Lạy Bụt!

 

 

Nam Mô Bụt Thích Ca Mâu Ni!

Sáng nay con trở về nhà. Thả ba lô xuống và hít thở mùi khói đốt đồng hăng hăng xộc vào mũi, con cảm thấy dễ chịu vô cùng. Thời gian qua con đã chạy lăng xăng nơi phố thị nhộn nhịp…đôi lúc con lơ đễnh và hững hờ với gia đình, bạn bè của con. Con biết điều đó rất có thể là một vết rạn trong mối quan hệ tốt đẹp giữa con và những người con đã, đang và sẽ thương! Con xin nguyện sống thật tỉnh thức trong giây phút hiện tại để nuôi dưỡng, chăm sóc vẹn toàn những mối quan hệ thêm sâu sắc và bén rễ bền lâu bằng tất cả nụ cười và bình an xuất phát từ trái tim con.

Trở về nhà, con Hiểu và Thương được nỗi khổ của anh con. Cuộc hôn nhân của anh trai không hạnh phúc đã khiến con nhiều khi muốn trốn biệt ở trường nhưng con không đành vắng mặt trong căn nhà vốn dĩ còn rất ít người như thế này. Ba mẹ không còn trên đời nữa để lo lắng, sắm sửa và chỉ bảo mọi điều trong ngày cưới của anh…  Con thấy nét mặt anh thoáng buồn khi nhìn di ảnh của ba mẹ. Và bây giờ, con tập lắng nghe những tiếng rầy rà, tập nhìn những cuộc chiến nảy lửa hờn để rồi hiểu nỗi khổ sở trong lòng anh chị, để rồi thương sự ràng buộc giữa họ là cháu bé sắp sinh ra đời. Dẫu chưa nói điều gì với anh nhưng con mong muốn về nhà với anh, có mặt cho anh, cho chị dâu và tươi cười với những kỷ niệm cũ khó phai của hai anh em. Con hứa ngoan và một thời điểm nào đó con sẽ chia sẻ với anh con những gì con hiểu, biết và thực tập được từ Bụt, từ Sư Ông thương kính để anh con bớt khổ, bớt đau!

Xin Bụt yểm trợ và chứng minh những lời nguyện tối nay của con.

Con,

Chuông Mây-Hồ Bé Linh

Gặp Phật tử Thụy Điển đặc biệt tại Sài Gòn

Chúng tôi có mặt tại nhà hàng chay Liên Hương trong một con hẻm của đường Nguyễn Thị Riêng, quận 1, TP HCM. Ngồi uống trà (hoặc thưởng thức các món chay) luôn là thú vui của Phật tử chúng ta. Nhất là khi Liên Hương lại là một quán chay thực dưỡng.

Thế rồi anh xuất hiện. Anh ôm khư khư trong người một thứ gì đó mà tôi nghĩ rằng phải rất là quý giá. Vật quý ấy được gói trong một chiếc khăn (mà sau này tôi mới phát hiện ra là chiếc áo phông có in dòng chữ “I love Vietnam”). Anh là Istvan L., một Phật tử Tây phương, mà chính xác là người Thụy Điển.

Được một người bạn giới thiệu, anh ngồi xuống sát tôi và mở “bảo bối” ra. Thì ra đó là bức tượng Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Tôi giật mình: giống thầy Nhất Hạnh vô cùng.

Bức tượng được làm bằng đất sét nung, nhỏ thôi chứ không lớn. Bức tượng rất có hồn và ai nhìn thấy cũng ngạc nhiên. Tôi càng ngạc nhiên hơn khi biết chính anh, Istvan, là tác giả của “công trình” quý giá này.

Anh chia sẻ rằng anh rất yêu kính vị thiền sư người Việt Thích Nhất Hạnh. Trong số vài chục cuốn sách do Thiền sư viết, anh mới đọc có 5 – 6 cuốn nhưng thấy hay và thực tế vô cùng. Anh bảo rằng, người Tây phương rất hợp với cách hướng dẫn tu tập của Thầy và anh đã bị cuốn hút từ lâu. Istvan thích cách viết đơn giản của Thầy, thích triết lý và cách nhìn, thích cách sống giản dị và gần gũi, thích sự thông thái và nhạy cảm của Thầy.

Hóa ra trước mặt tôi là một Phật tử Tây phương. Tôi đã từng gặp và cùng tu tập với nhiều Phật tử ngoại quốc, kể cả những người có chức vụ cao như anh Daisuke – Phó Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam, chị Siomarez – Phó Đại sứ Panama tại Việt Nam, anh Hank làm ở tổ chức USAid của Hoa Kỳ, chị Triz, anh Thom,…. Nhưng lần đầu tiên tôi gặp một Phật tử Bắc Âu, nhất là khi chính Phật tử này làm tượng của một vị sư người Việt Nam chúng ta. Trong lòng tôi dâng lên một niềm vui khó tả. Nhìn quanh các bạn có mặt trong nhà hàng tôi thấy ai cũng vui. Một người thầy người Việt của chúng ta được tôn kính, tại sao lại không vui. Hơn thế nữa, tôi thấy mình rất đỗi tự hào. Tự hào biết bao!

Tôi ngạc nhiên hơn khi biết ra là anh bạn Phật tử Thụy Điển này không phải là thợ chuyên nghiệp. Istvan là đầu bếp và là một giáo viên dạy tiếng Anh. Anh sáng tác tác phẩm này chỉ bởi lòng kính trọng đối với một nhà sư tài năng và đức độ. Anh làm tượng như một thú vui.

Tôi và những người bạn lặng người ngồi nghe anh kể về các công đoạn làm tượng từ đất sét. Thế là tôi biết thêm về một nghề nữa. Istvan miêu tả rất sống động, đến mức tôi như cảm thấy anh đang sáng tạo ngay trước mặt tôi. Bức tượng này được anh làm trong 2 ngày và ra đời vào tháng 5 năm 2013 này. Nghề làm tượng bằng đất sét phổ biến ở Việt Nam và châu Á chứ đâu có ở xứ Bắc Âu của anh mà sao Istvan lại có thể làm được bức tượng giống thầy Thích Nhất Hạnh đến vậy!

Trong lúc nói chuyện tôi phải dừng mấy lần, nhắm mắt tại để tưởng tượng trong vài giây về công việc của người Phật tử đặc biệt này. Tôi chắc rằng anh hay thiền tập, và nhất định anh phải thiền, phải nhập tâm lắm khi tạo dựng bức tượng. Bởi bức tượng Thiền sư Nhất Hạnh rất có hồn, rất thật. Thật đến mức, tôi cứ có cảm giác Thầy đang ngồi cạnh chúng tôi, ngay tại đây, trong quán chay Liên Hương giữa lòng thành phố Sài Gòn.

Istvan kể rằng anh đã đến Việt Nam 5 lần rồi. Có lần anh đã ở đến tận 2 tháng. Tôi thầm cám ơn và khi gõ những dòng này vẫn đang gửi lòng biết ơn đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Có lẽ nhờ Thầy mà anh bạn Phật tử Thụy Điển mới biết đến Việt Nam và dành thời gian đến với đất nước của chúng ta nhiều đến vậy. Tôi cũng thầm cảm ơn những người đồng hương đất Việt tuyệt vời, nhất là những Phật tử đã “tiếp khách” Istvan thật tốt và chu đáo để anh quay lại nước Việt Nam chúng ta nhiều lần đến thế. Quý hóa quá!

Tôi còn ngạc nhiên hơn khi biết rằng mấy năm trước anh đã trải qua một sự cố lớn: trong lúc chặt củi giúp bố mẹ vợ để cho vào lò sưởi, anh đã vô tình chặt đứt ngón tay cái. Anh cứ giữ nguyên ngón tay như vậy và lao vào viện. Ca phẫu thuật kéo dài từ 11 giờ đêm đến 5 giờ sáng hôm sau mới kết thúc. Chính anh cũng không tin khi các bác sỹ đã nối liền lại ngón tay cái cho anh. Istvan kể rằng cả tháng sau đó, 4 ngón còn lại cũng không cử động được do các bác sỹ đã nẹp tay, cầm máu khi mổ… Và đây là sự nhiệm mầu của Phật Pháp. Tôi chưa kịp hỏi nhưng đoán rằng chắc khi đó anh cũng niệm Phật dữ lắm đây.

Quan sát tôi thấy anh mặc chiếc áo có dòng chữ “Never give up”. Tôi hiểu rằng, là một Phật tử, học theo Đức Phật, anh luôn nhắc mình (và mọi người quanh anh) không thể gục ngã, không thể đầu hàng trước bất cứ khó khăn nào. Chẳng thế mà một đầu bếp lại có thể có thêm nghề thầy giáo và kiêm luôn cả nghề “nghệ nhân gốm” nữa!

Tôi vui lắm khi môt Phật tử từ Bắc Âu xa xôi lại yêu kính một vị Thiền sư Việt Nam đến vậy. Tôi mong sao, đạo Phật lan tỏa khắp nơi, đến khắp năm châu bốn biển, đúng như đã được nêu trong cuốn sách “Khi nào chim sắt bay” của ni sư Ayya Khema rằng khi nào chim sắt biết bay, khi nào ngựa chạy trên 4 bánh xe thì Phật Pháp lan tỏa sang phương Tây. Tôi mong rằng, trong bộ sưu tập những tác phẩm của anh bạn Istvan sẽ có thêm nhiều bậc thầy cao quý khác của nước Việt chúng ta.

Chúng tôi rời quán chay Liên Hương khi đã gần nửa đêm. Hôm sau nữa thì Phật tử Istvan bay về nước. Không biết bao giờ anh mới quay lại. Nhưng may thay, chúng tôi đã kịp chụp lại những bức ảnh với những khoảnh khắc quý giá này.

TS Nguyễn Mạnh Hùng – Công ty sách Thái Hà

Một vài kỷ niệm với ca sĩ Hà Thanh

Vài kỷ niệm với Tâm Ca Lăng Tần Già – Chân Hỷ Lạc – Hà Thanh

Sư Cô Chân Không

 

Tiểu sử của ca sĩ Hà Thanh(1):

Hà Thanh khi trẻCa sĩ Hà Thanh tên thật là Trần Thị Lục Hà, sinh ở Liễu Cốc Hạ, huyện Hương Trà, Thừa Thiên Huế. Cô là con thứ tư trong một gia đình gia giáo có mười anh chị em mà không một người nào đi theo con đường văn nghệ, ngoài một người anh tỏ ra khuyến khích cô khi nhận thấy em mình có biệt tài ca hát. Là một người theo đạo Phật, ngày nhỏ Lục Hà theo học Trường Nữ Trung học Đồng Khánh và đã hát trong chương trình Tiếng Nói Học Sinh Quốc Học – Đồng Khánh trên Đài phát thanh Huế.

Năm 1955, trong cuộc tuyển lựa ca sĩ do Đài phát thanh Huế tổ chức, Lục Hà khi đó mới 16 tuổi tham dự. Lục Hà đạt giải nhất với sáu nhạc phẩm rất khó, trong đó có bài Dòng sông xanh, và tên bài hát đó đã trở thành nghệ danh của cô: Hà Thanh. Hà Thanh tiếp tục học và có đi hát cho Đài phát thanh Huế.

Năm 1963, trong chuyến vào thăm Sài Gòn, Hà Thanh đã được các trung tâm đĩa nhạc Continental, Tân Thanh, Sóng Nhạc, Asia, Việt Nam mời thu thanh nhiều nhạc phẩm. Năm 1965, Hà Thanh chính thức gia nhập sinh hoạt ca nhạc ở Sài Gòn. Cô trở thành một trong những giọng ca hàng đầu của Sài Gòn khi đó. Vào giữa thập niên 1960, tiếng hát Hà Thanh thường xuyên hiện diện trên các Đài phát thanh Sài Gòn, Quân Đội, Tự Do, trong các chương trình Đại nhạc hội… Cô rất nổi tiếng với những nhạc phẩm của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như Hàng hàng lớp lớp, Chiều mưa biên giới…

Năm 1965, ca sĩ Hà Thanh đã đến hát cho sinh viên trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội của trường Đại học Vạn Hạnh nghe(2).

Trong giới văn nghệ Sài Gòn trước 1975, có nhiều người yêu thích Hà Thanh. Nhà thơ Bùi Giáng từng làm nhiều thơ và viết sách ca ngợi nhan sắc của cô. Nhà văn Mai Thảo là một người rất si mê Hà Thanh, ông đã từng từ Sài Gòn ra Huế để xin cưới Hà Thanh, Tiến Sĩ Lê Văn Hảo cũng là người rất hâm mộ Hà Thanh. Năm 1970, Hà Thanh kết hôn với Trung tá Bùi Thế Dung của Binh chủng Thiết Giáp. Năm 1972, hai người có một con gái là Kim Huyền.

Sau năm 1975, Bùi Thế Dung phải đi cải tạo. Năm 1984 Hà Thanh cùng con gái được gia đình bảo lãnh sang định cư tại miền Đông Hoa Kỳ.

(1)Theo Wikipedia
(2) Lời sư cô Chân Không

(*) Hình đầu tiên: Hà Thanh lúc 16 tuổi

Cất tiếng hát đem niềm vui cho người

Tại hải ngoại, năm 1988 Hà Thanh đã ghi tên theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh đi hành hương 3 tuần lễ ở Ấn Độ. Khi đoàn lên núi Linh Thứu, Hà Thanh xin được quy y lại với Thiền sư và được cho pháp danh mới là Tâm Ca Lăng Tần Già, mặc dù cô đã được quy y Phật hồi bé ở Huế.

Kinh A Di Đà kể rằng ở cõi Tịnh Độ mỗi lần chim Ca Lăng Tần Già hót lên thì người nghe khởi chánh niệm, tiếp xúc ngay với Bụt, Pháp và Tăng của tự thân, và ý thức rằng mình đang ở cõi Tịnh Độ. Ca Lăng Tần Già Hà Thanh cũng vậy. Cô đã làm đúng như lời Thầy mong ước. Cô chỉ trình diễn trong những đại hội Phật Giáo, những đại nhạc hội lạc quyên giúp thuyền nhân ở các trại tị nạn, giúp cứu trợ nạn nhân lũ lụt ở quê nhà, hay góp phần xây ngôi thiền đường này, hoặc ngôi bảo tự kia…

Tiếng hát của cô bây giờ là hát vì mọi người, đem niềm vui cho người, giúp người bớt khổ. Cô không còn hát cho riêng mình. Điều quan trọng là cô chỉ hát những bài nhạc đạo giúp người ta tu tập, đúng như điều thầy của cô – Thiền Sư Nhất Hạnh – khi đặt tên cho cô đã mong ước: Mỗi lần cô cất tiếng hát là thính giả lại được tiếp xúc với Bụt, Pháp, Tăng của tự thân và phát khởi chánh niệm.

Hà Thanh với Thầy và bạnNăm 1990, Hà Thanh có đến thiền đường Hoa Quỳnh của Làng Mai tại Paris, tập hát với nhạc sĩ Chí Tâm và sư cô Chân Không một số bài nhạc Phật giáo mà Thầy Làng Mai mới sáng tác. Hôm sau, tại nhà hát lớn Palais de la Mutualité,  trước 2200 người Việt, cô đã trình diễn bài Ý thức em mặt trời tỏ rạng của Thiền Sư Nhất Hạnh và bài Hải Triều Âm của nhạc sĩ Bửu Bác sáng tác. Giọng hát của Hà Thanh rất trong, rất thanh và khi cất lên cao vút thì lại thật ấm và ngọt ngào, tỏa lan… ngân xa như những tiếng chuông hay nhất xứ Huế.

Suốt trong những năm 1990 đến 2000 khi Việt Nam còn cấm đoán nhạc vàng, Phật tử hay chuyền nhau những băng cassette pháp thoại của Thầy và rất ngạc nhiên thích thú được nghe Hà Thanh hát những bài như Quay về nương tựa, Tiếng chuông chùa cổ, Ba sự quay về, Đây là Tịnh Độ, Ý thức em mặt trời tỏ rạng, Cẩn trọng, Trầm hương đốt, trước và sau các bài giảng.

Năm 1997 Tâm Ca Lăng Tần Già Trần Thị Lục Hà – Hà Thanh tiếp thọ 14 giới Tiếp Hiện với pháp hiệu là Chân Hỷ Ca

Trong một buổi pháp thoại cho đồng bào ở Hoa Kỳ,Thiền Sư Nhất Hạnh có đọc cho thính chúng nghe bài thơ do Thầy sáng tác: “Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai”. Khi nghe lần đầu câu: “Thầy đi tìm con, từ lúc non sông còn tăm tối…”, cô đã khóc và đã quyết tâm phổ nhạc bài này với những nốt nhạc rất dân tộc, rất Việt Nam và đã nhiều lần đến hát cho tăng thân Làng Mai nghe… Hôm ấy cô đã hát cho tăng thân nghe bài Bên Mé Rừng đã nở rộ hoa mai, do chính cô phổ nhạc thật tuyệt vời, nhiều thiền sinh có mặt ở khóa tu đã khóc vì cảm động và hạnh phúc.

Năm 2011, Hà Thanh báo tin cô bị bệnh dư hồng huyết cầu, nhờ trị bệnh này đã bảy tám năm nên bác sĩ đã giúp cô làm chủ được tình hình sức khoẻ. Như mọi khi, cô rất vui mừng mỗi khi nghe thầy ghé qua Miền Đông Hoa Kỳ và vẫn tiếp tục sẳn sàng ngồi xe đi hơn 5 giờ đến thăm thầy ở Tu Viện Bích Nham của Làng Mai ở tiểu bang New York  Hoa Kỳ. Cô đã mang tặng thầy cái CD chót mà Hà Thanh mới đặt nhạc mới bài Sám Hối (thi kệ của Thầy Nhất Hạnh) mà cô mới viết nhạc lại (không phải nhạc của Anh Việt) trong đó Hà Thanh lại thêm đoạn Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn, rất “ăn khách”  nhất là khi Hà Thanh cất giọng lên như những tiếng chuông khánh thanh tao nhất của nhà chùa!

Mới cách đây hơn hai tháng, ngày 14 và 15.9.2013, Hà Thanh có đến tận khách sạn Boston Park Plaza Hotel, nơi Thiền sư Nhất Hạnh đang hướng dẫn một khóa tu hai ngày cho 1120 bác sĩ y khoa và tâm lý trị liệu do Đại học Harvard tổ chức để thăm Thầy và một lần nữa hát cho Thầy nghe bài Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai. Các sư em tôi không ngờ đó là lần chót Hà Thanh hát cho Thầy và tăng thân nghe. Nhưng tôi thì vẫn đang còn nghe vẳng vẳng ngay lúc này đây, cái giọng ngọt ngào ấy, trong như những giọt sương mai long lanh, đầm ấm mà từ bi như tiếng chuông ngân xa, ngân xa… thật xa biến cõi buồn phiền thành Tịnh Độ.

“Lá la là la lá…lá la là la lá…Lá la là la lá…. lá la là la lá.. la la.. là la .. Qua ngõ vắng, lá rụng đầy, tôi theo con đường nhỏ, đất hồng như môi son bé thơ… Bỗng nhiên tôi cẩn trọng, từng bước chân đi…”

Tiếng hát ấy của Hà Thanh như những giọt lưu ly đang tung tăng reo vui reo vui trong cõi tịnh độ bây giờ và ở đây với chúng ta ngay giây phút này…

Qua ngõ vắng
Lá rụng đầy
Tôi theo con đường nhỏ
Đất hồng như môi son bé thơ
Bỗng nhiên
Tôi cẩn trọng
Từng bước chân đi…

Thức dậy hôm nay em thấy trời xanh
Chắp tay em cám ơn đời mầu nhiệm
Cho em hai mươi bốn giờ tinh khôi
Cho em bầu trời bao la
Mặt trời lên cao
Rừng cây ý thức
Mặt trời lên cao
Rừng cây vươn nắng chan hòa.
Em đi ngang qua đồng hoa hướng dương
Hàng vạn bông hoa ngoảnh nhìn về phương Đông chói sáng…>>

Từng bước chân thảnh thơi
Mặt trời như trái tim đỏ tươi
Từng đoá hoa mỉm cười
Ruộng đồng xanh ngát như biển khơi
Cùng gió ca lời chim
Từng bước chân thảnh thơi
Đường dài em bước như dạo chơi…>>

 

Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai

HÀ THANH phổ nhạc và trình bày

Thầy đi tìm con
Từ lúc non sông còn tăm tối
Thầy đi tìm con
Khi mọi loài còn chờ đợi ánh dương lên

Thầy đi tìm con
Khi con còn đắm chìm trong một giấc ngủ triền miên
Dù tiếng tù và đã vọng lên từng hồi giục giã
Không rời non xưa
Thầy đưa mắt về phương trời lạ và nhận ra được trên vạn nẻo đường từng dấu chân của con

Con đi đâu
Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn
Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ
Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở
Tin rằng dù con đang còn lạc loài đi về bên nớ
Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni…>>

Chuông ngân từng tiếng ối à ngân nga
Thở vào tâm tĩnh lặng a à í a
Thở ra ôí à mĩm cười, thở ra ối a mĩm cười
Tình tình tình thảnh thơi, tình tình tình thảnh thơi…

Cánh đồng, nắng và dòng sông….

Chơ vơ mà không chơ vơ

Cánh đồng

Tôi sẽ bắt đầu từ những cánh đồng, có lẽ vì ở đây hầu như ngày nào tôi cũng đi ngang qua những cánh đồng. Mùa này, những cánh đồng đã được thu hoạch xong, mới vừa được cày xới lên, đất nâu hồng, có những thửa đất rất mịn, có những thửa đất là những mảng to. Mùa này, đất nghỉ, đất nằm yên để nuôi đất. Nhưng những lần đi qua, không khi nào tôi không thấy đất vẫn đang cuồn cuộn, âm ỉ một mạch sống vô biên, bất tuyệt. Những mùa khác, người ta đã trồng lên đất nhiều thứ, nào cỏ, nào hướng dương, nào lúa mì, lúa mạch hoặc cải vàng…

Nhưng bây giờ, đất ‘một mình’, phơi mình đón mưa, sương, tuyết. Đối mặt với trời, đất thở. Rất yên và sâu. Ở đây có các dốc đồi nhấp nhô và những con đường uốn lượn, cảnh vật dường như vì thế mà mềm mại, nhẹ nhàng và mở rộng ra thêm, nên những ngày dù buồn hay vui bước ra đều không bao giờ thấy cũ, thấy chán. Con đường từ xóm Hạ lên xóm Thượng hay qua xóm Mới là con đường đi giữa những cánh đồng – những cánh đồng nho, lúa mì, hoa hướng dương hay chỉ là những cánh đồng cỏ, xanh mượt và mềm mại.

Có lần sư cô Thần Nghiêm đã kêu tôi viết “tả” một đoạn ngã tư giữa đường từ xóm Hạ lên xóm Mới, mà đến bây giờ tôi vẫn chưa viết xong. Bốn góc của ngã tư đều là những cánh đồng. Từ xóm Hạ đi lên, bên trái là một quả đồi nhỏ, trên đỉnh đồi là một cái cây. Duy nhất một cái cây. Quả đồi đó, có mùa hoa hướng dương trải vàng rực rỡ, có mùa thì lúa chín xôn xao, lại có mùa cỏ non xanh mượt, có mùa chỉ mộc mạc đất nâu sồng. Còn cái cây, tôi không biết nó đã có ở đó từ lúc nào rồi, có lẽ có ai đó đã cố tình trồng nó ở đó hay nó đã tự mọc lên từ một hạt mầm nào đó. Đó không phải là một cây cổ thụ nhưng cũng không nhỏ để không bị gãy đổ sau bao mùa mưa gió, giông bão hay tuyết băng. Nó ở đó, như để…chơi cho vui, không cần ý nghĩa, mặc cho thiên hạ đi qua có bình luận hay bàn tán là nó đẹp hay cô độc. Tôi thì thích cái “can trường” của nó. Một cái cây chơ vơ mà không chơ vơ vì nó hòa hợp không cùng với quả đồi và khung cảnh xung quanh, như một bức tranh tĩnh lặng và sinh động.

Còn phía bên phải ngã tư cũng là những cánh đồng cây cỏ theo mùa, giữa cánh đồng là một ngôi tháp canh cũ kỹ, “rất Pháp” có những ô cửa ngộ nghĩnh trổ ra như một khuôn mặt cười. Trên là trời cao mênh mông, dưới là những cánh đồng trải dài, tóm lại, có lẽ, chỉ là… đẹp và bao la! Không biết có đủ cho sư cô Thần Nghiêm nhớ làng chưa ? :))

Cách đây mấy năm, ngày biết tin Nội tôi mất, tôi đi qua mấy ruộng nho gần xóm Hạ để… khóc. Nội tôi mất đột ngột do tai nạn giao thông mà gia đình không cho tôi hay vì sợ tôi về lại trễ nải việc học. Trong ký ức, những kỷ niệm về Nội gắn liền với những cánh đồng quê. Cánh đồng quê buổi chiều tà chạy chân đất trên những bờ đê, đi hái đậu bắp về luộc ăn với nội những bữa cơm quê đạm bạc, hay lội bì bõm, vọc chơi trong bùn với các cô chú những ngày cày cấy… Tôi không ở quê với Nội nhiều nhưng tình thương của Nội và sự đầm ấm bên những cánh đồng ấu thơ đã nuôi tôi lớn lên, thấy mình may mắn vì có một tuổi thơ ‘quê mùa’ nhưng hồn nhiên và trong trẻo tuyệt vời. Vì vậy mà ngày đó nghe Nội mất, tôi thấy như cánh diều tuổi thơ đã đứt dây bay theo Nội mất hút rồi.

Và rồi tôi đã đến trên những cánh đồng này. Một gia đình mới, một quê hương mới, tôi về lại với cánh đồng của mình. Tôi khám phá, quan sát, học cách gieo trồng, chăm bón,… cho cánh đồng đó. Mỗi mùa mỗi vẻ, cũng xuân đầy, hạ ấm, thu rơi, đông giá. Mỗi ngày tôi gieo và gặt, chấp nhận những gì đang có trên cánh đồng đó cho dù thấy đất có cằn cỗi, hạt giống xấu tốt, cỏ dại chen lấn nhau cũng nhiều.

Xung quanh tôi, mỗi người là một cánh đồng nằm giữa những cánh đồng, tạo thành một “cánh đồng Tăng thân” rộng lớn và phong phú. Những cánh đồng đó đan thành một tấm áo khoác, về địa lý thì chỉ là một mảnh đất nhỏ nhoi trong một góc trời, nhưng tâm linh thì trải rộng thênh thang. Mảnh đất lành này, một phần vừa đang ấp ủ, nuôi dưỡng trong đó tình thương và những hạt giống tốt; phần khác đã có thể đem hoa thơm trái ngọt hiến tặng cho đời, để cho người người về khám phá và tìm lại hạt lành trên chính mảnh đất của mình. Những cánh đồng đó, khi thì hết lòng truyền chất nuôi hạt, nuôi cây, nuôi quả, nhộn nhịp những ngày mùa vui; khi lại lặng yên nằm thở, phơi mình đón mưa gió, tuyết sương. Tôi nhớ Sư Ông có lần đã nói rằng, mình may mắn lắm vì người ta ‘tự động’ mang đất đến cho mình gieo hạt, trồng trọt… Người ta gặt thì đồng thời mình cũng gặt. Bây giờ hạt lành đã chín, như những bông hoa bồ công anh theo gió bay đi muôn phương.

Dòng sông

Dòng sông nắng cho bờ bến rộng…

Tăng thân là cánh đồng mà tăng thân cũng là một dòng sông. Một dòng sông tha thiết và trù phú. Một dòng sông để thả mình vào đó và xuôi theo. Đôi khi tôi thấy những khó khăn và bấp bênh trong tâm thức mình hoặc trong tăng thân giống như những thác ghềnh, những chướng ngại nằm chắn giữa dòng sông. Nhưng chính nhờ đó mà tôi thấy được là dòng sông đang hiện hữu. Dòng sông đang trôi đi, vượt qua. Dòng sông phải luôn vượt qua chính mình để là một dòng sông, nếu không thì đó chỉ là một thứ nước vũng đọng, ao tù. Tôi vẫn thương nhớ sự ngọt ngào, dịu êm của dòng sông quê Nội, nơi tôi đã được thả ghe đi bắt cua trong những hốc cây ven sông, hoặc nhảy ùm xuống mặc lòng tắm gội trong những ngày mưa, ngày nắng. Con sông tuổi thơ còn đó nhưng đã trôi qua lâu rồi. Bây giờ tôi về tắm gội trong dòng sông tăng thân. Lặng yên, hiền hòa trong những ngày bình an, hay cồn cào, nổi sóng khi lòng bất chợt thức dậy những cơn đau. Nhưng tôi thấy rằng tôi ‘trong’ thì sông cũng ‘trong’ mà tôi ‘đục’ hay ‘nổi sóng’ thì sông vẫn bình tĩnh mà ôm ấp, giúp cho tôi lắng lại.

Nắng

… một hôm nhìn nắng hắt lên những chiếc đầu tròn

một hôm bỗng nghe nắng hót vang lên lời chim

tầng không muôn ngàn tiếng gọi

mới hay mình ngủ quên quá sâu!

Những ngày mùa đông này, nắng là một món quà, nắng là một thứ xa xỉ mà đất trời đem tới cho mọi người, mọi loài. Những ngày có nắng, tôi thấy mình như khỏe khoắn, tươi vui hơn. Những ngày có nắng, cảnh vật được nhuộm vàng và như bừng lên một sức sống mới, từ những hàng cây trụi lá, những con đường lặng yên hay mặt hồ phẳng lặng… Mặt trời đang xuyên qua bầu không khí lạnh giá và ẩm thấp để truyền vào cảnh vật và con người một nguồn năng lượng tự nhiên và mạnh mẽ của Người. Những lúc đó, tôi thấy Mặt Trời thật gần, Mặt trời thật sự là Cha, là một ông già ấm áp, độ lượng, đang bao bọc và nuôi dưỡng hết cả đám cháu con nghìn nghìn lớp lớp.

Tôi nhớ một ngày ở Đức, tôi đi bộ từ sớm ra vạt đất rộng có cây dẻ gai to và nằm chơi ở đó. Trời tháng Năm chưa tới hè, vừa tươi mát, vừa ấm áp. Và khi những vạt nắng đầu tiên soi chiếu vào người, tỏa khắp không gian thênh thang đó thì tôi bỗng nghe một cảm giác mà lần đầu tiên tôi cảm nhận được. Đó là tôi thực sự là một đứa con của đất trời, tôi hoàn toàn hòa điệu, thơ dại đang nằm đong đưa trong cái vòng nôi đó. Thiên nhiên thật gần, bầu trời và mặt đất thật gần. Tôi như chạm được vào cái chiều sâu tâm linh của thiên nhiên. Hồi trước đến giờ, tôi vẫn luôn yêu thiên nhiên, nhưng thường khi, tôi chỉ thấy thiên nhiên…. đẹp, rộng rãi và bao la! Tôi chỉ thấy được một phần nào đó những chiều không gian của thiên nhiên, như chiều sâu của núi cao, vực thẳm; chiều rộng dài của đất trời thênh thang… Nhưng từ từ lúc nào đó không hay, tôi dường như chạm một chiều khác nữa của thiên nhiên, một chiều bất ngờ vỡ hoang từ tâm thức. Tôi học cách đến gần thiên nhiên hơn qua tâm thức.

Những con đường hoa dại còn đó

trắng một vạt trời

những bước chân trở mình khắc ghi dấu vết thiên thu

khi nắng mai bất chợt chảy tràn vào thực tại…

Nắng mai trong lành, rực rỡ là một tiếng gọi, đưa tôi về hiện tại độc nhất mà bất tận. Những con đường hoa trắng hồn nhiên, trong sáng của ngày hôm qua vẫn còn đây. Rất rõ ràng, sống động. Và âm vang của những bước chân bước cẩn trọng không thành tiếng cũng từ tương lai quay về. Hiện tại tròn đầy, khi mắt và lòng nhận thấy được một vùng nắng rực rỡ và tươi mới đang chảy vào ngày. Nắng, những bước chân và sự dừng lại đã gõ cửa cho tâm thức neo vào hiện tại. Đôi khi nhìn nắng, nhìn mọi người đang bước đi bình an, tĩnh lặng và nhìn lại cuộc sống xung quanh mình, tôi thấy “mình đang sống trong một khoảng thời gian đẹp nhất của đời mình“. Thế nhưng, đôi khi, tôi cũng là kẻ cứ nhớ thương hoài về những cái gì đẹp đẽ đã qua. Đó có lẽ vì tôi đã không sống bằng trọn vẹn trái tim mình, không thấy hiện tại đã đủ đẹp, quý giá và tôi cần nối dài những ngày tháng đẹp đẽ này bằng cách “sống đẹp” những ngày hiện tại.

Suối, rừng cây, núi đồi, trăng sao….

Nếu tôi nương nhờ sông để thả vào đó mọi thứ, để chuyển hóa và luân chuyển thì tôi cũng yêu núi vì yêu cái bất động, hùng vĩ và tự tại. Tôi yêu núi còn vì… và vì…., nhưng đơn giản nhất có lẽ là trong tôi có núi và trong núi cũng có tôi. Tôi nghĩ có lẽ trong một người tu nào cũng có ít nhiều ‘chất núi’ trong con người mình như thế.

Tôi rất thích những ngày được ‘về chơi với núi’ trong những chuyến đi chơi hàng năm của quý sư cô Xóm Hạ. Tôi đi chơi núi như đứa con về nhà. Núi đón tôi bằng một vòng tay vô tận, bao la. Đương nhiên, núi cũng là Đất, là Mẹ. Và có bước chân nào của tôi mà không trở về với đất, với Mẹ?

Bình thường tôi cũng khá lười vận động nhưng lên núi rồi thì tôi thích leo núi lắm. Đó là một cơ hội để tôi rèn luyện lại sức khỏe, hít thở khí núi trong lành và … để vượt qua chính mình nữa. Nhớ những ngày leo núi, nhiều khi tôi đi hơi nhanh nên không còn ai xung quanh và cũng khá mệt. Lúc đó tôi hoàn toàn giao phó mình cho những bước chân, hơi thở và mặt đất. Tôi thấy rất rõ mặt đất đang nâng từng bước chân của mình. Và hòa quyện với cái khung cảnh núi non bát ngát, tôi thấy lòng mình mở rộng ra, nhẹ tênh và bình an.

Tôi cũng nhớ một ngày tôi ngồi chơi bên suối, xung quanh là núi đồi vây phủ. Ngồi ngắm những bông hoa đang nở chơi bời, hoang dại, rồi nghe tiếng suối róc rách, ầm ào và tiếng chim hót véo von trên đầu non, tự nhiên tôi cũng nổi hứng ca hát, hát mải mê từ bài này qua bài khác.

Tôi nghe như suối hát rằng:

Sông vẫn chảy đời sông

Suối vẫn trôi đời suối

Đời người cũng chỉ để sống

và hãy thả trôi hết những muộn phiền…

Cho nên tôi cũng muốn đáp lời mà hát hết lòng bằng những niềm bình yên và nhẹ nhàng đang có trong trái tim mình lúc đó. Và rằng, ở đây, bên những cánh đồng, dòng sông, nắng,… tôi còn có những con đường, dốc đồi, bầu trời, rừng cây, trăng sao… Cuộc sống vật chất ở đây đơn sơ, giản dị với những nếp nhà cũ kỹ hay những con đường quanh xóm đầy bùn đất nhưng chỉ cần “cúi xuống, cúi xuống thật gần…” với đất, với trời, với cảnh vật xung quanh thì tôi sẽ về được rất gần với đất Mẹ thiên nhiên. Mở một con đường ra với Thiên Nhiên bên ngoài thì cùng lúc tôi cũng mở được một con đường về với Thiên Nhiên, với những không gian trong lòng mình. Tôi thấy thương quý cuộc đời và biết ơn đất Mẹ, thiên nhiên vô cùng. 

Xin tạ ơn bao la,
tạ ơn đời sống vẫn thiết tha
ta tái sinh ta qua từng hơi thở mới
từng hơi thở bình an, ta đi-về không chờ đợi
từng hơi thở an lành, ta buông thả niềm đau…
Và thả lòng theo mây trắng qua mau
mỗi bước chân xin quay về đất Mẹ
mỗi bước chân xin dốc lòng nương tựa
vì bao dung của đất vẫn tràn đầy
Mai ta về, mây nắng ủ trong tay
đi suốt con đường, bao la mở lối
lắng lòng nghe bao tiếng đời vẫn gọi
và nghiêng xuống muôn trùng, ta cười với mênh mông….

 

Văn – năm 2014

Cánh đồng, nắng và dòng sông….
Một vài kỷ niệm với ca sĩ Hà Thanh
Gặp Phật tử Thụy Điển đặc biệt tại Sài Gòn
Lạy Bụt!
Có một lối mòn
Nắng trên đồi thượng
Một gia đình với hai tấm lòng Phật – Chúa
Ta có là ta, ta mới đẹp
Một nén tâm hương
Có khi nào
Thơm thảo gánh nước giếng quê
Bụt ơi!
Wake Up Asia: những giọt nước mắt hạnh phúc
Câu chuyện của Chanh
Bông hoa đẹp giữa đời
Con số đẹp
Hãy nhớ đến họ: Những nhà Quán quân vì Nhân loại
Trong bức thư pháp hiện rõ bóng Thầy

 

Xứng đáng chỉ có tình xót thương

10:30 sáng ngày 17/11, Paris chính thức thức trả lời bạo lực làm 130 người chết, hàng trăm người bị thương bằng ngôn ngữ của tình yêu và chỉ bằng tình yêu mà thôi.

Vâng, chỉ có tình thương mới xóa tan được hận thù. Jacque Brel, nghệ sĩ người Bỉ đã diễn tả ý của Đức Phật bằng một ngôn ngữ hiện đại vào cuối thập niên 50 qua bài hát Quand on n’a que l’amour. 59 năm sau nó đã được chọn làm ngôn ngữ đối thoại với cuồng tín và bạo lực cho buổi lễ tưởng niệm các nạn nhân bị thiệt mạng ngày thứ Sáu 13.11.2015.

Bài hát được trình bày bằng giọng của 3 nữ nghệ sĩ, nó đã làm cho Tổng thống Pháp phải nuốt nước mắt trước hàng ngàn cử tọa. Và tôi cũng đã khóc thực sự khi nghe tới câu: “Quand on n’a que l’amour pour parler aux canons” (tạm dịch: khi chúng ta chỉ có tình thương để đáp lại hận thù), nó cũng đã làm tôi nhớ tới bài thơ Dặn dò của Thầy viết vào đầu thập niên 60, và Sư cô Chân Không đã trích thuật lại trong tập thơ Thử Tìm Dấu Chân Trên Cát như sau:

Xin hứa với tôi hôm nay
Trên đầu chúng ta có mặt trời
Và buổi trưa đứng bóng
Rằng không bao giờ em thù hận con người
Dù con người
Có đổ chụp trên đầu em
Cả ngọn núi hận thù
Tàn bạo,
Dù con người
Giết em,
Dù con người
Dẫm lên mạng sống em
Như là dẫm lên giun dế,
Dù con người móc mật moi gan em
Đầy ải em vào hang sâu tủi nhục,
Em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặn :
Kẻ thù chúng ta không phải con người.
Xứng đáng chỉ có tình xót thương
Vì tôi xin em đừng đòi điều kiện
Bởi không bao giờ
Oán hờn lên tiếng
Đối đáp được
Sự tàn bạo con người.
Có thể ngày mai
Trước khuôn mặt bạo tàn
Một mình em đối diện.
Hãy rót cái nhìn dịu hiền
Từ đôi mắt
Hãy can đảm
Dù không ai hay biết
Và nụ cười em
Hãy để nở
Trong cô đơn
Trong đau thương thống thiết
Những người yêu em
Dù lênh đênh
Qua ngàn trùng sinh diệt
Vẫn sẽ nhìn thấy em.
Tôi sẽ đi một mình
Đầu tôi cúi xuống
Tình yêu thương
Bỗng trở nên bất diệt
Đường xa
Và gập ghềnh muôn dặm
Nhưng hai vầng nhật nguyệt
Sẽ vẫn còn
Để soi bước cho tôi.

 

Bài này quả thật là những lời dặn dò Thầy để lại cho thế hệ trẻ đang phụng sự bằng con đường bất bạo động. Chị Nhất Chi Mai trước khi tự thiêu cho hòa bình đã đọc bài này vào trong một cuộn băng nhựa để lại cho ba má chị cùng những bức thư tuyệt mạng của chị. Có thể nói bài này nói lên được lập trường tuyệt đối bất bạo động của tác giả. Nó cho ta thấy rằng bất bạo động là phương châm hoạt động duy nhất cho những người đã nhất quyết học theo đại bi tâm của các bậc Bồ Tát. Để hiểu rõ thêm tâm tư của tác giả về vấn đề này, tôi xin đề nghị các bạn đọc đoạn sau này mà Thầy viết trong Nẻo về của ý:

“Dưới con mắt của đại bi, không có tả, không có hữu, không có thù, không có bạn, không có thân, không có sơ. Mà đại bi không phải là vật vô tri. Đại bi là tinh lực mầu nhiệm và sáng chói. Vì dưới con mắt của đại bi không có cá thể riêng biệt của nhân, của ngã cho nên không một hiện tượng nhân ngã nào động tới được đại bi.

Em ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay mổ ruột em thì em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng con mắt tràn ngập xót thương: hoàn cảnh, tập quán và sự vô minh đã khiến con người hành động dại dột như thế.

Hãy nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên cho em những khổ đau oan ức, khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi, hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương: hãy rót tất cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng để một gợn oán trách, giận hờn xuất hiện trên tâm hồn. Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.

Giả sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối, tôi vẫn không quay lại thù ghét con người. Nghĩ như thế chắc chắn em sẽ mỉm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá đổ hoặc cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lung lay niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương tựa nổi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thứ tình yêu chỉ có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất cả và tất cả trong em.

Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để cho tên vua cường bạo xẻo tai, cắt thịt mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải là con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi, tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ có lòng xót thương. Giữa chúng ta và đạo sĩ kia, và vị bồ tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có phải tình yêu đã dạy em rằng em có thể làm được như Người?”

xxx

Không thù hận, xứng đáng chỉ có tình xót thương.

Chùa Lá – trụ sở đầu tiên của trường TNPSXH

Không bao lâu, sau khi bài Dặn Dò chào đời, chỉ vì cuồng tín (fanatique) và nhận thức sai lầm, một thiểu số tín đồ nhân danh tôn giáo đã ám sát nhiều học trò của Thầy ngay tại sân trường TNPSXH và các làng Tình Thương do trường chủ trương, trong khi Thầy đang trên đường vận động hòa bình cho Việt Nam. Đối diện trước bạo lực, tuy Thầy không có ở nhà, học trò của Thầy đã thể hiện một cách tuyệt vời lời Dặn Dò ấy một cách tuyệt vời bằng tình thương và chỉ bằng tình thương mà thôi. Tôi đề nghị chúng ta cùng đọc lại một đoạn trong hồi ký của Sư cô Chân Không thuật lại sự kiện cụ thể đó như sau:

Thầy Nhất Hạnh được trường Đại Học Cornell ở Ithaca, New York, Hoa Kỳ mời đi hội thảo và xin Thầy góp ý về chính sách của Hoa Kỳ tại Việt Nam. Thầy đi ngày 11 tháng 05 năm 1966 thì đêm 16 tháng 05 năm 1966 có ba người lạ mặt vào chính điện Chùa Lá, thảy ba trái lựu đạn và bắn một tràng tiểu liên. Em Lê Văn Vinh bị vỡ sọ, óc rớt ra ngoài. Nhờ đem vào bệnh viện cứu sống kịp thời, em không chết nhưng vẫn phải bị liệt hai chân. Một trái lựu đạn khác bị người lạ mặt chọi vào phòng mà trước đó thầy Nhất Hạnh vẫn nghỉ và ngủ nơi đó. Nhờ phòng có màn nên trái lựu đạn bị bật ngược ra ngoài làm em Nguyễn Tôn bị thương ở mông nhưng không sao. Nhìn em Vinh thoi thóp trong bệnh viện không biết sống chết ra sao, tôi không khóc nổi! Đau đớn như bị ai xé từng tế bào cơ thể tôi.

Tại sao con người lại có thể nhẫn tâm với nhau vậy? Nhất là các em tôi chỉ tình nguyện đi phụng sự đất nước bằng tình thương, trách nhiệm, và tự nguyện? Tôi thầm lạy Phật cho những người chủ tâm cầm lựu đạn ném vào người tay không vì thấy được thái độ không thù hận, không họp báo chửi mắng của chúng tôi mà tỉnh ngộ, không còn quấy nhiễu chúng tôi nữa.

Hai tháng trôi qua, rồi năm tháng, bảy tháng và gần một năm trôi qua, chúng tôi sống bình yên. Tai nạn của Lê Văn Vinh khiến rất đông đồng bào thương mến. Họ tới cho gạo, cho dầu, cho tương, chao, rau cải và đóng góp tài chánh, tuy ít ỏi nhưng khá nhiều người đóng góp nên chúng tôi trả tạm bớt nợ xây cất cũ và hoàn tất được 15 phòng còn lại ở cư xá sinh viên. Giảng đường, thư viện của các em, giếng nước đóng cung cấp nước cho toàn trường hơn 300 người cũng được thực hiện hoàn mãn.

Gần một năm sau, khi phòng ốc Trường TNPSXH đã xây cất xong, anh chị em sinh viên vừa làm kinh tế tự túc như trồng nấm rơm, trồng rau, dưa…, vừa vào thời khóa học tập rất hứng khởi, tuy sáng vẫn ăn cơm trắng với xì dầu, trưa vẫn chỉ ăn cơm với dưa cải kho và chiều cơm rau luộc cũng chấm xì dầu. Không khí học tập hào hứng, đầy tình đệ huynh. Chiều nào cũng có chương trình nhạc thơ phụng sự xã hội. Sáng từ sáu đến bảy giờ rưỡi là công tác kinh tế tự túc, trồng rau cải, ủ rơm và phân bò để lấy phân trồng đậu, trồng dưa để ăn và để bán. Các em biết ủ meo nấm rơm để nuôi nấm rơm rất nhiều hầu bán gây quỹ mua những thứ cần dùng khác. Từ tám giờ rưỡi đến mười một giờ rưỡi là học lý thuyết, chiều từ 14 giờ đến 16 giờ thì đem những bài học ra ứng dụng trong đời sống hằng ngày và tối là văn nghệ tu học trước khi tham thiền tối và đi ngủ.

Bác Nam Đình, chủ bút nhật báo Thần Chung đã được chị Mai mời tới thăm trường. Bác quá cảm động và đã viết một bài báo ca ngợi cho rằng: “Chỉ có Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội mới là một phong trào thật sự vì dân mà đứng lên, được hơn 3.000 gia đình Việt Nam đóng góp tài chính để nuôi dưỡng họ và đang đi về những thôn làng nghèo khổ mà giúp dân. Không cần phải có những khoản tài trợ khổng lồ của người nước ngoài”.

Bài của nhật báo Thần Chung được đăng chưa đầy một tuần thì ngày 24 tháng 4 năm 1967, vào lúc trời vừa tối, có những người lạ mặt đến thảy hơn mười trái lựu đạn vào cư xá nữ và phòng học sát Chùa Lá Pháp Vân khiến cho nữ tác viên Trần Thị Vui và giáo sư Trương Thị Phương Liên từ Quảng Ngãi vào thăm bị tử nạn, 16 nữ sinh viên bị thương và cô Bùi Thị Hương nát hết bàn chân, phải cưa mất chân trái gần đến gối. Các nữ sinh Diệu, Út, Mai, Minh Nguyện, Lành, Kỷ và Kê đều bị thương nặng nhưng may quá, trị thương một thời gian thì qua khỏi.

Thi hài của Trần Thị Vui và Trương Thị Phương Liên được quàn ở Trường nên chúng tôi quyết định làm tang lễ truy điệu năm ngày sau. Chúng tôi định mời thật đông quan khách để có dịp trình bày lập trường của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Thầy Thanh Văn bắt tôi viết dùm cho tăng thân bài diễn văn để đến ngày truy điệu, thầy thay tăng thân đọc trong tang lễ. Tôi đã viết dùm cho tăng thân như sau:

“Chúng tôi không xem các anh, những người ném lựu đạn để giết các bạn chúng tôi, là kẻ thù. Bởi vì chúng tôi thấy rõ rằng kẻ thù chúng tôi không phải là con người, không phải là các anh, những vị đã sát hại anh chị em chúng tôi. Kẻ thù chúng tôi là cái thấy sai lệch của các anh về chúng tôi và các anh đã quyết tâm giết những cái hình ảnh ghê tởm trong đầu các anh về chúng tôi. Thật ra chúng tôi không ghê gớm như vậy, chúng tôi chỉ có một ước vọng rất bé nhỏ là giúp các cháu ở nhà quê có trường học, các bệnh truyền nhiễm được chặn đứng nhờ các bác nông dân biết phép vệ sinh. Với những hiểu biết về canh nông, chăn nuôi, chúng tôi chỉ mong giúp gà vịt ít chết toi, canh nông y tế được phát triển để người dân quê nghèo khó được nhờ. Nếu biết rõ chúng tôi chỉ có chừng ấy tham vọng chắc các anh cũng thương mà giúp đỡ chứ nỡ nào ném lựu đạn vào những thanh niên thiếu nữ không có một chút vũ khí trong tay? Chúng tôi lạy Phật cho tất cả mọi người thấy rõ rằng dù phải mất mát nhiều quá trước cái chết và thương tích của các bạn thân thương, chúng tôi xin tuyên bố không hờn trách các anh mà chỉ mong các anh hiểu được chúng tôi và giúp chúng tôi hoàn thành ước mơ khiêm tốn này”.

Bài diễn văn khiến quý thầy trong Hội Đồng Lưỡng Viện Hóa Đạo và Tăng Thống quá cảm động và hết lòng giúp đỡ. Hòa Thượng Thiện Hòa thương và khen: “Các con có thiệt tu, thầy quý lắm. Các con cần gì cứ đến nhờ thầy”.

Sau đó hai tháng, vào ngày 14 tháng 6 cũng năm 1967, tám người TNPSXH bị bắt đi mất tích ở Bình Quới Đông. Chiều hôm đó tôi có mặt tại đây. Thấy cảnh ngôi đình mát mẻ, cây cối quá xanh tươi, sư chú Nhất Trí, đệ tử xuất gia của Thầy kèo nài tôi ở lại ủng hộ tinh thần phụng sự của anh em, tôi đã hơi xiêu lòng định ở ngủ lại đêm. Khi tôi đang chuẩn bị tìm chỗ nghỉ đêm thì linh tính báo tôi biết là má tôi sẽ rất lo, má sẽ không ngủ được nếu tối nay tôi không về. Nghĩ như thế nên tôi đã khất với chú Nhất Trí là sẽ tới ngủ lại đây đêm hôm sau vì tối nay phải về nhà xin phép má. Không ngờ tám anh chị em TNPSXH ngủ đêm trong đình Bình Quới Đông đã bị bắt đi mất tích ngay đêm ấy. Chúng tôi đi từng đồn lính quốc gia để hỏi thăm, từng nhà nông dân các khu lân cận để cố tìm nhưng không cách gì tìm ra tông tích.

Chưa đầy ba tuần sau, ngày 5 tháng 7 cũng năm 1967, tại xã Bình Phước, năm anh em TNPSXH bị một toán người lạ mặt đến uy hiếp, bắt trói tay và dẫn ra bờ sông. Họ bắn cả năm anh em ngã gục bên bờ sông, bốn người chết, còn một người sống sót là sư chú Hà Văn Đính. Sư chú bị bắn trước, máu ra nhiều quá nên họ tưởng đã chết, không bắn tiếp lần thứ hai như đã bắn bốn vị kia, nhờ thế mà chúng tôi được nghe rõ tỉ mỉ câu chuyện. Thái độ người bắt anh em TNPSXH rất hiền nên các anh em không nghĩ là sẽ bị giết. Thấy họ dẫn ra bờ sông anh em nghĩ là sẽ chờ thuyền đến chở đi. Ai ngờ bỗng nhiên anh trưởng đoàn đến sờ đầu em Võ Văn Thơ 18 tuổi và hỏi: Có phải các anh là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không? Khi nghe anh em xác nhận là phải, thì họ lại sờ đầu thêm lần nữa và nói: Chúng tôi rất tiếc nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Và họ bắn tức khắc, bắn lần thứ hai rồi bỏ đi.

Sáng hôm đó tôi đi thăm anh em, chưa đến nơi đã thấy Diệp Lân Hải đi xe máy ngược lại và chặn đường báo tin bốn bạn đã chết, Hà Văn Đính đang nằm bệnh viện và xác Hy, Tuấn, Thơ và Lành đang nằm bên bờ sông Bình Phước. Chiếc xe mobylette đưa tôi đến tận bờ sông để nhìn xác bốn em nằm sõng soài, mắt vẫn còn trợn trừng, máu như còn trào ra ở khóe miệng, có vẻ thật đau đớn. Các em đau đớn là phải, vì không hiểu tại sao mình bị giết trong khi trái tim mình đầy ắp lòng yêu thương, tay không có một tấc sắt. Đầu tôi quay cuồng tự hỏi: Bất bạo động là gì? Thầy nói: “Là khi tâm mình tràn ngập yêu thương, muốn cho tất cả mọi người bớt khổ, không bao giờ muốn làm cho ai đau đớn dù người đó đang hãm hại mình. Trong ước mong lớn lao muốn chấm dứt khổ đau mà không hại người khác, người bất bạo động tự nhiên có sáng kiến nên làm như vầy, nên nhịn ăn tới chết, hay nên không hợp tác, hay nên tự thiêu cúng dường”. Các em TNPSXH của tôi đang “thiêu đốt” tuổi trẻ các em để cúng dường cho đồng bào bất hạnh, nhưng chưa làm được gì đã bị bắn chết oan ức như thế. Tuyệt vọng tràn ngập tận xương tủy tôi. Thà tôi nằm chết như các bạn, chắc có lẽ sẽ đỡ khổ hơn!

Cách đây hơn 2 tháng, khi Liên và Vui nằm xuống, chúng tôi đã tuyên bố rồi, trong bài diễn văn trước gần 10 ngàn người trong tang lễ của hai em, rằng kẻ thù chúng tôi chỉ là cái thấy sai lầm của các anh về chúng tôi, chúng tôi hy vọng trái tim thương yêu của chúng tôi bộc lộ trong lần chết của Liên – Vui đủ để những người sát hại thấy rõ mà hiểu và thương chúng tôi hơn. Nhưng họ vẫn bắt cóc tám người bạn thân yêu, vẫn sát hại bốn người con trai vô tội như vầy thì tôi chịu hết nổi!

Chúng ta “nói” đến Từ, Bi, Hỷ, Xả rất dễ, nhưng khi bạn có dịp đứng trước những xác chết của những người con trai, con gái trong tuổi thanh xuân, không chạy theo những thú vui trần thế, trái tim thơm mùi yêu thương, tận tụy vào những thôn làng xa, giúp người dân quê nghèo đói nâng cao đời sống của họ mà vẫn bị thảm sát một cách tàn nhẫn như thế thì chúng tôi mới thấm thía: Tu thật là khó, thương được những người như vầy, thương được người chủ tâm sát hại mình, thật là khó. Tôi chỉ biết trở về hơi thở và cố gắng không bi lụy để gánh gồng phụ với thầy Thanh Văn. Thầy lại nhờ tôi: Chị viết dùm diễn văn trong tang lễ truy điệu nhé. Trong tôi như có sự phản kháng lớn, tôi chỉ muốn thét lên: Không, không, không! Tôi không viết được đâu. Chúng ta đã nói rồi, chúng ta tập không thù hận những người sát hại Liên, Vui; chúng ta đã chỉ mong họ thấy rõ chúng ta không tệ như họ tưởng bằng thái độ hiểu biết của chúng ta.

Càng suy nghĩ tôi lại càng rối rắm thêm. Chỉ còn một cách làm như chúng tôi vẫn làm trong ngày chánh niệm là bỏ hết những suy tư khổ đau, rối rắm đó sang một bên và theo lời Phật dạy, chỉ trở về với hơi thở, bám lấy hơi thở, sống trọn vẹn với những việc làm trong phút giây hiện tại. Đi thì chỉ để tâm tới bước chân, ăn thì chỉ nhìn sâu và thấy kỹ những gì tích cực trong chén cơm ấy, bỏ hết những tâm nghĩ suy đi ra xa hơn cái không gian và thời gian của phút giây hiện tại và để tâm được bình an hơn. Khi tâm bình an hơn thì hy vọng mình sáng suốt hơn và biết phải làm gì, sẽ làm gì. Bốn ngày liên tiếp, tôi chỉ trở về sống với những công việc hiện tại mà tăng thân nhờ tôi làm. Chạy đi mua bì thư, đi quay ronéo thư mời, bỏ bì thư thơ mời quan khách, tâm chỉ bám vào chuyện bỏ thư vào bì thư mời dự tang lễ. Biên thư, mời bao nhiêu quan khách quen biết, chạy lên cầu cứu với thầy Thiện Hòa, Thiện Hoa, chạy lên các chợ Cầu Muối, chợ Tân Định nhờ cô bác lo giúp chuyện này và chuyện kia.

Đêm về, khi mọi người tạm yên giấc ngủ, tôi vào chánh điện ngồi thiền một thời gian rồi đứng dậy đi chậm rãi quanh chùa. Tôi không biết vậy là đi thiền hành nhưng tâm tôi chỉ tùy tức,  nghĩa là bám lấy hơi thở ra, thở vào như là đang ngồi thiền định. Không dám suy nghĩ gì hết và cũng không biết sẽ viết gì cho thầy Thanh Văn đọc trong tang lễ sắp tới. Bốn đêm liên tiếp, đêm nào tôi cũng nghĩ là đêm nay, có thể tôi sẽ có sáng kiến, nhưng cũng không có. Rồi đêm mai, rồi đêm mai nữa cũng không có ý gì cả, tôi cũng vẫn đi im lặng quanh chùa cho đến mệt nhoài thì mới ngả lưng ra chợp mắt được chút ít.

Đêm thứ tư, trong khi ngồi thiền, chợt trong tôi lóe lên câu nói của chú Hà Văn Đính. Chú thuật rằng, họ sờ đầu anh em hai lần và lần thứ hai thì nói rất nhanh: “Tôi rất tiếc, nhưng tôi buộc lòng phải giết các anh!” Tại sao giết người ta mà nói rất tiếc? Thế có nghĩa là họ không muốn giết, không nỡ giết? Thế có nghĩa là lời tuyên bố hai tháng trước đã chạm vào mối từ tâm trong lòng họ rồi. Nhưng thời buổi chiến tranh, nếu cấp chỉ huy ra lệnh mình phải đi thủ tiêu ai đó mà mình từ chối thì âm mưu cấp chỉ huy bại lộ. Chỉ huy phải thanh toán mình thôi. Nếu được lệnh giết người mà vì lòng từ bi, mình không nỡ giết những người con trai vô tội này thì mình sẽ bị thủ tiêu. Nếu không tuân lệnh, mình bị giết thì ai lo cho vợ con mình đây? Khi thấy được thế khó xử của những người sát hại bốn anh em bên bờ sông, tôi hiểu hơn và thương họ được.

Tôi cầm bút lên viết bài diễn văn Truy Điệu trong tang lễ:

Cám ơn các anh đã nói lời dễ thương là Chúng tôi rất tiếc, nhưng chúng tôi buộc lòng phải giết các anhNhững lời ấy chứng tỏ các anh BỊ BẮT BUỘC phải giết các bạn chúng tôi. Nếu không vâng lời cấp chỉ huy, các anh có thể bị giết. Rồi ai lo cho vợ con các anh? Chúng tôi hiểu và nhờ thế vẫn không thể thù hận các anh. Kẻ thù chúng tôi vẫn là cái thấy sai lạc của cấp chỉ huy của các anh về chúng tôi. Chúng tôi lạy Phật cho lần này cấp chỉ huy của các anh sẽ hiểu hoặc ít nhất các anh sẽ hiểu và chúng tôi tin là bằng mọi cách, các anh sẽ giúp chúng tôi vượt ra khỏi những khó khăn này.

Quan khách ai cũng chảy nước mắt khi nghe bài diễn văn của thầy Thanh Văn đọc. Các vị linh mục, mục sư, các thầy trong Giáo Hội, quan khách thân hữu thân tả đều thương mến và quyết lòng che chở. Và kể từ ngày đó TNPSXH không còn bị sát hại nữa.

 

xxx

Đúng vậy, chỉ có tình thương mới đối đáp được với hận thù. Thông điệp, đúng hơn là chân lý đó đã thể hiện đó đây trên khắp quả địa cầu này một cách liên tục hơn 26 thế kỷ qua và nó sẽ tiếp tục mãi mãi là chân lý bất khả diệt của nhân loại trên hành tinh xinh đẹp của chúng ta. Bằng chứng là thêm một lần nữa nó đã được thể hiện vào sáng nay tại Paris. Mở video theo đường link dưới đây, bạn sẽ nghe được tiếng gọi của tình yêu đó:

http://www.europe1.fr/societe/video-quand-on-a-que-lamour-interprete-par-nolwenn-leroy-yael-naim-et-camelia-jordana-2627043

Và đây là bản dịch Pháp văn bài thơ Dặn dò của Michèle Chamant. Bản này Pierre Marcgand cũng đã phổ nhạc và hát tại nhiều đại hội trên đất Pháp khi đi trình diễn với Graeme Allwright:

Promets moi aujourd’hui
promets-moi maintenat
pendant que le soleil est haut
au zénith exactement
promets-moi.
Même s’ils te terassent
sous une montagne de haine et de violence,
même s’ls marchent sur ta vie et t’écrasent
comme un ver,
même e s’ils t’écartèlent, t’e1ventrent,
rappelle-toi, frère,
rappelle-toi
l’homme n’est pas notre ennemi.
seulement ta compassion,
seulement ta bonté,
sont invincibles, sans limite, absolues.
Parce que la haine,
jamais jamais ne répondra
à la bête dans l’homme.
Et un jour
où, seul, tu affronteras cette bête,
ton courage intact, tes yeux calmes,
pleins d’amour
(même si personne ne les voit),
de ton sourire
s’ épanouira une fleur
et ceux qui t’aiment
te verront
à travers des milliers de mondes de naissance et de mort.
Seul, de nouveau,
j’avancerai la tête baissée,
en sachant que l’amour est immortel.
Et sur la longue et difficile route,
le soleil et la lune brilleront ensemble
pour éclairer mes pas.

Rửa bát là niềm vui

Rửa bát là một nghệ thuật, người rửa bát là một nghệ sĩ.

(Thư gửi con gái Tường Vi)

baby-washing-dishesSau bữa tối, mẹ cho Moon lên gác. Ở dưới nhà, bố thong thả rửa từng chiếc bát. Rửa bát cũng là một nghệ thuật, vì nếu để ý một chút, nó sẽ mang lại hạnh phúc ngay trong phút giây hiện tại.

Biết cách rửa ở đây không phải là cách rửa cho sạch mà rửa làm sao ta có được sự an vui đó. Xoay nhẹ chiếc búi một vài vòng, lật từng chiếc bát nhẹ nhàng, nước từ vòi chảy ra mát lạnh bàn tay. Đôi lúc trong tâm xuất hiện “ý muốn” rửa cho thật nhanh “để xong” còn ra uống một ly trà. Bố lại để ý vào hơi thở, buông suy nghĩ đó. Bởi bố biết nếu vội vàng rửa cho xong để ra uống trà thì lúc uống trà bố sẽ lại vội vã làm một việc khác, và cứ thế cả ngày bố vội vã. Khi con lớn, đọc những dòng này, bố hy vọng con sẽ hiểu được điều đó.

Cả đời ông bà đã như vậy  con ạ, lúc nào cũng vội vàng. Thấy con cháu đến chơi vội vàng, biết ngày mai có họ hàng ở quê lên chơi mà cả đêm thao thức không ngủ được. Chính vì vậy bố để ý hết tâm ý vào rửa bát, thật vững chãi và thảnh thơi. Vì nếu hạnh phúc được trong khi rửa bát thì khi uống trà cũng sẽ hạnh phúc. Nếu uống trà hạnh phúc thì con đặt từng bước chân đến trường cũng sẽ hạnh phúc. Con sẽ hạnh phúc được nghe cô giảng bài, được viết những dòng chữ yêu thương…

Rửa chỉ để rửa thôi mà nhanh thế, thoáng một lát đã không còn chiếc bát nào. Mọi thứ đều nằm trên trạn bát tinh tươm. Đi ra ngoài phòng khách, thấy cô con gái năm tuổi đang chơi. Lặng lẽ nhìn cô mà sao yêu thế, yêu cái cách cô ấy hồn nhiên tắm cho mấy “em búp bê”. Nhớ có lần cô con gái nói: “Con muốn giúp mẹ rửa bát, con muốn làm người lớn”. Bố đến gần con nói: “Con muốn làm người lớn, nhưng giờ bố muốn được như con đó”. Bố thấy thật vui khi nhìn con tắm cho mấy em bông”. Con gái nói: “Bố bảo con, nếu muốn mình sẽ làm được mà. Bố vào tắm cho em búp bê đi”.

Chợt có một “cái ngại” xuất hiện trong đầu, “cái ngại” này nó ngăn tôi trở thành một “em bé”, “cái ngại” này nó bảo với tôi là “tắm cho búp bê có gì thích đâu, trò trẻ con”.  Ngay lúc đó tôi lại để ý vào hơi thở và buông suy nghĩ ấy. Con gái “gạ” bố  chơi trò “Bố Mẹ” và cùng nhau tắm cho bốn em búp bê. “Người Mẹ” vừa nhập vai này cũng loay hoay cầm những dụng cụ cần thiết và tắm cho các em. Các động tác quen thuộc bố vẫn thấy. Bố có cảm nhận như Mẹ cũng đang là con và đang tắm cho các con mỗi lúc bố đi làm. Bố thấy mình như một em bé, bố thấy mình như một người bạn của con. Bố hạnh phúc cầm chiếc ca nhựa, múc nước từ cái lồng màn mà con bảo là chậu. Một niềm vui trong bố.

Rửa bát thật thảnh thơi:

Nước từ suối nguồn cao
Chảy ùa vào lòng bát
Xoay một vòng, khẽ hát
Rửa bát là niềm vui.

Có những vùng xa xôi
Phép màu, đôi thùng nước
Hai bàn tay hứng được
Từng giọt nước mưa rơi.

Rửa bát trong thảnh thơi
Yêu phút giây hiện tại
Để nghĩ suy dừng lại
Rửa bát thật thảnh thơi.

Bài thơ đã được tác giả phổ nhạc:


Tâm bình, thế giới bình

Mấy hôm nay tôi không vào Internet nên không biết tình hình bên ngoài. Chỉ có một tin bằng tiếng Anh được dán lên bảng thông báo của tu viện Làng Mai, Pháp – nơi chúng tôi đang hành thiền, rằng khủng bố tấn công Paris và gần 200 người thiệt mạng, hơn 200 người bị thương. Con số đang thống kê. Nếu không biết cách thực tập, chúng ta có thể hoảng sợ và tâm ta có thể bất an. Nhất là khi chúng tôi đang ở Pháp.

Rất nhiều người hoảng loạn và lo lắng khi khủng bố tấn công. Đó là lẽ thường tình. Bởi thương xót cho những chúng sinh vô tội bị sát hại. Làm sao là không thương tiếc khi mạng sống quý giá của bao người bị cướp đi trắng trợn. Có được thân người đâu có dễ. Vậy mà phải chết oan uổng.

Nếu bạn là chúng tôi, bạn có thể thấy lo lắng vô cùng. Và lo lắng đến tính mạng của chính mình. Chúng tôi là những người Việt đang có mặt ở đây. Và trong những ngày tới cần di chuyển về Paris rồi bay về Việt Nam. Nhà ga, sân bay, bến xe luôn là tầm ngắm của bọn khủng bố mà.

Chúng tôi, các thiền sinh có mặt tại Pháp rất bùi ngùi khi nhận tin dữ. Nhưng chúng tôi không lo sợ. Việc đầu tiên chúng tôi cùng nhau làm là ngồi thiền trong bình an để gửi năng lượng đến các nạn nhân. Chúng tôi tin rằng năng lượng bình an của hàng chục, hàng trăm thiền sinh rất quan trọng đối với những người bị hại. Hôm đó là ngày 14 tháng 11.

Thế rồi, mỗi sớm và mỗi tối khi ngồi thiền, mỗi sáng khi đi thiền hành, mỗi khi thiền làm việc và mỗi bữa khi thiền ăn, tất cả chúng tôi đều cùng nhắc nhau gửi năng lượng đến những nạn nhân. Tâm bình thế giới bình, vậy nên tâm an lành của chúng tôi thực hành thiền nhiều lần trong ngày chắc chắn giúp được các nạn nhân và cả những kẻ khủng bố nữa.

Nhưng quán chiếu kỹ lại chúng tôi cũng vô cùng thương xót cho những kẻ khủng bố. Nếu như chúng ta cũng bị sinh ra trong môi trường của hận thù, của áp bức, của đau khổ, nếu như chúng ta cũng không được dạy rằng dùng giết chóc, sát hại sinh mạng để mong trả hận thù là không thể chấp nhận được thì có khi chúng ta cũng có thể hành động như họ. Nếu chúng ta đặt mình vào hoàn cảnh, điều kiện sống và những khó khăn, bức xúc, những hiểu lầm, những tuyên truyền không đúng mà họ nhận được, có thể chính chúng ta cũng hành động như vậy.

Đức Phật dạy chúng ta về bốn loại thức ăn, trong đó có thức thực là rất quan trọng. Tâm thức cộng đồng rất ảnh hưởng đến tính cách và cuộc sống của chính chúng ta. Môi trường sống tạo nên con người ta với những tính cách của chính những người quanh ta. Ăn bằng thức thực chắc chắn quan trọng hơn cả đoàn thực.

Nếu như chúng ta sinh ra trong môi trường của những tên khủng bố đó, được giáo dục trong môi trường đó, chịu ảnh hưởng của một cộng đồng như thế thì dĩ nhiên ta có những tri giác sai lầm và không tránh khỏi tội lỗi.

May thay chúng ta là con Phật. May thay chúng ta giữ Năm Giới mà ngay giới đầu tiên đã là không sát sinh. Đức Phật tuyệt vời dạy chúng ta không sát sinh, không giết hại cả con sâu, con kiến thì làm sao chúng ta dám sát hại con bò, con gà chứ nói chi đến con người. Chúng ta khi ăn rau, ăn củ quả vẫn còn biết ơn vũ trụ và muôn loài để cho ta có thức ăn cơ mà.

May thay chúng ta hiểu được giá trị của việc làm người, của nhân quả, của tình yêu thương muôn loài. Tình yêu thương đã giúp chúng ta sống trong yêu thương và luôn yêu thương. Và chính tình yêu thương lớn lao này đã giúp chúng ta thương xót cả những tên khủng bố kia. Khi tâm ta thương cả kẻ thù, cả những kẻ dã man này thì tình thương càng lớn hơn và chúng ta dần dần có thể chuyển hóa được họ và những người quanh họ.

Chúng tôi ngồi thiền để chuyển lòng yêu thương đến với những nạn nhân. Họ chính là bạn, là tôi, là chúng ta. Chúng tôi cũng nguyện cầu cho họ được bình an, được sinh về cõi lành. Chúng ta có lẽ nên cùng nhau nguyện cầu để họ được Phật, Chúa, các vị Thánh che chở và đùm bọc.

Năng lượng yêu thương và từ bi trong những ngày qua và cả những ngày tới nữa cũng được gửi đến những kẻ khủng bố. Thật đáng thương cho họ. Do VÔ MINH CHE LẤP THÁNG NGÀY, do HẬN THÙ TRONG TÂM mà họ làm như vậy. Mong họ được bình an, mong họ được hành thiền để vô minh bớt đi, ánh sáng chiếu soi cho họ để họ bớt khổ đau và chuyển hóa những hạt giống thành TỐT LÀNH. Họ đang đau khổ lắm, đau khổ gấp ngàn vạn lần chúng ta. Và cứ thế này họ sẽ mãi mãi trong đau khổ, trầm luân ư… Hận thù nuôi hận thù mà. Mong sao cả thế giới này, cả 7 tỷ người trên hành tinh này đều được biết đến đạo Phật tuyệt vời và vi diệu.

Chúng tôi mong rằng chúng ta cùng lan tỏa yêu thương, cùng kêu gọi mọi người quanh ta mỗi người bỏ bớt một chút hận thù, bớt một chút tính ghen ghét, đố kỵ đi. Bớt dần, bớt dần. Bởi hận thù, ganh đua, ghen ghét trong tâm mỗi chúng ta là những hạt giống. Nếu chúng ta không biết chuyển hóa, đến một ngày nào đó sẽ lớn lên và có thể thành tội lỗi, thậm chí là bạo động. Ôi, vô minh che lấp tháng ngày!

Đêm qua tất cả chúng tôi cùng làm một lễ cầu nguyện lớn. Mấy chục quý thầy Làng Mai đến từ các quốc gia khác nhau: Pháp, Đức, Mỹ, Úc, Canada, Indonesia, Malaysia, Việt Nam, Italy, … cùng làm một lễ cầu nguyện. Rất giản đơn nhưng rất sâu lắng và xúc động, rất bình an nhưng tràn đầy năng lượng và yêu thương.

Thầy Giới Đạt chủ trì buổi lễ. Đầu tiên là tuyên bố lý do và sau đó là tụng kinh bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Những bản kinh vang lên trong không gian thanh tịnh của quý thầy đắp y vàng và quý Phật tử trang nghiêm thật tuyệt vời.

 

Thầy Trời Tự Tại – người Pháp đọc Kinh Thương Yêu bằng tiếng Pháp rất hay và tràn đầy năng lượng. Chúng tôi nghe mà như thấy thấm vào da thịt thân thể mình.

Chúng tôi rất ấn tượng khi thấy các nhà sư của rất nhiều nước cùng đắp y, bên nhau niệm danh hiệu của Đức Bồ tát Quán Thế Âm. Tất cả cùng cầu mong cho Ngài mang từ bi đến tận mỗi chúng sinh bị đau khổ trong đêm thảm sát khốc liệt 13 tháng 11 này.

Dĩ nhiên phần quan trọng của đêm nay là tất cả cùng ngồi thiền. Tất cả cùng hướng tâm về Paris yêu thương. Chỗ chúng tôi đang cư trú đâu có quá xa Paris đâu. Thật tâm mỗi chúng tôi đều rất mong bình an đến với mọi người: cả những ai bị sát hại, bị thương tích, bị tổn thương lẫn những kẻ khủng bố.

Chỉ có tình thương mới chuyển hóa được hận thù. Chỉ có yêu thương mới mang đến bình an cho mỗi chúng ta và cho tất cả. Tình thương là vốn quý của mỗi người con Phật chúng ta. May quá, đúng không bạn.

Trời sắp sáng rồi. Chúng con sẽ lên thiền đường sớm hơn để ngồi thiền. Năng lượng sớm nay chúng tôi lại xin được gửi đến Paris, đến tất cả những ai bị vụ khủng bố đêm 13/11 gây ảnh hưởng cả về thể chất lẫn tinh thần. Chúng tôi cũng mong bạn dành vài phút ngồi thật bình an. Chỉ cần ngồi bình an thôi mà. Hãy cùng nhau mở tâm bình an của mình ra rộng tối đa, rộng đến mức có thể. Hãy theo dõi hơi thở nhẹ và êm trong bình an để gửi yêu thương và năng lượng đến Paris. Chúng tôi muốn chúng ta làm cùng nhau như một cơ thể, như một tăng đoàn của những người con Phật gồm cả tứ chúng. Đây là cơ hội lớn để chúng ta cùng thực tập mà.

Cám ơn bạn đã đang rất bình an khi đọc những dòng chữ này. Cám ơn bạn đã giúp chúng tôi tự tạo ra bình an cho chính mình để tất cả chúng ta cùng bình an trong yêu thương. TÂM BÌNH – THẾ GIỚI BÌNH!

 

Chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp, ngày 16/11/2015

TS Nguyễn Mạnh Hùng

Đường dài bước chân đỡ mỏi

tách tràHuế bắt đầu vào mùa đông. Cuối thu đã có nhiều cơn mưa kéo về, và ảnh hưởng một vài cơn bão khiến Huế trở nên thâm trầm tư lự hơn. Tôi có thói quen đốt lên viên trầm, có khi là một cây nhang, hay lá sage, thắp nến, pha bình trà và thưởng thức mỗi sáng sớm.

Buổi sáng ở đồi Trị Liệu thật trong lành. Ngồi yên là thứ mỗi buổi sáng tôi thích làm. Có một vị Thầy đã từng dạy tôi rằng: “Bình yên là một thứ tặng phẩm đẹp mà người tu có thể hiến tặng cuộc đời. Cuộc đời đã dư thừa sự ồn ào chộn rộn, họ cần bình yên. Và một người tu thì không cần mang ra đời thêm sự ồn ào chộn rộn nào nữa, cần mang sự bình yên đi vào hiến tặng cho cuộc đời”. Đó là lời dạy rất tha thiết được nói ra từ kinh nghiệm của một người tu, giản đơn mà khó đạt. Đó không là lời nói của “tri kỷ” thì là của ai. Hiểu mình nên nói cho mình hiểu, đó là tri kỷ tri âm, đó là bạn. “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”, mấy hôm nay tôi có nhiều ấn tượng với câu thành ngữ quá sức quen thuộc này.

Suốt bốn mùa, nhất là những ngày hè oi ả, làm việc mệt, tới giờ ăn mà thấy ngán quá không muốn ngồi vô bàn, may thay có tô canh chua thật tuyệt, vậy là ngon miệng ăn hai hay ba chén. Canh làm mình dễ nuốt. Mùa đông lạnh, có chén cơm nóng, có bát canh khổ qua thơm lựng bốc khói, vậy là bữa cơm ngon đến lạ lùng. Đó là nghĩa cơ bản nhất của câu “Ăn cơm có canh”. Canh làm mình dễ ngon miệng thật. Nhưng ăn canh cũng phải cẩn thận.

Cẩn thận là vì canh thì làm mình dễ ngon miệng thật, và vì ngon miệng thành ra mình ăn hơi nhiều, ăn hơi dư dư ra cái phần cần. Bên cạnh đó, rất quan trọng, là nếu ăn không đúng cách thì trở lại hại cơ thể. Mùa đông lạnh tới cóng người, vậy là lại nấu món canh chua có cà chua, măng chua, khế chua, me chua thì không hợp tí nào. Đang bệnh mà ăn canh rau muống, hay canh măng thì cơ thể không chịu nổi. Người Việt mình còn một cách ăn canh không hợp lý nữa, là chan canh vào trong cơm, ăn và nuốt cho nhanh, cho khỏe, khỏi nhai nhiều, để sau đó bao tử phải cực nhọc làm việc gấp nhiều lần. Nên ăn canh với cơm cũng phải đúng cách, mới ngon, mới lành, mới khỏe.

“Ăn cơm có canh” cũng như “Tu hành có bạn”, đó là câu thành ngữ chúng ta thường nghe, “Ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Diễn rõ ra tức là có bạn để tu hành thì cũng như trong bữa cơm mà có canh, dễ thành công hơn, dễ để đi qua những khó khăn hơn, dễ tu hơn. Ăn canh đúng cách trong bữa cơm đã quan trọng lắm rồi, vì nó có ảnh hưởng trực tiếp lên cơ thể mình, mà có bạn đúng nghĩa trong sự nghiệp tu lại càng quan trọng hơn, vì nó tác động trực tiếp lên cả thân lẫn tâm chúng ta.

Một người bạn mà tâm bồ đề vững chãi, chí nguyện độ đời mãi mãi lớn mạnh, luôn lấy sự nghiệp tu học của mình đặt lên hàng đầu, nói, hành động hay suy nghĩ gì cũng dựa trên căn bản của sự thực tập, giới hạnh nghiêm chỉnh mà khiêm cung, không chạy theo đám đông, không rong ruổi theo những nhu yếu tiện nghi vật chất, có được một người bạn như vậy thì chúng ta rất dễ để nuôi dưỡng sự tu học của bản thân, gặp khó khăn gì cũng dễ dàng đi qua hơn khi biết rằng mình đang có một người bạn yểm trợ hết lòng. Chẳng khác nào một ngày nắng nóng mà bữa cơm có được một bát canh chua hay một bát canh rau thập cẩm thơm ngon.

Trái lại, chúng ta chỉ cần có bạn để chơi, để khỏa lấp niềm cô đơn trống trải trong lòng, chẳng cần biết người bạn ấy thế nào. Chúng ta gặp một người không chịu tu học, tìm cầu cuộc đời mình theo hướng danh vọng, tham dục, không nuôi lớn tâm bồ đề, gặp nhau chỉ nói chuyện thị phi, chuyện chiếc xe, cái điện thoại, bổn đạo, cúng vái, thế tục hóa cuộc đời tu học của mình… và mình cứ ngồi đó nghe, tư duy theo, sống theo, đi theo về hướng thế tục, thế tục hóa cuộc đời tu học của mình theo, vậy là mình lãnh đủ. Sự nghiệp tu học của mình bị hao mòn, nắng hạn, khô héo, càng chơi với bạn càng cảm thấy cô đơn, càng cảm thấy hạn hẹp, tuyệt vọng và thất bại. Y hệt lùa vài chén cơm chan nước canh mà nuốt cho nhanh, cho dễ, để cái bao tử mệt nhọc hơn, cơ thể dễ sinh bệnh hơn. Đây là chuyện chúng ta phải chiêm nghiệm để trực tiếp tạo dựng đời sống cho bản thân.

Bạn tu là vấn đề rất quan trọng. Trong Quy Sơn Cảnh Sách, Thiền sư Linh Hựu từng nhắc nhở: “Cần đi đâu xa thì phải nương tựa vào bạn hiền để có thể luôn luôn thanh lọc những điều ta nghe, ta thấy. Khi cư trú cũng phải nương tựa vào bạn tốt để ngày nào cũng được học hỏi thêm những điều chưa được am tường. Người ta nói rằng, cha mẹ tuy sinh ra ta nhưng chính bạn hữu lại là kẻ tác thành cho ta. Sống gần gũi với các bậc thiện tri thức thì cũng như đi trong sương, tuy áo không ướt nhưng vẫn thường được thấm đẫm. Còn nếu chơi với kẻ xấu thì cái thấy càng ngày càng sai lạc, sớm chiều vì vậy cứ tiếp tục tạo ra nghiệp xấu…”. Có nhiều người sẽ lí luận, nếu không chơi với người xấu thì ai giúp họ thay đổi? Nếu ta không vào địa ngục thì ai sẽ bước vào? Vấn đề ở đây không phải là chuyện thách thức chơi hay không, mà ta nên coi lại mình có đủ nội lực để tiếp xúc hay không. Như canh thì ăn mùa nào chẳng được, nhưng có những thứ canh ăn mùa đông thế nào cũng làm ta đau quằn quại, có những thức canh ăn mùa hè lại làm ta nóng bức thêm.

Có người ví, bạn lành giống như một chén nước trong. Tôi rất ấn tượng với cách so sánh bình dị ấy. Đi học về, đi chợ về, đi đâu xa về, khát nước lắm, đến bên một giếng nước, hay một vại nước thơm trong uống một chén, thật sảng khoái và giải khát vô cùng. Những giếng nước ngày xưa rất trong và có thể uống trực tiếp được, hoặc người dân tích trữ nước mưa trong vại, trẻ con đi học về, chỉ cần lấy gáo dừa vốc uống ngon lành mà không sợ đau bụng. Và thứ nước trong mộc mạc đó, ta có thể uống một đời mà không thấy chán thấy ngán. Không ai có thể uống suốt tháng những thứ nước ngọt đóng chai như cocacola, 7up… nhưng với nước trong, chúng ta uống mãi cả đời.

Những loại nước ngọt thì hấp dẫn thật, cuốn hút lắm, nhưng mau chán ngán. Những người giao lưu bình thường, những người bạn không chân chính cũng vậy, có thể lời nói và việc làm của họ rất bay bổng, thu hút, hứa hẹn, ngọt ngào, nhưng chơi lâu rất có thể nguy hại đến bản thân ta. Những người bạn chân thành, có phẩm chất, lịch sự, có nhân cách, có chí hướng, đôi khi ta thấy cách sống bề ngoài của họ rất nhạt nhẽo, y như nước lọc, vậy mà chơi hoài, nói chuyện hoài, đi qua với nhau bao nhiêu cảnh sống cũng không thấy chán, kỳ lạ và mầu nhiệm như vậy đó. Những người bạn hiền, vì thế mà mãi mãi hát ca điệp khúc: “Chúng mình còn đây hôm nay và ngày mai nữa. Đến đây, khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong” (thơ TS. Nhất Hạnh)

Mà không phải người tu mới cần bạn. Mọi người sống giữa đời đều rất cần có bạn. Bạn thì không có giới hạn đời hay đạo. Bạn đạo hay bạn đời đều là những người bạn phải có khả năng đi tới chỗ hay đẹp, sánh vai bước qua những chông gai của cuộc sống. Không có bạn thì ắt hẳn là buồn, nhưng có bạn như thế nào, lại là chuyện quan trọng hơn. Trịnh Công Sơn từng cảm nhận rất sấu sắc: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta một sự thoải mái thảnh thơi tựa hồ như niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng những câu chuyện gắng gượng, nhạt nhẽo” (Huyên náo và tĩnh lặng). “May thay trong cuộc đời vừa có tình yêu vừa có tình bạn. Tình bạn thường có khuôn mặt thật hơn tình yêu. Sự bội bạc trong tình bạn cũng có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và làm phục sinh một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa” (Vết thương tỉnh thức)

Nói dong dài cũng chỉ để nói, bạn phải là người có thể giúp nhau tiến bộ trong sự tu học, để trên con đường dài ấy bước chân sẽ đỡ mỏi. Bạn là người có thể giúp ta phân tích rõ những mặt tích cực lẫn tiêu cực trong ta, thẳng thắn, chân thành, rất thật. Bạn phải là người có phẩm chất tu.

Và người bạn ấy, có thể đã mất cách ta một trăm năm, hai ngàn năm mà ta chỉ gặp qua sách vở. Người bạn ấy có thể lớn hơn ta vài mươi tuổi, cùng trang lứa, hay nhỏ hơn ta mười, hai mươi, ba mươi tuổi. Người bạn ấy được gọi là Thiện hữu, Bạn hiền…

Đồi Trị Liệu, 07.11. 2013