Vẽ một chữ Tâm giữa trời (Thư gởi chị – phần 2)

Tác giả: Áo Trắng

Vốn liếng tu học

chutamgiuatroi1.jpg Những ngày tại thủ đô, em đã đánh rơi mất quyển sổ tay của mình. Đó là một vật phẩm mà em luôn nâng niu gìn giữ. Nhưng em cũng không hề tiếc chi cả! Vì em có được một thứ còn quý giá gấp ngàn lần hơn, đó là những người bạn. Em muốn tri ân tất cả. Em xin lưu giữ biết bao những ân tình của Về Nguồn. Bát cơm lạc vừng hay chung trà nóng thơm của các anh chị có thể vẫn còn đang vương vấn nơi kẻ răng đầu lưỡi em. Khi gặp một người bạn có chung một truyền thống tâm linh thì ta thấy thanh thản và nhẹ lòng lắm. Ai cũng đều công nhận điều đó với em hết, chị à. Hai người không hề quen biết nhau. Nhưng chỉ cần gặp nhau trong khoá tu. Chỉ cần biết là có sinh hoạt trong tăng thân thì mọi bức tường vách ngăn vỡ đổ. Mọi hàng rào vật chắn được dỡ bỏ. Em đến với tăng thân. Tăng thân đến với em. Chân thật và vui sướng.

Em muốn viết thật nhiều về Khoá Tu Mùa Thu. Em muốn kể cho chị nghe nhiều lắm. Nhưng em thấy khó khăn vô cùng. Nhiều kỉ niệm đẹp và lành quá mà ngôn từ ta có khi không thể diễn bày, tỏ tường được. Thôi thì em xin giữ cho riêng em. Đó sẽ là vốn liếng của em trên con đường tu học.

Nói về chuyện tu học, em muốn kể cho chị về quyển sổ tay đã thất lạc của mình. Chị có muốn khám phá nó hay không?

Sổ tay của em đó không phải là nhật ký đâu chị. Vì nhật ký thì mình phải ghi lại hết tất cả những giận hờn, buồn vui. Nhưng sổ tay thì khác. Mình có một cách thức ghi chép khác. Em chỉ biên vào đó những kế hoạch, dự định và những điều tích cực thôi. Em rất hạn chế lưu trên trang giấy những gì mang tính tiêu cực, khổ đau, sầu vướng.

Ví như hôm nay em dậy sớm. Khi dùng bữa thì em thấy mình ăn chậm và nhai kỹ. Em đi học hay tham dự một công việc nào đó đúng giờ… thì em sẽ ghi vào:

Thành công của tôi hôm nay là:

– dậy sớm,

– Ăn chậm,

– Nhai kỹ.

– Đúng giờ giấc.

Kết luận: Tôi vẫn đang làm chủ được thời gian và công việc.

Đây không phải là sự tự kỷ ám thị. Đây là sự chọn lọc những thức ăn cho tâm thức của mình. Hơn một năm nay, em đã bắt đầu như vậy. Tất cả những lời hay, ý đẹp em đều cho vào trong trang giấy thơm của mình. Mỗi ngày em đều tích cóp vào đó một chút. Cuốn sổ tay bé nhỏ như một quyển sổ tiết kiệm, không khác gì một vật báu.

Nghe có vẻ trẻ con phải không chị? Nhưng đây không phải là trò chơi tuổi thơ. Em biết là hiện tại đang có nhiều người làm giống như em lắm.

Em được dạy là mỗi một lời nói, hành động hay suy nghĩ của mình dù nhỏ hay lớn đều để lại một dấu ấn trong tâm. Giống như là khi mình đạp lên cỏ hoang vậy. Ngày qua tháng lại, dấu chân mình sẽ tạo nên con đường đi. Những điều thiện, điều lành, cái hay, cái đẹp trong khi nói, khi làm, khi tư duy em đều lưu giữ lại. Đôi khi em viết bằng tay phải. Có khi em viết bằng tay trái. Viết tay trái, tay không thuận sẽ gặp một ít khó khăn. Nhưng khi viết như thế thì ta tập trung hơn. Những dấu ấn có điều kiện khắc sâu vào tâm thức mình hơn. Cũng có lúc em dùng màu sắc để minh hoạ. Em làm đủ cách để cuốn sổ nhỏ mình trở nên thú vị, đáng yêu. Và em phát hiện là cuộc sống mình có thêm nhiều phúc lạc. Em đang tạo tác, góp nhặt một chút cát đá cho con đường của ý thức mình. Em đang dựng xây những viên gạch an lành đầu tiên cho nẻo về tâm thức.

 

Quản lý Nghiệp

chutamgiutroi3.jpg Khoa học bây giờ người ta bắt đầu sử dụng nhiều danh từ Karmic Management đó chị! Thuật ngữ “Quản lý Nghiệp” đã bắt đầu xuất hiện trong những chương trình đào tạo nâng cao hay trong các buổi học dành cho những doanh nghiệp lớn. Ngoài đời giờ đây người ta dùng nhiều từ hay lắm. “Định hình tư duy triệu phú”. “Tư duy lại tương lai”. “Pháp sư tạo mưa tiền”… “Quản lý Nghiệp” là một trong số đó. Nghiệp ở đây không phải là nghề nghiệp, một công ăn chuyện làm mà là một danh từ Phật học. Nghiệp bao gồm những lời nói, hành động và suy nghĩ của mình. Các nhà tâm lý học bây giờ đã thấy một sự thật rằng: Suy nghĩ tạo ra cảm xúc. Cảm xúc tạo ra những hành động. Hành động đưa tới những thói quen. Và thói quen hình thành nên kết quả. Và người ta đang cố gắng học hỏi cách thức tư duy của những thiên tài. Họ chuyển nó thành những mô hình, công thức rồi áp dụng chúng cho số đông quần chúng .

Nghe thật hay phải không chị! Khoa Quản Trị Kinh Doanh đã tiến đến việc quản trị cả Nghiệp. Có cả một quyển sách bán rất chạy về về đề tài này. Đã có nhiều những buổi hội thảo, những khoá học định hình tư duy. Và tất nhiên, những hoạt động như vậy không hề mang một màu sắc của một tôn giáo nào. Số lượng người tham gia vào những chương trình như vậy rất đông đảo. Ai ai cũng cảm thấy thoả mãn. Học viên có cảm giác là mình đang tìm được một cách thức quản lý cuộc đời mình. Họ cảm thấy mình có chủ quyền hơn, có tự do hơn. Và họ khởi đầu việc Quản Lý Nghiệp bằng việc viết cho mình một quyển sổ tay tâm linh, vẽ cho mình một bản đồ tư duy.

Những người đó đâu có khác gì chị em mình, phải không chị? Chúng ta đang làm một việc giống nhau. Thiết lập cho riêng mình một con đường, một nẻo về của ý. Nhìn vào xu hướng đó, chị em ta có thể nói với nhau: Đạo Bụt đã đi vào cuộc đời. Đạo Bụt đang đi vào cuộc đời. Nhưng đó cũng chỉ là một cách nói mà thôi phải không chị?  Vì Đạo vốn đã nằm sâu trong Đời. Đạo Bụt từ hằng nghìn năm nay đã trầm tích trong nền văn minh lúa nước sông Hồng. Và công trình để cho những báu châu, những viên ngọc quý có thể lộ thiêng giữa chốn nhân gian vẫn còn đang dang dở, vẫn còn đang đợi chờ những bàn tay khai phá. Mẹ Tổ quốc vẫn ngày đêm trông ngóng đôi bàn chân của những đứa con- những em bé thơ mang trong lòng mặc cảm nghèo hèn thấp kém, những người con trai con gái khờ dại đã nhận giặc làm cha, quên đi tình anh em ruột thịt – trở về, tiếp nhận gia tài…

 

Ai là Phật tử?

Em thường được nghe câu hỏi: “Anh có phải là Phật tử không?”. Và có khi em phải nhìn kỹ người đối diện để trả lời không hoặc có. Nhưng chị biết không, em nghĩ rằng sự im lặng chính là sự xác nhận hay nhất. Và chúng ta cũng không nhất thiết phải hỏi nhau một câu như vậy.

Mảnh đất mà em đang sống, đang ăn, đang thở là Giao Chỉ. Cái nôi của văn hoá Việt và cũng là một trong ba cội nguồn của Phật Giáo thế giới. Sự thật là đạo Bụt đã hình thành và phát triển song hành cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Những giáo lý của Đức Thế Tôn đã trở thành một thực thể sống động thấm tan, hoà quyện vào phong tục, tập quán của người dân nước Nam. Đâu chỉ dừng lại ở đó, ông cha ta đã khéo léo sử dụng nguồn tuệ giác của Bi-Trí-Dũng để bảo vệ một dãy giang sơn mỹ lệ, đắp xây một nền đạo đức thuần từ. Lịch sử cho ta thấy rõ ràng những điều ấy. Nhưng vì những khổ đau, vì chiến tranh, vì sự rẽ chia của lòng người, vì những hờn ganh bé nhỏ, chúng ta đã đánh rơi thanh gươm báu. Chúng ta đã bỏ đi tấm bản đồ chỉ đường. Và ta trở nên lạc lối, yếu ớt. Ta mặc tình cho bóng đêm sai sử. Ta thuận lòng cho dòng đời đẩy xô…

Chị thương mến! Em nói ra tất cả những điều này không phải với tư cách một tín đồ hay một người con Phật. Em viết trong hình tướng của một học trò, viết với tâm thế của một người đi tìm. Tìm lại hình bóng quê cha đất Tổ.

Nhìn sâu vào Tam Tạng Kinh Điển, ta thấy rằng Đạo Bụt đâu thật sự sở hữu một chân lý hay sự thực nào. Chân lý hay sự thật thuộc về mọi người. Và ai cũng có thể giang tay cầm nắm. Ai cũng có thể gọi tên thực tại bằng ngôn ngữ, bằng cách hiểu của riêng họ. Nhưng em thấy mình thật may mắn, chị à. Vì em đã tìm được ở người xuất sĩ tĩnh lặng của dòng họ Thích Ca những cách thức cụ thể để xây dựng lại ngôi nhà thân tâm. Người Sa môn ấy đã chỉ cho em  một con đường sáng rõ để tìm về suối nguồn tâm linh Văn Lang Âu Lạc.

Phần lớn chúng ta đều có thể khẳng định Đạo Bụt rất cao siêu mầu nhiệm. Vâng, chị em mình có thể đồng ý hoàn toàn với sự thật đó. Nhưng Đạo Bụt cũng có những phương cách rất thực tiễn để có thể thực tập, ứng dụng vào đời sống. Đạo Bụt cũng là một ngành khoa học về tâm. Một ngành khoa học không phải chỉ để nghiên cứu mà còn có thể thực nghiệm. Nếu như ai cũng biết những điều này, nếu như ai cũng được trao truyền như chị em mình thì em nghĩ  rằng mọi người sẽ tiết kiệm được nhiều công sức, thời gian và tiền bạc lắm.

Chị biết không, những khoá học về tư duy lên đến cả ngàn mỹ kim. Và học viên nhiều khi phải sang Singapore, Thái Lan, Malaysia và có ghi sang cả Mỹ mới học được. Em đã nhìn thấy một khuynh hướng giáo dục đắt đỏ như vậy đó, chị à. Thật là lạ, phải không chị của em! Những người phương Đông đang chạy sang phương Tây để học, để tìm kiếm một thứ mà chính mình đang nắm giữ trong kho tàng văn hoá dân tộc. Nó có ngay trong truyền thống tâm linh mình chứ đâu. Bản đồ tư duy – The mind map, Tư duy triệu phú – The Millionaire Mind, tất cả những tinh hoa đó đều có thể tìm thấy trong kho tàng Duy Thức Học. Và nếu có sự thực hành về Duy Thức Học một cách có hệ thống và khoa học thì em nghĩ là những người thực tập đặc biệt là các bạn trẻ sẽ có khả năng đi sâu, đi xa và đặt những bước chân vững chãi hơn rất nhiều. Vì ta sẽ chạm tới những phần gốc rễ, ta không chỉ bàn về những thứ hoa lá cành. Ta tiếp xúc đến tận cùng của bản thể, của tàng thức.

Cho nên em tiếc lắm chị à. Những người trẻ họ vẫn đang đi trên một con đường vòng rồi cuối cùng có thể họ sẽ nhận ra mình đang quay về lại nơi chốn cũ. Đó không phải là lỗi của họ. Đó là lỗi của chúng ta. Là lỗi của tất cả….

Nhưng may mắn thay, đâu chỉ có những tiếc nuối, lỡ lầm. Cuộc đời vẫn còn có những tin vui.

 

Thiền và ngoại ngữ

thienhanhyeuchi.jpg Chị của em, gần trường Đại Học Sân Khấu ở đường Mai Dịch có một lớp học rất đặc biệt. Vào các sáng chủ nhật hằng tuần, trên căn phòng 403 khu A17, chung cư Đồng Xa thầy Lê Khánh Bằng vẫn thường xuyên tổ chức những khoá học về tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung…. Gần mười năm nay, rất nhiều người đủ mọi thành phần tuổi tác đã đến với ngôi nhà bé nhỏ này. Vị thầy ấy có gì hay mà đã thu hút đông đảo học viên như vậy? Bí mật là phương pháp giảng dạy. Người Chủ nhiệm bộ môn Lý Luận dạy học (Khoa tâm lý giáo dục Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội) đã có một cách thức độc đáo: Dạy ngoại ngữ kết hợp với phương pháp thở. Trước mỗi buổi học, học viên được yêu cầu phải ngồi thật tĩnh lặng.

 

Thở vào – ý thức hơi thở vào.
Thở ra – ý thức hơi thở ra.

Thở vào – tôi thấy bụng tôi phồng lên
Thở ra – tôi thấy bụng tôi đang xẹp xuống.

Giáo án của ông áp dụng đã tạo ra những kết quả hết sức khả quan. Nhiều người cho biết là họ chưa từng thấy một cách học ngoại ngữ nào chỉ trong một thời gian ngắn mà lại có hiệu quả cao như vậy. Một nhà văn đã nói được rành rọt tiếng Pháp chỉ trong vòng vài tháng. Một cô sinh viên đã thông thạo tiếng Anh để đi du học. Một công chức vượt qua được sự sợ hãi khi học thêm một ngôn ngữ mới. Và rất nhiều những trường hợp thành công khác… Phương pháp của giáo sư Lê Khánh Bằng là một sự kết hợp giữa những kinh nghiệm cá nhân của một người có thể nói được sáu thứ tiếng và những cách thức giáo dục tiên tiến trên thế giới như kỹ năng đọc nhanh, đọc chụp, lập bản đồ tư duy…Bên cạnh việc luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc thiết lập một vùng ngoại ngữ trong vỏ não của người học, ông luôn khuyến khích học trò nghiên cứu kỹ các tài liệu về Thiền trên trang mạng Thư Viện Hoa Sen. Và ông còn khuyến khích mọi người không nên chỉ ngồi thiền mà hãy đem thiền tập áp dụng vào những công tác hằng ngày. Và để minh chứng cho điều này, giáo sư Bằng có đề nghị mọi người đọc thêm tác phẩm Thiền Hành Yếu Chỉ của tác giả Nhất Hạnh…

Khi nghe được một tin tức như vậy, thì thật là vui phải không chị. Mình thấy một sự giao thoa, một sự gặp gỡ và đối thoại giữa hai thế giới. Một người sử dụng phương pháp điều phục hơi thở vốn được hình thành và khai triển tại Ấn Độ – một xứ xở ở miền Nam – để có thể đọc hiểu một thứ tiếng của phương Bắc. Ta dùng một thanh kiếm đã được rèn đúc ở đất Á để có thể khám phá thực tại ở trời Âu. Đông và Tây đã có thể liên lạc được với nhau. Ngôn ngữ là một con đường hữu hiệu để cho ta có thể đi sâu vào một nền văn hoá. Và khi hàng rào ngôn ngữ đã được gỡ bỏ thì cũng là lúc bao nhiêu hiểu lầm được hoá giải, vô vàn những thành kiến phải vỡ tan…

Em đã được gặp thầy Lê Khánh Bằng. Giáo sư đã đề tặng em cuốn sách của thầy. Cuốn sách hướng dẫn thiền trong việc học ngoại ngữ. Thầy có nói với em một câu rằng: Nếu con hiểu được và áp dụng phương pháp học này thành công thì con nên giới thiệu nó cho nhiều người khác.

Lời nhắn gửi ấy như một tiếng chuông lay động. Em bắt đầu tự vấn: Nếu ai cũng có thể biết kỹ năng vẽ bản đồ tư duy, thực hành nhuần nhuyễn Kinh An Ban Thủ Ý thì nhân loại sẽ như thế nào? Hành tinh xanh của chúng ta phải chăng sẽ có thêm những chàng trai cô gái như Siddhartha như Albert Einstein như Teresa như Marie Curie?  Chị ơi, đó chẳng phải là điều tuyệt vời nhất hay sao? Em muốn loan báo, truyền đi Tin Lành này….

Trưa hôm nay, em về lại góc phố thân quen. Mặt trời đã đứng bóng và phía dưới con đường vẫn còn là những cơn gió bụi. Nhưng trái tim em đã trở nên dịu ngọt, trong mát tự bao giờ. Mùa thu đang đi những bước khẽ khàng vào lòng em. Và không biết từ lúc nào trên những lối đi ngã rẽ khu vườn tâm thức, bao nhiêu hoa lá đã rụng rơi… khuất lấp…đầy tràn…..

 

Những điều em ước mơ… (Thư gởi chị – Phần 1)

 

Chị của em!

Có một người nhạc sĩ đã nói rằng hạnh phúc của ông là khi chiều tới được đi trên con đường xanh mát. Trên từng km quay về tổ ấm, lòng ông ngập tràn mừng vui. Ông an lòng vì biết rằng trong ngôi nhà nhỏ thân yêu có một bóng hình quen thuộc đang đợi chờ mình bên cạnh mâm cơm nóng ấm. Chỉ chừng đó thôi! Chỉ bấy nhiêu thôi mà ông được nuôi dưỡng suốt một đời. Hạnh phúc là con đường về nhà. Em thích cách định nghĩa như vậy lắm. Em bằng lòng với cái thấy đó lắm.

“Ở nhà, chị vẫn chờ tin em.”

Chị biết không, em rất sung sướng được nghe câu nói đó. Hạnh phúc của em cũng có thể gói gọn trong một câu nói ấy thôi.

Ngày đầu tiên gặp nhau, chị khẽ bảo:

“Đi cùng chị, em nhé!”

Em mỉm cười không đáp. Nào ngờ đâu đó cũng là thời khắc bắt đầu cho mùa lũ về bão lên. Đất trời đã làm nên những cơn giông tố để rồi chị em mình phải nghìn trùng ly biệt. Em phải xa chị. Chị phải xa em. Không! Không! Không đâu, chị của em, ông trời chỉ là một ước lệ! Đó chỉ là tạo phẩm của Nguyễn Bính, của tất cả chúng ta. Mình vẫn có trong nhau. Em tin như vậy. Bằng cớ là chiếc thuyền giấy bé nhỏ này đã được cẩn thận xếp gấp. Tâm hồn em sẽ nương theo trang trắng mực đen này. Không cơn mưa nào đủ sức xoá nhòa những dòng chữ của em và chị. Không dòng sông nào có thể ngăn chia cách trở chị em mình.

Hà Nội, 09-2010

Áo Trắng

Thương gửi chị cùng tăng thân Về Nguồn

 

Autumn Retreat: Hạnh phúc là con đường

thuvang.jpgChị thương mến! Tháng 9 là tháng của mùa thu. Một người bạn Tây Phương có nói với em rằng: Bây giờ là thời điểm đẹp nhất trong năm ở Hà Nội. Ra đất Bắc lần này, em không nghĩ là sẽ được tham gia một hoạt động tâm linh nào hết. Nhưng thật bất ngờ khi em được thông báo là sẽ là có khoá tu ở chùa Đình Quán. Và như thế là em lại được dịp có thêm những ngày vui và những giây phút để soi rọi con đường tu học của mình. Ta có thể gọi đây là khoá tu mùa thu hay không nhỉ? Tất nhiên là được rồi, phải không chị của em!

Trưa nay em lặng thầm ngồi dưới những quả gấc xanh non. Em đang đọc thư chị. Chị biết không, em luôn ước mong có được giọng văn như chị. Nhẹ nhàng, chân phương, sáng trong. Nhìn lại những lá thư của mình em rất xấu hổ vì đôi khi em đã lạm dụng quá nhiều những thủ pháp hay những cách thức tạo hình. Và thông điệp mà em muốn truyền đi đã ít nhiều bị ảnh hưởng. Cho nên lần này, em sẽ học theo chị. Em sẽ hạn chế sử dụng  những ẩn dụ, hoán dụ, thậm xưng, liệt kê… Em sẽ viết chân thật như lời ăn tiếng nói hằng ngày. Em sẽ cố gắng diễn đạt bằng ngôn ngữ của đời thường. Nhưng nói “cố gắng” cũng chỉ là một cách nói mà thôi. Vì người nhận thư em lần này sẽ là chị. Viết cho chị, em nào phải gia công hay nỗ lực gì. Với chị, em vẫn mãi là đứa em bé nhỏ ngày nào. Em vẫn chưa bao giờ khôn lớn…

Khoá tu Hạnh phúc là con đường đông người tham dự lắm, đặc biệt là người trẻ. Nghe nói rằng Lễ Vu Lan tổ chức trước đó cũng thành công và thu hút đông đảo phật tử. Nhìn vào các bạn sinh viên, những mái đầu xanh, những vầng trán vô tư hiện diện trên sân chùa trong những ngày tu em thấy thật đẹp chị à. Phật Giáo miền Bắc vẫn có tương lai, phải không chị của em?

4 ngày 3 đêm tu học đã để lại nhiều dư vị, âm ba trong em. Có những khoảnh khắc rung động để em phải nhớ hoài, không sao quên được…

 

Điều tuyệt vời thứ nhất: Đêm Quốc Khánh

Đêm đầu tiên em được ngồi chơi dưới ánh trăng. Không biết ai đã có ý tưởng sắp xếp một hình chữ S bằng những ngọn nến thật đẹp! Và trong ánh nến lung linh đó là hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nguyên vẹn, sáng ngời. Em tự hỏi mọi người trong khi ngồi yên và lắng nghe theo hơi thở mình đã có những cảm thọ hay tâm hành gì? Nhưng trong em là một nguồn mạch lai láng, là những cơn sóng lòng. Em rất muốn được đứng lên để nói với tất cả. Nói thật lớn, thật rõ: “Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi!”

Em muốn báo cho mọi người những hiểm nguy, những bóng đêm đang chực chờ. Em muốn thành thật về tình hình của hai nơi chốn ruột thịt. Nhưng lại thôi chị à! Bao năm qua đi rồi mà sao mình vẫn chưa thể nói được? Chị ơi, tại sao vẫn còn tình trạng này? Tại sao ta vẫn phải lặng im?

Em nhớ có một bài hát:

Biết bao giờ
Tôi mới được nói thẳng
Những điều tôi ước mơ ?
Biết bao giờ ?
Biết bao giờ ?
Tôi mới được
Nói những điều
tôi ước mơ

Biết bao giờ? Câu hỏi ấy vẫn còn ám ảnh em lắm. Mình vẫn chưa có can đảm để nói thẳng, nói hết cho mọi người những ước mơ, những trăn trở trong lòng mình. Điều gì đã ngăn giữ chúng ta lại? Mình chưa còn dám nói thật về những tình trạng của đất nước…. Vì sao? Có phải chăng là chính vì nền văn hoá của chúng ta không? Có phải chính vì những tri giác sai lầm của chúng ta hay không? Đó là đề tài mà em sẽ nhờ chị soi sáng trong một dịp khác.

Các bạn thanh niên phật tử và quý sư cô đã thiết lập một đồ hình Việt Nam thật đẹp. Và em đã thấy hai phần nến lấp lánh ở cách xa Tổ Quốc, chị à. Em còn thấy Hà Nội – trái tim Việt Nam bừng cháy rực rỡ. Em cũng thấy tất cả những máu xương đã đổ để tạo dựng khung cảnh thanh bình này. Biết bao chàng trai cô gái có tên tuổi hay vô danh đã gục ngã để chúng em có một Hà Nội đêm trở gió, Hà Nội mùa lá bay, Em ơi Hà Nội phố. Thủ đô đang trong dịp đại lễ 1000 năm lịch sử. Đêm trăng sáng hôm nay là đêm kỉ niệm ngày Quốc Khánh. Ngày độc lập, tự do toàn vẹn lãnh thổ nước Việt. Em đưa tay lên ngực mình và nghe lòng thầm nhắc sáu tiếng thiêng liêng, sáu chữ vàng son. Em biết mình không đơn độc. Có nhiều người trẻ như em đã biết được thực tế này. Các bạn ấy có thể không được bình yên như em. Họ muốn loan báo những tin tức như vậy. Nhưng có sự bắt bớ, có những đe dọa và họ phải làm những công tác đó trong sự phấp phỏng, lo âu. Có thể họ sẽ trở nên rất bạo động. Họ có thể chưa biết cách điều phục tâm hành của mình.

Em nhớ Mẹ Teresa có nói một câu. Đại ý như sau: Nếu ai đó mời tôi đi chống chiến tranh, chống bạo động, tôi sẽ không làm. Khi nào quý vị muốn kêu gọi cho hoà bình, cho đoàn kết và hoà giải thì xin cho tôi tham dự…

Chống chiến tranh và xây dựng hoà bình. Nghe có vẻ giống nhau. Nhưng thật sự là hai sự khác biệt rõ ràng. Ta tìm thấy được chiếc chìa khoá ở những động từ và danh từ. Xây dựng và chống đối có thể là một con đường cùng một điểm xuất phát nhưng lại dẫn ta về hai ngã, hai điểm đến trái ngược. Mình có thể đang đi làm một công tác thiện nguyện, mình có thể tranh đấu cho hoà bình, cho công lý nhưng chính ta phải có hoà bình trước tiên. Câu nói đơn sơ chỉ bày cho ta một bí mật lớn. Bí mật của đường đi tâm thức. Tâm thức chúng ta không bao giờ “hiểu” những động từ. Tâm thức ta chỉ “hiểu” danh từ, chỉ bị thu hút về những danh từ mà thôi. Ví như khi em nói với chị: chúng ta phải chống chiến tranh. Nếu em lập lại ba lần liên tục câu nói thì chị sẽ nghĩ tới gì? Chắc chắn trong đầu chị chỉ toàn là dao gươm súng đạn chết chóc phải không? Nhưng nếu chị bảo em: Ta hãy dựng xây hoà bình. Và rồi chị cũng lập lại ba lần như vậy. Kết quả như thế  nào? Có thể em chưa biết phải làm gì, xây dựng như thế nào. Nhưng em có thể sẽ mường tượng ra một khung cảnh yên bình, hình ảnh của đàn bồ câu, một tiếng cười, một em bé thơ. Sức mạnh của ngôn ngữ đáng sợ như thế đó, chị à. Tâm thức ta bị thu hút bởi những danh từ. Bí mật sự sống nằm ở đó. Thông điệp của Mẹ Teresa thật sâu sắc và đầy tuệ giác phải không chị!

 

Điều tuyệt vời thứ hai: Buổi thuyết trình giới

Em có thể cam đoan rằng đây là phút giây đẹp nhất đời em. Khoảnh khắc em được ngồi với bốn anh chị Về Nguồn khi thuyết trình giới. Hôm nay, em trình bày giới thứ tư: Lắng nghe và Ái ngữ. Không biết là có bố mẹ của chị đến dự hay không? Em đã diễn bày  trọn vẹn những gì mình muốn nói. Có một bác đã nhắn gởi rằng em nói rất hay. Và chị có biết câu trả lời của em không?

“Vâng, con nói hay vì có sự hiện diện của những anh chị bên cạnh.”

Nói về một giới tức là cũng đang nói về năm giới. Một người nói tức là cả năm người cũng đang thuyết trình. Nếu ngồi một mình thì chắc là em cũng không làm được gì nhiều. Sự có mặt của năm người thật thiêng liêng như năm anh em trong tăng đoàn thuở nào. Buổi thuyết trình sáng nay thật lạ. Không khí trang nghiêm lắm. Chưa bao giờ em nói trước một đám đông nhiều người như vậy. Có một chút hồi hộp, một chút lo nghĩ. Nhưng đến khi bắt đầu cất lời, em đã nhờ Sư cô tri chung thỉnh một tiếng chuông. Và em lại thấy lòng nhẹ như mây, yên như núi. Cảm giác đó chỉ có khi ta hiện hữu trong tăng thân. Một chút ít tài năng (nếu có), một chút ít thành công trên con đường tu học (nếu có) của em đến từ đâu nếu không phải vì sự có mặt của tăng thân và gần nhất là bốn anh chị trân quý? Sau sáng hôm nay, em không còn là mình nữa. Những gì yếu đuối, mong manh trong em đã tan biến để thay vào đó là dòng máu nóng đang luân chuyển, tươi mới những hồng cầu. Em không còn là em của ngày xưa.

 

Điều tuyệt vời thứ ba: Nghệ thuật xây dựng tăng thân

Ngày cuối cùng của khoá tu, thầy Giáo thọ đã có một buổi giảng đặc biệt cho chúng em. Chủ đề là nghệ thuật xây dựng tăng thân. Các bạn sinh viên được trao một cuốn sách về những phương cách cụ thể để có thể thiết lập một đoàn thể tu học cùng nhau.

Ai trong chúng ta mà lại không khao khát về một thế giới mà mọi người sống với nhau bằng tình thương và lòng chân thật, phải không chị?

“Imagine all the people living life in peace.”

Đây không phải là câu hát. Đây không còn là một nỗi ước niềm mong của John Lennon nữa. Chúng ta không tưởng tượng. Chúng ta có thể xây dựng được một cộng đồng sống chung an lạc. Sống trong cái gọi là “brotherhood of man” mà nhạc sĩ của thành phố cảng Liverpool đã nhắc tới trong đoản khúc Imagine bất tử của mình. Chúng ta có chung nhu yếu đó. Và may mắn thay, chúng ta cũng có rất nhiều kinh nghiệm và phương pháp cụ thể để có thể hiện thực hoá giấc mơ tươi đẹp này. Thực tế là biết bao tăng thân bé nhỏ đã hình thành ở Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế, Hà Nội… Tăng thân khắp chốn. Đây không còn là một câu hát nữa. Đây chính là một hiện thực trong đời. Mình đâu có còn là đứa con xa nhà nữa, phải không chị? Chỉ cần có tăng thân là ta lại có quê hương.

haitao.jpgEm nghe nói rằng xây dựng tăng thân đem đến cho ta rất nhiều phước báu. Phước báu thì em không biết có hay không? Chỉ biết rằng Dựng Tăng là vấn đề rất gian lao và khó nhọc dù cho đó là tăng thân tại gia hay xuất gia. Ví như tăng thân nhà mình, khi mới đến với pháp môn, em thấy ai cũng như ai. Có thể có những bỡ ngỡ, ấp úng, ngập ngừng ban đầu. Nhưng sau một thời gian, có những dấu hiệu chuyển biến. Có những bạn tiến rất mau, đi rất xa. Nhưng cũng có những bạn chựng lại hoặc thối chuyển. Và mọi người bắt đầu có xu hướng tu tập cho riêng mình. Mỗi một thành viên có thể vẫn đang là kẻ thắng người thua trong vòng quay cơm áo gạo tiền nên vẫn còn chút khó khăn để có thể tu học chung cùng nhau. Vấn đề là khi sinh hoạt chung với nhau ta phải làm sao dung hòa được tất cả những dị biệt ấy. Ta phải làm sao để tất cả có thể đi chung với nhau một cách hòa hợp. Tu học là phải bớt đi những cái ước muốn bé nhỏ của mình để hòa vào nguyện vọng chung của tập thể. Sự buông bỏ nói thì rất dễ nhưng để thực hiện cần rất nhiều hiểu biết, tình thương và công phu tu tập. Khi viết những dòng này, trong em ngập tràn lòng cảm phục với quý thầy cô hay anh chị huynh trưởng. Các vị ấy đã không tiếc thời giờ, sức lực và tâm trí để gầy dựng tình anh chị em, để duy trì một không gian tu học cho đại chúng. Đó là một sự hy sinh rất lớn. Phải có một trái tim rộng mở mới có thể thực hiện được những công tác như vậy. Ôi nói sao cho hết đây, những tấm lòng! Những bóng hình cao vút mà em chỉ có thể ngước trông , ngưỡng vọng…

 

Áo trắng

Nguyện xưa muốn vẹn phải tìm nhau

Thầy Minh Hy

Xóm Thượng, 06/03/2011

tinhhuynhde1.jpg

Sáng hôm trước, tôi may mắn được ăn sáng trong cốc Ngồi Yên và được Thầy nói cho nghe ý nghĩa của câu kệ “Nguyện xưa muốn vẹn phải tìm nhau”, đây là một câu rất hay trong bài kệ truyền đăng của Thầy Pháp Cầu. Chỉ may mắn thôi, tôi vào nhờ các anh em thị giả thưa với Thầy là sáng nay Thầy sẽ cho pháp thoại hay vấn đáp để tôi biết chắc mà chuẩn bị – đó là ngày thứ tư trong khóa tu tiếng Pháp. Theo kinh nghiệm của tôi, việc gì mình làm mà có sự chuẩn bị tốt thì đỡ phải “chạy”, “không lo xa thì sẽ buồn gần”. Tôi không nghĩ là tôi lại được ăn sáng chung với Thầy hôm đó. Mới ngồi xuống, sau khi chắp tay quán niệm, rồi mời Thầy và các anh em thị giả, tôi liền lấy một mẫu bánh mì, bỏ một ít đậu hũ và bắt đầu thưởng thức một bữa sáng hạnh phúc. Tự nhiên, có một câu hỏi đi lên trong tôi: “tại sao mình không thưởng thức những bữa ăn sáng khác như là sáng hôm nay?” Một bữa ăn sáng như sáng hôm nay cho tôi nhiều bình an và hạnh phúc quá! Tôi có mặt đó cho Thầy và các huynh đệ thị giả rất là trọn vẹn. Tôi bẽ từng miếng bánh mì, bỏ đậu hũ lên, rồi nhai và thưởng thức với tất cả sự bình an và hạnh phúc của tôi. Thật là hạnh phúc khi Thầy đang có mặt đó cho mình. Tôi thấy rất là lạ, cứ mỗi lần có sự có mặt của Thầy thì sự thực tập chánh niệm của tôi rất dễ dàng. Thầy trò chúng tôi ăn sáng trong im lặng một lúc thì Thầy bắt đầu kể chuyện cho chúng tôi nghe. Thầy nói:

– Câu “Nguyện xưa muốn vẹn phải tìm nhau” trong bài kệ truyền đăng của Thầy Pháp Cầu rất là hay. Nó có nghĩa là nếu mình muốn cho cái tâm nguyện ngày xưa của mình được trọn vẹn thì mình phải tìm đến với nhau, mình phải xây dựng tăng thân. Bụt ngày xưa cũng vậy, sau khi Ngài tìm thấy được con đường thì lập tức Bụt đi kiếm năm người bạn tu lúc trước.

Nghĩ một chút Thầy nói tiếp.

Chữ “Cầu” có nghĩa là tìm cầu.

(Pháp môn chuyển hóa hãy tìm cầu

Gươm báu Văn Thù trí lực cao

Chí lớn làm nên trang hảo hán

Nguyền xưa muốn vẹn phải tìm nhau.)

Đầu tiên thì mình tìm kiếm pháp môn, rồi sau đó thì mình tìm kiếm tăng thân để nương tựa và thực tập.

Vậy là đầy đủ lắm rồi, phải không? Vừa nhẹ nhàng, thâm sâu và đầy ý nghĩa. Với lại nếu mình là người trong cuộc thì mình hiểu rõ hơn ai hết. Rồi, Thầy gắp cho mỗi anh em tôi mỗi người một lát táo. Ngoài kia, đằng đông, mặt trời đã ló dạng. Đẹp và rất ấm áp. Sương mai vẫn còn phủ kín cả núi đồi và những con chim đã cất tiếng hót để ăn mừng một ngày mới.

Ngừng một chút, tôi thưa với Thầy một chuyện mà tôi đã nghe trong khi làm thị giả cho quý Hòa thượng trong đại giới đàn Lắng Nghe vừa rồi. Trong một bữa ăn chiều, có quý hòa thượng N.H, HT. M.C, HT. M.N, HT. T.T cùng với quý thượng tọa khác nữa. Được làm thị giả là một dịp may, là một hạnh phúc cho tôi khi được nghe những câu chuyện thật mà quý vị kể cho nhau nghe. HT. M.C nói:

– Đến cái tuổi này rồi, mình chỉ còn một cái ước mơ cuối cùng nữa thôi. Đó là có thì giờ để ngồi xuống hạ thủ công phu.

HT. NH nói:

– Mình bận bịu nhiều việc quá, đến lúc muốn làm cái việc mình thích mà cũng không có thì giờ để làm.

Câu chuyện chỉ có vậy thôi, không có dài lắm nhưng kỳ thực nó dài bằng cả một đời người. Hai Hòa thượng là chỗ thâm tình với nhau, nên nói chuyện thật gần gũi. Tôi đứng đó mà thấy lòng tràn ngập sự biết ơn và cảm mến đối với các vị. Sau khi thưa chuyện xong, Thầy chỉ im lặng và bày tỏ một niềm cảm thông sâu xa với những người học trò xưa ấy. Tuy vậy, không khí của bữa ăn sáng không phải vì thế mà đượm buồn, trầm lắng. Thầy trò vẫn sống với giây phút hiện tại, trân quý sự có mặt của nhau. Thầy nói:

– Quả thứ nhất Đã về – Đã tới ở Làng Mai hay hơn quả Dự Lưu trong truyền thống nhiều. “Dự Lưu” thì còn phải đi nữa, còn Đã về – Đã tới thì không cần tìm cầu chi nữa. “Người chẳng tìm cầu chi nữa”. Câu này hay lắm, mình phải viết lại, nếu mất thì uổng lắm. Ai chứng được quả này rồi thì mình nhìn mình biết liền, không cần người ấy nói.

Nguyên văn của câu đối trên là như thế này:

“Tịnh Độ nơi đây thích ý rong chơi người chẳng tìm cầu chi nữa.

Bản môn bây giờ phỉ lòng an trú ta há theo đuổi gì thêm.”

Nói xong, Thầy đi lấy cho chúng tôi xem một bức hình của một anh thiền sinh gửi tặng Thầy. Bức hình là một tác phẩm điêu khắc nói về tình huynh đệ. Tác phẩm có nội dung khá đẹp. Nhìn tác phẩm này, tôi liền nhớ đến câu nói của Thầy trong lễ Truyền đăng cho Thầy Pháp Đệ. “Không có một tôn giáo hay chủ thuyết nào có thể đẹp bằng tình huynh đệ”.

Thuận dịp, tôi thưa với Thầy cho mấy chữ để đặt tên cho nhà ăn và nhà bếp ở Xóm Thượng. Thầy nói rằng, nhà ăn mình có thể lấy chữ Nhà Năm Quán – Ngũ Quán Đường, còn nhà bếp thì là Nhà Thương Nuôi – Ái Nghĩa Đường. Mình làm việc trong nhà bếp là vì tình thương mà làm, chứ không phải vì bị bắt buộc. Mình nuôi tăng thân bằng tình thương của mình. Như vậy là hay lắm rồi. Chữ ấy vừa có nghĩa lại vừa có chiều sâu. Thầy nói đến đây thì tôi được thị giả của Thầy cho một ly trà và các thị giả cũng được mỗi người một ly trà.

Hồi còn là một chú điệu, cứ mỗi lần có các Hòa Thượng đến chùa thăm, thì các điệu tôi dù là đang làm công việc gì cũng dừng lại, đi vào mặc áo tràng, rồi cùng nhau lên xin được đảnh lễ quí ôn. Chúng tôi đứng thành một hàng, chú điệu lớn nhất sẽ xin phép quý ôn cho các điệu được đảnh lễ. Có khi chúng tôi được đảnh lễ, có khi thì không được. Chắc các vị cũng mắc cỡ không muốn ai đảnh lễ mình. Kế đến, cái phần hạnh phúc nhất của chúng tôi là được quỳ xuống và lắng nghe những lời giáo huấn của các vị. Thường thường, những lời giáo huấn không dài, chỉ vỏn vẹn không quá mười phút, nhưng rất nuôi dưỡng tuổi thơ của các điệu. Sau đó, các điệu xin phép được đi ra và tiếp tục làm công việc của mình. Giờ đây, tuy là đã quá tuổi làm điệu, nhưng tôi luôn cảm thấy hạnh phúc và được nuôi dưỡng bởi những lời dạy của Thầy. Thiệt tình mà nói, Thầy luôn tạo ra cái không gian mà ở trong đó Thầy trò rất dễ gần, dễ chia sẻ với nhau. Mỗi khi Thầy ăn cơm, Thầy cũng muốn chúng tôi cùng ngồi ăn cơm chung với Thầy. Mỗi khi uống trà, Thầy cũng cho chúng tôi một ly trà. Những giây phút như vậy, chúng tôi sẽ không bao giờ quên. Bởi trong những lúc đó, một phần là chúng tôi có mặt hết lòng với sự chánh niệm của mình; mặc khác là tình thương của Thầy luôn có mặt đó cho chúng tôi. Những giây phút ấy đã trở thành bất diệt. Rồi dẫu sau này, trên bước đường tu học, có những lúc tâm mềm yếu, ý chí bị bụi trần che lấp, thì những khoảnh khắc ấy sẽ cứu lấy chúng tôi. Sẽ đưa chúng tôi trở về với tăng thân, để cùng nhau đi tới cho vẹn một lời thề xưa.

Hơi thở mùa Xuân

 

“Ai cho tôi tình yêu để làm đẹp cuộc đời…”

hoithomuaxuan1.JPG

“Sáng mở cửa đất trời thơm thơm lạ
Bước đầu ngày xin bước bước yêu thương…”

 

Bên khung cửa xe sáng nay, ánh sáng mặt trời tinh khôi dọi vào ô kính mỉm cười. Cây hoa ngọc lan hôm qua tỏa hương thơm ngát cả nội viện đang lú nhú từng chồi non, cây táo, cây lê… cùng đồi mận khoe chiếc áo hoa trắng muốt bên thảm hoa bồ công anh kiêu hùng hé cửa lòng đất tuôn dậy. Tất cả những cây hoa, bụi cỏ như đồng loạt mở cửa đón cái khí trời ấm áp của mùa xuân. Ông mặt trời như vui hơn trong bài ca gõ cửa thức giấc cây cỏ. Tôi nhận ra nét mặt hân hoan của ông mặt trời vui vẻ, trẻ trung và hạnh phúc.

Ánh nắng đổ xuống mặt đất, những thảm cỏ xanh biểu hiện, những bông hoa đồng nội vui mừng quần tụ khắp nơi. Có những cây già ngủ vùi mấy tháng mùa đông, thu mình, rụng lá, trơ ra cái thân xương xóc giữa trời lạnh buốt cũng đã từ từ trở mình thức giấc vươn mình tập mười động tác chánh niệm, lú nhú những mầm xanh tí hon trên thân già khô quắt queo. Tôi nhìn sự hồi sinh của những cây già, cây non của đất trời và nhận ra sức sống của vạn loài. Và tôi cũng nhận ra những cây tùng, cây bách, những thảm hoa, đồi cỏ hay hương hoa ngọc lan đang hiển hiện trong lòng tăng thân. Tôi cười. Một nụ cười khó hiểu khi nhận ra mình biết cười cùng mùa xuân.

Ngày khác, cũng bên khung cửa, ánh nến lung linh dọi vào ô kính hai đốm lửa nhỏ reo vui đang nhường chỗ cho ánh sáng của một ngày mới. Khung cửa kính đã khép mà vẫn vọng vào tiếng chim líc ríc trò chuyện. Vẫn còn là giờ thực tập Im Lặng Hùng Tráng của Làng nên tôi tha hồ thưởng thức tiếng chim, tiếng gió… Tôi xếp trang vở nhỏ lại, bước ra chơi với mùa xuân. Bên tai tôi lời hát “xuân tăng thân bước đi trong niềm kính thương…” đã làm cho những bước chân rạo rực của tôi trở nên đằm thắm. Trong bước chân đó, tôi nhận ra niềm vui tinh khôi, mát mẻ của đất trời trong buổi sáng mùa xuân ở Làng đang đi vào cơ thể tôi, lan tỏa khắp các tế bào.

Và bất chợt lời ca năm xưa vọng về trong tôi. Tôi kịp nhận ra sự khác biệt giữa hai luồng cảm giác nhưng chưa hiểu rõ chuyện gì? Vẫn bước chân tôi đi qua thảm cỏ hoa, một bông hoa chúm chím, rung rinh cho tôi một cảm giác mới mẻ quen thuộc của bài hát: “buổi sáng em đi thiền hành, chợt một bông hoa vàng trong cỏ trông thấy em, bông hoa nghiêng nghiêng mỉm cười.” A! cảm giác này tôi đã có trong những bước chân thiền hành mỗi ngày. Bông hoa vô tình đã làm tiếng chuông giúp tôi hiểu tiếng chuông không chỉ là quy ước của âm thanh phát ra từ một quả chuông. Tiếng chuông có thể chỉ là một bông hoa dại, một hình ảnh, một cảm giác an lạc giúp mình trở về ý thức sự sống đang có mặt và lúc này đây câu thần chú thứ năm: “Đây là giây phút hạnh phúc” trở nên sống động quá đi thôi.

Tôi cũng chợt hiểu ra một điều, bông hoa kia đã có đó cho tôi trên lối đi quen thuộc mỗi ngày. Cảm giác hạnh phúc đã có trong tôi khi tôi nhận ra bông hoa mỉm cười và tôi đã có nhiều cảm giác như thế trong những bước chân thiền hành, kinh hành, tụng kinh, làm việc, học hay chơi… Để tôi càng trân quý những tháng ngày được sống và tôi có thêm nhiều cơ hội được trồng hoa, được làm nên những mùa xuân trong tôi, trong bạn cũng như biết thương cái cảm giác an lạc quen thuộc này.

Nhận ra được cảm thọ bình an, khỏe nhẹ của “đã về đã tới” bền bỉ và chắc thật bên cảm thọ vui mà mình còn tìm cầu, tôi bỏ lại cái cảm giác rạo rực trong lời ca: “từng chồi non xanh mênh mang, từng giọt mưa tí tách rơi mùa xuân… Mùa xuân đã đến bên anh, mùa xuân đã đến bên em thì thầm…” Điệu nhạc xập xình và lời ca, tiếng hát ngày trước đã tưới lên hạt giống tìm kiếm trong tôi. Tìm kiếm một cảm giác mới lạ mà tôi không ý thức được đó là cảm giác lành mạnh hay buồn thương, nhớ nhung vô định… Tôi giật mình khi nhớ tới Giới Thứ Năm là Tiêu Thụ Có Chánh Niệm và thấy mình may mắn được bảo hộ trong đời sống tăng thân để có cơ hội học cách tiêu thụ lại cảm thọ của chính mình. Tôi nhìn bông hoa và cười, nụ cười gói theo niềm biết ơn những bông hoa nhỏ, cây cỏ, đất đá, con đường quen thuộc đã tận tụy giúp tôi mỗi ngày. Để hôm nay tôi có thể  can đảm thay đĩa nhạc CD, tắt những cuốn phim phiền muộn mà tôi đã từng tiêu thụ trước đây và thay vào đó là CD thiền ca cùng với những niềm vui mới: “vào ngày mới lòng thênh thang, chân bước tới không vội vàng…” Lúc này đây tôi thấy có một mùa xuân thật sự mới mẻ đang về trong tôi và trên mọi nẻo đường.

Theo bước chân thiền hành, tôi  lại bắt gặp nụ cười của ông mặt trời nơi hàng cây trước mặt. Sao nụ cười của ông sáng nay tươi vui và tròn đầy đến lạ. Tôi nhìn lên đồi mận, ánh nắng trải dài như một luồng hào quang óng ánh. Tôi muốn chạy ào lên đồi để chạm được vào ánh hào quang. Cảm giác an lành lại nhường chỗ cho cảm giác ái, thủ, hữu làm tôi bất an. Mắc cỡ với chính mình, tôi dừng lại, nhìn kỹ vạn vật rồi thong dong thiền hành. Mỗi bước chân tôi tiếp xúc với mặt đất, tôi buông bỏ sự vội vã, từ từ lội qua thảm cỏ bồ công anh đang say ngủ. Ánh nắng trải dài trên mặt đất, chân tôi, người tôi chạm vào hoa nắng lúc nào tôi không hay. Tôi đứng trên đồi mận nhìn về Xóm Mới. Một niềm vui đầm ấm lan tỏa trong tôi từ ngôi nhà, con đường, bụi cỏ… Nơi ghi dấu bao nhiêu điều mới lạ, nơi chuyển hóa bao bước chân giận hờn to nhỏ trong đời sống tăng thân. Vang lên trong tôi lời hát của bụi tre rì rào, của những sớm hôm quây quần bên nhau, đây hồ sen, tháp chuông, thiền đường… đã trở nên một nơi để tôi có cơ hội trở về. Và tôi nhận ra mỗi nơi, mỗi nơi đều chứa đựng sức sống bền bỉ của tăng thân.

Đi chơi với mùa xuân về, tôi lại gần bên ô cửa sáng nay ghi lại một chút gì cho tôi, cho bạn. Màng đêm dần buông xuống. Thảm hoa bồ công anh thức dậy sáng nay cũng đã đi ngủ, trả lại sự tĩnh lặng của đất trời vào đêm. Cảm ơn mùa xuân tăng thân đã cho tôi nhận ra niềm an lạc của sự sống đang đâm chồi trong từng hơi thở mới lạ. Đó là mùa xuân miên viễn giữa đất trời bất tận.

 

Xuân về chốn yêu thương
Hoa nở chim chuyền cành
Bước chân về tĩnh lặng
Đất tâm là bản môn.


 

Nuôi dưỡng và trị liệu, công phu cho những ngày làm biếng

 

Trái tim thanh niên phụng sự xã hội

Người viết: Chân Diệu Hải

Con kính bạch Sư Ông,

Con biết là con vẫn còn nhạy cảm đối với những chuyện đàn áp và kỳ thị. Khi nhận được tin một số các thầy các sư cô ở tu viện Bát Nhã không còn ở Việt Nam. Con không thể nào ngồi yên nên đã sang tận Thái Lan để thăm và chia sẻ những ngày ăn Tết xa quê hương đầu tiên của các thầy các sư cô trẻ. Con hết sức ngạc nhiên khi thấy mọi người ai cũng tươi vui, bình an và vững chãi, mặc dù họ vừa trải qua một thời gian bị khủng bố tinh thần lẫn vật chất. Thật đúng là ‘trái tim Bát Nhã bất diệt!’. Ngồi ngẫm lại con thấy, không những ‘trái tim Bát Nhã’ vẫn còn đập mà ‘trái tim Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội’ cũng vẫn còn đập. Con là một người trong cuộc, xin phép được nói lên tâm trạng của người Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.

Năm mươi năm trước, khi đất nước còn đang chìm đắm trong chiến tranh, người dân nông thôn Việt Nam bấy giờ phải sống trong cảnh nghèo đói, bệnh tật, thất học và vô tổ chức. Thấy được nhu cầu cấp bách ấy, Sư ông đã sáng lập ra phong tràoThanh Niên Phụng Sự Xã Hội để tạo điều kiện cho những người có cùng tâm huyết, chung chí hướng phụng sự, có tình thương và trách nhiệm đối với đất nước được đến với nhau, cùng đồng sự và lợi hành với người dân làng xóm. Và con là một trong số những người trẻ đã tìm đến Thầy trong thời gian ấy – thời Hoa Sen trong Biển Lửa – trong khi  bạn bè đồng trang lứa của con ai cũng đi tìm cho mình sự nghiệp công danh, tiền tài và quyền thế.

Năm 1964, con được nhận vào khóa đầu tiên của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội cùng với  hơn một trăm học sinh, sinh viên và tăng ni sinh khác. Chúng con mang trong mình thao thức của một người trẻ có chí hướng phụng sự, chấp nhận gian khổ, sẵn sàng dấn thân vào đời sống thôn quê, lắng nghe ước vọng của người dân để tìm cách giúp đỡ họ bằng tất cả tấm lòng và tình thương của đạo Phật. Trong tinh thần ấy, chúng con, những người Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội được rèn luyện kỹ càng và phải học những môn cần thiết như khả năng sư phạm, giáo dục cộng đồng, tâm lý giáo dục, xã hội học, y tế, nông ngư học, khí hậu học, thổ nhưỡng và cả về âm nhạc như hát hò và sử dụng được một loại nhạc cụ. Chúng con còn được học sơ lược qua về giáo lý, cũng như cách tổ chức và sinh hoạt của các tôn giáo khác đang có tại Việt Nam, để có thể hòa mình với người dân, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, không khí tôn giáo nào, cũng không bị bỡ ngỡ hay gây va chạm.

Chúng con được Thầy trang bị cho một chương trình giảng huấn rất toàn diện do các chuyên viên và giáo sư từ các trường đại học hướng dẫn. Vì kính quí tâm nguyện của Thầy mà họ đã cống hiến sự giảng dạy suốt cả niên khóa học. Mùa hè thì các tác viên xã hội đi thực tập tại các làng Hoa Tiêu thuộc vùng ven thành phố như quận Tân Bình và Thủ Đức.

Thời gian chúng con được rèn luyện là hai năm đầy, ăn ở nội trú luôn trong chùa. Chùa Pháp Vân là cơ sở chính thức của trường, một ngôi Chùa Lá đơn sơ với khuôn viên có nhiều đất rộng, được bao quanh bởi ruộng đồng mênh mông và xóm làng thưa thớt. Tăng xá và giảng đường thì được xây bằng gạch (nay là trường Trung Học Trần Phú), còn lưu xá nữ thì mái được lợp bằng tôn, nằm ở bên hông phía sau chùa. Lúc bấy giờ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đã mang hình thức một tăng thân có bốn chúng gồm: Tăng, Ni, Cư sĩ nam và Cư sĩ nữ. Tất cả cùng học và làm việc rất nhiều, ăn uống thì toàn chay tịnh. Nếp sống tuy rất đạm bạc nhưng ai nấy đều vui vẻ và quyết tâm học. Chúng con thấy mình được nuôi dưỡng trong tình thầy trò và lớn lên trong tình huynh đệ.

Chiến tranh thảm khốc vẫn tiếp tục diễn ra mỗi ngày, và những người dân vô tội vẫn là những người trực tiếp phải hứng chịu hậu quả. Mọi hoạt động của trường nhằm để xoa dịu bớt nỗi khổ nhọc của người dân quê và bù đắp phần nào cho tình trạng đói nghèo, bệnh tật và thất học. Chỉ trong một thời gian ngắn, một hoạt động tôn giáo mang tính tự nguyện, hoàn toàn không có thế lực và tiền bạc như thế đã gây được nhiều cảm tình cho người dân, và được nhiều thành phần trong dân chúng ủng hộ. Vì thế, đã có một vài tổ chức chính trị kể cả chính quyền và một số người cực đoan của tôn giáo khác ganh ghét, nghi ngờ và đố kỵ. Từ đó có nhiều ngộ nhận và ác ý xảy ra.

Tháng 5 năm 1966, một buổi chiều Thầy đến thăm chúng con tại trại Tình Thương ở Bình Khánh. Đó là lần cuối cùng chúng con được gặp Thầy để hôm sau Thầy lên đường đi kêu gọi Hòa Bình. Thầy Thanh Văn là phó Giám Đốc của trường được đề cử thay Thầy làm xử lý thường vụ choTrường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Nhiều biến cố cứ xảy đến dồn dập. Bắt đầu từ tháng 4 năm 1967, có một quả lựu đạn ném vào phòng nơi chúng con đang ngồi học bài buổi tối, làm cho hai bạn gái bị chết và mười người khác bị thương. Sau đó không lâu lại có một cuộc khủng bố tàn sát tám anh em trẻ khác hiện đang là tác viên của trường trong đêm tối. Ngày 16 tháng 5 năm 1967, trước những đau thương của trường và nỗi đau của xã hội, chị Nhất Chi Mai, một trong những thành viên đầu tiên của trường đã phát nguyện tự thiêu tại sân chùa Từ Nghiêm để nói lên tiếng nói của mình. Lúc bấy giờ ba mẹ của con rất lo lắng nên đã đến chùa Pháp Vân  xin phép thầy Thanh Văn đưa con về nhà. Con gái thời đó chưa được độc lập và tự quyết. Con phải miễn cưỡng rời trường, phần vì thời thế nhiễu nhương. Từ đó con sống theo bổn phận. Rồi những ngày sau đó Thầy không được phép trở về nước nữa.

Chuyện đã qua bốn mươi bốn năm, khoảng thời gian đủ dài cho những ai cần quên để tâm tư khỏi phải vướng bận. Nhưng đối với các anh chị em tác viên cũ chúng con, nó vẫn mãi mãi là “thời hoa niên”, một thời đẹp nhất của lứa tuổi hai mươi, được sống một cuộc sống có ý nghĩa, có lý tưởng và đậm tình người. Chúng con, những người học trò đầu tiên của Thầy, đến nay vẫn còn giữ mãi trong lòng lời Thầy dặn dò trước những biến cố đau thương lớn như vậy – “Hãy lấy tình thương mà xóa bỏ hận thù, kẻ thù ta không phải là người…”

Con theo gia đình đi định cư tại Montreál. Duyên may cho con được gặp lại Thầy vào mùa thu năm 1985, trong lúc Thầy qua Canada hướng dẫn một khóa thiền tập cho phật tử Việt Nam ở đó. Rồi tiếp tục mỗi năm Thầy đều sang để hướng dẫn cho thiền sinh tu tập. Nhân duyên cũng hội đủ để Làng Cây Phong được thành lập. Nhờ thế mà con tìm lại được vết chân cũ của Thầy, tìm thấy lại hướng đi của đời mình và tiếp tục với con đường chí nguyện năm xưa. Năm 1989, tại Bắc Mỹ đã chính thức có một cơ sở tu học đầu tiên cho thiền sinh về thực tập chánh niệm theo pháp môn Làng Mai do Thầy chỉ dạy.

Thế giới biến chuyển, tình hình xã hội cũng đổi thay. Khi đời sống văn minh kỹ thuật càng cao thì giá trị đạo đức và tâm linh càng suy thoái. Thời nay không thiếu gì người giàu có, danh tiếng và quyền lực, nhưng đời sống của họ cứ khổ đau bế tắc. Vì vậy mà Thầy vẫn trung thành với chí nguyện độ tha và làm cho tuệ giác của đạo Phật vẫn tiếp tục tuôn chảy. Từ “Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời” đến “Đạo Phật Ứng Dụng”. Thầy đã dạy rằng: “Đức Phật của thế kỷ thứ 21 là Đức Phật của Tình Thương. Tình Thương phải được chế tác bằng chất liệu của sự tu tập. Chỉ có công phu thực tập hàng ngày và thiền quán mới chế tác được Niệm Định Tuệ, nhờ đó mới có Hiểu có Thương. Đó là con đường thoát khổ, con đường của an lạc và hạnh phúc.”

Giáo pháp của Đức Phật thật thâm sâu uyên áo, không dễ cho mọi người có thể hiểu và áp dụng. Nhờ tuệ giác của Sư ông mà những giáo nghĩa uyên thâm đó được trình bày một cách dễ hiểu,  sâu sắc và cụ thể, có thể đem áp dụng được vào đời sống hằng ngày. Sư ông đã dày công dịch kinh điển từ Hán Tạng,Tạng Nam Truyền ra Việt ngữ và các ngôn ngữ khác như Anh ngữ, Pháp ngữ để giảng dạy và viết sách, làm sáng ý những lời Đức Phật dạy. Sư Ông đã khơi nguồn tâm cho biết bao nhiêu người, đã dẫn con đi vào cửa thực tập, giảng dạy bằng những lời lẽ dễ hiểu với kinh nghiệm thực chứng, nên con áp dụng được vào đời sống hàng ngày. Dạy cách nương theo hơi thở, bước chân chánh niệm mà nhận diện niềm đau nỗi khổ trong chính bản thân và quán chiếu để tìm cho ra gốc rễ của khổ đau. Một khi nỗi khổ niềm đau trong tự thân được hiểu, thì mình cũng có khả năng hiểu được người khác. Nhờ vậy mà tránh không gây thêm khổ đau cho người. Học cách hiến tặng niềm vui, hạnh phúc cho gia đình và những người xung quanh.

Chính bản thân con đã trải qua một thời gian bị gầy mòn héo hon vì căng thẳng và đè nén. May nhờ nghe được kinh Diệt Trừ Phiền Giận. Con đã tụng đi tụng lại nhiều lần kinh này, mầu nhiệm thay, lời kinh đã làm mềm đi khối nội kết trong con. Con đã biết cách ôm ấp được những bức xúc trong lòng, quán chiếu tự thân để dần dần nhận ra vấn đề và tháo gỡ được những buồn phiền lo lắng. Con đã hiểu ra những ẩn ức của mẹ chồng con khi bà góa bụa rất sớm, từ đó cảm thương được nề nếp khó khăn của bà mà tận tình chăm sóc. Con cũng hiểu được hoàn cảnh sinh ra và lớn lên của nhà con và chấp nhận được tánh tình anh mà không đòi hỏi anh ấy phải thay đổi. Con đã tự quay về sửa đổi lấy tâm ý và cách hành xử của mình, tự nhiên đời sống thấy dễ chịu hơn. Nhà con cũng được cảm hóa một cách âm thầm tế nhị. Anh bắt đầu tham gia sinh hoạt thiền tập hàng tuần với anh chị em Làng Cây Phong, rồi đi tham dự các khóa tu Thanh Sơn ở Rừng Phong nữa. Nhờ có sự cảm thông và chia sẻ của anh ấy mà con mới tích cực đóng góp được sự có mặt của con, cũng như góp chút ít thì giờ và công sức của con cho Tăng thân. Con đã đem sự thực tập về nhà, sống và làm gương cho con cái. May thay các cháu cũng hiểu được nhu cầu tu học của con mà đồng thuận hỗ trợ (nhiều khi cả ba thế hệ: mẹ-con, bà-cháu, cùng đi tham dự khóa tu). Con thực tập năm lạy mỗi sáng và đọc năm lời quán nguyện trước khi ăn cơm. Các cháu tuy còn trẻ tuổi, là những người khoa học và luật pháp, nhưng có niềm tin nơi đạo đức và biết nương tựa vào Phật pháp mỗi khi có khó khăn khốn đốn. Vì vậy trong gia đình con sự tu tập đã được tiếp nối cho thế hệ tương lai.

Đối với việc xây dựng tăng thân, con đang thực tập hạnh khiêm cung và lắng nghe để sống hòa hợp được với tất cả anh chị em. Không hề tỵ hành phân bì mà cần mẫn làm việc với tình thương để phục vụ khóa tu. Luôn luôn sát cánh yểm trợ các tăng thân địa phương để cho sự tu học được phát triển rộng rãi. Chúng con tinh tấn sinh hoạt đều đặn hàng tuần với MPC và nhóm Phong Tía, duy trì ngày Quán Niệm và tụng giới với nhau vào mỗi tháng. Mỗi năm, Làng Cây Phong tổ chức được bốn khóa tu. Con mong ước được sống và được bao bọc bởi một tăng thân có phẩm chất tu tập, có sự hài hòa. Một tăng thân như vậy mới gây được niềm tin và cảm hứng cho mọi người đến cùng tu tập, mới tiếp nối được sự nghiệp của Thầy và không mang tội bất hiếu với chư Phật Tổ.

Đối với quê hương, con may mắn vẫn là cánh tay nối dài của anh chị em, liên tục cộng tác với các bạn tác viên Sài Gòn, Đồng Nai, Hàm Tân, Nha Trang, Huế và Quảng Trị… nuôi dưỡng, tiếp trợ và bảo vệ tăng ni. Làng Cây Phong chúng con vẫn tiếp tục đảm trách chương trình ‘Hiểu và Thương’ của tỉnh Khánh Hòa và trường Mẫu Giáo Gia Môn ở Quảng Trị do Làng Mai giao phó.

Con chỉ là một cư sĩ tại gia có niềm tin vững chắc vào sự tu tập. Nguyện cố gắng sống có ý thức tỉnh sáng trong từng giây, từng phút để nhận diện được những tập khí lâu đời còn vướng mắc trong con. Mỗi ngày con tu tập để chuyển hóa cho thân tâm con được bình an nhẹ nhàng, đem lại niềm vui và sức sống cho gia đình cũng như làm hạnh phúc cho tăng thân. Con chỉ mong được đóng góp phần nào phẩm chất hiểu biết và thương yêu của con để có thể tạo nên một xã hội có nhiều bình an, ổn định. Nhiều khi con tự hỏi: nếu con không được gặp Thầy giáo huấn, con không gặp được bạn đạo để thực hành chung, thì không biết giờ đây cuộc sống của con sẽ ra sao? gia đình con đi về đâu…?

Hôm nay là một ngày trọng đại trong đời tu học của con. Con xin cúi đầu nhận lãnh ngọn đèn chánh pháp từ tay Thầy truyền trao. Con tự biết mình còn  nhiều yếu kém, chưa thực tập đến nơi đến chốn để được vững chãi và thảnh thơi. Con cầu xin Sư Ông, quý thầy, quý sư cô và các bạn hiền dìu dắt nâng đỡ con tu học tinh chuyên hơn, để con có thể đem lại bình an và lợi lạc cho nhiều người.

Nhờ năng lượng từ bi, trí tuệ của chư Phật, chư liệt vị Tổ sư và bậc Thầy làm ánh sáng soi đường cho con.

Con nguyện mãi mãi làm kẻ đồng hành trên con đường thực tập chánh niệm. Con nguyện tu tập cho tổ tiên và con cháu để không cô phụ lòng Thầy, tiếp nối được sự nghiệp của các bậc giác ngộ, và làm cho dòng chảy chánh pháp luôn luôn lưu chuyển.

Nhật ký trước lúc đi xa


Người viết: Tô Công Đạo

 

Ngày xưa trước khi từ biệt, thầy nhắn nhủ , “ừm thầy có niềm tin ở em, nhưng em hãy nhớ lời Thầy, nếu em đi con đường xuất gia thì trước khi đi em phải có trách nhiệm tìm ra được người thay thế và có thể tiếp tục xây dựng Xuân Phong, rồi sau đó em muốn thế nào cũng được, xuất gia hay tại gia đều là con đường đẹp cả, nếu tìm chưa được thì em phải tiếp tục “gánh vác Xuân Phong” …cho đến già!” Haha tôi và thầy cả hai cười thật to và sảng khoái!

Huhu thầy ơi con đã không nghe lời thầy rồi thì phải. Vì “hôm nọ” “Bụt gọi con” nên con không còn biết là con đã làm tròn tâm nguyện mà thầy đã gửi gắm cho con chưa nữa.

——

Tôi nhẹ nhàng tỉnh giấc trong một buổi sớm mai, nhưng dường như đó là một buổi sáng diệu kỳ nhất mà tôi có được.“Ồ nó vẫn còn đây, nó vẫn hiện ra trong tâm thức tôi thật rõ ràng mà không hề suy chuyển” Tôi nhận diện nó thật khẽ!

Suốt đêm qua (đêm trước buổi sớm mai mầu nhiệm ấy), trước khi đi vào giấc ngủ, nó đã đến với tôi thật bất chợt và hùng tráng hơn bao giờ hết. Tôi nói “à, chắc chỉ là giấc mơ thôi đó mà”. “Thôi bây giờ mình đi ngủ, xem sáng mai nó như thế nào” – Tôi tiếp tục thì thào và trải chiếu đi ngủ.

Ôi! Sau hơn ba năm “chờ đợi”, bây giờ nó đã đến thật rồi! Bắt đầu từ ngày hôm ấy, tôi trân quý nó trong từng hơi thở, cẩn trọng,cẩn trọng trong từng hơi thở, thật chầm chậm chầm chậm. Tôi nâng niu nó trong mỗi cái vào…ra…, tôi ý thức được rằng trong lúc này tôi cần hơi thở hơn bao giờ hết, hơi thở mà tôi đã rèn luyện suốt hơn 3 năm qua!

Xuân Phong ơi, các bạn ơi! Xuân Phong và các bạn có có biết “nó” là ai không?! Huhu “nó” là Bồ Đề Tâm trong tôi đó. Tôi đang rưng rưng nước mắt đây Xuân Phong ạ! Tôi muốn “nó” đến với tôi tự nhiên như thế đó!

Ừm Xuân Phong sống với tôi hơn ba năm nay chắc là ai cũng có ý niệm rằng: mưa dầm thấm lâu…rồi “ngày đó” thế nào cũng đến với tôi thôi! Nhưng chắc ai cũng thắc mắc là cái “giọt nước làm tràn ly” là gì phải không nào?

 

Giọt nước thứ nhất

Hôm đó là thứ sáu, tôi bị tai nạn xe, tôi bị té và bị thương ở đầu gối, tôi ráng chạy về nhà để chăm sóc vết thương và “cà nhắc” lên xe để không bỏ ngày làm việc. Ngồi ở sở làm mà vết thương đau nhức vô cùng, tôi nghĩ phải mất ít nhất hai tuần mới có thể “bán già” lại được. Thế là tôi nhắn tin cho bốn năm anh chị em Xuân Phong để nhắn là tôi bị té xe và ngày mai (thứ bảy) tôi không đi thực tập được, anh chị em thay tôi đến thiền đường sớm hơn một tí (như tôi từng làm) để ngồi chơi và mỉm cười chào các bạn đến thực tập. Không đủ duyên nên bốn năm anh chị em đều bận việc. Sau đó không lâu tôi nhận được tin nhắn từ chị P.

“Hay là nhờ anh Tạo nhe Đạo” – Chị nhắn

“Anh Tạo nào vậy chị?” – Đạo ngạc nhiên….ủa ảnh sang bên “nớ” xin tập sự xuất gia rồi mà ta.

“Anh Bảy đó em” – Chị nhắn lại.

Wow, lúc đó trong tâm tư tôi có một cái gì đó nó thôi thúc cực mạnh, không suy nghĩ, nói năng hay xác nhận gì thêm, sáng thứ bảy tôi vác ba lô đi làm (trong balô vẫn là kinh sách và pháp khí như mọi thứ bảy) và trưa hôm ấy tôi “cà nhắc” đến thiền đường để gặp cho bằng được cái “nguồn năng lượng” đó. Hôm ấy trời mưa rất lớn, tôi đến thiền đường và không thấy một ai, tôi ngồi chơi một hồi thì có một số bạn đến. Nhưng vẫn không thấy “nguồn năng lượng” ấy, tôi nhắn tin, à thì ra anh Tạo đã rời tu viện xin phép đại chúng về quê có việc. Tôi không suy tư gì thêm và sau đó thực tập cùng anh chị em!

Tối thứ ba, là buổi thực tập của tăng thân Sân Mây, tôi cũng lẳng lặng đến như mọi tuần với ước mong là sẽ gặp được anh Tạo, nhưng cũng vẫn không gặp. Đến thứ năm (buổi thực tập thứ hai) trong tuần của Sân Mây, anh đến nhưng tôi thì lại bận không đến được.

Và rồi khoảnh khắc trùng phùng cũng tới, trong không gian thiền tập buổi tối thứ năm của tăng thân Sân Mây, không hẹn mà gặp, tôi đã tiếp xúc được trọn vẹn nguồn năng lượng đó – nguồn năng lượng của Bồ Đề Tâm! Sự tươi mát, nụ cười rạng rỡ, và hình ảnh dũng mãnh rũ sạch bụi trần để bước đi nhẹ tênh, thanh thản của anh đã để lại trong tôi … Một Giọt Nước!

 

Giọt nước thứ hai

Chuyện này bây giờ tôi mới dám kể! Xấu hổ lắm. Ai cũng biết Đường Xưa Mây Trắng là bảo bối gối đầu dường của tất cả những người con của Sư Ông đúng không nào? Và là tác phẩm đã làm rung động bao con tim “bé bỏng-đi theo gót chân Bụt, Sư Ông”! Hồi đó tôi lạ kì lắm, tôi nghe như thế nên tôi sợ vô cùng và không dám đọc, mà một phần cũng lười đọc vì nó dày quá! Thế mà tôi đã âm thầm làm “bang chủ” thôn Gió Xuân trong khi tác phẩm nổi tiếng như thế của Thầy mình mà mình lại chưa đọc. Thế có quá xấu hổ không nào? Ai đề cập đến thì tôi cứ ậm ừ rồi lờ qua. Mắc cười nhất là khi đó tôi nói vui với mình là “tui chờ thời cơ chín muồi rồi mới đọc cơ” …Bó tay!

Rồi cái nhu yếu ấy đã đến, tôi “lần theo” gót chân Bụt bắt đầu từ sau khi Bụt thành đạo (tôi tạm thời vẫn chưa đọc giai đoạn Bụt ra đời cho đến lúc thành đạo vì có lẽ đã biết nội dung phần nào thông qua các tác phẩm khác). Và rồi tôi đã lần đến một chương định mệnh, khi ấy bụt thuyết về lý nhân duyên, tương tức tương nhập. Ôi… “từ ấy trong tôi bừng nắng hè…mặt trời chân lý …. )”. Thế là tôi lục lại tác phẩm Trái Tim Mặt Trời để đọc, chưa thỏa mãn tôi tìm tiếp quyển Hoa Nghiêm Kim Sư Tử Chương (Con Sư Tử Vàng của Thầy Pháp Tạng – Thích Nhất Hạnh) để đọc. Thế là những ngày đó tôi như người ngơ ngơ ngác ngác, tối mò lên sân thượng đi vòng vòng thẩn thơ!

Lời kinh văng vẳng bên tai:

“Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm

Cơ duyên may được thọ trì

Xin nguyện đi vào biển tuệ

Tinh thông giáo nghĩa huyền vi”

Thế là Giọt Nước Thứ Hai đã “tràn” về.

Ừm như thế đó, hai giọt cũng đủ làm tràn ly rồi, mà thôi để tôi kể thêm một giọt nữa cho các bạn nghe!

 

Giọt nước thứ ba

Hồi đó tôi nói vui với Thầy mỗi khi thầy “hỏi thăm”. Tôi trả lời: “chừng nào con lên làm giám đốc con mới đi tu”! Thế là hai người lại nhìn nhau và cười thật sảng khoái.

Cách đây một tháng, tôi được Sếp mời vào phòng và “tặng” cho tôi một chức danh mới, một chức danh nghe rất sướng tai, đi kèm theo đó là một mức lương mới, với mức lương này thì tôi thỏa sức đi tu học khắp nơi mà không lo lắng về kinh tế. Trong ba năm qua Sếp đã từng làm như thế với tôi đến bốn lần. Đủ biết Sếp thương và trân quý tôi như thế nào.

Nhưng mà cái ngày hôm đó tôi không vui như ba lần trước, bỗng dưng tôi thấy một cảm giác sờ sợ! Ôi Sếp vừa quăng cho mình một “Con Bò Mộng” rồi một “Sợi Dây Xích” to nặng 30kg. Híc mình phải làm sao đây? Trong lúc bối rồi, vui sợ lẫn lộn, tôi nhủ thầm “Ổng gửi cho mình hai thứ đó nhưng mình lại là người cầm ổ khóa và chìa khóa trong tay mà. Wow, thế là tôi không còn sợ nữa.

Hồi trước, khi mới ra trường, tôi làm việc chỉ để làm thôi, không đam mê lắm, làm để có tiền đổ xăng đi tu học Pháp Vân và hay nhủ thầm rằng “ừm không đam mê công việc lắm cũng hay đấy chứ, cũng may đấy chứ, hồi đó mà mình học ngành lập trình gì gì đó chắc là giờ này mình 20/24h ngồi trên máy tính rồi”. Thời gian trôi qua, đặc biệt là thời gian này, khi tiếp xúc với những vấn đề mới trong thiết kế, đòi hỏi phải nghiên cứu và xử lý nhiều hơn, vừa giải quyết thành công cái này tiếp đó là đến cái mới khác, điều này làm tôi hứng thú và gắng sức dồn công vào đó. Đặc biệt Sếp rất khôn khéo trong việc sử dụng và “kích hoạt” tôi, lúc căng lúc giãn. Đến một ngày tôi cảm thấy một sự báo động, tôi bỏ bê thể dục thể thao, bỏ bê ngồi thiền, sức khỏe xuống cấp….! Chiều về nhà vì quá mệt mỏi nên ăn uống thật vô độ và ngủ khì!

Chợt tỉnh ra! Ôi, bao nhiêu công sức mình đổ ra đó, bao nhiêu tuổi trẻ đó, chẳng nhẽ mình cứ tiếp tục trôi lăn mãi ở đây sao? Thay vì vậy, tại sao mình không lấy tuổi trẻ đó làm hành trang để đi vào “cái biển tuệ” thì hay và hữu ích biết chừng nào. Ý thức cái Vô Thường luôn rình rập, trong khi đó tâm mình còn quá yếu ớt, mà mỗi ngày lại bị guồng máy xã hội cuốn đi không tài nào bức ra được. Nhỡ đâu vô thường tới thiệt thì sao? Lúc đó trong đầu tôi chắc toàn là bêtông cốt sắt, cát đá xi măng, dầm sàn cột, rồi cái tường vây hãi hùng kia nữa. Tai nạn xe lần trước là do tôi mãi mê nghiên cứu giải quyết việc thiết kế cái tường vây công trình, tranh thủ lên xe máy “nghiên cứu tiếp…thế là rầm một cái tai nạn đầu gối xảy ra. Híc, Tội nghiệp tôi chưa, tôi thực tập thật là yếu kém. Trong ngày mà bị cuốn vào công việc như vậy thì tối về ngồi thiền tâm mình nó yếu ớt vô cùng. Tôi thấy mình hiểu đạo phần nào, mình cảm thấy vui, nhưng nhìn lại tâm mình, nó vẫn yếu ớt như một đứa bé lên ba. Thôi thì hy sinh đời này để thúc liễm thân tâm vậy! Ai chê cười thì tôi xin nhận lãnh hết. Tôi xin được đi theo tiếng gọi của Đức Thế Tôn. Xin được rong chơi kiếp này, Mai này thấy nó vui vui hay hay thì sẽ rủ nhiều người rong chơi cùng! Bây giờ thì cứ nghe lời Đức Thế Tôn trước vậy!

Thế là Giọt Nước Thứ Ba khẽ chạm miệng ly! Giọt nước thứ hai đã làm nền tảng cho giọt nước thứ ba xuất hiện.

Rồi tôi bắt đầu ngồi lại quán chiếu xem hoàn cảnh mà tôi đang có đó liệu có đủ điều kiện để tôi đủ sức bức ra khỏi hay không. Có đủ khả năng để làm con hưu nai trở về đồng quê, chim chóc nương trời mây hay không? Và rồi tôi đã lên kế hoạch bức ra khỏi những ràng buộc đó và để “bước tới thảnh thơi”

 

Vượt qua chướng ngại

Cô Xuân nói vui với tôi rằng: “Đạo chuẩn bị bước vào đường cao tốc, ừm mà đường cao tốc này cũng chỉ cho chạy 40km/h thôi”. Cả hai nhìn nhau cười.

Đầu tiên là tôi phải thuyết phục được gia đình, tiếp đó là khám và kiểm tra sức khỏe. Nếu vượt qua hai “cửa ải” này mới đề cập với tăng đoàn để xin tập sự được. Tiếp đó xin nghỉ và chuyển giao công việc lại cho công ty. Sau đó là xác nhận với Tăng Đoàn và chờ tin vui từ Tăng Đoàn về việc chấp nhận tập sự.

 

Cửa ải thứ nhất: thuyết phục gia đình

Tôi chọn mục tiêu là “đánh thẳng” vào mẹ, vì mẹ là người theo đường hướng tâm linh, mà trong gia đình ai có “quyền lực” tâm linh thường là người quyết định mọi việc quan trọng trong gia đình và gia đình tôi cũng không ngoại lệ, chỉ cần mẹ không ngăn cản thì thế nào ba cũng sẽ bằng lòng. Thế là tôi liên tục “khủng bố” mẹ trong 3 ngày trời bằng tin nhắn và cuộc gọi. Mẹ thì không dùng tình cảm mà sử dụng lý trí nhiều hơn, mẹ “phản đòn” bằng email rồi cũng tin nhắn và kèm cuộc gọi. Mẹ nêu ra hết những khó khăn mà tôi phải đối diện, phân tích này kia….rồi đánh tâm lý v.v… Nhưng hay một chỗ là nhà tôi theo “trường phái tự do dân chủ”. Cuối thư hay cuối lời nhắn bao giờ cũng có câu “Trước giờ ba má không can dự vào quyết định của con cái nhưng ba má nêu lên hết những cái mà có thể con chưa thấy hoặc đã biết rồi, những cái khó khăn mà con sẽ gặp phải, những suy nghĩ riêng của ba má. Và người cuối cùng quyết định cuộc đời con là chính con, đương nhiên là ba má sẽ có dính dáng ít nhiều”.

Sau ba ngày mẹ dừng “phản đòn”, nhưng tôi vẫn cảm thấy mẹ còn lo lắng, còn ít nhiều níu kéo. Thế là phải dùng chiêu cuối cùng: tình mẫu tử và tôi đã quyết tâm thể hiện hết mình: “Con chán đời lắm rồi, con mệt mỏi lắm rồi, con sắp thành gà công nghiệp rồi, sức khỏe con đang trên đà suy kiệt, trong thời gian chờ đợi tăng đoàn hồi âm, nếu không được nhận tập sự thì con cũng sẽ xin nghỉ việc rồi đi Trúc Lâm vài ba tháng hay rong chơi đâu đó vài ba tháng rồi mới tính tiếp”.

Sau tin nhắn dứt khoát đó, mẹ mới chịu nhẹ lòng. Mắc cười nhất mẹ lại là người “thử thách” còn ba là người làm nhiệm vụ “mở cổng”. Ba gọi điện cười vui và chọc “Chào Thầy, thầy giáo chào thầy tu” cả hai cười khặc khặc. Thế là xong cuộc chiến cam go. Ba nhắn: Trước khi đi tập sự nhớ thu xếp về nhà chơi mấy bữa, ba làm gỏi cuốn cho ăn. Ôi hạnh phúc quá! Nhưng tôi nghĩ thầm trong bụng, ui za không biết có phải ông bà đang dùng tuyệt chiêu cuối “dẫn xà xuất động” không đây! Hày zà! Thôi kệ, ráng giữ tâm cho vững là được.

 

Cửa ải thứ hai: Kiểm tra sức khỏe.

Nhờ ơn Bụt nên sức khỏe xuống cấp chưa đến mức giới hạn, tim gan phèo phổi tạm thời là “Normal”. Nhưng bị thiếu máu nhẹ, ừm uống máu, í nhầm uống Fe một thời gian chắc hết!

 

Cửa ai thứ ba: xin thôi việc.

Đúng là vào trận mới biết nó không đơn giản, mọi việc hầu như đã đi vào quỹ đạo. Nhưng đến phút quyết định tự dựng thấy sờ sợ (sợ ở đây là sự bỏ đi cái rụp những gì mình đang xây dựng, đang cầm nắm một cách êm đềm bấy lâu nay, đó là nguồn kinh tế và công việc mà mình đang nắm giữ), nó là bước 3 tuy nhiên nó cũng đáng gờm thiệt.

Nhưng cuối cùng cũng đủ dũng lực, tôi đã chia sẻ với Sếp ngay giữa văn phòng làm việc, tất cả anh chị em cùng nghe luôn. Sếp là người hiểu đạo và là người đạo Công Giáo nên cũng biết. Sếp nói “bên anh cũng vậy, ai mà đi được con đường này thì phải đủ duyên. Không phải ai muốn đi cũng được,…phải được Chúa gọi…., anh tôn trọng quyết định của em”. “Trời ơi! Vừa định khai thác kho kiến thức của anh Đạo giờ anh đi mất rồi” – Thằng em nó thốt lên.

Thấy sếp có vẻ buồn, nhưng đành vậy! Có lẽ kiếp trước mắc nợ nhau gì đó, kiếp này mình phải làm trả trong 3 năm! Hết nợ thì ra đi thôi, tìm nợ khác “to hơn” để mà trả!

Điều mà tôi muốn chia sẻ nhất đó là hơn 30 phút ngồi thưa chuyện với Sếp nhân sự (Sếp bà). Bình thường Cô quát mắng nhân viên ghê gớm lắm nhưng khi nghe tôi chia sẻ con đường mình sẽ đi và quyết định của mình, Sếp bà tuy tiếc nhưng rất thán phục lý tưởng đó. Sếp bà dặn dò:

“Em tu học như thế nào mà đừng để xa lìa với đời sống bình thường, đừng tu để “lên trển” mà bỏ lại những người đau khổ khắp nơi dưới này. Em tu học như thế nào để có thể quay trở lại giúp đỡ cho những người trẻ bây giờ. Nhìn biểu hiện của một số giới trẻ bây giờ chị thấy nản quá. Em nhớ giữ liên lạc với chị và thường xuyên cho chị biết là em đang thực hiện lý tưởng của mình như thế nào nhé, chị muốn dõi theo bước em.”

Nghe chị tâm sự tôi cảm thấy mình được nuôi dưỡng quá chừng. Tôi nghĩ rằng mình phải cố gắng nhiều lắm, đúng như mọi người nói “tu là đi ngược dòng”!

Chị ân cần nhắc nhở thêm:

“Chị thấy em sống và làm việc tách biệt, độc lập và thiếu sự liên hệ với mọi người, đây là điểm yếu nhất của em. Nó thuộc về bản tính lâu đời, nếu em cũng thấy như vậy thì em phải quyết tâm vượt qua nó để mình hoàn thiện hơn!”

Đúng rồi, nó là tập khí lâu đời trong tôi, đi tu là để mở lòng ra mà! Nhớ hồi đó trong những lần đi thực tập trên Bát Nhã với tăng thân, các anh chị em phải luôn nhắc nhở tôi “Đạo không đi như một dòng sông gì hết, vào khóa tu là không thấy mặt mũi đâu cả, không chịu đi cùng anh chị em”

Bây giờ xem như cơ bản mọi việc đã xong

Quay nhìn cái nhà trọ nơi mình đang sống….khiếp!….làm sao cho nó biến thành “ba va ly một két sắt” í nhầm “ba y một bát” được đây? Có lẽ đây là cửa ải thứ tư.

Nhớ lại giọng ngâm nga bài hát “Bình Yên” do cô bạn đồng nghiệp đang bập bẹ tập hát, cô nói: “ngày Đạo chia tay anh em, tui sẽ hát bài này tặng Đạo trước mặt anh em” My god! Híc đây là một cửa ải nữa chăng!

Bởi vậy thấy cuộc sống bây giờ nhiều dây mơ rễ má quá chừng, hồi trước nhờ tỉnh táo cắt duyên bớt, chứ nếu không giờ này chắc phải thêm nhiều nhiều bước nữa lắm. Hồi xưa mẹ tôi sợ hiện tượng “mưa dầm thấm lâu” nên có “bủa lưới” trước.

Nào là “ồ, đứa học trò của ba nó lanh lẹ, tháo vát, học giỏi, tết năm nào cũng về thăm ba, nó chưa có bạn trai…. (bó tay)

Nào là “Mỗi lần con về quê, cô chủ nhà máy xay lúa cứ hỏi thăm con, con gái của cổ giờ làm ngân hàng ở đây đó con…. Híchíc

Nào là “con thấy con gái cô Thúy như thế nào, hôm trước cô Thúy về đây thăm má và có ý định giới thiệu nó cho con” huhu.

Rồi đến dùng chiêu nhà cửa “Ừm còn muốn có nhà cửa ổn định trên SG thì con để dành ngân hàng sẽ không bao giờ mua nổi, giờ mẹ cho mượn tiền cùng với tiền của con và mua cái chung cư nhỏ nhỏ, sau đó con làm việc và trả lại má”.

“Dạ con thích ở nhà trọ à” – Tôi trả lời ngay lập tức.

Cuối thư tôi xin trích dòng tin nhắn thân thương của Ba. Ba Má ơi, con sẽ rong chơi thật vui để Ba Má cũng được yên vui!

“Biết con đi tu ban đầu ba thấy hụt hẫng, xúc động, có lẽ tại mình ích kỷ, một phần cũng lo cho tương lai con, xa nhà sức khỏe sẽ như thế nào, có ai chăm sóc. Nhưng nghĩ lại biết đâu con đi tu lại tốt, tu hành tâm tính đầu óc sáng suốt lại khỏe mạnh thêm. Mọi thứ lo cho kỹ rồi đi, phải về nhà một chuyến. Tuần sau ba đi Nha Trang chủ nhật mới về, con đi tu xa, mai này nhớ con ba biết làm sao đây huhu!”

Ba ơi, Sư Ông là đóa hoa ngàn năm mới nở một lần, con sẽ hạnh phúc lắm và sẽ có nhiều phước duyên lắm nếu con được trở thành “con ruột” của sư ông! – tôi tự lẩm bẩm.

 

văn – Trước 2014

Nhật ký trước lúc đi xa
Trái tim thanh niên phụng sự xã hội
Hơi thở mùa Xuân
Nguyện xưa một vẹn phải tìm nhau
Những điều em ước mơ… (Thư gởi chị – Phần 1)
Vẽ một chữ Tâm giữa trời (Thư gởi chị – phần 2)
Bưởi – Mối tình đầu của em (Thư gởi chị phần 3)
Thạch Lam, Bính và …em… (thư gửi chị – Phần 4)
mùa xuân, em bé sơ sinh
Mười năm bên hàng dậu
Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm
Con dấu hạnh phúc
Khóc trong vòng tay của chính mình
Phép lạ Tăng thân
Cửa Tùng Đôi Cánh Gài
Những nấc thang chuyển hóa
Núi vẫn còn đây
Chốn bình yên
Gia đình tâm linh
Đá
Thiên thu
Mùa xuân đằng sau cánh cửa
Đường táo và đường Quyên
Mẹ – Nguồn thương yêu
Mẹ – Người Kỹ Sư Tâm Hồn
Khung trời đại học
Những điều ba mẹ muốn nói
Mẹ đang hạnh phúc
Thư tình nhân ngày Vu Lan
Ba ơi, con đang sống cho ba
Mẹ – phân khoa lớn nhất của trường đại học cuộc đời
Làm ra một niềm vui
Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối!
Xóm Thượng mùa lá chín
Liệng sợi tơ sen trói con mãnh hổ
Chúng ta đang hạnh phúc
Nụ cười đầu ngày
Ngôi làng quê tôi
Chăn bò, chăn mình và chăn em
Cây mận
Tăng thân, những nghệ nhân nặn tượng
Thực tập chánh niệm lại quan trọng với người trẻ?
Mùa trao đèn
Mở cửa nhìn pháp thân
Nụ cười cho đời
Hiện hữu nhiệm mầu
Mẹ là biểu hiện của tình thương
Ba ơi! Con đang tiếp nối sự nghiệp của Ba
Nơi ấy cũng là bây giờ và ở đây
Nha Trang ngày về
Phương Trời Lạ
Mùa nhiệm mầu!
Tăng thân- môi trường tốt nhất cho tôi
Ngày chuyển mùa
Lễ tốt nghiệp trong tu viện
Chuyện Tân Sa Di
Tết rồi
Hoa Hậu
Mây bay trời viễn xứ
Tiếng Chim Cúc Cu
Lễ thọ giới tân tu ấn tượng
Trong Má có Bụt – Trong Má có Con
Chuyến Rong Chơi Lý Thú
Vu Lan trắng
Xứ Nguyệt
Con đang sống một mùa thu kỳ diệu
Mùa mận chín
Mùa lá chín
Carousel Banners

Trong bức thư pháp hiện rõ bóng Thầy

Cứ mỗi lần nhìn bức thư pháp nơi chánh điện chùa Phổ Từ, tôi lại nhớ đến Sư Ông. Không những qua hàng chữ mường tượng ra bóng dáng Người mà trong nét bút màu mực lưu lại như còn văng vẳng lời nhắc nhở tràn đầy ưu ái của Sư Ông đối với tôi và mọi người.

Hàng chữ thư pháp trên liên quan đến một chặng đường tu học của tôi, vốn là một câu thơ của Sư Ông mà từ lâu tôi sử dụng như một quán ngữ cho sự thực tập của mình: hồ tâm lặng chiếu nguyệt thanh bình. Thuở ấy, tự biết tâm mình còn dễ dao động nên từ khi đọc sách Sư Ông vào khoảng năm 76, 77, tôi đã thực tập cố gắng nhìn lại tâm mình cho bớt xôn xao, “nổi sóng” nhất là khi bắt đầu tập hạnh xuất gia. Câu thơ trên khi chưa được treo lên vách đã ở bên cạnh tôi như một tâm niệm khó quên, một nhắc nhở không thôi.

Nhưng việc được gặp gỡ người đã chỉ ra một quán ngữ cho cuộc đời tu học của mình thì phải nhiều năm sau cơ duyên mới đến. Khoảng năm 1986, Sư Ông qua Bắc Mỹ giảng thiền khi làn sóng người tỵ nạn Việt Nam đến định cư ngày một đông. Sau khóa tu ở một trại hè gần San Diego, tôi quen biết anh Mộc, một họa sĩ và nhờ anh phỏng theo kiểu chữ Sư Ông, cắt giấy dán câu thơ làm thành một tiêu ngữ rất dễ nhìn, ai thấy cũng không rời mắt. Cho đến một hôm, trong một khóa tu ở tu viện Lộc Uyển, thì cơ duyên mới đến! Sau khóa tu, Sư Ông ngỏ ý cho các huynh đệ về thăm nhà, hay quý thầy, sư cô nào đã làm Trụ trì mà dám “bỏ chùa đi tu học”, thì dành cho mỗi người một món quà. Hôm đó, tôi thấy mình qualified nên theo đại chúng đi xuống Cốc của Sư Ông. Có thực tập chút chút, nên tôi cũng biết nhường nhịn các huynh đệ, để cho mọi người chọn quà trước. Ai ngờ, đến phiên mình thì quà … sạch trơn! Thật tình, tôi cũng chưa biết nghĩ sao, đúng là “tiến thoái lưỡng nan”, chẵng lẽ “đòi ” thì không nên mà bỏ đi thì hóa ra “cô phụ” lòng thương của Sư Ông. Ngay lúc đó, Sư Ông từ trong phòng ngủ bước ra, thấy tôi đứng đó (không biết thị giả có báo cáo hay không) thì Sư Ông nói ngay: Thầy muốn chữ gì, tôi viết cho thầy. Đợi thị giả trải giấy, bày xong bút mực, tôi mới ghé ngồi cạnh, miệng thưa với Sư Ông: Bạch Sư Ông, cho con xin câu: “hồ tâm lặng chiếu nguyệt thanh bình” rồi ngồi yên.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (11).jpgNgồi bên Sư Ông, một bậc Thầy tôn kính của mình, tôi bỗng thấy mình, vốn đã vóc dáng khiêm nhường, nay lại như nhỏ bé thêm! Trong lòng còn chút ngại ngùng chứ không sợ sệt, tôi bình tâm theo dõi hơi thở, giữ chánh niệm, rồi “enjoy” giây phút hiện tại.

Sư Ông điềm tĩnh khác thường, nhẹ nhàng vuốt tờ giấy, khoan thai cầm bút và như thể trút hết thái độ an nhiên tự tại kia xuống mặt giấy. Sư Ông viết thư pháp kể đã hàng trăm lần, thậm chí cả ngàn bức rồi mà dường như cung cách khi đặt bút vẫn chỉ là một, không thay đổi.

Đến lúc Sư Ông ấn dấu triện son thay cho chữ ký của tác giả lên bức thư pháp, tôi không còn giữ được bình tâm mà cảm thấy lòng mình rộng mở đón nhận cảm xúc mạnh mẽ, thiết tha từ một lời răn hiển hiện lên thành chữ từ tay một bậc Thầy. Lời dạy được thể hiện trong từ tốn, chân thành, thiết tha như kèm theo ánh mắt bao dung, từ ái. Ôi! chữ nghĩa bình thường không diễn tả nổi, bạn ơi! Khi ấy, tôi chỉ biết mỉm cười, thọ nhận ân đức của Thầy vừa ban cho mình một món quà vô giá.

Tôi đem bức thư pháp về chùa, làm khung, trân trọng treo lên tường chánh điện. Bên kia, là tấm hình Ôn Hội chủ chụp chung với Thầy tôi, Sư Ông Kim Sơn, và đại chúng ở tịnh thất Phật giáo San Jose thuở nào. Một tấm hình, một bức thư pháp đã ở bên tôi, an ủy, trợ lực tôi trong cuộc đời người tu hành.

Không chỉ nhận được lời dạy như thêm đậm nét trong bức thư pháp, tôi còn sớm lãnh hội nơi Sư Ông những ý tứ thâm sâu được thể hiện bằng một văn tài hiếm có. Từ nhiều thập niên trước, tôi đã cảm mến cuộc sống và tâm tình người xuất gia thiếu niên và nghĩ rằng tác phẩm “Tình người” của Sư Ông đã góp phần không ít vào việc hun đúc, tô bồi hạnh nguyện thí phát của chính mình. Bộ “Đường Xưa Mây Trắng” Sư Ông viết, Lá Bối in lần đầu gồm 3 tập, tôi say sưa đọc một mạch mới buông sách! Thơ của Sư Ông, gồm nhiều thể lọai, có bài được phổ nhạc, vẫn còn lưu lại trong ký ức nhiều người chúng ta như bằng chứng của một tấm lòng luôn ưu tư, xót xa về nỗi đau chung mà mọi người phải cam nhận. Người ta còn nói nhiều đến những thành tựu đáng kể về nhiều mặt mà Sư Ông đạt được không chỉ trong lãnh vực văn chương, văn hóa. Riêng với người hậu sinh như tôi, tôi chú ý nhiều hơn đến sự nghiệp giáo dục, truyền bá về mặt tâm linh, vận dụng Phât pháp trong đời sống mà tôi được may mắn theo đuổi việc học hỏi, thực tập, hành trì một cách gần gũi với Sư Ông trong thời gian lâu dài. Tôi đi theo làm phụ tá cho Sư Ông khoảng 10 năm trong các khóa tu học, nhiều nhất là ở tu viện Kim Sơn. Ngoài ân đức của một nghiệp sư khi tôi thọ Sa di thập giới ở chùa Việt Nam, Los Angeles, năm 1983, Sư Ông còn dành cho tình thương mến khi tôi bắt đầu thành lập đạo tràng tu học ở Hayward. Sư Ông cho một “bì thư” làm quà khai trương! Sau đó, vào năm 1994, sau khi tôi trình lên Sư Ông bài kệ kiến giải của mình:

Một chút nắng nhạt
Rơi trên y vàng
Nguyện khắp nhân gian
Bình an, chánh niệm.

Sư Ông truyền đăng, ban kệ truyền thừa cho tôi, mà qua đó, lời dạy của Sư Ông thật rõ ràng, thực tế:

Từ vân đương hiện thoại
Lực đại bản do căn
Đối cảnh tâm bất động
Chân giác bất ly trần.

Lời dạy đó đã giúp tôi bao nhiêu lần giữ cho được “tâm bất động” trước nhiều tình huống khác nhau. Tôi rất biết ơn Sư Ông với những lời giáo dưỡng, khuyên bảo ân cần giữa đại chúng cũng như khi ăn sáng riêng với Sư Ông ở Cốc Ngồi Yên tại Làng Mai.

Nhưng đặc biệt hơn cả là lời dạy bảo của Sư Ông giúp tôi qua khỏi một “đại nạn” trong cuộc đời tu hành của mình. Nếu như bạn có gia đình thì việc bạn làm những điều cần thiết để gìn giữ gia đình của mình là điều đương nhiên hợp lý. Tôi có chúng xuất gia, tức là gia đình tâm linh, thì tôi cũng cố gắng nuôi dưỡng, bảo vệ cho được an lành, vui vẻ. Nhưng, mấy khi học được chữ ngờ vì có những sự việc xảy ra ngoài tầm dự tính, hiểu biết. Năm đó, tôi phát giác ra có chuyện “bất thường” ở trong chúng tuy không rõ lắm là chuyện gì. Nhưng vì có khóa tu riêng biệt cho người xuất gia, tôi vẫn sắp xếp để tất cả chúng lên Kim Sơn tu học, một mình tôi lo sinh hoạt ở chùa với Phật tử.

Sau khóa tu, tôi trở lên đón mọi người về, thì mới biết, trong buổi pháp đàm, một vài thành phần trong chúng đã “bày tỏ” với mọi người về tình hình sinh họat trong chúng. Những ý kiến đó có chiều bất lợi và có thể làm thương tổn dẫn đến tan rã một chúng xuất gia như chơi! Nghe tôi trình việc, Sư Ông chỉ nhỏ nhẹ nói: “án binh bất động” và tôi hiểu ý người. Tôi áp dụng đúng lời dạy, nhẹ nhàng lắng nghe, tuyệt đối không nổi nóng, buồn giận. Sau đó, tình hình trở nên sáng sủa khi những thành phần đó bày tỏ sự hối tiếc hành động vụng về. Bây giờ, hơn 15 năm trôi qua, nhìn lại, mới thấy lời dạy của Sư Ông là hợp lý, khôn ngoan và sáng suốt. Nếu mình có phản ứng, thái độ, hành động cứng rắn hay giận dữ thì chắc chắn sự việc đã buồn càng thêm buồn, đã tan rã thì sẽ không có cơ hội hàn gắn, xây dựng trở lại được nữa.

Vừa mới đây thôi, năm 2013, khi gặp Sư Ông ở đại học Stanford, Sư Ông cũng ân cần dặn dò: phải có chúng xuất gia thì việc tu tập mới tốt được. Có thể cũng vì lý do đó mà khi ở Lộc Uyển, Sư Ông đã dành hơn 15 phút để giải thích cặn kẽ điều tôi thỉnh thị: Bạch Sư Ông, làm thế nào để xây dựng, nuôi dưỡng chúng xuất gia ở Mỹ? Trong câu trả lời, dù Sư Ông cũng dựa vào kinh điển, với ba phần ân đức, đoạn đức và trí đức nhưng cách trình bày của người thể hiện tấm lòng cùng ánh mắt ân cần, khích lệ chân tình của một bậc trưởng thượng luôn quan tâm đến những ưu tư của lớp hậu tấn.

Chỉ xin kể thêm một chuyện nữa thôi, chứ còn kỷ niệm với Sư Ông dài lắm, nhiều lắm. Sư Ông thích tôi ngâm thơ. Tôi cũng biết ý, cho nên lúc nào tôi cũng sẵn sàng. Hôm đó, có Giới Đàn ở Làng, sau khi dùng cơm chung xong, đến phần sinh hoạt, Sư Ông nói: yêu cầu thầy Từ Lực đọc cho nghe vài bài thơ. Tôi bắt đầu bằng vài bài ngắn, xong chuyển qua truyện Kiều. Bỗng dưng trong lòng nghĩ đến hình ảnh một khía cạnh nào đó của con người Từ Hải, rồi liên tưởng đến cuộc đời hành thế của Sư Ông, gần như đơn độc xướng xuất, nhẫn nại từng bước, qua bao nhiêu năm vẫn trung thành với đường hướng đạo Phật nhập thế, chăm sóc việc đào tạo thế hệ kế thừa. Chợt nghĩ thế, tôi thưa với Sư Ông: Bạch Sư Ông, con thích mấy câu thơ “trơ như đá, vững như đồng”…Sư Ông trả lời ngay, do it again, trên môi vẫn là nụ cười bao dung, hoan hỷ. Tôi vững dạ, ngâm hai câu thơ mà theo tôi, ký thác được ý chí bền chặt và tâm nguyện vững vàng, không chuyển của Người. Sư Ông rất vui và tôi cũng rất vui, còn gì bằng!

Sớm nay, tịnh tâm xong, ngồi nhìn bức thư pháp trên tường, tôi thấy Sư Ông như bước ra từ nét chữ, nhẹ nhàng, ung dung, khoan thai từng bước dưới ánh trăng thanh. Nét mặt Người an lạc biết bao, và tôi cũng thấy lòng bình an không kém.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (10).jpg

Hãy nhớ đến họ: Những nhà Quán quân vì Nhân loại

Trong chuyến đi hoằng pháp ở Hoa Kỳ năm 2013, vào ngày 25 tháng 10, đại chúng được đi tham quan vùng Bay Area. Suốt ngày hôm đó, đại chúng có cơ hội thăm tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity” tại công viên Henry J. Kaiser Memorial Park, thành phố Oakland, California.  Sau đó đại chúng đi thăm Thiền Viện San Francisco.

Hôm đó có một số các vị xuất sĩ và cư sĩ khá đông được tháp tùng Thầy. Cả đoàn đều ngồi trên xe buýt. Tượng đài được làm bằng đồng và là tượng đài lớn nhất ở miền bờ biển phía Tây Hoa Kỳ và cũng là tượng đài duy nhất ở xứ Hoa Kỳ vinh danh những nhà Quán Quân tranh đấu cho dân quyền và nhân bản trên thế giới, trong đó có Thầy – Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Trong số 25 người được gọi là “Champions for Humanity” (Quán Quân vì Nhân Loại) chỉ có 5 người đang còn sống, còn những người khác thì đã qua đời.

Sau đây là danh sách và tiểu sử ngắn gọn của 25 vị được gọi là “các nhà Quán Quân vì Nhân loại” (Champions for Humanity) (theo nguồn: http://oaklandwiki.org/Remember_Them%3A_Champions_For_Humanity_Monument):

    1. Ralph David Abernathy (1926-1990): Người cộng tác với Mục sư Martin Luther King trong phong trào nhân quyền.
    2. Maya Angelou (1928-2014):Nhà thơ, nhà viết kịch và cũng là một nhà tranh đấu cho nhân quyền.
    3. Susan Anthony (1820-1906): Một nhà hoạt động dân quyền đã tranh đấu cho quyền bầu cử của phụ nữ và bãi bỏ chế độ nô lệ.
    4. Ruby Bridges (1954-Hiện tại): một nhà hoạt động dân quyền và là người Mỹ gốc Phi đầu tiên học tập tại một trường tiểu học toàn người da trắng ở miền Nam nước Mỹ khi lên 6 tuổi.
    5. Cesar Chavez (1927-1993): Nhà hoạt động dân quyền và là nhà lãnh đạo của nông dân.
    6. Chief  Joseph (1846-1904): Tộc trưởng của bộ tộc Nez Perce (ở miền Tây Bắc Hoa Kỳ) và là nhà hoạt động dân quyền cho người da đỏ.
    7. Winston Churchill (1874-1965): Thủ tướng Anh trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ II, người có công rất lớn trong cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa phát xít.
    8. Frederick Douglass (1817-1895): Một nhà cải cách xã hội người Mỹ gốc Phi, đã từng là nô lệ và sau đó trở thành một nhà lãnh đạo phong trào đấu tranh đòi bãi bỏ chế độ nô lệ.
    9. Shirin Ebadi (1947- Hiện tại): Nhà hoạt động nhân quyền người Iran, tranh đấu cho những vấn đề nhân quyền ở khu vực Trung Đông và đã được trao giải Nobel Hòa Bình.

10.  Mahatma Gandhi (1869-1948): Nhà hoạt động cho hòa bình, có công lãnh đạo Ấn Độ giành độc lập từ người Anh.

11.  Helen Keller (1880-1968): Nhà hoạt động xã hội luôn tranh đấu cho quyền lợi của người bị khuyết tật.

12.  Coretta Scott King (1927-2006): Nhà hoạt động nhân quyền.

13.  Martin Luther King (1929-1968): Nhà lãnh đạo dân quyền.

14.  Abraham Lincoln (1809-1865): Tổng thống Mỹ có công hủy bỏ chế độ nô lệ.

15.  Nelson Mandela (1918-2013):  Nhà hoạt động nhân quyền và là tổng thống Nam Phi đầu tiên được bầu cử dân chủ theo phương thức phổ thông đầu phiếu.

16.  Harvey Milk (1930-1978): Nhà chính trị hoạt động vì quyền lợi của giới đồng tính Mỹ

17.  Mother Teresa (1910-1997): Người sáng lập Hội Dòng Truyền Giáo Bác Ái và đoạt Giải Nobel Hòa Bình năm 1979

18.  Rosa Parks (1913-2005): Nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi

19.  Franklin Delano Rooselvelt (1883-1945): Tổng thống Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ II, người sáng lập ra tổ chức Liên Hiệp Quốc.

20.  Oska Schindler (1908-1974): Nhà doanh thương người Đức đã tìm cách tranh đấu với quân phát xít để cứu được hơn 1200 người Do Thái khỏi bị tiêu diệt.

21.  Thích Nhất Hạnh (1926-Hiện tại): Thầy tu Phật Giáo người Việt, nhà tranh đấu cho nhân quyền và cho hòa bình.

22.  Rigoberta Menchú Tum (1959-Hiện tại): Nhà tranh đấu nhân quyền cho dân bản xứ tại Châu Mỹ La-tinh.

23.  Unknown Rebel of Tiananmen Square (1989): Người biểu tình vô danh đã đứng chặn đoàn xe tăng đang chuẩn bị đàn áp cuộc biểu tình của sinh viên Trung Quốc đấu tranh cho dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn

24.  Elie Wiesel (1928-Hiện tại): Người sống sót sau Thảm họa diệt chủng người Do Thái và từ đó đã cống hiện cuộc đời của mình để ngăn chặn nạn diệt chủng trên thế giới

25.  Malcolm X (1925-1965): Nhà lãnh đạo Hồi giáo người Mỹ gốc Phi, theo chủ nghĩa dân tộc, và là một nhà tranh đấu cho dân quyền.

 

Trong 25 vị Quán Quân, vị nào cũng được trích một câu nói nổi tiếng của mình. Ví dụ như:

Tổng Thống Abraham Lincoln: “Whenever I hear any one arguing for slavery I feel a strong impulse to see it tried on him personally”. (Mỗi khi nghe bất kỳ ai tranh cãi để ủng hộ cho chế độ nô lệ, tôi cảm thấy thôi thúc muốn thấy chính người đó rơi vào chế độ nô lệ một lần cho biết.)

Mục Sư Martin Luther King:Injustice anywhere is a threat to justice everywhere” (Bất công ở bất cứ nơi nào đều là mối đe dọa cho công lý ở mọi nơi)

Thầy Nhất Hạnh: ” To work for peace is to be peace in every breath, every step and every action” ( Muốn xây dựng hòa bình thì trước hết ta phải có hòa bình, an lạc trong từng hơi thở, từng bước chân và từng hành động của mình)

Mahatma Gandi: You must be the change you wish to see in the world(“Chính bạn phải là sự thay đổi mà bạn mong muốn được nhìn thấy trên thế giới này” )


Điều vui nhất là khi Thầy tới thì thấy cái tượng của Thầy rất lớn và mình có thể so sánh hình ảnh Thầy đang còn sống với hình bức tượng của Thầy: một bên còn mềm và một bên lại rất cứng, một bên còn tươi vui có sức ấm và một bên thì có vẻ khắc khổ. Hình như nghệ sĩ Mario Chiodo nghĩ rằng là một vị thiền sư Phật giáo thì phải có vẻ khắc khổ chút đỉnh, cho nên nhà nghệ sĩ này đã tạc hình Thầy có vẻ khổ hạnh hơn.

Thành ra khi các đệ tử của Thầy tới thì thấy hai khuôn mặt thật khác nhau. Có những hình chụp rất vui như khi Thầy đưa tay rờ đầu hoặc rờ cằm bức tượng Thầy. Nhìn hai vẻ mặt rất khác nhau. Quý thầy và quý sư cô đã chụp được rất nhiều hình và hôm nay xin chia sẻ một ít để quý vị xem cho vui.

Điều buồn cười nhất là Thầy trò cứ quanh quẩn xung quanh tượng đài của Thầy để chụp hình với tượng mà không để thì giờ để đi chụp hình với những tượng khác. Vì vậy trong những bức hình sau đây mình không thấy được toàn bộ cái vĩ đại của tượng đài 25 vị.

 

 

 

Một số hình ảnh Thầy và đại chúng tại Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”:

Hình được tạc có vẻ khắc khổ, trên trán có một đường gân nổi lên.


Đây là tượng của Thầy kế bên tượng của tổng thống Franklin Roosevelt ngồi xe lăn.


Thầy đang sờ cằm của Thầy- một bên rất vui còn một bên rất khắc khổ.

 

Trên tượng đài từ bên tay trái nhìn qua là Tổng thống Franklin Roosevelt, Mẹ Teresa và Thầy.

 

 

Để xem thêm hình của Thầy và đại chúng chụp tại Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”, xin bấm vào đây: http://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/thay-duoc-tac-tuong-tai-my

Để tìm hiểu thêm về Tượng đài “Remember Them: Champions for Humanity”, xin xem trang này: http://www.remember-them.org/