Khứ lai

t chữ này

mảnh giấy này

du chân trên cát

tượng mây giữa trời

ngày mai, tôi đã đi rồi.

Bốn chữ Dấu chân trên cát làm đầu đề tập thơ chưa xuất bản đã được lấy ra từ bài thơ nhỏ này. Michèle Chamant đã dịch ra Pháp văn như sau:

Voyages du Temps

 ces coups d’encre noir

cette feuille blanche

des pas imprimés sur le sable

des nuages sculptés dans le ciel

demain

cest le départ.

Lời người dân lao động Sài Gòn

(1)

từ lòng đất

cng tôi đứng dậy

tìm về tiếng nói chính nghĩa

cng tôi đi, như một dòng sông

thành lập một chính quyền dân sự

cng tôi nói: được!

ủng hộ nội các chiến tranh

cng tôi nói: không!

đoàn người hướng về đại nghĩa

cng tôi đi, cuồn cuộn như một dòng sông

nhà thương

trường học

tình huynh đệ

cng tôi nói: có!

chiến tranh

động viên

leo thang

chúng tôi nói: không!

v ì tương lai dân tộc chúng tôi đi về, hòa hợp,

nghe tiếng biển cả

xuôi về, như dòng Cửu Long

đoàn kết tôn giáo

thương thuyết hòa bình

chúng tôi nói: có!

đốt làng đốt xóm

cht độc hóa học

bắt bớ tù đày tra tấn

chúng tôi nói: không!

tiếp tục chiến tranh, chúng tôi nói không! chúng tôi nói không!

(2)

chúng tôi không cần nội các chiến tranh

chúng tôi diễu hành hôm nay

tay trong tay

bạn tiểu thương gồng gánh

thợ thuyền xích lô xe ba bánh

biểu ngữ tung cao

đòi thành lập nội các hòa bình

các người giết nhau đến bao giờ

đt nước thống khổ điêu linh

cng tôi đòi hòa bình hòa bình hòa bình

nghĩa là đòi chấm dứt chiến tranh

các người đã nghe rõ chưa

cng tôi đòi hòa bình

nghĩa là đòi những người trong một nước

tự giải quyết lấy những hiềm khích

không thể rước voi về giẫm nát quê hương

thôi đừng tiếp diễn trò hề

chụp mũ chúng tôi là theo đuôi cộng sản

trong lòng thủ đô rên siết

khi tiền bạc bạo quyền bốn bề gây ô nhục

không có tiếng nói người có ăn có học

thì để chúng tôi đứng lên đòi chấm dứt chiến tranh.

Năm 1966, các tổ chức công nhân lao động ở Sài Gòn đã biểu tình lớn ngày Quốc tế Lao động (1 tháng 5) để kêu gọi đoàn kết tôn giáo, chống đối chính sách đàn áp của “nội các chiến tranh” do tướng Nguyễn Cao Kỳ cầm đầu và đòi thương thuyết hòa bình. Hồi ấy “thương thuyết hòa bình” là hai tiếng quốc cấm. Hai bài thơ trên đây đã được làm ra trong dịp biểu tình ấy. Nếu tôi không lầm thì trước ngày biểu tình mấy hôm anh em trong ban tổ chức có tới xin ý kiến Thầy về nội dung những biểu ngữ sẽ tung ra trong ngày ấy. Lúc đó tôi vừa giữ chức chủ tịch Tổng hội Sinh viên Vạn Hạnh nên cũng có cử một số anh em đến hợp tác với các lực lượng công nhân thợ thuyền để bảo đảm thêm cho tính cách bất bạo động của cuộc biểu tình, không để cho các phần tử phá hoại chen vào khiêu khích cho cảnh sát đàn áp. Cuộc diễu hành đã rất nghiêm chỉnh và hùng tráng; người tuy đông như thác, nhưng tất cả điều diễn biến trong vòng trật tự và không có đáng tiếc xảy ra.

Xin cúi đầu đưa về

đây hai bàn tay tôi

xin trả về cho em

thành khẩn nguyện cầu xin đừng nghiến nát

tôi đã trở về, như một kẻ đầu hàng ngoan ngoãn

dù muôn khổ đau, lòng không oán than,

bởi vì dưới ngôi sao em tôi đã sinh ra,

bởi vì vì em tôi mới sinh ra

để vạn kiếp làm người trai khờ dại

đây hai bàn tay tôi

là trái tim

là khối óc

là cuộc đời

là tất cả những gì còn sót lại

nhng bàn tay không mang quyền phép lạ

nhưng đã hơn một lần nhỏ máu trên cung bực thương yêu

 

đây hai bàn tay tôi

xin trả về cho em

kẻ thương yêu, mẹ dạy, không bao giờ tính toán

cỏ mộ úa vàng, cũng như hoa hồng đương lứa

thương yêu muôn đời vẫn hạt sương trong

đây hai bàn tay tôi

xin cúi đầu đưa về

em nhìn xem: những vết thương ngàn xưa vẫn chưa lành dấu máu

mười ngón đơn sơ hồn em xin đậu

như những giọt sương ngời đầu ngọn cỏ rung rinh

 

đây hai bàn tay tôi

mt kiếp luân hồi không xóa nhòa thương tích

nụ cười còn đây, tôi không bao giờ oán trách

còn đây tâm hồn thơ dại ngày xưa

đây hai bàn tay xưa

băng bó vẫn chưa lành

tôi mang về trả lại

thành khẩn nguyện cầu xin đừng nghiến nát

nguyện cầu mười phương trăng sao chứng minh.

Tuần san Hải Triều Âm số 2 ra ngày 30 tháng 4 năm 1964 có đăng một truyện ngắn của Thầy lấy tên là Câu chuyện người con trai khờ dại. Bài này chắc hẳn có liên hệ tới bài thơ Xin cúi đầu đưa về. Câu chuyện người con trai khờ dại được viết từ năm 1960. Hồi đó anh Huệ và Bá Dương, anh Khan, chị Hà, Nhiên, Chi và tôi có được đọc bản thảo. Có một điều ít ai biết là Thầy rất ghét các tổ chức Phật giáo, tổ chức nào cũng vậy, kể từ các hội Phật học cho đến Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Thầy nói Thầy không bao giờ chịu nổi những ông hội trưởng, phó hội trưởng, cố vấn,… của bất cứ một cái hội nào. Có lẽ vì thế mà Thầy chưa bao giờ giữ một chức vụ lớn nhỏ gì ở bất cứ tổ chức Phật giáo nào kể cả Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất mà Thầy đã từng lên tiếng bênh vực. Thầy nói trong các tổ chức Phật giáo, đã đành có người tốt có tâm đạo, nhưng cũng có rất nhiều những bộ mặt danh lợi, vào hội để chiếm giữ những địa vị để có thể ăn nói với ngoài đời. Tuy Thầy đã từng làm chủ bút báo Phật giáo Việt Nam, cơ quan chính thức của Tổng hội Phật giáo Việt Nam và chủ bút tuần san Hải Triều Âm, cơ quan ngôn luận của Giáo hội Phật giáo, nhưng Thầy luôn luôn dùng những cơ quan ngôn luận đó để “xây dựng” lại tổ chức Phật giáo – chủ sở hữu của tờ báo. Cũng vì vậy mà ông Chánh Trí Mai Thọ Truyền, tổng thư ký Tổng hội Phật giáo, không ưa báo Phật giáo Việt Nam, cũng như thầy Tâm Châu, viện trưởng Viện Hóa đạo, không ưa báo Hải Triều Âm. Từ năm 1960, Thầy đã có ý quyết đoạn tuyệt với những phiền não của hội hè để chuyên việc nghiên cứu, sáng tác và thiền tập. Nhưng tới cuối năm 1963, sau khi chính thể Ngô Đình Diệm sụp đổ, Thầy lại phải bắt buộc trở về với tổ chức Phật giáo. Lý do thứ nhất là lá thư thâm thiết của thầy Trí Quang gởi qua Nữu Ước (hồi đó Thầy còn dạy học tại Đại học Columbia). Lý do thứ hai là Giáo hội Thống Nhất có thể là động lực và phương tiện tranh thủ được hòa bình cho đất nước. V ì những lý do ấy mà Thầy phải “cúi đầu đưa về” “hai bàn tay” của Thầy cho tổ chức Phật giáo một lần nữa. Hai bàn tay mà theo Thầy, đến năm 1963 “băng bó vẫn chưa lành”.

Chân dung

Buổi sáng có mặt trời, ơi vũ trụ, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Buổi sáng có chim hót và chị bán xôi đi ngang ngõ trúc, ơi quê hương, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Buổi sáng có chợ họp, ôi thế gian, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Chỉ còn hai mươi giờ nữa thôi, tôi đã không còn có mặt ở đây. Tôi sẽ giao tôi cho lửa.

Buổi sáng có mặt trời, ôi quê hương, ôi thế gian, ôi vũ trụ. Hiện hữu đẹp vô ngần. Tôi luyến tiếc ngươi, tôi yêu dấu ngươi. Tôi nhớ thương ngươi. Tôi sẽ không mang theo được một lá cây nào, một hạt sỏi nào. Mỗi lá cây đều quý hóa vô ngần. Mỗi hạt sỏi đều quý hóa vô ngần.

Buổi sáng thức dậy, ô hay, mình đã ngủ, mình đã ngủ an lành. Buồn cười chưa, tôi như một trẻ thơ, ngủ ngon như người vô sự. Bàn tay ơi, có phải trách vụ ngươi là đúng sáng ngày hôm ấy sẽ gọi lửa về? Bàn tay áp lên má tôi. Bàn tay ơi, ngươi là người cộng sự trung thành. Bàn tay kẹo bánh. Bàn tay bút phấn. Bàn tay tơ lụa. Bàn tay mái tóc cô nhi.

Buổi sáng thức dậy, ôi tôi muốn sống. Tôi muốn sống mãi, sống hoài. Mỗi buổi mai hồng, mỗi buổi mai sáng trong, mỗi buổi mai mở đầu cho một ngày đầy như một trang giấy trắng tinh đợi chờ chữ nghĩa. Tại sao vũ trụ đẹp lên kỳ diệu vô cùng? Tại vì tôi sắp chết? Tại vì tôi mở mắt? Ôi những vì sao xa ơi, những vì sao xa.

Buổi mai thức dậy, da mặt tôi, bàn tay tôi và thau nước trong. Tôi muốn bơi trong dòng nước pha lê. Tôi muốn là con cá nhỏ. Buổi mai thức dậy, cửa sổ mở ra trên không gian thơm mát khi trời trinh nguyên. Tôi muốn tung bay nơi hư không. Tôi muốn là con chim nhỏ.

Buổi mai thức dậy, trời ơi, có lũ học trò qua ngõ, tíu tít như đàn chim. Các em hãy đi tới, hãy đi tới, hãy hướng về chân trời an lành, nơi đó không có đau thương, không giết chóc. Phía sau này tôi lao mình và ngăn lửa máu. Đi mau về phía trước, các em ơi. Phía sau này, núi đá, trường thành, rừng cây tuôn ra ngăn lửa máu.

Có một chị, có một anh, phía trước kia đang chờ. Lớp học sẽ thỉnh thoảng có chim bướm lạc vào, sẽ có hoa hồng treo cửa sổ đem hương theo quyến rũ. Kẹo bánh chuyền nhau dưới gậm bàn, anh biết vẫn mỉm cười, chị biết vẫn làm lơ. Bài chính tả đọc bằng giọng miền Nam, hỏi ngã mỗi khi viết sai thì chỉ tính bằng nửa lỗi. Tôi thương những mái tóc, tôi thương những cặp mắt, tôi thương cả những vết mực trên áo, trên mặt, cả những dòng mũi chảy thò lò.

Đường phố thiên hạ đầy người. Cô nghĩ chi, bác nghĩ chi? Anh lo gì chị buồn gì? Mỗi người một nỗi lo, mỗi người một tâm sự. Mọi người đi theo công việc mình buổi sáng. Tôi cũng đi lủi thủi một mình. Tôi đi dưới đất mà là đi trên cao. Tôi còn ở đây nhưng tôi đã đi rồi. Hai mươi giờ đồng hồ còn lại. Tôi không hé môi tâm sự với một người nào. Tôi không cô đơn, tôi không cô đơn. Bạn bè ơi, loài người ơi, anh chị ơi, tôi thương. Tôi thương trái đất chúng ta, và nước mắt tôi tuôn trào. Tôi cúi đầu dùng tay áo lau nước mắt. Tôi mỉm cười chữa thẹn. Tôi còn biết thẹn bởi vì tôi còn thương yêu, luyến tiếc. Một mình tôi, tôi đi.

Bạn bè ơi, thôi cho tôi xin đi, đừng giận dỗi. Xin đừng tiến lại gần. Xin hãy tránh xa đi để tôi sống như điều tôi tâm nguyện. Tôi muốn ôm từng anh, từng chị, từng em mà khóc. Nhưng mà như thế thì hỏng hết, hỏng hết. Nước mắt sẽ làm tiêu tan hết chút ý chí cần thiết. Tha lỗi cho tôi, các bạn; tha lỗi cho con, ba má nghe; tha lỗi cho em nghe, các anh chị; tha lỗi cho chị nhé, các em, các em mến yêu.

Dòng sông ơi, tôi còn nhớ câu chuyện dòng sông. Cho tôi làm người lái thuyền để mỗi sáng mỗi chiều nghe sông xanh nói chuyện. Cầu Ông Lãnh. Những chiếc thuyền chở khẳm nồi niêu đỏ chói. Những chiếc thuyền chở đầy những tĩn nước mắm. Những bà hàng bán cau môi đỏ như trầu, khăn rằn che tóc. Quê hương đẹp biết bao nhiêu. Ôi còn nào chùa, nào luỹ tre, nào vườn cau, nào giàn trầu, nào bến sông quen thuộc. Tôi muốn quay trở lui. Nhưng quay trở lui cũng không tìm thấy quê hương.

Đt quê hương, tôi đang đếm bằng những bước chân. Đất quê hương, bom đạn cày nát. Lời cầu nguyện cho những khu vườn xanh, có trúc đào, có xương rồng trước ngõ. Chắp tay tôi nhận chịu lửa đỏ như một lời cầu nguyện. Cho tôi thấy phố thấy nhà lần chót. Cho tôi thấy trăng thấy sao. Cho tôi thấy người, thấy đồng bào cười nói. Cho tôi ôm tất cả vào hai vòng tay nhỏ. Tôi đã tìm thấy. Anh chị em ơi, tôi đi nhưng tôi còn ở lại. Sáng mai mặt trời mọc, thơ tôi sẽ tới với người.

Đây là một bài thơ theo kiểu văn xuôi Thầy viết để tưởng nhớ chị Nhất Chi Mai, người tự thiêu cho hòa bình tại chùa Từ Nghiêm sáng mồng 8 tháng Tư âm lịch năm 1967. Chị Mai là một trong ba chị đầu tiên thọ giới dòng tu Tiếp Hiện. Bài thơ này được in trong tập Chim về trên không do Viện Hóa Đạo ấn hành năm 1971, kỷ niệm ngày giỗ thứ tư của chị. Bài Chân dung này được Thầy ký tên là Thạc Đức.

Hoa mặt trời

em đến đây, bằng đôi mắt hồn nhiên

nhìn mầu xanh của pháp thân hiển hiện:

dù thế giới tan tành

nụ cười bông hoa cũng không bao giờ còn tan biến

cng ta đã được gì hôm qua và sẽ mất gì sáng nay?

em đến đây

theo ngón tay tôi, nhìn thẳng vào thế gian điểm tô bằng ảo tượng:

hoa mặt trời mọc rồi

muôn hoa khác đều quay về quy ngưỡng.

Hoa mặt trời, theo tôi, có lẽ là trí tuệ biến chiếu của Phật làm tiêu tan mọi ảo tưởng trên thế gian.

Mẹ

by năm

trầm hương xa

hình ảnh mẹ

mt sáng mùa thu lạnh nắng

mẹ rũ áo ra về

đau thương đầy vai trút nhẹ

con không khóc:

cuộc đời xa lạ,

ra đi tủi hờn rưng rưng

gió bay áo con

vàng nắng, đồi cao, trời xanh,

nấm đất.

nhng người còn ở lại sau chót

cũng ra về.

con nói chuyện cuộc đời

lòng tan nát nhưng bình an

hiện hữu đã quá nặng nề trên vai mẹ

by năm

thỉnh thoảng mẹ về, linh động

hôm nay hai giọt nước mắt xót thương

ti hờn con chia với mẹ

hiện hữu vai con còn gánh

nhớ về hình ảnh mùa thu xa

trầm hương xa

gió thổi vi vu

đi cao ngợp nắng hôm nay con về

ở lại với con hôm nay mẹ ơi

ngày mai không biết về đâu phiêu bạt

nhưng mẹ vẫn còn

ôi thương yêu ngàn năm

cho con gục đầu nhớ nhung

gi về quê mẹ.

Bài này viết năm 1968, như vậy là thân mẫu của Thầy mất vào năm 1959. Độc giả quen thuộc với Bông hồng cài áo ít người biết đến bài này. Tập Bông hồng cài áo viết từ năm 1962, trước đó một năm và được đoàn Sinh viên Phật tử phổ biến bằng cách chép tay thành hàng trăm bản. Lễ Bông hồng cài áo đầu tiên đã được đoàn Sinh viên Phật tử Sài Gòn tổ chức vào ngày Rằm tháng Bảy năm ấy tại chùa Xá Lợi. Tất cả những người tham dự đều được gắn hoa hồng trên áo. Người nào còn mẹ thì được cài hoa mầu hồng, người nào mất mẹ thì được cài hoa trắng. Hồi ấy tôi còn ở trong đoàn và làm việc ở Ban Xã hội của đoàn. Lễ này được giới sinh viên và học sinh hưởng ứng nồng nhiệt và từ đó năm nào đến Rằm tháng Bảy, lễ này cũng được tổ chức ở nhiều địa điểm trong nước. Cho đến nay việc tổ chức lễ Bông hồng cài áo đã thành một truyền thống. Số in của Bông hồng cài áo đã lên tới hàng triệu, một phần bởi vì Lá Bối không giữ bản quyền sách này. Tuồng cải lương Bông hồng cài áo được sáng tác và trình tuồng này do đoàn Thanh Nga (Thanh Nga, Thành Được, Ngọc Giàu,…) trình diễn đang được lưu hành. Anh nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ sáng tác bản Bông hồng cài áo năm 1967.

Hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu hỡi ngàn sao lấp lánh

thuyền đã ra đi. đại dương. một sáng mai hồng

tôi ở lại một mình

đếm những dấu chân in trên nền cát trắng

bao nhiêu người đã lo sợ ra đây

cùng nguyện cầu cho trời yên bể lặng

gió ơi, hãy mang lời cầu nguyện đi xa

và xui giục cho trùng dương nổi sóng.

hi đau thương, hãy lại đây cùng ta nhìn:

người lái thuyền sáng hôm nay

đang ngắm trời mây

và thản nhiên cười trước sóng

đã không nguyện cho trời yên bể lặng

nhưng nguyện cầu cho chân cứng đá mềm.

hỡi đau thương, hãy lại gần đây thêm nữa,

với ta, hãy thôi đi chuỗi cười kiêu hãnh

có ngươi, ta là tất cả,

không có ngươi, ta chỉ là ta,

hãy nguyện cầu cho bóng tối thêm sâu

hi ngàn sao lấp lánh!

ta muốn khi mặt trời vừa lên

nắng mai sẽ xối chảy trên sườn đồi

nhng dòng thủy tinh loáng bạc.

ngày với đêm thù nghịch

ngày với đêm tương sinh –

từ ngàn vạn năm xưa, ánh sáng và bóng tối giao hình

y em bé thơ ngây

phải chăng em là một thiên thần vừa đọa?

đừng nhìn ta với nét nhăn trên trán

em đang còn xa lạ

y cười lên, hương ngát bình minh

y cười lên, trăng núi an lành

cười đi như thuở nào ta còn thơ dại

xin em đừng nghe lời ta nói

để rồi lòng em thắc mắc ngẩn ngơ

ngày mai, nếu có nghe

y nghe lời ta như nghe suối reo

y nghe lời ta như nghe chim hót

như xem liễu lục bông hồng

như ngắm hoa vàng trúc biếc

như nhìn bạch vân minh nguyệt

tiếng hát ca nhiệm mầu sáng nay

đã thoát ra từ khổ đau của ngàn muôn kiếp sống

ngàn đóa sen tinh khiết nhả hương

đã nẩy sinh nơi bùn lầy nước đọng

ta vẫn đứng chờ em.

Bài này được đăng lần đầu tiên trên nguyệt san Phật giáo Việt Nam (số 16, ra ngày Rằm tháng 11 năm Đinh Dậu, 1956). Ngày xưa đọc bài tôi rất thích nhưng bây giờ tôi không mấy ưa nữa. Tôi không muốn “chân cứng đá mềm” mà chỉ muốn “chân là chân, đá là đá” mà thôi.

Đoạn chót của bài này đã được hội Fellowship of Reconciliation cho in trong một thiệp chúc Giáng sinh phát hành tại Hoa Kỳ. Hình vẽ là của anh Võ Đình trình bày Phượng Nam cầm con diều giấy. Phần Anh văn này do chính Thầy dịch:

O Innocent Child

are you an exiled spirit newly set down

into this worn world?

Do not look at me so,

your forehead wrinkled;

you are still a stranger here,

take my advice smile in the perfumes

of this pink dawn.

Smile, young one: moon, cloud, wind all are calm,

peaceful, harming nothing.

Smile, little child, as I did in early innocence,

knowing nothing, discerning nothing.

Close your ears to my words.

Remain amazed and in wonder as you are,

return to the place from which you came.

If the need to listen to me

occurs to you one day,

and I should be absent,

then instead become attuned to the murmur of a spring

or that of a cascade.

You will have to contemplate the yellow chrysanthemums

or the violet bamboo trees

or the white cloud

or the clear and peaceful moon.

All of them tell the same story,

as I tell today to the singing birds

This marvelous song you hear this morning

O little birds,

rises from uncounted suffering lives.

These lotus flowers which are calmly giving perfume

reach upward from the muddy pond.

I am here, waiting for you

O little child.

Nẻo vắng

ng mình

sóng gợn mặt hồ

sương sớm lạnh

dấu chân em

buổi sáng

trinh tuyền lối cỏ

không lá ngô đồng xa

nhưng hồn mùa ấm áp

hoang sơ đi rồi

thuyền chở mái trăng về bến cũ.

Bản Anh văn bài này được in trong tập Zen Poems do nhà Unicorn Press xuất bản tại Hoa Kỳ.

Chứng nhân còn đó

hỏa châu sáng trên trời

em bé vỗ tay reo

nhưng tiếng súng đã nổ

tiếng cười tắt theo

và chứng nhân còn đó.

Đầu đề bài này Le Témoin Reste đã được chọn khi chúng tôi cho in tập thơ của Thầy bằng Pháp văn năm 1973. Tập này do Pierre và Neige yêu cầu in để bán tại các đại nhạc hội do hai người tổ chức trên nhiều thành phố nước Pháp, lạc quyên giúp cô nhi Việt Nam. Bản Pháp văn chị Michèle Chamant dịch như sau:

Le Témoin Reste

des bombes flamboyantes

illuminent le ciel noir,

un enfant applaudit;

il rit.

jentends le son des canons

et le rire meurt.

mais le témoin reste.

Marathon, marathon

Nhớ Lambrakis

Gửi Michel Peristerakis và các bạn

anh hô hào bè bạn

đng dậy chống chiến tranh

anh hô hào quần chúng

đng dậy biểu tình

họ ngăn cản anh

họng súng độc tài bốn bề đe dọa

nhng cặp mắt bạn bè

bốn bề hướng về

e ngại

nhưng anh đứng dậy

mt mình

biểu tình

mt mình

trương biểu ngữ

hòa bình

mt mình

đi.

đường chính nghĩa

biểu ngữ

hai tay giăng cao

trước ngực.

Lambrakis

ngày hăm mốt tháng Tư

năm 1963

nhân loại thấy

mt mình anh đứng dậy.

đương đầu bạo lực

bóng đêm dày

từ Marathon về thành Nhã Điển

thắp lại ngọn đèn văn minh Hy Lạp

anh đi

bọn chúng lái xe cán chết anh

trên đường biểu tình

cán chết cách mệnh

cán chết dân chủ

cán chết hòa bình.

Lambrakis

một tiếng gọi nghìn lời thưa

linh hồn Hy Lạp xưa

bừng tỉnh

thương anh

thương nền văn minh

thành phố Athènes vùng dậy

biểu tình.

Marathon!

bạo lực cúi đầu nép phục

trọn thành phố Athènes

tham dự diễn hành

cứ mỗi năm

1964

1965

1966

tháng Tư diễu hành Marathon

rừng biểu ngữ bay trong gió

các anh bảo vệ hòa bình dân chủ

ri năm nay

1967

bạo lực ngóc đầu trỗi dậy

các anh rên xiết

ngọn roi bạo tàn quân phiệt

mũi giầy đinh

cng bắt tám ngàn người

tám ngàn lãnh đạo thanh niên

cng đàn áp

nhng người yêu Lambrakis

nhng người trung kiên

nhng người dù nát thân dưới gót giày đinh vẫn không hề phản bội

nhưng đang nửa khuya, trời còn tối

mà các anh lại đã đứng lên rồi!

khắp nơi thế giới biểu tình

thế giới thức tỉnh

trong cuộc tranh đấu cho dân chủ

cho hòa bình

cng ta hôm nay không còn cô độc.

Lambrrakis

hãy yên tâm

cng tôi về xin tiếp tục

thế giới đi về

phía anh đi

cng tôi về

chuẩn bị khắp nơi nơi

cuộc diễn hành tháng Tư

đâu đâu cũng có anh

mang gió và nắng đi theo

rừng biểu ngữ Marathon vĩ đại.

Thầy có kể chuyện về cuộc đời Lambrakis ở Hy Lạp cho chúng tôi nghe và cả chuyện đi Athènes năm 1967 để tham dự diễu hành từ Marathon về Nhã Điển do anh Michel Peristerakis tổ chức. Cuộc diễu hành đã bị hủy bỏ vì trước đó, giới quân sự đã đảo chánh và bắt hết tất cả những thành phần tiến bộ đòi hỏi dân chủ và tự do. Thầy bị kẹt ở Athènes tới một tuần lễ, và cũng suýt bị giam giữ như Michel. Tôi gặp Michel tại Hòa Lan năm 1975 hồi anh mới được phóng thích.