gì Thầy giao phó, làm bất cứ điều gì có thể để đem lại niềm vui cho Thầy. Sau khi tiếp nhận xong lời dạy, tôi liền lui ra để đi làm. Nhưng do hạnh phúc quá, tôi đã mở cửa và đóng cửa rất hấp tấp, không có chánh niệm. Thấy vậy, Thầy tôi gọi tôi trở lại và nói rất nhỏ nhẹ rằng: ”Này con, con hãy đi ra trở lại. Lần này con nhớ mở cửa và đóng cửa cho thật từ tốn, nhẹ nhàng, có chánh niệm nghe con.” Tôi chắp tay xá Thầy, rồi lui ra. Lần này tôi biết tôi phải làm gì. Tôi đã đi từng bước thật chánh niệm tới cửa, đặt bàn tay lên núm cửa, rồi nhẹ nhàng mở cửa, bước ra ngoài và đóng cửa thật từ tốn; tất cả mọi động tác, mọi cử chỉ đều được làm trong chánh niệm. Từ đó về sau Thầy tôi không cần phải nhắc nhở tôi lần thứ hai. Tôi không bao giờ quên bài học quý giá ấy.
Vào năm 1966, tôi viếng thăm cha Thomas Merton tại thành phố Kentucky, một vị tu sĩ thuộc dòng Luyện tâm (Trappist – dòng tu kín- giáo phái sống rất khắc khổ và phát nguyện không nói, không tiếp xúc với thế giới bên ngoài). Cuộc gặp gỡ của hai chúng tôi rất lý thú. Sau này cha Thomas có nói với các môn đệ của ngài rằng: ”Quý vị chỉ cần quán sát cách thầy Nhất Hạnh mở cửa, đóng cửa thì đủ biết thầy là một vị chân tu.” Năm trước có một cô thiền sinh người Đức đến tu học tại tu viện Làng Mai. Cô ấy đã ở lại tu tập khoảng một tháng. Ngày rời Tu Viện, cô chia sẻ với chúng tôi rằng sở dĩ cô đến Làng Mai là vì cô có nghe cuốn băng thuyết giảng của cha Thomas Merton; trong bài thuyết giảng đó cha có nói về phong cách mở cửa, đóng cửa của thầy Nhất Hạnh. Và vì tâm hiếu kỳ, tâm tò mò muốn thấy tận mắt cách thầy Nhất Hạnh mở cửa và đóng cửa như thế nào mà cha Thomas khen ngợi đến thế. Trong thời gian một tháng ở Làng Mai, cô cảm thấy rất thoải mái, hạnh phúc và mục đích chính của chuyến viếng thăm Tu Viện Làng Mai là để mắt quán sát cách thầy trò chúng tôi mở cửa và đóng cửa.
Đóng cửa và mở cửa là một phần của sự thực tập chánh niệm để làm cho thân tâm lắng dịu và bình an trở lại. Xin quý vị thực tập mở cửa và đóng cửa trong chánh niệm để nhiều người, trong đó có Thầy tôi nữa được thừa hưởng niềm an lạc và hạnh phúc tỏa ra nơi hành động mở cửa và đóng cửa của quý vị. Thầy tôi vẫn còn có mặt đó với chúng ta trong giây phút này. Quý vị đã được học cách chăm sóc, tiếp xúc với cơ thể bằng hơi thở chánh niệm. Đây là sự thực tập rất quan trọng. Quý vị không cần phải trở thành một vị giáo thọ mới có thể tổ chức được những ngày tu chánh niệm. Quý vị có thể dành một ngày cuối tuần để trở về với chính mình, thực tập chăm sóc cơ thể và sống hài hòa với cơ thể mình. Nếu muốn, quý vị có thể mời thêm một số bạn bè đến tham dự ngày tu. Một ngày hoặc vài giờ thực tập chánh niệm như thế là cơ hội để thân tâm được nghỉ ngơi, phục hồi lại sự tươi mát và thư thái. Bốn phép thở đầu của kinh Quán Niệm Hơi Thở nếu được thực tập đúng cách, ta thấy tình thương của Bụt dành cho ta rất lớn. Bụt chỉ dạy cho ta những phương pháp tu tập thật thực tiễn, khoa học và hữu hiệu.
Trong đạo Bụt chúng ta có nói tới hai thứ quả báo. Quả báo tiếng Anh là retribution. Một làchánh báo vàmột là y báo. Chánh báo tức là thân và tâm của chúng ta. Y báo là hoàn cảnh của chúng ta. Ví dụ trồng hoa hướng dương thì ta sẽ gặt hoa hướng dương. Gặt hoa hướng dương tức là báo. Trong quá khứ ta đã sống như thế nào, đã có những hành động nào về thân, miệng và ý, cho nên hôm nay ta có cái thân thể như thế này và cái tâm thức như thế này. Đó gọi là chánh báo. Hình hài, thân thể, sức khỏe và tâm tư ta là chánh báo của ta. Và cái hoàn cảnh bao quanh chánh báo đó gọi là y báo. Y là chỗ mình nương tựa vào. Hoàn cảnh tiếng Anh gọi là environment. Ta đừng tưởng hoàn cảnh nằm ở bên ngoài. Hoàn cảnh cũng do mình tạo ra. Tại vì cả hai đều là “báo” hết cho nên chánh báo cũng là mình mà y báo cũng là mình.
Làng Mai này là cái mà quý vị đã tạo ra trong quá khứ, vì vậy cho nên hôm nay nó ôm lấy quý vị, nó làm thành cái môi trường trong đó quý vị đang sống. Nếu trong quá khứ ta đã không gieo trồng những hạt giống Làng Mai thì ngày hôm nay ta đã không ngồi ở đây và không được bao bọc bởi hoàn cảnh này. Cho nên hoàn cảnh này là y báo của ta. Do hành động trong quá khứ, ta đã tạo ra chánh báo và y báo của ta, và cả hai đều là ta cả. Ta có bổn phận phải nâng cao chất lượng của cả hai cái. Ta nâng cao chất lượng của thân thể, làm cho thân thể mạnh khỏe và vững chãi hơn. Ta nâng cao chất lượng của tâm thức để cho tâm ta nhẹ nhàng, vững chãi và an lạc hơn. Và ta nâng cao chất lượng của hoàn cảnh để cho sự tu tập có nhiều thuận duyên hơn.
Giữa chánh báo và y báo có sự liên hệ mật thiết, ta không thể tách rời hai cái ra được. Cái gọi là ngã có dính líu tới cái mà ta tưởng là phi ngã. Ngã và phi ngã thực ra là một. Chúng ta không thể chia ra giới hạn giữa ta và không ta, giữa chánh báo và y báo, giữa con người ta và hoàn cảnh. Ví dụ ở đây có một người đang chia sẻ cùng một y báo với ta. Ta trở nên một thành phần y báo của người đó. Thành ra, ta vừa là chánh báo của ta mà vừa là y báo của người sư anh của ta. Vì vậy phẩm chất tu học của ta có liên hệ tới phẩm chất tu học của người sư anh của ta. Ta thấy không còn ranh giới giữa chánh báo và y báo. Ta là chánh báo của ta, nhưng đồng thời cũng là y báo cho người sư em của ta. Vì vậy cho nên xây dựng cho ta hay xây dựng cho người sư em của ta cũng là xây dựng cho cái y báo của cả hai.
Có thể trong một giây phút nào đó, ta có cảm tưởng là y báo này không thích hợp cho ta, ta muốn đi tìm một hoàn cảnh khác, thì ta nên nhớ rằng y báo luôn luôn đi theo chánh báo như bóng theo hình. Chúng ta đi đâu thì cái loại y báo đó cũng đi theo. Đi đâu ta cũng sẽ gặp những điều kiện tương tự. Tốt hơn hết là chúng ta nên chuyển hóa thân tâm của ta để tìm cách chuyển hóa cái y báo của ta ngay bây giờ và ở đây và chấm dứt hành động chạy quanh.
Thiết kế y báo
Trong thời đại chúng ta, chúng ta nói rất nhiều tới hoàn cảnh, tới sinh môi. Chúng ta biết rằng sinh môi và hoàn cảnh có ảnh hưởng trực tiếp tới hạnh phúc của thân tâm, tức là của chánh báo. Người kiến trúc sư vẽ ra một kiểu nhà phải có những kiến thức về khoa học, phải biết về những nhu yếu của cơ thể, của tâm hồn con người để có thể tạo ra môt ngôi nhà trong đó con người cảm thấy thoải mái. Có khi chúng ta bước vào một căn nhà mà thấy ngộp thở, chúng ta thấy những khối bê tông rất nặng, chúng ta cảm thấy tù túng và chúng ta nghĩ rằng nếu phải sống trong ngôi nhà đó, chúng ta sẽ không có hạnh phúc.
Người kiến trúc sư phải thấu rõ nhu yếu của sinh lý, tâm lý, nhu yếu của kinh kế và xã hội của con người để có thể làm ra một ngôi nhà trong đó người cư trú cảm thấy thoải mái và an lạc. Kiến trúc sư phải là một người chuyên môn thiết kế y báo. Chúng ta biết rằng mỗi thành phố lớn có một công viên, ít nhất phải có một công viên, như New York City có Central Park. Nếu là một nhà thiết kế đô thị, chắc chắn ta phải để một công viên trong thành phố, tại vì nếu không có công viên, dân trong thành phố đó sẽ chết bí, không những đứng về phương diện cơ thể mà còn đứng về phương diện tâm hồn nữa. Có những lúc không đi vào công viên được, chúng ta thấy ngộp thở muốn chết. Cho nên những nhà thiết kế đô thị cũng phải biết về khoa học sinh lý, khoa học tâm lý, về những nhu yếu tinh thần và thể chất của con người. Những nhà chuyên môn thiết kế những trục giao thông cũng vậy. Thiết kế thế nào để sự liên lạc giữa các đô thị và vùng quê được dễ dàng, có những con đường có thể đi từ đô thị về miền quê một cách mau chóng. Chúng ta biết rằng cứ mỗi cuối tuần những con đường ở thành phố Paris đi ra ngoại ô đều bị ứ đọng, tại vì nhu yếu thoát ra khỏi thành phố của thị dân rất lớn.
Chúng ta biết rằng sự an vui, hạnh phúc của chánh báo tùy thuộc rất nhiều vào lề lối chúng ta tổ chức y báo của chúng ta. Những nhà kiến trúc, những nhà chuyên môn thiết kế đô thị và những người trông coi sắp đặt lãnh thổ phải có kiến thức vững chãi về những nhu yếu đích thực của con người. Con người có những nhu yếu gọi là nhu yếu đích thực. Có những nhu yếu không phải là nhu yếu đích thực mà chỉ là những thèm khát hay ham muốn. Chúng ta ai cũng có nhu yếu đích thực, chúng ta phải khám phá ra đâu là nhu yếu đích thực của chúng ta và khi chúng ta thực hiện được những nhu yếu đích thực đó, tự nhiên chúng ta có sức khỏe, có sự an vui về cơ thể cũng như về tinh thần. Nhưng trong đời sống hiện đại, ít người trong chúng ta thấy được những nhu yếu đích thực trong chúng ta tại vì chúng ta chỉ sống bởi sự ham muốn. Chúng ta ham muốn cái này, chúng ta ham muốn cái kia, mà những đối tượng của sự ham muốn đó không phải là nhu yếu đích thực.
Một kiến trúc sư mới có thể nghĩ ra chuyện để làm thỏa mãn những ham muốn, tức là những nhu yếu không đích thực của chúng ta. Ví dụ khi chủ nhà về, ông ta chỉ cần nói với cánh cửa rằng: “Ta đây, ta là chủ nhà này đây” thì cánh cửa tự động mở ra, còn nếu một người khác nói thì vì giọng nói đó không phải là giọng nói của ông chủ nên cánh cửa sẽ không bao giờ mở. Khỏi cần lấy chìa khóa ra, khỏi cần lắp vô và khỏi cần mở. Bây giờ nền kiến trúc mới đang đi về hướng đó. Chúng ta không cần giặt áo quần nữa vì đã có máy giặt. Cà-phê, chúng ta cũng không cần làm nữa, chỉ cần thiết kế cho đúng giờ thì có cà-phê uống. Đó là nhu yếu của thời đại.
Ngày xưa có những người ra bờ sông để giặt lụa như nàng Tây Thi. Thiếu nữ giặt áo ở bờ sông là một hình ảnh rất đẹp. Các cô có thể đùa giỡn với nhau, khoát nước vào nhau…, những cái đó bây giờ ta không thấy nữa, vì nhà nào bây giờ cũng có máy giặt và máy sấy. Chúng ta đi tìm cái gọi là tiện nghi nhưng nhiều khi chúng ta đi quá xa. Có những cậu bé ăn thịt bò mà chưa bao giờ thấy con bò. Có những cô bé ăn cá mà chưa bao giờ thấy cá, nghĩ rằng cá là một cái gì hình vuông vì con cá bán ở siêu thị hình vuông. Và sự kiện những chai sữa tìm tới nhà mình mỗi sáng không còn là một cái gì làm cho cậu bé ngạc nhiên nữa. Cậu nghĩ rằng chuyện sữa xuất hiện mỗi bữa sáng trước cửa nhà mình là một chuyện dĩ nhiên trên đời. Trong khi đó thì những nhu yếu đích thực của chúng ta thì chúng ta không có để mà thỏa mãn.
Y báo ở đây cũng vậy. Y báo đẹp hay không đẹp, thuận lợi hay không thuận lợi, thích hợp hay không thích hợp cho ta, một phần lớn là do cách thức ta tiếp nhận. Nếu có tri giác sâu sắc và cởi mở hơn, ta sẽ khám phá ra rằng trong môi trường đó ta có thể thỏa mãn những nhu yếu đích thực của thân tâm ta, và tự nhiên ta cảm thấy hạnh phúc và an toàn trong cái hoàn cảnh đó, và ta quyết định cùng nhau xây dựng cho cái y báo đó càng ngày càng đẹp để nuôi dưỡng ta, và tư tưởng rời bỏ chốn này đi tìm chốn khác sẽ không bao giờ nẩy sinh nữa.
Đặc biệt, tôi nhớ những giây phút trọn vẹn, thực sự an trú, lòng đầy mãn nguyện không vì một đối tượng nào, khi mọi người ngồi trên cỏ thành những vòng tròn xung quanh Thầy, giống như một mạn đà la. Sự vui thích được ở bên cạnh Thầy thật không thể diễn tả được! Tựa như ta đang được bao bọc trong một trường năng lượng đầy ý thức, trong đó vườn hoa nhân loại đang bừng nở niềm tin và niềm vui sống tròn đầy.
Tôi thấy Thầy trong những nụ cười rạng rỡ, trong sự tử tế, sẵn lòng và sự nhẹ nhàng của quý sư cô người Việt khi đón tiếp chúng tôi.
Tôi cũng thấy Thầy trong sự hòa hợp, trong bầu không khí nhẹ nhàng, êm dịu. Sự yên lặng ngọt ngào, dễ cảm nhận này thu phục mọi trái tim.