Đá

Ở Vườn Nai có các thầy, các cô rất dễ thương. Xe đến nơi, bước lên sườn đồi, nhìn thấy khuôn mặt một sư cô, một sư chú thôi, là tự nhiên hai lá phổi mình tự động hít một hơi dài sung sướng. Thế là quên hết những gió bụi dọc đường. Gặp một người quen, chắp tay búp sen, mỉm cười; chẳng cần nói một câu, trong giây lát trao đổi nhau biết bao nhiêu niềm thân thiết.

Thế nhưng mà (phải xin quý thầy, quý cô ở Vườn Nai tha lỗi), mỗi lần trên đường tới Vườn Nai, trong lòng tôi nôn nao một niềm vui nho nhỏ. Muốn quên nó đi không được, cứ dìm nó xuống lâu lâu nó lại ngoi lên. Đó là cái cảm giác hạnh phúc biết mình sắp được gặp các tảng đá. Khi xe leo lên dốc quanh sườn đồi, miệng mở ra nhoẻn những nụ cười đầu tiên, là lúc nhìn thấy mặt các anh chị đá xếp hàng hai bên đường, như những người bạn cũ chung thủy. Mà cứ y như rằng, hễ mình mỉm miệng cười thì các anh các chị đá cũng cười theo đáp lễ. Còn như nếu mình mải nói chuyện quên không cười chào thì các anh chị đá vẫn bình tĩnh trầm ngâm, không một lời hờn trách bao giờ!

Có lần đi lang thang trong tu viện, qua xóm Vững Chãi, qua các dãy nhà tạm trú của các thiền sinh, đi sâu vào phía trong, sau những mảnh kiếng thu điện mặt trời, theo con đường mòn xuống thung lũng, tôi gặp một tảng đá thật lớn, cao quá đầu người, bề mặt phẳng gần bằng một cái chiếu vuông. Đây rồi! Đứng lại, chắp tay chào, nhìn tảng đá mà thở một hơi dài, không khí núi ngập đầy hai lá phổi! Tảng đá này chắc phải là anh, chị em ruột với một tảng đá ở Làng Cây Phong mà tôi vẫn đến chào mỗi khi về Làng. Leo lên trên mặt bằng phẳng, tôi cũng ngồi xuống, xếp hai chân lại, thẳng lưng lên, sung sướng được thở ra thở vào cùng với đá. Một vài lần như vậy, tới một bữa tôi liếc nhìn sang phiến đá bên cạnh, chợt thấy một cái tọa cụ có ai đã cất dưới chùm lá cây. Tọa cụ được giấu kín dưới khe đá để che cho khỏi ướt nếu trời mưa! Thật là vui, khi biết có thêm người đã ngồi trên tảng đá này! Chắc một thầy, hay một sư cô nào đó đã tới đây xin kết bạn thân với anh, chị Đá này nhiều lần trước. Chắc từ lâu rồi, người bạn đá ấy đã tới đây ngồi nhiều lần cho nên mới đem cả tọa cụ tới cất một chỗ! Khi đứng dậy chắp tay vái chào từ giã anh Đá, tôi cũng gửi một lời chào cho người bạn đá ấy – mà tới giờ tôi chưa biết là ai, hay là những ai!

Không biết tu đến kiếp nào mình mới buông bỏ được tấm lòng yêu đá. Tình yêu, như chúng ta thường bảo nhau, chẳng ai biết nó là thế nào! Đó là một tâm trạng rất khó phân tách rõ ngọn nguồn. Chỉ biết, không gặp mặt thì nhớ, chờ nhau lòng khấp khởi, trông thấy nhau thì hớn hở vui mừng. Gặp nhau không ai nói với ai một lời, nhưng biết bao nhiêu nỗi niềm được truyền qua lại, không thể định nghĩa đó là những nỗi niềm gì. Từ nhỏ chúng ta đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Đối với một người bạn cùng xóm, một thầy giáo, một cô giáo, hoặc ông chú, bà cô nào đó. Đến tuổi dậy thì tâm trạng đó càng hay xãy ra. Ai chưa yêu thì không thể nào hiểu được. Người yêu đá cũng vậy. Ngồi quán chiếu về đá, về tình yêu mình đối với đá, về lẽ vô thường của vạn hữu, về lịch sử trái đất, lịch sử địa chất, cả lịch sử thành hình vũ trụ. Cứ như thế hết lần này sang lần khác, cũng khó hiểu được tại sao mình bị lòng yêu đá ràng buộc đến như thế. Không hiểu rõ nguồn cơn, thì chưa biết làm sao để mà rũ bỏ.

Cho nên, xin quý vị hãy coi đây là một bài sám hối. Hoặc nói như anh chị em tin thờ Chúa, đây là những lời ăn ăn xưng tội, confessions. Tôi yêu đá. Yêu chưa thể nào bỏ được. Phải tới rặng Rocky Mountains ở Alberta, Canada. Đứng đó mà nhìn lên, chiếm đầy cả bầu trời chỉ toàn là đá. Phải tới Vân Nam, nhìn những bức đại tự chính tay đá vẽ trên vách núi nét bút thảo lượn phơi phới như rồng bay. Phải thức dậy ở Làng Cây Phong sau một đêm mưa tuyết, nhìn xuống vườn thấy những tảng đá hôm qua đã biến mất, chỉ còn những gò tuyết trắng êm như nhung! Đá, ở dưới lớp tuyết âu yếm che giấu đó là đá! Ở bên làng, có lúc người ngồi yên trên tảng đá giữa rừng, đàn nai thản nhiên đi qua không sợ hãi, nghĩ con người cũng hiền như tảng đá. Phải nằm soải trên nền đá ấm áp một buổi trưa mùa Thu, nhìn lên những hàng lá đổi màu. Phải lượm một hòn sỏi trong khe suối, hay trên bãi biển, đưa lên nhìn không chán mắt, không nỡ rời tay. Có những lúc nhìn thấy đá, bỗng ngây người, tự biết mình si ngốc mà không bỏ được, không hiểu vì sao. Đó là tình yêu.

Đến Vườn Nai, nhìn chung quanh đầy bè bạn, bát ngát, trùng trùng, lố nhố, trên ngó xuống dưới ngó lên, đàn đúm với nhau những đá là đá! Hỏi không dao động trong lòng sao được?

Ở Vườn Nai có những trường thành đá xếp hàng trên lưng dãy núi cao tuốt luốt, trông xa như đám trẻ em nối đuôi nhau lom khom chơi trò Rồng Rắn, em này đặt tay trên lưng em kia, vừa bước đi vừa hát nhịp nhàng. Có những tảng cao ngất trời tụm năm, tụm bảy lưng chừng non, như mấy người bạn vừa ngồi ngắm cảnh vừa trò chuyện cùng nhau. Những tảng đá hùng vĩ trên đỉnh cao đứng thản nhiên nhìn xuống đám chúng sinh dưới chân đồi bước chân theo nhau thiền hành. Người đang bước chân đi, qua một khúc rẽ, bỗng đứng sững lại, ngẩn người, vì trước mắt hiện ra một khuôn mặt đá rạng ngời! Có những bức vách đá sừng sững, phơi mặt với gió sương trên lưng chừng núi qua bao nhiêu triệu năm trông như có người đã phạc thành một bức tường, phơi một mặt đá xám như trang giấy chờ họa sư tới đưa tay, đưa một đường tuyệt bút. Nhìn kỹ thì thấy chẳng cần ai đem bút tới vẽ vời làm chi. Chính những đường gân trên mặt đá, ánh sáng chiếu vào, đang lung linh hiện lên những thư pháp nhiệm mầu!

Cả những hòn đá cuội nằm rải hai bên đường, cũng đầy tình ý. Có người nhặt đá nắm trên tay âu yếm. Hình như óc chiếm hữu chưa bỏ được, đem về nhà rồi cũng không biết bầy đâu cho hết. Ngày xưa bên Tàu có ông Ngưu Tăng Nhụ (Niu Seng Ju, 779 – 847, đời Đường) được mô tả là người “yêu đá như yêu con cháu, cung kính với đá như đối với bạn bè.” Nhưng ông cũng quý đá như bảo ngọc. Nói đến châu ngọc, không khỏi dấy lên lòng chiếm hữu. Nhiều anh chị em đi qua Vườn Nai đã xếp các hòn đá cuội lại như muốn gửi những thông điệp cho chính mình hay cho người một kiếp sau nào sẽ đi qua. Vẫn muốn sử dụng đá như những phương tiện truyền đạt không lời.

Locuyen_da1

Nhưng mà khi chúng ta đứng đối diện, nhìn tận mặt một tảng đá đứng hay ngồi tĩnh tọa bên đường, lúc đó mới là lúc người cùng đá giao cảm với nhau với tấm lòng mở rộng, bình đẳng, thấm sâu và bền chặt nhất. Mình nhìn đá, đá nhìn mình. Mình mỉm cười, đá nháy mắt. Mình không cần nói một câu, đá hiểu hết. Mình chắp tay, cúi đầu vái đá. Đá lặng thinh, coi như mình đang vái một cõi vô thường.

Tôi không nhớ mình đã có thói quen vái chào các tảng đá tự năm nào, ba hay bốn chục năm trước. Nhưng gần đây càng ngày thói quen càng nặng, gặp đá là cúi đầu thi lễ. Đứng chụm hai chân, thẳng lưng, nhìn đá như là đá, chắp hay bàn tay lại, cung kính nghiêng mình. Bởi vì không biết cách diễn tả nào khác. Mình không thể nói với đá được, vì đá không có tai nghe. Ôm đá cũng là một hành động dễ thương, nhưng đá không thể đáp lại đưa hai tay ôm mình để đáp lễ được. Yêu ai mình không nên đặt người ta vào một hoàn cảnh bố rối như thế. Cho nên, cứ cúi chào nhau, nghiêng mình một lúc lâu, trong giây phút đó những tâm tình được truyền qua lại, biết không thể truyền bằng lời nói được.

Có lẽ lần đầu tôi cúi chào đá là do ảnh hưởng của bốn chữ “bái thạch vi huynh,” nghĩa là người lạy đá, để kết nghĩa nhận đá làm anh. Trước khi Phan Bội Châu viết bài phú mang tên đó, bài này rất nổi tiếng, thì nhiều nhà văn bên Trung Hoa đã hành động như thế rồi. Một người nổi tiếng nhất là ông Thẩm Quát, vào thế kỷ 11. Một lần tôi hỏi ông Tạ Trọng Hiệp, một nhà thư tịch học uyên thâm, về điển tích“bái thạch vi huynh,” không ngờ ông về nhà viết cho một lá thư dài cho biết những ai đã làm công việc đó. Không ngờ thói quen này đã được truyền thụ qua nhiều đời như thế!

Thói quen gặp đá cúi chào tôi đã nhiễm từ mấy chục năm nay, nhưng gần đây tôi hay vái chào hơn, và chào một cách chân thành, kính cẩn, thấm thía hơn, cũng nhờ ảnh hưởng của Anica.

Năm Anica chưa đầy một tuổi thì cha mẹ cháu từ Mỹ sang Thái Lan làm việc. Cháu lớn lên với các chị giữ em người Thái, đến vườn trẻ chơi với trẻ con Thái, được các sinh viên học trò của bố mẹ bồng bế. Cháu học được thói quen nghiêng mình vái lạy mỗi khi đi qua trước bàn thờ Bụt; mà ở Thái Lan thì mỗi ngã tư lại thấy một bàn thờ. Cháu học được tiếng “Vái,” một tiếng Thái Lan giống tiếng Việt.

Một lần về California thăm ông bà ngoại, lúc lên 3 tuổi, Anica ở ngoài sân chơi tha thẩn với mấy khóm hoa trong vườn. Cháu đưa tay xoa trên mấy bông hoa lavender (tiếng Việt gọi là hoa oải hương), rồi bước tới đưa hai tay cho ông ngoại ngửi mùi thơm. Cháu vuốt, vuốt mấy chùm hoa tím mỏng manh nhoi lên từ mặt đất, cao ngang tầm tay cháu, như vuốt má một em bé. Bỗng nhiên có lúc cháu ngưng tay vuốt hoa; cháu chắp hai tay lại và nghiêng mình rất sâu, vái lạy mấy bông hoa.

“Anica! Tại sao Anica vái bông hoa?”

Anica quay nhìn ông ngoại, miệng trả lời ngay không cần suy nghĩ, bằng tiếng Anh: “Because, it’s beautiful!” (Bởi vì hoa đẹp quá!)

Chúng ta đâu có cách nào nói cho một bông hoa hiểu, rằng, “Hoa ơi, bạn đẹp quá!” Hoặc “Bác Hoa ơi, bác đẹp quá!” hay “Cô Hoa ơi, cô đẹp quá!” Đối với một em bé lên ba chưa biết nói tiếng người đầy đủ, làm sao diễn tả được tấm lòng yêu mến, hâm mộ nức lên trong lòng? Làm sao xin kết bạn được với bông hoa? Không ai dậy cháu cách diễn tả nào khác. Anica đã chắp tay vái; như vẫn vái Bụt.

Kể từ khi học Anica, tôi đã thay đổi những lần tôi vái chào các tảng đá. Trước kia, tôi chào tảng đá như một người anh, một người mình kính trọng nhưng không dám gần gũi thân mật quá, sợ gần gũi quá thì thiếu niềm tôn kính. Tôi đoán các cụ đời xưa như Thẩm Quát hoặc Phan Bội Châu “bái thạch vi huynh” cũng mang cùng một thái độ cung kính mà xa cách như thế.

Nhưng cháu Anica đã dậy tôi sống với thái độ mới. Chúng ta có thể vái chào bông hoa, vái chào tảng đá, giống như mình vái Bụt. Bụt ở trong mình, mình ở trong Bụt. Đá ở trong mình, mình cũng trong đá, hai bên cảm ứng với nhau. Cảm ứng đó phải được thực tập nhiều lần một kinh nghiệm sống, sống một cách tự nhiên, để cho lòng mình thật sự cung kính, chuyên tâm chú ý cúi đầu vái lạy. Cảm ứng đó cũng không thể suy nghĩ, không thể thảo luận hay giải thích được.
Khi nói đến đá chúng ta tưởng đó là tiêu biểu của sự trường tồn. Nhiều người vẫn chỉ đá, chỉ sông nước mà thề nguyền với nhau, coi như không bao giờ thay đổi! Ông Thẩm Quát (1031 – 1095, đời Tống) lạy đá nhận làm anh; nhưng ông cũng nghiên cứu đá như một nhà địa chất học. Nhờ thế đã nhìn thấu trong đá thấy lẽ vô thường.

Thẩm Quát là một người bác văn quảng kiến, người đầu tiên viết về đặc tính kim nam châm làm la bàn (trong sách Mộng Khê Bút Đàm in năm 1088, 100 năm trước cuốn sách De naturis rerum và De ustensilibus của Alexander Neckam ở Âu châu bàn về chuyện này).

Nhờ quan sát ông khám phá ra sao Bắc Đẩu không phải là phương Bắc “thật” theo từ tính của kim nam châm. Ông là người đứng đầu viện thiên văn tại triều đình, bỏ 5 năm nghiên cứu quan sát, ghi chép chuyển động của mặt trăng trước khi bị triều đình xóa bỏ hết công trình. Ông thật là một “người thời Phục Hưng’ mấy trăm năm trước thời Phục Hưng ở Âu châu, vừa là một nhà toán học, một nhà phát minh, một thi sĩ, một người tham thiền, nghiên cứu y học và dược tính cây cỏ; có lúc lại làm bộ trưởng tài chánh, làm tổng thanh tra trong chính phủ, trước khi bị tước bỏ hết chức tước vì theo phái cải cách Vương An Thạch.

Những người yêu đá chú ý đến Thẩm Quát vì ông “lạy đá gọi bằng anh”. Nhưng cũng còn vì ông đã nêu ra những giả thuyết về sự biến chuyển hình thái đất đá (geomorphology). Năm 1074 đi thăm rặng núi Thái Hàng (phân chia hai vùng Sơn Đông và Sơn Tây bên Tầu), ông thấy trên núi có những vỏ sò hóa thạch mặc dù ngọn núi ở cách xa biển mấy trăm cây số; ông đưa ra giả thiết vùng này trước kia phải là bãi biển. Ông cũng khám phá những cây tre hóa thạch ở một vùng khí hậu lạnh, chung quanh không hề có bóng tre; để đưa ra giả thuyết khí hậu trong thiên hạ từng thay đổi nóng hóa lạnh, lạnh trở thành nóng. Khi quan sát đất bồi ở giữa các dãy núi trong rặng Thái Hàng và trong khe núi Nhạn Đãng (gần Ôn Châu bây giờ) ông nhận thấy những vùng đất phù sa tích lũy biết bao đời trước sau đó đã bị soi mòn trải qua nhiều thời đại kế tiếp, để lại các tảng đá hình dung cổ quái, chứng tỏ mặt đất đã thay đổi với thời gian, khi lên khi xuống. Trên mặt đất, trong núi non vững như thế mà cũng là những cuộc bể dâu chẳng có gì thường tồn cả.

Một người chứng kiến và suy ngẫm về lẽ vô thường một cách sâu xa như thế, lại là người đã bái thạch vi huynh!

Cho nên, khi nghiêng mình vái chào các ông anh bà chị đá của chúng ta trong Tu viện Vườn Nai, chúng ta lâu lâu có dịp nhắc nhở cùng nhau: Các anh, các chị đá ơi, chẳng ai thường tồn đâu, lũ chúng ta đều như vậy cả.

Những ai đã qua Vườn Nai trong 10 năm qua thì chắc ghi nhận bên phải đường leo trên lối vào có hình ảnh một tảng đã đã vỡ làm đôi. Mấy năm đầu còn trông thấy một tảng đá gần như nguyên con, bị nứt ở giữa, hé ra một khe nhỏ hình chữ V nhỏ, rồi mỗi năm kẽ đá vỡ lại tách rộng thêm ra. Thế rồi kẽ nứt mở rộng thêm, hai mảng nghiêng qua hai phía, vẽ thành một chữ V lớn, càng ngày càng rộng. Chắc sẽ có ngày hai tảng đá mới mới tìm được thế thăng bằng, ngưng không nghiêng thêm nữa. Hay là sẽ có ngày một tảng, hoặc cả hai tảng, cùng sụp đổ và nằm xuống?

 

Locuyen_da2

Bao nhiêu tảng đá khác ở các sườn núi, trong thung lũng Vườn Nai, cũng đang nhúc nhích như thế? Đá di động, đá nhích từng bước. Mặt đất lâu lâu lại rùng mình. Cả trái đất đêm ngày cựa quậy. Gió, cát, hơi nước cũng lưu chuyển tuần hoàn. Nếu mắt chúng ta có khả năng nhìn được phong cảnh đó biến chuyển suốt một trăm triệu năm, một tỷ năm, chắc chúng ta sẽ thấy chung quanh ta là một vũ khúc! Vũ điệu của đá, cũng giống như các điệu múa của loài người, đều biểu diễn tính vô thường. Vũ công không thể đứng yên bất động. Vũ điệu là cái gì diễn ra giữa hai vị trí của bàn chân, giữa hai vị trí của một cánh tay. Nhưng nó chính là chuyển động, hay nó là khoảng trống giữa hai chuyển động? Hay là cả hai? Hoặc không là gì cả? Múa là nghệ thuật của vô thường. Giống như khi Thẩm Quát nhìn rặng núi Thái Hàng mà thấy những biến hóa địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, chúng ta có thể nhìn các tảng đá giang tay nhau quây quần ở bốn phía Vườn Nai mà nghiệm thấy hình ảnh mặt đất đã thay đổi suốt những thế kỷ qua như thế nào, trước khi loài người có mặt trên trái đất. Những tảng đá đứng lặng yên kia thực sự đã tham dự vào một điệu múa muôn đời của vũ trụ. Ngay bây giờ đá vẫn còn đang múa lượn!

Gia đình tâm linh

 

Sau nhiều lần đến San Diego tham dự các khóa tu ở Lộc Uyển, tôi đã say mê vùng núi đồi hoang sơ tĩnh lặng và phong cảnh hữu tình này. Vì vậy tôi đã rủ chồng tôi chọn San Diego làm nơi định cư lần thứ hai và Lộc Uyển làm ngôi nhà tâm linh. Từ đó mỗi lần lên Lộc Uyển, lòng tôi vui như những ngày xa xưa cùng với mẹ đi thăm các chùa ở Huế. Khi đến Lộc Uyển, tôi cảm thấy mình được bao phủ, được ôm ấp bởi năng lượng của tình thương, của sự an ủi và vỗ về; cùng với năng lượng thanh bình của đồi núi nơi đây. Tôi như con cá nhỏ vốn từ dòng sông Hương, sóng gió đã đẩy tôi ra đại dương và may mắn thay, nay được bơi lội thong dong trong dòng nước mát của Lộc Uyển, tôi nghe lòng trống vắng nhưng ấm áp ngọt ngào và tĩnh lặng lạ thường.

 

_DSC0033

 

Vào một ngày đẹp trời, khi quý vị đến thăm Lộc Uyển, mời quý vị cùng tôi đi một vòng chung quanh để ngắm nhìn phong cảnh hùng vĩ nên thơ và hít thở không khí trong lành nơi đây. Quý vị đừng mang theo gì cho thêm nặng gánh, chỉ cần một nụ cười thật tươi, những bước chân an lạc và nhớ đừng quên chú tâm vào hơi thở để tận hưởng giây phút hiện tại và những gì trước mắt.

Tôi sẽ đưa quý vị đi thăm rừng Sồi với những cây Sồi lâu năm, cành lá đan xen vào nhau thành một mái nhà rộng lớn, làm bóng mát cho vườn cỏ xanh rì và nhiều tảng đá lớn ngồi im bên con suối nhỏ. Rừng Sồi cũng là nơi cắm trại trong các khóa tu, và cũng là “thiền đường lộ thiên”, vì Sư Ông thường ngồi trên “pháp tòa” được dựng nên bằng nhiều tảng đá xếp gần nhau để nói pháp. Đây còn là tổ ấm của nhiều loài chim chóc; chúng ca hát líu lo suốt ngày như để chào mừng khách thập phương và thiền sinh đến tu học. Chúng ta có thể nghỉ chân nơi đây để uống trà, nghe chim hót và để lòng mình lắng dịu trong khung cảnh tịch mịch của núi rừng.

Mời quý vị ghé qua thăm thiền đường Xóm Trong Sáng của quý sư cô. Sư cô Trung Chính là trụ trì và cũng là người đã có mặt cho Lộc Uyển vào lúc sơ khai. Chúng ta vào lễ Phật, thăm vườn hoa lan và vườn rau. Vườn rau các sư cô có đủ các loại rau của quê hương mình; nào là tía tô, kinh giới, rau húng, rau ngò, rau thơm, rau răm, cải lạn, cải xanh, v.v. Trong vườn cây ăn trái thì nào là bưởi Biên Hòa, bưởi đỏ, ổi xá lị, mận, táo, hồng dòn; xen lẫn với nhiều cây kiểng và đặc biệt có cây hoa mộc lan cao vút, mùi thơm tỏa cả một vùng làm tôi có cảm tưởng như đang lạc vào một cảnh chùa cổ kính ở quê nhà.

Cốc của Sư Ông nằm trên một ngọn đồi nho nhỏ trông đơn sơ nhưng rất trang nghiêm và thanh tịnh. Tôi có cảm tưởng như Sư Ông thường xuyên có mặt ở đó và Người đang ngồi yên và mỉm cười. Hồ sen trước cốc vừa được tu bổ thành một nơi uống trà ngắm trăng hoặc thưởng thức hoa sen nở vào mùa hè. Tôi thích nhất là ngồi bên hòn non bộ kế cận, dưới gốc cây sồi già, bên chân tượng Quan Thế Âm; ngài đang lắng nghe nỗi khổ niềm đau của chúng sanh. Đi quanh theo các lối mòn thiền hành, quý vị sẽ rất ngạc nhiên khi đi qua một hồ đầy nước vào mùa mưa và khi màn đêm buông xuống, tiếng ếch nhái gọi nhau nghe inh ỏi liên tục trong sự tịch mịch của núi rừng.

Dọc theo đường lên thiền đường lớn là một khu rừng trước đây rất hoang vu nhưng nhờ bàn tay và công sức đóng góp của nhiều người, bây giờ thành nơi cắm trại cho thiền sinh trong các khóa tu mùa hè; đủ chỗ cho 200 đến 500 người và đôi lúc lên đến 1000 người. Dựa vào mé rừng là một túp lều tranh bé nhỏ đơn sơ, nằm khuất sau cây sồi lớn. Đây là biểu tượng cho nếp sống khiêm cung đơn giản và thanh bạch của thầy Giác Thanh, vị trụ trì đầu tiên của Lộc Uyển đã quá cố. Bên cạnh là tượng Quan Thế Âm lớn bằng đá trắng đang tĩnh tọa dưới tàng cây. Phía trước là vườn rau nhỏ của quý thầy và máy làm compost, để chuyển rác thành phân bón. Chúng ta phải thực tập biết trân quý rác và chuyển hóa rác, vì không có rác làm sao có hoa? Bên kia đường là vườn Chanh có nhiều chanh, lẫn với vài cây ổi, cây lựu, thanh long và mận.

_DSC0039

Đi lên đồi sẽ đến Thiền đường Thái Bình Dương và Tháp Chuông đại hồng. Thiền đường này là tác phẩm kiến trúc của thầy Pháp Dung, trụ trì xóm Vững Chãi. Với một hình dáng độc đáo, trông uy nghi nhưng rất hòa nhã, nằm trên một ngọn đồi cao. Chung quanh thiền đường trồng rất nhiều cây Bồ Đề và hoa phượng tím. Bãi cỏ xanh bao quanh thường dùng làm chỗ ngồi cho gần 1000 thiền sinh vào các khóa tu lớn. Với mái cong màu cam rực rỡ nổi bật giữa một vùng núi xanh rì bát ngát bao la, thiền đường này là biểu tượng cho tu viện Lộc Uyển và cho Đạo Bụt Dấn Thân – đem Thiền xuống núi, đem Đạo vào đời.
Mời quý vị lên xem tháp chuông. Tiếng chuông đại hồng này sớm chiều vang vọng khắp nơi, cảnh tỉnh biết bao nhiêu người và bao loài. Vào những buổi sáng nhiều sương mù, đứng trên tháp chuông nhìn xuống thung lũng, mình tưởng như đang đến một cõi trời xa xăm nào khác…

Theo các bậc thang sẽ lên đến nhà ăn lớn và chúng ta sẽ có một bữa cơm gia đình trong chánh niệm, với những món ăn chay Âu Á, hòa điệu rất đặc biệt và đầy tình thương do quý thầy và quý sư cô đã chuẩn bị chu đáo. Sau đó, chúng ta sẽ vào thiền đường lớn để nghỉ ngơi theo lối thiền buông thư, một cơ hội để thư giãn thân tâm và tạo thêm năng lượng cho thời gian còn lại trong ngày.

Buổi chiều, mời quý vị đi leo núi lớn. Chúng ta đi theo những con đường nhỏ quanh co ven triền núi, nhìn xuống là thung lũng sâu được tô điểm bởi nhiều loại hoa rừng đủ màu, xanh, vàng, tím, đỏ, vẽ thành một bức tranh tuyệt đẹp. Mình sẽ đi thong thả, đi mà không cần tới, chỉ cần tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên và hòa mình với vạn vật. Đây là những giờ phút hạnh phúc nhất; tuy đường dài và dốc cao nhưng mình sẽ đến đỉnh núi hồi nào mà không hay! Chúng ta sẽ ngồi trên các tảng đá khổng lồ mát lạnh hoặc nằm xuống nghỉ lưng và ngắm mặt trời lặn. “Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây”; cuộc sống mầu nhiệm và hạnh phúc không đâu xa, ngay bây giờ và ở đây.

Sau buổi cơm chiều mình lên núi Yên Tử đảnh lễ đức Thế Tôn. Ngài vẫn ngồi đó, dựa lưng vào vách núi cao; nhìn nét mặt nhân từ trầm tĩnh, lòng ta tự nhiên thấy nhẹ và bình an như đang được bảo bọc bởi tâm từ bi vô biên của Ngài. Bước xuống vài bậc thang sẽ đến tháp Thầy Giác Thanh nằm bên sườn núi nhìn xuống xóm Vững Chãi. Thầy đang nhìn chúng ta và thầy sẽ rất vui khi thấy chúng ta biết sống trong chánh niệm, sống hòa hợp và xem Lộc Uyển như một đại gia đình tâm linh, biết nuôi dưỡng tình huynh đệ, đối xử với nhau trong tinh thần hiểu và thương, không phân biệt màu da, tôn giáo, giàu nghèo, sang hèn, xấu tốt, dễ thương dễ ghét, quen hay lạ, mới và cũ, trước và sau… Đuợc như vậy tức là chúng ta đang thương Thầy và đang hiến tặng Thầy một món quà đúng với lòng mong ước và chí nguyện của Thầy. Thầy cũng rất vui khi thấy rất nhiều người Tây phương đến tu học, mừng cho Đạo Bụt đang được lan rộng khắp năm châu. Thầy đã có mặt cho Lộc Uyển từ thuở mới thành lập, đã âm thầm sống và đóng góp hết mình vào công tác xây dựng tu viện rồi mỉm cười lặng lẽ ra đi. Chúng ta hãy ngồi bên tháp Thầy uống trà, vì ngày trước Thầy thường mời khách thập phương vào cốc uống trà làm mọi người thấy lòng ấm áp và gần gũi với Thầy.

Trên đường xuống núi mình sẽ ghé thăm xóm Vững Chãi của quý thầy. Đây là nơi sinh hoạt đầu tiên của Lộc Uyển vào lúc ban đầu, với một thiền đường nhỏ theo truyền thống, có bàn thờ Bụt, thờ tổ và thờ vong. Phía trước là vườn hoa phượng tím, tượng Quán Thế Âm và hòn non bộ có suối nước róc rách chảy ra một hồ sen khá rộng. Mời quý vị ngồi nghỉ chân, ngắm nhìn bầy cá và rùa đang bơi lội và sống rất hòa hợp với nhau. Nhìn thật kỹ sẽ thấy con cá một mắt bơi lội thảnh thơi không chút mặc cảm, hình như nó có niềm tin rất vững vào những khả năng đặc biệt của nó. Bầy cá này sống ở đây rất thảnh thơi và an lạc.
Hôm nay nhằm ngày trăng tròn, chúng ta có thể ráng lại ngồi chơi với trăng, ngắm nhìn chú cuội, cây đa, uống trà và nghe chó rừng thỉnh thoảng gọi nhau – Ôi! Không gian sao mà sâu lắng và hùng vĩ thế này! Có lẽ vầng trăng kia đã xoa dịu và chuyển hóa những ai có duyên may đến đây.
Xin đa tạ Bụt, đa tạ Tổ, Thầy, quý thầy, quý sư cô, các bác và các anh chị đã tạo dựng nên Lộc Uyển, một ngôi nhà tâm linh cho mọi người nương tựa. Công ơn của quý vị được ghi mãi trong lòng người và là một dấu ấn đã khắc sâu vào núi đồi Lộc Uyển. Làm sao quên được bao nhiêu tà áo nâu, bao nhiêu bàn tay, bao nhiêu giọt mồ hôi đã đóng góp và xây dựng nên Lộc Uyển từ thưở sơ khai cho đến bây giờ và mãi mãi? Từ một vùng đất bỏ hoang lâu ngày với vài doanh trại đổ nát, phế thải không ai dám lai vãng, và Lộc Uyển đã thay đổi nhanh chóng nay trở thành một tu viện trang nghiêm thanh tịnh với nhiều hình bóng của Tăng, Ni và thiền sinh đến từ khắp nơi trên thế giới.

Lộc Uyển đã được 10 tuổi! Chúng ta hãy cùng đi như một dòng sông, kết chặt tình huynh đệ, cùng thực tập chánh niệm để nuôi dưỡng và chuyển hóa thân tâm. Mỗi chúng ta là một viên gạch, là một nụ hoa, là bóng mát, đang bồi đắp và tô điểm cho mái nhà tâm linh Lộc Uyển ngày thêm tốt đẹp. Để tạo cơ hội và điều kiện, để làm nơi nương tựa cho biết bao nhiêu người đang hụp lặn trong biển khổ mênh mông.

Chốn bình yên

 

thuphap

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những ngày đầu mới đến, vùng đất này đã cho tôi thật nhiều ấn tượng với dáng vẻ trầm hùng của nó. Thật khác hẳn với những gì tôi đã được nghe, được biết từ những chia sẻ của các anh em và về lịch sử của nó. Toàn bộ khuôn viên tu viện được bao bọc bởi các dãy núi, chỉ chừa một phía nhỏ nhìn xuống phố thị. Nơi đây, có những ngày mà sương lam giăng phủ bốn bề làm cho ta có cảm giác rằng mình đang lạc giữa chốn thiên thai, không có bất cứ một vướng bận nào nơi trần thế.

Mười năm rồi hiện diện nơi này, Lộc Uyển Tự đã là nơi bình yên, chuyên chở và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau cho biết bao người. Nhiều sư anh, sư chị và sư em cũng đã từng trưởng thành từ cái nôi yêu thương này, cùng thay phiên nhau, đến và đi như những cụm mây trắng thong dong. Chỉ có thung lũng núi rừng thì vẫn vậy, mỉm cười đôn hậu như một bà mẹ dịu dàng bao dung, đón chào và tiễn biệt những đứa con thơ.

Kỷ niệm mười năm Lộc Uyển trong khung cảnh hiền hòa chợt làm tôi nhớ đến hai câu thư pháp của Thầy từ nhiều năm về trước:

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ
Làm người một kiếp cũng như không”.

Tôi đã tình cờ đọc được câu thư pháp này trong một tờ tạp chí và rất lấy làm tâm đắc. Đến khi xuất gia với Thầy rồi, lại được dịp gặp câu này giữa vô vàn các thư pháp khác. Lần đó, Thầy ban tặng cho các anh chị em trong gia đình xuất gia chúng tôi mỗi người một bức tự chọn. Phần tôi đã không do dự chọn ngay nó trong niềm hân hoan. Không phải tự dưng mà tôi liên tưởng đến hai câu này mà là bởi vì tôi thấy Tăng thân Lộc Uyển đang sinh hoạt và tu học theo tinh thần đó. Những ngày làm biếng có nhiều anh chị em thường rủ nhau leo lên những ngọn núi cao, thưởng thức thiên nhiên, chuyện trò và vui chơi trong tình đạo vị. Hoặc có những buổi chiều tà cùng nhau đi bách bộ trên con đường dài ra đầu cổng tu viện ngắm mặt trời lặn, rồi lại cùng nhau lui về. Có một vị Tôn túc đã thốt lên tán thán rằng “Tăng chúng ở đây có hình thức sinh hoạt giải trí thật lành mạnh và đẹp”. Đi bộ, leo núi, thưởng thức thiên nhiên mà đâu cần xuống phố thị shopping như bao người, vừa khỏe khoắn lại không tốn tiền. Nhu cầu hạnh phúc đơn giản vậy đó, và mặc dù vui chơi với nhau nhiều nhưng vẫn không xao lãng công phu tu học và độ đời. Có biết bao khóa tu trong năm cho thiền sinh với đủ các thành phần, tuổi tác mà vẫn không ngăn được tiếng cười giòn tan của đại chúng.

Sau những khóa tu có rất nhiều thiền sinh đăng ký xin được thọ nhận năm giới. Nhìn những gương mặt tươi tắn ấy đã bớt đi căng thẳng, lo âu, bước đi được những bước khoan thai, quả tình đã làm anh chị em chúng tôi cảm động và hạnh phúc, Tâm Bồ Đề được nuôi dưỡng thêm lên. Nếu nhìn sâu thì đó là cả một công trình nghệ thuật được đóng góp bằng sự tu học của tất cả mọi người cộng lại chứ không đơn giản mà có được. Chính điều này đã tạo nên niềm tin và mang lại nhiều chuyển hóa cho thiền sinh khắp chốn.

Giờ đây sau vài năm tu học và quán chiếu tôi biết tại sao hồi ấy tâm thức tôi lại thích hai câu thư pháp đó của Thầy. Không hẳn là trước kia tôi không đủ thông minh để thiết kế cho mình một đời sống tốt đẹp. Biết sắp xếp thời gian thật hợp lý và khoa học để có nhiều lợi ích nhất. Dù là phải bận rộn công việc và trách nhiệm ở công ty, buổi tối tôi cũng biết tham gia các nơi giải trí lành mạnh như các lớp học thể thao, nghệ thuật v.v để giao lưu và có thêm những bằng hữu mới. Thỉnh thoảng tôi cũng đi du lịch đó đây để giải trí, thay đổi môi trường và cũng để học cách sống hài hòa với thiên nhiên. Nói chung, nếp sống có vẻ thật khoa học và tốt đẹp. Nhưng sao vẫn thấy trầm ngâm, mất mát và thiếu thốn điều chi sâu thẳm ở trong lòng.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Thật vậy, tôi đã từng thấy mình đi lang thang tìm kiếm, mà cũng chẳng biết tìm kiếm gì. Để rồi: “Trong khi ta về lại nhớ ta đi”. Tôi chắc rằng ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần kinh nghiệm điều này. Ví dụ gần nhất là hằng ngày khi ăn cơm với gia đình trong ngôi nhà ấp áp nhưng thường thì tâm trí mình lại rong ruổi khắp nơi, hết nghĩ chuyện nọ lại lo chuyện kia. Tốn tiền đi du lịch ở những nơi thật đẹp nhưng lòng thì vẫn chứa đựng với bao nỗi lo toan muộn phiền. Lúc ở nhà thì lại nghĩ chuyện đi, đến nơi thì lại mong về, cứ thế và cứ thế cho đến một ngày bỗng giật mình “Chợt một ngày tóc trắng như vôi, cho trăm năm vào chết một ngày”. Phải chăng đời sống là một chuỗi ngày chạy quanh, kiếm tìm những giá trị ảo trong vô vọng.

… Và rồi Thầy đã hiện diện trong cuộc đời tôi và khai thị rằng sự sống mầu nhiệm chính là phút giây hiện tại. Chính là cái lúc chúng ta xác nhận ra cái tâm “khỉ” của mình, vận hành một cách tùy tiện và kéo lôi chúng ta đi bốn phương tám hướng vào nẻo trần ai. Bao nhiêu khổ sầu hệ lụy phát sinh cũng bởi từ đây. Khi thấy được nó rồi thì mình có cơ hội dừng lại, trời xanh mây trắng với sự sống nhiệm mầu đang hiển hiện ra trước mắt đó. Và ta quyết định phải thật sự là một con người tự do, chấm dứt sự “Trầm luân sinh tử”. Sự khai thị đó quả thật là món quà hết sức quý giá cho chính tôi và cũng cho biết bao người trong thời đại này.

“This is a happy moment”. Đây là phút giây hạnh phúc nhất, ngoài ra không có phút giây nào khác. “This is it!”. Chính là nó, ngoài ra không gì khác. Nhận chân được rồi chúng ta sẽ thôi rong ruổi kiếm tìm, mà sẽ trở về an trú, với từng bước chân, từng hơi thở, và tiếng chuông chánh niệm luôn nhắc ta trở về với phút giây hiện tại. Từng câu, từng lời của Thầy như âm vang khắc vào tâm khảm, tôi hiểu rất sâu nhưng cũng hay quên lắm. Tuy nhiên nhờ có Tăng thân, có môi trường tốt nên tôi thấy mình luôn được bảo hộ, nhắc nhở và nuôi dưỡng. Lộc Uyển mười năm kỷ niệm cũng là cơ hội cho tôi nhìn lại chặng đường thực tập còn ngắn ngủi và non trẻ của mình. Nhưng hơn lúc nào hết tôi thấy mình đã thôi tìm kiếm và đòi hỏi thêm ở cuộc đời này. Tôi vẫn đang tiếp tục học hỏi cách rong chơi nơi miền Tịnh Độ bây giờ và ở đây cùng với các anh chị em của tôi trong niềm biết ơn Tam Bảo sâu xa. Mỗi vị là một viên bảo châu cho tôi thưởng thức và học hỏi. Bất chợt tôi thấy mình trở nên giàu có hơn bao giờ hết.

Là thiền sinh mới lần đầu đến Lộc Uyển có lẽ sẽ thấy các thầy và các sư cô trong bóng dáng màu nâu rất giống nhau, khó mà phân biệt ai với ai. Trong khi một bóng dáng áo nâu đang hướng dẫn tập thể dục buổi sáng thì một bóng áo nâu khác giúp nấu ăn, vị khác thì chuyển hóa rác, hướng dẫn thiền hành…Rồi thì lại đổi vị trí cho nhau. Cứ như vậy, tất cả hòa điệu như những cánh tay của cùng một cơ thể. Làm được như vậy phải chăng vì chúng tôi có cùng chung lý tưởng, chất keo sơn của tình anh chị em chung một mái nhà. Phải rồi, khi có một tiếng chuông được thỉnh lên thì tất cả mọi người đều dừng lại mọi hành động, lời nói và tâm tưởng, để trở về với hơi thở. Ngay bây giờ và ở đây, tất cả chúng ta đâu có gì khác biệt, ngôn ngữ, màu da, chủng tộc…Chỉ có duy nhất là hơi thở ra vào tự nhiên của sự sống, tất cả đang chung một bầu không khí thênh thang.

Mặt trời hồng rạng đông đã báo hiệu một ngày mới bắt đầu rồi đó. Ai trong chúng ta cũng có chủ quyền hai mươi bốn giờ tinh khôi trong tay để rong chơi nơi miền Tịnh Độ. Để rồi khi mặt trời xuống núi đi ngủ, ta lại gặp nhau trong nụ cười với niềm hân hoan. Tôi thấy thầy trụ trì ở đây “rong chơi” rất giỏi. Vừa lo chăm sóc chúng, xử lý bao việc trong ngoài, hội họp, khóa tu mà thầy vẫn thảnh thơi, vui chơi hết lòng cùng các anh chị em và các cháu nhỏ. Có lúc tôi tự hỏi rằng dường như thầy có phép lạ hay sao mà hai mươi bốn giờ của thầy nhiều vô cùng, với dường ấy việc mà vẫn luôn cười đùa hồn nhiên. Có lẽ tôi nên đi phỏng vấn thầy để học hỏi, rồi chia sẻ cho tất cả mọi người để được sống như thầy, có thêm thời gian hơn nữa cho mình và những người thương.

Mùa xuân đang nở rộ những đóa hoa rừng thật đẹp, một vẻ đẹp bình dị, hài hòa và lan tỏa khắp nơi. Tôi nghe kể lại mười năm về trước thì thiên nhiên không được như bây giờ. Nơi đây là một trại huấn luyện quân sự, có nhiều súng đạn tập dượt và căng thẳng nên mọi thứ khô cằn và không nhiều sức sống lắm. Nhưng giờ đây núi rừng trở nên xanh hơn, chim chóc quây quần làm tổ và hót líu lo suốt ngày. Thỏ, sóc trở nên rất gần gũi với mọi người, kể cả rắn rung chuông và chó rừng đã từng làm mọi người sợ hãi khi nghe đến tên. Nhưng đến nay tất cả đối với chúng tôi đều là những người bạn hiền đáng mến. Thiên nhiên nơi đây đã được chuyển hóa, con người về đây cũng được chuyển hóa. Con người và thiên nhiên nương tựa vào nhau, bảo vệ cho nhau để cùng chuyển hóa, đang từng bước hướng về nẻo sáng của sự tốt đẹp. Làm sao để chốn bình yên này ngày càng mang lại hạnh phúc nhiều hơn nữa, không chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho thế hệ con cháu kế thừa. Chính vì vậy mà gần đây thầy trụ trì và nhiều người trong vùng kêu gọi sự góp tay bảo vệ thiên nhiên nơi này, không cho sự đầu tư xây dựng làm ô nhiễm dãy núi phía Tây, để nơi đây tiếp tục là chốn bình yên cho mọi người và mọi loài. Mong rằng ước muốn tốt đẹp đó sẽ được toại nguyện.

Đại Ẩn Sơn, cái tên thật thích hợp như chính sự hiện diện của nó. Lặng yên, hùng tráng mà bất cứ ai muốn lên thăm đều phải đi thêm một đoạn đường dài, buông bỏ bớt bụi trần, ồn ào rồi mới tới. Mười năm rồi nó vẫn trầm lặng hài hòa cùng thiên nhiên. Bên kia sườn núi, ngọn tháp thầy trụ trì khai sơn vẫn một màu giản dị vững chắc. Bức hình của thầy luôn ở đó với nụ cười trên môi thật hiền hòa, ánh mắt thân thương vẫn dõi theo đàn cháu con. Chắc thầy cũng rất vui khi biết Lộc Uyển được mười tuổi, dù rằng tất cả đều còn rất non trẻ nhưng đã và đang từng bước lớn lên trong hạnh nguyện độ sinh. Ngoài kia dưới ánh nắng chiều, tiếng chuông đại hồng đang ngân vang giữa thinh không thanh bình: “…Nguyện người nghe tỉnh thức, vượt thoát nẻo đau buồn”. Đâu đó có tiếng trẻ cười hồn nhiên, nghe sao thật trong trẻo.

Núi vẫn còn đây

 

Locuyen.jpg

Ở Lộc Uyển tôi thích nhất là ngày làm biếng. Ngày này mà ai muốn gặp tôi thì phải lên núi. Mà núi ở Lộc Uyển rất mênh mông, có lên đó cũng khó mà gặp. Thường thì lên núi tôi ít khi đi một mình; tôi thường rủ các sư em có tâm hồn đi núi, nhất là phải đi lúc trời còn tờ mờ để khi lên đỉnh núi chúng ta có thể ngắm mặt trời vừa mới lên – đẹp vô cùng.

Khi mà bạn thấy hai xóm của tu viện bao phủ trong sương mù, thì lên núi ngồi trên tảng đá cao, nhìn xuống bạn sẽ thấy cả một không gian bao trùm một lớp mây dày, nhưng nhìn lên bạn lại thấy một bầu trời xanh biếc. Xa xa ló dạng vài chóp núi. Ngồi đấy chúng ta như ở cảnh non bồng. Ngồi yên trên núi tâm thanh thản, lòng nhẹ nhàng tiếp xúc với đất trời bao la.

Các thầy các sư cô có khi thay vì toạ thiền ở thiền đường Thái Bình Dương vào buổi sáng, thì lại tổ chức lên núi ngồi thiền, tập thể dục, ăn sáng, xong rồi trở về xóm để chấp tác. Tôi nhớ có một lần loay hoay công việc gì đó mà tôi nghĩ là mình đã trễ giờ nên vội vàng lấy xe golfcart một mình chạy lên núi. Khi đậu xe xong tôi đi vào trong dãy núi tìm cho mình một tảng đá để tọa thiền. Xung quanh rất yên lặng, và tôi nghĩ các thầy các sư cô cũng đang ngồi thiền đâu đó. Vào buổi toạ thiền trên núi, đội chuông phải mang theo chuông để hô canh ngồi thiền và thỉnh chuông để đại chúng xả thiền. Hôm đó tôi chờ mãi mà vẫn không nghe chuông, đến lúc nhìn quanh thấy núi không một bóng người. Tôi gọi các thầy các sư cô, nhưng không ai trả lời. Lúc đó tôi mới biết là hôm nay không có ai đi núi cả, và đó là lần đầu tiên tôi đi núi một mình và bằng chiếc xe golfcart. Sau này các sư em có tâm hồn đi núi với mình phải đổi xóm, ngày làm biếng ít ai chịu đi, có đi thì cũng đi trễ hay khi mặt trời đã lên. Núi gọi. Không ai đi thì mình đi một mình. Một bữa nọ, sau khi uống vài chung trà xong, tôi chuẩn bị thắp nhang để toạ thiền, thì không xa tôi nghe tiếng chó rừng tru thật lớn và tru mãi. Tôi ngồi lắng tai nghe nếu nó có đến gần mình không. Cũng hơi sợ sợ. Nhưng lúc đó tôi rải tâm từ đến nó, và nghĩ chắc nó bị bịnh nên kêu khóc, thôi mình cầu cho nó bình an. Suốt thời toạ thiền đó tôi quán âm thanh và không sợ hãi, cho đến lúc xả thiền thì không còn nghe tiếng tru nữa. Về kể lại cho các sư em nghe chuyện tôi đi núi một mình, các sư em tôi nói, Sư chị không nên đi núi một mình rất nguy hiểm. Nhưng rồi núi gọi, thỉnh thoảng tôi lại đi một mình vào những ngày làm biếng, đi thật sớm để ngồi yên nhìn buổi sáng thật bình yên. Hạnh phúc của tôi tràn đầy với núi và đá, tôi tung tăng trên những tảng đá, ngắm nhìn đất trời bao la mà lòng nhẹ như mây.

Trong tôi tràn đầy niềm biết ơn Tổ tiên đất đai nơi này. Ngày xưa các vị đã từng ở đây sống hài hoà với thiên nhiên. Dù bây giờ các vị không còn ở đây, tôi vẫn có niềm tin là các vị vẫn có mặt, để bảo vệ cho mảnh đất này và bảo hộ cho chúng tôi. Vì vậy mỗi lần dọn dẹp hay khai hoang những khu đất nào tôi luôn khấn nguyện xin phép các vị, cỏ cây, đất đá và cầm thú. Tôi cũng trân quý và biết ơn Sư Ông Làng Mai, vì có Sư Ông chúng ta mới có tu viện này. Tôi nguyện với lòng sống cho sâu sắc nhẹ nhàng, cùng tăng thân xây dựng nơi này an lành để những ai về đây cũng được tiếp nhận không khí trong lành bình an trên mỗi bước chân, buông bỏ mọi âu lo dưới phố. Có những thiền sinh về đây chia sẻ có những lúc ở nhà họ có nhiều vần đề với gia đình việc làm con cái, tâm hồn tràn ngập âu lo. Những lúc như vậy họ về lại đây để được sống với các thầy các sư cô, và lòng họ nhẹ xuống liền. Có lần tôi với một sư cô xuống núi để xin phân nấm về trồng rau quả. Tôi gặp một vị láng giềng ở chân núi tại đó. Vừa gặp chúng tôi ông ta liền nói: “Có phải quý vị là Buddhas ở trên núi đó không? Chúng tôi biết ơn quý vị vô cùng. Từ ngày quý vị về ở trên đó dưới này chúng tôi được bình yên, mỗi ngày không còn nghe tiếng súng. Còn nữa, có quý vị ở rồi, chính phủ không còn dự định xây nhà tù cho tội nhân nữa. Chúng tôi cảm ơn nhiều lắm…” Chúng tôi sống ở Lộc Uyển tới năm thứ ba thì có một tờ báo địa phương đến thăm, chụp hình đại chúng thiền hành trong ngày quán niệm. Họ viết một bài đăng ở trang đầu hình quý thầy hướng dẫn thiền hành, họ nói về mảnh đất này rằng ngày trước không có sự sống, từ ngày các vị tu sĩ về, làm cho mảnh đất có sự sống, cây cối xanh tươi, chim chóc thú rừng về sống hài hoà, bình an. Đọc báo nhiều người kéo lên xem tu viện.

Mảnh đất này ngày đầu rất hoang vu, cỏ cây um tùm, là nơi cảnh sát lên tập bắn, cho nên xung quanh rất nhiều vỏ đạn. Các khu nhà cửa đều bị đập phá như một bãi chiến trường. Các thân hữu địa phương, quận cam, Los Angeles, và gia đình Phật Tử chùa Vạn Hạnh mỗi cuối tuần về đây giúp chúng tôi dọn dẹp. Các thân hữu đã hết lòng với chúng tôi, đóng góp công sức, tài vật để xây dựng Lộc Uyển từ thuở ban đầu. Nay Lộc Uyển sắp kỷ niệm 10 năm, ngồi nhớ lại những ngày đầu, tôi nhớ những bàn tay, và những khuôn mặt thân thương hiện rõ trong tôi. Tôi thấy các thân hữu vẫn có mặt với tôi ở Lộc Uyển mỗi khi thiền hành. Hay lúc ở trên núi, tôi nhớ từng vị với lòng thương mến và biết ơn. Có những vị vẫn còn gắn bó với tu viện. Có những vị vì tuổi già sức yếu hay một nhân duyên nào đó ít khi về tu viện. Tôi vẫn nhớ đến quý vị, luôn cầu nguyện Tam Bảo hộ trì và nâng đỡ cho quý vị.

Nhìn lại Lộc Uyển 10 năm qua, tôi thấy mình hạnh phúc và lòng ấm áp vô cùng. Ấm áp tình huynh đệ. Ấm áp tình Tăng thân. Lộc Uyển vẫn thay đổi thường xuyên. Dù có đổi thay nhưng núi vẫn hiền hoà, đất vẫn bình yên cho mọi người về đây. Tôi rất quý tình huynh đệ ở đây, sống với nhau hết lòng và xứng đáng với cái tên mà Sư Ông đã đặt cho hai Xóm: Vững Chãi và Trong Sáng. Cầu mong tình huynh đệ mãi mãi vững bền.

Những nấc thang chuyển hóa

“Ai cho tôi tình yêu để làm đẹp cuộc đời”

image_preview.jpg

Tôi ngồi đây, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, tại Đức để viết những dòng này gửi về Thảo, cùng những người bạn, người chị, người em khác…

Thảo thương, mình vẫn luôn mang theo hình ảnh một cô gái miền Tây Nam Bộ có nụ cười tươi và chất phác trong chiếc áo bà ba trắng đơn sơ và mái tóc dài thùy mị. Đó là những ngày chúng ta gặp nhau ở ký túc xá, cùng đạp xe đến giảng đường mỗi sáng, mỗi chiều… Rồi một ngày nọ, mình gặp Thảo bên một tòa nhà cao tầng với mái tóc nửa màu hung cháy và trang phục đời mới ôm lấy thân hình thon thả của Thảo. Mình đã dụi mắt để không cho hạt bụt che mắt mình. Sự đổi thay dáng hình của Thảo không ngăn được lời tâm sự năm  xưa vọng về: “Thảo sợ một ngày nào đó, Thảo phải đổi thay, Thảo không còn là Thảo nữa…” Giọt nước mắt lấp ló chực trào qua mi, Thảo khẽ chớp mắt để giữ nó lại. Rồi giọng Thảo nghẹn ngào: “Chắc má Thảo sẽ buồn lắm!” (Má Thảo là một giáo viên miền quê hiền hậu mà Thảo đã từng kể cho mình nghe qua lời tâm sự đầy tin yêu và cách sống giản dị của Thảo trong những ngày Thảo mới rời quê lên thành phố).

Lúng túng, tôi buột miệng hỏi: “Thế còn Tùng?” (bạn trai của Thảo đang ở thành phố). Thảo oà khóc. Tôi bối rối vì mình điểm trúng huyệt của bạn. Tôi ngồi yên, đặt nhẹ bàn tay lên vai Thảo và cảm nhận nỗi nợ hãi trước quyết định mình phải thay đổi chính mình của Thảo. Một cảm giác hoang mang cơ hồ chặn ngang lối về của chúng tôi. Đưa cho Thảo mẩu khăn giấy, tôi thấy lòng mình chùng xuống khi nhìn thấy sức mạnh quyến rũ của nhu cầu muốn sống sót ở thành phố trong cái tuổi mới lớn nhiều ham muốn của chúng tôi. Tôi chạnh nhớ lời ba tôi cùng cái nhíu mày, nhăn trán khi tôi xin Ba cho phép tôi sống xa gia đình. Ba tôi lạnh lùng buông tiếng: “đi đâu cũng được, làm gì cũng được, nhưng đừng đem cái không hay về nhà này…”  Lời cảnh báo của ba tôi càng làm cho tôi muốn rời gia đình để học nhiều điều khác, để mở mang kiến thức và sự hiểu biết của một đứa trẻ có óc tò mò như tôi. Nhưng đồng thời tôi cũng muốn tìm học cách phòng thủ, ngăn chặn những thói hư tật xấu. Để khi xa nhà tôi không bị kéo theo phong cách của thời đại mới mà ba tôi thường nhắc: “Nó không thích hợp với cái nhà này”. Đầu óc trẻ con khôn ngoan của tôi lúc đó vừa muốn khám phá, học hỏi cái thế giới quyến rũ trước mắt cùng các bạn nhưng vẫn là một đứa trẻ cần tổ ấm gia đình trong tình thương của ba mẹ. Vẫn luôn muốn là một đứa con ngoan, trò giỏi và biết nghe lời…

suchisuem.JPGGiờ đây những ngày đi học xa, tôi mới biết thương sự bảo bọc trong lời răn nghiêm khắc và cái nhìn nghiêm nghị của ba tôi. Bây giờ ngồi đây tôi thấy thương cho vầng trán của Ba. Tự nhiên tình thương của tôi ứa ra vị ngọt của hiểu, nó có mặt và xóa dần những nếp nhăn đầy lo lắng của ba tôi, và làm lắng dịu dòng cảm xúc mỗi lần tôi bắt gặp hình ảnh Thảo đi xe đời mới với Tùng, mái tóc Thảo tung bay cùng với nụ cười vang trên phố. Những lúc đó tôi không biết Thảo có hạnh phúc không? Nhưng tôi thấy Thảo không còn thời gian để đến lớp, đến thư viện hay quanh quẩn bên hiên chùa học bài, không còn thời gian hát những bài dân ca cho chúng tôi nghe nữa… Giọng ca mượt mà đồng quê của Thảo đã kéo Thảo đến với vũ trường, nhạc hội, khách sạn cho đến khuya mới trả Thảo về như một cái xác không hồn. Rồi Thảo ra nhà trọ ở, và tôi không còn gặp Thảo nữa. Nhưng có rất nhiều Thảo chị, Thảo em cũng đã rơi vào hoàn cảnh như Thảo. Để rồi mỗi khi đi ngang qua cầu thang ký túc xá, tôi bắt gặp hình ảnh từng đôi bạn quấn chặt lấy nhau là tôi lại nhớ về Thảo, những bước chân của tôi trở nên nặng chịch như đang mang một cái gông. Tôi leo lên mấy tầng lầu xong là hết sức…

Hôm nay, sống trong lòng Học viện, những nấc thang bỗng nhiên đưa tôi về gặp Thảo, một chút gì chợt len lỏi trong lòng tôi. Tôi mỉm cười xác nhận sự hiện diện của Thảo trong bước chân và hơi thở của mình. Trước mặt tôi, sau lưng tôi vang vọng từng nhịp bước vững vàng cùng tà áo nâu thân thương. Tôi đã nhìn thấy Thảo trong bước chân, tà áo của sư chị, sư em mình. Thảo sống lại, lành lặn, hồn nhiên, đầy nhiệt huyết… Tôi cười vì được gặp lại Thảo nguyên vẹn như chưa hề thay đổi. Những bước chân lên cầu thang của tôi thật nhẹ và vui mà không còn đeo gông như lúc trước nữa. Thảo hiển hiện trong tôi và các sư chị sư em tôi như những ngày chúng tôi mới gặp nhau. Thảo ơi, tôi muốn nói với Thảo một điều: “Thảo có thể sống tốt mà không cần phải đánh mất mình, Thảo có thể làm mới lại cuộc đời mình khi Thảo còn hơi thở và bước chân.”

Cửa Tùng Đôi Cánh Gài

 

cuatungcanhgaiKhi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá câỵ Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nàỵ Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua. Nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa. Nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
-“Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành.” Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng:

– “Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ đời. Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng.”

Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: “Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính, tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”

Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núp. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: “Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về”

Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ. Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.

Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.

Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẩn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên: – Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đờị .

Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc,và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.

Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa. Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lội suối mới về tới được chỗ cũ.

Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa. Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi. Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.

Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.

– “Đại huynh”

– Sư đệ!

– Đại huynh về bao giờ thế ?

– Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới này. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt.

-“Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẩn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn đệ khép cửa chắng ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núi.”

Chàng dũng sĩ cau mày:

– “Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái? Sao cửa lại đóng chặt?” Người sư đệ cười lớn:

– “Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậy”

Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối. Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn. “Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh “mê ngộ cảnh” sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?” Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:

– Còn đây

– Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.

Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.

Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.

Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.

Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.

– “Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi”

Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: “Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế.”

Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu dịu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.

 

Phép lạ Tăng thân

Xóm Rừng Phương Bối, 24.07.2009 | Sư chú Pháp Xa

Tôi lại trở về góc thư viện quen thuộc trong không gian thật yên tĩnh của buổi chiều mùa Hè. Nắng vàng ấm áp phủ khắp những núi đồi xanh thẳm bao quanh tu viện. Những ngày vừa rồi bão tố đã qua nơi này thật khốc liệt nhưng chiều nay trời đã êm ả trở lại. Không biết đêm nay, sáng mai hay những ngày tới bão giông còn xảy ra hay không nhưng chiều nay một buổi chiều hiền lành đủ không gian và thời gian cho tôi nhìn lại chính mình và ngắm nhìn cảnh vật quanh mình.

Bão giông ở đây là cả bão giông của hiện tượng vật lý và là bão giông của lòng người (của sinh lý và tâm lý). Mới hôm qua, hôm kia báo chí đã đưa tin về cơn lốc xoáy tại vùng Bảo Lộc gây thiệt mạng 3 hay 4 người gì đó (tôi chỉ nghe phong thanh). Và cũng mới những ngày qua đài báo cũng đưa tin về những bạo loạn xảy ra tại Tu Viện Bát Nhã như một trận bão giông khủng khiếp nhưng may mắn là không có ai thiệt mạng. Đã có nhiều thông tin, nhiều tài liệu đây đó tường thuật, đánh giá và nhận xét về sự vụ vừa qua, nhưng những dòng chữ của tôi đây hoàn toàn không muốn tham gia vào những cuộc bình phẩm sôi nổi ấy của dư luận mà chỉ đơn thuần là sự chia sẻ của một tu sinh Tu Viện Bát Nhã và là người trong cuộc trực tiếp trải qua cơn giông tố.

Thực ra nói như vậy cũng chưa đúng. Quả thực nếu có một cái “tôi” hay “một người” nào đó nói rằng mình đã trải qua cơn giông bão thì đó quả là chuyện hoang đường. Không có một cái “tôi” nào, không có “một người” nào có thể vượt qua được những khó khăn vừa qua. Nếu cần có một lời nào để nói với cả thế giới thì chúng tôi sẽ cùng nhau nói rằng: “Tất cả chúng tôi đã đứng bên nhau, đã ngồi yên bên nhau để cùng kinh qua trận giông bão của hận thù và hiểu lầm vừa qua. Sức mạnh đã được làm nên bằng cả một cộng đồng cùng thực tập chứ không phải là bởi một cá nhân xuất sắc.” Vâng, chúng tôi đã đứng bên nhau như thế đấy. Với những hơi thở mà đối với nhiều người là loại sơ cơ như “thở vào tôi biết tôi đang thở vào, thở ra tôi biết tôi đang thở ra” vậy mà chúng tôi đã ngồi yên được trong lúc những đạo hữu ấy quăng phân vào quý Ôn, đập phá tăng xá và diễn hành chửi rủa.

Chúng tôi nhắc lại những điều này (điều mà quá nhiều người đã nói tới) không phải để tự hào về mình mà để nói về một sự thật mà chính chúng tôi còn chưa hết ngỡ ngàng trước phép lạ của tăng thân. Tăng thân Bát Nhã là một tăng thân quá trẻ mà lại không được sự dìu dắt trực tiếp của Thầy. Bản thân tôi tính đến nay mới xuất gia và tu học với đại chúng được 4 năm, một con số quá ít ỏi về thời gian vậy mà đã được xếp vào hạng những “người đi trước” những “sư anh” của chúng. Bởi vì sau lưng còn có hàng trăm sư em và các em tập sư mới thực tập với tăng thân từ 1-2 năm (khoảng 2/3 của tăng thân). Nếu nói về năng lực tâm linh, khả năng tu chứng của từng người thì quả là còn non nớt. Về phần giáo lý và các tư tưởng Phật giáo chúng tôi còn đang là những kẻ mới nhập môn. Ấy vậy mà khi ngồi lại với nhau từ những cái tôi yếu ớt ấy bỗng cộng hưởng với nhau trên cùng một tần số – tần số Chánh Niệm  và Từ Bi để cùng xướng tụng danh hiệu của Đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm. Tiếng niệm Bồ Tát và năng lượng tĩnh lặng tập thể đã khiến cho biết bao người đang hung hăng và nóng nảy phải chùn tay trong việc đập phá.

Trong suốt một tuần xảy ra sự việc chúng tôi chỉ ngồi yên với nhau để quán tưởng đến đức Bồ Tát – đức Bồ Tát của tình thương bằng cách niệm danh hiệu và tụng bài Khơi Suối Yêu Thương. Thế rồi cơn bão tố cũng đi qua. Tuy nó cũng phá đổ nhiều thứ nhưng bù lại được năng lượng thương yêu và trong sáng của các thầy, các sư cô, các sư chú trẻ trung nên cảnh vật hôm nay đã tươi nhuận trở lại. Mỗi chiều các thầy, các sư chú và các em tập sự nam vẫn cười đùa và chơi thể thao trước sân Tăng Xá bên cạnh đống hoang phế từ những cuộc tấn công. Những đống nát ấy quả thực chẳng đáng giá gì với chúng tôi khi ngày hôm nay tất cả anh chị em còn đủ mặt bên nhau. Trong hồi ký Nẻo Về Của Ý chẳng phải Thầy đã dạy rằng “chúng ta mất tất cả chỉ còn có nhau”, rằng “Phương Bối đã trở thành thánh địa trong lòng tất cả những ai đã thuộc về nó dù bây giờ Đại Lão Sơn, Phương Bối Am đã chìm vào vào sương khói” hay sao? Anh chị em chúng tôi chưa ai từng được sống những ngày êm đềm như Thầy ở Phương Bối nhưng chúng tôi cũng một phần nào mường tượng được không gian êm ấm qua những ngày ở Bát Nhã. Và chúng tôi ai cũng ngầm hiểu và công nhận với nhau rằng Bát Nhã là quê hương tâm linh đầy ấm áp và đẹp đẽ của tất cả chúng tôi – của tất cả những ai thuộc về Bát Nhã.

Những ngày gần đây tôi thường dành thời gian để ngồi một mình và nghĩ về quá khứ tươi đẹp của Bát Nhã. Nghĩ về không phải để tiếc nuối hay trách móc hoàn cảnh hiện tại. Nghĩ về để thực tập từ bi quán và tri ân quán. Có lẽ đài báo công luận đã đưa nhiều tin nhưng có một tin mà tôi nghĩ chắc chưa có báo nào đăng đó là tình cảm của 400 tu sinh trẻ với thượng tọa Đức Nghi. Đến giờ phút này trong các buổi pháp đàm chia xẻ trong chúng chưa hề có một ai lên tiếng trách móc Sư Phụ (đó là cách gọi thân mật của anh chị em chúng tôi đối với Thượng tọa). Tất cả đều giữ một lòng biết ơn sâu sắc với những gì Sư Phụ đã kiến thiết cho đại chúng trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Khi những khó khăn này xảy đến tôi vẫn biết ơn Sư Phụ. Vì người đã đem tới cho đại chúng một cơ hội quá lớn để thực tập. Nếu không có những khó khăn vừa qua, chúng tôi đâu có cơ hội để thấy được công dụng lớn lao của lòng từ bi và của phép thực tập ngồi yên. Tất cả sẽ chỉ là sách vở nếu không có những trải nghiệm thực tế vừa qua. Có người đã nói rằng biết đâu đây lại là một bài tập thử thách của người cha dành cho những đứa con yếu ớt để chúng mau trưởng thành. Tất nhiên bên cạnh lòng biết ơn là lòng xót xa lớn lao. Đêm ngày anh em chúng tôi vẫn thầm cầu nguyện cho Sư Phụ và các đại hữu của chúng tôi sớm tai qua nạn khỏi để có thể trở về chung sống êm ấm với nhau như ngày xưa.  Nhưng chúng tôi không bao giờ chỉ ngồi đó bỏ thi giờ để mơ mộng về ngày xưa. Với sự thực tập Chánh Niệm và đời sống tăng thân, chúng tôi ý thức với nhau rằng tăng thân vẫn tiếp tục duy trì và tiếp nối những cái “ngày xưa” trong giây phút hiện tại và tương lai. Đó cũng là một phép lạ của Tăng thân. Thầy đã dạy chúng ta là phải thực tập làm sao để xây dựng nên một quá khứ thật đẹp. Nếu có một quá khứ đẹp ta mới có thể sống đẹp trong hiện tại và trong tương lai. Nhưng ta chỉ có thể xây dựng quá khứ trong giây phút hiện tại chứ không có các nào khác. Đó là cách của hành giả Chánh Niệm. Tôi ý thức rằng giờ phút này ngồi đây trong góc thư viện này tôi đang là quá khứ cho biết bao thế hệ sư em tương lai của tôi. Và tôi nguyện sẽ sống làm sao để tương lai các sư em nghĩ về sẽ thấy thật ấm áp như Thầy nghĩ về Phương Bối.

Những ngày vừa qua tăng thân chúng tôi với sự thực tập Chánh Niệm cộng đồng đã xây dựng nên một quá khứ thật đẹp. Quá khứ của những con người đã ngồi thật yên và quán Từ Bi trước những sự tấn công thô bạo của những người có tri giác sai lầm. Chúng tôi cũng hiểu rằng trong trong giờ phút hiện tại chúng tôi cũng đang xây dựng cho tương lai. Tôi đang mường tượng tới nụ cười bằng lòng và đầy tin tưởng của Thầy, của Sư Cố, của Tổ Liễu Quán, của Tổ Lâm Tế và của Bụt. Chúng tôi là sự tiếp nối của liệt vị chính vì vậy chúng tôi là tương lai của quý vị. Chúng tôi thực tập hết lòng trong hiện tại tức là đã và đang xây dựng một tương lai cho quý vị; tức là đang thực hiện những mong mỏi của quý vị. Còn ngày mai không chắc trời đất sẽ bình yên như chiều nay nhưng chúng tôi cũng thực tập để không lo lắng, bồn chồn hay sợ hãi. Tại vì tất cả những gì chúng tôi – những người tu trẻ mong ước và kiếm tìm đã được thỏa mãn trong giờ phút này rồi. Chúng tôi đến với tăng thân không phải để tìm một cơ sở đồ sộ, nhiều tiện nghi và chắc chắn không phải để an thân. Chúng tôi là những người trẻ đang đi tìm một con đường thoát cho những khổ đau của tự thân và của thời đại. Chúng tôi đi tìm một đoàn thể những người cùng tu học với nhau có một hướng đi sáng đẹp và có tình huynh đệ thực sự. Tất cả những điều đó chúng tôi đã được tăng thân này đáp ứng. Chúng tôi không còn đòi hỏi gì thêm. Ngày mai sẽ ra sao? Sẽ có ai tấn công mình hay không? Mình sẽ có một cơ sở tu học mới hay không? Đó không phải là những câu hỏi của chúng tôi (nó sẽ dành cho những người khác). Chúng tôi chỉ hỏi nhau rằng trong giây phút hiện tại chúng tôi có hạnh phúc hay không; những giận hờn, buồn bực đã chuyển hóa đến đâu rồi. Tăng thân là tương lai, là sự lựa chọn của tất cả chúng tôi.

Xin gửi những dòng chữ này tới tất cả những ai đang ngày đêm thao thức lo lắng cho chúng tôi. Mong quý vị hãy yên tâm rằng chúng tôi sẽ thực tập như vậy dù bất cứ chuyện gì xảy tới. Xin gửi đến liệt vị Tổ Sư niềm kính ngưỡng, biết ơn sâu xa nhất vì có liệt vị phù hộ độ trì mà chúng con mới tai qua nạn khỏi. Xin gửi đến các thế hệ sư em tương lai một lời hứa chân tình rằng chúng tôi sẽ mãi mãi đứng bên nhau, ngồi yên bên nhau để xây dựng một quá khứ đẹp cho các sư em.

Khóc trong vòng tay của chính mình

Bạn đã bao giờ khóc trong vòng tay của chính mình chưa? Nếu chưa thì tôi mời bạn hãy thử làm điều đó một lần!

Tôi cũng mới thử làm điều này vào sáng nay thôi. Tôi đã khóc thật lâu trong vòng tay của sư chú Pháp Xa. Hay nói đúng hơn một sư chú Pháp Xa yếu đuối, cô đơn và đầy khổ đau đã tựa vào bờ vai của một Pháp Xa vững chãi, hạnh phúc và đầy tươi mát để khóc và sẻ chia tất cả những khổ đau chất chứa lâu nay.

Những giờ phút khổ đau và cô độc ta thường khao khát có một người bạn bên ta để nghe ta nói và để ta tựa vào bờ vai người ấy mà khóc. Điều này là cần thiết lắm nhưng sẽ có những lúc trong đời mình mà nhìn quanh bạn chẳng thấy ai có thể nghe bạn nói và làm nơi nương tựa cho bạn. Lúc đó bạn sẽ đồng cảm với Trịnh Công Sơn: “…nghe ra quanh tôi đêm dài, có còn ai trong yên vui còn yêu dấu ngồi rơi lệ ru người từ đây…”

Binh minhNày bạn ơi, có phải lúc đó bạn muốn hét toáng lên rằng: “Thế giới này đã quên tôi rồi, chẳng có ai hiểu tôi cả!!!” Tôi đã từng muốn làm như thế nhưng sáng nay tôi làm cách khác. Tôi ngồi xuống chầm chậm và bắt đầu ngắm nghía cái mà mình gọi là khổ đau, ngắm nghía cái anh chàng đang tự nhận mình là người mang đau khổ. Tôi mặc nhiên để cho cảm xúc dâng ngập hồn, chỉ im lặng lắng nghe và ngắm nhìn chúng. Thật là hỗn độn! Tôi rất muốn khóc nhưng có một năng lực khác ngăn tôi làm điều ấy, nó nói với tôi rằng: “Ngươi là kẻ yếu đuối, người ta sẽ cười vào mặt ngươi nếu thấy ngươi đang khóc”. Và cứ như thế tâm hồn tôi trở thành một bãi chiến trường. Tang tóc. Nhưng bỗng một giọng nói ấm áp thân quen vang lên trong toàn bộ bản thể tôi. Giọng nói thân thuộc ấy len lỏi vào tâm tư tôi như một tia nắng mỏng và nhẹ nhưng đủ để rẽ lối mây mờ. Giọng nói ấy đã dẫn lối tôi vượt qua bức tường lạnh căm để tôi có thể thấy một chân trời mới. Tôi bất giác bật khóc, khóc như một thằng bé trong vòng tay của mẹ nó. Khóc xong rồi thì thấy lòng nhẹ nhõm đi rất nhiều.

Bạn ơi, tôi chẳng thể nói cho bạn biết giọng nói ấy đã nói với tôi điều gì. Bởi vì điều ấy chỉ thực sự có ý nghĩa với cuộc đời tôi, với hoàn cảnh của tôi thôi, có thể nó sẽ không phù hợp với bạn. Nhưng điều tôi muốn chia sẻ với bạn là bạn không thực sự nhỏ bé và yếu đuối như bạn nghĩ đâu. Có thể bạn đang lâm vào một tình cảnh rất bi đát và cô độc, xung quanh không có lấy một ai làm đồng đội nhưng tin tôi đi, trong bạn có tất cả những gì bạn cần. Chỉ cần trở về và thành thật với chính mình một chút, bạn sẽ tìm thấy con đường thoát. Nói rằng “tìm thấy” cũng chưa chính xác lắm, theo tôi thấy con đường vẫn nằm yên đó và chờ ta. Nhưng phải nhớ lấy bí quyết là PHẢI THÀNH THẬT VỚI CHÍNH MÌNH.

Có những lúc ta cảm thấy ta đang đi một mình giữa con đường dài hun hút. Chỉ là một mình thôi. Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì nếu bạn nghĩ như thế bạn sẽ gục ngã ngay từ những bước đầu tiên. Chúng ta, mỗi con người là hợp thể của Vô Biên. Trong ta dung chứa tất cả những ước vọng, khát khao của muôn ngàn thế hệ tổ tiên, tất cả những ưu, khuyết của cha ông đều được truyền thừa lại cho ta trong hiện tại. Ta cũng là sự kết tinh của tất cả những yếu tố của môi trường ta sống. Và xét cho cùng cảm giác ta đang đi một mình sẽ chỉ là một ảo giác. Ấy thế mà lắm khi cái ảo giác này hành hạ mình đến khốn khổ. Ảo giác ấy sẽ làm cho mình cảm thấy cô đơn và tủi nhục. Vượt qua ảo giác là sự thực tập căn bản của Đạo Bụt. Vượt qua được ảo giác đơn độc, bạn sẽ tiếp nhận được những nguồn năng lượng từ vô biên. Tôi xin nhắc lại bí quyết là trở về và thành thật với chính mình. Đừng tìm cách chống cự với khổ đau, nếu làm vậy bạn sẽ mất đi một cơ hội để học hỏi từ khổ đau – bậc thầy khả kính nhất đời bạn.

Sáng nay, tôi đã học được một bài học thật quý giá. Tại sao ta phải từ chối và xua đuổi phần yếu đuối trong con người của ta. Làm như vậy đồng nghĩa với việc ta xua đuổi đi phần còn lại – phần thương yêu, bao dung và tha thứ vốn có sẵn trong bản thể của ta, đó là sức mạnh của Vô Biên. Hãy làm thử theo cách của tôi nhé! Đừng hét toáng lên mà hãy ngồi xuống chầm chậm, ngắm nhìn mọi thứ đang diễn biến trong mình rồi gọi thầm tên một người mà bạn tin tưởng nhất. Người ấy có đầy đủ sự vững chãi và thảnh thơi, có thể làm nơi nương tựa cho bạn. Bạn có thể gọi tên của Bụt hoặc bạn cũng có thể làm giống như tôi, gọi tên của chính mình bởi vì trong mình cũng có đầy đủ hạt giống tốt lành của Bụt. Cứ gọi đi và cứ khóc đi, đừng xấu hổ để rồi lại che giấu những yếu đuối của mình, hãy thành thật với chính mình. Rồi bạn sẽ nghe thấy một giọng nói ấm áp. Giọng nói ấy sẽ chỉ cho bạn nẻo thoát. Cũng như sáng nay sư chú Pháp Xa vững chãi đã ôm lấy sư chú Pháp Xa yếu đuối và dìu dắt về hướng bình minh. Nhớ nhé đừng hét toáng lên mà hãy ngồi xuống thật yên!

Con dấu hạnh phúc

Về Sơn Cốc, ngôi nhà nhỏ bình yên với rừng tre Ca Lan Đà râm mát, bên suối Tào Khê róc rách, thầy tôi nằm đưa võng và chúng tôi ngồi quây quần bên Thầy. Tiếng chim líu lo trong một ngày nắng đẹp, tôi thấy tuổi thơ mình trở về gần gũi và thân quen như những ngày về quê ngoại. Tịnh Độ hay ta bà, mơ hay thật? Khi Thầy tôi ngồi đó vẽ những vòng tròn thư pháp như đang chơi một trò chơi trẻ con.

Thầy nói: “Thầy đang trồng những quả bí, quả cam”. Hai chị em tôi đỡ lấy những “quả bí”, “quả cam” ấy đem phơi cho ráo mực. Phút chốc tôi thấy mình nhỏ bé như chưa từng là một người lớn. Dù lớn bao nhiêu tuổi, về bên Thầy chúng tôi vẫn có cảm nhận mình vẫn là những đứa bé con. Tôi ngồi đó và thoáng nhìn một con người nổi tiếng như Thầy sao lại bình dị đến lạ trong cách sống mộc mạc mà bền bỉ sắc son một lòng cho quê hương đến thế. Hình ảnh này đẹp lắm bạn ơi!

Tôi nhìn Thầy và thở, hình ảnh Thầy như tiếng chuông đại hồng gióng lên hồi chuông tỉnh thức mà vui sống. Tôi nhận ra mình đang được sống trong tăng thân, được thực tập khi nghe chuông, khi tiếp xúc với một bông hoa, một cái đẹp nên tự nhiên tôi đã có được những hơi thở mới bình an. Tôi cười khi nhận ra đứa bé bất an ngày xưa trong tôi cũng biết thở, biết cười, biết buông thư. Ngước nhìn lại, bé bắt gặp khuôn mặt ba bé ngày xưa cũng đã giãn đi những nếp nhăn và bắt đầu bình an trở lại, mọi người chung quanh cũng trở nên yên lắng và bình an trong cùng một nhịp thở của bé. Bé thở đều: “vào”… “ra”…, “vào”… “ra”…,“vào”… “ra”… theo từng nhịp như để lưu giữ cái phút giây mầu nhiệm ấy. Và càng nhìn Thầy bé lại thấy ba của bé bình an và thanh thản đến lạ! Bởi ngay giờ phút này, đứa bé ngày xưa là tôi ngày nay như nhận thấy hai đời sống tâm linh và huyết thống đang âm thầm lưu nhuận trong nhau, tôi đang được trao truyền và tiếp nối.

Rồi Thầy đã ôn tồn chỉ cho tôi cách xếp một tờ giấy, đóng một con dấu sao cho ngay. Bạn biết không, tôi đã từng nhập môn công việc đóng dấu cho văn thư và tôi đã từng đóng dấu cho cả ngàn cuốn sách. Vậy thì tôi đã cho ra đời biết bao con dấu? Nhưng hôm qua, tôi được học cách đóng một con dấu hạnh phúc. Con dấu đó ra đời sau những bước chân thiền hành bình an, hơi thở bình an, lời thăm hỏi bình an giữa tình Thầy trò. Thầy từ từ bước vào Nội viện (nơi dành cho gia đình xuất gia) và ngồi vào bàn vẽ trong ngôi nhà kính thân thương mà Thầy thường gọi đùa là xưởng vẽ của Thầy. Thầy ghi lên những “quả bí”, “quả cam” một câu thư pháp như trao truyền một bí kíp của khu vườn bí mật rồi nói: “Chữ Thầy đơn giản quá con hỉ!” Tôi chắp tay “Dạ”, khẽ thầm công nhận. Thầy cầm con dấu ấn xuống và đưa cho tôi. Đang mải mê chiêm ngưỡng những tác phẩm của Thầy, Thầy nhìn tôi và bảo: “Bây giờ con đóng dấu cho Thầy.” Tôi “Dạ” và hành nghề như trước đây tôi đã từng làm. Mỗi khi đóng một con dấu tôi lại nghe tiếng kêu lách cách quen thuộc, dù tôi đã nhẹ nhàng hơn trước đây nhiều lắm rồi đó.

Thầy tôi nhìn tôi cười, chầm chậm bỏ cây bút xuống, rồi ôn tồn chỉ cho tôi cách đóng một con dấu, canh con dấu như thế nào cho thẳng với mép giấy vuông góc đi vào, rồi ấn bốn góc cho ngay ngắn. Một con dấu đỏ tròn đầy và đẹp lạ lùng hiện ra như vừa được khai nguồn sự sống. Tôi nhìn lại những con dấu vụng về của mình và cẩn trọng đón nhận kinh nghiệm và niềm vui mà Thầy vừa chỉ dạy. Một con dấu bình an trong cách trao truyền và tiếp nhận. Tôi nhận ra những con dấu ngày xưa của tôi vô hồn và tội nghiệp với những hơi thở dồn dập, những suy nghĩ miên man và nỗi buồn giận đã tạo nên những tiếng kêu chát chúa và đanh lại nơi góc phòng làm việc. Tôi nhận ra tôi đang được học một bài học không có trong sách vở. Bài học tạo ra không gian bình an để vui sống và làm việc. Bây giờ tôi cảm nhận rõ hơn nguồn năng lượng bình an mà Thầy đang hiến tặng cho cuộc đời, Thầy gìn giữ cẩn thận trong từng hơi thở, trong từng bước chân đi và từng lời giảng mộc mạc chân tình.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpgGiờ đây tôi có cơ hội đóng lại những con dấu, mỗi con dấu hôm nay ở Nội viện mang theo bao niềm vui, bao hạnh phúc. Và tôi biết trong mỗi tấm thư pháp ấy Thầy đã gói lại rất nhiều ân tình cuộc sống để gửi tặng cho đời. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy những tán lá xanh ve vẫy, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối róc rách và nắng hạ. Bởi Thầy đã khai sinh ra những đứa con này trong cái thanh bình của một nơi bình yên như thế, với nhiều tình thương như thế.

Đĩa mực đã hết, Thầy lại ung dung nhỏ vào mấy giọt nước và khẽ nói: “Nếu có mấy giọt trà thì thơm hơn”. Tôi tủm tỉm cười và mang lại cho Thầy một cốc trà rồi thưa: “Dạ liệu mọi người có biết trong này có hương thơm của trà không, thưa Thầy?” Thầy cười và nói: “Họ không biết nhưng mà mình biết và chưa chắc họ đã biết trong này còn có hơi thở nữa…” Tôi đỡ tấm thư pháp từ tay Thầy, bàn tay tiếp nối bàn tay sẽ đưa những tấm thư pháp này về muôn hướng. Mầu nhiệm thay một mảnh giấy nhỏ có thể chứa biết bao ân tình cuộc sống của Thầy và Tăng thân.

Cầm một tấm thư pháp “Uống trà đi”, tôi lại thấy hình ảnh Thầy ung dung hớp từng ngụm trà nhỏ và nói “Uống trà đi các sư con” mà tôi vẫn thường nghe. Tin rằng khi bạn thấy dòng chữ này, bạn cũng sẽ nghe giọng nói thân quen của Thầy vọng về nơi từng con chữ. Xếp lại chồng thư pháp, con dấu nhỏ mỉm miệng cười tươi như hoa ban sớm để chào tạm biệt tôi. Tôi cười đáp lại. Ngày mai những con dấu sẽ cười tươi với bạn và bạn nhớ cười lại cho tươi bạn nhé! Bởi mỗi nẻo về của niềm vui sẽ tiếp nối đường đi cho những niềm vui mới. Một ngày mới đang bắt đầu bạn có nhận ra không?

Hẹn nhau mùa hoa đào sang năm

Thư pháp (calligraphy) của tôi không xuất sắc gì mấy. Vậy mà tập viết hoài ngó cũng được. Càng viết, chữ càng ngó được hơn. Năm ngoái (1999) trong chuyến đi Trung Quốc, anh Mộc có đem theo nhiều giấy, bút và mực. Anh xin tôi viết mấy chục tấm để bán lấy tiền cúng dường chùa tổ Lâm Tế ở quận Chánh Định thuộc thành phố Thạch Gia Trang tỉnh Hà Bắc. Anh nói đa số những người trong phái đoàn đi Trung Quốc là người Tây phương, tôi có thể viết chữ Anh. Tôi chiều lòng anh. Trong chuyến đi, số tiền bán chữ đã lên tới tám ngàn Mỹ kim. Phái đoàn đã cúng dường cho chùa tổ Lâm Tế, qua hòa thượng trú trì Hữu Minh, một ngân khoản là mười ngàn Mỹ kim để giúp vào quỹ mua thêm đất và xây cất thêm tăng viện. Hòa thượng rất cảm động. Đó là vào khoảng tháng năm. Vào tháng chín năm ấy, tại tu viện Kim Sơn do thượng tọa Tịnh Từ làm viện trưởng, sẵn có giấy bản các thầy và các sư cô mua được ở trong khóa tu ở trường Đại học Santa Barbara, tôi đã ngồi xuống viết nhiều bức, bức thì chữ Anh, bức chữ Việt, bức chữ Hán. Các thầy và các sư cô trong phái đoàn Làng Mai đã bán được gần hết các bức này, có bức bán tới một ngàn Mỹ kim. Tất cả đều được đem cúng dường vào quỹ xây cất Nhà Đa Dụng của tu viện. Trong chuyến đi hoằng pháp tới tại Bắc Mỹ, khi đến Kim Sơn, thế nào tăng đoàn Làng Mai cũng được ở nhà hẳn hoi, chứ không phải ở lều như trên mười năm qua, quá lạnh!

Vào lễ giáng sinh 1999, nhiều minh tinh màn bạc nổi tiếng tại Hollywood như Marlon Brando, Jack Nicholson, Sean Penn … cũng nhận được những bức chữ viết của tôi do bạn hữu của họ hiến tặng. Cả bên Trung Quốc và Đại Hàn, mỗi khi trao đổi thư pháp với các vị tọa chủ các chùa lớn, tôi cũng viết chữ Tây cho lạ. Chắc các bạn tò mò muốn biết tôi viết những chữ gì. Tôi chỉ viết những chữ mà khi treo lên người ta có thể thực tập theo được mà thôi. Ví dụ: “breathe, you are alive” (thở đi, bạn đang là sự sống mầu nhiệm), “drink your tea” (uống trà cho thảnh thơi và hạnh phúc đi bạn, chữ Hán là “nghiết trà khứ” ), “the tears I shed yesteday have become rain” (nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa), “breathe and smile” (thở đi, mỉm cười đi), “you are not a creation, you are only a manifestation” (em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện) “present moment, wonderful moment” (an trú trong hiện tại, giờ phút đẹp tuyệt vời), “there is no way to happiness, happiness is the way” (không có con đường đưa tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường), v.v…

Bức mà Phật tử gốc Việt ưa thích nhất là bức có ba chữ “thở đi con”. Ai cũng muốn thỉnh một bức về treo trong phòng khách để khi có chuyện bất an thì nhớ mà thực tập, còn khi bình thường mà thực tập thì nuôi dưỡng thêm hạnh phúc đang có. Có những bức viết trọn một, hai, bốn câu thơ hay cả bài thơ. Những câu thơ trong truyện Kiều có thể hiểu theo nghĩa thiền quán cũng rất được hâm mộ, như câu “bây giờ rõ mặt đôi ta, biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao” hay câu “trời còn để có hôm nay, tan sương đầu ngõ vén mây giữa trời”, hoặc câu “một nhà xum họp sớm trưa, gió trăng mát mặt muối dưa chay lòng, bốn bề bát ngát mênh mông, triều dâng hôm sớm mây lồng trước sau”. Có một cặp tân hôn xin chữ, tôi đã cho câu “trước sau cho vẹn một lời, duyên ta mà cũng phúc người phải không?”, đổi một hai chữ cho thích hợp.

Chữ Hán tôi viết rất ít, bởi vì hiện giờ ít người đọc được chữ Hán và thích treo chữ Hán. Tôi thấy những bức chữ Anh, chữ Việt hoặc chữ Pháp lồng kính treo lên cũng đẹp vô cùng, và khi đọc thì người ta hiểu liền. Tôi cũng có viết nhiều câu đối, câu đối chữ Việt, và cả chữ Âu Mỹ nữa! Có một bữa, tôi thấy ông đồ xưa của Vũ Đình Liên đã sống dậy! Ông đồ xưa chỉ viết chữ Nho, ông đồ xưa nếu bây giờ sống dậy thì viết được cả chữ Việt và chữ Tây, và vẫn sử dụng được bút lông mực tàu như thường. Và ông không phải chỉ dùng giấy đỏ. Ông dùng giấy đủ màu, nhất là màu trắng ngà. Bút lông của ông được chế tạo rất nhiều kiểu, sản xuất ngay cả ở các nước Âu châu. Tôi thấy nhiều nhà thơ Việt Nam hiện đại đã viết thơ của mình thành bức, bằng chữ Việt, có khi viết bằng bút lông, có khi viết cả bằng bút sắt. Tôi đã thấy nét chữ của nhiều vị, trong đó có Vũ Hoàng Chương và Cao Tiêu. Tại sao lại chỉ viết chữ Hán? Càng viết, chữ càng đẹp. Đồng bào và người ngoại quốc rất thích treo những bức chữ đẹp và có ý nghĩa, bằng chữ Việt hoặc bằng chữ nào mà họ hiểu. Cố chấp thì ông đồ sẽ chết vĩnh viễn, còn nếu ông đồ biết thích nghi thì ông đồ sẽ sống mãi mãi. Chúng ta không cần phải khóc ông đồ như thi sĩ Vũ Đình Liên:

Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua

Bao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài
Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay

Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầu             
Ông đồ vẫn ngồi đó
Qua đường không ai hay
Gió buồn mơn mặt giấy
Ngoài trời mưa bụi bay        

Năm nay hoa đào nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?

 

 

Tôi muốn nói chuyện đạo Bụt, đạo Bụt tại châu Á nói chung, và đạo Bụt tại Việt Nam nói riêng. Đạo Bụt nếu không được làm mới để có thể đáp ứng với nhu cầu đích thực của người thời nay thì đạo Bụt sẽ từ từ vắng mặt, nghĩa là sẽ chết, như ông đồ xưa. Đại sư Thái Hư thấy được điều đó nên đã hô hào cách mạng giáo lý, cách mạng giáo chế và cách mạng giáo sản. Nếu chúng ta chỉ biết thủ cựu, nếu chúng ta có quá nhiều sợ hãi, nếu chúng ta chỉ biết củng cố địa vị thì chúng ta không thể nào làm mới được đạo Bụt. Phải giảng dạy đạo Bụt như thế nào để tuổi trẻ bây giờ có thể áp dụng được vào trong đời sống hằng ngày của họ, chuyển hóa được khổ đau, khai thông được bế tắc, xây dựng lại được tình thâm. Lễ bái, cầu phước và tín mộ không đủ. Tuổi trẻ không muốn đến chùa để chỉ đốt nhang, đốt vàng mã, vái lạy và tụng những kinh mà họ hoàn toàn không hiểu. Buổi công phu sáng gần hết là bằng tiếng Phạn, có tính chất của Mật Tông, mà lại là tiếng Phạn phiên âm Hán Việt xa lắc với nguyên âm. Buổi công phu chiều thì chủ yếu là để cầu sinh Tịnh Độ. Không mấy ai đọc được và hiểu được kinh chữ Hán. Vậy mà ta không có can đảm đem hai buổi công phu dịch ra quốc văn để hành trì. Ta sợ người ta đàm tiếu, chê bai là bỏ gốc rễ. Ta có bỏ gốc rễ đâu. Ta chỉ chăm sóc và làm mới cho gốc rễ thôi, để cho cội cây xưa có được sức sống mới đâm lên những chồi mới, nếu không cây sẽ chết.

Cách đây chừng vài trăm năm, người ta đã từng bĩu môi chê chữ Nôm là quê mùa, là mách qué (nôm na là cha mách qué). Người ta bảo người đứng đắn và người trí thức chỉ dùng chữ Hán thôi. Vậy mà thi hào Nguyễn Du đã sáng tác truyện Kiều bằng chữ Nôm và đã tạo nên được một niềm tin lớn cho quốc dân nơi khả năng tiếng Việt. Không dùng súng đạn và gươm giáo mà thi sĩ đã xây được thành lũy vững chãi cho nền độc lập dân tộc. Độc lập chính trị chỉ có thể bền vững khi có độc lập văn hóa. Cụ Nguyễn Du là một ông đồ không bao giờ già, không bao giờ chết. Hồn của cụ sống mãi trong hồn của người trẻ bây giờ. Bài học đó há không đủ soi sáng cho chúng ta sao? Con cháu chúng ta bỏ chùa, bỏ đạo gốc tổ tiên chạy theo những trào lưu từ ngoài tới, lỗi đó là của ai?

Làm mới đạo Bụt, áp dụng ngay những pháp môn của đạo Bụt nhập thế (Phật tử Trung Quốc bây giờ gọi là Nhân Gian Phật Giáo, Tây phương gọi là Engaged Buddhism), sử dụng ngay tiếng Việt để tụng niệm trong hai buổi công phu, điều này rất cần thiết. Chúng ta đừng làm như ông đồ xưa, từ từ vắng mặt trong cuộc đời. Chúng ta phải tái sinh lại ngay lập tức để trở thành ông đồ nay. Chỉ có ông đồ nay mới làm thỏa mãn được những nhu yếu của người ngày nay. Từ thế kỷ 14, vua Trần Nhân Tông và thiền sư Huyền Quang đã thấy được sự thực này. Các vị đã bắt đầu sáng tác bằng tiếng Việt, sử dụng chữ Nôm. Ở Triều Tiên, ngày xưa cả nước đi theo đạo Bụt. Vào đầu thế kỷ này, chỉ còn dưới 50% dân chúng là Phật tử. Giới trẻ đi theo ngoại lưu nhiều như thác lũ. Lý do là đạo Bụt bên đó quá bảo thủ và rất còn kỳ thị phụ nữ. Ta cầu xin các vị tôn đức trong sơn môn ta nghĩ lại cho con cháu được nhờ. Đạo Bụt không thể không được hiện đại hóa. Tại Tây phương, nhiều người đang muốn cho đạo Ky Tô được hiện đại hóa, nhưng họ chưa thành công vì thái độ thủ cựu và giáo điều của giới chức sắc bề trên. Nhiều nhà thờ vắng bóng tín đồ. Người xuất gia rất hiếm. Chỉ vì tại người ta bảo thủ quá, không chịu làm mới; không chịu cách mạng giáo lý và giáo chế. Đạo Bụt có tinh thần cởi mở tự do, dễ làm mới hơn nhiều. Ta có thể thành công trong vài thập niên nếu chúng ta tỉnh thức. Ông đồ xưa ơi, xin ông mau mau sống dậy. Cơ hội đã đến. Xin ông hãy chuẩn bị tái sinh. Hẹn ông cùng có mặt ở mùa hoa đào năm tới:


Sang năm hoa đào nở
Sẽ thấy ông đồ xưa
Với hình hài rất mới
Sống động hơn bao giờ.

Chúng ta không có lý do gì để không thành công.