Có khi nào

(Sư cô Chân Trăng Mai Thôn)

Này bạn, có khi nào bạn đang ngồi chơi trên một bãi cỏ thì bỗng nhiên có một con chim đáp xuống gần bên. Đó có thể là một con chim sẻ, một con chim sâu, hay một con bồ câu. Nó mổ mổ gì đó, chắc là ăn hạt cỏ, thật dễ thương. Nó đang từ từ đi  về phía bạn. Bạn không dám thở mạnh, không dám nhúc nhích. Bạn thích quá vì nó càng lúc càng gần chỗ bạn, tưởng như chỉ cần đưa tay ra là bạn có thể vuốt bộ lông rất óng mượt của nó. Bây giờ thì bạn không dám đến cả chớp mắt, bởi vì bất cứ một cử động nào dù là nhỏ nhất của bạn cũng sẽ làm nó hốt hoảng bay đi mất. Trong lòng bạn lúc ấy hẳn là vui lắm. Có cả một chút âu yếm, thương thương nữa. Đúng không?

Có bao giờ bạn tự hỏi mình là tại sao bạn lại thích một con thú nhỏ đến gần (hay đến gần một con thú nhỏ) như vậy? Có khi nào bạn để ý đến cảm giác thích thú, đến sự mềm đi của trái tim, đến nụ cười đang nở trên môi bạn khi đôi mắt bạn đang chăm chú nhìn nó đến gần?

Bạn có để ý không, ngoại trừ con chó mà mình nuôi ở nhà ra, không có con thú nào tự đến với chúng ta cả. À, có con mèo. Nhưng con mèo thì thất thường lắm, có khi mình kêu nó đâu thèm đến, có khi tự nó đến rồi cũng tự bỏ đi. Nói chung con mèo nó cũng đâu phải lúc nào cũng cho mình “cưng” nó.  Có thể có các con vật nuôi khác khi đã quen với mình thì nó sẽ đến với mình, hay sẽ cho phép mình đến gần chúng, thí dụ như trâu, bò, ngựa… Nhưng mà cũng tùy theo đó là con gì nữa. Thí dụ như con gà hay con vịt bạn nuôi đó, bạn thử đến gần nó mà xem. Bạn phải đuổi theo nó bở hơi tai đấy chứ. Chỉ có khi nào con gà nó nằm ổ để ấp trứng thì nó mới cam tâm cho bạn bắt thôi, vì nó không bao giờ rời ổ, ngoại trừ những lúc đi ăn và đi uống nước. Có khi nó còn không thèm ra ăn uống nữa, nó ốm o gầy mòn, mẹ bạn phải bắt nó bỏ xuống cho nó ăn uống nó mới chịu ăn. Nhưng mà nó cũng chỉ ăn qua quít rồi lại lên nằm trở lại. Bạn thấy nó có hết lòng không? Hơi bị lạc đề rồi bạn ạ, mình trở lại với việc các con thú nhé.

Các con thú hoang thì dễ gì mà mình đến gần nó được. Ngay cả con thằn lằn, con rắn mối. Con kiến và mấy con nhỏ như nó thì mình có thể bắt dễ dàng, vì chúng nó nhỏ quá, nhưng không thể nói là chúng tự nguyện đến với mình được (trừ trường hợp nó đến để ăn … mình, hay ăn đường, ăn mật dính trên tay mình), đúng không bạn? Còn mấy con lớn hơn mà mình thấy dễ thương, mình thích gần chúng như con chim, con nai, con kangooroo, con koala (là một loại gấu cù lần ở Úc) thì khó mà đến gần chúng được. Nhìn thấy những con ấy, tự nhiên mình lại thích đưa tay ra vuốt lên bộ lông chúng một cái, thấy trong lòng êm dịu lại, thấy vui, thấy tự nhiên mình mềm ra. Cũng như khi thấy một em bé, mình cũng muốn đến gần, đưa tay ra nựng một cái, muốn cười, muốn hôn má em một cái. Nhưng mà bạn cũng nên cẩn thận đấy nhé, không phải em bé nào cũng cho bạn làm vậy đâu. Có đứa còn nhìn bạn chăm chăm rồi miệng nó mếu lên, nó khóc. Thế là bạn hoảng quá, vội buông tay và đứng xa ra một chút. Bạn có nhớ không?

Tại sao vậy bạn nhỉ, tại sao chúng ta lại thích đến gần các con thú dễ thương hay đến gần một em bé? Có lẽ tại vì trong em bé hay trong những con thú ấy hoàn toàn không có sự tính toán nào cả, chỉ có một cái gì đó thật tươi mát, trong sáng, ngây thơ, hồn nhiên, tin cậy mà khi tiếp xúc, mình thấy ở trong lòng tươi mát, dễ chịu, thư giãn, không cần phải đề phòng hay đối phó gì cả. Chúng nó rất dễ thương và rất tự nhiên. Rất là thích, có đúng không bạn? Trong trường hợp mà chúng tự đến gần mình thì lại càng thích hơn nữa. Bạn nhớ lại mà xem, thí dụ như tự nhiên lúc bạn đang ngồi với rất nhiều người mà em bé không đi đến gần ai hết, nó lại đến gần bạn và cho phép bạn ôm nó, có phải là bạn thích “mê tơi” không? Bạn cảm thấy nó tin mình, nó thích mình hơn những người khác, có đúng không?

Thế nhưng dù ta có thích em bé hay thích mấy con thú ấy đến mấy đi nữa thì dễ gì chúng cho ta đến gần. Bao giờ chúng cũng giữ một khoảng cách an toàn nhất định. Có con còn không thích mình nhìn nó nữa ấy chứ. Nói gì đến chuyện cho mình đến gần và vuốt đầu nó một cái. Chẳng hạn trong trường hợp của một vài đứa con nít. Mẹ nó đang ẵm nó mà mình nhìn nó là nó dúi đầu vào ngực mẹ nó ngay. Hôm qua có một sư cô kể rằng bên tu viện Nhập Lưu ở Úc, khi các sư cô đi thiền hành thì mấy con kangooroo đứng phía bên kia cánh đồng cỏ và nhìn các sư cô. Nếu mình cứ tiếp tục đi, ra vẻ không chú ý đến chúng thì chúng sẽ đứng yên ở đó, nhưng nếu mình đứng lại nhìn chúng thì thế nào chúng cũng nhảy đi theo kiểu kangooroo. Bạn có bao giờ thấy kangooroo chưa? Chúng ít khi đi lắm, chúng chỉ nhảy thôi.

Trong mấy sở thú, có khi bạn được cho phép cầm thức ăn trên tay và mấy con kangooroo sẽ đến ăn từ tay bạn, khi ấy bạn có thể lợi dụng cơ hội may mắn ấy, dùng bàn tay đang còn rảnh để vuốt lưng hay vuốt đầu chúng một cái. Thích vô cùng. Ngoài công viên, bạn cũng có thể bỏ một vài hạt lúa vào lòng bàn tay rồi dang tay ra đứng chờ một chút, vài con chim sẽ bay đậu trên tay bạn và ăn các hạt lúa đó. Cũng rất là thích. Nhưng hơi mỏi tay một chút bạn à, bởi vì có khi phải đợi khá lâu chúng mới chịu đến. Bạn thấy đó, được tận tay tiếp xúc với mấy con thú như vậy thật là đặc biệt, đâu có dễ gì được chúng cho phép phải không bạn?

Vậy mà lại có một loại dù không phải do mình nuôi, nhưng bất cứ khi nào mình muốn đưa tay ra chạm vào cũng được. Bạn muốn ôm, muốn leo lên thân chúng lúc nào cũng được. Nói chung là bạn có thể làm bất cứ cái gì bạn thích cũng được hết. Chúng sẽ đứng yên đó, không nhúc nhích, không thở than, quá lắm thì chúng chỉ đong đưa thân mình một chút thôi. Đố bạn đó là cái gì? Cho bạn một phút để dừng lại thở và suy nghĩ đó. Bạn đừng vội đọc tiếp nhé. Thử suy nghĩ xem.

À, bạn đoán ra rồi phải không? Đó là cây cỏ, là các loài thực vật. Bạn có khi nào nghĩ  nếu các loài cây cối và thảo mộc biết bỏ chạy giống như các con thú thì khi mình đến gần chúng cũng không cho phép hay không? Thử tưởng tượng xem. Mấy cây mình tự tay trồng thì không kể rồi, cho là chúng như mấy con chó mình nuôi đi. Còn mấy cây “mình không quen” kìa. Thí dụ như bạn đi đến nhà ai đó, một công viên, hay một cánh rừng nào đó. Giả sử bạn mới quen với một đứa cùng lớp, nó mời bạn về nhà chơi, nhà nó có vườn rất rộng, lại có nuôi chó. Khi mới đến, có nhiều khả năng là con chó của nó sẽ sủa ầm lên. Con chó đó có khi nhìn rất dễ thương, nhưng nó lại không cho bạn vuốt ve. Phải một lúc sau, khi hơi quen với bạn rồi nó mới đến gần.

Ở vườn của đứa bạn mới quen, bạn thấy vô khối các cây mà bạn thích, thí dụ như mấy cây ổi, cây xoài hoặc cây mận đang có trái. Nếu mà mấy cây đó biết chạy như con chó thì chắc chắn là chúng sẽ không cho bạn đến gần đâu. Phải một thời gian sau, khi đã quen với bạn rồi thì may ra chúng mới cho bạn vuốt ve một cái. Tưởng tượng mấy cái cây đó, khi bạn đến gần chúng vội chạy ra góc vườn khác đứng, rồi khi bạn đi theo thì chúng lại chạy tiếp qua chỗ khác… Thử nghĩ mà xem… Mấy cánh rừng sẽ chạy dạt đi khi có ai đó đi vào, chỉ còn mặt đất trơ trọi, bởi vì cỏ cũng chạy theo luôn … Nhưng mà chắc là buổi tối, khi mình về rồi thì chúng sẽ trở lại, bạn có nghĩ vậy không? Nếu việc này mà là sự thật thì biết đâu chừng việc phá rừng sẽ hạn chế hơn, rừng cây sẽ có nhiều cơ hội được sống sót hơn bạn nhỉ…

May mắn thay, mấy cây đó không chạy được, thế là bạn có thể đưa tay với lấy một trái ổi. Không, bạn phải dùng móng tay bấm một cái trước đã, để coi trái ổi đó chua chưa rồi mới hái và đưa lên miệng cắn. Cây ổi không nói lời nào, cũng không có phản ứng gì. Đúng không? Ha, may thật. Có khi nào bạn nghĩ trái chính là “trứng của cây” không? Mấy cái trứng đó mình có thể đưa tay ra bứt lấy. Mình đâu thể đưa tay ra “bứt trứng” của một con gà, hay con vịt, đúng không bạn? Trong khi đó cây xoài, cây ổi, cây mận, cây dâu, chanh dây, cây chôm chôm, sầu riêng… mình có thể “bứt trứng” của chúng bất cứ khi nào mình thích, dù là “trứng” của cây chôm chôm hay sầu riêng có hơi … gai góc một chút. Bạn có thấy đó là một sự mầu nhiệm không?

Mầu nhiệm và may mắn làm sao khi tất cả các cây cối trên trái đất này đều đứng yên một chỗ. Lần sau khi bạn đến gần một cái cây nào đó, bạn nhớ nhắm mắt lại một giây bạn nhé. Chỉ một giây thôi để cám ơn cái cây đó đã đứng yên cho bạn được đến gần. Có khi bạn không đến để “bứt trứng của cây”. Bạn chỉ đến để hưởng bóng mát của nó thôi. Thật là cám ơn cái cây quá, nhờ nó đứng yên mà bạn mới có bóng mát để thưởng thức, nhất là khi bắn bi, hay chơi nhảy dây mà có một cái cây bóng mát, dưới gốc cây bằng phẳng thì thật là lý tưởng. Lần sau khi theo ba mẹ ra sở thú hay một công viên nào đó, bạn cũng nhớ làm như thế nhé. Nếu mấy cái cây ở công viên, hoa cỏ đều chạy dạt đi chỗ khác hết thì sở thú, công viên sẽ không còn là sở thú hay công viên mà bạn thấy nữa. Eo ơi, khi ấy sẽ buồn biết mấy phải không bạn.

Bạn nhớ nhé, nhắm mắt lại một giây thôi để cảm ơn cái cây mà bạn đến gần, cảm ơn chậu hoa mà bạn đứng bên để chụp hình. Nếu bạn để ý nhìn thật kỹ, bạn sẽ thấy những bàn tay trên cây đang vẫy chào bạn, còn những bông hoa thì đang mỉm cười cùng bạn đó.

(Tranh minh họa được sử dụng trong bài viết là của tác giả Wietzke Vriezen, trong tác phẩm Planting Seeds)

Một nén tâm hương

Vì vận nước nổi trôi, bất đắc dĩ chúng tôi phải rời quê hương mà đi, ngậm ngùi bỏ lại sau lưng biết bao kỷ niệm đã hằn sâu trong lòng thành những nỗi niềm…

Thông thường những ký ức êm đềm thơ mộng của tuổi thơ vẫn luôn là kho tàng vô giá được nâng niu gìn giữ trong một góc nhỏ của tâm hồn của bất cứ một ai. Song kỷ niệm đáng ghi nhớ và in lại thật đậm nét trong lòng chúng tôi lại là những tháng ngày hăng say với lý tưởng thanh cao, trong sáng, cùng các anh chị tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đi vào làng quê hàn gắn phần nào những đau thương mất mát của đồng bào do chiến tranh gây ra.

Sau bao năm xa cách quê hương, nay được về thăm quê cha đất tổ, thăm lại mái chùa xưa, lòng những nghẹn ngào xúc động. Cảnh vật giờ đã vật đổi sao dời quá lớn lao khiến ta phải ngỡ ngàng, nuối tiếc!

Đâu rồi mái chùa lá thân thương ngày xưa, và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội nơi các thầy, sư cô cùng các anh chị tác viên đã miệt mài dấn thân cho hoài bão, lý tưởng cao đẹp.

Năm mươi năm đã trôi qua! Một khoảng thời gian của hơn nửa đời người! Về lại chùa xưa với biết bao kỷ niệm thương yêu chất chứa trong lòng, vừa đến thăm phần mộ của thầy Thanh Văn và các tác viên xã hội đã hy sinh, chúng tôi bật khóc nức nở, nhất là khi đọc tám câu thơ trong bài Đến đi thong dong của bậc Thầy khả kính được khắc ghi trên đá:

Chùa lá Pháp Vân

Gió vẫn còn bay con biết không
Khi mưa xa tiếp áng mây gần
Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
Cho lòng đất thấy bầu trời trong

Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng
.

Chúng tôi ngồi yên cho nước mắt tuôn chảy để xoa dịu những nỗi đau đã âm thầm đè nén chất chứa bao năm qua. Thả hồn quay về kỷ niệm xa xưa, cách đây năm mươi năm…

Ngày ấy quê hương còn tan tác bởi chiến tranh, tuổi trẻ chúng tôi lạc loài, bơ vơ, mất phương hướng. Những người an phận, không lý tưởng thì cứ an nhiên vui sống. Riêng lũ chúng tôi với niềm thao thức băn khoăn cho tương lai của dân tộc và đạo pháp thì thật khổ đau, trăn trở và mong muốn được đóng góp tâm huyết của mình cho quê hương.

May mắn thay cho chúng tôi lúc ấy, một quyển sách quý được truyền tay cho giới trẻ và là tiền đề cho sức bật của sự dấn thân của tuổi trẻ chúng tôi, nhất là các anh chị tác viên thanh niên phụng sự xã hội, quyển “Nói Với Tuổi Hai Mươi” của Thầy. Đó chính là một chiếc phao cứu chúng tôi giữa cơn chết đuối!

Một luồng sinh khí mới đã thổi đến giới trẻ khiến đôi mắt chúng tôi bỗng sáng lên, đôi vai như rắn chắc, bền vững hơn, sẵn sàng lăn xả, dấn thân đi vào thôn xóm bị tàn phá bởi chiến tranh để giúp đồng bào gầy dựng lại cuộc sống.

Các anh chị tác viên xã hội dấn thân trực tiếp với dân làng, đi sâu sát để giúp người dân dựng trường, xây lớp cho con em có nơi học tập, chỉ bảo cách trồng lúa cho tăng năng suất, cách chăn nuôi gia súc theo phương pháp mới để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhằm cải thiện cuộc sống đang rất khó khăn vì chiến tranh triền miên.

Chúng tôi là thân hữu của Trường nên luôn sát cánh với các anh chị bằng cách đi xin học bổng của bạn bè và những vị mạnh thường quân giàu của, giàu lòng. Chúng tôi luôn giới thiệu và nhắc nhớ đến mọi người đang có một nhóm các anh chị tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, là đệ tử của Thầy Thích Nhất Hạnh đang âm thầm đi xây dựng lại thôn làng sau cuộc chiến.

Càng ngày số người cho học bổng càng đông, tuy số tiền giúp không nhiều vì đa số là những Phật tử nghèo có lòng, nhưng người ta đã hiểu và biết đến hoạt động của Trường.

Các học viên của Trường TNPSXH

Những tưởng những hoài bão cao đẹp, những âm thầm dấn thân cho đồng bào dân tộc sẽ được mọi người thương yêu, ngưỡng mộ. Ai ngờ bóng tối của vô minh quá lớn, nghi ngờ và sợ hãi đã chiếm ngự cõi lòng con người quá nhiều. Hậu quả là mạng sống của một số các anh chị đã bị sự vô mình ấy cướp đi cùng những hoài bão thanh cao, trong sáng của họ trong những ngày tháng 4, tháng 6 và tháng 7 năm 1967.

Và để rồi chị Nhất Chi Mai, người chị cả đáng yêu và trân quý của dòng Tu Tiếp Hiện đã phải đem thân mình làm đuốc sống để gióng lên tiếng nói lương tri của con người, mong  mọi sự giết chóc dừng lại, để máu xương dân mình thôi đổ, trong đó có một phần xương thịt của các anh, các chị.

Đã gần năm mươi năm trôi qua, mỗi năm các anh chị Tiếp Hiện cựu tác viên TNPSXH đều tổ chức lễ Hiệp kỵ cho các anh, chị đã hy sinh cho lý tưởng phụng sự. Năm nay, ở phương trời xa, không về được để dự lễ, chúng tôi xin mạo muội viết đôi dòng như một nén hương thành kính dâng lên các anh, các chị để tự nhắc nhở mình và để cho giới trẻ ngày nay hiểu rằng: vì quê hương yêu dấu, vì hoài bão cao đẹp, vì thiết tha tâm huyết đi băng bó những đau thương, mất mát cho đồng bào ruột thịt, các anh, các chị đã hy sinh thân mình khi tuổi đang độ thanh xuân, tràn đầy nhựa sống.

Tinh thần phụng sự, cách sống đầy tình thương, đầy trách nhiệm, luôn luôn sẵn sàng hy sinh thân mạng cho lý tưởng phụng sự cao đẹp của các anh chị thật đáng cho tất cả chúng ta hãnh diện, ngưỡng mộ và noi theo.

Chúng tôi nguyện sẽ luôn gìn giữ thật bền bỉ và truyền mãi ngọn lửa phụng sự, thương yêu đến giới trẻ sau này và mãi mãi… như là phẩm vật dâng lên các anh chị nhân Lễ Hiệp kỵ.

Thành kính nghiêng mình trước hương linh các anh các chị

Chân Bảo Nguyện (chanbaonguyen.blogspot.com)

Ta có là ta, ta mới đẹp

Thư pháp “Ta có là ta, ta mới đẹp” do Sư Ông Làng Mai viết là một đề tài thực tập rất sâu sắc cho mỗi chúng ta. Nó giúp chúng ta chấp nhận cả hai mặt tài năng và yếu kém của chính mình. Nếu chúng ta chấp nhận được mình, chúng ta biết mình là ai thì chúng ta cũng chấp nhận được người khác và biết được người khác là ai. Chúng ta sẽ có thái độ khiêm cung với cả những tài năng lẫn yếu kém của mình. Với tài năng, chúng ta giữ gìn và phát triển. Với yếu kém, ta nhận diện và chuyển hóa. BBT xin giới thiệu đến các bạn cái thấy rất chân tình của một bạn trẻ về đề tài này. Tuy rằng chúng ta còn một con đường rất dài trước mặt, nhưng cái thấy này là một bước mở đầu quan trọng trong việc chấp nhận chính mình.

Thiền hành cùng quý thầy, quý sư cô ở EIAB

Tôi vừa tham dự một khóa tu 4 ngày có đề tài “Mindful Leadership” (từ 24.4.14 đến 27.4.14) tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB, Waldbroel, Đức), do thầy Pháp Nhật và Federico Pagni hướng dẫn. Trong ngày đầu tiên của khóa tu, thầy đề nghị mỗi thiền sinh chia sẻ về một điều gì đó mình làm tốt nhất hoặc một tính cách nào đó của mình mà mình thấy tự hào. Đến lượt tôi, tôi chia sẻ với mọi người rằng tôi là một người thành thật. Tôi luôn cố gắng sống thật với chính mình và với tất cả mọi người. Tôi chỉ nói những gì tôi thật sự nghĩ. Và tôi tự hào về điều đó.

Thực ra có lúc tôi cũng hoang mang với chính mình. Trong xã hội cạnh tranh khốc liệt hiện nay, nhiều người nói “thật thà là cha đứa dại, là ông ngoại đứa ngu”. Một số người cho rằng phải biết sống “khôn khéo, luồn lách” mới thăng tiến, mới thành công được. Những người thật thà là những người suốt đời chịu thiệt thòi thôi. Có lần tôi chia sẻ băn khoăn này với một người bạn thân. Bạn ấy bảo: “Châu chân thật và nhiều khi trẻ con. Cái gì cũng có hai mặt. Không phải ai cũng giữ được sự trong sáng và hồn nhiên như Châu đâu.” Tôi ậm ừ, nhưng trong lòng vẫn trăn trở. Liệu tôi có nên thay đổi, có nên khôn lanh hơn không?

Và rồi tôi tìm được câu trả lời cho những day dứt ấy trong 4 ngày ở EIAB. Đây là lần đầu tiên tôi đến EIAB, nhưng chỉ sau một ngày tôi đã cảm thấy nơi đây gần gũi và thân thương lắm. Bởi vì các thầy, các sư cô ở đây đối xử với tôi như người nhà, như một người em sau nhiều năm gặp lại, chứ không phải như với người mới gặp lần đầu. Suốt khoảng thời gian tu học và sinh hoạt ở EIAB, một cách rất tự nhiên, tôi đã được trở về với chính mình. Có lẽ vì khi người ta có cảm giác là người ta đang ở nhà (I am home), người ta có khuynh hướng sống thật với chính mình nhiều nhất. Tôi cảm thấy vô cùng thoải mái, dễ chịu, và bình an trong thời gian ở EIAB.

Hôm cuối cùng ở EIAB, tôi có tham gia một buổi pháp đàm với các sư cô. Tôi chia sẻ là tôi cảm thấy an vui và hạnh phúc rất nhiều ở EIAB. Một sư cô nói: “Không chỉ EIAB mang lại hạnh phúc cho em đâu. Chính em cũng đã mang lại rất nhiều niềm vui cho mọi người trong thời gian em ở đây.” Một sư cô khác nói: “Con (ở đây các thầy và sư cô đều xưng “con” khi giao tiếp với người khác) rất thích sự hồn nhiên và trong sáng của Minh Châu. Rất là dễ thương!” Trước khi tôi về, một sư cô kéo tôi lại bảo: “Chị (sư cô xưng hô như vậy thôi chứ thực ra sư cô đã đứng tuổi) cứ giữ mãi tính cách chân thật này nhé! Đáng yêu lắm!” Trước khi chia tay ra về, một người bạn cùng tham dự khóa tu đã nói với tôi: “You’re wonderful! Don’t forget it!”

Thầy Pháp Nhật, người cùng tham gia hướng dẫn khóa tu, cũng nói với tôi rằng: “Thầy chưa gặp một người Việt trẻ nào đặc biệt như con. Con luôn có đủ can đảm để thể hiện suy nghĩ, quan điểm của mình, để bộc lộ cảm xúc thật của mình.” Và thầy tặng tôi món quà chia tay là một bức  thư pháp do chính tay thầy viết: “Be beautiful, be yourself”.

Các bạn, mỗi người chúng ta là một thực thể duy nhất trên thế giới, không ai hoàn toàn giống ai, dù là anh chị em sinh đôi. Mỗi người trong chúng ta đều có những vẻ đẹp riêng. Vì thế, hãy luôn là chính mình, sống thật với bản thân và với mọi người, “be beautiful, be yourself”, các bạn nhé!

Chúc các bạn luôn nhìn thấy vẻ đẹp riêng của mình và hoàn thiện vẻ đẹp đó từng ngày!

Bùi Thị Minh Châu

Pháp thoại cần tham khảo về đề tài “Ta có là ta, ta mới đẹp”: http://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/chap-nhan-chinh-minh-va-cau-than-chu-thu-6

Một gia đình với hai tấm lòng Phật – Chúa

Tôi vừa bước xuống cầu thang thì anh Tài, quản lý quán ăn chay thực dưỡng Liên Hương cho biết có hai cô chú đang chờ tôi. Tôi tiến lại gần thì nhận ra một cặp vợ chồng rất hạnh phúc đang nở những nụ cười hiền từ và thân thiện chào đón tôi. Họ gọi tôi là “thầy” và rất khiêm nhường cám ơn những bài viết của tôi trên những tờ báo mạng.

Thì ra hai vợ chồng biết đến quán chay dinh dưỡng này nhờ bài viết mới đây của tôi. Hóa ra bác Phong là “đệ tử” của thiền sư Thích Nhất Hạnh dù chưa một lần gặp mặt. Ngạc nhiên hơn nữa khi tôi biết rằng bác và người vợ yêu quý của mình, bác Ly, sống với nhau từ năm 1976 đến nay mặc cho người là con Phật, người là con Chúa.

Bác Ly nói liên hồi những lời cám ơn tôi vì những bài viết về đạo Phật. Bác hết mình khen ngợi thầy Thích Nhất Hạnh, bởi những cuốn sách hay và cách hướng dẫn thực tập giản dị của thầy. Tôi giật mình khi thấy một người theo đạo Chúa mà ca ngợi một vị sư Phật giáo như vậy và lại biết rất rõ những bài viết của tôi, một Phật tử.

Tâm sự với hai bác, tôi tìm ra nguyên nhân của hạnh phúc trong một gia đình hai tôn giáo này. Hóa ra cả hai đều quan niệm rằng tôn giáo không thể làm mất hạnh phúc gia đình, rằng tôn chỉ của tôn giáo luôn là tình yêu thương.

Chiều nay tôi gọi điện đến thăm hai bác. May thay tôi có được số điện thoại của cả hai người để có hai cuộc nói chuyện riêng đầy thú vị.

Bác Phong kể rằng mẹ bác là một Phật tử, quy y tại chùa, có pháp danh và tại nhà có thờ một tượng Phật nhỏ. Bác tâm sự rằng mới biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh cách đây có hơn ba năm sau khi tình cờ mua được cuốn “Nẻo về của ý”. Đọc thấy hay, dễ hiểu nên mua tiếp những cuốn khác của thiền sư về đọc. Rồi bác liên tục vào trang nhà Làng Mai. Rồi bác biết đến các bài viết của tôi. Cứ thế lần mò ra để đọc thêm nhiều cuốn sách của thầy Nhất Hạnh. Cứ vậy đọc hết tất cả các bài viết của tôi trên mọi tờ báo trên internet. Bác tâm sự rằng, sự thay đổi thật lớn lao.

Bác Phong cho biết rằng vợ bác đi nhà thờ đều đặn mỗi cuối tuần. Bác hay kể những câu chuyện Phật giáo, những nội dung hay từ những cuốn sách. Thấy bác gái thích thú, bác cứ thế kể tiếp. Trước đây bác Ly không biết gì về Phật giáo nhưng bây giờ bác ấy đã khá rành. Quý hóa vô cùng.

Tâm sự với bác Phong, bác thú nhận rằng trước đây hay hờn, giận, nóng tính, bực tức, và tự làm khổ mình. Tuy nhiên nhờ những cuốn sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh bác đã dần tự chuyển hóa mình, giúp mình tự thay đổi bản thân và thấy sống bình an, hạnh phúc hơn hẳn.

Bác nói khá nhiều về tôi, rằng khi mới gặp cũng ngại, bởi những vị tiến sỹ hay chủ tịch thường không dễ gần. Bác nói rằng chính sự ăn mặc giản dị của tôi làm cho bác thấy gần gũi và tiếp xúc thoải mái hơn hẳn. Bác cũng bất ngờ khi tôi gọi điện nói chuyện, cứ tưởng tôi chỉ xin điện thoại chơi vậy mà thôi. Tôi giật mình: Thì ra cách ăn mặc mộc mạc, giản dị cũng có nhiều cái lợi khi giao lưu bên ngoài.

Trong khi nói chuyện với bác Ly, tôi chủ yếu nghe những nụ cười nhẹ nhàng rất dễ thương và những âm thanh “dạ dạ, thưa thầy…”. Nếu không tu tập nghiêm túc làm sao có thể có những nụ cười vui, nhẹ nhàng và tràn đầy năng lượng đến vậy. Bác kể rằng trong gần 40 năm chung sống, không tránh khỏi những lúc này khác. Tuy nhiên vào những lúc đó bác luôn cầu nguyện Phật và Chúa che chở và giúp bác vượt qua.

Bác Ly tâm sự với tôi rằng từ ngày biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh, chồng bác bớt nóng tính hơn hẳn. Bác Phong đã thật sự biết nhẫn nhịn, biết mang lại niềm vui cho cuộc đời và những người xung quanh. Bác bảo rằng bác rất ấn tượng với câu nói của tôi được đăng trên báo, rằng nếu yêu thương ai đó thì phải mang niềm vui cho người ta, phải để cho người mình thương được hạnh phúc. Câu nói này nghe ra có vẻ rất giản đơn nhưng làm thay đổi cả gia đình bác. Tôi giật mình.

Điều mà bác Ly tâm huyết nhất trong đạo Phật là luật nhân quả. Bác đã biết rằng nếu gieo nhân gì sẽ gặt quả đó. Bác tâm sự rằng, chính bác đã phát hiện ra mình trồng mấy cây ớt. Ớt thì lại cay. Và bác đã quyết tâm nhổ mấy cây ớt đó đi để trồng xoài. Bây giờ bác đang thu hoạch xoài ngọt. Bác chia sẻ thêm rằng vào chính lúc này bác đang chăm sóc ba đứa cháu của mình. Vui lắm. Bác lấy “xoài ngọt” cung cấp và nuôi dưỡng các con, cháu mình.

Bác Ly nói rằng hai bác đã xem kỹ đĩa “Hoa mặt trời” do tôi tặng. Bác bảo: Phật hay Chúa thì vẫn là một mà thôi, vẫn dạy chúng ta sống trong yêu thương. Bác nhắc lại là bác đã nghe tôi nói trong đĩa rằng tôi đã từng đến nhà thờ nghe cha giảng và sau này mới là Phật tử. Vậy nên dù là con Phật hay con Chúa thì quan trọng nhất vẫn là sống tốt, sống thiện.

Khi gõ những dòng chữ này tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt hiền từ của hai bác. Tôi vẫn thấy văng vẳng những nụ cười và giọng nói hiền từ, khiêm nhường của hai bác. Tôi vẫn nhớ câu cuối cùng trước khi tắt máy “Con gái tôi cũng lấy chồng Phật giáo đấy thầy Hùng ạ. Mà chúng nó hạnh phúc lắm”.

Tôi mỉm cười thật tươi và vào phòng thờ Phật thắp một nén hương thơm. Cầu mong cho xã hội có thêm nhiều gia đình hạnh phúc như vợ chồng hai bác Phong – Ly. Cầu mong cho Phật Pháp nhiệm màu lan tỏa khắp năm châu. Con thành tâm kính lễ Đức Phật và các quý thầy, nhất là thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bao cuộc đời đã được đổi thay rồi. Con mừng quá đi thôi.

 

 

Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng

Nắng trên đồi thượng

Nắng trên Đồi Thượng

Tháng ngày thật êm đang khẽ lướt nhẹ trôi trên từng chiếc lá già đang phơi đầy sân trước hiên. Ta có thể nhìn thấy lá khô trải dài khắp hết dưới các tàn cây. Từng cơn gió đưa thoảng qua nhưng khi chạm tới những chùm lá chín kia đã khiến cho khắp vùng rừng bên đồi chỉ còn sót lại những nhành cây cao gầy khẳng khiu. Rừng lá chín vàng của ngày trước nay đã thu mình nằm yên trên con đường đi, chúng buông mình bay lả lơi khắp nơi trước khi chịu yên vị phần đời mình bên trời ngập nắng. Sáng nay trời trong và đầy gió, gió của mùa đông lại càng gay gắt hơn, nó như cố tình lách lỏi vào tận bên trong những sợi len của chiếc khăn choàng màu khói nhạt đang quấn trọn mình trên cổ áo của bạn tôi. Ngày nắng mùa đông thật đẹp.

Những hôm được rảo những bước chân đầu tiên đi bên rừng thông bên kia. Tôi đã không khỏi lặng đi vì kinh ngạc trước sự uy nghi của cánh rừng sồi quanh đồi thượng. Bao quanh rừng là những khoảng đất rộng thênh thang tràn ngập nắng. Trên những vùng đồi rộng thoáng và đẹp là những ngôi nhà thờ cổ không mấy người lui tới. Người dân ở đây không đi lễ rầm rộ như những nơi khác.

Và nhìn từ xa, trên đỉnh cao của một trong những ngọn đồi hùng vĩ nhất chính là Xóm Thượng, nơi đang có nhiều người đến từ những vùng miền khác nhau rải rác khắp nẻo trên hành tinh này đang tụ hội an trú ở đây. Cả một vùng rừng rộng lớn chạy ôm bao quanh khắp các triền đồi. Và đồi Thượng tự khi nào bỗng đã trở thành nơi an ổn tuyệt vời nhất dành cho những ai ưa thích nếp sống tịnh lạc, yên bình.

Thấp thoáng, những bước chân đầu tiên kia cũng đã đi gần hết các con đường nhỏ nằm ven quanh đây. Đi dần về những ngày cuối năm, rừng cây như đã gần trút sạch hết lá. Có những hôm lạnh, cỏ và nước trong hồ sen đã hóa thành băng. Màu băng tuyết hòa chung với màu bàng bạc của sương buổi sớm, cả khu rừng của đồi thượng như trở thành tiên cảnh khi chứng kiến những chùm mây mỏng, nhẹ đang bay theo là đà dưới những bước chân chậm rãi tiến về thiền đường. Tiếng chuông đại hồng vang lên từng hồi thong thả. Cây rừng vẫn chưa tỉnh giấc. Họ tiến về phía trước, không ai nói với ai lời nào, rất mực nhẹ nhàng, uy nghiêm và thanh thoát.

Càng đi dần về những ngày cuối năm không khí càng rộn ràng hơn. Anh em chúng tôi thường quay quần bên nhau vào những ngày này. Nhìn mặt anh em ai nấy đều hiện ra rõ nét tươi tắn rạng ngời. Có người tự nhiên nói: “Tết này có ai tặng quà cho mình không nhỉ?” Hỏi rồi tự mình tắc lưỡi, trầm tư. Hay có vài người nói chuyện với nhau: “Mình sẽ đợi cả phòng ngồi chơi với nhau rồi khui quà chung nhé”. Nghe cũng thú vị lắm.

Phần lớn những anh em người tây phương thì hoạt bát hơn trong giai đoạn này. Thoạt đầu, Noel và tết Tây đã không nằm trong quá trình suy tư của tôi. Nói đúng hơn là như thể noel và cái tết của lịch tây chẳng dính gì đến đời sống của tôi cả. Tôi đã nhiều lần tự nhủ rằng, mình thì khác, nên mình không nhất thiết phải quan tâm đến Noel làm gì. Và người đông phương mình thì ăn tết mình là ngon nhất, không cần theo tây làm chi.

Ấy vậy, khi tôi nhìn thấy tinh thần và hình ảnh các thầy, các sư chú người tây phương hăng say chuẩn bị cho lễ hội này không khác gì cái sự háo hức chờ đợi đến đêm giao thừa và ngày mồng một tết ở quê mình, thì bao nhiêu tâm tư trước kia dần thay đổi. Một bầu không khí tươi vui được hòa chung với nhau đang trải dài trên khắp mảnh đất này. Các bạn thiền sinh đến từ Đức thích làm bánh Christstollen, người Pháp thì thích làm bánh mì, các bạn Mỹ và Anh thì đam mê trang trí.

Còn anh chàng Thụy Sĩ chung phòng với tôi thì mua thật nhiều Kukicha trà, bánh cookie, hoa lan và nhiều nến để dành đãi khách. Mọi thứ cần thiết gần như hoàn bị. Tôi cũng được hưởng lây không khí vui tươi này khi được tự mình chăm sóc giò lan màu hồng nhạt của anh bạn mới tặng tôi sáng nay.

Hoa được trưng bày khắp nơi vào dịp này. Hoa là sự biểu hiện của nét đẹp thuần khiết, là sự tượng trưng cho vẻ đẹp nhẹ nhàng, hiền hòa nên gần như phòng nào cũng có chưng một chậu hoa. Vì hoa đẹp nên ai cũng thích và phần đông người nào cũng yêu hoa. Vậy mới biết có một sự thật rất giản đơn rằng là tất cả chúng ta không khác biệt nhau gì mấy.

Chúng ta đang sống trên những nền tảng rất chung và điều này như thể là điểm tựa cho sự sống còn của tất cả muôn loài. Vì ngay trong tự thể của cái đẹp luôn hàm chứa những nội dung căn bản nhất của một con người. Nơi đây người ta rất mực cung kính đức chúa trời không khác gì người dân ở quê mình kính ngưỡng đức bổn sư Sakya Muni. Trẻ em ở đây thương ông già Santa không thua gì các em bé đông phương thích thú khi được nghe kể về hình ảnh những ông tiên tóc bạc trong truyện cổ tích.

Theo cái nhìn chung về tôn giáo thì chứng tích cho thấy sự phát khởi niềm tin của một con người bình thường đặt vào một tôn giáo nào đó được căn cứ ở nơi giá trị của sự nhận thức căn bản, mà nhận thức này được chi phối bởi tính cộng đồng hay năng lượng tập thể của chính vùng miền họ sinh ra.

Thế thì, khi lòng tin của con người được đặt vào bất kỳ tôn giáo nào, thì tôn giáo ấy sẽ không còn là một đối tượng nằm bên ngoài nữa, mà là một cái gì thật thiêng liêng nằm sâu trong bình diện nhận thức cộng đồng. Và cố nhiên phật giáo không chỉ là một tôn giáo. Cho nên có những người bạn của tôi đã bay nhiều giờ để đến đây với điều ước nguyện duy nhất là để được một lần chứng nghiệm sự an trú.

Gần đây tôi được gặp gỡ tiếp xúc với nhiều người bạn mới, nhiều thiền sinh đến từ những truyền thống hay trường phái khác nhau. Nhìn cách thức hành thiền hay sự biểu hiện lòng ham muốn được học hỏi và tu tập của họ, tôi không cho là thế giới này quá sức phức tạp như nhiều người khác vẫn nghĩ. Chắc chắn đang có rất nhiều điều gì đó thật đơn giản nằm sâu trong những ảnh tượng nhiêu khê bên ngoài mà ta chưa nhận chân ra được.

Cũng như nắng. Nắng mùa đông rất đẹp. Nắng được ví như một ổ bánh mì thật ngon lành “ce pain est le corps du cosmos”. Bánh Croissant hay bánh mì Baguette là những món đặc sản của đất nước này. Và nắng mai ở đây cũng đẹp như bất kỳ những cảnh tượng nào khác. Tôi đã nhiều lần là nhân chứng của những buổi bình minh nguy nga tuyệt đẹp nơi rặng cây mọc ven bên cốc ngồi yên của Thầy. Tôi không nghĩ mùa đông lại có được nhiều ngày nắng ấm áp như thế.

“Nắng mới về trong gió lạnh ngày đông

Cảo thơm hoa trắng thoảng hương nhẹ nhàng

Nắng in dấu giữa địa đàng

Rừng phong bóng nắng bụi vàng nguyên sơ”.

Khung cảnh dần tươi hẳn ra với những ngày mới tràn ngập nắng, màu nắng hiền nhẹ và êm mát nhưng không gắt như cái nắng của quê mình. Từng sợi nắng mỏng manh nhảy múa trên đám cỏ trắng đã bị đóng băng từ hôm qua. Những ngày nắng vào mùa này rất hiếm hoi như là món quà đắt tiền được ban tặng từ chính bàn tay của Thượng Đế cho những người dân rất mực ngoan hiền đang cư ngụ nơi đây.

Vào đông, chúng tôi không còn được nghe nhiều tiếng chim hót nữa. Phần lớn những loài chim đều đã bay đi trú đông. Chỉ còn sót lại vài con chim nhỏ xíu đang làm tổ trên góc mái hiên trước phòng tôi. Bên thềm lưa thưa vài chậu hồng màu phấn, nhành đào trụi sạch lá và một vài cây xanh mọc liền với nhau tạo thành hàng rào đang trổ bung những chùm hoa đầu tiên thật xinh đẹp. Mọi thứ được sắp xếp một cách ngẫu nhiên nhưng tuyệt đẹp như thế, cùng với những biểu hiện khác nhau của sự sống đang dàn trải khắp nơi trên mảnh đất của khu đồi thượng này. Gió tràn về từng cơn. Lạnh nhiều hơn. Anh em chúng tôi như khắng khít bên nhau thêm khi được co ro bên lửa đỏ. Thưởng trà và ngắm nhìn nắng lên. Nắng mai buổi sớm mùa đông thật đẹp.

Đồi thượng, Thenac Dec.13

Thầy cho pháp thoại Nole 2013

Sinh hoạt tại thiền đường Nước Tĩnh

Đêm văn nghệ


Có một lối mòn

Ngày 4 tháng 12 năm 2013

Bạn thân thương,

Ngày hôm qua tôi thức dậy vào lúc 3 giờ sáng. Cảm giác đầu tiên của tôi khi vừa tỉnh giấc là cảm giác ân hận. Ân hận về cái gì? Tôi không biết. Tôi hơi ngạc nhiên, cố nghĩ lại xem mình có vừa mơ một giấc mơ gì liên quan đến cảm giác này không, nhưng không thể nhớ ra gì cả.

Cả ngày trôi đi rất bình thường, nghĩa là rất vui, rất hạnh phúc và bình an, bởi vì hôm qua là ngày xuất sĩ. Huynh đệ chúng tôi được tụ hội về Sơn Cốc để được quây quần bên Thầy, được Thầy ban pháp nhũ, được chơi chung và pháp đàm với nhau suốt một ngày.

Buổi chiều, tôi “được mời” đi ăn sinh nhật sư chị An Nghiêm – sư chị tôi là người Mỹ gốc Phi. Sư chị kể là hồi còn cư sĩ, gia đình sư chị tổ chức sinh nhật rất … khí thế, vì sư chị có cả một đại gia đình huyết thống cùng đến chung vui. Xuất gia rồi, sư chị vẫn được đại gia đình đến chung vui như thường. Nhưng bây giờ lại là một đại gia đình tâm linh. Chúng tôi “ăn” sinh nhật theo kiểu xuất sĩ. Tuy nhiên ở Làng Mai, chúng tôi hay dùng từ ngày tiếp nối, hay ngày biểu hiện thay vì ngày sinh nhật.

Mỗi người được thông báo là khi đi mừng ngày tiếp nối thì mang quà theo. Quà là hai thanh củi để đốt lò sưởi. Tưởng gì chứ cái đó thì …”dễ ợt”. Tuy vậy đâu phải ai cũng thích mang món quà có vẻ … đại trà đó.

Nhiều sư cô rất sáng tạo, họ đâu muốn bị bó buộc vô trong một món quà sắp sẵn như vậy. Thế là có người đến với một cái bông hồng cắt ngoài vườn (và sau đó bị tri vườn nhận diện ngay lập tức!), có người đến gắn một bông cẩm chướng lên áo cho sư chị, có người mang đến một cây nến thắp sẵn có cột nơ cẩn thận, vừa đi vừa hát bài “Happy Birthday”, có người làm bánh táo, có người pha trà …Thôi thì đa hình đa dạng. Đó là chưa kể chai nước táo có gaz mà tôi sẽ kể thêm ở phần sau.

Tôi thì đơn giản lắm. Các sư chị bảo gì tôi làm nấy. Vậy nên tôi ra chỗ chứa củi, chọn lấy hai thanh mà tôi cho là sẽ cháy tốt rồi mang đi.

Ngoài ra trên tay tôi còn một chai nước táo có gaz được một sư cô nhờ mang đến làm quà vì sư cô mệt không đi được. Còn nữa, tôi còn ráng mang theo một bình thủy nước nóng nhỏ để uống vì tôi không uống trà được. Thật ra tôi đang mệt, đêm trước đó tôi ngủ rất ít vì thức dậy giữa chừng rồi không ngủ lại được. Và vì mệt nên tôi hơi lười, không muốn phải đi hai chuyến. Tôi tự nhủ: thôi cố mang hết một lần để khỏi leo lầu.

Cầu thang khá tối. Tôi khệ nệ mang từng ấy thứ lên gần được nửa cầu thang thì bỗng dưng vai tôi bị một cái gì chặn lại, không bước lên được nữa. Và chai nước táo tôi đang cầm trên tay bị sức dội làm văng xuống cầu thang kêu cái … bộp, nó lăn một nấc thang trước khi bể cái …bụp. Nước táo vì có gaz nên đẩy mảnh chai văng đầy cả nửa cầu thang. Tiếng nổ lớn như kiểu người ta mở nút chai Champagne làm các sư cô chạy vội ra bật đèn lên để thấy tôi đứng một cách ngớ ngẩn, mấy khúc củi và cái bình thủy vẫn còn trên tay và vẫn chưa thật sự hoàn hồn.

Một sư em giúp tôi dọn dẹp. Sau khi tìm hiểu, sư em biết là tôi đã mang trên tay quá nhiều thứ cùng một lúc. Sư em tôi nói: “Hôm nay sư chị chắc chắn là đã có một cái thấy sâu sắc rồi. Đó là đừng nên ôm quá nhiều thứ cùng một lúc, có phải không?” Giả sử đó là bạn, bạn sẽ nghĩ sao? Còn tôi lúc ấy tôi thấy quê với sư em quá. Vừa quê với sư em, vừa ân hận vì mình đã quá ẩu, làm uổng phí một món quà của sư chị nên mặt tôi hơi heo héo. Thật là không phù hợp tí nào.

Dù vậy, chuyện đó vẫn không làm giảm đi niềm vui của các sư cô. Chúng tôi quây quần bên lò sưởi, kể chuyện vui trong chùa cho nhau nghe rồi vừa cười rộn lên vừa ăn bánh táo. Sáng nay tôi đến sám hối với sư cô đã gởi tôi món quà đó. Sư cô cười, bảo sao không trở về gặp sư cô để lấy chai khác.

Tối qua sau khi ăn sinh nhật về, tôi đi lạy Bụt để sám hối. Tôi nhớ lại cái cảm giác ân hận lúc vừa mới thức dậy buổi sáng hôm ấy. Cảm giác ân hận của tôi khi làm bể chai nước táo cũng tương tự như vậy. Tâm tôi như thường lệ, lại đi theo lối cũ là tự trách mình: “Phải chi khi ấy tôi đi hai chuyến. Phải chi tôi đừng để tập khí ẩu tả, muốn làm cái gì cũng kết hợp cho nhanh lôi kéo. Và cuối cùng là: đáng lẽ mệt như vậy tôi đừng nên đi mới phải…”

Tôi nhìn thật sâu vào sự việc để tìm “cái thấy sâu sắc” mà sư em tôi nói đến. Bạn có thể cho là nó chỉ liên quan đến một việc rất cỏn con nhưng nó lại là một thí dụ rất điển hình cho tập khí của tôi. Tập khí đó là ôm đồm quá nhiều việc cùng một lúc và không biết dừng lại khi đã thấm mệt. Khi mệt, nghỉ ngơi là điều tốt nhất. Lúc mệt tôi lại hay làm tắt, hay đi đường tắt, và hay tìm cách để làm cho xong để nghỉ ngơi. Tôi quên mất hạnh phúc có mặt ngay trong khi làm việc chứ không phải ở kết quả.

Tôi cũng không muốn khó khăn với mình làm gì nhưng tôi tự hỏi mình rằng: “Này bạn, bạn có thật sự muốn để cho tâm mình đi về trên một lối mòn như vậy hoài hay không? Bạn có thật sự muốn có cái cảm giác không khỏe mỗi lần hành xử và suy nghĩ theo lối mòn như vậy hay không?”

Câu hỏi này tôi dành cho tôi và tôi mời bạn, nếu thích, bạn cũng có thể cùng quán chiếu với tôi để mỗi người tìm ra câu trả lời cho chính mình. Nếu có gì vui, bạn nhớ kể cho tôi nghe với nhé.

Sư cô Trăng Mai Thôn

Lạy Bụt!

 

 

Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni!

Sáng nay con trở về nhà. Thả ba lô xuống và hít thở mùi khói đốt đồng hăng hăng xộc vào mũi, con cảm thấy dễ chịu vô cùng. Thời gian qua con đã chạy lăng xăng nơi phố thị nhộn nhịp…đôi lúc con lơ đễnh và hững hờ với gia đình, bạn bè của con. Con biết điều đó rất có thể là một vết rạn trong mối quan hệ tốt đẹp giữa con và những người con đã, đang và sẽ thương! Con xin nguyện sống thật tỉnh thức trong giây phút hiện tại để nuôi dưỡng, chăm sóc vẹn toàn những mối quan hệ thêm sâu sắc và bén rễ bền lâu bằng tất cả nụ cười và bình an xuất phát từ trái tim con.

Trở về nhà, con Hiểu và Thương được nỗi khổ của anh con. Cuộc hôn nhân của anh trai không hạnh phúc đã khiến con nhiều khi muốn trốn biệt ở trường nhưng con không đành vắng mặt trong căn nhà vốn dĩ còn rất ít người như thế này. Ba mẹ không còn trên đời nữa để lo lắng, sắm sửa và chỉ bảo mọi điều trong ngày cưới của anh…  Con thấy nét mặt anh thoáng buồn khi nhìn di ảnh của ba mẹ. Và bây giờ, con tập lắng nghe những tiếng rầy rà, tập nhìn những cuộc chiến nảy lửa hờn để rồi hiểu nỗi khổ sở trong lòng anh chị, để rồi thương sự ràng buộc giữa họ là cháu bé sắp sinh ra đời. Dẫu chưa nói điều gì với anh nhưng con mong muốn về nhà với anh, có mặt cho anh, cho chị dâu và tươi cười với những kỷ niệm cũ khó phai của hai anh em. Con hứa ngoan và một thời điểm nào đó con sẽ chia sẻ với anh con những gì con hiểu, biết và thực tập được từ Bụt, từ Sư Ông thương kính để anh con bớt khổ, bớt đau!

Xin Bụt yểm trợ và chứng minh những lời nguyện tối nay của con.

Con,

Chuông Mây-Hồ Bé Linh

Gặp Phật tử Thụy Điển đặc biệt tại Sài Gòn

Chúng tôi có mặt tại nhà hàng chay Liên Hương trong một con hẻm của đường Nguyễn Thị Riêng, quận 1, TP HCM. Ngồi uống trà (hoặc thưởng thức các món chay) luôn là thú vui của Phật tử chúng ta. Nhất là khi Liên Hương lại là một quán chay thực dưỡng.

Thế rồi anh xuất hiện. Anh ôm khư khư trong người một thứ gì đó mà tôi nghĩ rằng phải rất là quý giá. Vật quý ấy được gói trong một chiếc khăn (mà sau này tôi mới phát hiện ra là chiếc áo phông có in dòng chữ “I love Vietnam”). Anh là Istvan L., một Phật tử Tây phương, mà chính xác là người Thụy Điển.

Được một người bạn giới thiệu, anh ngồi xuống sát tôi và mở “bảo bối” ra. Thì ra đó là bức tượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tôi giật mình: giống thầy Nhất Hạnh vô cùng.

Bức tượng được làm bằng đất sét nung, nhỏ thôi chứ không lớn. Bức tượng rất có hồn và ai nhìn thấy cũng ngạc nhiên. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi biết chính anh, Istvan, là tác giả của “công trình” quý giá này.

Anh chia sẻ rằng anh rất yêu kính vị thiền sư người Việt Thích Nhất Hạnh. Trong số vài chục cuốn sách do Thiền sư viết, anh mới đọc có 5 – 6 cuốn nhưng thấy hay và thực tế vô cùng. Anh bảo rằng, người Tây phương rất hợp với cách hướng dẫn tu tập của Thầy và anh đã bị cuốn hút từ lâu. Istvan thích cách viết đơn giản của Thầy, thích triết lý và cách nhìn, thích cách sống giản dị và gần gũi, thích sự thông thái và nhạy cảm của Thầy.

Hóa ra trước mặt tôi là một Phật tử Tây phương. Tôi đã từng gặp và cùng tu tập với nhiều Phật tử ngoại quốc, kể cả những người có chức vụ cao như anh Daisuke – Phó Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, chị Siomarez – Phó Đại sứ Panama tại Việt Nam, anh Hank làm ở tổ chức USAid của Hoa Kỳ, chị Triz, anh Thom,…. Nhưng lần đầu tiên tôi gặp một Phật tử Bắc Âu, nhất là khi chính Phật tử này làm tượng của một vị sư người Việt Nam chúng ta. Trong lòng tôi dâng lên một niềm vui khó tả. Nhìn quanh các bạn có mặt trong nhà hàng tôi thấy ai cũng vui. Một người thầy người Việt của chúng ta được tôn kính, tại sao lại không vui. Hơn thế nữa, tôi thấy mình rất đỗi tự hào. Tự hào biết bao!

Tôi ngạc nhiên hơn khi biết ra là anh bạn Phật tử Thụy Điển này không phải là thợ chuyên nghiệp. Istvan là đầu bếp và là một giáo viên dạy tiếng Anh. Anh sáng tác tác phẩm này chỉ bởi lòng kính trọng đối với một nhà sư tài năng và đức độ. Anh làm tượng như một thú vui.

Tôi và những người bạn lặng người ngồi nghe anh kể về các công đoạn làm tượng từ đất sét. Thế là tôi biết thêm về một nghề nữa. Istvan miêu tả rất sống động, đến mức tôi như cảm thấy anh đang sáng tạo ngay trước mặt tôi. Bức tượng này được anh làm trong 2 ngày và ra đời vào tháng 5 năm 2013 này. Nghề làm tượng bằng đất sét phổ biến ở Việt Nam và châu Á chứ đâu có ở xứ Bắc Âu của anh mà sao Istvan lại có thể làm được bức tượng giống thầy Thích Nhất Hạnh đến vậy!

Trong lúc nói chuyện tôi phải dừng mấy lần, nhắm mắt tại để tưởng tượng trong vài giây về công việc của người Phật tử đặc biệt này. Tôi chắc rằng anh hay thiền tập, và nhất định anh phải thiền, phải nhập tâm lắm khi tạo dựng bức tượng. Bởi bức tượng Thiền sư Nhất Hạnh rất có hồn, rất thật. Thật đến mức, tôi cứ có cảm giác Thầy đang ngồi cạnh chúng tôi, ngay tại đây, trong quán chay Liên Hương giữa lòng thành phố Sài Gòn.

Istvan kể rằng anh đã đến Việt Nam 5 lần rồi. Có lần anh đã ở đến tận 2 tháng. Tôi thầm cám ơn và khi gõ những dòng này vẫn đang gửi lòng biết ơn đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Có lẽ nhờ Thầy mà anh bạn Phật tử Thụy Điển mới biết đến Việt Nam và dành thời gian đến với đất nước của chúng ta nhiều đến vậy. Tôi cũng thầm cảm ơn những người đồng hương đất Việt tuyệt vời, nhất là những Phật tử đã “tiếp khách” Istvan thật tốt và chu đáo để anh quay lại nước Việt Nam chúng ta nhiều lần đến thế. Quý hóa quá!

Tôi còn ngạc nhiên hơn khi biết rằng mấy năm trước anh đã trải qua một sự cố lớn: trong lúc chặt củi giúp bố mẹ vợ để cho vào lò sưởi, anh đã vô tình chặt đứt ngón tay cái. Anh cứ giữ nguyên ngón tay như vậy và lao vào viện. Ca phẫu thuật kéo dài từ 11 giờ đêm đến 5 giờ sáng hôm sau mới kết thúc. Chính anh cũng không tin khi các bác sỹ đã nối liền lại ngón tay cái cho anh. Istvan kể rằng cả tháng sau đó, 4 ngón còn lại cũng không cử động được do các bác sỹ đã nẹp tay, cầm máu khi mổ… Và đây là sự nhiệm mầu của Phật Pháp. Tôi chưa kịp hỏi nhưng đoán rằng chắc khi đó anh cũng niệm Phật dữ lắm đây.

Quan sát tôi thấy anh mặc chiếc áo có dòng chữ “Never give up”. Tôi hiểu rằng, là một Phật tử, học theo Đức Phật, anh luôn nhắc mình (và mọi người quanh anh) không thể gục ngã, không thể đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào. Chẳng thế mà một đầu bếp lại có thể có thêm nghề thầy giáo và kiêm luôn cả nghề “nghệ nhân gốm” nữa!

Tôi vui lắm khi môt Phật tử từ Bắc Âu xa xôi lại yêu kính một vị Thiền sư Việt Nam đến vậy. Tôi mong sao, đạo Phật lan tỏa khắp nơi, đến khắp năm châu bốn biển, đúng như đã được nêu trong cuốn sách “Khi nào chim sắt bay” của ni sư Ayya Khema rằng khi nào chim sắt biết bay, khi nào ngựa chạy trên 4 bánh xe thì Phật Pháp lan tỏa sang phương Tây. Tôi mong rằng, trong bộ sưu tập những tác phẩm của anh bạn Istvan sẽ có thêm nhiều bậc thầy cao quý khác của nước Việt chúng ta.

Chúng tôi rời quán chay Liên Hương khi đã gần nửa đêm. Hôm sau nữa thì Phật tử Istvan bay về nước. Không biết bao giờ anh mới quay lại. Nhưng may thay, chúng tôi đã kịp chụp lại những bức ảnh với những khoảnh khắc quý giá này.

TS Nguyễn Mạnh Hùng – Công ty sách Thái Hà

Một vài kỷ niệm với ca sĩ Hà Thanh

Vài kỷ niệm với Tâm Ca Lăng Tần Già – Chân Hỷ Lạc – Hà Thanh

Sư Cô Chân Không

 

Tiểu sử của ca sĩ Hà Thanh(1):

Hà Thanh khi trẻCa sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Cô là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có mười anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích cô khi nhận thấy em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh trên Đài phát thanh Huế.

Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng sông xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho Đài phát thanh Huế.

Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Cô trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Cô rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như Hàng hàng lớp lớp, Chiều mưa biên giới…

Năm 1965, ca sĩ Hà Thanh đã đến hát cho sinh viên trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của trường Đại học Vạn Hạnh nghe(2).

Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của cô. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh, Tiến Sĩ Lê Văn Hảo cũng là người rất hâm mộ Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.

Sau năm 1975, Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ.

(1)Theo Wikipedia
(2) Lời sư cô Chân Không

(*) Hình đầu tiên: Hà Thanh lúc 16 tuổi

Cất tiếng hát đem niềm vui cho người

Tại hải ngoại, năm 1988 Hà Thanh đã ghi tên theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh đi hành hương 3 tuần lễ ở Ấn Độ. Khi đoàn lên núi Linh Thứu, Hà Thanh xin được quy y lại với Thiền sư và được cho pháp danh mới là Tâm Ca Lăng Tần Già, mặc dù cô đã được quy y Phật hồi bé ở Huế.

Kinh A Di Đà kể rằng ở cõi Tịnh Độ mỗi lần chim Ca Lăng Tần Già hót lên thì người nghe khởi chánh niệm, tiếp xúc ngay với Bụt, Pháp và Tăng của tự thân, và ý thức rằng mình đang ở cõi Tịnh Độ. Ca Lăng Tần Già Hà Thanh cũng vậy. Cô đã làm đúng như lời Thầy mong ước. Cô chỉ trình diễn trong những đại hội Phật Giáo, những đại nhạc hội lạc quyên giúp thuyền nhân ở các trại tị nạn, giúp cứu trợ nạn nhân lũ lụt ở quê nhà, hay góp phần xây ngôi thiền đường này, hoặc ngôi bảo tự kia…

Tiếng hát của cô bây giờ là hát vì mọi người, đem niềm vui cho người, giúp người bớt khổ. Cô không còn hát cho riêng mình. Điều quan trọng là cô chỉ hát những bài nhạc đạo giúp người ta tu tập, đúng như điều thầy của cô – Thiền Sư Nhất Hạnh – khi đặt tên cho cô đã mong ước: Mỗi lần cô cất tiếng hát là thính giả lại được tiếp xúc với Bụt, Pháp, Tăng của tự thân và phát khởi chánh niệm.

Hà Thanh với Thầy và bạnNăm 1990, Hà Thanh có đến thiền đường Hoa Quỳnh của Làng Mai tại Paris, tập hát với nhạc sĩ Chí Tâm và sư cô Chân Không một số bài nhạc Phật giáo mà Thầy Làng Mai mới sáng tác. Hôm sau, tại nhà hát lớn Palais de la Mutualité,  trước 2200 người Việt, cô đã trình diễn bài Ý thức em mặt trời tỏ rạng của Thiền Sư Nhất Hạnh và bài Hải Triều Âm của nhạc sĩ Bửu Bác sáng tác. Giọng hát của Hà Thanh rất trong, rất thanh và khi cất lên cao vút thì lại thật ấm và ngọt ngào, tỏa lan… ngân xa như những tiếng chuông hay nhất xứ Huế.

Suốt trong những năm 1990 đến 2000 khi Việt Nam còn cấm đoán nhạc vàng, Phật tử hay chuyền nhau những băng cassette pháp thoại của Thầy và rất ngạc nhiên thích thú được nghe Hà Thanh hát những bài như Quay về nương tựa, Tiếng chuông chùa cổ, Ba sự quay về, Đây là Tịnh Độ, Ý thức em mặt trời tỏ rạng, Cẩn trọng, Trầm hương đốt, trước và sau các bài giảng.

Năm 1997 Tâm Ca Lăng Tần Già Trần Thị Lục Hà – Hà Thanh tiếp thọ 14 giới Tiếp Hiện với pháp hiệu là Chân Hỷ Ca

Trong một buổi pháp thoại cho đồng bào ở Hoa Kỳ,Thiền Sư Nhất Hạnh có đọc cho thính chúng nghe bài thơ do Thầy sáng tác: “Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai”. Khi nghe lần đầu câu: “Thầy đi tìm con, từ lúc non sông còn tăm tối…”, cô đã khóc và đã quyết tâm phổ nhạc bài này với những nốt nhạc rất dân tộc, rất Việt Nam và đã nhiều lần đến hát cho tăng thân Làng Mai nghe… Hôm ấy cô đã hát cho tăng thân nghe bài Bên Mé Rừng đã nở rộ hoa mai, do chính cô phổ nhạc thật tuyệt vời, nhiều thiền sinh có mặt ở khóa tu đã khóc vì cảm động và hạnh phúc.

Năm 2011, Hà Thanh báo tin cô bị bệnh dư hồng huyết cầu, nhờ trị bệnh này đã bảy tám năm nên bác sĩ đã giúp cô làm chủ được tình hình sức khoẻ. Như mọi khi, cô rất vui mừng mỗi khi nghe thầy ghé qua Miền Đông Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục sẳn sàng ngồi xe đi hơn 5 giờ đến thăm thầy ở Tu Viện Bích Nham của Làng Mai ở tiểu bang New York  Hoa Kỳ. Cô đã mang tặng thầy cái CD chót mà Hà Thanh mới đặt nhạc mới bài Sám Hối (thi kệ của Thầy Nhất Hạnh) mà cô mới viết nhạc lại (không phải nhạc của Anh Việt) trong đó Hà Thanh lại thêm đoạn Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn, rất “ăn khách”  nhất là khi Hà Thanh cất giọng lên như những tiếng chuông khánh thanh tao nhất của nhà chùa!

Mới cách đây hơn hai tháng, ngày 14 và 15.9.2013, Hà Thanh có đến tận khách sạn Boston Park Plaza Hotel, nơi Thiền sư Nhất Hạnh đang hướng dẫn một khóa tu hai ngày cho 1120 bác sĩ y khoa và tâm lý trị liệu do Đại học Harvard tổ chức để thăm Thầy và một lần nữa hát cho Thầy nghe bài Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai. Các sư em tôi không ngờ đó là lần chót Hà Thanh hát cho Thầy và tăng thân nghe. Nhưng tôi thì vẫn đang còn nghe vẳng vẳng ngay lúc này đây, cái giọng ngọt ngào ấy, trong như những giọt sương mai long lanh, đầm ấm mà từ bi như tiếng chuông ngân xa, ngân xa… thật xa biến cõi buồn phiền thành Tịnh Độ.

“Lá la là la lá…lá la là la lá…Lá la là la lá…. lá la là la lá.. la la.. là la .. Qua ngõ vắng, lá rụng đầy, tôi theo con đường nhỏ, đất hồng như môi son bé thơ… Bỗng nhiên tôi cẩn trọng, từng bước chân đi…”

Tiếng hát ấy của Hà Thanh như những giọt lưu ly đang tung tăng reo vui reo vui trong cõi tịnh độ bây giờ và ở đây với chúng ta ngay giây phút này…

Qua ngõ vắng
Lá rụng đầy
Tôi theo con đường nhỏ
Đất hồng như môi son bé thơ
Bỗng nhiên
Tôi cẩn trọng
Từng bước chân đi…

Thức dậy hôm nay em thấy trời xanh
Chắp tay em cám ơn đời mầu nhiệm
Cho em hai mươi bốn giờ tinh khôi
Cho em bầu trời bao la
Mặt trời lên cao
Rừng cây ý thức
Mặt trời lên cao
Rừng cây vươn nắng chan hòa.
Em đi ngang qua đồng hoa hướng dương
Hàng vạn bông hoa ngoảnh nhìn về phương Đông chói sáng…>>

Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đoá hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh ngát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi…>>

 

Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai

HÀ THANH phổ nhạc và trình bày

Thầy đi tìm con
Từ lúc non sông còn tăm tối
Thầy đi tìm con
Khi mọi loài còn chờ đợi ánh dương lên

Thầy đi tìm con
Khi con còn đắm chìm trong một giấc ngủ triền miên
Dù tiếng tù và đã vọng lên từng hồi giục giã
Không rời non xưa
Thầy đưa mắt về phương trời lạ và nhận ra được trên vạn nẻo đường từng dấu chân của con

Con đi đâu
Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn
Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ
Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở
Tin rằng dù con đang còn lạc loài đi về bên nớ
Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni…>>

Chuông ngân từng tiếng ối à ngân nga
Thở vào tâm tĩnh lặng a à í a
Thở ra ôí à mĩm cười, thở ra ối a mĩm cười
Tình tình tình thảnh thơi, tình tình tình thảnh thơi…

Cánh đồng, nắng và dòng sông….

Chơ vơ mà không chơ vơ

Cánh đồng

Tôi sẽ bắt đầu từ những cánh đồng, có lẽ vì ở đây hầu như ngày nào tôi cũng đi ngang qua những cánh đồng. Mùa này, những cánh đồng đã được thu hoạch xong, mới vừa được cày xới lên, đất nâu hồng, có những thửa đất rất mịn, có những thửa đất là những mảng to. Mùa này, đất nghỉ, đất nằm yên để nuôi đất. Nhưng những lần đi qua, không khi nào tôi không thấy đất vẫn đang cuồn cuộn, âm ỉ một mạch sống vô biên, bất tuyệt. Những mùa khác, người ta đã trồng lên đất nhiều thứ, nào cỏ, nào hướng dương, nào lúa mì, lúa mạch hoặc cải vàng…

Nhưng bây giờ, đất ‘một mình’, phơi mình đón mưa, sương, tuyết. Đối mặt với trời, đất thở. Rất yên và sâu. Ở đây có các dốc đồi nhấp nhô và những con đường uốn lượn, cảnh vật dường như vì thế mà mềm mại, nhẹ nhàng và mở rộng ra thêm, nên những ngày dù buồn hay vui bước ra đều không bao giờ thấy cũ, thấy chán. Con đường từ xóm Hạ lên xóm Thượng hay qua xóm Mới là con đường đi giữa những cánh đồng – những cánh đồng nho, lúa mì, hoa hướng dương hay chỉ là những cánh đồng cỏ, xanh mượt và mềm mại.

Có lần sư cô Thần Nghiêm đã kêu tôi viết “tả” một đoạn ngã tư giữa đường từ xóm Hạ lên xóm Mới, mà đến bây giờ tôi vẫn chưa viết xong. Bốn góc của ngã tư đều là những cánh đồng. Từ xóm Hạ đi lên, bên trái là một quả đồi nhỏ, trên đỉnh đồi là một cái cây. Duy nhất một cái cây. Quả đồi đó, có mùa hoa hướng dương trải vàng rực rỡ, có mùa thì lúa chín xôn xao, lại có mùa cỏ non xanh mượt, có mùa chỉ mộc mạc đất nâu sồng. Còn cái cây, tôi không biết nó đã có ở đó từ lúc nào rồi, có lẽ có ai đó đã cố tình trồng nó ở đó hay nó đã tự mọc lên từ một hạt mầm nào đó. Đó không phải là một cây cổ thụ nhưng cũng không nhỏ để không bị gãy đổ sau bao mùa mưa gió, giông bão hay tuyết băng. Nó ở đó, như để…chơi cho vui, không cần ý nghĩa, mặc cho thiên hạ đi qua có bình luận hay bàn tán là nó đẹp hay cô độc. Tôi thì thích cái “can trường” của nó. Một cái cây chơ vơ mà không chơ vơ vì nó hòa hợp không cùng với quả đồi và khung cảnh xung quanh, như một bức tranh tĩnh lặng và sinh động.

Còn phía bên phải ngã tư cũng là những cánh đồng cây cỏ theo mùa, giữa cánh đồng là một ngôi tháp canh cũ kỹ, “rất Pháp” có những ô cửa ngộ nghĩnh trổ ra như một khuôn mặt cười. Trên là trời cao mênh mông, dưới là những cánh đồng trải dài, tóm lại, có lẽ, chỉ là… đẹp và bao la! Không biết có đủ cho sư cô Thần Nghiêm nhớ làng chưa ? :))

Cách đây mấy năm, ngày biết tin Nội tôi mất, tôi đi qua mấy ruộng nho gần xóm Hạ để… khóc. Nội tôi mất đột ngột do tai nạn giao thông mà gia đình không cho tôi hay vì sợ tôi về lại trễ nải việc học. Trong ký ức, những kỷ niệm về Nội gắn liền với những cánh đồng quê. Cánh đồng quê buổi chiều tà chạy chân đất trên những bờ đê, đi hái đậu bắp về luộc ăn với nội những bữa cơm quê đạm bạc, hay lội bì bõm, vọc chơi trong bùn với các cô chú những ngày cày cấy… Tôi không ở quê với Nội nhiều nhưng tình thương của Nội và sự đầm ấm bên những cánh đồng ấu thơ đã nuôi tôi lớn lên, thấy mình may mắn vì có một tuổi thơ ‘quê mùa’ nhưng hồn nhiên và trong trẻo tuyệt vời. Vì vậy mà ngày đó nghe Nội mất, tôi thấy như cánh diều tuổi thơ đã đứt dây bay theo Nội mất hút rồi.

Và rồi tôi đã đến trên những cánh đồng này. Một gia đình mới, một quê hương mới, tôi về lại với cánh đồng của mình. Tôi khám phá, quan sát, học cách gieo trồng, chăm bón,… cho cánh đồng đó. Mỗi mùa mỗi vẻ, cũng xuân đầy, hạ ấm, thu rơi, đông giá. Mỗi ngày tôi gieo và gặt, chấp nhận những gì đang có trên cánh đồng đó cho dù thấy đất có cằn cỗi, hạt giống xấu tốt, cỏ dại chen lấn nhau cũng nhiều.

Xung quanh tôi, mỗi người là một cánh đồng nằm giữa những cánh đồng, tạo thành một “cánh đồng Tăng thân” rộng lớn và phong phú. Những cánh đồng đó đan thành một tấm áo khoác, về địa lý thì chỉ là một mảnh đất nhỏ nhoi trong một góc trời, nhưng tâm linh thì trải rộng thênh thang. Mảnh đất lành này, một phần vừa đang ấp ủ, nuôi dưỡng trong đó tình thương và những hạt giống tốt; phần khác đã có thể đem hoa thơm trái ngọt hiến tặng cho đời, để cho người người về khám phá và tìm lại hạt lành trên chính mảnh đất của mình. Những cánh đồng đó, khi thì hết lòng truyền chất nuôi hạt, nuôi cây, nuôi quả, nhộn nhịp những ngày mùa vui; khi lại lặng yên nằm thở, phơi mình đón mưa gió, tuyết sương. Tôi nhớ Sư Ông có lần đã nói rằng, mình may mắn lắm vì người ta ‘tự động’ mang đất đến cho mình gieo hạt, trồng trọt… Người ta gặt thì đồng thời mình cũng gặt. Bây giờ hạt lành đã chín, như những bông hoa bồ công anh theo gió bay đi muôn phương.

Dòng sông

Dòng sông nắng cho bờ bến rộng…

Tăng thân là cánh đồng mà tăng thân cũng là một dòng sông. Một dòng sông tha thiết và trù phú. Một dòng sông để thả mình vào đó và xuôi theo. Đôi khi tôi thấy những khó khăn và bấp bênh trong tâm thức mình hoặc trong tăng thân giống như những thác ghềnh, những chướng ngại nằm chắn giữa dòng sông. Nhưng chính nhờ đó mà tôi thấy được là dòng sông đang hiện hữu. Dòng sông đang trôi đi, vượt qua. Dòng sông phải luôn vượt qua chính mình để là một dòng sông, nếu không thì đó chỉ là một thứ nước vũng đọng, ao tù. Tôi vẫn thương nhớ sự ngọt ngào, dịu êm của dòng sông quê Nội, nơi tôi đã được thả ghe đi bắt cua trong những hốc cây ven sông, hoặc nhảy ùm xuống mặc lòng tắm gội trong những ngày mưa, ngày nắng. Con sông tuổi thơ còn đó nhưng đã trôi qua lâu rồi. Bây giờ tôi về tắm gội trong dòng sông tăng thân. Lặng yên, hiền hòa trong những ngày bình an, hay cồn cào, nổi sóng khi lòng bất chợt thức dậy những cơn đau. Nhưng tôi thấy rằng tôi ‘trong’ thì sông cũng ‘trong’ mà tôi ‘đục’ hay ‘nổi sóng’ thì sông vẫn bình tĩnh mà ôm ấp, giúp cho tôi lắng lại.

Nắng

… một hôm nhìn nắng hắt lên những chiếc đầu tròn

một hôm bỗng nghe nắng hót vang lên lời chim

tầng không muôn ngàn tiếng gọi

mới hay mình ngủ quên quá sâu!

Những ngày mùa đông này, nắng là một món quà, nắng là một thứ xa xỉ mà đất trời đem tới cho mọi người, mọi loài. Những ngày có nắng, tôi thấy mình như khỏe khoắn, tươi vui hơn. Những ngày có nắng, cảnh vật được nhuộm vàng và như bừng lên một sức sống mới, từ những hàng cây trụi lá, những con đường lặng yên hay mặt hồ phẳng lặng… Mặt trời đang xuyên qua bầu không khí lạnh giá và ẩm thấp để truyền vào cảnh vật và con người một nguồn năng lượng tự nhiên và mạnh mẽ của Người. Những lúc đó, tôi thấy Mặt Trời thật gần, Mặt trời thật sự là Cha, là một ông già ấm áp, độ lượng, đang bao bọc và nuôi dưỡng hết cả đám cháu con nghìn nghìn lớp lớp.

Tôi nhớ một ngày ở Đức, tôi đi bộ từ sớm ra vạt đất rộng có cây dẻ gai to và nằm chơi ở đó. Trời tháng Năm chưa tới hè, vừa tươi mát, vừa ấm áp. Và khi những vạt nắng đầu tiên soi chiếu vào người, tỏa khắp không gian thênh thang đó thì tôi bỗng nghe một cảm giác mà lần đầu tiên tôi cảm nhận được. Đó là tôi thực sự là một đứa con của đất trời, tôi hoàn toàn hòa điệu, thơ dại đang nằm đong đưa trong cái vòng nôi đó. Thiên nhiên thật gần, bầu trời và mặt đất thật gần. Tôi như chạm được vào cái chiều sâu tâm linh của thiên nhiên. Hồi trước đến giờ, tôi vẫn luôn yêu thiên nhiên, nhưng thường khi, tôi chỉ thấy thiên nhiên…. đẹp, rộng rãi và bao la! Tôi chỉ thấy được một phần nào đó những chiều không gian của thiên nhiên, như chiều sâu của núi cao, vực thẳm; chiều rộng dài của đất trời thênh thang… Nhưng từ từ lúc nào đó không hay, tôi dường như chạm một chiều khác nữa của thiên nhiên, một chiều bất ngờ vỡ hoang từ tâm thức. Tôi học cách đến gần thiên nhiên hơn qua tâm thức.

Những con đường hoa dại còn đó

trắng một vạt trời

những bước chân trở mình khắc ghi dấu vết thiên thu

khi nắng mai bất chợt chảy tràn vào thực tại…

Nắng mai trong lành, rực rỡ là một tiếng gọi, đưa tôi về hiện tại độc nhất mà bất tận. Những con đường hoa trắng hồn nhiên, trong sáng của ngày hôm qua vẫn còn đây. Rất rõ ràng, sống động. Và âm vang của những bước chân bước cẩn trọng không thành tiếng cũng từ tương lai quay về. Hiện tại tròn đầy, khi mắt và lòng nhận thấy được một vùng nắng rực rỡ và tươi mới đang chảy vào ngày. Nắng, những bước chân và sự dừng lại đã gõ cửa cho tâm thức neo vào hiện tại. Đôi khi nhìn nắng, nhìn mọi người đang bước đi bình an, tĩnh lặng và nhìn lại cuộc sống xung quanh mình, tôi thấy “mình đang sống trong một khoảng thời gian đẹp nhất của đời mình“. Thế nhưng, đôi khi, tôi cũng là kẻ cứ nhớ thương hoài về những cái gì đẹp đẽ đã qua. Đó có lẽ vì tôi đã không sống bằng trọn vẹn trái tim mình, không thấy hiện tại đã đủ đẹp, quý giá và tôi cần nối dài những ngày tháng đẹp đẽ này bằng cách “sống đẹp” những ngày hiện tại.

Suối, rừng cây, núi đồi, trăng sao….

Nếu tôi nương nhờ sông để thả vào đó mọi thứ, để chuyển hóa và luân chuyển thì tôi cũng yêu núi vì yêu cái bất động, hùng vĩ và tự tại. Tôi yêu núi còn vì… và vì…., nhưng đơn giản nhất có lẽ là trong tôi có núi và trong núi cũng có tôi. Tôi nghĩ có lẽ trong một người tu nào cũng có ít nhiều ‘chất núi’ trong con người mình như thế.

Tôi rất thích những ngày được ‘về chơi với núi’ trong những chuyến đi chơi hàng năm của quý sư cô Xóm Hạ. Tôi đi chơi núi như đứa con về nhà. Núi đón tôi bằng một vòng tay vô tận, bao la. Đương nhiên, núi cũng là Đất, là Mẹ. Và có bước chân nào của tôi mà không trở về với đất, với Mẹ?

Bình thường tôi cũng khá lười vận động nhưng lên núi rồi thì tôi thích leo núi lắm. Đó là một cơ hội để tôi rèn luyện lại sức khỏe, hít thở khí núi trong lành và … để vượt qua chính mình nữa. Nhớ những ngày leo núi, nhiều khi tôi đi hơi nhanh nên không còn ai xung quanh và cũng khá mệt. Lúc đó tôi hoàn toàn giao phó mình cho những bước chân, hơi thở và mặt đất. Tôi thấy rất rõ mặt đất đang nâng từng bước chân của mình. Và hòa quyện với cái khung cảnh núi non bát ngát, tôi thấy lòng mình mở rộng ra, nhẹ tênh và bình an.

Tôi cũng nhớ một ngày tôi ngồi chơi bên suối, xung quanh là núi đồi vây phủ. Ngồi ngắm những bông hoa đang nở chơi bời, hoang dại, rồi nghe tiếng suối róc rách, ầm ào và tiếng chim hót véo von trên đầu non, tự nhiên tôi cũng nổi hứng ca hát, hát mải mê từ bài này qua bài khác.

Tôi nghe như suối hát rằng:

Sông vẫn chảy đời sông

Suối vẫn trôi đời suối

Đời người cũng chỉ để sống

và hãy thả trôi hết những muộn phiền…

Cho nên tôi cũng muốn đáp lời mà hát hết lòng bằng những niềm bình yên và nhẹ nhàng đang có trong trái tim mình lúc đó. Và rằng, ở đây, bên những cánh đồng, dòng sông, nắng,… tôi còn có những con đường, dốc đồi, bầu trời, rừng cây, trăng sao… Cuộc sống vật chất ở đây đơn sơ, giản dị với những nếp nhà cũ kỹ hay những con đường quanh xóm đầy bùn đất nhưng chỉ cần “cúi xuống, cúi xuống thật gần…” với đất, với trời, với cảnh vật xung quanh thì tôi sẽ về được rất gần với đất Mẹ thiên nhiên. Mở một con đường ra với Thiên Nhiên bên ngoài thì cùng lúc tôi cũng mở được một con đường về với Thiên Nhiên, với những không gian trong lòng mình. Tôi thấy thương quý cuộc đời và biết ơn đất Mẹ, thiên nhiên vô cùng. 

Xin tạ ơn bao la,
tạ ơn đời sống vẫn thiết tha
ta tái sinh ta qua từng hơi thở mới
từng hơi thở bình an, ta đi-về không chờ đợi
từng hơi thở an lành, ta buông thả niềm đau…
Và thả lòng theo mây trắng qua mau
mỗi bước chân xin quay về đất Mẹ
mỗi bước chân xin dốc lòng nương tựa
vì bao dung của đất vẫn tràn đầy
Mai ta về, mây nắng ủ trong tay
đi suốt con đường, bao la mở lối
lắng lòng nghe bao tiếng đời vẫn gọi
và nghiêng xuống muôn trùng, ta cười với mênh mông….