Im lặng ngập tràn
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Xứng đáng chỉ có tình xót thương
10:30 sáng ngày 17/11, Paris chính thức thức trả lời bạo lực làm 130 người chết, hàng trăm người bị thương bằng ngôn ngữ của tình yêu và chỉ bằng tình yêu mà thôi.
Vâng, chỉ có tình thương mới xóa tan được hận thù. Jacque Brel, nghệ sĩ người Bỉ đã diễn tả ý của Đức Phật bằng một ngôn ngữ hiện đại vào cuối thập niên 50 qua bài hát Quand on n’a que l’amour. 59 năm sau nó đã được chọn làm ngôn ngữ đối thoại với cuồng tín và bạo lực cho buổi lễ tưởng niệm các nạn nhân bị thiệt mạng ngày thứ Sáu 13.11.2015.
Bài hát được trình bày bằng giọng của 3 nữ nghệ sĩ, nó đã làm cho Tổng thống Pháp phải nuốt nước mắt trước hàng ngàn cử tọa. Và tôi cũng đã khóc thực sự khi nghe tới câu: “Quand on n’a que l’amour pour parler aux canons” (tạm dịch: khi chúng ta chỉ có tình thương để đáp lại hận thù), nó cũng đã làm tôi nhớ tới bài thơ Dặn dò của Thầy viết vào đầu thập niên 60, và Sư cô Chân Không đã trích thuật lại trong tập thơ Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát như sau:
Xin hứa với tôi hôm nay
Bài này quả thật là những lời dặn dò Thầy để lại cho thế hệ trẻ đang phụng sự bằng con đường bất bạo động. Chị Nhất Chi Mai trước khi tự thiêu cho hòa bình đã đọc bài này vào trong một cuộn băng nhựa để lại cho ba má chị cùng những bức thư tuyệt mạng của chị. Có thể nói bài này nói lên được lập trường tuyệt đối bất bạo động của tác giả. Nó cho ta thấy rằng bất bạo động là phương châm hoạt động duy nhất cho những người đã nhất quyết học theo đại bi tâm của các bậc Bồ Tát. Để hiểu rõ thêm tâm tư của tác giả về vấn đề này, tôi xin đề nghị các bạn đọc đoạn sau này mà Thầy viết trong Nẻo về của ý:
“Dưới con mắt của đại bi, không có tả, không có hữu, không có thù, không có bạn, không có thân, không có sơ. Mà đại bi không phải là vật vô tri. Đại bi là tinh lực mầu nhiệm và sáng chói. Vì dưới con mắt của đại bi không có cá thể riêng biệt của nhân, của ngã cho nên không một hiện tượng nhân ngã nào động tới được đại bi.
Em ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay mổ ruột em thì em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng con mắt tràn ngập xót thương: hoàn cảnh, tập quán và sự vô minh đã khiến con người hành động dại dột như thế.
Hãy nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên cho em những khổ đau oan ức, khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi, hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương: hãy rót tất cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng để một gợn oán trách, giận hờn xuất hiện trên tâm hồn. Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.
Giả sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối, tôi vẫn không quay lại thù ghét con người. Nghĩ như thế chắc chắn em sẽ mỉm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá đổ hoặc cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lung lay niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương tựa nổi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thứ tình yêu chỉ có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất cả và tất cả trong em.
Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để cho tên vua cường bạo xẻo tai, cắt thịt mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải là con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi, tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ có lòng xót thương. Giữa chúng ta và đạo sĩ kia, và vị bồ tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có phải tình yêu đã dạy em rằng em có thể làm được như Người?”
xxx
Không thù hận, xứng đáng chỉ có tình xót thương.

Chùa Lá – trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH
Không bao lâu, sau khi bài Dặn Dò chào đời, chỉ vì cuồng tín (fanatique) và nhận thức sai lầm, một thiểu số tín đồ nhân danh tôn giáo đã ám sát nhiều học trò của Thầy ngay tại sân trường TNPSXH và các làng Tình Thương do trường chủ trương, trong khi Thầy đang trên đường vận động hòa bình cho Việt Nam. Đối diện trước bạo lực, tuy Thầy không có ở nhà, học trò của Thầy đã thể hiện một cách tuyệt vời lời Dặn Dò ấy một cách tuyệt vời bằng tình thương và chỉ bằng tình thương mà thôi. Tôi đề nghị chúng ta cùng đọc lại một đoạn trong hồi ký của Sư cô Chân Không thuật lại sự kiện cụ thể đó như sau:
Thầy Nhất Hạnh được trường Đại Học Cornell ở Ithaca, New York, Hoa Kỳ mời đi hội thảo và xin Thầy góp ý về chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thầy đi ngày 11 tháng 05 năm 1966 thì đêm 16 tháng 05 năm 1966 có ba người lạ mặt vào chính điện Chùa Lá, thảy ba trái lựu đạn và bắn một tràng tiểu liên. Em Lê Văn Vinh bị vỡ sọ, óc rớt ra ngoài. Nhờ đem vào bệnh viện cứu sống kịp thời, em không chết nhưng vẫn phải bị liệt hai chân. Một trái lựu đạn khác bị người lạ mặt chọi vào phòng mà trước đó thầy Nhất Hạnh vẫn nghỉ và ngủ nơi đó. Nhờ phòng có màn nên trái lựu đạn bị bật ngược ra ngoài làm em Nguyễn Tôn bị thương ở mông nhưng không sao. Nhìn em Vinh thoi thóp trong bệnh viện không biết sống chết ra sao, tôi không khóc nổi! Đau đớn như bị ai xé từng tế bào cơ thể tôi.
Tại sao con người lại có thể nhẫn tâm với nhau vậy? Nhất là các em tôi chỉ tình nguyện đi phụng sự đất nước bằng tình thương, trách nhiệm, và tự nguyện? Tôi thầm lạy Phật cho những người chủ tâm cầm lựu đạn ném vào người tay không vì thấy được thái độ không thù hận, không họp báo chửi mắng của chúng tôi mà tỉnh ngộ, không còn quấy nhiễu chúng tôi nữa.
Hai tháng trôi qua, rồi năm tháng, bảy tháng và gần một năm trôi qua, chúng tôi sống bình yên. Tai nạn của Lê Văn Vinh khiến rất đông đồng bào thương mến. Họ tới cho gạo, cho dầu, cho tương, chao, rau cải và đóng góp tài chánh, tuy ít ỏi nhưng khá nhiều người đóng góp nên chúng tôi trả tạm bớt nợ xây cất cũ và hoàn tất được 15 phòng còn lại ở cư xá sinh viên. Giảng đường, thư viện của các em, giếng nước đóng cung cấp nước cho toàn trường hơn 300 người cũng được thực hiện hoàn mãn.
Gần một năm sau, khi phòng ốc Trường TNPSXH đã xây cất xong, anh chị em sinh viên vừa làm kinh tế tự túc như trồng nấm rơm, trồng rau, dưa…, vừa vào thời khóa học tập rất hứng khởi, tuy sáng vẫn ăn cơm trắng với xì dầu, trưa vẫn chỉ ăn cơm với dưa cải kho và chiều cơm rau luộc cũng chấm xì dầu. Không khí học tập hào hứng, đầy tình đệ huynh. Chiều nào cũng có chương trình nhạc thơ phụng sự xã hội. Sáng từ sáu đến bảy giờ rưỡi là công tác kinh tế tự túc, trồng rau cải, ủ rơm và phân bò để lấy phân trồng đậu, trồng dưa để ăn và để bán. Các em biết ủ meo nấm rơm để nuôi nấm rơm rất nhiều hầu bán gây quỹ mua những thứ cần dùng khác. Từ tám giờ rưỡi đến mười một giờ rưỡi là học lý thuyết, chiều từ 14 giờ đến 16 giờ thì đem những bài học ra ứng dụng trong đời sống hằng ngày và tối là văn nghệ tu học trước khi tham thiền tối và đi ngủ.
Bác Nam Đình, chủ bút nhật báo Thần Chung đã được chị Mai mời tới thăm trường. Bác quá cảm động và đã viết một bài báo ca ngợi cho rằng: “Chỉ có Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mới là một phong trào thật sự vì dân mà đứng lên, được hơn 3.000 gia đình Việt Nam đóng góp tài chính để nuôi dưỡng họ và đang đi về những thôn làng nghèo khổ mà giúp dân. Không cần phải có những khoản tài trợ khổng lồ của người nước ngoài”.
Bài của nhật báo Thần Chung được đăng chưa đầy một tuần thì ngày 24 tháng 4 năm 1967, vào lúc trời vừa tối, có những người lạ mặt đến thảy hơn mười trái lựu đạn vào cư xá nữ và phòng học sát Chùa Lá Pháp Vân khiến cho nữ tác viên Trần Thị Vui và giáo sư Trương Thị Phương Liên từ Quảng Ngãi vào thăm bị tử nạn, 16 nữ sinh viên bị thương và cô Bùi Thị Hương nát hết bàn chân, phải cưa mất chân trái gần đến gối. Các nữ sinh Diệu, Út, Mai, Minh Nguyện, Lành, Kỷ và Kê đều bị thương nặng nhưng may quá, trị thương một thời gian thì qua khỏi.
Thi hài của Trần Thị Vui và Trương Thị Phương Liên được quàn ở Trường nên chúng tôi quyết định làm tang lễ truy điệu năm ngày sau. Chúng tôi định mời thật đông quan khách để có dịp trình bày lập trường của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Thầy Thanh Văn bắt tôi viết dùm cho tăng thân bài diễn văn để đến ngày truy điệu, thầy thay tăng thân đọc trong tang lễ. Tôi đã viết dùm cho tăng thân như sau:
“Chúng tôi không xem các anh, những người ném lựu đạn để giết các bạn chúng tôi, là kẻ thù. Bởi vì chúng tôi thấy rõ rằng kẻ thù chúng tôi không phải là con người, không phải là các anh, những vị đã sát hại anh chị em chúng tôi. Kẻ thù chúng tôi là cái thấy sai lệch của các anh về chúng tôi và các anh đã quyết tâm giết những cái hình ảnh ghê tởm trong đầu các anh về chúng tôi. Thật ra chúng tôi không ghê gớm như vậy, chúng tôi chỉ có một ước vọng rất bé nhỏ là giúp các cháu ở nhà quê có trường học, các bệnh truyền nhiễm được chặn đứng nhờ các bác nông dân biết phép vệ sinh. Với những hiểu biết về canh nông, chăn nuôi, chúng tôi chỉ mong giúp gà vịt ít chết toi, canh nông y tế được phát triển để người dân quê nghèo khó được nhờ. Nếu biết rõ chúng tôi chỉ có chừng ấy tham vọng chắc các anh cũng thương mà giúp đỡ chứ nỡ nào ném lựu đạn vào những thanh niên thiếu nữ không có một chút vũ khí trong tay? Chúng tôi lạy Phật cho tất cả mọi người thấy rõ rằng dù phải mất mát nhiều quá trước cái chết và thương tích của các bạn thân thương, chúng tôi xin tuyên bố không hờn trách các anh mà chỉ mong các anh hiểu được chúng tôi và giúp chúng tôi hoàn thành ước mơ khiêm tốn này”.
Bài diễn văn khiến quý thầy trong Hội Đồng Lưỡng Viện Hóa Đạo và Tăng Thống quá cảm động và hết lòng giúp đỡ. Hòa Thượng Thiện Hòa thương và khen: “Các con có thiệt tu, thầy quý lắm. Các con cần gì cứ đến nhờ thầy”.
Sau đó hai tháng, vào ngày 14 tháng 6 cũng năm 1967, tám người TNPSXH bị bắt đi mất tích ở Bình Quới Đông. Chiều hôm đó tôi có mặt tại đây. Thấy cảnh ngôi đình mát mẻ, cây cối quá xanh tươi, sư chú Nhất Trí, đệ tử xuất gia của Thầy kèo nài tôi ở lại ủng hộ tinh thần phụng sự của anh em, tôi đã hơi xiêu lòng định ở ngủ lại đêm. Khi tôi đang chuẩn bị tìm chỗ nghỉ đêm thì linh tính báo tôi biết là má tôi sẽ rất lo, má sẽ không ngủ được nếu tối nay tôi không về. Nghĩ như thế nên tôi đã khất với chú Nhất Trí là sẽ tới ngủ lại đây đêm hôm sau vì tối nay phải về nhà xin phép má. Không ngờ tám anh chị em TNPSXH ngủ đêm trong đình Bình Quới Đông đã bị bắt đi mất tích ngay đêm ấy. Chúng tôi đi từng đồn lính quốc gia để hỏi thăm, từng nhà nông dân các khu lân cận để cố tìm nhưng không cách gì tìm ra tông tích.
Chưa đầy ba tuần sau, ngày 5 tháng 7 cũng năm 1967, tại xã Bình Phước, năm anh em TNPSXH bị một toán người lạ mặt đến uy hiếp, bắt trói tay và dẫn ra bờ sông. Họ bắn cả năm anh em ngã gục bên bờ sông, bốn người chết, còn một người sống sót là sư chú Hà Văn Đính. Sư chú bị bắn trước, máu ra nhiều quá nên họ tưởng đã chết, không bắn tiếp lần thứ hai như đã bắn bốn vị kia, nhờ thế mà chúng tôi được nghe rõ tỉ mỉ câu chuyện. Thái độ người bắt anh em TNPSXH rất hiền nên các anh em không nghĩ là sẽ bị giết. Thấy họ dẫn ra bờ sông anh em nghĩ là sẽ chờ thuyền đến chở đi. Ai ngờ bỗng nhiên anh trưởng đoàn đến sờ đầu em Võ Văn Thơ 18 tuổi và hỏi: Có phải các anh là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không? Khi nghe anh em xác nhận là phải, thì họ lại sờ đầu thêm lần nữa và nói: Chúng tôi rất tiếc nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Và họ bắn tức khắc, bắn lần thứ hai rồi bỏ đi.
Sáng hôm đó tôi đi thăm anh em, chưa đến nơi đã thấy Diệp Lân Hải đi xe máy ngược lại và chặn đường báo tin bốn bạn đã chết, Hà Văn Đính đang nằm bệnh viện và xác Hy, Tuấn, Thơ và Lành đang nằm bên bờ sông Bình Phước. Chiếc xe mobylette đưa tôi đến tận bờ sông để nhìn xác bốn em nằm sõng soài, mắt vẫn còn trợn trừng, máu như còn trào ra ở khóe miệng, có vẻ thật đau đớn. Các em đau đớn là phải, vì không hiểu tại sao mình bị giết trong khi trái tim mình đầy ắp lòng yêu thương, tay không có một tấc sắt. Đầu tôi quay cuồng tự hỏi: Bất bạo động là gì? Thầy nói: “Là khi tâm mình tràn ngập yêu thương, muốn cho tất cả mọi người bớt khổ, không bao giờ muốn làm cho ai đau đớn dù người đó đang hãm hại mình. Trong ước mong lớn lao muốn chấm dứt khổ đau mà không hại người khác, người bất bạo động tự nhiên có sáng kiến nên làm như vầy, nên nhịn ăn tới chết, hay nên không hợp tác, hay nên tự thiêu cúng dường”. Các em TNPSXH của tôi đang “thiêu đốt” tuổi trẻ các em để cúng dường cho đồng bào bất hạnh, nhưng chưa làm được gì đã bị bắn chết oan ức như thế. Tuyệt vọng tràn ngập tận xương tủy tôi. Thà tôi nằm chết như các bạn, chắc có lẽ sẽ đỡ khổ hơn!
Cách đây hơn 2 tháng, khi Liên và Vui nằm xuống, chúng tôi đã tuyên bố rồi, trong bài diễn văn trước gần 10 ngàn người trong tang lễ của hai em, rằng kẻ thù chúng tôi chỉ là cái thấy sai lầm của các anh về chúng tôi, chúng tôi hy vọng trái tim thương yêu của chúng tôi bộc lộ trong lần chết của Liên – Vui đủ để những người sát hại thấy rõ mà hiểu và thương chúng tôi hơn. Nhưng họ vẫn bắt cóc tám người bạn thân yêu, vẫn sát hại bốn người con trai vô tội như vầy thì tôi chịu hết nổi!
Chúng ta “nói” đến Từ, Bi, Hỷ, Xả rất dễ, nhưng khi bạn có dịp đứng trước những xác chết của những người con trai, con gái trong tuổi thanh xuân, không chạy theo những thú vui trần thế, trái tim thơm mùi yêu thương, tận tụy vào những thôn làng xa, giúp người dân quê nghèo đói nâng cao đời sống của họ mà vẫn bị thảm sát một cách tàn nhẫn như thế thì chúng tôi mới thấm thía: Tu thật là khó, thương được những người như vầy, thương được người chủ tâm sát hại mình, thật là khó. Tôi chỉ biết trở về hơi thở và cố gắng không bi lụy để gánh gồng phụ với thầy Thanh Văn. Thầy lại nhờ tôi: Chị viết dùm diễn văn trong tang lễ truy điệu nhé. Trong tôi như có sự phản kháng lớn, tôi chỉ muốn thét lên: Không, không, không! Tôi không viết được đâu. Chúng ta đã nói rồi, chúng ta tập không thù hận những người sát hại Liên, Vui; chúng ta đã chỉ mong họ thấy rõ chúng ta không tệ như họ tưởng bằng thái độ hiểu biết của chúng ta.
Càng suy nghĩ tôi lại càng rối rắm thêm. Chỉ còn một cách làm như chúng tôi vẫn làm trong ngày chánh niệm là bỏ hết những suy tư khổ đau, rối rắm đó sang một bên và theo lời Phật dạy, chỉ trở về với hơi thở, bám lấy hơi thở, sống trọn vẹn với những việc làm trong phút giây hiện tại. Đi thì chỉ để tâm tới bước chân, ăn thì chỉ nhìn sâu và thấy kỹ những gì tích cực trong chén cơm ấy, bỏ hết những tâm nghĩ suy đi ra xa hơn cái không gian và thời gian của phút giây hiện tại và để tâm được bình an hơn. Khi tâm bình an hơn thì hy vọng mình sáng suốt hơn và biết phải làm gì, sẽ làm gì. Bốn ngày liên tiếp, tôi chỉ trở về sống với những công việc hiện tại mà tăng thân nhờ tôi làm. Chạy đi mua bì thư, đi quay ronéo thư mời, bỏ bì thư thơ mời quan khách, tâm chỉ bám vào chuyện bỏ thư vào bì thư mời dự tang lễ. Biên thư, mời bao nhiêu quan khách quen biết, chạy lên cầu cứu với thầy Thiện Hòa, Thiện Hoa, chạy lên các chợ Cầu Muối, chợ Tân Định nhờ cô bác lo giúp chuyện này và chuyện kia.
Đêm về, khi mọi người tạm yên giấc ngủ, tôi vào chánh điện ngồi thiền một thời gian rồi đứng dậy đi chậm rãi quanh chùa. Tôi không biết vậy là đi thiền hành nhưng tâm tôi chỉ tùy tức, nghĩa là bám lấy hơi thở ra, thở vào như là đang ngồi thiền định. Không dám suy nghĩ gì hết và cũng không biết sẽ viết gì cho thầy Thanh Văn đọc trong tang lễ sắp tới. Bốn đêm liên tiếp, đêm nào tôi cũng nghĩ là đêm nay, có thể tôi sẽ có sáng kiến, nhưng cũng không có. Rồi đêm mai, rồi đêm mai nữa cũng không có ý gì cả, tôi cũng vẫn đi im lặng quanh chùa cho đến mệt nhoài thì mới ngả lưng ra chợp mắt được chút ít.
Đêm thứ tư, trong khi ngồi thiền, chợt trong tôi lóe lên câu nói của chú Hà Văn Đính. Chú thuật rằng, họ sờ đầu anh em hai lần và lần thứ hai thì nói rất nhanh: “Tôi rất tiếc, nhưng tôi buộc lòng phải giết các anh!” Tại sao giết người ta mà nói rất tiếc? Thế có nghĩa là họ không muốn giết, không nỡ giết? Thế có nghĩa là lời tuyên bố hai tháng trước đã chạm vào mối từ tâm trong lòng họ rồi. Nhưng thời buổi chiến tranh, nếu cấp chỉ huy ra lệnh mình phải đi thủ tiêu ai đó mà mình từ chối thì âm mưu cấp chỉ huy bại lộ. Chỉ huy phải thanh toán mình thôi. Nếu được lệnh giết người mà vì lòng từ bi, mình không nỡ giết những người con trai vô tội này thì mình sẽ bị thủ tiêu. Nếu không tuân lệnh, mình bị giết thì ai lo cho vợ con mình đây? Khi thấy được thế khó xử của những người sát hại bốn anh em bên bờ sông, tôi hiểu hơn và thương họ được.
Tôi cầm bút lên viết bài diễn văn Truy Điệu trong tang lễ:
Cám ơn các anh đã nói lời dễ thương là Chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Những lời ấy chứng tỏ các anh BỊ BẮT BUỘC phải giết các bạn chúng tôi. Nếu không vâng lời cấp chỉ huy, các anh có thể bị giết. Rồi ai lo cho vợ con các anh? Chúng tôi hiểu và nhờ thế vẫn không thể thù hận các anh. Kẻ thù chúng tôi vẫn là cái thấy sai lạc của cấp chỉ huy của các anh về chúng tôi. Chúng tôi lạy Phật cho lần này cấp chỉ huy của các anh sẽ hiểu hoặc ít nhất các anh sẽ hiểu và chúng tôi tin là bằng mọi cách, các anh sẽ giúp chúng tôi vượt ra khỏi những khó khăn này.
Quan khách ai cũng chảy nước mắt khi nghe bài diễn văn của thầy Thanh Văn đọc. Các vị linh mục, mục sư, các thầy trong Giáo Hội, quan khách thân hữu thân tả đều thương mến và quyết lòng che chở. Và kể từ ngày đó TNPSXH không còn bị sát hại nữa.
xxx
Đúng vậy, chỉ có tình thương mới đối đáp được với hận thù. Thông điệp, đúng hơn là chân lý đó đã thể hiện đó đây trên khắp quả địa cầu này một cách liên tục hơn 26 thế kỷ qua và nó sẽ tiếp tục mãi mãi là chân lý bất khả diệt của nhân loại trên hành tinh xinh đẹp của chúng ta. Bằng chứng là thêm một lần nữa nó đã được thể hiện vào sáng nay tại Paris. Mở video theo đường link dưới đây, bạn sẽ nghe được tiếng gọi của tình yêu đó:
Và đây là bản dịch Pháp văn bài thơ Dặn dò của Michèle Chamant. Bản này Pierre Marcgand cũng đã phổ nhạc và hát tại nhiều đại hội trên đất Pháp khi đi trình diễn với Graeme Allwright:
Rửa bát là niềm vui
Rửa bát là một nghệ thuật, người rửa bát là một nghệ sĩ.
(Thư gửi con gái Tường Vi)
Sau bữa tối, mẹ cho Moon lên gác. Ở dưới nhà, bố thong thả rửa từng chiếc bát. Rửa bát cũng là một nghệ thuật, vì nếu để ý một chút, nó sẽ mang lại hạnh phúc ngay trong phút giây hiện tại.
Biết cách rửa ở đây không phải là cách rửa cho sạch mà rửa làm sao ta có được sự an vui đó. Xoay nhẹ chiếc búi một vài vòng, lật từng chiếc bát nhẹ nhàng, nước từ vòi chảy ra mát lạnh bàn tay. Đôi lúc trong tâm xuất hiện “ý muốn” rửa cho thật nhanh “để xong” còn ra uống một ly trà. Bố lại để ý vào hơi thở, buông suy nghĩ đó. Bởi bố biết nếu vội vàng rửa cho xong để ra uống trà thì lúc uống trà bố sẽ lại vội vã làm một việc khác, và cứ thế cả ngày bố vội vã. Khi con lớn, đọc những dòng này, bố hy vọng con sẽ hiểu được điều đó.
Cả đời ông bà đã như vậy con ạ, lúc nào cũng vội vàng. Thấy con cháu đến chơi vội vàng, biết ngày mai có họ hàng ở quê lên chơi mà cả đêm thao thức không ngủ được. Chính vì vậy bố để ý hết tâm ý vào rửa bát, thật vững chãi và thảnh thơi. Vì nếu hạnh phúc được trong khi rửa bát thì khi uống trà cũng sẽ hạnh phúc. Nếu uống trà hạnh phúc thì con đặt từng bước chân đến trường cũng sẽ hạnh phúc. Con sẽ hạnh phúc được nghe cô giảng bài, được viết những dòng chữ yêu thương…
Rửa chỉ để rửa thôi mà nhanh thế, thoáng một lát đã không còn chiếc bát nào. Mọi thứ đều nằm trên trạn bát tinh tươm. Đi ra ngoài phòng khách, thấy cô con gái năm tuổi đang chơi. Lặng lẽ nhìn cô mà sao yêu thế, yêu cái cách cô ấy hồn nhiên tắm cho mấy “em búp bê”. Nhớ có lần cô con gái nói: “Con muốn giúp mẹ rửa bát, con muốn làm người lớn”. Bố đến gần con nói: “Con muốn làm người lớn, nhưng giờ bố muốn được như con đó”. Bố thấy thật vui khi nhìn con tắm cho mấy em bông”. Con gái nói: “Bố bảo con, nếu muốn mình sẽ làm được mà. Bố vào tắm cho em búp bê đi”.
Chợt có một “cái ngại” xuất hiện trong đầu, “cái ngại” này nó ngăn tôi trở thành một “em bé”, “cái ngại” này nó bảo với tôi là “tắm cho búp bê có gì thích đâu, trò trẻ con”. Ngay lúc đó tôi lại để ý vào hơi thở và buông suy nghĩ ấy. Con gái “gạ” bố chơi trò “Bố Mẹ” và cùng nhau tắm cho bốn em búp bê. “Người Mẹ” vừa nhập vai này cũng loay hoay cầm những dụng cụ cần thiết và tắm cho các em. Các động tác quen thuộc bố vẫn thấy. Bố có cảm nhận như Mẹ cũng đang là con và đang tắm cho các con mỗi lúc bố đi làm. Bố thấy mình như một em bé, bố thấy mình như một người bạn của con. Bố hạnh phúc cầm chiếc ca nhựa, múc nước từ cái lồng màn mà con bảo là chậu. Một niềm vui trong bố.
Rửa bát thật thảnh thơi:
Nước từ suối nguồn cao
Chảy ùa vào lòng bát
Xoay một vòng, khẽ hát
Rửa bát là niềm vui.
Có những vùng xa xôi
Phép màu, đôi thùng nước
Hai bàn tay hứng được
Từng giọt nước mưa rơi.
Rửa bát trong thảnh thơi
Yêu phút giây hiện tại
Để nghĩ suy dừng lại
Rửa bát thật thảnh thơi.
Bài thơ đã được tác giả phổ nhạc:
Tâm bình, thế giới bình
Mấy hôm nay tôi không vào Internet nên không biết tình hình bên ngoài. Chỉ có một tin bằng tiếng Anh được dán lên bảng thông báo của tu viện Làng Mai, Pháp – nơi chúng tôi đang hành thiền, rằng khủng bố tấn công Paris và gần 200 người thiệt mạng, hơn 200 người bị thương. Con số đang thống kê. Nếu không biết cách thực tập, chúng ta có thể hoảng sợ và tâm ta có thể bất an. Nhất là khi chúng tôi đang ở Pháp.
Rất nhiều người hoảng loạn và lo lắng khi khủng bố tấn công. Đó là lẽ thường tình. Bởi thương xót cho những chúng sinh vô tội bị sát hại. Làm sao là không thương tiếc khi mạng sống quý giá của bao người bị cướp đi trắng trợn. Có được thân người đâu có dễ. Vậy mà phải chết oan uổng.
Nếu bạn là chúng tôi, bạn có thể thấy lo lắng vô cùng. Và lo lắng đến tính mạng của chính mình. Chúng tôi là những người Việt đang có mặt ở đây. Và trong những ngày tới cần di chuyển về Paris rồi bay về Việt Nam. Nhà ga, sân bay, bến xe luôn là tầm ngắm của bọn khủng bố mà.
Chúng tôi, các thiền sinh có mặt tại Pháp rất bùi ngùi khi nhận tin dữ. Nhưng chúng tôi không lo sợ. Việc đầu tiên chúng tôi cùng nhau làm là ngồi thiền trong bình an để gửi năng lượng đến các nạn nhân. Chúng tôi tin rằng năng lượng bình an của hàng chục, hàng trăm thiền sinh rất quan trọng đối với những người bị hại. Hôm đó là ngày 14 tháng 11.
Thế rồi, mỗi sớm và mỗi tối khi ngồi thiền, mỗi sáng khi đi thiền hành, mỗi khi thiền làm việc và mỗi bữa khi thiền ăn, tất cả chúng tôi đều cùng nhắc nhau gửi năng lượng đến những nạn nhân. Tâm bình thế giới bình, vậy nên tâm an lành của chúng tôi thực hành thiền nhiều lần trong ngày chắc chắn giúp được các nạn nhân và cả những kẻ khủng bố nữa.
Nhưng quán chiếu kỹ lại chúng tôi cũng vô cùng thương xót cho những kẻ khủng bố. Nếu như chúng ta cũng bị sinh ra trong môi trường của hận thù, của áp bức, của đau khổ, nếu như chúng ta cũng không được dạy rằng dùng giết chóc, sát hại sinh mạng để mong trả hận thù là không thể chấp nhận được thì có khi chúng ta cũng có thể hành động như họ. Nếu chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh, điều kiện sống và những khó khăn, bức xúc, những hiểu lầm, những tuyên truyền không đúng mà họ nhận được, có thể chính chúng ta cũng hành động như vậy.
Đức Phật dạy chúng ta về bốn loại thức ăn, trong đó có thức thực là rất quan trọng. Tâm thức cộng đồng rất ảnh hưởng đến tính cách và cuộc sống của chính chúng ta. Môi trường sống tạo nên con người ta với những tính cách của chính những người quanh ta. Ăn bằng thức thực chắc chắn quan trọng hơn cả đoàn thực.
Nếu như chúng ta sinh ra trong môi trường của những tên khủng bố đó, được giáo dục trong môi trường đó, chịu ảnh hưởng của một cộng đồng như thế thì dĩ nhiên ta có những tri giác sai lầm và không tránh khỏi tội lỗi.
May thay chúng ta là con Phật. May thay chúng ta giữ Năm Giới mà ngay giới đầu tiên đã là không sát sinh. Đức Phật tuyệt vời dạy chúng ta không sát sinh, không giết hại cả con sâu, con kiến thì làm sao chúng ta dám sát hại con bò, con gà chứ nói chi đến con người. Chúng ta khi ăn rau, ăn củ quả vẫn còn biết ơn vũ trụ và muôn loài để cho ta có thức ăn cơ mà.
May thay chúng ta hiểu được giá trị của việc làm người, của nhân quả, của tình yêu thương muôn loài. Tình yêu thương đã giúp chúng ta sống trong yêu thương và luôn yêu thương. Và chính tình yêu thương lớn lao này đã giúp chúng ta thương xót cả những tên khủng bố kia. Khi tâm ta thương cả kẻ thù, cả những kẻ dã man này thì tình thương càng lớn hơn và chúng ta dần dần có thể chuyển hóa được họ và những người quanh họ.
Chúng tôi ngồi thiền để chuyển lòng yêu thương đến với những nạn nhân. Họ chính là bạn, là tôi, là chúng ta. Chúng tôi cũng nguyện cầu cho họ được bình an, được sinh về cõi lành. Chúng ta có lẽ nên cùng nhau nguyện cầu để họ được Phật, Chúa, các vị Thánh che chở và đùm bọc.
Năng lượng yêu thương và từ bi trong những ngày qua và cả những ngày tới nữa cũng được gửi đến những kẻ khủng bố. Thật đáng thương cho họ. Do VÔ MINH CHE LẤP THÁNG NGÀY, do HẬN THÙ TRONG TÂM mà họ làm như vậy. Mong họ được bình an, mong họ được hành thiền để vô minh bớt đi, ánh sáng chiếu soi cho họ để họ bớt khổ đau và chuyển hóa những hạt giống thành TỐT LÀNH. Họ đang đau khổ lắm, đau khổ gấp ngàn vạn lần chúng ta. Và cứ thế này họ sẽ mãi mãi trong đau khổ, trầm luân ư… Hận thù nuôi hận thù mà. Mong sao cả thế giới này, cả 7 tỷ người trên hành tinh này đều được biết đến đạo Phật tuyệt vời và vi diệu.
Chúng tôi mong rằng chúng ta cùng lan tỏa yêu thương, cùng kêu gọi mọi người quanh ta mỗi người bỏ bớt một chút hận thù, bớt một chút tính ghen ghét, đố kỵ đi. Bớt dần, bớt dần. Bởi hận thù, ganh đua, ghen ghét trong tâm mỗi chúng ta là những hạt giống. Nếu chúng ta không biết chuyển hóa, đến một ngày nào đó sẽ lớn lên và có thể thành tội lỗi, thậm chí là bạo động. Ôi, vô minh che lấp tháng ngày!
Đêm qua tất cả chúng tôi cùng làm một lễ cầu nguyện lớn. Mấy chục quý thầy Làng Mai đến từ các quốc gia khác nhau: Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Italy, … cùng làm một lễ cầu nguyện. Rất giản đơn nhưng rất sâu lắng và xúc động, rất bình an nhưng tràn đầy năng lượng và yêu thương.
Thầy Giới Đạt chủ trì buổi lễ. Đầu tiên là tuyên bố lý do và sau đó là tụng kinh bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Những bản kinh vang lên trong không gian thanh tịnh của quý thầy đắp y vàng và quý Phật tử trang nghiêm thật tuyệt vời.
Thầy Trời Tự Tại – người Pháp đọc Kinh Thương Yêu bằng tiếng Pháp rất hay và tràn đầy năng lượng. Chúng tôi nghe mà như thấy thấm vào da thịt thân thể mình.
Chúng tôi rất ấn tượng khi thấy các nhà sư của rất nhiều nước cùng đắp y, bên nhau niệm danh hiệu của Đức Bồ tát Quán Thế Âm. Tất cả cùng cầu mong cho Ngài mang từ bi đến tận mỗi chúng sinh bị đau khổ trong đêm thảm sát khốc liệt 13 tháng 11 này.
Dĩ nhiên phần quan trọng của đêm nay là tất cả cùng ngồi thiền. Tất cả cùng hướng tâm về Paris yêu thương. Chỗ chúng tôi đang cư trú đâu có quá xa Paris đâu. Thật tâm mỗi chúng tôi đều rất mong bình an đến với mọi người: cả những ai bị sát hại, bị thương tích, bị tổn thương lẫn những kẻ khủng bố.
Chỉ có tình thương mới chuyển hóa được hận thù. Chỉ có yêu thương mới mang đến bình an cho mỗi chúng ta và cho tất cả. Tình thương là vốn quý của mỗi người con Phật chúng ta. May quá, đúng không bạn.
Trời sắp sáng rồi. Chúng con sẽ lên thiền đường sớm hơn để ngồi thiền. Năng lượng sớm nay chúng tôi lại xin được gửi đến Paris, đến tất cả những ai bị vụ khủng bố đêm 13/11 gây ảnh hưởng cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng tôi cũng mong bạn dành vài phút ngồi thật bình an. Chỉ cần ngồi bình an thôi mà. Hãy cùng nhau mở tâm bình an của mình ra rộng tối đa, rộng đến mức có thể. Hãy theo dõi hơi thở nhẹ và êm trong bình an để gửi yêu thương và năng lượng đến Paris. Chúng tôi muốn chúng ta làm cùng nhau như một cơ thể, như một tăng đoàn của những người con Phật gồm cả tứ chúng. Đây là cơ hội lớn để chúng ta cùng thực tập mà.
Cám ơn bạn đã đang rất bình an khi đọc những dòng chữ này. Cám ơn bạn đã giúp chúng tôi tự tạo ra bình an cho chính mình để tất cả chúng ta cùng bình an trong yêu thương. TÂM BÌNH – THẾ GIỚI BÌNH!
Chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp, ngày 16/11/2015
TS Nguyễn Mạnh Hùng
Đường dài bước chân đỡ mỏi
Huế bắt đầu vào mùa đông. Cuối thu đã có nhiều cơn mưa kéo về, và ảnh hưởng một vài cơn bão khiến Huế trở nên thâm trầm tư lự hơn. Tôi có thói quen đốt lên viên trầm, có khi là một cây nhang, hay lá sage, thắp nến, pha bình trà và thưởng thức mỗi sáng sớm.
Buổi sáng ở đồi Trị Liệu thật trong lành. Ngồi yên là thứ mỗi buổi sáng tôi thích làm. Có một vị Thầy đã từng dạy tôi rằng: “Bình yên là một thứ tặng phẩm đẹp mà người tu có thể hiến tặng cuộc đời. Cuộc đời đã dư thừa sự ồn ào chộn rộn, họ cần bình yên. Và một người tu thì không cần mang ra đời thêm sự ồn ào chộn rộn nào nữa, cần mang sự bình yên đi vào hiến tặng cho cuộc đời”. Đó là lời dạy rất tha thiết được nói ra từ kinh nghiệm của một người tu, giản đơn mà khó đạt. Đó không là lời nói của “tri kỷ” thì là của ai. Hiểu mình nên nói cho mình hiểu, đó là tri kỷ tri âm, đó là bạn. “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”, mấy hôm nay tôi có nhiều ấn tượng với câu thành ngữ quá sức quen thuộc này.
Suốt bốn mùa, nhất là những ngày hè oi ả, làm việc mệt, tới giờ ăn mà thấy ngán quá không muốn ngồi vô bàn, may thay có tô canh chua thật tuyệt, vậy là ngon miệng ăn hai hay ba chén. Canh làm mình dễ nuốt. Mùa đông lạnh, có chén cơm nóng, có bát canh khổ qua thơm lựng bốc khói, vậy là bữa cơm ngon đến lạ lùng. Đó là nghĩa cơ bản nhất của câu “Ăn cơm có canh”. Canh làm mình dễ ngon miệng thật. Nhưng ăn canh cũng phải cẩn thận.
Cẩn thận là vì canh thì làm mình dễ ngon miệng thật, và vì ngon miệng thành ra mình ăn hơi nhiều, ăn hơi dư dư ra cái phần cần. Bên cạnh đó, rất quan trọng, là nếu ăn không đúng cách thì trở lại hại cơ thể. Mùa đông lạnh tới cóng người, vậy là lại nấu món canh chua có cà chua, măng chua, khế chua, me chua thì không hợp tí nào. Đang bệnh mà ăn canh rau muống, hay canh măng thì cơ thể không chịu nổi. Người Việt mình còn một cách ăn canh không hợp lý nữa, là chan canh vào trong cơm, ăn và nuốt cho nhanh, cho khỏe, khỏi nhai nhiều, để sau đó bao tử phải cực nhọc làm việc gấp nhiều lần. Nên ăn canh với cơm cũng phải đúng cách, mới ngon, mới lành, mới khỏe.
“Ăn cơm có canh” cũng như “Tu hành có bạn”, đó là câu thành ngữ chúng ta thường nghe, “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Diễn rõ ra tức là có bạn để tu hành thì cũng như trong bữa cơm mà có canh, dễ thành công hơn, dễ để đi qua những khó khăn hơn, dễ tu hơn. Ăn canh đúng cách trong bữa cơm đã quan trọng lắm rồi, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp lên cơ thể mình, mà có bạn đúng nghĩa trong sự nghiệp tu lại càng quan trọng hơn, vì nó tác động trực tiếp lên cả thân lẫn tâm chúng ta.
Một người bạn mà tâm bồ đề vững chãi, chí nguyện độ đời mãi mãi lớn mạnh, luôn lấy sự nghiệp tu học của mình đặt lên hàng đầu, nói, hành động hay suy nghĩ gì cũng dựa trên căn bản của sự thực tập, giới hạnh nghiêm chỉnh mà khiêm cung, không chạy theo đám đông, không rong ruổi theo những nhu yếu tiện nghi vật chất, có được một người bạn như vậy thì chúng ta rất dễ để nuôi dưỡng sự tu học của bản thân, gặp khó khăn gì cũng dễ dàng đi qua hơn khi biết rằng mình đang có một người bạn yểm trợ hết lòng. Chẳng khác nào một ngày nắng nóng mà bữa cơm có được một bát canh chua hay một bát canh rau thập cẩm thơm ngon.
Trái lại, chúng ta chỉ cần có bạn để chơi, để khỏa lấp niềm cô đơn trống trải trong lòng, chẳng cần biết người bạn ấy thế nào. Chúng ta gặp một người không chịu tu học, tìm cầu cuộc đời mình theo hướng danh vọng, tham dục, không nuôi lớn tâm bồ đề, gặp nhau chỉ nói chuyện thị phi, chuyện chiếc xe, cái điện thoại, bổn đạo, cúng vái, thế tục hóa cuộc đời tu học của mình… và mình cứ ngồi đó nghe, tư duy theo, sống theo, đi theo về hướng thế tục, thế tục hóa cuộc đời tu học của mình theo, vậy là mình lãnh đủ. Sự nghiệp tu học của mình bị hao mòn, nắng hạn, khô héo, càng chơi với bạn càng cảm thấy cô đơn, càng cảm thấy hạn hẹp, tuyệt vọng và thất bại. Y hệt lùa vài chén cơm chan nước canh mà nuốt cho nhanh, cho dễ, để cái bao tử mệt nhọc hơn, cơ thể dễ sinh bệnh hơn. Đây là chuyện chúng ta phải chiêm nghiệm để trực tiếp tạo dựng đời sống cho bản thân.
Bạn tu là vấn đề rất quan trọng. Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Thiền sư Linh Hựu từng nhắc nhở: “Cần đi đâu xa thì phải nương tựa vào bạn hiền để có thể luôn luôn thanh lọc những điều ta nghe, ta thấy. Khi cư trú cũng phải nương tựa vào bạn tốt để ngày nào cũng được học hỏi thêm những điều chưa được am tường. Người ta nói rằng, cha mẹ tuy sinh ra ta nhưng chính bạn hữu lại là kẻ tác thành cho ta. Sống gần gũi với các bậc thiện tri thức thì cũng như đi trong sương, tuy áo không ướt nhưng vẫn thường được thấm đẫm. Còn nếu chơi với kẻ xấu thì cái thấy càng ngày càng sai lạc, sớm chiều vì vậy cứ tiếp tục tạo ra nghiệp xấu…”. Có nhiều người sẽ lí luận, nếu không chơi với người xấu thì ai giúp họ thay đổi? Nếu ta không vào địa ngục thì ai sẽ bước vào? Vấn đề ở đây không phải là chuyện thách thức chơi hay không, mà ta nên coi lại mình có đủ nội lực để tiếp xúc hay không. Như canh thì ăn mùa nào chẳng được, nhưng có những thứ canh ăn mùa đông thế nào cũng làm ta đau quằn quại, có những thức canh ăn mùa hè lại làm ta nóng bức thêm.
Có người ví, bạn lành giống như một chén nước trong. Tôi rất ấn tượng với cách so sánh bình dị ấy. Đi học về, đi chợ về, đi đâu xa về, khát nước lắm, đến bên một giếng nước, hay một vại nước thơm trong uống một chén, thật sảng khoái và giải khát vô cùng. Những giếng nước ngày xưa rất trong và có thể uống trực tiếp được, hoặc người dân tích trữ nước mưa trong vại, trẻ con đi học về, chỉ cần lấy gáo dừa vốc uống ngon lành mà không sợ đau bụng. Và thứ nước trong mộc mạc đó, ta có thể uống một đời mà không thấy chán thấy ngán. Không ai có thể uống suốt tháng những thứ nước ngọt đóng chai như cocacola, 7up… nhưng với nước trong, chúng ta uống mãi cả đời.
Những loại nước ngọt thì hấp dẫn thật, cuốn hút lắm, nhưng mau chán ngán. Những người giao lưu bình thường, những người bạn không chân chính cũng vậy, có thể lời nói và việc làm của họ rất bay bổng, thu hút, hứa hẹn, ngọt ngào, nhưng chơi lâu rất có thể nguy hại đến bản thân ta. Những người bạn chân thành, có phẩm chất, lịch sự, có nhân cách, có chí hướng, đôi khi ta thấy cách sống bề ngoài của họ rất nhạt nhẽo, y như nước lọc, vậy mà chơi hoài, nói chuyện hoài, đi qua với nhau bao nhiêu cảnh sống cũng không thấy chán, kỳ lạ và mầu nhiệm như vậy đó. Những người bạn hiền, vì thế mà mãi mãi hát ca điệp khúc: “Chúng mình còn đây hôm nay và ngày mai nữa. Đến đây, khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong” (thơ TS. Nhất Hạnh)
Mà không phải người tu mới cần bạn. Mọi người sống giữa đời đều rất cần có bạn. Bạn thì không có giới hạn đời hay đạo. Bạn đạo hay bạn đời đều là những người bạn phải có khả năng đi tới chỗ hay đẹp, sánh vai bước qua những chông gai của cuộc sống. Không có bạn thì ắt hẳn là buồn, nhưng có bạn như thế nào, lại là chuyện quan trọng hơn. Trịnh Công Sơn từng cảm nhận rất sấu sắc: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta một sự thoải mái thảnh thơi tựa hồ như niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện gắng gượng, nhạt nhẽo” (Huyên náo và tĩnh lặng). “May thay trong cuộc đời vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa” (Vết thương tỉnh thức)
Nói dong dài cũng chỉ để nói, bạn phải là người có thể giúp nhau tiến bộ trong sự tu học, để trên con đường dài ấy bước chân sẽ đỡ mỏi. Bạn là người có thể giúp ta phân tích rõ những mặt tích cực lẫn tiêu cực trong ta, thẳng thắn, chân thành, rất thật. Bạn phải là người có phẩm chất tu.
Và người bạn ấy, có thể đã mất cách ta một trăm năm, hai ngàn năm mà ta chỉ gặp qua sách vở. Người bạn ấy có thể lớn hơn ta vài mươi tuổi, cùng trang lứa, hay nhỏ hơn ta mười, hai mươi, ba mươi tuổi. Người bạn ấy được gọi là Thiện hữu, Bạn hiền…
Đồi Trị Liệu, 07.11. 2013

Hạnh phúc là khi…
“Nếu nỗi buồn là tài sản thì em là người giàu nhất thế giới này chị ạ!”
Lá thư em gửi cho tôi chỉ vỏn vẹn một câu và được viết bằng nét chữ nhỏ nhắn, tròn trịa của một người rất trẻ. Tôi biết, thời đại này chỉ cần nhấc điện thoại hay internet… gõ gõ và nhấn enter thì dòng chữ ấy sẽ được gửi mà không cần phải mất công ngồi viết và chờ khoảng một tuần sau người ta mới nhận được lá thư của mình. Thế nhưng em vẫn làm việc ấy tự nhiên như là một thói quen. Tôi biết bức thư này không chỉ đơn giản là sự “trao và nhận” thông thường mà là một cuộc hóa giải nỗi lòng cho chính bản thân em. Nghĩa là viết cho tôi và cho cả em nữa.
Này em! Tôi đang nghĩ về em, cảm nhận nỗi buồn đang dâng lên trong em. Tôi chợt nhớ một đoạn thơ mà một người bạn đã đọc cho tôi nghe trong buổi thảo luận về cảm xúc lòng người…
“Có những ngày hồn mình quá đỗi chông chênh
Thả rơi nỗi buồn trên từng con chữ
Đứng giữa mất – còn, buông hay níu giữ
Mới thấy chạnh lòng mà thèm khát những phút bình yên”
Tôi không biết chuyện gì xảy ra khiến cuộc sống em buồn như thế. Tôi khuyên em hãy đặt nỗi buồn xuống, nhận diện và ôm ấp chúng. Phải thương lấy nỗi buồn thì mới hóa giải được chúng. Em phải ngồi thật yên, chuyện trò với nỗi buồn, lúc đó ta mới nhận ra rằng nỗi buồn không phải đến từ bên ngoài, không phải do bất kỳ ai mang đến mà xuất phát từ chính bản thân mình. Chỉ vì trong tâm ta còn ấp ủ nhiều hạt giống giận hờn, ganh ghét, ích kỷ… mà thôi. Nếu những hạt giống ấy được ta gom góp lại, nâng niu, cất giữ cẩn trọng bằng chánh niệm thì khổ đau sẽ không có mặt và trái tim nhỏ bé của em sẽ được tưới tẩm những hạt giống thương yêu.
Sáng nay, khi tôi thức dậy, cảm giác đầu tiên là thấy mình còn thở nhẹ nhàng, đang hít thở không khí trong lành của buổi sáng tinh khôi. Một cảm giác an bình lan tỏa nơi căn phòng nhỏ bé này. Đặt chân xuống giường cùng với những thói quen hằng ngày, tôi đến mở cửa và nhìn ra bên ngoài, thấy mọi thứ vẫn còn chìm trong tĩnh mịch.
Sự yên tĩnh của cảnh vật và cảm giác an bình trong tâm ùa về và hòa quyện lẫn nhau. Bỗng nhiên tôi biết ơn cuộc sống này biết bao. Nó đã đưa tôi đến đây, được sống giữa bao tình thương của Thầy, Tổ, huynh đệ và tình pháp lữ thân thương. Nó giúp tôi nhận ra hạnh phúc và khổ đau không phải là mặt đối lập của cuộc sống mà là sự hòa quyện lẫn nhau – “Phiền não tức bồ đề”.
Tôi khoác thêm chiếc áo bước ra ngoài, không gian càng trở nên yên tĩnh. Những hạt mưa cuối hạ lất phất rơi nhẹ bên thềm. Tôi tiến về Quan Âm Các, nơi Ngài vẫn đứng uy nghiêm, kính cẩn đặt bút sen dưới chân Ngài và ngồi thật yên. Tôi thấy trân quý những phút giây mà mình đang có mặt nơi đây.
Tôi muốn nói với em rằng hạnh phúc ở cuộc đời này đơn giản lắm, không cần phải tìm kiếm đâu xa, nó ở ngay bên cạnh mình, trong những việc làm bình dị hàng ngày của em thôi. Em hãy buông xuống hết đi, em sẽ thấy hạnh phúc và khổ đau luôn song hành và tồn tại trong vòng sinh diệt của vạn pháp. Vì thế em hãy học cách chấp nhận khổ đau mới có thể chuyển hóa “rác thành hoa” được.
Cảm ơn những dòng thư ngắn ngủi ấy, cảm ơn em đã sẻ chia và đã giúp tôi trở về với phút giây hạnh phúc, bình yên ở chính mình. Hạnh phúc là khi mình biết ôm ấp khổ đau và trân quý những niềm vui đang hiện hữu phải không em!!!….
Bước chân không biết thở
Có thiếu đi một phần nào thân thể của mình mới biết thượng đế kỳ diệu, sinh con người, lại ban tặng đầy đủ các cơ quan cần thiết, hữu dụng trong mọi trường hợp. Đôi khi vì cuộc sống, vì mưu sinh tất bật mà chúng ta quên chăm sóc chính ta, lơ đãng với phần tinh thần, không biết chính cái phần ấy đã điều khiển mọi sinh hoạt sinh lý hằng ngày trên cơ thể ta.
Từ ngày đến với Phật Pháp, thọ ngũ giới và sinh hoạt với tăng thân xóm Dừa (Nam California), tôi như được dọn sang căn nhà mới. Căn nhà có những cánh cửa kính thông suốt, tôi có thể nhìn ra khắp bốn phương bằng những bước chân thiền học. Những buổi sáng để tâm bình yên theo nhịp thở. Tiếng chim hót líu lo bên muôn ngàn tiếng động ngoài kia không làm tôi bận rộn. Những ngày hè, nắng rực, tập cười trong thảnh thơi, tôi thấy mình như đứa bé không nghĩ ngợi, đắn đo, lo lắng, tâm trắng như tờ giấy. Bất chợt tôi ngây thơ, vô tội, hiền hòa.
Tôi được học cười, thở, bước, đi, trở về trong an lạc. Trong căn nhà thương yêu ấy, lúc nào cũng rộn vang tiếng cười nói ân cần, lời chia sẻ những kinh nghiệm tu tập quý báu. Tôi yêu nhất là giờ pháp thoại. Có mỗi bài học Chánh Niệm, tôi học hoài mà thực tập vẫn không thông. Thở ra, thở vào dễ thế mà đôi lúc trong cơn giận dữ tôi quên thở, để tạp niệm lấn chiếm tâm hồn. Học bước vững chãi mà lúc lái xe thì không chú tâm lái xe, đầu óc ở đâu đâu. Mê đọc sách như một quán tính, đến nỗi vừa đi vừa đọc, ít chú tâm vào bước mình đi, quên phắt thiền hành. Và thế là bước chân thiếu chánh niệm xảy ra.
Ngày đó đến, 22 tháng 4, tôi té vì chân bước hụt một bậc cửa phía sau nhà khi mắt mải đậu trên cửa gara. Cú ngã khá nặng, tuy không gãy xương nhưng quẹo mắt cá chân, khiến tôi không thể đứng dậy sau 20 phút. Chỉ nội trong vài tiếng đồng hồ bàn chân tôi đã sưng vù, chân trái tôi trở nên bất khiển dụng. Tôi chỉ còn biết nằm một chỗ đắp đá, đặt chân lên cao cho máu bớt dồn xuống, cho bớt sưng. Lần đầu tiên trong đời phải dùng nạng đi lại, thật khó khăn và bất tiện biết bao nhiêu. Khi ấy, mắt nhìn, đầu nghĩ, muốn lấy cái này, làm cái kia mà bất lực, mới biết bất cứ cái gì trên người mình cũng cần. Tôi không còn đổ thừa cho điềm xui mà tự trách mình thiếu thực tập chánh niệm. Lời Sư Ông còn vang vất đâu đó: “Bước vững chãi, đi trong chánh niệm”, làm tôi xấu hổ. Ngay đến nghĩa đen của sự bước, tôi còn chưa vững chãi nói gì đến nghĩa bóng.
Ngày đó, 22 tháng 4, ngày của Mẹ Đất, ngày chân tôi đặt lên Đất Mẹ một cách lơ là nên hụt hẫng. Cũng là ngày quốc tế dành cho trái đất (Earth Day), ngày được dùng để truyền cảm hứng cho nhận thức và đánh giá cao môi trường tự nhiên của Đất Mẹ. Ngày mà nhân loại tạm gác lại những công việc hàng ngày, những lo lắng, buồn phiền để suy nghĩ và hành động cho thế giới tự nhiên mà chúng ta đang sống. Ngày mùa đông vừa chấm dứt chuyển sang xuân, cây cối nẩy chồi ra lá mới, ngày mọi người thường tổ chức các hoạt động nhằm mục đích bảo vệ môi trường hoặc tổ chức trồng cây xanh, thu gom rác thải sao cho môi trường sống xanh, sạch, đẹp.
Thật xấu hổ cho tôi, Mẹ Đất cho tôi một chỗ đặt chân bình an đến thế mà tôi cũng không đặt cho đúng chỗ. Bài Sám Pháp Địa Xúc tôi đọc mỗi lần họp mặt, đọc đó mà như không. Thiêng liêng là vậy, đẹp đẽ là vậy mà mỗi lần lạy xuống, tiếp xúc với Đất để tiếp nhận năng lượng vững chãi và vô úy của Đất mà như không. Thiêng liêng là vậy, đẹp đẽ là vậy, mỗi lần lạy xuống, tiếp xúc với Đất để tiếp nhận năng lượng vững chãi và vô úy của Đất. Đất ôm lấy mình và giúp chuyển hóa vô minh, khổ đau và tuyệt vọng, thế mà tôi như không học. Sư Ông đã dạy: “Thở đi con”, “Tập thở vào, ý thức về cơ thể mình và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng mình là Trái Đất, và tâm thức mình cũng là tâm thức của Trái Đất”.
Có lẽ từ hôm nay, sau lần bước hụt tôi phải tập đi, bước những bước chân vững chãi trong chánh niệm, những bước chân biết thở.
Chốn ấy có nụ cười

Mỗi khi nghĩ tới, nhắc đến, ghé thăm chốn ấy, lòng tôi lại ấm lên, nhẹ nhàng và thanh thản hơn.
Nghĩ tới, làm tôi thấy trước mặt mình hiển hiện lần lượt những nụ cười an nhiên nở trong giờ sinh hoạt, trong giờ hát ca, giờ thiền hành.
Nhắc đến, tôi nghe gió núi lướt nhẹ qua vầng trán, mây trắng giăng giăng trên đầu và mùi sage dại thơm phảng phất lan vào không gian những bụi dứa gai nơi chân núi.
Ghé thăm, tôi thêm được năng lực để bước những bước vững chãi trên đời sống mình mà trước kia tôi từng nghĩ mình sẽ bỏ cuộc.
Chốn ấy là một nơi rất quen thuộc, nhưng mỗi lần ghé tôi lại phát giác ra nó mới. Mới trong một vẻ đẹp xưa của một tàng cổ thụ. Lạ ở nét cứng cỏi, dũng cảm của những khối đá núi. Thú vị trong vẻ nhu mì óng ả của con suối băng ngang. Tôi cũng có thể gặp gỡ nhiều người tốt và xấu nhưng đều mang những ưu và khuyết điểm như nhau. Nơi đó, tôi không thấy sự lạc lõng bơ vơ. Nơi ngồi xuống, tôi thấy an tâm và dễ chịu. Nơi đứng lên, tôi có thể tiếp nhận lời khen bằng lòng thanh thản, nhẹ nhàng mà cái ngã thôi lơ lửng ở trên mây. Nghe tiếng chê, tôi có thể mỉm một nụ cười dịu nhẹ, không lao xao, không phản ứng. Tôi được học những phương pháp đánh gục sự sợ hãi, tôi được yêu thương để đem thương yêu mình san sẻ với mọi người. Tôi tập tin tưởng để xóa đi nghi ngại bấy lâu dẫy đầy thành tường, thành vách, nơi van tim. Tôi cảm, tôi thương, tôi hòa mình, tôi đem hồn mình dựa nương êm ả vào chốn ấy.
Chốn ấy là một tụ điểm hòa tan, không phân biệt ngôn ngữ, giới tính, màu da. Những ngày mùa đông, có các khuôn mặt rám nắng trên màu da vàng xếp nếp dấu chân chim ở đuôi mắt lặng ngắm vầng thái dương lên. Những buổi mùa thu, những mái tóc vàng, vầng trán phẳng da trắng rực rỡ trong nét mũi cao thong thả chạy bộ lên xuống vài con dốc mỏi. Những đêm mùa hạ, giọng hát chơi vơi của nhiều ngôn ngữ nghe xôn xao trong gió và làn lửa ấm bừng sáng trong khu cắm trại. Những trưa mùa xuân, tiếng cười trẻ thơ nô đùa tíu tít trong manh áo mới, phong bao đỏ, và các miếng mứt ngọt ngào. Và cả bốn mùa vạn vật chan hòa âm ba từ ái của tiếng đại hồng chung.
Chốn ấy có những con đường và những khoảng lặng.
Những con đường mà các chiếc nón lá xinh xắn đơm chữ “thở”, mang tín hiệu của một nụ cười mỉm đi lững thững hành thiền trong im ắng buổi ban mai hồng. Nó có nhiều màu áo nâu thanh thản với cánh tay rộng mở, với ánh mắt long lanh sáng. Nó mang nhiều tiếng tim đập nhịp nhàng trong hiện tại, trong bình an. Nó không có hoa hồng, hoa tu-líp, hoa cẩm chướng rực rỡ nhưng thoảng man mác hương hoa tím, hoa sage, hoa cúc nở.
Và những khoảng lặng, không tranh đua, phê phán, tị hiềm được gói ghém trong những tấm khăn vuông, manh áo ấm đơn sơ, đôi dép nhựa bình dị, đôi guốc mộc thanh thoát. Những khoảng lặng không hoang mang, thao thức, ồn ã, tối ám, mờ mịt của vô minh. Chốn đó sự sống có mặt và ý nghĩa hơn bao giờ hết.
Chị ơi, ngày mai đi cùng em, chúng ta cùng đến chốn ấy nhé!
Cảm ơn những bàn tay
Đã từ lâu con muốn gửi đến những bàn tay lời cảm ơn nhưng sao nói chẳng nên lời. Chính vì thế nên con xin phép được viết ra đây. Làm như vầy thấy dễ hơn rất nhiều.
Cám ơn những bàn tay hằng ngày đã nấu ăn ngon để đại chúng có được những bữa cơm ngon miệng, với nhiều niềm vui.
Cảm ơn những bàn tay hằng ngày đã chăm sóc bàn Bụt, thiền đường mỗi ngày để thiền đường luôn sạch mát, trang nghiêm.
Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày dọn dẹp để cửa nhà luôn sạch đẹp.
Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày lau chùi nhà vệ sinh để nhà vệ sinh luôn sạch sẽ, để ai vô thăm nhà vệ sinh cũng phát khởi niềm an vui. Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày tưới cây, làm đất cho hoa thêm thắm, cho rác thành hoa. Cảm ơn những bàn tay đã làm vườn rất siêng năng để đại chúng có rau xanh sạch để ăn.
Cảm ơn những bàn tay đã siêng năng quét những con đường trong nhà, ngoài ngõ, để ai bước chân qua cũng thấy hạnh phúc lâng lâng. Những con đường ấy là con đường chung và những đôi bàn tay ấy đã cầm chổi quét mỗi ngày.
Con muốn viết thật nhiều, nhiều nữa nhưng viết sao cho hết. Con chỉ muốn gửi tới tất cả mọi người lời cảm ơn sâu sắc nhất vì ai cũng có bàn tay đẹp. Bàn tay ấy đã không ngại ngùng khi phải làm việc, dù đó là nấu ăn, rửa nồi, đổ rác hay chùi nhà vệ sinh…
Con thực sự xúc động và kính phục khi thấy sư em, với đôi tay nhỏ bé của mình nhưng ngày nào cũng qua phòng để hơ ngải cứu, bấm huyện giúp sư cô cùng phòng với con. Con cùng phòng với sư cô mà chẳng giúp được gì. Con cảm động chảy nước mắt khi bị bệnh mà được ăn tô cháo giàu dinh dưỡng do sư chị, sư em mình nấu. Sống trong chùa, xa bố mẹ, anh chị em ruột thịt nhưng con đã có thật nhiều anh chị em huynh đệ – những người cùng lý tưởng, nguyện cùng nhau đi chung một con đường.
Ngày xưa, khi học tiểu học, môn học đạo đức đã giúp con sống đẹp hơn. Con nhớ một bài học mà trong đó có câu như thế này: Một bàn tay đẹp không phải là một bàn tay với những ngón tay búp măng, tô đỏ mà bàn tay ấy đẹp ở chỗ chẳng ngại làm việc gì (con nhớ không được chính xác cho lắm). Trong tăng thân con thấy rất nhiều bàn tay như thế. Những bàn tay đã làm việc hết lòng, rất giỏi để xây dựng tăng thân. Những bàn tay đã hằng ngày mang lại niềm vui và hạnh phúc cho đại chúng. Con không biết nói như thế nào để diễn đạt cho hết lòng biết ơn của con đối với những đôi bàn tay. Chỉ biết rằng khi thấy mọi người làm việc thì trong con lại hiện lên câu nói: Cảm ơn những bàn tay!

