Tâm đăng – Nhất hạnh tam muội

Năm 1966 là năm mà Thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, Thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để Thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.
Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho Thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để Thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho Thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:
Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành
Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, Thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì Thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, Thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.
Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bức rức ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.
Đi Về Hướng Mùa Xuân
Thiền của chúng ta là thiền của tình thương. Chúng ta thực tập thương yêu hai mươi bốn giờ trong một ngày. Chúng ta đi, cốt yếu vì thương mà đi, chúng ta ngồi cũng vì thương mà ngồi, chúng ta ăn cơm cũng vì thương mà ăn cơm, chứ không phải là để làm khô kiệt dòng suối thương yêu trong lòng của chúng ta. Bụt là một con người của tình thương. Chúng ta phải tiếp nối tình thương của Bụt mới được.
Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện của một bà cụ. Bà cúng dường cho một vị tu sĩ ở trong một am cốc suốt 20 năm. Ngày nào Bà cũng đem cơm đến để cúng dường cho vị tu sĩ đó. Khi không đi được thì bà nhờ cô con gái đem cơm đến cho Thầy. Suốt 20 năm như vậy. Một hôm, bà cụ nói với con gái: Này con, con lên ngồi chơi với Thầy, con xin Thầy ôm con, thử xem Thầy phản ứng như thế nào? Cô thiếu nữ lên am cốc và làm y như vậy. Thầy kia xích ra một bên và đọc hai câu kệ:
Khô mộc ỷ hàn nham
Tam đông vô noãn khí
Nghĩa là:
Cây khô dựa vào hòn núi lạnh. Suốt trong ba mùa đông nó không hề có một chút hơi ấm nào cả! Khi cô gái về báo cáo với mẹ, bà cụ ngửa mặt than rằng: Hai mươi năm cúng dường rất là uổng. Ông Thầy tu này không được tích sự gì hết! Chiều hôm đó, bà đến châm lửa đốt cháy túp lều của vị tu sĩ.
Chúng ta tu như thế nào để tình thương trong ta luôn đầy tràn, để niềm tin trong ta không cạn mất. Nếu tu chỉ để làm dịu bớt một vài khổ đau ở trong lòng, hay để chạy trốn khổ đau ở cuộc đời thì chưa phải là tu đúng phương pháp. Tu mà không thấy được những khổ đau ở xung quanh, không đem lại sự chuyển hóa, sự tươi mát và hạnh phúc cho người xung quanh ta thì cách tu đó không phải là bản hoài của Đức Thế Tôn. Vì vậy phải vượt qua giai đoạn “Khô mộc”, phải đi để gặp mùa xuân!! Đó là pháp tự mà Sư Ông đã đặt cho Thầy: Phùng Xuân. Nó có một ý nghĩa rất sâu sắc mà hồi đó vì chưa hiểu, vì dại dột, Thầy đã cho rằng cái tên này giống tên con gái.
Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Câu đầu có chữ Nhất. Câu hai có chữ Hành. Nhất hướng là đi chuyên về một hướng. Hướng đó là hướng Phùng Xuân. Do đó, các học trò của Thầy hãy cứ an tâm nhắm vào hướng mùa Xuân mà đi tới. Đắc là được. Kiện hành là một thế đi rất hùng dũng và vững chãi. Đó là Lăng Nghiêm. Tiếng Pháp gọi là “La marche héroique”. Danh từ “la marche héroique” là để dịch chữ surangama. Dịch tiếng hán việt là kiện hành, tức là thế đi hùng dũng. Thế đi của người xuất gia phải là một thế đi dũng cảm. Cho nên, các sư cô và sư chú nên biết mình phải đi như thế nào. Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành: Đi về một hướng thôi: gặp được mùa xuân và đạt tới một thế đi vững chãi. Hành tức là hành động. Nếu là động từ thì ta đọc là hành. Nếu là danh từ thì ta đọc là hạnh. Hành tức là active, còn hạnh là action. Hành đương vô niệm diệc vô tranh: Trong hành động, ta phải theo các nguyên tắc vô niệm và vô tranh.
Vô Niệm và Vô Tranh
Vô niệm tức là không để bị kẹt vào ý niệm. Vô tranh nghĩa là không có óc hơn thua, ganh tỵ với người. Trong bao nhiêu năm hành đạo, Thầy thấy vô tranh dễ làm hơn vô niệm. Trong công cuộc hành đạo, khi có người đến tranh chấp và hơn thua với mình thì Thầy buông bỏ rất dễ, còn vô niệm thì phải thực tập nhiều mới có thể buông bỏ được. Vô niệm là không bị kẹt vào bất cứ một khái niệm hay một ý niệm nào cả.
Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tổ Huệ Năng định nghĩa vô niệm như sau: nhược kiến nhất thiết pháp bất nhiễm trước thị vi vô niệm. Nghĩa là khi mình đối diện với các pháp mà tâm không bị dính kẹt vào đó thì gọi là vô niệm. Như khi thấy một cái hoa thì ta liền khởi lên ý niệm về nó, cho nó là đẹp và muốn nó thuộc về mình. Đó không phải là vô niệm mà là đang kẹt vào một cái niệm. Có một ý niệm về Thầy, về bạn, về người hàng xóm của mình, chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm đó và chúng ta vướng mắc, giận hờn hoặc tham đắm là do ý niệm đó. Một khi chúng ta đã bị kẹt vào bởi ý niệm đó rồi thì hành động của ta không còn tự do nữa.
Chẳng hạn như chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta cho rằng phải như thế này, phải như thế kia mình mới có hạnh phúc, và vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc ấy nên chúng ta không có hạnh phúc. Trong khi đó, hạnh phúc có thể đến với ta một cách rất dễ dàng nếu ta có tự do, nếu ta không bị kẹt vào một ý niệm nào. Ví dụ có một sinh viên nghĩ rằng: “mình phải có bằng Tiến sĩ thì mới có hạnh phúc.” Vậy là chết anh ta rồi. Anh ta bị kẹt vào một ý niệm: phải có bằng Tiến sĩ mới có hạnh phúc.
Trong khi đó, rất nhiều người hạnh phúc quá chừng mà không cần có bằng Tiến sĩ gì cả! Tại sao anh lại giam anh vào trong một ý niệm để rồi anh khổ? Cho nên những ý niệm của mình rất nguy hiểm, dù là ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về lý tưởng, về Bụt. Mình phải có tự do hoàn toàn. Cho nên trong hành động, chúng ta phải có tự do, phải vô niệm, phải vô tranh thì hành động đó mới là hành động đích thực.
Trong ba mươi năm ở quốc ngoại, Thầy đã cố gắng đi theo lời chỉ dẫn của Sư Ông. Trong những năm hành đạo ở quê nhà, Thầy đã sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, trường Cao Đẳng Phật Học, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm, tuần san Thiện Mỹ, v.v… Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội, Thầy đích thực thấy câu thứ hai này là kim chỉ nam hướng dẫn cho đời mình. Thầy luôn sống và hành động với tất cả con tim mình để phụng sự mà cố gắng không bị dính kẹt vào một ý niệm, một phe phái hay một sự tranh chấp nào cả.

Tâm Đăng Nhược Chiếu Kỳ Nguyên Thể
Tâm đăng
Tâm đăng là cây đèn trong tâm. Mỗi chúng ta đều có một cây đèn bên trong. Chính cây đèn này chúng ta phải thắp lên. Đó là ánh sáng chánh niệm. Ánh sáng duy nhất để chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm hồn. Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể: lấy ngọn đèn tâm mà soi rọi trở lại cái bản chất, cái thể tính của mình. Làm được như vậy thì: Diệu pháp Đông Tây khả tự thành. Cái chánh pháp mầu nhiệm tự động được thành tựu thôi, dù ở phương Đông hay phương Tây. Những năm gần đây, có khi Thầy bất giác giật mình. Dường như Sư Ông đã biết trước rằng Thầy có thể đóng góp được ít nhiều cho công trình hoằng pháp ở cả Tây phương và ở Đông phương. Ngày xưa, khi leo lên máy bay để qua Tây phương, Thầy không hề có ý niệm ở lại Tây phương để hoằng pháp. Nhưng sau khi Thầy đã lên tiếng kêu gọi hòa bình rồi, thì các chánh phủ ở Việt Nam không cho phép Thầy trở về nước nữa.
Nhất hành (nhất hạnh)
Bây giờ chúng ta đi sang danh từ nhất hành. Nhất là một và hành là hành động. Có một tam muội gọi là nhất hạnh tam muội, có khi gọi là chân như tam muội, có khi gọi là nhất tướng trang nghiêm tam muội. Kinh luận giải thích: trong tam muội này ta quán chiếu được cái tướng nhất như bình đẳng của tất cả các pháp. Đưa mắt nhìn ra, ta thấy vạn sự vạn vật muôn hình vạn trạng, khác biệt nhau và tách rời nhau ra. Nhưng nếu quán chiếu thì ta sẽ thấy tất cả những cái khác nhau đó đều cùng chung một bản thể. Tuy là đa dạng, nhưng nằm dưới cái đa dạng đó có cái một, cái nhất như và cái bình đẳng, vì vậy không cái nào hơn cái nào. Đứng về phương diện hình tướng thì một trái núi lớn hơn một hạt sỏi và chúng ta thấy có sự chênh lệch giữa một trái núi và một hạt sỏi. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì trái núi và hạt sỏi là một, chứ không có sự khác biệt. Trái núi mầu nhiệm bao nhiêu thì hạt sỏi cũng mầu nhiệm bấy nhiêu. Nếu không có trái núi thì không có hạt sỏi. Nếu không có hạt sỏi thì không có trái núi.
Đứng về phương diện Bụt và chúng sanh cũng vậy. Nếu nhìn về phía hình thức, chúng ta sẽ thấy Bụt khác, chúng sanh khác. Bụt có đại từ, đại bi và đại trí, có thọ mạng vô lượng, còn chúng sanh có tham, sân, si, có sanh tử luân hồi. Nhưng sự phân biệt đó sẽ tan biến đi khi ta an trú vào trong “nhất hạnh tam muội”. Khi quán chiếu ta sẽ thấy được tính cách bình đẳng và nhất tướng của mọi sự và mọi vật trong pháp giới. Tướng đó gọi là tướng “vô sai biệt”.
Tâm đăng trong ánh sáng của nhất hạnh tam muội
Theo phương pháp quán chiếu của nhất hạnh tam muội, trong những tư thế hằng ngày của ta như đi, đứng, nằm, ngồi, tâm ta luôn hướng về cái “định” đó để ta có thể thấy được không có cái gì lớn hơn cái gì, không có cái gì nhỏ hơn cái gì, không có cái gì cao hơn, không có cái gì thấp hơn và chúng ta thấy được tính cách nhất như bình đẳng của vạn sự vạn vật. Ta không cần bước ra khỏi đạo tràng mà vẫn có thể đi vào cõi Hoa nghiêm, cõi Tịnh độ. Đó là định nghĩa của Thầy Long Thọ trong tác phẩm Đại Trí Độ Luận.
Thực tập theo khuynh hướng tịnh độ, ban đầu tâm của chúng ta duyên tưởng tới một vị Bụt như Bụt Thích Ca, Bụt Từ Thị hay Bụt Di Đà. Chúng ta để tâm của ta quán chiếu thường trực từ giây phút này tới giây phút khác. Qua vị Bụt đó, chúng ta liên hệ được với tất cả các vị Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta thấy rằng dù cho tất cả các vị Bụt đông đảo bằng số cát sông Hằng, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được qua một vị Bụt và chính bản thân ta cũng là một vị Bụt. Qua bản thân ta, ta có thể tiếp xúc được với tất cả các vị Bụt ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là định nghĩa trong kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Tại đạo tràng Làng Mai, chúng ta thường thực tập theo tinh thần này. Ban đầu, chúng ta dùng chánh niệm, để thắp lên ngọn đèn tâm. Trong bài kệ này Sư Ông gọi ngọn đèn ấy là “tâm đăng”. Khi ăn cơm, ta biết là ta ăn cơm. Ngồi với tăng thân, ta biết ta đang ngồi với tăng thân. Ngọn đèn của ta đang cháy. Nếu ngồi với tăng thân mà mơ tưởng đến chuyện khác, đến quá khứ, đến tương lai, hoặc lo âu buồn rầu là ngọn đèn của ta đang tắt. Dù Thầy đã có truyền cho ta cây đèn rồi thì cây đèn ấy cũng đang bị tắt như thường. Tâm đăng là cây đèn của lòng mình, phải thắp sáng không những mỗi ngày một lần mà phải thắp sáng suốt ngày trong mỗi giây mỗi phút, tại vì ngọn đèn đó là để chiếu sáng hiện hữu của chúng ta.
Trong bài kệ của Sư Ông, ta thấy: “Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể”, nếu cây đèn tâm chiếu được vào nguồn gốc của nó thì ngọn đèn đó là một năng lượng ánh sáng rất thật, chứ không phải là một cái gì trừu tượng. Tất cả chúng ta đều biết ngọn đèn đó là ngọn đèn gì. Trong chúng ta đây ai cũng đều đã học được cách thắp nó lên và giữ cho nó cháy sáng từ niệm này sang niệm khác, từ giờ phút này sang giờ phút khác. Nhờ ánh sáng đó mà chúng ta thấy biết chuyện gì xảy ra trong giây phút hiện tại.
Trong thế giới của cảm thọ, khổ thì ta biết là khổ, vui thì ta biết là vui, không khổ không vui thì ta biết là không khổ không vui. Trong thế giới của tri giác, có một ý niệm thì biết là mình có một ý niệm, có một tri giác thì biết là mình có một tri giác. Đó là cái nguyên thể, tức là tâm của mình. Đèn tâm thắp lên từ tâm, trở lại chiếu rọi vào tâm. Phải thắp lên mới thấy được tâm của mình.
Nhiều khi tâm của mình đi những nước cờ rất lạ lùng, mình không thể biết. Mình tưởng là mình không như vậy, kỳ thực là mình đang như vậy. Mình có những ganh tỵ, giận hờn, đam mê, v.v… mà mình không biết là mình có. Rồi mình dùng những lý luận rất hay, tự biện hộ rằng: “cái đó không phải đam mê, cái đó không phải là giận hờn, v.v…” Trong tất cả chúng ta luôn luôn có mặt một ông trạng sư. Ông này tìm cách bào chữa cho ta để cho ta có những cảm giác dễ chịu. Nếu không cẩn thận, không có chánh niệm ta sẽ bị đánh lừa, dễ gây đổ vỡ và khổ đau cho chính ta và những người xung quanh, những người mà ta đã nguyện thương yêu và che chở.
Thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn tâm lên và giữ cho nó sáng cả ngày đêm. Khi nó tỏa ra ánh sáng thì ta phải theo ánh sáng đó mà nhìn, mà quan sát. Chính nhờ sự quan sát này mà chúng ta thấy được sâu sắc trong lòng của sự vật, trong lòng của những tri giác và những cảm thọ của chính mình và nhờ đó mà mình hiểu được mình. Chính từ cái thấy của mình mà mình được chuyển hóa, được giải thoát. Sự cứu độ, sự cứu chuộc (tiếng Pháp gọi là le salut) và sự giải thoát (la liberation) hoàn toàn căn cứ vào cái yếu tố gọi là “cái hiểu”.
Trong đạo Bụt, sự cứu độ chính là bằng sự hiểu biết, bằng tuệ giác (la compréhension). Tuệ giác của ta giải phóng cho ta. Nhưng Tuệ giác làm sao có được nếu đèn tâm không được thắp lên? Chúng ta, những thiền giả đang thực tập, mỗi người đều có một ngọn đèn trong tâm. Sự thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn đó lên để quán chiếu ngày đêm, từ giây phút này sang giây phút khác, không ngừng nghỉ. Cái đó gọi là “nhất hạnh tam muội”. Khi đã quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy ta và Thầy là một, ta với muôn loài chúng sanh là một. Có được cái thấy bình đẳng và nhất như đó, ta đạt đến cái trí gọi là “vô phân biệt trí”. Nhất hạnh tam muội là như thế đó! Vậy là quý vị có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ “nhất hạnh” rồi.
