Nơi suối nguồn chảy về

Bích Nham, mùa thu…

Bạch Thầy kính thương,

Sáng nay, một buổi sáng làm biếng yên tĩnh và hiền lành, con đang ngồi uống trà, nhìn ra cảnh vật núi đồi phía xa xa thấy một cội cây lớn, nổi bật lên nền trời, con nhớ đến Thầy… Cội cây rất can trường. Bầu trời đang rạng dần, phía sau cội cây, núi đồi một màu xanh thẫm sắp sửa ánh lên những tia nắng đầu tiên. Con nhớ đến bài “Buổi sáng” của Thầy… Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào… Con đang uống từng ngụm ban mai tinh khiết, trong lành mà đất trời và buổi sáng ban tặng. Con nhớ đến Thầy nhiều và nhớ đến những câu thơ rất đẹp của Thầy: “Trà khuya bay khói thơ không chữ. Thơ chở trà lên tận đỉnh mây…” Tạ ơn Thầy đã cho con cảm thấy không ngần ngại thêm vào túi gió trăng của con một chút văn, một chút thơ, một chút nhạc,… – những nét đẹp của cuộc sống quanh con. Thầy trò mình có những thú chơi thật thanh tao – dậy sớm, thưởng trà, ngồi yên, ngắm nhìn trời đất lặng lẽ chuyển mình từ cái thăm thẳm đen của núi rừng buổi khuya đến tinh mơ sáng. Đôi khi con thấy trời đất cũng đang ngắm nhìn con, “thưởng thức” con, cho nên con cũng ngồi thật yên, thật đẹp.

Vừa rồi, con có cơ hội đọc quyển “Silence” của Thầy, có đoạn như vầy:

Im lặng là một điều thiết yếu. Chúng ta cần yên lặng, như (muôn loài) cần không khí, như cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta bị lấn lướt bởi những ngôn từ và suy nghĩ, thì sẽ không còn không gian cho chúng ta nữa”.

Và: “Nếu biết rằng yên lặng và không gian rất quan trọng cho hạnh phúc của chúng ta thì tại sao chúng ta không kiến tạo thêm những thứ đó cho đời sống của mình?

Có những lúc Thầy đã nói thành lời những điều trong lòng con và có những lúc con tìm thấy được Thầy qua một cái gì đó mà con đang làm, đang nghĩ, đang cảm. Những lúc đó, tình Thầy-trò được cảm thông sâu sắc lạ kỳ, thấy thương kính Thầy thật nhiều, cho dù Thầy không có ở đó hoặc con không đang uống trà với Thầy.

Con còn nhớ những ngày con được làm thị giả sư cô Chân Không. Con và một sư em lên sớm, đứng trước cốc Ngồi Yên của Thầy ở xóm Thượng để đợi Thầy và Sư Cô tới. Đó cũng là một buổi sớm mùa đông, sương mù ngập trời, cốc Ngồi Yên và những hàng cây mùa đông ẩn hiện thấp thoáng dưới ánh đèn vàng. Hai chị em thấy như đứng trên núi. Sư em sinh ra ở núi, là dân miền núi. Hai đứa cũng đều thích núi. Tự nhiên thấy một niềm vui, một nỗi đồng cảm và có điều gì thiêng liêng lạ. Hai chị em đứng đợi Thầy mình tới. Rồi chúng con cùng đi với Sư Cô vào cốc Ngồi Yên để được uống trà với Thầy. Không cần nói một lời nào nhưng những giây phút đẹp đẽ và tĩnh lặng đó, con sẽ chẳng thể nào quên được.

Trong một khóa tu xuất sĩ, con được ở cốc Linh Quy, mỗi ngày ra thiền đường lớn phải đi một đoạn đường gần bằng đoạn đường từ cốc Ngồi Yên ra thiền đường Nước Tĩnh. Không ngày nào mà con không nghĩ đến hình ảnh Thầy vào những buổi sớm mùa đông Thầy ra ngồi thiền với quý thầy vào mùa an cư. Vẫn khung trời trăng sao lồng lộng đó, từng bước chân đó, ung dung, bình thản, tĩnh lặng, bao nhiêu năm rồi. Nhớ lời Thầy dạy “đừng phụ gió trăng”, mỗi buổi sáng, con không nỡ lòng để lỡ bước chân nào, bước lên bao nhiêu đó bậc cầu thang rồi băng qua lối đi trải sỏi để vào thiền đường. Nếu có lỡ quên đoạn nào thì dừng lại, “đi lại”, hoặc nhủ lòng “ngày mai nhớ nhé”. Nhưng, mùa an cư đó, con không có Thầy đi bên mình, con đã đi với Thầy trong đôi chân con, con hiểu rằng con đang có được biết bao nhiêu là tình thương, bình an và tự do mà Thầy trao cho.

Thầy kính thương, con thương quý Bích Nham thật nhiều, cho nên con cũng thương quý xóm Hạ, thương Làng, thương Sơn Cốc – nơi mà con đã được sinh ra và lớn lên. “Đi trong sương lâu ngày cũng ướt áo”, có lẽ trong con bây giờ cũng thấm được một chút “tương chao”, thấm được cái tình bao la, sâu đậm của Tăng thân. Nhớ ngày nào con mới đến Làng, còn lơ ngơ, còn lầm lũi, mà bây giờ đã… “khôn lớn” thành người rồi Thầy ạ ☺, dù cho con lúc nào cũng là một đứa con thơ dại của Thầy. Có những tình thương đã nuôi con lớn lên; có sự tôn trọng và kiên nhẫn đã nhiếp phục đứa bé bướng bỉnh, dại dột trong con. Và thiên nhiên bao la đã cho em bé đó được hồn nhiên, tung tăng, sống vui trở lại. Tạ ơn Thầy đã dạy con một bài học lớn về lòng Biết Ơn, để con biết trân quý và hạnh phúc.

Lại nhớ có lần con qua Sơn Cốc chơi, Thầy xoa đầu con, dạy: “Con phụ thầy chăm sóc Thiên đường nghe”, sư cô HN cười sảng khoái, không biết là Thầy có biết sư cô cười “chọc quê” con không. Sau đó, ra về sư cô có nói: “Thầy ‘gõ đầu’ đúng người ghê!” Đó là vì sư cô biết nhiều khi con “nổi cơn” hay đòi đi… lên núi! Một ngọn núi thiên đường ở đâu đó… Dù vẫn biết mình là “con nhà giàu” rồi, dù vẫn biết “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” rồi, nhưng chân vẫn cứ đòi  đi!!! Thế nhưng, lời nhắn nhủ dường như rất nhẹ nhàng, vu vơ đó của  Thầy đã còn ở lại rất lâu, rất sâu trong con. Lòng Thầy thật từ bi vô cùng. Lúc đó lời Thầy cho con có cảm giác là “sự có mặt của con ở đây là cần thiết và hữu ích”, “mình đang ở Thiên đường đó, con!” hoặc “con chỉ cần có mặt ở đây thôi là đủ!”. Ấy vậy mà theo thời gian, con mới thấy con cần nơi chốn này và Tăng thân biết chừng nào. Từ đó con tập nhìn những nơi chốn mình đang ở là một “thiên đường”. Cho  dù trong đó có rác, có hoa, có bao ngổn ngang còn đó, thì vẫn có bao nhiêu điều đẹp đẽ và kỳ diệu mà có khi con đã cho là “bình thường” như: không gian, rừng  cây,  nắng,  nụ cười, niềm thương, nỗi nhớ,… Và rằng, trong lòng “thiên đường”, trong lòng Tăng thân đó, con chỉ bình an vui hưởng những cái lành, cái đẹp, cái an vui,… nhiều lắm thưa Thầy. Tạ ơn Thầy đã dựng xây nên những thiên đường và gọi chúng con về hội ngộ để cùng vui chơi trong thiên đường đó!

Con nhớ có một lần làm biếng dài ngày sau an cư, sư cô Chân Không đã rất từ bi cho phép chị em chúng con lên Sơn Cốc để ở, chơi, nghỉ ngơi và tu tập. Những ngày đó, Sơn Cốc vắng lặng, và có một chút quạnh quẽ vì Thầy đang nằm viện. Con không thể không nhớ đến những lần làm biếng chúng con lên còn có Thầy ở đó. Thầy viết thư pháp, ngồi thiền, kể chuyện, dạy chúng con hát, hay cùng nhau đi thiền hành trong vườn,… rất  an lành và đầm ấm. Những ngày đó, nhà chỉ có ba chị em, chúng con ý thức là Thầy đang bệnh nên ai cũng hết lòng tu tập và tận dụng hết không gian, thời gian đẹp đẽ và quý báu đó. Ngày nào con cũng tập thể dục, ngồi thiền, nghe pháp thoại, đọc sách,…. Và có những ngày, con đi thiền hành nhiều lần trong vườn, len lỏi qua những bụi tre, men theo bờ suối, đi đến tận cuối vườn, vòng  qua nhà xanh, thiền ôm với những cây tùng, cây sồi,… Con bước thật cẩn trọng, nhẹ nhàng như Thầy bước. Con thấy con đang đi với Thầy và Thầy đang có mặt cho đôi chân của con thêm bình an, vững chãi…

Con sẽ không thể nào quên được những buổi chiều hoàng hôn rực đỏ hay tím biếc khi chúng con cùng đi bộ ra ngoài về phía nhà thờ cổ hay hướng ngược lại, về phía những cánh đồng cỏ thoai thoải lấp lánh nắng, đi lên những con dốc ngoằn ngoèo, uốn lượn rồi lại xuống phía bên vườn mận nơi những cây cành khẳng khiu mùa đông đã bắt đầu lấm tấm đầy nụ trắng. Con thấy như con đang đi ngược về thời Trung cổ của hơn 1000 năm trước với những ngôi nhà, con đường cổ kính, trầm mặc; mọi thứ yên lặng phả ra một vẻ đẹp lung linh, huyễn hoặc trong ánh sáng buổi chiều tà và trôi vào bất tuyệt khi bất chợt có tiếng chuông nhà thờ đâu đó ngân lên. Tạ ơn Thầy đã cho con đôi mắt để ngắm nhìn, đôi tai để lắng nghe và một tâm hồn để cảm nhận cuộc sống đang rung động đầy đẹp đẽ, bao dung, tinh tế. Những người đã từng ở Làng có lẽ không ai không thương Sơn Cốc, Phương Khê, với vô số các lý do riêng chung cùng các cung bậc khác nhau. Con cũng đang nhớ Thầy, nhớ Sơn Cốc thật nhiều.

Thầy kính thương, hôm trước con đi ra phố. Cùng với các sư anh, sư chị, con đến ABC Home cho một ngày quán niệm ở đó. Thật lạ lùng mà dường như cũng rất… phù hợp, mình chọn ngay một  tòa nhà lớn, nổi tiếng, nằm giữa thành phố New York đầy hối hả, năng động, hiện đại,… để hướng dẫn tu tập! Con chăm sóc phần hướng dẫn thiền hành, đi từ tòa nhà ra vòng quanh quảng trường Union, ngay đúng vào ngày quảng trường mở họp chợ!

Con nhớ Thầy mời Bụt đi với Thầy nên con cũng mời Thầy đi với con. Ồ, ngay từ những bước chân đầu tiên, con đã thấy rất nhẹ nhàng, bình an. Và con gửi lòng bình an cùng niềm tin của con vào những người đang đi cùng con, rồi đến những người đang ở xung quanh. Lòng con hân hoan một niềm biết ơn vô vàn đến Thầy – người đã mang bình an, thương yêu vào đời, hiến tặng cho cuộc sống một món quà vô giá. Quảng trường rất đông đúc, nhộn nhịp, con đi ngang qua những gian hàng đầy hoa rồi vào sâu giữa quảng trường, nơi có một không gian nhiều cây xanh mát.

Con mỉm cười với những bông hoa rồi mỉm cười với hàng cây, tàng lá; trân quý và biết ơn một khoảng thiên nhiên nhỏ bé giữa lòng đô thị. Con cũng thầm nói lời tạ ơn đất Mẹ, vẫn hiền lành, xanh tươi, độ lượng giữa bao khói bụi, người xe. Và con biết ơn Thầy đã dạy con biết thương yêu, giữ gìn đất Mẹ. Mấy anh chị em con đã đi với nhau rất vui, con cảm thấy giống như là “ngày xuất sĩ” vậy. Anh chị em ai cũng lắng nghe, quan tâm và yểm trợ nhau hết lòng, có lẽ chỉ vì ai cũng muốn mang lại niềm vui và lợi lạc cho những người cư sĩ đến với mình.

Con xin các sư chị, sư anh “xé nháp” cho con vì con chia sẻ về thiền hành dở quá, thiếu sót nhiều quá! Tuy nhiên, qua từng thời khóa – pháp thoại, ăn trưa im lặng trong chánh niệm, pháp đàm và vấn đáp – những điều mà con thấy mình thiếu sót trước đó dần dần được bổ sung đầy đủ qua sự chia sẻ của các sư anh, sư chị; cuốn hút được các thiền sinh cùng tham gia chia sẻ, thảo luận, rất cởi mở, hào hứng. Trên cả tuyệt vời, phải không thưa Thầy? Đến cuối ngày, những người thiền sinh (đa số là những người mới đến lần đầu) ai cũng vui, cũng nấn ná ở lại để hỏi thêm về các khóa tu, về quý thầy, quý sư cô và tu viện…

Thưa Thầy, Bích Nham đang vào thu. Một mùa được xem là đẹp nhất trong năm, một mùa bình an, mênh mang, thanh thản. Thật khó lòng mà không thương mùa thu, không “bâng khuâng, mơ màng, lãng đãng” trong một mùa đầy trắc ẩn như thế. Lạ lùng chưa, mùa thu dịu dàng, yên ắng, vậy mà ai cũng rộn ràng, xôn xao… Ấy là vì mùa thu nói bằng sắc màu của mình và bằng những cơn gió lạnh len vào trong ngày đó thưa Thầy. Những sắc màu của lá (hay là nắng?) – vàng, đỏ, cam, nâu, hồng,… – đang đổ xuống, rắc ray lả tả từ những ngọn cây, dọc theo các con đường, lối đi hay len lỏi trong rừng. Vẫn biết mùa thu là “mùa lá, mùa gió”, và đã từng gặp gỡ nhiều mùa thu ở Pháp, vậy mà con vẫn ngỡ ngàng trước những sắc lá biến ảo không ngừng từng ngày ở đây. Trong những cơn gió mùa này, mọi người lục tục mang áo ấm ra mặc thêm và tổ chức đi chơi để ngắm mùa thu, để ngồi với nhau và “gom nắng” để dành cho những ngày đông sắp tới. Đại chúng chơi với nhau rất vui, rất ấm cúng, tung tăng như… những chiếc lá vậy.

Có một buổi sáng thức dậy bước ra ngoài con bỗng thấy ánh trăng tràn ngập – dọc theo hành lang trước phòng, trên những tàng cây, những lối đi bên dưới, trên những khu nhà và rừng cây gần xa. Một màu bàng bạc, lấp loáng bao phủ khắp nơi. Con đi đến phòng học, thấy trăng còn “vắt vẻo” ở phía đó như đang đón chờ mình. Trong bầu không khí tịch mịch và trong trẻo không cùng đó, con thấy lòng tĩnh lặng và bình an lạ… Con nhớ bài kệ “Nghe pháp” :

“Nghe pháp trong bản môn

Lá thu rụng đầy trời

Trăng thu đầy lối cũ

Pháp không đầy không vơi.”

Trong buổi khuya mùa thu này, đất trời đang nói những lời trầm hùng, tha thiết và từ bi nhất. “Lối cũ” của Bụt, của Thầy vẫn còn đó, cho ánh trăng đêm nay, và con đứng đây – được phủ đầy, thấm đẫm ánh trăng thu, con có cảm hứng đi ngồi thiền hơn. Vì, đi qua những buổi khuya như vậy đẹp quá! Đôi khi, có thể đi vào, chạm vào những buổi sớm tinh sương – rất đen và rất sâu, trong lành và nguyên sơ – một cách không vội vàng, không hấp tấp, thoát nhiên thật cảm động như đang đi vào, chạm vào một cái gì đó rất yên, rất lặng trong con người mình.

Mùa thu này, đôi khi con chợt nhớ đến ngày xưa, nhớ cái thời còn “hai tay cầm lấy nỗi buồn lơ ngơ xuống phố. Tìm một màu áo len quen. Tìm một chút hé môi cười…” Và bây giờ, nhìn lá bay, thấy lòng, thấy đời đã thanh thản, bình an hơn xưa nhiều… Bây giờ ngắm người mà như ngắm lá… “xôn xao bầy lá nhỏ… miệng ngọt hạt từ tâm…”. Đôi khi, trong lúc say sưa ngắm những sắc lá mùa thu này, con “phát hiện” ra là cây lá mùa nào cũng đẹp chứ không phải chỉ ở mùa này.

Cái đẹp vẫn luôn tràn đầy, rất riêng trong từng phiến lá. Cây lá vẫn bình an, tự tại đi về trong lẽ vô thường, vô ngã không cùng của đất trời. Cây sồi ngoài cửa sổ phòng con đã chuyển sang màu đỏ nâu, rồi rụng rơi dần. Cây sồi đang đi tròn, về tròn theo bốn mùa của trời đất… Thật đẹp! Con biết “bạn đó” vẫn cứ đang vui chơi; rụng xuống chỉ để lớn lên, để “sống” và có mặt. Mùa này, con thấy con cũng giống như lá vậy. Tung tăng, vui chơi, bay lên bay xuống, mà xen vào đó là những khoảng lặng để ngắm nhìn, để thở, để thương, để hiểu, để nhớ về,… Con biết những ngày mùa đông sắp tới sẽ dài và lạnh. Con biết có thể con sẽ rời đây, không biết có quay trở lại và không biết có còn gặp được một mùa thu rực rỡ nào như thế trong đời.

Rồi những ngày đi về cuối mùa thu. Sương mù giăng mắc. Mưa phùn. Những hàng cây mang  im lìm vào tiếng nói. Lá rụng đầy trời nên ngập trong không gian đầy tiếng xao xác của một màu xám bạc. Nhìn rừng cây đang trút lá, tâm cảm của con đôi khi là “buông bỏ”, đôi khi là trân quý, cẩn trọng, nhưng lại cũng có đôi khi mang một chút chấp chới, như tiếc nuối, như muốn níu kéo những sắc màu kia, những rực rỡ kia ở lại. Bây giờ, con thấy mình cũng đang giống một chiếc lá cuối thu. Không còn tung tăng nữa, con đang nằm yên dưới cội cây, lặng nghe mình thở, nghe tiếng đất trời đang thở và trở về với những mạch sống thật sâu, thật kín mà cũng rất bi hùng trong con người mình, để có thể tiếp tục “sống còn” trong mùa giá lạnh dài sắp tới.

Kính bạch Thầy, tạ ơn Thầy đã có mặt và còn đó cho chúng con. Con muốn viết thật nhiều những điều bình an, đẹp đẽ, ấm áp mà con đã có bên Thầy, ở đây, ở đó… nhưng thật không thể viết hết được. Xin dâng lên Thầy một chút lòng con. Con biết là miễn con còn nhớ tu tập, còn sống thật thà, hài hòa, giữ tâm cho lành và hết lòng với chúng thì Thầy và đại chúng vẫn còn đó cho con, thương yêu và nâng đỡ con. Con sẽ cố gắng làm những điều này, thưa Thầy.

Con thương chúc Thầy có thật nhiều niềm vui. Con của Thầy.

 

Tĩnh lặng

Thầy Pháp Thệ là người Pháp, xuất gia tại Làng Mai năm 2009. Thầy học tiếng Việt khi về Làng tu học. Hiện thầy đang tu tập tại tu viện Bích Nham, Mỹ. Bài thơ này được thầy làm bằng tiếng Việt.

 

Hơi thở là gió thu
Làm mát cả đất trời
Vào rồi ra thanh thản
Cho đời đổi dáng mới

Thân này một đoá hoa
Mong manh và quý báu
Hôm nay nở mai tàn
Theo nhịp mưa nhịp nắng
Xúc cảm là dòng sông
Chở tin ta đang sống
Nước lên rồi cũng xuống
Cuộc biểu diễn không ngừng
Cõi lòng bầu trời xanh
Mênh mông lại trống rỗng
Biết ôm chẳng biết giữ
Chim bay trời bất động.

 

Thông điệp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi đến Liên Hiệp Quốc về vấn đề biến đổi khí hậu

Năm 2014, tổ chức Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh, với tư cách một nhà lãnh đạo tâm linh quốc tế, viết một thông điệp ngắn về vấn đề biến đổi khí hậu và về mối liên hệ giữa con người với con người, cũng như giữa con người với trái đất. Thông điệp này đã được đăng trên trang mạng của UNFCCC, trước thềm Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu diễn ra tại Paris vào tháng 9 năm 2015. Dưới đây là bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 

 

Hành tinh xinh đẹp, rộng lớn và đầy sức sống  mà chúng ta gọi là trái đất, đã sinh ra mỗi người chúng ta và mỗi chúng ta đều mang trái đất trong từng tế bào cơ thể mình.

Ta với trái đất là một

Trái đất là Mẹ của chúng ta. Trái đất nuôi dưỡng và bảo vệ ta từng giây từng phút. Trái đất cho chúng ta không khí để thở, nước trong để uống, thực phẩm để ăn và những cây thuốc hiền lành để ta trị bệnh. Mỗi hơi thở vào của chúng ta đều có chứa khí ni-tơ, khí oxy, hơi nước và những nguyên tố vi lượng của trái đất. Nếu thở có chánh niệm thì ta có thể chứng nghiệm được sự tương tức giữa ta với bầu khí quyển mỏng manh của trái đất, với cây cỏ, và với cả mặt trời, vì nếu không có mặt trời thì sự quang hợp sẽ không thể xảy ra. Với mỗi hơi thở, ta có thể chứng nghiệm được sự dung thông (communion), với mỗi hơi thở ta có thể nếm được những mầu nhiệm của sự sống.

Chúng ta cần thay đổi cách ta suy nghĩ và cách ta nhìn sự vật. Ta cần biết rằng trái đất không chỉ là môi trường sống của ta mà thôi. Trái đất không phải là một thực thể ở ngoài ta. Nếu thở có chánh niệm và quán chiếu hình hài của mình, ta sẽ nhận ra rằng ta là trái đất, ý thức của ta cũng là ý  thức của trái đất. Nhìn chung quanh ta, tất cả những gì ta thấy đều không phải là môi trường của ta mà chính là ta.

Trái đất – Mẹ của muôn loài

Dù thuộc quốc tịch nào, nền văn hóa nào, dù theo tôn giáo nào – Phật tử, tín đồ Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo hay người theo chủ nghĩa vô thần – thì ta cũng có thể thấy trái đất không phải là một vật vô tri. Trái đất đã cho ra đời nhiều vị Bụt, Bồ tát, những nhà tiên tri, những vị thánh, những người con trai, con gái của Thượng Đế và loài người. Trái đất là một bà mẹ đã nuôi dưỡng, bảo vệ mọi người và mọi loài với một tình thương không phân biệt, không kỳ thị.

Khi nhận ra rằng trái đất không chỉ là môi trường, chúng ta sẽ thấy cần phải bảo vệ trái đất như là bảo vệ chính mình. Đó là một sự tỉnh thức, một sự giác ngộ mà ta cần phải có. Tương lai của hành tinh này tùy thuộc vào khả năng chúng ta có thể nuôi lớn tuệ giác đó hay không. Trái đất và các chủng loại sống trên đó đang ở trong tình trạng nguy hiểm thật sự. Nếu xây dựng được mối liên hệ sâu sắc với trái đất thì ta sẽ có tình thương, có sức mạnh và tuệ giác để thay đổi lối sống của mình.

Tình yêu dành cho trái đất

Ai trong chúng ta cũng đều có thể kinh nghiệm được cái cảm giác đầy kính ngưỡng và thương yêu khi ta thấy được vẻ đẹp, sự hài hòa và thanh tú của trái đất. Chỉ cần nhìn vào một cánh hoa anh đào, một chiếc vỏ ốc hay một con dơi là có thể thấy được tính sáng tạo tuyệt vời của đất Mẹ. Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp chúng ta thấy được thêm những mầu nhiệm của trái đất, vì vậy mà càng thêm khâm phục và thương yêu hành tinh kỳ diệu này. Khi chúng ta đã thật sự thấy và hiểu được trái đất thì tình thương sẽ ứa ra trong trái tim ta. Ta cảm thấy kết nối, gắn bó mật thiết với đất Mẹ. Đó là ý nghĩa của tình yêu: ta trở thành một với đối tượng thương yêu.

Chỉ khi nào ta yêu đất Mẹ thật sự thì hành động của ta mới phát xuất từ sự tôn kính và từ tuệ giác tương tức. Hiện nay rất nhiều người đang đánh mất liên hệ với đất Mẹ. Chúng ta bị lạc lối, xa cách và cô đơn. Chúng ta làm việc quá nhiều. Đời sống của ta quá bận rộn. Tâm ta trở nên bất an, tán loạn và ta đánh mất mình trong sự tiêu thụ. Nhưng đất Mẹ luôn có mặt đó cho ta, hiến tặng cho ta những thứ cần thiết cho sự nuôi dưỡng và trị liệu: những hạt ngũ cốc mầu nhiệm, những dòng nước mát trong, những cánh rừng thơm ngát, những đỉnh núi tuyết hùng vĩ và tiếng chim hót tươi vui của buổi bình minh.

Hạnh phúc chân thật được làm bởi tình thương

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cần phải có nhiều tiền hơn, nhiều quyền lực hơn, nhiều địa vị hơn thì mới có thể hạnh phúc. Chúng ta quá bận rộn chạy theo tiền bạc, uy quyền và địa vị nên thờ ơ trước những điều kiện hạnh phúc đang có mặt đó cho ta. Đồng thời chúng ta tự đánh mất mình trong sự mua sắm và tiêu thụ những thứ không cần thiết, tạo thêm áp lực đè nặng lên thân thể của chúng ta và trái đất. Trong khi đó, phần lớn những gì ta ăn, ta uống, ta xem hay ta nghe là những thứ độc hại. Nó làm cho thân tâm ta bị ô nhiễm bởi bạo động, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng. 

Cũng như môi trường vật lý bị ô nhiễm không khí, môi trường nhân loại cũng đang bị ô nhiễm tâm linh với bầu không khí độc hại do cách tiêu thụ của chúng ta tạo ra. Chúng ta cần tiêu  thụ như thế nào để có thể duy trì được bình an và hạnh phúc trong tự thân. Chỉ khi nào loài người chúng ta có một nếp sống bền vững thì nền văn minh của nhân loại mới có thể bền vững được.

Hạnh phúc có thể có được bây giờ và ở đây. Chúng ta không cần phải tiêu thụ thật nhiều mới có thể hạnh phúc. Thật ra ta có thể sống rất giản dị. Nếu có chánh niệm thì mỗi giây phút đều có thể trở thành một giây phút hạnh phúc. Thưởng thức một hơi thở, cho phép mình dừng lại để ngắm bầu trời xanh, thưởng thức trọn vẹn sự có mặt của một người thương, chỉ như vậy thôi cũng đã quá đủ để cho ta hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta cần phải trở về để kết nối lại với chính mình, với những người thương của mình và với trái đất. Tiền bạc, uy quyền và sự tiêu thụ không cho ta hạnh phúc, mà ta chỉ có hạnh phúc thực sự khi trong trái tim ta tràn đầy tình thương và sự hiểu biết.

Chiếc bánh mì trong tay ta chứa đựng cả vũ trụ

Chúng ta phải tiêu thụ như thế nào để nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta. Hiện nay nhiều người trong chúng ta đang tiêu thụ một cách rất bạo động. Những khu rừng đang bị tàn phá để làm đồng cỏ nuôi gia súc lấy thịt hay để trồng ngũ cốc làm rượu, trong khi hàng triệu người trên thế giới đang chết đói. Nếu ta giảm ăn thịt và uống rượu xuống 50% thì đó là một hành động thương  yêu, thương yêu chính mình, thương yêu trái đất và những loài khác. Ăn với lòng từ bi có thể giúp làm thay đổi tình trạng mà hành tinh của ta đang lâm vào và thiết lập lại sự cân bằng cho chúng ta và cho trái đất.

Không có gì quan trọng hơn tình huynh đệ

Cần phải có một cuộc cách mạng và cuộc cách mạng đó cần bắt đầu từ chính trong mỗi người chúng ta. Chúng ta phải thức tỉnh và thương yêu trái đất. Chúng ta đã là homo sapiens (con người có trí tuệ) trong một thời gian dài, bây giờ đã tới lúc chúng ta phải trở thành homo conscious (con người có ý thức, có chánh niệm). Tình thương và sự kính phục đối với trái đất có sức mạnh gắn  kết chúng ta lại với nhau, lấy đi những biên giới, những chia cách và kỳ thị. Những thế kỷ của chủ nghĩa cá nhân và cạnh tranh đã gây ra sự tàn phá và chia cách rất lớn. Chúng ta cần tái lập sự truyền thông thật sự với chính mình, với đất Mẹ và với những chủng loại khác trên hành tinh này với tư cách là những đứa con cùng chung một mẹ. Chúng ta cần phát minh ra nhiều kỹ thuật tân tiến hơn để bảo vệ hành tinh này. Chúng ta cần những cộng đồng thật sự và cần sự hợp tác với nhau.

Tất cả các nền văn minh đều vô thường và phải tàn hoại một ngày nào đó. Nhưng nếu chúng ta vẫn tiếp tục đi theo lối sống như hiện nay thì văn minh nhân loại sẽ bị hủy diệt sớm hơn là ta nghĩ. Trái  đất có thể sẽ cần vài triệu năm để trị liệu,  để lấy lại sự cân bằng và phục hồi lại vẻ đẹp của mình. Trái đất có khả năng phục hồi, nhưng loài người chúng ta và những chủng loại khác sẽ biến mất cho tới khi trái đất tạo ra đủ những điều kiện để đưa chúng ta trở lại dưới những hình thức mới. Khi ta chấp nhận được sự vô thường của nền văn minh nhân loại một cách bình an thì ta sẽ thoát khỏi sự sợ hãi. Lúc đó ta mới có sức mạnh, tuệ giác và tình thương để đoàn kết lại với nhau. Trân quí và thương yêu trái đất, đó không phải là bổn phận, mà là vấn đề hạnh phúc cũng như sự sống còn của cá nhân và của mọi người trên hành tinh này.

(Nguồn: http://plumvillage.org/letters-from-thay/ thich-nhat-hanhs-statement-on-climate-change- for-unfccc/)

Một vốc niềm vui

 
Bạn cười sớm nay chưa
Sao giăng giữa bao la
Lòng trời thênh thang quá
Mở tung cả lòng ta
 
Bạn cười sáng nay chưa
Sương mù dưới hiên hoa
Trà sen mình đang uống
Là hương quê bay xa
 
Bạn cười trưa nay chưa
Lá rừng đang múa ca
Giữa trùng trùng nắng gió
Muôn vẻ một nếp nhà
 
Bạn cười chiều nay chưa
Mây giăng đỉnh núi xa
Hoàng hôn vàng đồng cỏ
Một cõi mấy sơn hà
 
Bạn cười tối nay chưa
Tiếng chuông trầm ngân nga
Trăng non bên hiên vắng
Rạng rỡ nụ cười hòa
 
Bạn cười khuya nay chưa
Mưa rừng như sông sa
Đến đi trong khoảnh khắc
Hiên ngoài ta có ta.

Vị “anh hùng ẩn danh” đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

 
Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.
 
Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua của 196 quốc gia.
 
Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Nhất Hạnh.)
 
Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.
 
“Tôi cần có một cái gì đó ngay đây, trong tầm tay, để nương vào nếu không tôi không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không thể có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần có một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy” – Figueres chia sẻ với tờ The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sỹ.
 
Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?
 
Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbroel, Đức. Nơi đây đã từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân này và biến nơi đây thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).  
 
Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.
 
“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim cho mỗi bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”- Figueres chia sẻ tiếp.
 
“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”
 
Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi đã thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.
 
Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 
“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.
 
Ngày nay Tăng thân đã tới, Tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.
 
Xin hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”
 

 
Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.
 
Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy- vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.
 
Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Silicon Valley và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, giám đốc điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.
 
Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do để cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.
 
Nguồn:

Tình thương nuôi lớn ước mơ

 

Tình thương nuôi lớn ước mơ

Đem Heartforce đến Dreamforce

 

Tám giờ sáng thứ Ba, tại một ngã tư trung tâm thành phố San Francisco mà thường ngày xe cộ tấp nập, hai mươi lăm quý thầy và sư cô Làng Mai đang đứng thành vòng tròn và hát thiền ca trước một trong những tòa thị sảnh lớn nhất của thành phố San Francisco. Cả một khu phố đã được chặn lại để làm nơi diễn ra hội nghị Dreamforce, một hội nghị công nghệ thường niên lớn nhất của thành phố do công ty Salesforce tổ chức. Với sự tò mò pha chút ngại ngần, một số doanh nhân bắt đầu đến và tham gia cùng quý thầy, quý sư cô. Ai cũng có ly cà phê và điện thoại di động trên tay.

Sau một vài bài thiền ca, thầy Pháp Triển chia sẻ cách đi trong chánh niệm với những người đến sớm, những người đã biết trước là sẽ có thiền tập trong chương trình hội nghị. Rồi vòng tròn mở ra và đoàn thiền hành do quý thầy, quý sư cô dẫn đầu đi im lặng và chậm rãi ngang qua khuôn viên của hội nghị như một con rắn khổng lồ đang từ từ trườn đi với tốc độ của một con ốc sên. Trên đường đi, nhiều người nhập vào đoàn, dù vẫn còn đang mặc đồ công sở với giày cao gót hoặc giày da bóng loáng. Những người hướng dẫn và nhân viên bảo vệ đang đứng rải rác khắp nơi trong khuôn viên hội nghị đưa mắt nhìn nhóm người đầu tròn áo nâu đang dẫn đầu đoàn thiền hành rồi thì thầm với nhau một cách lo ngại “Chắc mấy người này là dân ghiền ma túy? Hay đây là một sô trình diễn?”. Một thầy nghe được mấy câu trao đổi đó liền giải đáp thắc mắc pha chút khôi hài: “Các bạn đang tự hỏi cái gì đang xảy ra phải không? Mấy người này không phải là đang bị thuốc hành đâu. Họ đang thực tập chánh niệm đấy.”

“Đó là cái gì vậy? Có phải là một trạng thái xuất thần không?”

“Không, không hẳn vậy. Chúng tôi bày cho họ cách làm sao để chậm lại.”

“Chậm lại… À, tôi hiểu rồi. Có thể cho tôi một chút cái đó được không? Tôi cũng cần chậm lại đây.”

“Không, cái đó không phải là thuốc viên có sẵn để uống đâu, mà đó là sự trải nghiệm với bước chân, với những bước đi vội vã. Anh muốn thử không?”

“Không được, tôi đang làm nhiệm vụ mà.”

Ba tháng trước, buổi sáng ngay sau vụ tấn công khủng bố tại Nice trong ngày kỷ niệm phá ngục Bastille (Bastille Day), sư cô Chân Không nhận được một email từ Marc Benioff, Tổng Giám  đốc của Salesforce. Trong email, ông chia buồn về sự việc đáng tiếc đó và lập lại lời mời tăng đoàn Làng Mai đến dự hội nghị của công ty ở San Francisco. Ông nói rằng thế giới đang cần gặp gỡ quý thầy, quý sư cô để mọi người có thể học hỏi cách cùng nhau trị liệu. Ông muốn những người chưa bao giờ được gặp quý thầy, quý sư cô có một cơ hội; đó có thể là cơ hội duy nhất trong đời họ được tiếp xúc với những người xuất gia thật sự.

Hội nghị thường niên Dreamforce diễn ra trong bốn ngày, từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 10 năm 2016, dành cho giới kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ. Ngày cuối cùng của hội nghị được dành riêng cho đề tài Từ bi trong kinh doanh. Đây là hội nghị lớn nhất trên thế giới về lĩnh vực này. Marc muốn 170 ngàn doanh nhân đến dự hội nghị Dreamforce được trải qua kinh nghiệm mà ông đã có – tiếp xúc với tăng thân Làng Mai và học hỏi về phương pháp thực tập chánh niệm. Ước muốn chân thành đó của ông đã làm sư cô Chân Không và tất cả mọi người trong tăng thân vô cùng xúc động. Nhờ vậy mà các nhân duyên đã được hội tụ đầy đủ để cho hai mươi lăm xuất sĩ từ nhiều trung tâm khác nhau của Làng Mai ở khắp nơi có mặt tại hội nghị. Cả sư cô Chân Đức và thầy Pháp Ấn từ Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) cũng bay sang tham dự.

Marc Benioff là một nhà hảo tâm, đồng thời cũng là Tổng giám đốc của Salesforce – một trong những công ty kinh doanh phần mềm lớn nhất thế giới hiện nay. Marc gặp Thầy Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2013 tại một sinh hoạt dành cho ba mươi tổng giám đốc của Silicon Valley được tổ chức tại nhà riêng của ông ở San Francisco.

Trong buổi sinh hoạt ngắn ngủi vào buổi chiều hôm đó, Thầy đã đề nghị các tổng giám đốc nên “làm cho doanh nghiệp trở thành một gia đình”. Thầy nói: “Mục đích của công việc làm ăn không nên chỉ là tiền bạc mà còn phải có lòng từ bi – từ bi cho công nhân viên, cho khách hàng, và cho cả hành tinh của chúng ta nữa”. Thầy đề nghị họ nên “ngồi xuống để lắng nghe những khổ đau của nhân viên”. Và cuối cùng Thầy thách thức các vị Tổng giám đốc với một câu nói: “Các ông phải chọn lựa, hoặc làm người thành công nhất, hoặc làm một người hạnh phúc” (You have to choose, between being number one, or being happy).

Hạt giống nhỏ bé ấy, nhờ được chăm sóc giữ gìn, đã đơm hoa kết trái một cách không ngờ. Marc và nhiều người có cùng tâm huyết như ông bắt đầu đem sự thực tập chánh niệm vào môi trường làm việc, và làm cho văn hóa công ty của họ thay đổi. Sự thực tập chánh niệm không những giúp nhân viên trong công ty giảm căng thẳng để hoàn thành công việc mà còn mang lại cho công ty của họ không khí của một gia đình, một cộng đồng đầy bình an và hạnh phúc.

Thấy được tâm nguyện chân thành của Marc trong việc chuyển hóa văn hóa công ty, Thầy khuyến khích chúng tôi tiếp tục giữ liên lạc với những doanh nhân này. Tâm nguyện của Marc đã được chứng minh qua câu nói của ông: “Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn”. Năm 2015, tăng đoàn Làng Mai đã hướng dẫn một ngày tu chánh niệm cho Salesforce và đề xướng việc thiết lập những khu vực thực tập chánh niệm (mindfulness zones) trong các văn phòng làm việc của công   ty này. Chúng tôi đã rất ấn tượng vì chỉ một năm sau, năm 2016, Marc đã biến lời đề nghị đó thành sự thật. Trong mỗi tòa nhà của công ty Salesforce đều đã có một khu vực chánh niệm. Và giờ đây, tại hội nghị Dreamforce, Marc cũng cố gắng kết hợp để thực hiện ý tưởng này trong ngày cuối với chủ đề “Từ bi trong kinh doanh”.

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi biết mình có toàn quyền trong việc tổ chức, sắp xếp  cách  thức chia sẻ pháp môn chánh niệm tại hội nghị. Ban  tổ chức đã thiết kế hai khu vực chánh niệm nằm ngay giữa trung tâm khuôn viên để bảo đảm ai cũng có cơ hội được tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô trong suốt bốn ngày của hội nghị. Mỗi buổi sáng, chương trình của chúng tôi bắt đầu bằng thiền hành, tiếp đó là thiền tọa có hướng dẫn và một bài pháp thoại ngắn, kết thúc bằng một thời vấn đáp; đây là những hoạt động trong nhà. Thời gian còn lại của buổi sáng chúng tôi hiến tặng sự có mặt của mình tại khu thực tập chánh niệm ngoài trời, đây là nơi mà mọi người có thể đến để học hỏi về các phương pháp thực tập. Ngồi xung quanh mỗi thầy hay sư cô là một nhóm nhỏ bao gồm các doanh nhân đang háo hức tìm hiểu về  sự thực tập chánh niệm. Họ phải cố gắng hết sức để nghe những lời hướng dẫn của quý thầy, quý sư cô, trong tiếng ồn của một ban nhạc đang chơi gần đó.

Sư cô Hiến Nghiêm đóng vai trò của một người tiếp đón. Sư cô trả lời những câu hỏi sơ bộ rồi căn cứ vào câu hỏi chính và lượng thời gian mà họ có, hướng dẫn họ đến gia nhập một trong các nhóm trong khu thực tập chánh niệm. Ai cũng nói: “Tôi chỉ có năm phút thôi”, và sư cô luôn trả lời: “Không thành vấn đề, bao nhiêu đó cũng quá đủ để quý vị tìm hiểu những điều cần biết về chánh niệm”, dù biết quá rõ là họ sẽ bị thu hút ít nhất là hai mươi phút. Thậm chí có vài người còn ở lại cả hơn hai giờ đồng hồ, và cuộc tham vấn của họ đã chấm dứt bằng thiền ôm, bằng nước mắt, và thậm chí có khi còn bằng một bài tập khí công do thầy Pháp Ấn hướng dẫn riêng.

Thật thú vị khi thấy cảnh tượng mười hai vị xuất sĩ, mỗi vị có một nhóm nhỏ vây quanh, và ai cũng đều có khả năng đáp ứng một cách thật chính xác nhu cầu cấp thiết của những người trong nhóm. Nhờ đó, chúng tôi thấy được lợi ích của sự rèn luyện làm việc chung như một tăng thân và việc thực tập những pháp môn đáp ứng được nhu yếu thực tiễn của đời sống. Từ thầy Pháp Hợp là vị trẻ nhất đến sư cô Chân Không là vị lớn nhất trong đoàn, không ai là không nhận ra sự rèn luyện và tu tập trong tu viện – như sự thực tập tiếp xúc và chăm sóc khổ đau trong tự thân, cũng như chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc – đã giúp chúng tôi dễ dàng giúp người khác cởi bỏ được nội kết trong lòng. Bất cứ một khổ đau nào mà chúng tôi đã vượt qua đều trở thành một bông hoa để chúng tôi có thể hiến tặng cho người khác. Chúng tôi cảm thấy rất được khích lệ và có nhiều cảm hứng khi thấy chỉ trong một thời tham vấn ngắn ngủi mà quý thầy, quý sư cô đã có thể đem chánh pháp đến làm vơi nỗi khổ của người khác một cách thật hiệu quả. Chúng tôi nhớ đến câu “Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” và thấy lòng mình tràn ngập niềm biết ơn đối với Thầy và với tăng thân.

Trong khi một số vị cho tham vấn thì cùng lúc đó, một nhóm quý thầy quý sư cô được phân công đi thiền hành trong khuôn viên hội nghị, thỉnh thoảng dừng lại cho mọi người có cơ hội được tiếp xúc và đặt câu hỏi. Ngày nào hai thầy Pháp Triển và Trời Ngộ Không cũng xung phong vào vai trò này. Không hiểu bằng cách nào hai thầy đã thu thập rất nhiều món quà miễn phí và một bộ huy hiệu đủ loại rất ấn tượng. Cứ hai ba mét, hai thầy lại phải dừng lại để trả lời cho những doanh nhân hiếu kỳ là tại sao những người xuất sĩ lại có mặt trong một hội nghị dành cho giới doanh thương như vậy. Đồng thời hai thầy cũng chỉ đường cho mọi người đến các khu chánh niệm để tìm hiểu thêm.

Một số vị chuyên hướng dẫn thực tập chánh niệm (lay mindfulness instructors) cũng cống hiến các buổi sinh hoạt chuyên đề vào những thời gian khác trong ngày. Nhưng nhiều người đã phản hồi là sự có mặt của quý thầy, quý sư cô trong hình tướng người tu, năng lượng của tăng đoàn, sự hòa điệu trong khi làm việc và giảng dạy như một tăng thân đã làm cho họ rất ấn tượng.

Hội nghị rất xôn xao, căng thẳng và ồn ào, nhưng mỗi khi chúng tôi cùng đi chung với nhau là tự nhiên có một vùng năng lượng tập thể làm chúng tôi cảm thấy được bảo hộ và thảnh thơi. Đi chung và giữ khoảng cách gần nhau giúp cho bước chân chúng tôi có chánh niệm hơn và hơi thở cũng nhẹ nhàng tự nhiên hơn. Khi có ai đó bị tách ra và lạc vào đám đông, chúng tôi lập tức thấy mình trở nên lạc lõng, và phải cố gắng hơn để giữ sự tập trung. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là chia sẻ về pháp môn thực tập chánh niệm, nhưng sự có mặt của tăng đoàn đông đảo đã đem lại một không khí vui vẻ, tự nhiên và nhẹ nhàng cho hội nghị. Chúng tôi chính là những kẻ vô sự đúng nghĩa, không có chương trình nghị sự nào cả. Chỉ có mặt mà thôi. Chỉ cần đi không hối hả, nhìn vào mắt của mọi người và mỉm cười. Bao nhiêu đó đã là một sự trao truyền. Chúng tôi cảm nhận mọi người xung quanh đã có sự chậm lại, có nhiều người đã dừng lại để mỉm cười với chúng tôi.

Vào ngày thứ ba của hội nghị, Marc đến khu vực chánh niệm thăm chúng tôi, theo sau là cả một đoàn tùy tùng hơn bốn mươi người bao gồm các nhà báo, trợ lý và cộng sự. Ông đang chuẩn bị có một cuộc phỏng vấn nhưng muốn ghé thăm và trò chuyện với chúng tôi. Dự định chỉ ghé thăm một chút nhưng ông đã ngồi lại cả ba mươi phút để đàm luận về sự cống hiến của Làng Mai cho thế giới. Ông đã khéo léo chuyển các câu hỏi của nhà báo về cho quý thầy, quý sư cô. Kết quả là sau này có rất nhiều bài báo đã ra đời dựa trên các chia sẻ đó. Ông muốn tiếng nói của quý thầy, quý sư cô được lắng nghe và sự có mặt của tăng đoàn có một ảnh hưởng sâu rộng. Ông muốn những người đến tham gia hội nghị biết đến tầm ảnh hưởng mà sự thực tập chánh niệm có thể tạo ra cho giới doanh thương và các tập đoàn lớn.

Có một khoảnh khắc rất dễ thương đã diễn ra giữa Marc và sư cô Chân Không. Đó là lúc Marc đến ngồi cạnh sư cô trò chuyện rất vui vẻ, thoải mái. Những trợ lý của Marc càng lúc càng trở nên căng thẳng. Marc cứ tỉnh như không, nói rằng ông có một câu hỏi rất quan trọng cho sư cô. Mọi người tò mò không biết câu hỏi gì mà quan trọng như thế. Ai cũng nín thở, các nhà báo nghiêng người tới trước, rất tập trung, tay cầm sẵn sổ ghi chép, máy ghi hình và ghi âm sẵn sàng. Và Marc hỏi sư cô một cách rất nghiêm trang: “Sư cô có thích loại kem vị cà phê Việt Nam mà tôi mua cho sư cô không?

Đỉnh điểm của hội nghị là ngày có chuyên đề “Từ bi trong kinh doanh”. Hôm đó chúng tôi cùng những vị khách mời khác lên sân khấu để trình bày bài thuyết trình chính của hội nghị. Mỗi bài nói – giới hạn trong bốn mươi lăm phút – sẽ được đưa lên mạng trực tuyến cho bảy mươi ngàn người xem, trong đó có hai ngàn người hiện diện trong khán phòng. Thử thách của chúng tôi là dùng bốn mươi lăm phút đó để chuyển tải sự có mặt đích thực của Thầy và hiến tặng cho mọi người những trải nghiệm thực sự về lòng từ bi. Trong khi chuẩn bị cho bài thuyết trình, chúng tôi nhận ra là mình chưa bao giờ làm cái gì tương tự với một thời gian ngắn kỷ lục như thế.

Trước giờ thuyết trình, chúng tôi không chắc là mình có thể thực hiện được điều ấy trong thời gian cho phép trong khi bị bao vây bởi tám máy quay phim di động và hai mươi màn hình phẳng khổng lồ. Khi đến lượt mình, chúng tôi lần lượt đi lên làm hai hàng, giống như trong một buổi ăn cơm quá đường. Chúng tôi đã sử dụng năm phút trong bốn mươi lăm phút quý giá ấy, chỉ để đi lên sân khấu. Năm phút đó đã kéo dài thành khoảnh khắc thiên thu.

Lên đến sân khấu, chúng tôi ngồi xuống chỗ của mình, rồi sư cô Chân Không chia sẻ về kinh nghiệm gieo trồng hạt giống từ bi của sư cô từ chiến tranh Việt Nam cho đến thảm họa tại Nice. Sư cô cũng kết hợp chia sẻ về thiền từ bi (Metta meditation) như là một giọt nước cam lồ để đối trị với sợ hãi. Năng lượng và đức độ của sư cô – trải qua bao năm tháng tu tập và phụng sự, chăm sóc cho những người nghèo, lân mẫn cho những người đau khổ – đã đánh động trái tim của mọi người trong hội nghị. Cuộc đời của sư cô đã trở thành một thông điệp và điều đó khiến cho chúng tôi tràn ngập lòng biết ơn.

Sau đó, chúng tôi đứng lên để trì niệm hồng danh của Bồ tát Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn, có thầy Pháp Ấn ngồi chuông. Chúng tôi cảm nhận rõ ràng năng lượng và nụ cười của Thầy trong giây phút ấy. Cùng với nhau, chúng tôi đã trì tụng thật hết lòng, tiếp xúc với khổ đau trong tự thân, chế tác từ bi cho chính mình, cho mọi người trong hội nghị, và cho toàn thế giới, nhất là những vùng chiến tranh, bạo động, cho thảm họa kinh hoàng ở Nice, cho hàng triệu triệu con cá và các loài sinh vật đã chết vì ô nhiễm môi trường ở vùng biển miền Trung Việt Nam.

Sau khi niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, thầy Pháp Dung đã cho một thời pháp thoại. Thầy nhắc rằng trên thương trường thì chúng tôi – đại diện tăng đoàn xuất sĩ của Bụt – thuộc về một công ty xưa nhất trên thế giới, công ty bắt đầu từ hơn 2600 năm về trước: một công ty không chuyên về lợi nhuận, mà chuyên về tình thương. Thầy nói rằng hai sản phẩm và dịch vụ chính của công ty chúng tôi là cách làm vơi bớt khổ đau và cách chế tác hạnh phúc. Thầy mời các doanh nhân trở thành đối tác của công ty chúng tôi, và giới thiệu danh từ “Heartforce” (Sức mạnh của trái tim) để mô tả công ty tâm linh của mình.

Chúng tôi thấy mình đã hoàn thành những gì   mà mình cần làm để vinh danh Thầy Tổ và đó cũng chính là một món quà mà chúng tôi dâng lên Thầy. Chúng tôi đã một lần nữa cùng nhau  đi như một tăng thân, như một cơ thể  sống. Ngay sau khi rời khỏi hội nghị, chúng tôi đến một quảng trường gần đó để hướng dẫn một thời ngồi thiền công cộng (flashmob  sitting meditation). Có khoảng hai trăm thành viên của tăng thân địa phương và năm mươi người từ hội nghị đến tham gia. Chúng tôi ngồi thành một vòng tròn lớn, và những người đi ngang bắt đầu ghé lại cùng ngồi. Những người làm việc trong các văn phòng trên những tòa cao ốc gần đó nhìn xuống với vẻ ngạc nhiên. Những người ngồi một mình trên các băng ghế công viên, thông thường lúc nào cũng cầm điện thoại di động trên tay, bỗng dưng thấy mình bị lọt giữa một sinh hoạt công cộng có năng lượng rất bình an, vui tươi. Có thể thấy khuôn mặt của họ từ từ dịu lại, thậm chí còn có một nụ cười nhẹ trên môi. Sự mầu nhiệm của thực tập ngồi thiền nơi công cộng là việc sử dụng những nơi ấy để chuyển tải năng lượng bình an, niềm vui và tình huynh đệ. Sau thời ngồi thiền, các bạn trong ban tổ chức bỗng nhận ra là quý thầy quý sư cô sẽ ra về trong chốc lát, thế là họ bắt đầu khóc. Suốt một tuần qua, các bạn đã chăm sóc chúng tôi từng li từng tí, từ việc bảo đảm cho quý thầy quý sư cô có mặt đúng nơi đúng lúc, lo thức ăn, chỗ nghỉ ngơi cho đến việc bảo đảm không ai bị trễ xe buýt. Trước khi chúng tôi rời khỏi, các bạn đã tìm đến từng thầy, từng sư cô để thiền ôm tạm biệt.

Chúng tôi rất ngạc nhiên  khi  thấy  rất  nhiều  tấm lòng hảo tâm và thiện chí trong hội nghị.   Có không biết bao nhiêu đề tài về công tác từ thiện đã được đề cập đến trong suốt thời gian ở đây. Chúng tôi cũng thấy sự hiện diện của rất nhiều cơ quan phi lợi nhuận, làm việc từ thiện dưới sự yểm trợ của Marc và chi nhánh phi lợi nhuận của công ty Salesforce. Được biết  hội nghị đã giúp quyên góp được bốn triệu đô la để giúp ngăn chặn sự lây lan của vi-rút HIV.

Cái làm chúng tôi ấn tượng nhất là buổi chia sẻ đặc biệt gần cuối hội nghị. Đây là một buổi chia sẻ nội bộ để Marc gặp gỡ mấy trăm nhân viên trong công ty. Ông ngồi trên sân khấu lắng nghe những phản hồi của nhân viên về công ty trong năm vừa qua. Chúng tôi biết mình đang chứng kiến một sự kiện rất đặc biệt. Marc thực tập lắng nghe nỗi khổ niềm đau của họ một cách sâu sắc, với một sự cởi mở chân thành và một mối quan tâm thực sự đối với những đề nghị của nhân viên mình. Chúng tôi không chắc là sự lắng nghe ấy có liên quan đến giáo lý của Thầy, nhưng có vẻ là Marc đã làm theo gợi ý của Thầy, đã có khả năng chia sẻ nỗi khổ niềm đau của chính ông với nhân viên cũng như lắng nghe nỗi khổ niềm đau của họ. Ông cũng bày tỏ ước muốn biến công ty thành một gia đình.

Nhân viên của ông rất xúc động bởi sự cởi mở và dễ tiếp xúc của Marc. Có người đã khóc, nói rằng trong thế giới kinh doanh, ông chính là một huyền thoại, một nhân vật hiếm hoi – họ không thể tin là ông đang thực sự làm những gì ông nói: ông đang thật sự lắng nghe.

Lúc ban đầu, một vài người trong chúng tôi có chút lo ngại về việc tham gia hội nghị. Nhưng sau khi hội nghị hoàn mãn, những vị này cho biết là tri giác của mình về thế giới doanh thương bây giờ đã thay đổi. Chúng tôi đã thực sự tiếp xúc với nỗi khổ niềm đau của giới doanh nhân, cũng như với tình người và khát khao chính đáng trong việc tìm ra một lối sống và cách làm việc khác hơn lối thông thường của họ.

Trước khi đến hội nghị, chúng tôi ý thức rất rõ ràng về câu hỏi liên quan đến vai trò của chánh niệm trong kinh doanh; chúng ta có thật sự nên dạy cho doanh nhân phương pháp thực tập chánh niệm để giúp họ thành công hơn trên thương trường hay không? Nhưng chúng tôi đã có kinh nghiệm là một khi mình có thể thực sự giúp mọi người có chánh niệm hơn về sự căng thẳng, sự lo sợ và khổ đau của chính họ, thì tự nhiên lòng từ bi cho chính tự thân sẽ khiến cho họ phát khởi tâm từ bi cho gia đình, cho nơi làm việc và cho thế giới. Qua những thực tập căn bản, mọi người có thể cho phép mình được nghỉ ngơi, thư giãn, tìm lại sự cân bằng cho thân và tâm, nhờ thế họ có thể sống trong hiện tại hơn là sống cho tương lai hoặc sống trong quá khứ.

Sự hiện diện của chúng tôi tại hội nghị chính là một bằng chứng cho thấy sức mạnh của những hạt giống mà Thầy đã gieo – vào năm 2013 – với nhiều tình thương trong tâm của ít nhất một doanh nhân, người đã toàn tâm toàn ý tìm cách chia sẻ những lời Thầy dạy cho biết bao người. Ý thức này giúp chúng tôi tiếp tục cố gắng đem sự thực tập đến cho giới doanh thương – gieo trồng hạt giống của hiểu và thương. Ngày nay, khi thế giới bị toàn cầu hóa, kỹ nghệ hóa và quân đội hóa, nhu cầu tâm linh lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta biết cách thức làm ăn của các tập đoàn, của các chính phủ và của xã hội ngày nay đã tạo ra rất nhiều đau khổ. Rất nhiều căn bệnh của thời đại – như chiến tranh, xung đột xã hội, biến đổi khí hậu và những thảm họa môi trường – là hậu quả của việc tranh giành quyền lực và lợi nhuận. Những căn bệnh này có gốc rễ sâu xa từ sự bất an và bất mãn với chính bản thân cũng như với thế giới. Và do đó, chúng ta đã bị dẫn dắt một cách sai lầm trong khi tìm kiếm một cái gì đó để bù đắp cho sự thiếu thốn đó trong chính mình.

Chúng tôi không biết tương lai sẽ như thế nào, nhưng với sự chừng mực và quân bình của cuộc sống tăng thân, chúng tôi tin rằng mình đang đi đúng hướng. Sống theo mô thức tập thể trong tăng thân, chúng tôi có thể tiết chế, duy trì và được bảo hộ để không bị quyền lực, danh lợi và thành công cuốn đi. Và đây chính là dụng cụ giúp chúng tôi tiếp nối Thầy trong sự nghiệp gieo trồng tưới tẩm hạt giống của hiểu và thương trong giới doanh nhân.

Thủy chung vẫn một niềm thương

Sư cô Chân Đức là một trong những đệ tử xuất gia đầu tiên của Sư Ông Làng Mai. Sư cô đã được Sư Ông thế phát và truyền giới lớn năm 1988 tại núi Linh Thứu, Ấn Độ. Là người Anh nhưng sư cô nói tiếng Việt rất giỏi và là một sư chị lớn sống hiền hòa, tươi mát, vững chãi trong tăng thân. Từ năm 2008, sư cô đã đến Đức, cùng tăng thân thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu. Hiện nay, sư cô đang tiếp tục chăm sóc giảng dạy cho chúng xuất sĩ và cư sĩ tại trung tâm này. (Bài phỏng vấn được chuyển ngữ từ tiếng Anh).

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã bắt đầu cuộc hành trình tâm linh của mình như thế nào?

Sư cô Chân Đức: Cuộc hành trình tâm linh của Chân Đức (CĐ) bắt đầu từ Chúa Jesus. CĐ nhớ có một lần CĐ đến tham quan nhà thờ Thánh Sepulchre ở Jerusalem trong lúc các giáo phái Công giáo đang tranh giành nhau ngôi nhà thờ đó. Bỗng nhiên CĐ thấy Chúa Jesus. CĐ rất ngạc nhiên. Ngài không giống như trong hình CĐ thường thấy trong Thánh Kinh. Ngài đang cười và rất khỏe mạnh. CĐ băn khoăn không biết tại sao Ngài lại cười. CĐ nghĩ có lẽ Ngài đến thế gian này để đem lại bình an và hòa giải, mà ở đây những giáo phái đại diện cho Ngài lại không thể sống chung hòa hợp với nhau. Nhưng Ngài lại cười chứ không hề giận dữ.

CĐ được rửa tội tại nhà thờ địa phương khi chưa đầy một tuổi. Lúc còn nhỏ, ba CĐ thường đưa CĐ tới nhà thờ địa phương và CĐ rất thích ngôi nhà thờ này. Nó nằm trong thung lũng, cạnh một dòng sông. Nhà của bà ngoại CĐ ở gần đó. Có một lần ở xóm Hạ, CĐ nằm mơ thấy mình trở về nơi đó với tư cách của một tăng thân để thực tập thiền hành dọc theo bờ sông, và CĐ thấy ở đó có một thiền đường thật đẹp.

Hơn năm tuổi một chút, CĐ được đi học ở một trường thuộc nhà thờ Anh giáo. CĐ thường nhận được phần thưởng về môn Thánh kinh. CĐ không hề cố gắng mà cũng không nghĩ là mình giỏi môn này. Phần thưởng bao giờ cũng là một quyển sách về đạo Công giáo. Gia đình bên nội CĐ có rất nhiều người là tín đồ Công giáo thuần thành nên CĐ đã được trao truyền những hạt giống này.

Trường thứ hai CĐ học là một tu viện Công giáo, ở đó CĐ bắt đầu có ý nghĩ trở thành một nữ tu. Trong tu viện Công giáo người ta còn cầu nguyện nhiều hơn ở trường Anh giáo. Các nữ tu làm cho trường học trở thành như một gia đình. Không phải nữ tu nào cũng dạy học nhưng tất cả nữ tu đều gần gũi với học sinh. Những nữ tu nào không dạy học thì nhận những trách nhiệm khác như nấu ăn, làm vườn, chăm sóc giáo đường, hay rửa chén bát. Và học sinh thường giúp đỡ các nữ tu trong các công việc đó.

Khi vào đại học, CĐ bắt đầu quan tâm tới chủ nghĩa cộng sản. CĐ gia nhập vào một nhóm có tên là Công giáo – Mác-xít (catholic-marxists) và tham gia các hoạt động của nhóm này, bởi CĐ nghĩ họ sẽ đem lại công bằng nhiều hơn cho thế giới. Đó là vào những năm 1967-1968, khoảng thời gian mà sinh viên biểu tình rất nhiều trong các trường đại học ở Âu châu, trong đó có Anh quốc. CĐ không còn thỏa mãn với sự tín mộ trong tôn giáo mà cảm thấy mình cần phải hành động để có thể sống đúng với tín ngưỡng ấy. Sau khi tốt nghiệp đại học, CĐ đến thăm một tu viện thuộc dòng thánh Benedict ở Normandy một thời gian. CĐ cảm thấy rất gần gũi với các nữ tu, với thánh ca, với sự cầu nguyện. Các nữ tu ở trong một tu viện lớn dưới quyền của một ông viện trưởng. Một hôm CĐ hỏi ông viện trưởng là CĐ có thể trở thành một nữ tu hay không? Ông tỏ ra không nhiệt tình gì mấy và đề nghị CĐ nên là một cư sĩ thì hay hơn. Sau đó CĐ dần dần xa nhà thờ và không còn thực tập nữa.

Năm 1970, CĐ sang Hy Lạp để giảng dạy về cổ ngữ Hy Lạp và tiếng Phạn trong một trường học quốc tế. CĐ sống chung với những người Hy Lạp gốc Á châu. Họ là những người sùng đạo Chính Thống giáo (Orthodox). Họ nghĩ là mọi người ai cũng phải có một tôn giáo để theo, và họ hỏi CĐ theo tôn giáo nào. CĐ trả lời là mình không theo tôn giáo nào cả. Họ bảo nếu CĐ dạy tiếng Phạn thì nên theo Phật giáo, và họ gởi CĐ tới một trung tâm Phật giáo Tây Tạng ở Athens, Hy Lạp. CĐ không hề có ý muốn thực tập theo đạo Bụt nên đi một cách rất miễn cưỡng. Khi tới trung tâm thì một sư cô người Tây Tạng nói được một ít tiếng Anh dẫn CĐ vào phòng thờ, chỉ CĐ cách lạy, rồi đưa một chuỗi tràng hạt, dạy CĐ đọc câu Om Mani Padme Hum mỗi khi lần một hạt. Trước khi CĐ ra về, sư cô nói với CĐ là tháng tới sẽ có một vị Lama lớn tới trung tâm và khi đó CĐ nên trở lại, mà đừng nên tới sớm hơn.

Một tháng sau CĐ trở lại. Trong phòng thờ đầy nghẹt cả người, CĐ thấy một vị Lama đang thuyết pháp bằng tiếng Tây Tạng, kế bên ông là một thầy tu trẻ thông dịch ra tiếng Anh: “Một người nọ đang đi trên đường. Anh ta thấy có một cái gì đang nằm trên đường và nghĩ đó là một con rắn. Tim anh bắt đầu đập thật nhanh tại vì anh ta rất sợ. Nhưng khi nhìn lại, anh thấy đó không phải là con rắn và sự sợ hãi trong anh biến mất liền lập tức. Cũng giống như tri giác của chúng ta vậy, chúng ta sợ những cái không có thật. Khi những tri giác sai lầm không còn nữa thì sự sợ hãi cũng không còn”.

Bài pháp thoại đánh động CĐ một cách sâu sắc đến nỗi CĐ không thể dùng từ ngữ để diễn tả được. CĐ nghĩ: Đây là sự thật mà CĐ vẫn luôn biết nhưng chưa có ai tưới tẩm sự hiểu biết đó trong CĐ. Cứ như là bài pháp thoại của vị Lama đã có sẵn trong CĐ rồi vậy.

Khi đó là vào dịp Tết tây, và sắp sửa có một lễ quy y. Sư cô có tên là Anila hỏi CĐ có muốn nộp đơn xin quy y hay không? CĐ hỏi sư cô nhiều câu ngớ ngẩn về vấn đề quy y và sư cô đã từ chối trả lời. Cuối cùng sư cô nói: “Hãy chờ tới ngày mai xem sao. Nếu cô muốn quy y thì quy y, nếu cô không muốn thì thôi vậy”.

Sáng hôm sau, CĐ đến dự buổi lễ và ngồi ở sau cùng. CĐ không được kêu tên vì đã không nộp đơn. Khi vị Lama hỏi: “Còn ai nữa không?”. Không hiểu sao CĐ đứng lên và ra tham gia  cùng những người khác. CĐ quỳ xuống để cho vị Lama cắt vài sợi tóc của mình. Sau đó, vị Lama tìm trong xấp thẻ có ghi các pháp danh và chọn ra pháp danh cho CĐ là Karma Trashi Zangmo. CĐ thích pháp danh này. Karma có nghĩa là hành động, phần còn lại có nghĩa là tốt lành. Vị Lama đó có tên Khenpo Tsultrim Gyatso, là một người Tây Tạng tị nạn ở Bhutan. Ngài có thành lập một ni viện tại Bhutan, hy vọng một ngày nào đó CĐ có thể tới thăm nơi này.

Năm 1980, CĐ sang Ấn Độ. Lần đầu tiên đặt chân lên đất Ấn, CĐ có cảm tưởng là mình đang về nhà. CĐ cảm thấy rất thân quen với nước Ấn mặc dù không khí của New Dehli rất ô nhiễm. Nhìn trẻ con chơi đùa, CĐ có cảm giác mình đã thấy cảnh này trước đây rồi. Cho nên, mười hai tiếng đồng hồ ngồi không thoải mái trên xe bus vẫn không làm cho CĐ nản lòng. Khi tới chân rặng núi Himalaya vào lúc hoàng hôn, CĐ đã rất xúc động khi nhìn những đỉnh núi phủ tuyết trắng xóa, thật huy hoàng. Mỗi lần ngắm những đỉnh núi ấy, CĐ thấy mình phải sống một đời sống tâm linh và vượt thoát những ràng buộc của sinh tử.

Lúc đầu, CĐ ở trong tu viện của các sư cô. Tu viện có tên là Tiklopur, được đặt theo tên của đạo sư Tilopa, người đã tu tập ở đây, trong một cái động bên bờ sông. Tu viện này có khoảng ba mươi sư cô. CĐ ngủ trong một căn nhà hai phòng với một sư cô khác. Giường rất cứng và CĐ chưa bao giờ có thể ngủ cho tròn giấc bởi vì CĐ rất không thoải mái. Không có nước máy trong tu viện nên phải đi lấy nước từ giếng làng gần đó.

Sau đó, CĐ rời ni viện để về sống trong một tu viện khác nằm cao hơn, ở chân núi Himalaya. Đó là tu viện nằm một nơi hẻo lánh không có đường xe tới. CĐ phải đi bộ tám cây số băng qua những cánh đồng lúa, những con sông và những cánh rừng để tới đó.

Điều kiện sống ở đây rất tối thiểu. Mặc dù vậy, các thầy ở đây tu tập thật tinh tấn. Hạnh phúc và sự thảnh thơi, an lạc của một số thầy làm cho CĐ rất ấn tượng. Một hôm CĐ thấy một thầy ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống cánh đồng. Thầy ngồi thật an nhiên, hoàn toàn mãn ý trong giây phút đó, “không đi đâu nữa, có chi để làm”. Niềm an lạc tỏa rạng của thầy đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng CĐ.

Sự thực tập của các sư cô là trì chú trong mọi sinh hoạt, và vài giờ đồng hồ trong ngày ngồi lại với nhau để tụng kinh. CĐ được dạy câu chú “Om Mani Padme Hum”. CĐ thường tụng câu chú đó theo những âm điệu mà CĐ đã biết. Một ngày  kia trong lúc đang tụng chú, bỗng nhiên CĐ thấy không phải CĐ là người đang tụng chú. Những rặng núi ngoài kia đang đáp lại tiếng tụng của CĐ. Có lẽ đó là do năng lượng tập thể. Rất nhiều người đã tụng chú “Om Mani Padme Hum” tại chỗ này, và nó đã trở thành một phần của môi trường chung quanh. CĐ yên lặng thưởng thức cái cảm giác “trong ngoài là một” đó.

Tuy nhiên cũng đến lúc CĐ phải chăm sóc cho thân của mình. CĐ không được khỏe lắm.  CĐ băn khoăn không biết phải làm sao? Tình cờ ngày đó có một thầy nghé thăm. Thầy cầm theo một cái radio và thầy kể cho CĐ nghe về căn cứ quân sự Greenham Common và những người phụ nữ đang biểu tình ở đó để ngăn chặn không cho Mỹ đem vũ khí hạt nhân ra gây chiến. Thầy hỏi tại sao CĐ không có mặt ở đó với họ. Ngay lúc đó CĐ quyết định đó là việc CĐ muốn làm, nhằm góp phần ngăn chặn chiến tranh.

Về lại Anh, Chân Đức lên kế hoạch đi đến Greenham Common. Lúc đó là vào cuối tháng ba và nhiệt độ vẫn còn dưới 0 độ, nhưng CĐ muốn thực tập ngủ ngoài trời không có lều và mái che vì những phụ nữ đang ở Greenham đều phải làm như vậy. CĐ có thể ngủ ngoài trời một cách thoải mái nên quyết định khởi hành. CĐ muốn đi bộ càng nhiều càng tốt. CĐ nghĩ mình có thể không cần thức ăn và dọc đường CĐ có thể gõ cửa nhà người ta để xin nước uống. CĐ mang giày ống bằng cao su. CĐ không biết là mình đã đi bộ bao lâu nhưng khi tới Greenham Common thì chân phồng rộp hết, và CĐ phải đi đứng rất khó khăn trong vài ngày.

Những phụ nữ ở Greenham rất dễ thương. Họ dựng nhiều trại chung quanh căn cứ. Họ có một hệ thống những người tình nguyện làm những công việc như nấu nướng, đào hầm vệ sinh, giữ cho lửa không tắt và canh gác ở cổng, chỗ mà vũ khí hạt nhân có thể được chở ra. CĐ được cho một tấm nhựa để bao túi ngủ lại nếu trời mưa. Trong khi canh gác, CĐ thường thực tập thiền ngồi bên ngoài hàng rào. Lúc nào cũng có một toán phòng vệ đi tuần tra bên kia hàng rào. Thường thì họ rất thân thiện. Họ nói CĐ sẽ bị đông đá đến chết nếu còn tiếp tục ngồi đây và hỏi CĐ làm gì trong khi ngồi thiền.

Những người phụ nữ không quan tâm gì mấy tới Phật giáo và thiền tập, nhưng khi CĐ hỏi có ai muốn phối hợp hoạt động hòa bình với thiền tập hay không thì có người cho CĐ biết về hội Buddhist Peace Fellowship (Phật tử thân hữu tranh đấu cho hòa bình). CĐ tìm tòi và nhận được một bản tin của hội. Lần đầu tiên CĐ đọc được một bài thơ của Thầy, đó là bài thơ Hãy gọi đúng tên tôi, và thấy hình Thầy đang rót một tách trà.

BBT: Thưa sư cô, làm thế nào mà sư cô biết đến Sư Ông và Làng Mai?

Sư cô Chân Đức: CĐ đến sống trong một cộng đồng với những thành viên của hội Buddhist Peace Fellowship. Họ muốn tổ chức một khóa   tu để mời Thầy tới nước Anh. Cuối cùng CĐ là người đứng ra tổ chức và tìm địa điểm. CĐ tìm được một lâu đài rất cũ và lạnh lẽo ở miền Bắc nước Anh. Hồi đó là vào tháng 3 năm 1986. CĐ ra đón Thầy ở phi trường Luân Đôn. Khi thấy Thầy và sư cô Chân Không, CĐ có cảm tưởng như là mình được gặp lại người thân sau một thời gian dài vắng bóng. Sau khóa tu, Thầy hỏi CĐ có muốn về ở Làng Mai trong 6 tuần lễ hay không. Dĩ nhiên là CĐ thưa “Dạ có!”

CĐ về Làng vào tháng 7 và trong khóa tu mùa hè năm 1986, CĐ thọ 14 Giới Tiếp Hiện. CĐ nghĩ sẽ ở Làng một tháng và sau đó sẽ về Anh để dạy học, nhưng sau khi ở Làng một tháng, Thầy và sư cô Chân Không mời CĐ ở lại lâu dài. Thầy nói sống ở Làng, CĐ có thể được là chính mình. Nếu muốn, CĐ có thể trồng rau dền, ngò, cải bẹ xanh cho mùa đông. Sư cô Chân Không nói CĐ có thể dạy tiếng Pháp cho những người Việt Nam tị nạn đang sống ở Làng.

BBT: Xin sư cô chia sẻ một vài khoảnh khắc mà sư cô cảm thấy mình thực sự tiếp xúc sâu sắc với Sư Ông.

Sư cô Chân Đức: Lần đầu tiên mà CĐ cảm thấy có sự liên hệ sâu sắc với Thầy là lúc Thầy cho pháp thoại ở Anh vào tháng 3 năm 1986. Thầy giảng về Bát Nhã Tâm Kinh và sử dụng tờ giấy để làm thí dụ. Thầy đưa lên một tờ giấy và nói: “Nếu bạn có tâm hồn thi sĩ khi nhìn vào một tờ giấy, bạn sẽ thấy một đám mây bay trong ấy. Không  có mây thì không có mưa, không có mưa thì cây cối không mọc được, và nếu không có cây thì làm sao có tờ giấy này trong tay bạn? Cho nên tờ giấy có mặt là vì đám mây có mặt, không có mây thì không có tờ giấy. Đám mây và tờ giấy phải nương vào nhau để hiện hữu, cái đó gọi là tương tức”. Khi nghe lời giảng của Thầy lúc ấy, CĐ cảm thấy mình không còn cần tìm kiếm gì hơn nữa.

Lần thứ hai là khi CĐ tới Làng lần đầu tiên. Khi ấy, Thầy dạy cách thỉnh chuông để hướng dẫn buổi ngồi thiền. Thầy thường tới thiền đường và ngồi ở những chỗ khác nhau. Một hôm Thầy ngồi kế bên CĐ, CĐ cảm nhận từ Thầy một năng lượng tuyệt vời của định lực và sự khinh an. Nhiều khi CĐ nhầm lẫn Thầy với ba CĐ. Thầy nói: “Chắc thầy phải đeo một tấm biển ghi ‘Thầy không phải là ba của con đâu’!”.

Thầy và sư cô Chân Không rất dễ thương với CĐ vì hiểu được lối sống Tây phương của CĐ. Hai vị không đòi hỏi gì ở CĐ cả mà cho phép CĐ được là chính mình. Sau này CĐ có hỏi Thầy: “Con  có thể làm gì khác hơn là làm chính mình?”, thì Thầy nói rằng trong đạo Bụt có giáo lý vô ngã, nghĩa là không có một cái ta riêng biệt. Thầy luôn luôn dạy CĐ từng chặng một. Lúc đầu Thầy bảo CĐ làm hạnh phúc cho chính mình. Sau đó Thầy dạy CĐ cách thức giúp cho người khác. Thầy cho phép CĐ trải nghiệm những gì mà CĐ phải đi qua để tự mình học hỏi mà không bảo CĐ nên làm cái này hoặc không nên làm cái kia.

Thầy dạy cho CĐ cách nương tựa tăng thân. CĐ nhớ là vào năm 1986, một hôm CĐ hỏi Thầy là ở Làng có thể trồng trọt theo phương pháp hữu cơ hay không? Thầy nói miễn là mọi người trong tăng thân đều đồng ý thì cứ làm, nhưng đây là một vấn đề mà mọi người phải cùng nhau quyết định. Cuối cùng, mọi người không đồng ý nên Thầy nói CĐ có thể xin một khoảnh đất nhỏ và trồng trọt theo lối hữu cơ. Nếu mọi người thấy CĐ thành công thì sẽ muốn làm theo. Một hay hai năm sau đó, Làng Mai bắt đầu trồng trọt theo lối hữu cơ.

Sau khi Thầy bị đột quỵ, CĐ quan sát thấy Thầy vẫn tiếp tục trao truyền giáo pháp bằng sự sống của Thầy. CĐ rất ấn tượng khi nhìn Thầy ăn cơm trong chánh niệm. Mặc dù có khó khăn trong khi ăn nhưng Thầy có mặt hoàn toàn cho thức ăn. CĐ có thể thấy Thầy có mặt đó cho mặt trời, cho cơn mưa trong thức ăn cùng một lúc.

CĐ ấn tượng nhất là cách Thầy làm sáng tỏ những giáo lý của đạo Bụt. Thầy đã gạn lọc rất nhiều sự hiểu lầm và những trao truyền sai lạc trong giáo lý, giúp cho giáo lý đạo Bụt trở nên sáng tỏ và mang tính thực tiễn.

BBT: Có khi nào tăng thân yêu cầu sư cô làm một việc nào đó mà sư cô không thích nhưng sư cô vẫn làm vì vâng lời và nương tựa tăng thân? Sư cô có lời khuyên nào cho những người xuất gia trẻ khi tăng thân yêu cầu mình làm công việc mà mình không thích.

Sư cô Chân Đức: CĐ là tăng thân và tăng thân là CĐ. CĐ không có một cái ta riêng biệt. Khi CĐ muốn làm cái gì đó (như muốn đi Thái Lan chẳng hạn) thì CĐ hỏi tăng thân. Nếu tăng thân trả  lời: “Sư cô hãy chờ một năm nữa” thì CĐ xem đó là một cơ hội. Tăng thân ở đây và tăng thân ở đó là một. Đôi khi mình muốn cái gì đó nhưng lại không biết cách trình bày ý muốn của mình một cách khéo léo nên tăng thân từ chối. CĐ nghĩ là CĐ không đủ khéo léo khi trình bày ý của mình. CĐ phải thử lại một lần nữa. Khi muốn làm việc gì thì CĐ hỏi ý một vài chị em mà CĐ tôn trọng ý kiến nhất để xem họ trả lời như thế nào. Nếu họ không đồng ý thì có khi CĐ bỏ luôn ý định của mình hay có khi CĐ vẫn thử trình bày ý muốn của mình trong buổi họp của Hội đồng Tỳ Kheo Ni. CĐ biết càng nhiều con mắt nhìn thì cái thấy càng sáng.

Nếu tăng thân yêu cầu CĐ làm một việc mà CĐ cảm thấy mình không đủ khả năng thì CĐ cố gắng giải thích cho tăng thân hiểu tại sao CĐ không làm được việc đó. Nếu tăng thân không chấp nhận sự giải thích của CĐ thì CĐ sẽ nhận làm công việc đó và tự nhủ rằng: “Nếu mình làm tốt thì tăng thân sẽ có lợi, còn nếu mình làm không tốt thì tăng thân sẽ không bao giờ yêu cầu mình làm nữa!”

BBT: Sư cô đã thực tập như thế nào để thích ứng và sống hòa hợp trong một môi trường văn hóa khác với môi trường văn hóa của mình?

Sư cô Chân Đức: Thầy và sư cô Chân Không  đã có khả năng bơi lội được trong dòng sông của văn hóa Á đông và của văn hóa Tây phương. Cách sống của hai vị kết hợp được hai nền văn hóa một cách thoải mái. Đó là điều lôi cuốn CĐ tới Làng Mai. Thầy và sư cô Chân Không có khả năng khám phá ra được những châu báu của văn hóa Tây phương. Tất cả chúng ta cũng cần khám phá như thế. Người Tây phương phải khám phá những châu báu của nền văn hóa Việt Nam và người Việt Nam phải khám phá những châu báu của văn hóa Tây phương. Thầy thường kể về một sư cô người Việt ở Los Angeles biết cách thức uống trà với các thầy cô người Việt và với người Tây phương. Cách thức sư cô mời trà hay nhận trà có khác nhau trong mỗi trường hợp nhưng uống trà với ai sư cô cũng đều thấy thoải mái như nhau.

Có lúc CĐ cảm thấy không vui khi có những sư em người Việt sống ở Tây phương không thực tập theo một số điều cho phù hợp với khí hậu bên này, thí dụ như vào mùa đông khi ra vào cần đóng cửa để giữ hơi ấm trong nhà. Nhưng CĐ tự nhắc nhở mình là có những cái khác quan trọng hơn trong liên hệ chị em. CĐ phải kiên nhẫn và tiếp tục nhắc nhở các sư em mà không nên có thái độ bực bội, và cả hai bên sẽ cùng tiến bộ.

CĐ thấy mỗi trung tâm của Làng Mai đều nên  sử dụng ba ngôn ngữ (Pháp, Anh, Việt hoặc Thái, Anh, Việt hoặc Đức, Anh, Việt, v.v..). Văn hóa xuất sĩ cần thời gian để có thể bắt rễ ở Tây phương. Chúng ta muốn đi nhanh nhưng chúng ta cũng không muốn làm mất đi phẩm chất của đời sống xuất sĩ.

BBT: Điều mà sư cô muốn trao truyền nhất cho các sư em của mình là gì?

Sư cô Chân Đức: Là người xuất gia, chúng ta không có những đứa con huyết thống. Tuy nhiên chúng ta cũng muốn được tiếp nối, và chúng ta phải tiếp nối trong các sư em của mình. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tu tập cho có nội dung mà không phải bằng hình thức bên ngoài. Chúng ta trao truyền lại cho các sư em nội dung của sự tu tập, tình thương và sự hiểu biết. Nếu chúng ta thật sự đã về đã tới và có hạnh phúc trong từng bước chân thì đó là sự trao truyền thật tuyệt vời mà không cần phải sử dụng lời nói.

BBT: Làm sao để mở lòng ra với những quốc gia khác? Làm thế nào để yểm trợ cho đất nước mình khi sống xa quê hương?

Sư cô Chân Đức: Những thầy tu Ấn Độ đã tới Việt Nam. Thầy Huyền Trang đã tới Ấn Độ và phải ăn cà ri Ấn. Các vị xuất gia trong Phật giáo xưa nay vẫn sẵn sàng sống ở nước ngoài. Cái chính là lòng mình có bình an và hạnh phúc hay không. Có thể chúng ta nghĩ là mình sẽ hạnh phúc hơn khi sống tại đất nước mình nhưng nếu tâm mình không an thì mình sẽ không có hạnh phúc. Giảng pháp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thì thoải mái, nhưng không có nghĩa là mọi việc đều sẽ dễ dàng. Chúng ta không cầu mong sự dễ dàng mà chỉ cầu có sức mạnh để làm được những việc không dễ dàng. Ở Việt Nam cần các thầy các sư cô và ở Tây phương cũng vậy. Chúng ta có cơ hội để đổi trung tâm và trải nghiệm được những nơi khác nhau trên toàn cầu. Đó là một cơ hội tuyệt vời!

 

BBT: Sư cô đã hết lòng chăm sóc cho mẹ trong những ngày cuối đời của bà và hiện cũng đang chăm sóc cho ba. Vậy sư cô có những lời khuyên nào cho những thầy, những sư cô trẻ về cách thức giúp cho cha mẹ trong lúc tuổi già hay khi họ hấp hối, với tư cách một người xuất gia hay không?

Sư cô Chân Đức: Đó là một sự thực tập rất tuyệt vời và sâu sắc! Chúng ta rời gia đình để trở thành một người tu và sau một thời gian tu tập, chúng ta lại trở về để giúp cho cha mẹ khi cha mẹ lâm bệnh nặng hoặc đang hấp hối. Sự thực tập của chính chúng ta phải thật vững chãi. Khi nào cha mẹ còn sống thì chúng ta phải thực tập cho có nội dung để hồi hướng công đức cho cha mẹ. Cha mẹ có thể tiếp nhận công đức đó và chuyển hóa. Chúng ta không cần phải ở gần cha mẹ mới có thể yểm trợ được. Tuy nhiên, tăng thân sẽ cho phép chúng ta được về chăm sóc cha mẹ khi thật sự cần thiết.

Việc đầu tiên chúng ta cần thực tập là phải buông bỏ hết mọi ý tưởng. Khi trở về giúp cha mẹ, CĐ có rất nhiều ý tưởng trong đầu là mình phải làm gì và làm thế nào. Nhưng những ý tưởng đó thật ra lại không thể thực hiện được. Trong nhà thương, bên giường bệnh, mình phải có mặt và đáp ứng được ngay với những gì đang xảy ra lúc đó, chứ không phải sử dụng những ý tưởng đã có sẵn của mình.

Lúc mẹ CĐ nằm nhà thương, khi từ giã mẹ về nhà tối hôm đó, CĐ không nghĩ đó là lần cuối cùng CĐ gặp mẹ khi bà còn sống. CĐ tới nhà thương sau khi hướng dẫn một  ngày  chánh  niệm nên rất  mệt.  Mẹ  CĐ  nằm  trên  giường  và CĐ hát cho mẹ nghe bài hát của Rumi, nhà thơ Sufi người Ba Tư nổi tiếng của thế kỷ 13:

 

Silence is an ocean,

Language is a river,

When thousands of voices in your head are speaking

You know: That’s enough for now.

When the ocean calls you,

Don’t go to the river,

Listen to the ocean saying: That’s enough for now.

“Im lặng là đại dương

Ngôn ngữ là dòng sông

Khi trong đầu có hàng ngàn tiếng nói

Thì ta biết: như thế đã đủ rồi.

Khi đại dương lên tiếng gọi

đừng nên tìm đến dòng sông

Hãy lắng nghe đại dương lên tiếng:

Như thế đã đủ rồi!”

CĐ ngồi trên giường bệnh của mẹ và hoàn toàn cảm thấy mình với mẹ là một. Mẹ là CĐ và CĐ là mẹ. Lúc đó tai của CĐ rất đau và CĐ rất mệt. CĐ nói với mẹ: “Tai con đau quá! Con có thể về nhà không mẹ?” Mẹ CĐ nói thật dịu dàng: “Ừ, con về đi!” CĐ để mẹ một mình trong bệnh viện. Sáng hôm sau cô y tá gọi điện thoại báo tin mẹ CĐ vừa mới mất. CĐ ân hận là mình đã không ở với mẹ lâu hơn.

Khi ba của CĐ lâm bệnh nặng, CĐ tới bên cạnh ba thì ba mê man và thỉnh thoảng ba nói sảng. CĐ xoa bóp cho ba thật nhẹ và hát vào tai ba những bài hát mà ba thích. Khi mới tỉnh dậy, ba không tin CĐ là con gái của ba. Ba lẫn lộn không biết mình đang ở đâu. Ba nghĩ mọi người muốn hại ba. CĐ nói với ba: “CĐ là con gái của ba” và ba nói: “Cô là một Phật tử thì chắc cô không nói dối”.

Có nhiều lúc CĐ tưởng ba CĐ sắp mất, nhưng rồi CĐ ngồi bên ba, theo dõi hơi thở của mình và nghe ông thở. Bỗng nhiên câu “Hãy thở và biết là bạn đang còn sống” trở nên rất thực đối với CĐ. Sự sống là một phép lạ! Mầu nhiệm thay khi ta đang còn sống! Và dĩ nhiên là nếu không có cái chết thì không thể có sự sống! CĐ muốn sống một cuộc sống thật tròn đầy, giống như ba CĐ đã thưởng thức và sống thật tròn đầy cuộc đời của mình! Đó là điều mà CĐ đã học được bên giường bệnh của ba!

BBT: Chúng con kính cảm ơn sư cô đã chia sẻ những kinh nghiệm tu tập rất thực tế và sâu sắc!

 

Xin nguyện đứng bên nhau

Bài thơ dưới đây được sư cô Mai Nghiêm – người Pháp, hiện đang tu tập tại tu viện Lộc Uyển, Mỹ – cảm tác qua sự kiện ở Standing Rock – khu bảo tồn của người da đỏ thuộc bộ tộc Sioux ở Bắc và Nam Dakota bị đe dọa bởi một dự án xây dựng đường ống dẫn dầu đi qua vùng đất này. Tháng 11 năm 2016, cộng đồng người da đỏ Sioux, với sự ủng hộ của hơn 2000 cựu chiến binh Mỹ và nhiều cộng đồng tôn giáo trên thế giới, trong đó có tăng thân Làng Mai, đã tổ chức những cuộc biểu tình bất bạo động để thuyết phục chính quyền Mỹ dừng dự án này. Với quyết tâm dùng hòa bình để hóa giải bạo lực, cuối cùng người da đỏ Sioux đã thành công.
 

 
Xin lắng nghe, đất Mẹ ơi,
tiếng gọi của chúng con
Đứng ở đây hay bất cứ nơi nào
Chúng con muôn đời vẫn là con của Mẹ
Mẹ và con là một trong sự thật nhiệm mầu.
 
Xin cho chúng con đứng đây, Mẹ ơi,
trong tình yêu vững bền của Mẹ
Để Mẹ được bảo hộ,
Để Mẹ được bình an,
Chúng con đứng đây,
trong lòng Mẹ thênh thang
Để nuôi giữ tình người
nơi muôn vạn trái tim mạch thở
Chúng con đứng đây,
vai kề vai mắt nhìn trong mắt
Cùng chân lý nhiệm mầu của sự nhất như.
 
Chúng con đứng đây,
nguyện cho cõi lòng không giận dữ
Chúng con đứng đây,
nguyện tâm không sợ hãi lao đao
 
Chúng con đứng đây,
khối óc nguyện không nhuốm màu phân biệt
Nguyện mãi đứng cùng nhau,
Để trái tim chúng con và tổ tiên
cùng chung sóng dâng trào.
 
Chúng con nguyện đứng bên nhau trong tĩnh tại
Gọi gió mưa về,
gửi niềm hy vọng tràn ngập không gian
Trái tim mở ra cho niềm tin tỏa sáng
cả sao trời nhật nguyệt mênh mông
Cánh cửa tâm hồn trải rộng
Để muôn trùng cỏ cây đất đá…
Hòa ca trong sự thật thiêng liêng
của tương tức nhiệm mầu
Cõi tâm linh khoáng đạt
chúng con nguyện giữ gìn
Cho từng bước chân,
Cho từng tiếng hát ca,
Cho từng lúc nằm ngồi nơi muôn vàn biểu hiện.
 
Chúng con vẫn đứng đây, Mẹ ơi,
Xin chứng tri những lời tâm nguyện.
 
 
 Mother, hear our call (A poem for Standing Rock by Sr. Chân Mai Nghiêm)

 

Mother, hear our call,

Here we stand.

No matter where we stand,

We are your children.

And we stand for the Truth of our Oneness.

May we stand in the steadiness of your Love

To protect you, Mother,

On your lap, we stand

To protect the humanity of all hearts

Facing each other, we stand.

In the Truth of our Oneness, we stand.

May we stand with no anger.

May we stand with no fear.

May we stand with no discrimination.

May we stand together,

Our hearts beating on the rhythm of the ancestor's drum.

May we stand in stillness

Calling upon winds and rains to carry our hope,

Opening hearts; Calling upon stars and suns to radiate our faith,

Opening eyes;

Calling upon hawks, trees and rocks to whisper our truth,

Freeing spirits.

And as we walk,

We'll keep on standing;

As we sit,

we'll keep on standing;

As we lie,

We'll keep on standing

As we dance and sing,

We'll keep on standing.

Mother, hear our prayer,

For here we stand.

Mỗi bước chân là phép lạ

Sư cô Đào Nghiêm, người Pháp, xuất gia năm 2003 trong gia đình Cây Cẩm Lai và được truyền đăng năm 2011. Sư cô hiện đang tu tập tại xóm Hạ, Làng Mai. Bài viết được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Mỗi buổi sáng thức dậy, sau khi rửa mặt, tôi choàng áo khoác lên rồi đi bộ quanh xóm Thượng. Ngoài trời vẫn còn tối. Tôi bước thật nhẹ, mỗi bước chân giúp tôi tiếp xúc với thiên nhiên, trăng sao, cây cối, hạnh phúc vô cùng. Tôi có viết một bức thư pháp: “I am in love with Mother Earth” (Tôi yêu đất Mẹ). Giống như một chàng trai trẻ khi nghĩ tới người yêu thì lòng rộn ràng lên, tôi cũng vậy. Chỉ cần nhớ ở ngoài kia có trăng, có trúc, có con đường thiền hành thì trong lòng rộn lên. Đất Mẹ đã đem đến cho tôi biết bao hạnh phúc. Tôi yêu đất Mẹ, một tình yêu mà không bao giờ có sự phụ bạc. Tôi gửi tôi cho Mẹ, Mẹ gửi Mẹ nơi tôi…” (Trích dịch từ “Love letter to the Earth” – Thầy Làng Mai)

Khi còn bé, tôi thường nhìn đại dương mênh mông với một đôi mắt đầy kinh ngạc và thích thú. Biển là tình yêu đầu tiên của tôi. Mỗi năm ba tôi hay đưa chúng tôi đi cắm trại gần biển. Ba đã dạy tôi bơi và cách giỡn sóng để không còn sợ nước. Khi có bão lớn, ba lại dẫn chúng tôi ra bãi biển để nhìn những con sóng khổng lồ vỗ vào bờ.

Tôi nhớ là mình đã rất ấn tượng trước sự bao la, rộng lớn của bầu trời, của trăng sao. Vào mùa đông, chúng tôi được ba mẹ đưa lên núi. Ở đó, tôi cảm thấy mình có một sự liên hệ thật sâu sắc với thiên nhiên xung quanh và với sự tĩnh mặc của núi non hùng vĩ.

Ở vườn sau của ngôi nhà mà tôi đã sống thời thơ ấu có một cây đào rất đẹp, hè nào cũng trĩu quả thơm ngon. Khi Thầy cho tôi pháp tự “Chân Đào Nghiêm”, rất nhiều kỷ niệm về cây đào tuổi thơ ấy đã quay về. Hồi nhỏ, đối với tôi cây đào ấy đích thực là một người bạn. Ông bà tôi kể rằng hồi chiến tranh thế giới thứ II, có một trái bom đã rơi vào vườn nhưng không nổ. Tôi tin là cây đào ấy đã bảo hộ cho chúng tôi. Tôi đã có rất nhiều kỷ niệm vui trong khu vườn tuổi thơ ấy, nơi tôi cùng với anh chị chơi đùa dưới bóng cây đào.

Một cây liễu cổ thụ ở trong vườn của ông bà ở dưới quê là một người bạn khác của tôi. Ông tôi rất thích ngồi dưới cội cây này và tôi hay ra chơi với ông dưới những cành liễu thướt tha theo gió. Tôi biết bất kỳ lúc nào muốn tìm ông, tôi cũng  có thể đến đó. Ông ngồi đó và dù là ông đi đứng không dễ dàng lắm, ông luôn sẵn sàng có mặt để chơi với chúng tôi. Cây liễu cũng vậy, luôn luôn có đó. Bây giờ bất cứ khi nào thấy một cây liễu, tôi cũng cảm thấy sự vững chãi và tình thương của ông tôi.

Ở xóm Hạ, tu viện mà tôi đang sống, tôi cũng thường hay ngồi dưới gốc liễu vào mỗi buổi sáng sớm và thưởng thức cái tĩnh lặng của bình minh với một tách trà.

Trước khi đến Làng Mai, tôi đã sống trong một cộng đồng tu tập, nơi đó chúng tôi cũng thực tập thiền hành. Tôi thích đi trong sự tĩnh mặc và giữa cái đẹp của thiên nhiên. Tuy nhiên, lúc đó tôi chưa biết cách dừng cái tâm rong ruổi của mình lại, tôi hay nghĩ về tương lai. Vừa đi tôi vừa lên kế hoạch cho ngày hôm đó, cho nên tôi không thật sự có mặt để tiếp xúc với đất Mẹ. Thậm chí, việc này xảy ra ngay khi tôi đi trong sự yên lặng của những cảnh đẹp tuyệt vời khó diễn tả bằng lời. Chỉ đến khi tôi đến Làng Mai và bắt đầu thực  tập thiền hành với Thầy, đi theo những bước chân chánh niệm của Thầy, tôi mới bắt đầu khám phá sức mạnh chuyển hóa và trị liệu của pháp môn này.

Tôi đã đọc rất nhiều sách của Thầy trước đó, vì vậy tôi rất mong được thấy Thầy đi thiền hành  để có thể hiểu được tại sao Thầy lại ưa thích và xiển dương pháp môn này đến thế. Lần đầu tiên khi gặp Thầy, tôi đã thật sự ấn tượng khi được tận mắt nhìn thấy Thầy và đại chúng cùng đi như một dòng sông. Thầy đi thật thanh thoát, bình an với một sự tĩnh lặng nội tại rất hùng tráng. Giờ đây tôi vẫn thấy Thầy đang đi bằng đôi chân của chúng tôi, dù Thầy không còn tự đi được nữa mà phải đi thiền hành trên xe lăn.

Nhờ thiền hành mà rất nhiều vết thương trong tâm tôi đã được chữa lành. Có lần Thầy dạy chúng tôi “cùng đi với ba”. Đầu tiên là hình dung mình đang nắm lấy tay ba, rồi thấy mình đang đi bằng đôi chân của ba. Ba tôi đã qua đời khi tôi chưa đầy 20 tuổi nhưng tôi vẫn làm theo lời Thầy hướng dẫn. Tôi cho phép mình cảm thấy sự hiện diện của ba ở bên cạnh. Ba nắm lấy tay tôi và ngắm cảnh thiên nhiên qua đôi mắt của tôi. Rồi tôi thấy đôi chân mình chính là đôi chân của ba đang đi trên mặt đất. Lòng tôi tràn ngập niềm vui vì đã có thể tiếp xúc được với ba sau rất nhiều năm. Đó là một kinh nghiệm thật sâu sắc.

Hồi còn nhỏ, có lần tôi đứng trên hai bàn chân của ba và ba đã dạy tôi khiêu vũ. Có biết bao nhiêu kỷ niệm đẹp thời thơ ấu mà tôi đã lãng quên. Tôi rất mang ơn Thầy đã dạy cho tôi pháp môn mầu nhiệm này và làm thay đổi cuộc đời tôi. Tôi vẫn đang tiếp tục đi với ba, hòa giải với ba qua pháp môn thiền hành. Pháp môn này giúp tôi hiểu ba tôi hơn nhiều so với lúc ông còn sống. Nó đã giúp tôi kết nối với ba một cách sâu sắc và đem lại sự trị liệu cho cả hai cha con. Không những vậy, tôi còn trò chuyện và viết thư cho ba. Tôi nói cho ba biết là tôi thương ba và luôn ý thức là ba vẫn luôn ở bên cạnh tôi, ba chưa bao giờ rời bỏ tôi hết.

Trong rất nhiều năm, pháp môn thiền hành mầu nhiệm này cũng giúp tôi thực sự có mặt cho những người thân khác. Khi chị tôi bị bệnh ung thư máu hoặc khi Thầy bị hôn mê, tôi đã thực sự có mặt trong từng bước chân chánh niệm để chế tác năng lượng bình an và trị liệu. Tôi thấy rất rõ ràng rằng nếu tôi để cho tuyệt vọng, buồn khổ và lo lắng cuốn đi thì tôi không thể nào giúp cho những người thân. Hơi thở và bước chân chánh niệm là điều tốt nhất mà tôi có thể hiến tặng cho người thân và chính mình. Tôi biết ơn những người thân đã cho tôi thấy mỗi giây phút của sự sống là quý giá vô cùng.

Năm 2013, tôi cùng con gái Sivakami thực hiện chuyến đi bộ 40 cây số xuyên dãy Pyrénées từ Đại Tây Dương qua Địa Trung Hải. Chuyến đi ấy là một món quà tôi dâng tặng cho ba, cho mẹ và anh chị em tôi – những người đã khuất, và cho tất cả tổ tiên. Đó là dịp kỷ niệm 40 năm ba tôi qua đời, và tôi tròn 60 tuổi. Trong suốt chuyến đi, tôi có thể thấy tổ tiên có mặt với tôi trong những đám mây, trong chim muông, cây cỏ, trong sự tĩnh lặng, trong đá, trong hoa.

Sivakami – con gái tôi – đã bắt đầu đến Làng 14 năm về trước, từ lúc tôi còn đang tập sự xuất gia. Sivakami cũng rất thích đi thiền hành cùng Thầy và đại chúng. Trong Sivakami luôn có một tình yêu thiên nhiên sâu sắc. Đầu tiên, con gái rủ tôi đi bộ một tuần dọc tuyến đường hành hương Saint James, sau đó là chuyến đi xuyên Pyrénées 40 ngày. Bây giờ thì cứ hai hoặc ba năm, hai mẹ con lại cố gắng tổ chức một chuyến leo núi. Thường thì chúng tôi cùng đi trong yên lặng một cách chậm rãi, thường xuyên dừng lại để thở ba hơi và thưởng thức cảnh đẹp thiên nhiên. Tối đến, chúng tôi mới chia sẻ với nhau những gì sâu sắc nhất. Càng đi, chúng tôi thấy tâm mình càng tĩnh lặng và có một niềm vui sâu lắng.

Chúng tôi thích đi và mang tất cả những vật dụng cần thiết trên lưng trong khi đi: thức ăn, lều, gas và nước uống. Đi như thế cho tôi một bài học là tôi không có nhu cầu nhiều như tôi tưởng. Thí dụ như trong chuyến đầu tiên, chúng tôi mang theo một lượng thức ăn khổng lồ vì sợ đói, dần dần chúng tôi thấy chỉ cần một ít trái cây khô, hạt, một lát bánh mì và nước là đã đủ. Leo núi giúp tôi chuyển hóa những cái sợ, biết tin vào cơ thể và khả năng tự nhiên của mình cũng như giúp tôi cảm nhận được một tình yêu sâu sắc đối với đất Mẹ.

Tôi nhớ lần đầu tiên khi mới bắt đầu đi với một cái ba lô nặng trịch, tôi đi rất hăng hái và tràn đầy năng lượng. Nhưng chỉ một lúc sau tôi đi càng lúc càng khó khăn, phải dừng lại để thở và vất vả lắm tôi mới có thể đi tiếp được. Sivakami dừng lại và bảo “Mẹ, thở đi mẹ!” rồi bắt đầu đi trước, rất chậm rãi. Sivakami nói: “Khi mẹ thấy tim đập mạnh và gấp gáp nghĩa là mẹ đi quá nhanh, cơ thể mẹ không chịu được. Mẹ đi chậm thôi, để ý cứ mỗi bước chân thì một hơi thở”. Tôi đi phía sau con gái và bắt đầu để hết tâm vào hơi thở, kết hợp với bước chân. Đột nhiên leo núi với một cái ba lô nặng trĩu sau lưng trở nên dễ dàng. Rất nhiều lần tôi phải đi qua những con đường núi hiểm trở, những khi ấy tôi chỉ có thể đi được khi chú tâm 100% vào bước chân, hơi thở, đặt hết niềm tin vào đất Mẹ, đồng thời tôi cũng có mặt 100%. Tôi thấy rất an toàn và được đất Mẹ chở che. Giống như bài thực tập mà Thầy đã dạy:

Để Bụt thở, để Bụt đi,

Mình khỏi thở, mình khỏi đi

Bụt đang thở, Bụt đang đi,

Mình được thở, mình được đi

Bụt là thở, Bụt là đi,

Mình là thở, mình là đi

Chỉ có thở, chỉ có đi,

Không người thở, không người đi.

Hồi nhỏ, tình yêu thiên nhiên của tôi có pha lẫn một chút sợ hãi, nhất là khi trời nổi cơn sấm sét. Khi nghe tiếng sấm, tôi thường khiếp sợ, nấp dưới gầm bàn và khóc vì nghĩ đó là lúc thiên nhiên đang lên cơn phẫn nộ đối với loài người. Trong những chuyến leo núi, nỗi sợ này quay trở lại.  Có một đêm, hai mẹ con đang cắm lều gần một cái hồ đóng băng thì một cơn bão lớn ập tới. Bên cạnh tôi, Sivakami ngủ thật bình yên. Chiếc lều nhỏ bé mong manh là cái duy nhất bảo vệ chúng tôi. Tôi có thể thấy nỗi sợ hãi dâng lên trong lòng.

Tôi nhận diện cái sợ của em bé trong mình và bắt đầu tưởng tượng ra đủ thứ tình huống có thể xảy ra. Tôi không có chọn lựa nào khác là phải giữ bình tĩnh, không chao đảo. Tôi quay lại với hơi thở, nghĩ thầm: “Nếu mình có chết thì phải chết với năng lượng bình an mới được”. Để giữ cho tâm an tĩnh, tôi bắt đầu niệm danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm. Ở bên ngoài bão tố suốt đêm, nhưng em bé trong tôi đã có nhiều bình yên và  an toàn vì đã được tôi, bây giờ đã là một người trưởng thành ôm ấp.

Nhờ Thầy, tôi đã học cách hoàn toàn chú tâm đến sự tiếp xúc giữa bàn chân với đất Mẹ, để cho đôi bàn chân hôn lên đất Mẹ, hoàn toàn có mặt để tâm tôi không còn rong ruổi nữa. Thực tập pháp môn thiền hành càng nhuần nhuyễn, tôi càng thấy sự liên hệ giữa mình với đất Mẹ, với tổ tiên, với những người xung quanh càng sâu sắc. Bức tường ngăn cách của tri giác và sợ hãi trong tôi dần dần tan biến đi để nhường chỗ cho niềm vui và hạnh phúc thật sự.

Lần đầu tiên khi nghe Thầy nói về tình thương đối với đất Mẹ và về tình thương vô lượng mà đất Mẹ dành cho chúng ta, tôi bắt đầu cảm được tình thương của đất Mẹ. Đó là một kinh nghiệm rất sâu sắc bởi vì đồng thời tôi cũng nhận được tình thương của mẹ tôi, người mà tôi luôn tưởng nhớ. Mẹ tôi luôn hiện diện trong đất Mẹ mọi nơi mọi lúc, và khi tiếp xúc với đất Mẹ tôi có thể cảm được sự nâng niu và dịu dàng của mẹ. Khi tình yêu đất Mẹ trong tôi tăng trưởng, có mặt với Mẹ trở thành sự ưu tiên của tôi. Tôi dành nhiều thời gian hơn cho thiên nhiên khi sống ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris. Mỗi sáng sớm tôi đều đi dọc dòng sông Marne, để được đất Mẹ ôm ấp, thương yêu. Sự thực tập đó đem lại cho tôi rất nhiều trị liệu. Tôi nương tựa nơi đất Mẹ trong khi đi. Tôi chỉ có thể thật sự hòa làm một với đất Mẹ khi có chánh niệm trong mỗi bước chân và hơi thở.

Càng ngày sự thực tập thiền hành của tôi càng sâu sắc. Tôi rất may mắn có cơ hội được đi thiền hành cùng Thầy và tăng đoàn ở rất nhiều thành phố và các miền quê, được tận mắt chứng kiến pháp môn này đã mang đến bình an và trị liệu ngay tại chỗ cho chính tự thân và cho thế giới như thế nào.

Trong tương lai có thể chúng ta sẽ không còn được nhìn thấy vẻ đẹp của đất Mẹ như hiện nay nữa. Vì vậy, ý thức sự có mặt quý giá của đất  Mẹ là một điều quan trọng. Hãy ưu tiên có mặt với thiên nhiên. Trước đây, tôi nghĩ là tôi có quá nhiều cái quan trọng hơn cần phải thực hiện và tôi không có thời gian để ra với thiên nhiên. Nhưng thực tế thường ngược lại. Có mặt với thiên nhiên, tiếp xúc với cỏ cây, chim chóc, chúng ta sẽ trở nên gần gũi hơn với thế giới xung quanh, nhờ đó chúng ta trở nên sáng tỏ hơn, vững chãi, bao dung và bình an hơn. Đất Mẹ là người thầy vĩ đại nhất của chúng ta. Chúng ta cần phải lắng nghe đất Mẹ. Nhưng để có khả năng lắng nghe đó, ta cần phải biết dừng lại và làm sao để thực sự có mặt. “Mỗi bước chân là phép lạ”, như Thầy đã nói.

Tôi thấy đi thiền hành với những vận tốc khác nhau rất là có ích. Tôi thích bắt đầu một ngày bằng cách đi thật chậm, dành thời gian để có mặt hoàn toàn trong từng bước chân. Suốt cả ngày tôi quán sát khuynh hướng vội vã của mình trong các hoạt động, nhưng tôi biết cách để quay về nương tựa nơi đất Mẹ.

Hãy đi cho những người thương, đi cho những người bệnh không còn khả năng đi nữa, đi cho những người thương đã khuất. Hãy hiến tặng những bước chân của bạn cho những người thân yêu. Hãy cảm nhận tình thương của những người đó dành cho bạn. Nên biết là đất Mẹ rất yêu thương bạn. Mỗi bước chân đi trên đất Mẹ thật là quý báu. Cha mẹ, anh chị của tôi đã không sống được tới tuổi của tôi bây giờ, tất cả đã ra đi khi tuổi đời khá trẻ, vì vậy tôi ý thức một cách sâu sắc mỗi bước chân của mình quý giá đến ngần nào.

Đi tìm ý nghĩa của đời sống

Chắc hẳn ai trong chúng ta cũng đã từng đi tìm cho mình một ý nghĩa của đời sống. Người chưa tìm ra được một ý nghĩa cho đời sống thì chưa có hạnh phúc, chưa có năng lượng. Nếu không khéo thì người đó có thể rơi vào tình trạng trống rỗng hiện sinh (existential vacuum). Tình trạng trống rỗng đó buộc con người phải đi tìm một cái gì đó để khỏa lấp. Thường thì người ta đi tìm nơi đối tượng của dục. Có người tìm quên nơi rượu, có người sử dụng ma túy, có người tìm trong âm nhạc, trong những cuộc vui thâu đêm, cũng có người tìm nơi sắc dục để khỏa lấp sự trống rỗng trong lòng.

Vào khoảng năm 1965, trong một cuộc thăm dò người ta thấy rằng ở châu Âu số lượng sinh viên có được một chủ đích sống trong cuộc đời lên tới 60 – 65%, trong khi số lượng sinh viên ở Mỹ chỉ có hơn 20%. Sự kiện “trống rỗng hiện sinh” là một triệu chứng của thời đại. Đó không phải là triệu chứng bất an của một cá nhân mà là triệu chứng tập thể của một xã hội. Người ta có cảm giác trống rỗng, cảm thấy đời sống không có ý nghĩa và rồi phải tìm tới những phương tiện để khỏa lấp. Nhưng vì không được soi sáng nên họ đi về hướng sắc dục, ma túy và bạo động.

Vì vậy chúng ta phải làm thế nào để giúp cho người trẻ có được một ngọn lửa trong lòng, tìm ra được một ý nghĩa của cuộc sống, biết mình sống để làm gì, sống vì cái gì, sống vì người nào, sống vì một chính nghĩa nào. Chúng ta không thể đưa ra một ý nghĩa của đời sống nào đó và mời họ: “Đây là một chính nghĩa, anh lấy đi để xài!”. Công việc mà chúng ta có thể làm là soi sáng cho người đó, giúp cho họ tìm ra được một ý nghĩa của cuộc đời.

          Tưới tẩm hạt giống tốt

Thỉnh thoảng có những người tới Làng Mai trong tình trạng như vậy. Họ nói: “Tôi không cảm thấy đời sống của mình có một ý nghĩa gì cả! Tôi thấy chết hay sống cũng giống nhau thôi!”. Sự chán nản bao trùm lên những người đó. Khi đối diện với những người như vậy thì chúng ta phải làm gì để giúp họ? Chúng ta không thể nói một bài pháp thoại hay cho ý kiến để người đó chấp nhận. Chúng ta phải tìm cách nhìn sâu để có thể hiểu được, nhận diện được những hạt giống tốt của người đó, và chỉ cho họ phương pháp tưới tẩm những hạt giống tốt đó nơi họ. Đức Như Lai có dạy rằng người nào cũng có hạt giống tốt của tâm bồ đề. Khi được tưới tẩm thì hạt giống tâm bồ đề của ta biểu hiện ra cách này, và của người kia thì biểu hiện ra cách khác.

Vấn đề không phải là trao truyền những ý kiến mà là làm thế nào để giúp người kia tìm ra được lẽ sống của chính người đó. Ta sẽ không làm được chuyện đó nếu ta không biết gì về quá khứ cũng như hiểu được cách sống của người đó trong giây phút hiện tại. Những bài pháp thoại của chúng ta chỉ có tác dụng tưới tẩm, khơi lối cho người kia tìm ra được mục đích, ý nghĩa của đời họ. Ta cho pháp thoại không chỉ bằng lời nói mà còn có thể bằng cách sống của mình. Ta sống một cuộc sống có lý tưởng, có thương yêu, có mục đích. Ta hành xử và tỏa chiếu niềm vui, năng lượng. Rồi khi tiếp xúc được với con người và với cách sống của ta thì người đó có cơ hội nhìn trở lại để khám phá ra trong bản thân họ có một cái gì tương tợ mà lâu nay đã bị bít lấp và đè nén.

Đôi khi người kia bị kẹt, bị những trở lực, và có những bức màn ngăn che không cho người đó thấy được khía cạnh tốt đẹp của chính mình. Ta có thể giúp người đó lột bớt bức màn ngăn che, tháo gỡ những chỗ kẹt để cuối cùng người đó có thể tiếp xúc với những cái đẹp, cái lành, cái thật nơi họ. Họ tìm ra được hướng đi của đời mình.

          Ý tư liệu pháp (Logothérapie)

Nhà phân tâm học Viktor Frankl là cha đẻ của phương pháp trị liệu “Logothérapie”. Nếu dùng danh từ Phật giáo chúng ta có thể dịch “Logothérapie” là: ý tư liệu pháp. Ý tư mượn từ chữ ý tư thực (có khi còn gọi là tư niệm thực), tức là ước muốn (volition, deep desire). Nếu có ước muốn là ta có năng lượng và ta có thể đi tới. Những người chán chường, không muốn sống là những người không tìm ra được ý nghĩa của đời sống.

Frankl đã từng sống rất lâu trong trại tập trung của Đức Quốc Xã (Nazi) và đã trải qua những khổ đau, tuyệt vọng cho đến nỗi ông đã từng nghĩ rằng mình không có khả năng sống sót trở về. Ông là một nhà tâm lý trị liệu có tài. Ông đã sáng tác một tác phẩm nói về phương pháp trị liệu gọi là “ý tư liệu pháp”. Trong đó, ông muốn trao truyền những kinh nghiệm và tuệ giác của mình lại cho đời. Nhưng khi ông bị chuyển tới trại tập trung Auschwitz thì người ta khám phá ra bản thảo và đã tịch thu tác phẩm của ông. Đó là đứa con tinh thần, là lẽ sống của ông. Bây giờ đứa con tinh thần bị tiêu hủy thì cuộc sống của ông còn có ý nghĩa gì nữa?

Trong điều kiện sống tồi tệ ở trại tập trung, người ta rất dễ dàng trở thành nạn nhân của sự tuyệt vọng. Nhưng ông đã tìm cách để sống sót. Sau khi lột áo ông để lấy bản thảo, người ta đưa cho ông cái áo rách tả tơi của một tù nhân vừa bị cho vào lò hơi độc. Trong cái áo tả tơi đó, ông tìm thấy một tờ giấy xé ra từ một cuốn kinh Do Thái. Trong tờ giấy có bài kinh Kadish, tức bài kinh được đọc lên trước khi chết để chứng tỏ mình có niềm tin rất vững ở Thượng Đế và mình coi thường cái chết, cái chết không đụng chạm gì được tới mình. Khi tìm thấy mảnh giấy trong áo người tử tù đã chết trong phòng hơi độc thì ông bừng tỉnh. Ông thấy rằng cái chết và những khổ nhục lớn lao nhất của cuộc đời không làm cho người tử tù mất đi đức tin. Người này đã sống những giờ phút cuối cùng với đức tin đó. Vì vậy ông quyết tâm tìm mọi cách để sinh ra đứa con tinh thần của mình lần thứ hai.

Ông lượm những miếng giấy vụn, ghi lại những ý chính mình đã viết trong bản thảo, hy vọng được sống sót để một ngày nào đó có thể viết lại bản thảo. Chính nhờ bám vào ý tư, vào ước muốn đó mà ông chống cự được với những khổ nhục, nhất là với bệnh sốt thương hàn đang hoành hành trong trại tập trung. Theo Frankl, mình chỉ có thể tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống  khi có ba yếu tố:

Yếu tố thứ nhất: mình muốn thực hiện một cái gì đó trong cuộc đời

Chẳng hạn như ý muốn trao lại cho đời một đứa con tinh thần kết tinh từ những kinh nghiệm của mình, hoặc theo đuổi một chương trình, một sự nghiệp. Ví dụ mình tìm ra là mình có tài năng của một họa sĩ; những bức tranh của mình có thể đem lại niềm vui cho nhiều người, giúp họ quên bớt những khổ đau dằn vặt. Mình thấy những sáng tác của mình có thể tô điểm, làm đẹp cho cuộc đời. Vì vậy mình muốn theo đuổi sự nghiệp của một họa sĩ, không hẳn vì tiền bán tranh hay vì danh tiếng mà chỉ vì ý nguyện muốn làm đẹp cho cuộc đời. Nếu là người có khiếu âm nhạc, mình sáng tác không hẳn là vì quyền bính, vì danh vọng, vì lợi dưỡng hay sắc dục mà vì mình có ý nguyện. Sự nghiệp của mình là sống và thể hiện được cái mình cho là đẹp, là quí, là cần thiết cho cuộc đời.

Trong trường hợp của Siddharta, Siddharta muốn tu tập để chuyển hóa những khổ đau và giúp những người đương thời chuyển hóa khổ đau. Đó là một tư niệm và tư niệm đó giúp Siddharta đi qua được những thời gian khổ hạnh cực kỳ. Khi chưa tìm ra được con đường, Siddharta đã thử nhiều cách thực tập, trong đó có sự thực tập khổ hạnh, và làm cho thân thể héo mòn, tiều tụy đến nỗi suýt chết. Nhưng Siddharta đi qua được tất cả những khổ hạnh đó và sống sót được vì có một ý tư rất mạnh. Ý tư đó là chuyển hóa phiền não và cứu độ con người. Sau khi thành đạo, ý tư đó vẫn còn hùng mạnh nên Siddharta đã để ra 45 năm để đào tạo, giảng dạy và thực tập. Siddharta không muốn nổi tiếng. Siddharta không muốn trở thành đối tượng của sự kính ngưỡng. Siddharta chỉ muốn chuyển hóa khổ đau và giúp người chuyển hóa khổ đau. Vì vậy ý nghĩa của cuộc sống có được là nhờ sự nghiệp, mà sự nghiệp đó không phải là sự thỏa mãn những tư dục cá nhân. Chúng ta phải phân biệt rõ ràng điều đó.

Có những người đang chạy theo năm dục: tài (tiền bạc), sắc (sắc dục), danh (danh vọng), thực (ăn) và thụy (ngủ). Trong họ cũng có một động lực, họ biết họ muốn gì và chạy theo cái gì. Có nhiều người đi tìm những đối tượng của dục chẳng qua chỉ để khỏa lấp cái trống vắng trong lòng. Có người đi tìm hạnh phúc nơi quyền lực. Họ nghĩ rằng khi có quyền lực thì có thể thỏa mãn được những dục khác. Có người thấy rằng có nhiều tiền thì sẽ có nhiều quyền lực. Mặc dù mình không phải là ông bộ trưởng, ông thủ tướng hay ông tổng thống, nhưng một khi mình có nhiều tiền thì ông bộ trưởng, ông thủ thướng hay ông tổng thống cũng phải đi theo mình. Vì vậy trong thế giới của chúng ta, những nhà lãnh đạo công nghiệp rất quan trọng, nhiều khi họ còn có nhiều quyền lực hơn những nhà lãnh đạo chính trị. Có tiền là có quyền lực.

Ngoài ra có những đối tượng khác như thức ăn ngon. Thức ăn ngon ở đây là những thứ làm thỏa mãn khẩu vị nhưng có ảnh hưởng tàn hại thân và tâm. Chúng ta không có khả năng chống cự lại những thức ăn hấp dẫn. Chúng ta biết ăn thứ đó vô thì sẽ khổ đau, sẽ dẫn đến tình trạng rã rời của thân và tâm nhưng không ăn không được.

Chạy theo đối tượng của năm dục chưa hẳn là đã tìm ra được ý nghĩa của sự sống. Có những người có quá nhiều quyền hành, quá nhiều tiền bạc nhưng họ đau khổ cực kỳ vì họ thấy trống rỗng. Những nhà lãnh đạo doanh thương lớn như ông Bill Ford đã tới tu viện Thanh Sơn ngồi thiền với Thầy. Ông thấy cuộc sống của một người giàu có và quyền lực không đem tới hạnh phúc. Ông cho biết trong giới giàu có và quyền lực, có người đau khổ rất nhiều. Họ rất cô đơn, sống cô đơn mà chết cũng cô đơn. Vì vậy dù đi tìm quyền bính, đi tìm danh vọng người ta vẫn đau khổ như thường. Và rốt cuộc có người đã phải tự tử. Bill Ford đang đi tìm một ý nghĩa của đời sống. Ông muốn chế tạo ra xe hơi không gây ô nhiễm môi trường. Ông nuôi chí nguyện: làm sao để xe hơi sau này có thể chạy bằng nhiên liệu khí hydro. Đó là ý tư mà ông đeo đuổi. Nhưng liệu ông có nuôi được ý tư đó lâu dài hay không?

Có thể nói cuộc đời của tướng De Gaulle rất thành công. Ông đã giải phóng được nước Pháp, đem lại độc lập và tự do cho nhân dân Pháp. Ông nổi danh như cồn và có thời dân Pháp coi ông như quốc phụ (tức người cha của tổ quốc). Nhưng những ngày tháng cuối của tướng De Gaulle rất buồn thảm. Sau một cuộc biểu tình chống đối của người trẻ, ông tổ chức buổi trưng cầu dân ý (referendum) để hỏi người dân có còn muốn ông đứng ở địa vị tổng thống nữa không? Ông tin chắc rằng người dân sẽ trả lời “muốn” tại vì ông là quốc phụ, là người đã có công giải phóng nước Pháp. Nhưng kết quả của cuộc trưng cầu dân ý thì trái lại, người dân không muốn. Ông bỏ chức vụ tổng thống, ngay lập tức trở về làng quê của ông trong vòng 24 giờ đồng hồ. Trong lòng ông có một nỗi thất vọng lớn. Ông nghĩ người dân Pháp vô ơn bạc nghĩa; mình là người anh hùng đã cứu nước Pháp mà bây giờ dân lại nói không thích mình. Những ngày tháng cuối cùng của tướng De Gaulle rất cô đơn. Ông chưa thoát khỏi ý niệm về ngã và chưa chuyển hóa được lòng tự hào của mình.

Như vậy, danh vọng, dù lên tới mức cùng cực, cũng chưa có thể làm cho con người có hạnh phúc chân thật, huống hồ là lợi lộc, quyền bính và sắc dục. Chúng ta thấy rõ ràng khi chưa tìm được ý nghĩa của đời sống thì ta dễ bị xao động bởi sự đi tìm đối tượng của dục. Ta nghĩ đi tìm đối tượng của dục có thể khỏa lấp được cái trống rỗng trong lòng. Chứng bệnh tập thể của thời đại chúng ta là chứng bệnh trống rỗng hiện sinh (existential vacuum). Ta phải tu học như thế nào để vượt thoát triệu chứng đó và giúp cho đời bằng muôn ngàn phương tiện để mỗi người trong xã hội tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Nếu là người xuất gia mà ta lâm vào tình trạng đó tức là Bồ đề tâm của ta bị soi mòn. Không có ý tư thực thì ta không giúp được cho chính mình, không giúp được cho tăng đoàn của mình chứ đừng nói là giúp được cho xã hội.

Khi Bồ đề tâm không vững, chí nguyện tu học không bền thì tự nhiên mình đi tìm những chuyện tầm thường trong phạm vi năm dục để khỏa lấp sự trống rỗng. Nhưng nếu mình có khối lửa trong tâm thì sự lôi kéo của năm dục không đủ sức để làm xao động lòng mình.

Yếu tố thứ hai: Tình yêu, kinh nghiệm của trái tim

Tình yêu đó có thể là tình yêu Thượng đế hay tình yêu nam nữ. Khi có tình yêu thì mình bắt đầu đi trên con đường khám phá, khám phá bản chất của người mình yêu và bản chất của chính mình. Theo Frankl, tình yêu là cách duy nhất để nắm được một cách sâu sắc bản chất của một người. Không có tình yêu thì không thể hiểu được người đó. Nhưng theo thầy thì làm sao mình nắm được bản chất của một người khác khi mình không biết được mình là ai? Mình chưa biết mình là ai thì làm sao mình biết được người khác là ai? Tình yêu chân thật là một con đường khám phá, khám phá được bản thân tới chừng nào thì mình khám phá được đối tượng thương yêu tới chừng đó. Nếu không có sự khám phá bản thân thì không thể nào khám phá được người khác. Đức Thế Tôn có mười danh hiệu, trong đó có danh hiệu Thế Gian Giải, tức là bậc hiểu thấu thế gian. Có hiểu mới có thương. Tại sao đức Thế Tôn hiểu thấu được thế gian? Tại vì Ngài hiểu được chính mình. Hiểu được thì mới thương được người và giúp người thoát khỏi vòng khổ đau.

Frankl nói một câu giống như giới thứ ba của Năm giới: Sự gần gũi nam nữ chỉ có thể được chấp nhận khi có tình yêu chân thật, nếu không thì đó là hành động có tính cách tàn hại. Trong giới thứ ba, chúng ta nói: “Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức lâu dài.” Theo Frankl, sự gần gũi nam nữ trong trường hợp có tình thương đích thực có thể là một cái gì thánh thiện. Mình có thể chấp nhận câu nói của Frankl. Vì vậy trong Năm giới dành cho người tại gia chúng ta cũng có một câu tương tợ.

Đối với người xuất gia thì khác. Tại sao một sự thật áp dụng được cho người này lại không áp dụng được cho người khác? Người xuất gia cũng biết rằng hành động giao hợp nam nữ nếu được xảy ra trong sự cung kính, trong tinh thần trách nhiệm, trong tình yêu chân thật và sự cam kết lâu dài thì không phải là chuyện xấu. Nhưng tại sao người xuất gia không làm chuyện đó? Câu trả lời là tại vì người xuất gia có một tư niệm rất đặc biệt, muốn dồn hết năng lượng của mình về một hướng, sử dụng tất cả năng lượng để thực hiện chí nguyện của mình. Đời sống độc thân là một trong những nền tảng rất quan trọng cho chí nguyện đó. Những nhà cách mạng bôn ba nơi hải ngoại để tìm con đường sống cho quê hương cũng sống giống như người xuất gia. Họ không vướng bận thê nhi. Người xuất gia không cho đó là chuyện xấu ác, nhưng không làm vì mình đang theo đuổi một chí nguyện lớn. Vướng vào ái dục cũng là một trở lực không cho phép mình đi tới được.

Trong trường hợp thứ hai (tình yêu), hình như trong thâm tâm của tác giả có nói tới một kinh nghiệm tâm linh (religious experience), có thể nói là tình yêu Thượng đế. Tình yêu đó có thể cho mình nhiều năng lượng để đi tới và làm được chuyện này chuyện kia. Khi yêu một người thì mình có thể hy sinh thân mạng để người đó được hạnh phúc.

Nhưng trong ánh sáng của sự thực tập, chúng ta thấy rất rõ là khi thương một người và muốn làm cho người đó hạnh phúc thì mình phải hiểu người đó. Khả năng hiểu tùy thuộc nơi sự thực tập của mình, vì nếu không hiểu được mình là ai thì mình chưa thể hiểu được người kia là ai. Cũng như thương, nếu không thương được mình thì làm sao mình có thể thương được người khác. Thương như vậy chẳng qua là một sự đam mê. Mình phải phân biệt giữa đam mê và tình thương. Đam mê thì đưa đến sự vướng mắc, rồi dìu nhau vào chỗ khổ đau. Còn tình thương thì đưa tới hạnh phúc và tự do cho cả hai phía.

Chúng ta phải phân biệt, phải nhìn cho rõ: sự nghiệp này có thể chỉ là sự chạy theo đối tượng của năm dục và tình yêu này có thể chỉ là sự chạy theo đam mê. Khi đọc Frankl với con mắt của Bụt thì mình thấy như vậy. Tình yêu, theo đạo Bụt, là một sự khám phá, không phải chỉ là sự khám phá người kia mà thôi. Làm sao mình khám phá được bản chất của người kia khi mình không biết mình là ai? Mình không yêu được mình thì làm sao mình yêu được người kia? Mình không giải phóng được mình thì làm sao mình giải phóng được người khác? Khi mình chưa tìm ra được ý nghĩa của đời mình thì làm sao mình giúp được người kia tìm được ý nghĩa đời sống của người kia?

Khi thương thì mình có khả năng giúp được người kia phát triển tiềm năng trong họ. Người đó ban đầu thấy rã rời, không có năng lượng. Nhưng nhờ tình thương, mình có thể soi đường chỉ lối, gỡ ra những bế tắc của người đó và làm cho họ phát hiện ra được những tiềm lực lớn lao trong người họ. Và người đó trở thành một bậc anh hùng, một chàng hiệp sĩ, một người có khả năng làm đẹp cho cuộc đời. Đức Thế Tôn đã từng thương như vậy. Ngài đã khám phá ra những tài ba tiếp nối được Ngài như thầy Xá Lợi Phất, thầy Mục Kiền Liên, thầy A Nan, v.v. Sở dĩ Đức Thế Tôn làm được vì Ngài đã khám phá được chính Ngài. Ngài đã khám phá ra ý tư của Ngài, lẽ sống của đời Ngài. Ngài đã hiểu được Ngài. Ngài đã tự giác nên mới giác tha. Ngài đã tự độ nên mới độ tha. Ngài đã tự ái nên mới ái tha. Điểm thứ hai là có tình yêu thì tự nhiên có một lẽ sống. Lẽ sống không thể có bằng sự đam mê mà phải bằng tình yêu chân thật.

Yếu tố thứ ba là khổ đau

Khổ đau đã có nhiều, ta không cần phải đi tìm thêm khổ đau. Nhưng nếu biết quán sát, nhìn sâu vào lòng của khổ đau thì ta tìm ra được ý nghĩa của đời sống. Điều này rất rõ trong giáo lý “Tứ diệu đế”. Bụt nói sự thật hiển nhiên là có khổ đau (ill-being) và nếu quán chiếu sâu sắc khổ đau thì mình tìm ra được ý nghĩa của đời sống, tức sự thật thứ tư – Đạo đế. Khổ đau phải có giá trị mở mắt cho mình, giúp mình tìm ra được lẽ sống của đời mình. Nếu không thì khổ đau sẽ tràn ngập, và làm cho mình chết đuối trong biển cả mênh mông của nó.

Tất cả mọi người trong trại tập trung gần như tuyệt vọng, không thấy một chút hy vọng sống sót nào. Và Frankl cũng không chắc có thể viết lại được, sinh ra đứa con tinh thần lần thứ hai để hiến tặng cho đời. Tất cả mọi người chung quanh đều nghĩ nếu không có được ngày mai thì tất cả các khổ nhục mà mình đang chịu đựng sẽ không có ý nghĩa gì nữa. Nhưng Frankl không để mình bị cuốn chìm trong tư tưởng đó. Và nhờ tờ giấy có bài kinh Kadish vò nhàu trong túi áo mà Frankl thấy rõ ràng: người Do Thái kia đi vào phòng hơi độc với những bước chân rất vững, ngẩng đầu lên và đọc bài kinh, không khiếp sợ, không co rúm, không than khóc. Frankl chợt tỉnh: những tuệ giác mà mình muốn trao cho người, mình có thể sống những tuệ giác đó trong giây phút hiện tại. Có thể ngày mai hay ngày mốt mình sẽ chết, nhưng nếu mình còn một hay hai ngày để sống thì mình phải sống với cái tuệ giác mà mình muốn trao truyền đó. Mình trao truyền bằng sự sống của chính mình. Frankl nghĩ: nếu ta chết trong phòng hơi độc với những tuệ giác ta muốn trao truyền thì ta đã thành công rồi. Vì vậy khổ đau tuyệt vọng cũng là một điều kiện để ta tìm ra được nghĩa sống. Frankl nói một câu rất hào hùng: nếu mình không thể chuyển đổi được tình trạng thì mình phải chuyển đổi tự thân mình! Mình đừng nói rằng hoàn cảnh này không thể chuyển đổi được nên tôi chịu thua, tôi bỏ đi.

Frankl kể, một hôm một ông bác sĩ tới gặp Frankl, than khóc buồn khổ vì vợ ông mới qua đời, một người vợ mà ông thương yêu hết mực. Ông coi bà như lẽ sống của đời mình. Người đó chết nên ông không tìm được niềm vui sống nữa. Đau khổ, tuyệt vọng của ông lớn quá, ông chịu không nổi. Ông có ý muốn tự tử đi cho khỏe. Trong ông có sự trống rỗng hiện sinh. Frankl đã nói với ông như thế này:

– Này ông, bây giờ ông thử trả lời tôi. Nếu ông chết và bà sống thì ông có nghĩ là bà sẽ khổ đau sau khi ông chết không?

Ông nói:

– Như vậy sẽ nguy hiểm lắm, tại vì bà ấy sẽ khổ đau vô cùng.

Frankl nói:

– Đó, ông thấy không? Ông biết bà chết thì không phải gánh nỗi khổ đau tuyệt vọng mà ông đang gánh. Có phải như vậy là đỡ cho bà lắm không? Vì vậy ông phải thực tập gánh khổ đau này cho bà. Đó là tình thương, đó là tình yêu.

Phổ tế nhất thiết, nguyện đại chúng sanh, thọ vô lượng khổ” có nghĩa là thay thế cho chúng sanh mà chịu đựng khổ đau vô lượng. Đó là câu trong kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân (Kinh Bát đại nhân giác). Bây giờ ông đang chịu gánh nặng đau thương để bà khỏi đau thương, như vậy thì điều này có ý nghĩa không? Ông bác sĩ tìm thấy ý nghĩa và ông hết đau khổ giống như một phép lạ vậy. Mình không thể làm phép lạ cho bà sống dậy, nhưng mình có thể làm cho ông hết khổ hay là bớt khổ.

Nếu không thay đổi được hay chưa thay đổi được tình trạng thì ta phải thay đổi bản thân mình. Thay đổi bản thân thì ta bớt đau khổ liền mà không cần phải đòi hỏi người này phải như thế này, người kia phải như thế kia. Thay đổi tâm mình thì tự nhiên hoàn cảnh trở nên trong sáng và ta chấp nhận được tất cả những cái mà ta chưa chấp nhận được trong quá khứ. Frankl cũng giỏi, ông nói được ngôn ngữ của những người trong cuộc.

Có một ông Rabi – tức giáo sĩ Do Thái giáo – đến gặp Frankl. Vợ và bốn đứa con của ông chết trong trại tập trung. Ông không còn đứa con nào để tiếp nối, để đọc kinh Kadish khi ông chết. Vậy nên ông tục huyền, cưới một bà vợ khác. Nhưng bà này lại không có khả năng sinh con nên ông tuyệt vọng vô cùng. Ông nói:

– Bốn đứa con trai của tôi đã bị bức tử. Tâm hồn chúng trong trắng, bây giờ chúng đang ở trên cõi trời với Thượng đế. Còn tôi là một người trần tục. Tôi có nhiều tội lỗi, nhiều yếu kém.

Frankl nói:

– Nhưng mà ông cũng còn hy vọng là sau khi chết, ông sẽ trở về đoàn tụ với con ông trên đó.

Ông Rabi nói:

– Chắc không? Con tôi rất trong trắng. Khi chúng chết thì Thượng Đế đưa chúng trực tiếp lên trên đó. Còn tôi, tôi không còn trong trắng nữa, tôi có những phàm tục. Chắc chắn là trong khi tôi chết không có đứa con nào đọc kinh Kadish và tôi cũng không được đưa lên để gặp các con.

Frankl không có niềm tin như ông đó, nhưng Frankl học nói ngôn ngữ đức tin của ông ta:

– Nhưng nếu giáo sĩ chấp nhận những khổ đau này để thanh lọc hóa thì khổ đau trở nên có ích lợi. Nhờ những đau khổ này mà ông có thể thanh lọc tự tâm. Và chính nhờ sự thanh lọc mà sau này Thượng Đế sẽ cho ông lên đoàn tụ với các con của ông.

Frankl giúp cho ông Rabi thấy trong quá trình đi ngang qua khổ đau, mình có thể biến khổ đau trở thành hữu ích và tìm ra được nghĩa sống của đời mình. Đạo Bụt nói rất rõ khổ đau là chất liệu làm ra tuệ giác, an lạc; cũng như bùn là chất liệu làm thành hoa sen. Không có khổ đau thì không có hạnh phúc, hiểu biết và thương yêu. Nhưng ta không cần và không nên tạo thêm khổ đau. Đã có quá đủ khổ đau cho ta sử dụng rồi.

          Sứ mạng thương yêu

Nhìn và quan sát cây cỏ, ta thấy lá chuối chị nuôi lá chuối em và nuôi thân chuối. Ta học được rất nhiều trong sự quan sát đó. Lá chuối chị được sinh ra trước, tiếp thu ánh sáng mặt trời, những chất hơi như carbonic dioxide (CO2) và chuyển hóa thành những chất nuôi dưỡng thân chuối và những lá chuối con đang từ từ phát hiện. Lá chuối chị có một sứ mạng, có thể gọi đó là sứ mạng thương yêu. Ngay trong giới cây cỏ cũng có, đó là điều rất tự nhiên: nuôi dưỡng và bảo hộ cho thế hệ tương lai. Đó là một cái gì được ghi khắc vào trong sự sống. Nhưng có một điều trong lá chuối chị có một cái mà mình có thể tạm gọi là ý nghĩa sống, mục đích sống của lá chuối chị là nuôi cây chuối và những thế hệ lá chuối tương lai.

Khi một bà mẹ thương yêu và nuôi dưỡng đứa con, mình thấy rất rõ trong bà mẹ có tình thương, có một ý nghĩa của đời sống. Mục đích của bà là nuôi con lớn lên. Bà mẹ có sứ mạng giống như lá chuối chị. Nhưng trong khi lá chuối đang làm việc nuôi nấng cây chuối và những lá chuối khác thì nó cũng có thể có hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Nó xòe ra tiếp nhận ánh sáng ban mai, trình bày tất cả những tươi mát, đẹp đẽ của mình và sống an lạc trong từng giây từng phút. Hai công việc đó không chống đối nhau. Năng lượng của Bồ đề tâm và khả năng lạc trú trong giây phút hiện tại không chống đối nhau. Con sư tử mẹ hay con mèo mẹ cũng chăm sóc, bảo hộ những những đứa con nó sinh ra. Nhiều khi nó nhịn để cho con ăn. Nó có tình yêu, nó có một ý nghĩa của đời sống.

Là một người cha hay một người mẹ, ta phải thấy đời sống của mình có một ý nghĩa nào đó. Ta đã tiếp nhận như thế nào và sẽ hiến tặng như thế nào? Nếu không thấy được mình đã tiếp nhận cái gì thì làm sao thấy được mình sẽ hiến tặng cái gì? Là một người xuất gia, ta đã tiếp nhận được giới pháp, ta đã tiếp nhận được Tam bảo, đã có hạnh phúc. Ta  đã trở thành một sư anh, một sư chị. Ta có bổn phận nhìn các sư em bằng con mắt đó. Ta phải sống và hành xử như thế nào để mỗi giây phút của đời sống hàng ngày có tác dụng nuôi nấng các sư em. Ít nhất ta phải làm được như một tàu lá chuối. Vì vậy mỗi bước chân của ta phải đi trong chánh niệm. Nếu bước chân không chánh niệm thì bước chân đó không có tính cách nuôi dưỡng và không thể hiện được tình thương của mình. Là một sư chị mà ta không biết thở và ôm ấp khi có sự bực tức biểu hiện thì ta không thương các sư em. Mình nói mình thương sư em, thương thầy nhưng nếu mình không làm được việc đó thì lời tuyên bố kia trở thành trống rỗng. Thương là một cái gì có thật. Thương bằng mỗi bước chân, bằng mỗi hơi thở, bằng cách hành xử, bằng từng lời nói của mình. Mình có tình thương hay không, điều này có thể thấy được rất rõ ràng, không thể che giấu được.