văn – Trước 2014

Nhật ký trước lúc đi xa
Trái tim thanh niên phụng sự xã hội
Hơi thở mùa Xuân
Nguyện xưa một vẹn phải tìm nhau
Những điều em ước mơ… (Thư gởi chị – Phần 1)
Vẽ một chữ Tâm giữa trời (Thư gởi chị – phần 2)
Bưởi – Mối tình đầu của em (Thư gởi chị phần 3)
Thạch Lam, Bính và …em… (thư gửi chị – Phần 4)
mùa xuân, em bé sơ sinh
Mười năm bên hàng dậu
Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm
Con dấu hạnh phúc
Khóc trong vòng tay của chính mình
Phép lạ Tăng thân
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài
Những nấc thang chuyển hóa
Núi vẫn còn đây
Chốn bình yên
Gia đình tâm linh
Đá
Thiên thu
Mùa xuân đằng sau cánh cửa
Đường táo và đường Quyên
Mẹ – Nguồn thương yêu
Mẹ – Người Kỹ Sư Tâm Hồn
Khung trời đại học
Những điều ba mẹ muốn nói
Mẹ đang hạnh phúc
Thư tình nhân ngày Vu Lan
Ba ơi, con đang sống cho ba
Mẹ – phân khoa lớn nhất của trường đại học cuộc đời
Làm ra một niềm vui
Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối!
Xóm Thượng mùa lá chín
Liệng sợi tơ sen trói con mãnh hổ
Chúng ta đang hạnh phúc
Nụ cười đầu ngày
Ngôi làng quê tôi
Chăn bò, chăn mình và chăn em
Cây mận
Tăng thân, những nghệ nhân nặn tượng
Thực tập chánh niệm lại quan trọng với người trẻ?
Mùa trao đèn
Mở cửa nhìn pháp thân
Nụ cười cho đời
Hiện hữu nhiệm mầu
Mẹ là biểu hiện của tình thương
Ba ơi! Con đang tiếp nối sự nghiệp của Ba
Nơi ấy cũng là bây giờ và ở đây
Nha Trang ngày về
Phương Trời Lạ
Mùa nhiệm mầu!
Tăng thân- môi trường tốt nhất cho tôi
Ngày chuyển mùa
Lễ tốt nghiệp trong tu viện
Chuyện Tân Sa Di
Tết rồi
Hoa Hậu
Mây bay trời viễn xứ
Tiếng Chim Cúc Cu
Lễ thọ giới tân tu ấn tượng
Trong Má có Bụt – Trong Má có Con
Chuyến Rong Chơi Lý Thú
Vu Lan trắng
Xứ Nguyệt
Con đang sống một mùa thu kỳ diệu
Mùa mận chín
Mùa lá chín
Carousel Banners

Trong bức thư pháp hiện rõ bóng Thầy

Cứ mỗi lần nhìn bức thư pháp nơi chánh điện chùa Phổ Từ, tôi lại nhớ đến Sư Ông. Không những qua hàng chữ mường tượng ra bóng dáng Người mà trong nét bút màu mực lưu lại như còn văng vẳng lời nhắc nhở tràn đầy ưu ái của Sư Ông đối với tôi và mọi người.

Hàng chữ thư pháp trên liên quan đến một chặng đường tu học của tôi, vốn là một câu thơ của Sư Ông mà từ lâu tôi sử dụng như một quán ngữ cho sự thực tập của mình: hồ tâm lặng chiếu nguyệt thanh bình. Thuở ấy, tự biết tâm mình còn dễ dao động nên từ khi đọc sách Sư Ông vào khoảng năm 76, 77, tôi đã thực tập cố gắng nhìn lại tâm mình cho bớt xôn xao, “nổi sóng” nhất là khi bắt đầu tập hạnh xuất gia. Câu thơ trên khi chưa được treo lên vách đã ở bên cạnh tôi như một tâm niệm khó quên, một nhắc nhở không thôi.

Nhưng việc được gặp gỡ người đã chỉ ra một quán ngữ cho cuộc đời tu học của mình thì phải nhiều năm sau cơ duyên mới đến. Khoảng năm 1986, Sư Ông qua Bắc Mỹ giảng thiền khi làn sóng người tỵ nạn Việt Nam đến định cư ngày một đông. Sau khóa tu ở một trại hè gần San Diego, tôi quen biết anh Mộc, một họa sĩ và nhờ anh phỏng theo kiểu chữ Sư Ông, cắt giấy dán câu thơ làm thành một tiêu ngữ rất dễ nhìn, ai thấy cũng không rời mắt. Cho đến một hôm, trong một khóa tu ở tu viện Lộc Uyển, thì cơ duyên mới đến! Sau khóa tu, Sư Ông ngỏ ý cho các huynh đệ về thăm nhà, hay quý thầy, sư cô nào đã làm Trụ trì mà dám “bỏ chùa đi tu học”, thì dành cho mỗi người một món quà. Hôm đó, tôi thấy mình qualified nên theo đại chúng đi xuống Cốc của Sư Ông. Có thực tập chút chút, nên tôi cũng biết nhường nhịn các huynh đệ, để cho mọi người chọn quà trước. Ai ngờ, đến phiên mình thì quà … sạch trơn! Thật tình, tôi cũng chưa biết nghĩ sao, đúng là “tiến thoái lưỡng nan”, chẵng lẽ “đòi ” thì không nên mà bỏ đi thì hóa ra “cô phụ” lòng thương của Sư Ông. Ngay lúc đó, Sư Ông từ trong phòng ngủ bước ra, thấy tôi đứng đó (không biết thị giả có báo cáo hay không) thì Sư Ông nói ngay: Thầy muốn chữ gì, tôi viết cho thầy. Đợi thị giả trải giấy, bày xong bút mực, tôi mới ghé ngồi cạnh, miệng thưa với Sư Ông: Bạch Sư Ông, cho con xin câu: “hồ tâm lặng chiếu nguyệt thanh bình” rồi ngồi yên.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (11).jpgNgồi bên Sư Ông, một bậc Thầy tôn kính của mình, tôi bỗng thấy mình, vốn đã vóc dáng khiêm nhường, nay lại như nhỏ bé thêm! Trong lòng còn chút ngại ngùng chứ không sợ sệt, tôi bình tâm theo dõi hơi thở, giữ chánh niệm, rồi “enjoy” giây phút hiện tại.

Sư Ông điềm tĩnh khác thường, nhẹ nhàng vuốt tờ giấy, khoan thai cầm bút và như thể trút hết thái độ an nhiên tự tại kia xuống mặt giấy. Sư Ông viết thư pháp kể đã hàng trăm lần, thậm chí cả ngàn bức rồi mà dường như cung cách khi đặt bút vẫn chỉ là một, không thay đổi.

Đến lúc Sư Ông ấn dấu triện son thay cho chữ ký của tác giả lên bức thư pháp, tôi không còn giữ được bình tâm mà cảm thấy lòng mình rộng mở đón nhận cảm xúc mạnh mẽ, thiết tha từ một lời răn hiển hiện lên thành chữ từ tay một bậc Thầy. Lời dạy được thể hiện trong từ tốn, chân thành, thiết tha như kèm theo ánh mắt bao dung, từ ái. Ôi! chữ nghĩa bình thường không diễn tả nổi, bạn ơi! Khi ấy, tôi chỉ biết mỉm cười, thọ nhận ân đức của Thầy vừa ban cho mình một món quà vô giá.

Tôi đem bức thư pháp về chùa, làm khung, trân trọng treo lên tường chánh điện. Bên kia, là tấm hình Ôn Hội chủ chụp chung với Thầy tôi, Sư Ông Kim Sơn, và đại chúng ở tịnh thất Phật giáo San Jose thuở nào. Một tấm hình, một bức thư pháp đã ở bên tôi, an ủy, trợ lực tôi trong cuộc đời người tu hành.

Không chỉ nhận được lời dạy như thêm đậm nét trong bức thư pháp, tôi còn sớm lãnh hội nơi Sư Ông những ý tứ thâm sâu được thể hiện bằng một văn tài hiếm có. Từ nhiều thập niên trước, tôi đã cảm mến cuộc sống và tâm tình người xuất gia thiếu niên và nghĩ rằng tác phẩm “Tình người” của Sư Ông đã góp phần không ít vào việc hun đúc, tô bồi hạnh nguyện thí phát của chính mình. Bộ “Đường Xưa Mây Trắng” Sư Ông viết, Lá Bối in lần đầu gồm 3 tập, tôi say sưa đọc một mạch mới buông sách! Thơ của Sư Ông, gồm nhiều thể lọai, có bài được phổ nhạc, vẫn còn lưu lại trong ký ức nhiều người chúng ta như bằng chứng của một tấm lòng luôn ưu tư, xót xa về nỗi đau chung mà mọi người phải cam nhận. Người ta còn nói nhiều đến những thành tựu đáng kể về nhiều mặt mà Sư Ông đạt được không chỉ trong lãnh vực văn chương, văn hóa. Riêng với người hậu sinh như tôi, tôi chú ý nhiều hơn đến sự nghiệp giáo dục, truyền bá về mặt tâm linh, vận dụng Phât pháp trong đời sống mà tôi được may mắn theo đuổi việc học hỏi, thực tập, hành trì một cách gần gũi với Sư Ông trong thời gian lâu dài. Tôi đi theo làm phụ tá cho Sư Ông khoảng 10 năm trong các khóa tu học, nhiều nhất là ở tu viện Kim Sơn. Ngoài ân đức của một nghiệp sư khi tôi thọ Sa di thập giới ở chùa Việt Nam, Los Angeles, năm 1983, Sư Ông còn dành cho tình thương mến khi tôi bắt đầu thành lập đạo tràng tu học ở Hayward. Sư Ông cho một “bì thư” làm quà khai trương! Sau đó, vào năm 1994, sau khi tôi trình lên Sư Ông bài kệ kiến giải của mình:

Một chút nắng nhạt
Rơi trên y vàng
Nguyện khắp nhân gian
Bình an, chánh niệm.

Sư Ông truyền đăng, ban kệ truyền thừa cho tôi, mà qua đó, lời dạy của Sư Ông thật rõ ràng, thực tế:

Từ vân đương hiện thoại
Lực đại bản do căn
Đối cảnh tâm bất động
Chân giác bất ly trần.

Lời dạy đó đã giúp tôi bao nhiêu lần giữ cho được “tâm bất động” trước nhiều tình huống khác nhau. Tôi rất biết ơn Sư Ông với những lời giáo dưỡng, khuyên bảo ân cần giữa đại chúng cũng như khi ăn sáng riêng với Sư Ông ở Cốc Ngồi Yên tại Làng Mai.

Nhưng đặc biệt hơn cả là lời dạy bảo của Sư Ông giúp tôi qua khỏi một “đại nạn” trong cuộc đời tu hành của mình. Nếu như bạn có gia đình thì việc bạn làm những điều cần thiết để gìn giữ gia đình của mình là điều đương nhiên hợp lý. Tôi có chúng xuất gia, tức là gia đình tâm linh, thì tôi cũng cố gắng nuôi dưỡng, bảo vệ cho được an lành, vui vẻ. Nhưng, mấy khi học được chữ ngờ vì có những sự việc xảy ra ngoài tầm dự tính, hiểu biết. Năm đó, tôi phát giác ra có chuyện “bất thường” ở trong chúng tuy không rõ lắm là chuyện gì. Nhưng vì có khóa tu riêng biệt cho người xuất gia, tôi vẫn sắp xếp để tất cả chúng lên Kim Sơn tu học, một mình tôi lo sinh hoạt ở chùa với Phật tử.

Sau khóa tu, tôi trở lên đón mọi người về, thì mới biết, trong buổi pháp đàm, một vài thành phần trong chúng đã “bày tỏ” với mọi người về tình hình sinh họat trong chúng. Những ý kiến đó có chiều bất lợi và có thể làm thương tổn dẫn đến tan rã một chúng xuất gia như chơi! Nghe tôi trình việc, Sư Ông chỉ nhỏ nhẹ nói: “án binh bất động” và tôi hiểu ý người. Tôi áp dụng đúng lời dạy, nhẹ nhàng lắng nghe, tuyệt đối không nổi nóng, buồn giận. Sau đó, tình hình trở nên sáng sủa khi những thành phần đó bày tỏ sự hối tiếc hành động vụng về. Bây giờ, hơn 15 năm trôi qua, nhìn lại, mới thấy lời dạy của Sư Ông là hợp lý, khôn ngoan và sáng suốt. Nếu mình có phản ứng, thái độ, hành động cứng rắn hay giận dữ thì chắc chắn sự việc đã buồn càng thêm buồn, đã tan rã thì sẽ không có cơ hội hàn gắn, xây dựng trở lại được nữa.

Vừa mới đây thôi, năm 2013, khi gặp Sư Ông ở đại học Stanford, Sư Ông cũng ân cần dặn dò: phải có chúng xuất gia thì việc tu tập mới tốt được. Có thể cũng vì lý do đó mà khi ở Lộc Uyển, Sư Ông đã dành hơn 15 phút để giải thích cặn kẽ điều tôi thỉnh thị: Bạch Sư Ông, làm thế nào để xây dựng, nuôi dưỡng chúng xuất gia ở Mỹ? Trong câu trả lời, dù Sư Ông cũng dựa vào kinh điển, với ba phần ân đức, đoạn đức và trí đức nhưng cách trình bày của người thể hiện tấm lòng cùng ánh mắt ân cần, khích lệ chân tình của một bậc trưởng thượng luôn quan tâm đến những ưu tư của lớp hậu tấn.

Chỉ xin kể thêm một chuyện nữa thôi, chứ còn kỷ niệm với Sư Ông dài lắm, nhiều lắm. Sư Ông thích tôi ngâm thơ. Tôi cũng biết ý, cho nên lúc nào tôi cũng sẵn sàng. Hôm đó, có Giới Đàn ở Làng, sau khi dùng cơm chung xong, đến phần sinh hoạt, Sư Ông nói: yêu cầu thầy Từ Lực đọc cho nghe vài bài thơ. Tôi bắt đầu bằng vài bài ngắn, xong chuyển qua truyện Kiều. Bỗng dưng trong lòng nghĩ đến hình ảnh một khía cạnh nào đó của con người Từ Hải, rồi liên tưởng đến cuộc đời hành thế của Sư Ông, gần như đơn độc xướng xuất, nhẫn nại từng bước, qua bao nhiêu năm vẫn trung thành với đường hướng đạo Phật nhập thế, chăm sóc việc đào tạo thế hệ kế thừa. Chợt nghĩ thế, tôi thưa với Sư Ông: Bạch Sư Ông, con thích mấy câu thơ “trơ như đá, vững như đồng”…Sư Ông trả lời ngay, do it again, trên môi vẫn là nụ cười bao dung, hoan hỷ. Tôi vững dạ, ngâm hai câu thơ mà theo tôi, ký thác được ý chí bền chặt và tâm nguyện vững vàng, không chuyển của Người. Sư Ông rất vui và tôi cũng rất vui, còn gì bằng!

Sớm nay, tịnh tâm xong, ngồi nhìn bức thư pháp trên tường, tôi thấy Sư Ông như bước ra từ nét chữ, nhẹ nhàng, ung dung, khoan thai từng bước dưới ánh trăng thanh. Nét mặt Người an lạc biết bao, và tôi cũng thấy lòng bình an không kém.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (10).jpg

Hãy nhớ đến họ: Những nhà Quán quân vì Nhân loại

Trong chuyến đi hoằng pháp ở Hoa Kỳ năm 2013, vào ngày 25 tháng 10, đại chúng được đi tham quan vùng Bay Area. Suốt ngày hôm đó, đại chúng có cơ hội thăm tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity” tại công viên Henry J. Kaiser Memorial Park, thành phố Oakland, California.  Sau đó đại chúng đi thăm Thiền Viện San Francisco.

Hôm đó có một số các vị xuất sĩ và cư sĩ khá đông được tháp tùng Thầy. Cả đoàn đều ngồi trên xe buýt. Tượng đài được làm bằng đồng và là tượng đài lớn nhất ở miền bờ biển phía Tây Hoa Kỳ và cũng là tượng đài duy nhất ở xứ Hoa Kỳ vinh danh những nhà Quán Quân tranh đấu cho dân quyền và nhân bản trên thế giới, trong đó có Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Trong số 25 người được gọi là “Champions for Humanity” (Quán Quân vì Nhân Loại) chỉ có 5 người đang còn sống, còn những người khác thì đã qua đời.

Sau đây là danh sách và tiểu sử ngắn gọn của 25 vị được gọi là “các nhà Quán Quân vì Nhân loại” (Champions for Humanity) (theo nguồn: http://oaklandwiki.org/Remember_Them%3A_Champions_For_Humanity_Monument):

    1. Ralph David Abernathy (1926-1990): Người cộng tác với Mục sư Martin Luther King trong phong trào nhân quyền.
    2. Maya Angelou (1928-2014):Nhà thơ, nhà viết kịch và cũng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền.
    3. Susan Anthony (1820-1906): Một nhà hoạt động dân quyền đã tranh đấu cho quyền bầu cử của phụ nữ và bãi bỏ chế độ nô lệ.
    4. Ruby Bridges (1954-Hiện tại): một nhà hoạt động dân quyền và là người Mỹ gốc Phi đầu tiên học tập tại một trường tiểu học toàn người da trắng ở miền Nam nước Mỹ khi lên 6 tuổi.
    5. Cesar Chavez (1927-1993): Nhà hoạt động dân quyền và là nhà lãnh đạo của nông dân.
    6. Chief  Joseph (1846-1904): Tộc trưởng của bộ tộc Nez Perce (ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ) và là nhà hoạt động dân quyền cho người da đỏ.
    7. Winston Churchill (1874-1965): Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II, người có công rất lớn trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.
    8. Frederick Douglass (1817-1895): Một nhà cải cách xã hội người Mỹ gốc Phi, đã từng là nô lệ và sau đó trở thành một nhà lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ.
    9. Shirin Ebadi (1947- Hiện tại): Nhà hoạt động nhân quyền người Iran, tranh đấu cho những vấn đề nhân quyền ở khu vực Trung Đông và đã được trao giải Nobel Hòa Bình.

10.  Mahatma Gandhi (1869-1948): Nhà hoạt động cho hòa bình, có công lãnh đạo Ấn Độ giành độc lập từ người Anh.

11.  Helen Keller (1880-1968): Nhà hoạt động xã hội luôn tranh đấu cho quyền lợi của người bị khuyết tật.

12.  Coretta Scott King (1927-2006): Nhà hoạt động nhân quyền.

13.  Martin Luther King (1929-1968): Nhà lãnh đạo dân quyền.

14.  Abraham Lincoln (1809-1865): Tổng thống Mỹ có công hủy bỏ chế độ nô lệ.

15.  Nelson Mandela (1918-2013):  Nhà hoạt động nhân quyền và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu.

16.  Harvey Milk (1930-1978): Nhà chính trị hoạt động vì quyền lợi của giới đồng tính Mỹ

17.  Mother Teresa (1910-1997): Người sáng lập Hội Dòng Truyền Giáo Bác Ái và đoạt Giải Nobel Hòa Bình năm 1979

18.  Rosa Parks (1913-2005): Nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi

19.  Franklin Delano Rooselvelt (1883-1945): Tổng thống Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ II, người sáng lập ra tổ chức Liên Hiệp Quốc.

20.  Oska Schindler (1908-1974): Nhà doanh thương người Đức đã tìm cách tranh đấu với quân phát xít để cứu được hơn 1200 người Do Thái khỏi bị tiêu diệt.

21.  Thích Nhất Hạnh (1926-Hiện tại): Thầy tu Phật Giáo người Việt, nhà tranh đấu cho nhân quyền và cho hòa bình.

22.  Rigoberta Menchú Tum (1959-Hiện tại): Nhà tranh đấu nhân quyền cho dân bản xứ tại Châu Mỹ La-tinh.

23.  Unknown Rebel of Tiananmen Square (1989): Người biểu tình vô danh đã đứng chặn đoàn xe tăng đang chuẩn bị đàn áp cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc đấu tranh cho dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn

24.  Elie Wiesel (1928-Hiện tại): Người sống sót sau Thảm họa diệt chủng người Do Thái và từ đó đã cống hiện cuộc đời của mình để ngăn chặn nạn diệt chủng trên thế giới

25.  Malcolm X (1925-1965): Nhà lãnh đạo Hồi giáo người Mỹ gốc Phi, theo chủ nghĩa dân tộc, và là một nhà tranh đấu cho dân quyền.

 

Trong 25 vị Quán Quân, vị nào cũng được trích một câu nói nổi tiếng của mình. Ví dụ như:

Tổng Thống Abraham Lincoln: “Whenever I hear any one arguing for slavery I feel a strong impulse to see it tried on him personally”. (Mỗi khi nghe bất kỳ ai tranh cãi để ủng hộ cho chế độ nô lệ, tôi cảm thấy thôi thúc muốn thấy chính người đó rơi vào chế độ nô lệ một lần cho biết.)

Mục Sư Martin Luther King:Injustice anywhere is a threat to justice everywhere” (Bất công ở bất cứ nơi nào đều là mối đe dọa cho công lý ở mọi nơi)

Thầy Nhất Hạnh: ” To work for peace is to be peace in every breath, every step and every action” ( Muốn xây dựng hòa bình thì trước hết ta phải có hòa bình, an lạc trong từng hơi thở, từng bước chân và từng hành động của mình)

Mahatma Gandi: You must be the change you wish to see in the world(“Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn mong muốn được nhìn thấy trên thế giới này” )


Điều vui nhất là khi Thầy tới thì thấy cái tượng của Thầy rất lớn và mình có thể so sánh hình ảnh Thầy đang còn sống với hình bức tượng của Thầy: một bên còn mềm và một bên lại rất cứng, một bên còn tươi vui có sức ấm và một bên thì có vẻ khắc khổ. Hình như nghệ sĩ Mario Chiodo nghĩ rằng là một vị thiền sư Phật giáo thì phải có vẻ khắc khổ chút đỉnh, cho nên nhà nghệ sĩ này đã tạc hình Thầy có vẻ khổ hạnh hơn.

Thành ra khi các đệ tử của Thầy tới thì thấy hai khuôn mặt thật khác nhau. Có những hình chụp rất vui như khi Thầy đưa tay rờ đầu hoặc rờ cằm bức tượng Thầy. Nhìn hai vẻ mặt rất khác nhau. Quý thầy và quý sư cô đã chụp được rất nhiều hình và hôm nay xin chia sẻ một ít để quý vị xem cho vui.

Điều buồn cười nhất là Thầy trò cứ quanh quẩn xung quanh tượng đài của Thầy để chụp hình với tượng mà không để thì giờ để đi chụp hình với những tượng khác. Vì vậy trong những bức hình sau đây mình không thấy được toàn bộ cái vĩ đại của tượng đài 25 vị.

 

 

 

Một số hình ảnh Thầy và đại chúng tại Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”:

Hình được tạc có vẻ khắc khổ, trên trán có một đường gân nổi lên.


Đây là tượng của Thầy kế bên tượng của tổng thống Franklin Roosevelt ngồi xe lăn.


Thầy đang sờ cằm của Thầy- một bên rất vui còn một bên rất khắc khổ.

 

Trên tượng đài từ bên tay trái nhìn qua là Tổng thống Franklin Roosevelt, Mẹ Teresa và Thầy.

 

 

Để xem thêm hình của Thầy và đại chúng chụp tại Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”, xin bấm vào đây: http://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/thay-duoc-tac-tuong-tai-my

Để tìm hiểu thêm về Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”, xin xem trang này: http://www.remember-them.org/

Con số đẹp

Nắng chiều tuy muộn nhưng thật đẹp. Cái nắng của Thâm Tâm làm cho người ta đứng lặng đi mà chiêm ngưỡng. Nắng về trên những rặng thông, vàng óng ả. Nắng đọng lại trong những hạt mưa đọng trên lá, đẹp như pha lê. Nắng phết lên tường, hiện lên những đường nét cổ kính rêu phong.

Tôi không có ý đợi em, nhưng em đã đến. Trên mặt còn dính chút bụi trần pha lẫn chút ngây ngô, khờ dại. Vai mang ba lô rón rén theo ba đi vào phòng khách. Tôi mời hai bố con ngồi chơi ở Lạc Nghĩa Đường. Cái nắng chiều dễ dàng để tôi đưa hai vị khách vào câu chuyện.

Người bố đã đến đây từ khi ông còn là một cậu bé, bây giờ ông đã ngoài ngũ tuần, ông đến đây để cào rác thông về nấu cơm. Bây giờ, cảnh chùa đã đổi khác, nhưng ông nói: “Lạ lắm, tôi thấy như là mới hôm qua, cái bình an ở núi đồi Dương Xuân nó vẫn còn đây.

Ông đến đây và đưa cậu con trai đến xin ở ít hôm. Nó có một ít vấn đề trong cuộc sống, và ông tin rằng ở đây là nơi có thể giúp đỡ cho con ông. Sau đôi lời hỏi thăm, tôi đưa hai người đến gặp sư huynh của tôi. Người rất hoan hỷ đồng ý. Đây cũng là chuyện dĩ nhiên thôi, vì chúng tôi là người tu nhưng cũng là những người bác sĩ.

Trong ngày đầu, tôi để cho em có rất nhiều không gian, tôi chỉ chia sẻ cho em cách trở về theo dõi hơi thở, lắng tai nghe và tập tiếp xúc với sự sống đang diễn ra xung quanh em. Đến ngày thứ hai, em vui hơn và dễ dàng đến với những người xung quanh. Em xuống bếp giúp đội nấu ăn, đi quét lá, đá bóng, chạy bộ, đi dạo, uống trà. Kết quả đến nhanh hơn tôi tưởng. Bởi vì đằng sau những nụ cười ấy, em có một quá khứ như một khối tơ vò không gỡ ra được.

Bước vào tuổi 15, cái tuổi của thần tiên, nhưng với em không được như vậy. Gia đình em đi kinh tế mới, cuộc sống cũng tạm đủ nhưng thiếu đi sự đùm bọc và chở che của người thân. Dù nghèo khó nhưng được sống trên mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” thì vẫn hơn. Lên lớp tám, em là một học sinh giỏi, dễ thương và hiền của lớp, nhưng suốt học kỳ I không có tuần nào là em không bị đánh chảy máu cam, đánh không cần lý do, chỉ vì cái tội không có tiền nộp cho tụi đầu sói. Có nhiều lần em đã phải lấy trộm tiền đi chợ của mẹ đưa cho tụi nó, những hôm ấy em mới được yên thân, nhưng em không thể lấy hoài như vậy được. Mồ hôi, sức lực của cha mẹ làm quanh năm mới chắt chiu đủ tiền sinh hoạt cho cả gia đình. Ở cái nơi “tứ xứ” này, biết đâu là người thân để mà nương tựa.

Thế rồi, em đổi kiểu suy nghĩ, đổi tốt thành xấu, em gia nhập băng đảng để thoát khỏi thân phận yếu đuối. Cuộc sống từ đây đưa em sang một hướng khác. Từ một học sinh giỏi, em rớt xuống học sinh trung bình ở học kỳ II, từ dễ thương em trở thành hung dữ, em giờ không lấy tiền của mẹ nữa mà đi lấy của người khác. Trong sâu thẳm của tâm hồn, có ai đó nói với em rằng, em có bản lĩnh, có sự trưởng thành vì bây giờ em đã biết uống rượu, hút thuốc, cờ bạc và nhất là không còn bị ai bắt nạt như trước đây. Em thỏa mãn với cuộc sống hiện tại mà không biết rằng mình đang đi vào những nẻo đường đen tối của cuộc đời. Em như một con cá, cố gắng nhảy nhưng không thể nào thoát ra khỏi chiếc lưới.

Bao lần em muốn khóc, nhưng những khối khổ đau vẫn còn nghẹn ngào, mắc kẹt ở đâu đó mà chưa chảy thành dòng. Tôi vẫn lắng nghe và cầu mong cho em được khóc một lần, lòng em sẽ nhẹ hơn.

Một ngày đó, bố nhờ em lên thị xã để mua một ít đồ, vô ý làm sao em quên khóa cổ, vậy là ai đó “mượn” mất chiếc xe Dream II. Lòng ngổn ngang trăm mối, bần thần, hồi hộp, lo lắng. Làm mất một chiếc xe là một vấn đề lớn, lớn như thế nào thì em không biết nhưng em biết chắc  có một cơn bão đang kéo đến. Về tới cổng, em ước gì có một phép lạ, có một ai đó có đủ hiểu biết để thông cảm cho em, nhưng không, cái mà em nhận được là một trận mắng. Tội cho ông bố, chiếc xe là phương tiện sinh sống, đi lại của cả gia đình, chắt chiu lắm mới có được. “Mày là cái đồ vô tích sự, mày là…”.

Nói đến đây, em bật khóc, tôi mừng quá, em được khóc rồi. Nói đời là bể khổ nhưng đâu phải chàng trai nào cũng được khóc. Tự cho mình là nam nhi, gói khổ đau lại không cho nó chắp cánh bay cao. Tôi để cho em khóc, mãi nhìn em mà quên mất đưa khăn giấy cho em, cho đến khi em đưa tay lên quẹt nước mắt, tôi mới nhớ mình có khăn giấy trong túi. Ôm cả khối khổ đau trong lòng, cái khổ đau này không phải là khổ vì mình làm mất xe, cái khổ này nó còn nặng nề hơn, đó là sự trách móc, giận hờn của người mình thương. Mình cần có sự cảm thông mà không có, mình đưa tay cố bám víu vào một cái gì đó để đứng lên nhưng không có, vậy là em quyết định bỏ nhà ra đi vào lúc đêm khuya. Em không biết sẽ đi về đâu, nhưng em cần nghỉ ngơi, em thấy ngột ngạt trong ngôi nhà ấy. Tội cho ông bố. Mất xe, bây chừ rồi mất luôn cả đứa con.

Nói đến đây, em lại òa lên khóc, tay ôm mặt và toàn thân run theo tiếng nấc. Tôi nghẹn ngào nhìn em, chưa biết làm sao thì tiếng chuông điện thoại của em reo lên. May quá! Tôi liền nắm lấy hơi thở, bình tĩnh. À! Đã có cách giải quyết rồi. Nếu cứ để em khóc hoài trong khi năng lượng chánh niệm chưa vững vàng thì chỉ làm em càng chìm đắm trong quá khứ đau thương. Thế là tôi mời em đi ra vườn, tôi bước thật chậm và vững, em cũng bắt chước tôi, thở vào… chậm, thở ra… vững vàng.

Tuần sau, tôi sắp xếp được một buổi ngồi chơi với hai bố con bên bờ hồ Sao Mai. Gió chiều thật mát, cỏ thật xanh. Buổi ngồi chơi thật dễ chịu khi ông bố bắt đầu kể về tuổi thơ của mình. Đó là một làng quê ít ruộng nhiều rừng và không gian thì bao la. Tuổi thơ của ông thật đẹp, cho đến khi 18 tuổi ông phải xa quê đi kinh tế mới.

Cuộc sống thật nhiêu khê!…

Ông mỉm cười và nhìn cậu con trai rồi nhìn tôi: “Hy sinh đời bố củng cố đời con thầy à, nhưng bây giờ tôi thấy phương châm này phải đổi mới. Hy sinh đời bố thì cũng hy sinh luôn cả đời con. Tôi đã không có đủ thương yêu để chăm lo cho cả gia đình vì mải mê công việc”. Ông nói mà lòng nghẹn ngào. “Hy sinh là mất mát nhưng chưa hẳn đã là tình thương. Có tiền thì mua được tất cả, nhưng cũng phải đánh đổi nhiều thứ để có tiền, cuối cùng vẫn là con số không”. Ông nói và hai bàn tay nắm lại thật chặt như muốn ghi sâu vào trong lòng những điều mình muốn nói ra.

Tôi lắng tai nghe ông nói mà những dòng cảm xúc cứ chạy rần rần khắp cả người, tôi hay bị như vậy khi có điều gì đó chạy tuột thẳng vào tim. Nhìn sang cậu con trai, tôi thấy hai hàng nước mắt chạy dài trên má từ hồi nào.

“Ba… xin lỗi… con trai!”

Câu nói hơi ngượng, nhưng cũng được. Vì đã bao giờ ông nói được câu ấy đâu. Đây là lần đầu tiên. Sở dĩ ông nói được như vậy vì chiều qua tôi đã kể cho ông nghe những nỗi khổ niềm đau của cậu con trai mà nó chịu đựng trong năm năm qua. Từ hồi đi học, nhập băng đảng, bỏ nhà ra đi, nỗi khổ khi học nghề ở Sài Gòn….. cho đến khi ông tìm được nó. Nhưng có lẽ cảm động nhất là bức thư nó viết cho ông tối qua. Bức thư mà nó muốn làm mới với bố. Chắc trong thư em nó cũng đã tâm sự nhiều cho ông.

Nghĩ rằng chỉ ở mấy hôm, ai dè chàng thanh niên đã ở luôn hai tuần. Đó cũng là thời gian đủ để cậu mở lòng ra làm mới với bố. Chỉ có cách đó thì vết thương trong tâm cậu mới được chữa lành và sự truyền thông giữa cậu với bố mới được nối lại. Cũng nhờ phước đức của ông bà còn lớn nên họ đã được trở về…

Tối nay trăng lên thật đẹp, trăng rằm mà. Ngắm trăng và thưởng thức một ly trà Oolong thơm, tôi thấy đời thật thảnh thơi. Hai bố con đã đi từ tuần trước, nhiều kỷ niệm vẫn đọng trong tôi. Tôi thật sự muốn nói lời cảm ơn hai bố con họ thật nhiều. Họ đến và làm cuộc sống của tôi thêm ý nghĩa. Tôi thương họ vì họ đã sống cho tôi. Và tôi cũng nguyện sẽ sống cho họ, sống cho thật đẹp.

Cuộc sống lại bắt đầu…

Bông hoa đẹp giữa đời

Cách đây đã mấy năm, khi đọc những cuốn sách của Thầy Thích Nhất Hạnh, tìm hiểu về thân thế cùng những lý tưởng của Thầy,  và nhìn những bức ảnh đầy vui tươi, hạnh phúc của tăng thân của Làng Mai bên Pháp, tôi đã ao ước sẽ được tới Làng để sinh hoạt và tu tập cùng anh chị em. Tôi muốn được hưởng sự an lạc, đơn giản nhưng diệu kỳ và mầu nhiệm ấy. Nhưng mà tu viện của Thầy toàn bên Pháp, bên Mỹ, thành ra ước mơ ấy xa vời quá. Nó lắng dần vào một góc nhỏ trong tim tôi nhường chỗ cho các dự định, kế hoạch khác sắp tới.

“Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửasẽ mở cho”. Lời Chúa Jesus còn đó và quả thật đến hôm nay tôi lại được chứng nghiệm điều đó. Được tham dự khóa tu Wake Up do Làng Mai Thái Lan tổ chức thông qua sự hướng dẫn đăng ký từ thầy Từ Thông là một kỷ niệm không bao giờ quên đối với tôi. Nơi đây như một cộng đồng yên bình giữa một thế giới 24/7 toàn loan tin về những tin tức không mấy tốt lành. Đến với Làng, không phải ta trở nên cô lập với thế giới để an vui với các bạn đồng đạo; đơn giản chỉ là quay về với thiên nhiên, lọc sạch tiếng ồn ào huyên náo, trở về với nội tâm mình để cùng nhau thực tập những phút giây hạnh phúc.

Thực tập thì không khó, nhưng bền bỉ, liên tục, ngày qua ngày, từng giờ, từng phút từng giây thì quả là một thách thức. Vì thế các sư cô, sư thầy ở đây đã tổ chức rất nhiều hoạt động cho các bạn trẻ, để lúc nào mọi người cùng có cơ hội thực tập chánh niệm, có nhiều trải nghiệm phong phú và hứng thú. Hòa mình một cách tự nhiên vào các hoạt động như thế chưa bao giờ là một thói quen của tôi. Nhưng ở đây, tôi cảm thấy mình đã bị cuốn hút nhẹ nhàng như vậy. Khi hứng thú lên cao có lúc tôi đã cố gò mình thực tập hoàn hảo tất cả cho bằng được, vậy thì mệt quá, thế là tôi tịnh tâm để thư giãn, trở về tự nhiên, tự tại của chính mình, và rồi tôi lại tìm thấy mình yêu nơi đây theo một cách khác, tự do là chính mình trong một môi trường tôn trọng sự tự do ấy.

Có lẽ thoải mái và tuyệt vời nhất chính là được nhìn những gương mặt yêu mến, hạnh phúc, thoải mái của các sư cô, sư thầy, từ nhỏ tuổi đến lớn tuổi, ai ai cùng đều thật dễ thương và mình thì lúc nào cũng muốn dừng lại để chào hay mỉm cười với họ. Ôi, cuộc sống thường ngày, hiếm có làm sao những khoảnh khắc, những nụ cười chạm mặt chớp nhoáng như thế. Không phải nhìn thấy sự nhăn nhó, đăm chiêu, nặng nề là may lắm rồi; chứ còn lơ đãng thì… cứ như ở đô thị người ta đều mơ ngủ…

Tuyệt vời nhất là khi về đến nhà, những gì đẹp trong mình đã tưới tắm vẫn còn. Nụ cười của mình vẫn còn, dù nó hơi khó nở vì môi trường không còn thuận tiện nữa. Nhưng mà mỗi khi nhớ lại các bạn, tăng thân của Làng Mai và tự nhủ : “Nếu không ai cười thì mình cười để tự làm một bông hoa đẹp giữa đời vậy”. Chủ đề khoá tu: “Ta có là ta, ta mới đẹp ” mà.

Biết ơn Bụt, biết ơn Thầy, biết ơn tăng thân Làng Mai Thái Lan nói riêng và tăng thân Làng Mai nói chung, cùng các quý sư cô, sư thầy, các bạn trẻ Việt Nam và cả Thái Lan đã trao cho tôi những ngày tu tập, những ngày sống thật ý nghĩa. Và cũng thật tự hào khi tôi đã đón nhận nó hết sức mình và chia sẻ được với những người bạn của mình để hiểu thêm lẫn nhau, hiểu thêm hạnh phúc và truyền đi hạnh phúc và trí tuệ ấy cho những người mà mình thương yêu.

Mong cho pháp môn thực tập của Làng Mai lan tỏa tới người dân Việt Nam và rồi cả thế giới, chỉ một chút quán hơi thở, một tiếng chuông – tiếng của Bụt thôi cũng được rồi…

​Xem thêm bài viết có liên quan:

Wake Up Asia: Những giọt nước mắt hạnh phúc

Câu chuyện của Chanh

(Sư cô Chân Trăng Mai Thôn)

Trước ngày khai mạc khóa tu mùa hè chừng một hay hai ngày, sau khi ăn sáng, bé nghe nói con Chanh đã chết. Bé ngạc nhiên quá, nếu không nói là bị “sốc”. Chanh là tên của một con mèo trắng đốm đen, là dân thường trú của chùa Từ Nghiêm, xóm Mới. Thường thì chùa không nuôi thú. Nhưng ở đây lâu lâu lại có một con mèo hoang, hay là mèo lang thang, không biết có phải là chúng đã bỏ nhà đi hay không, tìm tới và ở lại. Chùa không thể đuổi chúng đi, thế là tự nhiên chúng trở thành “dân thường trú”. Nói cho đúng ra, mới đầu các sư cô cũng cố tìm người để họ nhận chúng về nuôi, nhưng khi không tìm được ai thì đành phải chịu.

Bé biết có những con mèo, khi chủ dời nhà, chúng nó không chịu đi theo mà cứ quyến luyến mãi nhà cũ, có khi ở lại với chủ mới, có khi bỏ đi lang lang. Trong trường hợp của con Chanh, không biết nó đến từ đâu. Chỉ biết là năm ngoái, vào một ngày Xuân, xóm Mới đến phiên tổ chức ngày tu quán niệm, quý thầy, thiền sinh xóm Thượng và quý sư cô cùng thiền sinh Xóm Hạ tới rất đông. Sau khi mọi người ra về, đến chiều thì xóm Mới phát hiện ra sự hiện diện của con Chanh. Dĩ nhiên là lúc đó nó chưa có tên, hay là có một cái tên nhưng nó đâu thể nói cho mình biết.

Nó là một con mèo kháu khỉnh, còn rất trẻ, nếu tính theo tuổi của bé thì chắc là nó hơn bé chừng 8 hay 10 tuổi (bé năm nay lên 8). Vậy là nó chừng 16-18 tuổi thôi. Lông nó trắng muốt, có những đốm đen, bụng hơi xệ xuống một chút, vì vậy lưng nó cũng hơi võng xuống dưới sức nặng của cái bụng, giống như một con heo mọi vậy. Mặt nó có vài đốm đen nho nhỏ gần miệng, trông hơi giống như những cái mụt ruồi, nhưng to hơn nhiều.

Mới đầu bé không thích nó, dù là nó trông rất xinh xắn. Bé không thích bởi vì nó trông gian gian làm sao ấy. Nó lại hành xử như đây là nhà của nó, nó nhảy lên bàn ăn, kê mũi vào dĩa thức ăn mà người ta đang ăn, rõ ràng là nó rất đói. Tuy vậy không ai được khuyến khích cho nó ăn vì sợ nó quen, vả lại chưa chắc những gì mình ăn đã tốt cho nó.

Bé không thích nó một phần vì bé đã quen với cách hành xử của mấy con mèo khác đã ở chùa lâu. Mấy con mèo kia, có tên là Muni, Tigre và con Grey cũng từ đâu tới rồi ở lại, nhưng khi bé tới đây thì chúng nó đã ra vẻ “thiền” lắm rồi, đi đứng khoan thai, chậm rãi, ngồi ra dáng có “oai nghi”, ăn uống thì tới giờ cho ăn mới vào ăn nhỏ nhẻ. Ngoài những cái ấy ra, còn lại thì chúng đều hành xử giống mèo, đó là cũng còn thích leo lên lòng mình ngồi, và lâu lâu thì đến cọ cọ vào chân mình một chút để đòi được vuốt ve, lâu lâu cũng rình bắt chuột, bắt chim, leo trèo… Mỗi lần bắt gặp chúng bắt chuột, bắt chim thì các sư cô đều phải tìm cách để dừng chúng lại. Tuy vậy những con mèo này so với con Chanh đều là những con mèo rất là hiền và lặng lẽ.

Con Chanh đã gây ra xáo trộn, nếu không nói là nhiều xáo trộn cho các cư dân mèo và cư dân chim chóc của Xóm Mới, một chút xáo trộn cho các cư dân khác, trong đó có các sư cô. Cả mấy con nhái dưới hai cái hồ sen cũng không yên với nó. Nó hành xử như đây là xóm của nó, chùa của nó, nó đi đi lại lại, nhảy nhót lung tung. Có hôm quý sư cô đi tham gia ngày quán niệm từ xóm khác trở về đã thấy chén bát vỡ tung tóe, miểng văng đầy dưới sàn nhà. Ở nhà nó đã nhảy lên bàn để chén bát có phủ vải và làm không biết bao nhiêu chén rơi xuống đất. Nó “huých” mấy con mèo kia ra ngoài, không màng đến việc con Tigre đã đánh dấu vào tất cả mọi nơi, bất cứ khi nào có thể để cho biết đâu là lãnh thổ mà nó có chủ quyền. Mấy cái đó có vẻ không có một chút ý nghĩa nào đối với con mèo mới tới. Nó muốn đi đâu thì đi, muốn nằm ở đâu thì nằm, bất kể mấy con mèo khác. Con Tigre bực lắm, nó là con mèo đực duy nhất ở đây nên nó cho là mọi nơi đều là lãnh thổ của nó. Vậy mà con mèo này lại lơ tuốt nó đi.

Sau một vài ngày kình nhau, con Muni đã “đơn phương giải giáp” và “rút lui có trật tự” qua bên nhà Giếng Thơm cách xóm Mới một cái nhà của hàng xóm, để cho con Chanh được hoàn toàn tự do.

Con Chanh tiếp tục là một trong các đề tài trong những buổi họp của các sư cô Xóm Mới. Ai cũng nghi là nó sắp có em bé vì cái bụng ỏng của nó. Thế là nó đã được mang đi khám thú y. Sau khi xác định là nó không có em bé, trong một thời gian khá lâu nó cũng không được khẳng định là được cho ở hay cho đi.

Nó không biết tất cả những chuyện ấy nên cứ tự nhiên tiếp tục coi đây là nhà nó. Nó lựa những chỗ êm ấm nhất để nằm, nhất là những chiếc áo ấm hay khăn quàng cổ để quên trên bàn, nó tiếp tục leo lên bàn ăn, tiếp tục kê mũi vào đĩa thức ăn của người ta. Nhưng vì nó có bề ngoài dễ thương và khá có cá tính nên mọi người hay đến chơi với nó, chọc ghẹo và đùa giỡn. Nó luôn đáp ứng lại mọi sự chú ý của bất cứ ai. Sự đáp ứng đó có khi rất là “nanh vuốt”. Khi đưa tay ra vuốt ve nó, nó thường quay người lại táp một cái, hoặc đưa hai chân trước ra chụp, quào hay quặp chặt. Vì vậy bao giờ cuộc thăm viếng cũng kết thúc bằng việc người thăm nó ôm tay, nhăn nhó, còn nó thì cong đuôi phóng đi chỗ khác. Bé đã một vài lần đến chơi với nó và bị nó quào. Bé để ý thấy hình như nó rất không thích bị tiếp cận từ phía sau lưng.

Nếu bạn lấy một cái que, một sợi dây, một nhánh lá hay một cái gì dài dài (để bạn được an toàn) và nhử nhử nó thì nó sẽ nhảy lên, chụp lấy và ngoạm ngay vào cái đó. Và nó cứ làm như thế hoài mà không chán. Nó lại thích chơi với cái bóng. Bất cứ là bóng của cái gì, cử động hay không cử động, nó mê mải đứng chụp. Sau khi phát hiện ra nó thích chơi với bóng, các sư cô hay cử động bàn tay và cánh tay để cho bóng in trên tường cho nó chụp. Vì vậy các sư cô cũng gọi nó là Shadow (Bóng).

Nó đến xóm Mới vào mùa xuân, mùa chim chóc làm tổ khắp nơi và ếch nhái kêu nhau inh ỏi tìm bạn dưới các hồ sen. Thỉnh thoảng các sư cô lại thấy lông chim bê bết máu nằm rải rác trong sân vườn, thấy con Chanh leo trèo lên trên mái nhà. Các sư cô bắt gặp nó rình rập các tổ chim. Rồi từ từ lại thấy các tổ chim biến mất hay bị rơi xuống đất. Còn mấy con ếch nhái thì từ từ im bặt, không thấy kêu nhau nữa. Nhiều người thấy nó rình rập quanh hồ sen nên ai cũng nghi là nó đã “xơi tái” hết mấy con nhái trong hồ. Đề tài bàn tán thường xuyên của mọi người dạo đó là về con Chanh. Nó có vẻ hay sát sanh quá. Có sư cô đề nghị là mình đừng gọi nó là Chanh, mình nên đổi tên cho nó là “Tu Đi” để kêu nó nên tu tâm dưỡng tánh lại, nên tu đi. Nhưng dĩ nhiên nó chẳng tu gì cả, nó tiếp tục làm những gì nó cần làm, theo bản năng. Bé cứ tưởng như thế, ấy vậy mà nó lại đang tu đó bạn ạ.

Những lúc nó không làm những việc sát sanh, hay rượt đánh mấy con mèo kia thì trông nó như là một thiên thần, rất là dễ thương, kháu khỉnh. Nhất là khi nó nằm yên một chỗ, để hai tay dưới cằm và bắt đầu thè lưỡi nút tay như một em bé đang bú tay. Ai thấy nó lúc ấy cũng rất là thương. Bé nghe nói mấy con mèo con, khi còn quá nhỏ mà bị mẹ bỏ thì chúng nó sẽ có thói quen đó.

Thời gian trôi đi, chẳng mấy chốc mà con Chanh đã ở xóm Mới được hơn một năm. Không thấy ai nói đến chuyện cho nó đi nữa. Nó mặc nhiên được chấp nhận vào xóm Mới. Cảm tình của mọi người đối với nó cũng tăng lên, ai đi ngang nó cũng phải chọc ghẹo nó một chút. Có người nhẹ nhàng, nhưng cũng có người chơi bạo. Từ từ nó bớt hung hăng, bởi nó thấy hễ nó hung hăng lên thì người ta hoặc bỏ đi, hoặc trợn mắt lên để cho nó bỏ chạy. Không khí yên tĩnh trong chùa cũng làm nó yên tâm, bớt cảnh giác hơn. Chỉ sau một thời gian ngắn nó đã không có thói quen kê mũi vào đĩa thức ăn của người khác nữa. Nó đã làm quen với thức ăn khô của mèo mà mỗi ngày nó được cho ăn một lần cùng với mấy con mèo khác. Chỉ có thói quen rình rập, bắt chuột, bắt nhái là nó không bỏ được. Càng ngày nó càng mập ra, ai cũng nói chắc “tại nó ăn mặn”, và lại càng hay răn đe, dặn dò, khuyên bảo nó.

Có một cái gì đó ở con Chanh làm cho hạt giống chọc ghẹo trong bé hay trổi dậy. Hễ thấy nó là thế nào bé cũng phải lại chọc nó hay nói chuyện với nó một chút. Nhưng bé cẩn thận, ít khi nào để cho nó cào cấu hay lên cơn tức giận. Bé chỉ chơi với nó bằng cái que, nhánh lá, làm bóng cho nó vồ, có khi vuốt ve nó một chút, thấy nó hơi nổi cơn cào cấu là bé bỏ ra ngay. Hình như từ từ nó nhận ra người ta không chơi với nó khi nó hung lên nên bắt đầu thay đổi.

Nó hay bị các sư cô rượt theo để cứu các con chuột mà nó bắt được, hay đuổi nó chạy khỏi khu vực rình rập tổ chim. Về phương diện này thì sự chuyển hóa của nó có hơi chậm một chút.

Bé hay nói với các sư cô là con Chanh chuyển hóa nhanh hơn bé rất nhiều. Khoảng hơn một tháng trước khi chết, con Chanh trở nên rất dễ thương, nó vào khóa tu 21 ngày một cách rất dễ dàng. Không thấy nó sợ hãi gì cả dù người rất là đông. Nó thường nằm ngủ trong khu trồng hoa, chỗ mấy sư cô khoanh lại bằng mấy khúc gỗ để trồng Tulip, ngủ ngay dưới đất. Mỗi lần đi ngang nó bé cứ sợ nó bị bệnh phong thấp vì hay ngủ dưới đất. Mẹ hay nói với bé như vậy. Có khi nó nằm ngay giữa đường đi, mọi người qua lại đông đúc mà nó vẫn tỉnh khô. Ai đến vuốt ve nó cũng không phản ứng gì cả, chỉ ngửng mặt lên nhìn thôi.

Một vài hôm trước đó, bé thấy nó đứng nhìn cái gì đó không biết, tính nghịch ngợm nổi lên, bé bèn đến đứng sát bên mình nó. Nó bước đi, bé bước đi theo bên cạnh, hễ nó dừng thì bé dừng, hễ nó đi thì bé đi. Có một lúc, nó dừng lại và ngửng lên nhìn bé. Chắc nó ngạc nhiên. Đi một khoảng khá dài như vậy, nó có vẻ như không biết làm gì. Rồi nó quyết định bước đến tô đựng thức ăn của nó và ăn. Lúc đó, bé mới buông tha cho nó. Bé thật là nghịch quá. Không biết làm như thế có ảnh hưởng đến trái tim bé nhỏ của nó hay không. Bây giờ nghĩ lại bé thấy có hơi ân hận.

Ngày hôm sau, bé thấy nó nằm ngoài sân nên đến chào bằng cách đưa tay ra kê sát dưới cằm nó. Nó ngửng mặt lên nhìn bé và không hề cử động gì cả, bé biết nó đáp ứng lại là vì nó hơi nghiêng mặt để cho tay bé sát vào mặt nó hơn thôi. Bé bèn nói với nó:“’You’” bây giờ giỏi quá, ‘you’ chuyển hóa còn nhiều hơn ‘me’ nữa đó.”

Vậy mà hai ngày sau, bé nghe tin nó chết. Nó nằm trong vườn hoa Glayeul đang nở trong một tư thế “rất là Chanh”. Nằm nghiêng nhưng một chân sau lại đưa lên, cứng đơ. Ai cũng thắc mắc, không biết nó chết kiểu gì mà lại như vậy. Chắc là nó bị một cú sốc, hay đột quỵ tim, đến nỗi cứ như vậy mà đi thôi, không kịp điều chỉnh lại tư thế gì cả. Mọi người đến để hoa lên mình nó, và khi ấy, bé nhận ra rằng thường ngày nó là một con mèo “lộn xộn” nhất của xóm Mới nhưng lại chiếm cảm tình của người khác nhất. Mọi người tìm cách xác định nguyên nhân cái chết của nó, có vẻ thuyết phục nhất là nguyên nhân phát xuất từ nguồn gốc lai giữa mèo nhà và mèo hoang của nó. Nghe nói những con mèo như thế thường có một trái tim rất yếu.

Con Chanh không tu nhưng có lẽ vì nó ở trong chùa, nơi mọi người đến tập hiều tập thương và tạo ra một năng lượng chánh niệm hùng hậu. Ở đây không có gì nguy hiểm cho nó, chắc bằng bản năng nó đã nhận ra được điều đó. Có lẽ những hạt giống bình an, thương yêu trong nó đã được tưới tẩm cho nên từ từ nó không cần phải cảnh giác nữa, nó đã trở nên rất ngọt ngào và thân thiện. Sự thay đổi của con Chanh là một sự thay đổi rất tự nhiên.

Cái chết của một con mèo thường thì đâu có gì quan trọng. Tuy nhiên đối với bé, đó chính là một sự nhắc nhở về một cái gì vừa có đó, lại ngay lập tức không có đó. Thỉnh thoảng bé nhớ đến nó, vẫn không tin là Xóm Mới bây giờ lại không có con Chanh. Nó quá sống động, quá linh hoạt nên bé không thể hình dung được là bây giờ nó không còn biểu hiện dưới hình thức đó nữa.

Trong khóa tu 21 ngày năm nay, Sư Ông dạy về “Chuyện gì sẽ xảy ra khi bạn chết”. Câu đó cũng có nghĩa là “Chuyện gì xảy ra khi bạn đang còn sống”. “Khi bạn chết, bạn không chết.” Cũng giống như đám mây kia, tối qua nó ở trên trời, cao ơi là cao, xa ơi là xa, bé muốn đến thăm đám mây đó thì chắc là phải mượn một chiếc phi thuyền không gian mới lên tới đó được. Vậy mà sáng nay, bé đã có thể đưa tay ra đụng vào đám mây ấy rồi. Bạn có biết tại sao không? Tại vì tối qua trời mưa, và đám mây đó đã biến thành một vũng nước nằm ở ven đường. Hôm nay bé đi thiền hành, bé đã đi ngang đó và đã tiếp xúc với đám mây trong hình thức của vũng nước được rồi. Như vậy thì đám mây đâu có chết phải không bạn. Nó bây giờ sống dưới một hình thức khác, đó là hình thức của nước. Bạn có thấy đó là một sự nhiệm mầu không?

Vậy thì khi con Chanh chết, con Chanh không chết. Đó là câu kết luận của bé dựa theo Sư Ông. Bé thấy con Chanh đã có một cuộc sống trong hình thức mèo thật là ngắn ngủi, nhưng nó đã biết tu, biết chuyển hóa. Nó đã hoàn tất những gì nó cần làm trong thời gian ngắn ngủi đó, trong biểu hiện mèo đó. Bây giờ, nó đang biểu hiện trong hình thức khác. Nó không chết. Nhưng bé phải biết cách nhận diện nó trong hình thức mới. Giống như bé đã nhận ra đám mây tối qua trong vũng nước bây giờ vậy. Thỉnh thoảng bé nhận ra con Chanh trong những cơn gió nghịch ngợm qua tán lá và cả trong sự nghịch ngợm của chính bé. Và bạn biết không, bé vẫn đang tiếp tục học cách để nhận ra những hình thức khác của con Chanh. Mời bạn cùng làm với bé cho vui.

Wake Up Asia: những giọt nước mắt hạnh phúc

 

 

Thường người ta nghĩ rằng đàn ông không khóc. Nhưng tôi đã bật khóc thật sự trước khi khóa tu “Wake Up Asia 2014″ kết thúc. Và tôi không thể không viết ra đây những cảm xúc của mình về những ngày đặc biệt mà chúng tôi may mắn được có mặt bên nhau.

Thật sự rằng tôi không có ý định tham gia khóa tu Wake Up Asia 2014 tại Thái Lan lần này bởi tôi khá bận bịu cho các chương trình nhân dịp sinh nhật Thái Hà Books lần thứ 7. Hơn nữa, khóa tu này dành riêng cho các bạn trẻ, tuổi từ 18 đến 30, trong khi tôi đã quá tuổi này lâu rồi.

Nhưng tôi quyết định đi để đưa theo 16 thành viên gia đình Thái Hà đến khóa thiền này để các bạn trẻ được nếm vị ngọt của Phật Pháp, của thiền. Bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi không chỉ có những Thaihabookers đã đi làm và một số sinh viên, học sinh tham gia. Có 3 thành viên nhí mới chỉ tám đến mười tuổi cũng theo tôi tham gia khóa tu mà không hề có cha mẹ đi kèm. Đưa các bạn trẻ tham gia khóa tu ở nước ngoài thật hấp dẫn và có lẽ là cách “dụ” hấp dẫn nhất. Tôi vẫn luôn tin rằng cần mang đạo Phật đến với giới trẻ, rằng chúng ta cần tu tập càng sớm càng tốt.

Năm ngày của khóa tu tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Thật khó tin nổi khi tổng số thành viên tham dự là 450 nhưng trong đó có đến 160 quý sư thầy và sư cô lo toan chăm sóc. Điều đó có nghĩa là cứ 2 thiền sinh là có 1 quý thầy, quý sư cô kèm cặp, giúp đỡ và hướng dẫn. Tỷ lệ này thật hiếm đối với các khóa tu trong nước và ngay cả trên toàn thế giới.

Không bật khóc sao được khi tôi chứng kiến các quý thầy, quý sư cô cùng ăn, cùng sinh hoạt, ngồi thiền, thiền hành, pháp đàm…cùng với chúng tôi. Tất cả giản dị và gần gũi đến khó tin.

Mím chặt môi lại tôi vẫn bật khóc khi trực tiếp chứng kiến quý thầy, quý sư cô nấu ăn từ mờ sáng, lo sửa toilet bị hỏng, lấp đất đá làm đường đến tận 22 giờ đêm để chúng tôi có lối đi thiền hành.

Tôi không thể quên hình ảnh quý sư nhường nón, nhường mũ cho quý tu sinh cư sĩ chúng tôi đội khi đi thiền hành. Các thầy lo cho cư sĩ không quen cái nắng của đất Thái khi mới sang. Rồi những hình ảnh đẹp của quý sư khi nắm tay các em nhỏ, cười với các con, vui với các con để các con nhận được sự ân cần và chăm sóc hơn cả từ cha mẹ mình.

Nói thật nhé, tôi đã tham gia rất nhiều khóa tu ở nhiều nước trên thế giới nhưng ít ở đâu có nhiều nụ cười và cười tươi như thế này. Những nụ cười rất tươi không chỉ từ quý thầy, quý sư cô mà từ mỗi thiền sinh. Ai cũng mang những nụ cười đẹp để tặng cho bạn đạo của mình và cả cho chính mình nữa. Cả một rừng nụ cười giữa khu rừng 15 héc ta của tu viện.

Tôi thấy xúc động khi biết trong khóa tu có những vị chủ tịch doanh nghiệp, tổng giám đốc các công ty, các giáo sư đại học, bác sỹ, kỹ sư, tiến sỹ, thạc sỹ,… nhưng tất cả cùng màu áo nâu, áo lam, cùng ăn mặc rất giản dị để hòa đồng bên nhau. Tôi giật mình nhận ra rằng họ cũng đã dám hy sinh quỹ thời gian ít ỏi của mình để rời văn phòng, xa công ty, quyết đầu tư cho khóa tu này. Để thay đổi chính mình. Để được thức tỉnh và nạp năng lượng.

Tôi đứng lặng người ngắm những Phật tử tý hon mới học những lớp đầu của tiểu học mà tự mình lấy thức ăn cho vừa đủ, tự ăn trong chánh niệm, tự rửa bát. Tôi giật mình khi thấy các bé này (chứ không chỉ các anh chị trung học cơ sở hay trung học phổ thông và sinh viên) tự giác ngủ dậy sớm để tham gia thiền hành giữa núi rừng tràn ngập tiếng chim hót và cây xanh.

Tôi không thể không khóc khi chứng kiến tận mắt hai học trò của mình xuất gia. Trước giờ phút này, em Thuận quê Nam Định và em Thu Nhi  – sinh viên của tôi mấy năm trước khi còn là sinh viên của Đại học Duy Tân, TP Đà Nẵng, thành viên CLB yêu sách Thái Hà – còn gọi tôi là thầy. Còn sau khi xuất gia, các em chính thức trở thành sư chú Chân Trời Phạm Trú và sư cô Chân Trăng Chí Nguyện. Từ nay tôi gọi các em là thầy, là sư cô thay cho các em vẫn gọi tôi là thầy trước đây. Tôi nhớ rằng trong những ngày trước của khóa tu, tôi mặc đồ nâu còn các em mặc áo tràng lam, còn ngày xuất gia tôi quyết định mặc áo lam trong khi các em chuyển sang mặc bộ đồ nhật bình nâu và được nhận y vàng để đắp khi có khóa lễ. Xúc động lắm khi đổi vai. Xúc động lắm khi thấy các trò tiến bước xa hơn, nhanh hơn thầy.

Tôi đã khóc khi thấy sự thay đổi mỗi ngày của tất cả những ai có mặt trong khóa tu. Đặc biệt là 16 thành viên của gia đình Thái Hà Books đã thay đổi nhanh đến bất ngờ. Tôi xúc động khi các em khóc trong các buổi pháp đàm và sẻ chia bởi đã ngộ ra vấn đề của mình, bởi đã biết mình phải làm gì, bởi các em biết tận dụng mỗi ngày và giờ, mỗi phút và giây để thực hành lời Phật dạy. Đạo Phật không phải là để học mà để hành!

Nếu tính cả ngày đến và ngày rời tu viện, chúng tôi có đến 7 ngày ở Pakchong. Trên thực tế, có lẽ ngoài chùa Hoằng Pháp ra, chỉ có nơi đây mới tổ chức được khóa tu dài ngày cho số lượng tu sinh đông như vậy. Pháp môn mà các Phật tử thực tập ở đây là thiền, thiền trong mỗi phút mỗi giây. Mỗi thành viên tham dự khóa tu luôn nhắc mình và thực tập chánh niệm trong mỗi động tác, mỗi việc làm trong suốt những ngày này. Xúc động lắm khi nghĩ đến ban tổ chức, đến các quý thầy và quý sư cô, đến các tình nguyện viên (mà chủ yếu là các bạn Thái Lan) đã rất vất vả và dày công chuẩn bị cũng như phục vụ để mỗi ai đến đây nhận được nhiều nhất năng lượng và niềm vui.

Tôi không nhớ trong đời mình đã bật khóc mấy lần. Tháng 4 năm ngoái tôi cũng đã bật khóc trong khóa tu “Giờ đây bên nhau”. Và lần này nữa, tôi đã khóc trong hạnh phúc và cảm động. Sao mà tôi lại không khóc khi mà chính mình được wake up, được thức tỉnh cùng các bạn tu khác trong suốt 7 ngày này. Để rồi tự nhắc mình sống trong tỉnh thức mỗi ngày khi khóa tu đã kết thúc.

Tôi ngồi gõ những dòng chữ này. Tôi không khóc. Chỉ cần nhớ lại 7 ngày ở Thái Lan thôi, 7 ngày của Wake Up Asia 2014 thôi tôi đã thấy hạnh phúc và bình an lắm rồi. Hình như tôi đã nạp được một nguồn năng lượng lớn lắm thì phải. Tôi cũng muốn, thật sự muốn lan tỏa năng lượng và tình yêu thương này đến tất cả mọi người, nhất là những ai đang có may mắn đọc những dòng chữ này. Hãy mở tâm mình ra và đón nhận, bạn nhé.

 

TS Nguyễn Mạnh Hùng

Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty sách Thái Hà

Xem thêm hình ảnh về khóa tu Wake Up Asia 2014:

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.739833426078770.1073741859.164494073612711&type=1

Bụt ơi!

Kính bạch Đức Thế Tôn!

Đêm nay, khi con đọc lại Sám Pháp Địa Xúc, con thấy như tìm được giọt sương  rơi trên bờ môi khô khan, thấy biển thương tràn về xua tan khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn trong lòng con. Đặt bàn tay lên ngực, con chạm được từng nhịp, từng nhịp thở đều đặn, dịu dàng và thuần chất…

Con nhắm mắt lại, thế giới bên trong con dừng lại và lắng nghe trái tim tâm tình:

“Con ý thức được rằng những vết tích khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn mà con đã có trong quá khứ vẫn còn đọng lưu trong con. Con hiểu rõ tất cả chúng có thể tàn hoại giây phút hiện tại đẹp đẽ của con.Con hiểu rõ tất cả chúng đang biểu hiện và kéo con rơi xuống vực khổ đau, chìm trong dòng chảy sầu bi một lần nữa.

Bụt ơi, con đang tập nhận diện, tập ôm ấp, tập chuyển hóa, tập Thở-Cười với chúng. Ngài đã dạy mọi thứ khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn đều sinh ra từ Tâm, cũng do Tâm mà chuyển hóa. Con cúi lạy Bụt và xin thiết lập vững chãi lời phát nguyện của con: Hôm nay con nguyện sẽ tu tập tinh chuyên, gạn đục khơi trong Thân Tâm, để những vết thương ấy bắt đầu lành, không còn sưng tấy, mưng mủ nữa…”

Mỗi lúc con đi xe đạp, từng vòng từng vòng xe tiếp xúc mặt đường thì những câu từ này cũng tiếp xúc với lòng con rất nhẹ và an:

“Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm

Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm

Sám hối xong rồi, lòng nhẹ nhõm

Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong”.

Con ngước nhìn sự sống đang trổ sức tươi xanh…con nhìn thấy vạt cỏ Kusa và dấu chân Bụt in trên đường xưa mây trắng để rồi hạnh nguyện mang niềm vui đến cho người và giúp người bớt khổ trong con thêm rộng lớn.

Con xin lạy xuống trước Đức Thế Tôn – Bậc Tỉnh Thức Toàn vẹn.

Con,

Hồ Bé Linh (Chuông Mây) kính,

4/3/2014.

Thơm thảo gánh nước giếng quê

 

Chuyện được một lần hạnh ngộ với đêm giao thừa ở Làng Mai( Pháp quốc), hay là các tu viện khác ở Mỹ, Đức, Úc, Thái Lan, Hồng Kông, với tôi quả thực là chuyện chỉ có thể ở trong những giấc mơ. Ấy vậy mà cái giấc mơ ấy, trong dịp Tết Quí Tỵ (2013) vừa qua, đã dẫn đường tôi góp mặt trong buổi Thiền sư Nhất Hạnh cùng với Tăng đoàn Làng Mai quây quần với nhau tại Xóm Mới bình thơ đón giao thừa.

Nói cho chính xác hơn, là thơ tôi có mặt chứ không phải con người thịt xương bụi bặm của mình. Đấy là một bài thơ có tên “Khúc quê” tôi đã đăng trên một tờ báo Tết nào đó, đã có duyên lành lọt vào cái nhãn quan thi sĩ của thầy, để có dịp ngân lên một khúc quê nhà giữa Làng  Mai. Chẳng những thế, mà qua internet trực tuyến còn được đến với các tu viện ở nhiều nước khác.

Bình thơ đón giao thừa là một nét đẹp độc đáo trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống suốt tư nhiều năm nay ở Làng Mai. Chủ đề bình thơ đón Tết Quí Tỵ (2013) năm ấy, Thiền sư Nhất Hạnh chọn chủ đề “ Bếp lửa hồng”, bình một số những bài thơ và nhạc của các tác giả: Phạm Duy, Phạm Thế Mỹ, Nhất Hạnh, Nguyễn Nhã Tiên và Xuân Tiên. Đặc biệt thầy Nhất Hạnh đã dành phần nhiều thời lượng nói về âm nhạc của cố nhạc sĩ Phạm Duy.

Cái chất giọng văn hiền như tâm tình của mẹ nói với con của thầy đã làm tôi bồi hồi xao xuyến. Dường như gần một nửa thế kỷ xa quê, rong ruổi vạn dặm khắp mọi miền trên trái đất này, quê xứ chưa bao giờ rời xa Thầy nửa bước. Những làng Mai, xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới, những hoa sen, hoa súng,hoa sim, hoa ổi, hoa chanh, những con đò, dòng sông, quả đồi , ngọn núi…, tất cả hòa tan trong máu huyết của Thầy, tất cả thần thánh cùng bước chân thiền hành của Thầy nhẹ như mây bay cùng trời cuối đất. Lời Thầy nói về cái chủ đề “ Bếp lửa hồng” nó ca dao, nó môc mạc, ruột rà, trong veo trong vắt sông suối như thế này đây:

Bếp lửa hồng tượng trưng cho sự đoàn tụ, cho sự ấm áp, cho tình thương, cho hạnh phúc. Bếp lửa đó nằm ở đâu? Nó nằm đây (Pháp), hay ở bên nhà ( Việt Nam)… Bếp lửa là hình ảnh rất thân quen. Chúng ta ai nấy đều mong muốn có một bếp lửa hồng, có một cái tổ ấm. Chính người xuất gia cũng vậy…Chất lửa phải từ trong trái tim đi ra. Đạo Bụt dạy chúng ta làm ra lửa, làm ra tình thương, làm ra sự hiểu biết. Và khi chúng ta học giáo lý Bụt thì chúng ta có thể chế tác được lửa, ngọn lửa ở trái tim chúng ta…

Bình bài thơ “Khúc quê” của tôi, Thầy nói cứ y như ở giữa lòng xứ sở quê nhà, chẳng văn hoa bóng bẩy, chẳng triết lý cao siêu, chẳng miên mật ngữ nghĩa nào. Cứ tuột tuồn tuột từ tim phổi gan ruột trôi ra, như chính Thầy là người mẹ, người chị, người em ra giếng gánh nước đêm giao thừa vậy.

Đối với văn hóa Việt Nam, hình ảnh của ngọn lửa đi đôi với hình ảnh gánh nước. Gánh nước đêm ba mươi. Có nhiều địa phương ở Việt Nam, đêm ba mươi gánh nước là một nghi lễ. Dù cho mấy cái chum, cái lu trong nhà đầy rồi thì mình vẫn đi gánh nước ở giếng như thường. Và đêm ba mươi người ta gặp nhau ngoài giếng, gánh một gánh nước cuối cùng, và người ta kể chuyện cho nhau nghe. Người ta nói hy vọng của nhau đối với một năm mới tới. Do đó gánh nước đêm ba mươi trở thành một đề tài thi ca.

Nếu chúng ta sinh ra trong thời đại mới nầy thì chúng ta nên biết là ở trong nhà ngày xưa, có người em gái, người mẹ đi ra giếng gánh nước cho đầy chum, đầy lu, đầy vại. Đó là chuyện phải làm trong ngày Tết…Lu nước ( đầy), chum nước ( đầy) tượng trưng cho những tiện nghi vật chất, nếu trong nhà đầy nước thì có nghĩa là chúng ta có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, chúng ta có lương bổng đường hoàng…Điều này người nào cũng làm được. Không cần phải là người giàu. Bất cứ người nào dù nghèo cách mấy cũng có thể lấy thùng đi gánh một đôi nước về. Đó là điều bình đẳng.

Và giếng trong làng đóng vai một vị Đại Bồ Tát cung cấp nước cho tất cả dân ở trong làng mà không kỳ thị. Người giàu cũng nước đó. Người nghèo cũng nước đó. Vậy nên nhìn vào cái giếng chúng ta có thể thấy đó là một vị Bồ Tát không kỳ thị, không phân biệt, là một nguồn sống, nguồn hạnh phúc cho làng…

Theo dõi cuộc bình thơ đón giao thừa  của Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng đoàn làng Mai, tôi không thể ngăn nỗi cảm xúc đang òa vỡ. “Thầy ơi! Bài thơ con viết cũng là cho mẹ mình, chị mình. Và, cho cả con nữa. Mẹ con lúc còn sinh thời bảo rằng: Gánh nước đêm giao thừa là một mỹ tục có ý nghĩa chúc phúc cho một năm mới đủ đầy như nước đổ vào nhà. Bây giờ thì tất cả đã là người xưa. Đêm giao thừa con lại chạy ra giếng, cúi đầu vào giếng gọi tên mình thật to. Từ lòng giếng sâu tận đáy, tiếng hồi âm lại cho con là cả một thiên đường tuổi thơ. Trong cái thiên đường đó, con mãi là thằng Út nhỏ nhoi cầm đèn soi đường chạy trước cho mẹ gánh nước bao lần đêm giao thừa. Trong cái thiên đường đó, nhiều khi con nhận ra mình giông giống cái nhân vật cậu bé đứng bên bậu cửa trông ra đường ngắm mưa, đẹp như suối trong, như ánh sáng trong sách “Nẻo về của ý” của Thầy. Nghe lời bình thơ của Thầy là con đang hít thở đều đặn trong thế giới nhiệm mầu ấy. Đấy là diệu âm vô tận, hay nói khác hơn là cái đẹp hằng cửu trong ý niệm đức tin vĩnh hằng mà Dostoyevsky từng nói đến, rằng “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”. Liệu rồi bài thơ “ Khúc quê” của con có là hạt cát trên bến sông Hằng lấp lánh một giấc mơ ?”.

Tôi lại chợt nhớ đến câu nói kinh điển của một nhà thơ phương Tây nào đó, rằng: “Những gì xuất phát từ trái tim thì đích tới là những trái tim”. Vâng, nguyên ủy của cái chân, cái thiện, cái mỹ bắt nguồn từ đấy. Một “ Khúc quê” nhỏ nhoi ấy có là gì đâu, thậm chí nó dễ bị mất hút giữa ngút ngàn rừng rừng thơ Tết. Ấy vậy mà duyên lành, cái gánh nước giếng quê thơm thảo đó có mặt giữa Làng Mai vào đúng cái giờ đón giao thừa. Nhiệm mầu hay những ý niệm bao la thuộc về siêu lý? Không, nó đích thực là: cái gì xuất phát từ trái tim thì đích tới là mọi trái tim!

NNT

 

KHÚC QUÊ

Nguyễn Nhã Tiên


Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm

thức giấc

bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

ngọn gió thức ngoài đường chập chùng

cung bậc

trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

 

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi Tết

nước tràn mái, tràn thùng, em gánh tiếp

niềm tin (*)

 

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm

đêm cháy sáng

đêm giũ mình bóng tối

những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

 

Cả ngàn nhà, nước từ giếng chia ra

cười nói dội vang vang hồi âm của đất

có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

 

Khói bay trong nhà, khói bay hàng hiên

về em nhé

giao thừa đang điểm

có tiếng gàu ai bỏ quên ngoài giếng

chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa .

NNT

(*) Mỹ tục người Quảng, gánh nước đêm giao thừa như chúc phúc cho một năm mới


Tranh vẽ lấy từ nguồn: www.songtho.net