Thấy Bụt

Nhật ký chuyến đi Ấn Độ

Chân Đào Nghiêm

 

Nhiều ngày trước khi chuyến hành hương về đất Bụt bắt đầu, tôi cùng với các anh chị em xuất sĩ đã có mặt tại Ấn Độ để hướng dẫn một khóa tu. Và ngày hôm qua, chúng tôi đã gặp nhóm cư sĩ nói tiếng Pháp, thành viên của chuyến hành hương. Tôi cảm thấy thật vui sướng, thấy mình thật may mắn được tham gia vào chuyến đi này. Những người bạn cư sĩ đã góp phần rất lớn để chuyến đi được thực hiện. Hạnh phúc biết bao được đặt chân lại trên mảnh đất Ấn Độ sau bao năm tháng mong chờ. Tôi để cho mình được mặc lòng tắm trong hương vị, âm thanh, cảnh vật, con người… nơi đây. Năng lượng của Ấn Độ thật ấn tượng: rất đông người ở khắp nơi, âm thanh đủ loại và ô nhiễm… Sự thực tập là đây. Làm sao để giữ được sự điềm nhiên và bình an nội tâm trong khung cảnh náo động này, để vẫn mở lòng ra và đón nhận.

Đến thành phố cổ Ba La Nại (Varanasi), chúng tôi đi men theo bờ sông Hằng bằng thuyền. Có rất nhiều người cầu nguyện, tắm trên sông. Sự im lặng của mọi người trên thuyền đã giúp tôi tận hưởng được cảnh mặt trời lên và vẻ đẹp của sông Hằng. Cả người tôi rúng động trước sự thành kính, tôn thờ, niềm tin tha thiết, sự mộ đạo và tín ngưỡng sâu dày của những con người nơi đây.

Một cái xác phủ kín hoa đang chờ để được thiêu, một xác khác vừa được thiêu xong, tro đang được thu lượm… Nỗi buồn xâm chiếm lòng tôi. Trẻ em, người lớn cạo tóc trước khi đầm mình dưới dòng sông Hằng linh thiêng. Trò chơi của sự sống và cái chết… Đây quả là những phút giây khiến chúng ta hoặc sẽ mở lòng ra hoặc sẽ bị xáo trộn cực độ. Đối với tôi, sáng hôm ấy, trái tim tôi đã mở ra.

Chúng tôi đi thiền hành trên những con phố nhỏ ở Ba La Nại. Cuộc sống phơi bày trước mắt. Tôi thấy những cảnh đói nghèo, nheo nhóc, nhưng tôi cũng gặp rất nhiều những nụ cười, những ánh mắt thân thiện.

Dừng chân tại Lộc Uyển (Sarnath) nơi Bụt đã cho bài thuyết pháp đầu tiên sau ngày thành đạo, nơi Ngài nhận những vị đệ tử xuất gia và tại gia đầu tiên, cả đoàn cùng đi nhiễu quanh tháp. Thầy, tất cả huynh đệ ở Làng Mai và con gái tôi, Sivakami, đã cùng có mặt trong mỗi bước chân của tôi.

Hạnh phúc quá! Tôi đang đứng tại Bồ đề đạo tràng (Bodh Gaya) – Phật tích linh thiêng – nơi Bụt thành đạo. Từ rạng sáng, một nhóm nhỏ trong chúng tôi đã lên đường tới đây. Hàng ngàn con chim cùng hót vang đón chào ngày mới trên những cây đại thụ bên đường dẫn tới Bảo tháp Đại giác (Mahabodhi). Tôi tận hưởng từng bước chân an trú trong hiện tại của mình. Trời sáng hẳn, tiếng chim ngừng bặt nhường chỗ cho những lời đọc kinh, chú nguyện của hàng trăm người đang có mặt ở nơi này. Một lần nữa, tôi mở rộng mọi giác quan để đón nhận những gì đang hiện diện. Chiều tối, tôi quay lại đền và được chứng kiến một quang cảnh hoàn toàn khác. Tới giờ đóng cửa, hoa và các phẩm vật trên bàn thờ đã được lấy xuống. Chỉ còn lại năng lượng kính ngưỡng, chú tâm được chế tác bởi những người đã tới trong ngày và sự có mặt của những chú chó canh đền đứng nhìn chúng tôi cho tới khi chúng tôi ra về.

Ngày tiếp theo là ngày kỷ niệm mười bốn năm tôi được xuất gia. Hạnh phúc làm sao! Tôi có mặt tại Bồ đề đạo tràng vào đúng ngày này. Chúng tôi trở lại đây từ rất sớm, trước cả giờ mở cửa. Trong số những người đứng đợi có một vị thầy tu Tây Tạng. Tôi chắp tay chào thầy và được nhận lại một nụ cười nở trên khuôn mặt đầy từ bi, bao dung. Buổi sáng hôm ấy, bước chân tôi đã nhiều lần quay lại nơi vị thầy tu ấy ngồi trong an trú và tự tại.

Sau này, tôi cũng gặp một sư cô người Tây Tạng đã có tuổi, người nhỏ bé. Một người trẻ tuổi hơn đi theo đỡ sư cô. Khi sư cô ngồi dưới cội bồ đề ngắm nhìn những cành cây, một chiếc lá rời cành, rơi xuống ngay nơi chân sư cô. Sư cô cúi xuống nhặt chiếc lá rồi đứng dậy, khi đó tôi đã bắt gặp ánh mắt và gương mặt rạng rỡ của sư cô. Tôi như cảm nhận được trọn vẹn niềm vui sướng của sư cô, bởi vì ngày hôm trước tôi cũng đã hân hoan như vậy khi một chiếc lá bồ đề rơi xuống, đậu ngay trước mặt tôi.

Cả đoàn cùng ngồi dưới tán lá cây bồ đề. Tôi đọc một chương trong cuốn Đường xưa mây trắng của Thầy, chương Sao mai đã mọc. Chúng tôi đã cùng trải qua những phút giây thật kỳ diệu.

Sau đó chúng tôi trở lại khách sạn, dùng bữa sáng và chuẩn bị lên đường tới thành cổ Vương Xá (Rajgir).

Chiều hôm sau, cả đoàn tới thăm núi Linh Thứu. Chúng tôi cùng đi thiền hành trên con đường được vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) xây dựng cho Bụt, cùng ngồi ngắm mặt trời lặn trên đỉnh núi trong sắc tím rồi chuyển thành vàng cam. Những ngọn núi xung quanh Linh Thứu đẹp rực rỡ. Tôi chiêm ngưỡng cảnh tượng huy hoàng này trong niềm hạnh phúc vô bờ. Đã tới lúc phải quay về vì trời sẽ tối rất nhanh, nhưng vài người trong chúng tôi vẫn cạo đầu và đắp y để làm mới lại tâm bồ đề trước khi rời khỏi thánh tích linh thiêng mang đậm dấu ấn của Bụt này.

Trong nhật ký hành trình ngày 29 tháng 10 ở Câu Thi Na (Kushinagar), tôi đã viết: “Sự yên tĩnh của buổi sáng hôm nay thật là một món quà tuyệt vời. Không một tiếng động, không một tiếng còi xe, không cả tiếng người, chỉ có duy nhất tiếng chim hót. Tâm tôi cần sự yên tĩnh lắng dịu và mát mẻ này biết bao bởi vì trong suốt chuyến đi, sự ồn ã, náo nhiệt của âm thanh không ngừng có mặt . Tôi chạm được sâu sắc phần con người của Bụt. Tôi cảm nhận Người rất gần với tôi, thật gần gũi như khi tôi cảm nhận được sự có mặt của Đức Chúa ở trong tôi và bên cạnh tôi”.

Trong suốt cuộc hành trình này, tôi đã để cho sự sống nhiệm mầu của Bụt thấm vào trong tôi. Dường như tôi đã được sống lại những gì Người đã trải qua, những gì Người đã từng nhìn, nghe, nếm, ngửi. Cảm giác này rất thật, rất cụ thể và sống động trong tôi. Đó không phải là một ý niệm hay một sự lý tưởng hóa. Người không còn là một nhân vật trừu tượng mà tôi nhìn thấy qua những bức tượng. Người là tổ tiên của tôi, Người rất thật, sống động trong tôi. Dường như trước đó tôi chỉ biết tới Người qua trí năng của mình. Tôi đã không cảm được mối liên hệ mật thiết giữa tôi và Người, tôi đã không thấy được Người có trong tôi.

Tại Xá Vệ (Vaishali), tôi được viếng thăm di tích của các ni viện nơi quý sư cô – những bậc tiền bối của tôi – ngày xưa từng tu tập trong nhiều năm tháng. Những người phụ nữ dũng cảm ấy đã đi ngược lại những cấm đoán của xã hội Ấn Độ thời đó, cầu xin xuất gia theo Bụt. Chúng tôi là hậu duệ của quý vị đây! Chúng tôi đang có mặt nơi này, nơi quý vị từng sống. Tôi thấy cảm động quá! Tôi để niềm xúc động ấy thấm vào trong tôi, đọng lại nơi trái tim. Tôi thấy mình không cần có bất cứ một ý niệm nào hết, chỉ để cho cảm xúc này được sống trong tôi.

Khi tăng thân cùng đi bộ tới chùa Niết Bàn (Mahaparinirvana), có nhiều bé gái tới xin ăn. Tôi nắm bàn tay một em gái nhỏ. Cả hai chúng tôi cùng bước đi. Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh của Thầy cùng thiền hành với trẻ em. Bước chân tôi bỗng trở nên vững chãi, chánh niệm hơn để tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc rất đẹp này. Chúng tôi đi những bước thật đều, thật hòa điệu. Bé gái nhỏ đã tặng cho tôi sự tươi mát, nhẹ nhàng của em. Trước khi tới ngôi chùa, hai chúng tôi chia tay nhau. Người này trao tặng cho người kia một nụ cười thật tươi. Tôi trân quý biết bao những giây phút cùng có mặt với em.

Cả tăng thân đi thiền hành trong khuôn viên chùa. Một tượng Bụt nằm rất lớn chiếm trọn vẹn không gian. Chúng tôi có thể cảm nhận rõ ràng năng lượng chánh niệm của cả nhóm. Đại chúng cùng ngồi xuống, một thầy trong đoàn làm thiền hướng dẫn: “Để Bụt thở… Để Bụt ngồi…” Mỗi câu đi thẳng vào từng tế bào của cơ thể tôi. Chúng tôi thực tập tiếp xúc với sự bất sinh bất diệt qua hình ảnh của Bụt. Bụt vẫn đang có mặt trong cuộc đời…

Chúng tôi tới Nepal. Sáng hôm ấy, một cơn bão đã đi qua lòng tôi. May mắn sao, cả đoàn cùng đi thiền hành dọc theo khu rừng nơi Bụt được sinh ra. Thiên nhiên làm tôi dễ chịu hơn, tôi tập trung vào mỗi bước chân để đưa bình an về lại trong tâm. Một người bạn nắm tay tôi cùng bước đi. Sự hiện diện vững chãi, bao dung, đầy thương mến mà tôi cảm nhận được từ người bạn ấy đã giúp tôi trở về được với vẻ đẹp của giây phút hiện tại…

Trong tôi dâng lên lòng biết ơn những nhân duyên giúp tôi tham dự vào chuyến hành hương Phật tích này. Đây là ước mong của tôi từ năm 2008 khi Thầy và tăng thân đi thăm Ấn Độ mà tôi đã không thể tham dự cùng. Ngày hôm nay đây, mong ước của tôi đã thành hiện thực với sự có mặt của Thầy trong suốt chuyến đi. Thầy không cùng đi bên tôi nhưng Thầy ở trong tôi.

Bụt và Thầy luôn có đây, bước cùng tôi trên mọi nẻo đường tôi đi.