Chị không khác gì em: Chân dung sư cô Chân Không
Tên của Sư cô lúc chưa xuất gia là Phượng.
Sư cô cùng Thầy thành lập Làng Mai năm 1982. Làng Mai trở thành một nơi chúng ta thấy hôm nay từ tầm nhìn và tâm thức của Thầy một phần lớn nhờ sự yểm trợ bền bỉ và những sáng kiến không bao giờ cạn của Sư cô. Nếu ta biết ơn những nhân duyên đã giúp ta tiếp xúc được với những lời dạy của Thầy chừng nào thì ta cũng có ngần ấy sự tri ân đối với những công đức của Sư cô. Hai cái đó như chỉ là một hơi thở vậy.
Năm 1984, tôi gặp Thầy và chị Phượng lần đầu tiên tại một khóa thiền tập cuối tuần tại Amsterdam. Buổi tối có một chương trình đặc biệt về âm nhạc Việt Nam. Giữa chừng, đột nhiên tiếng nhạc dừng lại và chị Phượng bắt đầu hát. Giọng hát của chị làm tôi rất xúc động. Tôi chưa bao giờ nghe ai hát như vậy. Giọng hát của chị làm trái tim tôi mở rộng và tôi cứ khóc mà không dừng lại được, chẳng hiểu chuyện gì đã xảy ra với mình nữa.
Mùa hè đầu tiên khi tôi đến Làng Mai, chị Phượng chưa là một sư cô. Mọi người chỉ gọi chị là “Phượng”. Chị có mái tóc đen dài rất đẹp, và chị thường quấn tóc thành một búi rồi xỏ ngang bằng một cây bút.
Trong những ngày này, các thiền sinh Tây phương (với số lượng không nhiều) đến Làng Mai đã được chị đón tiếp rất thân tình và làm đủ cách để chúng tôi cảm thấy như đây là nhà của mình. Lúc đó chị là người duy nhất có thể thông dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Khi Thầy cho pháp thoại, hoặc có một sự kiện gì đó bằng tiếng Việt, chị luôn ngồi cạnh chúng tôi và thông dịch từ giờ này qua giờ khác mà không bao giờ tỏ ra mệt mỏi. Chị Phượng có một phong cách thông dịch rất biểu cảm. Thậm chí sau khi thông dịch mấy giờ liền, giọng chị vẫn hào hứng và thú vị như lúc chị mới bắt đầu.

Ba năm sau đó, tôi đến lưu trú tại Làng Mai và hầu như là người duy nhất cần được thông dịch trong mùa đông khi Thầy cho pháp thoại và vào cuối các bữa ăn. Chúng tôi có khoảng 10 người, và sau bữa ăn tối, trong khi mọi người uống trà hết ly này đến ly khác thì luôn luôn sẽ có những cuộc trò chuyện bằng tiếng Việt. Thường thường, những lúc như vậy, tôi cảm thấy mình bị đứng ngoài lề. Nhưng nếu chị Phượng có mặt thì chị luôn đến ngồi cạnh tôi, và vừa tham gia một cách hào hứng vào câu chuyện, chị vừa thông dịch cho tôi. Tôi rất thưởng thức những giây phút ấy với chị. Khoảng 2 năm trước, tôi để ý thấy chị có một thói quen mới là trong khi thông dịch, bàn tay chị bắt ấn. Khi tôi hỏi lý do, chị nói là làm như vậy chị sẽ nhớ giữ chánh niệm trong khi thông dịch.
Chị cũng làm lớn mạnh niềm tin trong tôi rằng bất cứ vấn đề gì cũng có cách giải quyết. Một mùa đông nọ, tôi nhận cắm hoa trang trí cho một buổi thiền trà ở Xóm Hạ. Tôi tìm khắp nơi nhưng không thấy một bông hoa nào cả. Khi tất cả mọi người đã yên vị trong thiền đường, chị Phượng vừa định bước vào thì tay cầm cái bình không, tôi chạy đến nói với chị một cách kém vui là tôi không thể giữ lời hứa trang trí cho thiền trà được. Tôi chưa kịp dứt lời thì chị đã bứt một vài búi cỏ, nhặt một nắm sỏi trên lối đi mà chúng tôi đang đứng, thêm một cành khô trên mặt đất gần bên rồi đem tất cả vào để ở chính giữa vòng tròn, cắm cành khô vào nữa. Thế là, hấp, tác phẩm của chị đã hoàn thành, mọi người có thể bắt đầu buổi thiền trà. Vừa bước vào thiền đường, chị vừa nháy mắt với tôi: “Thiên nhiên thuần túy.”
Nhiều năm trôi qua, càng ngày càng có nhiều người đến Làng Mai và vì vậy cần tạo thêm cư xá cho khách. Một trong những chỗ được chọn để biến thành cư xá là gác xép ở phía trên phòng tôi đang ở. Dọn dẹp ở trên đó là cả một công trình: mạng nhện giăng từ sàn tới nóc và bụi bặm lưu cữu không biết bao nhiêu đời ở khắp nơi. Sau vài phút dọn dẹp, nhìn tôi y như một thợ mỏ. Sau nhiều giờ cật lực lau, quét dọn, tôi thấy mình chẳng làm được bao nhiêu. Một buổi chiều kia, sau mấy ngày tôi đơn độc làm việc trong cái gác xép ảm đạm đó, chị Phượng đột nhiên xuất hiện, cùng làm với tôi một cách rất hăng hái. Tôi rất hoan hỷ được chị giúp và đón nhận sự nhiệt tình của chị, nhưng tôi cũng thấy hơi ngượng vì chị đến lau sàn nhà với tôi trong khi chị có cả ngàn việc khác phải làm, những việc mà không ai có thể làm thay chị được. Dù bao nhiêu lần tôi nói chị nên đi làm những việc khác, chị vẫn không nghe và tiếp tục làm với tôi cho đến khi mọi việc hoàn thành. Chị không bao giờ thấy có cái gì mà chị không làm được.
Vì người không mệt mỏi
Năng lượng không bao giờ cạn của chị thường làm tôi kinh ngạc. Nếu có việc gì cần hoàn tất, chị cứ làm cho đến khi nó được làm xong, có khi đến quá nửa đêm, không ăn uống và thường là làm một mình. Khi cần gửi các gói thuốc về Việt Nam, chị ngồi hàng giờ trên sàn nhà, viết địa chỉ và thư động viên cho từng gia đình. Những người khác tới giúp chị và sau khi họ ra về, chị tiếp tục làm. Chưa bao giờ tôi thấy bất cứ một dấu hiệu tủi thân nào nơi chị.
Làm việc nhiều như thế nhưng tôi chưa bao giờ nghe chị phàn nàn là chị quá bận rộn. Tôi cũng chưa bao giờ nghe chị than lạnh, dù mùa đông ở Làng mà sống trong các phòng đơn sơ như vậy, người ta có đủ lý do để phàn nàn. Đầu mùa thu tôi đã phải mang đến hai đôi vớ, trong khi đó tôi thấy chị đi chân trần. Tên Chân Không cũng có nghĩa là chân trần. Chưa bao giờ chị lưu tâm đến tiện nghi của bản thân mình.
Khi nói tới tình trạng ở Việt Nam là chị luôn luôn hết mình tham gia. Nhiều năm trước, trong một buổi thiền trà, chị kể chúng tôi nghe chị vừa nhận tin từ Việt Nam là một số văn nghệ sĩ vừa bị cầm tù. Vừa kể chị vừa khóc một cách không giấu giếm làm tôi rất xúc động. Trong khi tôi khổ vì nỗi đau của chính mình, tôi thấy chị khổ vì nỗi đau của những người khác. Ngoài những lúc như vậy, tôi thường nghe tiếng cười giòn của chị vì chị rất dễ dàng thấy được khía cạnh hài hước của một vấn đề.
Lần nọ, một nhóm nhỏ chư tôn đức người Việt từ Hoa Kỳ tới thăm Làng Mai. Sáng hôm quý ngài rời đi, khoảng 12 người chúng tôi được triệu tập tới thiền đường. Chúng tôi ngồi thành vòng tròn và Thầy nói bằng tiếng Việt. Chúng tôi vừa có một lệ mới là hễ có ai rời Làng thì một vị thường trú sẽ đại diện dân Làng làm thiền ôm với người đó trong buổi họp chúng.
Sáng hôm đó, Thầy bảo một sư cô ra đứng giữa vòng tròn để đại diện chia tay với một vị tôn túc (mà tôi đoán là một vị trụ trì). Thầy giải thích cho vị ấy về thiền ôm. Chắc chắn vị đó chưa bao giờ biết cách thiền trong hình thức đó. Và chắc chắn là không bao giờ với một sư cô. Những ai biết rõ về truyền thống thì mới hiểu rằng điều Thầy làm lúc ấy là vô cùng cách mạng. Hai người đứng đối diện nhau. Sau khi đưa mắt nhìn nhau một cách lúng túng, hai vị cúi chào nhau rất cung kính. Và điều không tránh khỏi đã xảy ra: đầu của hai người va vào nhau cái cốp. Tất cả mọi người phải cố gắng nhịn cười một cách khổ sở. Cũng như tất cả chúng tôi, Sư cô Chân Không ngồi rất lâu với khuôn mặt méo xệch mà dù cố gắng thế nào cũng không thể đưa trở lại biểu cảm bình thường.
Mặc dù có vô số việc liên tục đòi hỏi sự chú ý của Sư cô, Sư cô vẫn luôn để mắt đến chúng tôi, xem chúng tôi đang ra sao. Và nếu Sư cô cảm thấy có điều gì đó không ổn nơi một người trong chúng tôi, Sư cô sẽ hỏi ngay lập tức. Khi có bất cứ chuyện gì cần trao đổi, Sư cô luôn đi thẳng vào trọng tâm của vấn đề.
Khi tôi muốn kể với Sư cô điều gì, thường thì Sư cô đã nắm được ý chính từ rất lâu trước khi tôi nói xong. Sư cô lắng nghe rất chăm chú và không phán xét. Mỗi khi nói chuyện với Sư cô, tôi luôn cảm thấy có rất nhiều không gian. Tuy vậy, qua trải nghiệm, tôi cũng biết rằng cách giao tiếp của Sư cô có những “nguyên tắc” riêng, và đôi khi điều đó khiến tôi khá khó khăn.
Điều khó chấp nhận nhất là cách Sư cô đột ngột chấm dứt một cuộc trò chuyện — hoàn toàn bất ngờ, ngay giữa câu chuyện, giữa một câu nói. Từ khi hiểu rằng khoảnh khắc ấy có thể đến bất cứ lúc nào, tôi học cách nói ngay điều mình muốn chia sẻ, nếu không thì Sư cô sẽ rời đi khi tôi chưa kịp nói điều mình định nói. Và như vậy thì thật là đáng tiếc, vì Sư cô rất bận, bạn sẽ không bao giờ biết khi nào mới có cơ hội nói chuyện với Sư cô lần tới.
Sư cô cũng có thể đột ngột cắt ngang một cuộc trò chuyện qua điện thoại. Đã hơn một lần, khi tôi đang nói dở giữa câu, bỗng nhiên tôi nghe “bíp, bíp, bíp” bên tai — Sư cô đã cúp điện thoại. Ban đầu tôi cảm thấy rất tổn thương, nhưng theo thời gian, tôi học chấp nhận Sư cô là như vậy, cũng như chấp nhận nhiều khía cạnh khác của Sư cô.
Theo như tôi quan sát, giữa Thầy và chị Phượng luôn luôn có sự hòa hợp và không căng thẳng. Tuy nhiên, có một lần, vào cuối bữa ăn chiều, Thầy bất ngờ nói với chị Phượng bằng một giọng rất nghiêm khắc: “Con ăn cho xong đi.” Vì đó là một giọng rất khác so với cách Thầy thường nói với chị Phượng cho nên tôi không bao giờ quên được. Trên đĩa của chị Phượng còn sót lại một vài hạt cơm (khoảng 8 hay 12 hạt), Thầy nói tiếp là rất nhiều người hiện đang bị đói. Tôi rất ngạc nhiên thấy chị Phượng có vẻ ân hận. Chị không nói hay biện hộ gì mà bắt đầu vét hết những hạt cơm trên đĩa.
Xuất gia
Năm đầu tiên khi tôi ở Làng, Thầy là vị xuất gia duy nhất. Nhưng sau chuyến đi Ấn độ năm 1988, chị Phượng, chị Annabel và Sư cô Chân Vị (chị Thanh Minh) trở về Làng trong hình tướng xuất gia. Sự thay đổi đột ngột này là một cú sốc lớn cho tôi. Có lẽ Thầy cảm được điều đó nên sau khi trở về không lâu, có lần Thầy bảo tôi sờ đầu chị Phượng xem tôi có cảm tưởng như thế nào khi đầu không có tóc. Trong khi tôi thận trọng sờ đầu chị, chị cười vui vẻ và thân thiết ôm tôi trong hai tay, chị nói: “Chị đâu có khác em chút nào, ngay cả khi chị mặc đồ khác và cạo sạch mái tóc. Không có sự khác biệt nào giữa chị em mình hết.”

Tôi thấy có gì đó đã thay đổi nơi chị Phượng, tôi thấy sự thực tập đã trở thành ưu tiên hàng đầu của chị và chị đã phát nguyện để sống chánh niệm bằng hết khả năng của chị. Thí dụ tôi quan sát thấy giữa một cuộc nói chuyện càng lúc càng ồn ào, chị trở nên yên lặng hơn; hoặc khi đang làm cái gì đó rất nhanh, tự dưng chị làm chậm lại. Vì tôi chứng kiến sự thay đổi nơi chị, rất tự nhiên, tôi bắt đầu gọi chị là Sư cô.
Có lần chị chia sẻ với tôi là chị muốn cẩn thận để không trở nên tự hào vì bây giờ chị là một sư cô. Chị giải thích rằng chuyện này rất dễ xảy ra vì người Việt thường có truyền thống trọng tăng.
Trong suốt thời gian tôi tiếp xúc với Sư cô Chân Không, tôi thấy Sư cô là một người đa năng. Theo Sư cô thì Sư cô không có nhiều năng lượng so với 10 năm trước. Nhưng khi tôi thấy Sư cô làm việc nhiều như thế mà không có vẻ gì phải gắng sức, tôi thật sự rất cảm phục. Nhiều năm trước, trong một khóa tu tại một tu viện Tây Tạng ở Pháp, Thầy bị bệnh. Từ phút đó trở đi, Sư cô Chân Không chăm sóc mọi mặt liên quan đến khóa tu, kể cả cho pháp thoại. Sư cô nấu ăn ngày hai bữa cho Thầy và cho 3 người dân làng thường trú, đi theo để làm chương trình trẻ em. Thời gian còn lại, Sư cô có mặt cho thiền sinh khi họ cần tham vấn. Và nếu chương trình trẻ em xảy ra không suôn sẻ, Sư cô cũng có mặt để hỗ trợ. Sư cô là người cuối cùng đi ngủ và là người thức dậy đầu tiên mà vẫn giữ được tinh thần tươi mới.

Tôi thường tự hỏi nguồn năng lượng dồi dào của Sư cô đến từ đâu. Tôi cho rằng một phần là vì Sư cô thật sự sống trong giây phút hiện tại; từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác, Sư cô tiếp xúc và xử lý những gì đang phát sinh, và không đánh mất năng lượng vào việc lo lắng về những gì sẽ đến. Với tôi, đó là biểu hiện của một niềm tin rất sâu sắc. Nhưng có lẽ điều quan trọng hơn cả là lòng từ bi của Sư cô. Khi xuất gia, Sư cô đã được Thầy trao cho pháp danh Chân Không. “Hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi”, “nỗi khổ của bạn là nỗi khổ của tôi” thực sự là điều Sư cô đang sống. Thấy được cái vô ngã trong cái ngã không phải là một lý thuyết mà chính là nền tảng của tự thân Sư cô.
Dịch từ nguyên bản tiếng Anh I am not different from you của Eveline Beumkes – đăng trên Mindfulness Bell, tháng 6 năm 2002 và tháng 10 năm 2012
![]() | Eveline Beumkes, Chân Hòa, là một vị giáo thọ cư sĩ được Sư Ông truyền đăng năm 1994. Cô sống thường trú tại Làng Mai từ 1988 đến 1991. Cô giúp tổ chức và hướng dẫn tu tập cho tăng thân cư sĩ tại Amsterdam và dịch nhiều quyển sách của Sư Ông ra tiếng Hà Lan. (Ảnh: https://mindfulcommuniceren.nl/eveline-beumkes/) |

