Tâm sự với các bạn trẻ Việt Nam

Các bạn trẻ Việt Nam ơi, tôi xin gởi đến các bạn vài dòng tâm sự chân tình từ chính kinh nghiệm bản thân. Hơn ba mươi năm qua, tôi đã đi vòng quanh mà không tìm được tình yêu và hạnh phúc đích thực. Tôi đã bồng bột với năng lượng hăng say của tuổi trẻ, bay cao vút lên rồi té xuống nhiều lần đau đớn vì không biết cách yêu thương, không biết nghệ thuật thưởng thức những gì giản dị nhất. Tôi chia sẻ những dòng tâm sự này đến các bạn, những người bạn trẻ của tôi, để các bạn không phải trả một giá quá đắt mà chưa chắc đã nếm được tình thương và hạnh phúc đích thực.

Bốn mươi năm sau chiến tranh, Việt Nam đã hồi phục và phát triển rất nhanh. Người trẻ Việt Nam với nhiều tài năng, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng lưới toàn cầu đã giúp chúng ta bắt kịp nhịp kinh tế và công nghệ thông tin một cách nhanh chóng. Sự tiêu thụ và hưởng thụ vật chất cũng tăng lên. Thế nhưng, có bao giờ các bạn dừng lại để xem cách tiêu thụ đó đã ảnh hưởng như thế nào đến thân tâm của mình? Đặt lại cho mình câu hỏi: “Hạnh phúc và tình yêu đích thực là gì?”. Hay các bạn chỉ đơn thuần trả lời những câu hỏi đó dựa theo những khái niệm mà các bạn tiếp nhận từ Internet, hay từ các kênh truyền thông khác ?

Nỗi cô đơn của thời đại

Trong khóa tu mùa hè 2016 tại Làng Mai, khi sinh hoạt với các em thanh thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi, tôi có cơ hội lắng nghe các em chia sẻ về cuộc đời, về những khó khăn và thử thách của tuổi “teen”. Tôi thấy xã hội bây giờ quá phức tạp! Mạng lưới internet phong phú, và đa dạng đã cung cấp cho các em rất nhiều kiến thức. Nhưng bên cạnh đó cũng đầy dẫy những thông tin không lành mạnh, tưới tẩm sự bạo động, thèm khát về vật chất, tình dục và sự tranh đua giả tạo. Có em chỉ mới 13 tuổi mà đã trải nghiệm tình dục, rượu chè, ma túy, trong khi chưa đủ trưởng thành về tâm sinh lý, lại chưa biết cách điều phục những cảm xúc mạnh và những vấn đề phức tạp liên quan. Các em bị những cảm xúc đó trấn ngự, rồi dẫn đến chứng bệnh tâm lý như trầm cảm, lo lắng thái quá,  nghiện Internet,  biếng ăn (vì không chấp nhận được hình dáng cơ thể của mình),… Chính tôi cũng đã từng có nhiều mặc cảm và chán ghét thân thể của mình mỗi lần đọc báo phụ nữ hay tạp chí thời trang. Khi trong lòng có nhiều mặc cảm, chưa chấp nhận được bản thân  thì mình sẽ không thể tiếp xúc thật lòng và sâu sắc với những người khác được.

Thời đại văn minh với rất nhiều phương tiện truyền thông nhưng lại không làm giảm đi sự cô đơn và trống vắng trong lòng mỗi người. Trên tàu điện hay xe bus, chúng ta dễ dàng thấy cảnh ai trên tàu cũng bận bịu với một cái điện thoại trên tay, có thể họ đang liên lạc hay kết nối với ai đó, nhưng họ lại không thể nhìn và mỉm cười với người ngồi bên cạnh. Có những người khi ăn một mình trong quán phải làm như là mình đang gởi tin nhắn hay nói chuyện điện thoại để bớt cảm giác lạc loài, cô đơn. Và để người khác đừng nhìn mình như một người cô đơn và tội nghiệp (vì không có bạn bè để ăn cùng). Sư Ông Làng Mai có nói “thời đại bây giờ, mình cô đơn chung với nhau”. Ai ai cũng như đang sống  ở trong thế giới của riêng mình cho dù đang ngồi bên cạnh nhau. Và có khi không thể nói chuyện với nhau trực tiếp mà chỉ nhắn tin và viết e-mail thôi.

Nhiều bạn trẻ đã tìm mọi cách để khỏa lấp sự trống trải trong lòng bằng đủ mọi loại tiêu thụ, lấy những khoái lạc của thể chất làm niềm vui và mục đích của đời mình. Phần lớn các em chỉ biết “tình dục trống rỗng” (empty sex) mà không hề có một tình yêu đích thực. Nếu những kinh nghiệm không nuôi dưỡng này là nền tảng đầu đời thì các em sẽ như người đi lạc đường, tương lai sẽ đầy hoang mang, tăm tối. Tôi thấy những em đến tham dự khóa tu rất may mắn vì được gặp cái phao chánh pháp, được học hỏi cách chăm sóc, trị liệu và chuyển hóa thân tâm. Được ôm ấp trong môi trường an lành, không phán xét, các em đã mở lòng để chia sẻ về sự trống vắng, về những băn khoăn và khổ đau trong lòng. Những khó khăn mà trước đây tôi cho là những khổ đau của người lớn, thì bây giờ các em đã phải trải qua rồi, dù chưa tới tuổi trưởng thành. Sau mỗi khóa tu, các em đã tươi cười nhẹ nhõm ra về với những người bạn mới, và một ít hy vọng cho cuộc đời mình. Điều này cho tôi rất nhiều niềm tin nơi pháp môn tu tập chánh niệm và sức mạnh của tăng thân.

Quý sư cô và các em trong chương trình teens – mùa hè năm 2016 tại xóm Mới
 

Người trẻ và những cuộc vui “chay”

Mùa hè năm 2016, ở xóm Thượng cũng đã tổ chức một khóa tu Wake Up, khóa tu dành cho các bạn từ 18 đến 35 tuổi. Có hơn 500 bạn trẻ đã ghi danh tham dự trong vòng một tuần. Suốt khóa tu, các bạn được ăn những món ăn chay thật ngon, thật bổ mà không cần phải sát hại một con gà, con heo, con bò hay tôm cá nào. Ngoài ra, qua những buổi pháp thoại, pháp đàm thiết thực với người trẻ, các bạn còn được nếm những món ăn tinh thần rất nuôi dưỡng và trị liệu. Mọi người có cơ hội lắng nghe, học hỏi lẫn nhau. Dù phần lớn không quen nhau nhưng đều muốn học cách sống tỉnh thức nên ai cũng mở lòng, chia sẻ rất thật về những khổ đau của mình. Ai cũng cảm thấy thân thiện và thoải mái để bày tỏ con người thật của mình cho nên có nhiều trị liệu và chuyển hóa xảy ra trong khóa tu.

Tôi rất ấn tượng đêm văn nghệ cuối cùng do chính các bạn thiền sinh trình diễn với chủ đề bảo vệ đất Mẹ. Nhìn các bạn cười vui, tôi cũng vui nhiều vì niềm vui của các bạn chứng minh một điều quan trọng: cuộc vui chơi “chay” này cũng vui không kém những cuộc vui chơi khác, mà không cần đến rượu chè, ma túy và tình dục. Ai cũng rạng rỡ và tươi mát, ai cũng tỏa ra nét đẹp đích thực được biểu hiện qua tấm lòng biết thương yêu, bao dung và cởi mở. Sự thực tập trở về với chính mình qua những buổi thiền tọa, thiền hành mỗi ngày đã giúp cho mọi người cảm thấy thoải mái trong thân tâm nên dễ chấp nhận và mở lòng với nhau hơn.

Đêm văn nghệ trong khóa tu Wake Up Earth

Chăm sóc em bé trong tự thân

Nương vào năng lượng thực tập của mọi người trong khóa tu, tôi cũng có cơ duyên trị liệu vết thương ngày tôi còn nhỏ. Khi tám tuổi, đang tạm trú ở một trại tỵ nạn, trong lúc vui chơi với các bạn, tôi đã bị một em thanh niên xúc phạm, vì em không biết xử lý năng lượng tình dục của mình. Tôi đã trách cha mẹ không có mặt để bảo vệ cho tôi lúc đó. Tôi mất niềm tin nơi cha mẹ và khép kín lòng mình. Tôi lớn lên trong môi trường đầy dẫy những phim ảnh, bài hát và chuyện trò về ái dục. Và vì không có lập trường vững, tôi đã bị lôi cuốn theo xu hướng hưởng thụ dục lạc của tuổi trẻ. Nhìn lại tôi thấy mình thật sự chưa từng biết tình yêu đích thực là gì, mà phần lớn chỉ là sự thu hút nhau có gốc rễ từ nhu cầu tình cảm hay tình dục. Thêm vào đó, sống trong gia đình, chứng kiến những giông bão do ghen tuông, mất niềm tin vào nhau, tôi thấy những thất bại trong tình yêu, trong đời sống gia đình đều phát khởi từ sự tiêu thụ thiếu chánh niệm, từ những khái niệm lệch lạc và sai lầm về chính mình, về tình yêu và tình dục.

Tham dự vào những sinh hoạt của khóa tu, thừa hưởng năng lượng tập thể, phép mầu đã xảy ra giúp tôi có một cái thấy tươi sáng hơn, chuyển hóa được  những khổ đau trong quá khứ. Một hôm, tôi thấy một thầy cảm động rơi lệ khi nghe một bạn chia sẻ về ước nguyện cao quý cho đất Mẹ và tương lai của thế hệ trẻ. Đó không phải là lần đầu tiên tôi được thấy người nam khóc, nhưng lúc đó trong tôi chợt nhận ra: “À, thật ra, trái tim của người nam cũng có thể rung động bởi những gì mình cho là cảm động, là tâm linh. Họ cũng có thể rơi lệ trước những gì rất đẹp và lành”. Cảm nhận này giúp tôi nhận ra rằng thẳm sâu trong tâm thức, tôi đã xem phái nam là những người không rung cảm với những cái đẹp tâm linh. Đây là một khái niệm sai lầm đã ngấm ngầm trong tâm thức hơn ba mươi năm mà tôi chưa từng nhận ra, là kết quả của lần bị xúc phạm, cả những khó khăn trong gia đình, đến những thất bại trong tình cảm đã làm cho tôi mất niềm tin vào những người nam. Và khái niệm lệch lạc khác nằm sâu trong tâm thức tôi là đàn ông chỉ muốn một điều: tình dục. Có thể đây là một lời căn dặn của những bà mẹ lo lắng muốn bảo vệ cho con gái của mình, và cũng là năng lượng tự nhiên trong con người. Nhưng với những khổ đau cá nhân, từ gia đình và xã hội mà tôi đã chứng kiến, đã đưa tôi đến thái độ bất kính, mất niềm tin hoặc khinh thường đàn ông nói chung trong tôi.

Trong khóa tu, có một bạn nam chia sẻ với tôi là quý thầy đã hướng dẫn các bạn thực tập Sám pháp địa xúc với đề tài chăm sóc năng lượng tình dục. Tôi cảm nhận nơi người bạn ấy một sự chấn động tâm hồn và chuyển hóa rất sâu. Lắng nghe bạn chia sẻ một chút thôi mà tôi đã cảm thấy nhẹ nhàng một cách khó tả, dường như trong thâm tâm sự trị liệu đang xảy ra một cách bất ngờ. Những khái niệm lệch lạc về phái nam, về tình dục, và những vết thương quá khứ trong lòng như đang được gột sạch một cách kỳ diệu. Tôi cũng hơi ngạc nhiên vì thấy sự chuyển hóa này đến với mình một cách rất tự nhiên. Mặc dù không tham dự vào buổi thực tập của những bạn thiền sinh đó mà chỉ nghe bạn chia sẻ thôi, vậy mà tôi cũng được chữa lành!

Sau khóa tu, những điều tôi khám phá đã tiếp tục khai mở những góc còn tăm tối trong tâm hồn. Tôi thấy những khổ đau trong gia đình, của bản thân đã khiến tôi có những khái niệm sai lầm về người nam, và tôi đã có thái độ bất kính đối với cha và ông nội của mình. Hơn ba mươi năm tôi đã khép kín lòng, không tiếp nhận được tình thương của cha và cũng không gần gũi được với ông nội. Nhưng bây giờ, tôi đã có thể viết cho ông những là thư chân tình,tôi có thể  chia sẻ thật lòng những vết thương và thành kiến sai lầm đã khiến tôi khổ đau. Tôi cũng muốn làm mới với cha vì nhận ra lâu nay mình thiếu niềm tin nơi cha. Dù cha vẫn luôn thương tôi với tình thương vô điều kiện. Cha tôi thường ít nói nhưng tình thương và sự nhẫn nại dành cho mẹ mà cho tôi thì không thể kể hết. Tôi thấy mình đòi hỏi quá nhiều ở cha, thậm chí có khi tôi đã buông những lời bất kính đối với người, nhưng cha luôn lặng lẽ nhẫn nhịn và thương yêu mà không hề phàn nàn và đòi hỏi tôi phải như thế này hay như thế kia. Trước đây tôi không nhận ra những đau khổ mà tôi đã gây cho cha. Nhưng từ khi tôi biết quay về, nhận diện những lầm lỗi và chữa lành những vết thương trong tâm hồn tôi  thì tôi đã thấy rõ và biết trân quý tình thương mà cha dành cho tôi. Bây giờ, tôi đã biết cách thương cha hơn trước. Tình thương đích thực không đòi hỏi, nhẹ nhàng như làn khói trầm lặng lẽ mà thơm ngát, chứa đầy sự kiên nhẫn.

Hãy thôi làm thân cùng tử

Các bạn trẻ ơi, với tất cả trái tim của mình tôi tha thiết muốn chia sẻ với các bạn rằng các bạn hãy học cách bảo vệ và chăm sóc cho thân và tâm của mình. Đừng để mình trở thành những con cừu vô ý thức, chỉ chạy theo những trào lưu của xã hội, những hào nhoáng bên ngoài, hay khoa học công nghệ tối tân. Hãy cẩn thận và suy xét kỹ lưỡng những gì mình tiêu thụ qua các giác quan, từ thức ăn, thức uống, hình ảnh, âm thanh, phim ảnh, chuyện trò hàng ngày, và cả những suy tư của chính mình. Những thứ ấy có nuôi lớn niềm an lạc, tình thương đích thực, và làm đẹp  tâm hồn các bạn hay không? Nó ảnh hưởng tới bản thân và mối liên hệ với những người xung quanh như thế nào? Nếu các bạn muốn biết tình thương đích thực là gì thì hãy hiểu chính mình trước. Mình có thấy và có hiểu những hạnh phúc, khổ đau của mình không? Qua những lỗi lầm, tôi thấy rõ trong tình yêu đích thực phải có yếu tố kính trọng chính bản thân mình và kính trọng người mình thương.

Từ khi quyết định dành thời gian tìm hiểu chính mình, không để bị lôi cuốn theo dòng chảy của xã hội, tôi học được cách chăm sóc cho thân thể và tinh thần. Chăm sóc  mình bằng chánh niệm, thắp lên ý thức hàng ngày để biết rõ mình đang làm gì, những thứ mình đang tiêu thụ có ảnh hưởng gì đến thân và tâm? Từ khi tôi may mắn được ở trong một môi trường lành mạnh, ít tiêu thụ, tôi mới thấy rõ được tầm ảnh hưởng của những gì mà trước đây tôi cho là bình thường, là vô hại. Tôi đã hoang mang, cô đơn và đi vòng quanh, chạy theo một ảo tưởng mà không biết rõ là mình đang đi tìm cái gì. Quay đầu nhìn lại, thì nửa cuộc đời đã trôi qua mà tôi vẫn chưa thật sự tìm được cái mà tôi mong muốn nhất. Có lẽ vì tôi chưa biết thực tập dừng lại!

Các bạn hãy tập dừng lại bằng cách cho mình mỗi ngày một khoảng thời gian để ngồi yên, trở về với chính mình, nhìn lại và lắng nghe những thao thức trong lòng. Hãy cho mình cơ hội được sống ở một môi trường ít tiêu thụ để tự cảm nhận sự chuyển hóa trong thân tâm. Trong môi trường an lành, và yên tĩnh như vậy ta sẽ có cơ hội thấy rõ những tri giác, những quan niệm sai lầm đã gây đau khổ cho chính mình và cho người thương của mình. Dừng lại để nhìn thật sâu mình đang làm gì, đang đi tìm cái gì, tương lai của mình đi về đâu, mục đích quan trọng nhất trong cuộc đời mình là gì?

Trong bài viết này tôi không mang đến cho các bạn những giải đáp về tình yêu và hạnh phúc đích thực. Tôi chỉ tha thiết khuyến khích các bạn hãy trở về để thật sự hiểu chính mình mà đừng sống như người vô thức. Hãy tự đặt cho mình những câu hỏi và tìm những câu trả lời sâu trong nội tâm mình. Nhìn lại những ý niệm về nền “văn minh” với chủ thuyết sống cá nhân, phong trào toàn cầu hóa và cách tiêu thụ vô ý thức, ảnh hưởng đến đất Mẹ và mọi người trên thế giới… Những cái đó có thật sự văn minh lắm không? Các bạn hãy về lại cội nguồn để tìm hiểu, nhìn sâu vào những nét đẹp trong nền văn hóa tâm linh Việt Nam mà tổ tiên đã trao truyền cho chúng ta. Khi nhìn bằng đôi mắt tinh khôi của một người đang khám phá, bạn sẽ thấy thích thú, và không còn thành kiến. Các bạn ơi, chúng ta đang có sẵn trong tay cả một gia tài vô giá mà mình không biết ! Đừng tìm kiếm đâu xa, chỉ cần dừng lại, trở về với gốc rễ ta sẽ tiếp nhận và làm lớn lên kho tàng quý báu đó một cách xứng đáng nhất.

 

( Sư Cô Chân Sinh Nghiêm là một vị giáo thọ trẻ của Làng Mai. Sư cô sinh ra tại Việt Nam và lớn lên ở Úc. Sư cô đã tốt nghiệp ngành tâm lý học và yêu thích kết nối với người trẻ. Nhiều năm tiếp xúc với khổ đau của người trẻ và những người bệnh bị bệnh tâm lý, với thao thức muốn tìm một con đường có thể giúp cho chính mình và mọi người. Khi gặp đạo Bụt và những phương pháp thực tập của Làng Mai, sư cô nhận ra đây là con đường mà  bấy lâu nay mình đã đi tìm, là hướng đi mang tới sự chuyển hóa, trị liệu. Sư cô đã quyết định chọn “Gia đình áo nâu”. Thầy- Sư Ông Làng Mai đã xuống tóc xuất gia cho sư cô năm 2009, khi sư cô 32 tuổi. Hiện nay sư cô đang tu tập tại Xóm Mới. Sư cô không những là một sư em rất dễ thương đối với các sư chị, mà sư cô cũng là một người sư chị rất tâm lý với các sư em. Sư cô là một người chị, người bạn đồng hành và là một nơi tâm sự gần gũi cho các sư em gốc Tây Phương và Việt Nam.)

Nuôi lớn Thầy trong con

Khi những chiếc lá cuối cùng của mùa thu rơi xuống, khu rừng ngập đầy những chiếc lá vàng khô trên những lối thiền hành. Chúng tôi lại chuẩn bị cho một mùa an cư mới.

An cư” dịch nghĩa đơn giản của Hán-Việt là ở cho yên. Ngày xưa thời Bụt, giáo đoàn của Ngài phải đi khất thực cả năm, chỉ có ba tháng mùa mưa không đi khất thực được nên ở yên một chỗ, và những vị Phật tử tại gia đến cúng dường thức ăn hay y áo. Thời gian an cư, các vị xuất sĩ được nghe Bụt giảng dạy và dùng thời gian của mình để tu tập thiền định nhiều hơn. An cư cũng là thời gian để các vị xuất sĩ về lại trú xứ của mình cùng nhau tu học. Đó là một trong những hình ảnh đẹp nhất về giáo đoàn của Bụt.

Mùa an cư là mùa để tăng thân cùng nhau sách tấn, soi sáng cho nhau những điểm chưa đẹp, chưa hay để có thể tiến xa hơn trên con đường   tu đạo. Tôi nhớ lời Thầy thường hay dạy chúng tôi, những người xuất sĩ: “Người tu sĩ không nên đi tìm tiện nghi tình cảm hay tiện nghi vật chất”. Mỗi lần nhớ tới, tôi thường hay giật mình tự hỏi: “Tôi có bị tiện nghi nào ràng buộc không? Tôi có bị những tình cảm nào chi phối không?”. Riêng đối với tôi, từ an cư không phải chỉ dành riêng cho ba tháng thôi mà nên sử dụng nó suốt cả đời tu của mình.

Trước ngày đối thú, đại chúng hai xóm Tùng Xanh và Hạc Trắng đã cùng ngồi lại và chia sẻ với nhau về lời phát nguyện thực tập trong mùa an cư. Có vị nói rằng sẽ tham dự thời khoá đầy đủ; có vị sẽ thực tập ngồi thiền thêm vào buổi tối; có vị sẽ trở về với chính mình để chăm sóc thân tâm, để hiểu mình nhiều hơn; lại có vị muốn thực tập từ bi hơn, v.v.

Ngồi lắng nghe các huynh đệ chia sẻ, tôi thấy vui trong lòng. Nếu như Sư Ông được nghe những lời phát nguyện trên thì Sư Ông sẽ vui biết mấy!

Du hành

Sau mùa An cư kiết đông 2014 – 2015, chúng tôi đã có một chuyến công du về miền Đông Nam Florida – vùng đất ấm áp của nước Mỹ, để hướng dẫn hai ngày quán niệm ở chùa Hương Hải và chùa Phước Huệ. Các em thanh niên trẻ trong nhóm Wake Up của tăng thân Miami đón tiếp chúng tôi thật nồng nhiệt tại phi trường với những trái dừa xiêm, mát và ngọt lịm. Quý thầy nghỉ ở nhà một cư sĩ người Mỹ, còn quý sư cô nghỉ ở nhà của anh chị Thiện – Hương. Anh chị đã chăm sóc quý sư cô thật chu đáo, ân cần. Ngày nào cũng vậy, Lãm, một thiền sinh trẻ trong tăng thân Wake Up, cũng đều mang đến cho chúng tôi những trái dừa xiêm rất tươi mới hái.

Ngày quán niệm ở chùa Hương Hải có cả tăng thân người Mỹ cùng tham dự. Khi chúng tôi cho pháp thoại bằng tiếng Việt thì các bạn người Mỹ được nghe thông dịch. Ngày quán niệm ở chùa Phước Huệ chúng tôi chia sẻ về đề tài “Làm sao giữ vững sự thực tập trong đời sống bận rộn ở gia đình cũng như nơi làm việc?”. Những kinh nghiệm tu tập hàng ngày này đã đem đến cho đồng bào nơi ấy rất nhiều hạnh phúc. Sau đó, chúng tôi còn được ghé thăm gia đình của một số thầy và sư cô xuất thân từ làng An Bằng. Quý vị đã tiếp đón chúng tôi thật nồng hậu và thâm tình!

Chuyến đi Washington DC

“Mùa xuân sang có hoa anh đào…”. Hàng năm vào giữa tháng Tư, khắp nơi trên thế giới đổ xô về thủ đô Washington để thưởng thức hoa đào nở rộ bên bờ hồ Tidal Basin thơ mộng. Trong khi đó thì quý thầy, quý sư cô ở tu viện Bích Nham cũng về Washington để hướng dẫn khóa tu cuối tuần cho tăng Thân chùa Hoa Nghiêm. Tiếc là năm nay, khi chúng tôi đến thì hoa đào đã nở hết rồi. Ngày Chủ nhật có thầy Pháp Tịnh cho pháp thoại, thầy chia sẻ và hát rất hay, quý bác và các em thanh niên gia đình Phật Tử chùa Hoa Nghiêm rất quý mến thầy nên ở chơi đến tối vẫn chưa chịu về. Vì mối thâm tình của quý bác và các em thanh thiếu niên Gia Đình Phật Tử Hoa Nghiêm dành cho quý thầy cô ở Bích Nham, cho nên hàng năm chúng tôi hết lòng đóng góp sự có mặt của mình cho khóa tu cuối tuần tại đây.

Những khóa tu hàng năm tại tu viện Bích Nham

Những khóa tu không thể nào thiếu trong năm của tu viện Bích Nham. Đó là khóa tu mùa hè, khóa tu cho người da màu, khóa tu Tiếp hiện và khóa tu cho người Việt. Ngoài ra, còn có những khóa tu cuối tuần dành cho những sinh viên, học sinh ở các trường lân cận, và khóa tu cho mùa nghỉ lễ cuối năm. Thỉnh thoảng có thêm những khóa tu dành cho những nhà hoạt động xã hội. Năm nay, chúng tôi giúp các cô chú Tiếp Hiện lâu năm (người Mỹ) tổ chức khóa tu dành cho các thành viên nòng cốt trong tăng thân (retreat for facilitators). Khóa tu nào cũng đều đem đến cho thiền sinh nhiều hạnh phúc.

Trở về làm mới thân tâm

Tôi thấy hiện nay tình hình trên thế giới có nhiều biến động và bất an. Thêm vào đó, thảm họa từ thiên nhiên cũng làm tăng thêm sự sợ hãi cho con người. Rồi nhiều nỗi sợ hãi khác, như sợ không an toàn, sợ mất việc, sợ và sợ…, sự sợ hãi dâng cao. Loài người sống trong nỗi sợ hãi như câu thơ trong truyện Kiều: “Ở không yên ổn, ngồi không vững vàng”. Khi quán sát những hiện tượng đang xảy ra trên thế giới, chánh niệm cho tôi thấy rằng: Trái đất của chúng ta chưa bị tiêu diệt, mà con người đã tự tiêu diệt chính bản thân mình bởi sự sợ hãi, lo lắng và phiền muộn.

Chúng ta không thấy rằng những thảm hoạ thiên nhiên hay chiến tranh là do chính mình tạo ra. Khi mình nổi nóng là mình đang đóng góp cái nóng giận vào sự hâm nóng của trái đất. Vì lòng tham muốn có tiền thật nhiều mình đã bỏ nhiều hóa chất vào rau xanh cho cây mau lớn. Vì muốn ăn nhiều thịt bò, mình nuôi bò công nghiệp và ép nó phải sinh thật nhiều bê con, thán khí thải ra từ phân bò cũng làm hâm nóng địa cầu. Mới đây nhất, mình thấy cá chết hàng loạt tại các tỉnh duyên hải miền Trung Việt Nam. Tất cả đều do tâm mà ra. Mình sợ hãi những điều do chính mình tạo ra.

“…Về đi lữ khách đường xa lắm,

Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều…”

Đó là hai câu thơ của Thầy trong bài “Về với em bé thơ ngây”. Cách hay nhất là hãy trở về nội tâm và làm mới lại thân tâm, đừng làm khổ mình nữa. Làm mới lại thân tâm bằng cách thay đổi cách nhìn và cách sống có nhiều trí tuệ và từ bi hơn. Giữa mình và thiên nhiên không thể tách rời nhau. Con người được làm bởi những yếu tố không phải con người. Đó là điều Bụt đã dạy trong kinh Kim Cương. Khi mình tàn phá thiên nhiên thì đồng thời mình cũng đang tự tàn phá chính mình.

Nuôi lớn Thầy trong con

Từ ngày qua Mỹ đến nay tôi mới có cơ hội về tu viện Mộc Lan dự lễ truyền đăng. Tôi nhớ năm 2006 tôi đã đến Mộc Lan với Ôn Phước Tịnh cùng hai thầy và một sư cô cho một khóa tu cuối tuần. Lúc đó tu viện chưa được thành lập, chú Đắc, chú Bình, cô Lan… đã có nhã ý cúng dường mảnh đất ấy cho Làng Mai. Nhưng Sư Ông vẫn chưa chịu nhận vì chúng tôi chưa đủ nhân lực. Mãi đến năm Bát Nhã xảy ra chuyện thì tu viện Mộc Lan mới được thành lập. Khi đến nơi, tôi không ngờ chỉ sau vài năm thôi mà tu viện Mộc Lan đã được xây dựng khang trang với thiền đường lớn, nhà ăn rộng rãi, ni xá cho quý sư cô, thư viện, quán sách v.v.. Hiện tại các thầy đang hợp lực cùng thợ để xây tăng xá, có thể mùa hè sang năm là hoàn tất.

Tôi thiền hành ra đến tượng đài của Thầy và mục sư Martin Luther King. Tượng đài được xây rất đẹp, nhất là tượng mục sư Luther King thì rất giống. Cùng đi với tôi có sư chị trụ trì tu viện Lộc Uyển. Hai chị em có cơ hội thiền hành bên nhau trên con đường nhỏ trước cổng tu viện. Sư chị bảo sau mùa an cư sẽ về chăm sóc mẹ lâu hơn vì mẹ của sư chị đã già yếu đi rất nhiều. Nhưng không ngờ mẹ sư chị đã ra đi trước ngày chị trở về. Cuộc đời vô thường quá! Nhớ lại mà tôi thấy thương sư chị vô cùng.

Trước đó mấy tháng tôi được mời để đại diện Thầy và tăng thân làm kệ trao đèn cho các sư em nữ. Khi được tin, tôi hạnh phúc vô cùng vì nghĩ rằng mình sắp thay Thầy làm một việc rất thiêng liêng, đó là “Truyền đăng tục diệm”, tiếp nối sự nghiệp của Thầy và chư Tổ. Ngày xưa, tôi đã được chứng kiến thật nhiều lần Thầy truyền đăng cho các vị giáo thọ và cho cả chính tôi nữa. Bây giờ đến lượt tôi sẽ làm nhiệm vụ thiêng liêng đó, đại diện Thầy và tăng thân truyền đăng cho các sư em của mình.

Đọc những bài kệ kiến giải của các sư em, tôi nhớ đến tính cách của từng người và nghĩ mình phải làm bài kệ sao cho phù hợp với căn cơ của mỗi vị. Mỗi buổi sáng, khi thưởng trà, tôi để tâm tư mình thật yên, hòa vào không gian tĩnh lặng của buổi sớm mai. Và thật tự nhiên lời thơ vang lên trong tôi, không cần suy nghĩ. Vào ngày rằm, vầng trăng thu tròn sáng ngoài khung cửa phòng, lời thơ lại vang lên như tiếng nhạc. Những bài kệ ngày xưa của Thầy đã vào tàng thức tôi, bây giờ có cơ hội để biểu hiện thành những bài kệ mới. Mỗi khi làm xong một bài kệ, tôi đọc lại và thấy vui trong lòng. Tôi thấy Thầy trong tôi đang lớn dần theo năm tháng.

Ngày truyền đăng đã đến, tôi thấy các sư em rất bình tĩnh, trong khi mình thì lại hồi hộp và lo lắng. Tôi chỉ sợ trong khi mình thắp đèn mà đèn tắt thì “xui” lắm. Nhưng rồi tôi lại cười cho chính mình: “Giờ này mà còn đi tin dị đoan à”. Nhớ lại sự vững chãi và tự tin khi Thầy trao đèn cho mình, tôi thấy mình cần phải nuôi lớn Thầy  ở trong mình mới được. Giây phút thiêng liêng đã đến, khi thấy sư em vững chãi trước mặt mình với gương mặt hồng hào tươi thắm, tự nhiên tôi cũng bình tĩnh hơn, nhưng cũng không thể nào giữ được đôi bàn tay đang run lên khi cầm nhang châm vào cây đèn nhỏ. Đèn đã được thắp sáng, tôi thở phào và tự nhiên thấy giọng mình xướng bài kệ khá hùng  hồn.  Giây  phút  truyền  đăng tôi không còn thấy mình như một cá nhân nữa, tôi thấy sự có mặt của Thầy, của Tổ đang biểu hiện trong tôi trong giờ phút trang nghiêm đó.

Thu đẹp đã về rồi

Vào mùa thu, khí trời vẫn còn ấm áp, các em trong Ban chăm sóc muốn tổ chức cho đại chúng lên đỉnh núi Sam hay hồ Minnewaska để thưởng thức mùa thu đã về trên từng ngọn cây, chiếc lá. Ngồi trên núi cao, thấy không gian bao la bát ngát. Xa xa những khu rừng bên kia bờ hồ cũng như dưới thung lũng, những cụm cây lá đỏ, vàng, xanh xen kẽ nhau. Mùa thu vẫn chưa về hẳn, nên lá vẫn còn xanh. Vài tuần nữa thì chắc cả vùng đồi núi sẽ như một bức họa màu sắc rực rỡ.

Nhìn mặt trời lặn trên đỉnh núi Sam, tôi nhớ đến ngày xưa khi còn ở Làng Mai vào những năm 90. Mùa đông, chúng tôi theo Thầy đi núi Pyrénées để ngắm trăng lên trên đỉnh núi tuyết. Có một sáng nọ, chúng tôi chuẩn bị đi thiền trước khi về lại Làng. Mặt trời vừa lên sau đỉnh núi tuyết, ánh sáng huy hoàng chiếu đỉnh núi sáng rực như kho báu lấp lánh bên cạnh những cây tùng bách vươn cao đứng thẳng hùng dũng dưới bầu trời xanh biếc. Một tác phẩm tuyệt vời của thiên nhiên, vũ trụ. Chúng tôi đứng yên thưởng thức. Bất chợt quay sang tôi, Thầy hỏi: “H.N, cảnh này là thật hay là mộng?”. Tôi đang luống cuống thì Thầy nói: “Thật mà như mộng”. Bao năm qua, khi tiếp xúc những mầu nhiệm của cuộc sống, tôi vẫn thường hay hỏi chính mình: “Thật hay mộng?”. Thực tập tiếp xúc với giây phút hiện tại, không nghĩ về quá khứ và không rong ruổi tương lai, không phải dễ. Cho đến nay câu hỏi đó vẫn còn là một công án cho tôi.

 

Con đã thỉnh ý tăng thân chưa

Khoảng một tuần sau khi xuất gia vào tháng 2 năm 1998, chúng tôi – chín sư chú, sư cô thuộc gia đình cây Táo – ngồi lại với nhau để bàn về việc tổ chức những sinh hoạt có thể đem đến sự kết nối và truyền thông giữa các thành viên trong gia đình cây Táo cũng như với những sư anh, sư chị đã xuất gia trước đây. Chúng tôi có đề nghị tổ chức một buổi đi dã ngoại vào ngày làm biếng đầu tiên của mỗi tháng. Mỗi lần đi, chúng tôi mời một vài sư anh, sư chị của các cây xuất gia trước đi cùng. Chúng tôi thỉnh ý quý thầy, quý sư cô lớn và sau đó lên xin phép Thầy. Thầy gật đầu chấp thuận sau khi hỏi chúng tôi: tăng thân đã cho phép chưa?

Lần đầu tiên ở Làng các sư chú, sư cô mới xuất gia được phép đi sinh hoạt với nhau. Là sư anh lớn của cây Táo, lớn lên trong gia đình huyết thống có đến mười anh chị em, tôi biết nhu cầu để các sư anh, sư chị, sư em cùng cây hiểu nhau là có thật và rất lớn. Tuổi đời của chúng tôi lúc đó cũng không nhỏ gì lắm, đa số đều trên dưới ba mươi, người lớn tuổi nhất lúc đó đã năm mươi, nhỏ nhất là sư em út Kính Nghiêm – “baby nun” đầu tiên của Làng, mười bốn tuổi. Tuy nhiên, khi mới xuất gia, đi sinh hoạt với nhau cần phải có các sư anh, sư chị lớn có mặt và hướng dẫn. Khi xin phép, chúng tôi nói rõ lý do là những buổi sinh hoạt này có tính cách xây dựng tăng thân chớ không phải là chỉ đi chơi với tính cách cá nhân. Những đề nghị mình xin thực hiện mà đem lại lợi ích cho tăng thân thì tăng thân thường chấp thuận. Chúng tôi thay phiên nhau tổ chức những ngày đi chơi đó.

Buổi đầu tiên gồm có các thầy, các sư cô lớn như thầy Nguyện Hải, thầy Vô Ngại, thầy Pháp Ấn, thầy Pháp Dụng, sư cô Trung Chính… đi cùng, trên dưới ba mươi người. Chúng tôi đi thăm thành khuôn viên nhà thờ. Các buổi đi chơi chấm dứt sau khi mỗi người chúng tôi đã có cơ hội tổ chức một lần, tất cả là chín lần. Chúng tôi có dịp đi thăm hầu hết các thắng cảnh trong vùng. Sau này, việc đi chơi của các gia đình xuất gia đã trở thành một truyền thống của Làng.

Khi tổ chức một sinh hoạt, ban điều hợp sinh hoạt đó có nhiệm vụ tổ chức những buổi họp trong đại chúng để thảo luận và đi đến quyết định chung, sau đó thì trình lên Thầy để Thầy chỉ dạy. Thường thì Thầy giữ nguyên những quyết định đó, trừ khi thật cần thiết mới đổi. Trong chuyến đi Bắc California năm 2002, thầy Pháp Dụng và tôi phụ trách tổ chức khóa tu xuất sĩ tại tu viện Kim Sơn. Vì thời gian tổ chức hơi gấp và đã tổ chức khóa tu tại đó nhiều lần, nên chúng tôi dựa theo thời khóa cũ và vào trình với Thầy. Thầy hỏi đã thỉnh ý tăng thân chưa. Chúng tôi thưa là vì thời gian eo hẹp, nên thỉnh ý Thầy trước rồi trình với tăng thân sau. Thầy nói vậy là không được, phải bắt đầu từ tăng thân trước.

Khi tôi đứng trong vai trò của một sư anh lớn, cần lắng nghe hết ý kiến của tăng thân rồi mới đưa  ra ý kiến của mình, tôi hiểu hơn về quá trình làm một quyết định. Trong các buổi họp, các vị lớn thường hay phát biểu sau cùng. Vì nếu các vị lớn đưa ra ý kiến của mình sớm quá, các vị nhỏ hơn sẽ ngại đưa ra những ý kiến khác với ý kiến của những vị lớn. Thầy là một thành viên của tăng thân, khi Thầy chưa cho ý kiến thì những đề nghị mà tăng thân trình lên chưa là ý kiến của toàn thể tăng thân. Thầy không dùng vị trí của một vị thầy, của một người lớn để áp đảo ý kiến của đệ tử. Trong mô hình dân chủ, mỗi người có một lá phiếu, giá trị của mỗi lá phiếu đều như nhau. Điều đó đúng khi làm quyết định, nhưng khi thảo luận thì ý kiến của Thầy được lắng nghe nhiều vì đức độ và tuệ giác của Thầy tạo một niềm tin trong đại chúng. Tăng thân nghe theo những đề nghị của Thầy để quyết định vì những điều đó đúng. Những điều đúng khi nói ra thì được lắng nghe, cho dù là được nói bởi các thầy, các sư cô trẻ. Tăng thân chúng ta đang từ từ tập nghe những lời chia sẻ của các thầy, các sư cô lớn. Quý vị đang thay mặt Thầy hướng dẫn các sư em, vì bây giờ Thầy không còn trực tiếp dạy. Các thầy, các sư cô lớn cũng có đức độ, tuệ giác đã được huân tập và phát triển sau nhiều năm tu học. Vai trò của các thầy, các sư cô lớn từ từ được biểu hiện cụ thể hơn.

Tiếng Hoa có sự phân biệt rõ ràng giữa hai cụm từ “sư phụ/đệ tử” và “thầy/trò”. Sư phụ có nghĩa vừa là thầy vừa là cha; đệ tử có nghĩa vừa là em, vừa là con. Cha con, anh chị em thì có sự truyền thừa. Ở Tây phương cũng vậy, họ dùng hai cụm từ “master/disciple” và “teacher/student”. Chữ “master” được định nghĩa là người mà những điều họ dạy được người khác nghe và làm theo, ví dụ như Zen Master. Chữ “disciple” được định nghĩa là người học và làm theo những điều mà thầy mình dạy. Nó khác nhiều so với cụm từ thầy/ trò. Học trò không gọi thầy cô giáo dạy toán, lý, hóa… là sư phụ, là master, mà là teacher. Theo định nghĩa của sự liên hệ trao đổi kiến thức thuần túy, học trò không phải làm theo những điều mà thầy dạy. Sư phụ/đệ tử thì thường dùng trong lãnh vực tâm linh, có sự truyền thừa của một tông phái. Ở Làng Mai thì cụm từ thầy/trò được dùng nhiều hơn nhưng được hiểu theo nghĩa sư phụ/đệ tử. Vì trong truyền thống văn hóa Việt Nam, người thầy thường đóng vai trò của cha mẹ và người học trò thường đóng vai trò của người con/người em.

Một vị vua Trung Hoa đời nhà Tề, sau khi họp nội các về thì khóc ròng. Hoàng hậu hỏi vì sao, nhà vua nói là triều đại của ông sẽ không có tương lai. Trong các buổi họp, các quan đều đồng ý với những điều nhà vua nói, ai cũng gật đầu. Vua nói là vua cần nghe những lời phản biện, chớ cái gì cũng đồng ý với vua hết thì đâu cần họp nội các làm gì, quyết định một mình cho khỏe. Các vị minh quân, các vị lãnh đạo giỏi đều có thái độ cởi mở như vậy. Họ biết những ý kiến khác biệt sẽ giúp sáng tạo hơn và sẽ dẫn đất nước, đoàn thể đi lên. Tăng thân Làng Mai cũng sinh hoạt theo tinh thần đó. Trong một buổi họp, nếu có nhiều ý kiến khác nhau thì đó là một điều đáng mừng. Cần tạo ra không gian và sắp xếp thời gian để những ý kiến mới được nói ra. Tôi nhận thấy trong các buổi họp hạnh phúc, khi không bị giới hạn về thời gian và không phải làm quyết định thì nhiều ý kiến hay được đưa ra hơn là trong các buổi họp để quyết định những điều cần phải làm.

Những con ong, ví dụ như loài ong mật, sống trong một cộng đồng có tổ chức quy mô và chặt chẽ. Có ba loại ong: ong chúa, ong đực và ong thợ. Ong chúa sống từ hai đến ba năm và chỉ có nhiệm vụ sinh nở. Ong đực sống từ vài tuần đến năm tháng, có nhiệm vụ giao hợp với ong chúa rồi chết. Ong thợ, chiếm hơn 95% dân số, quyết định và lo hết tất cả các việc khác như kiếm ăn, xây tổ, nuôi em, bảo vệ… Ong thợ nếu sinh vào mùa sản xuất mật, tức là mùa xuân hay mùa hè, thì chỉ sống được khoảng sáu tuần, vì phải làm việc rất nhiều. Nếu sinh vào mùa thu/đông thì sống khoảng năm tháng. Cho nên, cộng đồng ong luôn luôn được đổi mới và trong thời gian sống ngắn ngủi đó, các con ong thợ phải học hỏi, thực tập và trao truyền kinh nghiệm sống cho thế hệ kế tiếp. Một công trình đòi hỏi sự kiên trì và liên tục. Dĩ nhiên là chúng không cần phải biết tất cả. Có những lãnh vực chuyên môn chỉ được giao cho một nhóm, do toàn cộng đồng ong chỉ định ra. Chỉ định xong rồi thì tin tưởng, giao khoán việc đó cho nhóm đó thực thi. Chúng có những nguyên tắc sống còn được truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Ví dụ như xây dựng tổ thì phải theo bốn tiêu chuẩn: cách mặt đất ít nhất là 4,5m để các loài thú khác khó phá; lỗ ra vào tổ khoảng 20cm2, lớn vừa đủ để ra vào và nhỏ đủ để các loài vật khác khó vào; lớn khoảng 40 lít khối cho một cộng đồng mấy chục ngàn ong; và ở trên/trong thân cây còn sống. Khi có nhu cầu tạo chỗ mới, cộng đồng mấy chục ngàn con ong này giao cho ban xây dựng, gồm khoảng 500 con ong thợ thâm niên và có nhiều kinh nghiệm. 500 con ong thuộc ban xây dựng này nghiêm túc theo bốn nguyên tắc trên mà kiếm chỗ, xong về bàn bạc với nhau, khi có quyết định rồi thì cả đàn mấy chục ngàn con đi theo thôi.

Và nếu vì nhu cầu sống còn hay nhu cầu phát triển mà phải thay đổi bốn tiêu chuẩn xây tổ trên thì chúng cũng làm. Nhưng sự thay đổi đó cần phải qua kinh nghiệm sống và phải hiểu rõ những cái cũ. Cần phải biết rõ truyền thống trước khi thay đổi.

Trong đời sống tăng thân Làng Mai, sự thay đổi cần được làm theo tinh thần “Bồi đắp gốc rễ, khai thông suối nguồn”. Trong sự nghiệp duy trì và phát triển các pháp môn sau này, Thầy dạy là cần phải có bốn pháp ấn – đã về đã tới, đi như một dòng sông, thời đế tương tức và sát na dị thục – nền tảng của các pháp môn giảng dạy và thực tập của Làng Mai.

Khóa tu An cư kiết đông năm 2010 – 2011, tôi  có dịp về Làng ba tháng và được giao nhiệm vụ hướng dẫn nhóm thiết kế trang nhà Làng Mai mới. Các sư em hỏi tôi: “Thầy dạy nên có mục ‘Đài Mây Tím’, nhưng các sư em không hiểu nó là gì, nghe hơi lạ tai, không biết có nên làm không?”. Tôi trả lời: “Chưa nghe Thầy nói về điều đó, có thể không làm, nhưng nên thỉnh ý Thầy lại cho chắc”. Một tuần sau, khi đang ngồi uống trà với thầy Pháp Ứng thì Thầy và thị giả ghé qua phòng chơi. Thầy gọi tôi lại gần và nói: “Ngày xưa các thầy tu rất thảnh thơi, mỗi chùa thường có một đài để ngắm mây tím, lại có hiên để nghe mưa nữa, cho nên cần có mục Đài Mây Tím”. Tôi mắc cỡ sám hối với Thầy vì không biết nên mới khuyên các sư em như vậy. Có nhiều điều tôi chưa biết, thật may mắn khi có người chỉ những điều đó cho mình.

Tôi đến Làng lần đầu tiên vào năm 1987, lúc 26 tuổi. Hồi đó tôi gặp khó khăn về tình cảm, cần có nhu cầu chuyển hóa khổ đau nên tôi đến Làng để hiểu về tâm lý học chứ không phải vì quan tâm đến tôn giáo. Tu học được vài năm, tôi thật sự có chuyển hóa nên rất có niềm tin vào pháp môn. Mùa thu năm 1998, lần đầu tiên được tiếp xúc với Duy biểu học, tôi thấy những lời dạy trong  đó giống nhiều điều tôi đã trải qua. Ta không thể nào hiểu Duy biểu qua ngôn từ được, chỉ có thể sống, kinh nghiệm và thực chứng Duy biểu mà thôi. Sau đó, tôi có dịp đọc cuốn Duy biểu học – phiên tả những bài pháp thoại Thầy giảng trong khóa tu mùa đông 1993-1994. Trong mục  mong muốn của tác giả, Thầy nói: “Nếu nội dung của năm chục bài kệ Duy biểu có thể dùng làm tài liệu trong các khóa tu dành cho ngành tâm lý trị liệu để trị các bệnh tâm thần thì những bài kệ đó đã làm được vai trò của chúng”. Câu nói đó ở mãi trong tâm thức tôi, là tư niệm thực để hướng dẫn tôi tìm hiểu và làm một cái gì ý nghĩa về lĩnh vực này.

Từ năm 2007, khi bắt đầu sinh hoạt tại Hồng Kông, tôi thích tìm hiểu về lãnh vực chánh niệm trong y học thân tâm (mind-body medicine). Vào mùa hè năm 2012, Centre of Behaviorial Health (Trung tâm Sức khỏe Hành vi) của Đại học Hồng Kông mời tôi hướng dẫn chánh niệm cho nhóm chuyên gia trong lĩnh vực y tế và phụng sự xã hội (Health care and social service professionals). Tôi bắt đầu nghiên cứu thêm về thần kinh học, sinh học tế bào (Cellular biology) và các ngành tâm lý Tây phương. Tôi chia sẻ những việc này với Thầy và bắt đầu tổ chức các khóa tu chuyên ngành cho các chuyên gia y tế và tâm lý học. Thầy khuyến khích và nhắc tôi nên kết hợp việc hướng dẫn của mình với những kiến thức khoa học, vì với giới hàn lâm thì “nói có sách, mách có chứng”. Thầy cũng gởi cho tôi tập tài liệu tại hội nghị Chánh niệm – Y học thân tâm mà Thầy đã hướng dẫn  tại đại học Harvard vào tháng 9 năm 2013. Sau một khóa tu chuyên ngành dài tám ngày cho ba mươi bác sĩ tâm lý trị liệu vào tháng 11 năm 2013 tại Thái Lan, tôi xin phép Thầy cho AIAB thành lập “Trung tâm Thân tâm kiện an thở và cười”. Sau hơn 2 năm chuẩn bị, trung tâm đi vào hoạt động vào tháng 4 năm 2016. Nhìn lại, hạt   giống của trung tâm này đã được nuôi dưỡng mười tám năm, từ khi tôi đọc câu nói của Thầy trong cuốn Duy biểu học.

Trong tập tài liệu “Trăng sao là tâm thức”, Thầy nhắc “Duy biểu trong thế kỷ của ta phải đi sát với sinh học và lý học, chứ không phải chỉ đi sát với luận lý học như ở thời kỳ Pháp Xứng và Trần Na. Tâm lý học và sinh lý học phải đi đôi với nhau. Nghiên cứu về quá trình phát sinh tư tưởng và cảm thọ, ta phải có kiến thức về thần kinh và não bộ…” và Thầy dạy các sư anh, sư chị tìm hiểu thêm về lĩnh vực này để hướng dẫn cho các sư em. Những khám phá về thần kinh học kể từ thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay cho biết là hệ thống thần kinh cảm xúc (limbic system) có những hành vi tương tự như ý căn (mạt na căn) và tình thức (ý, mạt na thức) vậy. Nó cũng giải thích cách làm việc của tàng thức, ý thức và năm thức giác quan khá rõ ràng. Tôi cũng thấy rằng Duy biểu học có thể được xem là nền tảng cho những trường phái tâm lý học Tây phương. Trong khóa tu mùa đông năm nay tại EIAB, tôi có hướng dẫn một lớp về đề tài này cho các thầy, các sư cô trẻ. Tôi có một ước mơ đưa Duy biểu học trở thành một ngành học Tâm lý hiện đại. Cho nên tôi cũng gieo hạt giống này cho các vị cư sĩ nữa, nhất là cho các chuyên gia tâm lý học. Nhiệm vụ của người hoằng pháp là gieo hạt. Hạt giống có thành cây hay không là tùy duyên. Tạo duyên nhưng tùy duyên.

Xin tạ ơn Thầy đã gieo những hạt giống tốt cho tôi và cũng đã tạo điều kiện cho những hạt giống đó được nẩy mầm và phát triển thành hoa trái.

Nơi suối nguồn chảy về

Bích Nham, mùa thu…

Bạch Thầy kính thương,

Sáng nay, một buổi sáng làm biếng yên tĩnh và hiền lành, con đang ngồi uống trà, nhìn ra cảnh vật núi đồi phía xa xa thấy một cội cây lớn, nổi bật lên nền trời, con nhớ đến Thầy… Cội cây rất can trường. Bầu trời đang rạng dần, phía sau cội cây, núi đồi một màu xanh thẫm sắp sửa ánh lên những tia nắng đầu tiên. Con nhớ đến bài “Buổi sáng” của Thầy… Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào… Con đang uống từng ngụm ban mai tinh khiết, trong lành mà đất trời và buổi sáng ban tặng. Con nhớ đến Thầy nhiều và nhớ đến những câu thơ rất đẹp của Thầy: “Trà khuya bay khói thơ không chữ. Thơ chở trà lên tận đỉnh mây…” Tạ ơn Thầy đã cho con cảm thấy không ngần ngại thêm vào túi gió trăng của con một chút văn, một chút thơ, một chút nhạc,… – những nét đẹp của cuộc sống quanh con. Thầy trò mình có những thú chơi thật thanh tao – dậy sớm, thưởng trà, ngồi yên, ngắm nhìn trời đất lặng lẽ chuyển mình từ cái thăm thẳm đen của núi rừng buổi khuya đến tinh mơ sáng. Đôi khi con thấy trời đất cũng đang ngắm nhìn con, “thưởng thức” con, cho nên con cũng ngồi thật yên, thật đẹp.

Vừa rồi, con có cơ hội đọc quyển “Silence” của Thầy, có đoạn như vầy:

Im lặng là một điều thiết yếu. Chúng ta cần yên lặng, như (muôn loài) cần không khí, như cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta bị lấn lướt bởi những ngôn từ và suy nghĩ, thì sẽ không còn không gian cho chúng ta nữa”.

Và: “Nếu biết rằng yên lặng và không gian rất quan trọng cho hạnh phúc của chúng ta thì tại sao chúng ta không kiến tạo thêm những thứ đó cho đời sống của mình?

Có những lúc Thầy đã nói thành lời những điều trong lòng con và có những lúc con tìm thấy được Thầy qua một cái gì đó mà con đang làm, đang nghĩ, đang cảm. Những lúc đó, tình Thầy-trò được cảm thông sâu sắc lạ kỳ, thấy thương kính Thầy thật nhiều, cho dù Thầy không có ở đó hoặc con không đang uống trà với Thầy.

Con còn nhớ những ngày con được làm thị giả sư cô Chân Không. Con và một sư em lên sớm, đứng trước cốc Ngồi Yên của Thầy ở xóm Thượng để đợi Thầy và Sư Cô tới. Đó cũng là một buổi sớm mùa đông, sương mù ngập trời, cốc Ngồi Yên và những hàng cây mùa đông ẩn hiện thấp thoáng dưới ánh đèn vàng. Hai chị em thấy như đứng trên núi. Sư em sinh ra ở núi, là dân miền núi. Hai đứa cũng đều thích núi. Tự nhiên thấy một niềm vui, một nỗi đồng cảm và có điều gì thiêng liêng lạ. Hai chị em đứng đợi Thầy mình tới. Rồi chúng con cùng đi với Sư Cô vào cốc Ngồi Yên để được uống trà với Thầy. Không cần nói một lời nào nhưng những giây phút đẹp đẽ và tĩnh lặng đó, con sẽ chẳng thể nào quên được.

Trong một khóa tu xuất sĩ, con được ở cốc Linh Quy, mỗi ngày ra thiền đường lớn phải đi một đoạn đường gần bằng đoạn đường từ cốc Ngồi Yên ra thiền đường Nước Tĩnh. Không ngày nào mà con không nghĩ đến hình ảnh Thầy vào những buổi sớm mùa đông Thầy ra ngồi thiền với quý thầy vào mùa an cư. Vẫn khung trời trăng sao lồng lộng đó, từng bước chân đó, ung dung, bình thản, tĩnh lặng, bao nhiêu năm rồi. Nhớ lời Thầy dạy “đừng phụ gió trăng”, mỗi buổi sáng, con không nỡ lòng để lỡ bước chân nào, bước lên bao nhiêu đó bậc cầu thang rồi băng qua lối đi trải sỏi để vào thiền đường. Nếu có lỡ quên đoạn nào thì dừng lại, “đi lại”, hoặc nhủ lòng “ngày mai nhớ nhé”. Nhưng, mùa an cư đó, con không có Thầy đi bên mình, con đã đi với Thầy trong đôi chân con, con hiểu rằng con đang có được biết bao nhiêu là tình thương, bình an và tự do mà Thầy trao cho.

Thầy kính thương, con thương quý Bích Nham thật nhiều, cho nên con cũng thương quý xóm Hạ, thương Làng, thương Sơn Cốc – nơi mà con đã được sinh ra và lớn lên. “Đi trong sương lâu ngày cũng ướt áo”, có lẽ trong con bây giờ cũng thấm được một chút “tương chao”, thấm được cái tình bao la, sâu đậm của Tăng thân. Nhớ ngày nào con mới đến Làng, còn lơ ngơ, còn lầm lũi, mà bây giờ đã… “khôn lớn” thành người rồi Thầy ạ ☺, dù cho con lúc nào cũng là một đứa con thơ dại của Thầy. Có những tình thương đã nuôi con lớn lên; có sự tôn trọng và kiên nhẫn đã nhiếp phục đứa bé bướng bỉnh, dại dột trong con. Và thiên nhiên bao la đã cho em bé đó được hồn nhiên, tung tăng, sống vui trở lại. Tạ ơn Thầy đã dạy con một bài học lớn về lòng Biết Ơn, để con biết trân quý và hạnh phúc.

Lại nhớ có lần con qua Sơn Cốc chơi, Thầy xoa đầu con, dạy: “Con phụ thầy chăm sóc Thiên đường nghe”, sư cô HN cười sảng khoái, không biết là Thầy có biết sư cô cười “chọc quê” con không. Sau đó, ra về sư cô có nói: “Thầy ‘gõ đầu’ đúng người ghê!” Đó là vì sư cô biết nhiều khi con “nổi cơn” hay đòi đi… lên núi! Một ngọn núi thiên đường ở đâu đó… Dù vẫn biết mình là “con nhà giàu” rồi, dù vẫn biết “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” rồi, nhưng chân vẫn cứ đòi  đi!!! Thế nhưng, lời nhắn nhủ dường như rất nhẹ nhàng, vu vơ đó của  Thầy đã còn ở lại rất lâu, rất sâu trong con. Lòng Thầy thật từ bi vô cùng. Lúc đó lời Thầy cho con có cảm giác là “sự có mặt của con ở đây là cần thiết và hữu ích”, “mình đang ở Thiên đường đó, con!” hoặc “con chỉ cần có mặt ở đây thôi là đủ!”. Ấy vậy mà theo thời gian, con mới thấy con cần nơi chốn này và Tăng thân biết chừng nào. Từ đó con tập nhìn những nơi chốn mình đang ở là một “thiên đường”. Cho  dù trong đó có rác, có hoa, có bao ngổn ngang còn đó, thì vẫn có bao nhiêu điều đẹp đẽ và kỳ diệu mà có khi con đã cho là “bình thường” như: không gian, rừng  cây,  nắng,  nụ cười, niềm thương, nỗi nhớ,… Và rằng, trong lòng “thiên đường”, trong lòng Tăng thân đó, con chỉ bình an vui hưởng những cái lành, cái đẹp, cái an vui,… nhiều lắm thưa Thầy. Tạ ơn Thầy đã dựng xây nên những thiên đường và gọi chúng con về hội ngộ để cùng vui chơi trong thiên đường đó!

Con nhớ có một lần làm biếng dài ngày sau an cư, sư cô Chân Không đã rất từ bi cho phép chị em chúng con lên Sơn Cốc để ở, chơi, nghỉ ngơi và tu tập. Những ngày đó, Sơn Cốc vắng lặng, và có một chút quạnh quẽ vì Thầy đang nằm viện. Con không thể không nhớ đến những lần làm biếng chúng con lên còn có Thầy ở đó. Thầy viết thư pháp, ngồi thiền, kể chuyện, dạy chúng con hát, hay cùng nhau đi thiền hành trong vườn,… rất  an lành và đầm ấm. Những ngày đó, nhà chỉ có ba chị em, chúng con ý thức là Thầy đang bệnh nên ai cũng hết lòng tu tập và tận dụng hết không gian, thời gian đẹp đẽ và quý báu đó. Ngày nào con cũng tập thể dục, ngồi thiền, nghe pháp thoại, đọc sách,…. Và có những ngày, con đi thiền hành nhiều lần trong vườn, len lỏi qua những bụi tre, men theo bờ suối, đi đến tận cuối vườn, vòng  qua nhà xanh, thiền ôm với những cây tùng, cây sồi,… Con bước thật cẩn trọng, nhẹ nhàng như Thầy bước. Con thấy con đang đi với Thầy và Thầy đang có mặt cho đôi chân của con thêm bình an, vững chãi…

Con sẽ không thể nào quên được những buổi chiều hoàng hôn rực đỏ hay tím biếc khi chúng con cùng đi bộ ra ngoài về phía nhà thờ cổ hay hướng ngược lại, về phía những cánh đồng cỏ thoai thoải lấp lánh nắng, đi lên những con dốc ngoằn ngoèo, uốn lượn rồi lại xuống phía bên vườn mận nơi những cây cành khẳng khiu mùa đông đã bắt đầu lấm tấm đầy nụ trắng. Con thấy như con đang đi ngược về thời Trung cổ của hơn 1000 năm trước với những ngôi nhà, con đường cổ kính, trầm mặc; mọi thứ yên lặng phả ra một vẻ đẹp lung linh, huyễn hoặc trong ánh sáng buổi chiều tà và trôi vào bất tuyệt khi bất chợt có tiếng chuông nhà thờ đâu đó ngân lên. Tạ ơn Thầy đã cho con đôi mắt để ngắm nhìn, đôi tai để lắng nghe và một tâm hồn để cảm nhận cuộc sống đang rung động đầy đẹp đẽ, bao dung, tinh tế. Những người đã từng ở Làng có lẽ không ai không thương Sơn Cốc, Phương Khê, với vô số các lý do riêng chung cùng các cung bậc khác nhau. Con cũng đang nhớ Thầy, nhớ Sơn Cốc thật nhiều.

Thầy kính thương, hôm trước con đi ra phố. Cùng với các sư anh, sư chị, con đến ABC Home cho một ngày quán niệm ở đó. Thật lạ lùng mà dường như cũng rất… phù hợp, mình chọn ngay một  tòa nhà lớn, nổi tiếng, nằm giữa thành phố New York đầy hối hả, năng động, hiện đại,… để hướng dẫn tu tập! Con chăm sóc phần hướng dẫn thiền hành, đi từ tòa nhà ra vòng quanh quảng trường Union, ngay đúng vào ngày quảng trường mở họp chợ!

Con nhớ Thầy mời Bụt đi với Thầy nên con cũng mời Thầy đi với con. Ồ, ngay từ những bước chân đầu tiên, con đã thấy rất nhẹ nhàng, bình an. Và con gửi lòng bình an cùng niềm tin của con vào những người đang đi cùng con, rồi đến những người đang ở xung quanh. Lòng con hân hoan một niềm biết ơn vô vàn đến Thầy – người đã mang bình an, thương yêu vào đời, hiến tặng cho cuộc sống một món quà vô giá. Quảng trường rất đông đúc, nhộn nhịp, con đi ngang qua những gian hàng đầy hoa rồi vào sâu giữa quảng trường, nơi có một không gian nhiều cây xanh mát.

Con mỉm cười với những bông hoa rồi mỉm cười với hàng cây, tàng lá; trân quý và biết ơn một khoảng thiên nhiên nhỏ bé giữa lòng đô thị. Con cũng thầm nói lời tạ ơn đất Mẹ, vẫn hiền lành, xanh tươi, độ lượng giữa bao khói bụi, người xe. Và con biết ơn Thầy đã dạy con biết thương yêu, giữ gìn đất Mẹ. Mấy anh chị em con đã đi với nhau rất vui, con cảm thấy giống như là “ngày xuất sĩ” vậy. Anh chị em ai cũng lắng nghe, quan tâm và yểm trợ nhau hết lòng, có lẽ chỉ vì ai cũng muốn mang lại niềm vui và lợi lạc cho những người cư sĩ đến với mình.

Con xin các sư chị, sư anh “xé nháp” cho con vì con chia sẻ về thiền hành dở quá, thiếu sót nhiều quá! Tuy nhiên, qua từng thời khóa – pháp thoại, ăn trưa im lặng trong chánh niệm, pháp đàm và vấn đáp – những điều mà con thấy mình thiếu sót trước đó dần dần được bổ sung đầy đủ qua sự chia sẻ của các sư anh, sư chị; cuốn hút được các thiền sinh cùng tham gia chia sẻ, thảo luận, rất cởi mở, hào hứng. Trên cả tuyệt vời, phải không thưa Thầy? Đến cuối ngày, những người thiền sinh (đa số là những người mới đến lần đầu) ai cũng vui, cũng nấn ná ở lại để hỏi thêm về các khóa tu, về quý thầy, quý sư cô và tu viện…

Thưa Thầy, Bích Nham đang vào thu. Một mùa được xem là đẹp nhất trong năm, một mùa bình an, mênh mang, thanh thản. Thật khó lòng mà không thương mùa thu, không “bâng khuâng, mơ màng, lãng đãng” trong một mùa đầy trắc ẩn như thế. Lạ lùng chưa, mùa thu dịu dàng, yên ắng, vậy mà ai cũng rộn ràng, xôn xao… Ấy là vì mùa thu nói bằng sắc màu của mình và bằng những cơn gió lạnh len vào trong ngày đó thưa Thầy. Những sắc màu của lá (hay là nắng?) – vàng, đỏ, cam, nâu, hồng,… – đang đổ xuống, rắc ray lả tả từ những ngọn cây, dọc theo các con đường, lối đi hay len lỏi trong rừng. Vẫn biết mùa thu là “mùa lá, mùa gió”, và đã từng gặp gỡ nhiều mùa thu ở Pháp, vậy mà con vẫn ngỡ ngàng trước những sắc lá biến ảo không ngừng từng ngày ở đây. Trong những cơn gió mùa này, mọi người lục tục mang áo ấm ra mặc thêm và tổ chức đi chơi để ngắm mùa thu, để ngồi với nhau và “gom nắng” để dành cho những ngày đông sắp tới. Đại chúng chơi với nhau rất vui, rất ấm cúng, tung tăng như… những chiếc lá vậy.

Có một buổi sáng thức dậy bước ra ngoài con bỗng thấy ánh trăng tràn ngập – dọc theo hành lang trước phòng, trên những tàng cây, những lối đi bên dưới, trên những khu nhà và rừng cây gần xa. Một màu bàng bạc, lấp loáng bao phủ khắp nơi. Con đi đến phòng học, thấy trăng còn “vắt vẻo” ở phía đó như đang đón chờ mình. Trong bầu không khí tịch mịch và trong trẻo không cùng đó, con thấy lòng tĩnh lặng và bình an lạ… Con nhớ bài kệ “Nghe pháp” :

“Nghe pháp trong bản môn

Lá thu rụng đầy trời

Trăng thu đầy lối cũ

Pháp không đầy không vơi.”

Trong buổi khuya mùa thu này, đất trời đang nói những lời trầm hùng, tha thiết và từ bi nhất. “Lối cũ” của Bụt, của Thầy vẫn còn đó, cho ánh trăng đêm nay, và con đứng đây – được phủ đầy, thấm đẫm ánh trăng thu, con có cảm hứng đi ngồi thiền hơn. Vì, đi qua những buổi khuya như vậy đẹp quá! Đôi khi, có thể đi vào, chạm vào những buổi sớm tinh sương – rất đen và rất sâu, trong lành và nguyên sơ – một cách không vội vàng, không hấp tấp, thoát nhiên thật cảm động như đang đi vào, chạm vào một cái gì đó rất yên, rất lặng trong con người mình.

Mùa thu này, đôi khi con chợt nhớ đến ngày xưa, nhớ cái thời còn “hai tay cầm lấy nỗi buồn lơ ngơ xuống phố. Tìm một màu áo len quen. Tìm một chút hé môi cười…” Và bây giờ, nhìn lá bay, thấy lòng, thấy đời đã thanh thản, bình an hơn xưa nhiều… Bây giờ ngắm người mà như ngắm lá… “xôn xao bầy lá nhỏ… miệng ngọt hạt từ tâm…”. Đôi khi, trong lúc say sưa ngắm những sắc lá mùa thu này, con “phát hiện” ra là cây lá mùa nào cũng đẹp chứ không phải chỉ ở mùa này.

Cái đẹp vẫn luôn tràn đầy, rất riêng trong từng phiến lá. Cây lá vẫn bình an, tự tại đi về trong lẽ vô thường, vô ngã không cùng của đất trời. Cây sồi ngoài cửa sổ phòng con đã chuyển sang màu đỏ nâu, rồi rụng rơi dần. Cây sồi đang đi tròn, về tròn theo bốn mùa của trời đất… Thật đẹp! Con biết “bạn đó” vẫn cứ đang vui chơi; rụng xuống chỉ để lớn lên, để “sống” và có mặt. Mùa này, con thấy con cũng giống như lá vậy. Tung tăng, vui chơi, bay lên bay xuống, mà xen vào đó là những khoảng lặng để ngắm nhìn, để thở, để thương, để hiểu, để nhớ về,… Con biết những ngày mùa đông sắp tới sẽ dài và lạnh. Con biết có thể con sẽ rời đây, không biết có quay trở lại và không biết có còn gặp được một mùa thu rực rỡ nào như thế trong đời.

Rồi những ngày đi về cuối mùa thu. Sương mù giăng mắc. Mưa phùn. Những hàng cây mang  im lìm vào tiếng nói. Lá rụng đầy trời nên ngập trong không gian đầy tiếng xao xác của một màu xám bạc. Nhìn rừng cây đang trút lá, tâm cảm của con đôi khi là “buông bỏ”, đôi khi là trân quý, cẩn trọng, nhưng lại cũng có đôi khi mang một chút chấp chới, như tiếc nuối, như muốn níu kéo những sắc màu kia, những rực rỡ kia ở lại. Bây giờ, con thấy mình cũng đang giống một chiếc lá cuối thu. Không còn tung tăng nữa, con đang nằm yên dưới cội cây, lặng nghe mình thở, nghe tiếng đất trời đang thở và trở về với những mạch sống thật sâu, thật kín mà cũng rất bi hùng trong con người mình, để có thể tiếp tục “sống còn” trong mùa giá lạnh dài sắp tới.

Kính bạch Thầy, tạ ơn Thầy đã có mặt và còn đó cho chúng con. Con muốn viết thật nhiều những điều bình an, đẹp đẽ, ấm áp mà con đã có bên Thầy, ở đây, ở đó… nhưng thật không thể viết hết được. Xin dâng lên Thầy một chút lòng con. Con biết là miễn con còn nhớ tu tập, còn sống thật thà, hài hòa, giữ tâm cho lành và hết lòng với chúng thì Thầy và đại chúng vẫn còn đó cho con, thương yêu và nâng đỡ con. Con sẽ cố gắng làm những điều này, thưa Thầy.

Con thương chúc Thầy có thật nhiều niềm vui. Con của Thầy.

 

Tĩnh lặng

Thầy Pháp Thệ là người Pháp, xuất gia tại Làng Mai năm 2009. Thầy học tiếng Việt khi về Làng tu học. Hiện thầy đang tu tập tại tu viện Bích Nham, Mỹ. Bài thơ này được thầy làm bằng tiếng Việt.

 

Hơi thở là gió thu
Làm mát cả đất trời
Vào rồi ra thanh thản
Cho đời đổi dáng mới

Thân này một đoá hoa
Mong manh và quý báu
Hôm nay nở mai tàn
Theo nhịp mưa nhịp nắng
Xúc cảm là dòng sông
Chở tin ta đang sống
Nước lên rồi cũng xuống
Cuộc biểu diễn không ngừng
Cõi lòng bầu trời xanh
Mênh mông lại trống rỗng
Biết ôm chẳng biết giữ
Chim bay trời bất động.

 

Thông điệp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi đến Liên Hiệp Quốc về vấn đề biến đổi khí hậu

Năm 2014, tổ chức Công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC) đã mời Thiền sư Thích Nhất Hạnh, với tư cách một nhà lãnh đạo tâm linh quốc tế, viết một thông điệp ngắn về vấn đề biến đổi khí hậu và về mối liên hệ giữa con người với con người, cũng như giữa con người với trái đất. Thông điệp này đã được đăng trên trang mạng của UNFCCC, trước thềm Hội nghị thượng đỉnh về Biến đổi khí hậu diễn ra tại Paris vào tháng 9 năm 2015. Dưới đây là bản dịch từ nguyên bản tiếng Anh.

 

 

Hành tinh xinh đẹp, rộng lớn và đầy sức sống  mà chúng ta gọi là trái đất, đã sinh ra mỗi người chúng ta và mỗi chúng ta đều mang trái đất trong từng tế bào cơ thể mình.

Ta với trái đất là một

Trái đất là Mẹ của chúng ta. Trái đất nuôi dưỡng và bảo vệ ta từng giây từng phút. Trái đất cho chúng ta không khí để thở, nước trong để uống, thực phẩm để ăn và những cây thuốc hiền lành để ta trị bệnh. Mỗi hơi thở vào của chúng ta đều có chứa khí ni-tơ, khí oxy, hơi nước và những nguyên tố vi lượng của trái đất. Nếu thở có chánh niệm thì ta có thể chứng nghiệm được sự tương tức giữa ta với bầu khí quyển mỏng manh của trái đất, với cây cỏ, và với cả mặt trời, vì nếu không có mặt trời thì sự quang hợp sẽ không thể xảy ra. Với mỗi hơi thở, ta có thể chứng nghiệm được sự dung thông (communion), với mỗi hơi thở ta có thể nếm được những mầu nhiệm của sự sống.

Chúng ta cần thay đổi cách ta suy nghĩ và cách ta nhìn sự vật. Ta cần biết rằng trái đất không chỉ là môi trường sống của ta mà thôi. Trái đất không phải là một thực thể ở ngoài ta. Nếu thở có chánh niệm và quán chiếu hình hài của mình, ta sẽ nhận ra rằng ta là trái đất, ý thức của ta cũng là ý  thức của trái đất. Nhìn chung quanh ta, tất cả những gì ta thấy đều không phải là môi trường của ta mà chính là ta.

Trái đất – Mẹ của muôn loài

Dù thuộc quốc tịch nào, nền văn hóa nào, dù theo tôn giáo nào – Phật tử, tín đồ Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Do Thái giáo hay người theo chủ nghĩa vô thần – thì ta cũng có thể thấy trái đất không phải là một vật vô tri. Trái đất đã cho ra đời nhiều vị Bụt, Bồ tát, những nhà tiên tri, những vị thánh, những người con trai, con gái của Thượng Đế và loài người. Trái đất là một bà mẹ đã nuôi dưỡng, bảo vệ mọi người và mọi loài với một tình thương không phân biệt, không kỳ thị.

Khi nhận ra rằng trái đất không chỉ là môi trường, chúng ta sẽ thấy cần phải bảo vệ trái đất như là bảo vệ chính mình. Đó là một sự tỉnh thức, một sự giác ngộ mà ta cần phải có. Tương lai của hành tinh này tùy thuộc vào khả năng chúng ta có thể nuôi lớn tuệ giác đó hay không. Trái đất và các chủng loại sống trên đó đang ở trong tình trạng nguy hiểm thật sự. Nếu xây dựng được mối liên hệ sâu sắc với trái đất thì ta sẽ có tình thương, có sức mạnh và tuệ giác để thay đổi lối sống của mình.

Tình yêu dành cho trái đất

Ai trong chúng ta cũng đều có thể kinh nghiệm được cái cảm giác đầy kính ngưỡng và thương yêu khi ta thấy được vẻ đẹp, sự hài hòa và thanh tú của trái đất. Chỉ cần nhìn vào một cánh hoa anh đào, một chiếc vỏ ốc hay một con dơi là có thể thấy được tính sáng tạo tuyệt vời của đất Mẹ. Những tiến bộ về khoa học kỹ thuật giúp chúng ta thấy được thêm những mầu nhiệm của trái đất, vì vậy mà càng thêm khâm phục và thương yêu hành tinh kỳ diệu này. Khi chúng ta đã thật sự thấy và hiểu được trái đất thì tình thương sẽ ứa ra trong trái tim ta. Ta cảm thấy kết nối, gắn bó mật thiết với đất Mẹ. Đó là ý nghĩa của tình yêu: ta trở thành một với đối tượng thương yêu.

Chỉ khi nào ta yêu đất Mẹ thật sự thì hành động của ta mới phát xuất từ sự tôn kính và từ tuệ giác tương tức. Hiện nay rất nhiều người đang đánh mất liên hệ với đất Mẹ. Chúng ta bị lạc lối, xa cách và cô đơn. Chúng ta làm việc quá nhiều. Đời sống của ta quá bận rộn. Tâm ta trở nên bất an, tán loạn và ta đánh mất mình trong sự tiêu thụ. Nhưng đất Mẹ luôn có mặt đó cho ta, hiến tặng cho ta những thứ cần thiết cho sự nuôi dưỡng và trị liệu: những hạt ngũ cốc mầu nhiệm, những dòng nước mát trong, những cánh rừng thơm ngát, những đỉnh núi tuyết hùng vĩ và tiếng chim hót tươi vui của buổi bình minh.

Hạnh phúc chân thật được làm bởi tình thương

Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng cần phải có nhiều tiền hơn, nhiều quyền lực hơn, nhiều địa vị hơn thì mới có thể hạnh phúc. Chúng ta quá bận rộn chạy theo tiền bạc, uy quyền và địa vị nên thờ ơ trước những điều kiện hạnh phúc đang có mặt đó cho ta. Đồng thời chúng ta tự đánh mất mình trong sự mua sắm và tiêu thụ những thứ không cần thiết, tạo thêm áp lực đè nặng lên thân thể của chúng ta và trái đất. Trong khi đó, phần lớn những gì ta ăn, ta uống, ta xem hay ta nghe là những thứ độc hại. Nó làm cho thân tâm ta bị ô nhiễm bởi bạo động, giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng. 

Cũng như môi trường vật lý bị ô nhiễm không khí, môi trường nhân loại cũng đang bị ô nhiễm tâm linh với bầu không khí độc hại do cách tiêu thụ của chúng ta tạo ra. Chúng ta cần tiêu  thụ như thế nào để có thể duy trì được bình an và hạnh phúc trong tự thân. Chỉ khi nào loài người chúng ta có một nếp sống bền vững thì nền văn minh của nhân loại mới có thể bền vững được.

Hạnh phúc có thể có được bây giờ và ở đây. Chúng ta không cần phải tiêu thụ thật nhiều mới có thể hạnh phúc. Thật ra ta có thể sống rất giản dị. Nếu có chánh niệm thì mỗi giây phút đều có thể trở thành một giây phút hạnh phúc. Thưởng thức một hơi thở, cho phép mình dừng lại để ngắm bầu trời xanh, thưởng thức trọn vẹn sự có mặt của một người thương, chỉ như vậy thôi cũng đã quá đủ để cho ta hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta cần phải trở về để kết nối lại với chính mình, với những người thương của mình và với trái đất. Tiền bạc, uy quyền và sự tiêu thụ không cho ta hạnh phúc, mà ta chỉ có hạnh phúc thực sự khi trong trái tim ta tràn đầy tình thương và sự hiểu biết.

Chiếc bánh mì trong tay ta chứa đựng cả vũ trụ

Chúng ta phải tiêu thụ như thế nào để nuôi dưỡng lòng từ bi trong ta. Hiện nay nhiều người trong chúng ta đang tiêu thụ một cách rất bạo động. Những khu rừng đang bị tàn phá để làm đồng cỏ nuôi gia súc lấy thịt hay để trồng ngũ cốc làm rượu, trong khi hàng triệu người trên thế giới đang chết đói. Nếu ta giảm ăn thịt và uống rượu xuống 50% thì đó là một hành động thương  yêu, thương yêu chính mình, thương yêu trái đất và những loài khác. Ăn với lòng từ bi có thể giúp làm thay đổi tình trạng mà hành tinh của ta đang lâm vào và thiết lập lại sự cân bằng cho chúng ta và cho trái đất.

Không có gì quan trọng hơn tình huynh đệ

Cần phải có một cuộc cách mạng và cuộc cách mạng đó cần bắt đầu từ chính trong mỗi người chúng ta. Chúng ta phải thức tỉnh và thương yêu trái đất. Chúng ta đã là homo sapiens (con người có trí tuệ) trong một thời gian dài, bây giờ đã tới lúc chúng ta phải trở thành homo conscious (con người có ý thức, có chánh niệm). Tình thương và sự kính phục đối với trái đất có sức mạnh gắn  kết chúng ta lại với nhau, lấy đi những biên giới, những chia cách và kỳ thị. Những thế kỷ của chủ nghĩa cá nhân và cạnh tranh đã gây ra sự tàn phá và chia cách rất lớn. Chúng ta cần tái lập sự truyền thông thật sự với chính mình, với đất Mẹ và với những chủng loại khác trên hành tinh này với tư cách là những đứa con cùng chung một mẹ. Chúng ta cần phát minh ra nhiều kỹ thuật tân tiến hơn để bảo vệ hành tinh này. Chúng ta cần những cộng đồng thật sự và cần sự hợp tác với nhau.

Tất cả các nền văn minh đều vô thường và phải tàn hoại một ngày nào đó. Nhưng nếu chúng ta vẫn tiếp tục đi theo lối sống như hiện nay thì văn minh nhân loại sẽ bị hủy diệt sớm hơn là ta nghĩ. Trái  đất có thể sẽ cần vài triệu năm để trị liệu,  để lấy lại sự cân bằng và phục hồi lại vẻ đẹp của mình. Trái đất có khả năng phục hồi, nhưng loài người chúng ta và những chủng loại khác sẽ biến mất cho tới khi trái đất tạo ra đủ những điều kiện để đưa chúng ta trở lại dưới những hình thức mới. Khi ta chấp nhận được sự vô thường của nền văn minh nhân loại một cách bình an thì ta sẽ thoát khỏi sự sợ hãi. Lúc đó ta mới có sức mạnh, tuệ giác và tình thương để đoàn kết lại với nhau. Trân quí và thương yêu trái đất, đó không phải là bổn phận, mà là vấn đề hạnh phúc cũng như sự sống còn của cá nhân và của mọi người trên hành tinh này.

(Nguồn: http://plumvillage.org/letters-from-thay/ thich-nhat-hanhs-statement-on-climate-change- for-unfccc/)

Một vốc niềm vui

 
Bạn cười sớm nay chưa
Sao giăng giữa bao la
Lòng trời thênh thang quá
Mở tung cả lòng ta
 
Bạn cười sáng nay chưa
Sương mù dưới hiên hoa
Trà sen mình đang uống
Là hương quê bay xa
 
Bạn cười trưa nay chưa
Lá rừng đang múa ca
Giữa trùng trùng nắng gió
Muôn vẻ một nếp nhà
 
Bạn cười chiều nay chưa
Mây giăng đỉnh núi xa
Hoàng hôn vàng đồng cỏ
Một cõi mấy sơn hà
 
Bạn cười tối nay chưa
Tiếng chuông trầm ngân nga
Trăng non bên hiên vắng
Rạng rỡ nụ cười hòa
 
Bạn cười khuya nay chưa
Mưa rừng như sông sa
Đến đi trong khoảnh khắc
Hiên ngoài ta có ta.

Vị “anh hùng ẩn danh” đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

 
Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.
 
Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua của 196 quốc gia.
 
Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Nhất Hạnh.)
 
Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.
 
“Tôi cần có một cái gì đó ngay đây, trong tầm tay, để nương vào nếu không tôi không thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không thể có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần có một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy” – Figueres chia sẻ với tờ The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sỹ.
 
Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?
 
Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbroel, Đức. Nơi đây đã từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân này và biến nơi đây thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).  
 
Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.
 
“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim cho mỗi bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”- Figueres chia sẻ tiếp.
 
“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”
 
Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi đã thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.
 
Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 
“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.
 
Ngày nay Tăng thân đã tới, Tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.
 
Xin hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”
 

 
Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.
 
Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy- vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.
 
Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Silicon Valley và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, giám đốc điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.
 
Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do để cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.
 
Nguồn:

Tình thương nuôi lớn ước mơ

 

Tình thương nuôi lớn ước mơ

Đem Heartforce đến Dreamforce

 

Tám giờ sáng thứ Ba, tại một ngã tư trung tâm thành phố San Francisco mà thường ngày xe cộ tấp nập, hai mươi lăm quý thầy và sư cô Làng Mai đang đứng thành vòng tròn và hát thiền ca trước một trong những tòa thị sảnh lớn nhất của thành phố San Francisco. Cả một khu phố đã được chặn lại để làm nơi diễn ra hội nghị Dreamforce, một hội nghị công nghệ thường niên lớn nhất của thành phố do công ty Salesforce tổ chức. Với sự tò mò pha chút ngại ngần, một số doanh nhân bắt đầu đến và tham gia cùng quý thầy, quý sư cô. Ai cũng có ly cà phê và điện thoại di động trên tay.

Sau một vài bài thiền ca, thầy Pháp Triển chia sẻ cách đi trong chánh niệm với những người đến sớm, những người đã biết trước là sẽ có thiền tập trong chương trình hội nghị. Rồi vòng tròn mở ra và đoàn thiền hành do quý thầy, quý sư cô dẫn đầu đi im lặng và chậm rãi ngang qua khuôn viên của hội nghị như một con rắn khổng lồ đang từ từ trườn đi với tốc độ của một con ốc sên. Trên đường đi, nhiều người nhập vào đoàn, dù vẫn còn đang mặc đồ công sở với giày cao gót hoặc giày da bóng loáng. Những người hướng dẫn và nhân viên bảo vệ đang đứng rải rác khắp nơi trong khuôn viên hội nghị đưa mắt nhìn nhóm người đầu tròn áo nâu đang dẫn đầu đoàn thiền hành rồi thì thầm với nhau một cách lo ngại “Chắc mấy người này là dân ghiền ma túy? Hay đây là một sô trình diễn?”. Một thầy nghe được mấy câu trao đổi đó liền giải đáp thắc mắc pha chút khôi hài: “Các bạn đang tự hỏi cái gì đang xảy ra phải không? Mấy người này không phải là đang bị thuốc hành đâu. Họ đang thực tập chánh niệm đấy.”

“Đó là cái gì vậy? Có phải là một trạng thái xuất thần không?”

“Không, không hẳn vậy. Chúng tôi bày cho họ cách làm sao để chậm lại.”

“Chậm lại… À, tôi hiểu rồi. Có thể cho tôi một chút cái đó được không? Tôi cũng cần chậm lại đây.”

“Không, cái đó không phải là thuốc viên có sẵn để uống đâu, mà đó là sự trải nghiệm với bước chân, với những bước đi vội vã. Anh muốn thử không?”

“Không được, tôi đang làm nhiệm vụ mà.”

Ba tháng trước, buổi sáng ngay sau vụ tấn công khủng bố tại Nice trong ngày kỷ niệm phá ngục Bastille (Bastille Day), sư cô Chân Không nhận được một email từ Marc Benioff, Tổng Giám  đốc của Salesforce. Trong email, ông chia buồn về sự việc đáng tiếc đó và lập lại lời mời tăng đoàn Làng Mai đến dự hội nghị của công ty ở San Francisco. Ông nói rằng thế giới đang cần gặp gỡ quý thầy, quý sư cô để mọi người có thể học hỏi cách cùng nhau trị liệu. Ông muốn những người chưa bao giờ được gặp quý thầy, quý sư cô có một cơ hội; đó có thể là cơ hội duy nhất trong đời họ được tiếp xúc với những người xuất gia thật sự.

Hội nghị thường niên Dreamforce diễn ra trong bốn ngày, từ ngày 4 đến ngày 7 tháng 10 năm 2016, dành cho giới kinh doanh trong lĩnh vực công nghệ. Ngày cuối cùng của hội nghị được dành riêng cho đề tài Từ bi trong kinh doanh. Đây là hội nghị lớn nhất trên thế giới về lĩnh vực này. Marc muốn 170 ngàn doanh nhân đến dự hội nghị Dreamforce được trải qua kinh nghiệm mà ông đã có – tiếp xúc với tăng thân Làng Mai và học hỏi về phương pháp thực tập chánh niệm. Ước muốn chân thành đó của ông đã làm sư cô Chân Không và tất cả mọi người trong tăng thân vô cùng xúc động. Nhờ vậy mà các nhân duyên đã được hội tụ đầy đủ để cho hai mươi lăm xuất sĩ từ nhiều trung tâm khác nhau của Làng Mai ở khắp nơi có mặt tại hội nghị. Cả sư cô Chân Đức và thầy Pháp Ấn từ Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) cũng bay sang tham dự.

Marc Benioff là một nhà hảo tâm, đồng thời cũng là Tổng giám đốc của Salesforce – một trong những công ty kinh doanh phần mềm lớn nhất thế giới hiện nay. Marc gặp Thầy Làng Mai lần đầu vào tháng 10 năm 2013 tại một sinh hoạt dành cho ba mươi tổng giám đốc của Silicon Valley được tổ chức tại nhà riêng của ông ở San Francisco.

Trong buổi sinh hoạt ngắn ngủi vào buổi chiều hôm đó, Thầy đã đề nghị các tổng giám đốc nên “làm cho doanh nghiệp trở thành một gia đình”. Thầy nói: “Mục đích của công việc làm ăn không nên chỉ là tiền bạc mà còn phải có lòng từ bi – từ bi cho công nhân viên, cho khách hàng, và cho cả hành tinh của chúng ta nữa”. Thầy đề nghị họ nên “ngồi xuống để lắng nghe những khổ đau của nhân viên”. Và cuối cùng Thầy thách thức các vị Tổng giám đốc với một câu nói: “Các ông phải chọn lựa, hoặc làm người thành công nhất, hoặc làm một người hạnh phúc” (You have to choose, between being number one, or being happy).

Hạt giống nhỏ bé ấy, nhờ được chăm sóc giữ gìn, đã đơm hoa kết trái một cách không ngờ. Marc và nhiều người có cùng tâm huyết như ông bắt đầu đem sự thực tập chánh niệm vào môi trường làm việc, và làm cho văn hóa công ty của họ thay đổi. Sự thực tập chánh niệm không những giúp nhân viên trong công ty giảm căng thẳng để hoàn thành công việc mà còn mang lại cho công ty của họ không khí của một gia đình, một cộng đồng đầy bình an và hạnh phúc.

Thấy được tâm nguyện chân thành của Marc trong việc chuyển hóa văn hóa công ty, Thầy khuyến khích chúng tôi tiếp tục giữ liên lạc với những doanh nhân này. Tâm nguyện của Marc đã được chứng minh qua câu nói của ông: “Nhiệm vụ của các doanh nghiệp là làm cho thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn”. Năm 2015, tăng đoàn Làng Mai đã hướng dẫn một ngày tu chánh niệm cho Salesforce và đề xướng việc thiết lập những khu vực thực tập chánh niệm (mindfulness zones) trong các văn phòng làm việc của công   ty này. Chúng tôi đã rất ấn tượng vì chỉ một năm sau, năm 2016, Marc đã biến lời đề nghị đó thành sự thật. Trong mỗi tòa nhà của công ty Salesforce đều đã có một khu vực chánh niệm. Và giờ đây, tại hội nghị Dreamforce, Marc cũng cố gắng kết hợp để thực hiện ý tưởng này trong ngày cuối với chủ đề “Từ bi trong kinh doanh”.

Chúng tôi rất ngạc nhiên khi biết mình có toàn quyền trong việc tổ chức, sắp xếp  cách  thức chia sẻ pháp môn chánh niệm tại hội nghị. Ban  tổ chức đã thiết kế hai khu vực chánh niệm nằm ngay giữa trung tâm khuôn viên để bảo đảm ai cũng có cơ hội được tiếp xúc với quý thầy, quý sư cô trong suốt bốn ngày của hội nghị. Mỗi buổi sáng, chương trình của chúng tôi bắt đầu bằng thiền hành, tiếp đó là thiền tọa có hướng dẫn và một bài pháp thoại ngắn, kết thúc bằng một thời vấn đáp; đây là những hoạt động trong nhà. Thời gian còn lại của buổi sáng chúng tôi hiến tặng sự có mặt của mình tại khu thực tập chánh niệm ngoài trời, đây là nơi mà mọi người có thể đến để học hỏi về các phương pháp thực tập. Ngồi xung quanh mỗi thầy hay sư cô là một nhóm nhỏ bao gồm các doanh nhân đang háo hức tìm hiểu về  sự thực tập chánh niệm. Họ phải cố gắng hết sức để nghe những lời hướng dẫn của quý thầy, quý sư cô, trong tiếng ồn của một ban nhạc đang chơi gần đó.

Sư cô Hiến Nghiêm đóng vai trò của một người tiếp đón. Sư cô trả lời những câu hỏi sơ bộ rồi căn cứ vào câu hỏi chính và lượng thời gian mà họ có, hướng dẫn họ đến gia nhập một trong các nhóm trong khu thực tập chánh niệm. Ai cũng nói: “Tôi chỉ có năm phút thôi”, và sư cô luôn trả lời: “Không thành vấn đề, bao nhiêu đó cũng quá đủ để quý vị tìm hiểu những điều cần biết về chánh niệm”, dù biết quá rõ là họ sẽ bị thu hút ít nhất là hai mươi phút. Thậm chí có vài người còn ở lại cả hơn hai giờ đồng hồ, và cuộc tham vấn của họ đã chấm dứt bằng thiền ôm, bằng nước mắt, và thậm chí có khi còn bằng một bài tập khí công do thầy Pháp Ấn hướng dẫn riêng.

Thật thú vị khi thấy cảnh tượng mười hai vị xuất sĩ, mỗi vị có một nhóm nhỏ vây quanh, và ai cũng đều có khả năng đáp ứng một cách thật chính xác nhu cầu cấp thiết của những người trong nhóm. Nhờ đó, chúng tôi thấy được lợi ích của sự rèn luyện làm việc chung như một tăng thân và việc thực tập những pháp môn đáp ứng được nhu yếu thực tiễn của đời sống. Từ thầy Pháp Hợp là vị trẻ nhất đến sư cô Chân Không là vị lớn nhất trong đoàn, không ai là không nhận ra sự rèn luyện và tu tập trong tu viện – như sự thực tập tiếp xúc và chăm sóc khổ đau trong tự thân, cũng như chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc – đã giúp chúng tôi dễ dàng giúp người khác cởi bỏ được nội kết trong lòng. Bất cứ một khổ đau nào mà chúng tôi đã vượt qua đều trở thành một bông hoa để chúng tôi có thể hiến tặng cho người khác. Chúng tôi cảm thấy rất được khích lệ và có nhiều cảm hứng khi thấy chỉ trong một thời tham vấn ngắn ngủi mà quý thầy, quý sư cô đã có thể đem chánh pháp đến làm vơi nỗi khổ của người khác một cách thật hiệu quả. Chúng tôi nhớ đến câu “Sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” và thấy lòng mình tràn ngập niềm biết ơn đối với Thầy và với tăng thân.

Trong khi một số vị cho tham vấn thì cùng lúc đó, một nhóm quý thầy quý sư cô được phân công đi thiền hành trong khuôn viên hội nghị, thỉnh thoảng dừng lại cho mọi người có cơ hội được tiếp xúc và đặt câu hỏi. Ngày nào hai thầy Pháp Triển và Trời Ngộ Không cũng xung phong vào vai trò này. Không hiểu bằng cách nào hai thầy đã thu thập rất nhiều món quà miễn phí và một bộ huy hiệu đủ loại rất ấn tượng. Cứ hai ba mét, hai thầy lại phải dừng lại để trả lời cho những doanh nhân hiếu kỳ là tại sao những người xuất sĩ lại có mặt trong một hội nghị dành cho giới doanh thương như vậy. Đồng thời hai thầy cũng chỉ đường cho mọi người đến các khu chánh niệm để tìm hiểu thêm.

Một số vị chuyên hướng dẫn thực tập chánh niệm (lay mindfulness instructors) cũng cống hiến các buổi sinh hoạt chuyên đề vào những thời gian khác trong ngày. Nhưng nhiều người đã phản hồi là sự có mặt của quý thầy, quý sư cô trong hình tướng người tu, năng lượng của tăng đoàn, sự hòa điệu trong khi làm việc và giảng dạy như một tăng thân đã làm cho họ rất ấn tượng.

Hội nghị rất xôn xao, căng thẳng và ồn ào, nhưng mỗi khi chúng tôi cùng đi chung với nhau là tự nhiên có một vùng năng lượng tập thể làm chúng tôi cảm thấy được bảo hộ và thảnh thơi. Đi chung và giữ khoảng cách gần nhau giúp cho bước chân chúng tôi có chánh niệm hơn và hơi thở cũng nhẹ nhàng tự nhiên hơn. Khi có ai đó bị tách ra và lạc vào đám đông, chúng tôi lập tức thấy mình trở nên lạc lõng, và phải cố gắng hơn để giữ sự tập trung. Nhiệm vụ chính của chúng tôi là chia sẻ về pháp môn thực tập chánh niệm, nhưng sự có mặt của tăng đoàn đông đảo đã đem lại một không khí vui vẻ, tự nhiên và nhẹ nhàng cho hội nghị. Chúng tôi chính là những kẻ vô sự đúng nghĩa, không có chương trình nghị sự nào cả. Chỉ có mặt mà thôi. Chỉ cần đi không hối hả, nhìn vào mắt của mọi người và mỉm cười. Bao nhiêu đó đã là một sự trao truyền. Chúng tôi cảm nhận mọi người xung quanh đã có sự chậm lại, có nhiều người đã dừng lại để mỉm cười với chúng tôi.

Vào ngày thứ ba của hội nghị, Marc đến khu vực chánh niệm thăm chúng tôi, theo sau là cả một đoàn tùy tùng hơn bốn mươi người bao gồm các nhà báo, trợ lý và cộng sự. Ông đang chuẩn bị có một cuộc phỏng vấn nhưng muốn ghé thăm và trò chuyện với chúng tôi. Dự định chỉ ghé thăm một chút nhưng ông đã ngồi lại cả ba mươi phút để đàm luận về sự cống hiến của Làng Mai cho thế giới. Ông đã khéo léo chuyển các câu hỏi của nhà báo về cho quý thầy, quý sư cô. Kết quả là sau này có rất nhiều bài báo đã ra đời dựa trên các chia sẻ đó. Ông muốn tiếng nói của quý thầy, quý sư cô được lắng nghe và sự có mặt của tăng đoàn có một ảnh hưởng sâu rộng. Ông muốn những người đến tham gia hội nghị biết đến tầm ảnh hưởng mà sự thực tập chánh niệm có thể tạo ra cho giới doanh thương và các tập đoàn lớn.

Có một khoảnh khắc rất dễ thương đã diễn ra giữa Marc và sư cô Chân Không. Đó là lúc Marc đến ngồi cạnh sư cô trò chuyện rất vui vẻ, thoải mái. Những trợ lý của Marc càng lúc càng trở nên căng thẳng. Marc cứ tỉnh như không, nói rằng ông có một câu hỏi rất quan trọng cho sư cô. Mọi người tò mò không biết câu hỏi gì mà quan trọng như thế. Ai cũng nín thở, các nhà báo nghiêng người tới trước, rất tập trung, tay cầm sẵn sổ ghi chép, máy ghi hình và ghi âm sẵn sàng. Và Marc hỏi sư cô một cách rất nghiêm trang: “Sư cô có thích loại kem vị cà phê Việt Nam mà tôi mua cho sư cô không?

Đỉnh điểm của hội nghị là ngày có chuyên đề “Từ bi trong kinh doanh”. Hôm đó chúng tôi cùng những vị khách mời khác lên sân khấu để trình bày bài thuyết trình chính của hội nghị. Mỗi bài nói – giới hạn trong bốn mươi lăm phút – sẽ được đưa lên mạng trực tuyến cho bảy mươi ngàn người xem, trong đó có hai ngàn người hiện diện trong khán phòng. Thử thách của chúng tôi là dùng bốn mươi lăm phút đó để chuyển tải sự có mặt đích thực của Thầy và hiến tặng cho mọi người những trải nghiệm thực sự về lòng từ bi. Trong khi chuẩn bị cho bài thuyết trình, chúng tôi nhận ra là mình chưa bao giờ làm cái gì tương tự với một thời gian ngắn kỷ lục như thế.

Trước giờ thuyết trình, chúng tôi không chắc là mình có thể thực hiện được điều ấy trong thời gian cho phép trong khi bị bao vây bởi tám máy quay phim di động và hai mươi màn hình phẳng khổng lồ. Khi đến lượt mình, chúng tôi lần lượt đi lên làm hai hàng, giống như trong một buổi ăn cơm quá đường. Chúng tôi đã sử dụng năm phút trong bốn mươi lăm phút quý giá ấy, chỉ để đi lên sân khấu. Năm phút đó đã kéo dài thành khoảnh khắc thiên thu.

Lên đến sân khấu, chúng tôi ngồi xuống chỗ của mình, rồi sư cô Chân Không chia sẻ về kinh nghiệm gieo trồng hạt giống từ bi của sư cô từ chiến tranh Việt Nam cho đến thảm họa tại Nice. Sư cô cũng kết hợp chia sẻ về thiền từ bi (Metta meditation) như là một giọt nước cam lồ để đối trị với sợ hãi. Năng lượng và đức độ của sư cô – trải qua bao năm tháng tu tập và phụng sự, chăm sóc cho những người nghèo, lân mẫn cho những người đau khổ – đã đánh động trái tim của mọi người trong hội nghị. Cuộc đời của sư cô đã trở thành một thông điệp và điều đó khiến cho chúng tôi tràn ngập lòng biết ơn.

Sau đó, chúng tôi đứng lên để trì niệm hồng danh của Bồ tát Quán Thế Âm bằng tiếng Phạn, có thầy Pháp Ấn ngồi chuông. Chúng tôi cảm nhận rõ ràng năng lượng và nụ cười của Thầy trong giây phút ấy. Cùng với nhau, chúng tôi đã trì tụng thật hết lòng, tiếp xúc với khổ đau trong tự thân, chế tác từ bi cho chính mình, cho mọi người trong hội nghị, và cho toàn thế giới, nhất là những vùng chiến tranh, bạo động, cho thảm họa kinh hoàng ở Nice, cho hàng triệu triệu con cá và các loài sinh vật đã chết vì ô nhiễm môi trường ở vùng biển miền Trung Việt Nam.

Sau khi niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm, thầy Pháp Dung đã cho một thời pháp thoại. Thầy nhắc rằng trên thương trường thì chúng tôi – đại diện tăng đoàn xuất sĩ của Bụt – thuộc về một công ty xưa nhất trên thế giới, công ty bắt đầu từ hơn 2600 năm về trước: một công ty không chuyên về lợi nhuận, mà chuyên về tình thương. Thầy nói rằng hai sản phẩm và dịch vụ chính của công ty chúng tôi là cách làm vơi bớt khổ đau và cách chế tác hạnh phúc. Thầy mời các doanh nhân trở thành đối tác của công ty chúng tôi, và giới thiệu danh từ “Heartforce” (Sức mạnh của trái tim) để mô tả công ty tâm linh của mình.

Chúng tôi thấy mình đã hoàn thành những gì   mà mình cần làm để vinh danh Thầy Tổ và đó cũng chính là một món quà mà chúng tôi dâng lên Thầy. Chúng tôi đã một lần nữa cùng nhau  đi như một tăng thân, như một cơ thể  sống. Ngay sau khi rời khỏi hội nghị, chúng tôi đến một quảng trường gần đó để hướng dẫn một thời ngồi thiền công cộng (flashmob  sitting meditation). Có khoảng hai trăm thành viên của tăng thân địa phương và năm mươi người từ hội nghị đến tham gia. Chúng tôi ngồi thành một vòng tròn lớn, và những người đi ngang bắt đầu ghé lại cùng ngồi. Những người làm việc trong các văn phòng trên những tòa cao ốc gần đó nhìn xuống với vẻ ngạc nhiên. Những người ngồi một mình trên các băng ghế công viên, thông thường lúc nào cũng cầm điện thoại di động trên tay, bỗng dưng thấy mình bị lọt giữa một sinh hoạt công cộng có năng lượng rất bình an, vui tươi. Có thể thấy khuôn mặt của họ từ từ dịu lại, thậm chí còn có một nụ cười nhẹ trên môi. Sự mầu nhiệm của thực tập ngồi thiền nơi công cộng là việc sử dụng những nơi ấy để chuyển tải năng lượng bình an, niềm vui và tình huynh đệ. Sau thời ngồi thiền, các bạn trong ban tổ chức bỗng nhận ra là quý thầy quý sư cô sẽ ra về trong chốc lát, thế là họ bắt đầu khóc. Suốt một tuần qua, các bạn đã chăm sóc chúng tôi từng li từng tí, từ việc bảo đảm cho quý thầy quý sư cô có mặt đúng nơi đúng lúc, lo thức ăn, chỗ nghỉ ngơi cho đến việc bảo đảm không ai bị trễ xe buýt. Trước khi chúng tôi rời khỏi, các bạn đã tìm đến từng thầy, từng sư cô để thiền ôm tạm biệt.

Chúng tôi rất ngạc nhiên  khi  thấy  rất  nhiều  tấm lòng hảo tâm và thiện chí trong hội nghị.   Có không biết bao nhiêu đề tài về công tác từ thiện đã được đề cập đến trong suốt thời gian ở đây. Chúng tôi cũng thấy sự hiện diện của rất nhiều cơ quan phi lợi nhuận, làm việc từ thiện dưới sự yểm trợ của Marc và chi nhánh phi lợi nhuận của công ty Salesforce. Được biết  hội nghị đã giúp quyên góp được bốn triệu đô la để giúp ngăn chặn sự lây lan của vi-rút HIV.

Cái làm chúng tôi ấn tượng nhất là buổi chia sẻ đặc biệt gần cuối hội nghị. Đây là một buổi chia sẻ nội bộ để Marc gặp gỡ mấy trăm nhân viên trong công ty. Ông ngồi trên sân khấu lắng nghe những phản hồi của nhân viên về công ty trong năm vừa qua. Chúng tôi biết mình đang chứng kiến một sự kiện rất đặc biệt. Marc thực tập lắng nghe nỗi khổ niềm đau của họ một cách sâu sắc, với một sự cởi mở chân thành và một mối quan tâm thực sự đối với những đề nghị của nhân viên mình. Chúng tôi không chắc là sự lắng nghe ấy có liên quan đến giáo lý của Thầy, nhưng có vẻ là Marc đã làm theo gợi ý của Thầy, đã có khả năng chia sẻ nỗi khổ niềm đau của chính ông với nhân viên cũng như lắng nghe nỗi khổ niềm đau của họ. Ông cũng bày tỏ ước muốn biến công ty thành một gia đình.

Nhân viên của ông rất xúc động bởi sự cởi mở và dễ tiếp xúc của Marc. Có người đã khóc, nói rằng trong thế giới kinh doanh, ông chính là một huyền thoại, một nhân vật hiếm hoi – họ không thể tin là ông đang thực sự làm những gì ông nói: ông đang thật sự lắng nghe.

Lúc ban đầu, một vài người trong chúng tôi có chút lo ngại về việc tham gia hội nghị. Nhưng sau khi hội nghị hoàn mãn, những vị này cho biết là tri giác của mình về thế giới doanh thương bây giờ đã thay đổi. Chúng tôi đã thực sự tiếp xúc với nỗi khổ niềm đau của giới doanh nhân, cũng như với tình người và khát khao chính đáng trong việc tìm ra một lối sống và cách làm việc khác hơn lối thông thường của họ.

Trước khi đến hội nghị, chúng tôi ý thức rất rõ ràng về câu hỏi liên quan đến vai trò của chánh niệm trong kinh doanh; chúng ta có thật sự nên dạy cho doanh nhân phương pháp thực tập chánh niệm để giúp họ thành công hơn trên thương trường hay không? Nhưng chúng tôi đã có kinh nghiệm là một khi mình có thể thực sự giúp mọi người có chánh niệm hơn về sự căng thẳng, sự lo sợ và khổ đau của chính họ, thì tự nhiên lòng từ bi cho chính tự thân sẽ khiến cho họ phát khởi tâm từ bi cho gia đình, cho nơi làm việc và cho thế giới. Qua những thực tập căn bản, mọi người có thể cho phép mình được nghỉ ngơi, thư giãn, tìm lại sự cân bằng cho thân và tâm, nhờ thế họ có thể sống trong hiện tại hơn là sống cho tương lai hoặc sống trong quá khứ.

Sự hiện diện của chúng tôi tại hội nghị chính là một bằng chứng cho thấy sức mạnh của những hạt giống mà Thầy đã gieo – vào năm 2013 – với nhiều tình thương trong tâm của ít nhất một doanh nhân, người đã toàn tâm toàn ý tìm cách chia sẻ những lời Thầy dạy cho biết bao người. Ý thức này giúp chúng tôi tiếp tục cố gắng đem sự thực tập đến cho giới doanh thương – gieo trồng hạt giống của hiểu và thương. Ngày nay, khi thế giới bị toàn cầu hóa, kỹ nghệ hóa và quân đội hóa, nhu cầu tâm linh lại càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Chúng ta biết cách thức làm ăn của các tập đoàn, của các chính phủ và của xã hội ngày nay đã tạo ra rất nhiều đau khổ. Rất nhiều căn bệnh của thời đại – như chiến tranh, xung đột xã hội, biến đổi khí hậu và những thảm họa môi trường – là hậu quả của việc tranh giành quyền lực và lợi nhuận. Những căn bệnh này có gốc rễ sâu xa từ sự bất an và bất mãn với chính bản thân cũng như với thế giới. Và do đó, chúng ta đã bị dẫn dắt một cách sai lầm trong khi tìm kiếm một cái gì đó để bù đắp cho sự thiếu thốn đó trong chính mình.

Chúng tôi không biết tương lai sẽ như thế nào, nhưng với sự chừng mực và quân bình của cuộc sống tăng thân, chúng tôi tin rằng mình đang đi đúng hướng. Sống theo mô thức tập thể trong tăng thân, chúng tôi có thể tiết chế, duy trì và được bảo hộ để không bị quyền lực, danh lợi và thành công cuốn đi. Và đây chính là dụng cụ giúp chúng tôi tiếp nối Thầy trong sự nghiệp gieo trồng tưới tẩm hạt giống của hiểu và thương trong giới doanh nhân.

Thủy chung vẫn một niềm thương

Sư cô Chân Đức là một trong những đệ tử xuất gia đầu tiên của Sư Ông Làng Mai. Sư cô đã được Sư Ông thế phát và truyền giới lớn năm 1988 tại núi Linh Thứu, Ấn Độ. Là người Anh nhưng sư cô nói tiếng Việt rất giỏi và là một sư chị lớn sống hiền hòa, tươi mát, vững chãi trong tăng thân. Từ năm 2008, sư cô đã đến Đức, cùng tăng thân thành lập Viện Phật học Ứng dụng châu Âu. Hiện nay, sư cô đang tiếp tục chăm sóc giảng dạy cho chúng xuất sĩ và cư sĩ tại trung tâm này. (Bài phỏng vấn được chuyển ngữ từ tiếng Anh).

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã bắt đầu cuộc hành trình tâm linh của mình như thế nào?

Sư cô Chân Đức: Cuộc hành trình tâm linh của Chân Đức (CĐ) bắt đầu từ Chúa Jesus. CĐ nhớ có một lần CĐ đến tham quan nhà thờ Thánh Sepulchre ở Jerusalem trong lúc các giáo phái Công giáo đang tranh giành nhau ngôi nhà thờ đó. Bỗng nhiên CĐ thấy Chúa Jesus. CĐ rất ngạc nhiên. Ngài không giống như trong hình CĐ thường thấy trong Thánh Kinh. Ngài đang cười và rất khỏe mạnh. CĐ băn khoăn không biết tại sao Ngài lại cười. CĐ nghĩ có lẽ Ngài đến thế gian này để đem lại bình an và hòa giải, mà ở đây những giáo phái đại diện cho Ngài lại không thể sống chung hòa hợp với nhau. Nhưng Ngài lại cười chứ không hề giận dữ.

CĐ được rửa tội tại nhà thờ địa phương khi chưa đầy một tuổi. Lúc còn nhỏ, ba CĐ thường đưa CĐ tới nhà thờ địa phương và CĐ rất thích ngôi nhà thờ này. Nó nằm trong thung lũng, cạnh một dòng sông. Nhà của bà ngoại CĐ ở gần đó. Có một lần ở xóm Hạ, CĐ nằm mơ thấy mình trở về nơi đó với tư cách của một tăng thân để thực tập thiền hành dọc theo bờ sông, và CĐ thấy ở đó có một thiền đường thật đẹp.

Hơn năm tuổi một chút, CĐ được đi học ở một trường thuộc nhà thờ Anh giáo. CĐ thường nhận được phần thưởng về môn Thánh kinh. CĐ không hề cố gắng mà cũng không nghĩ là mình giỏi môn này. Phần thưởng bao giờ cũng là một quyển sách về đạo Công giáo. Gia đình bên nội CĐ có rất nhiều người là tín đồ Công giáo thuần thành nên CĐ đã được trao truyền những hạt giống này.

Trường thứ hai CĐ học là một tu viện Công giáo, ở đó CĐ bắt đầu có ý nghĩ trở thành một nữ tu. Trong tu viện Công giáo người ta còn cầu nguyện nhiều hơn ở trường Anh giáo. Các nữ tu làm cho trường học trở thành như một gia đình. Không phải nữ tu nào cũng dạy học nhưng tất cả nữ tu đều gần gũi với học sinh. Những nữ tu nào không dạy học thì nhận những trách nhiệm khác như nấu ăn, làm vườn, chăm sóc giáo đường, hay rửa chén bát. Và học sinh thường giúp đỡ các nữ tu trong các công việc đó.

Khi vào đại học, CĐ bắt đầu quan tâm tới chủ nghĩa cộng sản. CĐ gia nhập vào một nhóm có tên là Công giáo – Mác-xít (catholic-marxists) và tham gia các hoạt động của nhóm này, bởi CĐ nghĩ họ sẽ đem lại công bằng nhiều hơn cho thế giới. Đó là vào những năm 1967-1968, khoảng thời gian mà sinh viên biểu tình rất nhiều trong các trường đại học ở Âu châu, trong đó có Anh quốc. CĐ không còn thỏa mãn với sự tín mộ trong tôn giáo mà cảm thấy mình cần phải hành động để có thể sống đúng với tín ngưỡng ấy. Sau khi tốt nghiệp đại học, CĐ đến thăm một tu viện thuộc dòng thánh Benedict ở Normandy một thời gian. CĐ cảm thấy rất gần gũi với các nữ tu, với thánh ca, với sự cầu nguyện. Các nữ tu ở trong một tu viện lớn dưới quyền của một ông viện trưởng. Một hôm CĐ hỏi ông viện trưởng là CĐ có thể trở thành một nữ tu hay không? Ông tỏ ra không nhiệt tình gì mấy và đề nghị CĐ nên là một cư sĩ thì hay hơn. Sau đó CĐ dần dần xa nhà thờ và không còn thực tập nữa.

Năm 1970, CĐ sang Hy Lạp để giảng dạy về cổ ngữ Hy Lạp và tiếng Phạn trong một trường học quốc tế. CĐ sống chung với những người Hy Lạp gốc Á châu. Họ là những người sùng đạo Chính Thống giáo (Orthodox). Họ nghĩ là mọi người ai cũng phải có một tôn giáo để theo, và họ hỏi CĐ theo tôn giáo nào. CĐ trả lời là mình không theo tôn giáo nào cả. Họ bảo nếu CĐ dạy tiếng Phạn thì nên theo Phật giáo, và họ gởi CĐ tới một trung tâm Phật giáo Tây Tạng ở Athens, Hy Lạp. CĐ không hề có ý muốn thực tập theo đạo Bụt nên đi một cách rất miễn cưỡng. Khi tới trung tâm thì một sư cô người Tây Tạng nói được một ít tiếng Anh dẫn CĐ vào phòng thờ, chỉ CĐ cách lạy, rồi đưa một chuỗi tràng hạt, dạy CĐ đọc câu Om Mani Padme Hum mỗi khi lần một hạt. Trước khi CĐ ra về, sư cô nói với CĐ là tháng tới sẽ có một vị Lama lớn tới trung tâm và khi đó CĐ nên trở lại, mà đừng nên tới sớm hơn.

Một tháng sau CĐ trở lại. Trong phòng thờ đầy nghẹt cả người, CĐ thấy một vị Lama đang thuyết pháp bằng tiếng Tây Tạng, kế bên ông là một thầy tu trẻ thông dịch ra tiếng Anh: “Một người nọ đang đi trên đường. Anh ta thấy có một cái gì đang nằm trên đường và nghĩ đó là một con rắn. Tim anh bắt đầu đập thật nhanh tại vì anh ta rất sợ. Nhưng khi nhìn lại, anh thấy đó không phải là con rắn và sự sợ hãi trong anh biến mất liền lập tức. Cũng giống như tri giác của chúng ta vậy, chúng ta sợ những cái không có thật. Khi những tri giác sai lầm không còn nữa thì sự sợ hãi cũng không còn”.

Bài pháp thoại đánh động CĐ một cách sâu sắc đến nỗi CĐ không thể dùng từ ngữ để diễn tả được. CĐ nghĩ: Đây là sự thật mà CĐ vẫn luôn biết nhưng chưa có ai tưới tẩm sự hiểu biết đó trong CĐ. Cứ như là bài pháp thoại của vị Lama đã có sẵn trong CĐ rồi vậy.

Khi đó là vào dịp Tết tây, và sắp sửa có một lễ quy y. Sư cô có tên là Anila hỏi CĐ có muốn nộp đơn xin quy y hay không? CĐ hỏi sư cô nhiều câu ngớ ngẩn về vấn đề quy y và sư cô đã từ chối trả lời. Cuối cùng sư cô nói: “Hãy chờ tới ngày mai xem sao. Nếu cô muốn quy y thì quy y, nếu cô không muốn thì thôi vậy”.

Sáng hôm sau, CĐ đến dự buổi lễ và ngồi ở sau cùng. CĐ không được kêu tên vì đã không nộp đơn. Khi vị Lama hỏi: “Còn ai nữa không?”. Không hiểu sao CĐ đứng lên và ra tham gia  cùng những người khác. CĐ quỳ xuống để cho vị Lama cắt vài sợi tóc của mình. Sau đó, vị Lama tìm trong xấp thẻ có ghi các pháp danh và chọn ra pháp danh cho CĐ là Karma Trashi Zangmo. CĐ thích pháp danh này. Karma có nghĩa là hành động, phần còn lại có nghĩa là tốt lành. Vị Lama đó có tên Khenpo Tsultrim Gyatso, là một người Tây Tạng tị nạn ở Bhutan. Ngài có thành lập một ni viện tại Bhutan, hy vọng một ngày nào đó CĐ có thể tới thăm nơi này.

Năm 1980, CĐ sang Ấn Độ. Lần đầu tiên đặt chân lên đất Ấn, CĐ có cảm tưởng là mình đang về nhà. CĐ cảm thấy rất thân quen với nước Ấn mặc dù không khí của New Dehli rất ô nhiễm. Nhìn trẻ con chơi đùa, CĐ có cảm giác mình đã thấy cảnh này trước đây rồi. Cho nên, mười hai tiếng đồng hồ ngồi không thoải mái trên xe bus vẫn không làm cho CĐ nản lòng. Khi tới chân rặng núi Himalaya vào lúc hoàng hôn, CĐ đã rất xúc động khi nhìn những đỉnh núi phủ tuyết trắng xóa, thật huy hoàng. Mỗi lần ngắm những đỉnh núi ấy, CĐ thấy mình phải sống một đời sống tâm linh và vượt thoát những ràng buộc của sinh tử.

Lúc đầu, CĐ ở trong tu viện của các sư cô. Tu viện có tên là Tiklopur, được đặt theo tên của đạo sư Tilopa, người đã tu tập ở đây, trong một cái động bên bờ sông. Tu viện này có khoảng ba mươi sư cô. CĐ ngủ trong một căn nhà hai phòng với một sư cô khác. Giường rất cứng và CĐ chưa bao giờ có thể ngủ cho tròn giấc bởi vì CĐ rất không thoải mái. Không có nước máy trong tu viện nên phải đi lấy nước từ giếng làng gần đó.

Sau đó, CĐ rời ni viện để về sống trong một tu viện khác nằm cao hơn, ở chân núi Himalaya. Đó là tu viện nằm một nơi hẻo lánh không có đường xe tới. CĐ phải đi bộ tám cây số băng qua những cánh đồng lúa, những con sông và những cánh rừng để tới đó.

Điều kiện sống ở đây rất tối thiểu. Mặc dù vậy, các thầy ở đây tu tập thật tinh tấn. Hạnh phúc và sự thảnh thơi, an lạc của một số thầy làm cho CĐ rất ấn tượng. Một hôm CĐ thấy một thầy ngồi trên đỉnh đồi nhìn xuống cánh đồng. Thầy ngồi thật an nhiên, hoàn toàn mãn ý trong giây phút đó, “không đi đâu nữa, có chi để làm”. Niềm an lạc tỏa rạng của thầy đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong lòng CĐ.

Sự thực tập của các sư cô là trì chú trong mọi sinh hoạt, và vài giờ đồng hồ trong ngày ngồi lại với nhau để tụng kinh. CĐ được dạy câu chú “Om Mani Padme Hum”. CĐ thường tụng câu chú đó theo những âm điệu mà CĐ đã biết. Một ngày  kia trong lúc đang tụng chú, bỗng nhiên CĐ thấy không phải CĐ là người đang tụng chú. Những rặng núi ngoài kia đang đáp lại tiếng tụng của CĐ. Có lẽ đó là do năng lượng tập thể. Rất nhiều người đã tụng chú “Om Mani Padme Hum” tại chỗ này, và nó đã trở thành một phần của môi trường chung quanh. CĐ yên lặng thưởng thức cái cảm giác “trong ngoài là một” đó.

Tuy nhiên cũng đến lúc CĐ phải chăm sóc cho thân của mình. CĐ không được khỏe lắm.  CĐ băn khoăn không biết phải làm sao? Tình cờ ngày đó có một thầy nghé thăm. Thầy cầm theo một cái radio và thầy kể cho CĐ nghe về căn cứ quân sự Greenham Common và những người phụ nữ đang biểu tình ở đó để ngăn chặn không cho Mỹ đem vũ khí hạt nhân ra gây chiến. Thầy hỏi tại sao CĐ không có mặt ở đó với họ. Ngay lúc đó CĐ quyết định đó là việc CĐ muốn làm, nhằm góp phần ngăn chặn chiến tranh.

Về lại Anh, Chân Đức lên kế hoạch đi đến Greenham Common. Lúc đó là vào cuối tháng ba và nhiệt độ vẫn còn dưới 0 độ, nhưng CĐ muốn thực tập ngủ ngoài trời không có lều và mái che vì những phụ nữ đang ở Greenham đều phải làm như vậy. CĐ có thể ngủ ngoài trời một cách thoải mái nên quyết định khởi hành. CĐ muốn đi bộ càng nhiều càng tốt. CĐ nghĩ mình có thể không cần thức ăn và dọc đường CĐ có thể gõ cửa nhà người ta để xin nước uống. CĐ mang giày ống bằng cao su. CĐ không biết là mình đã đi bộ bao lâu nhưng khi tới Greenham Common thì chân phồng rộp hết, và CĐ phải đi đứng rất khó khăn trong vài ngày.

Những phụ nữ ở Greenham rất dễ thương. Họ dựng nhiều trại chung quanh căn cứ. Họ có một hệ thống những người tình nguyện làm những công việc như nấu nướng, đào hầm vệ sinh, giữ cho lửa không tắt và canh gác ở cổng, chỗ mà vũ khí hạt nhân có thể được chở ra. CĐ được cho một tấm nhựa để bao túi ngủ lại nếu trời mưa. Trong khi canh gác, CĐ thường thực tập thiền ngồi bên ngoài hàng rào. Lúc nào cũng có một toán phòng vệ đi tuần tra bên kia hàng rào. Thường thì họ rất thân thiện. Họ nói CĐ sẽ bị đông đá đến chết nếu còn tiếp tục ngồi đây và hỏi CĐ làm gì trong khi ngồi thiền.

Những người phụ nữ không quan tâm gì mấy tới Phật giáo và thiền tập, nhưng khi CĐ hỏi có ai muốn phối hợp hoạt động hòa bình với thiền tập hay không thì có người cho CĐ biết về hội Buddhist Peace Fellowship (Phật tử thân hữu tranh đấu cho hòa bình). CĐ tìm tòi và nhận được một bản tin của hội. Lần đầu tiên CĐ đọc được một bài thơ của Thầy, đó là bài thơ Hãy gọi đúng tên tôi, và thấy hình Thầy đang rót một tách trà.

BBT: Thưa sư cô, làm thế nào mà sư cô biết đến Sư Ông và Làng Mai?

Sư cô Chân Đức: CĐ đến sống trong một cộng đồng với những thành viên của hội Buddhist Peace Fellowship. Họ muốn tổ chức một khóa   tu để mời Thầy tới nước Anh. Cuối cùng CĐ là người đứng ra tổ chức và tìm địa điểm. CĐ tìm được một lâu đài rất cũ và lạnh lẽo ở miền Bắc nước Anh. Hồi đó là vào tháng 3 năm 1986. CĐ ra đón Thầy ở phi trường Luân Đôn. Khi thấy Thầy và sư cô Chân Không, CĐ có cảm tưởng như là mình được gặp lại người thân sau một thời gian dài vắng bóng. Sau khóa tu, Thầy hỏi CĐ có muốn về ở Làng Mai trong 6 tuần lễ hay không. Dĩ nhiên là CĐ thưa “Dạ có!”

CĐ về Làng vào tháng 7 và trong khóa tu mùa hè năm 1986, CĐ thọ 14 Giới Tiếp Hiện. CĐ nghĩ sẽ ở Làng một tháng và sau đó sẽ về Anh để dạy học, nhưng sau khi ở Làng một tháng, Thầy và sư cô Chân Không mời CĐ ở lại lâu dài. Thầy nói sống ở Làng, CĐ có thể được là chính mình. Nếu muốn, CĐ có thể trồng rau dền, ngò, cải bẹ xanh cho mùa đông. Sư cô Chân Không nói CĐ có thể dạy tiếng Pháp cho những người Việt Nam tị nạn đang sống ở Làng.

BBT: Xin sư cô chia sẻ một vài khoảnh khắc mà sư cô cảm thấy mình thực sự tiếp xúc sâu sắc với Sư Ông.

Sư cô Chân Đức: Lần đầu tiên mà CĐ cảm thấy có sự liên hệ sâu sắc với Thầy là lúc Thầy cho pháp thoại ở Anh vào tháng 3 năm 1986. Thầy giảng về Bát Nhã Tâm Kinh và sử dụng tờ giấy để làm thí dụ. Thầy đưa lên một tờ giấy và nói: “Nếu bạn có tâm hồn thi sĩ khi nhìn vào một tờ giấy, bạn sẽ thấy một đám mây bay trong ấy. Không  có mây thì không có mưa, không có mưa thì cây cối không mọc được, và nếu không có cây thì làm sao có tờ giấy này trong tay bạn? Cho nên tờ giấy có mặt là vì đám mây có mặt, không có mây thì không có tờ giấy. Đám mây và tờ giấy phải nương vào nhau để hiện hữu, cái đó gọi là tương tức”. Khi nghe lời giảng của Thầy lúc ấy, CĐ cảm thấy mình không còn cần tìm kiếm gì hơn nữa.

Lần thứ hai là khi CĐ tới Làng lần đầu tiên. Khi ấy, Thầy dạy cách thỉnh chuông để hướng dẫn buổi ngồi thiền. Thầy thường tới thiền đường và ngồi ở những chỗ khác nhau. Một hôm Thầy ngồi kế bên CĐ, CĐ cảm nhận từ Thầy một năng lượng tuyệt vời của định lực và sự khinh an. Nhiều khi CĐ nhầm lẫn Thầy với ba CĐ. Thầy nói: “Chắc thầy phải đeo một tấm biển ghi ‘Thầy không phải là ba của con đâu’!”.

Thầy và sư cô Chân Không rất dễ thương với CĐ vì hiểu được lối sống Tây phương của CĐ. Hai vị không đòi hỏi gì ở CĐ cả mà cho phép CĐ được là chính mình. Sau này CĐ có hỏi Thầy: “Con  có thể làm gì khác hơn là làm chính mình?”, thì Thầy nói rằng trong đạo Bụt có giáo lý vô ngã, nghĩa là không có một cái ta riêng biệt. Thầy luôn luôn dạy CĐ từng chặng một. Lúc đầu Thầy bảo CĐ làm hạnh phúc cho chính mình. Sau đó Thầy dạy CĐ cách thức giúp cho người khác. Thầy cho phép CĐ trải nghiệm những gì mà CĐ phải đi qua để tự mình học hỏi mà không bảo CĐ nên làm cái này hoặc không nên làm cái kia.

Thầy dạy cho CĐ cách nương tựa tăng thân. CĐ nhớ là vào năm 1986, một hôm CĐ hỏi Thầy là ở Làng có thể trồng trọt theo phương pháp hữu cơ hay không? Thầy nói miễn là mọi người trong tăng thân đều đồng ý thì cứ làm, nhưng đây là một vấn đề mà mọi người phải cùng nhau quyết định. Cuối cùng, mọi người không đồng ý nên Thầy nói CĐ có thể xin một khoảnh đất nhỏ và trồng trọt theo lối hữu cơ. Nếu mọi người thấy CĐ thành công thì sẽ muốn làm theo. Một hay hai năm sau đó, Làng Mai bắt đầu trồng trọt theo lối hữu cơ.

Sau khi Thầy bị đột quỵ, CĐ quan sát thấy Thầy vẫn tiếp tục trao truyền giáo pháp bằng sự sống của Thầy. CĐ rất ấn tượng khi nhìn Thầy ăn cơm trong chánh niệm. Mặc dù có khó khăn trong khi ăn nhưng Thầy có mặt hoàn toàn cho thức ăn. CĐ có thể thấy Thầy có mặt đó cho mặt trời, cho cơn mưa trong thức ăn cùng một lúc.

CĐ ấn tượng nhất là cách Thầy làm sáng tỏ những giáo lý của đạo Bụt. Thầy đã gạn lọc rất nhiều sự hiểu lầm và những trao truyền sai lạc trong giáo lý, giúp cho giáo lý đạo Bụt trở nên sáng tỏ và mang tính thực tiễn.

BBT: Có khi nào tăng thân yêu cầu sư cô làm một việc nào đó mà sư cô không thích nhưng sư cô vẫn làm vì vâng lời và nương tựa tăng thân? Sư cô có lời khuyên nào cho những người xuất gia trẻ khi tăng thân yêu cầu mình làm công việc mà mình không thích.

Sư cô Chân Đức: CĐ là tăng thân và tăng thân là CĐ. CĐ không có một cái ta riêng biệt. Khi CĐ muốn làm cái gì đó (như muốn đi Thái Lan chẳng hạn) thì CĐ hỏi tăng thân. Nếu tăng thân trả  lời: “Sư cô hãy chờ một năm nữa” thì CĐ xem đó là một cơ hội. Tăng thân ở đây và tăng thân ở đó là một. Đôi khi mình muốn cái gì đó nhưng lại không biết cách trình bày ý muốn của mình một cách khéo léo nên tăng thân từ chối. CĐ nghĩ là CĐ không đủ khéo léo khi trình bày ý của mình. CĐ phải thử lại một lần nữa. Khi muốn làm việc gì thì CĐ hỏi ý một vài chị em mà CĐ tôn trọng ý kiến nhất để xem họ trả lời như thế nào. Nếu họ không đồng ý thì có khi CĐ bỏ luôn ý định của mình hay có khi CĐ vẫn thử trình bày ý muốn của mình trong buổi họp của Hội đồng Tỳ Kheo Ni. CĐ biết càng nhiều con mắt nhìn thì cái thấy càng sáng.

Nếu tăng thân yêu cầu CĐ làm một việc mà CĐ cảm thấy mình không đủ khả năng thì CĐ cố gắng giải thích cho tăng thân hiểu tại sao CĐ không làm được việc đó. Nếu tăng thân không chấp nhận sự giải thích của CĐ thì CĐ sẽ nhận làm công việc đó và tự nhủ rằng: “Nếu mình làm tốt thì tăng thân sẽ có lợi, còn nếu mình làm không tốt thì tăng thân sẽ không bao giờ yêu cầu mình làm nữa!”

BBT: Sư cô đã thực tập như thế nào để thích ứng và sống hòa hợp trong một môi trường văn hóa khác với môi trường văn hóa của mình?

Sư cô Chân Đức: Thầy và sư cô Chân Không  đã có khả năng bơi lội được trong dòng sông của văn hóa Á đông và của văn hóa Tây phương. Cách sống của hai vị kết hợp được hai nền văn hóa một cách thoải mái. Đó là điều lôi cuốn CĐ tới Làng Mai. Thầy và sư cô Chân Không có khả năng khám phá ra được những châu báu của văn hóa Tây phương. Tất cả chúng ta cũng cần khám phá như thế. Người Tây phương phải khám phá những châu báu của nền văn hóa Việt Nam và người Việt Nam phải khám phá những châu báu của văn hóa Tây phương. Thầy thường kể về một sư cô người Việt ở Los Angeles biết cách thức uống trà với các thầy cô người Việt và với người Tây phương. Cách thức sư cô mời trà hay nhận trà có khác nhau trong mỗi trường hợp nhưng uống trà với ai sư cô cũng đều thấy thoải mái như nhau.

Có lúc CĐ cảm thấy không vui khi có những sư em người Việt sống ở Tây phương không thực tập theo một số điều cho phù hợp với khí hậu bên này, thí dụ như vào mùa đông khi ra vào cần đóng cửa để giữ hơi ấm trong nhà. Nhưng CĐ tự nhắc nhở mình là có những cái khác quan trọng hơn trong liên hệ chị em. CĐ phải kiên nhẫn và tiếp tục nhắc nhở các sư em mà không nên có thái độ bực bội, và cả hai bên sẽ cùng tiến bộ.

CĐ thấy mỗi trung tâm của Làng Mai đều nên  sử dụng ba ngôn ngữ (Pháp, Anh, Việt hoặc Thái, Anh, Việt hoặc Đức, Anh, Việt, v.v..). Văn hóa xuất sĩ cần thời gian để có thể bắt rễ ở Tây phương. Chúng ta muốn đi nhanh nhưng chúng ta cũng không muốn làm mất đi phẩm chất của đời sống xuất sĩ.

BBT: Điều mà sư cô muốn trao truyền nhất cho các sư em của mình là gì?

Sư cô Chân Đức: Là người xuất gia, chúng ta không có những đứa con huyết thống. Tuy nhiên chúng ta cũng muốn được tiếp nối, và chúng ta phải tiếp nối trong các sư em của mình. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tu tập cho có nội dung mà không phải bằng hình thức bên ngoài. Chúng ta trao truyền lại cho các sư em nội dung của sự tu tập, tình thương và sự hiểu biết. Nếu chúng ta thật sự đã về đã tới và có hạnh phúc trong từng bước chân thì đó là sự trao truyền thật tuyệt vời mà không cần phải sử dụng lời nói.

BBT: Làm sao để mở lòng ra với những quốc gia khác? Làm thế nào để yểm trợ cho đất nước mình khi sống xa quê hương?

Sư cô Chân Đức: Những thầy tu Ấn Độ đã tới Việt Nam. Thầy Huyền Trang đã tới Ấn Độ và phải ăn cà ri Ấn. Các vị xuất gia trong Phật giáo xưa nay vẫn sẵn sàng sống ở nước ngoài. Cái chính là lòng mình có bình an và hạnh phúc hay không. Có thể chúng ta nghĩ là mình sẽ hạnh phúc hơn khi sống tại đất nước mình nhưng nếu tâm mình không an thì mình sẽ không có hạnh phúc. Giảng pháp bằng ngôn ngữ mẹ đẻ thì thoải mái, nhưng không có nghĩa là mọi việc đều sẽ dễ dàng. Chúng ta không cầu mong sự dễ dàng mà chỉ cầu có sức mạnh để làm được những việc không dễ dàng. Ở Việt Nam cần các thầy các sư cô và ở Tây phương cũng vậy. Chúng ta có cơ hội để đổi trung tâm và trải nghiệm được những nơi khác nhau trên toàn cầu. Đó là một cơ hội tuyệt vời!

 

BBT: Sư cô đã hết lòng chăm sóc cho mẹ trong những ngày cuối đời của bà và hiện cũng đang chăm sóc cho ba. Vậy sư cô có những lời khuyên nào cho những thầy, những sư cô trẻ về cách thức giúp cho cha mẹ trong lúc tuổi già hay khi họ hấp hối, với tư cách một người xuất gia hay không?

Sư cô Chân Đức: Đó là một sự thực tập rất tuyệt vời và sâu sắc! Chúng ta rời gia đình để trở thành một người tu và sau một thời gian tu tập, chúng ta lại trở về để giúp cho cha mẹ khi cha mẹ lâm bệnh nặng hoặc đang hấp hối. Sự thực tập của chính chúng ta phải thật vững chãi. Khi nào cha mẹ còn sống thì chúng ta phải thực tập cho có nội dung để hồi hướng công đức cho cha mẹ. Cha mẹ có thể tiếp nhận công đức đó và chuyển hóa. Chúng ta không cần phải ở gần cha mẹ mới có thể yểm trợ được. Tuy nhiên, tăng thân sẽ cho phép chúng ta được về chăm sóc cha mẹ khi thật sự cần thiết.

Việc đầu tiên chúng ta cần thực tập là phải buông bỏ hết mọi ý tưởng. Khi trở về giúp cha mẹ, CĐ có rất nhiều ý tưởng trong đầu là mình phải làm gì và làm thế nào. Nhưng những ý tưởng đó thật ra lại không thể thực hiện được. Trong nhà thương, bên giường bệnh, mình phải có mặt và đáp ứng được ngay với những gì đang xảy ra lúc đó, chứ không phải sử dụng những ý tưởng đã có sẵn của mình.

Lúc mẹ CĐ nằm nhà thương, khi từ giã mẹ về nhà tối hôm đó, CĐ không nghĩ đó là lần cuối cùng CĐ gặp mẹ khi bà còn sống. CĐ tới nhà thương sau khi hướng dẫn một  ngày  chánh  niệm nên rất  mệt.  Mẹ  CĐ  nằm  trên  giường  và CĐ hát cho mẹ nghe bài hát của Rumi, nhà thơ Sufi người Ba Tư nổi tiếng của thế kỷ 13:

 

Silence is an ocean,

Language is a river,

When thousands of voices in your head are speaking

You know: That’s enough for now.

When the ocean calls you,

Don’t go to the river,

Listen to the ocean saying: That’s enough for now.

“Im lặng là đại dương

Ngôn ngữ là dòng sông

Khi trong đầu có hàng ngàn tiếng nói

Thì ta biết: như thế đã đủ rồi.

Khi đại dương lên tiếng gọi

đừng nên tìm đến dòng sông

Hãy lắng nghe đại dương lên tiếng:

Như thế đã đủ rồi!”

CĐ ngồi trên giường bệnh của mẹ và hoàn toàn cảm thấy mình với mẹ là một. Mẹ là CĐ và CĐ là mẹ. Lúc đó tai của CĐ rất đau và CĐ rất mệt. CĐ nói với mẹ: “Tai con đau quá! Con có thể về nhà không mẹ?” Mẹ CĐ nói thật dịu dàng: “Ừ, con về đi!” CĐ để mẹ một mình trong bệnh viện. Sáng hôm sau cô y tá gọi điện thoại báo tin mẹ CĐ vừa mới mất. CĐ ân hận là mình đã không ở với mẹ lâu hơn.

Khi ba của CĐ lâm bệnh nặng, CĐ tới bên cạnh ba thì ba mê man và thỉnh thoảng ba nói sảng. CĐ xoa bóp cho ba thật nhẹ và hát vào tai ba những bài hát mà ba thích. Khi mới tỉnh dậy, ba không tin CĐ là con gái của ba. Ba lẫn lộn không biết mình đang ở đâu. Ba nghĩ mọi người muốn hại ba. CĐ nói với ba: “CĐ là con gái của ba” và ba nói: “Cô là một Phật tử thì chắc cô không nói dối”.

Có nhiều lúc CĐ tưởng ba CĐ sắp mất, nhưng rồi CĐ ngồi bên ba, theo dõi hơi thở của mình và nghe ông thở. Bỗng nhiên câu “Hãy thở và biết là bạn đang còn sống” trở nên rất thực đối với CĐ. Sự sống là một phép lạ! Mầu nhiệm thay khi ta đang còn sống! Và dĩ nhiên là nếu không có cái chết thì không thể có sự sống! CĐ muốn sống một cuộc sống thật tròn đầy, giống như ba CĐ đã thưởng thức và sống thật tròn đầy cuộc đời của mình! Đó là điều mà CĐ đã học được bên giường bệnh của ba!

BBT: Chúng con kính cảm ơn sư cô đã chia sẻ những kinh nghiệm tu tập rất thực tế và sâu sắc!