| Tiêu đề | Loại |
|---|---|
| Như ánh nắng mai | Bài viết |
| Đám mây đang mỉm cười | Bài viết |
| Sáng cưỡi mây, chiều tắm nắng | Bài viết |
| Này tôi ơi, hạnh phúc thực ra gần lắm! | Bài viết |
| Ai là con của Bụt | Bài viết |
| Để gió cuốn đi | Bài viết |
| Khi tôi giận … | Bài viết |
| Tụi trẻ con hàng xóm | Bài viết |
| Cành mai năm ấy | Bài viết |
| Nguyện đi trên con đường của Bụt | Bài viết |
| Làng Mai dưới mắt nhà thơ Ly Hoàng Ly | Bài viết |
| Cảm ơn những bàn tay | Bài viết |
| Chốn ấy có nụ cười | Bài viết |
| Bước chân không biết thở | Bài viết |
| Hạnh phúc là khi… | Bài viết |
| Đường dài bước chân đỡ mỏi | Bài viết |
| Tâm bình, thế giới bình | Bài viết |
| Rửa bát là niềm vui | Bài viết |
| Xứng đáng chỉ có tình xót thương | Bài viết |
Cuộc hành trình của chánh niệm
Tôi không phải là một cây viết hay, càng không phải là một kẻ có tài hùng biện. Nhưng sau những trải nghiệm của mình khi về Làng vào khóa học mùa xuân vừa rồi, cũng như khóa học lần này, bỗng dưng tôi muốn chia sẻ câu chuyện của mình. Câu chuyện của chuyến đi tìm về với mình, tìm về với phút giây hiện tại. Cho tôi được gọi tên là: “Cuộc hành trình của chánh niệm”.
Xin phép được bắt đầu câu chuyện của mình bằng một câu nói mà tôi đọc ở đâu đó, rằng: “Hiểu biết là khi ta học thêm được điều gì đó mỗi ngày. Sự thông thái là khi ta biết buông bỏ mỗi ngày”. Vâng, bài học về sự buông bỏ chưa bao giờ dễ dàng với cá nhân tôi. Chính vì thế mà đôi khi tôi cảm thấy mình mắc kẹt trong những cảm xúc của chính mình, loay hoay giữ sự phân vân và hoài nghi về con người mình, về tương lai và mong muốn của mình. Loay hoay giữa câu hỏi: “Tôi là ai?”, “Tôi làm được gì?” và "Tôi mong muốn gì?”. Cái cảm giác luôn sống trong sự phân vân quả thật là vô cùng khó chịu. Cảm thấy đôi khi trống rỗng, mất phương hướng và chán nản. Khoan hãy hỏi về những vấn đề của tôi, hãy nghe tôi kể về cuộc hành trình tìm về chánh niệm, mà điểm đến là “Viện Phật học ứng dụng châu Âu” (gọi tắt là EIAB) hay cho tôi được gọi tên Thiền viện – một góc Làng Mai gửi gắm lại Waldbroel, miền Nam nước Đức, nơi tôi đã hẹn lòng một ngày phải tới thăm.
|
|
Ấy là ngày cuối tuần đầu mùa thu, tôi chọn khóa học: “Thầy cô giáo hạnh phúc làm thay đổi thế giới” (Happy teachers change the world) bởi có sự hướng dẫn của một người thầy tôi vô cùng trân trọng và kính mến. Khóa học kéo dài mười ngày, tiếc là chỉ có thể tranh thủ đôi ngày cuối tuần về thăm Thiền viện, điều mà đến giờ đây tôi vẫn cảm thấy tiếc nuối vô cùng, giá như tôi có thể ở dài hơn. Kết thúc công việc vào lúc 1 giờ sáng ngày thứ Bảy, 5 giờ sáng tôi vội vàng lên chuyến bay từ Berlin về Koeln trong một trạng thái vô cùng mệt mỏi, ấy vậy mà chặng đường đi lại đưa tôi hết từ trạng thái cảm xúc này tới trạng thái cảm xúc khác.
Mùa thu luôn mang lại cho ta nhiều cảm xúc. Đúng vậy, nhất là với một đứa vốn hay lãng đãng mơ màng như tôi, thì quả là chuyến xe buýt từ thị trấn nhỏ Hennef đến Waldbroel thật nhiều cảm xúc. Từ cái cảm xúc vừa buồn cười, vừa ngạc nhiên khi ông lái xe buýt vượt giữa hai làn đường ở trung tâm thị trấn và không ngại bấm còi inh ỏi khi chiếc ô tô phía trước trót dại cản trở đường đi của ông; cho đến cái “ồ”, “à” khi con đường về Waldbroel nằm giữa những cánh rừng già, một bên là vách núi, hoặc những ngọn đồi thoai thoải cỏ non xanh rờn, nơi những chú ngựa đang nhởn nhơ gặm cả những hạt sương rơi đầu ngọn cỏ. Một bên là dòng suối nhỏ, mà ngồi trên xe tôi vẫn nghe được rõ âm thanh róc rách. Lâu lắm rồi, giữa ồn ào thành thị tôi hình như đã quên mất cái âm thanh yên bình ấy. Thiếu sót lắm nếu không kể đến nụ cười của tôi khi nhìn thấy những bến chờ xe buýt nhỏ, vẫn còn quây quanh như một cái vọng gác, băng ghế gỗ cũ kỹ vết thời gian, nơi chỉ đôi ba người khách đứng chờ chuyến xe cuối tuần mỗi hai giờ đồng hồ, hay một trạm điện thoại công cộng đứng lẻ loi bên vệ đường, mà tôi nghĩ rất lâu mới có một vị khách ghé thăm.
Bến xe buýt cách không xa thiền viện như tôi tưởng, đi bộ chỉ khoảng 3, 4 phút. Thiền viện nằm trên ngọn đồi thoai thoải. Kéo vali lên tới nơi, tôi được chào đón bằng nụ cười ấm áp của bất kỳ ai dù chỉ đi thoáng qua tôi. Tôi đến sớm hơn giờ đăng ký mấy giờ đồng hồ. Bước vào phòng đăng ký, một sư cô chạy lại gần, hướng dẫn tôi bằng thứ tiếng anh lơ lớ, và ôm lấy tôi khi tôi thốt ra mấy câu tiếng Việt sệt giọng bắc. À, hóa ra là người Việt, cô ân cần hỏi tôi đã dùng bữa trưa hay chưa, và dẫn tôi tới nơi đăng ký nhận phòng nghỉ. Sư cô ý nhị sắp xếp cho tôi một phòng cùng hai cô bạn sinh viên người Đức, bởi sư cô biết tôi đến từ Berlin. Cám ơn sư cô rồi trở về phòng vì cũng đủ thấm mệt sau chặng đi dài, tôi định bụng nghỉ ngơi một chút để cài đặt lại tâm trí, cũng như cho đôi mắt được nghỉ ngơi. Nhưng sự háo hức, và niềm vui từ sự chào đón ấm áp của quý thầy, quý sư cô, cũng như khung cảnh yên bình nơi đây kéo tôi dậy. Dạo bước một vòng quanh thiền viện, hương thu vảng vất nơi tán lá đang chuyển màu, trong âm thanh tiếng chim ríu rít, huyền diệu trong cái không khí trong lành nơi làng quê nhỏ. Thời tiết quả là biết chiều lòng người. Nắng vàng nhè nhẹ giữa những chùm lá, hắt xuống góc sân, nơi lầu chuông nhỏ. Chọn cho mình một ghế băng gần đó, tôi thả mình thư thái giữa không gian rất thu và vô cùng yên bình nơi ấy.
Hít một hơi thở nhẹ, đón trọn hương thu, hơi thở đưa tôi về với mình. Hơi thở chánh niệm đến với tôi tự nhiên đến lạ, trong khoảnh khắc, mọi sự mệt mỏi, mọi phân vân, mọi trăn trở như một dòng chảy trôi qua tôi nhẹ nhàng như dòng suối nhỏ bên đường đi vậy. Thân tâm bỗng trở nên lắng dịu lạ thường. Tôi nhớ lời Thầy dạy về hơi thở chánh niệm: “Thở vào, tôi có mặt cho cảm thọ của tôi. Thở ra, tôi an tịnh cảm thọ của tôi”. Lúc trước tôi không hề biết hơi thở lại có sức mạnh diệu kỳ đến vậy! Tôi cảm nhận hơi thở đi vào trong mình, như gọi tâm trở về với thân, hướng thân tâm hòa nhập, để tôi ý thức mình đang sống trong giây phút hiện tại, kéo tâm khỏi những boăn khoăn, lo lắng, để đọc được cảm xúc trong mình. Hơi thở đi ra tôi mang lại sự an lạc trong lòng. Bầu trời xanh, tiếng chim hót, tiếng gió thu xào xạc, thức tỉnh mọi giác quan. Mình nhìn rõ mình nhất khi mình trở về với chính mình: không thanh minh, không biện bạch, không phòng vệ, cũng không lo sự phán xét. Tôi bắt đầu với chính mình, chợt nhận ra mình như một kẻ khờ, giữ khư khư chiếc ô trên tay, và đi vòng quanh để chờ một cơn mưa tới, dù bầu trời ngoài kia xanh và trong, dù nắng hồng đang chiếu sáng.
Buông bỏ không có nghĩa là buông xuôi, cũng không phải từ bỏ. Trở về và an trú trong phút giây hiện tại, không có nghĩa là chối bỏ hay chạy trốn các vấn đề của mình. Dừng lại để nhận diện những gì đang diễn ra trong tâm mình và để nhận biết điều gì nên buông bỏ, và điều gì là quan trọng với mình, xác định mình muốn gì, và cần phải làm gì để mong muốn ấy thành sự thật. Ấy là sự thực tập chánh niệm, với tôi khi ấy như một sự tỉnh thức, giống như ta lạc đường trong những lo lắng cho tương lai, bế tắc trong những băn khoăn về hiện tại, và khi ta chợt nhận ra điều gì là cần thiết nhất, mong muốn nhất, để ta biết ta nên và phải làm gì. Trong một tích tắc ta nhìn nhận mọi thứ vô cùng rõ ràng và bỗng nhiên chợt cảm thấy lòng nhẹ bẫng… Dạo bước quanh thiền viện, gió thu mơn man bên bờ vai…
Bài pháp thoại của thầy Pháp Lưu mà tôi được dự thính buổi sáng hôm sau giúp tôi gọi tên và nhận diện rõ ràng hơn những gì đang diễn ra trong tôi. Đó là bài học về sự “Dừng lại” (Stop) và sự “Buông bỏ” (Letting go). Dừng lại không có nghĩa là dồn nén cảm xúc của mình; như thầy chia sẻ, thì cảm xúc như một dòng chảy khi ta dừng lại. Hãy để cho dòng chảy ấy nhẹ nhàng trôi. Nhấn một nút dừng, nhận biết những gì đang diễn ra trong mình, gọi tên những cảm xúc ấy. Mọi cảm xúc (sợ hãi, lo lắng, tức giận, khao khát, ghen tỵ…) giống như một đứa trẻ đang khóc, hãy ôm ấp nó, chứ đừng để nó nắm giữ ta. Bình tâm lại, ta sẽ biết được nguồn cơn của mọi sự bất an, lo sợ, giận giữ hay khát khao ấy. Thông thường ta thường chọn cách chạy trốn khỏi những cảm xúc tiêu cực, nhưng đó không phải là cách.
Tôi cũng đã chạy trốn… Tôi gọi tên người bạn mới trong mình là: “Sự sợ hãi”. Sợ hãi rằng mình là kẻ kém cỏi, sợ phải thay đổi, sợ phải đối mặt với những thử thách mới, sợ bị tổn thương, sợ bị từ chối, sợ sai và sợ bị đánh giá và bao biện cho sự sợ hãi ấy bằng những lo lắng, boăn khoăn. Và khi mà tôi chưa dám gọi tên cảm xúc thật sự của mình, thì khi ấy tôi còn luẩn quẩn và bế tắc trong chính mình. Chánh niệm là khi tôi dừng lại, tôi biết được tôi đang sợ hãi, thay vì trốn chạy, tôi chấp nhận nó là một phần trong tôi, và khi ấy tôi nhìn rõ nhất tôi cần phải làm gì. Tôi khẽ cười khi phát hiện mình như một kẻ khờ, thu mình trong sự sợ hãi của bản thân, xây quanh mình một hàng rào cao và vững chắc bằng nỗi lo lắng và sự boăn khoăn, và ngồi trong dấm dứt khóc than, cầu cứu người khác. Khi ai đó lại gần bức tường ấy và hỏi:
-“Tôi làm được gì cho bạn?”
-“Tôi không biết, nhưng hãy cứu tôi!”. Tôi khẩn thiết
-“Tôi có thể cứu bạn bằng cách nào? Bạn cần gì, và mong muốn điều gì?”
-“Tôi cũng không biết mình muốn gì?”
-“Vậy chìa khoá của bức tường thành này đâu rồi, để tôi đưa bạn ra?”
-“Tôi không biết nó đâu rồi, tôi cũng chẳng muốn đi ra. Bạn chẳng hiểu gì tôi cả, chẳng ai hiểu tôi cả!” Tôi vội vàng quy chụp
Vậy đấy, ấy là cách tôi chạy trốn sự sợ hãi và lười biếng trong mình. Cũng là cách tôi làm tổn thương mình, và loay hoay giữa sự bế tắc trong chính mình. Khi tôi biết dừng lại, khi tôi biết nhìn vào mọi cảm xúc, gọi tên và học cách chấp nhận nó, cũng như học cách buông bỏ, tôi thấy mình nhẹ nhõm vô cùng. Suốt ba tháng qua, tôi đã không dành cho mình thời gian để dừng lại, mải miết chạy. Và chuyến đi này là một nút dừng quý giá để tôi quay về với xứ sở của phút giây hiện tại, quay về với hòn đảo tâm hồn mình, để biết mình nên và cần phải làm gì. Cũng biết sự thực tập cần được bồi đắp mỗi ngày, vẫn biết đừng để khi bế tắc mới loay hoay tìm kiếm, đôi khi ta nguỵ biện rằng cuộc sống vội vã ngoài kia cuốn ta đi, nhưng hãy dừng lại, dù chỉ một vài phút về với mình mỗi ngày, cuộc sống này sẽ nhẹ nhàng hơn.
Tôi nhớ đêm tôi về, rảo bước lên máy bay, tôi dừng lại vài phút giữa phi trường bởi đêm ấy trăng sáng quá, trăng ngày Rằm thì phải. Lặng ngắm, mỉm cười và hít một hơi thở nhẹ… Tôi nhớ lời hẹn trở về Làng… Vâng, con sẽ quay về Làng, và khi ấy con sẽ trưởng thành hơn… Nam mô Bụt.

Tôi thấy mình ở đây
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Nhận diện và biết ơn

Thật sao chị? Tập sách nhỏ này sẽ là quà sinh nhật của Thầy? Tôi hỏi. Tôi liền nhớ ra Thầy với đôi mắt sáng tinh anh, tôi nghĩ có lẽ vì ngài luôn nhìn thấy sự việc trước hàng chục năm. Khóe miệng luôn mỉm cười nhẹ vì trong lòng luôn hoan hỷ, đôi vành tai to vì luôn lắng nghe tiếng khóc của mọi loài. Tôi cũng tưởng tượng ra Thầy nhẹ nhàng lật từng trang sách để xem các con của mình tu tập ra sao. Có những lời hứa nào chân thật không. Chỉ nghĩ đến thế thôi lòng tôi ấm áp lạ lùng!
Vì sao? Vì tôi như đã được sanh ra sau khi gặp được một cuốn sách Kỷ Niệm Làng Mai Hai Mươi Tuổi. Vô tình được cuốn sách quá khổ, quý báu này trong chồng sách của thư viện chùa Đức Viên năm 2002. Tôi cẩn trọng lật từng trang, nghiền ngẫm từng đoạn. Tôi như được dẫn ra từng bước từ bóng tối cô lập, mặc cảm, cô đơn, xa lánh mà vẫn kiêu kỳ trong tôi. Những bài giảng của Thầy như thơ, nhẹ nhàng như nói chuyện cùng các thiền sinh. Tôi thật sự thưởng thức lối dạy như không dạy, không dùng ngôn từ Phật học, không kỷ thuật. Thầy đưa ra những sự thật xoay quanh cuộc đời con người. Đây là những gì tôi muốn nghe, muốn học. Những lời dạy của Người đã tưới mát tâm tôi. Tôi cũng đã đọc những lời chia sẻ của các bạn tây phương về sự chuyển hóa của họ sau những tuần lễ tu học.
Có lần tôi đã sụp lạy cái ti vi có thâu hình Thầy đang giảng. Khi Thầy nói ra những điều tôi rất tâm đắc, giúp tôi ngộ ra những điều u uẩn suốt bao năm trong lòng mình, tôi bỗng sụp lạy! Các thớ thịt với phản xạ tự nhiên bảo tôi phủ phục. Vì sao tôi có hành động lạ lùng đó? Tôi đã cúi đầu sụp lạy một vị trong ti vi! Đó là điều mà tôi nhận thấy đầu tiên trong con người mình. Thế rồi tôi tiếp tục mua thêm vài đĩa DVD nữa. Có nhiều lúc giật mình vì tưởng Thầy đang nói cho mình, đang rầy la mình bởi những lỗi lầm Thầy đem ra giảng giải dường như đều đúng với tôi.
Nhìn những gương mặt trẻ của các thầy, các sư cô Làng Mai cất lên tiếng niệm Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm mà hồn của tôi lắng đọng. Nhắm mắt, lắng nghe… Tâm chìm sâu vào khoảng không, nơi không còn những tư tưởng trôi nổi hay tán loạn nữa. Nơi không có tranh chấp, nơi không có giận hờn, nơi không có bản ngã kiêu kỳ vời vợi của tôi. Bất chợt tôi niệm theo từng tiếng một…. cứ thế mà nhận ra tâm mình thật bình an. Tôi đã nhìn ra tôi!
Rồi tôi tìm về Làng Mai để tìm gặp cho được vị thầy tu người Việt nhỏ bé mà ý chí thật lớn lao này. Tôi được tái sanh! Tôi đã tìm thấy tôi trong những ngày ở Làng. Tôi đã thấy màu đất thật đẹp trong tà áo của tăng đoàn. Tôi đã thấy lá cây thật xanh trải dài dưới thung lũng và nhận ra trái tim mình đang nhuôm một màu xanh! Cũng từ đó tâm hồn tôi mở ra một con đường đẹp hơn, đầy mật ngọt của cây trái hơn. Tôi thấy mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Tôi thấy mọi người học cách bình tĩnh, kiên nhẫn và chú tâm. Bổng thấy mình gần gũi với người khác hơn, yêu thương mọi người hơn. Thấy mình dễ dàng bỏ qua những chuyện bất như ý hơn, bớt giận hơn. Đó là những nhận diện trong tôi sau những ngày tu học tại Làng. Ở Làng, tôi học ăn chậm và biết ơn, tập đi trong chánh niệm, tập lắng nghe sâu và tập mỉm cười chân thật. Tôi cũng được tập nói năng nhẹ nhàng hơn, sử dụng từ ái. Tôi nhận ra nhiều thứ tưởng không mà có, nhiều thứ tưởng có mà không!
Thời gian đã đến, tôi phải đi như bao nhiêu thiền sinh khác. Tôi đã khóc khi rời khỏi Làng vì phải xa khung trời đầy bao dung ấy. Tôi phải xa một nơi tôi có thể thấy tôi. Tôi đã khóc như em bé mới chào đời, vì em đã phải rời khỏi cung điện ấm áp trong bụng mẹ, nơi cho em tình thương không điều kiện, nơi cho em sự nuôi dưỡng và chở che. Sau khi rời Làng, tôi tiếp tục thực tập, sử dụng những lời nhẹ nhàng, khích lệ hay đôi khi chỉ cần im lặng. Tôi học đi như một em bé học bước từng bước. Nhẹ nhàng trong hơi thở, chân chạm mặt đất với tâm biết mình đang đi. Tôi học cách quay ngược vào trong mỗi đêm, để thấy mình trong ngày có nói những lời làm buồn lòng ai không, có hay phản ứng vội vã khi nghe những lời bất như ý không, có để cơn giận cao trào cho thỏa mãn cái ngã không, có phân biệt, xem thường người thấp kém hơn mình không, có lắng nghe sâu để hiểu và để thương không… Còn nhiều cái có và còn nhiều cái không để tu tập lắm. Tôi tập nhận diện tâm hành của mình và nhận thấy mình còn quá nhiều thô thiển.

Rời Làng Mai với trái tim rộng mở, tôi bước thêm một bước nữa đó là gia nhập vào cộng đồng từ thiện. Mục đích cũng là để tiếp xúc, va chạm với thực tế, với những người không thân thích. Tiếp xúc với những người có hoàn cảnh xuất thân khác nhau, tánh ý khác nhau, sống chung chạ suốt nhiều tháng trời làm việc thiện nguyện, tôi không cô lập cuộc đời mình nữa. Bỗng nhận ra nhiều lần mình bật khóc trước những hoàn cảnh không lối thoát. Tôi đã thấy trái tim mình như rạn nứt vì trước mắt mình là một sinh vật người không giống người, vật không giống vật. Tôi thực tập va chạm vào họ, lắng nghe cảm xúc của mình.
Nhưng trong những chuyến đi dài qua nhiều quốc gia khác nhau, tôi cũng thấy những giương mặt kháu khỉnh thông minh, đầy hy vọng tươi cười khi nhận những phần quà của các nhà hảo tâm. Tôi cũng thấy được trái tim mình giãn nở tươi vui với các em. Cuộc đời không chỉ có nước mắt như tôi luôn nghĩ, mà còn có cả nụ cười tươi mát với một màu hy vọng. Và cũng từ đó tôi nhận diện ra nhiều vấn đề về mình về người, về xã hội, về kinh tế, chính trị xung quanh rõ ràng hơn. Thấy được rằng cuộc đời còn có nhiều hoa lạ trên sỏi đá, như sen thơm nở trong bùn! Tôi nhận ra được sự vô thường trong đời sống hằng thường, nhận ra được sự tồn tại và mong manh, nhận ra được sự bất sinh, bất diệt.
Tôi ghi ơn sâu sắc những lời dạy của Thầy qua mười bốn giới thực tập. Tôi thấy trái tim mình dành cho các loài sinh vật mãnh liệt hơn. Tôi nguyện bảo vệ sự sống của mọi loài qua nhiều hình thức khác nhau. Nhưng hình thức đơn giản nhất là trường chay và theo tôi đó là một hình thức phóng sanh đúng đắn nhất. Tôi cũng tập hòa đồng hơn với nhân viên của mình, có những giây phút vui vẻ bên họ. Và tôi tập mở lòng ra lắng nghe những khó khăn của họ. Tôi uyển chuyển hơn trong sự sắp xếp. Tôi tạo một phòng thở nhỏ dành cho những nhân viên cần ngồi yên trong giờ nghỉ. Tôi chuyển hoá mình và nhân viên cũng tự chuyển hoá một cách tự nhiên. Chúng tôi trở thành một tăng thân. Niềm vui lớn nhất của tôi là nhân viên của tôi cũng trở thành những người ăn chay một cách hoan hỉ.
Kính bạch Thầy,
Nhân ngày Tiếp nối của Thầy, con xin chia sẻ với Thầy những gì con gặt hái được trong sự tu tập của mình. Đó là sự thực tập nhận diện. Vì con nghĩ nhận diện là điều cần thiết trên con đường chuyển hoá cho con. Thiếu nhận diện con sẽ không thấy mình sai ở đâu. Thiếu nhận diện con sẽ không biết là mình đang mất chánh niệm, đang không có mặt trong hiện tại hay đang nổi cơn giận. Con thường hay quay ngược vào trong để nhận ra rằng cảm xúc là sự vô thường rõ ràng nhất, cũng như không gian, thời gian và ngay cả tâm ý. Nếu thiếu sự nhận biết, con sẽ để tâm mình trôi lăn theo cảm xúc giận hờn, buồn tủi, ghét thương, thậm chí còn oán thù nữa. Nhận biết với con là một cuốn kinh dài không đoạn kết. Con cần đọc, tụng mà không gián đoạn trong đời. Đó là một trong những chuyển hoá, gặt hái và tiếp nối trong hành trình tu tập. Lạy Thầy, con mang ơn Thầy. Con luôn nguyện cầu cho Thầy mau bình phục để tiếp tục soi sáng cho chúng con và nguyện cầu cho các tăng thân gặt hái nhiều hoa trái trên con đường thực tập.
Kính thư
Chân Lưu Từ.
Rằm tháng Bảy – ngày Cha Mẹ
"Năm xưa tôi còn bé
Mẹ tôi đã qua đời
Lần đầu tiên tôi hiểu
Thân phận trẻ mồ côi.
Quanh tôi ai cũng khóc
Yên lặng tôi sầu thôi
Mặc dòng nước mắt chảy
Là bớt khổ đi rồi…
Hoàng hôn phủ trên mộ
Chuông chùa nhẹ rơi rơi
Tôi biết tôi mất mẹ
Là mất cả bầu trời." (Xuân Tâm)
Vâng, "mất mẹ là mất cả bầu trời". Cũng như tác giả bài thơ, mẹ tôi mất khi tôi còn rất nhỏ. Có lẽ còn nhỏ hơn tuổi ngày tác giả bị mất mẹ. Vì dù sao tác giả còn biết "sầu trong im lặng", còn biết mẹ đã đi rồi. Tôi thì không. Hồi mẹ tôi mất, tôi không biết mẹ đã ra đi, nên không thấy sầu như tác giả. Ngược lại còn vui nữa là đằng khác, vì hôm ấy là lần đầu tiên tôi thấy nhà có đông người. Tuy quanh tôi ai cũng buồn cũng khóc nhưng tôi lại được họ ôm hôn, xoa đầu, vuốt tóc. Lại còn được cho bánh, cho kẹo nữa. Trong khi má thì được người ta mặc cho những chiếc áo đẹp nhứt mà tôi chưa từng thấy má mặc bao giờ.
Tôi và đứa em kế xoắn xít bên giường má nằm và líu lo bảo "má đẹp quá !". Thấy vậy, ông cậu họ đến bên anh em tôi với đôi dòng nước mắt còn đọng trên khóe. Một tay cậu ôm chúng tôi vào lòng, tay kia cậu chùi nước mắt đã chảy dài xuống má tự bao giờ. Rồi cậu hôn lên trán hai đứa tôi. Tôi hỏi: "sao má ngủ hoài vậy cậu?". Cậu tôi chỉ biết "ừ" một tiếng rồi lại sụt sùi nước mắt. Tuy không biết cậu buồn chuyện gì, nhưng mắt của tôi cũng bắt đầu thấy cay cay. Bổng cậu hỏi hai anh em chúng tôi: "Các con có muốn lên giường ngủ với má không?". Anh em tôi nhảy cẩng vui mừng: "muốn, chúng con muốn nằm ngủ với má". Thế là cậu bế từng đứa đặt nằm bên này và bên kia của má.
Như vậy đó, chúng tôi đã ôm má mà ngủ và không còn hay biết gì nữa cả. Ngủ đến lúc nào cũng không hay, chỉ đến khi bị đánh thức thì thấy đèn thắp sáng choang chói lòa cả đôi mắt – sao đông người quá vậy? Thắc mắc nhưng tôi cũng chẳng hiểu gì, trong khi em gái tôi không chịu ngồi dậy, em cứ ôm chặt lấy má mà ngủ…
Từ ngày đó, cha tôi vẫn ở vậy – một thân một mình nuôi sáu anh chị em tôi khôn lớn. Có lần tới nhà bạn chơi, thấy má bạn đang ủi đồ cho bạn. Vậy mà bạn tôi vẫn chưa vừa lòng, còn cằn nhằn đủ thứ. Bỗng chốc nước mắt tôi chảy dài… tôi thầm trách bạn. Má bạn bắt gặp, bà ngừng tay nhìn tôi một giây rồi thở ra. Bất giác bà ôm tôi vào lòng và nói nhỏ bên tai : "má con vắn số…"
Năm tôi 18 tuổi, đi thi đại học về chưa có kết quả thì cha lại qua đời trong một tai nạn.
Năm đó cũng vào ngày này, tôi đang ở cạnh bên cha trong bệnh viện tỉnh. Vết thương của cha đã bắt đầu làm mặt, những cơn đau nhức cũng đã đi qua. Sáng 14 tháng Bảy cha bảo tôi "con lấy xe về nhà thay cha cúng Rằm rồi đi thăm ông bà nội, sáng mốt lên cũng được, cha đã khỏe rồi ở đây một mình cũng không sao… Không ai ngờ, sáng 16 tôi trở lên bệnh viện thì bệnh tình của cha đột nhiên biến chứng, thì ra vết thương bị nhiễm trùng tétanos và cha đã qua đời vài ngày sau đó.
Đám tang cha vừa xong – cũng là lúc tôi nhận được giấy báo trúng tuyển đại học. Dỡ khóc dỡ cười – tôi để tờ giấy lên bàn thờ cha như một món quà báo hiếu, lòng thầm nghĩ: "cha ơi, con đã thi đậu đại học rồi, cha có vui không?" Bỗng dưng nước mắt từ đâu dâng trào lên đôi khóe rồi chảy dài trong im lặng…
"Để dòng nước mắt chảy – là bớt khổ đi rồi". Thời gian như ngừng trôi, mặt trời như ngưng đọng. Cứ thế, không biết bao lâu sau tôi mới tỉnh ra và trở về với thực tại đau khổ chán chường. Cố nén lòng, mím môi, tôi đốt tờ giấy báo kết quả trúng tuyển trước bàn thờ cha. Không, tôi không thể nào nhập học khi nhà còn hai đứa em gái chưa tới tuổi trưởng thành. Tôi không thể nào sống ích kỷ cho bản thân mà bỏ hai em thơ dại sống một mình nơi quê nhà. Hơn nữa để cha an lòng thanh thản ra đi, tôi đã hứa với người là sẽ thay cha phụng dưỡng ông bà nội tới ngày cuối đời của hai ông bà.
Thế rồi, sau sáu năm rong ruổi trường đời, trên bước đường lưu lạc tìm đất sống, tôi may mắn được gặp Thầy. Thầy đã trả lại cho tôi trọn vẹn hình hài và tâm thức của má của cha ngày trước. Thầy tôi nói : "Không có cái gì từ có mà có thể trở thành không – cũng như không có cái gì từ không mà có thể trở thành có. Cha, má của con không có mất đi đâu cả. Cha, má là hình hài là máu huyết đang lưu chuyển trong con. Nhìn cho kỹ con sẽ thấy được cha con, má con đang có mặt trong từng tế bào hơi thở của con"…
Tuy vậy, tôi cũng phải mất nhiều năm công phu thiền quán mới tự tìm lại được má, được cha nơi mình. Cũng từ giây phút ấy Thầy đã trở thành cha, thành má của tôi. Cũng từ đó, cứ mỗi độ Vu Lan về tôi đã không còn thấy buồn thấy tủi với hai cánh hoa màu trắng trên ngực áo nữa. Với tôi bây giờ dù màu trắng hay màu hồng cũng cùng một ý nghĩa vì cha má đã trở thành bất diệt trong tôi. Thế nên đôi khi tôi cũng đã xin các em cài cho mình hai cánh hoa màu đỏ và cảm thấy mình rất hạnh phúc trong ngày Vu Lan.

Chân Minh.
Ngày Cha-Mẹ năm Bính Thân (2016).
Mẹ có biết con thương mẹ không?
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Đồi xưa, mưa nhớ nắng cười…
Cho con gửi cái cảm giác biết ơn không cùng đến Thầy, đến những người anh, người chị… đi trước đã tìm ra cái góc trời vắng yên và thơ mộng này mà khai hóa, xây dựng và những người đang giữ gìn nơi này như một cõi sống đầy bình an, độ lượng để ôm ấp, che chở, cho không biết bao nhiêu con người, tâm hồn đang tìm nơi nương tựa …
Và cho Bích Nham, những ngày xuân hạ đầy…
Một ngày, tôi hỏi sư chị tại sao lại sắp xếp bàn học theo kiểu để ngồi quay lưng ra cửa sổ – một khung cửa sổ rộng rãi, đẹp đẽ và đối diện với thiên nhiên? Sư chị nói vì mỗi lần có người đi qua đi lại ngang cửa sổ là sư chị lại mắc nhìn lên, rồi không tập trung học được. Tôi nói: Nhưng mà khung cửa sổ đẹp như vậy mà, phải ngồi quay ra để… ngắm trời, ngắm đất chứ! Sư chị lại nói: Nhưng học thì làm sao ngắm được, phải tập trung vào sách vở chứ! Ừ há, nhưng mà, tôi nghĩ thầm, cho dù có ngồi học, chúi đầu vào sách vở hay máy tính thì tôi cũng thích ngồi trước cửa sổ, để biết rằng chỉ cần ngẩng đầu nhìn lên là thấy bên ngoài kia là cả bầu trời, là cây sồi thật to bên ngoài cửa sổ lúc nào cũng có những bé sóc tất bật chạy lên chạy xuống, hay là những rặng cây và chỏm núi phía xa xa; để biết rằng trời đang mưa rào rạt, hay sương mù mù, hay nắng chang chang ngoài đó! Chỉ cần nhìn lên là thấy, là gặp. Đại khái là một cảm giác được ‘kết nối’. Kết nối với thiên nhiên…
Ngày ngồi trên máy bay để bay từ ‘bên nớ’ sang ‘bên ni’, dù đã “nghe đồn” là ở đây có rừng, có suối… tôi vẫn cứ băn khoăn tự hỏi không biết nơi này có đủ đẹp như mình mơ không? Không biết mình có thương được nơi này như đã thương những cánh đồng rộng mênh mông, những dốc đồi chập chùng, các con đường quanh co uốn lượn… làm như khi nào bước ra cũng như đi ngắm tranh phong cảnh vậy không? Có sen không? Có chuông đại hồng không? Nhưng rồi chợt nghĩ, mình đã nhận mình là con của đất Mẹ rồi đó, thì chỗ nào Mẹ – con cũng sẽ thương nhau. Đất Mẹ đâu có chỗ này thì thương mình còn chỗ kia thì đòi hỏi mình hay ghét mình, phải không?! Vậy nên tôi tự nhủ là tôi sẽ thương quý và trân trọng nơi này cho dù nó không đủ ‘bao la, bao la’ hay thiếu vắng những cánh đồng hoa hướng dương và những cánh đồng lúa mì… Và tôi cũng sẽ thương những con người ở đây hay ở đó, tu sĩ hay cư sĩ, da trắng hay da vàng… vì ai cũng là con của đất Mẹ này. Và tất nhiên là tôi cũng thương luôn những con nai, con sóc, con thỏ… nữa.
Nhưng mà, đúng là trời thương người hiền (!), cho nên tôi không cần phải sống lý trí vì vừa đến là tôi đã yêu thích cái khung cảnh ở đây rồi. Phía sau lưng tu viện là rừng, bên trái, bên phải và trước mặt cũng vậy. Nói tóm lại là giống như tôi ở trong rừng vậy, chính xác hơn là tôi ở trong một thung lũng, vì tiếp sau rừng là núi, phía sau núi là đồi, rồi lại…thung lũng, rừng, núi, đồi… như vậy, nối với nhau bằng những dòng suối, có khi chảy hiền hòa, róc rách len lỏi dưới những vòm rừng, rồi lại có những đoạn lớn nước chảy về ào ạt hay những ngày cạn khô, trơ gan cùng tuế nguyệt!

Ở trong lòng thiên nhiên, nhiều khi mình trở thành hồn nhiên chi lạ. Tôi nhớ có một ngày tôi đau đầu kinh khủng, mà lại là ngày nấu ăn, cho nên nấu ăn sáng xong thì bèn mang trà, nước vào rừng, và chọn một tảng đá ngay giữa suối để ngồi uống trà. Những ngày tuyết tan hay trời mưa nhiều, suối nguồn từ trên núi chảy về ầm ào, cho nên ngoài uống trà thì tôi chẳng có chuyện gì khác để làm ngoài… thở và nghe tiếng suối chảy. Nhớ câu thơ của Phan Thịnh: “Róc rách vào chung trà tĩnh lặng. Là tiếng mơ hồ sông suối xưa…” Đó có lẽ là hình ảnh người ngồi uống trà trong trời khuya, một mình, chế trà mà nghe cả tiếng im lặng, tiếng róc rách của nước từ ấm trà chảy xuống tách, rồi lại nghe như tiếng suối, của một ngày xa xôi nào đó, lâu lắm rồi, âm thầm, giữa núi rừng trong một am tranh vắng … Còn tiếng suối chảy trong buổi sáng đó của tôi thì mạnh mẽ, ầm ào như muốn cuốn đi hết mọi suy nghĩ, tâm hành, cảm thọ. Suối còn hát ca, một điều cũ kỹ và tha thiết: Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng chỉ để sống và hãy thả trôi đi hết những tị hiềm… Lời của Trịnh Công Sơn là ‘tị hiềm’, còn tôi thì thích thả luôn cả ‘buồn phiền’ nữa… Có một chuyện tôi không quên làm nữa là… thở. Thở mạnh và sâu vì ý thức rằng não của mình đang cần không khí, có lẽ nó đau vì thiếu không khí hay sao đó. Cho nên, uống trà, thở và nghe suối hát một một chặp thì tự nhiên…hết đau đầu và thấy lòng hân hoan, vui vẻ, tôi bèn lấy nhạc ra hát lại cho suối nghe, hát thoải mái, hồn nhiên từ bài này sang bài khác. Rồi hát không chưa đủ tôi còn quay phim suối, tự thu ‘giọng hát trong tiếng suối’ mình nữa chứ. Bài hát có câu như vầy: “Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi. Rồi mai sẽ ra đi, dù nhớ thương con người…” Đôi khi tôi thấy mình là ‘con nhà giàu’ thật đó. Có cả một cánh rừng, dòng suối, núi đồi… để chơi, để tung tăng thả lòng hát ca, tắm gội.

Thật là sang trọng, trước bàn học tôi ngồi là một khung cửa sổ rất rộng, với những cảnh như đã tả ở trên. Có những ngày, dù sáng sớm hay đêm về, hay những buổi trưa thức dậy, khi có thời gian để ngồi yên và thở, nhất là những ngày mưa, ngắm nhìn hay lắng nghe đất trời, cỏ cây như thế, một hồi là lúc nào lòng cũng thấy mềm lại, thấy nhẹ nhàng, bình an… Và thấy vui, thấy mừng khi thấy trong lòng mình lại có chỗ cho những cơn nắng, cơn mưa, cơn gió như thế đến, đi, rơi xuống, thấm xuống để tắm mát lại linh hồn.
Ở đây, những ngày cuối đông, đầu xuân, khắp rừng lộc non xanh tơ, nhìn cả cánh rừng như bàng bạc những đám khói màu xanh, lửng lơ hòa quyện trong nắng hay trong sương. Rồi ‘mùa tuôn dậy’ ào ạt, bao nhiêu năng lượng ấp ủ trong mùa đông giờ cây gửi ra cho chồi, nên chẳng mấy chốc những đám khói xanh ấy biến thành những ngôi sao xanh, bé nhỏ, nhấp nháy đùa chơi với nắng trên những cây cành nâu thẫm. Và bây giờ, những ngày cuối xuân, đầu hạ, rừng cây đã sang màu đậm đà, sắc nét và đủ đầy. Những cây cành như đằm thắm lại, như đang bình thản để thở, để lắng nghe đất trời trong một khoảng thời gian không có nhiều biến chuyển, thay đổi như xuân, thu kia.
Mỗi ngày, tôi hay dành một chút thời gian để ‘nói chuyện’ với cái cây ngoài cửa sổ phòng mình. Đó là một cây sồi to, đẹp đẽ, khỏe mạnh… Ngày nào tôi cũng được ‘ăn’ cái màu xanh và những tiếng chim ở đó, rồi tắm gội trong sự dịu mát với những sắc màu biến đổi vô chừng trên những tàng lá – lung linh với nắng, rào rạt với mưa hay mơ hồ lãng đãng đùa chơi với những cụm sương trong những ngày khí trời ầm ào thay đổi. Và tất nhiên là tôi biết ơn cái cây nhiều lắm. Cái cây nuôi tôi, làm bạn tôi mà còn là một biểu hiện của hình hài đất Mẹ. Những khi tôi im lặng một mình thì chỉ cái cây và bầu trời thôi, đã mang một niềm cảm thông sâu sắc, trong nỗi lặng im, lắng nghe và chia sẻ… Thế nên tôi đã gọi thiên nhiên là tri kỷ rồi đó. Bất cứ khi nào có những nỗi buồn, trống trải, tôi lại gọi tên tri kỷ. Tri kỷ này ở đây rất đẹp, rất hiền, rất rộng lượng… sẽ luôn luôn lắng nghe, ủi an và làm nguôi ngoai mọi nỗi trong lòng. Do đó mà lúc nào tôi cũng có tri kỷ cạnh bên; nhiều khi không cần gọi, hay không cần nghe ‘ơi’ thì tôi cũng biết là tri kỷ đang lắng nghe tôi ở đó. Vì vậy, có những ngày đi ra phố, lơ ngơ giữa những tòa nhà chọc trời, giữa khói bụi, xe cộ ngược xuôi, có những giây phút nghe trong lòng kêu gào ‘thiên nhiên, thiên nhiên…’ tha thiết, nhớ như đã xa từ lâu những vòm lá xanh, những sóc nai hồn nhiên, nhởn nhơ; rồi cùng lúc lại thấy thương không biết bao nhiêu những con người trong phố ấy… Như vậy chắc là tôi bị “kẹt” rồi đó. Kẹt vào một thứ cảm giác dễ chịu, nhẹ nhõm khi ngồi trong rừng; cảm giác bao la, khoáng đạt khi đứng trước biển; cảm giác bé nhỏ, thần phục khi về giữa núi non. Nhưng mà… thôi kệ, chứ biết sao! Vì biết rằng mình vẫn thương thật nhiều ‘những mặt người giữa phố hoang mang…’, như dáng mình đã từng những ngày lầm lũi đâu đó trên những ngả phố, con đường. Ấy cũng là… vì thương mình mà đã biết thương trần gian… Đi ra phố, để rồi lại quày quả về lại rừng, chăm sóc khu vườn, nâng niu màu xanh, giữ gìn sự thinh lặng… cho một ngày những người con phố còn có nơi để đến, để về, để rũ bỏ bớt nhọc nhằn và thở cùng đất Mẹ.
Có một câu khá thú vị mà tôi đọc thấy trên mẩu giấy nhỏ của gói trà túi lọc: If you love the nature, you’ll see the beauty everywhere (tạm dịch: nếu bạn là người yêu thiên nhiên thì nhìn đâu bạn cũng thấy được cái đẹp). Vậy là thiên nhiên đã ‘dốc lòng’ cho ta hết rồi đó, miễn là ta cũng thương quý và dễ thương với thiên nhiên. Một ông bộ trưởng Brazil về môi trường, người chịu trách nhiệm bảo vệ rừng Amazon, đã viết: “Xã hội kỹ nghệ tân tiến quả là một thứ tôn giáo cuồng tín. Chúng ta đang phá hoại, làm nhiễm độc, hủy diệt tất cả mầm sống trên hành tinh này. Chúng ta đang ký những giấy nợ mà con cháu của chúng ta sẽ không thể trả… Chúng ta đang làm như thể mình là thế hệ cuối cùng trên hành tinh này. Nếu không có một biến cải tận gốc về tâm, trí và lối nhìn, thì trái đất sẽ kết thúc như Vénus, cháy thành than và chết.” (Trích Tạng thư sống chết – Sư Trí Hải dịch). Lâu lâu gọi điện về nhà, nghe Má thông báo tình hình thời sự, thời tiết (!), trong đó có tin đâu đó ở Việt Nam có tuyết (không phải ở ĐL, Sapa), thoắt một cái thì Hà Nội nóng 400C, khô cằn, hạn hán khắp nơi; rồi lại sông Seine (Paris) lũ lụt, những viện bảo tàng nổi tiếng phải lo di dời cổ vật vì sợ nước ngập lên và tràn vào bảo tàng… Đại loại là như vậy, chưa kể bão lũ, sóng thần… Bây giờ nắng mưa không còn là ‘chuyện của trời’ nữa rồi…

Nhớ hồi đọc “Linh Sơn” của Cao Hành Kiện, chuyện về một người bỗng nghe nói về ‘núi thiêng’, ngờ ngợ, rồi quả quyết đi tìm. Trong đó, nhân vật chính là ‘ta’ và ‘mi’, xen kẽ, luân phiên xuất hiện qua từng chương truyện. ‘Ta’ và ‘mi’ cứ đi hoài, đi mãi, qua bao nhiêu núi, bao nhiêu rừng, bao nhiêu phố, nhiều khi đến Vu Sơn,… cứ ngỡ là Linh Sơn nhưng rồi không phải, và lại đi. ‘Ta’ và ‘mi’ nghe biết bao nhiêu câu chuyện, trải bao nhiêu thử thách, hiểm nguy, nhiều khi đâm đầu vào những ngõ ngách bí hiểm, mịt mùng… Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Trung Hoa. Một đất nước mênh mông trong chiều dài của thời gian và chiều sâu, dày của văn hóa, lịch sử… Nhớ hoài một câu cảm thán của nhân vật, đại khái “rốt cuộc, mình cũng chỉ là một giọt nhỏ nhoi và yếu đuối giữa bể dâu…” và kết quả cuối cùng là nhân vật chính vẫn không thể tìm được “Linh Sơn”. Đọc xong truyện, có cảm giác lãng đãng, đắm chìm, dường như không hiểu gì lắm vì có quá nhiều tình tiết sâu xa, đan dài và trải rộng, xưa cổ và hiện đại, kỳ bí lẫn trần trụi trong đó… Chỉ nghĩ nôm na một điều là: Linh Sơn chính ở trong lòng. Cho nên, nhiều khi liên tưởng rằng, ta đi tìm ta, ta đi tìm mi, hay ta đi tìm Linh Sơn thì hãy chỉ quay về với cái gốc ở trong lòng mà thôi. Đất Mẹ là một cái gốc. Đất Mẹ cũng là Linh Sơn, cho nên ta quay về với đất Mẹ là quay về với ‘núi thiêng’ trong lòng mình, quay về với chính mình. Nếu ta vô ý đối xử tệ bạc hay đang tâm tàn phá đất Mẹ thì ta cũng đang tàn hoại ‘cõi thiêng’ trong lòng mình và lấy đâu nơi nào để mà quay về? Tôi vẫn nghĩ cõi thế gian đâu chỉ có chiều dài rộng của dòng sông, chiều thẳng đứng của đỉnh cao và vực sâu, còn đâu đó một chiều thứ tư có thể bất ngờ vỡ hoang từ tâm thức nữa, một khi ta thương quý được từng cội cây, từng ngọn gió, từng mảnh trời xanh trong vắt,… ấy cũng là khi lòng ta chạm đến “núi thiêng” ở trong ta…
Quê hương trẻ mãi như tâm hồn thiên nhiên. Em đi qua đó không bao giờ muộn phiền… Vậy đó, hãy để tâm hồn mình bình yên, dung dị như cỏ, cây, hoa lá, để đi về trong quê hương. Một quê hương vượt ngoài những khoảng cách địa lý, không gian hay thời gian. Một quê hương lúc nào cũng ở đó, ở ngay tại thiên nhiên, ở trong lòng …

Mẹ – biểu hiện của tình thương
Tháng bảy về với những cơn mưa nhẹ nhàng rơi trong gió, con vẫn đang một mình ở phương xa đi tìm cho mình một chút men say tạm gọi là “công danh”. Không phải chỉ đợi tháng bảy về con mới nhớ thương mẹ da diết, nhưng không biết tự bao giờ trong con tháng bảy là tháng của mẹ, tháng của những đứa con xa quê mong ngóng về gia đình mình.
Vô tình con nghe được lời ca này: “Mẹ ơi thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình…dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ”. Không biết sao nữa, con cũng không hiểu hết những ca từ này, nhưng con không thể nào kiềm chế để cho nước mắt đừng tuôn rơi. Có lẽ con đang cảm nhận về sự mênh mông, trống vắng thì phải?
Con đã xa nhà từ dạo những bước chân hãy còn chập chững. Con đã từng không dám đi xa vì biết bao sợ hãi, vì biết bao lo toan về phía trước xa mờ, và hơn hết vì con sợ phải xa mẹ. Thế nhưng con đã đi xa để tìm cho mình một khung trời tươi sáng, xa lạ – nơi đó không còn có một bàn tay đặt nhẹ vào lưng mỗi khi con buồn vì vấp ngã, vì tổn thương. Những ngày bệnh con phải tự mình đi mua từng viên thuốc…Còn đâu nồi cháo mẹ nấu ngày xưa, mỗi khi ăn con thường hay khóc vì con ghét ăn cháo. Con dù biết sự xa mẹ sẽ là thách thức cho con lớn khôn, cho con sự mạnh mẽ. Nhưng mẹ ơi, con vẫn thấy mình đang thiếu thốn, nhiều khi con thấy cô đơn, tủi thân vô cùng.
Và giờ đây khi con lớn lên thì mẹ cũng đã già. Mẹ đang cần một người bên mẹ để nghe mẹ nói, chăm sóc mẹ lúc cần. Nhưng lúc đó con đang ở đâu? Xa hoa? Và ánh sáng?
Mùa Vu lan về, con vẫn rất hạnh phúc khi trên áo mình cài hoa hồng thắm, vì con biết mình còn có mẹ để quay về. Trong tâm trí con chợt xuất hiện lời bài hát Bông hồng cài áo, phổ thơ của Sư Ông, và hình ảnh mẹ hiền ngồi bên hiên đan từng ngón tay dịu dàng vào mái tóc của đứa con ngày nào vẫn còn thơ ngây.
“Rồi một chiều nào đó anh về
Nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng "Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?"
-Biết gì ? "Biết là, biết là con thương Mẹ không ?"
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.”
Con rất vui sướng vì đời con có mẹ, có mẹ có nghĩa là con có cả bầu trời bao la. Hôm nay trong khi con ngồi im lặng và thở để nghe tiếng nói của sự sống, bất chợt con thấy mình thật gần với mẹ vì mẹ đã ngồi đây bên con, cùng con. Mẹ ơi, mình cùng thở, mẹ nhé!
Ngày nào cũng hội vui
Thấm thoắt đã ba năm, vậy mà ai đến đây thăm viếng cứ ngỡ như là tu viện Làng Mai Thái Lan đã có từ lâu lắm rồi. Mọi thứ thân thiện, gần gũi, vui tươi và thiền vị quá. Ai đến cũng muốn ở lại thêm như một tình bạn vừa nồng nhiệt vừa cố tri. Đâu phải chỉ là cảnh vật, con người mà còn hàng vạn nhân duyên khác làm nên không khí này.
Ước mơ thành hiện thực
An cư kiết hạ năm nay ở Làng Mai Thái Lan chọn cùng thời điểm với truyền thống xuất sĩ Thái, tức là giữa tháng bảy dương lịch. Lễ đếm thẻ trước ngày đối thú an cư diễn ra theo mỗi xóm. Tối hôm đó trời mưa tầm tã và không có điện, nhưng trong thiền đường vẫn ấm lên bởi những ngọn nến lung linh, trang nghiêm và thanh tịnh. Tin vui nhất là năm nay xóm Trăng Tỏ có nhiều cận sự nữ: cả thảy là chín vị, sáu người Thái và ba người Trung Quốc. Các vị đang tập sự để trở thành các sư cô trong chương trình “Xuất gia gieo duyên ba tháng”. Xóm Trời Quang thì có đến bốn cận sự nam, cũng trong chương trình này và các vị đến từ nhiều nước khác nhau như: Indonesia, Nhật Bản và Thái Lan. Trong đó có một vị lúc trước là kiến trúc sư cho tu viện của mình bây giờ cũng muốn thực tập xuất gia gieo duyên.
Vậy là ước mơ của chúng con đã trở thành hiện thực. Làng Mai Thái Lan bây giờ đã có rất nhiều sư cô, sư chú người Thái. Một phần là do có chương trình xuất gia gieo duyên, phần khác là nhờ phong trào Wake Up Thái Lan đang sôi nổi. Các sư em bây giờ đã bập bẹ nói được vài chữ, vài câu tiếng Việt và hát được rất nhiều bài thiền ca (có cả những bài thiếu nhi Việt Nam). Các sư em đã giúp rất nhiều cho tăng thân và là nguồn cảm hứng cho nhiều người về đây tu học.

Thiền trà – xuất gia gieo duyên tại Làng Mai Thái Lan, ngày 31/7/2016
Có những điều vi diệu
Tiếp nối là lễ Đối thú được tổ chức vào buổi sáng ngày 20 tháng 7. Đại chúng hai xóm tập trung tại thiền đường lớn rất sớm. Vẫn chưa có điện, nến được thắp dọc theo hai bên hành lang. Hai trăm vị xuất sĩ lặng lẽ ngồi trong yên lặng, nhiếp niệm vào hơi thở. Bỗng! Một ánh sáng rực lên, thiền đường sáng rực, không chỉ có ánh sáng của đèn điện mà còn có những nụ cười mỉm chi tỏa rạng. Xuyên suốt buổi lễ là tiếng tụng kinh hùng hồn của đại chúng.
Ngày hôm ấy thật đặc biệt, sáng sớm đã có lễ đối thú, đến mười giờ là có lễ giỗ Sư Thúc, lễ Tổ Tiên, kết hợp là buổi cúng đại thí thực. Đại chúng ngồi thiền, tụng kinh…Buổi lễ như thác nước gội sạch những gì còn sót lại để mang tới một không khí mới hoàn toàn cho mùa An cư kiết hạ. Quý thầy lớn đã kết hợp tụng những bài kinh trong sách Nhật Tụng Thiền Môn với các bài xướng tụng có giai điệu mà từ nhỏ chúng con đi chùa hay được nghe. Từng câu từng chữ như được thốt ra từ đáy lòng để kính dâng lên Sư Thúc và cả tổ tiên huyết thống, tâm linh. Sau buổi lễ đại chúng được ăn cơm theo bàn tròn, có rất nhiều món ăn ngon như: bắp chuối cuốn rong biển kho với cà chua, bánh mì nướng bơ, cari miền Tây, kem dừa Thái… món nào cũng ngon và hấp dẫn.
Hơi thở của Thầy
Chủ đề cho khóa An cư kiết hạ năm nay là “Hơi thở của Thầy”, mang Thầy đi cùng chúng con trên mọi chặng đường. Chúng con biết bây giờ là phút giây vi diệu nhất vì Thầy vẫn còn đó cho chúng con. Thầy đã đem hết nghị lực và tuệ giác của mình để tiếp tục đi cùng chúng con. Tất cả sức mạnh tâm linh và tâm bồ đề rực cháy từ Thầy luôn luôn là những bài học vô giá, đánh động và sách tấn chúng con. Thở vào, chúng con may mắn vì Thầy vẫn còn đó cho chúng con; thở ra, chúng con là sự tiếp nối đẹp đẽ của Thầy.
Các thầy các sư cô lớn đã ngồi lại với nhau rất nhiều buổi để lên lịch pháp thoại với mong muốn hướng dẫn thật kỹ lưỡng các phương pháp thực tập căn bản của Làng Mai. Mỗi chúng con là một hạt giống trong Vườn Ươm Thái Lan nên chúng con được các vị trưởng thượng tưới tẩm rất nhiều chất bổ dưỡng cho mai này chúng con lớn lên thành những cây vững mạnh giúp đời. Không chỉ thế mà còn có những chương trình rất thú vị cho ngày thứ năm; ngoài những buổi pháp đàm là “Chương trình thảo luận’’ theo nhóm, nhằm chuyên sâu vào những điều cần học hỏi, thực chứng tự thân, làm rõ nội dung để đại chúng hiểu và thực tập: nghệ thuật dung hòa các khuynh hướng nhận thức, âm nhạc nuôi dưỡng và trị liệu, dạo chơi trên những con sóng cảm xúc, nghệ thuật làm việc chung hai xóm, duy biểu và kinh quán niệm hơi thở, … Cả thảy là tám chủ đề và và mỗi chủ đề được một vị lên quảng cáo để thu hút các thành viên trong đại chúng hưởng ứng, đăng ký vào nhóm của mình. Giờ phút ấy mới thấy rõ Tăng Thân mình thật đa tài, ai ai chia sẻ cũng hấp dẫn, thật khó để lựa chọn!

Ngày nào cũng hội vui
Thiền hành vui như hội. Từng áng mây bay nhè nhẹ quanh núi đồi sau một đêm mưa to gió lớn; trời xanh trong, những chú chim lượn bay thả mình vào không gian thênh thang. Từng bước chân thiền hành lặng lẽ thả mình vào với thực tại, hơi thở và thiên nhiên. Có người đã dừng lại giữa không gian bao la bát ngát ấy, chỉ vì một điều đơn giản là cảnh vật quá đẹp, đẹp hơn cả trong tranh, trong phim.
Chúng con được ở gần với núi, ở gần với mây, gần với chim chóc hát ca hai mươi bốn giờ mỗi ngày, chỉ chừng đó thôi đã cho chúng con thấy mình là những người hạnh phúc nhất trên đời. Không chỉ được sống ở giữa cảnh đẹp thiên nhiên, mà chúng con còn được học các lớp nội điển và ngoại điển – chương trình do các vị giáo thọ nghiên cứu, soạn thảo và giảng dạy. Ngày ngày chúng con cắp sách đến lớp, chúng con được nuôi lớn bởi giáo pháp và chưa bao giờ cảm thấy chán học, đó là nhờ niềm tin, sự kiên trì, nguồn cảm hứng và tâm huyết của các vị giáo thọ trong từng bài giảng.
Chiều hôm nay trong buổi pháp đàm có một sư chú chia sẻ: con nguyện sẽ tập thương các huynh đệ bằng trái tim của một người mẹ, không chê trách và phán xét, luôn bên cạnh và đồng hành. Cũng có một sư cô chia sẻ: nhờ hơi thở sư cô có thể điều phục tâm hành, những cảm xúc và cơn giận lên xuống, khi nhập viện sư cô đã không sợ hãi như các bệnh nhân khác, sư cô trở về với hơi thở, mỉm cười khi chuẩn bị vào ca mổ. Nhờ hơi thở lắng dịu và niềm tin, ca mổ đi qua rất nhanh và thành công.
Không cần phải dụng công
Bây giờ nhiều người biết đến Làng Mai Thái Lan như một người bạn thân luôn luôn có mặt và thấu hiểu. Khóa tu người Việt phải dừng lại ở con số 500, khóa tu Wake Up, khóa tu Đông Nam Á cuối năm, khóa tu dành cho người Singapore, khóa tu cho bác sĩ, giáo viên, người làm vườn, khóa tu dành cho các vị Tiếp hiện,… Ngoài ra mỗi tuần còn có rất nhiều thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới đến tu học, các bạn đã nhiều lần trở lại. Tuần vừa qua, mười bốn vị thiền sinh nhận năm giới trong đó có những vị đến từ Pháp, Đức, Mĩ, Thái, Trung Quốc… Các bạn đã rất hạnh phúc khi cùng tham dự thời khóa với đại chúng, được ăn các món ăn chay do các vị xuất sĩ nấu bằng tình thương, được thưởng thức thiên nhiên trong lành, được học thở, học đi và sống đời sống tỉnh thức. Ai đến đây đều công nhận là đại chúng lớn có công năng trị liệu và chuyển hóa mau chóng mà không cần phải dụng nhiều nội công.
Đất trời gọi nhau
Bây giờ đường thiền hành lại có thêm một con đường mới. Mỗi con đường mới mở ra đều đem lại rất nhiều niềm vui cho đại chúng Thái Lan. Con đường này bọc quanh một ngọn đồi gần cốc Thầy. Ai đi trên con đường này cũng thích hết, như được đi giữa khu rừng sinh thái, như lạc vào một mảnh đất mới, có nhiều cây to và cao lớn, còn có thể nhìn thấy toàn cảnh đất trời gọi nhau. Đất trời không còn ngăn cách, không còn xa vời vợi mà gần gũi, hòa quyện, nhập lại, như thể đất là trời, trời là đất. Mà thật vậy, khi nhìn kỹ ta thấy trời đang nối dài cùng đất, như hai bàn tay nắm lại thành hai vòng cung vừa nhảy múa vừa tô đẹp cho cuộc đời, vừa ôm toàn thể không gian quay tròn. Vậy đó, có những nơi mình đến và đã đi qua nhiều lần, nhưng phải mở đường, mở tầm nhìn mới thấy rõ là nó quý giá thế nào, và bao nhiêu điều chưa khám phá vẫn còn đang chờ đợi.
Đó là hai câu trong bài hát: “Rồi mình lại đi chơi”. Cuộc đời là một chuyến đi chơi. Ta sẽ làm gì hôm nay để chuyến đi của ta trở nên một bài ca bất hủ, một tuyệt tác phi thường, hoặc một dấu ấn đột phá. Tất cả đều ở trong tay ta, và những cơ hội sẽ đến cho những ai về đây, về nhà, về Làng Mai, chỉ để tìm lại chính mình, lắng nghe mình, và câu trả lời chắc hẳn sẽ còn ý nghĩa hơn.

Để xem thêm hình ảnh của Lễ xuất gia gieo duyên, xin bấm vào đây: http://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/xuat-gia-gieo-duyen/xuat-gia-gieo-duyen
Món quà nào cho em!
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.


