Lá thư Làng Mai 47 – 2024

Bìa 1

Bìa 2

Bìa 3

Bìa 4

Nội dung

“Tôi nghe không gian tiếng kêu rộn rã

Nghe vũ trụ tưng bừng trong cây lá

Cả loài người khoác áo mới tương thân

Và nơi đây, lấp loáng ánh sương trăng

Tiếng hoa lá hò reo bừng mạch sống.”

(Trích từ Mùa nhân loại thay áo mới, thơ Thầy)

Xuân về mang theo xanh tươi lan tràn mặt đất. Sau những tháng ngày ngủ yên, kiên nhẫn nuôi dưỡng, nhựa sống tuôn lên thành những đọt lá mới, thành mai vàng rực rỡ trong nắng ấm trời xanh. Sau một năm ấp ủ tình thương, kiên trì trở về sống trọn vẹn mỗi phút giây, chất liệu của tỉnh thức nay đã hóa thành những lời thơ, những câu văn ấm áp tình người. Hoa trái ngọt lành đó được gửi về từ khắp muôn phương. Người ở gần, người ở xa nhưng đều chung một tấm lòng muốn hiến tặng niềm vui, sẻ chia hạnh phúc và thắp lên niềm tin vào con đường thực tập bằng chính sự chuyển hóa của tự thân.

Tăng thân Làng Mai đã đón nhận những tấm lòng ấy và góp lại thành Lá thư Làng Mai số 47 với mong ước những hạt giống lành thiện như tha thứ, bao dung được tưới tẩm và nảy mầm mạnh mẽ nơi đất tâm mỗi người trong năm mới sắp đến.

Tải về bản đọc: Lá thư Làng Mai số 47 - 2024

(Để xem pdf tốt nhất xin sử dụng phần mềm Adobe Acrobat Reader. Tải phần mềm về tại đường dẫn dưới đây:  https://www.adobe.com/acrobat/pdf-reader.html )

MỤC LỤC

Phần 1

Làng Mai năm quaBan Biên Tập
Muôn thu ngàn dặm một nhàBan Biên Tập
Thắp sáng hiện hữuSư Ông Làng Mai
Ngàn sông trăng hiệnSư cô Chân Hoa Nghiêm
Chiếc áo nhật bìnhSư chú Chân Trời Bát Nhã
Ngọn đồi Tiểu ẨnSư cô Chân Tuyết Nghiêm
Áo nâu phai màu nắngThầy Chân Pháp Ứng
Đức Bụt tương lai đã có mặt rồiSư cô Chân Uyển Nghiêm
Theo dấu chân xưaSư cô Chân Uyển Nghiêm
Chào đón bình minhPhỏng vấn gia đình Hoa Thủy Tiên
Chùm thơ Đất TổQuý sư cô Diệu Trạm
Giọt nước trong dòng sông Tăng thânSư cô Chân Trăng Tâm Đức
Khất thực trong làng ThénacThầy Chân Trời Đức Định
Giải tỏa hận thù, khơi suối yêu thươngSư cô Chân Thuận Nghiêm
Vùng đất của những cây ô liu cổ thụSư cô Chân Trăng Linh Dị
Cánh cửa xót thươngThầy Chân Minh Hy
Tiếng gọiSư cô Chân Hiền Hạnh
Trở về nguồn cộiMain Hương, Hồng Anh và Janny
Chùm thơSư cô Chân Bảo Nghiêm

Phần 2:  dự kiến ra mắt vào cuối tháng 2/2024

Câu trả lời là tình thươngSatish Kumar, GS.Hà Vĩnh Thọ và Rehena Harilall
Bấy nhiêu thôi là đã đủThầy Chân Pháp Dung
Bóng dáng ThầySư cô Chân Trăng Bồ Đề
Khúc hát Tăng thânThầy Chân Pháp Lưu
Công phu quét láSư cô Chân Đính Nghiêm
Âm nhạc: Con đường tâm linhThầy Chân Pháp Hữu
Lộc Uyển mùa an vuiSư cô Chân Trăng Chùa Xưa
Hoa nở tự vườn tâmThầy Chân Trời Thiện Chí
Người đi hái thuốc đầu nonCảm niệm về thầy Trời Hải Thượng
Trót thươngThầy Chân Trời Hải Thượng
Người đã về, đã tớiThầy Chân Trời Hải Thượng
Tăng thân khắp chốnSư cô Chân Trì Nghiêm
Có những ngày ươm nắngTiên Nguyễn
Gia đình tâm linh khắp mọi nơiThầy Chân Trời Đức Hiền
Thơ - Cuộc sốngSư cô Chân Đính Nghiêm
Thiện tri thứcSư cô Chân Đào Nghiêm
Còn tu là còn thấy nhauSư chú Chân Trời Tương Tức
Thiền và nghệ thuật bảo hộ hành tinhThầy Chân Trời Đức Niệm
Mình là miếng đậu hũ?Sư cô Chân Trăng Hiền Tâm
Ánh sáng của sự kết nốiJoost Vriens
Chạy bộ để dừng lạiSư cô Chân Trăng Lâm Hỷ
Con đi cho mẹSư cô Chân Lạc Hạnh
Xuân yêu thương ngập tràn năm thángSư cô Chân Không
Lịch sinh hoạt năm 2024

 

 

 

Phương Hương xuôi vạn lý

Lời giới thiệu

Tôi thường học hỏi được rất nhiều từ những học trò của tôi. Với tôi, học trò cũng là thầy. Sư cô Chân Không là một trong những người ưu tú nhất trong số những học trò như vậy. Để tôi kể cho quý vị nghe một trong những bài học quan trọng mà tôi đã học được từ Sư cô. Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang càng ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để vận động nhiều vị tôn đức trong Giáo hội chịu cùng đứng ra kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, tại chùa Pháp Vân ở Phú Thọ Hoà, Sư cô Chân Không, đang chuẩn bị một dĩa rau thơm cho món phở, Sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?” Nhìn Sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc dĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Sư cô có khả năng duy trì sự chú tâm vào những cọng rau thơm. Và tôi nhận ra rằng tôi cũng nên học để tâm tới những nhánh rau, chứ không phải chỉ nghĩ về chiến tranh mà thôi. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến trong khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Năm 1968, khi sống ở miền Nam nước Pháp, tôi đã phát hiện ra những loại rau thơm của vùng Provence với tất cả sự chú tâm và thích thú.

Nhiều năm sau, một người bạn Hoa Kỳ hỏi tôi: “Thưa Thầy! Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy.” Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi! Nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được.” Tôi đã không tiết lộ rằng câu trả lời của tôi có xuất xứ từ bài học với Sư cô Chân Không mười hai năm trước. Cho đến hôm nay, tôi vẫn tiếp tục học từ Sư cô. Một vị thầy luôn nên có khả năng làm học trò và một đệ tử cũng luôn phải cùng lúc làm thầy. Nhớ được điều này, cả thầy và trò sẽ cùng lợi lạc.

Điều khiến tôi khâm phục nhất ở Sư cô là khả năng sống an lạc và hạnh phúc. Niềm tin vững chắc của Sư cô đối với Giáo pháp ngày càng được củng cố khi sự tu tập không ngừng mang lại cho Sư cô hoa trái của chuyển hoá, chữa trị và niềm vui. Sự vững chãi, an lạc và hạnh phúc của Sư cô là nguồn động viên nhiệm màu cho rất nhiều các bạn ở Làng Mai cũng như trong đại gia đình Tăng thân. Nguồn vui của Sư cô là làm việc giúp người và giúp chuyển hoá xã hội. Nằm sâu bên trong những công tác của Sư cô là một tình thương lớn và sự quan tâm sâu sắc. Chân Không cũng có nghĩa là tình thương đích thực. Câu chuyện cuộc đời Sư cô vượt xa những gì ngôn từ có thể diễn tả, đó là cả một bài Pháp sống.

Thật tiếc là cuốn sách này còn quá ngắn, không chuyển tải hết sự sâu sắc và sống động những gì Sư cô đã đi qua. Sư cô còn rất nhiều chuyện để kể cho chúng ta, có thể dài gấp mười lần cuốn sách này. Nhưng Sư cô là một nhà hoạt động xã hội hơn là một nhà văn, và hiện tại chúng ta phải bằng lòng với tác phẩm này thôi. Nếu có cơ hội tiếp xúc với Sư cô, quý vị đừng quên xin Sư cô chia sẻ cho nghe những kinh nghiệm của Sư cô. Quý vị sẽ học hỏi được rất nhiều. Sư cô đích thực là một vị Bồ tát.

Thích Nhất Hạnh

Làng Mai, Pháp quốc – Tháng 5, 1993

Tri kỷ của Bụt

Lời Tựa Sách Tri Kỷ Của Bụt

Có người nói: “Chỉ có một vị Bụt mới hiểu được một vị Bụt mà thôi!”Nếu đó là sự thật thì buồn quá! Nếu trong thời của Bụt mà không ai hiểu được Bụt, thì Bụt cô đơn đến chừng nào! Nhưng qua kinh điển chúng ta có cảm tưởng rằng vẫn có một số người hiểu được Bụt, trong giáo đoàn của Ngài cũng như trong giới nhân sĩ, trí thức và các vị tu sĩ ở ngoài giáo đoàn của Ngài.

Có những kinh rất hay không phải do Bụt nói mà do một số thầy lớn như thầy Phú Lâu Na (Purana) hay sư cô Dhammadinna nói ra. Nhiều người nghe kinh rất ấn tượng và tới báo cáo với Bụt:

Thầy Purana nói như vậy, sư cô Dhammadinna nói như vậy, thì có đúng với ý của Bụt không?

Bụt thường trả lời :

Nếu tôi nói về đề tài ấy thì tôi cũng nói được tới như vậy mà thôi!

Chúng ta tin rằng có những thầy hiểu được Bụt. Nhưng chưa chắc những thầy gần Bụt nhất như thầy A Nan có thể hiểu được Bụt một cách dễ dàng tuy là thầy có trí nhớ rất tốt. Có lần thầy A Nan nói với Bụt:

Lý duyên khởi đủ đơn giản để con có hiểu được.

Bụt nói:

Này A Nan, chưa chắc em đã hiểu được lý duyên khởi. Lý này rất mầu nhiệm. Em phải quán chiếu thêm nữa mới có thể hiểu được lý duyên khởi. Nó có khả năng đưa tới tuệ giác Không.

Trong thời của Bụt có rất nhiều người hiểu lầm Bụt, không chỉ những người ở ngoài giáo đoàn mà cả những người ở ngay trong đoàn thể của Bụt. Các thầy, các sư cô hiểu lầm Bụt rất nhiều. Các thầy lớn đã cố gắng giúp họ bỏ đi những tà kiến ấy. Thỉnh thoảng chính Bụt cũng gọi các thầy, các sư cô ấy tới và nói:

Thầy hiểu những lời Như Lai dạy như thế nào mà lại đi tuyên bố như vậy?

Ví dụ như thầy Arittha (A lê xá). Ngày xưa Thầy đã từng làm nghề huấn luyện chim ưng. Thầy ưa nói Bụt chủ trương rằng hạnh phúc (hạnh phúc ở đây là sự hưởng thụ dục lạc) không làm chướng ngại gì cho sự tu học. Nhiều thầy đã tới nói với thầy Arittha:

Sư anh nói như vậy là sai ý của Bụt. Nhưng thầy Arittha nói:

Không! Theo tôi thì đây là ý Bụt!

Các thầy đã tới báo cáo nhiều lần với Bụt. Bụt cho gọi thầy Arittha tới hỏi thì mới biết rằng thầy Arittha đã hiểu lầm lời nói của Bụt. Bụt dạy”hiện pháp lạc trú” tức là sống an lạc trong giây phút hiện tại, chứ không phải dạy rằng hưởng thọ dục lạc là không chướng ngại cho sự tu tập.

Thầy Xá Lợi Phất (Sariputra) là một thầy có thể được gọi là thông minh nhất trong các thầy. Nhưng thầy Sariputra có thể hiểu được Bụt một cách hoàn toàn hay không? Tôi tin rằng thầy Sariputra là một đệ tử thông minh có thể hiểu được ý của Bụt. Thầy là một người rất thực tế. Trong những điều Bụt dạy, thầy thấy có những giáo lý mà người nghe có thể hiểu và đem ra áp dụng được, nhưng cũng có những giáo lý quá sâu sắc, không dễ để cho đại đa số quần chúng tiếp nhận. Vì vậy cho nên thầy Sariputra không trao truyền và khuyến khích các thầy đem những giáo lý đó ra phổ biến, sợ người ta hiểu lầm và bài bác Bụt, cho Bụt là người chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt. Đây là một khuyết điểm của thầy Sariputra.

Nếu học Phật pháp một cách thông minh, nếu có tinh thần học hỏi, có tinh thần nghiên cứu và phê phán một cách tự do (the spirit of free inquiry) thì chúng ta có thể nhận biết và thanh lọc lại những hiểu lầm mà các thầy đã ghi chép vào kinh điển. Trong khi đọc kinh điển chúng ta thấy thỉnh thoảng có những điều chống đối nhau, thậm chí có những đoạn kinh mà khi đọc chúng ta không hiểu gì cả. Điều này chứng tỏ là do các thầy không hiểu nên đã truyền lại một cách tam sao thất bản.

May thay chúng ta có thể biết được một cách chắc chắn những giáo lý nào là do Bụt nói và những giáo lý nào không chắc là do Bụt nói. Những điều chắc chắn do Bụt nói là: Tứ Đế (Bốn Sự Thật), Bát Chánh Đạo (Con đường bát chánh), Tứ Niệm Xứ (Bốn lĩnh vực quán niệm), An Ban Thủ Ý (Mười sáu phép thở) và Thất Bồ Đề Phần (Bảy yếu tố của sự giác ngộ). Và chắc chắn là Bụt đã dạy về Không. Trong kinh điển Nam tông có gần 10 kinh nói về đề tài Không. Nhưng trong truyền thống Phật giáo Nam tông, những kinh điển nói về Không chưa bao giờ được nghiên cứu, phân tích và phát triển như trong Phật giáo Đại thừa. Chúng ta biết chắc rằng giáo lý “tam giải thoát môn” (The three doors of liberation) có mặt trong Phật giáo Nam tông cũng như trong tất cả các trường phái Phật giáo khác. Nhưng Phật giáo Nam tông chưa bao giờ khai thác được cái gọi là”Không” chứ đừng nói tới “vô tướng’’ và “vô tác”. Trong Phật giáo Nam tông người ta hiểu chữ Không một cách quá đơn giản. Không chỉ có nghĩa là không có cái ngã mà thôi. Với cách hiểu này họ đã không đi xa hơn được, đó là một điều rất đáng tiếc!

Có lần thầy Sariputra sau khi xuất thiền thì tới thăm Bụt. Bụt hỏi:

Này thầy Sariputra, hôm nay trong khi ngồi thiền thầy đã quán chiều về đề tài gì?

Thầy Sariputra thưa:

Bạch đức Thế Tôn, con quán chiếu về Không.

Bụt nói:

Hay lắm, hay lắm, tại vì cái định về Không là cái định cao nhất.

Và nhân tiện đó Bụt dạy cho thầy Sariputra một kinh gọi là”Thanh Tịnh Khất Thực”. Trong kinh Bụt dạy: Khi một vị khất sĩ mặc áo, ôm bát, cùng đi với một nhóm khất sĩ xuống phố để khất thực thì vị khất sĩ đó phải hộ trì sáu căn, phải giữ gìn như thế nào để những tư tưởng tạp loạn không dấy lên và hoàn toàn an trú được trong từng bước chân để có an lạc, có thảnh thơi và hạnh phúc. Vì vậy ngay trong khi đi khất thực ta đã thực hiện được định về Không.

Chúng ta đã biết rõ là trong Nam tông có nhiều kinh nói về đề tài Không, nhưng chưa bao giờ được khai thác. Và vì vậy Tam giải thoát môn (Không-Vô tướng-Vô tác) chưa bao giờ có cơ hội được khai thác. Chúng ta có kinh Tùy thuận trí (Anulomajñāna). Tùy thuận trí là một loại trí tuệ sử dụng được tuệ giác duyên khởi để đi tới tuệ giác cao nhất là tuệ giác Không. Kinh này cũng thuộc về truyền thống nguyên thỉ, nhưng chưa bao giờ được khai thác. Có những kinh mà chúng ta biết chắc là do Bụt nói như kinh Ca Chiên Diên (Kātyāyana). Trong kinh Bụt đưa ra một định nghĩa rất rõ về chánh kiến: Chánh kiến là cái thấy vượt thoát khỏi ý niệm có và không. Kinh này rất quan trọng!

Có một câu rất tuyệt vời nói về Niết bàn mà chúng ta phải nhắc lại. Câu này nằm trong kinh Như Thị Ngữ (Itivuttaka) và kinh Vô Vấn Tự Thuyết (Udana) của tạng Pali và cũng có mặt trong kinh Pháp Cú tạng Hán được dịch tại Nam Kinh vào giữa hế kỷ thứ 3. Trong tạng Pali Bụt nói: Có cái không sinh, không có, không tác và không hành (Atthi, bhikkhave, ajātam, abhūtam, akatam, asankhatam). Trong tạng Hán ta đọc : Này các thầy Tỳ Kheo, ở đời có cái sinh, cái diệt nhưng cũng có cái không sinh, không diệt. Ở đời có cái có, cái không nhưng cũng có cái không có, không không. Ở đời có cái tạo tác và được tạo tác nhưng cũng có cái không tạo tác và không được tạo tác. Ở đời có cái hình thành và được hình thành nhưng cũng có cái không hình thành và không được hình thành (Tỳ kheo, thế hữu sinh, hữu hữu, hữu tác, hữu hành, hữu vô sinh, vô hữu, vô tác, vô sở thành). Đó là những câu kinh rất tuyệt vời nói lên giáo lý rất sâu sắc của Không. Các thầy của chúng ta bị kẹt vào giáo điều và bảo thủ một cách rất dễ sợ. Các thầy hiểu lầm chữ Không (Emptiness, śūnyatā) là không có, tức ngược lại với có, mà quên rằng Có là một tà kiến và Không cũng là một tà kiến khác.

Một thầy đang ngồi. Có một thầy khác tới hỏi:

Thưa thầy, thầy có thấy một người phụ nữ vừa đi ngang qua đây không?

Thầy kia trả lời:

Tôi đâu có thấy người nào đi qua đây đâu. Tôi chỉ thấy một tập hợp của năm uẩn di động mà thôi chứ làm gì có người?

Vì vậy có một số đông các thầy rất bực. Họ lãnh đạo thành lập những tông phái chủ trương có ngã và có con người. Nếu nói ngã là cái trống rỗng được làm bằng những yếu tố không phải ngã, nếu nó chỉ là một giả danh không có thực thể riêng biệt, thì chúng ta có thể chấp nhận được cái ngã ấy được. Nó không thật sự có, nó chỉ là giả danh (conventional resignation). Như vậy chúng ta có thể nói có một cái ngã, có một người, nếu ta đừng chấp đó là một thực tại độc lập, bất biến. Ví dụ có một thầy đó, sinh vào năm đó, tên gì đó, xuất gia năm đó, chứng đạo năm đó. Rõ ràng là phải có người thì mới có tu và chứng được, làm sao mà nói là không có cái ta? Vì vậy kẹt vào giáo điều thì rất khó chịu.

Chánh Lượng Bộ (Sammitīya) và bộ phái Pudgalavāda (Pudgala là con người) thường trích trong kinh những câu chứng minh rằng Bụt nói rõ ràng là có người, có cái ngã. Nếu chúng ta hiểu con người đó, cái ngã đó là trống rỗng chứ không phải là một thực tại bất biến thì có hại gì đâu. Thường thường họ trích những câu rất nổi tiếng trong kinh như câu:”Này các vị Tỳ kheo, có một người sinh ra đời có thể đem lại rất nhiều lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Người đó là ai? Người đó là Bụt.”Như vậy rõ ràng đức Thế Tôn nói có người, vậy nếu quí vị nói không có người, không có người tu học, không có người chứng đạo thì đó là một tà kiến. Khi thầy Huyền Trang sang Ấn Độ học đạo vào thế kỷ thứ 7 thì có tới 70 ngàn thầy theo phái Pudgalavāda. Họ nói rằng: Cho rằng không có con người là một tà kiến. Không có một cái ta để suy tư, để tu tập và chuyển hóa là một tà kiến. Nó trái chống với tuệ giác Bụt trong kinh Kātyāyana.

Vì vậy trong lịch sử Phật giáo chúng ta thấy có những tông phái bị kẹt vào ý niệm “không có ngã”. Ngay cả trong Thiền tông cũng vậy! Làm gì có cây bồ đề? Làm gì có đài gương sáng? Xưa nay có gì đâu để bụi bám vào? Bài kệ rất nổi tiếng của Thiền tông cũng bị kẹt vào tà kiến “không”. “Không” là một trong những tà kiến, nó không phù hợp với chánh kiến.

Kinh Pháp Cú Hán tạng và nhiều kinh khác của Nam tông cũng như của Bắc tông có nói rất rõ về “hiện pháp Niết bàn”, có nghĩa là Niết bàn có thể có mặt trong giây phút hiện tại. Chữ Niết bàn được định nghĩa rất rõ: Niết bàn là sự vắng mặt của mọi phiền não. Chúng ta có thể thực chứng được Niết bàn bằng cách làm vắng mặt mọi phiền não. Trong quan điểm về “hiện pháp Niết bàn” chưa có ý niệm về Niết bàn hữu dư y và Niết bàn vô dư y. Niết bàn hữu dư y là Niết bàn còn năm uẩn và Niết bàn vô dư y là Niết bàn không còn năm uẩn. Đây là những ý niệm có sau này, làm cho người ta hiểu lầm ý của Bụt là chỉ khi nào buông bỏ năm uẩn rồi thì mới thật sự có Niết bàn tuyệt đối. Nếu còn mang năm uẩn thì vẫn chưa có Niết bàn tuyệt đối! Thật ra năm uẩn rất mầu nhiệm! Cái không mầu nhiệm là năm thủ uẩn. Khi chúng ta nắm bắt năm uẩn và cho đó là cái ta hoặc là sở hữu của cái ta thì năm uẩn trở thành năm thủ uẩn. Năm thủ uẩn làm cho chúng ta không tiếp cận được với Niết bàn tuyệt đối. Trong khi đó thì năm uẩn rất mầu nhiệm! Tuy còn năm uẩn nhưng chúng ta vẫn tiếp cận được với Niết bàn tuyệt đối mà không cần phải buông bỏ năm uẩn mới đi vào được Niết bàn tuyệt đối.

Với những câu kinh như vậy, với cái thấy thông suốt và hệ thống hóa, với tinh thần nghiên cứu và phê phán tự do, chúng ta có thể thanh lọc được toàn bộ kinh điển và có thể phục hồi được tư tưởng đích thực của đức Thế Tôn, để có thể trở thành tri kỷ của Bụt. Tinh thần gọi là tìm hiểu và nghiên cứu tự do này nằm ngay trong trái tim của đạo Bụt. Một lần Bụt đi ngang qua vùng của bộ tộc Kalama, các chàng trai Kalama đã rủ nhau tới gặp Bụt rất đông và thưa:

Bạch thầy, vị đạo sư nào đi qua đây cũng nói rằng giáo lý của họ đích thực là chân lý, còn giáo lý của các thầy khác thì chưa chắc. Người nào cũng nói như vậy cho nên chúng con rất hoang mang và không biết nên tin theo ai? Vậy thầy dạy chúng con như thế nào?

Đó là cơ hội để đức Thế Tôi nói ra những câu rất chắc nịch về tinh thần tìm hiểu và phê phán tự do mà một người học Phật phải biết sử dụng. Bụt dạy như thế này:

Này các em, đừng vội tin tưởng vào một điều gì dù điều đó đã được chép trong kinh điển như kinh Vệ Đà hay Áo Nghĩa Thư. Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó đã được một đạo sư nổi tiếng nói ra. Đừng vội tin tưởng một điều gì dù điều đó được đa số chấp nhận là sự thật. Đối với tất cả những gì được nghe các em phải dùng tâm mình để quán chiếu, để tìm hiểu, để phê phán. Sử dụng sự thông minh và óc tự do phê phán của mình và đem áp dụng những điều đó vào trong đời sống hàng ngày xem thử chúng có khả năng tháo gỡ được những khổ đau, những khó khăn của mình hay không. Nếu có thì mình mới bắt đầu tin đó là sự thật.

Kinh Kalama là một kinh rất hay, rất nổi tiếng, có mặt trong Hán tạng và trong truyền thống Theravada.

Giáo nghĩa về Không đã được hiểu rất cạn trong rất nhiều bộ phái Phật giáo, kể cả trong Phật giáo Đại thừa. Truyền thống Hữu Bộ (Sarvāstivāda) chủ trương “ngã không và pháp hữu”tức là không có cái ngã nhưng các pháp thì có, tuy chỉ có trong sát na thôi. Quá khứ có, hiện tại có và tương lai cũng có; chỉ có một cái không có mà thôi, đó là cái ngã. Vì vậy người ta hiểu chữ vô ngã là không có cái ngã, mà không hiểu rằng cái ngã tuy có đó nhưng nó chỉ là một cái gì trống rỗng (Emptiness of the self). Mới nhìn ta tưởng như sự vật là có thật, nhưng nhìn cho sâu thì thấy chúng là trống rỗng. Vì vậy cái ngã không thật sự có, nó là một giả danh (conventional designation), là một sự thật ước lệ. Trong Thượng Tọa Bộ, Phân Biệt Thuyết Bộ, Đồng Diệp Bộ cũng như Hữu Bộ, người ta vẫn bị kẹt vào ý niệm có và không và không đi đúng với tinh thần của Bụt là Chánh kiến vượt ra khỏi cái thấy có và không. Trong Tâm Kinh cũng có một đoạn, trong đó vì người ta hiểu lầm nên đã ghi chép lầm. Người ta đã lẫn lộn ý niệm Không (Emptiness) và ý niệm vô (non-being). Vì vậy có đầy dẫy những sự sai lầm trong kinh điển. Nếu có tinh thần tìm hiểu, phân tích tự do và nắm được giáo lý căn bản của Bụt thì chúng ta mới có khả năng dọn lại, giúp làm sáng tỏ tinh thần Nguyên thỉ của Bụt.

Thầy Xá Lợi Phất có thể là một tri kỷ của Bụt. Thầy rất thực tế vì nghĩ rằng có những người không thể nào hiểu được giáo lý về Không cho nên thầy chỉ khuyến khích các thầy dạy về vô ngã. Thầy cũng không dạy về pháp không, hình như thầy thấy rằng giáo lý về pháp không quá khó. Trong khi đó thì Bụt rất vô phân biệt, tuệ giác của Ngài tuôn trào ra như vậy. Nhưng chính thầy Xá Lợi Phất là người điều hành, là người quyết định những giáo lý nào nên phổ biến và những giáo lý nào khoan nên phổ biến vì có thể sẽ gây ra sự hiểu lầm. Và ảnh hưởng của thầy Xá Lợi Phất đã kéo dài nhiều trăm năm về sau trong các bộ luận A Tỳ Đạt Ma.

Sách “Tri kỷ của Bụt” không phải là một cuốn sách giáo khoa, cho dù là giáo khoa cao cấp. Trước hết sách không được soạn trước như một giáo trình, thứ hai là sách không có mục đích giải thích hay làm sáng tỏ những giáo lý như Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Tứ Niệm Xứ, Thất Bồ Đề Phần hay Mười sáu phép quán niệm hơi thở trong kinh An ban Thủ ý. Sách”Tri kỷ của Bụt” được phiên tả từ những bài pháp thoại của tôi trong suốt mùa An Cư Kết Đông 2012-2013. Mỗi tuần tôi chỉ dạy hai bài pháp thoại. Trong thính chúng có những người đã xuất gia trên 30 năm và có người mới xuất gia 6 tháng. Tôi phải lặp đi lặp lại những điều hơi khó đối với những người mới học, vì vậy trong sách có hiện tượng lặp đi lặp lại. Đó là chuyện rất thường, rất tự nhiên. Nhưng “Tri kỷ của Bụt” cũng có thể nhận thức như một sách giáo khoa cao cấp. Mục đích của sách không phải là để chú giải hay làm sáng tỏ giáo lý của Bụt, mà để phê phán ngay cả những điều được cho là đã do Bụt nói để chúng ta thấy rằng chưa chắc những lời đó thật sự là do Bụt nói. Giá trị của sách “Tri kỷ của Bụt” nằm ở chỗ làm sáng tỏ được tinh thần rất đặc biệt của Phật giáo là khi tu tập, tìm hiểu về tư tưởng của đạo Bụt thì chúng ta phải sử dụng sự thông minh, sử dụng khả năng phán xét quyết đoán độc lập của mình mà đừng vội tin vào bất cứ điều gì được ghi chép lại trong kinh. Đó là tinh thần của người học Phật, có khả năng tìm hiểu thấu đáo, phê phán tự do (the spirit of free inquiry). Vì vậy mong các đọc giả thấy được điều đó và đừng trông chờ một sách giáo khoa thường lệ ở sách “Tri kỷ của Bụt”. Bụt dạy chúng ta ai cũng có Phật tính. Như vậy chúng ta ai cũng có khả năng trở thành một người Tri kỷ của Bụt.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Trồng một nụ cười

Lời mở đầu

“Trong tất cả những điều chúng ta trao truyền cho học sinh, có một điều vô cùng quan trọng nhưng thường bị lãng quên chính là bài học về sự có mặt đích thực. Một phần vì áp lực hoàn thành chương trình giảng dạy cũng như trách nhiệm quản lý học sinh khiến chúng ta chưa thực sự có mặt cho học trò của mình. Thiền sư Nhất Hạnh đã giúp chúng ta nhận ra một khía cạnh sâu sắc hơn trong mối liên hệ giữa ta với học trò, dựa trên hai nhu yếu căn bản và phổ quát của con người, đó là nhu yếu được hiểu và được thương. Chúng ta biết rằng sự có mặt đích thực của thầy cô giáo trong lớp học chính là một bài giảng không lời. Vì vậy, sự thay đổi và chuyển hóa của chúng ta thông qua sự thực tập nuôi dưỡng chánh niệm sẽ là khởi đầu cho những thay đổi và chuyển hóa nơi học đường cũng như trong xã hội.” – Chia sẻ của Adele Caemmerer, một giáo viên đã từng tham dự khóa tu dành cho các nhà giáo dục do Thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn tại Ấn Độ năm 2008

Hiện nay, vai trò của chánh niệm trong giáo dục ngày càng được công nhận một cách rộng rãi. Sự thực tập chánh niệm giúp học sinh tăng cường khả năng chú tâm, ý thức và làm chủ được các hoạt động của thân, điều phục các cảm xúc mạnh cũng như phát triển các kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong mối liên hệ giữa mình với mọi người. Nhưng quan trọng hơn hết, chánh niệm giúp các em phát triển một cách toàn diện và lành mạnh, nuôi lớn niềm vui, sự bình an và tự tin nơi chính mình, thông qua những phương pháp thực tập làm lắng dịu căng thẳng, lo lắng và bạo động trong tự thân.

Thực tế là hệ thống giáo dục của chúng ta thường đặt trọng tâm vào thành tích thi cử mà chưa chú trọng đầy đủ đến việc dạy cho các em cách chăm sóc những cảm xúc của mình, cũng như các phép ứng xử cần thiết khi giao tiếp với xã hội. Lẽ tất nhiên là trường học cần trang bị cho các em những kỹ năng và kiến thức cần thiết, nhưng việc giúp các em có thêm sức mạnh và sự vững chãi khi đối diện với những cơn bão cảm xúc, cũng như khả năng chấp nhận và bao dung trước những khác biệt trong nhận thức, lối sống của con người trong xã hội cũng quan trọng không kém. Sự thực tập chánh niệm có công năng rất lớn trong việc giúp các em phát triển những kỹ năng chế tác và nuôi lớn bình an trong tự thân, góp phần vào sự bình an của môi trường xung quanh mình.

Cách đây một vài năm, hiệu trưởng của trường nữ sinh Welham (Welham Girls’ School) ở Dehra Dun, Ấn Độ có mời tôi chia sẻ một vài phương pháp thực tập chánh niệm với học sinh của trường nhằm giúp các em bớt căng thẳng trong các kỳ thi. Trong buổi chia sẻ đó, tôi nhận ra rằng những bài thực tập đơn giản về hơi thở ý thức và bước chân chánh niệm đã có thể giúp các em lấy lại được sự bình an, lắng dịu và bớt lo lắng.

Theo lời mời của hiệu trưởng trường American Embassy School tại Delhi, tôi cũng đã hướng dẫn một khóa học về chánh niệm cho các giáo viên trong mười tuần. Đến bây giờ, những thầy cô giáo đã từng tham gia khóa học vẫn tiếp tục gặp nhau mỗi tuần một lần để chia sẻ sự thực tập. Dù khá bận rộn, các thầy cô giáo vẫn ưu tiên dành thời gian để đến và thực tập với nhau, bởi vì họ nhận ra sự thực tập chánh niệm có ý nghĩa quan trọng như thế nào đối với hạnh phúc của bản thân cũng như của các em học sinh. Cheryl Perkins, một giáo viên của trường American Embassy School với hơn ba mươi năm kinh nghiệm giảng dạy đã chia sẻ: “Trong đời tôi, chưa bao giờ tôi sử dụng một công cụ giảng dạy nào có khả năng làm cho học sinh trong lớp học trở nên lắng dịu như tiếng chuông chánh niệm.”

Tôi đến Làng Mai lần đầu tiên vào năm 1989 và từ đó đến nay tôi vẫn thường xuyên đến Làng tu học. Mùa hè nào, Thiền sư Nhất Hạnh cũng tổ chức khóa tu cho các gia đình. Trong những khóa tu này, thiền sinh – đủ các độ tuổi – cùng nhau thực tập trở về với chính mình để ý thức rõ mình là ai, mình đang làm gì, nói gì, đang có những cảm xúc hay suy nghĩ gì, ý thức về những gì đang diễn ra bên trong và xung quanh mình. Cuốn sách này chính là hoa trái tu học của tứ chúng Làng Mai, được hình thành dựa trên kinh nghiệm thực tập cùng với trẻ em trong mấy chục năm qua.

Trong cuốn sách này, Thiền sư Thích Nhất Hạnh cùng quý thầy, quý sư cô Làng Mai và nhiều cư sĩ đã hiến tặng tuệ giác của mình và đóng góp những câu chuyện, những phương pháp thực tập cụ thể mà các bậc phụ huynh, thầy cô giáo và bất kỳ ai làm việc trong lĩnh vực có liên quan đến trẻ em đều có thể áp dụng. Những phương pháp thực tập vô cùng hữu ích này có thể được áp dụng trong gia đình, trường học, các đoàn thể địa phương một cách linh hoạt, sao cho nó thực sự có ý nghĩa và tạo hứng thú cho trẻ em.

Cuốn sách này là một cuốn cẩm nang dành cho tất cả những ai muốn thực tập và chia sẻ chánh niệm với trẻ em. Để có thể chia sẻ từ kinh nghiệm của chính mình, chúng ta cần thực tập trước tiên. Nếu chúng ta áp dụng những phương pháp thực tập trong cuốn sách này với gia đình và trẻ em trong cộng đồng nơi chúng ta ở thì cả trẻ em và người lớn đều được hưởng năng lượng bình an, tươi vui và hòa điệu mà sự thực tập mang lại.

Mỗi cá nhân đều có ảnh hưởng đến những thành viên khác trong cộng đồng. Vì vậy, khi có một vài nhóm nhỏ thực tập chánh niệm trong trường học hay trong cộng đồng, năng lượng bình an từ những nhóm người này sẽ có tác động lan tỏa rất lớn. Sự gắn kết, hòa điệu giữa con người với nhau cũng như với môi trường thiên nhiên xung quanh nhờ đó mà lớn dần lên. Chính trong bầu không khí an lành này, trẻ em mới có thể vui vẻ, thoải mái phát huy mọi tài năng vốn có của mình.

– Shantum Seth, một giáo thọ cư sĩ thực tập theo truyền thống Làng Mai, viết tại Delhi, Ấn Độ, năm 2010

Hỏi đáp từ trái tim

Lời nói đầu

Khi mới bắt đầu thực tập chánh niệm, quý vị thường có cả ngàn câu hỏi. Nhưng trước khi tìm người khác để xin giải đáp thì hãy ngồi xuống với câu hỏi của mình. Quý vị sẽ ngạc nhiên khi khám phá ra rằng nhờ nhìn sâu và ôm ấp câu hỏi mà quý vị có thể tự trả lời hầu hết các câu hỏi của mình. Chúng ta có thói quen luôn hướng ngoại, nghĩ rằng chúng ta có thể tiếp nhận tuệ giác hay từ bi từ một người khác, từ Bụt, từ lời dạy của Bụt (Pháp) hay từ Tăng thân. Nhưng mà quý vị là Bụt, quý vị là Pháp, quý vị là Tăng.

Mục đích của cuốn sách này không phải để giảng dạy đạo Bụt. Chất chứa kiến thức về đạo Bụt không giúp ta trả lời được những câu hỏi khẩn thiết. Chúng ta phải học những gì có thể giúp chuyển hóa khổ đau của chính chúng ta, tháo gỡ những tình huống ngặt nghèo của chính chúng ta. Một vị đạo sư nếu là một vị đạo sư đích thực thì những lời giảng dạy của người phải giúp ta tiếp xúc với sự sống và giúp ta cởi bỏ thành kiến, ý tưởng cũng như tập khí. Mục đích của một vị đạo sư đích thực là giúp đệ tử của mình chuyển hóa.

Một câu hỏi hay là một câu hỏi có thể giúp ích cho rất nhiều người. Chúng ta nên đặt những câu hỏi từ tận đáy lòng mình, những câu hỏi liên quan đến hạnh phúc, khổ đau, sự chuyển hóa và sự thực tập. Một câu hỏi hay không cần phải dài dòng.

Thiền sư Lâm Tế là một thiền sư nổi tiếng ở Trung Quốc thế kỷ thứ chín. Ông ta nổi tiếng vì những cuộc thiền chiến giữa thầy và trò. Một thiền sinh thường đứng lên hỏi một câu hỏi để xem thử mức hiểu biết của mình đã chín muồi hay chưa. Thiền sư Lâm Tế thường bắt đầu bằng câu: “Nào, có vị nào xuất trận thì ra đây”. Trong trận chiến ấy thiền sinh đôi khi thắng, đôi khi bại. Trong cuốn sách này những vị nêu lên câu hỏi không cần phải xuất trận. Trong một trận chiến sẽ có người thắng kẻ thua. Trái lại, tôi cố gắng nhìn sâu vào từng câu hỏi và từng người hỏi với tâm từ bi, như chính tôi là người đã nêu lên câu hỏi ấy.

Điều này không có nghĩa là những câu trả lời sẽ nói lên được những gì mình muốn nghe. Chúng ta có xu hướng tránh né một mũi tiêm hay một viên thuốc đắng mặc dầu ta biết mũi tiêm hay viên thuốc đắng ấy giúp ta lành bệnh. Cũng thế, chúng ta thường tránh né những câu trả lời gợi lên những kinh nghiệm khổ đau của đời mình.

Đôi khi những câu trả lời trong nhà Thiền giống như những rào cản giúp chặn đứng dòng suy luận của thiền sinh. Suy luận không phải là chứng ngộ. Chứng ngộ nhanh hơn chớp nhoáng. Ở đâu có suy luận là ở đó có thất bại.

Đôi khi vị đạo sư phải trả lời theo cách mà thiền sư Lâm Tế gọi là đoạt cảnh. Nghĩa là khi một thiền sinh nêu lên một câu hỏi, nếu vị đạo sư dành hết thì giờ giải thích thì có khi chẳng giúp ích gì và vị thiền sinh vẫn còn bị kẹt trong suy luận và kiến chấp của mình. Thay vào đó, vị đạo sư gạt bỏ câu hỏi, bởi vì câu hỏi ấy rất có thể nêu lên một trở ngại không thật. Tôi thường đoạt cảnh để đưa câu hỏi về lại với thiền sinh. Tôi hy vọng rằng nhờ những câu hỏi trong cuốn sách này mà hành giả có thể tìm được phương thuốc chữa trị rất cần thiết. Lời dạy của Bụt thường được gọi là viên âm. Nghĩa là lời dạy tròn đầy, phù hợp với mọi chúng sanh. Viên âm cũng có nghĩa là lời dạy thích hợp cho người nghe, có liên hệ trực tiếp với hoàn cảnh hiện thực của người nghe. Tham vấn là một cơ hội giúp ta thực tập khả năng lắng nghe với lòng rộng mở, sẵn sàng đón nhận trong trạng thái tĩnh lặng an nhiên. Lắng nghe như thế thì chắc chắn ta sẽ nhận được phương thuốc mà ta đang cần.

Kỷ yếu Đến đi thong dong

KHẢI BẠCH

Thầy chúng con, Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng dạy rằng:

Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng
(Đến đi thong dong)

Gần trăm năm trụ thế và tròn tám mươi năm hành hóa khắp Đông Tây, Thầy chúng con đã trở về an nhiên xả báo tại chốn Tổ Từ Hiếu, nơi Người đã bước chân vào con đường xuất thế. Lễ Tâm Tang diễn ra như một khóa tu Im Lặng Hùng Tráng uy nghiêm giữa núi đồi Dương Xuân đã thắp lên ý thức trao truyền tiếp nối và thức dậy không biết bao nhiêu ngọn lửa Bồ đề trong tâm hàng đệ tử chúng con cũng như tất cả những ai từng có cơ duyên tiếp xúc, gần gũi và tiếp nhận sự giáo hóa của Người. Chúng con đã nhận được rất nhiều lời châu ý ngọc từ chư vị Tôn đức, chư vị lãnh đạo tôn giáo và tâm linh, chư vị lãnh đạo các quốc gia, chư vị nhân sĩ trí thức, các nhà báo, các thân hữu khắp nơi chia sẻ về công hạnh giáo hóa cũng như những ân tình với Thầy chúng con. Đó thật là những trân bảo vô giá, nhắc nhở chúng con về giá trị thiêng liêng của truyền thống tôn Sư trọng Đạo và chí nguyện dũng liệt trên con đường xây dựng tình huynh đệ, nghĩa đồng môn. 

Trong ý thức ấy, môn đồ pháp quyến và bốn chúng Đạo Tràng Mai Thôn biên tập nên tập Kỷ Yếu Đến Đi Thong Dong này như một phẩm vật dâng lên Thầy của chúng con trong lễ Tiểu Tường (Ngày 19 tháng Chạp năm Nhâm Dần, nhằm ngày 10 tháng 01 năm 2023) và cũng là một vòng hoa ngát hương cúng dường lên chư Tôn đức cùng thiện hữu tri thức gần xa. Chúng con thành kính niệm ân chư Tôn đức và chư liệt quý vị.

Chúng con nguyện sẽ cùng nhau giữ gìn và tiếp nối gia tài Pháp bảo mà Thầy chúng con đã trao truyền để luôn luôn được soi sáng trong sự hiện diện của Pháp thân mầu nhiệm ấy.

Thế sự như đại mộng
Quên tuế nguyệt ta đà
Tan biến dòng sinh tử
Duy còn ngươi với ta 
(Đề thiền duyệt thất – Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Kính ghi,

Thay mặt môn đồ pháp quyến và bốn chúng Đạo Tràng Mai Thôn

Thay mặt ban biên tập Kỷ yếu Đến Đi Thong Dong

Tỳ Kheo Thích Chân Pháp Ấn

Kỷ yếu Đến đi thong dong – Tập 1

Kỷ yếu Đến đi thong dong – Tập 2

LỜI TRI ÂN

Kính bạch chư Tôn Thiền đức, 

Kính thưa quý vị thiện hữu tri thức,

Với tâm niệm kết tập lời châu ý ngọc từ những chia sẻ, những bài viết của chư Tôn đức và thiện hữu gần xa về Lễ Tâm Tang Thầy chúng con là Thiền sư Thích Nhất Hạnh thành một tràng hoa thơm ngát, Ban biên tập Kỷ Yếu Đến Đi Thong Dong đã không ngại những yếu kém và hạn chế về thời gian chuẩn bị, mạnh dạn ra mắt tập Kỷ yếu này trong dịp Lễ Tiểu tường Thầy chúng con.

Chúng con xin dâng tràng hoa ngát hương này cúng dường lên chư Tôn đức, quý vị thiện hữu tri thức khắp nơi để ghi dấu những đạo tình và ân đức của quý liệt vị đối với Thiền sư cũng như đối với tất cả hàng hậu học môn đồ pháp quyến. Nguyện cầu cho tất cả mọi người và mọi loài được an lành, luôn an trú trong cõi Tịnh của phút giây hiện tại, bây giờ, ở đây.

Mặc dù đã cố gắng làm tốt nhất mọi việc với sự yểm trợ hết lòng của các pháp hữu trong phần phiên tả, phiên dịch và in ấn nhưng chắc chắn không thể nào tránh được những thiếu sót, trong đó trước hết phải nói tới việc xin phép bản quyền. Ban biên tập đã may mắn có được sự cho phép của hầu hết tác giả có bài in trong tập Kỷ yếu này nhưng cũng lấy làm tiếc vì nhiều lý do khách quan mà chúng con không liên lạc được với một số tác giả, chúng con rất mong quý vị thông cảm và thấu hiểu. Thời gian sưu tầm và biên tập bài viết hạn chế cho nên chúng con không thể tập hợp được tất cả sự chia sẻ và bài viết từ nhiều nguồn khác nhau. Những sai sót trong tập Kỷ yếu này do khả năng có hạn của nhóm biên tập, ngưỡng mong chư Tôn đức và quý vị thiện hữu lượng thứ và hoan hỷ.

Thay mặt môn đồ pháp quyến và bốn chúng Đạo Tràng Mai Thôn

Thay mặt ban biên tập Kỷ yếu Đến Đi Thong Dong

Tỳ Kheo Thích Chân Pháp Ấn

Những con đường đưa về núi Thứu

Chương 1: Dòng chảy

Chương 2: Phát triển

Chương 3: Tư liệu

Chương 4: Những chủ trương của Đại Chúng Bộ

Chương 5: Chủ trương của những bộ phái phát sinh từ Ðại Chúng Bộ

Chương 6: Những chủ trương của Ðộc Tử Bộ

Chương 7: Những chủ trương của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ

Chương 8: Những chủ trương của Hóa Ðịa Bộ

Chương 9

Những chủ trương của Đại Thừa

Những chủ trương của Mật Tông

Những chủ trương của Làng Mai

Chương 10: Hai quyến rũ lớn trong lịch sử tư tưởng Phật giáo

Kết luận: Con đường trước mặt

Sợ hãi

Không sợ hãi

Một thời đã qua

Nỗi sợ ban sơ

Hòa giải với quá khứ

Giải tỏa nỗi sợ tương lai

Không đến, không đi

Hiến tặng không sợ hãi

Sức mạnh của chánh niệm

Thực tập dừng lại

Bình yên trong cơn bão

Chuyển hóa nỗi sợ xung quanh ta

Bầu trời xanh trên đám mây

Biến nỗi sợ thành tình yêu

Đối nghịch của sợ hãi

Thực tập để giải tỏa sợ hãi khỏi cơ thể và cảm thọ

Chuyển hóa gốc rễ sợ hãi trong tâm

Thư giãn toàn thân để chuyển hóa sợ hãi và căng thẳng

Niệm tâm từ: Nguyện cho mọi người không sợ hãi

Năm phép thực tập chánh niệm (Năm giới)

Năm lời phát nguyện