Tiểu sử Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

TS Nhất Hạnh

Nụ cười tỏa chiếu niềm tin
“Nụ cười tỏa chiếu niềm tin”

(Phỏng vấn sư cô Thuận Nghiêm)

Sư cô Thuận Nghiêm xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, nước Pháp, trong gia đình Cây Bông Sứ. Sư cô đã có nhiều năm gắn bó với Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) ở Hong Kong. Từ mùa xuân năm 2019, sư cô đã về nhập chúng xóm Mới (Làng Mai – Pháp) và tiếp tục hiến tặng rất nhiều tiếng cười, niềm vui cho mọi người, đặc biệt là các sư em nhỏ. Nhân dịp này, Ban biên tập đã có buổi trò chuyện với sư cô về hành trình tâm linh cũng như những kỷ niệm của buổi ban đầu sư cô đến với đời sống xuất sĩ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

BBT: Thưa sư cô, điều gì đã đưa sư cô từ Mỹ qua tới Pháp để trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai? Điều gì gây ấn tượng nhiều nhất khi sư cô tới Làng Mai lần đầu tiên?

Năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp ở Mỹ. Mẹ của chị nói: “Con chở mẹ tới nghe buổi pháp thoại công cộng của Thầy”. Địa điểm diễn ra buổi pháp thoại rất gần nhà chị ở Virginia. Vì mẹ rất muốn nghe Thầy giảng nên chị đồng ý lái xe đưa mẹ đi.

Thầy thuyết pháp tại giảng đường của một trường trung học cho khá nhiều người nghe. Trước đó chị chưa bao giờ nghe nói tới Thầy. Hôm đó, chị chỉ nhớ Thầy nói về phòng thở và chị thấy điều đó chẳng hứng thú gì mấy và cũng không thực tế cho lắm, ít người có thể thực sự làm được.

Chị nói với mẹ là chị muốn đi về nhưng mẹ trả lời: “Được, con cứ về nhưng mẹ sẽ ở lại”. Lúc ấy mẹ chị đã là một sư cô rồi, xuất gia với Sư Ông Trúc Lâm. Vậy nên cuối cùng chị cũng đành ở lại. Cuối buổi pháp thoại, chị thấy có một bàn đầy những sách của Thầy. Mẹ nói với chị: “Đường xưa mây trắng là cuốn sách rất hay, con nên đọc nó”. Chị trả lời: “Con không đọc đâu. Cuốn đó dày quá”. “Vậy con thỉnh cuốn đó cho mẹ được không? Mẹ muốn đọc nó”. Chị nghĩ mẹ chị đã cố gắng tạo mọi điều kiện cho chị được gặp Pháp, được gặp Thầy.

Chị đã thỉnh cuốn sách về nhà nhưng không đọc ngay, vì vào những ngày cuối tuần chị thường đi chơi với các bạn. Tụi chị thích đi xe đạp lắm. Lúc đó, chị làm việc ở Washington DC nơi có rất nhiều những tượng đài lớn, mỗi đời Tổng thống đều có một tượng đài khác nhau! Trong thành phố cũng có nhiều công viên rất đẹp, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa anh đào nở. Nước Nhật đã tặng cho thủ đô Washington rất nhiều cây anh đào. Cuối tuần nào chị cũng đạp xe với bạn bè, chị đâu còn thì giờ để đọc sách. Cho đến một lần, tất cả đám bạn đều đi nghỉ lễ hết, chỉ còn mình chị ở nhà. Lúc đó, chị mới bắt đầu đọc cuốn sách. Khi đã cầm tới nó, chị không thể để nó xuống được nữa. Chị đọc một mạch tới hai giờ sáng. Chị nghĩ trong lòng: “Có một cách sống khác, đơn giản nhưng quả thật rất có ý nghĩa”.

Thầy đã viết cuốn sách này thật hay. Chị nghĩ bụng có lẽ khi nào đó chị sẽ đi du lịch ở châu Âu và sẽ dừng chân ở Làng Mai để “mục sở thị”cuộc sống ở đó. Và rồi mùa hè tiếp theo – hè 1999 – chị đã tới Làng Mai. Khi chị tới nơi, ở Làng gần như chẳng có ai. Thầy đã đưa một phái đoàn đi hoằng pháp ở Trung Quốc. Người đầu tiên chị được gặp là sư cô Phúc Nghiêm và sư chú Pháp Bảo. Chị tới vào thứ Bảy, hôm sau là ngày Phật đản. Thầy đã đưa hầu hết các vị xuất sĩ Tây phương đi cùng trừ sư chú Pháp Bảo vì sư chú vừa mới xuất gia.  Chị rất ấn tượng với buổi lễ mừng Phật đản, giản dị nhưng vô cùng cảm động và hoàn toàn khác với những nghi lễ mà chị đã thấy trong các chùa truyền thống.

Chị chỉ ở lại Làng hai đêm ba ngày. Trước khi rời Làng, chị đã hỏi: “Ở đây quý thầy, quý sư cô được xuất gia như thế nào?”. Khi đặt câu hỏi này, chị cũng thực sự ngạc nhiên với chính mình. Cuộc sống của chị trước khi tới Làng vốn cũng đơn giản. Khi nhìn thấy cách sống đơn sơ và mộc mạc ở Làng chị cảm thấy như về đến nhà. Vào thời điểm đó, chị chẳng có chút ý niệm nào về cứu độ chúng sanh, chị cũng chưa có một tâm bồ đề dũng mãnh hay điều gì đó tương tự. Chị chỉ muốn sống một đời sống đơn giản.

Chị về lại Mỹ, sắp xếp mọi thứ và chỉ khoảng năm tháng sau chị đã quay lại Làng xin được xuất gia. Rất nhanh chóng! Khi còn ở Mỹ chị có viết một bức thư hết sức buồn cười cho Thầy. Chị viết: “Kính gửi Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Con đã đến Làng Mai, Hòa thượng không có ở đó nhưng con đã gặp tăng thân của Hòa thượng và con muốn đến đó sống, con không biết làm sao để được chấp nhận”. Thầy dạy Sư cô Chân Không viết thư trả lời chị.

Trong thư, Sư cô viết: “Con hãy thu xếp mọi việc rồi tới đây”. Khi chị trở lại Làng, Sư cô nói với chị: “Con là trường hợp dễ nhất. Sư cô không cần phải thuyết phục con gì hết. Con đã tự mình đến”. Lúc đó là vào tháng 12 năm 1999. Chị quyết định tới Làng trước năm 2000, vì xung quanh chị ai cũng nói tới sự cố máy tính đầu thiên niên kỷ mới. Chị sợ rằng nếu có chuyện xảy ra, hệ thống máy điện toán bị sụp thì mọi thứ có thể bị ngưng trệ hay trì hoãn. Thế nên, chị quyết định phải đến Làng trước năm 2000! Chị đã tới Làng như vậy đó!

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô có thể kể cho chúng con về thời sadi của sư cô không? Điều gì khó khăn nhất với sư cô trong giai đoạn này, khi sư cô mới vào chùa? Sư cô đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Sống cùng và chia sẻ phòng với người khác là điều khó khăn nhất với chị. Chị đã quen sống một mình và có phòng riêng. Điều gì đã giúp chị vượt qua thử thách này? Chị nghĩ rằng nhớ lại tâm ban đầu đã giúp chị rất nhiều. Trước khi xin xuất gia, chị phải viết xuống những tâm nguyện của mình. Chị đã viết: “Con muốn sống hòa đồng với mọi người”. Đó là nguyện ước duy nhất của chị. Chị nghĩ chắc Thầy sẽ cho chị cái tên Đồng Nghiêm. Nhưng cuối cùng chị lại được mang tên Thuận Nghiêm. Có lần Thầy hỏi chị: “Con có biết vì sao thầy đặt tên con là Thuận Nghiêm không?”. Chị trả lời Thầy: “Thưa Thầy, con không biết”. Thầy nói: “Chẳng lẽ thầy đặt tên con là Nghịch Nghiêm?”. Chị đã phá lên cười và Thầy cũng cười khi thấy chị phản ứng lại với câu hỏi của Thầy.

BBT: Ngoài khó khăn trong chuyện ở chung, sư cô còn gặp những trở ngại nào khác không?

Có chứ, thức ăn! Trước khi xuất gia, chị không hề ăn chay. Trong quá khứ, thông thường sau khi xuất gia mình sẽ không ra khỏi tu viện trong vòng một năm. Thầy dạy rằng mình cần ở trong tu viện vì như vậy sẽ giúp bảo hộ sáu căn dễ hơn. Khi chị mới xuất gia, ở Làng còn rất ít người. Có lần sư cô Thoại Nghiêm cần chị làm đệ nhị thân cho sư cô đi chợ ở Ste Foy la Grande. Chỗ ấy có tiệm bán gà nướng! Khi đi qua đó, chị thèm ăn thịt kinh khủng. Chị chỉ muốn mua nguyên cả con gà, chứ không chỉ một miếng, và ngồi xuống ăn hết ngay tại chỗ. Mùi thịt nướng thật không thể chịu nổi. Sư cô Thoại Nghiêm phải nói với chị: “Mình đi thôi, sao sư em cứ đứng đó hoài vậy?”. Khi mình không thấy thì không thèm. Không phải ra ngoài nhiều quả thật đã giúp chị rất nhiều. Tuy vậy, cơ thể chị cũng mất cả năm để thích nghi với chế độ ăn chay.

BBT: Xin sư cô chia sẻ với chúng con một vài kỷ niệm với Thầy mà sư cô ấn tượng nhất?

Khi chị mới xuất gia, tăng thân của mình chưa lớn như bây giờ. Thầy thường hay mời các sư con tới thiền trà cùng. Một lần sau bữa tối, chuông điện thoại reo, giọng Thầy ở điện thoại: “Các con tới chơi với Thầy”. Khi mọi người tới là khoảng 7 hay 8 giờ tối. Tất cả cùng ngồi chừng hai tiếng chờ ngắm hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh thường nở lúc 10 hay 10 giờ 30 đêm. Chậu hoa được đặt ở giữa phòng Thầy, mọi người ngồi xung quanh. Thầy rót trà mời mỗi người rồi nói: “Con hát đi”. Thầy nói như vậy với chị tới ba lần nhưng chị bướng bỉnh không chịu hát. Thế là Thầy hát. Thầy hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Thầy học ở trường mẫu giáo. Thường thì mỗi khi Thầy mời ai hát, Thầy sẽ chuẩn bị sẵn bài hát của mình. Người được mời hát trước rồi Thầy sẽ hát sau. Riêng với ca của chị, chị không hát bài nào vì thực sự là trước khi xuất gia chị chẳng bao giờ hát.

Một bữa khác, sư cô Diệu Nghiêm (sư cô Jina) đem trà đen từ Ái Nhĩ Lan về. Thầy pha trà và chuẩn bị rót vào ly cho mỗi người. Chị biết đó là trà đen, rất đậm, mà lúc đó đã là buổi tối rồi. Chị nhìn Thầy đang rót trà và thưa: “Bạch Thầy, con không uống trà”. Thầy nhìn chị nói: “Ngồi yên đi con, đây là thất Ngồi Yên”. Rồi Thầy đưa ly trà cho chị. Uống hết ly trà, chị thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con có thể xin thêm một ly nữa được không ạ?”. Ôi, thời sadi của chị, toàn là những điều trái khoáy!

BBT: Thưa sư cô, chúng con biết là Thầy luôn quan tâm chăm sóc mỗi đệ tử của mình. Khi sư cô có dịp được đi cùng Thầy trong những chuyến hoằng pháp, sư cô được Thầy chăm sóc như thế nào?

Trong cuốn Tay thầy trong tay con – cuốn sách tập hợp những bức thư Thầy viết cho đệ tử – có một đoạn Thầy viết về cách mình thực tập khi đi ra ngoài. Mỗi khi đứng đợi làm thủ tục check-in ở sân bay Thầy luôn đi qua đi lại nhắc nhở: “Các con, mình đang check-in nhưng nhớ là mình cũng đang thở”. Trước khi lên máy bay, trong phòng chờ, Thầy luôn ngồi ở hàng ghế đầu để anh chị em có thể nhìn thấy Thầy dễ dàng. Thấy Thầy là ai cũng nhớ để trở về với hơi thở. Đó là cách Thầy nhắc nhở đệ tử. Lúc ấy, mới là một sadi, chị không thấy được điều đó, chị chưa có nhiều chánh niệm. Nhưng bây giờ, chị nhớ lại hết những điều này. Cách Thầy dạy học trò của mình là như vậy đó, khi thì bằng lời nói, khi thì bằng thân giáo của Thầy. Thầy luôn là người lên máy bay cuối cùng. Sư cô Chân Đức từng chia sẻ có lần Sư cô lên máy bay trễ vì Sư cô phải đi vệ sinh, khi Sư cô còn đang tìm xem mình phải lên cửa nào thì bỗng có ai vịn vào vai Sư cô từ phía sau, người đó chính là Thầy. Thầy luôn là người đi cuối cùng trong đoàn để đảm bảo là ai cũng đã lên máy bay.

Trong một chuyến hoằng pháp, tăng thân đi từ miền Nam Cali lên miền Bắc bằng xe bus. Trong 6 giờ đồng hồ trên xe đại chúng hát thiền ca. Trước khi xe chuyển bánh, Thầy là người lên cuối cùng. Thầy cười và nói: “Chúng ta đang làm công việc của Bụt, các con mời Bụt trong mình lên thở và có mặt với mình trong xe”. Rồi chuông được thỉnh lên. Boong, boong… Thầy luôn tận dụng mọi cơ hội để nhắc đại chúng trở về với sự thực tập chánh niệm.

Có thời gian Thầy khuyến khích tất cả mọi người đọc cuốn Những người con của tiến sĩ Lương (Kinfolk) của Pearl S. Buck, một tác giả Mỹ đã đoạt giải Nobel Văn học. Lần đó, chị đọc cuốn sách trên xe bus, chị chăm chú hoàn toàn vào cuốn sách, không biết gì tới xung quanh mọi người đang ăn uống, hát ca, trò chuyện,… Rồi tự nhiên có người đến bên cạnh, vỗ vào vai chị và đưa cho chị một bịch khoai tây chiên, đó là Thầy.

Lần khác, sau khi kết thúc một khóa tu ở Colorado, đại chúng lấy xe bus để đi tới điểm mình sẽ đi dã ngoại. Ai cũng đã lên xe và Thầy là người lên sau cùng. Thầy nhìn các con một lượt và hỏi: “Thầy có một câu đố cho các con, cái gì trắng ở bên ngoài nhưng nâu ở bên trong?”. Các sư em thử đoán xem! Đó chính là… cái xe bus. Bên ngoài nó được sơn màu trắng nhưng bên trong da bọc ghế có màu nâu. Cả xe không ai trả lời được câu đố của Thầy, không ai trong đoàn có đủ chánh niệm lúc đó để nhìn rõ cái xe bus. Thầy thực sự sống rất sâu sắc mỗi giây phút của đời sống.

Thầy luôn cố gắng hết sức để nhắc nhở, dạy dỗ các đệ tử của mình trở về với tự thân, với hơi thở bằng nhiều cách rất khéo và cũng rất vui.

BBT: Thưa sư cô, có khi nào sư cô cảm thấy Thầy dạy mình đúng theo cách của một Thiền sư không? Chúng con thường hay nghe kể rằng Thầy hay dạy quý thầy khá mạnh nhưng nhẹ nhàng với quý sư cô?

Đúng là như vậy, Thầy thường nhẹ nhàng hơn với quý sư cô. Chị cũng từng bị Thầy rầy nhưng đó là sau này khi chị đã lớn hơn, chứ không phải trong thời gian còn là sadi. Thầy biết lúc đó chị còn yếu, nếu bị Thầy la mạnh chắc chị không chịu nổi! (cười)

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã giữ tâm bồ đề của mình như thế nào? Đã có khi nào sư cô nghĩ tới chuyện rời khỏi tăng thân chưa?

Chưa. Mình không bao giờ chắc chắn được về bản thân mình. Chị thường cố gắng không nói không bao giờ. Đó thực sự là một cách để thử bản thân. Những thử thách luôn đến từ bên trong. Chị luôn thận trọng khi trả lời câu hỏi này. Câu trả lời của chị là: Chưa, chị chưa khi nào nghĩ tới chuyện rời bỏ tăng thân.

Năm năm đầu tiên sau khi xuất gia quả thật là khó khăn đối với chị. Chị nhận ra rằng những khó khăn đó đến là vì chị đã không thực sự bám vào sự thực tập. Chị để cho tâm mình luôn chạy hết chỗ này tới chỗ khác. Sau năm năm, chị có thêm nhiều không gian bên trong và bắt đầu liên hệ được với mọi người.

Chìa khóa ở đây là sự thực tập chánh niệm. Nếu mình có đủ chánh niệm, mình có thể nhìn thấy mình rõ hơn: nhìn ra cách mình suy tư, hành xử, nói năng. Khi nhìn ra được thì mình có thể chuyển hóa được.

BBT: Thưa sư cô, có câu “thần chú” nào giúp sư cô dừng lại tâm mình khi nó chạy rất nhanh hoặc muốn chạy trốn không?

Chị thực tập thiền hành mỗi ngày sau bữa ăn trưa. Mình phải chọn một sự thực tập và thực sự để hết lòng mình vào sự thực tập ấy cho tới khi nắm vững nó. Thầy hay nói: “Thầy cho rất nhiều nhưng các con nhận chẳng bao nhiêu”, “Thầy nạo xương tủy của Thầy ra để cho các con”. Điều đó có nghĩa là mình chưa thực sự để hết năng lượng, cố gắng của mình vào sự thực tập.

Hãy chọn thực tập một thứ thôi, như là thực tập không nói trong khi đi, nhưng phải thực sự thực tập hết lòng. Các sư em hãy thử đi. Đối với chị cách thực tập này đã giúp chị rất nhiều trong việc chuyển hóa tự thân vì nhờ đó mà chị có khả năng chú tâm, chị có thể nhìn ra được cách tâm mình vận hành, những thói quen của nó và từ đó chị mới có thể chuyển hóa được nó.

Trong quá khứ, ai vắng mặt thiền tọa hoặc thiền hành ba lần mà không có lý do chính đáng sẽ phải ra sám hối trước đại chúng. Điều này cũng giúp rất nhiều cho sự thực tập. Khi mình ở trong một tăng thân nhỏ, đại chúng sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình ngay. Với đại chúng khoảng 70 người như hiện nay ở xóm Mới, sẽ khó nhận ra sự vắng mặt của ai đó hơn. Vì vậy, mình càng phải ý thức thực tập hơn. Đó chính là công phu của mình. Nếu mình không hạ thủ công phu, không giữ nề nếp thực tập mỗi ngày, thời gian trôi qua rất nhanh, mình sẽ không có nền tảng gì hết và mình sẽ gặp khó khăn. Thầy hay nói: “Đừng có thực tập sơ sơ hay thực tập ngoài da”.

Tưởng tượng rằng mình đang bị chìm trong nước, nếu ai đó ném cho mình một cái phao thì mình sẽ ngay lập tức bám chặt lấy nó, vì đó là vấn đề sống hay chết, không phải chuyện đùa. Các sư em hãy nghĩ về chuyện thực tập hơi thở ý thức với tinh thần như vậy. Đã bao lần Thầy bệnh nặng, thập tử nhất sinh nhưng nhờ vào hơi thở Thầy đã qua được. Cho nên, hãy chọn một sự thực tập và đầu tư hết mình vào đó, thật sự đặt hết sinh lực của mình vào đó.

Chị nghĩ rằng chị đã có những thói quen tốt là nhờ được sống gần Sư cô Chân Đức trong ba năm đầu khi chị còn là sadi. Đó thực sự là một may mắn lớn. Sư cô rất kỷ luật và nghiêm túc trong sự thực tập. Sống cùng Sư cô một thời gian đã giúp chị dần hình thành thói quen không bỏ thời khóa. Chị tham gia đều đặn mọi thời khóa hàng ngày của tăng thân, trừ những khi bị bệnh. Khi mình mới xuất gia mình còn có rất nhiều tập khí, nó mạnh hơn ước muốn thực tập của mình. Đi theo thời khóa đều đặn, từ từ kỷ luật sẽ được hình thành và mình sẽ có được sự điều độ trong mọi thứ, giờ ăn thì mình ăn, giờ thiền hành thì mình thiền hành, giờ ngủ thì mình ngủ, giờ để thực tập yên lặng thì mình yên lặng,… Thực tập đúng giờ nào việc nấy, sự điều độ và kỷ luật sẽ được hình thành.

Nếu cứ sống theo ý thích của mình thì dù sống nhiều năm trong tăng thân mình cũng không rèn được tính kỷ luật và nếu không có kỷ luật, các tập khí rất khó để được chuyển hóa.

Rất nhiều sư cô muốn học cách để quản lý thời gian của mình tốt hơn. Cách hay nhất là chỉ cần theo đúng thời khóa. Nếu mình có thể theo thời khóa thì mình sẽ biết cách để sử dụng thời gian của mình hay hơn.

 

 

 

BBT: Chúng con rất hạnh phúc và biết ơn sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

Nụ cười tỏa chiếu niềm tin

(Phỏng vấn sư cô Thuận Nghiêm)

Sư cô Thuận Nghiêm xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, nước Pháp, trong gia đình Cây Bông Sứ. Sư cô đã có nhiều năm gắn bó với Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) ở Hong Kong. Từ mùa xuân năm 2019, sư cô đã về nhập chúng xóm Mới (Làng Mai – Pháp) và tiếp tục hiến tặng rất nhiều tiếng cười, niềm vui cho mọi người, đặc biệt là các sư em nhỏ. Nhân dịp này, Ban biên tập đã có buổi trò chuyện với sư cô về hành trình tâm linh cũng như những kỷ niệm của buổi ban đầu sư cô đến với đời sống xuất sĩ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

BBT: Thưa sư cô, điều gì đã đưa sư cô từ Mỹ qua tới Pháp để trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai? Điều gì gây ấn tượng nhiều nhất khi sư cô tới Làng Mai lần đầu tiên?

Năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp ở Mỹ. Mẹ của Thuận Nghiêm (TN) nói: “Con chở mẹ tới nghe buổi pháp thoại công cộng của Thầy”. Địa điểm diễn ra buổi pháp thoại rất gần nhà TN ở Virginia. Vì mẹ rất muốn nghe Thầy giảng nên TN đồng ý lái xe đưa mẹ đi.
Thầy thuyết pháp tại giảng đường của một trường trung học cho khá nhiều người nghe. Trước đó TN chưa bao giờ nghe nói tới Thầy. Hôm đó, TN chỉ nhớ Thầy nói về phòng thở và thấy điều đó chẳng hứng thú gì mấy và cũng không thực tế cho lắm, ít người có thể thực sự làm được.
 
TN nói với mẹ là chị muốn đi về nhưng mẹ trả lời: “Được, con cứ về nhưng mẹ sẽ ở lại”. Lúc ấy mẹ TN đã là một sư cô rồi, xuất gia với Sư Ông Trúc Lâm. Vậy nên cuối cùng TN cũng đành ở lại. Cuối buổi pháp thoại, thấy có một bàn đầy những sách của Thầy. Mẹ nói với TN: “Đường xưa mây trắng là cuốn sách rất hay, con nên đọc nó”. TN trả lời: “Con không đọc đâu. Cuốn đó dày quá”. “Vậy con thỉnh cuốn đó cho mẹ được không? Mẹ muốn đọc nó”.TN nghĩ mẹ đã cố gắng tạo mọi điều kiện cho TN được gặp Pháp, được gặp Thầy.
 
TN đã thỉnh cuốn sách về nhà nhưng không đọc ngay, vì vào những ngày cuối tuần TN thường đi chơi với các bạn.TN thích đi xe đạp lắm. Lúc đó, chị làm việc ở Washington DC nơi có rất nhiều những tượng đài lớn, mỗi đời Tổng thống đều có một tượng đài khác nhau! Trong thành phố cũng có nhiều công viên rất đẹp, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa anh đào nở. Nước Nhật đã tặng cho thủ đô Washington rất nhiều cây anh đào. Cuối tuần nào TN cũng đạp xe với bạn bè, đâu còn thì giờ để đọc sách. Cho đến một lần, tất cả đám bạn đều đi nghỉ lễ hết, chỉ còn mình TN ở nhà. Lúc đó, TN mới bắt đầu đọc cuốn sách. Khi đã cầm tới nó, thì không thể để nó xuống được nữa. TN đọc một mạch tới hai giờ sáng. TN nghĩ trong lòng: “Có một cách sống khác, đơn giản nhưng quả thật rất có ý nghĩa”.
 
Thầy đã viết cuốn sách này thật hay. TN nghĩ bụng có lẽ khi nào đó sẽ đi du lịch ở châu Âu và sẽ dừng chân ở Làng Mai để “mục sở thị”cuộc sống ở đó. Và rồi mùa hè tiếp theo – hè 1999 – TN đã tới Làng Mai. Khi chị tới nơi, ở Làng gần như chẳng có ai. Thầy đã đưa một phái đoàn đi hoằng pháp ở Trung Quốc. Người đầu tiên TN được gặp là sư cô Phúc Nghiêm và sư chú Pháp Bảo. TN tới vào thứ Bảy, hôm sau là ngày Phật đản. Thầy đã đưa hầu hết các vị xuất sĩ Tây phương đi cùng trừ sư chú Pháp Bảo vì sư chú vừa mới xuất gia. TN rất ấn tượng với buổi lễ mừng Phật đản, giản dị nhưng vô cùng cảm động và hoàn toàn khác với những nghi lễ mà TN đã thấy trong các chùa truyền thống.
 
TN chỉ ở lại Làng hai đêm ba ngày. Trước khi rời Làng, TN đã hỏi: “Ở đây quý thầy, quý sư cô được xuất gia như thế nào?”. Khi đặt câu hỏi này, TN cũng thực sự ngạc nhiên với chính mình. Cuộc sống của TN trước khi tới Làng vốn cũng đơn giản. Khi nhìn thấy cách sống đơn sơ và mộc mạc ở Làng TN cảm thấy như về đến nhà. Vào thời điểm đó, TN chẳng có chút ý niệm nào về cứu độ chúng sanh, cũng chưa có một tâm bồ đề dũng mãnh hay điều gì đó tương tự. TN chỉ muốn sống một đời sống đơn giản.
 
TN về lại Mỹ, sắp xếp mọi thứ và chỉ khoảng năm tháng sau TN đã quay lại Làng xin được xuất gia. Rất nhanh chóng! Khi còn ở Mỹ TN có viết một bức thư hết sức buồn cười cho Thầy. TN viết: “Kính gửi Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Con đã đến Làng Mai, Hòa thượng không có ở đó nhưng con đã gặp tăng thân của Hòa thượng và con muốn đến đó sống, con không biết làm sao để được chấp nhận”. Thầy dạy Sư cô Chân Không viết thư trả lời.
 
Trong thư, Sư cô viết: “Con hãy thu xếp mọi việc rồi tới đây”. Khi TN trở lại Làng, Sư cô nói với TN: “Con là trường hợp dễ nhất. Sư cô không cần phải thuyết phục con gì hết. Con đã tự mình đến”. Lúc đó là vào tháng 12 năm 1999. TN quyết định tới Làng trước năm 2000, vì xung quanh ai cũng nói tới sự cố máy tính đầu thiên niên kỷ mới. TN sợ rằng nếu có chuyện xảy ra, hệ thống máy điện toán bị sụp thì mọi thứ có thể bị ngưng trệ hay trì hoãn. Thế nên, TN quyết định phải đến Làng trước năm 2000! TN đã tới Làng như vậy đó!
 
 
 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô có thể kể cho chúng con về thời sadi của sư cô không? Điều gì khó khăn nhất với sư cô trong giai đoạn này, khi sư cô mới vào chùa? Sư cô đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Sống cùng và chia sẻ phòng với người khác là điều khó khăn nhất với TN. TN đã quen sống một mình và có phòng riêng. Điều gì đã giúp TN vượt qua thử thách này? TN nghĩ rằng nhớ lại tâm ban đầu đã giúp TN rất nhiều. Trước khi xin xuất gia, TN phải viết xuống những tâm nguyện của mình. TN đã viết: “Con muốn sống hòa đồng với mọi người”. Đó là nguyện ước duy nhất của TN. TN nghĩ chắc Thầy sẽ cho chị cái tên Đồng Nghiêm. Nhưng cuối cùng lại được mang tên Thuận Nghiêm. Có lần Thầy hỏi TN: “Con có biết vì sao thầy đặt tên con là Thuận Nghiêm không?”. TN trả lời Thầy: “Thưa Thầy, con không biết”. Thầy nói: “Chẳng lẽ thầy đặt tên con là Nghịch Nghiêm?”. TN đã phá lên cười và Thầy cũng cười khi thấy TN phản ứng lại với câu hỏi của Thầy.
 

BBT: Ngoài khó khăn trong chuyện ở chung, sư cô còn gặp những trở ngại nào khác không?

Có chứ, thức ăn! Trước khi xuất gia, TN không hề ăn chay. Trong quá khứ, thông thường sau khi xuất gia mình sẽ không ra khỏi tu viện trong vòng một năm. Thầy dạy rằng mình cần ở trong tu viện vì như vậy sẽ giúp bảo hộ sáu căn dễ hơn. Khi TN mới xuất gia, ở Làng còn rất ít người. Có lần sư cô Thoại Nghiêm cần TN làm đệ nhị thân cho sư cô đi chợ ở Ste Foy la Grande. Chỗ ấy có tiệm bán gà nướng! Khi đi qua đó, TN thèm ăn thịt kinh khủng. TN chỉ muốn mua nguyên cả con gà, chứ không chỉ một miếng, và ngồi xuống ăn hết ngay tại chỗ. Mùi thịt nướng thật không thể chịu nổi. Sư cô Thoại Nghiêm phải nói với TN: “Mình đi thôi, sao sư em cứ đứng đó hoài vậy?”. Khi mình không thấy thì không thèm. Không phải ra ngoài nhiều quả thật đã giúp TN rất nhiều. Tuy vậy, cơ thể TN cũng mất cả năm để thích nghi với chế độ ăn chay.
 

BBT: Xin sư cô chia sẻ với chúng con một vài kỷ niệm với Thầy mà sư cô ấn tượng nhất?

Khi TN mới xuất gia, tăng thân của mình chưa lớn như bây giờ. Thầy thường hay mời các sư con tới thiền trà cùng. Một lần sau bữa tối, chuông điện thoại reo, giọng Thầy ở điện thoại: “Các con tới chơi với Thầy”. Khi mọi người tới là khoảng 7 hay 8 giờ tối. Tất cả cùng ngồi chừng hai tiếng chờ ngắm hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh thường nở lúc 10 hay 10 giờ 30 đêm. Chậu hoa được đặt ở giữa phòng Thầy, mọi người ngồi xung quanh. Thầy rót trà mời mỗi người rồi nói: “Con hát đi”. Thầy nói như vậy với TN tới ba lần nhưng TN bướng bỉnh không chịu hát. Thế là Thầy hát. Thầy hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Thầy học ở trường mẫu giáo. Thường thì mỗi khi Thầy mời ai hát, Thầy sẽ chuẩn bị sẵn bài hát của mình. Người được mời hát trước rồi Thầy sẽ hát sau. Riêng với trường hợp của TN, chị không hát bài nào vì thực sự là trước khi xuất gia TN chẳng bao giờ hát.
 
Một bữa khác, sư cô Diệu Nghiêm (sư cô Jina) đem trà đen từ Ái Nhĩ Lan về. Thầy pha trà và chuẩn bị rót vào ly cho mỗi người. TN biết đó là trà đen, rất đậm, mà lúc đó đã là buổi tối rồi. TN nhìn Thầy đang rót trà và thưa: “Bạch Thầy, con không uống trà”. Thầy nhìn TN nói: “Ngồi yên đi con, đây là thất Ngồi Yên”. Rồi Thầy đưa ly trà cho TN. Uống hết ly trà, TN thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con có thể xin thêm một ly nữa được không ạ?”.
 

BBT: Thưa sư cô, chúng con biết là Thầy luôn quan tâm chăm sóc mỗi đệ tử của mình. Khi sư cô có dịp được đi cùng Thầy trong những chuyến hoằng pháp, sư cô được Thầy chăm sóc như thế nào?

Trong cuốn Tay thầy trong tay con – cuốn sách tập hợp những bức thư Thầy viết cho đệ tử – có một đoạn Thầy viết về cách mình thực tập khi đi ra ngoài. Mỗi khi đứng đợi làm thủ tục check-in ở sân bay Thầy luôn đi qua đi lại nhắc nhở: “Các con, mình đang check-in nhưng nhớ là mình cũng đang thở”. Trước khi lên máy bay, trong phòng chờ, Thầy luôn ngồi ở hàng ghế đầu để anh chị em có thể nhìn thấy Thầy dễ dàng. Thấy Thầy là ai cũng nhớ để trở về với hơi thở. Đó là cách Thầy nhắc nhở đệ tử. Lúc ấy, mới là một sadi, TN không thấy được điều đó, chưa có nhiều chánh niệm. Nhưng bây giờ, TN nhớ lại hết những điều này. Cách Thầy dạy học trò của mình là như vậy đó, khi thì bằng lời nói, khi thì bằng thân giáo của Thầy. Thầy luôn là người lên máy bay cuối cùng để đảm bảo là ai cũng đã lên máy bay rồi.
 
Trong một chuyến hoằng pháp, tăng thân đi từ miền Nam Cali lên miền Bắc bằng xe bus. Trong 6 giờ đồng hồ trên xe đại chúng hát thiền ca. Trước khi xe chuyển bánh, Thầy là người lên cuối cùng. Thầy cười và nói: “Chúng ta đang làm công việc của Bụt, các con mời Bụt trong mình lên thở và có mặt với mình trong xe”. Rồi chuông được thỉnh lên. Boong, boong… Thầy luôn tận dụng mọi cơ hội để nhắc đại chúng trở về với sự thực tập chánh niệm.
 
Lần khác, sau khi kết thúc một khóa tu ở Colorado, đại chúng lấy xe bus để đi tới điểm mình sẽ đi dã ngoại. Ai cũng đã lên xe và Thầy là người lên sau cùng. Thầy nhìn các con một lượt và hỏi: “Thầy có một câu đố cho các con, cái gì trắng ở bên ngoài nhưng nâu ở bên trong?”. Các sư em thử đoán xem! Đó chính là… cái xe bus. Bên ngoài nó được sơn màu trắng nhưng bên trong da bọc ghế có màu nâu. Cả xe không ai trả lời được câu đố của Thầy, không ai trong đoàn có đủ chánh niệm lúc đó để nhìn rõ cái xe bus. Thầy thực sự sống rất sâu sắc mỗi giây phút của đời sống.
 
Thầy luôn cố gắng hết sức để nhắc nhở, dạy dỗ các đệ tử của mình trở về với tự thân, với hơi thở bằng nhiều cách rất khéo và cũng rất vui.
 

BBT: Thưa sư cô, có khi nào sư cô cảm thấy Thầy dạy mình đúng theo cách của một Thiền sư không? Chúng con thường hay nghe kể rằng Thầy hay dạy quý thầy khá mạnh nhưng nhẹ nhàng với quý sư cô?

Đúng là như vậy, Thầy thường nhẹ nhàng hơn với quý sư cô. TN cũng từng bị Thầy rầy nhưng đó là sau này khi đã lớn hơn, chứ không phải trong thời gian còn là sadi. Thầy biết lúc đó TN còn yếu, nếu bị Thầy la mạnh chắc không chịu nổi! (cười)
 

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã giữ tâm bồ đề của mình như thế nào? Đã có khi nào sư cô nghĩ tới chuyện rời khỏi tăng thân chưa?

Chưa. Mình không bao giờ chắc chắn được về bản thân mình. TN thường cố gắng không nói không bao giờ. Đó thực sự là một cách để thử bản thân. Những thử thách luôn đến từ bên trong. TN luôn thận trọng khi trả lời câu hỏi này. Câu trả lời của TN là: Chưa, chị chưa khi nào nghĩ tới chuyện rời bỏ tăng thân.
 
Năm năm đầu tiên sau khi xuất gia quả thật là khó khăn đối với TN. Nhận ra rằng những khó khăn đó đến là vì TN đã không thực sự bám vào sự thực tập. TN để cho tâm mình luôn chạy hết chỗ này tới chỗ khác. Sau năm năm, TN có thêm nhiều không gian bên trong và bắt đầu liên hệ được với mọi người.
 
Chìa khóa ở đây là sự thực tập chánh niệm. Nếu mình có đủ chánh niệm, mình có thể nhìn thấy mình rõ hơn: nhìn ra cách mình suy tư, hành xử, nói năng. Khi nhìn ra được thì mình có thể chuyển hóa được.
 

BBT: Thưa sư cô, có câu “thần chú” nào giúp sư cô dừng lại tâm mình khi nó chạy rất nhanh hoặc muốn chạy trốn không?

TN thực tập thiền hành mỗi ngày sau bữa ăn trưa. Mình phải chọn một sự thực tập và thực sự để hết lòng mình vào sự thực tập ấy cho tới khi nắm vững nó. Thầy hay nói: “Thầy cho rất nhiều nhưng các con nhận chẳng bao nhiêu”, “Thầy nạo xương tủy của Thầy ra để cho các con”. Điều đó có nghĩa là mình chưa thực sự để hết năng lượng, cố gắng của mình vào sự thực tập.

 
Hãy chọn thực tập một thứ thôi, như là thực tập không nói trong khi đi, nhưng phải thực sự thực tập hết lòng. Đối với TN cách thực tập này đã giúp TN rất nhiều trong việc chuyển hóa tự thân vì nhờ đó mà TN có khả năng chú tâm, có thể nhìn ra được cách tâm mình vận hành, những thói quen của nó và từ đó TN mới có thể chuyển hóa được nó.
Trong quá khứ, ai vắng mặt thiền tọa hoặc thiền hành ba lần mà không có lý do chính đáng sẽ phải ra sám hối trước đại chúng. Điều này cũng giúp rất nhiều cho sự thực tập. Khi mình ở trong một tăng thân nhỏ, đại chúng sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình ngay. Với đại chúng khoảng 70 người như hiện nay ở xóm Mới, sẽ khó nhận ra sự vắng mặt của ai đó hơn. Vì vậy, mình càng phải ý thức thực tập hơn. Đó chính là công phu của mình. Nếu mình không hạ thủ công phu, không giữ nề nếp thực tập mỗi ngày, thời gian trôi qua rất nhanh, mình sẽ không có nền tảng gì hết và mình sẽ gặp khó khăn. Thầy hay nói: “Đừng có thực tập sơ sơ hay thực tập ngoài da”.
 
Tưởng tượng rằng mình đang bị chìm trong nước, nếu ai đó ném cho mình một cái phao thì mình sẽ ngay lập tức bám chặt lấy nó, vì đó là vấn đề sống hay chết, không phải chuyện đùa. Hãy nghĩ về chuyện thực tập hơi thở ý thức với tinh thần như vậy. Đã bao lần Thầy bệnh nặng, thập tử nhất sinh nhưng nhờ vào hơi thở Thầy đã qua được. Cho nên, hãy chọn một sự thực tập và đầu tư hết mình vào đó, thật sự đặt hết sinh lực của mình vào đó.
 
TN nghĩ rằng TN đã có những thói quen tốt là nhờ được sống gần Sư cô Chân Đức trong ba năm đầu khi TN còn là sadi. Đó thực sự là một may mắn lớn. Sư cô rất kỷ luật và nghiêm túc trong sự thực tập. Sống cùng Sư cô một thời gian đã giúp TN dần hình thành thói quen không bỏ thời khóa. TN tham gia đều đặn mọi thời khóa hàng ngày của tăng thân, trừ những khi bị bệnh. Khi mình mới xuất gia mình còn có rất nhiều tập khí, nó mạnh hơn ước muốn thực tập của mình. Đi theo thời khóa đều đặn, từ từ kỷ luật sẽ được hình thành và mình sẽ có được sự điều độ trong mọi thứ, giờ ăn thì mình ăn, giờ thiền hành thì mình thiền hành, giờ ngủ thì mình ngủ, giờ để thực tập yên lặng thì mình yên lặng,… Thực tập đúng giờ nào việc nấy, sự điều độ và kỷ luật sẽ được hình thành.
 
Nếu cứ sống theo ý thích của mình thì dù sống nhiều năm trong tăng thân mình cũng không rèn được tính kỷ luật và nếu không có kỷ luật, các tập khí rất khó để được chuyển hóa.
Rất nhiều sư cô muốn học cách để quản lý thời gian của mình tốt hơn. Cách hay nhất là chỉ cần theo đúng thời khóa. Nếu mình có thể theo thời khóa thì mình sẽ biết cách để sử dụng thời gian của mình hay hơn.
 
 

 

 

BBT: Chúng con rất hạnh phúc và biết ơn sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

Chương trình cứu trợ lũ lụt-Hoa Yêu Thương

Với tấm lòng của các vị thân hữu xa gần đã cúng dường tịnh tài tịnh vật để chương trình Hoa Yêu Thương thay mặt quý vị có thể mang những món quà tình thương này đến với đồng bào vùng lũ. Thời gian vừa qua, chương trình đã tiếp cận được với đồng bào một số vùng ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Kính mời đại chúng trở về với hơi thở ý thức, buông thư, thiết lập năng lượng bình an và vững chãi để có mặt đồng hành cùng đoàn cứu trợ Hoa Yêu Thương đến với đồng bào qua những khoảnh khắc dưới đây:

 

Hoa yêu thương giữa vùng bão lũ

 

Tình thương lên tiếng gọi

Mưa bão liên tiếp từ đầu tháng 10 đã khiến cho người dân các tỉnh miền Trung, đặc biệt là các tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi oằn mình chạy lũ. Hàng trăm ngàn ngôi nhà chìm trong biển nước; nhiều khu vực bị cô lập, chia cắt. Nhà sập, tài sản, lương thực, thực phẩm, vật nuôi, thóc giống không còn. Nhiều gia đình trắng tay, nhiều hộ lâm vào cảnh màn trời, chiếu đất.

Trước tình cảnh đó, ngay từ đầu mùa mưa bão, quý thầy ở chùa Từ Hiếu và quý sư cô Ni xá Diệu Trạm đã cùng với nhau phân chia thành nhiều nhóm, đi đến nhiều nơi ở Huế và Quảng Trị để giúp cho những người dân bị ngập lụt. Đoàn đã tặng 5121 phần quà tại các điểm bị ngập lụt ở Huế và 1875 phần quà tại các huyện Cam Lộ, Triệu Phong và Hải Lăng của tỉnh Quảng Trị.

Sáng ngày 27.10, quý thầy, quý sư cô lại tiếp tục chia làm hai đoàn cứu trợ để đến với bà con ở Quảng Bình và các huyện miền núi ở Quảng Trị. Trước đó một ngày, nghe tin bão số 9 đang đổ bộ vào miền Trung, nhiều người cũng hơi lo ngại và khuyên đoàn nên hoãn chuyến đi cứu trợ. Nhưng rồi quý thầy, quý sư cô vẫn quyết định lên đường, vì biết rằng bà con vùng lũ đang trông chờ hàng cứu trợ mỗi ngày. Khó mấy cũng đến với bà con!

 

 

Nụ cười ta trao cho nhau

Tại Quảng Bình

Đoàn đã đến thăm và tặng quà cho người dân tại các huyện bị ngập nặng nhất của Quảng Bình như Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Minh Hóa, Tuyên Hóa và Lệ Thủy. Mưa lớn kéo dài đã làm cho hàng chục ngàn nhà dân nơi đây ngập sâu trong nước. Ở những nơi này, người dân phải tất tả chạy lũ 3-4 lần trong suốt một tháng. Nước ngập từ 1,5 đến 2m. Có những nơi như xã Tân Hóa (huyện Minh Hóa), toàn bộ nhà dân đều bị ngập lút mái.

Để đến các điểm được coi là “rốn lũ” như xã Tân Hóa, xã Quảng Minh, đoàn phải đi bằng thuyền để đem quà cứu trợ đến cho người dân nơi đây. Nước lũ chảy xiết khiến cho một chiếc thuyền chở hàng cứu trợ của đoàn (gồm gạo và các nhu yếu phẩm) suýt bị đắm.

Khó khăn là vậy nhưng điều làm cho các thành viên trong đoàn cảm thấy ấm lòng là hình ảnh bà con hết lòng phụ giúp quý thầy, quý sư cô bốc vác hàng từ thuyền lên bờ rồi chuyển đến các điểm để phát quà. Các o, các dì với thân hình nhỏ nhắn như vậy mà ai cũng đòi vác trên mình 2-3 bao gạo, làm cho các thanh niên trong đoàn cũng phải trầm trồ thán phục.

 

 

Đi đến đâu, món quà đầu tiên mà quý thầy, quý sư cô trao cho bà con là nụ cười, là tình thương yêu, là tinh thần lạc quan để vượt qua những khó khăn, mất mát. Thầy Từ Hải nói với bà con: “Mình đã khổ cả đời rồi, bây giờ mình phải cười lên, cười thì mới có sức mà đi qua khó khăn”. Rồi thầy mời các thầy các sư cô trong đoàn hát tặng bà con những bài thiền ca, trong đó có bài Hiểu và Thương:

“Anh em ta từ bốn phương trời
Chị em ta từ khắp năm châu
Không phân biệt màu da tôn giáo
Cùng về đây xây đắp yêu thương…”

 

 

Thầy cũng khuyến khích bà con hãy thương yêu và giữ gìn đất Mẹ bằng những hành động rất nhỏ trong đời sống hàng ngày của mình như hạn chế dùng túi ni-lông, tránh xả rác và cố gắng giữ gìn môi trường sống xung quanh mình.

Thầy Pháp Ứng thì hướng dẫn bà con cùng hát và thở theo bài Thở vào – Thở ra, để tiếp xúc với yếu tố tươi mát, vững chãi, tĩnh lặng và không gian thênh thang trong lòng mình.

 

 

Rất đông bà con ở Quảng Bình là người theo đạo Công giáo, nhưng vẫn thấy rất gần gũi với quý thầy, quý sư cô – những người con Bụt. Niềm vui và tình thương yêu lan tỏa qua những bài hát. Gương mặt ai cũng nở ra như một đóa hoa. Có người đã xúc động chia sẻ: “Con thương quý thầy, quý sư cô quá! Đường xá khó khăn, cách trở như vậy mà quý thầy, quý sư cô vẫn tìm đến với bà con!”. Ở nhiều nơi đoàn đến, khi nhận quà xong, bà con vẫn nán ở lại đến phút cuối cùng để chia tay và nói lời cảm ơn đến quý thầy, quý sư cô.

Ở những huyện miền núi như Tuyên Hóa, Minh Hóa, nhiều tuyến đường bị sạt lở nghiêm trọng. Có những điểm như xã Ngư Hóa (huyện Tuyên Hóa), quý thầy, quý sư cô trong đoàn đã chuẩn bị tinh thần là không thể chuyển quà đến cho bà con vì đường bị sạt lở, xe không vào được. Nhưng thật may mắn là các cán bộ địa phương đã kịp thời cho thông đường để đoàn xe cứu trợ có thể đem quà đến cho người dân nơi đây.

Đoàn cũng đã đến thăm và tặng quà cho đồng bào người Rục ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa – vùng biên giới với Lào. Đến được với đồng bào nơi đây thật là một chặng đường dài. Đoàn phải đi xuồng máy khoảng 2 cây số giữa trời mưa bão. Đồng bào người Rục thì cũng phải đi 7-8 cây số mới đến được điểm tập trung để nhận quà cứu trợ. Tính đến thời điểm đoàn vào, nơi này đã bị cô lập 25 ngày rồi. Rất ít đoàn cứu trợ đến được nơi đây. Quý thầy, quý sư cô phải phát quà giữa trời mưa, chỉ đủ một tấm bạt trải dưới đất để gạo và các nhu yếu phẩm rồi một tấm nữa phủ lên trên che mưa. Khi biết sẽ nhận được gạo, bà con ai cũng rất vui, vì tới thời điểm đó, bà con chỉ nhận được mỳ gói mà thôi. Sau khi tặng quà cho đồng bào tại địa điểm tập trung, quý thầy, quý sư cô nhờ người dân chở bằng xe máy đi khoảng hai cây số đường rừng, sau đó lại qua một chuyến đò nữa mới đến được bản Ón – bản gần nhất mà đoàn có thể đến thăm. Quý thầy, quý sư cô có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về đời sống của đồng bào nơi đây. Đồng bào Rục ở Thượng Hóa vốn sống trong rừng sâu, hang đá chỉ quen với việc săn bắt, hái lượm, rồi được chính quyền địa phương vận động, đưa về địa bàn này định cư. Thế nhưng, trải qua thời gian dài, cuộc sống của người dân vẫn còn rất khó khăn do chưa quen với việc trồng trọt, chăn nuôi. Đoàn đã tặng cho ba gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mỗi hộ 2 triệu đồng.

 

 

Sau sáu ngày liên tiếp, đoàn đã tặng được 10.248 phần quà cho người dân Quảng Bình. Trung bình mỗi phần quà trị giá 485.000 đồng (gồm 200.000đ tiền mặt cùng với gạo và một số nhu yếu phẩm khác):

– Huyện Quảng Ninh: 2.577 phần quà + 8 trường hợp đặc biệt

– Huyện Quảng Trạch: 1.027 phần quà. Đoàn có ghé thăm Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần và tặng các bệnh nhân nơi đây 10 triệu đồng cùng với gạo và một số thực phẩm khác.  

– Huyện Bố Trạch: 172  phần quà + 1 trường hợp đặc biệt

– Huyện Minh Hóa: 1.502 phần quà + 3  trường hợp đặc biệt

– Huyện Tuyên Hóa: 2.244 phần quà

– Huyện Lệ Thủy: 2.626 phần quà + 25 trường hợp đặc biệt      

Ngoài ra đoàn còn đến thăm và tặng thêm cho 37 hộ gia đình gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mỗi hộ 2 triệu đồng.

Tại Quảng Trị

Ngày 29.10 – Sau hai ngày mưa bão tưởng không thể di chuyển được, cuối cùng đoàn cứu trợ do quý thầy chùa Từ Hiếu và quý sư cô Ni xá Diệu Trạm tổ chức đã có mặt tại hai huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị: huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa. Tại hai huyện này, mưa lớn khiến nước sông dâng cao gây chia cắt, cô lập nhiều thôn, xã trên địa bàn. Đoàn đã tặng 1000 phần quà tại 3 xã: Đakrông (400 phần), Mò Ó (200 phần) và Hướng Hiệp (400 phần). Mỗi phần quà gồm 200.000 đ tiền mặt, 1 bao gạo (12,5 kg) cùng với chăn, sữa, thuốc, quần áo ấm cho trẻ con. Ngoài ra, đoàn còn hỗ trợ cho 8 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Ngày 30.10 – Đoàn đến thăm bốn xã A Bung, A Vao, A Ngo và Tà Rụt của huyện Đakrông. Bốn xã này là vùng bị sạt lở nặng nhất và hoàn toàn bị cô lập. Rất ít đoàn cứu trợ tiếp cận được vùng sâu này. Khi đoàn đến thì đường vẫn sạt lở và khá nguy hiểm. Người dân nơi đây hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số như Vân Kiều, Pa kô, Tà Ôi… Đại đa số là hộ nghèo, đời sống của đồng bào nơi đây còn rất nhiều khó khăn. Đoàn đã tặng 2000 phần quà cho người dân của bốn xã; ngoài ra còn hỗ trợ cho 10 gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Ngày 31.10 – Đoàn tiếp tục hành trình đến các xã vùng sâu của huyện Đakrông: xã Húc Nghì, Ba Nang và thị trấn Krông Klang. Đường đi đến các xã miền núi này thật gian nan, mỗi ngày đoàn phải đi 200 cây số (cả đi lẫn về). Đồng bào đến nhận quà cũng đi một chặng đường dài, cả đi và về phải mất một ngày vì đường núi khó khăn và phải gùi trên vai. Đoàn đã tặng được 1100 phần quà cho đồng bào của ba xã này.

Ngày 1.11 – Đoàn đã tặng 2600 phần quà cho bà con ở bốn xã của huyện Hướng Hóa (xã Ba Tầng, xã Thanh, xã Lìa và xã Hướng Lộc) và bốn trường mầm non của huyện Đakrông.

Ngày 3.11 – Đoàn đã vào được các xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Hướng Hóa như Hướng Linh, Hướng Phùng, Hướng Tân, Húc. Các xã này đang trong tình trạng bị cô lập do lũ quét. Đường vào các xã đã bị sạt lở nặng, rất nhiều cầu và đoạn đường bị lũ cuốn trôi. Đường đi khá nguy hiểm, đoàn phải di chuyển bằng xe ben, nhưng khi thấy gương mặt chờ đợi của đồng bào nơi đây thì mọi mệt mỏi của đoàn đều tan biến. Phải tận mắt chứng kiến mới thấy được sức tàn phá của bão lũ khủng khiếp đến nhường nào. Rất nhiều ngôi nhà bị bão đánh sập hoàn toàn; người dân phải dựng chòi ở tạm trên núi, rất thương tâm. Tại xã Húc, đã xảy ra liên tiếp các vụ sạt lở đất và đã có nhiều người chết. Đoàn đã tặng 1518 phần quà cho 4 xã này cùng với người dân ở thị trấn Khe Sanh. Ngoài ra, đoàn cũng hỗ trợ thêm cho 7 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đoàn cũng tặng 400 phần quà cho người dân của xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong.

Sau năm ngày, đoàn đã tặng tổng cộng 9400 phần quà cho người dân của các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị.

Ấm áp tình người

Chúng tôi rất biết ơn tấm lòng của rất nhiều thân hữu xa gần đã cúng dường tịnh tài, tịnh vật để chúng tôi có thể thay mặt quý vị đem những món quà tình thương ấy đến với đồng bào vùng lũ. Những chiếc chăn, những bộ quần áo cho trẻ em, thuốc men, đèn pin, áo phao, những hộp muối vừng, v.v. chứa đựng biết bao tình thương và tấm lòng san sẻ. Khó khăn, khổ đau của người dân thì ngút ngàn, nhưng tình thương, sự cảm thông, chia sẻ của mọi người từ khắp nơi gửi về sẽ giúp đồng bào miền Trung nguôi ngoai những đau thương và sớm vượt qua những khó khăn hiện tại để sớm ổn định cuộc sống.

 

 

Khi quý vị đọc được những dòng chia sẻ này thì một nhóm quý thầy, quý sư cô đang trên đường đến với đồng bào ở Quảng Nam và Quảng Ngãi. Để tiếp tục đồng hành cùng tăng thân trong hành trình hướng về miền Trung trong mùa bão lũ, xin quý vị gửi về địa chỉ sau:

Cứu trợ lũ lụt miền Trung 2020
 
Nguyễn Thanh Thọ (Thầy Pháp Thăng) – Đoàn Thị Uyên (Sư cô Phát Nghiêm)
Số Tài Khoản: 1017402737
Ngân hàng Vietcombank, Chi nhánh Hùng Vương, Huế, Việt Nam.
Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank)
Swift Code: BFTVVNVX016
Số điện thoại: (+84)848532177

Chúng tôi xin thành kính tri ân.

 

Về các hoạt động cứu trợ của Làng Mai, chúng tôi sẽ đăng chính thức trên Trang nhà Làng Mai và Facebook Làng Mai. Để yểm trợ chương trình, quý vị có thể Share (chia sẻ) bài từ Facebook Làng Mai. Kính cám ơn sự yểm trợ của tất cả mọi người.

 

 

 

 

 

 

 

Nghệ sĩ có thể đóng góp được gì cho cuộc đời?

(Chuyển ngữ từ cuốn sách “Answers from the heart” của Sư Ông Làng Mai)

Thiền sinh hỏi:

Thưa thầy, trong thời đại có nhiều xung đột, bạo động, và tuyệt vọng như hiện nay, các nghệ sĩ như chúng tôi có thể đóng góp và cống hiến được gì để giúp cho cuộc đời?

 

Sư Ông trả lời

Bằng nếp sống hàng ngày, bằng những tác phẩm nghệ thuật, quý vị đang đóng góp cho sứ mệnh thức tỉnh cộng đồng. Vị Bồ Tát là một người tỉnh thức, có chánh niệm, và mang chí nguyện giúp cho mọi người thức tỉnh. Nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn phim, nhà văn, nhà thơ, tất cả đều có thể có chí nguyện trở thành một vị Bồ Tát giúp mọi người thức tỉnh, và giúp cho nhiều người có thể tiếp xúc được với hạt giống của thảnh thơi, bình an, và hạnh phúc trong chính bản thân họ. Và cũng giúp người khác cởi bỏ và chuyển hóa được những hạt giống của kỳ thị, sợ hãi, sân hận và tham đắm. Người nghệ sĩ có thể làm được tất cả những việc đó. Nếu hành động của ta được thúc đẩy bởi chí nguyện giúp đời thì niềm vui và năng lượng của ta sẽ tràn ngập. Khi đó danh vọng, quyền lực sẽ không lôi cuốn được ta. Không có gì có thể so sánh được với niềm vui khi biết rằng sự có mặt của ta trên cuộc đời này thật đẹp và ý nghĩa.

Một hôm tôi gặp một vị học giả Phật giáo tại New York. Tôi nói chuyện với bà ấy về việc thực tập chánh niệm trong khi làm vườn. Mỗi ngày tôi đều dành thời gian để chăm sóc khu vườn với các loại rau thơm, cà chua, xà lách nhiều loại rau khác nữa. Tôi làm vườn với rất nhiều niềm vui và thảnh thơi. Bà ấy nói: “Thầy không nên lãng phí thời gian để trồng rau. Thầy nên dành thời gian để làm thơ. Thơ thầy viết rất hay. Trồng rau thì ai cũng trồng được, nhưng không phải ai cũng làm được thơ hay như thơ của Thầy” Tôi trả lời: “Nếu mà tôi không trồng rau thì tôi sẽ không thể làm thơ được.” Khi đang chăm sóc cho mấy cây rau cải hoặc tưới vườn, tôi không để tâm nghĩ tới việc làm thơ hay viết lách. Tôi  hoàn toàn chú tâm vào việc chăm sóc rau hay tưới vườn. Tôi tận hưởng từng giây phút và làm việc đó trong tĩnh lặng, không suy nghĩ, không để mình bị kéo về quá khứ hay rong ruổi tới tương lai. Ngừng suy nghĩ có rất nhiều lợi lạc. Những tác phẩm nghệ thuật được hình thành từ trong sâu thẳm tâm thức khi mà ta không suy nghĩ gì về nó. Lúc trình bày tác phẩm nghệ thuật chỉ là lúc khai sinh, là lúc ta đưa “em bé” ra đời. Theo tôi thì phải cần một thời gian để em bé nghệ thuật trong ta lớn lên, đạt đến mức toàn diện, và khi đó tác phẩm của ta sẽ chứa đựng tuệ giác, hiểu biết và thương yêu.

Một tác phẩm nghệ thuật có thể giúp mọi người hiểu rõ được bản chất khổ đau của họ, và chứa đựng tuệ giác giúp họ chuyển hóa những hạt giống tiêu cực, nuôi dưỡng và  phát triển những hạt giống tích cực. Viết văn, làm phim, sáng tạo nghệ thuật, có thể là một hành động  yêu thương. Hành động yêu thương ấy nuôi dưỡng chính ta và nuôi dưỡng mọi người. Nếu ta có hạnh phúc, nếu ta biết sống trọn vẹn trong từng giây phút của cuộc sống hàng ngày thì hiểu biết lớn, thương yêu sâu, và niềm an lạc sẽ đến với ta. Tác phẩm nghệ thuật của ta sẽ truyền tải được những thông điệp ấy, và sẽ đi vào lòng người một cách sâu sắc.

 

Lễ giỗ Tổ sư Khương Tăng Hội

Hằng năm, cứ mỗi độ thu về, nhằm ngày rằm tháng chín âm lịch (15/9 AL), anh chị em chúng con thuộc tứ chúng Làng Mai trở về chùa Pháp Vân – Xóm Thượng để cùng có mặt và ôn lại những công hạnh của Sơ Tổ Thiền tông Việt Nam Khương Tăng Hội. Riêng năm nay nước Pháp đang đóng cửa vì Covid nên mỗi xóm đều tổ chức Lễ giỗ tổ tại xóm của mình trong bầu không khí ấm áp và trang nghiêm để cùng tưởng nhớ đến Sư Tổ. Ngày này cũng là ngày giỗ Thân mẫu của Thầy chúng con (Sư Ông Làng Mai).

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ diễn ra tại Xóm Thượng và Xóm Mới.

 

Mùa Thu 2020