Chương 1: Chừng mực với tiếng ồn

 

Suốt ngày ta phải tiếp nhận các thông tin, âm thanh và tiếng ồn liên miên bất tận, trừ khi ta sống một mình trên núi không có điện. Cho dù không có ai nói với ta và ta cũng không đang nghe đài hoặc bất kỳ chương trình truyền thanh nào khác thì cũng có những bảng thông tin, quảng cáo, những cuộc điện thoại, tin nhắn, các loại truyền thông đại chúng, màn hình máy tính, hóa đơn, những tờ rơi, cũng như những ngôn từ và âm thanh từ nhiều phương tiện khác nhau đang cố chen vào đời sống của chúng ta. Đôi khi ở sân bay, ta không thể tìm được một góc nào không có màn hình ti vi đang chiếu ầm ĩ. Buổi sáng của ta trôi qua bằng “tweet[1]”, tin nhắn, trò chơi điện tử và cập nhật thông tin trên điện thoại cầm tay.

Cho dù có những giây phút hiếm hoi không có âm thanh, ngôn từ hay những thông tin đến từ bên ngoài thì đầu óc chúng ta cũng đầy ắp những suy nghĩ liên miên không dứt. Như vậy, nếu có, thì chúng ta có được bao nhiêu phút yên lặng thật sự mỗi ngày?

Yên lặng là một điều thiết yếu.

Chúng ta cần yên lặng như cần không khí, như cây cần ánh sáng.

Nếu tâm trí chúng ta đầy ắp những ngôn từ và suy nghĩ thì chúng ta sẽ không có không gian.

Những người sống trong đô thị sẽ dần trở nên quen thuộc với những tiếng ồn chung quanh như tiếng reo hò, tiếng còi xe hoặc tiếng nhạc ầm ĩ. Tuy nhiên, đôi khi, chính những tiếng ồn không dứt đó là thứ làm cho người ta yên tâm. Tôi biết một vài người bạn, khi đi về những miền quê vào ngày cuối tuần hoặc đến các khóa tu thiền, thấy im lặng thì sợ hãi và không yên được. Họ không thấy an toàn và thoải mái vì họ đã quen với những tiếng ồn liên miên bất tận.

Cây không thể phát triển được nếu không có ánh sáng, người ta cũng không thở được nếu không có không khí. Tất cả mọi thứ sống được đều cần có không gian để trưởng thành và phát triển.

Nỗi sợ im lặng

Tôi có cảm giác rằng nhiều người trong chúng ta rất sợ sự im lặng. Chúng ta luôn luôn tìm kiếm một thứ gì đó như sách báo, âm nhạc, radio, tivi, thậm chí là những suy nghĩ để nhét vào đầu, để lấp đầy không gian trong ta. Nếu biết yên lặng là không gian rất quan trọng cho hạnh phúc của ta thì tại sao ta không kiến tạo thêm những thứ đó cho đời sống của mình?

Một trong những học trò lâu năm của tôi có một người bạn trai rất tử tế, biết lắng nghe và không nói quá nhiều. Tuy nhiên, ở nhà, anh ta luôn luôn phải mở radio hay tivi lên, và lúc nào ngồi ăn sáng cũng có một tờ báo đặt trước mặt.

Tôi biết một người phụ nữ có đứa con gái rất thích đến chùa ngồi thiền, thường động viên  cô đi chung. Người con gái nói với cô: “Dễ lắm Mẹ à. Mẹ không phải ngồi dưới đất đâu, có ghế cho Mẹ ngồi đó. Mẹ không cần phải làm gì hết. Chỉ ngồi yên như vậy thôi.” Người Mẹ đã trả lời rất thật lòng là: “Ôi, Mẹ sợ phải làm chuyện đó lắm.”

Có thể chúng ta cảm thấy cô đơn cho dù có rất nhiều người đang vây quanh ta. Chúng ta cô đơn chung với nhau. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một khoảng trống trong lòng và không thấy thoải mái với khoảng trống đó, cho nên ta cố lấp đầy nó hay tống khứ nó đi. Những phương tiện kỹ thuật cung cấp cho chúng ta những tiện nghi để chúng ta được “kết nối, truyền thông”. Ngày nay, chúng ta luôn luôn “được kết nối”, thế nhưng chúng ta vẫn cảm thấy cô đơn. Chúng ta kiểm tra điện thư (email) và những trang mạng truyền thông xã hội (web) nhiều lần trong ngày. Chúng ta gửi email, gửi hết tin nhắn này đến tin nhắn khác. Chúng ta muốn chia sẻ và muốn tiếp nhận. Chúng ta cố gắng kết nối truyền thông nên bận rộn cả ngày.

Điều gì làm chúng ta quá sợ hãi như vậy? Có thể chúng ta cảm thấy có một khoảng trống trong lòng, một cảm giác trơ trọi, một cảm giác buồn phiền, một cảm giác lăng xăng, dao động. Có thể chúng ta cảm thấy bơ vơ và không được thương yêu. Có thể chúng ta cảm thấy thiếu vắng một thứ gì đó quan trọng. Một số cảm giác này đã có từ rất lâu rồi và chúng luôn luôn hiện diện trong ta, ẩn nấp bên dưới những hoạt động và suy nghĩ của ta. Khi có những thứ khác kích thích, ta dễ dàng quên đi những cảm giác đó. Nhưng khi yên lặng, không có gì đi vào ta thì tất cả những thứ đó sẽ hiển hiện ra, rất rõ ràng.

Thức ăn đầy những kích thích

Tất cả những loại âm thanh xung quanh ta và tất cả những ý nghĩ mà chúng ta cứ quay đi quay lại thường xuyên trong tâm trí có thể được xem như một loại thức ăn. Chúng ta đã quen thuộc với những loại thức ăn đoàn thực – những thức ăn mà chúng ta có thể nhai, nuốt được. Nhưng con người chúng ta tiêu thụ không chỉ loại thức ăn đó. Những gì chúng ta đọc, những cuộc trao đổi, những chương trình tivi, những trò chơi điện tử trên mạng, cũng như những lo âu, suy nghĩ, căng thẳng… đều là thức ăn của chúng ta. Khi chúng ta thấy tâm mình không có đủ không gian cho cái đẹp hoặc cho sự yên lặng thì cũng không có gì đáng ngạc nhiên, bởi vì chúng ta cứ liên tục đưa vào trong mình vô số loại thức ăn khác nhau ấy.

Có bốn loại thức ăn mà người ta đang tiêu thụ mỗi ngày. Đạo Bụt gọi những thức ăn này là Bốn Loại Thực Phẩm. Đó là Đoàn Thực, Xúc Thực, Tư Niệm Thực và Thức Thực (tâm thức cá nhân và tâm thức tập thể).

Đoàn thực, cố nhiên là loại thực phẩm mà chúng ta ăn bằng đường miệng mỗi ngày.

Loại thực phẩm thứ hai là Xúc Thực, là những kinh nghiệm thuộc về cảm giác mà chúng ta tiếp nhận qua mắt, tai, mũi, thân và ý. Loại thực phẩm này bao gồm những gì ta nghe, ta đọc, ta ngửi hoặc xúc chạm, kể cả những cuộc điện thoại, những tin nhắn, tiếng xe bus ngoài đường và những bảng quảng cáo mà ta đọc khi đi ngang qua. Dù cho tất cả những thứ này ta không ăn bằng đường miệng nhưng chúng cũng là những thông tin và ý tưởng đi vào tâm thức ta và ta đang tiêu thụ chúng mỗi ngày.

Loại thực phẩm thứ ba là Tư Niệm Thực. Tư niệm là ý chí, là những quan tâm, mong muốn của ta. Chúng được gọi là thức ăn vì chúng “nuôi” những quyết định, hành động và hoạt động của ta. Nếu không có bất kỳ một ý muốn (tư niệm) nào, không có bất kỳ mong ước làm một việc gì, chúng ta sẽ không cử động được. Đơn giản là ta sẽ héo mòn đi.

Loại thực phẩm thứ tư là Thức Thực. Loại thực phẩm này bao gồm tâm thức cá nhân của ta và cách mà tâm ta nuôi lấy chính nó, nuôi những ý nghĩ và hành động của ta. Thực phẩm này còn bao gồm tâm thức tập thể và cách thức nó ảnh hưởng lên chúng ta.

Tất cả những loại thức ăn này có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh, bổ dưỡng hay độc hại, phụ thuộc vào những gì ta tiêu thụ, số lượng ta tiêu thụ và ý thức về sự tiêu thụ của ta. Ví dụ, thỉnh thoảng chúng ta ăn vặt và những thứ đồ ăn vặt này làm chúng ta bệnh; hoặc khi chao đảo, bấn loạn, chúng ta uống quá nhiều với hy vọng là những thứ này sẽ làm chúng ta khuây khỏa, cho dù sau đó chúng làm cho ta tệ hại hơn.

Chúng ta cũng làm như vậy đối với những loại thực phẩm khác. Đối với Xúc Thực, chúng ta có thể ý thức để mở lên những chương trình lành mạnh, có tính cách giáo dục, nếu không, chúng ta lại chơi những trò chơi điện tử, xem phim, đọc tạp chí, hay tán gẫu để quên đi đau khổ.

Tư Niệm Thực có thể lành mạnh (động lực xây dựng) hoặc không lành mạnh (thèm khát, ám ảnh). Tương tự như vậy, tâm thức tập thể có thể lành mạnh hoặc không lành mạnh.

Hãy nghĩ đến những ảnh hưởng đến từ tâm thức của những nhóm người mà ta đang tiếp xúc và đang sống cùng: nhóm người đó có hạnh phúc, có cảm thông, có biết khích lệ hay không; hay giận dữ, ngồi lê đôi mách, ganh đua, hờ hững…

Mỗi loại thực phẩm đều có ảnh hưởng sâu xa lên chúng ta, do đó, chúng ta phải rất ý thức về những gì mình tiêu thụ và với số lượng bao nhiêu. Sự thức tỉnh chính là chìa khóa bảo vệ cho ta. Không có sự bảo vệ, chúng ta sẽ hấp thụ quá nhiều độc tố. Không nhận ra điều này, con người ta sẽ tràn đầy những âm thanh và tâm thức độc hại, mà chính những thứ này gây bệnh cho chúng ta. Ý thức, chánh niệm cũng giống như một loại kem chống nắng bảo vệ làn da nhạy cảm của các em bé sơ sinh. Không có kem chống nắng, da sẽ bị phỏng và phồng rộp lên. Với sự bảo hộ của chánh niệm, chúng ta có thể an toàn, lành mạnh và chỉ đưa vào những thực phẩm giúp chúng ta phát triển tốt.

Đoàn Thực

Hầu hết chúng ta đều ý thức được thức ăn của chúng ta ảnh hưởng lên sức khỏe của thân và tâm như thế nào. Đồ ăn vặt có thể làm chúng ta cảm thấy mỏi mệt, cáu kỉnh, bồn chồn, tội lỗi, và thường chỉ làm chúng ta thỏa mãn một vài giây phút nào đó thôi. Ngược lại, trái cây và rau quả lại làm chúng ta cảm thấy có sinh lực, lành mạnh và bổ dưỡng. Thông thường, chúng ta ăn một cái gì đó không phải vì đói mà chỉ để khuây khỏa và quên đi những cảm giác không dễ chịu. Giả sử ta đang cảm thấy lo lắng hoặc cô đơn, ta không thích cảm giác này, do đó ta đứng dậy mở tủ lạnh ra và tìm một cái gì đó để ăn. Ta biết rằng ta không đói và ta không cần ăn. Thế nhưng, ta cũng tìm một cái gì đó để ăn, bởi vì ta muốn khỏa lấp cảm giác khó chịu trong lòng.

Khi tổ chức một khóa tu ở bất kỳ trung tâm tu học nào, chúng tôi cũng đều có ba buổi ăn chay mỗi ngày, được chuẩn bị với rất nhiều tình thương và chánh niệm. Ấy vậy mà có những thiền sinh vẫn lo lắng về thức ăn. Có một thiền sinh, lần đầu tiên tới khóa tu, anh ta chỉ nghĩ đến bữa kế tiếp sẽ ăn gì. Vào hai ngày đầu khóa tu, lúc nào anh ta cũng thấy đói, anh ta không thích phải xếp hàng dài để lấy thức ăn. Anh ta lo là sẽ hết thức ăn. Bất kỳ thời khóa nào, anh ta cũng luôn muốn rời sớm hơn giờ kết thúc để có thể xếp hàng đầu tiên lấy thức ăn.

Vào ngày thứ ba của khóa tu, trong nhóm pháp đàm, anh chia sẻ ra được một số cảm giác của anh về cha anh (vừa mới qua đời) và nhận được rất nhiều cảm thông trong nhóm. Sau đó, nhóm của anh ra hơi trễ một chút, nhưng khi đứng vào hàng lấy thức ăn, anh chợt nhận ra là anh không còn lo lắng nữa, anh có cảm giác là sẽ có đủ thức ăn và cảm thấy an ổn.

Xúc Thực

Xúc Thực là những gì mà chúng ta nhận vào qua các giác quan và ý thức. Đó là tất cả những thứ mà chúng ta thấy, ngửi, nghe và xúc chạm. Những âm thanh bên ngoài như những cuộc trao đổi, chuyện trò, giải trí và âm nhạc đều thuộc vào nhóm thức ăn này. Những gì chúng ta đọc, những thông tin chúng ta nghe cũng là một dạng của xúc thực.

Có thể, ảnh hưởng của Xúc Thực lên thân tâm ta còn nhiều hơn Đoàn Thực. Chúng ta có thể cầm một tờ báo lên đọc hoặc vào mạng để xem ảnh và nghe nhạc. Chúng ta muốn kết nối với mọi người, với thế giới và muốn biết tin tức. Ta muốn một sự thoải mái. Đó là những lý do chính đáng để tiêu thụ Xúc Thực, nhưng thường thì mục đích thật sự của chúng ta trong những giờ phút đó chỉ là để trốn chạy chính mình và khỏa lấp những đau khổ trong lòng. Khi chúng ta nghe nhạc, đọc sách hoặc cầm một tờ báo lên, thông thường không phải vì chúng ta cần những hoạt động hoặc thông tin đó. Chúng ta thường làm những điều đó một cách máy móc, có lẽ vì chúng ta đã quen nó, hoặc muốn “giết thời gian” và lấp đầy cảm giác trống vắng khó chịu. Có thể chúng ta làm điều đó để tránh đối diện với chính mình. Nhiều người trong chúng ta sợ phải trở về với chính mình, vì không biết cách xử lý những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Do đó, chúng ta luôn cố tìm kiếm thêm và thêm nhiều những loại thức ăn Xúc Thực để tiêu thụ.

Những gì ta cảm và nhận thức đều là ta. Nếu ta giận dữ thì ta chính là sự giận dữ. Nếu ta thương yêu thì ta là tình thương. Nếu ta ngắm nhìn một ngọn núi tuyết thì ta là núi. Khi ta mơ thì ta là giấc mơ.

Mới đây, một cậu bé đã thú nhận với tôi rằng em chơi trò chơi điện tử ít nhất là tám giờ đồng hồ một ngày. Em không thể dừng lại được. Ban đầu, em chơi chỉ để quên đi những cảm giác buồn chán về cuộc sống khi em cảm thấy những người trong gia đình, trong trường học và trong cộng đồng sinh sống không hiểu em.

Nhưng bây giờ, em đã nghiện trò chơi điện tử. Lúc nào em cũng nghĩ đến nó, cho dù những lúc không chơi. Nhiều người trong chúng ta cũng rơi vào những trường hợp tương tự như vậy, chúng ta cố gắng lấp đầy nỗi cô đơn trống vắng trong lòng bằng những thức ăn Xúc Thực.

Những giác quan của chúng ta là những cánh cửa mở ra thế giới bên ngoài. Nhiều người trong chúng ta đã mở cửa mọi lúc mọi nơi, để cho những hình ảnh, âm thanh của thế giới xâm chiếm ta, thẩm thấu vào ta, hòa trộn khổ đau vào con người của ta vốn đã có nhiều buồn rầu và xáo động. Chúng ta cảm thấy lạnh lẽo, cô đơn và sợ hãi khủng khiếp. Có bao giờ ta xem một chương trình tivi rất kinh khủng mà ta không thể tắt đi không? Những tiếng động chát chúa và những tiếng súng nổ làm chúng ta hoảng loạn, ấy vậy mà chúng ta không chịu đứng dậy để tắt tivi. Tại sao chúng ta lại tra tấn mình bằng cách này? Chúng ta không muốn đóng những cánh cửa giác quan lại cho tâm tư an dịu sao? Có phải ta sợ cô đơn, sợ những khoảng trống vắng và bơ vơ khi phải đối diện với chính mình?

Xem một chương trình truyền hình tệ hại thì chúng ta cũng là chương trình truyền hình đó. Chúng ta có thể trở thành bất cứ thứ gì chúng ta muốn mà không cần đến cây đũa thần.

Nhiều bộ phim được dựng lên bởi những nhà sản xuất thích giật gân, thích gây cảm giác mạnh để dễ kiếm tiền. Những bộ phim làm tim ta đập thình thịch, tay chân co cứng lại, và rồi đưa chúng ta về lại con đường kiệt sức. Tại sao chúng ta lại mở những cánh cửa của mình ra để cho những phim ảnh và chương trình tivi độc hại như thế đi vào người mình?

Những cuộc chuyện trò trao đổi cũng là một loại thức ăn thuộc về Xúc Thực. Giả sử bạn đang nói chuyện với một người đầy cay đắng, đố kỵ hoặc thèm khát. Suốt buổi nói chuyện đó, bạn sẽ nhận vào năng lượng tiêu cực của người ấy. Sự thật là nhiều loại thức ăn thuộc về Xúc Thực mà chúng ta tiêu thụ làm chúng ta tệ hơn, chứ không khỏe mạnh hay tốt đẹp hơn. Chúng ta sẽ suy nghĩ hết cái này đến cái khác rằng mình chưa đủ, rằng mình cần mua thêm thứ này hay thứ kia, hoặc phải thay đổi cái gì đó trong chính mình để làm cho mình khá hơn.

Tuy nhiên, chúng ta luôn có thể lựa chọn để bảo hộ sự bình an của ta. Điều này không có nghĩa là lúc nào ta cũng phải đóng tất cả các cánh cửa lại. Vẫn có rất nhiều điều mầu nhiệm trên thế giới mà chúng ta gọi là “bên ngoài.” Hãy mở cánh cửa của bạn ra cho những điều mầu nhiệm đi vào. Và nhìn chúng dưới ánh sáng của sự tỉnh thức. Cho dù khi ngồi cạnh một dòng suối trong, lắng nghe một bản nhạc hay, hoặc xem một bộ phim hấp dẫn, cũng đừng hoàn toàn giao phó mình cho dòng suối, bản nhạc hoặc bộ phim đó. Hãy tiếp tục ý thức về chính mình và về hơi thở. Khi ánh mặt trời tỉnh thức soi chiếu trong bạn, bạn có thể tránh được hầu hết những hiểm nguy. Bạn sẽ cảm nhận được dòng suối trong xanh hơn, bản nhạc hòa điệu hơn và cảm nhận được tâm hồn của người nghệ sĩ cũng hoàn toàn có mặt trong bộ phim ấy.

Tư Niệm Thực

Tư Niệm Thực là loại thực phẩm thứ ba, là ước muốn, là động lực thúc đẩy ta làm điều gì đó. Nó nuôi ta và dẫn ta tới kết quả. Những huyên náo chung quanh ta, dù là quảng cáo, phim ảnh, trò chơi điện tử, âm nhạc hay những cuộc chuyện trò… đều gửi đến cho chúng ta những thông điệp là chúng ta nên làm gì, chúng ta nên như thế nào, thành công ra sao và trở thành ai. Bởi do tất cả những huyên náo đó mà hiếm khi ta để tâm đến những mong ước đích thực của ta. Chúng ta làm, nhưng không có sự chú tâm, vì không có đủ không gian hoặc sự tĩnh lặng cần thiết.

Nếu không có một mục đích nào để nuôi mình thì ta sẽ như lục bình trôi riu ríu. Có một số người mà tôi chỉ gặp mỗi năm được một lần, nhưng khi tôi hỏi họ đã làm gì trong năm vừa qua thì đa số đều không nhớ được. Đa số chúng ta, có khi cũng để thời gian trôi qua như vậy, ngày này sang ngày khác, tuần này sang tuần kia, thậm chí tháng này sang tháng nọ, như trong một màn sương mù mịt. Đó là vì chúng ta không ý thức được về mục đích của mình trong những ngày tháng đó. Đôi khi mục đích duy nhất của mình chỉ là để sống cho qua ngày.

Bất kể chúng ta làm gì, dù là đi đến tiệm hoa, tiệm sách, gọi điện cho một người bạn, bước một bước chân, hay đi làm việc, trong chúng ta đều có một ý định, một động lực làm chúng ta chuyển động được, cho dù chúng ta có nhận ra điều đó hay không. Thời gian trôi qua rất nhanh, một ngày nào đó, có thể chúng ta sẽ rất ngạc nhiên khi khám phá ra cuộc đời mình đã gần đến chỗ kết thúc và chúng ta không biết mình đã làm được gì với tất cả thời gian sống của mình. Có thể chúng ta đã lãng phí suốt ngày trong sự giận dữ, sợ hãi và ganh tỵ.

Chúng ta ít khi tự tặng cho mình đủ thời gian và không gian để nghiền ngẫm rằng: Mình có đang làm những gì mà mình muốn làm nhất trong đời mình không? Hay mình có biết đó là điều gì chưa? Tiếng ồn trong đầu và xung quanh chúng ta đã át đi những tiếng nhỏ nhẹ bên trong. Chúng ta quá bận rộn làm “gì đó” mà hiếm khi dùng một chút thời gian để nhìn sâu và kiểm lại những ước mong sâu sắc nhất của mình.

Tư Niệm Thực là một nguồn năng lượng mạnh mẽ, hùng hậu. Nhưng không phải Tư Niệm Thực nào cũng xuất phát từ trái tim. Nếu mong muốn của ta chỉ là làm ra một số tiền khổng lồ hoặc có một số lượng người theo dõi trên trang Twitter lớn nhất, thì có thể điều này sẽ không dẫn ta đến một cuộc sống hạnh phúc. Có nhiều người có rất nhiều tiền bạc và quyền lực mà vẫn không hạnh phúc, vẫn cảm thấy cô đơn. Họ không có thời gian để sống đời mình một cách xác đáng. Không ai hiểu họ, và họ cũng không hiểu bất kỳ ai.

Để trải nghiệm trọn vẹn cuộc sống này với tư cách một con người, tất cả chúng ta cần phải tìm cho ra mong ước sâu sắc nhất của mình, để thực hiện những điều lớn lao hơn cái bản ngã cá nhân.

Điều này có thể là động lực mạnh mẽ để thay đổi cách sống của ta, giúp ta tìm được sự lắng dịu từ những tiếng lao xao đầy ắp trong đầu.

Có thể chúng ta sống cả đời để nghe những tiếng nói trong lòng hay tìm kiếm những tin tức bên ngoài mà chưa từng nghe được mong ước sâu sắc nhất của mình. Ta không cần phải là một tu sĩ hoặc một kẻ tử vì đạo để làm điều này. Nếu có đủ không gian và sự yên lặng để lắng nghe kỹ càng chính mình, chúng ta có thể tìm ra trong lòng mình một mong ước mạnh mẽ là giúp đỡ người khác, mang tình thương và từ bi đến cho cuộc đời hoặc tạo ra những chuyển đổi tích cực cho thế giới. Cho dù công việc của ta là gì, cho dù ta có đang lãnh đạo một tập đoàn doanh nghiệp, phục vụ thức ăn, dạy học hay chăm sóc người khác, nếu chúng ta có được một sự hiểu biết rõ ràng, mạnh mẽ về mục đích của mình và sự liên hệ giữa mục đích này với công việc của ta, thì đó có thể là một nguồn vui lớn lao cho đời ta.

Tâm thức cá nhân

Cho dù chúng ta có “nhịn” hết những thức ăn cảm giác, cắt đứt hết những tiếng động bên ngoài và những thông tin đưa vào ta, ta vẫn đang tiếp tục tiêu thụ một nguồn thực phẩm tiềm tàng. Đó chính là tâm thức của ta. Tâm thức này, cùng với tâm thức tập thể, là nguồn thực phẩm thứ tư.

Khi chúng ta hướng sự chú tâm vào những yếu tố tâm thức nào đó thì có nghĩa là chúng ta cũng đang “tiêu thụ” chúng. Giống như đối với những bữa ăn, những gì chúng ta tiêu thụ từ tâm thức mình có thể lành mạnh hay độc hại. Ví dụ, khi chúng ta đang có một suy nghĩ giận dữ, độc ác và chúng ta cứ lặp đi lặp lại suy nghĩ đó trong tâm là chúng ta đang tiêu thụ thức ăn độc hại. Ngược lại, nếu chúng ta ghi nhận những cái đẹp trong ngày, cảm giác biết ơn về sức khỏe của ta và tình thương ta dành cho những người chung quanh, thì chúng ta đang tiêu thụ thức ăn lành mạnh.

Mỗi người trong chúng ta đều có khả năng hiểu biết, thương yêu, từ bi và tha thứ. Nếu ta biết cách gieo trồng những yếu tố này trong tâm thức thì tâm thức có thể nuôi dưỡng ta với loại thức ăn lành mạnh này, làm cho ta cảm thấy rất sung sướng và mang lại lợi lạc cho những người chung quanh. Tuy nhiên, trong tâm thức mỗi người cũng có những hạt giống của ám ảnh, lo lắng, tuyệt vọng, cô đơn và hờn tủi. Nếu ta tiêu thụ những thức ăn Xúc Thực mà làm tăng trưởng những yếu tố tiêu cực này trong tâm thức, như đọc chuyện giật gân, chơi trò chơi điện tử bạo động, dành hết thời gian lên mạng để so đo ganh tỵ với những gì người khác đã làm, hay tham gia vào những cuộc chuyện trò vô bổ, thì sự giận dữ, tuyệt vọng, ganh tị sẽ trở thành những năng lượng lớn mạnh hơn trong tâm thức ta. Như vậy là ta đang gieo trồng loại thức ăn không lành mạnh này vào chính tâm ta. Cho dù sau đó ta có tránh xa những quyển sách hoặc trò chơi điện tử trên máy vi tính, tâm ta vẫn tiếp tục lui tới và tiêu thụ lại những yếu tố độc hại đó từng giờ, từng ngày và từng tuần sau đó, bởi vì ta đã tưới tẩm những hạt giống tiêu cực đó vào trong tâm thức ta.

Có những loài cây có thể làm ta lâm bệnh, như cây độc cần (hemlock) hoặc cây cà độc dược (belladonna). Nếu ăn chúng, ta sẽ bị ngộ độc. Thường thường, người ta không chủ ý trồng những cây này trong vườn. Tương tự như vậy, ta có thể chọn lựa gieo trồng những điều lành mạnh để nuôi dưỡng tâm thức ta, thay vì những thứ độc hại sẽ làm ta tàn hại và khổ đau.

Dù có ý thức hay không thì ta cũng vẫn tiếp tục tưới tẩm cái này hay cái kia trong tâm mình, và chắc chắn chúng ta sẽ tiêu thụ lại sau đó. Những gì ta tưới tẩm và tiêu thụ một cách vô thức có thể hiện lên trong những giấc mơ của ta, biểu hiện qua những điều mà ta buột miệng nói ra trong những cuộc chuyện trò. Và rồi sau đó, ta tự hỏi: “Điều này đến từ đâu trong thế giới này?” Nếu không chú tâm vào những gì ta đang đưa vào trong mình và nuôi dưỡng tâm mình, ta có thể gây ra rất nhiều tổn hại cho chính bản thân và cho các mối liên hệ.

Tâm thức tập thể

Cùng với tâm thức cá nhân, chúng ta còn tiếp nhận tâm thức tập thể (cộng đồng). Cũng giống như Internet được hợp thành từ nhiều trang web cá nhân, tâm thức cộng đồng cũng được hợp thành từ nhiều tâm thức cá nhân. Mỗi tâm thức cá nhân chứa đựng tất cả những yếu tố của tâm thức cộng đồng. Tâm thức cộng đồng có thể thuộc loại hủy diệt, như bạo động của một nhóm người đang giận dữ, hoặc tinh tế hơn là sự thù nghịch của một nhóm người hay chỉ trích, phán xét hoặc mưu mô xảo quyệt. Bên cạnh đó, giống như tâm thức cá nhân, tâm thức cộng đồng cũng có thể có khả năng trị liệu, ví dụ như chúng ta đang cùng với những người bạn dễ thương, những người trong gia đình, hoặc một nhóm người khác, thưởng thức và nhận định những giá trị âm nhạc, nghệ thuật hoặc thưởng ngoạn thiên nhiên. Khi chúng ta sống chung với những người đã cam kết sống cuộc đời hiểu biết, cảm thông và thương yêu, thì chúng ta được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của họ, và những hạt giống hiểu biết, thương yêu trong ta cũng được tưới tẩm. Còn khi chúng ta sống chung với những người mưu mô xảo quyệt, hay than phiền, chỉ trích, thì chúng ta cũng hấp thụ những chất độc hại ấy.

Tôi có một người bạn nhạc sĩ di cư đến California từ khi còn là một thanh niên, và khi về già, anh chọn trở về Việt Nam để sinh sống. Người ta hỏi tại sao anh lại trở về: “Ở California, ông có thể ăn bất cứ thứ gì ông muốn, làm bất cứ điều gì ông thích, bệnh viện cũng rất tốt, đầy đủ những phương tiện y khoa. Ông có thể mua bất cứ nhạc cụ nào ông cần. Ông có tất cả mọi thứ. Vậy tại sao ông chọn trở về Việt Nam?” Ông trả lời:

Ở California, ông sống cùng với những người xa xứ, đầy giận dữ và hận thù, mỗi lần đến thăm ông, họ đầu độc ông bằng sự oán giận của họ. Ông không muốn tiếp nhận thêm những cơn thịnh nộ và cay đắng trong những năm quý giá còn lại của đời ông. Vì vậy, ông phải cố tâm tìm kiếm một nơi để được sống với những người hạnh phúc, biết quan tâm và thương yêu nhau.

Nếu chúng ta sống ở một nơi đầy bạo lực, sợ hãi, giận dữ, tuyệt vọng, chúng ta sẽ tiêu thụ năng lượng tập thể của những giận dữ và sợ hãi này, dù chúng ta không muốn. Nếu chúng ta sống trong một khu vực với những tiếng còi xe hoặc tiếng còi báo động ầm ĩ, chúng ta cũng tiêu thụ năng lượng náo loạn này và trở nên lo lắng. Trừ những hoàn cảnh vượt quá khả năng, bắt buộc ta phải sống trong một khu vực như vậy, chúng ta có thể chọn sống ở những nơi yên tĩnh, có sự yểm trợ của những người chung quanh. Và dù có sống trong một môi trường ồn ào, chúng ta cũng có thể tạo cho mình một hải đảo yên tĩnh. Chính chúng ta là những tác nhân tích cực làm thay đổi cuộc đời của chúng ta.

Nếu ta bắt đầu suy nghĩ cách tạo thêm sự yên tĩnh và không gian cho cuộc sống để có thể nuôi dưỡng niềm vui, thì hãy nhớ rằng, không ai trong chúng ta có thể làm điều đó một mình. Nếu có một môi trường tốt hỗ trợ, chúng ta sẽ làm được và tận hưởng được sự yên tĩnh dễ dàng hơn nhiều. Nếu ta không thể tự dời đến một môi trường yên tĩnh và bình an hơn, thì hãy tiếp cận nhiều với những người có khả năng thúc đẩy một năng lượng tập thể từ bi và bình an. Ý thức chọn lựa những gì và những ai chúng ta gần gũi, sống với, là một trong những chiếc chìa khóa mở ra không gian cho niềm vui và hạnh phúc của chúng ta.

Thực tập: Nuôi dưỡng

Mỗi khi có cảm giác cô đơn và lo sợ, hầu hết chúng ta đều có tập khí tìm một cái gì đó để giải khuây. Điều này dần dần đưa chúng ta đến một hình thức tiêu thụ không lành mạnh, dù chỉ là ăn một bịch bánh snack khi không đói, “lướt” mạng một cách vô thức, hay đọc một thứ gì đó. Vì vậy, để nuôi dưỡng thân tâm bằng chánh niệm, ta phải quay về với hơi thở ý thức. Sau một hoặc hai hơi thở chánh niệm, ta sẽ bớt đi ý muốn tìm cái gì đó để lấp đầy khoảng trống trong lòng hoặc để giải khuây. Thân và tâm ta trở về đoàn tụ với nhau và cả hai cùng được nuôi dưỡng bởi hơi thở chánh niệm. Hơi thở của ta sẽ dần dần êm dịu một cách tự nhiên, những căng thẳng trong thân ta cũng được buông thư.

Trở về với hơi thở ý thức sẽ cho ta cơ hội nghỉ ngơi bổ ích và làm cho chánh niệm của ta lớn mạnh hơn, cho nên khi muốn nhìn sâu vào nỗi lo sợ và những cảm xúc khác, ta sẽ có đủ bình an và định tĩnh để có thể làm chuyện đó.

Từ thời của Bụt đã có thực tập thiền hướng dẫn. Khi ngồi hoặc đi, chúng ta có thể thực tập theo những bài tập sau đây. Khi thiền tọa, điều quan trọng là ta cảm thấy thoải mái, giữ cột sống cho thẳng và thư giãn. Chúng ta có thể ngồi trên một chiếc gối với hai chân bắt chéo nhau, hoặc ngồi trên ghế đặt hai bàn chân chạm đất. Khi thở vào hơi thở đầu, ta nói thầm câu đầu tiên; khi thở ra, ta nói thầm câu thứ hai. Với những hơi thở vào ra tiếp theo, ta có thể chỉ cần sử dụng những từ khóa.

Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

 (Vào/Ra)

 

Thở vào, hơi thở của tôi đã sâu hơn.

Thở ra, hơi thở của tôi đã chậm hơn.

 (Sâu/Chậm)

 

Thở vào, tôi ý thức về thân thể tôi.

Thở ra, tôi làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh.

 (Ý thức về thân/An tịnh)

 

Thở vào, tôi mỉm cười.

Thở ra, tôi buông thư.

 (Mỉm cười/Buông thư)

 

Thở vào, tôi an trú trong giây phút hiện tại.

Thở ra, tôi tận hưởng giây phút hiện tại.

 (Giây phút hiện tại/Tận hưởng)

 

 

[1] Tweet là mẩu tin nhỏ được đăng trên mạng xã hội Twitter. (chú thích của biên tập viên)

Nẻo về tiếp nối đường đi


 Kịch của Sư Ông Làng Mai
sáng tác vào mùa Giáng Sinh 1967 tại New York City.

Vào lúc mười hai giờ rưỡi khuya ngày 5 tháng 7 năm 1967, tại xã Bình Phước, tỉnh Gia Định, năm thanh niên bị một toán người lạ mặt tới dẫn đi và bắn chết trên sông Sài Gòn. Năm người đều là tác viên của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một tổ chức của Giáo Hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất hoạt động thuần túy bất bạo động cho sự hàn gắn thương tích chiến tranh và tái thiết thôn xóm. Họ tên là Hy, Tuấn, Thơ, Lành và Đính. Tuấn là một tu sĩ trẻ tuổi.

Hy, Tuấn, Thơ và Lành chết ngay tại chỗ. Đính chưa chết, nhưng máu ra đẫm ướt hết áo quần, nằm mê man. Toán người lạ tưởng năm người đều đã chết, liền kéo đi. Yên lặng trên sông. Trời có rất nhiều sao, nhưng không có trăng. Bỗng một chiếc thuyền nhẹ nhàng cập bến. Nhất Chi Mai hiện về trên chiếc thuyền. Nhất Chi Mai hiện về với chiếc thuyền con đủ để chở bốn người thanh niên đi. Bốn người thôi, bởi vì Đính, người thứ năm, còn sống và ở lại.

Trời có rất nhiều sao nhưng không có trăng.

Tác giả nói : “Tôi cam đoan rằng câu chuyện tôi viết sau đây là có thật”. Câu chuyện nào có thực? Câu chuyện năm người thanh niên bị một toán người lạ mặt tới dẫn đi và bắn chết trên bờ sông ư? Chuyện này ai lại không biết là có thực mà tác giả phải cam đoan? Tác giả muốn nói : Những gì xảy ra sau đó, “những gì tôi viết sau đây”, là có thực. Chuyện Nhất Chi Mai hiện về với chiếc thuyền, chuyện năm chị em bơi bằng những bàn tay để đưa chiếc thuyền con đi tới.

Có thiệt hay không ai mà biết. Nhưng tác giả đã cam đoan, thì ta hãy tạm nghe tác giả. Chuyện thật giả như thế nào? Tác giả viết : “Tôi còn nhớ khi đặt bút xuống mở đầu câu chuyện, tôi thấy mười bốn con mắt nhìn về phía tôi. Mười bốn con mắt mở to. Tôi nói tôi cam đoan rằng câu chuyện này có thực. Ai có thể chứng được cho tôi?

“Tôi nói có thực tại vì tôi đã sống trong câu chuyện, đã sống trong sự sống của câu chuyện”. Không có khoa học nào hay thước đo nào có thể kiểm chứng được tính cách hiện thực của sự sống trong câu chuyện.

Tình yêu cho ta thấy những sự thực mà kẻ kia, vì không thương yêu, không thể trông thấy.

“Ai đã đi qua và ai còn ở lại? Ta từ đâu tới và sẽ về đâu? Bên đó với bên này là hai hay là một? Có một dòng sông chia ngang hay không ; có một dòng sông mà thuyền bè không thể qua lại – Có thể có một sự chia cách đứt đoạn như thế hay không?

“Xin hãy xuống thuyền. Tôi sẽ cho anh thấy là chúng ta có một dòng sông, nhưng không có một sự chia cách.”

“Xin chớ ngại; tôi sẽ tự tay cầm chèo đưa anh đi thăm. Hãy chèo rất trầm tĩnh và im lặng.”

 

Mai : Để chị ngồi trước mũi thuyền cho. Các em ngồi cho có thăng bằng. Thơ, ngồi tới một chút nữa, gần chị đây. Được rồi, bây giờ các em mỗi em dùng một bàn tay để chèo. Ngồi bên trái thì dùng bàn tay trái, ngồi bên mặt thì dùng bàn tay mặt. Nhè nhẹ chứ, Thơ ; mày làm nước văng ướt cả chị đây này.

Hy : Thuyền đi nhanh quá, phải không chị.

Mai : Tại vì chúng mình nhẹ. Chú Tuấn, chú coi thằng Thơ kìa. Nó bơi liếng thoắng làm cho thuyền chao qua chao lại. Chú mắng nó đi.

Thơ : Em đâu có sợ chú Tuấn chị. Em nghịch ngợm quen mất thói đi rồi, bây giờ chết xuống đây mà vẫn còn nghịch ngợm. Thôi để em ngồi cho nghiêm kẻo chị mắng.

Tuấn : Thơ nó nghịch như vậy nhưng mà dễ thương lắm đó chị. Hồi nó còn sống, em cứ thỉnh thoảng cốc cho nó một cái trên đầu. Chị Chín nói nó là một thằng thông minh. Không biết nó có thông minh thật không, chứ cái đầu của nó rất cứng. Em cốc trên đầu nó mà thấy đau cả ngón tay.

Thơ : Tại vì chú ác cho nên mới bị đau tay. Chớ như chị Mai thì chị có bị đau tay bao giờ đâu, bởi vì chị không có “bạo động” mà cốc lên đầu em như chú. Nào bây giờ cả chú và em đều chết rồi thì khó mà kiểm soát được là tại đầu của em cứng hay là cái tay của chú quá mềm.

Mai : Thôi đừng nói xạo nữa Thơ. Em thông minh đấy. Nhưng em phải ngồi yên kẻo thuyền chòng chành khó chèo lắm. Chúng ta phải đi suốt mười hai giờ đồng hồ mới tới nơi được.

Hy : Đi thăm chị Liên phải không chị.

Mai : Ừ đi thăm Liên và Vui. Vui thì đang làm làng[1] và học vẽ. Còn chị Liên thì đi chơi, đọc Đại Bát Nhã và dạy cho Vui vẽ.

Thơ : Chị Vui chết rồi mà còn làm làng nữa hả chị?

Mai : Ở đâu mà chả có làng. Nhân gian, địa ngục hay thiên đàng gì thì cũng có người. Mà hễ có người là có làng. Vui thì ham làm làng lắm, không làm làng thì không chịu nỗi. Kỳ rồi gặp Vui chị thấy Vui đang dán nhãn hiệu mấy chai meo nấm rơm.

Thơ : (cười khanh khách): Bộ muốn trồng nấm rơm bán cho dân làng hả. Chị Vui đáng lẽ phải đi chơi đây đó cho khuây khỏa. Sống làm làng suốt đời rồi mà chết cũng còn muốn làm làng.

Mai : Vui thì có ham chơi như em đâu. Vui lớn rồi.

Thơ : Bộ chị cho em còn nhỏ lắm hả. Em chỉ nhỏ hơn chị Vui có một hai tuổi gì đó thôi chớ mấy. Em làm làng siêng năng lắm, chớ bộ. Nếu không, sao em lại được bầu làm trại trưởng trại công tác Bình Phước.

Mai: Oai lắm rồi. Ai mà không biết Thơ làm việc giỏi. Nhưng mà dù sao em vẫn chưa chín chắn bằng Vui.

Thơ : Thôi chị cứ coi thường em mãi, em không chịu đâu.

Hy : Thơ, sao cậu cứ “nhỏ em” với chị Mai hoài vậy. Trại trưởng như vậy thì ai phục.

Thơ : Thơ đâu có cần ai phục. Hồi còn sống cần “lấy le” để cho anh Hy phục chơi chứ ; bây giờ chết rồi thì cần gì nữa. Này anh Hy, bây giờ chết rồi anh có buồn không?

Hy : (cười) Đừng hỏi vớ vẩn. Vui buồn là việc của người sống, đâu phải là việc của người chết. Nào tất cả các cậu chèo cho đều tay và im lặng nghe tôi :

(hát)

                    hãy nghe lời tôi như nghe suối reo
                    hãy nghe lời tôi như nghe chim hót
                    như xem liễu lục bông hồng
                    như ngắm hoa vàng trúc biếc
                    như nhìn bạch vân minh nguyệt
 …

(ngừng hát. Im lặng. Tiếng sóng nhỏ va mạn thuyền. Một lát sau.)

Thơ : anh Hy đi đâu thì đem thi ca và âm nhạc đến đó. Tôi không biết anh hát khúc hát nào mà nghe quen tai quá.

Mai : Thơ có hiểu ý khúc hát đó không.

Thơ : Em không giải nghĩa được nhưng em cảm thấy như là em không cần hiểu. Tiếng hát và câu hát thấm sâu vào lòng em và như nâng em lên cao.

Tuấn : Như vậy thì đủ lắm rồi. Cần chi phải giải nghĩa được mới gọi là hiểu.

Thơ : chị Mai, chị cho tụi em biết chết rồi thì tụi em phải làm gì đây chị? Em có phải đi làm làng như là chị Vui hay không?

Mai: Em không phải làm gì hết. Em có thể đi chơi suốt ngày.

Thơ : Thế thì thích quá. Cũng như chị Liên phải không chị? Chị Liên cũng đi chơi … À mà chị Liên còn đọc Bát Nhã và dạy cho chị Vui vẽ nữa…

Mai : Ừ, cũng như chị Liên.

Thơ : Nhưng mà tại sao chị Vui lại phải làm làng? Mà thế giới của người chết làm sao mà lại có làng có nước được chị ?

Mai : Chị đâu có nói Vui phải làm làng. Nếu Vui muốn làm làng thì tự nhiên có làng cho Vui làm. Thế giới của người chết chúng mình biến đổi tùy theo sự ước muốn của mỗi chúng mình. Mà chị thấy thế giới của người sống cũng vậy. Cũng như chị Liên muốn vẽ gì thì vẽ và có thể vẽ ra bất cứ cái gì chị ấy ưa vẽ.

Tuấn : (lẩm bẩmTâm như họa sư, năng họa nhất thiết hình tượng …

Thơ : Chú Tuấn lại xổ triết học của Phật Học Viện ra đó nữa rồi. Chị ơi, thế giới của mình là âm phủ hay thiên đường đây hả chị. Sao em thấy nó giống hệt như là thế giới của người sống?

Mai : Đây không phải là âm phủ mà cũng không phải thiên đường, mà cũng không phải là một thế giới cách biệt với dương gian như người sống thường tưởng.

Lành : Và dương gian cũng không cách biệt với âm phủ và thiên đường như người sống thường tưởng, phải không chị? Em có cảm tưởng là em có thể hát cho những người sống nghe được chị ơi.

Mai : Nãy giờ mới thấy Lành góp ý. Em nói rất đúng. Nói “âm dương cách trở” là sai. Người sống sở dĩ sầu não là tại vì họ cứ tưởng dương gian âm phủ cách biệt ngàn trùng. Em có thể hát cho những người sống nghe được. Cũng như chị đã hát … Cũng như bài hát vừa rồi của Hy.

Thơ : Hồi còn sống, Hy làm trưởng ban văn nghệ của chúng em. Chết rồi Hy vẫn còn làm trưởng ban văn nghệ … Anh Hy, ngày xưa hồi chúng mình còn sống, văn nghệ là một phương tiện xây dựng nông thôn, phát triển xã hội. Chúng mình đã dùng văn họa nhạc kịch để phục vụ lý tưởng nhân bản và dân tộc. Bây giờ anh định dùng những thứ ấy để làm gì hở anh?

Hy : không để làm gì hết. Văn nghệ chính là sự sống … Hồi còn sống chúng ta có văn nghệ. Bây giờ nói rằng chết rồi, kỳ thực chúng ta vẫn còn sống (cười), vẫn bơi thuyền, vẫn chuyện trò. Và vì vậy chúng ta vẫn còn văn nghệ… Nói cho đáng, không có sự chết làm gì có sự sống. Chúng ta liên tục chết trong lúc chúng ta liên tục sống.

Thơ : Anh nói giọng sao nghe như giọng chú Tuấn ấy.

Tuấn : (đằng hắng) Giọng chú Tuấn thì sao hả Thơ?

Thơ : Giọng triết học.

Mai : (cười) Chính Thơ cũng nói giọng đó mà Thơ không biết. Tất cả chúng ta đều nói giọng đó mỗi khi chúng ta tỉnh táo. Chị em mình bây giờ tỉnh táo hơn ngày xưa…

Tuấn : Em thấy hình như mình đang còn bơi trên sông Sài Gòn phải không chị. Phải rồi, đây còn là đất nước của mình mà.

Mai : Phải, đây còn là đất nước của mình. Các em mới chết hồi khuya. Ở khúc sông phía sau lưng, cách đây chừng tám cây số. Chị đã đem thuyền đến đón các em ngay lúc đó. Bây giờ chúng ta đang bơi ngược dòng sông. Chúng ta ngược dòng lên vùng sát biên giới (im lặng một lúc lâu).

Tuấn : (mỉm cười) Thế mà chúng em tưởng như chúng em chết đã lâu lắm rồi. Thật giống như một giấc mộng. Bây giờ thì em tỉnh táo lắm, chớ lúc mới trông thấy chị, em vẫn cứ như mới ngủ dậy.

Thơ : Em chẳng ngạc nhiên tí nào khi trông thấy chị. Em cho như thế là chuyện dĩ nhiên. Nếu chị không đến đón, thì ai mà đến đón tụi em.

Mai : Thơ làm tàng hoài ! Bộ em tưởng chị cưng em lắm hả. Chị cũng có việc phải làm chứ. Nói thế nhưng chị đâu đến nỗi bận bịu gì mà không đến đón các em.

Lành : Nếu chị không đến đón thì giờ này chúng em còn ngồi bên bờ sông. Giả sử lúc đó tụi em nhớ tới chị và muốn đi tìm chị thì không biết tụi em sẽ đi về hướng nào.

Mai : Nếu các em nhớ tới chị và muốn tìm chị thì tự khắc các em trông thấy chị đến. Chị đã nói: ở đây mọi sự đều xảy ra do ý muốn của chúng ta.

Lành : Sao lòng em không hề gợn một chút buồn thương. Không một chút xót xa, chị ạ. Em đã tưởng là sau khi chết, người ta có thể mang theo nhiều uất hận. Ở dương gian người ta nói chuyện thác oan, người ta nói chuyện những linh hồn báo oán và sợ sệt đến nỗi bị ám ảnh. Em thấy người chết hình như bình tĩnh và sáng suốt hơn người sống chị ạ. Chẳng ai nghĩ đến sự báo oán đâu. Chỉ thấy thương xót cho người sống thôi, dù đó là kẻ đã giết mình.

Thơ : Thơ có cảm tưởng là nếu Thơ còn sống, Thơ có thể tìm tới nhà cái anh chàng đã bắn Thơ mà hỏi cho ra cái nguyên cớ nào trong ban đêm lại đem người ta ra bờ sông mà bắn chết. Nhưng bây giờ Thơ lại thấy không oán hận kẻ kia một tí nào. Chắc có lẽ tại người chết hay có lòng tha thứ.

Hy : Có lẽ tại người chết không còn xác thân nặng nề cho nên những tham vọng giận hờn cũng không còn. Bởi vì tham vọng giận hờn phần lớn đều phải bám vào thân xác trĩu nặng. Bây giờ bọn mình không còn xác thân nữa thì …

Mai : Sao mà không còn xác thân, em. Nếu không còn xác thân tại sao chị lại trông thấy em. Có một điều là xác thân chúng ta không nặng nề, thế thôi. Em xem, chiếc thuyền này vốn mảnh khảnh mà chở được tới năm chị em mình …

Thơ : Ừ nhỉ, chị em mình nhẹ thật. Hèn chi mà thuyền đi nhanh thật nhanh. Chị ơi, hồi mấy anh chàng ấy bắn tụi em, chị có mặt đó không?

Mai : Không. Chị không có mặt tại đó. Nhưng chị thấy nóng ruột. Và chị biết. Thế rồi chị mang chiếc thuyền lại. Lúc chị đến thì cả bốn đứa em đều còn ngồi trên bờ, riêng Hy thì áo quần ướt và hơi run.

Hy : Khi bị bắn thì em ngã xuống sông. Tay em bị trói ra đằng sau, nên em chỉ có thể xử dụng hai chân để trồi lên mặt nước. Vậy mà em bị họ bắn theo, cho đến khi xác thân em chìm nghỉm mới thôi.

Mai : Tội nghiệp em tôi.

Hy : Chị đừng tội nghiệp cho em làm chi. Chị nên tội nghiệp cho những người còn sống. Một vài giây phút đau đớn, đó là tất cả những gì em gánh chịu. Nhưng những người thân yêu của chúng ta, những người còn sống .. em thấy tội nghiệp cho họ. Và cả những người giết chúng em nữa. Họ mờ mờ mịt mịt có biết gì đâu.

Mai : Em kể cho chị nghe từ đầu.

Hy : Để em nhớ lại chút đã. Ừ phải rồi, lúc nửa đêm, chú Tuấn, Lành và em đang ngủ tại trạm Y tế thì một toán người có súng đến bắt chúng em dẫn đi. Trước khi đi, họ nỗi lửa đốt trạm y tế sáng rực. Họ trói tay chúng em ra phía sau và dẫn chúng em đến hồ nước gần nhà thể thao của hội Tinh Võ, bắt chúng em ngồi đó đợi. Một lát sau, có hai người lạ mặt khác dẫn Thơ và chú Đính tới ; hai người này cũng bị trói tay phía sau như chúng em. Họ đưa năm người chúng em ra bờ sông, bảo để đợi đò. Chúng em ngồi yên bên bụi tre. Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần xem có chắc chúng em là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không. Họ nói : Chúng tôi rất tiếc nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Thế rồi họ bắn chúng em. Bốn chúng em chết, còn chú Đính tuy bị thương nặng, vẫn còn sống. Họ tưởng chú Đính cũng đã chết rồi nên bỏ đi.

Tuấn : Họ gồm tất cả mười một người. Có người còn trẻ lắm, độ mười sáu mười bảy. Người lớn tuổi nhất cũng chỉ độ hăm bảy hăm tám. Một số mặc đồ đen, một số mặc đồ nhà binh. Có người mặc áo mưa nilon, có người choàng poncho. Có người đội nón nhà binh và mang thắc lưng đạn. Em biết họ là ai rồi.

Mai : Chị cũng biết họ là ai rồi. Em không cần phải nói.

Hy : Em thấy hình như họ cũng chưa quen với công việc giết người chị ạ. Họ muốn bắn tụi em mà cứ chần chờ hoài.

Thơ : Chắc chắn là họ đã nhận được thượng lệnh phải giết tụi mình. Cái anh chàng chỉ huy cả toán đó chị, cái anh chàng bắn em hai phát liên tiếp vào đầu đó chị, cũng phải làm gan làm dạ, bặm môi lại mới bóp cò súng được đó chị à. Họ cũng hiền lắm.

Tuấn : Cái thằng này chết rồi mà còn trào phúng hoài.

Thơ : Thật đó mà chú Tuấn. Hồi họ bắt em và chú Đính tại nhà ông ủy viên y tế xã, họ trói tay chúng em ra sau và cột chung hai đứa lại cho chúng em khỏi trốn. Em và chú Đính phải nhảy qua hai con mương rộng một thước dùng để dẫn nước vào ruộng mía đấy mà. Chú Đính té ngã khi nhảy qua con mương thứ hai. Họ đỡ chú dậy. Em bảo họ cắt dây rời ra để cho dễ đi. Họ cắt dây. Và họ hỏi han tử tế, nói chuyện với tụi em như bạn bè.

Lành : Suốt quãng đường đi và trong những lúc nghỉ chân, họ xử sự với tụi em một cách dịu dàng, tử tế và có khi thân mật nữa. Làm em tưởng không đến nỗi nào đâu. Lúc Thơ nó luồn hàng rào kẽm gai, bị dây kẽm gai sướt trên trán, một người trong bọn họ đưa tay sờ trán Thơ, săn sóc như anh em ruột thịt với nhau vậy. Em, chính em cũng được họ vỗ vai.

Hy : Vậy mà rốt cuộc họ cũng giết chúng em.

Mai : Thân phận con người. Tội nghiệp lắm em. Và con người thì yếu đuối..

Hy : Chị cũng biết rằng em không nói câu đó với giọng trách móc. Mắt em mở sáng từ lúc em thoát khỏi thân phận con người. Em chỉ mong con người có thể tìm thấy  một con đường ít chông gai hơn, thế thôi.

Mai : Em nào mỏi tay thì đổi tay chèo. Đổi chỗ cho người ngồi bên cạnh. Thơ sang ngồi bên phía kia, nhường chỗ đó cho chú Tuấn. Còn Hy đổi chỗ cho Lành. Được rồi, thong thả mà đi. Chúng ta không vội. Sao sáng quá. Thực ra, Hy à, nói tới thân phận là nói tới những điều kiện con người. Con mắt người dương gian không thấy hoặc khó thấy được diện mục của cuộc đời cũng vì những điều kiện đó.

Hy : Có cách gì thay đổi được những điều kiện đó không chị? Để mà thay đổi được cái thân phận đó không chị?

Mai : (chậm rãi) Con người có đi tới, Hy ạ. Có điều là đi tới chậm quá. Bởi vì vậy mà ngày tháng ở dương gian đi mau đối với nhận thức của chúng ta. À này các em, trước khi họ bắn các em, họ có nói gì không?

Lành : Họ hỏi đi hỏi lại nhiều lần xem chúng em có phải là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không. Rồi họ đi ra xa, bàn luận thầm thì với nhau năm bảy lượt mà chưa chịu hạ thủ. Cuối cùng họ hỏi: các anh còn muốn hỏi gì nữa không? Lúc em nghe câu hỏi đó, em thấy lạnh xương sống. Thằng Thơ nó trả lời rằng không muốn hỏi gì hết. Thế rồi viên chỉ huy tiến lại, tay trái sờ lên trán của Thơ, miệng nói rất nhanh : chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi buộc lòng phải bắn anh, và tay phải đưa súng vào mang tai Thơ nổ liền hai phát. Bốn người khác cũng bị bắn nhào ngay sau đó. Hy trúng đạn té xuống sông, cố trồi lên, nhưng bị bắn theo cho tới khi chìm.

Mai : Tội nghiệp. Chú Văn mà nghe nói lại chắc chú khóc ngất.

Tuấn : Vâng, mọi người thân thuộc đều sẽ phải đau đớn, không riêng gì chú Văn. Nhưng cũng may cho họ một điều, (mỉm cười) là người dương thế mau quên. Trong một vài tháng, sự xót xa trong lòng họ sẽ dịu dần. Những lo lắng mới và những buồn phiền mới sẽ khiến họ lãng quên. Thật ra nếu không quên thì họ không thể sống được.

Mai : Nghĩ cũng tội nghiệp. Có người biết trước rằng mình sẽ quên nên tìm cách ghi lại nỗi nhớ niềm thương của mình trên gạch đá hay giấy mực, để có thể nhớ mãi. Nhưng cái hình ảnh quan trọng nhất là cái hình ảnh trong lòng họ, có phải không các em. Chị thì chị muốn những người thân yêu của chị quên chị cho thật chóng để mà khỏi khổ đau, thế thôi.

Tuấn : Coi kìa cái thằng Thơ. Nó làm cái gì vậy.

Mai : Cái thằng nghịch quá. Nó biến nhỏ lại thành đứa trẻ con. Khéo mất thăng bằng thuyền nghiêng bây giờ Thơ.

Thơ : Em trở lại hình hài em lúc tám tuổi, mấy đứa bạn học của em ở trường nếu có nhớ em thì chúng nhớ cái thằng Thơ to đầu hai mươi mốt tuổi chớ đâu chúng có nhớ cái thằng Thơ tám tuổi này. Chỉ có em là biết cái thằng Thơ tám tuổi của em thôi. Nhưng mà bây giờ có thể trở về lớn hay nhỏ tùy ý rồi thì em lại không còn nhớ cái thời tuổi nhỏ của em nữa.

Tuấn : Lớn trở lại đi Thơ. Tao chẳng quen cái thằng Thơ tám tuổi. Tao chỉ biết cái thằng Thơ hai mươi mốt tuổi. Lớn trở lại đi để mà nói chuyện, Thơ.

Thơ : Thì em lớn trở lại đây. Chú còn “chấp tướng” quá. “Bất khả dĩ “tuổi tác” nhi kiến “thằng Thơ của chú”, chú nghe chưa. Đáng lẽ chú tu thì có thể nhìn thấy thằng Thơ của chú dưới bất cứ hình thức nào cũng được chứ, hà tất phải là dưới hình thức thằng Thơ hai mươi mốt tuổi.

Tuấn : Mày lắm chuyện lắm. Không cần dạy kinh Kim Cương cho tao đâu.

Mai : Hai chú cháu gọi là mày tao quen rồi à?

Thơ : Xin chị đừng chấp. Khi nào chú Tuấn xưng mày tao với em tức là chú nói giọng thân mật đó. Tức là chú cháu chúng em thương nhau lắm đó. Chú cứ gọi như thế đi chú Tuấn. Em thích như thế lắm.

Tuấn : Bộ tao không biến thành một đứa nhỏ được sao? Chỉ sợ khi tao biến thành tám tuổi mày lại năn nỉ tao lớn trở lại để mày có thể nhận ra chú Tuấn của mày thôi.

Thơ: Chú là người tu chứ em đâu phải là người tu. Em không nhận được ra chú trong hình thái tám tuổi đó là chuyện thường.

Mai : Thôi Thơ đừng trêu chú Tuấn nữa. Ngồi cho ngay ngắn lại. Chú Tuấn, chú có nhớ gì hồi chú bị bắn không?

Tuấn : Em thấy nó bắn thằng Thơ. Em niệm Phật, tức thì súng nổ vào đầu em vào thân thể em. Em chết rất mau… không đau đớn gì lắm đâu chị. Em không biết chú Đính hiện giờ ra sao.

Mai : Chú Đính không chết đâu. Chú bị một phát đạn xuyên qua tay, qua phổi, lủng lá lách. Máu ra nhiều. Chị có ghé lại nhìn. Lúc đó những người giết các em đã đi xa rồi và chú còn tỉnh. Chú ho và mỗi lần ho là máu vọt ra ướt thêm, đỏ cả cái áo cánh trắng của chú. Họ tưởng chú không còn sống. Chú sẽ được cấp cứu kịp thời, các em đừng lo.

Thơ : (trầm ngâm) Rồi khi bình phục, chú sẽ kể chuyện lại cho các bạn… Chẳng biết chú có còn nhớ gì mà kể hay không.

Lành : Chuyện đó có quan trọng gì đâu Thơ… Chú chẳng kể gì hết cũng không sao. Chưa biết chừng càng hay. Tôi tin các bạn vẫn giữ được thái độ không oán hờn thù ghét. Chúng ta chết đi là để xây dựng cho tình thương, không phải để tạo thêm oán hận căm thù.

Mai : Chị có đức tin nơi chú Văn và những người bạn của chị. Chị có đức tin nơi tất cả các em, những người còn sống. Họ sẽ từ chối con đường hận thù…(im lặng hồi lâu. Trái sáng bắn lên hai bên bờ sáng rực dòng sông).

Hy : Họ bắn hỏa châu suốt đêm trên đất nước ta.

Lành : Nếu họ có giác quan của người chết, chắc là họ trông thấy chúng ta đang bơi thanh thản giữa dòng sông. Và họ cũng nghe tiếng sóng vỗ mạn thuyền trong đêm hôm khuya khoắt.

Hy : Thực ra tại vì họ không biết và không nghĩ đến chúng ta nên không trông thấy được chúng ta đó thôi. Tôi tin rằng nếu có chú Đức đứng bên bờ sông chắc chắn là chú trông thấy bọn ta và thế nào chú cũng đưa tay vẫy.

Lành : Chị Mai, sao đất nước chúng mình chìm đắm mãi trong khói lửa vậy chị? Bao giờ thì chúng ta mới thoát cảnh thịt nát xương rơi?

Mai : Em hãy yên lòng. Đất nước chúng ta còn bị tàn phá nhiều nữa trong những ngày sắp tới. Phải tròn một chu kỳ. Sống chết là chuyện thường. Cuối cùng Hòa Bình cũng phải tới (tiếng súng nổ ran bốn phía).

Thơ : Súng nổ nhiều quá. Mẹ em nghe súng bà ngủ không được chị Mai ơi.

Mai : Má em ở có một mình thôi à ? Có đứa nhỏ nào ngủ với bà không?

Thơ : Bà có nuôi một đứa cháu nhỏ và ngủ với nó. Em là con trai mà lại là con một.

Hy : Nghe nói thân sinh của Thơ cũng chết vì bạo lực. Không biết ai giết ông hả Thơ?

Thơ : Hồi nhỏ tôi có nghe mang máng ông làm cách mạng… Mà thôi, đừng nói chuyện đó nữa. Chị Mai, hồi nãy chị nói chị Vui đang làm làng, em vẫn chưa hiểu.

Mai : Rồi em sẽ hiểu. Em làm thế nào mà hiểu hết tất cả mọi chuyện trong một buổi khuya. Chị sẽ đưa em đi thăm làng của Vui. Vui dạy rất nhiều trẻ em. Làng của Vui cũng có đủ trâu bò, dòng sông, vườn chuối, cây chanh, cây khế…

Lành : Trời ơi, thế thì chắc em cũng sẽ tiếp tục làm làng như Vui. Em còn nhớ cây chanh, cây khế lắm. À mà chị ơi, chị chưa kể cho chúng em nghe câu chuyện của chị. Chị làm gì từ khi từ biệt chúng em?

Hy : Ừ, chị hy sinh thân cho Hòa Bình tự những ngày nào xa xăm lắm rồi kia. Mấy năm rồi hả hả chị?

Thơ : đâu mà tới mấy năm lận; mới có mấy tháng trước đây mà thôi, phải không chị?

Mai : Ý niệm về thời gian mỗi người mỗi khác. Chị thấy như đã là cách đây mấy kiếp rồi.

Thơ : Lửa có nóng lắm không hả chị?

Mai : Em hỏi gì buồn cười quá. Chị quên rồi, không biết là có nóng hay không. Nhưng mà chị nhớ là định lực của chị khá vững. Chị đạt được lời nguyện. Trước giờ hy sinh chị chỉ cầu nguyện mong sao ngồi thật yên trong lửa đỏ. Chị đã ngồi yên.

Lành : Khi bọn em hay tin, đứa nào đứa nấy khóc sướt mướt. Bọn em nghĩ là chị không thương chúng em nên chị mới nỡ ra đi như vậy.

Mai : Em đừng nói vậy mà buồn lòng chị. Không có sự lựa chọn nào mà không khổ đau…

Lành : Đó là em nói sự phân bì của chúng em đối với lý tưởng chị – hồi xưa tụi em còn tai phàm mắt thịt, thế thôi. Bây giờ thì em hiểu chị rồi.

Thơ : Rồi chị đi đâu sau đó hả chị?

Mai: (trầm ngâm một lát) Chị đứng trên lan can nhìn xuống thân xác của chị đang bốc cháy. Chị mỉm cười nhưng hai mắt chị thì ướt đẫm. Người nào đứng đó cũng khóc. Chị cũng khóc vì thấy người ta khóc. Nhưng khi ba của chị tìm đến được thì chị không khóc nữa. Đó là giây phút khó khăn nhất của chị. Không còn gì làm mình đau đớn hơn là trông thấy người thân yêu của mình đang đau đớn vì mình. Chị đã viết để lại cho ba má chị những lá thư rất dễ thương, khuyên dặn đủ điều. Nhưng em biết, những lá thư thì có nghĩa gì…

Hy : Rồi sao nữa chị.

Mai: Ba của chị ngất đi. Rồi tỉnh lại. Rồi lại ngất đi. Cũng may lúc đó cái ông đại úy đòi khám nghiệm tịch thu xác chị, làm ba chị giận run lên. Cái giận này làm cho sự thương đau bớt phần mãnh liệt.

Thơ : Hoan nghênh ông đại úy.

Mai : Chị cũng thảnh thơi lắm từ lúc bắt buộc phải xa các em. Lòng chị rất thanh thản. Chị rất thương các em. Chị đã che chở cho các em rất nhiều lần. Cơ sự xảy ra hồi khuya là định mệnh…

Hy : Chị đi nhiều nơi lắm phải không chị?

Mai : Chị đi rất nhiều nơi. Lên non, xuống biển. Tóc chị vẫn cài hoa bưởi trắng đây, em thấy không? Ruộng vườn quê hương mình xác xơ, nhưng chị không còn ngậm ngùi. Sớm muộn đất nước cũng sẽ thanh bình. Bánh xe đang chuyển về hướng đó. Chị đi qua những vùng rừng núi cháy nám, bom đạn cày nát. Chị gặp những đoàn người tỵ nạn chiến tranh, nồi niêu quang gánh, bước thấp bước cao…

Lành : Người chết có thể giúp gì được không hả chị?

Mai : (cười) Chị chết đã lâu, đã khá lâu rồi nên chị biết rõ là chị không thật sự chết. Hình dáng và âm thanh của chị đối với em… Chị vẫn còn có mặt trên dương thế và vì vậy chị vẫn còn tiếp tục làm công việc của chị.

Thơ : Có mặt trên dương thế. Làm sao chết rồi mà vẫn còn có mặt trên dương thế được hả chị?

Mai : Điều đó rất giản dị. Chắc chú Tuấn có thể cắt nghĩa cho em.

Tuấn : Thì chị cứ nói cho Thơ nghe đi chị.

Mai : Em đốt một viên than cháy hồng, viên than biến thành nhiệt lực. Khi viên than tàn thành tro bụi, nhiệt lực kia chính là hậu thân của viên than. Nhiệt lực đó sẽ tạo nên những ảnh hưởng dây chuyền không bao giờ dứt, hoặc trong trạng thái năng lực hoặc trong trạng thái vật chất. Và sự diễn biến dây chuyền đó xãy ra trong liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp với những dòng diễn biến khác.

Tuấn : Tức là liên hệ nhân duyên.

Mai : Phải rồi, tức là liên hệ nhân duyên. Không có cái gì mất đi cả, tuy nhiên không có cái gì ngồi yên một chỗ và giữ mãi được hình thái của nó.

Hy : Cũng như là hồi nãy Thơ nó biến hình lại nhỏ như đứa bé tám tuổi. Ta không nhận ra nó nhưng quả thực nó là nó.

Thơ : Nó là nó nhưng mà nó không giống nó, vì thế mà hồi nãy chú Tuấn mới bắt buộc nó trong hình thức kia phải trở về với nó trong hình thức này, trong hình thức hăm mốt tuổi.

Tuấn : Mày cứ trêu tao hoài.

Mai : Chết là một sự chuyển biến có vẻ hơi đột ngột, thế thôi. Nếu Thơ nó chết hồi tám tuổi thì bây giờ làm gì có Thơ hăm mốt tuổi để mà chết và để mà ngồi đây. Thật ra các em ạ, chính Thơ tám tuổi đã phải chết để nhường chỗ cho Thơ hăm mốt tuổi. Nhưng cái chết của Thơ tám tuổi là sự chuyển biến không đột ngột. Người ta gọi đó là sự thay đổi chậm, là sự lớn lên.

Tuấn : Người ta cũng gọi là sát na vô thường, sự chuyển biến từng giây. Còn cái chết của mình hồi khuya chẳng hạn, người ta gọi là nhất kỳ vô thường – sự chuyển biến của một giai đoạn, một chu kỳ.

Mai : Chú dùng danh từ Phật học thì nghe gọn hơn tôi nhiều. Đúng như vậy đó Hy. Để mà lớn lên, Thơ đã phải tiếp nhận vô số những điều kiện từ vạn nẻo hiện hữu: không khí cho Thơ thở, rau trái cho Thơ ăn, học vấn cho Thơ khôn, tình yêu cho Thơ lớn… và muôn ngàn cái “nhân duyên” lớn bé khác. Cho nên trong Thơ, có sự có mặt của nhiều khuôn mặt hữu tình và vô tình. Hữu tình là người và vô tình là vật. Ba má Thơ cũng có mặt nơi Thơ này, chị cũng có mặt nơi Thơ này, và cô thiếu nữ má đỏ sẽ khóc Thơ sáng nay cũng đang có mặt trong Thơ. Cô thiếu nữ giờ này còn ngủ an lành trên dương thế…

Thơ : Thôi chị đừng trêu em nữa. Em hiểu rồi. Có phải là chị muốn nói em cũng đang có mặt nơi nàng, và có mặt trong bao nhiêu người thương yêu khác đang ở trên dương thế – và vì vậy em con hiện hữu trên đó, còn tiếp tục gây tác động dây chuyền trên đó…

Mai : Em quả thực là thông minh. Không những em còn có mặt trong họ, em lại còn có mặt ngoài họ nữa. Những gì em nói em làm trong suốt bao nhiêu năm cũng đã lên đường gây tác động dây chuyền. Em có mặt khắp nơi.

Lành : Thành ra cái hình bóng của Thơ mà em thấy đây không phải là tất cả Thơ…

Mai : Làm sao mà là tất cả Thơ cho được? Thơ hăm mốt tuổi đã không phải là Thơ tám tuổi rồi mà. Thơ trước mặt chúng ta chỉ là Thơ của tầm mắt ngắn của chúng ta, chỉ là Thơ của tâm tình hẹp của chúng ta mà thôi. Thơ trước mặt ta là Thơ của khái niệm ta nhiều hơn…

Lành : (đưa một ngón tay lên) Vậy để em nói thử thế này xem chị có cho là đúng không nhé. Chúng mình đang đi thuyền ngược sông Sài gòn, nói là để lên biên giới thăm chị Liên và cô Vui. Chúng mình muốn đi thăm Liên và Vui của tâm tư mình, chứ thực ra hiện hữu của Liên và Vui to lớn hơn nhiều. Chúng ta chỉ cần ngó lại là thấy Liên và Vui trên mọi nẻo đường. Có phải thế không chị?

Mai : Em nói rất đúng. Chúng ta đang đi tìm Liên và Vui của tình cảm chúng ta, của thói quen chúng ta. Vì vậy chúng ta mới cần ngược dòng sông lên biên giới. Liên và Vui kỳ thực còn có mặt một cách hiện thực trên dương gian. Sự có mặt ấy còn rõ ràng hơn sự có mặt của Liên và Vui ở thế giới này nữa.

Thơ : Nhưng dù sao em vẫn muốn tới thăm cái làng của chị Vui, xem thử chị ấy làm làng có giỏi hơn hồi năm ngoái không. Và em muốn xem lại cây chanh khế của quê hương em.

Mai : Thì ai cấm em đâu nào. Em sẽ gặp Vui. Em có muốn làm trại trưởng một trại công tác ở dưới này cũng còn được, nữa là.

Thơ : Còn chị Phương Liên ở đâu?

Mai : Chị ấy ở chơi với Vui. Chị Liên có vẻ thanh thoát lắm. Chị ấy cười luôn. Hai chị em hay lẩn quẩn bên nhau. Lần cuối gặp chị Liên, chị thấy chị Liên cầm trong tay một cuốn Đại Bát Nhã. Chị ấy đang đọc toàn bộ Đại Bát Nhã.

Tuấn : Bây giờ nếu em đọc lại Bát Nhã chắc em sẽ thấu đạt dễ dàng hơn xưa chị nhỉ ? Em thấy tâm hồn em yên tĩnh lắm, không có lo lắng, ưu phiền.

Mai : Chừng gặp chị Liên chúng ta sẽ bắt chị ấy giảng Bát Nhã cho nghe.

Tuấn : Hồi còn sống ngày nào em cũng đọc Bát Nhã Tâm Kinh. Em tưởng là em hiểu. Mãi cho đến khi anh chàng mặc choàng tấm poncho chĩa súng vào đầu em, em mới thấy được cái điều cốt tủy của Tâm Kinh.

Lành : Chú thấy như thế nào, nói cho chúng tôi nghe đi.

Tuấn : Khó nói quá. Đây không phải là một vấn đề hiểu, mà là một vấn đề thấy, Lành à. Cái hiểu thì còn có thể diễn tả lại, chớ cái thấy thì khó quá. Nó trực tiếp, nó đột ngột như một làn chớp giật.

Lành : (năn nỉ) Nhưng mà chú thử nói cho chúng tôi nghe xem sao.

Tuấn : Cái khi mà anh chàng choàng poncho chĩa súng vào đầu tôi, tôi thấy một cách chớp nhoáng, không biết tại vì sao, là không phải anh chàng bắn tôi. Anh chàng đang bắn một cái gì khác ấy, không phải là tôi. Anh chàng có biết tôi là ai đâu mà bắn tôi. Và tôi tự hỏi, từ khuya đến giờ, là tại sao người ta  lại có thể bắn vô đầu một kẻ mà mình không biết là ai?

Thơ : Cái chú nầy nói mới lạ chứ. Ông ta hỏi năm lần bảy lượt để biết chắc rằng chúng ta là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội rồi ông ta mới bắn. Ông ta bắn chú bởi vì ông biết chú là ai, chú là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Người ta muốn bắn Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Vậy nên người ta bắn chú.

Lành : Sao chị Mai lại cười.

Mai : Chị cười vì Thơ nó nói giọng “luận lý học”. Chính Bát Nhã là khí giới dùng để đập vỡ lý luận hình thức đó.

Tuấn : Chị nói như vậy là đúng với điều em nghĩ. “Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội,” chỉ là một cái nhãn hiệu. Hoặc chỉ là nhãn hiệu trên đối tượng của một sự thù ghét hay sợ hãi. Đối tượng của sự thù ghét hoặc sự sợ hãi đó là một cái gì nằm trong nhận thức chủ quan của con người ta. Nó có dính dáng gì đến con người của em đâu. Họ bắn vào đối tượng của sự thù ghét và sợ hãi của họ, và vì họ dán nhãn hiệu đối tượng đó vào em cho nên em chết lây, cho nên họ bắn luôn cả em. Họ bắn em vì quả thực họ không biết em là ai.

Hy : Chú Tuấn muốn nói đến sự lầm lạc của nhận thức con người, phải không? Vì sợ hãi và thù ghét nên con người trở nên không sáng suốt. Họ không thấy nhau. Họ không thể thiết lập được sự cảm thông giữa họ với nhau, cho nên không thể nhìn thấy mặt mũi của nhau. Họ chỉ thấy mặt mũi của những con quái vật và do đó họ có can đảm giết nhau. Chừng nào họ giết được sự lầm lạc của nhận thức họ, họ mới nhìn nhận ra được mặt mũi của nhau mà thôi.

Mai : Cuộc chiến đang diễn ra trên quê hương ta một phần lớn cũng do sự mê muội đó của con người. Những kẻ đang giết nhau quả thực không biết nhau là ai. Họ đều là nạn nhân cho những quan niệm sai lạc. Và người ta lợi dụng họ.

Lành : Thực vậy chị. Cũng như những người đã giết chúng em. Có lẽ họ cũng thoáng thấy được chúng em là những con người, nhưng rốt cuộc vẫn phải bắn chúng em. Họ phải vâng theo một mệnh lệnh nào ấy, như là mệnh lệnh ác nghiệt của số phận con người.

Thơ : Thì còn mệnh lệnh siêu hình nào nữa. Mệnh lệnh của thượng cấp họ, chớ mệnh lệnh của ai.

Mai : Thơ, em chưa hiểu ý của Lành. Đã đành những người giết em vâng theo mệnh lệnh của thượng cấp họ, nhưng chính cái thượng cấp ấy cũng là nạn nhân của sự mờ ám, thù ghét và sợ hãi. Những người bắn em đã biểu lộ nhân tính của họ – họ ngập ngừng không muốn giết nhưng cuối cùng họ phải giết. Điều kiện trên đe dưới búa của họ. Vợ con họ, số phận họ, mạng sống của họ nữa. Đó là chưa kể nhận thức của họ có thể đã bị hôn ám một phần lớn mất rồi.

Hy : Em nhớ là một người trong bọn họ có buột miệng kêu “trời, sao các anh còn trẻ quá”. Em cho câu đó là một lời than trách không những cho số phận chúng em mà là cho số phận của chính họ nữa.

Mai : Người ta giết nhau một phần là tại họ không biết mặt mũi của nhau, một phần là tại bị dồn vào thế không thể không giết nhau. Chị nhớ câu chuyện chú Đức kể cho chị nghe hồi năm ngoái. Bữa đó chú ngồi đợi máy bay dân sự ở một phi trường nhỏ rất hẻo lánh ở cao nguyên. Ngồi đợi với chú là năm sáu người lính Mỹ trẻ tuổi. Họ đợi chiếc Karibou quân sự để đi tác chiến. Phi trường vắng vẻ không có ai ngoài họ. Một anh lính Mỹ ngồi buồn, tới gợi chuyện chú Đức. Anh lính chẳng biết gì về đất nước văn hóa Việt Nam cả, chẳng biết gì về sự thực cuộc chiến ở xứ này. Anh chỉ biết kẻ thù anh là Việt Cộng – anh phải giết Việt Cộng vì sự sinh tồn của người Việt Nam và của thế giới tự do mà nước Mỹ của anh lãnh đạo – Chú Đức buồn lắm. Chú hỏi: anh có sợ Việt Cộng không? Đột nhiên người lính Mỹ hoảng hồn. Anh thoáng nghi rằng cái người đang nói chuyện với anh là Việt Cộng. Việt Cộng nó âm mưu tài tình lắm, anh nghĩ, và vì anh sợ cho nên ở đâu lúc nào anh cũng nghi và cũng thấy toàn Việt Cộng. Anh ta hỏi gấp: ông có phải là Việt Cộng không? Chú Đức kể lại rằng tuy câu hỏi rất ngây ngô nhưng chú không dám cười. Nhìn vào mặt người lính Mỹ chú biết anh ta sợ thật tình. Chú biết nếu chú nói đùa là “phải” thì chắc chắn nó bắn chú. Cho nên chú liền nói “không” và nói cho nó biết chú là giáo sư dạy ở Sài Gòn đang đợi máy bay về Sài Gòn. Chú kể câu chuyện xong rồi thì chú nói : nếu chú chết lúc đó thì không phải là nó muốn giết chú mà chỉ vì nó muốn giết Việt Cộng. Thực ra nó chẳng biết Việt Cộng là gì cho nên nó mới thù ghét được Việt Cộng đến mức ấy. Nó cứ nghĩ Việt Cộng là loài ác quỷ – cần phải tiêu trừ. Bên xứ sở họ, người dân cũng bị nhóm cầm quyền và khối liên hợp quân sự – kỹ nghệ tuyên truyền như thế cho nên vẫn để cho chính quyền họ gửi người sang để chém giết và bị chém giết. Dù giết người thì cũng giết oan mà bị giết là cũng bị giết oan. Chính đồng bào họ giết họ chớ ai. Người ta chịu trách nhiệm về sự giết hại đồng bào của mình và cứ nghĩ rằng mình không nhúng tay vào sự giết chóc. Ai giết họ? Sự sợ hãi, sự thù ghét và những thành kiến của họ.

Lành : Cái cõi dương gian quả là mờ mịt chị ạ. Thân phận con người thật đáng thương. Người trần mắt thịt không thấy được gì qua lớp màn vọng tưởng của mình. Đúng là đi đêm, mờ mờ nhân ảnh.

Mai : Chị nói sang chuyện khác nhé. Chị muốn đưa các em lên thăm chị Liên cũng là để cho các em có dịp xem tranh của chị ấy. Đắc thể lắm. Hồi còn trên dương gian, chị Liên cũng rất ưa thích hội họa. Tranh vẽ của chị Liên đã đạt lắm rồi. Chắc chắn chị ấy rút cảm hứng từ nguồn Bát Nhã.

Hy : Vui hồi ở dương gian cũng rất thích hội họa. Chắc hai chị em bây giờ tương đắc lắm. Em cũng ưa hội họa. Chị có nghĩ rằng em sẽ hiểu được tranh chị Liên không. Nghe nói cảm hứng ở Bát Nhã, em ngại quá.

Mai : Có gì đâu mà không hiểu được hả em. Vừa rồi chúng ta đàm luận về Bát Nhã đấy, về một đề tài có liên hệ đến nguồn cảm hứng ấy đấy. Chúng ta tự vẽ ra cuộc đời của chính chúng ta. Nét vẽ của em phóng đạt thì cuộc đời của em phóng đạt, thế thôi. Thế giới chúng ta do chúng ta tạo dựng nên bằng cái nhìn, bằng quan niệm và bằng ý lực của chúng ta. Chúng ta có thể tạo ra cho chúng ta một thế giới bưng bít ngục tù, sầu thảm, đau thương. Chúng ta cũng có thể tạo ra cho chúng ta một thế giới bao la tự do – đẹp đẽ không cùng … Điều cần yếu là chúng ta đạt đến tinh thần quán tự tại, đến một nhận thức khai phóng cởi mở.

Hy : Bây giờ thì em hiểu câu nói hồi nãy của chú Tuấn : “tâm như họa sư …”

Mai : (cười lớn) Đúng như vậy. Thì các em tự vẽ lấy đời mình từ nay nhé. Nhà nghệ sĩ nào cũng có thể đạt đến đích tuyệt diệu của sự sống bằng nghệ thuật mình.

Lành : Xem chừng bức họa của em, chị ơi, thế nào cũng giống với bức họa của chị Vui và của anh Thơ. Thế giới của em thế nào cũng phải có cây chanh, cây khế. Em đã dọa chú Đức là nếu Niết Bàn không có cây chanh và cây khế thì em nhất định không về rồi mà. Thiên đường cũng vậy. Thế giới của em còn phải có những cây dừa nước, những con rạch nước trong buổi sáng, những mái trường lợp lá có tiếng hát trẻ em vọng về bữa trưa : “nước non Lam Sơn, nước non Lam Sơn, bóng cờ bay phấp phới …”

Thơ : Trời ơi, nhớ quá. Cái thằng Cu Thanh ở xóm Bình Phước bây giờ còn ngủ chắc. Sáng mai này thức dậy, nghe tin thầy giáo nó chết chắc nó khóc hết nước mắt.

Lành : Thế giới của chúng mình phải còn có thằng cu, còn có những buổi hợp thân mật trong làng mà mục đầu của chương trình bao giờ cũng là : ông Cả có vài lời. Thế giới của chúng mình còn có những bến sông tắm rất mát. Để thỉnh thoảng chúng mình bơi nhè nhẹ qua bên kia sông bẻ trộm vài bắp ngô đem về nướng ăn với nhau. Thế giới như thế có phải là quá nhỏ hẹp không chị?

Mai : (cười đại lượng) Thế giới đó đâu có nhỏ hẹp. Những nét vẽ của các em là những nét vẽ của tình yêu. Nét vẽ phóng đạt đâu phải chỉ là những nét vẽ núi, mây, khung trời bao la và một cây thông đứng đơn độc hùng mạnh bên sườn tuyết. Thế giới của Trì Địa, các em thấy đó, có đủ cả ao hồ đồi núi, những chiếc cầu cong, những con đường đất đỏ …

Lành : (bí mật) Và cả những con đường tráng nhựa.

Mai : Ừ, và cả những con đường tráng nhựa. Chính vì tình yêu mà các em vẽ nên cây chanh, cây khế, bụi tre, bến nước đầu làng. Cuộc chiến tranh kéo dài sẽ tạo thêm trong lòng người chất liệu hận thù. Tình yêu bị đe dọa. Khi những người thân yêu bị giết hại oan ức, người ta khó giữ được tâm trạng bình tĩnh để thương yêu. Lấy oán báo oán, oán hận chập chùng. Người tạo ra tình yêu thì mỗi ngày một ít, còn người tạo ra oán hận thù ghét càng ngày càng nhiều. Lòng người thay đổi; con người thuần phát của dân tộc ta , sau cơn lửa đạn, sẽ mang trong tâm hồn nhiều vết thương hận thù. Xót xa biết mấy.

Lành : Đó là niềm lo lắng lớn nhất của chúng ta, phải không chị ? Thà rằng tan nát trong thời gian ngắn để mà tái tạo còn hơn là kéo dài để giết chết niềm tin và tình thương trong lòng người.

Tuấn : Phải, đó là niềm lo lắng căn bản của chúng ta. Tôi ra đời năm 1945, một lần với cách mạng. Tôi là con út trong một gia đình ba anh em. Chúng tôi lớn lên chỉ thấy chiến tranh và hận thù. Bến Tre quê hương tôi  là một nguồn sinh lực cách mạng sôi động không ngừng. Cuồn cuộn như nước sông Tiền Giang ba bề bốn bên chảy về cửa biển. Gia đình tôi nhận thức được sự cần yếu của đạo đức của tình thương nên đã khuyến khích tôi đi vào đời sống xuất gia. Phật Học Viện Giác Sanh, Phật Học Viện Trà Vinh rồi Phật Học Viện Ấn Quang. Tiếp đến là những năm tháng thụ huấn ở trường xã hội và những ngày hoạt động. Tôi hăng hái làm việc không phải vì có ảo tưởng công trình lửa xe nước gáo có thể thay đổi tình trạng, mà vì tin rằng công tác chúng ta quan trọng ở nơi gieo rắc tình yêu trong lòng người.

Lành : Chỉ mong cái sống và cái chết của chúng ta đã có thể gieo rắc thêm hạt giống tình yêu … Như chị Mai chẳng hạn, cái chết của chị đã không hề gây căm phẫn hận thù mà chỉ tạo nên hạt giống thông cảm và hy sinh nơi lòng người, dù là những người ở rất xa…

Mai : Chúng mình đã lên gần tới nguồn rồi đó. Các em có thấy rừng núi  rậm rạp hai bên bờ không.

Hy : Thuyền đi nhanh thật. Làng của chị Vui nằm gần biên giới hả chị?

Mai : Gần biên giới. Đi khoảng hai mươi cây số nữa thì ta lên bộ. Nước sẽ chảy xiết không bơi ngược dòng được nữa. (tiếng vượn hú vang rừng)

Thơ : Trời đã sáng rồi đó các bạn. Trông về phía rừng núi ửng hồng kìa, chú Tuấn. Mà hình như có ai đứng đón thuyền phía trên kia hả chị Mai? Trông như chị Liên ấy.

Mai : (cười) Chị Phương Liên đấy chứ ai. Chèo mạnh tay lên tí nữa, các em.

 

________________

[1] làm làng: về làng quê giúp dân quê cải tiến và phát triển nông thôn về các phương diện giáo dục, y tế, kinh tế và xã hội 

 

 

 

Sắc Thu 2020

 

Mùa Thu ở Làng đang vào độ chín. Đi thiền hành trong rừng bạch dương trên thảm lá xào xạc, chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua, những chiếc lá sẽ theo nhau rụng xuống ngoạn mục như vũ điệu của một cơn mưa. Bước lên thảm lá một cách có ý thức chúng ta sẽ tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt của những chiếc lá. Lá đã được biểu hiện vào mùa xuân và mang trên mình chiếc áo mới xanh non. Suốt cuộc đời của mình, lá vui chơi, nhận ánh sáng, làm việc để nuôi cây và tự nuôi mình. Đến mùa Thu lá chín. Mặc dù thế nào cũng rụng vào đầu mùa đông nhưng lá không sợ hãi. Lá thấy mình trong cây, lá cũng là cây. Trở về với đất, lá sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cây. Lá chẳng có gì phải lo sợ cả. Khi rời cành bay bổng trong không trung, lá mỉm cười vẫy tay chào cây: “Ta sẽ gặp lại nhau một ngày rất gần.” Tiếp xúc với mùa Thu, với chiếc lá, với bông hoa, với những điều đơn sơ, bình dị của sự sống quanh mình ta sẽ thấy thêm yêu Đất Mẹ, thêm yêu cuộc đời này biết mấy.

Đất Mẹ là vị một vị Bồ Tát xinh đẹp. Nếu ta biết nuôi dưỡng chính mình bằng những cái đẹp, thiện và lành từ Đất Mẹ thì ta cũng sẽ biết cách thương yêu, nuôi dưỡng và bảo vệ cho Đất Mẹ.

Mời bạn buông thư, thở nhẹ, mỉm cười và thưởng thức mùa Thu như thưởng thức một ly trà ấm trong hai tay với trọn vẹn sự có mặt và trân quý.

 

 

Tiểu sử Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

TS Nhất Hạnh

Nụ cười tỏa chiếu niềm tin
“Nụ cười tỏa chiếu niềm tin”

(Phỏng vấn sư cô Thuận Nghiêm)

Sư cô Thuận Nghiêm xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, nước Pháp, trong gia đình Cây Bông Sứ. Sư cô đã có nhiều năm gắn bó với Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) ở Hong Kong. Từ mùa xuân năm 2019, sư cô đã về nhập chúng xóm Mới (Làng Mai – Pháp) và tiếp tục hiến tặng rất nhiều tiếng cười, niềm vui cho mọi người, đặc biệt là các sư em nhỏ. Nhân dịp này, Ban biên tập đã có buổi trò chuyện với sư cô về hành trình tâm linh cũng như những kỷ niệm của buổi ban đầu sư cô đến với đời sống xuất sĩ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

BBT: Thưa sư cô, điều gì đã đưa sư cô từ Mỹ qua tới Pháp để trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai? Điều gì gây ấn tượng nhiều nhất khi sư cô tới Làng Mai lần đầu tiên?

Năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp ở Mỹ. Mẹ của chị nói: “Con chở mẹ tới nghe buổi pháp thoại công cộng của Thầy”. Địa điểm diễn ra buổi pháp thoại rất gần nhà chị ở Virginia. Vì mẹ rất muốn nghe Thầy giảng nên chị đồng ý lái xe đưa mẹ đi.

Thầy thuyết pháp tại giảng đường của một trường trung học cho khá nhiều người nghe. Trước đó chị chưa bao giờ nghe nói tới Thầy. Hôm đó, chị chỉ nhớ Thầy nói về phòng thở và chị thấy điều đó chẳng hứng thú gì mấy và cũng không thực tế cho lắm, ít người có thể thực sự làm được.

Chị nói với mẹ là chị muốn đi về nhưng mẹ trả lời: “Được, con cứ về nhưng mẹ sẽ ở lại”. Lúc ấy mẹ chị đã là một sư cô rồi, xuất gia với Sư Ông Trúc Lâm. Vậy nên cuối cùng chị cũng đành ở lại. Cuối buổi pháp thoại, chị thấy có một bàn đầy những sách của Thầy. Mẹ nói với chị: “Đường xưa mây trắng là cuốn sách rất hay, con nên đọc nó”. Chị trả lời: “Con không đọc đâu. Cuốn đó dày quá”. “Vậy con thỉnh cuốn đó cho mẹ được không? Mẹ muốn đọc nó”. Chị nghĩ mẹ chị đã cố gắng tạo mọi điều kiện cho chị được gặp Pháp, được gặp Thầy.

Chị đã thỉnh cuốn sách về nhà nhưng không đọc ngay, vì vào những ngày cuối tuần chị thường đi chơi với các bạn. Tụi chị thích đi xe đạp lắm. Lúc đó, chị làm việc ở Washington DC nơi có rất nhiều những tượng đài lớn, mỗi đời Tổng thống đều có một tượng đài khác nhau! Trong thành phố cũng có nhiều công viên rất đẹp, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa anh đào nở. Nước Nhật đã tặng cho thủ đô Washington rất nhiều cây anh đào. Cuối tuần nào chị cũng đạp xe với bạn bè, chị đâu còn thì giờ để đọc sách. Cho đến một lần, tất cả đám bạn đều đi nghỉ lễ hết, chỉ còn mình chị ở nhà. Lúc đó, chị mới bắt đầu đọc cuốn sách. Khi đã cầm tới nó, chị không thể để nó xuống được nữa. Chị đọc một mạch tới hai giờ sáng. Chị nghĩ trong lòng: “Có một cách sống khác, đơn giản nhưng quả thật rất có ý nghĩa”.

Thầy đã viết cuốn sách này thật hay. Chị nghĩ bụng có lẽ khi nào đó chị sẽ đi du lịch ở châu Âu và sẽ dừng chân ở Làng Mai để “mục sở thị”cuộc sống ở đó. Và rồi mùa hè tiếp theo – hè 1999 – chị đã tới Làng Mai. Khi chị tới nơi, ở Làng gần như chẳng có ai. Thầy đã đưa một phái đoàn đi hoằng pháp ở Trung Quốc. Người đầu tiên chị được gặp là sư cô Phúc Nghiêm và sư chú Pháp Bảo. Chị tới vào thứ Bảy, hôm sau là ngày Phật đản. Thầy đã đưa hầu hết các vị xuất sĩ Tây phương đi cùng trừ sư chú Pháp Bảo vì sư chú vừa mới xuất gia.  Chị rất ấn tượng với buổi lễ mừng Phật đản, giản dị nhưng vô cùng cảm động và hoàn toàn khác với những nghi lễ mà chị đã thấy trong các chùa truyền thống.

Chị chỉ ở lại Làng hai đêm ba ngày. Trước khi rời Làng, chị đã hỏi: “Ở đây quý thầy, quý sư cô được xuất gia như thế nào?”. Khi đặt câu hỏi này, chị cũng thực sự ngạc nhiên với chính mình. Cuộc sống của chị trước khi tới Làng vốn cũng đơn giản. Khi nhìn thấy cách sống đơn sơ và mộc mạc ở Làng chị cảm thấy như về đến nhà. Vào thời điểm đó, chị chẳng có chút ý niệm nào về cứu độ chúng sanh, chị cũng chưa có một tâm bồ đề dũng mãnh hay điều gì đó tương tự. Chị chỉ muốn sống một đời sống đơn giản.

Chị về lại Mỹ, sắp xếp mọi thứ và chỉ khoảng năm tháng sau chị đã quay lại Làng xin được xuất gia. Rất nhanh chóng! Khi còn ở Mỹ chị có viết một bức thư hết sức buồn cười cho Thầy. Chị viết: “Kính gửi Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Con đã đến Làng Mai, Hòa thượng không có ở đó nhưng con đã gặp tăng thân của Hòa thượng và con muốn đến đó sống, con không biết làm sao để được chấp nhận”. Thầy dạy Sư cô Chân Không viết thư trả lời chị.

Trong thư, Sư cô viết: “Con hãy thu xếp mọi việc rồi tới đây”. Khi chị trở lại Làng, Sư cô nói với chị: “Con là trường hợp dễ nhất. Sư cô không cần phải thuyết phục con gì hết. Con đã tự mình đến”. Lúc đó là vào tháng 12 năm 1999. Chị quyết định tới Làng trước năm 2000, vì xung quanh chị ai cũng nói tới sự cố máy tính đầu thiên niên kỷ mới. Chị sợ rằng nếu có chuyện xảy ra, hệ thống máy điện toán bị sụp thì mọi thứ có thể bị ngưng trệ hay trì hoãn. Thế nên, chị quyết định phải đến Làng trước năm 2000! Chị đã tới Làng như vậy đó!

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô có thể kể cho chúng con về thời sadi của sư cô không? Điều gì khó khăn nhất với sư cô trong giai đoạn này, khi sư cô mới vào chùa? Sư cô đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Sống cùng và chia sẻ phòng với người khác là điều khó khăn nhất với chị. Chị đã quen sống một mình và có phòng riêng. Điều gì đã giúp chị vượt qua thử thách này? Chị nghĩ rằng nhớ lại tâm ban đầu đã giúp chị rất nhiều. Trước khi xin xuất gia, chị phải viết xuống những tâm nguyện của mình. Chị đã viết: “Con muốn sống hòa đồng với mọi người”. Đó là nguyện ước duy nhất của chị. Chị nghĩ chắc Thầy sẽ cho chị cái tên Đồng Nghiêm. Nhưng cuối cùng chị lại được mang tên Thuận Nghiêm. Có lần Thầy hỏi chị: “Con có biết vì sao thầy đặt tên con là Thuận Nghiêm không?”. Chị trả lời Thầy: “Thưa Thầy, con không biết”. Thầy nói: “Chẳng lẽ thầy đặt tên con là Nghịch Nghiêm?”. Chị đã phá lên cười và Thầy cũng cười khi thấy chị phản ứng lại với câu hỏi của Thầy.

BBT: Ngoài khó khăn trong chuyện ở chung, sư cô còn gặp những trở ngại nào khác không?

Có chứ, thức ăn! Trước khi xuất gia, chị không hề ăn chay. Trong quá khứ, thông thường sau khi xuất gia mình sẽ không ra khỏi tu viện trong vòng một năm. Thầy dạy rằng mình cần ở trong tu viện vì như vậy sẽ giúp bảo hộ sáu căn dễ hơn. Khi chị mới xuất gia, ở Làng còn rất ít người. Có lần sư cô Thoại Nghiêm cần chị làm đệ nhị thân cho sư cô đi chợ ở Ste Foy la Grande. Chỗ ấy có tiệm bán gà nướng! Khi đi qua đó, chị thèm ăn thịt kinh khủng. Chị chỉ muốn mua nguyên cả con gà, chứ không chỉ một miếng, và ngồi xuống ăn hết ngay tại chỗ. Mùi thịt nướng thật không thể chịu nổi. Sư cô Thoại Nghiêm phải nói với chị: “Mình đi thôi, sao sư em cứ đứng đó hoài vậy?”. Khi mình không thấy thì không thèm. Không phải ra ngoài nhiều quả thật đã giúp chị rất nhiều. Tuy vậy, cơ thể chị cũng mất cả năm để thích nghi với chế độ ăn chay.

BBT: Xin sư cô chia sẻ với chúng con một vài kỷ niệm với Thầy mà sư cô ấn tượng nhất?

Khi chị mới xuất gia, tăng thân của mình chưa lớn như bây giờ. Thầy thường hay mời các sư con tới thiền trà cùng. Một lần sau bữa tối, chuông điện thoại reo, giọng Thầy ở điện thoại: “Các con tới chơi với Thầy”. Khi mọi người tới là khoảng 7 hay 8 giờ tối. Tất cả cùng ngồi chừng hai tiếng chờ ngắm hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh thường nở lúc 10 hay 10 giờ 30 đêm. Chậu hoa được đặt ở giữa phòng Thầy, mọi người ngồi xung quanh. Thầy rót trà mời mỗi người rồi nói: “Con hát đi”. Thầy nói như vậy với chị tới ba lần nhưng chị bướng bỉnh không chịu hát. Thế là Thầy hát. Thầy hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Thầy học ở trường mẫu giáo. Thường thì mỗi khi Thầy mời ai hát, Thầy sẽ chuẩn bị sẵn bài hát của mình. Người được mời hát trước rồi Thầy sẽ hát sau. Riêng với ca của chị, chị không hát bài nào vì thực sự là trước khi xuất gia chị chẳng bao giờ hát.

Một bữa khác, sư cô Diệu Nghiêm (sư cô Jina) đem trà đen từ Ái Nhĩ Lan về. Thầy pha trà và chuẩn bị rót vào ly cho mỗi người. Chị biết đó là trà đen, rất đậm, mà lúc đó đã là buổi tối rồi. Chị nhìn Thầy đang rót trà và thưa: “Bạch Thầy, con không uống trà”. Thầy nhìn chị nói: “Ngồi yên đi con, đây là thất Ngồi Yên”. Rồi Thầy đưa ly trà cho chị. Uống hết ly trà, chị thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con có thể xin thêm một ly nữa được không ạ?”. Ôi, thời sadi của chị, toàn là những điều trái khoáy!

BBT: Thưa sư cô, chúng con biết là Thầy luôn quan tâm chăm sóc mỗi đệ tử của mình. Khi sư cô có dịp được đi cùng Thầy trong những chuyến hoằng pháp, sư cô được Thầy chăm sóc như thế nào?

Trong cuốn Tay thầy trong tay con – cuốn sách tập hợp những bức thư Thầy viết cho đệ tử – có một đoạn Thầy viết về cách mình thực tập khi đi ra ngoài. Mỗi khi đứng đợi làm thủ tục check-in ở sân bay Thầy luôn đi qua đi lại nhắc nhở: “Các con, mình đang check-in nhưng nhớ là mình cũng đang thở”. Trước khi lên máy bay, trong phòng chờ, Thầy luôn ngồi ở hàng ghế đầu để anh chị em có thể nhìn thấy Thầy dễ dàng. Thấy Thầy là ai cũng nhớ để trở về với hơi thở. Đó là cách Thầy nhắc nhở đệ tử. Lúc ấy, mới là một sadi, chị không thấy được điều đó, chị chưa có nhiều chánh niệm. Nhưng bây giờ, chị nhớ lại hết những điều này. Cách Thầy dạy học trò của mình là như vậy đó, khi thì bằng lời nói, khi thì bằng thân giáo của Thầy. Thầy luôn là người lên máy bay cuối cùng. Sư cô Chân Đức từng chia sẻ có lần Sư cô lên máy bay trễ vì Sư cô phải đi vệ sinh, khi Sư cô còn đang tìm xem mình phải lên cửa nào thì bỗng có ai vịn vào vai Sư cô từ phía sau, người đó chính là Thầy. Thầy luôn là người đi cuối cùng trong đoàn để đảm bảo là ai cũng đã lên máy bay.

Trong một chuyến hoằng pháp, tăng thân đi từ miền Nam Cali lên miền Bắc bằng xe bus. Trong 6 giờ đồng hồ trên xe đại chúng hát thiền ca. Trước khi xe chuyển bánh, Thầy là người lên cuối cùng. Thầy cười và nói: “Chúng ta đang làm công việc của Bụt, các con mời Bụt trong mình lên thở và có mặt với mình trong xe”. Rồi chuông được thỉnh lên. Boong, boong… Thầy luôn tận dụng mọi cơ hội để nhắc đại chúng trở về với sự thực tập chánh niệm.

Có thời gian Thầy khuyến khích tất cả mọi người đọc cuốn Những người con của tiến sĩ Lương (Kinfolk) của Pearl S. Buck, một tác giả Mỹ đã đoạt giải Nobel Văn học. Lần đó, chị đọc cuốn sách trên xe bus, chị chăm chú hoàn toàn vào cuốn sách, không biết gì tới xung quanh mọi người đang ăn uống, hát ca, trò chuyện,… Rồi tự nhiên có người đến bên cạnh, vỗ vào vai chị và đưa cho chị một bịch khoai tây chiên, đó là Thầy.

Lần khác, sau khi kết thúc một khóa tu ở Colorado, đại chúng lấy xe bus để đi tới điểm mình sẽ đi dã ngoại. Ai cũng đã lên xe và Thầy là người lên sau cùng. Thầy nhìn các con một lượt và hỏi: “Thầy có một câu đố cho các con, cái gì trắng ở bên ngoài nhưng nâu ở bên trong?”. Các sư em thử đoán xem! Đó chính là… cái xe bus. Bên ngoài nó được sơn màu trắng nhưng bên trong da bọc ghế có màu nâu. Cả xe không ai trả lời được câu đố của Thầy, không ai trong đoàn có đủ chánh niệm lúc đó để nhìn rõ cái xe bus. Thầy thực sự sống rất sâu sắc mỗi giây phút của đời sống.

Thầy luôn cố gắng hết sức để nhắc nhở, dạy dỗ các đệ tử của mình trở về với tự thân, với hơi thở bằng nhiều cách rất khéo và cũng rất vui.

BBT: Thưa sư cô, có khi nào sư cô cảm thấy Thầy dạy mình đúng theo cách của một Thiền sư không? Chúng con thường hay nghe kể rằng Thầy hay dạy quý thầy khá mạnh nhưng nhẹ nhàng với quý sư cô?

Đúng là như vậy, Thầy thường nhẹ nhàng hơn với quý sư cô. Chị cũng từng bị Thầy rầy nhưng đó là sau này khi chị đã lớn hơn, chứ không phải trong thời gian còn là sadi. Thầy biết lúc đó chị còn yếu, nếu bị Thầy la mạnh chắc chị không chịu nổi! (cười)

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã giữ tâm bồ đề của mình như thế nào? Đã có khi nào sư cô nghĩ tới chuyện rời khỏi tăng thân chưa?

Chưa. Mình không bao giờ chắc chắn được về bản thân mình. Chị thường cố gắng không nói không bao giờ. Đó thực sự là một cách để thử bản thân. Những thử thách luôn đến từ bên trong. Chị luôn thận trọng khi trả lời câu hỏi này. Câu trả lời của chị là: Chưa, chị chưa khi nào nghĩ tới chuyện rời bỏ tăng thân.

Năm năm đầu tiên sau khi xuất gia quả thật là khó khăn đối với chị. Chị nhận ra rằng những khó khăn đó đến là vì chị đã không thực sự bám vào sự thực tập. Chị để cho tâm mình luôn chạy hết chỗ này tới chỗ khác. Sau năm năm, chị có thêm nhiều không gian bên trong và bắt đầu liên hệ được với mọi người.

Chìa khóa ở đây là sự thực tập chánh niệm. Nếu mình có đủ chánh niệm, mình có thể nhìn thấy mình rõ hơn: nhìn ra cách mình suy tư, hành xử, nói năng. Khi nhìn ra được thì mình có thể chuyển hóa được.

BBT: Thưa sư cô, có câu “thần chú” nào giúp sư cô dừng lại tâm mình khi nó chạy rất nhanh hoặc muốn chạy trốn không?

Chị thực tập thiền hành mỗi ngày sau bữa ăn trưa. Mình phải chọn một sự thực tập và thực sự để hết lòng mình vào sự thực tập ấy cho tới khi nắm vững nó. Thầy hay nói: “Thầy cho rất nhiều nhưng các con nhận chẳng bao nhiêu”, “Thầy nạo xương tủy của Thầy ra để cho các con”. Điều đó có nghĩa là mình chưa thực sự để hết năng lượng, cố gắng của mình vào sự thực tập.

Hãy chọn thực tập một thứ thôi, như là thực tập không nói trong khi đi, nhưng phải thực sự thực tập hết lòng. Các sư em hãy thử đi. Đối với chị cách thực tập này đã giúp chị rất nhiều trong việc chuyển hóa tự thân vì nhờ đó mà chị có khả năng chú tâm, chị có thể nhìn ra được cách tâm mình vận hành, những thói quen của nó và từ đó chị mới có thể chuyển hóa được nó.

Trong quá khứ, ai vắng mặt thiền tọa hoặc thiền hành ba lần mà không có lý do chính đáng sẽ phải ra sám hối trước đại chúng. Điều này cũng giúp rất nhiều cho sự thực tập. Khi mình ở trong một tăng thân nhỏ, đại chúng sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình ngay. Với đại chúng khoảng 70 người như hiện nay ở xóm Mới, sẽ khó nhận ra sự vắng mặt của ai đó hơn. Vì vậy, mình càng phải ý thức thực tập hơn. Đó chính là công phu của mình. Nếu mình không hạ thủ công phu, không giữ nề nếp thực tập mỗi ngày, thời gian trôi qua rất nhanh, mình sẽ không có nền tảng gì hết và mình sẽ gặp khó khăn. Thầy hay nói: “Đừng có thực tập sơ sơ hay thực tập ngoài da”.

Tưởng tượng rằng mình đang bị chìm trong nước, nếu ai đó ném cho mình một cái phao thì mình sẽ ngay lập tức bám chặt lấy nó, vì đó là vấn đề sống hay chết, không phải chuyện đùa. Các sư em hãy nghĩ về chuyện thực tập hơi thở ý thức với tinh thần như vậy. Đã bao lần Thầy bệnh nặng, thập tử nhất sinh nhưng nhờ vào hơi thở Thầy đã qua được. Cho nên, hãy chọn một sự thực tập và đầu tư hết mình vào đó, thật sự đặt hết sinh lực của mình vào đó.

Chị nghĩ rằng chị đã có những thói quen tốt là nhờ được sống gần Sư cô Chân Đức trong ba năm đầu khi chị còn là sadi. Đó thực sự là một may mắn lớn. Sư cô rất kỷ luật và nghiêm túc trong sự thực tập. Sống cùng Sư cô một thời gian đã giúp chị dần hình thành thói quen không bỏ thời khóa. Chị tham gia đều đặn mọi thời khóa hàng ngày của tăng thân, trừ những khi bị bệnh. Khi mình mới xuất gia mình còn có rất nhiều tập khí, nó mạnh hơn ước muốn thực tập của mình. Đi theo thời khóa đều đặn, từ từ kỷ luật sẽ được hình thành và mình sẽ có được sự điều độ trong mọi thứ, giờ ăn thì mình ăn, giờ thiền hành thì mình thiền hành, giờ ngủ thì mình ngủ, giờ để thực tập yên lặng thì mình yên lặng,… Thực tập đúng giờ nào việc nấy, sự điều độ và kỷ luật sẽ được hình thành.

Nếu cứ sống theo ý thích của mình thì dù sống nhiều năm trong tăng thân mình cũng không rèn được tính kỷ luật và nếu không có kỷ luật, các tập khí rất khó để được chuyển hóa.

Rất nhiều sư cô muốn học cách để quản lý thời gian của mình tốt hơn. Cách hay nhất là chỉ cần theo đúng thời khóa. Nếu mình có thể theo thời khóa thì mình sẽ biết cách để sử dụng thời gian của mình hay hơn.

 

 

 

BBT: Chúng con rất hạnh phúc và biết ơn sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

Nụ cười tỏa chiếu niềm tin

(Phỏng vấn sư cô Thuận Nghiêm)

Sư cô Thuận Nghiêm xuất gia năm 2000 tại Làng Mai, nước Pháp, trong gia đình Cây Bông Sứ. Sư cô đã có nhiều năm gắn bó với Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB) ở Hong Kong. Từ mùa xuân năm 2019, sư cô đã về nhập chúng xóm Mới (Làng Mai – Pháp) và tiếp tục hiến tặng rất nhiều tiếng cười, niềm vui cho mọi người, đặc biệt là các sư em nhỏ. Nhân dịp này, Ban biên tập đã có buổi trò chuyện với sư cô về hành trình tâm linh cũng như những kỷ niệm của buổi ban đầu sư cô đến với đời sống xuất sĩ. Bài được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

BBT: Thưa sư cô, điều gì đã đưa sư cô từ Mỹ qua tới Pháp để trở thành một vị xuất sĩ trong truyền thống Làng Mai? Điều gì gây ấn tượng nhiều nhất khi sư cô tới Làng Mai lần đầu tiên?

Năm 1998, Thầy có chuyến hoằng pháp ở Mỹ. Mẹ của Thuận Nghiêm (TN) nói: “Con chở mẹ tới nghe buổi pháp thoại công cộng của Thầy”. Địa điểm diễn ra buổi pháp thoại rất gần nhà TN ở Virginia. Vì mẹ rất muốn nghe Thầy giảng nên TN đồng ý lái xe đưa mẹ đi.
Thầy thuyết pháp tại giảng đường của một trường trung học cho khá nhiều người nghe. Trước đó TN chưa bao giờ nghe nói tới Thầy. Hôm đó, TN chỉ nhớ Thầy nói về phòng thở và thấy điều đó chẳng hứng thú gì mấy và cũng không thực tế cho lắm, ít người có thể thực sự làm được.
 
TN nói với mẹ là chị muốn đi về nhưng mẹ trả lời: “Được, con cứ về nhưng mẹ sẽ ở lại”. Lúc ấy mẹ TN đã là một sư cô rồi, xuất gia với Sư Ông Trúc Lâm. Vậy nên cuối cùng TN cũng đành ở lại. Cuối buổi pháp thoại, thấy có một bàn đầy những sách của Thầy. Mẹ nói với TN: “Đường xưa mây trắng là cuốn sách rất hay, con nên đọc nó”. TN trả lời: “Con không đọc đâu. Cuốn đó dày quá”. “Vậy con thỉnh cuốn đó cho mẹ được không? Mẹ muốn đọc nó”.TN nghĩ mẹ đã cố gắng tạo mọi điều kiện cho TN được gặp Pháp, được gặp Thầy.
 
TN đã thỉnh cuốn sách về nhà nhưng không đọc ngay, vì vào những ngày cuối tuần TN thường đi chơi với các bạn.TN thích đi xe đạp lắm. Lúc đó, chị làm việc ở Washington DC nơi có rất nhiều những tượng đài lớn, mỗi đời Tổng thống đều có một tượng đài khác nhau! Trong thành phố cũng có nhiều công viên rất đẹp, đặc biệt vào mùa xuân khi hoa anh đào nở. Nước Nhật đã tặng cho thủ đô Washington rất nhiều cây anh đào. Cuối tuần nào TN cũng đạp xe với bạn bè, đâu còn thì giờ để đọc sách. Cho đến một lần, tất cả đám bạn đều đi nghỉ lễ hết, chỉ còn mình TN ở nhà. Lúc đó, TN mới bắt đầu đọc cuốn sách. Khi đã cầm tới nó, thì không thể để nó xuống được nữa. TN đọc một mạch tới hai giờ sáng. TN nghĩ trong lòng: “Có một cách sống khác, đơn giản nhưng quả thật rất có ý nghĩa”.
 
Thầy đã viết cuốn sách này thật hay. TN nghĩ bụng có lẽ khi nào đó sẽ đi du lịch ở châu Âu và sẽ dừng chân ở Làng Mai để “mục sở thị”cuộc sống ở đó. Và rồi mùa hè tiếp theo – hè 1999 – TN đã tới Làng Mai. Khi chị tới nơi, ở Làng gần như chẳng có ai. Thầy đã đưa một phái đoàn đi hoằng pháp ở Trung Quốc. Người đầu tiên TN được gặp là sư cô Phúc Nghiêm và sư chú Pháp Bảo. TN tới vào thứ Bảy, hôm sau là ngày Phật đản. Thầy đã đưa hầu hết các vị xuất sĩ Tây phương đi cùng trừ sư chú Pháp Bảo vì sư chú vừa mới xuất gia. TN rất ấn tượng với buổi lễ mừng Phật đản, giản dị nhưng vô cùng cảm động và hoàn toàn khác với những nghi lễ mà TN đã thấy trong các chùa truyền thống.
 
TN chỉ ở lại Làng hai đêm ba ngày. Trước khi rời Làng, TN đã hỏi: “Ở đây quý thầy, quý sư cô được xuất gia như thế nào?”. Khi đặt câu hỏi này, TN cũng thực sự ngạc nhiên với chính mình. Cuộc sống của TN trước khi tới Làng vốn cũng đơn giản. Khi nhìn thấy cách sống đơn sơ và mộc mạc ở Làng TN cảm thấy như về đến nhà. Vào thời điểm đó, TN chẳng có chút ý niệm nào về cứu độ chúng sanh, cũng chưa có một tâm bồ đề dũng mãnh hay điều gì đó tương tự. TN chỉ muốn sống một đời sống đơn giản.
 
TN về lại Mỹ, sắp xếp mọi thứ và chỉ khoảng năm tháng sau TN đã quay lại Làng xin được xuất gia. Rất nhanh chóng! Khi còn ở Mỹ TN có viết một bức thư hết sức buồn cười cho Thầy. TN viết: “Kính gửi Hòa thượng Thích Nhất Hạnh. Con đã đến Làng Mai, Hòa thượng không có ở đó nhưng con đã gặp tăng thân của Hòa thượng và con muốn đến đó sống, con không biết làm sao để được chấp nhận”. Thầy dạy Sư cô Chân Không viết thư trả lời.
 
Trong thư, Sư cô viết: “Con hãy thu xếp mọi việc rồi tới đây”. Khi TN trở lại Làng, Sư cô nói với TN: “Con là trường hợp dễ nhất. Sư cô không cần phải thuyết phục con gì hết. Con đã tự mình đến”. Lúc đó là vào tháng 12 năm 1999. TN quyết định tới Làng trước năm 2000, vì xung quanh ai cũng nói tới sự cố máy tính đầu thiên niên kỷ mới. TN sợ rằng nếu có chuyện xảy ra, hệ thống máy điện toán bị sụp thì mọi thứ có thể bị ngưng trệ hay trì hoãn. Thế nên, TN quyết định phải đến Làng trước năm 2000! TN đã tới Làng như vậy đó!
 
 
 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô có thể kể cho chúng con về thời sadi của sư cô không? Điều gì khó khăn nhất với sư cô trong giai đoạn này, khi sư cô mới vào chùa? Sư cô đã vượt qua khó khăn đó như thế nào?

Sống cùng và chia sẻ phòng với người khác là điều khó khăn nhất với TN. TN đã quen sống một mình và có phòng riêng. Điều gì đã giúp TN vượt qua thử thách này? TN nghĩ rằng nhớ lại tâm ban đầu đã giúp TN rất nhiều. Trước khi xin xuất gia, TN phải viết xuống những tâm nguyện của mình. TN đã viết: “Con muốn sống hòa đồng với mọi người”. Đó là nguyện ước duy nhất của TN. TN nghĩ chắc Thầy sẽ cho chị cái tên Đồng Nghiêm. Nhưng cuối cùng lại được mang tên Thuận Nghiêm. Có lần Thầy hỏi TN: “Con có biết vì sao thầy đặt tên con là Thuận Nghiêm không?”. TN trả lời Thầy: “Thưa Thầy, con không biết”. Thầy nói: “Chẳng lẽ thầy đặt tên con là Nghịch Nghiêm?”. TN đã phá lên cười và Thầy cũng cười khi thấy TN phản ứng lại với câu hỏi của Thầy.
 

BBT: Ngoài khó khăn trong chuyện ở chung, sư cô còn gặp những trở ngại nào khác không?

Có chứ, thức ăn! Trước khi xuất gia, TN không hề ăn chay. Trong quá khứ, thông thường sau khi xuất gia mình sẽ không ra khỏi tu viện trong vòng một năm. Thầy dạy rằng mình cần ở trong tu viện vì như vậy sẽ giúp bảo hộ sáu căn dễ hơn. Khi TN mới xuất gia, ở Làng còn rất ít người. Có lần sư cô Thoại Nghiêm cần TN làm đệ nhị thân cho sư cô đi chợ ở Ste Foy la Grande. Chỗ ấy có tiệm bán gà nướng! Khi đi qua đó, TN thèm ăn thịt kinh khủng. TN chỉ muốn mua nguyên cả con gà, chứ không chỉ một miếng, và ngồi xuống ăn hết ngay tại chỗ. Mùi thịt nướng thật không thể chịu nổi. Sư cô Thoại Nghiêm phải nói với TN: “Mình đi thôi, sao sư em cứ đứng đó hoài vậy?”. Khi mình không thấy thì không thèm. Không phải ra ngoài nhiều quả thật đã giúp TN rất nhiều. Tuy vậy, cơ thể TN cũng mất cả năm để thích nghi với chế độ ăn chay.
 

BBT: Xin sư cô chia sẻ với chúng con một vài kỷ niệm với Thầy mà sư cô ấn tượng nhất?

Khi TN mới xuất gia, tăng thân của mình chưa lớn như bây giờ. Thầy thường hay mời các sư con tới thiền trà cùng. Một lần sau bữa tối, chuông điện thoại reo, giọng Thầy ở điện thoại: “Các con tới chơi với Thầy”. Khi mọi người tới là khoảng 7 hay 8 giờ tối. Tất cả cùng ngồi chừng hai tiếng chờ ngắm hoa quỳnh nở. Hoa quỳnh thường nở lúc 10 hay 10 giờ 30 đêm. Chậu hoa được đặt ở giữa phòng Thầy, mọi người ngồi xung quanh. Thầy rót trà mời mỗi người rồi nói: “Con hát đi”. Thầy nói như vậy với TN tới ba lần nhưng TN bướng bỉnh không chịu hát. Thế là Thầy hát. Thầy hát một bài hát con nít bằng tiếng Pháp mà Thầy học ở trường mẫu giáo. Thường thì mỗi khi Thầy mời ai hát, Thầy sẽ chuẩn bị sẵn bài hát của mình. Người được mời hát trước rồi Thầy sẽ hát sau. Riêng với trường hợp của TN, chị không hát bài nào vì thực sự là trước khi xuất gia TN chẳng bao giờ hát.
 
Một bữa khác, sư cô Diệu Nghiêm (sư cô Jina) đem trà đen từ Ái Nhĩ Lan về. Thầy pha trà và chuẩn bị rót vào ly cho mỗi người. TN biết đó là trà đen, rất đậm, mà lúc đó đã là buổi tối rồi. TN nhìn Thầy đang rót trà và thưa: “Bạch Thầy, con không uống trà”. Thầy nhìn TN nói: “Ngồi yên đi con, đây là thất Ngồi Yên”. Rồi Thầy đưa ly trà cho TN. Uống hết ly trà, TN thưa với Thầy: “Bạch Thầy, con có thể xin thêm một ly nữa được không ạ?”.
 

BBT: Thưa sư cô, chúng con biết là Thầy luôn quan tâm chăm sóc mỗi đệ tử của mình. Khi sư cô có dịp được đi cùng Thầy trong những chuyến hoằng pháp, sư cô được Thầy chăm sóc như thế nào?

Trong cuốn Tay thầy trong tay con – cuốn sách tập hợp những bức thư Thầy viết cho đệ tử – có một đoạn Thầy viết về cách mình thực tập khi đi ra ngoài. Mỗi khi đứng đợi làm thủ tục check-in ở sân bay Thầy luôn đi qua đi lại nhắc nhở: “Các con, mình đang check-in nhưng nhớ là mình cũng đang thở”. Trước khi lên máy bay, trong phòng chờ, Thầy luôn ngồi ở hàng ghế đầu để anh chị em có thể nhìn thấy Thầy dễ dàng. Thấy Thầy là ai cũng nhớ để trở về với hơi thở. Đó là cách Thầy nhắc nhở đệ tử. Lúc ấy, mới là một sadi, TN không thấy được điều đó, chưa có nhiều chánh niệm. Nhưng bây giờ, TN nhớ lại hết những điều này. Cách Thầy dạy học trò của mình là như vậy đó, khi thì bằng lời nói, khi thì bằng thân giáo của Thầy. Thầy luôn là người lên máy bay cuối cùng để đảm bảo là ai cũng đã lên máy bay rồi.
 
Trong một chuyến hoằng pháp, tăng thân đi từ miền Nam Cali lên miền Bắc bằng xe bus. Trong 6 giờ đồng hồ trên xe đại chúng hát thiền ca. Trước khi xe chuyển bánh, Thầy là người lên cuối cùng. Thầy cười và nói: “Chúng ta đang làm công việc của Bụt, các con mời Bụt trong mình lên thở và có mặt với mình trong xe”. Rồi chuông được thỉnh lên. Boong, boong… Thầy luôn tận dụng mọi cơ hội để nhắc đại chúng trở về với sự thực tập chánh niệm.
 
Lần khác, sau khi kết thúc một khóa tu ở Colorado, đại chúng lấy xe bus để đi tới điểm mình sẽ đi dã ngoại. Ai cũng đã lên xe và Thầy là người lên sau cùng. Thầy nhìn các con một lượt và hỏi: “Thầy có một câu đố cho các con, cái gì trắng ở bên ngoài nhưng nâu ở bên trong?”. Các sư em thử đoán xem! Đó chính là… cái xe bus. Bên ngoài nó được sơn màu trắng nhưng bên trong da bọc ghế có màu nâu. Cả xe không ai trả lời được câu đố của Thầy, không ai trong đoàn có đủ chánh niệm lúc đó để nhìn rõ cái xe bus. Thầy thực sự sống rất sâu sắc mỗi giây phút của đời sống.
 
Thầy luôn cố gắng hết sức để nhắc nhở, dạy dỗ các đệ tử của mình trở về với tự thân, với hơi thở bằng nhiều cách rất khéo và cũng rất vui.
 

BBT: Thưa sư cô, có khi nào sư cô cảm thấy Thầy dạy mình đúng theo cách của một Thiền sư không? Chúng con thường hay nghe kể rằng Thầy hay dạy quý thầy khá mạnh nhưng nhẹ nhàng với quý sư cô?

Đúng là như vậy, Thầy thường nhẹ nhàng hơn với quý sư cô. TN cũng từng bị Thầy rầy nhưng đó là sau này khi đã lớn hơn, chứ không phải trong thời gian còn là sadi. Thầy biết lúc đó TN còn yếu, nếu bị Thầy la mạnh chắc không chịu nổi! (cười)
 

 

 

BBT: Thưa sư cô, sư cô đã giữ tâm bồ đề của mình như thế nào? Đã có khi nào sư cô nghĩ tới chuyện rời khỏi tăng thân chưa?

Chưa. Mình không bao giờ chắc chắn được về bản thân mình. TN thường cố gắng không nói không bao giờ. Đó thực sự là một cách để thử bản thân. Những thử thách luôn đến từ bên trong. TN luôn thận trọng khi trả lời câu hỏi này. Câu trả lời của TN là: Chưa, chị chưa khi nào nghĩ tới chuyện rời bỏ tăng thân.
 
Năm năm đầu tiên sau khi xuất gia quả thật là khó khăn đối với TN. Nhận ra rằng những khó khăn đó đến là vì TN đã không thực sự bám vào sự thực tập. TN để cho tâm mình luôn chạy hết chỗ này tới chỗ khác. Sau năm năm, TN có thêm nhiều không gian bên trong và bắt đầu liên hệ được với mọi người.
 
Chìa khóa ở đây là sự thực tập chánh niệm. Nếu mình có đủ chánh niệm, mình có thể nhìn thấy mình rõ hơn: nhìn ra cách mình suy tư, hành xử, nói năng. Khi nhìn ra được thì mình có thể chuyển hóa được.
 

BBT: Thưa sư cô, có câu “thần chú” nào giúp sư cô dừng lại tâm mình khi nó chạy rất nhanh hoặc muốn chạy trốn không?

TN thực tập thiền hành mỗi ngày sau bữa ăn trưa. Mình phải chọn một sự thực tập và thực sự để hết lòng mình vào sự thực tập ấy cho tới khi nắm vững nó. Thầy hay nói: “Thầy cho rất nhiều nhưng các con nhận chẳng bao nhiêu”, “Thầy nạo xương tủy của Thầy ra để cho các con”. Điều đó có nghĩa là mình chưa thực sự để hết năng lượng, cố gắng của mình vào sự thực tập.

 
Hãy chọn thực tập một thứ thôi, như là thực tập không nói trong khi đi, nhưng phải thực sự thực tập hết lòng. Đối với TN cách thực tập này đã giúp TN rất nhiều trong việc chuyển hóa tự thân vì nhờ đó mà TN có khả năng chú tâm, có thể nhìn ra được cách tâm mình vận hành, những thói quen của nó và từ đó TN mới có thể chuyển hóa được nó.
Trong quá khứ, ai vắng mặt thiền tọa hoặc thiền hành ba lần mà không có lý do chính đáng sẽ phải ra sám hối trước đại chúng. Điều này cũng giúp rất nhiều cho sự thực tập. Khi mình ở trong một tăng thân nhỏ, đại chúng sẽ nhận ra sự vắng mặt của mình ngay. Với đại chúng khoảng 70 người như hiện nay ở xóm Mới, sẽ khó nhận ra sự vắng mặt của ai đó hơn. Vì vậy, mình càng phải ý thức thực tập hơn. Đó chính là công phu của mình. Nếu mình không hạ thủ công phu, không giữ nề nếp thực tập mỗi ngày, thời gian trôi qua rất nhanh, mình sẽ không có nền tảng gì hết và mình sẽ gặp khó khăn. Thầy hay nói: “Đừng có thực tập sơ sơ hay thực tập ngoài da”.
 
Tưởng tượng rằng mình đang bị chìm trong nước, nếu ai đó ném cho mình một cái phao thì mình sẽ ngay lập tức bám chặt lấy nó, vì đó là vấn đề sống hay chết, không phải chuyện đùa. Hãy nghĩ về chuyện thực tập hơi thở ý thức với tinh thần như vậy. Đã bao lần Thầy bệnh nặng, thập tử nhất sinh nhưng nhờ vào hơi thở Thầy đã qua được. Cho nên, hãy chọn một sự thực tập và đầu tư hết mình vào đó, thật sự đặt hết sinh lực của mình vào đó.
 
TN nghĩ rằng TN đã có những thói quen tốt là nhờ được sống gần Sư cô Chân Đức trong ba năm đầu khi TN còn là sadi. Đó thực sự là một may mắn lớn. Sư cô rất kỷ luật và nghiêm túc trong sự thực tập. Sống cùng Sư cô một thời gian đã giúp TN dần hình thành thói quen không bỏ thời khóa. TN tham gia đều đặn mọi thời khóa hàng ngày của tăng thân, trừ những khi bị bệnh. Khi mình mới xuất gia mình còn có rất nhiều tập khí, nó mạnh hơn ước muốn thực tập của mình. Đi theo thời khóa đều đặn, từ từ kỷ luật sẽ được hình thành và mình sẽ có được sự điều độ trong mọi thứ, giờ ăn thì mình ăn, giờ thiền hành thì mình thiền hành, giờ ngủ thì mình ngủ, giờ để thực tập yên lặng thì mình yên lặng,… Thực tập đúng giờ nào việc nấy, sự điều độ và kỷ luật sẽ được hình thành.
 
Nếu cứ sống theo ý thích của mình thì dù sống nhiều năm trong tăng thân mình cũng không rèn được tính kỷ luật và nếu không có kỷ luật, các tập khí rất khó để được chuyển hóa.
Rất nhiều sư cô muốn học cách để quản lý thời gian của mình tốt hơn. Cách hay nhất là chỉ cần theo đúng thời khóa. Nếu mình có thể theo thời khóa thì mình sẽ biết cách để sử dụng thời gian của mình hay hơn.
 
 

 

 

BBT: Chúng con rất hạnh phúc và biết ơn sư cô đã dành thời gian trò chuyện cùng chúng con.

Chương trình cứu trợ lũ lụt-Hoa Yêu Thương

Với tấm lòng của các vị thân hữu xa gần đã cúng dường tịnh tài tịnh vật để chương trình Hoa Yêu Thương thay mặt quý vị có thể mang những món quà tình thương này đến với đồng bào vùng lũ. Thời gian vừa qua, chương trình đã tiếp cận được với đồng bào một số vùng ở Huế, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi.

Kính mời đại chúng trở về với hơi thở ý thức, buông thư, thiết lập năng lượng bình an và vững chãi để có mặt đồng hành cùng đoàn cứu trợ Hoa Yêu Thương đến với đồng bào qua những khoảnh khắc dưới đây:

 

Hoa yêu thương giữa vùng bão lũ

 

Tình thương lên tiếng gọi

Mưa bão liên tiếp từ đầu tháng 10 đã khiến cho người dân các tỉnh miền Trung, đặc biệt là các tỉnh từ Quảng Bình đến Quảng Ngãi oằn mình chạy lũ. Hàng trăm ngàn ngôi nhà chìm trong biển nước; nhiều khu vực bị cô lập, chia cắt. Nhà sập, tài sản, lương thực, thực phẩm, vật nuôi, thóc giống không còn. Nhiều gia đình trắng tay, nhiều hộ lâm vào cảnh màn trời, chiếu đất.

Trước tình cảnh đó, ngay từ đầu mùa mưa bão, quý thầy ở chùa Từ Hiếu và quý sư cô Ni xá Diệu Trạm đã cùng với nhau phân chia thành nhiều nhóm, đi đến nhiều nơi ở Huế và Quảng Trị để giúp cho những người dân bị ngập lụt. Đoàn đã tặng 5121 phần quà tại các điểm bị ngập lụt ở Huế và 1875 phần quà tại các huyện Cam Lộ, Triệu Phong và Hải Lăng của tỉnh Quảng Trị.

Sáng ngày 27.10, quý thầy, quý sư cô lại tiếp tục chia làm hai đoàn cứu trợ để đến với bà con ở Quảng Bình và các huyện miền núi ở Quảng Trị. Trước đó một ngày, nghe tin bão số 9 đang đổ bộ vào miền Trung, nhiều người cũng hơi lo ngại và khuyên đoàn nên hoãn chuyến đi cứu trợ. Nhưng rồi quý thầy, quý sư cô vẫn quyết định lên đường, vì biết rằng bà con vùng lũ đang trông chờ hàng cứu trợ mỗi ngày. Khó mấy cũng đến với bà con!

 

 

Nụ cười ta trao cho nhau

Tại Quảng Bình

Đoàn đã đến thăm và tặng quà cho người dân tại các huyện bị ngập nặng nhất của Quảng Bình như Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Minh Hóa, Tuyên Hóa và Lệ Thủy. Mưa lớn kéo dài đã làm cho hàng chục ngàn nhà dân nơi đây ngập sâu trong nước. Ở những nơi này, người dân phải tất tả chạy lũ 3-4 lần trong suốt một tháng. Nước ngập từ 1,5 đến 2m. Có những nơi như xã Tân Hóa (huyện Minh Hóa), toàn bộ nhà dân đều bị ngập lút mái.

Để đến các điểm được coi là “rốn lũ” như xã Tân Hóa, xã Quảng Minh, đoàn phải đi bằng thuyền để đem quà cứu trợ đến cho người dân nơi đây. Nước lũ chảy xiết khiến cho một chiếc thuyền chở hàng cứu trợ của đoàn (gồm gạo và các nhu yếu phẩm) suýt bị đắm.

Khó khăn là vậy nhưng điều làm cho các thành viên trong đoàn cảm thấy ấm lòng là hình ảnh bà con hết lòng phụ giúp quý thầy, quý sư cô bốc vác hàng từ thuyền lên bờ rồi chuyển đến các điểm để phát quà. Các o, các dì với thân hình nhỏ nhắn như vậy mà ai cũng đòi vác trên mình 2-3 bao gạo, làm cho các thanh niên trong đoàn cũng phải trầm trồ thán phục.

 

 

Đi đến đâu, món quà đầu tiên mà quý thầy, quý sư cô trao cho bà con là nụ cười, là tình thương yêu, là tinh thần lạc quan để vượt qua những khó khăn, mất mát. Thầy Từ Hải nói với bà con: “Mình đã khổ cả đời rồi, bây giờ mình phải cười lên, cười thì mới có sức mà đi qua khó khăn”. Rồi thầy mời các thầy các sư cô trong đoàn hát tặng bà con những bài thiền ca, trong đó có bài Hiểu và Thương:

“Anh em ta từ bốn phương trời
Chị em ta từ khắp năm châu
Không phân biệt màu da tôn giáo
Cùng về đây xây đắp yêu thương…”

 

 

Thầy cũng khuyến khích bà con hãy thương yêu và giữ gìn đất Mẹ bằng những hành động rất nhỏ trong đời sống hàng ngày của mình như hạn chế dùng túi ni-lông, tránh xả rác và cố gắng giữ gìn môi trường sống xung quanh mình.

Thầy Pháp Ứng thì hướng dẫn bà con cùng hát và thở theo bài Thở vào – Thở ra, để tiếp xúc với yếu tố tươi mát, vững chãi, tĩnh lặng và không gian thênh thang trong lòng mình.

 

 

Rất đông bà con ở Quảng Bình là người theo đạo Công giáo, nhưng vẫn thấy rất gần gũi với quý thầy, quý sư cô – những người con Bụt. Niềm vui và tình thương yêu lan tỏa qua những bài hát. Gương mặt ai cũng nở ra như một đóa hoa. Có người đã xúc động chia sẻ: “Con thương quý thầy, quý sư cô quá! Đường xá khó khăn, cách trở như vậy mà quý thầy, quý sư cô vẫn tìm đến với bà con!”. Ở nhiều nơi đoàn đến, khi nhận quà xong, bà con vẫn nán ở lại đến phút cuối cùng để chia tay và nói lời cảm ơn đến quý thầy, quý sư cô.

Ở những huyện miền núi như Tuyên Hóa, Minh Hóa, nhiều tuyến đường bị sạt lở nghiêm trọng. Có những điểm như xã Ngư Hóa (huyện Tuyên Hóa), quý thầy, quý sư cô trong đoàn đã chuẩn bị tinh thần là không thể chuyển quà đến cho bà con vì đường bị sạt lở, xe không vào được. Nhưng thật may mắn là các cán bộ địa phương đã kịp thời cho thông đường để đoàn xe cứu trợ có thể đem quà đến cho người dân nơi đây.

Đoàn cũng đã đến thăm và tặng quà cho đồng bào người Rục ở xã Thượng Hóa, huyện Minh Hóa – vùng biên giới với Lào. Đến được với đồng bào nơi đây thật là một chặng đường dài. Đoàn phải đi xuồng máy khoảng 2 cây số giữa trời mưa bão. Đồng bào người Rục thì cũng phải đi 7-8 cây số mới đến được điểm tập trung để nhận quà cứu trợ. Tính đến thời điểm đoàn vào, nơi này đã bị cô lập 25 ngày rồi. Rất ít đoàn cứu trợ đến được nơi đây. Quý thầy, quý sư cô phải phát quà giữa trời mưa, chỉ đủ một tấm bạt trải dưới đất để gạo và các nhu yếu phẩm rồi một tấm nữa phủ lên trên che mưa. Khi biết sẽ nhận được gạo, bà con ai cũng rất vui, vì tới thời điểm đó, bà con chỉ nhận được mỳ gói mà thôi. Sau khi tặng quà cho đồng bào tại địa điểm tập trung, quý thầy, quý sư cô nhờ người dân chở bằng xe máy đi khoảng hai cây số đường rừng, sau đó lại qua một chuyến đò nữa mới đến được bản Ón – bản gần nhất mà đoàn có thể đến thăm. Quý thầy, quý sư cô có cơ hội tiếp xúc và tìm hiểu về đời sống của đồng bào nơi đây. Đồng bào Rục ở Thượng Hóa vốn sống trong rừng sâu, hang đá chỉ quen với việc săn bắt, hái lượm, rồi được chính quyền địa phương vận động, đưa về địa bàn này định cư. Thế nhưng, trải qua thời gian dài, cuộc sống của người dân vẫn còn rất khó khăn do chưa quen với việc trồng trọt, chăn nuôi. Đoàn đã tặng cho ba gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mỗi hộ 2 triệu đồng.

 

 

Sau sáu ngày liên tiếp, đoàn đã tặng được 10.248 phần quà cho người dân Quảng Bình. Trung bình mỗi phần quà trị giá 485.000 đồng (gồm 200.000đ tiền mặt cùng với gạo và một số nhu yếu phẩm khác):

– Huyện Quảng Ninh: 2.577 phần quà + 8 trường hợp đặc biệt

– Huyện Quảng Trạch: 1.027 phần quà. Đoàn có ghé thăm Trung tâm chăm sóc và phục hồi chức năng cho người tâm thần và tặng các bệnh nhân nơi đây 10 triệu đồng cùng với gạo và một số thực phẩm khác.  

– Huyện Bố Trạch: 172  phần quà + 1 trường hợp đặc biệt

– Huyện Minh Hóa: 1.502 phần quà + 3  trường hợp đặc biệt

– Huyện Tuyên Hóa: 2.244 phần quà

– Huyện Lệ Thủy: 2.626 phần quà + 25 trường hợp đặc biệt      

Ngoài ra đoàn còn đến thăm và tặng thêm cho 37 hộ gia đình gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mỗi hộ 2 triệu đồng.

Tại Quảng Trị

Ngày 29.10 – Sau hai ngày mưa bão tưởng không thể di chuyển được, cuối cùng đoàn cứu trợ do quý thầy chùa Từ Hiếu và quý sư cô Ni xá Diệu Trạm tổ chức đã có mặt tại hai huyện miền núi của tỉnh Quảng Trị: huyện Đakrông và huyện Hướng Hóa. Tại hai huyện này, mưa lớn khiến nước sông dâng cao gây chia cắt, cô lập nhiều thôn, xã trên địa bàn. Đoàn đã tặng 1000 phần quà tại 3 xã: Đakrông (400 phần), Mò Ó (200 phần) và Hướng Hiệp (400 phần). Mỗi phần quà gồm 200.000 đ tiền mặt, 1 bao gạo (12,5 kg) cùng với chăn, sữa, thuốc, quần áo ấm cho trẻ con. Ngoài ra, đoàn còn hỗ trợ cho 8 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn.

Ngày 30.10 – Đoàn đến thăm bốn xã A Bung, A Vao, A Ngo và Tà Rụt của huyện Đakrông. Bốn xã này là vùng bị sạt lở nặng nhất và hoàn toàn bị cô lập. Rất ít đoàn cứu trợ tiếp cận được vùng sâu này. Khi đoàn đến thì đường vẫn sạt lở và khá nguy hiểm. Người dân nơi đây hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số như Vân Kiều, Pa kô, Tà Ôi… Đại đa số là hộ nghèo, đời sống của đồng bào nơi đây còn rất nhiều khó khăn. Đoàn đã tặng 2000 phần quà cho người dân của bốn xã; ngoài ra còn hỗ trợ cho 10 gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Ngày 31.10 – Đoàn tiếp tục hành trình đến các xã vùng sâu của huyện Đakrông: xã Húc Nghì, Ba Nang và thị trấn Krông Klang. Đường đi đến các xã miền núi này thật gian nan, mỗi ngày đoàn phải đi 200 cây số (cả đi lẫn về). Đồng bào đến nhận quà cũng đi một chặng đường dài, cả đi và về phải mất một ngày vì đường núi khó khăn và phải gùi trên vai. Đoàn đã tặng được 1100 phần quà cho đồng bào của ba xã này.

Ngày 1.11 – Đoàn đã tặng 2600 phần quà cho bà con ở bốn xã của huyện Hướng Hóa (xã Ba Tầng, xã Thanh, xã Lìa và xã Hướng Lộc) và bốn trường mầm non của huyện Đakrông.

Ngày 3.11 – Đoàn đã vào được các xã miền núi đặc biệt khó khăn của huyện Hướng Hóa như Hướng Linh, Hướng Phùng, Hướng Tân, Húc. Các xã này đang trong tình trạng bị cô lập do lũ quét. Đường vào các xã đã bị sạt lở nặng, rất nhiều cầu và đoạn đường bị lũ cuốn trôi. Đường đi khá nguy hiểm, đoàn phải di chuyển bằng xe ben, nhưng khi thấy gương mặt chờ đợi của đồng bào nơi đây thì mọi mệt mỏi của đoàn đều tan biến. Phải tận mắt chứng kiến mới thấy được sức tàn phá của bão lũ khủng khiếp đến nhường nào. Rất nhiều ngôi nhà bị bão đánh sập hoàn toàn; người dân phải dựng chòi ở tạm trên núi, rất thương tâm. Tại xã Húc, đã xảy ra liên tiếp các vụ sạt lở đất và đã có nhiều người chết. Đoàn đã tặng 1518 phần quà cho 4 xã này cùng với người dân ở thị trấn Khe Sanh. Ngoài ra, đoàn cũng hỗ trợ thêm cho 7 gia đình có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đoàn cũng tặng 400 phần quà cho người dân của xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong.

Sau năm ngày, đoàn đã tặng tổng cộng 9400 phần quà cho người dân của các huyện miền núi tỉnh Quảng Trị.

Ấm áp tình người

Chúng tôi rất biết ơn tấm lòng của rất nhiều thân hữu xa gần đã cúng dường tịnh tài, tịnh vật để chúng tôi có thể thay mặt quý vị đem những món quà tình thương ấy đến với đồng bào vùng lũ. Những chiếc chăn, những bộ quần áo cho trẻ em, thuốc men, đèn pin, áo phao, những hộp muối vừng, v.v. chứa đựng biết bao tình thương và tấm lòng san sẻ. Khó khăn, khổ đau của người dân thì ngút ngàn, nhưng tình thương, sự cảm thông, chia sẻ của mọi người từ khắp nơi gửi về sẽ giúp đồng bào miền Trung nguôi ngoai những đau thương và sớm vượt qua những khó khăn hiện tại để sớm ổn định cuộc sống.

 

 

Khi quý vị đọc được những dòng chia sẻ này thì một nhóm quý thầy, quý sư cô đang trên đường đến với đồng bào ở Quảng Nam và Quảng Ngãi. Để tiếp tục đồng hành cùng tăng thân trong hành trình hướng về miền Trung trong mùa bão lũ, xin quý vị gửi về địa chỉ sau:

Cứu trợ lũ lụt miền Trung 2020
 
Nguyễn Thanh Thọ (Thầy Pháp Thăng) – Đoàn Thị Uyên (Sư cô Phát Nghiêm)
Số Tài Khoản: 1017402737
Ngân hàng Vietcombank, Chi nhánh Hùng Vương, Huế, Việt Nam.
Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank)
Swift Code: BFTVVNVX016
Số điện thoại: (+84)848532177

Chúng tôi xin thành kính tri ân.

 

Về các hoạt động cứu trợ của Làng Mai, chúng tôi sẽ đăng chính thức trên Trang nhà Làng Mai và Facebook Làng Mai. Để yểm trợ chương trình, quý vị có thể Share (chia sẻ) bài từ Facebook Làng Mai. Kính cám ơn sự yểm trợ của tất cả mọi người.