Ly nước táo của bé Thủy

(Trích trong sách “Trái tim mặt trời” của Sư Ông Làng Mai)

Hôm nay có ba em bé, hai gái và một trai, từ dưới làng lên chơi với Thanh Thủy. Bốn đứa chạy chơi trên khu đồi phía sau nhà khoảng một giờ đồng hồ thì tìm vào để kiếm nước uống. Tôi đi tìm chai nước táo cuối cùng còn lại và đem rót vào cho mỗi đứa một ly đầy. Ly chót là của Thanh Thủy. Ly này lợn cợn xác táo, không trong như ba ly trước. Thanh Thủy phụng phịu chê, không uống. Bốn đứa lại chạy lên đồi chơi.

Chừng nửa giờ sau, đang ngồi tĩnh tọa ở phòng bên, tôi nghe tiếng Thủy gọi. Cô bé muốn vặn nước lạnh trong vòi nước để uống, nhưng nhón gót mà cũng không với tới. Tôi chỉ lên bàn, bảo: cháu uống ly nước táo này đi. Thủy ngoảnh lại nhìn. Ly nước táo bấy giờ trong vắt không còn một tí lợn cợn nào nữa, trông thật ngon lành. Nó tới gần và đưa hai tay nâng ly nước táo lên uống. Uống được chừng một phần ba ly, Thủy đặt ly xuống và ngước mắt nhìn tôi: “Có phải đây là một ly nước táo mới không thưa ông?” Tôi trả lời: “Không, ly nước táo hồi nãy đó. Nó ngồi yên một lúc lâu cho nên trở thành trong vắt và ngon lành như vậy đó cháu.” Thủy nhìn lại ly nước táo: “Ngon quá ông ơi. Có phải ly nước táo bắt chước ông đang ngồi thiền không hả ông?”

 

 

Tôi bật cười vỗ nhẹ lên đầu nó. Có lẽ nói rằng tôi đã bắt chước ly nước táo mà ngồi thiền thì đúng hơn. Tối nào đến giờ bé Thanh Thủy đi ngủ thì tôi cũng ngồi thiền. Tôi cho nó ngủ ngay trong thiền phòng, gần chỗ tôi ngồi. Hai ông cháu giao hẹn với nhau là trong khi tôi ngồi thì Thủy nằm mà không lên tiếng hỏi chuyện. Thường thường thì chỉ chừng năm mười phút sau là Thủy đã ngủ. Trong khung cảnh thanh tịnh đó, giấc ngủ đến với Thủy một cách dễ dàng. Mãn giờ thiền tọa, tôi chỉ cần đi lấy một cái mền đắp lên cho nó.

Thanh Thủy là một em bé thuộc giới “thuyền nhân” (boat people) chưa đầy bốn tuổi rưỡi. Nó cùng với bố nó vượt biển sang tới Mã Lai hồi tháng tư năm ngoái. Mẹ nó bị kẹt lại bên nhà. Qua tới Pháp, bố nó đem gởi lại Phương Vân Am vài tháng để rảnh rang lên Paris lo giấy tờ và kiếm việc làm. Tôi dạy cho Thủy vần quốc ngữ và những bài ca dao xưa. Con bé rất thông minh. Chỉ trong vòng mười lăm ngày, nó đã đánh vần và đọc từ từ cuốn “Vương Quốc Của Những Người Khùng”, truyện ngụ ngôn của Leo Tolstoy, do tôi dịch.

Tối nào Thanh Thủy cũng thấy tôi ngồi. Tôi bảo nó là tôi “ngồi thiền” và tôi không hề nói cho nó biết ngồi thiền là gì và ngồi như thế để làm gì. Mỗi tối, khi thấy tôi rửa mặt, mặc áo tràng và đi thắp một cây nhang cho thơm thiền phòng là nó biết tôi sắp đi “ngồi thiền”. Nó cũng biết là đã đến giờ nó phải đi đánh răng, thay áo và leo lên chỗ nằm mà không nói chuyện. Không lần nào nó đợi tôi nhắc.

Chắc rằng trong cái đầu tí hon của nó, bé Thanh Thủy nghĩ rằng ly nước táo ngồi yên một hồi lâu là để cho nó lắng trở lại, và ông của nó ngồi yên một hồi lâu chắc cũng là để cho lắng trong, cho khỏe khoắn như ly nước táo. “Có phải ly nước táo bắt chước ông ngồi thiền không hả ông?” Tôi nghĩ bé Thủy chưa đầy bốn tuổi rưỡi mà đã hiểu thế nào là ngồi thiền mà không cần ai giải thích gì cho nó.

Ly nước táo ngồi lâu thì lắng trong. Theo cùng một định luật, ngồi lâu thì ta cũng lắng trong. Lắng trong thì ta sẽ an hòa, khỏe khoắn và tươi mát hơn. Ta tự cảm thấy tươi mát và người chung quanh ta cũng thấy ta tươi mát. Một em bé ưa tới ngồi gần ta không hẳn là vì ta hay cho nó kẹo hoặc hay kể chuyện đời xưa cho nó nghe. Có khi nó ưa tới ngồi gần ta chỉ vì ta tươi mát, có thế thôi.

Tối nay, Phương Vân Am có một ông khách. Tôi rót nước táo còn lại ở trong chai cho đầy một ly và đặt ly nước táo ở trên chiếc bàn giữa thiền phòng. Bé Thanh Thủy ngủ rồi. Tôi mời ông bạn cùng ngồi yên, thật yên, như ly nước táo.

 

 

Dòng Sông Tâm Tưởng

Chúng tôi mới ngồi được chừng bốn mươi phút. Tôi thấy ông bạn đang mỉm cười nhìn ly nước táo. Ly nước táo đã lắng trong rồi. Bạn đã lắng trong chưa? Dù chưa được như ly nước táo, nhưng bạn cũng đã thấy thân tâm bạn lắng trong được một phần nào rồi chứ? Nụ cười chưa tắt trên môi bạn. Hình như bạn ngờ rằng bạn sẽ không thể nào đạt đến sự lắng trong của ly nước táo dù bạn cố gắng ngồi thêm một vài giờ đồng hồ nữa.
Ly nước táo có một chân lý rất bằng, rất vững. Còn bạn, bạn chưa có một thế ngồi thật vững chãi. Trong khi những cái xác táo nhỏ tuyệt đối vâng theo luật tự nhiên mà từ từ để mình rơi nhẹ xuống đáy ly thì tư tưởng của bạn lại như một đàn ong bay loạn xạ lên, không vâng theo một mệnh lệnh nào cả để lắng xuống. Đó, chính hai điều đó đã gây cho bạn cảm tưởng là bạn sẽ không làm được như ly nước táo.
Bạn nói rằng con người là một sinh vật, có tư tưởng và cảm giác, không giống như một ly nước táo. Tôi đồng ý với bạn. Nhưng tôi biết rằng mình cũng có thể làm như ly nước táo, và hơn thế nữa, có thể làm hay hơn ly nước táo: bạn có thể đạt tới tình trạng lắng trong không những trong tư thế ngồi mà còn trong những tư thế đi, đứng và làm việc nữa.
Bạn có thể không tin. Bởi vì trong bốn mươi lăm phút vừa qua bạn thấy bạn đã cố gắng khá nhiều mà không đạt tới sự an tĩnh mong đợi. Bé Thanh Thủy đang ngủ an lành, hơi thở của bé rất nhẹ. Chúng ta thắp thêm một ngọn bạch lạp nữa cho sáng đi, rồi hãy tiếp tục câu chuyện.
Bé Thanh Thủy ngủ an lành như thế mà không hề cố gắng. Bạn có nhớ là mỗi khi không ngủ được mà ta “cố-gắng” ngủ, thì ta lại càng không ngủ được, có phải không? Bạn đã cố gắng để được yên tĩnh, và vì vậy, bạn cảm thấy có một sự chống cự bên trong. Nhiều người ban đầu tập ngồi thiền cũng cảm thấy sự “chống cự” đó, càng muốn yên thì càng nhiều tạp niệm. Họ cho đó là bị “ma” phá, hoặc bị cái “nghiệp nặng” tích lũy từ ngàn kiếp của họ phá. Không phải vậy đâu. Cái sức chống cự ấy sở dĩ có là do sự cố gắng của ta, và sự cố gắng ấy đã trở nên một sức đàn áp. Tư tưởng và cảm giác ta xuôi đi như một dòng sông. Ta chận dòng sông là ta tạo nên sức chống cự của nước. Tốt hơn hết là ta nên đi theo dòng sông. Ta lại có thể hướng dòng sông đi theo những ngõ ngách mà ta mong muốn, nhưng nhất định là ta không nên chặn đường của nó. 

 

Dòng sông thì phải chảy. Được rồi nhé, chúng ta đi theo dòng sông. Bất cứ một con nước nào sát nhập và dòng sông là ta phải biết. Tất cả những tư tưởng và cảm giác nào có mặt trong ta là ta biết. Ta ý thức được sự phát sinh, tồn tại và hoại diệt của từng tư tưởng, từng cảm giác và từng cảm xúc. Bạn thấy không, sức “chống cự” đã biến mất. Dòng sông tâm tư bây giờ vẫn trôi chảy như trước, nhưng không phải trong bóng tối mà dưới ánh sáng mặt trời ý thức. Giữ cho mặt trời ý thức ấy sáng tỏ để soi rõ từng con nước, từng bờ cỏ, từng khúc quanh của dòng sông, ấy là thực hiện thiền quán, tức là “ngồi” thiền. Thiền trước hết là theo dõi và quán sát.
Bây giờ đây ta có cảm tưởng là ta đã làm chủ được tình hình, dù dòng sông còn đó và tiếp tục trôi chảy. Ta cảm thấy an tĩnh. Nhưng đây không phải là cái an tĩnh của ly nước táo. Sự an tĩnh của tâm tư không phải là sự chết cứng hay hóa đá của mọi tư tưởng và cảm giác. Cũng không phải là sự hoại diệt của tư tưởng và cảm giác; nói một cách khác hơn, sự an tĩnh của tâm tư không phải là sự vắng mặt của tâm tư.
Cố nhiên tâm không phải chỉ gồm có tư tưởng và cảm giác. Những hiện tượng như giận ghét, hổ thẹn, tin tưởng, nghi ngờ, ao ước, chán bỏ, buồn rầu, thắc mắc, nôn nao v..v… đều là tâm. Những cái mà ta gọi là hoài vọng, ẩn ức, linh tính, bản năng, vô thức và tiềm thức cũng đều là tâm. Duy Thức Học trong Phật học nói đến tám vua tâm (tâm vương) và năm mươi mốt tùy tùng của tâm (tâm sở), nếu có chút thì giờ bạn nên xem qua cho biết. Mọi hiện tượng tâm lý đều được bao hàm trong các tâm vương sở ấy.

Cuộc sống không chỉ có khổ đau

Trích trong sách “Muốn an được an” của Sư Ông Làng Mai

Cuộc sống có rất nhiều khổ đau nhưng cuộc sống cũng tràn đầy những mầu nhiệm như trời xanh, mây trắng, nắng ấm, ánh mắt trẻ thơ… Cuộc sống không chỉ có khổ đau, do đó, chúng ta phải biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Bất cứ lúc nào, những mầu nhiệm ấy cũng có mặt khắp nơi trong ta và xung quanh ta.

Nếu tự thân ta không có hạnh phúc, bình an thì chúng ta không thể hiến tặng hạnh phúc và bình an cho người khác, kể cả những người ta thương, những người ta cùng chung sống trong một mái ấm gia đình. Có bình an, hạnh phúc thì chúng ta sẽ mỉm cười và nở ra như một bông hoa, khi đó, mọi người chung quanh ta, từ gia đình cho đến xã hội, ai cũng được thừa hưởng. Chúng ta có cần cố gắng để hạnh phúc không? Có cần cố gắng để thưởng thức vẻ đẹp của trời xanh không? Có cần phải thực tập để có thể tận hưởng được vẻ đẹp đó không? Không. Chúng ta chỉ tận hưởng thôi. Mỗi giây, mỗi phút của đời sống hàng ngày đều có thể như thế cả. Bất cứ lúc nào, ở đâu, chúng ta cũng có khả năng thưởng thức nắng ấm, thưởng thức sự có mặt của nhau, hay thưởng thức hơi thở của chính mình. Chúng ta không cần phải đến Trung Quốc để ngắm trời xanh. Không cần phải đi tới tương lai để thưởng thức hơi thở. Chúng ta chỉ cần tiếp xúc với chúng ngay bây giờ. Nếu chúng ta chỉ để ý đến khổ đau thôi thì rất tội nghiệp.

Chúng ta quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để nhìn mặt những người ta thương, kể cả những người trong gia đình ta. Ta cũng không có thời gian để nhìn lại chính mình. Xã hội đã tạo ra một lối sống mà ngay cả khi có thời gian rảnh rỗi, ta cũng không biết cách trở về tiếp xúc với bản thân. Ta đánh mất thời gian quý giá của ta bằng cả triệu cách: mở ti vi ra xem, nhấc điện thoại lên gọi, nổ máy xe đi đâu đó… Chúng ta không quen đối diện với chính mình, chúng ta chán ghét bản thân và muốn chạy trốn khỏi bản thân.

Thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong thân thể, cảm thọ, tâm hành và thế giới. Mỗi ngày có 40.000 trẻ em chết đói. Những nước siêu cường quốc có hơn 50.000 đầu đạn hạt nhân, đủ để tiêu diệt hành tinh của chúng ta nhiều lần. Tuy nhiên mặt trời mọc sáng nay rất đẹp, những đóa hoa hồng nở ven đường sáng nay là một mầu nhiệm. Cuộc sống đáng sợ nhưng cuộc sống cũng mầu nhiệm. Thiền tập là tiếp xúc với cả hai mặt. Đừng nghĩ rằng chúng ta phải trang nghiêm mới thực tập được. Kỳ thực, thực tập giỏi, chúng ta phải cười nhiều.

 

 

Gần đây, khi đang ngồi với một nhóm trẻ, thấy Jim cười rất đẹp, tôi nói: “Jim, con cười đẹp lắm!” Em trả lời: “Cám ơn Thầy”. Tôi nói: “Con không cần phải cám ơn Thầy. Ngược lại Thầy phải cám ơn con. Bởi vì nhờ nụ cười của con mà sự sống đẹp hơn. Vì vậy thay vì nói cám ơn, con có thể nói: ‘Đâu có gì đâu thưa Thầy, tự nhiên thôi mà!’”

Nếu em bé mỉm cười được, nếu người lớn mỉm cười được thì điều đó rất quan trọng và đáng quý. Nếu trong đời sống hàng ngày ta có thể mỉm cười, ta có khả năng bình an và hạnh phúc thì không những ta mà tất cả mọi người đều được thừa hưởng. Đó là nền tảng căn bản nhất của công việc chế tác hòa bình. Khi thấy Jim cười, tôi rất hạnh phúc. Nếu cậu bé ý thức rằng cậu đang làm cho người khác hạnh phúc thì cậu có thể nói: “Bạn quá tuyệt vời”.

Để nhắc nhở mình buông thư và giữ tâm bình an, thỉnh thoảng chúng ta cần nên tham gia các khóa tu, hay ngày quán niệm. Những lúc đó, chúng ta có thể đi chậm lại, mỉm cười, uống trà, trân quý sự có mặt của nhau và sống với nhau như thể mình là người hạnh phúc nhất trên đời. Thực sự, đây không phải là khóa tu (retreat) mà là một sự ưu đãi, một bữa tiệc (treat). Trong khi đi thiền hành, ngồi thiền, nấu ăn, làm vườn… suốt ngày, ta có thể thực tập mỉm cười. Ban đầu có thể hơi khó. Có khi ta lại thắc mắc tại sao ta phải cười. Cười được nghĩa là mình đang có chủ quyền với chính mình, mình là mình, mình không đắm chìm trong thất niệm. Nhìn trên khuôn mặt của các vị Bụt và các vị Bồ Tát, ta cũng thấy được những nụ cười như thế.

Tôi xin cống hiến cho các bạn một bài thi kệ để các bạn có thể đọc thầm khi thở và mỉm cười:

Thở vào tâm tĩnh lặng

Thở ra miệng mỉm cười

An trú trong hiện tại

Giây phút đẹp tuyệt vời.

“Thở vào tâm tĩnh lặng” giống như uống một ly nước mát, chúng ta cảm thấy sự mát mẻ dễ chịu thấm vào châu thân ta. Khi tôi thở vào và đọc lên câu này, tôi thấy hơi thở thực sự làm lắng dịu thân tâm tôi.

“Thở ra miệng mỉm cười”. Ta thấy được hiệu quả của nụ cười. Nụ cười làm buông thư hàng trăm bắp cơ trên khuôn mặt ta, làm cho hệ thần kinh ta thư giãn. Nụ cười giúp ta làm chủ bản thân. Vì vậy mà chư Bụt, chư vị Bồ tát luôn mỉm cười. Khi mỉm cười chúng ta sẽ nhận ra được sự mầu nhiệm của nụ cười.

“An trú trong hiện tại”. Khi ngồi đây tôi không nghĩ đến một nơi nào khác. Không nghĩ đến quá khứ hoặc tương lai. Tôi ý thức nơi mình đang ngồi. Điều này rất quan trọng. Chúng ta có khuynh hướng sống trong tương lai mà không phải sống trong giây phút hiện tại, không phải sống trong cái bây giờ, ở đây. Ta thường nói: “Đợi học xong có bằng tiến sĩ rồi tôi mới hạnh phúc”. Đâu dễ gì có bằng tiến sĩ, nhưng khi có bằng tiến sĩ rồi ta vẫn không hạnh phúc, ta lại nói: “Đợi đến khi có công ăn việc làm rồi tôi mới thực sự hạnh phúc, mới thực sự sống được”. Sau khi có công ăn việc làm ta lại đòi có xe hơi. Sau khi có xe hơi, ta đòi có nhà cao cửa lớn. Ta không có khả năng sống trong giây phút hiện tại. Ta có khuynh hướng trì hoãn đến tương lai, một tương lai xa xôi mà ta không biết là khi nào. Bây giờ không phải là giây phút để ta có thể sống hạnh phúc được. Và có thể suốt đời, không bao giờ ta thực sự sống, không bao giờ thực sự hạnh phúc. Vì thế, nếu có nói về một nghệ thuật sống thì đó là nghệ thuật sống trong giây phút hiện tại. Ý thức là chúng ta đang có mặt ở đây trong giây phút hiện tại, và chỉ có giây phút hiện tại là giây phút đáng sống nhất.

“Giây phút đẹp tuyệt vời”. Đây là giây phút duy nhất có thật. Có mặt ngay bây giờ, ở đây và sống hết lòng với giây phút hiện tại là công việc quan trọng nhất của ta. “Lặng, cười, hiện tại, tuyệt vời.” Tôi hy vọng các bạn sẽ thực tập được.

Dù cuộc sống có khó khăn cách mấy và nhiều khi rất khó để mỉm cười, nhưng cứ thử đi, rồi các bạn sẽ thấy được hiệu quả của nó. Chẳng hạn như khi ta chào nhau: “Chào anh, chào chị”, thì lời chào đó phải là một lời chào đích thực. Gần đây có một người bạn hỏi tôi: “Làm sao tôi có thể cười được khi trong lòng đầy khổ đau buồn tủi? Tôi thấy không tự nhiên thoải mái chút nào cả.” Tôi nói: “Cô phải mỉm cười với nỗi buồn của cô, bởi vì cô giàu có hơn nỗi buồn nhiều lắm.” Chúng ta giống như cái ti vi vậy, có hàng triệu kênh. Nếu mở kênh Bụt lên thì chúng ta là Bụt. Nếu mở kênh buồn lên thì chúng ta là nỗi buồn. Nếu mở kênh cười lên thì chúng ta là nụ cười. Chúng ta không nên để cho một kênh nào đó xâm chiếm, khống chế, lấn át ta. Trong ta có đủ mọi loại hạt giống. Chúng ta phải nắm lấy tình hình trong tay và khôi phục lại chủ quyền của mình.

 

 

Khi ta ngồi có ý thức, có bình an, có khả năng thở và mỉm cười được thì ta thực sự là ta, ta có chủ quyền với ta. Khi mở ti vi lên, ta thường để cho chương trình ti vi xâm chiếm. Thỉnh thoảng cũng có những chương trình hay nhưng thường thì chỉ là sự huyên náo, ồn ào. Nhưng vì ta muốn có một cái gì đó đi vào ta hơn là chính bản thân mình, nên ta ngồi đó để cho những chương trình huyên náo tấn công, ngự trị và hủy hoại mình. Cho dù hệ thần kinh của ta đau khổ, kêu la, ta vẫn không can đảm đứng dậy để tắt ti vi. Bởi vì tắt ti vi đi thì chúng ta phải quay về đối diện với chính mình.

Thiền thì ngược lại. Thiền giúp chúng ta trở về với chính tự thân mình. Trong xã hội, có cả hàng ngàn thứ như âm nhạc, phim ảnh, sách báo… kết hợp, hòa trộn lại lôi kéo ta đi, khiến ta ngày càng xa rời bản thân. Chúng ta phải ý thức, mỉm cười và biết thở những hơi thở chánh niệm. Đó là thiền tập, là một mặt khác của xã hội. Chúng ta trở về với chính mình để thấy được những gì đang xảy ra, vì chỉ có cái đang xảy ra mới là điều quan trọng nhất.

Đừng lỗi hẹn với sự sống

Chân Hoa Nghiêm

“Cái này có vì cái kia có” 

Tu viện Bích Nham đóng cửa từ khi đại dịch Covid-19 bắt đầu lan tràn khắp nước Mỹ cho đến hôm nay. Cơn đại dịch này đã và đang tiếp tục làm cho cả thế giới khủng hoảng. “Cô vi” chia cách tình thân. Vì sợ hãi lây nhiễm, con người không dám đến gần nhau. Hiện nay trên thế giới có bao nhiêu người đang sống cô đơn? Hàng triệu người mắc bệnh Covid bị cách ly một mình trong căn phòng của bệnh viện. 

Không phải chỉ sống trong cô đơn mà cũng chết đi trong cô đơn. Ngay cả người thân yêu nhất là cha mẹ, con cái, vợ chồng cũng không được kề cận một bên trước khi lìa đời. Covid đã lấy đi mạng sống hơn cả triệu người trên thế giới, trong đó có người em trai duy nhất còn lại của gia đình tôi. Em tôi đã ra đi trong tình trạng như thế. Có thể đây là tình trạng thê thảm nhất của thế giới hiện nay. 

Có rất nhiều người oán hận và thù ghét Covid-19. Vì nó đã lấy đi mạng sống của những người thân yêu. Vì nó đã gieo rắc những sợ hãi và chia cách. Vì nó đã gây khủng hoảng cho thế giới, v.v… Nhưng khi nhìn sâu vào Covid-19, tôi thấy rằng chúng không phải tự nhiên mà có. Theo kinh Trung đạo nhân duyên thì không có gì tự nhiên mà sinh ra. “Cái này có vì cái kia có. Cái này không vì cái kia không. Cái này sinh vì cái kia sinh. Cái này diệt vì cái kia diệt”. Chúng ta đã làm gì khiến nó xuất hiện? 

Tuy vậy, vì nó mà thế giới bỗng trở nên im lặng. Trong một thời gian, phố xá vắng tanh. Bầu trời bỗng nhiên trong xanh vì không một chiếc máy bay nào bay qua. Mọi người hầu như tập trung ở nhà, gia đình quây quần bên nhau. Cha mẹ được gần gũi con cái, những người thương yêu được gần gũi nhau và thiết lập lại tình thâm. Con người tạm thời dừng lại sự rong ruổi, dừng lại sự bận rộn, dừng lại những âu lo toan tính. Mọi người có thời gian để trở về với chính mình, có thời gian nhìn rõ những người thân yêu hơn. 

Đừng lỗi hẹn với sự sống 

Nghĩ về em, tôi vẫn thấy nhói đau trong lòng. Bốn năm qua tôi chưa về thăm gia đình. Dự định sẽ về thăm để chị em lại đoàn tụ bên nhau. Chưa về thì Covid-19 đã lấy đi mạng sống của em rồi. Thời gian em mới nhiễm bệnh, gia đình chúng tôi đã sách tấn em cố gắng chống chọi cơn bệnh. Chị em tôi liên lạc nhau mỗi ngày qua điện thoại. Tôi nhắn tin: “Ráng lên em ơi! Chị sẽ về thăm nhà, và sẽ nấu nhiều món chay ngon cho em ăn. Chị thương em lắm!”. Chúng tôi cầu nguyện và cầu nguyện… cuối cùng em cũng không qua khỏi. Gia đình tôi rất đau lòng khi nghĩ đến việc em đã đi trong tình trạng thật cô đơn, không một người thân bên cạnh. 

Vẫn biết đời là huyễn

Ly biệt vẫn thương tâm. 

Tôi khóc thật nhiều trong ngày em mất. Tôi đau khổ vì em tôi đã mất. Trong kinh Hoa Nghiêm, Bụt dạy các vị Bồ tát rằng: “Hãy quán sắc như bọt nước, quán thọ như bóng trên nước, quán tưởng như nắng gắt, quán hành như cây chuối và quán thức như huyễn”. 

Đã biết cuộc đời thật ngắn ngủi, mạng sống thật mong manh, tại sao tôi vẫn buồn đau khi em tôi mất? Những vần thơ bỗng hiện lên trong đầu tôi: 

Cuộc đời như bóng nổi mây trôi
Sáng còn tối mất mãi không thôi
Thương yêu cho lắm rồi ly biệt
Ghét nhau đến mấy cũng chia lìa.
Thương ghét, ghét thương vòng luẩn quẩn

Hơn thua được mất cứ xoay vần 

Luân hồi sáu cõi đường sinh tử
Biển khổ đong đầy mối thương tâm.

Chiều nay lữ khách dừng chân lại
Cảm thấy mệt nhoài kiếp tha phương

Quay thuyền ngược hướng dòng thác lũ

Buông hết trần tâm, lặng sóng cồn. 

Tôi tự cho mình là một lữ khách. Vì thấy tâm mình vẫn còn lang thang trong những chuỗi buồn vui nhân thế, cho nên cái chết của em trai đã làm tôi khổ. Chiều nay, chợt nhận ra điều ấy. Cuộc đời vốn là như vậy. “This is it”. Khi điều kiện còn thì em biểu hiện, khi điều kiện không còn thì em sẽ ẩn tàng trong một hình thức khác thôi. Phải nhìn thẳng vào thực tại, phải chấp nhận sự thật. Tôi phải buông bỏ nỗi sầu thương, tiếc nuối. 

Nhìn những cụm mây đang dần tan trên bầu trời trong, tôi tự nhủ lòng: “Mai kia rồi cũng 

sẽ đến phiên mình, không sớm thì muộn thôi”. Tôi bỗng nhớ những lời Thầy đã dạy: 

Hãy trân quý những tháng ngày còn lại

Hạnh phúc cười trên mỗi bước con đi. 

Hãy lau khô nước mắt đi, hãy trân quý những tháng ngày còn lại đi. Tôi phải sống cho thật có ý nghĩa trong từng giây từng phút. Tôi còn bao nhiêu tháng ngày còn lại? Đừng để những buồn đau chiếm ngự. Dù có Covid hay không có Covid, hãy tận hưởng những mầu nhiệm đang dàn trải trước mặt, mà đừng để những lo âu, sợ hãi che lấp. Tôi phải trân quý mỗi bước chân đang đi trên mặt đất. Tôi phải trân quý từng hơi thở vào ra. Tôi ý thức rằng mình đang sống. Tôi đang đi cho em tôi. Cho những ai đã không vượt qua được sự tấn công của Covid. Tôi phải trân quý sự có mặt của những người thương đang còn sống. Những người đang ở quanh tôi, những người tôi còn có thể nghe, có thể thấy, có thể tiếp xúc được. Tôi muốn chia sẻ với bạn rằng hãy nói ngay những lời thương yêu với người mình thương. Đừng hà tiện lời nói thương yêu với ba mẹ, con cái hay vợ chồng mình. Nếu không sau này mình sẽ hối tiếc. Khi người thương mất rồi, thì mình lại hối hận, tại sao khi họ còn sống lại không nói một lời thương yêu với họ. Thật may mắn, tôi đã kịp thời nói lời thương em trước khi em mất. Tôi cảm thấy không có một hối tiếc nào cả. Khi tôi đã bắt đầu chấp nhận cái chết của em tôi, thì nỗi đau trong lòng tôi cũng đang dần chuyển hoá. 

 

 

Em tôi có hai người con trai. Cháu lớn 21 tuổi đang là giáo viên dạy trung học. Cháu nhỏ năm nay 17 tuổi đang học lớp 11. Cái tuổi mới lớn với bao mơ ước về tương lai. Em tôi là tài xế xe buýt. Rời nhà từ sáng sớm, không nề cực nhọc mong ước rằng sẽ cho con mình một đời sống đầy đủ và hạnh phúc. Em tôi luôn dạy dỗ con đừng uống rượu hút thuốc, đừng ham chơi, nên chăm học để sau này ba sẽ thưởng, sẽ dẫn con đi chơi. Hai đứa cháu trai tôi nghe lời ba, chăm học lắm. Có lần tôi về thăm gia đình em, thấy hai cháu không đi đâu chơi cả. Tôi khuyên em nên tổ chức cho gia đình đi du lịch cho khuây khỏa, đừng làm việc nhiều quá, và nhân tiện gia đình cũng có mặt cho nhau. Đồng thời cho hai cháu được học hỏi thêm văn hóa nước ngoài. Nhưng em lắc đầu, nói: “Em muốn đợi thêm vài năm nữa”. 

Có bao nhiêu người trong chúng ta chờ đợi một thời cơ tốt đẹp để làm một cái gì đó cho bản thân mình và cho những người mình thương yêu? Nhưng tử thần thì chắc chắn sẽ không bao giờ chờ đợi một ai cả. Dù đó là một vị vua, và ngay cả một bậc toàn giác cũng không tránh khỏi vô thường. Khi nó đến thì mình không thể nào mặc cả. Tôi cảm thấy thấm thía câu: “Đừng lỗi hẹn với sự sống”. Sự sống đang dàn trải trước mắt ta, nếu mình không nắm lấy ngay trong giây phút hiện tại, nếu mình lần lữa thì mình sẽ đánh mất cơ hội thôi. 

Ngày đứa cháu trai của tôi thi O Level (bằng trung học lớp 11 bên Anh) và đậu hạng A, cầm mảnh bằng khen trong tay về đưa cho mẹ, cháu ôm mẹ khóc nức nở. Cháu nói không có ba ở đây để vui mừng khi cháu thi đậu giỏi. Và chắc rằng ba sẽ hãnh diện khi thấy thằng út học giỏi. Ba mất vì bệnh Covid đã khiến cháu tôi quyết định học ngành Y. Cháu muốn sau này sẽ giúp cho nhiều người thoát khỏi bệnh tật. Sự tiếp nối của em tôi đang được tiếp tục biểu hiện trong hình thức của hai đứa con mình. 

Mặc kệ Cô vi 

Con đường thiền hành mới được quý thầy khai phá có những hàng cây cao giao nhau, đầy những cành lá chín đỏ, vàng xen nhau thật bắt mắt. Màu sắc của mùa thu đẹp quá! Một cơn gió chợt đến làm những chiếc lá tung bay khắp trời. Tôi dừng chân và ngẩn ngơ nhìn khung cảnh trước mặt. Ôi đẹp quá! Những chiếc lá tung bay khắp cả khu rừng như hoa trời Đâu la miên được rải xuống trần gian. Thật ra tôi chưa từng thấy hoa trời Đâu la miên, chỉ tưởng tượng và nghĩ rằng chắc cũng đẹp đến như vậy thôi. 

Tôi chợt thấy đời mình không khác gì chiếc lá. Lá đã đi qua những giai đoạn chuyển tiếp, lúc xanh non mơn mởn, lúc sậm màu và khi bắt đầu chấm dứt cuộc đời thì nó bừng lên màu sắc thật rạng rỡ để rồi trở về với màu sậm tối, héo khô. Trở về với hiện thực, tôi tiếp tục dẫm lên những chiếc lá vàng khô và nghĩ rằng: trước khi về với đất Mẹ, chúng có cơ hội được bay nhảy tự do trong không gian, đẹp biết bao! Bất chợt tôi tự hỏi: “Mình có được như chiếc lá mùa thu không? Mình có tự do, không vướng bận như những chiếc lá trước khi về với đất Mẹ?”. 

Vào mùa thu, khi những cơn bão đến các vùng phía Nam, thì ở phía Đông của nước Mỹ cũng bị ảnh hưởng không ít. Cơn gió mạnh đã làm gãy đổ một cây táo lâu năm trên con đường về ni xá. Hình như cây táo biết nó sẽ ra đi trước mùa đông nên mùa xuân nó ra rất nhiều hoa rất đẹp. Và mùa thu này những đóa hoa đã trở thành nhiều trái đẹp thơm ngon. Cây mà cũng biết hiến tặng tất cả những gì đẹp và ngon trước khi ra đi, huống hồ là một con người. Mỗi khi đi ngang cây táo đường trên về ni xá, tôi thường đứng dưới những nhánh cây thấp và với lấy một trái đỏ chín, cắn vào một miếng táo để thấy nước táo ngọt ngọt chua chua thấm qua cổ họng. Tôi thưởng thức trái táo với lòng biết ơn cây táo đã cho hoa quả đẹp. 

Chư hạnh vô thường 

Năm 2020 vì đại dịch, chúng tôi chỉ có một khoá tu duy nhất là khóa tu nấu ăn online (trên mạng). Tuy khoá tu có năm ngày, nhưng thiền sinh cũng rất hạnh phúc khi tham dự. Thiền sinh người Mỹ cũng như người Việt đều rất nhớ Bích Nham. Quý thầy, quý sư cô tổ chức khóa tu online có nhiều hạnh phúc lắm. Hàng năm chúng tôi thường có khóa tu cuối năm. Nhưng năm nay quý thầy qua tu viện Lộc Uyển an cư, chỉ còn lại quý sư cô, không đủ nhân lực để lo khóa tu online cuối năm. Chúng tôi chỉ tổ chức những buổi quán niệm qua mạng trong những ngày lễ đặc biệt như lễ Tạ ơn, lễ Giáng sinh, Tết Tây và Tết Ta mà thôi. Vậy mà chúng tôi đã nhận những lá thư từ khắp nơi, từ Canada đến Bắc California gửi đến hỏi thăm cuộc sống chúng tôi có thiếu thốn gì không? Có cần gì không? Những tăng thân vùng lân cận cũng luôn gửi thư cúng dường và hỏi thăm. Nhìn những lá thư thăm hỏi, chúng tôi cảm động lắm. Khi chính phủ bắt đầu cho các tiểu bang thông thương với nhau thì có hai em Kỳ và Hà là người Việt ở vùng Delaware thường tham dự khóa tu người Việt. Hai em không ngại đường xa, cứ mỗi tháng là chở một xe đầy thực phẩm Á châu đến. Cũng có khi chúng tôi nghe tiếng xe thắng trước cửa phòng ăn, bước ra thì thấy một thùng cải xoăn (kale), hai bịch quýt nhỏ, mấy hộp sữa hạnh nhân (almond), và một chú người Mỹ ngồi trên xe nhìn chúng tôi vẫy tay cười rồi lái xe đi. Khi chắp tay quán tưởng trước mỗi bữa ăn, tôi thấy lòng biết ơn vô hạn. Với mỗi bước chân, mỗi hơi thở, tôi không những cầu nguyện cho thế giới được bình an, mà cũng cầu nguyện cho các vị mạnh thường quân được yên ổn và hạnh phúc. 

Vì cách ly nên các thầy cô giáo dạy Anh văn cho các sư cô đều qua Zoom. Quý thầy cô giáo là những vị Tiếp hiện, hay thiền sinh tình nguyện dạy Anh văn cho các sư cô qua sự giới thiệu của tăng thân. Họ là những vị đã về hưu, hoặc còn làm việc tại nhà hay công xưởng. Tuy không có khóa tu, nhưng các sư cô cũng bận rộn với các lớp học. Những thầy cô giáo cũng được nuôi dưỡng nhiều qua sự tươi mát và khao khát học hỏi của các sư cô. Tôi rất vui khi thấy các sư em chăm chỉ học hành và thực tập. Sự tinh tấn của các sư em nuôi dưỡng tôi nhiều lắm. Tôi nhớ có lần Thầy nói với tôi: “Con là sư chị lớn thì nên làm gương cho các sư em, đừng bỏ thời khóa”. Tôi chắp tay dạ nhỏ. 

Tôi không bao giờ muốn bỏ thời khóa, dù đôi khi trời lạnh, hoặc có những lúc cảm thấy khá mệt mỏi vì công việc của chúng. Nhưng đối với tôi, những buổi ngồi thiền, những buổi thiền hành hay sinh hoạt với đại chúng là thời gian quý báu, tôi phải tận hưởng từng phút giây của những buổi công phu ấy. Thời gian như bóng câu qua cửa, vô thường có chờ đợi một ai. Đừng để tháng ngày trôi qua oan uổng. 

Chỉ còn 16 ngày nữa thì qua một năm mới. Win Grace, cô giáo dạy Anh văn qua Zoom của tôi nói: “Thưa sư cô, con nghĩ rằng năm 2020 đúng là một năm bùn lầy. Tất cả mọi thứ đều bị sa lầy và đi xuống. Con hy vọng rằng năm 2021 sẽ được khai thông và tươi sáng, như hoa sen mọc lên từ bùn vậy”. 

Tôi ngạc nhiên khi nghe những lời cô chia sẻ. Đúng thật! Năm 2020 là năm nhiều sợ hãi và ngăn cách. Bao nhiêu người đã chết vì bệnh dịch! Niềm đau mất người thương đầy như nước ở đại dương. Còn nhiều thứ nữa… nhưng nếu mình ngồi đó để kể lể, để hoài tưởng đến những nỗi khổ niềm đau thì mình sẽ bị nhấn chìm trong biển khổ mà thôi. 

Chư hạnh vô thường

Thị sinh diệt pháp

Sinh diệt diệt dĩ

Tịch diệt vi lạc.

(Kinh Đại Niết bàn) 

Nhớ lời Bụt dạy để thấy rằng mọi hiện tượng đang xảy ra trên thế giới là vô thường, để mình không còn sợ hãi và chấp nhận sự thật. Chấp nhận sự thật không phải là buông xuôi, mà là để mình rũ bỏ quá khứ và trở về với hiện tại để làm cho hiện tại tốt đẹp hơn từ kinh nghiệm quá khứ. Vẫn còn kịp để con người sống tỉnh thức hơn qua cách suy nghĩ, hành động và tiêu thụ của mình. 

Sáng nay nhận được tin Thầy đã bắt đầu ăn lại được, tôi mừng quá. Tôi đang chờ đợi để được về thăm Thầy. Tôi biết rằng Thầy rất thương Tổ đình, thương học trò và Thầy sẽ đợi. Cầu nguyện cho Thầy có mặt với chúng ta dài lâu.

 

Thời khắc duy nhất để sống

Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về nương tựa.

Tôi không thể thưởng thức được đời sống nếu tôi dùng nhiều thì giờ để lo âu về những gì đã xảy ra hôm qua hoặc sẽ xảy ra ngày mai. Chúng ta lo lắng về tương lai vì chúng ta sợ hãi. Nếu chúng ta sợ hãi hoài thì chúng ta không thể biết giá trị của sự sống và hạnh phúc của hiện tại.

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta có khuynh hướng cho rằng hạnh phúc chỉ có mặt trong tương lai. Chúng ta luôn luôn mong đợi những điều tốt đẹp hơn, những điều kiện tốt để làm cho ta hạnh phúc. Chúng ta bỏ qua những gì đang xảy ra trước mắt. Chúng ta cố gắng đi tìm những gì làm cho ta cảm thấy vững vàng hơn, an toàn hơn. Nhưng chúng ta cũng thường xuyên lo sợ về những gì tương lai sẽ đem tới. Chúng ta lo mất việc làm, mất của cải, và những người ta thương. Vậy nên chúng ta cứ chờ đợi cái giây phút huyền diệu kia, vào một thời điểm nào đó sau này, khi mà mọi chuyện xảy ra đúng như ý ta mong muốn. Nhưng đời sống chỉ có trong giây phút hiện tại. Bụt dạy: “Chúng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong hiện tại, đó là những giây phút duy nhất mà ta có.”

Khi bạn trở về với lúc này và ở đây, bạn sẽ nhận diện được rằng nhiều điều kiện của hạnh phúc đã có mặt. Thực tập chánh niệm là thực tập trở về với hiện tại, lúc này và ở đây, để có thể tiếp xúc sâu sắc với chúng ta, với đời sống. Chúng ta phải tập để có thể làm được chuyện này. Dù cho ta thông minh và hiểu biết ngay, chúng ta cũng cần được huấn luyện mới sống được như thế. Chúng ta phải luyện tập để thấy được rằng các điều kiện của hạnh phúc đã có mặt tại đây rồi.

Nhà của ta

Căn nhà thật sự của ta là bây giờ và ở đây. Quá khứ đã không còn và tương lai thì chưa tới. “Đã về nhà, đã tới nhà, bây giờ và ở đây.” Chúng ta thực tập như thế.

Bạn có thể đọc bài kệ đó trong khi thiền hành hay thiền tọa. Bạn có thể thực tập bài kệ khi lái xe tới sở làm. Bạn chưa tới sở nhưng trên đường đi, bạn đã tới căn nhà của bạn, chính là giờ phút hiện tại. Và khi tới sở, đó cũng là nhà, vì khi vô đó, bạn cũng đang sống với bây giờ và ở đây.

Hãy cứ thực tập câu đầu tiên: “Tôi đã tới, tôi đã về nhà” là bạn đã có thể rất hạnh phúc rồi. Khi ngồi, khi đi hay khi tưới vườn rau, hay cho con ăn, lúc nào bạn cũng thực tập được “đã về, đã tới.”  Tôi không còn chạy nữa. Tôi đã chạy suốt đời rồi và nay tôi quyết định dừng lại để thực sự sống cuộc đời mình.

Bạn chờ đợi gì nữa?

Người Pháp có bài hát “Người ta chờ điều gì để có hạnh phúc?” Khi tôi thực tập thở vào tôi đọc “đã về,” đó là một sự thành công. Bây giờ tôi hoàn toàn có mặt, tôi sống 100%. Giờ phút bây giờ trở thành ngôi nhà thật sự của tôi.

Khi thở ra tôi nói “đã tới nhà.” Nếu bạn không cảm thấy về tới, bạn sẽ tiếp tục chạy. Và bạn tiếp tục sợ hãi. Nhưng nếu bạn cảm thấy đã tới nhà, thì bạn sẽ cảm thấy không cần phải chạy nữa. Đó là chìa khóa bí mật của sự thực tập. Khi sống với hiện tại, ta có thể sống với hạnh phúc thật sự.

Thưởng thức mặt đất

Tôi kể chuyện này đã nhiều năm. Giả thử có hai phi hành gia lên mặt trăng. Khi tới nơi, họ bị tai nạn và họ biết chỉ còn đủ dưỡng khí cho hai ngày. Không hy vọng gì việc có người từ trái đất tới tiếp cứu. Họ chỉ còn hai ngày để sống. Nếu bạn hỏi họ lúc đó: “Bạn mong ước điều gì nhất?” Họ có thể trả lời: “Trở về nhà và được đi trên hành tinh trái đất.” Thế là đủ, họ sẽ không cần gì khác. Họ không cần là chủ nhân một công ty lớn, một người có tiếng tăm hoặc làm tổng thống Hoa Kỳ. Họ sẽ không muốn gì khác hơn là được trở về mặt đất, bước trên đó và thưởng thức từng bước chân, nghe các âm thanh của thiên nhiên và cầm tay người thương, nhìn ngắm mặt trăng.

Chúng ta nên sống mỗi ngày như những người được cứu thoát từ mặt trăng về. Chúng ta hiện đang sống trên mặt đất, nên ta cần biết thưởng thức từng bước chân trên mặt địa cầu quý giá, đẹp đẽ này. Thiền sư Lâm Tế đã dạy: “Phép lạ không phải là đi trên mặt nước mà là đi trên mặt đất.” Tôi rất quý lời dạy đó.  Bước đi là hạnh phúc của tôi, dù đi tại những nơi đông người như phi trường hay ga xe lửa. Đi như thế, mỗi bước chân hôn lên mặt đất mẹ, chúng ta có thể gây hứng khởi cho người khác làm theo. Chúng ta vui sống từng giây phút của cuộc đời.

(Trích trong cuốn sách “Không sinh không diệt, đừng sợ hãi” của Sư Ông Làng Mai)

Từ bi là yếu tố giải phóng

(Trích trong cuốn sách “Sống tự do bất cứ nơi nào, ở đâu” của Sư Ông Làng Mai)

Mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày của bạn đều có thể là một giây phút thực tập. Khi bạn đứng xếp hàng chờ lấy thức ăn hay chờ đến lượt mình, bạn đều có thể thực tập mỉm cười và thở vào thở ra trong chánh niệm. Ðừng bỏ phí một giây phút nào trong đời sống hằng ngày. Mỗi giây phút là một cơ hội để nuôi dưỡng sự vững chãi, an lạc và niềm vui. Chỉ thực tập như vậy sau vài ngày, bạn sẽ thấy sự có mặt tươi mát của bạn nuôi dưỡng những người xung quanh. Sự có mặt của bạn trở thành sự có mặt của một vị Bồ Tát, một vị thánh. Ðiều này chúng ta có thể làm được.

Có một câu chuyện mà tôi được đọc khi còn là một chú bé bảy tuổi. Ðó là một câu chuyện tiền thân của Bụt. Chuyện kể về một kiếp trước của Bụt, khi Ngài ở trong địa ngục. Người cai ngục chẳng có một chút từ bi nào. Hắn ta cầm một cái chĩa lớn và mỗi khi có ai làm gì sai ý hắn thì hắn đâm ngay cái chĩa vào trong ngực người ấy. Dù cho đau đớn cách mấy vì sự tra tấn tàn nhẫn này nhưng các tội nhân không thể nào chết được. Ðó là một sự trừng phạt. Họ đau đớn nhưng họ không thể chết được.

Một hôm, các tội nhân bị bắt phải vác trên lưng nhiều vật nặng. Người cai ngục, tay cầm cái chĩa nhọn và và thúc giục tội nhân phải đi nhanh hơn. Tiền thân Bụt thấy rằng một trong số những tội nhân không đi theo kịp. Người cai ngục đã bắt đầu để ý đến anh ta và luôn đưa cái chĩa ra hăm dọa ép anh phải đi nhanh hơn.

Ngay lúc đó trong lòng tiền thân Bụt ứa ra tình thương. Ngài muốn can thiệp, muốn đương đầu với người cai ngục cho dù Ngài biết rằng hắn ta sẽ quay lại và hại Ngài. Nếu sự can thiệp kết thúc bằng cái chết của Ngài thì dễ dàng để can thiệp. Ðằng này thứ hình phạt Ngài gánh chịu sẽ không làm Ngài chết, mà lại còn làm Ngài phải chịu đau đớn hơn nhiều. Mặc dù biết như vậy, Ngài vẫn can đảm đến gần người cai ngục và nói: “Ông không có một chút từ tâm nào hết sao? Sao Ông không cho anh ấy thư thả một tí để mang gánh nặng?”

Vừa nghe vậy, người cai ngục liền đâm cái chĩa nhọn vào ngực tiền thân Bụt. Ngài chết ngay và được tái sinh làm người.

Tiền thân Bụt đã có can đảm đứng lên và nhìn thẳng vào mặt người cai ngục vì lợi ích của người bạn tù. Ngài thấy sự được bất công, và do đau khổ quá nhiều, từ bi đã nẩy sinh trong tim Ngài. Lòng từ bi đã đưa đến hành động can thiệp. Vì vậy Ngài được chết ngay và được tái sinh làm người. Kể từ đó, tiền thân Bụt thực tập cho đến khi Ngài trở thành một bậc giác ngộ, một vị Bụt. Vì vậy dù là Bụt, trong một kiếp trước, Ngài cũng đã từng rơi xuống tận cùng của khổ đau. Nhưng nhờ lòng từ bi nẩy sinh trong trái tim mà Ngài đã có thể tự giải thoát ra khỏi tình trạng ấy.

Chính tôi cũng đã trải qua rất nhiều khổ đau, và tôi có thể nói với bạn rằng lòng từ bi có thể giải phóng bạn ra khỏi những tình trạng khó khăn nhất. Chính năng lượng của từ bi giúp ta tìm thấy được lối thoát khỏi những tình trạng khó khăn cùng cực đó. Đã có thời gian chúng tôi đem tàu vào vịnh Thái Lan để cứu người những vượt biển. Làm công việc này là vô cùng nguy hiểm vì trên biển lúc đó có rất nhiều hải tặc. Nhưng với niềm tin là lòng từ bi chính là sự bảo vệ tốt nhất. Không phải là sự bạo động, mà chính lòng từ bi là sự tự vệ hữu hiệu nhất, nên dù trong những trường hợp cứu người nguy hiểm như vậy nhưng chúng tôi không mang theo súng trên tàu của mình. Chúng tôi chỉ mang theo bên mình sức mạnh của lòng từ bi. Theo lời dạy của Bụt và kinh nghiệm thực tập của tôi thì lòng từ bi chính là sự bảo vệ tốt nhất.

Chúng ta thường nhắc đến danh hiệu đức Quán Thế Âm-vị bồ tát với lòng từ bi rộng lớn và hạnh lắng nghe sâu. Bồ tát có thể thị hiện dưới hình tướng của một người  phụ nữ, một người nam giới, một em bé, một chính trị gia, hay một người nô lệ, nhưng bản chất của bồ tát luôn luôn là sự biểu hiện của lòng từ bi trong trái tim Ngài. Có khi bồ tát Quán Thế Âm thị hiện như một con ma đói với vẻ mặt rất hung dữ. Ngài dùng hình tướng của một con ma đói để giúp cho những con ma đói khác, nhưng sự thật ngài là một người có lòng từ bi. Nhiều người trong chúng ta sợ bị tấn công nên chúng ta thường tỏ ra dữ tợn và tàn ác để tự vệ, dù rằng trong trái tim ta có đầy hiểu biết và thương yêu. Không có lòng từ bi, ta sẽ đau khổ vô cùng và làm những người quanh ta đau khổ. Với lòng từ bi, ta có thể làm vơi bớt nỗi khổ của người và cũng làm cho chính ta hạnh phúc.

Nếu bạn có năng lượng từ bi trong lòng là bạn đang được sống trong môi trường an toàn nhất. Từ bi được thể hiện qua đôi mắt của bạn, trong cách bạn hành động hay phản ứng, trong cách bạn đi, đứng, ngồi, ăn uống, hay liên hệ với người những khác. Từ bi là cách tự bảo vệ hữu hiệu nhất. Năng lượng từ bi cũng dễ dàng được lan tỏa. Ngồi cạnh một người có lòng từ bi trong trái tim sẽ mang lại cho chúng ta cảm giác nhẹ nhàng. Với lòng từ bi, bạn sẽ có thêm những người bạn, bởi vì ai cũng cần từ bi và tình thương. Chúng ta có thể bảo vệ cho nhau và bảo vệ cho những người xung quanh.

Sự thực tập của chúng tôi là nuôi dưỡng lòng từ bi trong đời sống hằng ngày. Với sự thực tập từ bi, chúng tôi mở lòng ra cho một người, rồi cho thêm một người nữa,.. và cuối cùng, khi lòng từ bi được biểu hiện thì ta có thể sống tự do và vui thích bất cứ nơi đâu. Khi niềm vui đã thấm nhuần trong thân tâm thì ta có thể tìm thấy an lạc ngay bây giờ và ở đây.

Chấp tác toàn chúng

“Ta làm việc để thỏa mãn ước vọng thương yêu, đâu phải để kể công hay tích tụ phước đức. Người đồng sự của ta không làm được như ta, điều đó đâu có thể là nguyên nhân khiến ta ngưng bớt công việc của ta. Tôi nghe người ta nói các em làm việc giỏi. Điều đó chưa đủ cho chúng ta mừng. Điều quan trọng nhất chưa phải là làm việc giỏi. Điều quan trọng nhất là thương yêu nhau, và biết sống hạnh phúc bên nhau. Chúng ta làm việc cho hòa bình, thì chúng ta xây dựng hòa bình trong lòng ta và trong gia đình ta, có phải không?”

(Trích trong thư Sư Ông gửi cho các tác viên trường TNPSXH ngày 18.07.1974)

Hình ảnh tăng thân cùng đi với nhau như một dòng sông và làm việc với nhau như một bầy ong đã vui trồng và nuôi lớn những hạt giống thương yêu hiểu biết trong trái tim người xuất sĩ. Thành quả quý giá nhất mà mỗi người có thể hiến tặng cho tăng thân không chỉ là kết quả công việc, mà chính là hạnh phúc, sự hòa hợp, và tình đệ huynh.

Kính mời đại chúng cùng thưởng thức một chút không khí ngày chấp tác toàn chúng vừa qua tại Làng.

Đại Trượng Phu

Nhạc và lời: Thầy Chân Pháp Thiên

 

 

Bàn tay ta, bàn tay ta

Tình thương, tình thương dâng cho cuộc đời

bằng những vốc nắng an lành.

Từ những con tim mang dòng máu trượng phu

Gửi những hóa thân tuyệt vời

đến nơi xa vời trống vắng tình yêu

Này em ơi, những hóa thân tuyệt vời

Đã lên đường, đã lên đường dệt mùa yêu thương

Và tương lai sẽ không còn mờ mịt

Vì hôm nay chúng ta đã sống trọn vẹn,

trọn vẹn một ngày yêu thương

Một ngày yêu thương xứng đáng

trở thành bậc trượng phu

Hành động yêu thương xứng đáng

trở thành bậc trượng phu

Bậc trượng phu là ai?

Là bạn – là người tỉnh thức giữa cuộc đời.

Chọn người tri kỷ

(Trích từ pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 2.8.1998 )

Tại sao anh đã không chọn người khác mà chọn mình? Sự lựa chọn đó do đâu mà có? Sự ham muốn bóng sắc tự nó không đủ. Phải có cái gì đó. Ở bên Mỹ, có anh chàng kia rất đẹp trai, tài ba, tốt nghiệp đại học thuộc hàng ưu tú, có việc làm lương rất lớn, và có rất nhiều cô bạn gái thật xinh đẹp. Bà mẹ rất ngạc nhiên khi thấy anh rất thân với một cô gái không phải là đẹp nhất. Cô này hơi thấp, nước da hơi đen, mà sao con trai mình có vẻ thích cô này hơn các cô khác? Bà cũng tò mò. Bữa đó hai mẹ con ngồi riêng với nhau, bà nói: “Má thấy mấy đứa kia ngó được quá mà sao con không chọn, con lại đi chọn con nhỏ này hơi đen mà lại thấp nữa?”Anh chàng không biết trả lời làm sao hết. Anh chàng chưa suy nghĩ thành ra bị hỏi bất ngờ quá không trả lời mẹ được.

Nhưng sau ba bốn ngày quán chiếu, anh ta tìm ra câu trả lời. Cái cô này mỗi khi anh nói chuyện, cô biết lắng nghe. Anh là nhà khoa học nhưng anh cũng ưa làm thơ. Mỗi khi anh đọc thơ, cô lắng nghe, và cô hỏi những câu hỏi chứng tỏ cô hiểu được thơ của anh. Còn những cô khác cũng nghe, nhưng nghe do lễ phép, bắt buộc phải nghe thơ nhưng không thích. Thành ra cái đặc biệt của cô này là cô thích thơ, cô hiểu thơ, cô lắng nghe thơ. Và cô trở thành tri kỷ của anh.

Tri kỷ là người hiểu được mình. Trên cuộc đời này mà tìm được một người có thể hiểu được mình thì mình là người có hạnh phúc. Món quà quý nhất mà người kia có thể tặng cho mình là khả năng hiểu được mình. Có những người sống trong cuộc đời này mà chưa bao giờ tìm được một người có thể gọi là hiểu mình cả. Dù là con trai hay con gái, trong cuộc sống này nếu mình có thể tìm được một người có khả năng lắng nghe mình, có thể hiểu được những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của mình thì tức là mình tìm thấy nơi người đó một tâm hồn tri kỷ. Tri kỷ là biết nhau, là hiểu nhau.

Con người đi tìm trong đời này một tri kỷ, một người biết được mình. Tìm ra được người đó thì hạnh phúc. Ngày xưa có một vị quan lớn chơi đàn thập lục huyền cầm rất tuyệt diệu. Trong giới quan quyền, bạn hữu không có ai hiểu được nghệ thuật, tài năng của ông cả. Vì vậy mỗi lần đánh đàn ông thường đem theo một vài người hầu cận lên trên núi, tìm một chỗ đẹp. Ông trải chiếu, pha trà rồi đốt trầm lên. Trong không khí trang nghiêm ông chơi đàn. Rất hạnh phúc. Và ông có cảm tưởng là chỉ có suối, cây, núi, mây mới hiểu được tiếng đàn của ông. Bữa đó, đang đàn thì tự nhiên một dây đàn bị đứt. Ông ta tháo dây đàn đứt đó ra, thay một dây mới. Vừa đàn thêm một câu nữa thì dây đàn bị đứt nữa, và cứ đứt như vậy ba lần. Ông ta nghĩ: “Chắc có người đang nghe trộm mình”. Ông đứng lên, nói lớn: “Có vị tri kỷ nào đang nghe trộm tiếng đàn của tôi xin cho gặp mặt”.

Tự nhiên có một anh tiều phu xuất hiện. Anh tiều phu này đã nghe lén, đã cảm được tất cả những cái hay, cái đẹp, cái tài ba của người đàn. Và vì vậy cho nên dây đàn đứt. Ông quan đánh đàn tên là Vương Bá Nha, người tiều phu tên là Chung Tử Kỳ. Hai người nói chuyện rất tâm đầu ý hợp. Bá Nha lần đầu tiên tìm ra được một tri kỷ, một người hiểu được nghệ thuật của mình. Tử Kỳ chấp nhận làm bạn tri kỷ của Bá Nha, nhưng không muốn về kinh đô nhận những cái chức như là thư ký văn phòng. Tử Kỳ chỉ muốn làm tiều phu thôi. Lâu lâu, Bá Nha nhớ tới bạn, sắp đặt công việc trong triều rồi hẹn với bạn, hai người cùng uống trà. Bá Nha hạnh phúc vô cùng vì Bá Nha đã tìm ra được một người tri kỷ, tri âm. Tình bạn đó lưu truyền cho tới ngày hôm nay.

Hồi mới mười tám tuổi, tôi đã làm một bài thơ ca tụng tình bạn của Bá Nha và Tử Kỳ. Trong cuộc đời mà có một người nghe được mình, hiểu được mình thì mình là một trong những người may mắn nhất ở trên đời rồi. Cho nên anh chàng ở Cali, ba ngày sau gặp lại mẹ, mới trả lời câu hỏi của mẹ: “Hôm trước má hỏi tại sao con thương cô đó. Tại sao má biết không? Tại vì người đó hiểu con. Thành ra dầu có hơi đen một chút, hơi thấp một chút, con thương cô đó hơn tất cả những cô xinh đẹp, cao ráo, sang trọng kia”.

Đời người mà tìm ra được một người hiểu mình đó là hạnh phúc vô cùng. Con mà hiểu cha, đệ tử mà hiểu thầy thì cũng làm cho cha, cho thầy rất hạnh phúc. Đó là nói ra từ kinh nghiệm. Thành ra mình biết ơn người đã hiểu được mình. Cảm ơn em đã hiểu được anh, cảm ơn con đã hiểu được cha, cảm ơn cha đã hiểu được con. Tu tập là làm thế nào để có thể có được cái hiểu. Muốn hiểu thì phải lắng nghe, phải quan sát mới hiểu được. Khi mình sống với một người có khả năng hiểu mình thì mình có hạnh phúc lắm. Vì cái hiểu là nền tảng của cái thương. Không hiểu thì không thể nào thương. Trong tình yêu đôi lứa người ta phải cẩn thận. Mình chỉ cần thử nghiệm vài cái là biết người đó có hiểu mình hay không. Mà nếu người đó không hiểu mình thì dù người đó có bằng cấp cao, lương nhiều, xe đẹp, nhà cửa sang trọng, bảnh trai, hay sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành đi nữa, khi cưới người đó thì mình cũng sẽ khổ suốt đời, như là khổ sai chung thân. Và tình yêu đó là một cái nhà tù.

Cái người mà khi mình nói cứ cắt lời mình, không để cho mình nói, cứ khoe cái của họ, không có khả năng hiểu được những khó khăn, những khổ đau của mình, không biết lắng nghe mình… muốn nhận ra người đó rất dễ, chỉ cần vài ba phút là được. Đừng để cho mình bị hấp dẫn bởi những cái bên ngoài: Sắc đẹp, địa vị, danh lợi, xe hơi, nhà cửa, lương tiền, bằng cấp… Đừng để cho những cái đó làm cho mình mờ mắt. Hai con mắt mình hãy tỉnh táo để có thể nhận rằng người con gái đó, hay người con trai đó là một người có thể hiểu được mình, và hiểu được mình thì có thể có khả năng thương mình. Rất rõ ràng như vậy. Đó là tiêu chuẩn của đạo Phật về hạnh phúc, về tình yêu. Những người yếu đuối thường bị hấp dẫn bởi những cái phù phiếm bên ngoài.

Trong xã hội Việt Nam mới phát triển, một cô gái có thể đánh mất tiết trinh của mình để đánh đổi lấy một chiếc xe gắn máy. Thật dễ sợ! Đạo đức đã suy đồi tới mức đó. Mình muốn thoát ra khỏi cái thân phận nghèo khổ, mình muốn có một chiếc xe giống như người ta, và mình đánh mất cái quý giá nhất của đời mình. Chuyện đó đã và đang xảy ra. Thành ra những cái hấp dẫn của vật chất, của bề ngoài phù phiếm mình không thể coi thường được. Mình sẽ dấn thân vào những nẻo đời khổ đau nếu mình không cẩn thận.

 

 

Có hiểu mới thương

Ở trong đạo Phật chúng ta thấy rất rõ cái thương đích thực được làm bằng cái hiểu, không có hiểu thì không có thương. Không hiểu con thì cha càng thương, con càng khổ. Vợ không hiểu chồng thì càng thương chồng, chồng càng khổ. Hiểu là nền tảng của tình thương. Sống với nhau như thế nào để càng ngày mình càng hiểu được nhau nhiều hơn và để cho người kia càng ngày càng hiểu được mình nhiều hơn. Nếu cái hiểu không lớn lên, thì cái thương cũng không lớn lên mà dậm chân tại chỗ. Nếu quý vị thấy tình thương của mình đang dậm chân tại chỗ thì quý vị biết rằng quý vị thiếu tu.

Cái hiểu không lớn thêm và cái thương không lớn thêm thì chúng có thể từ từ co rút. Tình yêu có thể co rút lại cho đến khi thành ra một cục cứng ngắc không còn sinh khí. Tình yêu có thể chết nếu mình không biết nuôi dưỡng nó bằng cái hiểu và cái thương. Và khi người kia hiểu mình thì mình biết ơn người đó, biết ơn suốt đời. Chính sự biết ơn đó là chất liệu nuôi dưỡng liên hệ giữa mình và người đó cho đến suốt đời. Đó là nghĩa, không phải là cái bồng bột lúc ban đầu nữa, không phải là ngọn lửa nhất thời nữa.

Kinh nghiệm nuôi lửa

Ở Việt Nam ngày xưa người ta không nấu cơm bằng gas hay bằng điện mà nấu bằng rơm. Ngày xưa tôi cũng đã từng nấu cơm bằng rơm. Rơm cháy rất mau. Có cách để làm cho rơm cháy chậm lại: mình đặt một nắm rơm vào và lấy cái đũa bếp đè xuống thì nắm rơm sẽ cháy từ từ, được lâu hơn. Ở nhà quê Việt Nam ngày xưa còn nấu bằng trấu. Trấu tức là vỏ lúa. Không có hộp quẹt vì vậy người ta phải nuôi lửa. Nuôi lửa hay nhất là nuôi bằng lửa trấu: mình đổ vào một vài bát trấu, thì trấu cháy ngún rất lâu. Lửa trấu không cháy phừng phừng như lửa rơm mà cháy chầm chậm. Chầm chậm thôi mà cháy cả đêm. Sáng dậy mình khơi ra thì còn lửa trong bếp.

Tình là ngọn lửa rơm mau tàn. Còn Nghĩa là lửa trấu, cháy suốt đêm. Ngày xưa Việt Nam có truyền thống đi xin lửa, vì không có hộp quẹt, cũng không có đèn dầu. Mỗi khi nấu cơm, nếu nhà mình không có trấu để giữ lửa thì mình phải qua hàng xóm xin lửa. Các cháu có thể là chưa bao giờ thấy Con Cúi. Con Cúi không phải là một sinh vật mà mình vẫn gọi là con. Mình lấy rơm bện lại thành một con rắn bằng rơm thật chặt, đốt một đầu và nó cứ cháy ngún từ từ, được năm bảy giờ đồng hồ. Mỗi khi cần lửa nấu cơm thì mình tới Con Cúi lấy lửa. Nếu mình không có Con Cúi và cũng không có lửa trấu thì mình phải đi xin thôi. Thế hệ của quý vị bây giờ không biết đi xin lửa là gì. Ngày xưa tôi có làm một bài thơ về chuyện đi xin lửa:

Xóm Mới

Sáng hôm nay hộp diêm của tôi hết rồi
Bếp lạnh như trời cuối thu ướt lạnh
Tác phẩm dở dang còn đó
Tôi qua nhà láng giềng xin lửa
(hồi bé chúng tôi thường hai đứa chạy xin)
Em hỏi tôi sẽ làm sao nếu nhà láng giềng không còn lửa
Chúng tôi sẽ họp hai người hát ca
Nhớ lời em dặn “là những bông hoa”.
Chúng tôi sẽ cầm đuốc đi bên nhau hướng về Xóm Mới
Em cũng cứ hát ca đi, trong khi chờ đợi,
Thế nào trong xóm ta cũng có nhà còn lửa
Thôi tôi xin mọi người đưa tay nói thực:
Có phải tất cả chúng ta
Đang tin ở điều đó như đang tin hôm nay
Ở hiện hữu nhiệm mầu?
Tôi biết có những nhà nghèo,
nhưng trấu hồng ngún cháy
ngày đêm trong bếp hồng âm ỉ
Tôi sẽ nhớ lời em không khuấy động bếp lành
Một nắm rơm đặt vào
Đợi khói tỏa mầu xanh,
Em nhìn xem:
chỉ một hơi thở nhẹ của hồn tôi thôi
Cũng đủ gọi về lửa đỏ.

Đi xin lửa mình phải cầm một nắm rơm dài. Tới bếp của người ta thì mình đừng nên quấy động cái bếp, vì người ta đang nuôi lửa trong đó. Mình lấy nắm rơm của mình, dúi vào chỗ lửa trấu đang còn cháy, và mình đợi độ chừng hai, ba chục giây. Trong khi đó mình thở. Từ từ khi thấy khói lên thì mình biết nắm rơm của mình đã được lửa bén vào rồi. Khi đó mình chỉ cần thổi một hơi thở nhẹ là lửa cháy lên. Mình lấy một nắm rơm khác, nắm nó lại, đem về thì nó tiếp tục cháy. Ngày xưa đi xin lửa là chuyện mỗi ngày.

Lửa rơm cháy mau được ví dụ cho tình yêu. Lửa trấu ngún cháy cả ngày đêm được tượng trưng cho Nghĩa. Ân Nghĩa là cái phải tiếp nối cái Tình. Tình phải được bắt đầu cho khéo để từ từ đưa tới cái Nghĩa. Ân Nghĩa là cái nuôi dưỡng một cặp vợ chồng cho tới khi đầu bạc răng long. Răng long thì đi làm răng giả, còn đầu bạc thì đi mua thuốc nhuộm. Và nuôi dưỡng Nghĩa là nuôi dưỡng thương yêu. Mỗi ngày mình phải làm cho cái tình của mình lớn lên và biến thành nghĩa. Mình phải biết lợi dụng cái ngọn lửa đầu tiên. Ban đầu mình dúi nắm rơm vô lửa trấu là để cho ngún cháy, khói đi lên, mình thổi phù nhè nhẹ thì lửa bốc lên. Nhưng mình đem lửa đó về nhà không được, nửa đường sẽ tắt. Và vì vậy khi lửa rơm cháy lớn rồi thì mình phải ủ nó vào trong nắm rơm khác cho lửa cháy ngún từ từ mà đem về.

Mỗi ngày mình phải xây dựng cái ơn và cái nghĩa. Mỗi lời nói, mỗi cử chỉ săn sóc đều là tạo ra ơn và nghĩa. Chính cái đó nó là keo sơn giúp cho một cặp vợ chồng sống với nhau suốt đời. Tình bạn cũng vậy. Tình bạn thì không có sự cháy bùng, đam mê như là tình yêu, cho nên tình bạn dễ hơn nhiều. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói rất rõ là tình bạn thì lâu dài, bền chắc, và nuôi dưỡng mình nhiều hơn tình yêu. Cho nên bí quyết là mình phải biến tình yêu lúc ban đầu trở thành tình bạn. Hai người ban đầu là hai người yêu, nhưng từ từ sẽ trở thành hai người bạn.

Khi trở thành hai người bạn thì đó là tình yêu đang còn. Còn nếu tình yêu không trở thành được tình bạn thì nó sẽ chết, nó không thành công. Mà sở dĩ tình yêu trở thành tình bạn được là vì mình phát khởi được cái ơn và cái nghĩa. Cái ơn nghĩa đó bắt đầu từ chỗ ý thức được rằng tại sao giữa bao nhiêu người mà người đó lại chọn mình. Và mình biết ơn người đó đã chọn mình. Cái chọn của mình không phải là nhất thời. Sự chọn này phải xảy ra trong một quá trình nào đó, với trí tuệ chứ không phải chỉ với đam mê mà thôi. Nếu chỉ có đam mê thì mình sẽ hối hận. Phải có trí tuệ và phải biết lắng nghe, Lắng nghe bạn bè của mình, lắng nghe cha mẹ của mình, lắng nghe các em của mình. Vì họ cũng có cái thấy, mà cái thấy của họ đôi khi khách quan hơn, chắc chắn là khách quan hơn mình, tại vì mình chủ quan quá. Mình đam mê rồi thì mình không thấy được sự thật rõ ràng bằng những người khác.

 

Nếp sống thiên nhiên

 

Mùa xuân ở Xóm Mới Làng Mai luôn ngập tràn hoa với đủ các loại, đủ mọi màu sắc và đua nở khắp nơi. Hoa bồ công anh vàng, hoa cúc trắng dại trải thảm dưới chân, hoa tulip đủ màu, và nhiều loại hoa không thể nhớ hết tên ở bên tường, bên bờ rào, cạnh lối đi. Chỉ cần bước ra khỏi cửa, ta có thể thấy cả một vùng trời hoa: hoa mận trắng xóa trên đầu, hoa táo phơn phớt hồng, hoa đào rực đỡ cả một vòm trời. Tôi đang được sống trong một rừng hoa như vậy nên chẳng còn nhu yếu ngắt một cành hoa nào về trang trí bàn học như ngày xưa nữa. Tôi thấy quá đủ đầy và không nỡ để chúng rời xa nơi sống của mình, dù chốn ấy là nơi bình dị ven đường hay dưới chân người qua lại. Chúng chỉ đẹp nhất khi ở nơi chúng thực sự thuộc về.

 

 

Mùa xuân cũng là khi chim về xây tổ ấm. Mỗi sớm mai thức giấc, dù đang ở trên tầng gác mái trong tòa nhà xa khu vườn đầy hoa thì lòng tôi vẫn hân hoan bởi tiếng chim. Chúng líu lo suốt ngày từ sáng sớm đến chạng vạng tối. Và thường tập trung ở những lùm cây to, có lẽ đó là một ngôi nhà lớn an toàn cho chúng. Có lần, khi đang đứng chào hỏi sư cô Chân Đức, sư cô nói “Xóm Mới có nhiều chim quá ha!”. Tôi trả lời “Dạ, nhiều lắm ạ!”, rồi không biết nói gì hơn vì khung cảnh bình yên và đẹp quá. Lời lẽ không thể diễn tả được sự mầu nhiệm của thiên nhiên và năng lượng bình yên, hạnh phúc của nơi này. Tôi chỉ có thể cảm nhận mọi thứ bằng cả thân tâm mình. Giây phút đứng bên một vị tu hành đức độ có nhiều niềm vui, sự bình yên thì lời lẽ không còn cần thiết. Sự có mặt của họ đã là một nguồn an lạc cho những người xung quanh.

Là những người xuất gia, chúng tôi cố gắng duy trì nếp sống đơn giản mà gần gũi với thiên nhiên. Nhưng vì đang ở trong thời đại của truyền thông mạng – là cách hữu hiệu để kết nối tu học với mọi người, nhất là giai đoạn virus corona ngăn cách gặp gỡ trực tiếp, nên tu viện cũng phải trang bị những thiết bị điện tử để kết nối với thiền sinh khắp nơi. Con đường của Làng là đạo Bụt dấn thân, chúng tôi cũng tìm cách để mang những khóa tu trực tuyến đến với muôn nơi, mong giúp người tu tập, chuyển hóa. Công việc này khiến mỗi người phải tiếp xúc nhiều hơn với các thiết bị điện tử. Nhưng thật may là thời khóa tu tập hàng ngày như thiền hành ngoài trời, thiền tọa hay các lớp học của tu viện đã giúp tôi không phải ngồi quá lâu trước máy vi tính.

Với tôi, thực tập đi thiền như là một chuyến đi “tắm rừng” (forest bathing). Tắm rừng là thuật ngữ của giới khoa học với liệu pháp trị liệu đi bộ trong rừng cho con người đang dần trở nên mắc nhiều căn bệnh từ thân cho tới tâm bởi lối sống xa rời thiên nhiên. Liệu pháp này đã rất thịnh hành ở Hàn Quốc, Nhật Bản và nhiều nơi khác để giúp con người trở về tiếp xúc thiên nhiên, để được trị liệu những căng thẳng từ đời sống hiện đại. Nó còn dành để chữa trị cho những đứa trẻ đang dần đánh mất bản thân bởi các loại trò chơi điện tử. Mỗi khi đặt chân trên lên đồi mận Xóm Mới, thân tâm tôi như được buông thư. Tôi như hòa vào với thiên nhiên chung quanh mà không cần bất cứ một sự cố gắng nào. Rừng cây bao bọc tôi, che chở và ôm lấy tôi. Tôi có cảm giác mình đang được tắm, được ngâm mình vào màu xanh mát dịu của lá, có hương thơm cỏ hoa thoang thoảng cùng với tiếng gió tiếng chim. Nhiêu đó thôi cũng đã giúp tôi rũ bỏ được biết bao suy tư trong cái đầu bé nhỏ của mình.

 

 

Thiên nhiên không chỉ nuôi dưỡng ta, mà còn dạy cho ta rất nhiều bài học bổ ích trong cuộc đời. Tôi rất ấn tượng khi nghe ý này trong một lần chia sẻ của sư cô Thoại Nghiêm tại Xóm Mới. Theo quan sát và kinh nghiệm trồng cây đã nhiều năm của sư cô thì những cây mận của Làng là cây mận ghép giữa phần thân trên là mận lai trồng và phần gốc là mận dại. Nhờ gốc mận dại nên cây có khả năng thích ứng với môi trường sống nhanh hơn và sức sống cũng mạnh mẽ hơn. Mận dại thường mọc thành bụi để bảo vệ lẫn nhau mà không chỉ một gốc đơn lẻ như mận trồng. Các gốc cây mận hay mọc lên nhiều cành nhánh nhỏ, ta phải cắt tỉa nếu không muốn nó trở nên um tùm như mận dại và cũng để chúng dồn sức nuôi thân cây chính mà cho nhiều trái to như loài mận trồng. Sư cô nói người tu cũng vậy, nếu không chăm sóc tập khí tốt của mình và thường xuyên tỉa đi những tập khí hoang dã của bản thân thì ta cũng như mận dại um tùm gai góc mà không có được trái ngọt nào.

Mùa xuân này, tôi đã có một sự khám phá nho nhỏ về những bông hoa bồ công anh. Vì tôi đã rất thắc mắc về quá trình phát triển của chúng. May thay hoa trong vườn đang biểu hiện với từng hình dáng phát triển khác nhau cho tôi dễ dàng tiến hành cuộc tìm hiểu của mình. Khi những nụ hoa mới chớm nở sẽ điểm chút màu vàng trên đầu, rồi có những bông hoa với các cánh bung nở vàng rực trong nắng. Lại có những bông khác, cánh đã trở nên nâu sẫm héo úa và rụng đi, chỉ còn đài hoa xanh bên ngoài bao bọc, nuôi dưỡng phần nhụy bên trong. Có những bông thì hé lộ một chút phần nhụy hoa đã đổi thành màu trắng. Có những bông đã trở nên như những cục bông gòn trắng tinh khôi. Từng cọng nhỏ từ cục bông gòn ấy như chong chóng bay đi khắp nơi, gieo hạt mầm cho những mùa hoa bồ công anh tới. Tôi đã chụp lại những giai đoạn biểu hiện của một bông hoa bồ công anh với đầy thích thú như khi tham dự chuyến đi tìm hiểu về sinh vật học của mình thuở còn là một học sinh.

Con người hay người tu cũng như hoa bồ công anh. Khi nhỏ, ta e dè như nụ hoa chớm nở, từng bước dò dẫm học hỏi đi ra cuộc đời. Đến tuổi trưởng thành, như một bông hoa bung nở, ta xông xáo bước ra làm việc đầy nhiệt huyết, cống hiến sức khỏe, năng lượng cho sự nghiệp của tăng thân và thực hiện lý tưởng tu học, chuyển hóa bản thân và phụng sự. Khi tới giai đoạn trung niên của đời người, như bông hoa buông xuống những cánh vàng rực rỡ và trở về nuôi dưỡng tinh anh, ta biết đi từng bước chậm rãi bình an và chắc chắn. Cho tới một ngày, những tinh anh đó như những hạt bồ công anh theo gió bay xa, gieo mầm khắp nơi để tạo nên những bông hoa đẹp đẽ cho thế hệ sau. Đó là sứ mệnh của những bậc trưởng thượng luôn muốn xây dựng thế hệ tương lai trên con đường tu đạo.

 

 

Sư Ông Làng Mai rất yêu thiên thiên, trân quý những mầu nhiệm của sự sống và luôn truyền lại tinh thần này cho các đệ tử. Thầy có thể ngồi yên rất lâu bên cửa sổ ngắm nhìn khoảng sân trước nhà. Thị giả kể rằng, họ thường đẩy xe lăn của Thầy đến ba cây tùng mà Thầy đã tự tay trồng từ mấy chục năm trước để ngồi chơi hóng mát. Một hôm cũng tại nơi đó, Thầy đã nhờ thị giả lượm những bông hoa rơi trên cỏ, rồi bằng một tay còn cử động được Thầy đưa lên mũi ngửi, và lần lượt đưa hoa lên mũi của từng thị giả cùng các đệ tử xung quanh. Thầy trân quý từng thứ nhỏ nhất quanh mình và dạy cho đệ tử biết tận hưởng những nhiệm mầu đó của cuộc sống. Thầy thấy một cây hoa ngọc lan không còn được xanh tươi nữa, Thầy chỉ vào cây và cố gắng ra hiệu cho đến khi đệ tử hiểu được là phải thay đất, thay chậu và tưới nước cho cây. Đến nay cây ngọc lan đó đã lớn lên mạnh mẽ nhờ sự quan tâm của Thầy. Sau này, mỗi khi nhìn cây ngọc lan, các đệ tử lại nhớ đến Thầy mình cùng với tình thương của Người dành cho cây cối.

Một nhà báo nước ngoài đã từng đến Làng Mai phỏng vấn Thầy. Khi thấy Thầy cuốc đất trồng rau, họ nói Thầy có tài viết sách rất hay và khuyên Thầy dành thời gian để viết sách, làm thơ thay vì trồng rau. Vì việc trồng rau có thể để người khác làm. Thầy đã trả lời họ rằng, những bài thơ của tôi được sản sinh từ những giây phút trồng rau, những lúc tiếp xúc thiên nhiên. Nếu không có trồng rau, không sống trong thiên nhiên thì tôi không thể nào làm ra những bài thơ, những cuốn sách như thế.

Con người là một phần của thiên nhiên và không nên tách rời thiên nhiên. Vì thiên nhiên thực sự có tác dụng nuôi dưỡng và trị liệu thân tâm. Tôi biết ơn Thầy đã tạo dựng môi trường tu học bình an và trao truyền tình yêu thiên nhiên cho các đệ tử như tôi. Nhờ đó, tôi mới được sống trong môi trường này, biết cách trân quý, bảo vệ và giữ gìn nó. Và cũng vì có Thầy mà tôi đã biết trở về nguồn cội của con người, biết sống nếp sống giản dị mà có hạnh phúc, bình an, thương yêu và trân quý cuộc sống mà đất Mẹ đã hiến tặng.

 

Xóm Mới, Làng Mai Pháp, tháng 4/2021

Chân Trăng Tùng Hạc

Ước hẹn với sự sống

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Dừng lại và nghỉ ngơi là phép thực tập rất thực tiễn và cần thiết cho nếp sống của thời đại chúng ta. Nếu ta không có khả năng nghỉ ngơi là do ta chưa biết dừng lại. Ta đã chạy, đã ruổi rong không biết bao nhiêu kiếp rồi, bây giờ vẫn tiếp tục chạy và ta chạy ngay cả trong giấc ngủ. Nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể tìm thấy ở phía tương lai, do đó ta hy sinh hiện tại, nghiền nát hiện tại để chạy tìm hạnh phúc ở tương lai. Niềm tin và ý niệm đó đã ăn sâu trong tâm thức ta. Ta đã tiếp nhận hạt giống đó, tập khí đó từ tổ tiên, ông bà và cha mẹ. Họ đã vật lộn, tranh đấu suốt cả cuộc đời của họ từ thế hệ này sang thế hệ khác và tin rằng hạnh phúc chỉ có thể đạt được ở phía tương lai. Vì vậy lúc còn trai trẻ ta đã có tập khí bồn chồn, lo sợ và hối hả chạy về phía tương lai. Bụt nói rằng ta có thể sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Tất cả những điều kiện hạnh phúc đều có thể tìm thấy ngay bây giờ và ở đây. Đây là giáo lý đặc thù của đạo Bụt, gọi là Hiện pháp lạc trú, tức là khả năng sống an lạc và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Nếu ta có khả năng dừng lại, thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại, ta sẽ thấy tất cả những điều kiện của hạnh phúc đều đang có mặt hiện thực ngay bây giờ và ở đây. Dừng lại được tâm rong ruổi, trôi lăn, tìm cầu thì sẽ thấy rằng ta có dư những điều kiện để hạnh phúc. Tuy rằng quanh ta có một vài điều không vừa ý, nhưng nhìn kỹ ta vẫn còn có quá nhiều điều kiện tích cực để tận hưởng, để hạnh phúc. Khi dạo chơi trong một khu công viên, ta thấy có một vài cây tàn úa, đang chết hoặc đã chết, ta cảm thấy tiếc nuối, buồn khổ cho những thân cây ấy và cho cả khu công viên, tâm ta lúc bấy giờ bị trấn ngự bởi sự tiếc nuối, buồn khổ nên không còn khả năng thưởng thức vẻ đẹp hùng vĩ của cả khu công viên đang diễn bày mầu nhiệm quanh mình. Ta để cho vài thân cây tàn úa, chết khô kia làm tiêu tan tất cả vẻ đẹp của những cây khác đang có mặt. Nếu nhìn kỹ lại, ta thấy rằng khu công viên vẫn còn tươi mát, xinh đẹp và tráng lệ lắm, tại sao ta lại không thưởng thức sự có mặt của chúng một cách trọn vẹn.

 

 

Nhìn vào bốn lĩnh vực của thân thể, cảm thọ, tâm hành và nhận thức, ta biết rằng chúng chứa đựng tất cả các yếu tố tươi mát, hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu. Ta hãy thực tập như thế nào để nuôi dưỡng và làm cho những yếu tố ấy luôn luôn có mặt cho ta. Không nên chỉ để ý tới những yếu tố tiêu cực, không lành mạnh của cuộc sống trong ta và quanh ta mà thôi.

Thở vào, tôi ý thức về hai mắt tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với hai mắt tôi.

Đây là sự thực tập ý thức về mắt. Mình chế tác ra năng lượng chánh niệm để có mặt đích thực trong giây phút hiện tại, để nhận diện, tiếp xúc, trân quý và nâng niu hai con mắt  của mình. Khi tiếp xúc với hai mắt, mình tiếp xúc được với một trong những điều kiện căn bản của hạnh phúc mà mình đang có. Ý thức được rằng hai mắt mình đang còn tốt, còn sáng, đó là một phép lạ, một món quà vô giá. Chỉ cần mở mắt ra là có thể thấy được trời xanh, mây trắng, người thương, thấy được thế giới muôn màu muôn vẻ đang diễn bày mầu nhiệm trước mặt. Thế nhưng có rất nhiều người không có khả năng thưởng thức cái thiên đường mầu nhiệm ấy; thiên đường ấy là một phần thuộc về cõi Tịnh Độ mà đạo Bụt hay nói tới. Sở dĩ mình không có khả năng sống hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây là vì mình đã để cho các tâm hành lo âu, giận hờn, tham đắm, ganh tỵ, tuyệt vọng xâm chiếm, giam hãm. Tịnh Độ hay Thiên Đường đang tuột khỏi tầm tay của mình. Trong khi đi dạo, mình có thể cầm tay con mình, cháu mình dạo chơi trong Tịnh Độ. Mình có thể giúp các con mình, cháu mình nhận diện, tiếp xúc với vẻ đẹp mầu nhiệm của đất trời, của thiên nhiên, của thế giới muôn màu muôn vẻ đang diễn bày trước mặt. Đi đâu để có thể kiếm được một hành tinh xanh mầu nhiệm như hành tinh của chúng ta? Các nhà khoa học đã tốn rất nhiều nhiều công sức, máy móc tinh vi và tiền của mà vẫn chưa kiếm ra được một hành tinh xinh đẹp và sống động như hành tinh của chúng ta.

Thở vào, tôi ý thức về trái tim tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với trái tim tôi.

Khi ta đem năng lượng chánh niệm để ôm lấy trái tim ta và mỉm cười với trái tim, ta sẽ thấy trái tim của ta còn hoạt động bình thường, đó là một phép lạ, là món quà vô giá. Những người bị bệnh tim, hạnh phúc lớn nhất của họ là mong có được một trái tim tốt, hoạt động bình thường. Có được một trái tim đang hoạt động bình thường là một điều kiện căn bản của hạnh phúc. Khi ta nâng niu trái tim với năng lượng chánh niệm, tình thương, thì trái tim của ta sẽ cảm thấy ấm áp trở lại. Bấy lâu nay ta đã không ngó ngàng đến trái tim của ta. Ta đã đối xử không dễ thương với trái tim của ta. Trong đời sống hàng ngày, ta quá bận rộn, chỉ để tâm suy nghĩ, lo toan về chuyện đâu đâu, chạy theo những cái ta tin là điều kiện tất yếu của hạnh phúc, trong khi đó ta không có thì giờ để có mặt cho trái tim ta. Ta làm tình làm tội trái tim ta bởi sự lo lắng quá mức, ăn uống, làm việc và ngủ nghỉ không chừng mực. Mỗi khi hít vào một hơi thuốc lá là ta đang làm khổ trái tim ta. Mỗi khi uống vào một ly rượu là ta đang làm một hành động không thân thiện, không có trách nhiệm, không có tình thương đối với trái tim ta. Ta biết rằng trái tim ta đã làm việc không ngừng nghỉ, đã làm suốt ngày suốt đêm để duy trì, bảo tồn mạng sống của ta, để bảo đảm sức khỏe cho toàn cơ thể. Nhưng ta lại thờ ơ, không quan tâm tới nó. Ta đã đối xử với trái tim ta một cách thật tệ bạc. Ta không chịu học cách bảo vệ những điều kiện hạnh phúc đang có trong ta. Đã đến lúc ta phải tỉnh dậy thôi, phải thắp lên ánh sáng chánh niệm để trở về nhận diện, trân quý và bảo tồn các điều kiện hạnh phúc đang có trong ta, trước hết là đối với thân thể.

 

 

Ta hãy tiếp tục thực tập như thế đối với các chi phần khác của cơ thể như gan, phổi, thận, lá lách, ruột v.v… Thực tập nâng niu lá gan của mình với niềm ưu ái và tình thương, đó là thiền tập. Thiền tập trước hết là tập dừng lại và nhận diện những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt trong giây phút hiện tại. Trở về ôm lấy, chăm sóc thân thể bằng năng lượng chánh niệm mà ta chế tác qua hơi thở ý thức. Khi mình gởi năng lượng chánh niệm đến các bộ phận của cơ thể thì năng lượng chánh niệm sẽ làm công việc nhận diện, ôm ấp và chăm sóc những chi phần ấy của cơ thể với tình thương và sự trìu mến. Làm được như thế tức là ta đáp ứng đúng những gì mà cơ thể ta đang cần. Nếu có một chi phần nào đó trong cơ thể bị đau nhức thì ta cần có mặt lâu hơn để chăm sóc, mỉm cười ưu ái với chi phần ấy. Mỗi ngày ta nên thực tập bài tập này ít nhất là hai lần. Phép thực tập này gọi là Thiền Buông Thư. Thiền Buông Thư là phép thực tập trở về có mặt cho thân thể mình và bằng hơi thở ý thức, mình chế tác ra năng lượng chánh niệm để soi chiếu vào toàn thân, làm cho toàn thân được buông thư, lắng dịu trở lại, rồi từ từ chiếu dụng ánh sáng chánh niệm vào từng chi phần của thân thể để hiểu được tình trạng sức khỏe của nó, chăm sóc và cho phép thân thể được nghỉ ngơi, được tự điều trị. Thiền Buông Thư không phải để ngủ. Nhưng nếu ngủ cũng tốt.