Đồi xưa, mưa nhớ nắng cười…

Cho con gửi cái cảm giác biết ơn không cùng đến Thầy, đến những người anh, người chị… đi trước đã tìm ra cái góc trời vắng yên và thơ mộng này mà khai hóa, xây dựng và những người đang giữ gìn nơi này như một cõi sống đầy bình an, độ lượng để ôm ấp, che chở, cho không biết bao nhiêu con người, tâm hồn đang tìm nơi nương tựa …

Và cho Bích Nham, những ngày xuân hạ đầy…

Một ngày, tôi hỏi sư chị tại sao lại sắp xếp bàn học theo kiểu để ngồi quay lưng ra cửa sổ – một khung cửa sổ rộng rãi, đẹp đẽ và đối diện với thiên nhiên? Sư chị nói vì mỗi lần có người đi qua đi lại ngang cửa sổ là sư chị lại mắc nhìn lên, rồi không tập trung học được. Tôi nói: Nhưng mà khung cửa sổ đẹp như vậy mà, phải ngồi quay ra để… ngắm trời, ngắm đất chứ! Sư chị lại nói: Nhưng học thì làm sao ngắm được, phải tập trung vào sách vở chứ! Ừ há, nhưng mà, tôi nghĩ thầm, cho dù có ngồi học, chúi đầu vào sách vở hay máy tính thì tôi cũng thích ngồi trước cửa sổ, để biết rằng chỉ cần ngẩng đầu nhìn lên là thấy bên ngoài kia là cả bầu trời, là cây sồi thật to bên ngoài cửa sổ lúc nào cũng có những bé sóc tất bật chạy lên chạy xuống, hay là những rặng cây và chỏm núi phía xa xa; để biết rằng trời đang mưa rào rạt, hay sương mù mù, hay nắng chang chang ngoài đó! Chỉ cần nhìn lên là thấy, là gặp. Đại khái là một cảm giác được ‘kết nối’. Kết nối với thiên nhiên…

Ngày ngồi trên máy bay để bay từ ‘bên nớ’ sang ‘bên ni’, dù đã “nghe đồn” là ở đây có rừng, có suối… tôi vẫn cứ băn khoăn tự hỏi không biết nơi này có đủ đẹp như mình mơ không? Không biết mình có thương được nơi này như đã thương những cánh đồng rộng mênh mông, những dốc đồi chập chùng, các con đường quanh co uốn lượn… làm như khi nào bước ra cũng như đi ngắm tranh phong cảnh vậy không? Có sen không? Có chuông đại hồng không? Nhưng rồi chợt nghĩ, mình đã nhận mình là con của đất Mẹ rồi đó, thì chỗ nào Mẹ – con cũng sẽ thương nhau. Đất Mẹ đâu có chỗ này thì thương mình còn chỗ kia thì đòi hỏi mình hay ghét mình, phải không?! Vậy nên tôi tự nhủ là tôi sẽ thương quý và trân trọng nơi này cho dù nó không đủ ‘bao la, bao la’ hay thiếu vắng những cánh đồng hoa hướng dương và những cánh đồng lúa mì… Và tôi cũng sẽ thương những con người ở đây hay ở đó, tu sĩ hay cư sĩ, da trắng hay da vàng… vì ai cũng là con của đất Mẹ này. Và tất nhiên là tôi cũng thương luôn những con nai, con sóc, con thỏ… nữa.

Nhưng mà, đúng là trời thương người hiền (!), cho nên tôi không cần phải sống lý trí vì vừa đến là tôi đã yêu thích cái khung cảnh ở đây rồi. Phía sau lưng tu viện là rừng, bên trái, bên phải và trước mặt cũng vậy. Nói tóm lại là giống như tôi ở trong rừng vậy, chính xác hơn là tôi ở trong một thung lũng, vì tiếp sau rừng là núi, phía sau núi là đồi, rồi lại…thung lũng, rừng, núi, đồi… như vậy, nối với nhau bằng những dòng suối, có khi chảy hiền hòa, róc rách len lỏi dưới những vòm rừng, rồi lại có những đoạn lớn nước chảy về ào ạt hay những ngày cạn khô, trơ gan cùng tuế nguyệt!

Ở trong lòng thiên nhiên, nhiều khi mình trở thành hồn nhiên chi lạ. Tôi nhớ có một ngày tôi đau đầu kinh khủng, mà lại là ngày nấu ăn, cho nên nấu ăn sáng xong thì bèn mang trà, nước vào rừng, và chọn một tảng đá ngay giữa suối để ngồi uống trà. Những ngày tuyết tan hay trời mưa nhiều, suối nguồn từ trên núi chảy về ầm ào, cho nên ngoài uống trà thì tôi chẳng có chuyện gì khác để làm ngoài… thở và nghe tiếng suối chảy. Nhớ câu thơ của Phan Thịnh: “Róc rách vào chung trà tĩnh lặng. Là tiếng mơ hồ sông suối xưa…” Đó có lẽ là hình ảnh người ngồi uống trà trong trời khuya, một mình, chế trà mà nghe cả tiếng im lặng, tiếng róc rách của nước từ ấm trà chảy xuống tách, rồi lại nghe như tiếng suối, của một ngày xa xôi nào đó, lâu lắm rồi, âm thầm, giữa núi rừng trong một am tranh vắng … Còn tiếng suối chảy trong buổi sáng đó của tôi thì mạnh mẽ, ầm ào như muốn cuốn đi hết mọi suy nghĩ, tâm hành, cảm thọ. Suối còn hát ca, một điều cũ kỹ và tha thiết: Sông vẫn chảy đời sông, suối vẫn trôi đời suối. Đời người cũng chỉ để sống và hãy thả trôi đi hết những tị hiềm… Lời của Trịnh Công Sơn là ‘tị hiềm’, còn tôi thì thích thả luôn cả ‘buồn phiền’ nữa… Có một chuyện tôi không quên làm nữa là… thở. Thở mạnh và sâu vì ý thức rằng não của mình đang cần không khí, có lẽ nó đau vì thiếu không khí hay sao đó. Cho nên, uống trà, thở và nghe suối hát một một chặp thì tự nhiên…hết đau đầu và thấy lòng hân hoan, vui vẻ, tôi bèn lấy nhạc ra hát lại cho suối nghe, hát thoải mái, hồn nhiên từ bài này sang bài khác. Rồi hát không chưa đủ tôi còn quay phim suối, tự thu ‘giọng hát trong tiếng suối’ mình nữa chứ. Bài hát có câu như vầy: “Còn đây có bao ngày, còn ta cứ vui chơi. Rồi mai sẽ ra đi, dù nhớ thương con người…” Đôi khi tôi thấy mình là ‘con nhà giàu’ thật đó. Có cả một cánh rừng, dòng suối, núi đồi… để chơi, để tung tăng thả lòng hát ca, tắm gội.

Thật là sang trọng, trước bàn học tôi ngồi là một khung cửa sổ rất rộng, với những cảnh như đã tả ở trên. Có những ngày, dù sáng sớm hay đêm về, hay những buổi trưa thức dậy, khi có thời gian để ngồi yên và thở, nhất là những ngày mưa, ngắm nhìn hay lắng nghe đất trời, cỏ cây như thế, một hồi là lúc nào lòng cũng thấy mềm lại, thấy nhẹ nhàng, bình an… Và thấy vui, thấy mừng khi thấy trong lòng mình lại có chỗ cho những cơn nắng, cơn mưa, cơn gió như thế đến, đi, rơi xuống, thấm xuống để tắm mát lại linh hồn.

Ở đây, những ngày cuối đông, đầu xuân, khắp rừng lộc non xanh tơ, nhìn cả cánh rừng như bàng bạc những đám khói màu xanh, lửng lơ hòa quyện trong nắng hay trong sương. Rồi ‘mùa tuôn dậy’ ào ạt, bao nhiêu năng lượng ấp ủ trong mùa đông giờ cây gửi ra cho chồi, nên chẳng mấy chốc những đám khói xanh ấy biến thành những ngôi sao xanh, bé nhỏ, nhấp nháy đùa chơi với nắng trên những cây cành nâu thẫm. Và bây giờ, những ngày cuối xuân, đầu hạ, rừng cây đã sang màu đậm đà, sắc nét và đủ đầy. Những cây cành như đằm thắm lại, như đang bình thản để thở, để lắng nghe đất trời trong một khoảng thời gian không có nhiều biến chuyển, thay đổi như xuân, thu kia.

Mỗi ngày, tôi hay dành một chút thời gian để ‘nói chuyện’ với cái cây ngoài cửa sổ phòng mình. Đó là một cây sồi to, đẹp đẽ, khỏe mạnh… Ngày nào tôi cũng được ‘ăn’ cái màu xanh và những tiếng chim ở đó, rồi tắm gội trong sự dịu mát với những sắc màu biến đổi vô chừng trên những tàng lá – lung linh với nắng, rào rạt với mưa hay mơ hồ lãng đãng đùa chơi với những cụm sương trong những ngày khí trời ầm ào thay đổi. Và tất nhiên là tôi biết ơn cái cây nhiều lắm. Cái cây nuôi tôi, làm bạn tôi mà còn là một biểu hiện của hình hài đất Mẹ. Những khi tôi im lặng một mình thì chỉ cái cây và bầu trời thôi, đã mang một niềm cảm thông sâu sắc, trong nỗi lặng im, lắng nghe và chia sẻ… Thế nên tôi đã gọi thiên nhiên là tri kỷ rồi đó. Bất cứ khi nào có những nỗi buồn, trống trải, tôi lại gọi tên tri kỷ. Tri kỷ này ở đây rất đẹp, rất hiền, rất rộng lượng… sẽ luôn luôn lắng nghe, ủi an và làm nguôi ngoai mọi nỗi trong lòng. Do đó mà lúc nào tôi cũng có tri kỷ cạnh bên; nhiều khi không cần gọi, hay không cần nghe ‘ơi’ thì tôi cũng biết là tri kỷ đang lắng nghe tôi ở đó. Vì vậy, có những ngày đi ra phố, lơ ngơ giữa những tòa nhà chọc trời, giữa khói bụi, xe cộ ngược xuôi, có những giây phút nghe trong lòng kêu gào ‘thiên nhiên, thiên nhiên…’ tha thiết, nhớ như đã xa từ lâu những vòm lá xanh, những sóc nai hồn nhiên, nhởn nhơ; rồi cùng lúc lại thấy thương không biết bao nhiêu những con người trong phố ấy… Như vậy chắc là tôi bị “kẹt” rồi đó. Kẹt vào một thứ cảm giác dễ chịu, nhẹ nhõm khi ngồi trong rừng; cảm giác bao la, khoáng đạt khi đứng trước biển; cảm giác bé nhỏ, thần phục khi về giữa núi non. Nhưng mà… thôi kệ, chứ biết sao! Vì biết rằng mình vẫn thương thật nhiều ‘những mặt người giữa phố hoang mang…’, như dáng mình đã từng những ngày lầm lũi đâu đó trên những ngả phố, con đường. Ấy cũng là… vì thương mình mà đã biết thương trần gian… Đi ra phố, để rồi lại quày quả về lại rừng, chăm sóc khu vườn, nâng niu màu xanh, giữ gìn sự thinh lặng… cho một ngày những người con phố còn có nơi để đến, để về, để rũ bỏ bớt nhọc nhằn và thở cùng đất Mẹ.

Có một câu khá thú vị mà tôi đọc thấy trên mẩu giấy nhỏ của gói trà túi lọc: If you love the nature, you’ll see the beauty everywhere (tạm dịch: nếu bạn là người yêu thiên nhiên thì nhìn đâu bạn cũng thấy được cái đẹp). Vậy là thiên nhiên đã ‘dốc lòng’ cho ta hết rồi đó, miễn là ta cũng thương quý và dễ thương với thiên nhiên. Một ông bộ trưởng Brazil về môi trường, người chịu trách nhiệm bảo vệ rừng Amazon, đã viết: “Xã hội kỹ nghệ tân tiến quả là một thứ tôn giáo cuồng tín. Chúng ta đang phá hoại, làm nhiễm độc, hủy diệt tất cả mầm sống trên hành tinh này. Chúng ta đang ký những giấy nợ mà con cháu của chúng ta sẽ không thể trả… Chúng ta đang làm như thể mình là thế hệ cuối cùng trên hành tinh này. Nếu không có một biến cải tận gốc về tâm, trí và lối nhìn, thì trái đất sẽ kết thúc như Vénus, cháy thành than và chết.” (Trích Tạng thư sống chết – Sư Trí Hải dịch). Lâu lâu gọi điện về nhà, nghe Má thông báo tình hình thời sự, thời tiết (!), trong đó có tin đâu đó ở Việt Nam có tuyết (không phải ở ĐL, Sapa), thoắt một cái thì Hà Nội nóng 400C, khô cằn, hạn hán khắp nơi; rồi lại sông Seine (Paris) lũ lụt, những viện bảo tàng nổi tiếng phải lo di dời cổ vật vì sợ nước ngập lên và tràn vào bảo tàng… Đại loại là như vậy, chưa kể bão lũ, sóng thần… Bây giờ nắng mưa không còn là ‘chuyện của trời’ nữa rồi…

Nhớ hồi đọc “Linh Sơn” của Cao Hành Kiện, chuyện về một người bỗng nghe nói về ‘núi thiêng’, ngờ ngợ, rồi quả quyết đi tìm. Trong đó, nhân vật chính là ‘ta’ và ‘mi’, xen kẽ, luân phiên xuất hiện qua từng chương truyện. ‘Ta’ và ‘mi’ cứ đi hoài, đi mãi, qua bao nhiêu núi, bao nhiêu rừng, bao nhiêu phố, nhiều khi đến Vu Sơn,… cứ ngỡ là Linh Sơn nhưng rồi không phải, và lại đi. ‘Ta’ và ‘mi’ nghe biết bao nhiêu câu chuyện, trải bao nhiêu thử thách, hiểm nguy, nhiều khi đâm đầu vào những ngõ ngách bí hiểm, mịt mùng… Bối cảnh câu chuyện xảy ra ở Trung Hoa. Một đất nước mênh mông trong chiều dài của thời gian và chiều sâu, dày của văn hóa, lịch sử… Nhớ hoài một câu cảm thán của nhân vật, đại khái “rốt cuộc, mình cũng chỉ là một giọt nhỏ nhoi và yếu đuối giữa bể dâu…” và kết quả cuối cùng là nhân vật chính vẫn không thể tìm được “Linh Sơn”. Đọc xong truyện, có cảm giác lãng đãng, đắm chìm, dường như không hiểu gì lắm vì có quá nhiều tình tiết sâu xa, đan dài và trải rộng, xưa cổ và hiện đại, kỳ bí lẫn trần trụi trong đó… Chỉ nghĩ nôm na một điều là: Linh Sơn chính ở trong lòng. Cho nên, nhiều khi liên tưởng rằng, ta đi tìm ta, ta đi tìm mi, hay ta đi tìm Linh Sơn thì hãy chỉ quay về với cái gốc ở trong lòng mà thôi. Đất Mẹ là một cái gốc. Đất Mẹ cũng là Linh Sơn, cho nên ta quay về với đất Mẹ là quay về với ‘núi thiêng’ trong lòng mình, quay về với chính mình. Nếu ta vô ý đối xử tệ bạc hay đang tâm tàn phá đất Mẹ thì ta cũng đang tàn hoại ‘cõi thiêng’ trong lòng mình và lấy đâu nơi nào để mà quay về? Tôi vẫn nghĩ cõi thế gian đâu chỉ có chiều dài rộng của dòng sông, chiều thẳng đứng của đỉnh cao và vực sâu, còn đâu đó một chiều thứ tư có thể bất ngờ vỡ hoang từ tâm thức nữa, một khi ta thương quý được từng cội cây, từng ngọn gió, từng mảnh trời xanh trong vắt,… ấy cũng là khi lòng ta chạm đến “núi thiêng” ở trong ta…

Quê hương trẻ mãi như tâm hồn thiên nhiên. Em đi qua đó không bao giờ muộn phiền… Vậy đó, hãy để tâm hồn mình bình yên, dung dị như cỏ, cây, hoa lá, để đi về trong quê hương. Một quê hương vượt ngoài những khoảng cách địa lý, không gian hay thời gian. Một quê hương lúc nào cũng ở đó, ở ngay tại thiên nhiên, ở trong lòng …

Mẹ – biểu hiện của tình thương

Tháng bảy về với những cơn mưa nhẹ nhàng rơi trong gió, con vẫn đang một mình ở phương xa đi tìm cho mình một chút men say tạm gọi là “công danh”. Không phải chỉ đợi tháng bảy về con mới nhớ thương mẹ da diết, nhưng không biết tự bao giờ trong con tháng bảy là tháng của mẹ, tháng của những đứa con xa quê mong ngóng về gia đình mình.

Vô tình con nghe được lời ca này: “Mẹ ơi thế giới mênh mông, mênh mông không bằng nhà mình…dù cho phú quý vinh quang, vinh quang không bằng có mẹ”. Không biết sao nữa, con cũng không hiểu hết những ca từ này, nhưng con không thể nào kiềm chế để cho nước mắt đừng tuôn rơi. Có lẽ con đang cảm nhận về sự mênh mông, trống vắng thì phải?

Con đã xa nhà từ dạo những bước chân hãy còn chập chững. Con đã từng không dám đi xa vì biết bao sợ hãi, vì biết bao lo toan về phía trước xa mờ, và hơn hết vì con sợ phải xa mẹ. Thế nhưng con đã đi xa để tìm cho mình một khung trời tươi sáng, xa lạ – nơi đó không còn có một bàn tay đặt nhẹ vào lưng mỗi khi con buồn vì vấp ngã, vì tổn thương. Những ngày bệnh con phải tự mình đi mua từng viên thuốc…Còn đâu nồi cháo mẹ nấu ngày xưa, mỗi khi ăn con thường hay khóc vì con ghét ăn cháo. Con dù biết sự xa mẹ sẽ là thách thức cho con lớn khôn, cho con sự mạnh mẽ. Nhưng mẹ ơi, con vẫn thấy mình đang thiếu thốn, nhiều khi con thấy cô đơn, tủi thân vô cùng.

Và giờ đây khi con lớn lên thì mẹ cũng đã già. Mẹ đang cần một người bên mẹ để nghe mẹ nói, chăm sóc mẹ lúc cần. Nhưng lúc đó con đang ở đâu? Xa hoa? Và ánh sáng?

Mùa Vu lan về, con vẫn rất hạnh phúc khi trên áo mình cài hoa hồng thắm, vì con biết mình còn có mẹ để quay về. Trong tâm trí con chợt xuất hiện lời bài hát Bông hồng cài áo, phổ thơ của Sư Ông, và hình ảnh mẹ hiền ngồi bên hiên đan từng ngón tay dịu dàng vào mái tóc của đứa con ngày nào vẫn còn thơ ngây.

Rồi một chiều nào đó anh về

Nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu

Rồi nói, nói với Mẹ rằng "Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?"

-Biết gì ? "Biết là, biết là con thương Mẹ không ?"

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em

Thì xin anh, thì xin em

Hãy cùng tôi vui sướng đi.

Con rất vui sướng vì đời con có mẹ, có mẹ có nghĩa là con có cả bầu trời bao la. Hôm nay trong khi con ngồi im lặng và thở để nghe tiếng nói của sự sống, bất chợt con thấy mình thật gần với mẹ vì mẹ đã ngồi đây bên con, cùng con. Mẹ ơi, mình cùng thở, mẹ nhé!

 

Ngày nào cũng hội vui

Thấm thoắt đã ba năm, vậy mà ai đến đây thăm viếng cứ ngỡ như là tu viện Làng Mai Thái Lan đã có từ lâu lắm rồi. Mọi thứ thân thiện, gần gũi, vui tươi và thiền vị quá. Ai đến cũng muốn ở lại thêm như một tình bạn vừa nồng nhiệt vừa cố tri. Đâu phải chỉ là cảnh vật, con người mà còn hàng vạn nhân duyên khác làm nên không khí này.

Ước mơ thành hiện thực

An cư kiết hạ năm nay ở Làng Mai Thái Lan chọn cùng thời điểm với truyền thống xuất sĩ Thái, tức là giữa tháng bảy dương lịch. Lễ đếm thẻ trước ngày đối thú an cư diễn ra theo mỗi xóm. Tối hôm đó trời mưa tầm tã và không có điện, nhưng trong thiền đường vẫn ấm lên bởi những ngọn nến lung linh, trang nghiêm và thanh tịnh. Tin vui nhất là năm nay xóm Trăng Tỏ có nhiều cận sự nữ: cả thảy là chín vị, sáu người Thái và ba người Trung Quốc. Các vị đang tập sự để trở thành các sư cô trong chương trình “Xuất gia gieo duyên ba tháng”. Xóm Trời Quang thì có đến bốn cận sự nam, cũng trong chương trình này và các vị đến từ nhiều nước khác nhau như: Indonesia, Nhật Bản và Thái Lan. Trong đó có một vị lúc trước là kiến trúc sư cho tu viện của mình bây giờ cũng muốn thực tập xuất gia gieo duyên.

Vậy là ước mơ của chúng con đã trở thành hiện thực. Làng Mai Thái Lan bây giờ đã có rất nhiều sư cô, sư chú người Thái. Một phần là do có chương trình xuất gia gieo duyên, phần khác là nhờ phong trào Wake Up Thái Lan đang sôi nổi. Các sư em bây giờ đã bập bẹ nói được vài chữ, vài câu tiếng Việt và hát được rất nhiều bài thiền ca (có cả những bài thiếu nhi Việt Nam). Các sư em đã giúp rất nhiều cho tăng thân và là nguồn cảm hứng cho nhiều người về đây tu học.

                                                            Thiền trà – xuất gia gieo duyên tại Làng Mai Thái Lan, ngày 31/7/2016

Có những điều vi diệu

Tiếp nối là lễ Đối thú được tổ chức vào buổi sáng ngày 20 tháng 7. Đại chúng hai xóm tập trung tại thiền đường lớn rất sớm. Vẫn chưa có điện, nến được thắp dọc theo hai bên hành lang. Hai trăm vị xuất sĩ lặng lẽ ngồi trong yên lặng, nhiếp niệm vào hơi thở. Bỗng! Một ánh sáng rực lên, thiền đường sáng rực, không chỉ có ánh sáng của đèn điện mà còn có những nụ cười mỉm chi tỏa rạng. Xuyên suốt buổi lễ là tiếng tụng kinh hùng hồn của đại chúng.

Ngày hôm ấy thật đặc biệt, sáng sớm đã có lễ đối thú, đến mười giờ là có lễ giỗ Sư Thúc, lễ Tổ Tiên, kết hợp là buổi cúng đại thí thực. Đại chúng ngồi thiền, tụng kinh…Buổi lễ như thác nước gội sạch những gì còn sót lại để mang tới một không khí mới hoàn toàn cho mùa An cư kiết hạ. Quý thầy lớn đã kết hợp tụng những bài kinh trong sách Nhật Tụng Thiền Môn với các bài xướng tụng có giai điệu mà từ nhỏ chúng con đi chùa hay được nghe. Từng câu từng chữ như được thốt ra từ đáy lòng để kính dâng lên Sư Thúc và cả tổ tiên huyết thống, tâm linh. Sau buổi lễ đại chúng được ăn cơm theo bàn tròn, có rất nhiều món ăn ngon như: bắp chuối cuốn rong biển kho với cà chua, bánh mì nướng bơ, cari miền Tây, kem dừa Thái… món nào cũng ngon và hấp dẫn.

Hơi thở của Thầy

Chủ đề cho khóa An cư kiết hạ năm nay là “Hơi thở của Thầy”, mang Thầy đi cùng chúng con trên mọi chặng đường. Chúng con biết bây giờ là phút giây vi diệu nhất vì Thầy vẫn còn đó cho chúng con. Thầy đã đem hết nghị lực và tuệ giác của mình để tiếp tục đi cùng chúng con. Tất cả sức mạnh tâm linh và tâm bồ đề rực cháy từ Thầy luôn luôn là những bài học vô giá, đánh động và sách tấn chúng con. Thở vào, chúng con may mắn vì Thầy vẫn còn đó cho chúng con; thở ra, chúng con là sự tiếp nối đẹp đẽ của Thầy.

Các thầy các sư cô lớn đã ngồi lại với nhau rất nhiều buổi để lên lịch pháp thoại với mong muốn hướng dẫn thật kỹ lưỡng các phương pháp thực tập căn bản của Làng Mai. Mỗi chúng con là một hạt giống trong Vườn Ươm Thái Lan nên chúng con được các vị trưởng thượng tưới tẩm rất nhiều chất bổ dưỡng cho mai này chúng con lớn lên thành những cây vững mạnh giúp đời. Không chỉ thế mà còn có những chương trình rất thú vị cho ngày thứ năm; ngoài những buổi pháp đàm là “Chương trình thảo luận’’ theo nhóm, nhằm chuyên sâu vào những điều cần học hỏi, thực chứng tự thân, làm rõ nội dung để đại chúng hiểu và thực tập: nghệ thuật dung hòa các khuynh hướng nhận thức, âm nhạc nuôi dưỡng và trị liệu, dạo chơi trên những con sóng cảm xúc, nghệ thuật làm việc chung hai xóm, duy biểu và kinh quán niệm hơi thở, … Cả thảy là tám chủ đề và và mỗi chủ đề được một vị lên quảng cáo để thu hút các thành viên trong đại chúng hưởng ứng, đăng ký vào nhóm của mình. Giờ phút ấy mới thấy rõ Tăng Thân mình thật đa tài, ai ai chia sẻ cũng hấp dẫn, thật khó để lựa chọn!

Ngày nào cũng hội vui

Thiền hành vui như hội. Từng áng mây bay nhè nhẹ quanh núi đồi sau một đêm mưa to gió lớn; trời xanh trong, những chú chim lượn bay thả mình vào không gian thênh thang. Từng bước chân thiền hành lặng lẽ thả mình vào với thực tại, hơi thở và thiên nhiên. Có người đã dừng lại giữa không gian bao la bát ngát ấy, chỉ vì một điều đơn giản là cảnh vật quá đẹp, đẹp hơn cả trong tranh, trong phim.

Chúng con được ở gần với núi, ở gần với mây, gần với chim chóc hát ca hai mươi bốn giờ mỗi ngày, chỉ chừng đó thôi đã cho chúng con thấy mình là những người hạnh phúc nhất trên đời. Không chỉ được sống ở giữa cảnh đẹp thiên nhiên, mà chúng con còn được học các lớp nội điển và ngoại điển – chương trình do các vị giáo thọ nghiên cứu, soạn thảo và giảng dạy. Ngày ngày chúng con cắp sách đến lớp, chúng con được nuôi lớn bởi giáo pháp và chưa bao giờ cảm thấy chán học, đó là nhờ niềm tin, sự kiên trì, nguồn cảm hứng và tâm huyết của các vị giáo thọ trong từng bài giảng.

Chiều hôm nay trong buổi pháp đàm có một sư chú chia sẻ: con nguyện sẽ tập thương các huynh đệ bằng trái tim của một người mẹ, không chê trách và phán xét, luôn bên cạnh và đồng hành. Cũng có một sư cô chia sẻ: nhờ hơi thở sư cô có thể điều phục tâm hành, những cảm xúc và cơn giận lên xuống, khi nhập viện sư cô đã không sợ hãi như các bệnh nhân khác, sư cô trở về với hơi thở, mỉm cười khi chuẩn bị vào ca mổ. Nhờ hơi thở lắng dịu và niềm tin, ca mổ đi qua rất nhanh và thành công.

Không cần phải dụng công

Bây giờ nhiều người biết đến Làng Mai Thái Lan như một người bạn thân luôn luôn có mặt và thấu hiểu. Khóa tu người Việt phải dừng lại ở con số 500, khóa tu Wake Up, khóa tu Đông Nam Á cuối năm, khóa tu dành cho người Singapore, khóa tu cho bác sĩ, giáo viên, người làm vườn, khóa tu dành cho các vị Tiếp hiện,… Ngoài ra mỗi tuần còn có rất nhiều thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới đến tu học, các bạn đã nhiều lần trở lại. Tuần vừa qua, mười bốn vị thiền sinh nhận năm giới trong đó có những vị đến từ Pháp, Đức, Mĩ, Thái, Trung Quốc… Các bạn đã rất hạnh phúc khi cùng tham dự thời khóa với đại chúng, được ăn các món ăn chay do các vị xuất sĩ nấu bằng tình thương, được thưởng thức thiên nhiên trong lành, được học thở, học đi và sống đời sống tỉnh thức. Ai đến đây đều công nhận là đại chúng lớn có công năng trị liệu và chuyển hóa mau chóng mà không cần phải dụng nhiều nội công.

Đất trời gọi nhau

Bây giờ đường thiền hành lại có thêm một con đường mới. Mỗi con đường mới mở ra đều đem lại rất nhiều niềm vui cho đại chúng Thái Lan. Con đường này bọc quanh một ngọn đồi gần cốc Thầy. Ai đi trên con đường này cũng thích hết, như được đi giữa khu rừng sinh thái, như lạc vào một mảnh đất mới, có nhiều cây to và cao lớn, còn có thể nhìn thấy toàn cảnh đất trời gọi nhau. Đất trời không còn ngăn cách, không còn xa vời vợi mà gần gũi, hòa quyện, nhập lại, như thể đất là trời, trời là đất. Mà thật vậy, khi nhìn kỹ ta thấy trời đang nối dài cùng đất, như hai bàn tay nắm lại thành hai vòng cung vừa nhảy múa vừa tô đẹp cho cuộc đời, vừa ôm toàn thể không gian quay tròn. Vậy đó, có những nơi mình đến và đã đi qua nhiều lần, nhưng phải mở đường, mở tầm nhìn mới thấy rõ là nó quý giá thế nào, và bao nhiêu điều chưa khám phá vẫn còn đang chờ đợi.

"Ngồi yên tâm thoắt động
Giật mình chiếc lá rơi".

Đó là hai câu trong bài hát: “Rồi mình lại đi chơi”. Cuộc đời là một chuyến đi chơi. Ta sẽ làm gì hôm nay để chuyến đi của ta trở nên một bài ca bất hủ, một tuyệt tác phi thường, hoặc một dấu ấn đột phá. Tất cả đều ở trong tay ta, và những cơ hội sẽ đến cho những ai về đây, về nhà, về Làng Mai, chỉ để tìm lại chính mình, lắng nghe mình, và câu trả lời chắc hẳn sẽ còn ý nghĩa hơn.

Để xem thêm hình ảnh của Lễ xuất gia gieo duyên, xin bấm vào đây: http://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/xuat-gia-gieo-duyen/xuat-gia-gieo-duyen

Có Bụt trong con

Kính bạch Đức Thế Tôn!

Con đang ngồi bên bệ cửa ngước nhìn bầu trời xanh mát và cao vợi, thảm mây trắng bồng bềnh tự do, nắng in bóng lên bức tường vôi đã tróc sơn loang lổ, lên đóa hoa mùa hạ thêm rực sắc. Con ý thức thế giới tươi mát trước mắt đã có mặt hàng ngày, hàng giờ mà bấy lâu chân con vội vã, mắt con lơ đễnh nên con dường như chưa tiếp xúc được với mọi thứ xinh đẹp ấy.

Bạch Đức Thế Tôn. Con đang tập nhìn, tập tiếp xúc và tập lắng nghe từng sự sống đang có mặt trong đời sống của con. Từ thời khắc này trở đi, con nguyện sống trọn vẹn và tỉnh thức như Ngài, như Tăng đoàn nguyên thủy của Ngài để chế tác chánh niệm và chánh định, góp hạnh phúc, an vui và thanh tịnh vào trong đời sống tu học của con cũng như của người khác.

Con cũng đang tập nhìn, tập tiếp xúc và tập lắng nghe Ngài. Con thấy được Ngài qua hình ảnh người con trai thành Ca Tỳ La Vệ cách đây 2600 năm, được sinh ra vào ngày trăng tròn tháng Tư tại vườn Lâm Tỳ Ni. Con thấy được Ngài – một hành giả tu khổ hạnh, nằm sõng soài dưới nắng và hơi thở thoi thóp vì kiệt sức nơi rừng thẳm. Con nhìn thấy nụ cười giác ngộ lấp lánh trên môi Ngài như ánh Sao Mai đã mọc phía chân trời, rằng đạo lớn đã được tìm ra. Con thấy Ngài ngồi thiền trên mớ cỏ Kusa, trong tư thế hoa sen rất đẹp và rất vững. Hay hình ảnh Ngài trên pháp tòa truyền dạy Bảy phương pháp giữ gìn chánh pháp và giáo đoàn không bị suy thoái cho gần 2000 vị khất sĩ nam, khất sĩ nữ trên Linh Thứu sơn. Con cũng thấy hoa sala rụng xuống như mưa, đại địa rung chuyển khi Ngài nhập diệt và lời dặn dò cuối cùng của Ngài khiến con không cầm được nước mắt: “Vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt, các vị hãy tinh tiến lên để đạt tới giải thoát”.

Đột nhiên con thấy Ngài cũng hiện diện trong con, trong những hành xử mang hạt giống của tình thương, trong những pháp môn mà con đang thực tập để chuyển hóa. Hình hài Bụt trong con, ngoài con đều là những thực tế nhiệm màu mà con rất trân quý. Con nguyện xin tiếp tục một lòng thực tập nhìn, thực tập tiếp xúc, thực tập lắng nghe và bước đi trên con đường của Bụt, nương tựa giáo lý giải thoát và quay về với Bụt trong con.

Con thương Bụt, xin một lòng kính lạy, năm vóc sát đất trước đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni – bậc đã qua tới một cách nhiệm màu, bậc thầy của hai giới Trời và Người.

Con cũng xin cúi lạy đức vua Tịnh Phạn và hoàng hậu Maya. Con biết ơn hai vị đã sinh ra Đức Thế Tôn – một bậc có đầy đủ công hạnh và tuệ giác đưa đường, chỉ lối cho chúng con vượt biển mê lên bờ giác.

Có hình hài Bụt trong con, con không tìm kiếm đâu nữa …

Con,

Chuông Mây – Hồ Bé Linh

Mừng Bụt Đản sanh, 27/5/2016

Có một dòng sông đang chảy

 

Hôm nay, bất chợt tôi nhớ lại câu nói của Heraclitus: “Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng sông”. Câu nói này được cô giáo tôi trích dẫn khi giảng bài Nhớ con sông quê hương của nhà thơ Tế Hanh.

Hồi đấy, tôi còn quá nhỏ, ngây ngô và hời hợt, nên chẳng mấy quan tâm đến câu danh ngôn, chỉ chú tâm vào nhớ con sông quê hương tôi: sông Cửu Long.

Quê hương tôi, miền đất thật trù phú! Có thể nói là nhất nước. Đặc biệt là vùng An Giang quê tôi, nơi cả sông Tiền và sông Hậu cùng đi qua, để lại biết bao nhiêu phù sa cho ruộng lúa tốt tươi; cho hoa thơm trái ngọt đơm cành; cho bao nhiêu là cá tôm cho thợ chài, thợ lặn… Và cho cả những tâm hồn bé dại biết bao lần nô đùa trên sông nước.

Hầu như bất kì đứa trẻ nào sinh ra và lớn lên ở vùng quê tôi đều không thể không biết bơi. Vì bơi lội không chỉ là môn thể thao đơn thuần yêu thích, nó còn là cuộc mưu sinh mùa nước lũ. Và đặc biệt, đắm mình trong phù sa sông nước là thú vui duy nhất của lũ trẻ chúng tôi mỗi độ chiều về.

Tôi nhớ như in, những buổi chiều quê, chúng tôi đợi các anh chị lớn trong cả xóm về để còn xin ba mẹ cho đi tắm sông. Đại hội thể thao của mấy anh chị em bắt đầu khi khói lam chiều của các mẹ, các nội nhóm lên cuối bếp. Chúng tôi réo nhau, nhảy cầu, bơi đua từ cây cầu nhà này sang cây cầu nhà kia. Các anh lớn đua qua sông, lặn qua ghe cặp mép cầu, rồi lên một chiếc cầu cao cao nào đó mà đua nhau gieo mình xuống sông bằng đủ kiểu, đủ dáng và lặn càng sâu càng tốt. Các nhóc nhỏ như tôi tuy không biết bơi nhưng cũng được tham gia tắm bùn (ở trong bờ!) và hò reo thỏa thích. Bởi thế bạn đừng lấy làm ngạc nhiên khi thấy người miền Tây nói với âm lượng khá lớn nhé.

Sau cuộc tranh tài các anh chị quay vào bờ tập bơi cho các em nhỏ. Việc tập bơi cũng khá đơn giản. Chỉ cần vắt cái khăn choàng tắm (loại khăn rằn chỉ có ở miền Tây) ngang người đứa nhóc rồi lên một cây cầu cao, thả xuống, đu đưa qua lại vài lần là tự động hắn không còn biết sợ độ cao và sợ bị uống nước đầy bụng một cách bất ngờ nữa. Một tốp khác sẽ được hạ xuống nước. Các anh chị lớn sẽ bồng những em nhỏ, đưa qua đưa lại dưới nước rồi từ từ nới tay ra. Em nào nổi lên được là bơi được, em nào chìm thì mai làm tiếp. Cứ như thế, lứa này nối tiếp lứa sau, mà tập tắm sông đầy vui thích.

Vì vậy, tôi cũng chẳng rõ thầy dạy bơi cho tôi là ai cả. Mà ai cũng có thể là thầy dạy bơi! Chỉ cần anh bơi được, bất kể anh bơi giỏi hay chưa giỏi, xa hay gần, chỉ cần anh xuống nước mà nổi lên được và tình thương em út của anh đủ lớn là sẽ có ngay những cô cậu nhóc réo gọi anh dạy bơi ngay.

Có một thú vui miền sông nước mà có lẽ không một người thành thị nào có thể có được: tắm sông. Tắm sông mọi lúc, mọi nơi. Sáng, đi ruộng về: tắm. Trưa, phơi lúa xong: tắm. Chiều, làm rẫy xong: tắm. Đi đường, bụi dơ: tắm. Vui cũng tắm, buồn cũng tắm, trời nóng nực cũng tắm, trời mưa tầm tã, lạnh lẽo cũng chỉ tắm sông (lúc ấy nước sông cực kỳ ấm.) Ra đồng mùa nước nổi, bốn bên không còn là ruộng lúa mà là cả một dòng sông mênh mông nước với nước: tắm lúc này là thích nhất.

Có những đêm trăng vắt ngọn tre, xung quanh như bức màn nhung huyền bí, điểm xuyết bằng những chiếc lá tre già đu đưa. Ngắm mặt sông lóng lánh ánh trăng đổ dài một vệt sáng cả khúc sông và rung rinh mỗi độ ghe tàu, tát rán (hay còn gọi là vỏ trấu, một loại tương tự như ghe thường nhưng nhỏ và dài, được gắn động cơ mạnh, chạy rất nhanh, tạo sóng rất lớn) chạy qua thật là thú vị. Những đêm ấy, các mẹ, các chị thường ngắm trăng, thả mình trên sông nước và hát ca cổ cải lương hay kể chuyện ngày xửa ngày xưa. Đó luôn là những đêm trăng tuyệt diệu còn mãi trong tâm trí của những đứa con xa quê.

Nói tới đây, tôi thấy mình thật may mắn và hạnh phúc đã có được đêm trăng như thế với bà nội, các cô, các chị. Chỉ một lần duy nhất trong đời nhưng, nhờ đó, câu nói của Heraclitus đã có thể ở lại trong tôi đến tận bây giờ.

Nội đã xa con rồi. Khi xưa, con chỉ biết rằng con không còn cơ hội tắm trăng lần nữa với nội trên con sông quê mình. Nhưng nay, con hạnh phúc thấy rằng nội vẫn cùng con đắm mình trong dòng sông tâm thức. Con đang đi những bước đi cho nội. Con mang cả phù sa quê mình đi về phía tương lai. Nội vẫn trong con và con luôn trong nội. Những hạt giống tốt tươi đang đâm chồi ny lộc và những hạt giống chưa tốt đang dần được chuyển hóa để mảnh đất tâm trong con sẽ cùng nội mở đường cho thế hệ mai sau. Dòng sông ấy vẫn không ngừng tuôn chảy, niềm tin ấy vẫn luôn được giáo pháp đắp bồi và tình yêu quê hương vẫn luôn cháy bỏng và mới hoài. Vì dòng sông không bao giờ trở lại và “Tình thương không bao giờ nói rằng đây là lần cuối’’.

 

Mây tím gọi nhau vẹn một lòng

(Thương gửi anh chị em xuất sĩ Huế)

Bạn hiền thương,

Khóa An cư Kết đông chỉ còn một tháng nữa là kết thúc. Vậy là tôi đã có mặt tại xóm Thượng được hơn một năm rồi.

Sao tôi thích những cảnh chùa yên bình như vậy quá. Có bạn ở đây, thế nào tôi cũng mời bạn đến thăm cây Mimosa đang nở vàng bên hồ sen nhỏ. Hồ đóng băng, cây vẫn rộ vàng, tỏa hương nhẹ nhàng mà lại đi rất xa, thơm cả khoảng trời xóm Thượng. Hoa ra nhiều, những cành nhỏ vì thế mà trĩu nặng, càng nặng hơn vào mỗi sáng sớm đầy sương.

Mùa đông lạnh, đứng trước hình ảnh đó, chắc chắn bạn cũng sẽ như tôi, thấy lòng dâng lên một niềm cảm phục và cung kính. Những cành đầy hoa oằn xuống. Bạn biết đó, không ai bắt ép Mimosa phải cho hoa, hay phải cho hoa nhiều. Hoa có mặt như là một chuyện tự nhiên, một chuyện hiển nhiên. Mà bạn hiền ơi, tự nhiên làm sao được, hiển nhiên làm sao được. Phận sự của cây Mimosa trong lúc ấy là cho hoa. Tiếng nói từ trái tim, từng mạch nhựa nơi rễ, nơi thân, nơi cành, nơi lá, vâng theo một nhịp mà chuyển vận và làm việc, mà tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho nụ hoa biểu hiện. Dù mọc ở phố thị đông nghẹt, bao nhiêu ánh mắt qua lại, hay độc cư một mình trên ngọn đồi xa xăm không người nhìn ngó, Mimosa, bạn hiền ơi, tôi tin là vẫn ra hoa như nhau. Mỗi lần bắt đầu chớm nụ, tôi có cảm giác như cây nghĩ rằng đây là lần cuối cây sẽ cho hoa. Hoa bung hết lòng bất chấp mùa đông băng giá. Những nụ hoa tròn vàng mỏng manh, lặng lẽ đứng trong mưa gió, trong sương lạnh, hương bay ướp cả một vùng. Tôi trông thấy sự oai hùng kia nơi thân cây bé nhỏ.

Nói bạn hiền nghe, tôi thực tập còn nhiều vụng về lắm, nên hôm ấy, đứng trước gốc Mimosa trong sương mờ, lòng tôi dâng ngập một sự kính trọng như đứng trước một vị đạo sư, và tôi tiếp tục con đường tôi đi thêm nhiều phấn khởi. Những ngày tiếp theo sau bài học đó, tôi thấy bước chân tôi chạm vào đất mẹ vững vàng hơn, mỗi chén trà tôi nâng trên tay có mặt đầy đủ hơn. Bước chân này như là bước chân cuối cùng tôi đi. Chén trà này như là chén trà cuối cùng tôi thưởng thức. Tôi nhìn anh chị em tôi như là lần cuối cùng tôi có thể làm một công việc giản đơn dễ dàng đó. Biết đâu, mọi thứ đều trở thành không còn có thể. Tôi thấy, nếu tôi thực tập an trú có chánh niệm nơi những động tác nhỏ nhất thì tôi có cơ hội chạm tới nhiều hạnh phúc hơn trong cuộc đời này.

Bạn hiền thương,

Hình ảnh trên khiến tôi nhớ lại những năm ở Kim Sơn, trong mùa An cư, quý thầy và phật tử thường trì tụng kinh Pháp Hoa, và tôi đã từng nói với bạn rằng, bản kinh ấy, càng tụng, càng chiêm nghiệm, lại càng thấy giản đơn, càng giản đơn lại càng thêm phần vô cùng thâm sâu thấm thía, lại càng tìm ra được nhiều phương pháp thiết thực để áp dụng vào đời sống thường ngày, lại càng thấy lòng yên.

Bạn ơi, chiều nay, đọc ngang qua phẩm 24, phẩm Bồ tát Diệu Âm, cái thấy trong tôi sáng tỏ hơn, bạn muốn nghe một chút cho vui không!?

Diệu Âm là vị Bồ tát thường sinh hoạt ở cõi nước có tên là Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm, tức cõi nước được trang nghiêm bởi tất cả sự đầy đủ của ánh sáng và những yếu tố trong sạch. Cõi nước ấy, Bụt kể, rất đẹp, bằng phẳng, không có những sự nguy hiểm. Bồ tát Diệu Âm muốn tới quốc độ Kham Nhẫn, tức cõi Ta bà, cõi chúng ta đang sống này bạn, để thăm đức Bụt và chư Thánh đệ tử, có nghĩa là từ quốc độ sáng-sạch tới thăm một thế giới với nhiều cảnh tượng nguy hiểm, không đẹp mắt, nhiều ngục tù, nhiều khóc than, gập ghềnh, lồi lõm, không trang nghiêm chi cho lắm, thân người cũng không đẹp đẽ gì.

Bồ tát Diệu Âm đã được nhắc nhở về chuyện này nhưng không lấy đó làm ái ngại hay khởi tâm khinh chê. Bồ tát tuyên bố, ta đến cõi Kham Nhẫn là vì trí tuệ, vì công đức, vì tất cả sự nghiệp mà đức Thích Ca Mâu Ni đã thành tựu và truyền trao nơi đây. Tới vì phẩm chất bên trong chứ không phải tới vì nội dung bên ngoài. Đó là một bài học lớn cho chúng ta chiêm nghiệm, phải không bạn!?

Tới với một người bạn, một gia đình, một đoàn thể nào đó, ta tới vì điều gì? Vì người bạn đó có khuôn mặt và vóc dáng đẹp, vì gia đình đó giàu có vật chất, nhà sang, xe sang, chỗ ngồi sang? Hay vì người bạn đó có một tâm hồn sáng trong thuộc về lành thiện, biết cảm thông, có tình, lịch sự, sống chừng mực; vì gia đình đó rất ấm áp tình người, bước vào ngôi nhà nhỏ bé kia là như có sẵn bếp lửa hồng sưởi ấm trái tim ta? Nếu người đó có vóc dáng và khuôn mặt đẹp mà sống cẩu thả trong suy nghĩ và nói năng, sống không lịch sự, mình tới với người đó thì tới vì một điều gì khác chứ không phải tình bạn. Nếu gia đình đó giàu có về vật chất mà chất liệu tâm linh thì thấp kém, không biết tôn trọng nhau cả trước mặt lẫn sau lưng, hành xử thô thiển, chỉ biết vung tiền ra để đáp ứng những nhu cầu hưởng thụ, mình tới với gia đình đó thì vì cái gì chứ không phải vì tình người cao sang.

Bạn mình không đẹp lắm, chỉ nhìn được, nhưng tâm hồn thì phong phú, hiền từ, nói năng nhã nhặn, biết chia sẻ với mình tất cả những khốn khó, biết đi cùng về cõi đẹp, biết tiếp xúc với không gian bao la mà vui sống, chơi với người đó, mình sẽ trở nên giàu có vô cùng tận. Sự giàu có đó, không một thế lực hay hoàn cảnh nào cướp đi được. Gia đình đó không giàu có gì, nghèo lắm, hoặc chỉ đủ sống, nhưng bước vào, từ người lớn tới người nhỏ, ai cũng sống chan hòa, ưa thích sự êm ấm thanh bình, biết sống đủ, không tham lam vật chất, ăn uống đạm bạc, ham thích sách vở trí thức, nói năng lễ độ, ham thích những câu chuyện tình người. Đến với gia đình đó, ta sẽ giàu có bất tận. Cái tình ấy nuôi ta mãi thiên thu.

Chùa cũng vậy. Chùa thì không nên tỏ ra quá giàu, sắm sửa bao nhiêu bộ bàn ghế đắt tiền, hào nhoáng và lộng lẫy. Chùa phải như quốc độ Kham Nhẫn, xấu xấu một chút, thiếu thiếu một chút về hình thức và vật chất, để đồng sự với cuộc đời như màu nâu sồng quê hương. Cái đủ đầy là phẩm chất thực tập. Chùa có tu tập nghiêm túc, đó là ngôi chùa đẹp. Chùa mà huynh đệ biết sống vui, thương nhau trong cảnh nghèo thanh bình, đó là ngôi chùa đẹp. Và chúng ta cần tìm đến những cảnh chùa nghèo nghèo trong cõi vui thanh bình ấy, với tất cả tấm lòng tôn kính và khao khát học hỏi như Bồ tát Diệu Âm đã thực tập. Người trí thức không bao giờ chê bai, thấy xấu hổ khi tới thăm một ngôi chùa hơi nghèo mà khoáng đạt. Người trí thức chỉ thấy không vui vì chuyện khác.

Đẹp biết bao nhiêu một nét chùa quê nghèo vui trong cõi thanh bình. Cái cảnh đó, bước vào là đã được nuôi dưỡng rồi, bước vào là những sầu muộn tự thân nó bắt đầu tự chữa trị rồi. Cảnh nào mà ở đó có mặt sự thanh bình, lịch sự, yên tĩnh, có tâm linh, đó là cảnh cho ta đi về.

Bồ tát Diệu Âm nhờ tu tập và an trú được trong định có tên Biểu hiện tất cả các sắc thân nên Bồ tát hiểu, sắc thân chỉ là biểu hiện, có thể thay đổi, liên tục thay đổi, nhưng phẩm chất tu, chất liệu thầy tu trong đức Thế Tôn và chư đệ tử ở cõi Ta bà là một điều có thật. Vì thế mà một vị Bồ tát thượng thủ cũng muốn tới chiêm ngưỡng, lễ bái, cúng dường và học hỏi. Đó cũng là Tiếng nói vi diệu_Bồ tát Diệu Âm nhắn gởi.

Hai mươi năm, ba mươi năm, năm mươi năm, hay nhiều hơn, sống trong cuộc đời này, chúng ta nghĩ chúng ta đã sống nhiều quá, đã hiểu biết nhiều quá. Tuổi thơ đánh mất khi nào không hay. Bạn hiền ơi, làm một người xuất sĩ, chúng ta có cơ hội để sống lại với những điều mà có thể chúng ta đã từng hoang phí vì dại dột, vì tự hào tuổi trẻ, vì coi thường những thứ hiện hữu xung quanh. Tôi có nhiều hạnh phúc khi ở đây. Hạnh phúc ấy, từ tự thân tôi chế tác ra, và một phần đến từ những người huynh đệ quanh tôi. Tôi tìm thấy những sư anh, những sư chị, những sư em mà sự thực tập là một dòng sông nối dài hình ảnh của Thầy. Tăng thân là một dòng sông, trong đó có Thầy, có các con của Thầy khắp nơi cùng nắm tay nhau chảy về biển lớn. Đỉnh núi xa kia nơi dòng sông đã bắt đầu trong quá khứ cũng là nguồn cội. Biển lớn kia nơi con sông sẽ chung hòa cũng là nguồn cội. Chúng ta đã đến với nhau, như những giọt nước có thể tích tụ từ nơi thân cây này hay chiếc lá kia, nơi thảm rêu lạnh, nơi lòng đá ngàn năm, nơi bùn lầy nước đọng, nơi mây trời thênh thang… tất cả góp gom và cùng chảy một dòng. Chỉ còn một cái tên chung có nghĩa của tăng thân, của tình huynh đệ, của đồng sự, của nâu sồng, của hiểu thương, của phụng sự.

Thế thì bạn ơi, đi chung với nhau, dù ở đâu, chúng ta cũng gặp nhau nơi dòng chảy đó, phải không?

Chung tay giữ bếp lửa hồng

(Một vài cảm nhận sau khóa tu xuất sĩ Chung tay giữ bếp lửa hồng)

 Ba chữ bếp lửa hồng khiến tôi nhớ tới một lá thư mà Thầy viết cho đệ tử, trong đó cũng có chữ bếp lửa. Đó là lá thư với tựa đề Giữ bếp lửa hồng ở quê hương. Cuối lá thư Thầy viết rất cảm động: "… Làm mới đạo Bụt trong nước và hiến dâng sự thực tập này cho thế giới, công phu mang lại cho chúng ta nhiều hạnh phúc. Thầy rất ấm lòng mỗi khi nhớ tới chùa gốc, biết là các con đang giữ bếp lửa hồng ở quê hương để nuôi dưỡng tăng thân khắp nơi trên thế giới. Chúng ta hãy thực tập nắm tay nhau đi như một dòng sông và cùng hướng về và xây dựng một tương lai chung. Đừng bao giờ xé lẻ. Chúng ta nên nói lời nguyện ước của chúng ta với nhau như thế!. Và đúng như lời Thầy dạy, anh chị em xuất sĩ chúng tôi đã và đang cùng nhau xây dựng một tương lai chung. Điều đó được thể hiện rất rõ qua đời sống hàng ngày. Khóa tu xuất sĩ vừa qua giúp tôi nuôi lớn thêm ngọn lửa của bồ đề tâm trong trái tim mình.

Tôi rất biết ơn ban tổ chức đã làm việc hết lòng để mang lại hạnh phúc cho đại chúng. Trước khi đại chúng bước vào khóa tu thì ban tổ chức đã phải chuẩn bị trước đó cả tháng. Từ chuẩn bị thời khóa cho đến phòng ốc, chia danh sách pháp đàm, thiền trà nghi lễ, địa điểm, mời người cho pháp thoại, vấn đáp, chia sẻ… Nói chung là ban tổ chức phải lo tất tần tật, từ A đến Z. Chưa hết, ngày đầu tiên của khóa tu, vì chưa vô thời khóa chính thức nên ban tổ chức còn xuống bếp để nấu ăn cho đại chúng. Một số chị em còn vô đội luân phiên nữa. Tôi chỉ biết thầm cám ơn ban tổ chức và đại chúng mà thôi.

 Dù Thầy đang dưỡng bệnh nhưng Thầy vẫn ra với chúng tôi trong buổi họp chúng đầu tiên. Thầy đã ngồi đó gần trọn buổi để nghe đại chúng họp, bàn, để cân bằng số người làm việc trong khóa tu. Có lẽ Thầy hạnh phúc lắm vì thấy các thầy các sư cô làm việc trong tinh thần kiến hòa đồng giải ý hòa đồng duyệt.

Đất trời đang vào xuân. Xuân về trên những cây đào, cây mận, cây mộc lan, trên những thảm hoa bồ công anh vàng rực xen lẫn màu trắng, xanh, tím của cỏ hoa… Xóm Thượng đã đẹp lại càng thêm đẹp. Những buổi thiền hành tôi thấy mình như đang đi giữa rừng hoa. Cũng có hôm trời mưa nhưng chính ngày mưa ấy, Thầy lại ra đi thiền hành với đại chúng. Những buổi thiền hành dưới mưa như vậy mới cảm động làm sao. Thầy đi trước, các con đi sau, giây phút đó đã đi vào huyền thoại.

Trong suốt khóa tu có hai buổi đại chúng ăn cơm vòng tròn chung với nhau, ngoài ra còn có những bữa ăn trưa ngoài trời, theo tuổi, theo gia đình pháp đàm… Có một buổi Thầy ra dùng cơm cùng đại chúng. Thầy đưa mắt nhìn đại chúng và chúng tôi cũng nhìn Thầy với ánh mắt đầy hạnh phúc. Tôi gọi bữa cơm đó là bữa cơm sum họp vì đại gia đình được ngồi cùng nhau, có Thầy, có huynh đệ, còn hạnh phúc nào bằng. 

Sự có mặt của Thầy trong khóa tu xuất sĩ đã cho chúng tôi một bài pháp không lời. Thầy đã và đang sống đúng với những gì Thầy nói trong buổi trả lời vấn đáp năm nào, khi một thiền sinh hỏi Thầy về kế hoạch “về hưu”: Trong đạo Bụt, chúng tôi quan niệm rằng việc giảng dạy không chỉ bằng lời nói mà còn bằng sự sống của chính mình. Sự sống của chúng ta là một bài pháp, một thông điệp. Và khi nào tôi còn ngồi, còn đi, còn ăn, còn tiếp xúc với mọi người và với Tăng thân thì tôi vẫn còn đang tiếp tục giảng dạy, cho dù tôi đã khuyến khích các đệ tử lớn của tôi bắt đầu thay tôi cho pháp thoại. Trong hai năm vừa qua, tôi đã yêu cầu các vị giáo thọ, cả giáo thọ xuất sĩ và giáo thọ cư sĩ, đứng ra cho pháp thoại. Nhiều vị đã cho những bài pháp thoại rất tuyệt vời, có một số bài pháp thoại còn hay hơn pháp thoại của tôi nữa. Tôi thấy tôi đang được tiếp nối và tôi sẽ không bao giờ phải “về hưu”. Tôi sẽ tiếp tục giảng dạy, nếu không bằng những bài pháp thoại thì cũng bằng cách ngồi, cách ăn, bằng nụ cười và sự tiếp xúc với Tăng thân. Dù không cho pháp thoại, tôi cũng vẫn thích tham dự các sinh hoạt như thiền hành, ngồi thiền, ăn cơm trong chánh niệm, v.v.. Vì vậy, quý vị đừng lo lắng! Những ai tha thiết tu tập vẫn có thể tìm thấy niềm cảm hứng từ sự có mặt như vậy. Chúng ta không nhất thiết phải giảng dạy bằng lời nói. Chúng ta chỉ cần sống đời sống của chúng ta một cách chánh niệm và sâu sắc mà thôi.

Trong khóa tu này, không biết tôi có tham lắm không nhưng thời khóa nào tôi cũng thích, không loại bỏ một cái nào. Từ ăn cơm picnic cho đến ăn cơm có nghi lễ, công phu, thiền hành, workshops, đi bộ, im lặng hùng tráng… Trong khóa tu có một ngày im lặng hùng tráng. Thật thú vị. Không gian thênh thang và không một tiếng nói, tiếng cười nào làm ồn. Ngày hôm ấy tất cả các công việc như rửa dọn, nấu ăn, khử trùng bát đĩa, lau quét nhà ăn… vẫn được diễn ra bình thường vì ai cũng đã biết việc để làm, không cần phải trao đổi gì. Huynh đệ gặp nhau, chỉ cần mỉm cười là đủ.

Tôi nhận thấy rằng không chỉ riêng tôi mà ai ai cũng trân quý từng thời khóa. Điều đó đã khiến cho năng lượng tập thể của khóa tu thật hùng hậu. Giờ công phu sáng, chiều, tiếng niệm Bụt, tụng kinh của đại chúng vang lên sao mà hùng quá. Tôi thật tình không biết dùng ngôn từ nào để diễn tả cho được sự hào hùng đó. Chỉ biết rằng tôi rất hạnh phúc. Nhìn huynh đệ, tôi thấy biết ơn các ba, các mẹ đã hiến tặng cho tăng thân những người con rất dễ thương. Đi tu rồi, tôi có thêm thật nhiều người anh, người chị, người em. Tôi đang có một gia đình tâm linh rất giàu có về mọi mặt.

Hình như ông trời cũng rất thương đại chúng. Ngày đại chúng đi bộ, ngày có PV Cup thì trời nắng, còn lại là có mưa, dù ít dù nhiều. Ngày đi bộ thật thú vị. Chỉ một việc đi thôi nhưng cũng được chia ra thành nhiều nhóm: nhóm đi nhanh, nhóm đi chậm… Tôi tham gia vào nhóm đi chậm vì tôi vốn đi rất chậm. Cả nhóm đi theo sự hướng dẫn của thầy Pháp Dung, tôi cứ tưởng rằng chỉ đi trên đường quốc lộ, ai ngờ một lúc sau thầy quẹo vô đường ruộng. Ban đầu không có lầy lội gì hết nhưng sau đó thì tha hồ lội bùn. Những đôi giày đang dần dần trở nên nặng trĩu bởi bùn đất bám đầy. Nhưng đã lỡ rồi, không lẽ quay lại nên ai cũng tươi cười để tiến về phía trước.

 

Đi một đỗi chúng tôi thấy có một hồ nước đang ở phía trước. Để đến được hồ nước ấy đại chúng phải đi qua một đoạn đường ruộng lội ơi là lội, nếu bước chân không cẩn thận sẽ bị trượt chân liền. May quá, không ai bị ngã hết. Đến được bên hồ nước thì có thể rửa giày cho đỡ nặng. Cũng đã đến giờ ăn trưa nên cả nhóm ngồi xuống, ngay cạnh hồ để ăn cơm. Đội nấu ăn đã nấu cơm, kho đậu hũ, có đồ luộc, rất ngon. Có thêm bánh mì cho đại chúng lựa chọn. Ngày đi bộ mà.

Sau giờ ăn trưa thì có văn nghệ. Văn nghệ ở đây theo kiểu mì ăn liền. Ai thích lên hát thì lên thôi. Chính  nhờ sự thoải mái đó mà ngay cả sư chú Warman người Indonesia cũng lên hát, dù sư chú mới nhập chúng được vài ba tháng. Thế là đại chúng được nghe bài hát tiếng Indonesia rất dễ thương. Sư chú Trời Đạo Hành cũng lên đọc thơ để tặng đại chúng, bằng tiếng Anh. Hai sư em còn rất trẻ là sư em Trăng Non Cao và Trăng Hàm Tiếu cũng lên hát, rất hồn nhiên, trong sáng. Chính sự trẻ trung, năng động của các sư chú, sư em đã nuôi dưỡng quý thầy, quý sư cô lớn và cả đại chúng nữa. Tôi không trẻ cũng không già nhưng tôi cũng được nuôi dưỡng từ sự trẻ trung, dễ thương đó. Tôi nhận thấy rằng chúng tôi cần nhau, không thể thiếu một ai.

Đoạn đường đi về chúng tôi đã được một trận cười ra nước mắt. Sau khi đi một vòng, khá mỏi chân, cứ nghĩ rằng đi ra khỏi khu rừng này thì sẽ về đến nhà. Nhưng không. Ra khỏi rừng chúng tôi lại thấy cái hồ nước lúc nãy, chỉ có điều là chúng tôi đi một vòng thật rộng để đi về phía đằng sau của cái hồ đó. Thầy Pháp Dung dẫn đường nên thầy cười ra nước mắt thiệt. Còn chúng tôi, chúng tôi chỉ biết cười thôi chứ biết làm sao bây giờ. Thật không ngờ rằng từ chỗ đó về tới nhà chỉ có một chút, nếu như biết trước thì mọi chuyện đã không còn thú vị. Dù đi mua đường nhưng tôi vẫn rất vui và được nuôi dưỡng từ buổi đi bộ này. Tôi biết rằng các nhóm đi bộ khác cũng rất vui và nuôi dưỡng nhưng tiếc là tôi chỉ có thể tham gia vào một nhóm mà thôi.

Những buổi học theo nhóm, theo sở thích, gọi là workshops mang lại cho đại chúng rất nhiều hạnh phúc. Lớp học nghi lễ mà tôi theo học, được thầy Giới Đạt hướng dẫn. Thầy dạy rất hay nhưng thời khóa chỉ cho có hai buổi nên chúng tôi phải xin thầy dạy thêm vào ngày làm biếng.

Có nhiều workshops khác như học đàn ghita, cách để xây dựng tăng thân, cách để kết nối với thiền sinh, vẽ… thật là phong phú, tha hồ cho đại chúng lựa chọn. Tài năng của đại chúng đúng là vô cùng, vô tận.

Tôi nhớ khóa tu xuất sĩ năm ngoái Thầy nằm trong bệnh viện, chúng tôi được nghe pháp thoại của Thầy qua DVD. Rồi quý thầy, quý sư cô lớn thay Thầy cho pháp thoại, cho vấn đáp. Năm nay, Thầy ở nhà với chúng tôi, dù vẫn nghe pháp thoại của Thầy qua DVD nhưng chúng tôi ai ai cũng hạnh phúc vì còn được ăn cơm cùng Thầy, đi thiền hành cùng Thầy. Có một hôm Thầy đến ngồi thiền cùng đại chúng trong giờ công phu sáng. Thường thì giờ ngồi thiền chỉ mở đèn nhỏ và không gian rất yên tĩnh. Lúc Thầy vô ngồi thiền tôi có biết, và tôi tin rằng ai cũng biết, chỉ có điều là ai cũng ngồi yên thôi. Cho đến khi mở đèn thì tôi nhìn thấy Thầy rất rõ. Thầy ngồi đó và thầy Pháp Hữu (thị giả) ngồi bên cạnh. Một luồng điện chạy trong tôi. Tình thầy trò sao mà thiêng liêng quá.

Ngày có vấn đáp Thầy cũng có mặt cho các con. Thầy ngồi yên để lắng nghe các con trẻ của mình hỏi, rồi những người con lớn của mình trả lời. Tôi thấy rất rõ sự tiếp nối của Thầy trong tăng thân.

Sự lắng nghe của đại chúng rất dễ thương. Trong khóa tu có một buổi lắng nghe sâu. Lắng nghe cũng là một sự thực tập. Trong buổi này, ai có những cái thấy để đóng góp, để xây dựng đại chúng ngày một đẹp hơn thì nói lên. Những ai không có ý gì thì lắng nghe. Chính nhờ đó mà rất nhiều người trong đại chúng đã mở lòng mình ra để chia sẻ. Những chia sẻ đó chưa cần tăng thân phải trả lời ngay nhưng đó cũng là một điều rất nuôi dưỡng đại chúng, cả người chia sẻ lẫn người nghe.

Cái hay ở trong một đại chúng có đông người là mình được tự chọn cho mình một công việc mà mình thấy thích và thoải mái đủ. Năm nay tôi chọn công việc nấu ăn sáng. Tính tôi không siêng lắm nên tôi chỉ nấu những thức bình thường như mọi bữa. Có một số đội rất siêng như đội của thầy Pháp Tiến, đội thầy nấu xôi cho đại chúng thưởng thức. Cũng có bữa đại chúng được ăn bánh bao. Số lượng có hạn nên tôi bị hết, cuối cùng các chị em khác san sẻ cho tôi. Hỏi ra mới biết bánh bao do thầy Pháp Dung làm. Chiều hôm đó có PV Cúp, vui nhưng mệt, vậy mà thầy vẫn xuống bếp sau đó để làm bánh bao. Có sư em xuống bếp, thấy thầy thái nào cà rốt, nấm… nhưng đoán không ra nên mới hỏi thầy thì thầy nói là thầy đói bụng, thầy làm để chế mì gói. Sư em tưởng thiệt nhưng sáng hôm sau ăn bánh bao mới đoán ra. Thầy kể rằng lâu lắm rồi không có làm bánh bao nhưng hôm đó thầy đã làm bánh bao y như ngày xưa mẹ thầy đã dạy. Chiếc bánh bao nào cũng nho nhỏ, xinh xinh, làm bằng bột gạo lức (vì thầy kiếm bột bánh bao không ra), ăn rất ngon.

Các bữa ăn trưa, chiều rất phong phú. Có đội rất siêng, làm shusi cho toàn chúng. Món shusi rất cầu kỳ, cần nhiều thời gian. Vậy mà đội nấu ăn vẫn làm được. Tôi chỉ biết thán phục mà thôi vì tôi đâu biết nấu gì đặc biệt ngoài những món cơ bản như cơm, cháo, đồ luộc, đồ kho, đồ xào, canh… và rửa dọn. Có đội làm pizza, ngon và đẹp y như ở nhà hàng. Pizza này do người Ý "thứ thiệt" là  sư chú Trời Đạo Phương nướng nên ai cũng thưởng thức rất tận tình. Trong tăng thân tôi được thưởng thức rất nhiều món ăn ngon, lạ của những nước khác, do chính huynh đệ mình làm. Thật không còn hạnh phúc nào hơn.

Bây giờ đây, khi ngồi gõ những hàng chữ này thì khóa tu xuất sĩ đã qua từ hơn mười ngày trước nhưng tất cả còn in đậm trong trái tim tôi. Những cái hay, nuôi dưỡng trong khóa tu còn nhiều nữa nhưng tôi không thể kể hết ra đây được vì tôi viết cũng dài rồi. Chỉ biết rằng tôi được nuôi dưỡng rất nhiều từ khóa tu xuất sĩ này. Tôi trân quý từng giây phút trong tăng thân vì Thầy đã dạy vô thường, không biết điều gì sẽ xảy đến với tôi nhưng tôi biết rằng tăng thân đang chuyên chở, dìu dắt tôi đi vì bước chân của tôi còn chưa vững. Tôi tin rằng ngọn lửa Thầy đã trao sẽ cháy mãi, và tôi cũng đóng góp một phần nhỏ vào công trình Chung tay giữ bếp lửa hồng cao đẹp ấy. Tăng thân là nơi để cho tôi quay về nương tựa, như lời Thầy đã dạy: Có con cho nên mới có Thầy. Có một bếp lửa để khi mình đi đâu thì nhớ về. Thầy trò mình hãy chăm sóc bếp lửa hồng để bếp lửa còn cháy mãi, cho mình và cho bè bạn”. (Giáng sinh 2012).

Xem thêm hình ảnh của khóa tu:

Văn – năm 2016