Sự Tiếp Nối

Nơi đâu cũng là nhà

Một buổi chiều năm ngoái, trong khi ngồi ăn tối với nhóm pháp đàm trong khóa tu xuất sĩ vào tháng 9, một sư em đến sát bên tôi nói nhỏ: “Báo cho sư mẹ một tin buồn, sư mẹ có tên đi Mỹ”. Đúng là một cái tin bất ngờ. Thế là bao nhiêu những khóa tu, những chương trình dạy các lớp, những dự án cho tương lai ở đây, tôi phải buông bỏ hết để chuẩn bị giấy tờ đi Mỹ.

Không lâu sau thì tôi biết mình sẽ chuyển qua Tu viện Bích Nham vì nơi đó đang cần có thêm những vị lớn. Khi nghe tin tôi sẽ qua Bích Nham, một sư em đã nhìn tôi với cái nhìn “tội nghiệp”, sư em nói: “Tội nghiệp sư mẹ quá đi! Bây giờ đúng là mùa trầm cảm ở xứ lạnh, vậy mà sư mẹ phải qua đó…”. Nói đến đây sư em chặc lưỡi lắc đầu tiếp: “Tội nghiệp sư mẹ thật đó. Bây giờ sư mẹ hãy enjoy ở đây đi nha!” Chuyện trầm cảm do thời tiết đã xảy ra cho nhiều người ở xứ lạnh. Có người đã tự tử vì không chịu nổi những ngày dài u ám, lạnh lẽo. Tôi thấy đại đa số chúng ta thường bị lệ thuộc vào rất nhiều những yếu tố từ bên ngoài: thời tiết, tiện nghi, tình cảm, v.v…

Thầy đã đặt tên cho Làng Mai Thái Lan là Vườn Ươm, đúng là một cái nôi êm ái, nơi có rất nhiều sư cha, sư mẹ thật dễ thương, đã hết lòng ôm ấp và nuôi dạy các sư em cho đến khi các sư em vững chãi. Các sư em đã từng trải qua những tháng ngày khó khăn, từ biến cố Bát Nhã cho đến ngày hôm nay. Đã từng chia sẻ những vui buồn với nhau thì việc phải chuyển đến một nơi nào khác để sống, dù đó là một nước Mỹ giàu có tiện nghi cũng không bằng mảnh đất đầy tình nghĩa này, phải không sư em?

Được sống trong Tăng thân, chị thấy mình thật may mắn, chị đang được bảo hộ và nuôi dưỡng, nếu ai đó bảo chị phải rời xa Tăng thân thì chị cũng không chịu đâu. Cả cuộc đời Thầy đã phụng sự cho đạo pháp, cho xã hội. Những gì mình làm theo lời Thầy dạy chỉ là một phần rất nhỏ để đền đáp công ơn của Thầy đã nuôi dạy mình cho đến ngày hôm nay. Huống chi nơi mình đến cũng là một trung tâm tu học của Làng Mai. Nơi đâu đối với chị cũng là nhà! Chị có buồn khi rời xa Thái Lan thật, vì nơi này đầy ắp những kỷ niệm vui buồn, đầy ắp những người mình rất thương như là các sư em vậy đó, khi xa thì phải buồn rồi. “Oán tắng hội khổ”, ghét mà phải ở gần thì khổ; “ái biệt ly khổ”, thương mà phải xa lìa thì khổ. Đó là hai cặp bài trùng mà Bụt dạy một người tu phải vượt lên trên.

Sự thực tập của chị là tùy thuận. Tùy thuận theo lời dạy bảo của Thầy và của Tăng thân. Ngày xưa Thầy giảng kinh Bảo Tích, trong kinh có đoạn nói về hạnh nguyện của những vị Bồ tát gọi là “Nhất sinh bổ xứ”. Nghĩa là khi các vị Bồ tát vừa mới sinh ra thì đã được bổ đi nơi khác để thi hành Phật sự. Không có điều gì có thể ràng buộc các vị Bồ tát đó dù ở bất cứ nơi đâu, và muốn tìm dấu vết của các vị cũng rất khó.

Thái Lan thì nóng, Bích Nham thì lạnh, nhưng đối với một người tu đã chọn cho mình con đường giải thoát những ràng buộc của cuộc đời thì còn sợ gì lạnh với nóng. Khi trong tim mình có một ngọn lửa thì dù ở bất cứ nơi nào ngọn lửa ấy vẫn sáng và cháy mãi trong tim. Quê hương chân thật của chúng ta không nằm ở nơi khí hậu lạnh hay nóng, vui hay buồn. Với hơi thở nhiệm mầu, với bước chân chánh niệm thì ngay lập tức chị trở về nhà của mình liền. Nơi ấy chị có thể tiếp xúc với tổ tiên ông bà, ba má và Thầy nữa. Sư em thương! Bất cứ nơi đâu chúng ta cũng có thể trở về ngôi nhà của chính tự thân. Chị mong rằng, các sư em của chị cũng sẽ là những vị Bồ tát “nhất sinh bổ xứ” nhé!

Huyền thoại Thái Lan

Làng Mai Thái Lan đối với tôi bây giờ như một huyền thoại. Tôi sẽ không còn tham dự những buổi sáng tinh sương hai chúng cùng ngồi thiền nơi Thiền đường Vách Núi, cùng chiêm ngưỡng 7 pho tượng Bụt rất đẹp từ Indo được đặt trang nghiêm trên những bệ núi đá vững chãi nơi mà Thầy đã chọn trong chuyến đi năm 2013. Có khi chúng tôi ngồi thiền trước cốc Thầy để có thể ngắm bình minh lên từ sau dãy núi Khaoyai và một khoảng không gian bát ngát.

Đặc biệt, tại Trung tâm Thái Lan, mỗi tuần đại chúng được ngồi thiền ngoài trời để thở không khí trong lành của vùng đồi núi. Làm sao quên được những buổi đi dưới nắng như thiêu đốt từ xóm quý sư cô sang xóm quý thầy để họp giáo thọ và tôi cứ càm ràm luôn miệng. Những buổi ngồi ăn trong căn nhà tranh nghe tiếng mưa, tiếng gió, có khi xe chạy ngang qua làm tung bụi mịt mù bay vào tận phòng ăn.

Làm sao quên được những giờ nghiên cứu các môn mình phụ trách, những buổi đứng lớp đầu tiên cho các sư em. Nhớ những gương mặt còn ngây thơ, nhớ những ánh mắt đen tuyền và sáng rực, kèm theo những nụ cười hóm hỉnh. Có những câu hỏi “lém lỉnh” mong rằng cô giáo của mình sẽ không trả lời được, chứ có dè đâu… Những buổi nhắc nhở các sư em làm bài, những buổi ngồi chấm bài và lưỡng lự khi cầm bút cho điểm hay nhận xét. Chưa nói đến những buổi họp giáo thọ đầy ắp tiếng cười, có khi cũng hơi căng thẳng nhưng vẫn thấy vui. Những buổi làm biếng, chị em cùng nhau ngồi ăn sáng ngắm mặt trời lên. Những buổi chiều đi bộ quanh con đường nội viện để thấy núi đẹp quá, tôi sẽ tiếp tục ca bài “làm sao quên được…” những kỷ niệm đong đầy khi còn ở Thái.

Nhìn lại những khóa tu được tổ chức tại Làng Mai Thái trong năm qua rất thành công. Khóa tu Gia đình với 400 thiền sinh mà trong đó đã có hơn 100 em thiếu nhi rồi. Những sư cô, sư chú trẻ đã chứng tỏ khả năng ngôn ngữ đủ để truyền thông với các em nhỏ rất dễ dàng qua các buổi hướng dẫn tu tập, sinh hoạt ca hát và tổ chức những trò chơi. Các sư cô, sư chú từ 13 đến 18 tuổi học tiếng Thái rất nhanh, tiếng Anh cũng khá nữa.

Trong khóa tu này, tổng số 70 thầy cô tham dự khóa tu, đa số là những vị từ 25 tuổi trở xuống. Gia đình của các em rất cảm động khi thấy nhóm xuất sĩ trẻ đã phụng sự hết mình để vun trồng những hạt giống tốt cho các em. Khi khóa tu chấm dứt, có nhiều em không muốn rời xa các sư cô, sư chú. Có em đã khóc và cứ ôm chặt vị đã chơi và đã hiểu mình. Vào tháng 10, có một trường tiểu học nhờ các thầy, các sư cô tổ chức khóa tu cho hơn 90 em trai tuổi từ 7 đến 12.

Sư chú Trời Nắng Mai mới có 15 tuổi là một trong những vị đã hướng dẫn tổng quát cho các em bằng ngôn ngữ Thái. Sư chú trông rất chững chạc, nói năng rất vững chãi, đã hướng dẫn các em nhỏ cách thở và ăn trong chánh niệm. Cuối năm cũng có một khóa tu dành cho những vị Tiếp Hiện và chúng trưởng, nhưng lúc ấy thì tôi đã rời khỏi nơi ấy rồi. Còn nhiều khóa tu khác như là khóa tu Wake Up, khóa tu tháng 10 hàng năm. Làng Mai Thái Lan quả là một huyền thoại đối với tôi bây giờ.

Trung Tâm Làng Mai Thái Lan vẫn còn nhiều công trình chưa hoàn tất. Nội viện của quý thầy quý sư cô, nhà ăn, nhà bếp, thiền đường… đang xây dở dang. Quý thầy, quý sư cô ở đó đang làm việc nhiều lắm, nhưng tôi chắc chắn rằng công trình sẽ được hoàn tất. Những người xuất gia trẻ ở đây có bầu nhiệt huyết muốn xây dựng một Tăng thân đẹp, một môi trường lành mạnh, vì chính các sư em cũng là những người xuất gia trẻ rất lành.

Trung tâm Làng Mai tại Thái Lan mà hoàn tất các công trình thì Thái Lan sẽ có được một nơi để mọi người ở khắp nơi trên thế giới, đặc biệt là vùng Đông Nam Á về tu tập. Thầy đã từng nói với chúng tôi: “Thái Lan là một quốc gia Phật giáo, dân tộc hiền lành, và những người thiện nguyện cũng hết lòng giúp đỡ Tăng thân. Chúng con nên cố gắng phát triển và giúp xây dựng một đạo Bụt mới ở Thái Lan”. Riêng tôi, tôi thấy người Thái rất tôn kính người xuất gia, dân tộc Thái Lan đã tạo được rất nhiều phước báo.

Bích Nham

Tôi đã đến Bích Nham lần đầu trong chuyến hoằng pháp của Thầy ở Mỹ năm 2007, năm ấy Bích Nham mới được thành lập. Tôi tham dự khóa tu “Ngồi giữa gió thu”. Khóa tu có đến 800 người tham dự, nhưng vì chưa có thiền đường nên quý thầy, quý sư cô phải thuê một cái lều để Thầy cho pháp thoại. Đúng là gió thu nên gió lồng lộng thổi vào lều, Thầy đã phải chịu lạnh và chúng tôi ai cũng muốn cảm. Nhưng là mùa thu nên rừng bắt đầu đổi màu rất đẹp.

Tôi nhớ ngày vào từ giã Thầy để về lại tu viện Lộc Uyển, hôm đó vị thị giả không biết đã đi đâu, chỉ có hai thầy trò đi ra xem thợ bắt đầu dựng cột và nóc thiền đường Đại Đồng. Đi ngang qua cây phong, thấy lá phong rụng đầy trên bãi cỏ, Thầy quay sang tôi nói: “Mình đang ở thiên đường đó con!” Tôi mỉm cười chấp tay: “Dạ!” Bích Nham mùa thu đẹp như một thiên đường, và mùa đông thì lạnh hơn nhiều so với các nước châu Âu. Về lại đây tôi sẽ có cơ hội chiêm nghiệm mùa xuân và mùa hè.

Tu viện Bích Nham gồm có xóm Tùng dành cho quý thầy và xóm Hạc dành cho quý sư cô. Số lượng của hai chúng không quá 50 người, một con số khiêm tốn cho một tu viện khá lớn ở miền Đông nước Hoa Kỳ. Nơi đây thuộc tiểu bang New York, một trong 13 tiểu bang đầu tiên của nước Mỹ. Những người dân Hoa Kỳ ở đây, nói theo giọng Mỹ là rất “tough”, họ có một niềm kiêu hãnh về tổ tiên của họ, những người đầu tiên trong lịch sử đã tạo ra một nước Mỹ hùng cường, một trong những quốc gia giàu có nhất trên thế giới.

Khi đi vào những siêu thị lớn, chúng ta sẽ bị choáng ngợp bởi những mặt hàng tiêu thụ khổng lồ, không biết là bao nhiêu loại thực phẩm mà người Mỹ đã tiêu thụ. Tôi nghĩ đến những quốc gia nghèo ở châu Phi, Ấn Độ, Việt Nam, Lào… Nếu chỉ cần chở một phần những thực phẩm hiện có trong các siêu thị như Walmart, hay Target, v.v… thì có thể giúp được những người nghèo đói trên thế giới ít nhất là một năm. Nhưng đó chỉ là mơ ước của riêng tôi.

Cùng chuyển xóm qua Bích Nham với tôi có 7 sư em từ xóm Mới và xóm Hạ. Bảy sư em nhưng có tới 6 quốc tịch: Anh, Pháp, Đức, Canada, Thái Lan và Việt Nam. Các sư em đều là sadi nữ, vài vị trước đây đã trải qua cuộc sống gia đình nên trông chững chạc. Sư em Trăng Diệu Âm người Canada gốc Phi, một hôm chia sẻ với tôi: “Gia đình em là người Thiên Chúa giáo. Bấy lâu nay sư em xuất gia theo đạo Bụt và không sinh hoạt gì về đạo của mình. Lễ Noel vừa rồi, chị của sư em có gọi điện hỏi thăm sư em có làm gì cho ngày lễ của Chúa không? Sư em nói rằng: Em có học hát thánh ca (Christmas carol). Chị nói: “Chúa ơi, như vậy thì sau khi chết chị em mình còn có thể gặp nhau ở thiên đường. Em còn có thể gặp ông nội ở đó”. Nói xong thì sư em cười lớn. Tôi thấy rõ sự khác biệt giữa hai nền văn hóa Đông-Tây. Người Á châu thường kín đáo và nhu mì. Người Tây phương thì tự do biểu lộ không che giấu và rất can cường. Văn hóa Làng Mai là một sự kết hợp giữa Đông và Tây. Tôi thấy mình cần phải học thêm nhiều về văn hóa phương Tây.

Về Bích Nham được hai tuần, tôi tham dự khóa tu Holiday Retreat. Có gần 100 người tham dự. Khóa tu Holiday bắt đầu được hình thành vào năm 1999 ở tu viện Thanh Sơn và tiếp tục cho đến ngày hôm nay. Khóa tu được tổ chức sau lễ Noel và trong thời gian Tết dương lịch. Người Mỹ đăng ký khá đông. Có nhiều người đăng ký nhưng không còn chỗ, họ xin chỉ cần một góc nào đó để ngả lưng là đủ, không cần phải có phòng ốc. Quý cái tâm tha thiết muốn tu học của họ, chúng tôi phải biến phòng phơi áo quần làm phòng ngủ cho thiền sinh.

Khóa tu này chủ yếu là giúp những người cảm thấy rất cô đơn trong những ngày lễ Tết có một nơi để trở về. Họ không may mắn có được một gia đình đầm ấm. Cảm thấy lạc lõng trong thế giới nhộn nhịp và xa hoa, họ muốn tìm về một không gian tâm linh, nơi mà họ cảm thấy được an ủi bởi sự tiếp đón ấm áp của quý thầy, quý sư cô. Họ tìm thấy những người bạn đồng hành trong những giờ pháp đàm, trong những giờ thực tập thiền bên nhau. Trong khóa tu cũng có nhiều người trẻ gặp khó khăn nhờ quý thầy, quý sư cô giúp. Những em trong lứa tuổi vị thành niên đã bị chìm đắm trong dục tình và thuốc phiện. Cuộc sống sa đọa và khổ đau đã giày vò các em. Sự có mặt của quý thầy, quý sư cô, sư chú trẻ đã giúp các em đi ra khỏi những dằn vặt khổ đau.

Sau khóa tu Holiday, chúng tôi được nghỉ hai ngày, các chị em ngồi quây quần gói bánh bột lọc trong phòng ăn xóm Tùng trong khi ngoài trời tuyết đang rơi. Tuyết đã phủ đầy các mái nhà và tràn ngập lối đi. Thầy P.T nói nhớ mẹ quá nên rủ các sư cô, những vị xuất thân từ Huế cùng làm bánh bột lọc cho vui, cho đỡ nhớ mẹ vì đã lâu chưa về thăm nhà. Tôi nhìn thầy thông cảm. Người xuất gia thì phải chấp nhận “cắt ái từ thân”, quên tình riêng mà chỉ có tình nhân loại. Và lý tưởng là con đường đưa đến sự giải thoát cho mình và cho người khỏi những khổ đau, hệ lụy. Nhưng vẫn còn là một con người nên làm sao tránh khỏi nỗi nhớ nhà, nhất là phải ở một xứ lạnh như thế này thì một người xuất thân từ vùng nhiệt đới chắc là phải nhớ quê hương nhiều rồi. Tôi nghĩ chỉ có tình huynh đệ mới có thể xoa dịu được nỗi nhớ nhà.

Mỗi ngày tuyết bắt đầu rơi nhiều, có ngày lạnh dưới 10 độ âm. Mỗi sáng thức dậy tôi thấy mũi mình nghẹt cứng. Khi ra ngoài tôi thấy mình phùng phình như người Eskimo, di chuyển nặng nề. Tôi phải khoác lên người gần một ký lô đồ ấm, áo len, áo khoác, mũ, khăn choàng cổ và đôi giày đi tuyết. Dưới đế giày phải gắn click (một loại vấu có gắn nhiều đinh để bám vào tuyết), nếu không gắn click vào thì khi đi có thể bị té vì có vài chỗ tuyết biến thành đá rất trơn trợt. Tôi đã bị té một lần nhưng rất… ngoạn mục nên không hề hấn gì. Tuy đã phủ kín người mà tôi vẫn thấy cái lạnh tát vào mặt mình tê buốt, tôi thấm thía cái lạnh cắt da là như thế nào.

Ở trong một căn nhà ấm áp tôi thấy mình may mắn, vì tôi liên tưởng đến những người không nhà cửa hoặc thiếu tiện nghi thì không biết họ phải chịu lạnh như thế nào. Tuy trời lạnh vậy, nhưng đại chúng không bỏ buổi thiền hành nào. Mỗi khi đi vào khu rừng thông của Bích Nham, tôi cảm tưởng như mình đang đi vào khu rừng của nữ hoàng băng giá trong phim “The Frozen”. Hồ nước trong veo bây giờ đã đóng băng, suối cũng đóng băng, mình có thể đi lên trên và nhảy múa được nữa. Nhưng tiếng suối vẫn róc rách reo, dưới những lớp băng nước suối vẫn chảy. Tuyết trắng đã phủ đầy trên mặt đất khắp mọi nơi.

Rừng Bích Nham rất đẹp. Mùa đông, cây trong rừng chỉ còn trơ lại thân cây cằn cỗi. Những chiếc lá vàng khô đang ngủ yên trên mặt đất dưới lớp tuyết trắng, chắc nó đang chuẩn bị chuyển mình cho mùa lá mới. Đi dọc theo bờ suối, tiếng suối reo làm tôi nghĩ đến những chén trà thơm mỗi buổi sáng. Từ lâu đại chúng Bích Nham đã dùng nước suối chảy ra từ vòi, người chủ cũ đã làm hệ thống hứng nước suối từ nguồn cho vào hệ thống vòi nước để sử dụng. Sáng nào tôi cũng dùng nước suối trong vòi để pha trà. Tôi có thể nhìn xuyên suốt qua những hàng cây thật xa để thấy khu rừng của Bích Nham khá rộng. Nghĩ đến Thầy, Thầy đã đi trong rừng này bao nhiêu lần.

Sự tiếp nối

Hôm chị Q đến báo tin cho tôi biết Thầy bị xuất huyết não, nói xong chị nghẹn ngào. Tôi lặng người nhưng cũng choàng tay qua ôm chị. Chị nói: “Sư cô muốn về Làng thì về đi, Q sẽ ở lại đây”. Khi chị đi rồi, tôi ngồi thật yên, những giọt nước mắt âm thầm lăn dài trên má. Tôi thở vào thật sâu để đối diện với cái gì đang xảy ra trong đầu mình. Sự lo sợ mình sẽ mất đi một vị Thầy mình thương kính nhất trên đời, một điều mà tôi nghĩ sẽ còn lâu lắm.

“Mới khóa tu 21 ngày mình còn gặp Thầy mà?” Tôi nhớ lại mới hôm nào đưa cháu Tí vào chào Thầy, Thầy về phòng nghỉ ở xóm Mới, sau khi cho bài pháp thoại trong khóa tu 21 ngày với chủ đề: “Sau khi chết mình sẽ đi về đâu?”. Thầy dạy thị giả đem cam ra dùng. Thầy vừa cắt cam vừa hỏi thị giả: “Đây là giây phút gì vậy con?” Thị giả thưa: “Bạch Sư Ông, đây là giây phút hạnh phúc ạ!” Tôi cười trong bụng, đúng là sư em đã thuộc bài. Nhưng Thầy đưa cho tôi một múi cam và nhìn vào mắt tôi rồi nói: “Đây là giây phút của tình thầy trò”. Tôi ngồi yên cảm động nhận lấy múi cam từ tay Thầy trao cho. Trong thời gian ở xóm Mới, tôi đã được lên ăn trưa với Thầy vài lần ở Sơn Cốc, được ăn măng kho từ tay Thầy nấu lấy. Vì vậy sự việc xảy ra quá bất ngờ làm tôi đến lặng người.

Khi thông báo với đại chúng sáng mai ngồi thiền tụng kinh gửi năng lượng cho Thầy, tôi nghẹn ngào không nói dứt câu. Sư cô Đoan Nghiêm đã lên tiếng dùm là Thầy bị bệnh nặng. Một bầu không khí yên lặng bao trùm trong đại chúng. Một không gian im lặng, không một tiếng nói, tiếng cười như mọi khi. Tôi thấy những ánh mắt buồn bã của các sư em. Tôi muốn trấn an các sư em, nhưng trong thâm tâm tôi cũng không khá gì hơn. Trong buổi họp giáo thọ sáng hôm sau, quý thầy quý sư cô giáo thọ cùng góp ý cho nhau: “Là sư anh sư chị lớn, mình phải làm sao để giữ vững sự bình tĩnh khi biến cố xảy ra, mình phải tổ chức như thế nào?” Sư chị Chân Đức chia sẻ rằng: “Thầy rất sợ những điều có thể xảy ra sau khi Thầy mất. Điều thứ nhất là Tăng thân không có sự hòa hợp. Điều thứ hai là pháp môn căn bản của Làng Mai bị biến chất. Điều thứ ba là Tăng thân không có sức khỏe”.

Mọi người đồng ý là mình phải nhắc nhở các sư em thực tập pháp môn căn bản cho vững vàng. Khi đi thì không nói, khi nói thì không đi. Giữ im lặng hùng tráng sau giờ ngồi thiền tối, không cười đùa, không chơi đá banh, v.v… và những ai có vấn đề với nhau thì nên giải quyết để có sự hòa hợp. Ngày làm biếng, chúng tôi cũng thực tập công phu chung hai xóm để gửi năng lượng cầu nguyện cho Thầy. Thời gian này, hầu như mọi người đều trở nên trầm tư và hết lòng thực tập. Đại chúng để hết thân và tâm của mình trong những buổi ngồi thiền. Tiếng tụng kinh rất hùng hồn, ai cũng tập trung tất cả năng lượng để cầu nguyện cho Thầy. Sau giờ ngồi thiền tối, không một tiếng nói cười như mọi khi nữa mà chỉ còn lại không gian sâu lắng. Những buổi thiền hành không vắng một ai. Mỗi bước chân đi đều hướng về Thầy. Tôi chưa bao giờ thấy năng lượng thực tập miên mật và sâu lắng như lúc này. Khi sự thực tập đến từ trái tim thì sự thực tập đó trở nên thật sâu sắc.

Mỗi ngày sư em tri sự xóm Trăng Tỏ đều hỏi tôi về tình hình sức khỏe của Thầy. Một hôm sư em đi làm về, với gương mặt u buồn, sư em hỏi tôi: “Sư mẹ ơi, Sư Ông sao rồi, có khỏe hơn không? Sư mẹ cho con biết đi, vì các chị ai cũng nói buồn và không có năng lượng để chấp tác”. Khi có tin Thầy khá hơn, tôi liền cho sư em biết để sư em thông báo lại cho các sư em khác, có vậy các sư em mới có tinh thần làm việc. Tôi có khuyên các sư em về vô thường, là mình nên chấp nhận sự thật về Thầy đã lớn tuổi rồi, v.v.. Nhưng sư em không chịu, sư em nói rằng: “Con có linh tính là Sư Ông sẽ còn sống lâu lắm. Chúng con còn nhỏ, còn cần Sư Ông mà!”

Thật vậy, các sư em cũng còn nhỏ lắm, các sư em Trời Trong Sáng và Trăng Tỏ Tường năm nay cũng chỉ 13 tuổi thôi. Sư em thị giả của tôi, sau khi đi pháp đàm về, tôi hỏi sư em đã nghe gì khi đại chúng chia sẻ về tình hình của Thầy. Sư em nói rằng: “Một số chúng con mới xuất gia nên chưa biết nhiều về Sư Ông, vì vậy có buồn cũng không buồn bằng các sư cha, sư mẹ. Chúng con nghĩ rằng, nếu có gì xảy ra thì chúng con còn có Tăng thân để nương tựa”. Nghe sư em nói, tôi thấy mình nên chánh niệm nhiều hơn trong sự biểu lộ cảm xúc, vì các sư em rất cần sự vững chãi của các sư cha, sư mẹ để cho các sư em nương tựa.

Trong thời gian này, tôi vẫn phải tiếp tục lo giấy tờ để đi Mỹ. Tôi muốn về Làng để có mặt bên Thầy giờ phút cuối! Nhưng sau khi nói chuyện với sư cô Chân Không, biết rằng bệnh của Thầy có khả năng hồi phục, vẫn còn hy vọng.

Sư cô khuyên tôi hãy đi Bích Nham thay vì về Làng vì nơi đây đang cần. Gặp lại Thầy ở Bích Nham, đó là niềm hy vọng của tôi. Tôi lên chào Sư Bá để ngày mai đi Bích Nham. Sư Bá chúc tôi đi đường bình an và dường như Sư Bá cũng biết tôi vẫn còn lo lắng về bệnh của Sư Ông, Sư Bá khuyên: “Chuyện Sư Ông bệnh đã cho mình thấy những điều đã xảy ra. Đầu tiên mình thấy đại chúng xuất sĩ ở các tu viện trên thế giới tu tập miên mật hơn. Thứ hai là các đệ tử của Sư Ông trên toàn thế giới cùng hướng về tu tập trong mỗi bước chân, hơi thở. Thứ ba là bao nhiêu loài sinh vật được cứu thoát nhờ nhiều người ăn chay để hồi hướng cho Sư Ông. Thứ tư là cả thế giới đang nhìn về sự phản ứng của Tăng thân, v.v.” Sư Bá còn nói nhiều mà tôi chỉ nhớ được bấy nhiêu. Sư Bá kết luận: “Bệnh của Sư Ông vậy mà hay lắm!” Tôi chỉ tròn mắt lắng nghe, nhưng trong lòng cảm thấy nhẹ đi rất nhiều.

Dù trời có lạnh đến đâu, mỗi buổi sáng tôi vẫn thức dậy thật sớm, thắp hương cúng Bụt, Bồ tát và những người thân trong gia đình đã mất. Đó là thời gian cho tôi trở về với chính mình. Tôi nhớ đến Thầy bây giờ đang nằm trong bệnh viện. Tôi phải chấp nhận sự thật sẽ phải xảy đến cho tất cả mọi người, kể cả chính tôi. Vô thường là sự thật không ai có thể tránh thoát. Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Tổ Quy Sơn dạy rằng: “Vô thường, lão, bệnh, bất dữ nhân kỳ…” Vô thường, già, bệnh là điều mà không ai có thể tránh thoát. Nhưng trong tôi vẫn còn nhiều hy vọng rằng Thầy sẽ vượt qua cơn bệnh hiểm nghèo này. Chắp tay tôi cầu nguyện: “Cầu nguyện cho mỗi tế bào trong cơ thể của Thầy là một vị Bồ tát có thể chữa lành cơn bệnh và hồi phục lại sức khỏe cho Thầy”.

Đêm qua, tôi nằm mơ thấy Thầy về trong giấc mơ của mình. Tay trái Thầy nắm bàn tay phải của tôi, và tay phải của Thầy nắm rất nhiều tay của các thầy, các sư cô khác. Trong giấc mơ tôi thấy mình thắc mắc: làm sao Thầy có thể nắm hết tay của những vị khác trong khi chỉ có một bàn tay? Sau đó Thầy trò cùng đứng ngắm một thân cây cao lớn đứng ở giữa, rồi Thầy buông tay mọi người và đi lên thuyết pháp. Đến đây thì tôi chợt thức giấc và thấy tiếc nuối vì không biết Thầy đã nói gì trong bài thuyết pháp ấy. Thầy đang có mặt trong tất cả chúng tôi, đó là điều Thầy muốn nói. Thầy đang muốn chúng tôi cùng nắm tay nhau, sống hòa hợp và  thương yêu nhau để xây dựng Tăng thân. Tăng thân đang có mặt khắp mọi nơi, chỉ cần chúng tôi nắm tay nhau làm cho Tăng thân lớn mạnh thì lúc ấy là “tay Thầy trong tay con” rồi đó.

Thương kính gửi Thầy

Thầy ơi, rừng Bích Nham đẹp quá! Con đang đi cho Thầy đây. Con không thể về thăm Thầy bằng phương diện tích môn, nhưng con đang thăm Thầy trong mỗi phút giây của bản môn. Con đã gặp Thầy trong từng hơi thở, trong mỗi bước chân. Con đã gặp Thầy trong con suối chảy quanh, trên con đường phủ đầy tuyết trắng, qua những thân cây thẳng đứng dưới trời giá lạnh. Con đã gặp Thầy ở khắp mọi nơi.

Thầy ơi, sự sống mầu nhiệm vẫn tuôn chảy. Thầy thương kính, những gì Thầy dạy chúng con trong những năm qua đã và đang bắt đầu hình thành để trở thành những dòng sông cùng lưu chuyển đưa chúng con ra biển lớn. Trong thời gian qua khi Thầy vắng mặt, có nhiều vị giáo thọ đã thay Thầy cho pháp thoại. Ở Bích Nham, thầy P.T là vị giáo thọ trẻ tuổi nhất cũng vừa cho pháp thoại sáng nay. Chiều nay, chị em chúng con cùng nhau pháp đàm về bài pháp thoại sáng nay, thầy Pháp Lạc nói rằng: “Không có ai làm lỗ vốn Sư Ông đâu!” Con mỉm cười đồng ý cả hai tay.

Con nhớ trong một buổi vấn đáp chót của khóa tu 21 ngày. Có một em trai 12 tuổi hỏi Thầy: “Thưa Thầy, Thầy dạy rất nhiều trong khóa tu này nhưng Thầy chưa cho biết là sau khi chết mình sẽ đi về đâu?” Và Thầy đã trả lời: “Sự thật là mình không bao giờ chết, mình chỉ có sự tiếp nối mà thôi”. Thầy cũng đã từng nói: “Không phải đợi sau khi chúng ta chết đi mới có sự tiếp nối. Sự tiếp nối đó đã xảy ra trong từng phút giây trong đời sống hiện tại của mình rồi”. Con biết một điều là: chúng con không làm lỗ vốn Thầy vì chúng con là sự tiếp nối của Thầy!

Viết xong ngày 12 tháng 01 năm 2015.

Dấu ấn Làng Mai

Câu hỏi: Hiện nay pháp môn Làng Mai đang có mặt ở nhiều nơi trên thế giới, với nhiều trung tâm như Làng Mai tại Thái Lan, Hồng Kông, Mỹ châu, Úc châu, Đức v.v. Khi đến mỗi đất nước, ta cần thực tập uyển chuyển để thích nghi với hoàn cảnh xã hội và văn hóa địa phương. Vậy làm thế nào để biết là mình đang thực tập theo đúng truyền thống của Làng Mai?

Thầy Pháp Hội trả lời:

Thế nào là truyền thống Làng Mai? Pháp Hội cũng không trả lời được. Tăng thân Làng Mai là một cộng đồng mở, có một sức sống nội tại rất lớn và luôn thay đổi để đáp ứng và thích nghi với hoàn cảnh. Truyền thống của Làng cách đây hai chục năm, ba chục năm khác với bây giờ rất nhiều. Ngày trước, kết thúc giờ ngồi thiền bằng hai tiếng chuông là đúng, còn bây giờ chỉ thỉnh một tiếng chuông vẫn đúng, bởi vì những quy định đó được thay đổi theo thời gian. Đi kinh hành cũng khác với ngày xưa. Ngày trước đi hai vòng, bây giờ đi có một vòng, chẳng lẽ lại nói đó là không đúng? Đó vẫn là truyền thống Làng Mai.

Truyền thống Làng Mai nằm trong từng bước chân, từng hơi thở, từng bữa ăn im lặng trong từng sinh hoạt hàng ngày. Nếu ta chỉ dựa vào hình thức để nhận ra truyền thống Làng Mai thì không đúng, vì chúng có thể thay đổi theo thời gian. Thầy đã từng dạy rằng pháp môn Làng Mai, truyền thống Làng Mai phải được đóng dấu “Đã về, đã tới. Bây giờ, ở đây”. Nếu thiếu chất liệu đích thực đó thì không phải là truyền thống Làng Mai. Hình thức thì có thể thay đổi theo năm tháng như: kinh tụng cũng thay đổi, nghi thức truyền Năm Giới cũng thay đổi v.v. Ngày trước, trong nghi thức truyền Năm Giới có truyền Tam Quy (Quy y Tam Bảo), bây giờ không có nhưng lại có thêm lễ dẫn thỉnh trước khi truyền giới. Chẳng lẽ ta nói đó không phải là truyền thống Làng Mai? Đó vẫn là truyền thống Làng Mai, không khác.

Tuy nhiên, có những nguyên tắc không thay đổi theo thời gian, ví dụ: là một thành viên của tăng thân thì ta phải sống trong tăng thân, cùng thực tập những thanh quy do tăng thân đề ra. Thầy  từng định nghĩa tăng thân là một tập thể gồm những người thực tập cùng một pháp môn, ở chung một chỗ, cùng thực tập Giới luật… Giáo lý và tuệ giác mà Thầy trao truyền cho chúng ta như một dòng sông, ai muốn lấy bao nhiêu thì lấy. Lấy về pha trà cũng được, về nấu canh cũng được, mà lấy về tắm cũng được, tùy theo sở tích, tùy theo nhu cầu của mỗi người, miễn là có lợi cho người đó. Thế nhưng để được đóng dấu là tăng thân Làng Mai thì phải có những tiêu chí kể trên.

Được sống trong tăng thân, ta có cơ hội được rèn luyện bằng nhiều cách. Ta sẽ được trải nghiệm qua nhiều công việc khác, ta sẽ được luân phiên làm tri xa, tri khố, tri sự, hoặc Ban điều hành, v.v. và ta cũng phải làm giáo thọ nữa. Chính những việc đó sẽ làm cho ta lớn lên theo chất liệu của Làng Mai. Với tinh thần “Đi như một dòng sông”, ta sẽ được lớn lên và thành tựu những chất liệu đó như một cơ thể của tăng thân, mà không còn là một cá thể biệt lập, ở đó anh hùng cá nhân hoàn toàn vắng mặt. Nếu ta không nằm trong dòng chảy đó, không theo được dòng chảy đó thì ta không thể nào hiểu rõ truyền thống của Làng hay hướng đi của Làng.

Câu hỏi: Là một sư anh lớn, xin thầy có thể chia sẻ cho chúng con kinh nghiệm làm thế nào để có thể thực tập vững chãi và lâu bền trong tăng thân?

Thầy Pháp Hội trả lời:

Khi mới vào sống trong tăng thân, ta thấy rất hạnh phúc. Vài năm sau, ta thấy hạnh phúc bay đâu mất và ta ngạc nhiên tự hỏi: sao các sư anh, sư chị có thể sống lâu như thế trong đại chúng? Họ có bí quyết gì? Người ta thường nói: người đi tu giống như “bông xoài trứng cá”, thường rơi rụng nhiều lắm. Người phát tâm đi tu thì nhiều nhưng để giữ vững được tâm ban đầu của mình thì quả thực là không phải dễ.

Trong buổi vấn đáp, có một em nhỏ hỏi Thầy: trên thế giới này có bao nhiêu thầy tu? Thầy trả lời theo kiểu thiền sư: “Chỉ có một mình thầy thôi!”. Thầy trả lời như vậy vì Thầy quán chiếu và thấy được tâm lý của người hỏi. Đôi khi ta theo đạo vì thấy ông bà cha mẹ theo thì ta theo, hoặc ta thấy đạo đó có nhiều người theo, hoặc ta thấy có nhiều tư tưởng cao siêu, hoặc đơn giản chỉ là để cho “khác đời” mà thôi. Nhưng đối với Thầy, niềm tin đối với đạo phải phát xuất từ chính mình. Nếu niềm tin của ta phải dựa vào người khác thì ta vẫn còn bị coi là người “chạy theo đám đông”. Niềm tin đó dù đúng nhưng chưa phải là của ta, chưa đủ vững. Cho nên khi thấy một sư anh, sư chị tu lâu mà vẫn rớt thì niềm tin của ta bị lung lay. Trời ơi! Người đó tu hai chục năm rồi mà sao vẫn rớt? Vậy thì tu theo pháp môn này không biết có đúng không? Sở dĩ ta bị lung lay như vậy là vì niềm tin đó chưa trở thành niềm tin của chính mình.

Niềm tin vào con đường tu phải được xây dựng chủ yếu trên chính mình. Ta phải nương tựa tăng thân, nhưng ta dùng những chất liệu của tăng thân để làm thành niềm tin của chính mình. Tăng thân phải trở thành chính mình. Lúc đầu là: Con về nương tựa Bụt, bởi vì ta thấy Bụt ở bên ngoài. Sau đó quá trình mới sâu sắc hơn: Đã về nương tựa Bụt. Cuối cùng, đến mức cao hơn là Về nương Bụt trong con. Sự thực tập nương tựa Tăng cũng vậy. Thầy đã dạy rằng Tam Quy là một sự thực tập rất sâu sắc.

Ban đầu ta nương tựa vào đại chúng, vào Thầy, vào các sư anh, sư chị lớn là vì lúc đó ta chưa tạo ra niềm tin bên trong, một niềm tin không “rò rỉ”. Niềm tin đó phải được xây dựng từ một bước chân có an lạc, một hơi thở có an lạc, hay những lúc ta điều phục được tâm ý… Nếu chỉ nương tựa vào Thầy, vào các sư anh, sư chị lớn trong tăng thân thì chưa đủ. Ta phải nương tựa vào hải đảo tự thân của chính mình. Ta nương tựa vào Thầy, vào các sư anh, sư chị là để lấy chất liệu đó rồi làm thành của chính mình. Khi niềm tin trong mình đã trở nên vững chãi thì dù sư anh, sư chị ta tu không đúng đường, ta vẫn không mất niềm tin và không bị lung lay khi thấy người đó rời khỏi tăng thân.

Bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca

Hỏi: Thưa thầy, Sư Ông là người có khả năng gom năng lượng của đại chúng và đóng vai trò như một vị nhạc trưởng. Vậy tăng thân cần thực tập như thế nào để thấy được vị nhạc trưởng luôn còn đó cho mình?

Thầy Pháp Ấn chia sẻ:

Mười mấy năm trước, Sư Ông từng dạy rằng trong các buổi họp chúng hay các buổi họp Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, mình nên để một bồ đoàn và tọa cụ trống dành cho Sư Ông để ý thức rằng Sư Ông cũng đang ngồi đó. Và trong buổi họp, khi cần giải quyết một vấn đề gì, mình phải đặt mình vào vị trí của Sư Ông: trong hoàn cảnh đó, Sư Ông sẽ giải quyết sự việc như thế nào? Khi tác bạch hay chia sẻ trước đại chúng, mình cũng chắp tay thưa: “Kính bạch Sư Ông, kính thưa quý thầy, quý sư cô…”. Thành ra từ trước đến nay, đại chúng luôn thực tập với ý thức là Sư Ông lúc nào cũng có mặt đó cho mình.

Tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB), trong các buổi lễ hay trong các buổi họp, đại chúng luôn đặt một gối trống dành cho Sư Ông. Sư anh thấy rất rõ là Sư Ông chưa bao giờ vắng bóng trong các buổi họp hay trong các quyết định của đại chúng.

Sư anh cũng đang tập hành xử giống Sư Ông. Vì sư anh có cơ hội đi theo Sư Ông bao nhiêu năm nay nên cũng học hỏi được ít nhiều từ cách hành xử của Sư Ông. Các sư anh, sư chị lớn đã từng có cơ hội làm việc với Sư Ông thì dù ít hay nhiều cũng đều tiếp nhận một phần nào đó tuệ giác của Sư Ông trong cách hành xử, cách quyết định cũng như cách điều động, hướng dẫn đại chúng. Vì vậy, các sư anh, sư chị lớn sẽ tiếp nối và hướng dẫn đại chúng đi theo con đường của Sư Ông bằng con mắt của tăng (tăng nhãn).

Sư Ông đặt tất cả niềm tin nơi tăng thân. Sư Ông tin tưởng vào tuệ giác của Hội đồng Tỳ kheo, Hội đồng Tỳ kheo ni khi làm quyết định. Đường lối của Sư Ông vạch ra rất rõ ràng. Vấn đề chính là mỗi vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni có đóng được vai trò của mình hay không? Đó là điều quan trọng, chứ không phải là vấn đề Sư Ông có mặt hay không có mặt.

Là một vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni trong đại chúng, mình phải lãnh trách nhiệm của mình. Mình phải nói lên tiếng nói của mình trong tất cả các sự việc mà đừng bao giờ nói sau lưng, đừng nói ý kiến của mình với người thứ hai, thứ ba ngoài buổi họp. Mình phải thực tập nói thẳng ý kiến của mình trong những buổi họp và phải đặt mình trong vị trí là nếu Sư Ông ở trong hoàn cảnh đó thì Sư Ông sẽ quyết định ra sao. Nếu mình có được cơ hội tiếp nhận và học hỏi từ kinh nghiệm sống của Sư Ông thì mình phải nói ra, như vậy thì cái thấy của tăng thân sẽ toàn vẹn hơn.

Mỗi người trong chúng ta đều tiếp nhận cách sống của Sư Ông từ một góc độ khác nhau. Không ai có thể nói rằng mình đã tiếp nhận một cách hoàn toàn nếp sống và cách xử sự của Sư Ông, mình chỉ tiếp nhận một phần nào đó thôi. Nhưng khi tất cả thành viên của Hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni đều nói lên tiếng nói của mình thì sẽ làm cho Sư Ông hiện diện một cách đầy đủ. Còn nếu mỗi thành viên của Hội đồng Tỳ kheo, Hội đồng Tỳ kheo ni không mạnh dạn đóng góp ý kiến của mình thì lúc đó Sư Ông sẽ vắng mặt. Do đó sự vắng mặt hay có mặt của Sư Ông tùy thuộc vào sự thực tập của mỗi thầy, mỗi sư cô trong đại chúng.

Mình phải nói ra được cảm nhận của mình. Mình có trách nhiệm nói ra cho đại chúng biết cái thấy của mình về vấn đề hay sự việc đó, nhưng hãy để cái thấy của Tăng thân làm quyết định cuối cùng. Đó cũng là sự thực tập buông bỏ ý kiến cá nhân và nương theo tuệ giác chung của tăng thân. Cho dù quyết định cuối cùng có đi ngược ý kiến của mình thì mình cũng tập hoan hỷ chấp nhận không vì đó mà đau khổ.

Mình cần tránh tình trạng tạo phe, nhóm trong chúng. Đại chúng càng đông thường có những nhóm nhỏ được hình thành. Mình có quyền chơi chung để nâng đỡ nhau, giúp cho nhau, nhưng khi vào buổi họp, mình cần bỏ tinh thần phe phái để nương theo cái thấy chung của toàn chúng, vì lợi ích của toàn chúng. Như vậy thì tăng thân mới có một tương lai đẹp.

Cho nên vấn đề không phải là vị nhạc trưởng có mặt hay không có mặt, mà vấn đề là mỗi người trong đại chúng thực tập như thế nào để dàn nhạc cùng tấu lên bản nhạc của nó. Và mỗi thành viên đóng góp vào bản nhạc đó như thế nào? Mình hợp tác bao nhiêu phần trăm với các sư anh, sư chị lớn để đưa đại chúng đi tới? Mình chỉ có thể hợp tác được khi tâm mình rỗng rang, mình không bị buồn giận, ganh tỵ, vướng mắc làm sai lệch cái thấy của mình. Nếu mình là một người tu chân chính, luôn ý thức vun bồi con đường tu học của mình thì mình sẽ giúp được cho tăng thân đi tới. Còn nếu mình không phải là một vị chân tu, mình để cho những buồn giận, ganh tỵ, vướng mắc sai xử, chỉ biết làm lợi ích cho cá nhân mà không có được cái nhìn tổng thể thì dù vị nhạc trưởng tài ba đến đâu cũng không thể nào đưa đại chúng đi tới được.

Có thể nói rằng mỗi người trong chúng ta là một vị nhạc trưởng, đóng góp vào công trình đưa tăng thân đi tới. Mình phải thấy được vai trò của mình. Chính mỗi người trong chúng ta là một vị nhạc trưởng mà không phải có một vị nhạc trưởng nào đứng bên ngoài. Đó cũng là cách hoạt động của não bộ. Trong hệ thần kinh trung ương không có một tế bào thần kinh nào là tế bào thần kinh chủ, mà tất cả các tế bào đều làm việc chung với nhau tạo thành những mạng lưới thần kinh giúp cơ thể hoạt động. Mình cũng vậy, mình phải tập làm một tế bào thần kinh đóng góp vào những sinh hoạt chung để giúp mạng lưới thần kinh, giúp đại chúng đi tới. Do đó sự thực tập vô ngã, vô tướng, vô nguyện (hay vô tác) rất quan trọng và mình phải thực tập thành công thì đại chúng mới có một tương lai.

Hỏi: Thưa thầy, hiện nay nhiều người trên thế giới quan tâm rằng: khi Sư Ông không còn tiếp tục biểu hiện dưới hình hài quen thuộc thì ai sẽ là người tiếp nối Sư Ông và tiếp nối như thế nào?

Thầy Pháp Ấn chia sẻ:

Sư Ông luôn trao truyền sự sống của mình trong từng giây từng phút cho những người đệ tử xuất gia cũng như tại gia. Mỗi vị đệ tử có thể tiếp nhận một cách khác nhau, cũng giống như trong kinh, Bụt có dùng hình ảnh cơn mưa để làm ví dụ cho sự trao truyền và tiếp nhận giáo pháp: khi cơn mưa rơi xuống thì những cây lớn hút nhiều nước và những cây nhỏ hút ít nước hơn. Cũng như vậy, khi Sư Ông trao truyền kinh nghiệm sống của mình cho các đệ tử, có những sư anh, sư chị, sư em “uống” nhiều mưa pháp, cũng có những sư anh, sư chị, sư em “uống” ít hơn, nhưng người nào cũng “uống” một phần nào đó của cơn mưa. Những giọt nước mưa đó làm nên sự sống của mình. Vì vậy khi Sư Ông không còn tiếp tục biểu hiện dưới hình hài quen thuộc thì sự tiếp nối vẫn có mặt trong đại chúng một cách rất cụ thể.

Thật ra, Sư Ông đã lên đường và đang đi vào các đệ tử của mình (xuất gia cũng như tại gia) trong từng giây, từng phút qua những bài pháp thoại, qua cách đi thiền hành, cách ăn cơm, qua cách nhìn, cách nói, cách lắng nghe, cách hành xử… Tất cả những cái đó đã đi vào trong từng người đệ tử một và mỗi người đệ tử tiếp nhận một cách khác nhau. Có người thì tiếp nhận cách nói của Sư Ông, có người tiếp nhận cách lắng nghe của Sư Ông, có người tiếp nhận cách đi của Sư Ông, có người tiếp nhận cách ngồi của Sư Ông, có người tiếp nhận cách suy nghĩ của Sư Ông, có người tiếp nhận cách viết thư pháp của Sư Ông, có người tiếp nhận cách phân tích và tổng hợp của Sư Ông…

Trong một bài pháp thoại, Sư Ông nói rằng Sư Ông đã lên đường từ lâu rồi. Bây giờ nếu Sư Ông có nằm xuống thì đó cũng chỉ là xác thân của Sư Ông nằm xuống thôi, tất cả những tinh ba của Sư Ông đã lên đường rồi. Cũng như khi mình pha trà, chất trà toát ra và hương vị của trà đã lên đường rồi, phần còn lại chỉ là bã trà mà thôi. Sư Ông cũng vậy, nếu muốn tìm Sư Ông thì phải tìm trong các đệ tử của Sư Ông. Đây là chuyện mình có thể thấy rất rõ ràng, chứ không phải là chuyện mơ hồ. Khi thấy một sư em đi, nếu nhìn kỹ, mình có thể nói “Ô! hình như là Sư Ông đang đi”. Và khi thấy một sư em ngồi, mình cũng thấy dáng ngồi của Sư Ông trong sư em. Do đó sự trao truyền và tiếp nối đã có đó rồi.

Sư Ông luôn mong muốn mình có một cuộc đời hạnh phúc, vui tươi, có nhiều bình an và hiến tặng sự bình an, hạnh phúc, vui tươi đó cho những người khác. Đó là nguyện ước của Sư Ông. Nếu trong đời sống hàng ngày mình làm được chuyện đó, mình có bình an, có hạnh phúc, có nhiều tình thương, nhiều hiểu biết và mình giúp cho những người khác cũng làm được như vậy thì mình đang tiếp nối Sư Ông. Đó là một sự tiếp nối rất cụ thể.

Sự tiếp nối không có nghĩa là phải thành đạt một cái gì, mà mình tiếp nối bằng sự sống của chính mình và trao truyền sự sống mầu nhiệm đó cho người khác. Trong bài thơ Trường ca Avril, Sư Ông có viết: “Bông hoa vẫn không ngưng lời hát ca”. Câu đó có thể tóm gọn được ý nghĩa về sự tiếp nối của Sư Ông. Mình đến trong cuộc đời như một bông hoa, mình ca hát cho cuộc đời nghe và làm cho cuộc đời vơi bớt khổ đau. Mình hiến tặng cái đẹp nhất của mình cho cuộc đời. Có những bông hoa rất đẹp và làm nhiều người chú ý, nhưng cũng có những bông hoa im lặng bên đường, rất nhỏ nhưng cũng rất đẹp. Bởi vì mỗi một bông hoa đều đang hát lên lời ca của riêng mình và chưa bao giờ ngừng trao truyền sự sống. Nếu mình làm được như vậy thì mình đang tiếp nối Sư Ông một cách rất rõ ràng và cụ thể. Một khi nắm được phương pháp thực tập rồi thì mình có thể giúp được cho mình và cho nhiều người.

 

Nụ cười trong tim

(Hành trình về miền Bắc Thái Lan – Khóa tu Wake Up tại Chieng Dao, Chiang Mai 12-2014)

Một Chuyến Đi Ý Nghĩa

Bạn thân mến! trong cuộc đời chúng ta có rất nhiều chuyến đi và chuyến đi có ý nghĩa, có tình huynh đệ, có lợi lạc cho mọi người là thành quả nuôi lớn hạnh phúc và chí nguyện phụng sự cho cuộc đời. Chuyến đi Chieng Dao, Chiang Mai tại miền Bắc Thái Lan là một cuộc hành trình như thế. Và hơn cả thế nữa là  những điều vô vàn thú vị mà ta thật sự bất ngờ khi được tiếp xúc, được đón nhận từ cuộc sống.

Em có thấy núi không?

Núi ở Chiêng Dao đẹp lắm, hùng vĩ, rộng lớn với dáng đứng nghệ thuật. Khóa tu dành cho người trẻ tại Chieng Dao lần này có 150 bạn thiền sinh (bao gồm người Thái, Việt Nam, Tây phương) và 30 quý thầy, quý sư cô tại Làng Mai Thái Lan hướng dẫn. Phần lớn mọi người đều ngủ lều. Chỗ cắm trại ở gần con suối nhỏ, chung quanh không gian đủ rộng để có thể đi thiền hành, ngồi thiền, pháp thoại, ăn cơm, tập khí công, chơi trò chơi v.v. Được yêu chuộng nhất trong khóa tu lần này là ba bài pháp thoại với các đề tài: Làm Mới chính mình – làm mới với người thương của sư cô Chân Đức; những câu hỏi sống động cho người trẻ cùng với bài giảng Hiện Pháp Lạc Trú của thầy Pháp Lâm; và Tình Thương Chân Thật (True love) của sư cô Linh Nghiêm.

Trong khóa tu này có các em đến từ Nhà Tình Thương (Compassion House, là nơi những em phạm tội ở tuổi vị thành niên) cũng được tham dự. Các em thực tập có nhiều chuyển hóa nên đây là khóa tu Wake Up lần thứ hai các em xin đăng kí tham dự, nét mặt các em tươi hẳn lên và lúc nào cũng chắp tay chào quý thầy, quý sư cô. Các em thực tập hết lòng, biết ngồi yên để nghe pháp, chơi hòa nhịp với các bạn trẻ khác. Các em đã tìm thấy một gia đình mới trong cuộc đời của mình để được nâng đỡ, yêu thương và chia sẻ.

Bạn thân mến!

Nơi đây, dãy núi cao rộng, xanh mướt, bên cạnh là suối chảy róc rách. Có những hôm ta không thấy núi, ta đi tìm núi và tưởng như ở đây không có núi. Nhưng kỳ thật núi có bao giờ chạy mất đâu! Chỉ cần mặt trời lên, mây tan thì bỗng dưng núi lại hiện nguyên vẹn như ta mới lần đầu thấy núi biểu hiện vậy. Chúng ta cũng thế, có những khi lớp mây vô minh cứ hoài che phủ, khiến ta chẳng còn biết mình là ai, ở đâu, làm gì, nói gì. Rồi một hôm mặt trời ý thức xuất hiện, thế là lớp màn vô minh biến mất. Ta thấy được núi. Ta thấy ta.

Mặt trời ấy là chánh niệm, được Tăng thân vun trồng cho ta trong khi ta đi, ngồi, ăn cơm, làm việc và vui chơi,.v.v..  Năng lượng của Tăng thân là biểu hiện của Bụt, của Pháp. Nhờ thế trong khóa tu này đã có biết bao bạn sống dậy được, bắt đầu có ý chí, có niềm tin, có niềm vui chân thực. Có nhiều bạn đã khóc khi chia sẻ về những khó khăn và bế tắc trong cuộc sống, nhưng nhờ khóa tu này, khóa tu có chủ đề “Vì có bạn nên mới có tôi” (You are therefore I am) đã làm mới tâm hồn các bạn. Các bạn biết vén mây để mặt trời ý thức rạng ngời ôm lấy núi, làm cho núi nguyên vẹn, đẹp đẽ và vững vàng.

 

Sứ giả của Thầy

Chiang Mai và những ngày quán niệm

Từ Chieng Dao, Tăng đoàn những vị xuất sĩ đi về phía Chiang Mai – một trong những nơi đẹp nhất tại miền Bắc nước Thái.

Ngày quán niệm đầu tiên tại chùa Wat Pha Lat – nơi này ngày xưa Sư Ông đã từng đến. Ngày thứ hai tăng đoàn đến sinh hoạt tại trường Đại học Maejo, đa phần là các bạn trẻ và một số thầy cô giáo tham dự. Ngày thứ ba là ngày đặc biệt nhất, kì diệu nhất, xúc động nhất trong suốt chuyến đi này: đó là ngày quán niệm tại trại Giáo Dưỡng (trại của những thành viên phạm tội nghiện ma túy, buôn ma túy, giết người…) các bạn dưới mười tám tuổi, có năm trăm bạn, chưa kể đến các vị quản lý.

Chúng tôi phải làm rất nhiều thủ tục, và đợi khá lâu trước khi bước vào trại: nào là không được mang theo tiền, không mang theo những kim loại nhọn, điện thoại… Bước vào cửa là tường thành, và phía trên cao bao bọc bởi dây điện.

Có rất nhiều bất ngờ với tăng đoàn xuất sĩ khi ngồi phía trên nhìn xuống các em. Trong đôi mắt các em như chưa bao giờ từng dính bụi, còn hồn nhiên và trong sáng. Hơn nữa khi được hướng dẫn ngồi yên theo dõi hơi thở, các em làm rất khá. Các em đã ngồi yên, nhắm mắt, đặt tay lên bụng trong vài phút lắng dịu, có thể đó là những hơi thở ý thức đầu tiên trong cuộc đời các em. Sau đó là những hướng dẫn thiền tập căn bản như: thiền ngồi, thiền ăn, thiền chuối, vấn đáp, thiền trò chơi kết nối tình bạn…

Nhìn các em, tôi nghĩ về Thầy mà hai mắt rưng rưng: “Thầy nằm yên, nghỉ ngơi còn các con của Thầy vẫn đi hành đạo”. Nếu các em nhìn thấy chúng tôi thì các em cũng đang nhìn thấy Thầy, bỗng dưng tôi bước chậm lại, vững chãi, thảnh thơi như thể mình là một sứ giả đại diện Thầy về đây có mặt cho các em. Tôi không cần làm gì ngoài việc chuyên chú theo dõi hơi thở và có mặt hoàn toàn. Tôi cảm thấy biết ơn Thầy lắm. Lần đầu tiên gặp Thầy và Tăng thân tôi đã xúc động, chỉ nhìn Thầy đi đứng, chưa nói gì thì đã đỡ khổ rồi, và niềm hạnh phúc từ trong tôi dâng trào. Bây giờ tôi được là thành viên trong Tăng đoàn, được tu tập mỗi ngày, được giúp ích cho các bạn trẻ, được đi vào trại giáo dưỡng để mang đạo Bụt vào cuộc đời, được trao truyền những tinh hoa mà Bụt và Thầy hướng dẫn để giáo hóa con người, và ôm ấp cả những người lầm lỗi trong xã hội.

Bạn thân mến! Bồ Đề Tâm được xuất phát từ tâm thương yêu, nếu như tình thương ấy có hiểu biết và rộng lớn bao la thì ta sẽ có hạnh phúc chân thực.

Quay lại câu chuyện về các em, chúng tôi còn ấn tượng và ngạc nhiên với các em về nhiều điều lắm: Các em hát thiền ca hay và to. Trong lúc hát, các em cười tươi và hát hết lòng “Hảy chay khao, hảy chay ooc, phiềng đọt máy thi dém ban”, nghĩa là thở vào thở ra là hoa tươi mát,.v.v.. Các em tập ăn chuối trong chánh niệm, các em tập ngửi mùi thơm của trái chuối, nhìn rõ trái chuối, cắn trái chuối từ từ và ăn hết quả chuối trong ý thức. Các em làm theo sự hướng dẫn bằng đôi mắt ngạc nhiên và hoan hỷ. Trong buổi vấn đáp, các em đặt ra rất nhiều câu hỏi hay: Vì sao quý Thầy quý sư cô cạo tóc? Vì sao đi tu? Nếu người nam thương người nam, người nữ thương người nữ thì có sao không? Vì sao tăng đoàn biết chúng con ở trại mà đến thăm? Nếu sau khi được ra trại con muốn đến Pakchong xuất gia có được không? Những câu hỏi ấy đều được các thầy, các sư cô trả lời cho các em trước khi chia tay.

Trên đường về, hình như các vị xuất sĩ trẻ đều cảm được rằng: sẽ có một ngày nào đó chúng tôi trở lại đây, để tu tập và có mặt cho các em lâu hơn. Vừa xót thương nhưng vừa hạnh phúc, xót thương vì những lỗi lầm vụng dại của các em, nhưng hạnh phúc vì đất nước Thái Lan đã tạo cho các em một môi trường khá tốt để rèn luyện giúp các em có cơ hội làm lại một con người mới. Hạnh phúc hơn nữa là chúng ta được gặp nhau, gặp nhau bằng đôi mắt của con người mới, gặp nhau vì chúng ta không hề có khoảng cách, ranh giới. Ngay trong phút giây hiện tại cả hai bên đều hết lòng: chúng tôi hết lòng trao truyền, các em hết lòng tiếp nhận và tu tập bằng tâm trong sáng. Vì thế ngày hôm ấy đã thành huyền thoại, mà ai ai cũng chỉ cảm nhận bằng trái tim, ánh mắt và nụ cười trong tim.

Phước đức vô lậu

Ngày cuối cùng trước khi rời Chieng Dao về lại Làng Mai Thái, chúng tôi tự thưởng cho mình một bữa kem. Trên đường đi đến tiệm kem với niềm hào hứng, chúng tôi đi ngang qua một biệt thự vừa sang trọng lại rất thiên nhiên. Sư cô Trang Nghiêm trầm trồ cười, khen đẹp. Bỗng nhiên một vị cư sĩ bước ra thấy Tăng đoàn xuất sĩ, cô chắp tay mừng rỡ, và hỏi đây có phải là Tăng đoàn của Sư Ông Làng Mai không? Cô khoe với chúng tôi cô đang đọc sách của Thầy và muốn được tu tập theo phương pháp Thầy trao truyền. Rồi cô hỏi chúng tôi đang đi đâu? Sau vài phút hỏi thăm, cô xin thỉnh Tăng đoàn ở lại uống trà.

Nhờ phước đức của Thầy, chúng tôi được cả gia đình cúng dường trà, bánh, các thức khác và cả kem. Chúng tôi mời mọi người uống trà trong ý thức, tập cho họ ngồi yên theo dõi hơi thở, ngồi thiền thế nào cho có hạnh phúc, ăn kem trong chánh niệm và … biến tiệm trà, café của gia đình thành đạo tràng, thành meditation hall, nơi thiền tập cho cả nhà.

Ra về, sư em tôi nói: ngày cuối tưởng là được nghỉ ngơi mà mình cũng hành đạo sư chị nhỉ. Em nói trong giọng vui vẻ, phấn khởi, vì vừa được ăn kem vừa giúp ích cho mọi người.

Nước với sữa

Người ta hay ví sự hòa hợp như nước với sữa, có thể hòa lẫn nhau. Chuyến đi lần này cũng vậy, chúng tôi những vị xuất sĩ đã tu tập cùng nhau, làm việc cùng nhau, tổ chức cùng nhau, trao đổi ý kiến trong tinh thần như nước và sữa, hòa hợp, thông cảm và tôn trọng lẫn nhau. Nhờ vậy mà khóa tu thành công nguyên vẹn, là nguồn cảm hứng cho những khóa Wake up khác trong tương lai. Đặc biệt là các bạn trẻ cư sĩ nòng cốt người Thái Wake Upper đã đóng góp, phụng sự hết lòng trong suốt chuyến đi, như thể những vị hộ pháp cho Tăng đoàn xuất sĩ, giúp cho mọi thứ suôn sẻ và trôi chảy nhẹ nhàng.

Hẹn gặp bạn trong những chuyến đi tới, chúng ta lại được tu tập cùng nhau, một lần nữa khám phá để hiểu chính mình và lý tưởng tuổi trẻ.

Xin gởi đến bạn bài thơ, được viết tại Chieng Dao, trong khi tôi ngồi chơi bên con suối nhỏ.

Ngồi Bên Em

Ngồi bên em ta thấy ấm cõi lòng
Có chú thỏ chạy ngang dòng suối nhỏ
Có chú chim líu lo trên ngọn cỏ
Là thiên đường đã mở lối ta đi.

Ngồi bên em bỗng nhiên ta nhớ thở
Sâu và chậm cuộc đời như hoa nở
Có ánh trăng lặng nhìn em bỡ ngỡ
Bước chân ta hòa nhịp với vầng thơ.

Ta buông gió để gió cùng được thở
Ta buông hoa để hoa đẹp muôn thuở
Ta buông lòng để mãi là biển khơi
Bởi dòng đời là một cuộc đi chơi.


Tình thương lên tiếng gọi

Làng Mai đến Vatican

Trong khi Thầy đang thở những hơi thở bình an trong nhà thương tại Pháp, một phái đoàn gồm 22 thầy và sư cô Làng Mai đã lên đường đến Rome theo lời mời của Đức Giáo hoàng Francis để đại diện Thầy tại Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới ở Vatican. Nội dung chính của Hội nghị là kêu gọi những hành động cụ thể và mang tính tâm linh để chấm dứt nạn buôn người – một hình thức nô lệ hiện đại, nhằm bảo vệ nhân phẩm của những người khốn khó và dễ bị tổn thương nhất đang bị biến thành nô lệ trên thế giới.

Đến với nhau trong tình huynh đệ

Hội nghị có tính lịch sử này không phải là một cuộc gặp gỡ thông thường giữa các nhà lãnh đạo tôn giáo để luận đàm về những vấn đề lý thuyết hay triết học. Sự kiện các nhà lãnh đạo tôn giáo đến với nhau trên cơ sở tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau và trong tình huynh đệ, để cùng kêu gọi những hành động cụ thể mang tính đạo đức, vì lòng từ bi đối với tất cả mọi người mà không có sự phân biệt, đã làm cho Hội nghị này có một ý nghĩa hết sức quan trọng.

Thầy Pháp Ấn và sư cô Chân Không – đại diện cho Hội đồng Tỳ kheo và Hội đồng Tỳ kheo ni của Làng Mai – đã cùng đóng con dấu ký tên Thầy vào Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo tôn giáo và đọc Thông điệp của Thầy tại Hội nghị. Thông điệp này đã được Thầy chuẩn bị chỉ hai ngày trước khi bị xuất huyết não đột ngột (ngày 11/11/2014).

Với mong muốn có sự tham gia của nhiều truyền thống tôn giáo tại Hội nghị, Tòa Thánh Vatican đã mời đại diện của tất cả các tôn giáo chính trên thế giới: đạo Hồi (với đại diện của hai dòng Shia và Sunni), đạo Cơ Đốc (với đại diện của Công giáo, Chính thống giáo và Tin lành), đạo Bụt (cùng với Thầy Làng Mai còn có Hòa thượng Datuk K Sri Dhammaratana đến từ Malaysia – đại diện cho truyền thống Nam Tông), đạo Do Thái (có hai tu sĩ đại diện cho các nhánh khác nhau trong đạo Do Thái) và bà Mata Amritanandamayi (thường được gọi là Amma) – một vị Bồ tát nổi tiếng của Ấn Độ, đại diện cho đạo Hindu.

Một ngày Quán niệm tại Vatican

Mùa hè vừa qua (tháng 8/2014), khi Đức Giám mục Sánchez Sorondo – đặc phái viên của Đức Giáo hoàng Francis – đến Làng để chính thức mời Thầy đến Vatican, Thầy đã đưa ra đề nghị là sự kiện mà Vatican dự định tổ chức vào tháng 12 không chỉ giới hạn trong việc ký kết văn kiện và chụp hình trước báo chí mà thôi. “Chúng ta cần có thời gian để ngồi với nhau, đi với nhau và ăn chung với nhau trong bình an. Chúng ta cần có thời gian để lắng nghe nhau một cách sâu sắc và chia sẻ những kinh nghiệm của mình từ góc độ thực tập tâm linh”, Thầy nói với Đức Giám mục Sánchez Sorondo. “Điều đó sẽ rất hữu ích. Chỉ khi nào có những sinh hoạt như vậy thì sự gặp gỡ mới có nhiều lợi lạc. Việc ký kết các văn kiện và đưa ra những tuyên bố sau Hội nghị không quan trọng bằng việc các huynh đệ đến từ nhiều truyền thống tôn giáo khác nhau có thời gian để ngồi lại với nhau và chia sẻ tuệ giác cũng như những kinh nghiệm tu tập của mình nhằm giúp mọi người trên thế giới vơi bớt khổ đau”.

Đức Giám mục Sánchez Sorondo rất mong Thầy có mặt tại sự kiện này, vì vậy ông cố gắng thu xếp với Vatican để thực hiện theo lời đề nghị của Thầy. Đức Giám mục đã thu xếp để có một ngày Quán niệm do Vatican chủ trì tại tòa nhà cổ rất đẹp của Hàn lâm viện Tòa thánh về các khoa học ở Nội thành Vatican. Theo chương trình, ngày Quán niệm sẽ có ăn trưa trong im lặng và lần đầu tiên, bữa ăn do Vatican thết đãi các đại biểu tham dự Hội nghị sẽ là thức ăn chay (và không có các sản phẩm từ sữa); có thiền hành qua những khu vườn được trang trí với đài phun nước và các tác phẩm điêu khắc nổi tiếng; ngoài ra sẽ có thời gian để các đại biểu chia sẻ những điều từ trái tim và lắng nghe nhau một cách sâu sắc. Ban đầu, Đức Giám mục Sánchez Sorondo rất lo lắng, không biết ngày Quán niệm này sẽ diễn ra như thế nào, vì thực sự đây là điều chưa từng xảy ra ở Vatican. Tuy nhiên, khi thấy nhiều nữ tu của đạo Công giáo – những người đang hết lòng trong công việc giải cứu phụ nữ khỏi nạn buôn người và nạn mại dâm – bày tỏ mong muốn tham gia hoạt động này thì Đức Giám mục thay đổi quan điểm của mình. Sau đó, năm mươi thành viên của phái đoàn chính thức đi cùng bà Amma cũng muốn tham gia. Cuối cùng thì hơn 120 đại biểu – những người thực tập tâm linh và các tác viên xã hội tham gia vào lĩnh vực giúp chữa lành vết thương cho các nạn nhân của nạn buôn người – đã tham gia ngày Quán niệm.    

Niềm vui bên nhau

Mở đầu ngày Quán niệm, tăng đoàn đã niệm danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm để gửi năng lượng bình an và trị liệu đến Thầy cũng như đến các nạn nhân đang chịu áp bức và khổ đau trên thế giới. Chúng tôi đều ý thức rằng Thầy cũng đang có mặt với chúng tôi trong giây phút ấy. Sau khi niệm danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm, sư cô Chân Không và thầy Pháp Ấn chia sẻ với các đại biểu về những pháp môn tu học ở Làng Mai, gây xúc động rất sâu sắc. Tiếp đó, thầy Pháp Lưu hướng dẫn mọi người thực tập các động tác chánh niệm. Có lẽ đây là lần đầu tiên có buổi tập theo kiểu yoga (“body yoga”) trong lịch sử hàng thế kỷ qua của tòa nhà này.

Trong tinh thần giao lưu, chia sẻ giữa các tôn giáo, chúng tôi được nghe một bài thuyết trình từ một nữ tu sĩ Công giáo đang tham gia trực tiếp vào công việc cứu giúp các nạn nhân của nạn buôn người. Bài chia sẻ này thực sự đánh động đến tất cả chúng tôi. Ngoài ra, chúng tôi  còn được nghe chia sẻ của Đức Giáo hoàng và một tu sĩ đạo Hindu – người đang phụ trách các công tác xã hội cho bà Amma. Sau phần giao lưu chia sẻ, các đại biểu cùng ra ngoài trời để thiền hành với nhau như những huynh đệ trong một gia đình tâm linh. Thầy Pháp Ứng đã dẫn đoàn thiền hành đi qua những khu vườn xanh mát dưới ánh nắng ấm áp. Một vài sư cô nắm tay các nữ tu Công giáo cùng đi thiền hành. Chúng tôi đã tiếp xúc được với chất liệu từ bi và tâm bồ đề gắn kết chúng tôi với các huynh đệ đến từ các truyền thống khác trong buổi sáng hôm ấy. Vì có khá đông người tham dự nên buổi ăn trưa không thể sắp xếp theo kiểu ăn trưa nghi lễ, mọi người ngồi xung quanh sân vườn dưới nắng ấm, thưởng thức những món ăn Ý được nấu rất khéo trong không khí bình an và thắm tình huynh đệ. Năng lượng đó vượt lên trên không khí chính trị và những phức tạp của trung tâm Vatican đầy quyền lực này.

Ngày Quán niệm được tiếp tục với những chia sẻ thân tình và phần vấn đáp vào buổi chiều. Câu chuyện của sư cô An Nghiêm về chính mình cũng như về tổ tiên huyết thống đã đánh động rất nhiều người. Thầy Pháp Dung làm cho không khí trở nên vui tươi khi hướng dẫn mọi người hát bài “Tôi yêu thiên nhiên, thiên nhiên thật tuyệt vời!” kèm theo những động tác tay rất dễ thương. Chúng tôi có cảm giác các đại biểu đến từ các truyền thống khác không chỉ tò mò muốn tìm hiểu thêm về những thực tập của Làng Mai mà còn mong muốn tiếp xúc với chất liệu bình an, niềm vui và sự nhẹ nhàng mà tăng thân đã đem lại cho Hội nghị. Chúng tôi đều cảm nhận được một sự gần gũi, lân mẫn vượt thoát biên giới tôn giáo và quốc gia. Chúng tôi rất biết ơn Tòa thánh Vatican đã tin tưởng và tạo điều kiện để cho chúng tôi và các đại biểu tham dự Hội nghị có cơ hội sinh hoạt bên nhau như vậy. Chúng tôi cũng vô cùng biết ơn Thầy đã chỉ cho chúng tôi thấy đây là điều hoàn toàn có thể xảy ra.

Pháp thân và tăng thân của Thầy cùng có mặt ở Rom

Sau ngày Quán niệm là ngày diễn ra lễ họp báo và ký kết Tuyên bố chung của các nhà lãnh đạo tôn giáo. Đoàn chúng tôi phải vào Nội thành Vatican từ sáng sớm để tham gia “sự kiện trọng đại” này. Chúng tôi đi bộ trong im lặng dọc những con đường lát gạch được rửa sạch sau cơn mưa và băng qua quảng trường St. Peter vắng vẻ trong buổi sớm mai. Chúng tôi đang đi bằng những bước chân bình an của Thầy và mang tình thương của Thầy trong trái tim mình. Những người lính gác Thụy Sĩ trong trang phục truyền thống cho phép chúng tôi đi qua các cổng dẫn vào Nội thành Vatican. Sau đó có xe đưa chúng tôi đi qua những khu vườn và tòa nhà có kiến trúc đẹp mắt để đến trụ sở của Hàn lâm viện Tòa thánh về các khoa học, nơi diễn ra sự kiện lịch sử trong buổi sáng hôm ấy. Nơi đây cũng từng là nơi ở của Đức Giáo hoàng.

Phòng hội thảo của Hàn lâm viện Tòa thánh về các khoa học, nơi diễn ra cuộc họp báo, chật kín người trong buổi sáng hôm ấy. Tham dự buổi họp báo có các Hồng y, Tổng giám mục, các tu sĩ Công giáo, các nhà lãnh đạo Do thái giáo, Hồi giáo và các đoàn đại biểu, cùng với những nhà báo được coi là rất quan trọng (“VIP Journalists”). Với 22 thầy và sư cô (đều là những vị tỳ kheo, tỳ kheo ni), phái đoàn Làng Mai là đoàn đại biểu đông nhất trong Hội nghị. Cùng đi với chúng tôi đến Vatican còn có một số học trò cư sĩ của Thầy, trong đó có các doanh nhân và học giả nổi tiếng đến từ Mỹ.

Trong không khí yên lặng, tất cả mọi người đều đứng dậy để chào đón các nhà lãnh đạo tôn giáo đang bước vào phòng họp báo, trong đó có Đức Giáo hoàng Francis với bộ áo choàng màu trắng, đầu hơi cúi xuống để chào mọi người. Đức Giáo hoàng xuất hiện với dáng vẻ thật khiêm cung và lặng lẽ. Một sự nhẹ nhàng, tĩnh lặng và dịu ngọt bao trùm lấy Đức Giáo hoàng, bà Amma và sư cô Chân Không khi cả ba vị cùng ngồi vào chỗ của mình trên bục, hai bên là các tu sĩ Hồi giáo và Chính thống giáo. Sư cô Chân Không được vinh hạnh ngồi bên tay phải của Đức Giáo hoàng.

Đức Giáo hoàng là người đầu tiên phát biểu tại cuộc họp báo, với giọng nói rất nhẹ, sau đó đến bà Amma, rồi đến sư cô Chân Không. Khi sư cô vừa bắt đầu phát biểu, cả căn phòng bỗng trở nên yên lắng lạ thường. Là người đầu tiên phát biểu bằng tiếng Anh trong cuộc họp báo, với một sự nhẹ nhàng, sư cô xin phép được đọc Thông điệp của Thầy gửi đến Hội nghị.  Trong thông điệp đó, Thầy kêu gọi những người đang nỗ lực hành động để chấm dứt chế độ nô lệ hiện đại, trong đó có các nhà lãnh đạo tôn giáo, các tác viên xã hội, những nhà hoạt động nhân quyền cũng như các doanh nghiệp có đạo đức trong kinh doanh, tất cả đều cần phải nuôi dưỡng chiều hướng tâm linh thật vững mạnh trong đời sống hàng ngày của mình. “Cho dù có thiện chí lớn lao đến đâu đi nữa, nếu không có sự thực tập tâm linh, chúng ta sẽ sớm từ bỏ giấc mơ của mình”, Thầy nói. “Chúng ta phải dành thời giờ để chăm sóc cho chính mình và chăm sóc cho giây phút hiện tại”.  

Lòng từ bi không biên giới

“Để có thể duy trì được công việc đầy từ bi này một cách lâu dài, tất cả chúng ta đều cần có một tăng thân (một đoàn thể tu học) để bảo vệ và yểm trợ cho chúng ta. Đó phải là một đoàn thể chân chính, nơi có tình huynh đệ, có hiểu biết và thương yêu thực sự. Chúng ta không nên làm công việc này như một chiến binh đơn độc. Nạn buôn người có gốc rễ rất sâu dày và những mạng lưới, cơ cấu, những điều kiện làm phát sinh vấn đề này cũng rất phức tạp. Vì vậy chúng ta cần phải xây dựng một đoàn thể, một tăng thân có khả năng duy trì công việc bảo vệ sinh mạng này một cách lâu dài, không chỉ đến năm 2020 như mục tiêu đã đề ra mà thôi”. Cũng như bà Amma, Thầy nhấn mạnh rằng chúng ta cần có lòng từ bi không chỉ đối với các nạn nhân mà còn đối với những kẻ buôn người. Tình thương chân thật không loại trừ bất cứ ai. Nếu nhìn cho sâu, chúng ta có thể thấy được những nhân duyên, môi trường không thuận lợi, sự nghèo đói và bạo động đã khiến người đó trở thành một kẻ buôn người.

Có khoảng hơn mười hai bài diễn văn được đọc tại buổi họp báo, mỗi bài có một phong cách, một giọng điệu riêng, tùy theo mỗi văn hóa và truyền thống tôn giáo. Chúng tôi vô cùng biết ơn và xúc động khi thấy năng lượng bình an và tình thương của Thầy lan tỏa trong Hội nghị, mặc dù Thầy không trực tiếp có mặt ở đó. Chúng tôi có thể cảm nhận rõ sự có mặt của Thầy qua pháp thân và tăng thân đang tiếp nối Thầy một cách mầu nhiệm.

Sau các bài diễn văn là phần đọc và ký kết Tuyên bố chung của Hội nghị. Chúng tôi thật xúc động khi thấy thầy Pháp Ấn cùng với sư cô Chân Không đóng một dấu mộc tên Thầy màu đỏ tươi vào bản Tuyên bố chung. Chúng tôi cảm nhận sự có mặt của Thầy trong giờ phút ấy, lòng vô cùng biết ơn Thầy đã mở ra một con đường và chuẩn bị mọi thứ cho chúng tôi một cách rõ ràng.

Khi chia tay với Đức Giám mục Sanchez, chúng tôi đã hứa với Đức Giám mục rằng chúng tôi – những người tu trẻ sẽ không ngừng nỗ lực để làm vơi bớt những khổ đau, áp bức và tình trạng nô lệ hiện đại. Chúng tôi ý thức rằng với sự thực tập tâm linh vững chãi cùng tuệ giác và sức mạnh của các pháp môn mà Thầy đã trao truyền, chúng tôi sẽ có thể giữ được tâm nguyện của mình một cách lâu bền.

(Bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Câu hỏi của trẻ em và thanh thiếu niên

Câu hỏi: Thầy thích điều gì nhất trong đạo Bụt?

Thầy trả lời:

Điều mà thầy thích nhất trong đạo Bụt là tinh thần bao dung, không kỳ thị. Nếu chúng ta thực tập tình thương theo giáo lý đạo Bụt thì tình thương đó phải trải rộng đến tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ ai. Ta không chỉ thương giáo lý đạo Bụt mà còn thương cả giáo lý của đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Do Thái, v.v. Ta không cho rằng chỉ có cái thấy, cái hiểu của ta là đúng, còn cái hiểu, cái thấy của những truyền thống khác là sai. Đó là lý do vì sao một Phật tử chân chính sẽ không bao giờ gây chiến với các tôn giáo khác. Đạo Bụt không mang tính giáo điều. Những giáo nghĩa Bụt dạy là con đường giúp cho ta chuyển hóa, không phải là chân lý để ta thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Bụt đã từng dạy rằng chúng ta phải thực tập như thế nào để có tự do, không bị mắc kẹt vào những giáo lý của đạo Bụt, và cả ý niệm về Bụt trong ta. Đây là điều mà thầy thích nhất. Cảm ơn con đã đặt một câu hỏi rất hay!

Câu hỏi: Con phải làm gì khi mẹ nổi giận với ba?

Thầy trả lời: Có nhiều cách lắm! Một trong những điều mà con có thể làm là đến bên mẹ và nói: “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh” (Mommy, there is a cake in the refrigerator). Đây là câu thần chú rất nổi tiếng ở Làng Mai đó, con có biết không? Khi mẹ hoặc ba đang giận và không khí trong nhà căng thẳng không thể chịu nổi thì con hãy đến bên ba mẹ và đọc câu thần chú: “mẹ ơi (ba ơi), hình như có bánh trong tủ lạnh”. Câu đó có ngụ ý là “mẹ ơi, con đang khổ. Con không muốn thấy mẹ giận như vậy. Con không muốn thấy không khí gia đình nặng nề như vậy”. Đó là một cách để nhắc cho mẹ thấy là mẹ đang giận và đang làm cho không khí trong gia đình rất nặng nề, khiến cho chồng con đều không vui. Đó là một cách hay để nhắc cho mẹ: “mẹ ơi, đừng giận nữa, đừng làm cho cả nhà khổ nữa.” Con đừng nên nói: “Mẹ đừng có giận nữa”, mà hãy đọc câu thần chú: “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh” thì mẹ sẽ hiểu ngay. Mẹ sẽ thức tỉnh và thấy là “mình đang làm cho con gái đau khổ, mình không nên làm như vậy”. Và mẹ sẽ cố gắng mỉm cười với con và nói: “Đúng rồi, con đi ra vườn và chuẩn bị bàn ghế, mẹ sẽ mang bánh ra và mời ba ra ăn chung với mẹ con mình luôn”. Mẹ sẽ nói như vậy và không khí gia đình sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Mẹ sẽ không còn giận ba nữa và ba sẽ ra ăn bánh cùng với hai mẹ con. Lần sau, khi thấy mẹ hoặc ba đang giận thì con hãy đọc thần chú mà thầy vừa chỉ, “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh”, con nhớ chưa? Có thể con còn thắc mắc: “vậy nếu không có bánh trong tủ lạnh thật thì sao?”. Không sao hết! Mẹ của con rất thông minh, dù không có bánh thì mẹ cũng sẽ tìm ra một cái gì khác, cho nên con đừng lo!

Câu hỏi: Con phải làm sao để bày tỏ được cơn giận của mình mà không trút sự tức giận đó lên người khác?

Thầy trả lời:

Khi giận, mình muốn bày tỏ cơn giận của mình vì mình nghĩ rằng nếu không bày tỏ ra, nếu cứ đè nén cơn giận thì mình sẽ khổ hơn. Vì vậy mình thấy cần phải nói ra hay phải làm gì đó để bày tỏ cơn giận của mình. Nhưng kỳ thực nói ra một lời gì đó hay làm một hành động nào đó trong khi giận sẽ không giúp ích được gì cho mình cả. Nói và hành động khi đang giận luôn làm cho mình và người kia bị tổn thương.

Bụt dạy đừng bao giờ nói hay làm điều gì để bày tỏ sự giận dữ của mình, vì làm như thế mình sẽ gây ra đổ vỡ nhiều hơn. Thay vì làm cho bớt giận thì mình sẽ càng giận hơn nữa và mình cũng làm cho người kia giận luôn.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là mình phải đè nén cơn giận. Phương pháp hay nhất là mình trở về với tự thân để chăm sóc cơn giận. Tới Làng Mai, mình được học những phương pháp thực tế giúp mình chăm sóc cơn giận. Mình phải học cho được vì đây là một việc rất quan trọng! Trong đời sống hàng ngày có rất nhiều chuyện làm cho mình giận dữ và đau khổ cho nên mình phải học cách chăm sóc cơn giận.

Việc đầu tiên mình làm là không nói gì, không làm gì cả mà chỉ trở về với chính mình bằng phương pháp thở. Mình thở vào thật sâu và nói: “Thở vào, con biết cơn giận đang có trong con!” Mình nhận diện cơn giận. Mình không cố đàn áp nó, mình không chiến đấu với nó, mình chỉ nhận diện nó: “Cơn giận ơi, chào em. Ta biết là em có đó và ta sẽ chăm sóc cho em!”. Đó gọi là nhận diện cơn giận.

Bước kế tiếp là mình ôm lấy cơn giận. Khi thở vào và thở ra một cách có ý thức thì mình chế tác được năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm có công năng nhận diện và ôm lấy cơn giận như một bà mẹ ôm lấy đứa con của mình. Đây là một sự thực tập rất hay! Khi giận thì mình sẽ không nói, không làm gì cả mà chỉ thở và ôm lấy cơn giận. Cha mẹ và bạn bè thấy mình thực tập ôm lấy cơn giận như vậy sẽ rất nể phục vì mình là người có tu tập, mình biết cách chăm sóc cơn giận.

Nếu mình tiếp tục thở vào, thở ra hay đi thiền hành chậm và ôm lấy cơn giận thì cơn giận sẽ lắng dịu xuống. Khi thấy em bé khổ, bà mẹ sẽ ôm em bé vào lòng một cách dịu dàng và em bé sẽ bớt khổ. Cơn giận giống như em bé của mình, trở về chăm sóc cho em bé (cơn giận). Mình nói: “Em bé giận ơi, chào em. Ta biết em có đó, ta không đánh lộn, ta không đàn áp em đâu! Ta sẽ chăm sóc cho em!”. Mình thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm và ôm lấy cơn giận. Có hai loại năng lượng: năng lượng của cơn giận và năng lượng của chánh niệm được chế tác bởi hơi thở. Mình sử dụng năng lượng chánh niệm để nhận diện và ôm ấp cơn giận.

Tôi nghĩ cha mẹ cũng nên thực tập như vậy. Nếu cha mẹ quên thực tập thì mình phải nhắc: “mẹ ơi, mẹ đang giận đó, mẹ hãy chăm sóc cho cơn giận của mẹ nhé. Con sẽ giúp cho mẹ, con sẽ thở với mẹ!”. Mình tới ngồi gần bên mẹ và thở với mẹ. Hai mẹ con cùng ngồi thở và ôm lấy cơn giận. Đây là sự thực tập rất tuyệt vời! Nếu ba giận thì mình có thể tới giúp cho ba: “Ba ơi, hình như là ba đang có chút giận dữ trong ba. Mình thực tập với nhau đi ba! Con sẽ yểm trợ cho ba”. Hai cha con cùng thở với nhau để nhận diện và ôm ấp cơn giận một cách dịu dàng. Mình sẽ có sự lắng dịu sau vài phút thở vào và thở ra.

Những người làm cho mình giận cũng có nhiều sự giận dữ mà không biết cách để xử lý. Vì vậy nên họ vung vãi sự giận dữ ra khắp chung quanh họ. Nhưng mình đã được học phương pháp chăm sóc cơn giận, mình không hành xử như những người đó. Mình không vung vãi sự giận dữ ra khắp nơi và làm khổ luôn những người chung quanh. Mình hãnh diện với chính mình và nói: “Những người kia thật là tội nghiệp! Họ có nhiều giận dữ mà không biết cách để xử lý, còn mình thì biết cách!”. Thấy được như vậy thì mình không còn giận họ nữa, mình muốn nói hay làm cái gì đó để giúp cho những người kia bớt khổ. Vì vậy thay vì giận thì trong tâm của mình phát sinh ra tình thương. Mình không còn muốn trừng phạt nữa mà chỉ muốn giúp cho họ, vì trong tâm mình đã có tình thương.

Tình thương là liều thuốc chữa trị sự giận dữ. Khi tình thương phát sinh thì cơn giận sẽ tắt ngấm. Thật là mầu nhiệm! Tình thương được phát sinh khi mình nhìn người kia và thấy được rằng trong người kia có sự giận dữ và khổ đau. Người đó không có khả năng chăm sóc cơn giận nên trở thành nạn nhân của cơn giận và đã vung vãi cơn giận đó ra khắp nơi. Thấy được như vậy thì mình sẽ không giận nữa và tình thương sẽ phát sinh trong mình. Mình trở nên tươi mát và có thể giúp được cho người kia. Biết được phương pháp thực tập không những mình không đau khổ mà mình còn giúp được cho những người trong gia đình hay bạn bè ở trường bớt khổ hơn. Đây là một phương pháp thực tập rất mầu nhiệm!

Ai trong chúng ta cũng có lúc nổi giận, nhưng không phải ai cũng biết cách xử lý cơn giận của mình. Tôi hy vọng là một ngày nào đó người ta sẽ đem sự thực tập này vào học đường. Các thầy cô giáo cùng các bậc phụ huynh phải biết cách xử lý cơn giận và phải có khả năng chỉ dạy lại cho các em học sinh. Nếu các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh làm được thì đương nhiên các em học sinh cũng học được. Khi cha mẹ biết cách thực tập thì con cái sẽ học được từ họ. Đây là sự thực tập rất hay mà mình có thể mang về nhà sau khóa tu!

Câu hỏi: Tại sao có lúc một hạt giống biểu hiện ra thành một bông hoa, có lúc lại không? Tại sao con lại không giống với những người khác?

Thầy trả lời:

Thông thường, hạt giống của hoa thường biểu hiện ra thành một bông hoa. Nhưng nhiều khi những điều kiện giúp cho sự biểu hiện đó không được thuận lợi hay không được đầy đủ, ví dụ như không có mưa, hay gió nhiều quá, v.v. Vì vậy nên trên tiến trình hạt giống biểu hiện thành bông hoa có sự gián đoạn. Phải có đầy đủ những điều kiện để một hạt giống có thể tiếp tục tiến trình của nó và biểu hiện ra. Nhưng có lúc vì vài điều kiện không có mặt nên hạt giống không thể tiếp tục biểu hiện. Và hạt giống sẽ tìm cách để biểu hiện trở lại. Cũng giống như những nụ hoa sắp nở, bỗng nhiên một cơn lạnh kéo tới và nụ hoa không nở được nữa. Nhưng cây hoa vẫn còn đó. Vài tuần sau, khi thời tiết ấm áp trở lại thì những nụ hoa mới lại xuất hiện. Lần này những điều kiện thuận lợi hơn và nếu thời tiết ấm kéo dài vài tuần thì những nụ mới sẽ nở thành hoa.

Vì vậy câu trả lời là: Nếu không có đầy đủ điều kiện thì một hạt giống không thể tiếp tục tiến trình của nó. Khi các điều kiện đầy đủ thì hạt giống sẽ tiếp tục tiến trình lớn lên và biểu hiện ra thành hoa.

Ngay đến những sự vật cùng một loại như hoa sen chẳng hạn, nhìn cho kỹ chúng cũng không giống nhau, ví dụ như có những hoa sen lớn và có những hoa sen nhỏ. Cũng là hoa sen nhưng hoa sen này khác với hoa sen kia. Điều này cũng đúng với những chiếc lá trên cây. Các sự vật không giống nhau là một sự kiện mầu nhiệm, vì nếu các sự vật giống y như nhau thì thật là chán. Mọi vật phải khác biệt nhau. Ở Pháp người ta có câu: “Sự khác biệt muôn năm!” (Vive la différence!) Vì vậy không giống với những người khác là một điều hay, nếu mình giống y hệt như những người khác thì thật là nhàm chán.

CÂU HỎI CỦA CÁC EM THANH THIẾU NIÊN (TEENS)

Câu hỏi: Con thường cảm thấy buồn và cô đơn. Con ghét chính bản thân mình, vì vậy mà con đã tàn hại thân tâm của con. Con phải làm thế nào để chăm sóc và thương yêu chính mình khi mà đau buồn đã trở thành tập khí sâu dày trong con? Con phải làm thế nào để buông bỏ những tri giác sai lầm về bản thân mình?

Thầy trả lời:

Câu hỏi này phải được đặt ra cho các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo. Nếu để ra một ít thì giờ để quán chiếu thì cha mẹ và thầy cô giáo sẽ thấy được rằng chính môi trường sống đã làm cho người trẻ rơi vào tình trạng đó.

Trước hết là trong gia đình, có thể các em không có cơ hội được học cách thương yêu và chăm sóc cho bản thân mình. Nếu cha mẹ biết thương yêu và chăm sóc cho chính mình thì đương nhiên con cái sẽ học được từ cha mẹ. Vì vậy, cha mẹ cũng chịu trách nhiệm trong chuyện này. Có những gia đình, cha mẹ có khổ đau mà không biết cách xử lý khổ đau của mình. Cha mẹ làm khổ nhau, vì vậy cha mẹ đã tạo ra một môi trường gia đình mà trong đó con cái không được nuôi dưỡng và có nhiều vết thương trong lòng.

Khi các em đến trường, các thầy cô giáo cũng không giúp được cho các em, vì có thể thầy cô cũng có những khó khăn ở nhà như các bậc cha mẹ. Và họ mang theo những khó khăn đó đến trường. Ở nhà họ có khó khăn với con cái và khi đến trường, họ có khó khăn với học sinh. Nếu các thầy cô giáo không biết xử lý khổ đau, không biết thương yêu và chăm sóc cho chính mình thì làm sao có thể giúp được cho học sinh? Nếu có được các thầy cô giáo hạnh phúc, những người biết cách thương yêu và chăm sóc cho chính bản thân thì người trẻ sẽ có một cơ hội thứ hai. Cơ hội đó là học đường, một môi trường mà trong đó các thầy cô giáo có sự bình an và có khả năng thương yêu. Nhưng nếu thầy cô giáo không biết cách xử lý khổ đau của chính họ thì người trẻ sẽ không có cơ hội thứ hai.

Những vị làm trong Bộ giáo dục phải thấy rằng môi trường học đường và môi trường gia đình hiện nay không đem lại sự bình an, sự tôn trọng lẫn nhau, sự hiểu biết và thương yêu cho các em học sinh. Họ cần tìm cách thay đổi hệ thống giáo dục và đưa vào trường học những phương pháp thực tập giúp các em học sinh biết cách thương yêu, chăm sóc, trị liệu cho chính mình. Khi đã biết thực tập, các em sẽ mang sự thực tập này về giúp cho cha mẹ.

Tuy nhiên, người trẻ cũng có thể giúp thay đổi tình trạng. Người trẻ có thể nói lên những khó khăn, khổ đau của mình. Ví dụ như sáng hôm nay khi con đặt câu hỏi này thì con đã giúp cho cha mẹ và thầy cô thấy được tình trạng. Có thể chúng tôi đã quá bận rộn với khổ đau, với cái giận và những khó khăn của chính mình nên chúng tôi không có thì giờ lắng nghe con. Con có mặt ở đây và đặt câu hỏi giúp cho chúng tôi ý thức được cái gì đang xảy ra. Nhờ vậy chúng tôi có cơ hội tìm cách thay đổi hướng đi của mình để cho con có được cơ hội thay đổi tốt hơn.

Ở Làng Mai, chúng ta được học cách trở về để ý thức rằng mình đang có một hình hài và hình hài đó là một mầu nhiệm, một kiệt tác của vũ trụ. Các nhà sinh học và các nhà khoa học thần kinh não bộ cũng có cùng cái thấy với chúng ta. Chúng ta phải biết cách trân quí, bảo vệ và giữ gìn kiệt tác của vũ trụ này. Nếu biết thực tập, chúng ta có thể bảo hộ và trị liệu để hình hài trở thành suối nguồn của niềm vui cho ta và cho những người khác.

Chúng ta cũng được học những phương pháp cụ thể như phương pháp làm lắng dịu hình hài. Ở Làng Mai mình học cách thở và đi như thế nào để làm thư giãn những căng thẳng, đau nhức trong thân. Mình cũng được học cách làm lắng dịu những cảm xúc mạnh để có bình an. Cha mẹ và thầy cô không dạy cho chúng ta điều này nhưng bây giờ chúng ta có may mắn học được. Vì vậy có rất nhiều thứ mà người trẻ có thể học để trước hết làm cho mình trở nên dễ chịu hơn. Chúng ta cũng được học là hình hài của chúng ta được trao truyền từ các thế hệ tổ tiên. Tổ tiên của ta không chết, tổ tiên vẫn còn sống trong ta. Vì vậy, nếu ta đối xử tàn tệ với hình hài cũng có nghĩa là ta đối xử tàn tệ với tổ tiên. Cha mẹ cũng đang có mặt trong hình hài của ta, ta là sự tiếp nối của cha mẹ. Chúng ta cần thực tập nhìn lại hình hài của mình để biết trân quí, giữ gìn và bảo hộ nó.

Năm giới là những phép thực tập cụ thể giúp ta làm được điều đó. Sống theo Năm giới thì ta bảo hộ được cho chính mình. Ta không để cho thân và tâm của mình bị tàn hoại bởi môi trường sống. Nếu ta không tôn trọng thân của ta thì người khác cũng không tôn trọng thân của ta. Nếu ta không tôn trọng chính mình thì người khác cũng không tôn trọng ta. Vì vậy điều đầu tiên mà chúng ta cần làm là phải tôn trọng chính mình. Năm giới không phải là sự ép buộc! Vì có tuệ giác nên mình biết là mình không muốn sống một lối sống như trước nữa, một lối sống luôn tàn hoại thân và tâm của mình. Mình nhận ra rằng sống theo Năm giới thì mình có thể tự trị liệu được nên mình thực tập hết lòng để có thể trị liệu cho mình, đồng thời giúp được cho gia đình và cộng đồng.

Ở Làng Mai chúng ta cũng học phương pháp quay về nương tựa tăng thân. Tăng thân là một nhóm nguời gồm những cá nhân biết cách thực tập chế tác sự bình an và niềm vui. Mỗi người trẻ trong chúng ta phải có được một chỗ như thế để nương tựa. Trong một số truyền thống, trẻ em đều có cha mẹ đỡ đầu để các em có thể được giúp đỡ mỗi khi có khó khăn. Ở Làng Mai chúng ta có sự thực tập đệ nhị thân. Mỗi người đều có một đệ nhị thân. Khi có khó khăn ta có thể tìm đệ nhị thân để xin được giúp đỡ. Đó là thiên thần hộ mạng của mình. Đệ nhị thân có thể là một thầy, một sư cô hay là chú, là cậu, là một người bạn của mình, một người có đủ vững chãi, bình an, niềm vui và sự tự do. Mỗi người trẻ phải có một đệ nhị thân như vậy. Bất cứ lúc nào khi gặp khó khăn chúng ta cũng có thể tìm tới người đó để được che chở và giúp đỡ. Vì vậy những người trẻ phải tìm cho mình một nhóm người, một tăng thân như tăng thân Làng Mai. Các em có thể thành lập một tăng thân tại địa phương của mình để làm nơi nương tựa. Mỗi khi có nỗi khổ niềm đau thì các em có thể quay về để được an ủi và bảo hộ. Ai trong chúng ta cũng cần một người hay một tăng thân để nương tựa.

Thầy cũng vậy, thầy cũng cần một tăng thân. Thầy cũng thực tập quay về nương tựa tăng thân. Ở Làng Mai có những thầy, những sư chú, những sư cô trẻ dưới 20 tuổi. Họ thực tập giới luật và uy nghi để bảo hộ thân tâm nên họ trong sáng, tươi mát và vững chãi. Vì thực tập giới luật nên họ chế tác được chất thánh. Chất thánh là cái có thể có được. Thực tập Năm giới là chúng ta đang chế tác năng lượng của chất thánh, và năng lượng đó sẽ bảo hộ cho ta. Ở Làng Mai thầy thấy có những thầy, những sư cô và những Phật tử cư sĩ tuổi còn trẻ nhưng họ đã có khả năng chế tác năng lượng của chất thánh và thầy đã quay về nương tựa nơi họ. Chất thánh được chế tác ra từ năng lượng của niệm, định và tuệ cũng giống như chúa thánh thần trong Cơ đốc giáo. Nếu có chúa thánh thần che chở thì thân và tâm của mình sẽ được bảo hộ. Nếu có chất thánh của sự trong sáng, sự bình an và niềm vui thì mình sẽ được trị liệu một cách dễ dàng. Và khi mình khỏe mạnh, vui vẻ, có tình thương thì mình có thể giúp cho cha mẹ và thầy cô giáo. Vì vậy những người trẻ hãy tổ chức những nhóm tu tập để yểm trợ lẫn nhau trong sự thực tập nuôi dưỡng và trị liệu hàng ngày. Như vậy thì mình sẽ có được sự trị liệu như mong muốn.

Mình có tập khí để cho tham dục, giận dữ, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng lôi cuốn đi. Nhưng bây giờ mình bắt đầu chế tác năng lượng của những thói quen mới, năng lượng của chất thánh, của bình an, của chánh niệm và của tình huynh đệ có công năng trị liệu cho mình. Điều này mình có thể làm được nhờ giáo lý của Bụt mà mình được học ở Làng Mai.

Như chúng ta đã biết, Làng Mai là một nơi bình dị, không hào nhoáng nhưng là một môi trường lành mạnh trong đó có tình huynh đệ, có sự bình an, vì tất cả mọi người đều thực tập đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, nói năng trong chánh niệm, tiêu thụ trong chánh niệm. Một môi trường như vậy có công năng đưa tới sự trị liệu. Những người trẻ phải tạo cho mình một môi trường như vậy và chúng ta cùng nhau tạo ra những môi trường như vậy trong trường học, trong gia đình. Một người có thể không làm được nhưng ba, bốn hay năm người sẽ cùng nhau làm được. Nếu mình có năng lượng tập thể của sự bình an, của tình huynh đệ thì đi tới đâu mình cũng đem năng lượng đó theo. Mình sẽ bắt đầu làm thay đổi con người và làm thay đổi bầu không khí của những nơi mình tới. Vì vậy mình đừng nên tuyệt vọng, mình có thể tạo ra những thói quen mới: thói quen thương yêu, thói quen có sự bình an. Mình có thể chữa trị được sự giận dữ, niềm tuyệt vọng trong mình. Mình không nên bỏ cuộc!

Thầy đề nghị là những người trẻ hãy ngồi lại chia sẻ với nhau để tìm cách tạo ra những thói quen mới, những thói quen tốt. Các em học lại cách đi như thế nào, ngồi như thế nào, ăn như thế nào, uống như thế nào, nói năng như thế nào để có được sự bình an, tình thương và tình huynh đệ. Thầy tin rằng những người trẻ có thể làm được. Chúc các con may mắn!

Câu hỏi: Có rất nhiều cạnh tranh và áp lực trong trường học. Con có xu hướng gây áp lực lên chính mình, đòi hỏi mình phải luôn cố gắng hơn nữa để có thể trở thành người giỏi nhất. Nếu con không đủ thông minh, nhanh nhẹn hay hoạt bát so với người khác thì con lại cho mình là một người vô tích sự. Con phải làm thế nào để không bỏ cuộc mà cũng không làm tổn thương chính mình?

Thầy trả lời:

Nhiều người có rất nhiều danh vọng, quyền hành nhưng họ không có hạnh phúc. Sự tranh đua trong trường học có mục đích là để đạt được danh vọng, sự tự hào, quyền hành, tiền bạc và sự thành công nhiều hơn nữa. Nhưng con hãy tự hỏi: “Điều quan trọng nhất mà tôi muốn làm trong đời mình là gì? Tôi có một cuộc đời để sống và tôi thật sự muốn làm điều gì có ý nghĩa với cuộc đời của mình. Được ngang bằng những người khác hay trở thành số 1 có ý nghĩa gì không khi mà tôi không có hạnh phúc, không có sự bình an trong tâm, không có khả năng giúp cho người khác bớt khổ?”. Đó là những câu hỏi mình có thể đặt ra.

Giả sử như có một người tới hỏi thầy: “Thưa Thầy, Thầy là người có nhiều tuệ giác, tại sao Thầy không làm thủ tướng của một nước mà lại chịu làm một thầy tu?”. Đối với thầy, làm thủ tướng của một nước không có gì hấp dẫn cả. Thầy thấy có nhiều khổ đau, nhiều căng thẳng, nhiều ganh tị trong đó. Thầy thích làm một ông thầy tu bình dị để có nhiều thì giờ đi thiền hành và ít phải đau khổ hơn.

Mỗi người trong chúng ta đều có một ước muốn, một động lực thúc đẩy, điều này rất quan trọng! Có những động lực tốt như ước muốn có được sự bình an trong tâm. Thầy không muốn có sự xung đột trong tâm mình. Thầy muốn có hòa bình trong chính mình. Nếu không tạo được hòa bình cho chính mình thì mình cũng không thể tạo hòa bình cho thế giới và cho những người khác. Có hòa bình trong chính mình, đó là ưu tiên mà thầy đặt ra, là ước muốn sâu sắc nhất của thầy. Thầy muốn sống như thế nào để mỗi giây phút của đời sống là một giây phút mãn ý. Khi đi thì thầy thưởng thức từng bước chân. Khi làm một việc gì thì thầy cảm thấy thích thú với công việc mà mình đang làm. Thầy không làm cho xong để làm công việc khác. Trong khi nghiên cứu, trong khi viết bài hay trong khi nói pháp thoại, thầy đều thưởng thức công việc mình đang làm.

Vì vậy con phải nhìn cho kỹ, xem mình thật sự muốn làm gì. Thầy thấy có những người có được cái mà họ mong muốn nhưng họ vẫn không có hạnh phúc. Dục lạc sẽ đem tới cho mình rất nhiều khổ đau. Hạnh phúc của thầy không dựa trên dục lạc. Thầy biết nếu không có sự bình an, không có tình thương, không có tình huynh đệ và không có khả năng giúp cho người khác bớt khổ thì thầy sẽ không thật sự hạnh phúc. Vì vậy thầy sử dụng thì giờ, năng lượng và sự chú tâm của mình để làm công việc đó. Làm như vậy thì thầy có hạnh phúc và sự mãn ý trong mỗi giây phút.

Thầy cần tuệ giác, tức là cái thấy đúng đắn để có thể làm được việc đó. Sự thực tập niệm và định đưa tới cái thấy đúng đắn giúp thầy buông bỏ được những thứ có thể làm cho mình đau khổ. Và thầy có nhiều thì giờ cũng như năng lượng để tập trung vào những công việc mang lại cho mình sự bình an, hạnh phúc và có khả năng giúp được cho mọi người.

Vì vậy chúng ta cần phải có chánh kiến. Và muốn có chánh kiến thì ta phải thực tập chánh niệm và chánh định. Việc này rất cụ thể! Mình có thể có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Mình không cần phải tranh đua với người khác. Đây là giáo lý của Làng Mai! Nhiều người trong chúng tôi, tuy còn rất trẻ nhưng không muốn làm gì khác hơn là trở thành một người tu. Chúng tôi thấy đây là nhà của mình. Chúng tôi yêu thích công việc mình làm mỗi ngày. Và chúng tôi có thể giúp cho những người khác có được sự bình an và hạnh phúc. Như vậy, sự mãn ý có thể có được nhờ sự tu tập. Mình không cần phải rong ruổi đi tìm sự mãn ý. Thực ra, nếu luôn chạy tranh đua với người khác thì mình sẽ không có cơ hội thực tập và đạt tới cái mà mình mong muốn. Vì vậy mỗi người trong chúng ta cần phải ngồi xuống và tự hỏi: “Tôi thật sự muốn gì?” Mình sẽ biết được con đường mình nên đi. Mình sẽ không có sự xung đột trong tâm và mình sẽ không bị thúc đẩy phải chạy đi làm việc này hay việc kia nữa.

Trinh bạch một niềm thương

Giọt sương trên nhành cỏ biếc

Em đến từ muôn phương biền biệt

Mang theo thông điệp nhiệm mầu

Ta về giữa Phương Khê ngập nắng

Cho lòng trinh bạch một niềm thương!

Nắng lên rồi

Giọt sương hòa nhịp với vô thường

Tan vào trời rộng thênh thang

Mưa về tới

Giọt sương mỉm nụ yêu thương

Thấm sâu vào đất mẹ dịu dàng

Hạt nắng và cơn mưa

Long lanh giữa lòng sương cỏ biếc

Có và không đến đi còn cách biệt?

Mỉm nụ cười hiền dịu

Ta về giữa Phương Khê

Mênh mang…

 

(Mùa Sương, Mây Đầu Núi 27.06.2008)

Chánh niệm là con đường

Chánh niệm và tà niệm

Bất cứ ai cũng cần sự giúp đỡ, trong đó có cả Bụt. Bụt cũng cần chúng ta giúp Ngài. Bụt chỉ có hai tai thì làm sao nghe được hết những khổ đau trên thế giới? Bụt chỉ có hai tay thì làm sao có thể giúp hết được cho thế giới này bớt khổ? Thành ra, chúng ta phải giúp Bụt, chúng ta phải trở thành mắt của Bụt, thành lỗ tai của Bụt, thành cánh tay của Bụt…

Không những người nghèo đau khổ mà người giàu cũng đau khổ. Những nhà lãnh đạo doanh nghiệp rất giàu có nhưng họ cũng đau khổ rất nhiều. Họ mời chúng ta đến giảng dạy chánh niệm để giúp họ bớt khổ và đồng thời giúp họ thành công hơn nữa trong việc kinh doanh.

Vấn đề đặt ra là: Chúng ta có nên giảng dạy chánh niệm cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp để giúp họ làm giàu nhiều hơn nữa hay không? Có người trả lời: “Tại sao không? Làm giàu thì có gì sai? Họ làm giàu thì họ tạo được công ăn việc làm cho những người khác và cung cấp vật dụng cần thiết cho chúng ta”. Thành ra có rất nhiều ý kiến tranh luận về việc ta có nên giúp cho những nhà lãnh đạo doanh nghiệp hay không.

Chúng ta cũng biết rằng hiện nay trong quân đội có rất nhiều khổ đau, nhiều căng thẳng và nghi ngờ, nhiều người đã tự tử. Người ta muốn mời các vị giáo thọ đến hướng dẫn thực tập chánh niệm cho những người lính trong quân đội trước khi họ được gửi ra trận. Nhiều vị giáo thọ đã từ chối với lý do: “Tôi không thể làm như thế được! Tôi không thể hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm để họ có khả năng tập trung cao hơn và giết người giỏi hơn!” Nhưng cũng có ý kiến cho rằng: “Nếu những người lính có chánh niệm thì họ sẽ không giết hại thường dân mà chỉ giết kẻ địch thôi, điều đó cũng đủ có ích lợi rồi”.

Như vậy, một cuộc tranh luận đã mở ra và đang tiếp diễn xoay quanh vấn đề: chúng ta có nên loại trừ các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và những người trong quân đội ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không? Những người làm nghề đánh cá cũng bắt nhiều cá và tàn hại rất nhiều sinh mạng. Và còn những người trong ngành công nghiệp sản xuất thịt hay chế tạo vũ khí nữa, ta có nên loại trừ hết những người đó ra khỏi sự thực tập chánh niệm hay không?

Cho nên, một câu hỏi rất quan trọng được đặt ra là: Chánh niệm có thể làm lợi lạc cho tất cả mọi người hay chỉ làm lợi lạc cho một số thành phần nào đó mà thôi?

Hôm nay chúng ta phải để thì giờ đi sâu vào chủ đề này. Câu hỏi đặt ra là: Chúng ta có thực sự hiểu chánh niệm là gì hay không? Trong giáo lý đạo Bụt có danh từ chánh niệm (right mindfulness), mà đã có chánh niệm thì cũng có tà niệm (wrong mindfulness). Thành ra, trước tiên chúng ta phải phân biệt được chánh niệm và tà niệm.

 

Sự khác biệt giữa chánh niệm và tà niệm, chánh kiến và tà kiến

Chánh niệm, tiếng Phạn là  samyak smṛti, ngược lại với tà niệm là mithya smṛti. Có sự khác biệt gì giữa chánh niệm và tà niệm? Câu trả lời là:

    1. Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện mà là một con đường

      Ta có thể sử dụng một dụng cụ để làm nhiều việc, ví dụ ta dùng dao để chặt cây, cắt gọt rau quả v.v. nhưng cũng có người dùng dao để đi ăn cướp, để giết người. Chánh niệm không phải là con dao mà ta có thể dùng để làm cả những chuyện tốt lẫn những chuyện xấu. Chánh niệm không phải là một công cụ. Nhưng rất nhiều người trong chúng ta cho chánh niệm là một công cụ, chúng ta nghĩ rằng có thể dùng chánh niệm để trị liệu, để hòa giải hoặc làm ra nhiều tiền, hoặc để giết kẻ thù cho hay hơn.

      Chánh niệm không phải là một phương tiện hay một công cụ mà là một con đường. Bởi vì chánh niệm là một trong tám chi phần của Bát chánh đạo. Chánh niệm thuộc về chánh đạo (samyak marga). Nếu ta lấy chánh niệm ra khỏi bối cảnh của chánh đạo thì nó không còn là chánh niệm nữa. Đây là điều rất quan trọng!

      Chánh đạo (right path) là con đường đúng đắn, bắt đầu bằng chánh kiến (right view). Chánh kiến là cái thấy vượt thoát mọi sự kỳ thị, giận hờn và sợ hãi. Vì vậy, nếu chánh niệm không chuyên chở chánh kiến trong đó thì không phải là chánh niệm thật sự.

      Chánh đạo là sự thật thứ tư của Tứ đế, mà chánh niệm là một thành phần trong đó. Chánh đạo là con đường đúng đắn đưa tới hạnh phúc, tức là đưa tới sự thật thứ ba của Tứ đế.

      Tà đạo (wrong path) ngược lại với chánh đạo, đó là con đường đưa tới sự thật thứ nhất tức là khổ. Ta có thể nhìn sự thật thứ hai của Tứ Đế như là một con đường, con đường sai lầm (tà đạo). Con đường sai lầm bắt đầu bằng cái thấy sai lầm, tức tà kiến (wrong view). Cái gì đưa tới cái thấy sai lầm? Tà niệm, tà định đưa tới tà kiến. Và tà kiến đưa tới tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.

      Cho nên, chánh niệm nằm trong chánh đạo, và tà niệm thuộc về tà đạo. Rất rõ ràng. Ta phải phân biệt được chánh niệm với tà niệm. Danh từ chánh niệm và tà niệm đã có từ thời của Bụt. Nếu có chánh niệm thì luôn luôn có tà niệm. Tà niệm luôn đi đôi với tà kiến và tà tư duy. Vì vậy, những loại niệm nào đưa tới tà kiến, tà tư duy, tà nghiệp thì không phải là chánh niệm.

      Có những người không hề học hỏi và thực tập chánh niệm, chánh kiến nhưng họ cũng có một ít chánh niệm và chánh kiến. Họ không phải là Phật tử, không cần phải là Phật tử mới có được chánh niệm và chánh kiến.

      Trong cuộc chiến tranh Đông Dương người ta báo cáo rằng hai phe, phe cộng sản và phe chống cộng sản đã tàn sát lẫn nhau. Họ đã làm theo lệnh của cấp trên nhưng thật ra những người lính của hai bên không hề muốn giết nhau. Người ta kể lại rằng phe cộng sản đã đến đóng ở bờ bên kia sông còn phe chống cộng thì đóng ở bờ bên này sông, hai bên đã nhìn thấy nhau nhưng họ không tấn công nhau. Họ đứng im như vậy trong một hay hai giờ đồng hồ. Cuối cùng để làm tròn phận sự của mình, họ đã chỉa súng bắn lên trời rồi lấy khẩu phần thức ăn của mình ra ăn và rút lui. Chuyện này đã xảy ra rất nhiều lần ở Lào.

      Điều này có nghĩa là những người chiến sĩ đó có được chánh kiến. Họ không hiểu tại sao mình lại phải chém giết lẫn nhau, tại sao mình phải giết người và bị người giết. Họ thấy bên kia không phải là kẻ thù của mình, bên kia cũng giống như mình, bị đưa ra trận tuyến để giết người và bị người giết.

      Từ đâu mà ta có được cái thấy đó? Đó là nhờ chánh niệm, chánh niệm có chứa tuệ giác trong đó. Ở đâu có chánh niệm thì ở đó có tuệ giác. Ta thấy được rằng những người kia là nạn nhân bị bắt đến để giết người và để bị người giết, và ta cũng bị bắt đến để giết người và để bị người giết. Đó là chánh kiến! Ta không thể lấy chánh kiến ra khỏi chánh niệm vì chánh niệm đã chứa sẵn chánh kiến trong đó. Ở Làng Mai chúng ta thường nói rằng chánh niệm chứa đựng năng lượng của định và tuệ trong đó.

      Ví dụ như ta thực tập:Thở vào tôi biết là tôi còn sống. Chánh niệm về hơi thở đưa tới cái thấy là ta đang còn sống. Có những người sống mà không biết là mình đang sống nên họ không thấy vui sướng khi được sống. Có chánh niệm thì tuệ tới ngay lập tức. Chánh niệm mà không có tuệ thì không thật sự là chánh niệm.

      Những người lính từ chối đánh nhau vì họ có được chánh niệm và tuệ giác. Điều này làm cho các cấp chỉ huy rất tức giận. Trong cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, những trường hợp tương tự cũng đã từng xảy ra. Người ta báo cáo rằng có từ 75-80% chiến sĩ đã hành xử như vậy. Cấp chỉ huy đã rất tức giận nên bây giờ họ tìm cách hướng quân đội về một loại niệm và một cái thấy khác, một loại tà niệm và tà kiến. Họ biến niệm và định trở thành một phương tiện, một công cụ để giúp cho quân đội mạnh hơn, phục vụ tốt hơn trong việc tàn sát kẻ thù. Đó là chủ ý của các cấp lãnh đạo quân sự. Như vậy nếu chúng ta đến để giúp cho họ thực hiện được mục đích đó thì chúng ta không giảng dạy chánh niệm thật sự.

      Ví dụ một người lính ra trận, ở ngay trận địa anh ta thực tập thở vào, thở ra và ý thức được rằng kẻ thù của mình đang ở trước mặt mình, và nếu anh không giết kẻ thù đó thì kẻ thù sẽ giết anh.

      Thở vào tôi biết là kẻ thù đang có mặt

      Thở ra tôi phải giết hắn vì nếu không thì hắn sẽ giết tôi.

      Sự thực tập này được thúc đẩy bởi sự sợ hãi, bởi ý chí muốn sống còn và bởi tà kiến. Nếu không coi người kia là kẻ thù thì ta không thể nào giết họ được. Ta bị nhồi vào đầu tư tưởng “Những kẻ đó là kẻ thù của ta, là người ác, là mối hiểm họa cho sự an nguy của đất nước mình. Những kẻ đó đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình, không có họ thì mọi chuyện sẽ tốt hơn”. Người ta đã đào tạo những người lính như vậy và làm cho họ có ý muốn giết người.

      Trong chiến tranh Việt Nam, những người lính Mỹ bị nhồi vào đầu là cộng sản rất nguy hiểm, nếu để Việt Nam rơi vào tay cộng sản thì cộng sản sẽ chiếm hết Đông Nam Á và có thể bành trướng sang Tân Tây Lan (New Zealand), Úc (Australia) và sớm muộn gì cũng sang tận Hoa Kỳ. Tư tưởng đó được thúc đẩy bởi sự sợ hãi.

      Hiện nay, Hoa Kỳ đang hợp tác kinh tế với Việt Nam. Nhìn lại quá khứ, ta thấy việc đổ vào Việt Nam không biết bao nhiêu là tiền bạc, súng ống, chất độc hóa học và hy sinh biết bao nhiêu mạng người không phải là một hành động thông minh, đó không phải là chánh kiến. Hàng triệu người đã trở thành nạn nhân của tà kiến đó. Cái thấy sai lầm của những nhà lãnh đạo chính trị đã đưa tới sự tàn phá, hủy diệt môi trường và cái chết của hàng triệu dân thường.

      Hoa Kỳ có thể làm hay hơn, như hỗ trợ cho hai miền Nam-Bắc xây dựng lại đất nước và phát triển kinh tế, giáo dục, v.v. Như thế Hoa Kỳ sẽ chi phí ít hơn, và còn giúp được cho hai miền Nam – Bắc cùng nhau xây dựng một đất nước hạnh phúc hơn. Thông qua đó, nước Mỹ cũng thu phục được nhiều bạn bè hơn. Đó là cái thấy tốt đẹp, là chánh kiến.

      Để có thể huấn luyện một người lính thành một sát thủ giỏi, người ta phải nhồi vào đầu họ tư tưởng là nếu không có kẻ thù đó thì sẽ tốt đẹp hơn cho mình và cho đất nước. Tôi nhớ Tổng thống Bush đã từng tuyên bố như vậy về Bin Laden: “Nếu không có ông thì thế giới sẽ tốt đẹp hơn!” (the world will be a better place without you!). Đó là chính sách loại trừ mà hiện nay chúng ta vẫn đang tiếp tục sử dụng. Nếu thấy người nào đó có thể là mối nguy hiểm cho an ninh của mình và cho đất nước mình thì chúng ta tìm cách loại trừ người đó, loại trừ bằng cách này hay bằng cách khác, bằng phương tiện hợp pháp hay không hợp pháp.

      Là một vị giáo thọ, nếu ta được mời đến hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm thì ta không thể nói với họ rằng: “Công việc của các anh là đi giết kẻ thù. Các anh phải có niệm và định để làm việc đó cho tốt!” Ta không thể nói như vậy. Nếu nói như vậy thì chánh niệm trở thành một phương tiện mà không phải là con đường.

        2. Chánh niệm không phải là một phương tiện để đạt tới mục tiêu

          Khi ta thở vào có chánh niệm thì hơi thở vào không phải là một phương tiện. Nếu biết cách thở thì ta có được niềm vui, bình an và sự trị liệu ngay trong khi thở vào. Không có sự phân biệt giữa phương tiện và cứu cánh. Nếu ta không cảm thấy thoải mái trong khi thở nhưng ta vẫn cố gắng chịu đựng để đạt được một mục đích nào đó thì đó không phải là chánh niệm thật sự.

          Không có sự khác biệt giữa phương tiện và cứu cánh, vì chánh niệm chính là con đường. Con đường được làm bằng những bước chân và mỗi bước chân chính là con đường. Mỗi bước chân đều chứa đựng chánh niệm, chánh định, chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn. Mỗi hơi thở vào là một bước chân, trong mỗi bước chân đó ta phải có sự thư giãn, có an, có định và có tuệ.

          Chánh niệm không phải là một công cụ, một phương tiện. Ở Làng Mai chúng ta luôn được nhắc nhở phải thực tập như thế nào để có bình an, niềm vui và tình huynh đệ ngay trong khi ngồi, trong khi đi, trong khi thở, trong khi nấu ăn hay chùi nhà. Có chánh niệm thì làm việc gì ta cũng thấy vui. Chánh niệm cho ta niềm vui, tuệ giác và sự bình an.

            3. Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo

              Điều này rất quan trọng! Chánh niệm mà không có tuệ giác thì không phải là chánh niệm thật sự. Những người lính ở Lào mặc dù không được giảng dạy về chánh niệm và tuệ giác nhưng họ cũng thấy được rằng những người phía bên kia cũng giống như mình, họ cũng bị ép buộc tới đây để giết và để bị giết, đó là tuệ giác. Những người kia là nạn nhân của chiến tranh và chúng ta không muốn trở thành nạn nhân của chiến tranh. Cho nên thay vì chĩa súng vào nhau, họ đã chĩa súng và bắn lên không trung. Họ có chánh niệm và có tuệ giác.

              Chúng ta đã được học rằng chánh niệm cũng là tuệ giác, chánh niệm cũng là sự giác ngộ.

              Thở vào, tôi ý thức là tôi đang sống.

              Thở vào có chánh niệm đưa tới cái thấy là ta đang sống. Đang sống là một sự mầu nhiệm! Chúng ta không cần phải thực tập 10 năm hay 10 ngày để có được tuệ giác. Chánh niệm trong tự thân nó đã chứa đựng chánh kiến rồi. Và nếu có chánh kiến thì ta không thể nào làm sai. Chánh kiến đưa tới chánh nghiệp, tức là hành động đúng đắn. Ta chỉ hành động sai lầm (tà nghiệp) khi ta có tà kiến.

              Chánh kiến là tuệ giác. Có chánh kiến thì cái ta tư duy là chánh tư duy, cái ta nói là chánh ngữ và cái ta làm là chánh nghiệp. Chánh kiến phát sinh từ chánh niệm. Vì vậy, nếu ta hướng dẫn cho những người lính đó thực tập được chánh niệm thì họ sẽ có chánh kiến. Thành ra, không có gì nguy hiểm khi giảng dạy chánh niệm cho những người lính trong quân đội. Người ta tưởng nếu giảng dạy chánh niệm cho quân đội thì họ sẽ sử dụng chánh niệm khi ra trận để có đủ sự bình tĩnh và sự tập trung mà giết được nhiều người hơn. Điều này không đúng! Chúng ta giảng dạy chánh niệm để họ biết thở như thế nào, đi như thế nào, biết nhận diện cảm thọ và cảm xúc của họ, ý thức được sự sợ hãi, giận hờn trong mình, v.v. Ý thức được thì họ có cái thấy đúng (chánh kiến), và chánh kiến giúp cho ta tránh được tà tư duy, tà ngữ và tà nghiệp.

              Chánh niệm tương tức với các chi phần khác của Bát Chánh Đạo (chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ…) trong đó có chánh mạng, tức nghề nghiệp đúng đắn. Có chánh niệm thì ta có chánh kiến và với cái thấy đúng đắn thì ta không thể nào tiếp tục lối sống sai lầm nữa (tà mạng). Để có được hạnh phúc, ta phải từ bỏ tà mạng và tìm một việc làm khác có thể giúp ta phát khởi tâm từ bi và trân quí đối với sự sống. Đó là chánh đạo! Tất cả các yếu tố của chánh đạo đều là cứu cánh mà không phải là phương tiện.

              Giả sử vòng tròn này tượng trưng cho chánh niệm, mà đã là chánh niệm thì phải chứa đựng trong nó năng lượng của định và tuệ.

              Khi có chánh niệm về một cái gì đó thì cũng có nghĩa là ta đang đưa sự chú tâm (định) vào đối tượng đó. Ví dụ như khi ta có chánh niệm về hơi thở vào thì cũng có nghĩa là ta đang định tâm vào hơi thở vào. Năng lượng của niệm và định chuyên chở trong nó năng lượng của tuệ giác. Và nếu niệm, định và tuệ có mặt thì 5 yếu tố còn lại của Bát Chánh Đạo (chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn) cũng có mặt.

              Có niệm, định và tuệ thì lời nói của ta là chánh ngữ. Trên nền tảng của chánh kiến thì không thể nào có tà tư duy. Chánh kiến là một cái thấy không có sự phân biệt, kỳ thị. Chánh kiến là cái thấy tương tức (interbeing), duyên khởi (interdependant origination) và vô ngã (no self). Có chánh kiến thì ta không thể chế tác tà tư duy, tà ngữ và không thể tạo ra tà nghiệp. Chúng ta phải nhớ rằng chánh niệm tương tức với tất cả những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Vì vậy chúng ta không cần phải lo lắng là chánh niệm có thể bị lạm dụng. Chánh niệm không thể nào gây hại cho bất kỳ ai hay cho bất kỳ cái gì, vì trong chánh niệm đã có chánh kiến, và khi đã có chánh kiến rồi thì ta không bao giờ có thể làm những điều sai lầm.

               

              Sự thực tập chánh niệm dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai

              Những người trong quân đội có rất nhiều đau khổ, họ cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy giúp cho họ bớt khổ không có gì là sai cả. Ta có thể hiến tặng sự thực tập chánh niệm để giúp họ:

                1. Chế tác niềm vui và hạnh phúc

                  Chánh niệm giúp cho ta trở về với giây phút hiện tại và nhận ra rằng chúng ta đang có quá nhiều những điều kiện hạnh phúc. Những người lính cũng như chúng ta, họ có khả năng nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, của thiên nhiên, những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và nhờ đó, họ có thể chế tác được niềm vui, niềm hạnh phúc để nuôi dưỡng và trị liệu cho chính mình.

                    2. Chăm sóc khổ đau

                      Khi ta hướng dẫn cho những người lính thực tập chánh niệm, họ có thể nhận diện được sự sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong mình. Họ học được cách chăm sóc khổ đau của chính mình và giúp mình bớt khổ.

                        3. Thấy được hạnh phúc chân thật

                          Khi đi sâu vào sự thực tập chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc và chăm sóc khổ đau của chính mình, họ sẽ đạt tới chánh kiến. Họ có thể thấy rõ được thế nào là hạnh phúc chân thật.

                          Khi gia nhập quân đội, họ nghĩ đời sống trong quân đội sẽ dễ dàng hơn, họ có thể hạnh phúc hơn khi làm một người lính. Đó là một ý niệm, một cái nhìn về hạnh phúc. Nhưng khi được hướng dẫn thực tập cách thở, cách đi, cách ngồi, cách ôm ấp cơn giận và sự sợ hãi thì họ bắt đầu nếm được hạnh phúc thật sự. Họ so sánh và bỗng nhiên thay đổi quan niệm của mình về hạnh phúc.

                          Lúc đầu ta cho rằng làm một người lính thì có nhiều quyền lợi và đem tới cho ta hạnh phúc. Nhưng bây giờ thì ta đau khổ quá và ta bắt đầu nghi ngờ. Khi có người đến chỉ dẫn cho ta phương pháp thở, phương pháp đi, phương pháp nhận diện những mầu nhiệm của sự sống, phương pháp thưởng thức từng hơi thở và từng bước chân thì ta thức tỉnh, ta nhận ra được thế nào là hạnh phúc thật sự. Ta thay đổi cái nhìn của ta về hạnh phúc, từ cái nhìn sai lạc ta chuyển sang cái nhìn đúng đắn, và động lực thúc đẩy cuộc đời ta cũng thay đổi.

                          Vì vậy nếu quý vị là những vị giáo thọ giỏi được mời hướng dẫn chánh niệm cho những người lính trong quân đội thì quý vị cũng đừng nên lo ngại. Chánh niệm luôn luôn đem lại lợi lạc và chuyển hóa tốt đẹp cho mọi người, dù rằng sự chuyển hóa đó có thể diễn ra chậm.

                          Một điều mà tôi rất quan tâm là chúng ta cũng nên đồng thời giúp cho những vị chỉ huy, cấp trên, bộ tham mưu và những nhà hoạch định chính sách… Bởi vì nếu những người lãnh đạo chính trị còn có cái nhìn sai lạc về hạnh phúc, về an ninh và quyền lợi của quốc gia thì nhiều người trẻ như chúng ta vẫn sẽ tiếp tục là nạn nhân của bạo lực, chúng ta vẫn bị buộc phải chém giết và bị chém giết. Sử dụng phương tiện bạo động không phải là cách duy nhất để bảo đảm an ninh và quyền lợi quốc gia, còn có nhiều cách hay hơn như vậy.

                          Là những người thực tập chánh niệm và hiểu rõ bản chất của chánh niệm, chúng ta phải giúp cho quân đội, nếu không thì họ sẽ tự đào tạo đội ngũ những người giảng dạy chánh niệm riêng của mình. Những người đó có thể giảng dạy chánh niệm theo kiểu:

                          Thở vào, tôi biết là kẻ thù đang có mặt và tôi phải giết hắn.

                          Thở ra, tôi kéo cò súng…

                          Đó là niệm và định căn cứ trên tà kiến.

                          Chúng ta là những giáo thọ giảng dạy chánh niệm, ta không thể dạy như vậy. Chúng ta không bảo những người lính phải từ bỏ nghề nghiệp của mình, ta chỉ đến để giúp họ bớt khổ mà thôi. Và khi đã bớt khổ thì họ sẽ có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật và mọi việc sẽ tự dần dần thay đổi.

                          Vì vậy kết luận của tôi là: Thực tập chánh niệm là pháp môn tu học dành cho tất cả mọi người, không loại trừ một ai.

                          Tuần trước có hai vị thuộc Bộ Ngoại giao Pháp từ Paris tới thăm Làng Mai. Tôi hỏi hai vị ấy: “Sự thực tập chánh niệm có thể giúp được cho rất nhiều người trẻ và các thầy cô giáo bớt khổ. Chúng tôi đang tìm cách đem sự thực tập chánh niệm vào trường học. Chúng tôi đã và đang huấn luyện cho các thầy cô giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới để họ có thể đem sự thực tập chánh niệm vào lớp học và giúp cho học sinh bớt khổ hơn. Khi học sinh bớt khổ thì thầy cô giáo cũng bớt khổ, sự truyền thông sẽ tốt hơn, việc dạy và học cũng trở nên dễ dàng hơn. Tuy nhiên, nước Pháp có chính sách biệt lập tôn giáo (laïcité), người ta cấm những sinh hoạt có tính chất tôn giáo ở những nơi cộng cộng. Vậy quý vị có thể giúp chúng tôi tìm ra cách thức nào để đem sự thực tập này vào những nơi công cộng, đặc biệt là ở các bệnh viện, trường học… hay không?”

                          Trong những năm qua, chúng ta đã tổ chức khóa tu cho cảnh sát, cho nhân viên của các trại tù, v.v… Những đối tượng này đều nhận ra rằng sự thực tập chánh niệm giúp họ rất nhiều vì họ có quá nhiều đau khổ. Hôm qua chúng ta được báo cáo là một thiếu niên trẻ 16 tuổi đã bị cảnh sát bắn chết. Qua đó, ta thấy rằng không những người trẻ cần sự giúp đỡ của chúng ta, mà lực lượng cảnh sát cũng cần sự giúp đỡ. Vì vậy sự thực tập chánh niệm cần thiết cho tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ một ai.

                          Vấn đề là chúng ta không có đủ giáo thọ. Chúng ta phải đào sâu sự thực tập, phải cải tiến phương pháp giảng dạy để sự giảng dạy và tu tập của chúng ta là sự giảng dạy và thực tập chánh niệm thật sự (true mindfulness). Chúng ta phải đào tạo hàng trăm, hàng ngàn người có khả năng hướng dẫn thực tập chánh niệm ở khắp nơi trên thế giới.

                          Chúng ta biết rằng không cần phải là một Phật tử mới có thể tu tập chánh niệm. Điều quan trọng nhất là: chánh niệm phải là chánh niệm thật sự và điều này tùy thuộc vào sự học hỏi và tu tập của chúng ta. Như vậy chúng ta sẽ không còn lo là chánh niệm bị biến chất và không còn có khả năng giúp được cho mọi người.

                          Giáo lý về chánh niệm, nếu không được hiểu một cách thấu đáo, thì không thể nào giúp ích được cho mọi người. Có rất nhiều người đã coi chánh niệm như là một công cụ.

                          Nhiều truyền thống tâm linh từ phương Đông khi được du nhập vào xã hội Tây phương đã bị biến chất. Người Tây phương vốn quen với lối tư duy lưỡng nguyên (dualistic thinking) như: tạo hóa không phải là tạo vật, chủ thể không phải là đối tượng, vì vậy đã làm biến chất, làm thế tục hóa (secularise) những yếu tố tâm linh đến từ châu Á, kể cả Thiên chúa giáo. Thiên chúa giáo tới từ phương Đông, nhưng sự giảng dạy và sự thực tập Thiên chúa giáo ở Tây phương hiện nay hoàn toàn theo lối tư duy lưỡng nguyên. Người cầu nguyện và người được cầu nguyện là hai thực thể riêng biệt nằm ngoài nhau. Thượng đế ở ngoài ta và ta ở ngoài Thượng đế. Trong khi đó theo giáo lý nguyên thỉ thì Thượng đế ở trong ta và ta ở trong Thượng đế. Ta và Thượng đế tương tức. Điều này đang xảy ra cho sự thực tập chánh niệm trong xã hội Tây phương. Chánh niệm không còn là con đường hạnh phúc hay con đường chuyển hóa mà trở thành một công cụ phục vụ cho một mục đích nào đó, ví dụ như làm ra nhiều tiền hơn, đào tạo nhiều sát thủ hơn, v.v. Vì vậy, là một người giảng dạy về chánh niệm, chúng ta phải ý thức được điều này.

                          Tôi xin nhắc lại là: chánh niệm là một con đường mà không phải là công cụ để phục vụ cho mục tiêu của mình, chánh niệm không thể tách rời khỏi những yếu tố khác của Bát chánh đạo. Ta không thể tách chánh niệm ra khỏi chánh kiến. Có chánh niệm là có chánh kiến. Chánh kiến giúp chúng ta thay đổi những quan niệm lỗi thời của mình mà trước tiên là quan niệm về hạnh phúc.

                          Mùa đông vừa rồi có một phóng viên đến từ London đã phỏng vấn tôi về vấn đề giảng dạy chánh niệm cho các tập đoàn kinh tế trên thế giới. Câu hỏi mà người phóng viên đó đặt ra là:

                          – Có nên đưa sự thực tập chánh niệm vào các tập đoàn quốc tế hay không? Người lãnh đạo kinh doanh nào cũng muốn trở thành số 1 trong lĩnh vực của mình, vì vậy nếu đưa chánh niệm vào các tập đoàn, có phải là chúng ta đang giúp cho họ thỏa mãn được tham vọng của họ và làm cho chánh niệm bị biến chất hay không?

                          Tôi đã trả lời ngắn gọn:

                          – Nếu là chánh niệm thật sự thì sẽ giúp cho những người đó có được chánh kiến và thấy được cái gì là hạnh phúc chân thật và cái gì không phải là hạnh phúc chân thật. Khi có cái thấy đúng đắn thì họ sẽ thay đổi động cơ ban đầu của mình, thay vì muốn trở thành số 1 họ sẽ muốn có được hạnh phúc thật sự.

                          Trong một buổi giảng tại Ngân hàng Thế giới (World Bank), tôi cũng đã nói rằng: “Quí vị phải lựa chọn một trong hai cái, trở thành số 1 hay là có được hạnh phúc”.

                          Khi ta giảng dạy và giúp cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thực tập chánh niệm, họ sẽ có cơ hội nếm được hạnh phúc, tình thương và tự do chân thật. Từ đó họ sẽ thay đổi cách nhìn và động cơ ban đầu thúc đẩy họ thực tập chánh niệm cũng sẽ thay đổi theo.

                          Ở Rwanda năm 1994, hai sắc tộc Hutu và Tutsi đã tàn sát lẫn nhau và khoảng một triệu người đã chết trong cuộc xung đột ấy. Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc cũng có mặt ở Rwanda vào thời điểm đó. Vị chỉ huy của lực lượng gìn giữ hòa bình đã xin phép sử dụng một tiểu đoàn để can thiệp và ngăn cản các vụ tàn sát có thể xảy ra giữa người Hutu và người Tutsi. Nhưng yêu cầu của ông đã bị từ chối. Vị tướng này nghĩ rằng nếu khi đó ông được phép dùng một tiểu đoàn của lực lượng gìn giữ hòa bình để can thiệp thì ông đã có thể ngăn chặn được vụ thảm sát xảy ra và cứu được tính mạng của hơn một triệu người Rwanda.

                          Sau sự kiện này, vị tướng đó bị rơi vào tình trạng trầm cảm. Ông hối hận là đã không chủ động can thiệp dù không được sự cho phép của cấp trên. Nếu lúc đó ông cứ quyết tâm hành động thì ông đã có thể ngăn chặn được cuộc tàn sát, và nếu sau đó ông có bị bãi chức thì cũng không sao. Nhưng ông đã không hành động như vậy, nên bây giờ ông cảm thấy rất hối hận.

                          Điều gì sẽ xảy ra nếu vị chỉ huy đó sử dụng quân đội của mình để can thiệp vào cuộc tàn sát ở Rwanda? Có thể là một số người của lực lượng gìn giữ hòa bình sẽ hy sinh nhưng họ có thể cứu được mạng sống của một triệu người. Vì vậy chúng ta không thể nói rằng sự có mặt của quân đội là không cần thiết. Điều quan trọng là quân đội cần có khả năng thực tập chánh nghiệp, tức là hành động chân chính.

                          Hôm qua có một câu hỏi rất hay về vấn đề phạm pháp, về án tử hình, v.v. Chúng ta đã nói: Tất cả mọi người đều cần sự giúp đỡ, kể cả Bụt. Những người phạm pháp cũng cần sự giúp đỡ. Trước khi phạm tội, họ đã không được sự giúp đỡ từ gia đình, thầy cô giáo và bạn bè. Nếu được giúp đỡ thì họ đã không phạm tội như vậy. Bây giờ họ đã phạm tội và họ cần sự giúp đỡ mà không cần sự trừng phạt.

                          Sở dĩ người thanh niên đó trở thành tội phạm là vì chúng ta đã không chăm sóc tốt cho anh ta. Bây giờ anh ta bị bắt giam trong tù, anh ta cũng cần sự giúp đỡ của chúng ta. Nếu người đó phá hoại và giết người thì việc cần làm là bắt người đó giam vào tù, đó là phận sự của cảnh sát. Điều quan trọng là ta làm việc với tình thương, ta phải bắt giam người đó để ngăn không cho người đó ngày càng lún sâu vào tội ác. Và thời gian ở trong tù là một cơ hội để người đó làm mới lại chính mình và trở thành một người tốt. Xã hội cần phải dành nguồn nhân lực và ngân sách cần thiết để đào tạo, giúp cho các phạm nhân học cách làm thế nào để xử lý khổ đau, giận hờn, sợ hãi, thèm khát, để có được những niềm vui lành mạnh và có cái thấy đúng đắn về hạnh phúc chân thật.

                          Vấn đề là hiện nay chúng ta không có những người làm công việc giảng dạy chánh niệm cho các tù nhân. Ban quản lý trại giam không biết những phương pháp thực tập và chính họ cũng có nhiều đau khổ. Họ không thể quản lý, chăm sóc những người tù với sự nhẹ nhàng và lòng từ bi. Cả tù nhân và người cai tù đều đau khổ.

                          Sự thực tập chánh niệm có khả năng giúp cho cả hai bên. Nhưng vấn đề là chúng ta không có đủ người để làm công việc giảng dạy chánh niệm cho tù nhân. Có những nơi, chúng ta cũng không được phép làm công việc này.

                          Tôi cho rằng thời gian giam giữ tù nhân nên được xác định dựa trên thời gian cần thiết để người đó được trị liệu và chuyển hóa, vì bắt giam một người không phải là một sự trừng phạt mà là một hành động thương yêu. Vì vậy, chúng ta phải cung cấp cho người đó những phương tiện, những phương pháp tu tập để họ có thể thức tỉnh và trở thành một người tốt, một người có hạnh phúc. Nếu người đó chuyển hóa nhanh, thể hiện được niềm vui, hạnh phúc và lòng từ bi thì ta có thể cho họ ra khỏi tù và tạo điều kiện để họ tái hòa nhập cộng đồng.

                          Ngày xưa ở Việt Nam, các chùa được phép tiếp nhận những người tù và chăm sóc cho họ. Người tù giúp những công việc đồng áng cho chùa. Họ thực tập Năm giới và sống dưới sự giám sát của các thầy. Các thầy có trách nhiệm chăm sóc cho họ. Nếu người đó có chuyển hóa tốt thì các thầy giúp cho họ xây dựng gia đình, có một mảnh đất để canh tác và xây dựng cuộc sống mới. Khi được các thầy công nhận là đã chuyển hóa tốt thì người tù đó sẽ được nhà cầm quyền cấp cho giấy phóng thích xác nhận là họ đã mãn hạn tù và trở thành một người tự do. Đó là việc ngày xưa chúng ta đã làm. Bây giờ chúng ta cũng có thể làm như vậy nhưng có hệ thống hơn.

                          Ta phải huấn luyện, đào tạo những người có khả năng hướng dẫn thực tập cho tù nhân để họ có thể thay đổi, chuyển hóa, sống hạnh phúc và trở thành một thành phần tốt của xã hội. Thời gian họ ở trong tù tùy thuộc vào sự tiến bộ trong thực tập của họ. Tôi nghĩ đây là vấn đề mà chúng ta cần nên quán chiếu.

                          Làng Mai năm qua

                          Làng Mai số 38 ra ngày 19/02/2015

                          Hôm nay, ngày 12/2/2015, tại Làng Mai bốn chúng đã tập hợp tại Thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân – xóm Thượng để làm lễ Tự tứ, kết thúc khóa An cư Kết Đông năm 2014-2015. Sau lễ Tự tứ, đại chúng được thăm và thưởng thức chợ hoa do các sư cô xóm Mới tổ chức. Buổi chiều, đại chúng quây quần bên nhau cùng gói bánh chưng, bánh tét. Trong lúc đó thì Ban biên tập Lá Thư Làng Mai cũng đang nỗ lực để Lá Thư Làng Mai được ra đời đúng vào dịp Tết Ất Mùi, làm món quà tinh thần gởi đến tất cả mọi người trong dịp đón chào năm mới. Sau đây chúng tôi xin thuật lại sơ lược những gì xảy ra trong năm 2014:

                          Con đường vui – Khóa tu xuất sĩ (20 – 27/2/2014)

                          Khóa tu An cư kết đông 2013 – 2014 vừa kết thúc thì một tuần sau đó, tại xóm Thượng, Làng Mai đã diễn ra khóa tu xuất sĩ dành riêng cho chúng xuất gia với chủ đề “Con đường vui”. Hai trăm bốn mươi lăm xuất sĩ từ các chùa Pháp Vân, Sơn Hạ, Cam Lộ, Từ Nghiêm, Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) ở Đức và Thiền đường Hơi thở nhẹ ở Paris đã hội tụ về đây cùng đi trên Con Đường Vui, được tu học, làm việc, chơi trong tình thầy, tình đệ huynh thật ấm áp, tươi vui.

                          Điều đặc biệt của khóa tu xuất sĩ năm nay là chương trình đố vui để học. Những bàn tay khéo léo, những tấm lòng đã làm nên sân chơi Đường Về Làng lần 2, với những câu hỏi từ dễ đến khó, từ nội điển tới ngoại điển. Chương trình đã đem lại cho đại chúng những giờ phút thật vui, tràn đầy tiếng cười mà cũng hồi hộp không kém gì chương trình Đường lên đỉnh Olympia trên truyền hình. Đêm văn nghệ xuất sĩ với những tiết mục đặc sắc như Khúc Hải triều (The Sound of the Rising Tide) do thầy Pháp Linh sáng tác, điệu múa Hoa Ưu Đàm,… đã để lại những ấn tượng khó quên trong lòng mọi người. Sư Ông cũng có mặt cho các sư con trong buổi văn nghệ hôm ấy và xem đến 10h mới về.

                          Đại học Hồng Kông vinh danh Thầy

                          Sáng ngày 13/03/2014, tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng Làng Mai, Giáo sư Lap-Chee Tsui, Viện Trưởng (Vice Chancellor and President) trường Đại Học Hồng Kông đã trao bằng Tiến sĩ Danh Dự trong lĩnh vực khoa học xã hội cho Thầy để vinh danh những đóng góp của Thầy cho nền hòa bình thế giới.

                          Đại học Hồng Kông đã gửi thư mời Thầy sang Hồng Kông để nhận bằng Tiến sĩ Danh dự nhân Đại hội lần thứ 190 của trường (được tổ chức vào ngày 18/03/2014). Tuy nhiên, do thời gian này ở Làng Mai đang có khóa tu mùa xuân nên Thầy không sang được. Vì vậy đoàn đại biểu của Trường (gồm 7 người) đã bay từ Hồng Kông sang để trao tặng Thầy tấm bằng danh dự này.

                          Nhân dịp này, Thầy và Giáo sư Lap-Chee Tsui, Viện Trưởng trường Đại Học Hồng Kông đã có buổi đối thoại về chủ đề  “Tuổi trẻ ngày nay”. Thầy đã có lời chia sẻ với các bạn trẻ nói chung và các sinh viên của Đại Học Hồng Kông nói riêng: “Điều mà tôi muốn nhắn gửi đến các bạn trẻ là: nếu các bạn có một giấc mơ lớn và muốn cho giấc mơ đó thành tựu thì các bạn cần có một tăng thân. Điều thứ hai tôi muốn nhắn gửi đến các bạn trẻ là: hãy mở rộng tình thương của mình để ôm trọn cả hành tinh này, không nên giới hạn tình thương của mình chỉ với đất nước và dân tộc mình mà thôi. Chính tôi đã nhận ra rằng quê hương tôi là cả hành tinh này, cả trái đất này. Tôi không giới hạn tình thương của mình trong một dải đất ở châu Á có tên là Việt Nam mà thôi. Tôi đã được chuyển hóa và trị liệu rất nhiều nhờ vào cái thấy này. Có thể tình thương trong bạn còn quá nhỏ bé, bạn cần làm cho tình thương đó lớn rộng ra để bao trùm cả trái đất này. Đó là tình thương của một vị Bụt, tình thương của những bậc đại nhân như Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Mẹ Teresa, v.v.”.

                          Khóa tu mùa Xuân

                          Mùa xuân năm nay Thầy được ở nhà, không phải đi dạy ở đâu cả. Một mùa xuân mà thầy trò được ở chung và thực tập với nhau thì còn hạnh phúc nào bằng. Những buổi thiền hành giữa rừng hoa mai nở trắng xóa thật mầu nhiệm không thể nói. Đất trời như mở hội và lòng người cũng thế.

                          Cũng trong không khí mùa xuân, hơn 500 thiền sinh đã về Làng tham dự khóa tu dành cho người nói tiếng Pháp (4 – 11/04/2014). Những khóa tu dạy bằng tiếng Pháp rất hiếm ở châu Âu, nên thiền sinh nói tiếng Pháp về tham dự khóa tu này mỗi năm mỗi đông thêm. Thầy đã cho hai bài pháp thoại và một buổi vấn đáp. Thiền sinh rất hạnh phúc với những buổi thiền hành cùng Thầy và đại chúng, đặc biệt còn có những buổi ăn trưa picnic trên đồi mận, được nghe quý thầy, quý sư cô đàn violin, thổi sáo, thật là những giây phút nhiệm mầu!

                          Hoằng pháp tại Tây Ban Nha (25/04 – 12/05)

                          Ngày 25/04/2014, Thầy cùng một phái đoàn gồm hơn 50 xuất sĩ đã lên đường đi Tây Ban Nha để hoằng hóa. Thầy đã từng qua Tây Ban Nha giảng dạy vào thập niên 70. Trước đó tăng đoàn Làng Mai chưa thành lập, mỗi lần Thầy đi qua Tây Ban Nha giảng dạy chỉ có một thị giả đi cùng. Nhưng lần này lại khác, Thầy dẫn cả một tăng đoàn gồm hơn 50 xuất sĩ với nhiều quốc tịch khác nhau, đặc biệt là có sư chú Trời Hy Mã, người Tây Ban Nha cũng được theo Thầy và Tăng thân để hoằng pháp trên chính quê hương yêu dấu của mình. Sư chú vô cùng hạnh phúc! Ban thị giả kỳ này cũng khá đông, gồm có các thầy Pháp Lâm, Pháp Nguyện, các sư cô Chân Không, Phùng Nghiêm, Tráng Nghiêm, Băng Nghiêm, Đạm Nghiêm và Bình Nghiêm.

                          Ngày Thầy và Tăng đoàn đến Madrid, mỗi người trong tăng thân đều chuẩn bị thêm trên bàn ăn chiều của gia đình một phần ăn tượng trưng dành cho một người xuất sĩ để bày tỏ sự trân quý và lòng tôn kính của họ đối với sự có mặt của Thầy và Tăng đoàn tại đất nước này. Điều này đã làm phái đoàn rất cảm động.

                          Đi bộ cho hòa bình (Peace Walk)
                          Chuyến hoằng pháp tại Tây Ban Nha với chủ đề Nghệ thuật sống tỉnh thức (“El Arte de Vivir Despiertos”) được mở đầu bằng sự kiện Đi bộ cho Hòa bình (Peace Walk) tại quảng trường lớn trước cung điện hoàng gia Palacio Reál vào buổi chiều ngày 27/04. Trước khi bắt đầu buổi Đi bộ cho Hòa bình, sư cô Chân Không đã hướng dẫn khoảng 1500 người tham dự cùng ngồi yên, trở về theo dõi hơi thở và làm lắng dịu thân tâm.

                          Quảng trường rất lớn và có rất nhiều nhóm người khác nhau. Có nhóm chơi nhạc, nhóm du khách, nhóm người trẻ tụ tập cuối tuần v.v. Có thể nói rất nhiều loại âm thanh xen lẫn nhau nơi quảng trường này. Vậy mà hôm ấy có một loại âm thanh làm cho không biết bao người phải ngạc nhiên, đó là âm thanh của sự im lặng (the sound of no sound). Sự tĩnh lặng của một tập thể hùng tráng đã có công năng đem mọi người đến với nhau mà không cần một lời mời gọi.

                          Sau 30 phút ngồi thiền, thầy Pháp Lưu chia sẻ về pháp môn thiền hành. Do loa âm thanh khá nhỏ trong khi quảng trường thì lại quá lớn nên đại chúng đã áp dụng phương pháp “truyền tin” (human microphone), một người nói muôn người lặp lại. Đứng giữa một quảng trường lớn như vậy mà cả ngàn người đều “dị khẩu đồng thanh” thì không chỉ những người đó được nghe mà những người khác cũng được ảnh hưởng.

                          Để đảm bảo an ninh cho buổi thiền hành giữa lòng thủ đô Madrid, một lực lượng cảnh sát giao thông hùng hậu được cử đến và tháp tùng đoàn thiền hành trong suốt quảng đường đến Templo de Debod – một ngôi đền cổ do chính quyền Ai Cập đã tặng cho người dân Tây Ban Nha năm 1968. Có thể đây là lần đầu tiên người dân nơi thủ đô Madrid được chứng kiến một hiện tượng lạ như thế. Trước đó, trên đại lộ nơi đoàn thiền hành đi qua thường tấp nập người và phương tiện đi lại, vậy mà hôm nay đột nhiên cả đại lộ đều chậm lại. Khi những người đi bộ bên đường được biết là tăng thân đang đi thiền hành cho hòa bình thì rất nhiều người cũng đi theo.

                          Khi đến Templo de Debod, đoàn thiền hành dừng lại và ngồi yên bên nhau trên ngọn đồi cao, nhìn xuống thành phố Madrid rất đẹp. Buổi thiền tọa chấm dứt bằng 10 động tác chánh niệm và những người tham dự được mời thực tập thiền ôm với người thương của mình đang ở bên cạnh. Thiền ôm là nhìn thật sâu đối tượng mình sắp ôm như cha, mẹ, anh, em hay chồng, vợ, con, cháu để trân quý sự hiện hữu của họ trong đời mình rồi mới giang tay ra ôm người kia và thở thật sâu, đầy năng lượng tôn trọng và thương quý. Sau đó mọi người cùng nhau hát bài ‘Mira la felicidad’ (Ta hạnh phúc liền giây phút này).

                          Pháp thoại công cộng tại nhà hát lớn Teatro Lope De Vega
                          Sau hoạt động Đi bộ cho Hòa bình, trong buổi tối cùng ngày đã diễn ra buổi pháp thoại công cộng tại Nhà hát lớn Teatro Lope De Vega ngay trung tâm thành phố. Sức chứa của nhà hát này là 1800 người. Khi công bố bán vé trên mạng, chỉ trong một ngày số vé đã bán hết. Rất nhiều người muốn đi nhưng không còn chỗ.

                          Hôm đó, Thầy dạy về nghệ thuật chế tác bình an bằng hơi thở ý thức và làm chủ cảm xúc buồn, vui, giận, ghét của mình. Sau cùng Thầy cho mọi người có cơ hội đặt câu hỏi. Người đầu tiên đặt câu hỏi: “Những gì học được sáng nay rất có giá trị và quan trọng cho con trong đời sống hàng ngày. Nhưng con không biết những thực tập này có tác dụng như thế nào trong hoàn cảnh có chiến tranh và xung đột?” Thầy đã trả lời rằng mình không cần phải đợi có chiến tranh rồi mới thực tập. Nếu biết cách thực tập trong thời gian hòa bình thì đã ngăn chặn được chiến tranh xảy ra rồi. Chiến tranh xảy ra là do hằng ngày mình không biết thực tập. Thầy nói rằng Thầy đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh và rất khó để thực tập trong hoàn cảnh đó. Vì vậy trong thời gian hòa bình, chúng ta nên thực tập chánh niệm để nhận biết rằng hòa bình đang có mặt. Hòa bình và chiến tranh tương tức với nhau. Nếu mình biết trân quý hòa bình thì mình sẽ không để cho chiến tranh xảy ra.

                          Khóa tu gia đình (từ ngày 30/04 – 04/05/2014)

                          Ngày 30/04/2014, vào lúc 3 giờ chiều, thiền sinh từ khắp các thành phố của Tây Ban Nha bắt đầu về đến Khu du lịch El Escorial (El Escorial Resort Park) để tham dự khóa tu năm ngày với chủ đề Nghệ thuật sống tỉnh thức. Khu du lịch El Escorial tọa lạc trên dãy núi Guadarrama, hướng Tây Bắc của thành phố Madrid, cách thành phố Madrid khoảng một giờ lái xe. Số thiền sinh tham dự khóa tu này có đến 800 người, trong đó có 60 người trẻ và 35 trẻ em. Phần lớn thiền sinh được ngủ trong bungalow (nhà gỗ một tầng), số còn lại thì ở lều trong khuôn viên của Khu du lịch. Nơi đây khá khang trang và mát mẻ. Các thầy và các sư cô cũng được ở trong những bungalow và cắm lều trong khu vực dành riêng cho giới xuất sĩ. Sư Ông cùng các thị giả thì ở trong một ngôi nhà yên tịnh gần đó.

                          Chuyến hoằng pháp năm nay tại Tây Ban Nha được tổ chức bởi tăng thân cư sĩ địa phương với sự hướng dẫn của thầy Pháp Lưu (người Mỹ) và thầy Pháp Liệu (người Pháp gốc Việt). Cả hai đều nói được tiếng Tây Ban Nha rất thông thạo. Vì đây là lần đầu tiên tổ chức một khóa tu lớn do Thầy và tăng thân hướng dẫn tại đất nước Tây Ban Nha nên Ban tổ chức không nghĩ là số người tham dự sẽ đông như những khóa tu mà Thầy và Tăng thân đã tổ chức ở những nơi khác (thường những khóa tu đó đều có hơn 1000 người tham dự). Họ nghĩ rằng chắc ít người Tây Ban Nha biết đến Thầy. Vì vậy Ban tổ chức chỉ tìm một địa điểm cho số lượng 600 người tham dự mà thôi. Nhưng một điều rất bất ngờ là khi đưa tin lên mạng để cho thiền sinh đăng ký thì chỉ trong 24 giờ, số người ghi danh đã đầy và kết quả lại có hơn 600 người khác nằm trong danh sách chờ đợi. Thật là một điều đáng tiếc cho những thiền sinh không được tham dự.

                          Thầy và Tăng đoàn đến Barcelona
                          Sau hơn mười ngày ở Madrid, Thầy và tăng đoàn đã có mặt tại Barcelona ngày 06/05, ngày 08/05 có pháp thoại công cộng tại trung tâm hội nghị Museu De Ciències Naturals. Đầu tiên Ban tổ chức dự định tổ chức buổi pháp thoại công cộng tại nhà thờ Santa Maria del Mar cổ kính tọa lạc tại trung tâm thành phố, nhưng vì sức chứa chỉ hơn 1000 người nên cuối cùng đã chuyển sang trung tâm hội nghị Museu De Ciències Naturals. Trung tâm này rất hiện đại, sức chứa lên đến 3200 người. Vé cũng được bán trên mạng và hết rất sớm, còn nhiều người muốn tham dự nhưng không được.

                          Từ ngày 9 – 16/05 là khóa tu dành cho các nhà giáo dục với chủ đề: “Thầy cô giáo hạnh phúc sẽ làm thay đổi thế giới”. Khóa tu này được tổ chức tại trường đại học Barcelona (University of Barcelona). Trong bài pháp thoại ngày 10/05, Thầy đã chia sẻ về sự thực tập thành công của giáo sư Henri Nguyễn Văn Kỷ Cương, người đã đem sự thực tập chánh niệm vào trong lớp học. Ngoài ra Thầy còn dạy về bốn yếu tố của một tình yêu chân thật là từ, bi, hỷ, xả và bốn loại thực phẩm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Thiền sinh đã có rất nhiều hứng khởi khi đem các phương pháp được học ứng dụng ngay trong khóa tu. Thầy giảng thêm hai bài then chốt và các vị giáo thọ tiếp tục giảng luôn đến ngày cuối cùng của khóa tu.

                          Buổi ngồi thiền tập thể cho hòa bình (Flashmob 11/05)
                          Vào chiều Chủ nhật, ngày 11/05, Thầy và Tăng đoàn đã hướng dẫn buổi ngồi thiền tập thể (Flashmob) cho hòa bình tại Khải Hoàn Môn Arco De Triunfo, ngay trung tâm thành phố Barcelona. Buổi ngồi thiền công cộng này là sự kiện cuối của chuyến đi hoằng hóa Tây Ban Nha năm nay. Đây cũng là dịp để người dân Tây Ban Nha đúc kết, chiêm nghiệm và cũng để khắc sâu những lời dạy quý báu mà Thầy trao truyền trong suốt chuyến đi. Có khoảng 5000 người đã tham dự sự kiện này.

                          Lúc18 giờ 45 phút, Thầy và tăng đoàn đã ngồi tĩnh tọa trên lễ đài. Hàng ngàn người cũng ngồi yên lặng như thế trong vòng 20 phút tạo nên một năng lượng rất hùng tráng. Vì địa điểm của buổi Flashmob nằm ngay ở trung tâm thương mại nên có rất nhiều tiếng ồn bởi xe và người đi lại. Tiếng chuông trầm hùng cùng lời khai thị thiền hướng dẫn của Thầy như một sức mạnh giúp mọi người dừng lại mà không chạy theo cuộc sống ồn ào, huyên náo bên ngoài.
                          Mặc dù hôm đó gió nhiều có thể sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe, nhưng Thầy vẫn có mặt đó cho mọi người bằng sự vững chãi của một bậc đạo sư. Thầy đã từ bi chia sẻ về sự mầu nhiệm của sự thực tập lắng nghe danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm và tặng thính chúng một bài pháp thoại sau khi Tăng đoàn niệm danh hiệu Bồ tát. Pháp thoại nhắn nhủ mọi người tinh cần thực tập chánh niệm, chuyển hóa khổ đau, tái lập truyền thông trong gia đình và với mọi người xung quanh. Pháp thoại kết thúc trong sự biết ơn và lòng hoan hỷ của hàng ngàn người tham dự. Sau khi Thầy rời khỏi khán đài, sư cô Chân Không đã hát tặng và động viên mọi người nên hòa giải với người thương của mình ngay tối hôm đó. Có rất nhiều người, nhiều gia đình đã thiền ôm với nhau ngay sau đó. Đứng trên khán đài nhìn xuống thấy hàng ngàn người thực tập như vậy thật cảm động.

                          Sáng ngày12/05, Thầy và tăng đoàn tạm biệt thành phố Barcelona với trái tim ấm áp và tràn đầy niềm vui. Dường như tất cả quý thầy, quý sư cô cũng như các bạn thiền sinh Tây Ban Nha đều trải nghiệm được sự chuyển hóa, trị liệu và niềm vui khi được thực tập cùng nhau như một tăng thân. Một bạn thiền sinh chia sẻ rằng: “Chuyến hoằng pháp lần này của Thầy và Tăng thân Làng Mai chưa kết thúc, đây chỉ mới là sự mở đầu cho mối nhân duyên gắn bó giữa Làng Mai và người dân Tây Ban Nha”.

                          Đại Giới Đàn Cam Lộ Vị (23/05 – 29/05)

                          Mọi năm Đại giới đàn ở Làng thường được tổ chức sau khóa an cư kết đông. Nhưng năm nay, Thầy muốn Chư Tôn Đức sang Làng Mai khi trời bớt lạnh, được thưởng thức mùa xuân ở Làng với hoa Mộc Lan nở hồng cây, với rừng hoa thủy tiên vàng rực, với hoa mai hồng, mai trắng nở rộ trong hội Hoa Mai, đồng thời tạo điều kiện cho những vị muốn tham dự khóa tu 21 ngày vào tháng 6 nên Đại giới đàn được chuyển sang tháng 5 (từ ngày 23/05 đến ngày 28/05/2014).

                          Đại giới đàn Cam Lộ Vị đã cung thỉnh được Chư Tôn Đức: Hòa thượng Như Huệ, Hòa thượng Minh Cảnh, Hòa thượng Minh Nghĩa, Ni Sư Như Minh… vào Hội đồng truyền giới.

                          Đại giới đàn đã truyền các giới cận sự (Năm Giới), giới Tiếp Hiện, giới Khất sĩ và Khất sĩ nữ. Có tất cả 35 vị được thọ giới Khất sĩ, 49 vị thọ giới Khất sĩ nữ, 43 vị thọ giới Tiếp Hiện và 100 vị được thọ Năm giới. Ngoài ra, còn có 63 vị tập sự giáo thọ (28 xuất sĩ và 35 cư sĩ) được truyền đăng trong Đại giới đàn này. Năm nay các thầy, các sư cô trong gia đình xuất gia Hướng Dương và Hồng Dòn trở thành những giáo thọ trẻ nhất trong Làng.

                          Dưới đây là danh sách các vị tân giáo thọ, xuất sĩ và cư sĩ, được truyền đăng trong Đại giới đàn Cam Lộ Vị cùng với bài kệ truyền đăng mà các vị ấy đã tiếp nhận:

                          Thầy Chân Pháp Thuyên
                          ( Huỳnh Hữu Thanh)
                          Chánh pháp trao truyền đẹp ước mơ
                          Hải triều thuyên giải ý chân thừa
                          Tiếp thu hữu đắc thành vô đắc
                          Cam lộ trần gian thỏa nguyện xưa.

                          Thầy Chân Pháp Ngưỡng
                          (Nguyễn Cửu Tuấn)
                          Pháp mầu vừa được tuyên dương
                          Đem tâm kính ngưỡng, lên đường xuất gia
                          Đâu đâu cũng thấy là nhà
                          Ăn cơm Thiện thệ, ngồi tòa Như Lai.

                          Thầy Chân Pháp Tri
                          (Hoàng Văn Hào)
                          Pháp lữ trên đường phục vụ
                          Là người tri kỷ cùng nhau
                          Một khúc tâm ca vừa tấu
                          Khắp nơi như ý sở cầu.

                          Sư cô Chân Sách Nghiêm
                          (Huỳnh Thị Xuân Mai)
                          Đây một mùa xuân sách tấn
                          Diệu nghiêm trời đất tinh khôi
                          Thao thao chảy dòng ước nguyện
                          Hoa mai nở trắng lưng đồi.

                          Sư cô Chân Khán Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Nhàn)
                          Trên sóng ngồi yên khán thoại đầu
                          Thanh nhàn nghiêm tịnh suốt đêm thâu
                          Thấy trong nỗi khổ niềm an lạc
                          Sen nở trần gian cảnh nhiệm mầu.

                          Sư cô Chân Băng Nghiêm
                          (Lê Thị Thắm)
                          Gia phong băng tuyết giữ gìn
                          Trang nghiêm giới hạnh, nhân thiên ngợi tài
                          Đạo tràng này chốn Thiên Thai
                          Cùng tăng thân bước, độ người trầm luân.

                          Sư cô Chân Ích Nghiêm
                          (Hồ Thị Cẩm Hằng)
                          Chí cầu lợi ích quần sinh
                          Trang nghiêm giới định, tâm hình sáng trong
                          Một mai thế giới đại đồng
                          Đường xưa mây trắng thong dong cùng về.

                          Sư cô Chân Phương Nghiêm
                          (Cao Thị Mỹ Hà )
                          Phương bối quê xưa còn đó
                          Diệu nghiêm bếp lửa cháy hồng
                          Ấm áp trần gian muôn lối
                          Hướng nào cũng gặp tri âm.

                          Sư cô Chân Quảng Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Diễm Hằng)
                          Pháp Bụt thần thông quảng đại
                          Cứu đời nghiêm sắc hiện thân
                          Dòng biếc Tào Khê tuôn mãi
                          Nhân gian sạch hết cát lầm.

                          Sư cô Chân Cảnh Nghiêm
                          (Nguyễn Ngọc Hồng Lệ Giang)
                          Chân tâm biểu lộ nên chân cảnh
                          Tịnh độ trình bày cõi diệu nghiêm
                          Tráng lệ nến hồng vừa thắp sáng
                          Triều âm pháp lực đã trao truyền.

                          Thầy Chân Pháp Năng
                          (Phạm Đình Trung)
                          Giáo pháp gieo đầy trên đất tâm
                          Hạt lành năng biến lại năng huân
                          Trung kiên một tấm lòng con thảo
                          Cùng với tăng thân kết giải đồng.

                          Sư cô Chân Khoan Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Cẩm Vân)
                          Đất tịnh đi từng bước khoan thai
                          Trang nghiêm hiện pháp tọa liên đài
                          Cẩm tú giang sơn còn mãi đó
                          Đường về mở lối đẹp tương lai.
                          Sư cô Chân Thể Nghiêm
                          (Trương Thị Mỹ Hòa )
                          Giới thể tạo thành nét đẹp
                          Làm cho cõi nước trang nghiêm
                          Đường về nở hoa chân thiện
                          Hóa duyên trọn vẹn ước nguyền.

                          Sư cô Chân Ước Nghiêm
                          (Lê Thị Ngọc Vân )
                          Ước nguyện năm xưa quyết đạt thành
                          Nghiêm trì tịnh giới chứng vô sinh
                          Ngọa vân ghi dấu người Yên tử
                          Suối ngọc còn reo giấc mộng lành.

                          Sư cô Chân Tuyết Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Thiên Trang )
                          Giới thân thanh tịnh dường băng tuyết
                          Nghiêm hộ uy nghi đạo nghiệp thành
                          Gươm báu trao rồi tay hảo hán
                          Vào đời cứu độ vạn sinh linh.

                          Sư cô Chân Duyên Nghiêm
                          (Lê Phi Kiều Ái Liên )
                          Nhân duyên quán chiếu pháp trang nghiêm
                          Sen nở hồ tâm được chánh truyền
                          Kiều diễm mùa xuân vô tận ý
                          Nguyện lòng một hướng đạt chân nguyên.

                          Sư cô Chân Lĩnh Nghiêm
                          (Hứa Thu Nguyên )
                          Nhìn về Thứu lĩnh cảnh trang nghiêm
                          Thông suốt thiền cơ vẹn ước nguyền
                          Tuổi xuân thao thức bao hoài bão
                          Này ánh trăng xưa dọi trước thềm.

                          Thầy Chân Pháp Cứu
                          (Đỗ Vĩnh Phúc )
                          Niệm lực nghiêm trì giới pháp
                          Định tâm tham cứu thiền cơ
                          Một tay tháo tung rào cản
                          Dựng lên đạo lớn chân thừa.

                          Sư cô Chân Cẩn Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Bích)
                          Mỗi bước chân đi cẩn trọng
                          Tạo thành Tịnh độ trang nghiêm
                          Trái tim sáng ngời định lực
                          Trước sau trọn vẹn ước nguyền.
                          Sư cô Chân Đáo Nghiêm
                          (Trương Thị Ngọc Minh )
                          Âm Hán Việt:
                          Bộ bộ, đáo bỉ ngạn
                          Xứ xứ đắc hoa nghiêm
                          Hiện pháp thường an trú
                          Thử pháp thị chân thiền.
                          Nghĩa:
                          Mỗi bước đáo bỉ ngạn
                          Cõi nào cũng hoa nghiêm
                          Hằng an trú hiện pháp
                          Đây mới thật chân thiền.

                          Thầy Chân Pháp Giao
                          (Nguyễn Duy Tân)
                          Pháp môn ứng dụng tuyệt vời
                          Thiền âm giao hưởng khung trời duy tân
                          Chuyến đi gặp một mùa xuân
                          Chuyến về kết nối cội nguồn thanh lương.

                          Sư cô Chân Thiền Nghiêm
                          (Nguyễn Thị Hoa)
                          Đóa hoa thiền uyển nở đoan nghiêm
                          Hương sắc xua tan mọi não phiền
                          Đại địa trình bày muôn cảnh giới
                          Theo đường phạm hạnh sống an nhiên.

                          Sư cô Chân Lịch Nghiêm
                          (Nguyễn Ngọc Thúy)
                          Hơi thở khơi dòng lịch sử
                          Bước chân tạo cõi trang nghiêm
                          Ngọc sáng vốn không tỳ vết
                          Chân tâm soi sáng đại thiên.

                          Sư cô Chân Cẩm Nghiêm
                          (Đinh Thị Hồng Hà)
                          Non sông cẩm tú còn đây
                          Pháp môn thực tập tháng ngày tinh nghiêm
                          Trước sau trọn vẹn lời nguyền
                          Về nơi bỉ ngạn ngồi trên pháp tòa.

                          Sư cô Chân Hy Nghiêm
                          (Hoàng Thị Thu Hồng)
                          Xuất gia học đạo trời hy hữu
                          Giới luật tinh nghiêm sống đẹp lành
                          Gom cả mùa xuân làm Tịnh độ
                          Gia phong mây trắng gọi trời xanh.

                          Sư cô Chân Lộc Nghiêm
                          (Trần Thị Thu Trang)
                          Tìm về Lộc uyển chốn thần tiên
                          Tâm hướng siêu trần cõi diệu nghiêm
                          Ngồi trên bảo thạch sen ngàn cánh
                          Bước chân tiếp xúc ấn chân truyền.

                          Thầy Chân Pháp Nhàn
                          (Nguyễn Văn Vinh)
                          Giới thân nghiêm tịnh pháp thân nhàn
                          Mùa xuân đạo lý đẹp thênh thang
                          Đạt tới vô sinh nhờ địa xúc
                          Tăng đoàn vững mạnh tỏa hào quang.

                          Sư cô Lâm Huyền Hậu
                          (Nguyễn Thị Ánh Tuyết)
                          Giáo pháp truyền trao huyền nhiệm
                          Công phu thâm hậu mỗi ngày
                          Sắc không hai đường vượt thắng
                          Đường xưa mây trắng vẫn bay.

                          Chân Mật Lâm
                          (Lennis Lyon)
                          Thâm mật một kho giáo nghĩa
                          Trao truyền tự chốn thiền lâm
                          Tĩnh lặng trái tim mầu nhiệm
                          Phút giây tiếp thọ ân cần.

                          Chân Tịnh Sinh
                          (Michelle Pillot)
                          Mỗi bước đi vào Tịnh độ
                          Góp vào sự nghiệp độ sinh
                          Lắng nghe niềm đau nỗi khổ
                          Đưa người tới cõi an lành.

                          Chân Bảo Trì
                          (Jean Claude Blootaker)
                          Châu ngọc không gì bằng Tam bảo
                          Công phu nhật dụng khéo duy trì
                          Mùa xuân đạo lý ngời an lạc
                          Đất trời hợp tấu khúc từ bi.

                          Chân Thường Hỷ
                          (Tôn Nữ Diệu Liên)
                          Chánh niệm thường xuyên tu tập
                          Là nguồn hỷ lạc thân tâm
                          Đóa sen nhiệm mầu tinh khiết
                          Phát huy diệu dụng siêu trần.
                          Chân Giác Điền
                          (Nguyễn Hoàng Hùng)
                          Đuốc sáng soi về giác ngạn
                          Gia phong còn lại phước điền
                          Quán chiếu đây nguồn niệm lực
                          Trên tay đèn tuệ quang minh.

                          Chân Giác Sơn
                          (Nguyễn Minh Chánh)
                          Nguồn tâm xuôi về giác ngạn
                          Chân tình gửi lại Thứu sơn
                          Bên tai vẳng lời nguyện cũ
                          Vững chân từng bước an tường.

                          Chân Cam Lộ
                          (Nguyễn Kim Lê Việt)
                          Tào khê một giọt chân cam lộ
                          Sống dậy niềm tin cả vạn đời
                          Cứu hộ trần gian thường ứng hiện
                          Tâm lành cảm ứng đẹp muôn nơi.

                          Chân Phước Quả
                          (Trần Dung Hạnh)
                          Phước đức gieo trồng tự kiếp xưa
                          Bao nhiêu quả báu thấy bây giờ
                          Đường tu một hướng, tâm bền vững
                          Tiếp nối duyên lành đẹp nét thơ.

                          Chân An Tĩnh
                          (Bùi Hữu Tường)
                          Thiền lực chuyên vào một điểm an
                          Trăng soi biển tĩnh đẹp huy hoàng
                          Trời khuya thắp sáng ngời muôn nến
                          Gió mát trăng hiền đẹp thế gian.

                          Chân Giác Lưu
                          (Bùi Thị Kiều Trang)
                          Tuyển chọn đó đây vườn giác uyển
                          Kết thành liên đóa thật xinh tươi
                          Lưu truyền hậu thế ngàn muôn thuở
                          Vốn liếng tâm linh đẹp đất trời.

                          Chân Nguyệt Đăng
                          (Nguyễn Lê Diễm Trang)
                          Mở lòng, tâm lượng bao dung
                          Sông in bóng nguyệt tuệ đăng rạng ngời
                          Tìm về xứ sở thảnh thơi
                          Đi theo tăng bảo, cuộc đời vững an.
                          Chân Đại Trí
                          (Thomas Barth)
                          Quán chiếu tánh không chân đại trí
                          Trần gian lưu lộ biển từ bi
                          Công phu nuôi dưỡng nguồn tư niệm
                          Độ sinh sự nghiệp nguyện duy trì.

                          Chân Linh Từ
                          (Jean-Pierre Roussel)
                          Nhìn lên núi Thứu, đỉnh linh từ
                          Thanh thoát tâm hồn dậy ý thơ
                          Tục lụy trần gian buông bỏ hết
                          Phút giây nào cũng đẹp như mơ.

                          Chân Nguyệt Sắc
                          (Peggy Smith)
                          Trời khuya ánh nguyệt sáng ngời
                          Long lanh không sắc, tuyệt vời khúc ca
                          Bước chân đưa tới quê nhà
                          Lắng nghe ngôn thuyết rụng sa bao lần.

                          Chân Mật Hạnh
                          (Alexa Singer-Telles)
                          Siêu việt lưỡng nguyên chân mật ý
                          Hành vô hành hạnh phước không cùng
                          Tháng năm nuôi dưỡng tình huynh đệ
                          Công phu làm vững mạnh tăng thân.

                          Chân Bản Địa
                          (Terry Helbick-White)
                          Bản địa vốn là chân thật địa
                          Tình thương chân thật chẳng biên cương
                          Niệm lực dưỡng nuôi đường bát chính
                          Quán vô thường thấy được chân thường.

                          Chân Viên Hỷ
                          (Martine Serrano)
                          Thâm tín đạo mầu viên giác
                          Chế nên hỷ lạc từ bi
                          Ân nghĩa đôi đường trọn vẹn
                          Tiếp thu sự sống diệu kỳ.

                          Chân Đạo Xả
                          (Diana Daoud)
                          Trái tim tầm đạo năm xưa ấy
                          Mang đầy hỷ xả với từ bi
                          Hơi thở bước chân mang hạnh phúc
                          Công phu nhật dụng khéo duy trì.
                          Chân Đạo Từ
                          (Joelle Grosjean)
                          Bát chánh con đường thánh đạo
                          Dưỡng nuôi trí tuệ từ bi
                          Quán chiếu tuôn dòng suối ngọt
                          Công phu sớm tối hành trì.

                          Chân Minh Lộ
                          (Đặng Văn Thành)
                          Phương Đông bừng ánh quang minh
                          Lên đường sẵn có lộ trình tin yêu
                          Tình huynh nghĩa đệ còn nhiều
                          Cùng theo chí nguyện cao siêu một dòng.

                          Chân Đạo Lữ
                          (Andre Velino)
                          Chánh pháp dựng xây tình đạo lữ
                          Tăng thân hòa hợp đất trời vui
                          Ngoài kia chìm đắm bao nhiêu kẻ
                          Biển khổ thuyền dong cứu độ người.

                          Chân Anh Chân
                          (Laureen Osborne)
                          Tăng thân hòa hợp nẩy anh tài
                          Bao đóa chân tình đã mãn khai
                          Mỗi bước chân đi thành Tịnh độ
                          Đất trời trình diễn hội Hoa Mai.

                          Chân Diệu Học
                          (Mihaela Andronic)
                          Diệu pháp trao truyền sáng tỏ
                          Ba học phòng hộ sáu căn
                          Trái tim ứa đầy cam lộ
                          Hạt gieo hạnh phúc xa gần.

                          Chân An Lực
                          (Chantal Jacques)
                          An trú ngay trong hiện pháp
                          Ngày đêm niệm lực duy trì
                          Thân với tâm thường hợp nhất
                          Bình an mỗi bước chân đi.

                          Chân Viên Tụ
                          (Letizia Di Fonzo)
                          Giới đàn gặp hội đoàn viên
                          Đất trời quy tụ thánh hiền bốn phương
                          Bước chân hơi thở an tường
                          Đắp xây truyền thống, mở đường tương lai.
                          Chân Linh Tụ
                          (Giuseppe Gambadella)
                          Về đây linh khí chốn thiêng liêng
                          Tụ lại non sông đẹp một miền
                          Cùng bao thiện hữu ngời tri thức
                          Phúc tuệ song hành đủ phước duyên.

                          Chân Bồ Đề
                          (Nguyễn Văn Minh)
                          Chân tâm gốc rễ vẫn tài bồi
                          Bóng mát bồ đề rợp khắp nơi
                          Then cửa nhiệm mầu tay nắm giữ
                          Nhìn trong hiện pháp thấy tương lai.

                          Chân Trì Hỷ
                          (Matt Sherman)
                          Công phu chánh niệm tu trì
                          Khơi nguồn hỷ lạc từ bi cho đời
                          Bắc cầu hòa giải nơi nơi
                          Giong thuyền cứu độ bao người trầm luân.

                          Chân An Đức
                          (Tô Xuân Kỷ)
                          Bước chân hơi thở bình an
                          Vun trồng bốn đức, không màng lợi danh
                          Lắng nghe, nói những lời lành
                          Gieo mầm hỷ lạc, viên thành nguyện xưa.

                          Chân Đại Hiếu
                          (Anton Bank)
                          Thế giới vươn lên hướng đại Đồng
                          Trên đường hiếu Thuận bước thong dong
                          Trái tim Bồ tát hằng nuôi dưỡng
                          Hóa độ nhân gian thỏa nguyện lòng.

                          Chân Minh Kính
                          (Nguyễn Thị Hải)
                          Chọn được tình thâm trả nghĩa thâm
                          Minh kính đài gương chẳng nhiễm trần 
                          Nghe hải triều lên bừng tỉnh ngộ
                          Sáu trần thoát lạc, nhẹ thân tâm.

                          Chân Minh Khai
                          (Nguyễn Tấn Thọ)
                          Thiện duyên thấy được nẻo quang minh
                          Khai mở đường văn hạt giống lành
                          Đất mới lên xanh màu triển vọng
                          Mùa xuân tiếp nối nét đan thanh.
                          Chân Hỷ Lạc
                          (Nguyễn Khoa Diệu Dung)
                          Hành giả ngày đêm thường quán chiếu
                          Tạo nguồn hỷ lạc, vốn tư lương
                          Lấy nguyện dựng tăng làm sự nghiệp
                          Lắng nghe ái ngữ đẹp khôn lường.

                          Chân Thiện Quả
                          (Hà Quốc Ngọc)
                          Ngàn năm nhân thiện, quả lành
                          Giữ sao được mãi tâm thành, ý trong
                          Nhớ câu lấy Bụt làm lòng
                          Bước chân nhẹ nhõm, thong dong đường về.

                          Chân Tịnh Tâm
                          (Corine Marquis)
                          Tịnh giới đóa sen tinh khiết
                          Hương thiền xông ngát chân tâm
                          Nuôi lớn trái tim đại nguyện
                          Mắt thương quán chiếu cõi trần.

                          Khóa tu 21 ngày (1 – 21/06/2014)

                          Theo truyền thống Làng Mai, mỗi hai năm lại có một khóa tu 21 ngày. Năm nay, khóa tu được khai mạc vào ngày 01/06/2014, ngay sau Đại giới đàn Cam Lộ Vị. Trong suốt 21 ngày của khóa tu, hơn 200 xuất sĩ cùng 700 thiền sinh đến từ nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có rất nhiều vị giáo thọ cư sĩ và các thành viên Tiếp Hiện đã cùng nhau thực tập và quán chiếu về chủ đề: “Cái gì xảy ra khi ta chết?” (What will happen when we die?). Thầy dạy rằng nếu mình quán chiếu và có được một cái thấy chính xác về cái chết thì lúc đó mình mới thật sự sống, vì sự sống và cái chết nương vào nhau mà có. Chúng ta chỉ có thể biết được “Cái gì xảy ra khi ta chết?”, khi ta trả lời được câu hỏi: “Chuyện gì đang xảy ra trong giây phút này, khi ta đang còn sống?”.

                          Cũng trong khóa tu này, Thầy đã giải tỏa những băn khoăn, lo ngại của nhiều người, trong đó có các giáo thọ cư sĩ, về việc có nên đem chánh niệm vào lĩnh vực doanh nghiệp để giúp các doanh nghiệp làm giàu thêm, hoặc đem chánh niệm để giúp những người lính trong quân đội… Thầy đã cho một bài pháp thoại thật hùng, trong đó Thầy nhấn mạnh rằng: thực tập chánh niệm là pháp môn tu học dành cho tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ một ai. Tuy nhiên, chúng ta phải phân biệt rõ giữa chánh niệm và tà niệm. Chánh niệm là một con đường mà không phải là công cụ để phục vụ cho một mục tiêu nào đó (ví dụ như làm ra nhiều tiền hơn, đào tạo nhiều sát thủ hơn v.v.); chánh niệm không thể tách rời những yếu tố khác của Bát chánh đạo, trong đó có chánh kiến. Vì vậy chúng ta không cần phải lo lắng là chánh niệm có thể bị lạm dụng. Chánh niệm không thể nào gây hại cho bất kỳ ai, vì trong chánh niệm đã có chánh kiến, và khi đã có chánh kiến rồi thì ta không bao giờ có thể làm những điều sai lầm.

                          Rất nhiều thiền sinh mong muốn được tham dự khóa tu này, nhưng Làng không đủ chỗ ở. Mặc dù vậy, có nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ đã chấp nhận cắm lều ngoài trời trong thời tiết khá lạnh để có thể tham dự trọn khóa tu.

                          Lễ xuất gia của 29 Cây Trắc Bá (02/07/2014)

                          Ngày 02/07/2014 là ngày biểu hiện của 29 Cây Trắc Bá – 29 thành viên mới của gia đình Áo Nâu: Trời Đại Nghĩa, Trăng Linh Mẫn, Trăng Linh Dị, Trăng Linh Tuệ, Trời Đại Đạo, Trời Đại Đồng, Trời Phạm Trú, Trời Đại Dụng, Trăng Thiên Nga, Trời Quang Thái, Trăng Bối Diệp, Trăng Linh Các, Trăng Thanh Khí, Trăng Chí Nguyện, Trăng Linh Tú, Trời Quang Minh, Trăng Kỳ Vọng, Trăng Bích Thủy, Trời Đại Lượng, Trăng Thanh Sơn, Trời Nhất Quán, Trời Quang Huy, Trời Quy Nguyện, Trăng Cố Quận, Trăng Cổ Tích, Trời Tây Nguyên, Trời Tây Sơn, Trăng Linh Ứng, và Trăng Linh Bảo. Đây là niềm vui lớn của tứ chúng Làng Mai trước khi bước vào khóa tu mùa Hè. Gia đình Cây Trắc Bá khá đa dạng từ người trẻ nhất là 17 tuổi đến anh cả 54 tuổi và gồm 8 quốc tịch: Việt Nam, Thuỵ Sĩ, Úc, Anh, Malaysia, Singapore, và Ukraine.

                          Khóa tu mùa Hè (04/07 – 01/08)

                          Khóa tu mùa Hè là cơ hội duy nhất trong năm cho các em thiếu nhi và thanh thiếu niên (teens) được về Làng tu học cùng với cha mẹ của mình. Trung bình mỗi tuần có khoảng 60 em thanh thiếu niên về Làng trong khóa tu mùa Hè. Không khí thật sống động và tươi vui.

                          Năm nay, các xóm của Làng đón được nhiều thiền sinh về tu học hơn mọi năm vì quý thầy, quý sư cô trong ban văn phòng mướn được thêm những nhà trọ bên ngoài. Tuần nào Làng cũng đón trên 1000 người về tu học. Mùa đông, Làng Mai chỉ có năm xóm: xóm Thượng, xóm Hạ, chùa Sơn Hạ, xóm Mới và xóm Tây Hồ (còn gọi là Happy Farm – Nông Trại Hạnh Phúc, nơi có các cư sĩ nam ở, chuyên lo trồng rau sạch cung cấp cho các xóm của Làng). Nhưng mùa hè thì có thêm xóm Đoài, xóm Trung; xóm Mới thì mở thêm nhà Đầu Thôn, nhà Giếng Thơm, nhà Lưng Đồi. Xóm Trung là xóm dành cho đồng bào người Việt, vào mùa hè còn phải thuê thêm nhà nghỉ ở ngoài mới đảm bảo đủ chỗ ở. Năm nay xóm Trung có thêm nhà Nắng Lưu Ly, có nhà vệ sinh và nhà tắm ngay trong phòng ngủ. Các bậc cha mẹ có con nhỏ tranh thủ ghi tên sớm để giữ chỗ cho bé khỏi phải ngủ lều như các năm trước. Năm nay có đoàn phim SENA từ Việt Nam sang với gia đình chị Giám Đốc Châu Thổ cùng nữ diễn viên Việt Trinh hiền từ, sâu sắc và khiêm hạ. Mọi người trong đoàn làm phim đều tham dự thời khóa rất miên mật và hạnh phúc. Một số thành viên trong đoàn còn đưa người thân sang Làng tu học. Khi về Việt Nam, những vị này cũng lập tăng thân trong nhóm để sách tấn tu học chung hằng tuần.

                          Khóa tu cho người Đức và người Hà Lan tại EIAB (10 – 24/08)

                          Vừa xong khóa tu mùa Hè, ngày 03/08/2014, một số quý thầy quý sư cô đã lên đường đi Đức để phụ tổ chức hai khóa tu tiếng Đức và tiếng Hà Lan tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB). Như mọi năm, Thầy và các thị giả bay sang Đức trễ hơn. Chiếc lều thật to đã căng lên làm chỗ cho Thầy giảng pháp thoại và nhiều lều nhỏ làm quán sách, phòng ăn, phòng uống trà cho thiền sinh đã được quý thầy, quý sư cô sắp xếp trước. Nhờ sáu mẫu đất có rừng, có vườn táo của Viện mà rất đông thiền sinh được cắm lều. Nhà vệ sinh và nhà tắm đã được mướn sẵn. Có một điều không may là trời mưa gần như suốt cả hai khóa tu dành cho người nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan. Khóa tu dành cho người Đức có cả ngàn thiền sinh tham dự mà ở trong nhà chỉ chứa được 200 người, ở khách sạn gần Học viện chưa tới 50 người. Hơn 700 thiền sinh phải cắm lều ngoài trời. Sư Ông cũng bị nhiễm lạnh vì thời tiết. Tuy lều lớn dùng làm thiền đường năm nay to hơn, có vẻ sang trọng hơn năm trước và có vách vải bọc kín hẳn hoi, nhưng gió cứ thốc từng hồi phần phật.

                          Thiền sinh Đức mới tới hai ngày đầu đã nổi bực vì trời mưa ướt át và lạnh quá. Trong dự tính của thiền sinh thì vào tháng 8 mùa hè, đi tu mà cắm lều thì thật tuyệt vời, tối ngắm trăng sao, sớm nghe chim hót và cả ngày được tu, được nghe pháp, được đi thiền hành với Thầy trong công viên, được ăn cơm chay do quý thầy, quý sư cô nấu rất ngon, được tham dự thiền buông thư, thiền lạy. Kể như là một cuộc du lịch tâm linh rất lãng mạn. Nhưng vừa vào khóa tu thì trời mưa ơi là mưa, cắm lều xong thì đường vào lều khá trơn trợt. Có một anh thiền sinh chỉ đem theo một cái quần ngoài bị dính bẩn và mang quần có bệt đất sét suốt tuần luôn. Nhiều vị đã định bỏ cuộc về nhà ngay, nhưng sáng ngày đầu tiên, sau khi nghe cả trăm quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu Bồ Tát Avalokiteshvara rất hùng và được nghe pháp thoại của Thầy thật sâu sắc, kế đến được đi thiền hành chung, hưởng năng lượng bình an và pháp đàm quá vui trong các nhóm nhỏ, rồi lại được gặp những người bạn mới dễ thương, biết lắng nghe… họ đã thay đổi ý định và quyết định ở lại cho đến hết khóa tu. Số người bỏ về trong số 1040 thiền sinh chỉ có năm sáu người! Ngày Quán niệm, trời cũng thương nên không mưa, thiền sinh được đi thiền hành với Thầy khá hạnh phúc.

                          Khóa tu tiếng Đức kết thúc, đại chúng có một ngày nghỉ ngơi, làm việc chuẩn bị đón hơn 530 thiền sinh về cho khóa tu tiếng Hà Lan (từ ngày 19 đến ngày 24). Những người con của xứ sở cối xay gió mang tặng cho mỗi gia đình pháp đàm rất nhiều hoa hướng dương cùng năng lượng an nhiên, nhẹ nhàng. Trời vẫn mưa nhưng có phần ít hơn khóa tu tiếng Đức. Nhờ sự yểm trợ hết lòng của tăng thân Hà Lan mà các thầy, các sư cô đỡ phần vất vả trong khóa tu. Sự kết hợp nhịp nhàng, hòa hợp của bốn chúng cùng sự trải lòng, thực tập hết mình của thiền sinh đã góp phần tạo nên kết quả tươi đẹp như những đóa hoa hướng dương mà các bạn đã mang đến đầu khóa tu.

                          Khóa tu tiếng Ý (26/08 – 31/08)

                          Năm nay, Thầy không đi Ý nên người Ý xin được về Làng để thực tập. Đoàn đi có tới 15 xe buýt và nhiều xe nhà. Thầy cho pháp thoại bằng tiếng Anh nhưng được thông dịch ra tiếng Ý từng câu. Khi có thông dịch ra tiếng Ý, các sư cô rất ngạc nhiên khi thấy nhiều vị hàng xóm của Làng đến nghe giảng trực tiếp bằng tiếng Ý. Xưa nay mình giảng tiếng Pháp họ không qua nghe pháp, nhưng nhờ có vợ chồng anh Alain, chị Tú Hoa quảng cáo nên ông bà hàng xóm D’Incau qua nghe suốt thời gian sư cô Chân Không giảng về phương pháp Làm Mới. Nghe đâu con trai ông bà mới có vấn đề, sắp bị vợ bỏ. Hy vọng ông bà nghe lọt tai vài điều để giúp được cho con trai mình. Dù mệt nhưng Thầy vẫn cố gắng ra giảng ba bài pháp thoại trong khóa tu này vì muốn giúp họ chuyển hóa và đem hạnh phúc cho hơn 700 người Ý từ xa tới tham dự.

                          Khóa tu mùa Thu

                          Sau khóa tu tiếng Ý, thầy trò được nghỉ ngơi. Mận năm nay cũng được mùa, thu hoạch được khá nhiều. Thầy ăn uống không ngon dù các sư cô nấu thật khéo với rất nhiều tình thương. Sức khỏe của Thầy cứ yếu dần. Khóa tu mùa Thu diễn ra êm đềm dù Thầy cần sự túc trực của nhiều thị giả như các thầy Pháp Hữu, Pháp Áo, Pháp Nguyện, các sư cô Chân Không, Định Nghiêm, Thao Nghiêm và Nho Nghiêm. Thời gian này tuy không có khóa tu nhưng Thầy vẫn tiếp tục giảng giải những kinh quan trọng. Thầy vẫn nhuận văn những bài giảng của Thầy để hoàn thành quyển Tri kỷ của Bụt, vẫn tiếp tục viết chú thích những bài Sám hay nhất trong Thiền Môn Nhật Tụng và có cái thấy mới nên đã dịch lại Tâm Kinh Bát Nhã.

                          Những ngày Quán Niệm trong khóa tu mùa Thu này đã được các giáo thọ của Làng hướng dẫn và giảng dạy. Thiền sinh vẫn đến tu học khá đông trong khi Thầy nghỉ ngơi và chữa bệnh.

                          Khóa tu tiếng Pháp dành cho giáo chức (25/10 – 01/11)

                          Thầy và Tăng thân Làng Mai đã tổ chức nhiều khóa tu chánh niệm cho các giáo chức ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á trong 30 năm qua và đã thành lập chương trình đào tạo có tên “Wake Up Schools”. Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên có một khóa tu dành cho các giáo chức được giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Khoảng 600 thiền sinh hoạt động trong lĩnh vực giáo dục đã về tham dự khóa tu này. Mặc dù đang bệnh nặng, Thầy vẫn cố gắng có mặt với thiền sinh trong ngày đầu tiên của khóa tu và cho một bài pháp thoại tuy ngắn nhưng gói trọn tất cả những điều tâm huyết mà Thầy muốn trao truyền và gửi gắm đến các giáo chức: “Chúng ta không thể tiếp tục như hiện nay, vì nếu các giáo chức không có hạnh phúc, không có sự bình an và hòa hợp với nhau thì làm sao mình giúp được cho những người trẻ bớt khổ và thành công trong sự học hành. Xây dựng tăng thân là công việc tối cần và mỗi giáo chức phải là một người dựng tăng…”

                          Khóa An cư kết đông 2014-2015

                          Sáng ngày 15/11/2014, tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng đã diễn ra lễ Đối thú An cư năm 2014 – 2015. Điều đặc biệt là lễ Đối thú an cư năm nay đã diễn ra với sự chứng minh của Chư Tôn Đức cùng đông đảo quý thầy, quý sư cô lớn về từ các trung tâm Làng Mai ở Mỹ, Hồng Kông, Paris… Sự có mặt của Chư Tôn Đức và quý thầy, quý sư cô lớn khiến cho ai trong đại chúng cũng xúc động trước năng lượng ấm áp và hùng hậu của một đại gia đình tâm linh. Tất cả đại chúng đều ý thức rằng Thầy vẫn đang có mặt và đang an cư cùng đại chúng.

                          Mùa an cư năm nay, tại xóm Thượng và Sơn Hạ có 52 vị tỳ kheo, 18 vị sadi, 60 vị cận sự nam, tổng cộng là 130 vị; tại xóm Hạ có 57 vị tỳ kheo nữ, 5 vị sa di nữ và 13 vị cận sự nữ, tổng cộng là 75 vị; tại xóm Mới có 57 vị Tỳ kheo nữ, một Thức xoa ma na, 9 vị Sa di nữ và 18 cận sự nữ, tổng cộng là 85 vị. Như vậy, số người an cư tại đạo tràng Mai Thôn trong mùa an cư kết đông năm nay là 290 vị, tất cả đều an trú, tu tập miên mật trong 90 ngày.

                          Trong thời gian Thầy nằm bệnh viện, tứ chúng tu tập miên mật hơn, hết lòng hơn. Ai cũng quay về chăm sóc lấy mình để yểm trợ cho Thầy và cho tăng thân. Năng lượng tu tập tại các xóm, các trung tâm rất hùng tráng.

                          Thiền hành trong lãnh thổ Vatican
                          Nhận lời mời của Đức Giáo Hoàng Francis, dù Thầy không đi được, một phái đoàn gồm 22 quý thầy, quý sư cô Làng Mai, trong đó có sư cô Chân Không và thầy Pháp Ấn – Viện trưởng Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB), đã có mặt tại Rome từ ngày 1 – 2/12/2014 để đại diện và chuyển tải thông điệp của Thầy đến Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới về xóa bỏ nạn buôn người, một hình thức “nô lệ hiện đại”.

                          Đây là lần đầu tiên trong lịch sử các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới (Anh Giáo, Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Hindu và Phật Giáo) đã quy tụ tại Vatican để cùng lên tiếng chống lại chế độ nô lệ hiện đại. Buổi gặp gỡ đã diễn ra vào sáng ngày 02/12/2014, ngày Quốc tế xóa bỏ chế độ nô lệ, tại trụ sở của Hàn lâm viện Tòa thánh ở Nội thành Vatican.

                          Tại buổi gặp gỡ này, sư cô Chân Không đã đại diện Thầy đọc thông điệp trước Hội nghị. Sau đó, khi ký kết bản Tuyên Bố Chung bày tỏ quyết tâm hiệp lực với nhau để xóa bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ hiện đại trước năm 2020 với các nhà lãnh đạo tôn giáo khác, sư cô Chân Không và thầy Pháp Ấn, đại diện cho hai chúng tỳ kheo và tỳ kheo ni của Làng, đã cùng đóng con dấu ký tên Thầy.

                          Một ngày trước đó (ngày 01/12/2014), phái đoàn tăng thân Làng Mai đã phối hợp với Ban Tổ chức Hội nghị để tổ chức một ngày tu tập chánh niệm chung cho các đại biểu tại Vatican. Đây là điều kiện của Thầy đưa ra khi được thư mời của đức Giáo Hoàng. Hôm đó, sư cô Chân Không và thầy Pháp Ấn thay nhau chia sẻ về sự thực tập chánh niệm, về Chỉ và Quán và Năm giới trong khi làm việc phụng sự. Một đại biểu Ấn Độ Giáo và một nữ tu Thiên Chúa Giáo cũng chia sẻ những việc làm của họ. Tất cả các đại biểu đại diện cho các tôn giáo cùng tham dự ngày tu tập chung nầy và cuối cùng gần hai trăm người đi ra khỏi sảnh đường để nghe thầy Pháp Ứng giảng và hướng dẫn đi thiền hành chung với nhau. Đức Giám Mục Marcelo Sorondo Sanchez, người đã đại diện đức Giáo Hoàng tới Làng Mai để đưa thư mời và ở lại tu tập ba ngày trên Xóm Thượng, bước thong thả bên cạnh thầy Pháp Ứng. Hẳn đây là lần đầu tiên có một tập thể đa tôn giáo bước những bước chân chậm rãi, thảnh thơi trong lãnh thổ của Vatican. Trưa hôm đó, có lẽ đây là lần đầu tiên, Vatican dọn thức ăn chay và nước uống, không có rượu cho mọi người.

                          Lễ xuất gia của 42 Cây Sồi Đỏ (18/12/2014)

                          Lễ xuất gia cho gia đình Cây Sồi Đỏ đã diễn ra vào ngày 18/12/2014 như đã dự tính, dù Thầy vẫn đang nằm trên giường bệnh. Hòa thượng Chí Mãn, sư em của Thầy từ Việt Nam qua đã thay mặt Thầy truyền giới cho các giới tử: 10 em được xuất gia tại Làng Mai, 31 em được xuất gia tại Trung tâm Làng Mai Quốc tế Thái Lan và một em được xuất gia tại tu viện Lộc Uyển, Mỹ. Các sư cô, sư chú mới có các tên Trời Bến Giác, Trời Hải Thượng, Trời Hồng Bàng, Trời Văn Lang, Trời Tịnh Trú, Trời Vững Chãi, Trời Đại Địa, Trời Hoan Hỷ, Trời Dương Xuân, Trời Đại Việt, Trời An Trú; Trăng Trúc Lâm, Trăng Chánh Định, Trăng Thuần Hậu, Trăng Chánh Niệm, Trăng Chánh Tuệ, Trăng Mặc Chiếu, Trăng Thương Yêu (Bác Ái Nguyệt), Trăng Từ Hòa, Trăng Thảnh Thơi (Tự Tại Nguyệt), Trăng Viên Mãn, Trăng Thiên Lý, Trăng Từ Mãn, Trăng Thiên Ý, Trăng Bình An, Trăng Khiêm Cung, Trăng Ngân Hà, Trăng Bao Dung, Trăng Từ Bi, Trăng Hòa Hợp, Trăng Trung Hậu, Trăng Từ Hiếu, Trăng Tinh Tấn, Trăng Vô Ưu, Trăng Thiên Ân, Trăng An Lạc, Trăng Cát Tường, Trăng Tịnh Mặc, Trăng Tuổỉ Ngọc, Trăng Hòa Ái, Trăng Lam Điền, Trăng An Hòa. Sau hôm xuất gia, các sư cô, sư chú được lên bệnh viện đảnh lễ và thăm Thầy.

                          Cuối năm

                          Dù không có Thầy, thiền sinh về ăn Noel vẫn rất đông, hơn 600 người. Sư cô Chân Không cho pháp thoại đêm Noel, cám ơn thiền sinh đã chọn Làng Mai như ngôi nhà đoàn tụ. Noel đối với Tây phương là ngày về nhà đoàn tụ với những người thương như người Á Đông về quê “ăn tết” vậy. Sư cô đề nghị mỗi thiền sinh nên tập phương pháp đoàn tụ tâm và thân, nghĩa là đem tâm trở về với thân để có bình an vững chãi hơn mà tiếp xúc tâm Bụt trong người của mình, với Thượng đế trong chính mình. Sau đó sư cô chia sẻ về sự thực tập năm phép tu tập chánh niệm để nói về Năm giới rất thực tế và chấm dứt bằng sáu câu thần chú của Làng Mai.

                          Thần chú là gì? Là khi thân và tâm đoàn tụ, rất định tĩnh và lắng sâu, hay nói cách khác là tâm và thân trở thành một khối sáng suốt và vững chãi, thì khi đó những gì mình nói đều là thần chú cả, vì nó có thể thay đổi tình trạng một cách bất ngờ như một phép lạ.

                          Thần chú thứ nhất: Đương sự phải thật sự có mặt cho người kia, nhìn kỹ và thốt lên câu thần chú, như:
                          Mẹ ơi, bố ơi, con đang có mặt thật sự cho mẹ đây, cho bố đây. Con yêu mẹ lắm, con thương bố lắm!
                          Thần chú thứ hai: Công nhận sự có mặt của người kia. Đem tâm về với thân thành một khối và nhìn kỹ mẹ hay nhìn kỹ bố và thốt lên thần chú:
                          Mẹ ơi, bố ơi, con biết con còn mẹ, con còn bố sống bên con, nên con hạnh phúc lắm!
                          Thần chú thứ ba: biết người kia khổ nên mình thực sự có mặt cho người đó:
                          Mẹ ơi, con biết mạ đang khổ, con đang có mặt bên mẹ đây!

                          Thần chú thứ tư: nói cho người kia biết mình rất buồn vì cách hành xử hay nói năng của người kia nhưng nói rất nhẹ nhàng hòa ái và nói mình muốn nghe vì sao lại có sự kiện đó. Mình chưa hiểu, mình  mong thấy thêm vấn đề của phía bên kia  để hết giận.
                          Thần chú thứ năm: Nói cho mình và cho mọi người  biết “Đây là phút giây thật hạnh phúc”. Câu thần chú này là để bạn dừng tâm lại, nhìn kỹ hơn phút giây hiện tại để thấy được điều đó.
                          Thần chú thứ sáu: Khi mình bị chê, bị giận, bị trách oan, mình trở về hơi thở, thân và tâm định trong điềm tĩnh và nói với anh, hay em hay chị (người chê mình): chị chỉ đúng một phần thôi. Còn phần kia chị chưa thấy nên mới bực và nói không dễ thương vậy.
                          Còn khi mình được khen quá thì cũng nên trở về với hơi thở, thở cho sâu, định tâm và khiêm cung nói: chị chỉ đúng một phần thôi. Còn phần kia chị chưa thấy mặt không dễ thương của em nên mới khen em quá sức vậy.
                          Đó là nội dung bài pháp thoại của sư cô Chân Không như món quà cuối năm đoàn tụ gia đình của người Tây phương. Người Việt chúng ta cũng sắp về đoàn tụ Tết với gia đình, xin mời các đọc giả sử dụng thần chú với những người thân.

                          Tuần lễ cuối năm 2014, đầu năm 2015, số thiền sinh đến tham dự đông quá sức dự tính. Rất nhiều bạn tự mướn khách sạn bên ngoài vì biết Sư Ông đang ở bệnh viện, nghĩ rằng quý thầy, quý sư cô lo không xuể! Đêm “Giao thừa”, tổng số cũng hơn 1000 người. Ghi danh thì có 920 người nhưng từ các khách sạn Bergerac, Sainte Foy, người kéo về dự lễ khá đông và  hàng xóm đến tham dự không ghi danh trước. Thầy Pháp Đăng cho pháp thoại cuối năm, đi thiền hành và đốt lời nguyện ước trên đống lửa hồng. Buổi Văn nghệ cuối năm rất vui. Có nhiều cư sĩ lâu năm đóng góp hết lòng. Các em Wake Up các nơi về có tiết mục rôm rả nhất. Bốn mươi em trẻ Wake Up Hà Lan hát những bản nhạc tu học do các em sáng tác, 12 em nam trong đó có 5 em đang tập sự xuất gia hát nhạc Rap có nội dung tu học, biểu diễn chung với khí công rất  thời đại.

                          Trước khi chấm dứt chuyện Làng Mai năm qua, chúng tôi xin lược kể về tình trạng sức khỏe của Thầy mà chúng tôi biết các bạn rất quan tâm.

                          Từ cuối khóa tu mùa hè, Thầy đã không được khỏe lắm. Chuyến đi dạy ở Đức ngay liền đó khiến Thầy bị đuối sức vì trời mưa, lạnh và mỗi ngày phải lên xuống bốn tầng lầu do Viện Phật Học không có thang máy. Về lại Làng, Thầy vẫn gắng sức ra dạy cho khóa tu người Ý được ba hôm làm ai cũng cảm động. Tuổi đã lớn, làm việc nhiều, lại không ăn uống và không ngủ được nên sức khỏe Thầy suy giảm trầm trọng.  Ban thị giả gồm các thầy Pháp Hữu, Pháp Nguyện, Pháp Áo, các sư cô Chân Không, Định Nghiêm và Thao Nghiêm túc trực thường xuyên bên Thầy ở Sơn Cốc.  Sư cô Nho Nghiêm, vừa tốt nghiệp bác sĩ Đông y, cũng bay từ Mỹ qua để chăm sóc cho Thầy. Những khi không ngủ được, Thầy lại kêu thị giả tới để đánh máy những bài giảng mới và nhuận văn tiếp cuốn “Tri kỷ của Bụt”. Cũng trong thời gian này, Thầy có cái thấy mới về kinh Bát Nhã và đã dịch lại Tâm Kinh Bát Nhã dễ hiểu mà sâu sắc hơn. Thấy Thầy ngày càng yếu, ban thị giả năn nỉ Thầy đi bệnh viện xét nghiệm nhưng Thầy không chịu. Đến ngày 09 tháng 10, sau khi đã vào nước biển và y tá tới thử máu mà không có kết quả khả quan, Thầy mới đồng ý vào bệnh viện. Thầy ở bệnh viện một tuần, làm đủ thứ xét nghiệm rồi về lại Làng. Thời gian này ở Làng có khóa tu tiếng Pháp cho ngành giáo dục. Các giáo thọ chia phiên nhau hướng dẫn và thiền sinh cũng rất hoan hỷ với sự sắp xếp đó vì biết Thầy bệnh nặng. Vậy mà vừa hơi khỏe, Thầy lại bảo thị giả đưa Thầy ra giảng đường để thuyết pháp cho mọi người an tâm. Không ai ngờ là Thầy có thể giảng tới 45 phút như vậy. Rất đông thiền sinh cảm động quá đã bật khóc.

                          Cuối tháng 10, nhiều bác sĩ Đông y, Tây y được mời tới Làng để chữa trị cho Thầy nhưng đều không giúp được vì Thầy đã bị suy dinh dưỡng nặng, thiếu protein trầm trọng, đã vậy huyết áp có lúc lên rất cao, nhịp tim đập nhanh, chân sưng không đi lại được nên Thầy quyết định vào bệnh viện Polyclinique Nord Aquitaine điều trị. Bệnh viện này dễ thương lắm, cho phép một thầy thị giả được ngủ chung trong phòng Thầy ban đêm và ban ngày thì cho các thị giả được vào chăm sóc. Có lần thấy các thị giả ngủ ngoài hành lang, họ kéo giường tới cho mượn và thậm chí khi phòng đối diện không có bệnh nhân, họ cho mình mượn luôn để ngủ qua đêm. Ban thị giả, lúc này có thêm các thầy Pháp Linh và Pháp Đại, đã mướn hai phòng của một khách sạn gần đó (một cho các thầy, một cho các sư cô) để thay phiên qua bệnh viện chăm sóc Thầy 24/24 cho tiện. Ở đây, Thầy được chăm sóc chu đáo, sức khỏe đang hồi phục thì đột nhiên lúc 4 giờ sáng ngày 11 tháng11, Thầy có triệu chứng bị đột quỵ. Khi vừa kêu được thầy Pháp Áo đang ở gần đó đến bên Thầy thì Thầy không còn nói được nữa và bị hôn mê. Trúng ngày nghỉ lễ 11/11 của Pháp nên y tá không kêu được bác sĩ tới liền và bốn tiếng sau họ mới đưa Thầy đi chụp hình não. Kết quả cho thấy là Thầy bị xuất huyết não ở bán não trái và chỗ bị xuất huyết rất to, khoảng 1/3 diện tích của bán não, lại nằm giữa bộ óc nên không thể làm gì được trong tình trạng sức khỏe mong manh của Thầy. Bác sĩ thông báo là Thầy chỉ có thể sống được trong vài giờ tới vài ngày mà thôi. Trong khi mọi người tuyệt vọng thì may có bác sĩ Thái từ Paris, vốn là một bác sĩ đại diện cho Trung tâm nghiên cứu khoa học toàn quốc (CNRS – Centre national de recherches scientifiques) đã làm việc với các bác sĩ trong tất cả mọi chuyên khoa của nhiều nhà thương nên có rất nhiều kinh nghiệm, hướng dẫn và động viên các thị giả là vẫn còn cơ hội để não tự phục hồi. Các thân hữu của Làng, anh Pritam và anh Hussman, vận dụng sự quen biết của mình để giúp ban thị giả được tham vấn với bác sĩ Ming Ming, chuyên điều trị stroke nổi tiếng ở Mỹ (bệnh viện Massachusset) và bác sĩ Rouanet, phụ trách về chuyên khoa não bộ ở bệnh viện Pellegrin, Bordeaux. Sau đó hai ngày, Thầy được chuyển qua khu cấp cứu của bệnh viện Pellegrin là bệnh viện hàng đầu của Pháp về chuyên khoa não bộ.

                          Ở Pellegrin, bác sĩ Rouanet trực tiếp phụ trách việc điều trị Thầy với sự hợp tác của bác sĩ Ming Ming từ Mỹ. Ban thị giả cũng được phép túc trực 24/24 với Thầy và được các y tá chỉ cho cách sử dụng máy hút đàm, cách theo dõi các ghi nhận sức khỏe trên màn hình, cách thay đổi tư thế nằm cho Thầy sau mỗi bốn tiếng. Mỗi thị giả đều học hỏi để trở thành một “y tá phụ”, chăm sóc và theo dõi bệnh trạng của Thầy giúp các y tá. Lúc này, tin tức về Thầy đã lan truyền trên mạng và có nhiều tin đồn thất thiệt về tình trạng của Thầy nên sư cô Hiến Nghiêm, ngày xưa làm ở đài BBC, hiện đang phụ trách về PR của Làng, đã gia nhập ban thị giả để vừa giúp thông dịch tiếng Pháp vừa đưa tin ra. Sư cô Thoại Nghiêm, một sư cô lớn, cũng gia nhập ban thị giả để giúp sư cô Chân Không vừa lo cho Thầy vừa lo cho những việc ở Làng. Quý tôn túc khắp nơi không quản đường xa bay qua, trước là thăm Thầy, sau là để yểm trợ cho đại chúng đang trong mùa An Cư (ngày Đối thú diễn ra bốn ngày sau khi Thầy bị xuất huyết não). Hàng triệu độc giả, “fan” trên facebook, thân hữu, đệ tử cư sĩ, xuất sĩ khắp nơi đều được mời cầu nguyện cho Thầy trong những ngày Thầy đang đi qua ranh giới của sự sống chết. Mười ngày sau, hình chụp RMI cho thấy chỗ xuất huyết không nhỏ lại mà còn phù lan thêm qua bán cầu phải. Bác sĩ ở Pellegrin cũng nghĩ là Thầy không qua khỏi và đã ký giấy để đưa Thầy về Làng. Tuy nhiên, nếu không thấy hình chụp thì tình trạng lâm sàng của Thầy vẫn khá ổn định nên ban thị giả vừa tiếp tục chăm sóc cho Thầy vừa cầu nguyện. Và phép lạ đã xảy ra khi vài ngày sau, Thầy bắt đầu mở được mắt, lúc đầu khó khăn nhưng từ từ mở được lâu hơn, to hơn. Ngày 30/11 hình chụp cho thấy chỗ bọc nước bao quanh cục máu bầm đã nhỏ lại. Lúc đó bác sĩ Rouanet tuyên bố là tới hôm nay ông mới có hy vọng Thầy sống được. Ông thú nhận: “Je suis  absolument ignorant en ce qui concerne le cerveau humain!” (Là một bác sĩ về não bộ nhưng trong trường hợp của Thầy, tôi thấy mình thật sự chưa hiểu gì về não bộ hết). Thầy bắt đầu tỉnh thêm, rồi gật đầu, lắc đầu, xoay đầu. Tuy chậm, nhưng mỗi ngày đều có một dấu hiệu tích cực mới.

                          Để cám ơn sự hợp tác của bác sĩ Rouanet, bác sĩ Ming Ming đề nghị mình hỏi xem có thể tặng ông ta cái gì. Câu trả lời là sự thao thức của bác sĩ Rouanet về việc trang bị một máy chụp RMI tiên tiến nhất cho bệnh viện để giúp bệnh nhân được hữu hiệu hơn. Tiền mua máy họ đã có nhưng tiền để lắp đặt thì chưa được chính phủ đồng ý nên họ cần sự đóng góp của nhiều người để làm sức ép vận động chính phủ. Vì vậy trong lá thư kêu gọi hỗ trợ tài chánh để giúp ban thị giả trả tiền nhà và chi phí chăm sóc sức khỏe cho Thầy, sư cô Chân Không cũng xin trích một phần để gởi cho chương trình vận động này. Mặt khác, những người nào (đa số là người Pháp) hỗ trợ ý nguyện này thì gởi thẳng tiền tới bệnh viện. Sau gần hai tháng, bác sĩ Rouanet vui vẻ báo tin là chương trình chấm dứt vì sức ép đã đủ, chính phủ đã cho việc này lên lịch để tiến hành vào năm tới. Xin cám ơn thân hữu xa gần đã hết lòng tiếp tay cho việc công ích này.

                          Năm mới Ất Mùi, xin kính gửi đến chư tôn đức, các bạn thiền sinh và thân hữu xa gần hai câu đối của Thầy để chúng ta cùng thực tập, đem lại niềm vui và bình an cho những người thương trong năm mới:

                          Càng nhìn càng hiểu rõ
                          Biết lắng biết thương sâu.

                          Hình LTLM38