Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Dập tắt căn nhà cháy.
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Làng Mai dưới mắt nhà thơ Ly Hoàng Ly
PRVDENS VIVO PRVDENS MORIOR[1]
Những con người Tây Phương này, họ tụ lại đây để tìm về hơi thở của chính mình. Hơi thở họ bị ngắt quãng. Đứt đoạn. Họ đến đây để nối hơi thở liền lạc thành một hơi thở sâu lan tỏa khắp thân tâm.
Ngày nào cũng lắng nghe, ghi chép, quay (với sự đồng ý của họ), kín đáo ghi để tôn trọng không khí tự nhiên của các hoạt động, các cuộc trò chuyện. Tôi muốn đóng vai người ngoài cuộc để không bị những cảm xúc, chia sẻ kia tác động, bởi tôi vốn rất nhạy cảm với đau khổ của người khác. Nhưng tôi sụp mấy ngày nay, thân tâm như liệt.
Quá tải với tôi. Tiếng khóc nấc của ai đó chợt bung lên, giữa buổi thiền trong thiền đường, khi ai nấy nhắm mắt, im lặng hít thở. Tiếng nấc ấy sẽ đứng lên, khẽ nhón chân để không ảnh hưởng đến người khác, khẽ mở cửa bước ra ngoài. Đó có thể là tiếng nấc đau khổ, cũng rất có thể là tiếng nấc hạnh phúc.
Những gương mặt nam nữ, lần lượt chảy nước mắt hay òa khóc trong những buổi chia sẻ. Khóc vì hạnh phúc. Khóc vì buồn đau. Họ – những người tự nhận mình là có công việc tốt, thành công, mạnh mẽ, lạc quan, hữu ích với mọi người trong cuộc sống thường ngày, quay về thành những đứa trẻ mẫu giáo, quây quần ở đây, để kể cho những người mà họ chưa từng quen, thậm chí không nhớ hết tên nhau, những nỗi đau của mình – những nỗi đau mà họ bất lực khi sẻ chia với những thân, bạn bè đồng nghiệp trong cuộc sống hàng ngày. Những nỗi đau mà họ bất lực chia sẻ với chính bản thân họ. Họ luôn phải giả vờ hạnh phúc hoặc cố gắng hạnh phúc, giả vờ mạnh mẽ hoặc cố gắng mạnh mẽ để sống có ích với xã hội ngoài kia. Bên ngoài thân thể cường tráng là những hơi thở đứt.

Bà A từ Thuỵ Điển khóc nức khi cất lên lời đầu tiên: “Tôi mới đến đây vài ngày… nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy được yêu thương và hạnh phúc thế này, khi tôi được bao quanh bởi năng lượng nhân ái tử tế, bởi tất cả các bạn. Tôi không quen biết các bạn, nhưng tôi cảm nhận được rõ ràng năng lượng tử tế từ ánh mắt thần thái của các bạn. Tôi quá hạnh phúc. Tôi khóc vì tôi quá hạnh phúc. Tôi xin lỗi vì tôi khóc, nhưng tôi quá hạnh phúc. Thế giới ngoài kia của tôi chưa bao giờ đem lại cho tôi hạnh phúc trọn vẹn thế này… “
Cô B đến từ Mỹ, sụt sùi: “Tôi hay làm ơn rồi mắc oán. Những người bạn thân thiết của tôi, khi họ gặp nạn, họ tìm đến tôi, tôi giúp họ hết lòng. Khi họ giải quyết xong việc của họ, họ trở nên rất tệ với tôi. Tôi có thể cảm thấy họ quay ra ghét tôi. Một ngày tôi không chịu đựng nổi nữa, tôi hỏi thẳng một người bạn: “Tại sao, tại sao lại vậy?” Người ấy trả lời: “Là vì chị quá mạnh mẽ. Mạnh mẽ một cách đáng sợ.” Tôi cho rằng vì họ yếu đuối nên đã để lộ hết chuyện riêng của họ với tôi, nên giờ họ ghét tôi vì họ đã để lộ họ mềm yếu hơn tôi, vì tôi là người duy nhất biết điểm yếu của họ. Vì họ biết tôi là người duy nhất có thể giúp họ, họ đến với tôi, xong họ ghét tôi. Bạn tôi bảo tại sao tôi có thể làm điều mà họ không thể làm? Sao tôi lúc nào cũng giải quyết êm xuôi mọi việc lớn bé mà vẫn cười bình thường? Họ bảo cuộc đời tôi êm xuôi một cách đáng sợ quá. Và họ ghét tôi vì điều đó. Trời ơi sao những con người đó không hiểu được là tôi có đầy nỗi đau khó khăn riêng của tôi, còn khó hơn họ nữa. Nhưng tôi tự học cách chuyển hóa buông bỏ, không phiền đến ai, tôi cố gắng mạnh mẽ vượt qua, và để giúp người thân quanh mình vượt qua khó khăn riêng của họ, vì tôi yêu họ hơn bản thân tôi. Tôi cười đâu có nghĩa tôi có được những điều kiện mà họ có. Họ sung sướng hơn tôi nhiều lắm. Vậy mà cái tôi nhận được lại là sự ganh ghét, đố kỵ, không phải là yêu thương. Tôi cô độc quá. Tôi đau khổ quá. Tôi hoang mang quá. Tôi từng nghĩ, mạnh mẽ quá, sống vì người khác quá là sai lầm của tôi. Nhưng đến đây, tôi học được rằng tôi thiếu sáng suốt với chính mình…”
C từ Canada rơm rớm: “Tôi cố gắng nhiều năm, nhưng mối quan hệ của vợ chồng tôi rất tệ. Chúng tôi không thể đối thoại. Chúng tôi yêu nhau, nhưng không hiểu nhau. Chúng tôi trở nên ghét nhau. Khi đến đây từ năm ngoái, và trở về, tình hình cải thiện hơn, nên tôi trở lại đây, lần này tôi đi cùng vợ. Đây là một nơi tuyệt vời. Tôi biết ơn nơi này. Tôi rất may mắn biết đến một chỗ tuyệt vời thế này…. “
D từ Nga sống tại Pháp, vừa quệt nước mắt vừa nói: “Tôi dường như đang có tất cả, thế mà tôi luôn cảm thấy mình bất hạnh vô cùng. Chồng tôi thành công, lịch lãm, yêu tôi vô cùng. Nhưng tôi cảm thấy ghê sợ chính tôi, hàng ngày tôi tự hỏi tôi đến với anh ấy vì điều gì, vì tiền của anh ấy và cuộc sống an nhàn? Tôi thấy tôi quá tệ. Hình như tôi không yêu anh ấy ngay từ đầu. Tôi lấy anh ấy vì tôi tính toán. Tôi ghét chính mình. Tôi đau khổ vì mất mục đích sống. Tôi không biết tôi sống để làm gì. Để lợi dụng chồng tôi? Tôi không dám sinh con vì tôi rất sợ con tôi sẽ nhìn tôi như một người mẹ thực dụng. Tôi không dám sinh con vì tôi sợ con sẽ ràng buộc tôi sống với người chồng tốt mà tôi không yêu này. Một ngày kia tôi không chịu đựng nổi nữa, tôi đã bỏ chạy qua Ấn độ, sống một năm để rồi tôi tình cờ tìm thấy tờ quảng cáo Plum Village, hóa ra cách nhà tôi có hai tiếng lái xe. Tôi đã đi rất xa để nhận ra cái quý giá rất gần bên mình mà mình không biết. Đây là một nơi tuyệt vời. Tôi vẫn vô cùng hoang mang, nhưng tôi cảm thấy nơi đây sẽ giúp tôi tìm thấy bản thân tôi. Tôi mời chồng tôi đến đây sau chuyến công tác của anh… “
E sống ở Ireland không cầm được nước mắt: “Hôm trước các bạn hỏi tôi nếu phải nói một từ về tổ tiên người thân, thì tôi nói câu gì, trong đầu tôi bật ngay lên ‘truthful’ (chân thật) và tôi nói ‘truthful’. Tôi nói mà không suy nghĩ. Không, tôi đang nói dối với chính mình, tôi dối các bạn. Họ, bố mẹ tôi, cả ông bà tôi, họ luôn hoàn hảo một cách đáng sợ, họ truthful một cách ngộp thở. Họ có thật sự truthful không? Không. Tôi có thể cảm nhận sự giả dối trong cái truthful đó. Vì sao họ phải sống như thế? Cả tuổi thơ tôi là một bi kịch của cái gọi là truthful. Tôi ghét họ. Và tôi cũng yêu họ. Họ tỏ ra hoàn hảo không tì vết. Nhưng họ không thể đối thoại với nhau, bố mẹ và năm anh chị em chúng tôi không có hòa khí. Không khí gia đình lúc nào cũng ngộp thở, khiến tôi đau khổ và hoang mang về thế nào là sống cho đúng, thế nào là hạnh phúc. Có một lần tôi quyết định đem niềm vui về cho cả nhà bằng cách đi hái hoa thuỷ tiên. Tôi hái tất cả hoa thủy tiên của hàng xóm, gom thật nhiều thật nhiều thành một bó to. Vâng, tôi đi ăn cắp hoa của hàng xóm, ăn cắp hạnh phúc của hàng xóm đem về cho gia đình mình. Tôi chỉ muốn nhìn thấy những người thân của tôi cười khi nhìn thấy bất ngờ tôi đem lại cho họ. Tôi nhớ rằng tôi để lọ hoa thuỷ tiên to trong bếp. Nhưng không ai bất ngờ cả. Họ thấy là bình thường. Họ không reo lên, không vui. Họ bình thản. Thế là tôi khóc. Sao những con người này họ lại lạnh lùng vậy. Họ không có tình cảm với nhau. Không ai muốn cười. Tôi không có hạnh phúc cả tuổi thơ. Tôi cực kỳ hoang mang về cuộc sống gia đình của tôi sau này khi tôi đi lấy chồng. Tôi không bao giờ muốn con tôi phải sống đau khổ như tôi. Tôi đau khổ vì cái truthful kiểu ấy.”
Anh F từ Đức trầm ngâm: “Tôi trải qua sự sợ hãi hoảng loạn mấy năm nay rồi, sau cú sốc tình cảm và công việc đến cùng lúc. Tôi không ngủ được. Tôi luôn không cảm thấy an toàn. Thế giới này không đem lại cho tôi sự an toàn. Một tuần ở đây tôi cảm thấy điều đó đã trở lại với tôi: cảm giác an toàn. Tôi thực sự quá may mắn. Tôi ngủ ngon hơn. Tôi tìm lại được mình. Nhất định tôi phải trở lại đây….”
Chị G từ Ý cười: “Tôi là một nhà trị liệu tâm lý. Tôi theo đạo Cơ đốc. Từ khi tôi biết Làng Mai cách đây 5 năm, năm nào tôi cũng trở lại đây. Đây là nhà tôi muốn về. Chốn an trú của tôi. Tôi trị liệu tâm lý cho mọi người nhưng bản thân tôi cũng đầy khó khăn riêng của mình. Tôi đã chất đầy hận thù trong lòng vì đau khổ, dù tôi đi trị liệu cho người khác. Đây là nơi tôi có thể tái tạo năng lượng, tìm thấy chính tôi.”
Còn biết bao câu chuyện khác…
Họ là những người mà nếu ta gặp trong đời sống hàng ngày, sẽ chỉ thấy họ cười, thành công, mạnh mẽ, nhiệt huyết. Họ sẽ không cần lời khuyên của ai, họ đủ sâu sắc hiểu biết để biết phải làm gì, giúp ích cho người thân, xã hội.
Họ chọn đến đây để trở lại với đứa trẻ năm tuổi thực sự bên trong họ, chân thành, trong sáng, dễ bị tổn thương. Những người lớn này ngày đầu mới đến còn e dè, chỉ hai ngày sau đã khóc vô tư trước mặt những người xa lạ mà họ cảm nhận được ngay là có cùng tần số – những người họ không biết tên, không cùng đất nước, văn hoá, nhưng nói một câu đã hiểu nhau, một cái ôm đầu tiên thấy sâu như đã quen biết hàng mấy chục năm rồi. Họ đến đây không phải để xin lời khuyên rao giảng. Họ đến để học cách tìm về hơi thở sâu trong họ, của chính họ, và ngắm những người có cùng ý nguyện thở hơi thở sâu.
Trước khi đến đây, tôi đã hồ đồ cho rằng pháp môn của Thầy Thích Nhất Hạnh là hơi “cliché” [2] với tôi. Tuy rằng tôi có ý định nghiên cứu pháp môn này cho đến nơi đến chốn để phát triển dự án ‘Prvdens Vivo Prvdens Morior’, tôi đã có tri kiến sai lầm về việc thở ra hít vào của Thầy. Nghe đơn giản quá. Cứ thở ra thở vào là hạnh phúc sao? Thở ra hít vào sâu ai mà chẳng làm được. Ai có tri thức chẳng biết trong hạnh phúc có khổ đau và trong đau khổ có hạnh phúc. Tương tức. Ai chẳng biết điều quan trọng nhất trong cuộc đời là tình yêu thương, là tấm lòng. Ai chẳng biết nói yêu thương thì dễ, để thực sự yêu thương ai là trọn một đời, cứ nhìn những người mẹ là hiểu rồi.
Tôi lầm. Chỉ đến khi thực sự sống và làm việc theo thời khoá từ 5h sáng hàng ngày và nghiên cứu quá trình chuyển hoá của những tăng thân đến đây, tôi biết là tôi ngạo mạn, hồ đồ. Đó cũng là điều tôi chia sẻ với các tăng thân ở đây, rằng tôi đã tự áp đặt tư tưởng cho mình khi mà mình chưa từng có duyên thấy tận mắt nghe tận tai.
Cái gì càng đơn giản càng khó. Thở ra hít vào hàng ngày, nhưng thở ra hít vào với từng phút giây hiện tại, với trái tim trống rỗng và tình yêu thương tràn đầy, không dễ chút nào. Trong cuộc sống của riêng mình, tôi luôn theo quan điểm: Có thể tự hào đọc rất nhiều sách hay, nhưng hiểu cho tường tận sâu rộng chỉ một dòng trong quyển sách đó mà thôi – cái hiểu bằng chính kinh nghiệm sống, máu thịt của mình chứ không phải qua lời lẽ triết lý của người khác, mới là đọc. Đọc cả quyển sách tôi hiểu có đúng một dòng thôi là tôi mừng với chính tôi rồi. Vì quan tâm đến mindfulness (chánh niệm), làm tác phẩm về mindfulness, tôi tìm đọc mindfulness của Sư Ông Làng Mai, thì tôi muốn hiểu cho tường tận nó là gì theo triết lý thực hành của Sư Ông. Vì sao nhiều người đến với mindfulness của Sư Ông? Những con người đến từ khắp thế giới này họ nghĩ gì về mindfulness? Ghi nhận những tâm sự của các tăng thân là một trong những vật liệu thô của dự án.
Để viết nên một chữ hay vẽ được một nét về cuộc sống, dù chữ ấy nét vẽ ấy tinh luyện hoặc còn vụng về, ta phải thực sự sống cùng với điều ấy, bằng cả thân tâm. Tôi đã tham dự lớp Toán cao cấp khá đầy đủ trừ khi quá bệnh, để bóc cái xác chữ và xác số của Toán và tiếng, âm thanh của ‘những người nói Toán’ ra khỏi ngữ cảnh vốn có của nó, đem qua ngữ cảnh của nghệ thuật ý niệm thị giác, đa phương tiện, từ đó dựng nên cái hình thù trừu tượng của sự thất lạc căn tính, văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ, nơi mọi người lạc chính mình và lạc mất nhau. Tôi đã cùng thầy và bạn, trèo bao núi lội bao suối, lên bản xa, có lúc đặt lưng trên đất rừng lạnh suốt đêm, chia nhau ngọn nến xíu xiu, sẻ cho nhau từng gáo nước ấm. Đã ngủ trên những chiếc giường đầy rệp mốc của người lao động, nông dân, công nhân, lăn lê bên những đống phân bò. Đã ghẻ lở đầy người vì muỗi độc đốt… để đem vào hội họa những trải nghiệm phát hiện của mình về chân dung và cảnh sống của những con người khác nhau.
Nhưng, chưa bao giờ tôi tiếp xúc dài ngày với sự tương phản choang choang giữa những đau khổ tột cùng và những hạnh phúc tột cùng – vốn ẩn sâu bên trong nội tạng, nay chợt hiển lộ đồng loạt tại cùng một nơi như hoa nở cùng lúc bão gầm.
Tôi hạnh phúc khi họ khóc vì hạnh phúc. Chạnh lòng khi nhìn họ nức nở đau lòng. Họ bảo họ thấy hình ảnh của họ khi nghe câu chuyện của những người khác ở đây. Họ bảo họ có thể thấy ánh sáng trong lòng bàn tay họ từ một đốm nhỏ mỗi ngày mỗi lớn lên, lan rộng ra. Họ bảo họ hoàn toàn hết nhức đầu, thân thể nhẹ đi. Họ bảo họ có thể chạm đến những mưng tấy ẩn sâu bên trong, những mưng tấy mà do áp lực chạy đua với cuộc sống, họ luôn đủ thông minh để vơ một cái áo che tạm lại, mà chưa từng cho mình cơ hội dừng lại, chăm sóc nó, thân tâm nhập một trong sự trống rỗng chánh niệm. Họ quá bận rộn để lắng nhìn sâu đau khổ của chính mình, vuốt ve và chuyển hóa nó, cho đến khi họ bục vỡ, giận dữ, mất sáng suốt điềm tĩnh. Họ dùng mọi cách mọi hình ảnh để diễn tả hạnh phúc mà họ đang chạm được khi đến với mindfulness.
Cuộc đời là bể khổ. Nơi này là nơi những con người tốt hoặc hướng đến điều tốt tụ họp để học phương pháp, triết lý chuyển hóa rác trong thân tâm mình thành phân bón cho cây. Để khi trở ra ngoài xã hội, họ lại tiếp tục cống hiến. Họ khóc rồi họ thanh thản ăn, đi bộ, rửa rau cuốc đất, đọc sách, cùng nhiều việc khác. Họ cùng nhau khe khẽ hát, hân hoan như trẻ thơ.
Quá tải với tôi. Quá nhiều xúc cảm đối lập. Rất mệt. Khi mà tôi ngoài việc đóng vai người quan sát quay ghi chép, vừa đảm bảo thời khóa để sống cùng với họ, đồng thời chạm đến sự tốt nhất lẫn sự xấu xí nhất, sự già cỗi và sự non nớt nhất của chính mình. Cứ như cùng một lúc nội soi rất nhiều người và nội soi mình. Liên miên trường phẫu thuật.
Các sư cô bảo tôi thôi chị nghỉ vài hôm đi, đừng tham gia các cuộc chia sẻ của họ nữa, vì khi chị phải tiếp xúc với quá nhiều năng lượng tiêu cực, những tiếng khóc của họ, lại làm việc nhiều quá, chị sẽ không chế ngự nổi đâu, những năng lượng đó tác động đến chị, chị trông xanh xao, thẫn thờ lắm, tâm có vẻ bất định lắm rồi đó. Chị nên chỉ tham gia những lúc họ làm việc vui hoặc thiền định thôi. Chị phải biết yêu bản thân mình trước, đừng quá tâm sức.
Phải biết yêu thương chăm sóc mình trước nhất, đó là một trong những quy tắc quan trọng của Làng Mai.
Sư ông Làng Mai có nói: “… Khi tôi rót tách trà của tôi trong chánh niệm. Khi tôi nâng tách trà của tôi trong chánh niệm. Khi tôi uống trà của tôi trong chánh niệm. Tôi thấy mây trong trà của tôi. Tôi thấy tôi đang uống mây của tôi. Mây của tôi không sinh không diệt, vì nó đang ở đây. Nó có thể chuyển hóa thành mưa, thành đá, thành băng… nhưng không bao giờ không là gì cả…”
Tôi hiểu lời Sư Ông theo cách của mình thế này: “Khi tôi rót tách cà phê của tôi trong chánh niệm. Khi tôi nâng tách cà phê của tôi trong chánh niệm. Khi tôi uống cà phê của tôi trong chánh niệm. Tôi thấy yêu thương trong từng giọt cà phê của tôi. Tôi thấy tôi đang uống yêu thương của tôi. Yêu thương của tôi không sinh không diệt, vì nó đang ở đây. Yêu thương của tôi có thể chuyển hóa thành mưa, thành đá, thành băng hà… nhưng không bao giờ không là gì cả…”
Prvdens Vivo Prvdens Morior.

LHL
[1] Thành ngữ Latinh: “sống chánh niệm, chết chánh niệm”
[2] cliché: BBT tạm dịch là “hơi sáo, hơi rập khuôn”
Nguồn: Phù Sa Online
Nguyện đi trên con đường của Bụt
Trên trời cao giờ này là những ngôi sao cô đơn. Trời Cần Thơ là vậy. Khi ánh đèn thành phố sáng lên thì bầu trời càng mênh mông và cô tịch. Tôi đã nhìn thấy trăng hôm nay, trăng khuyết nửa vòm. Tôi đã đợi ánh trăng này từ đầu tháng 4, vì tôi biết khi trăng tròn vành vạnh sẽ báo hiệu đến ngày Vesak – kỷ niệm ngày Bụt biểu hiện trên trần gian này.
Theo truyền thống Phật giáo tại hầu khắp các quốc gia như: Sri Lanka (Tích Lan), Miến Điện, Thái Lan, v.v. ngày trăng tròn Vesak được gọi là ngày tam hợp với ba sự kiện lớn: “Ngày Thái tử Siddhartha ra đời – người sau này được gọi là Bụt, ngày Bụt thành đạo, ngày Bụt nhập Niết bàn dưới cội Sa-la”.
Ngắm nhìn bầu trời le lói với vài ngôi sao cô đơn thấy gần mà xa lắm, mặt trăng thì đang như thẹn thùng, mắc cỡ,…tôi chợt đặt ra cho mình một câu hỏi, đây là câu hỏi đầy suy tư, rằng: “Bụt trong mình đã sinh chưa?”. Bụt là biểu hiện của tình thương và tỉnh thức; Bụt là khả năng lắng nghe mà không phán xét; Bụt là người cha hiền lành, là người thầy với gương mặt thân thương và ánh mắt trìu mến… Bụt trong tôi hơn hết còn là một con đường.
Sư Ông Làng Mai từng dạy: “Lắng nghe với tâm từ bi có thể làm người khác bớt khổ”. Tôi chợt nghĩ: Thời xưa ấy, lúc Bụt còn tại thế hẳn Bụt cùng với tăng đoàn đã thực tập vô cùng hùng tráng pháp môn lắng nghe này. Đọc qua kinh điển Nikaya hay A Hàm trên trang Làng Mai, tôi thấy thương Bụt quá. Tình thương ấy giống như một đứa con nhỏ thương cha, giống như một người xa quê lâu ngày chợt muốn ôm hôn đất Tổ. Trong kinh từng kể lại rằng không hiếm khi Bụt ngồi nghe rất lâu các thầy ngoại đạo chất vấn, các thầy ấy có khi không dễ thương lắm, vậy mà Bụt ngồi nghe im lặng và chăm chú đến thế. Có lẽ vì Bụt biết họ có nỗi khổ riêng, họ cần ai đó lắng nghe hơn là trả lời câu hỏi của họ.
Trong quyển Open Heart, Clear Mind (Rộng mở tâm hồn và Phát triển trí tuệ) của Ni sư Chodron có viết: “ Buddha was once an ordinary person like us, with the same problems and doubts we have. By following the path to enlightenment, he became a Buhhda”, tôi tạm hiểu là “Bụt cũng từng là một con người bình thường như chúng ta, Bụt cũng có những khổ đau và hoài nghi như chúng ta vậy. Nhờ đi trên con đường tỉnh thức nên Ngài trở thành Bụt – Bậc Tỉnh thức vẹn toàn”. Đến đây, tôi thấy mình có một niềm tin mãnh liệt rằng sau gần 2559 năm trôi qua, giáo lý của Bụt vẫn còn đó, và nếu đi trên con đường Bụt đã đi thì tôi và các bạn có thể trở thành Bụt như Bụt Thích Ca vậy đó.
Mấy hôm nay đi ngang các chùa, Tịnh Xá, Thất, Thiền viện…tôi thấy cái nhộn nhịp rất riêng của chốn thiền môn. Mọi người như đang chờ đợi, có lẽ cái chờ đợi ấy giống tôi, chờ ngày Vesak.
Giờ đây khi biết rằng: “Bụt của hơn 2500 năm trước đã sinh, con xin nguyện học tập con đường của Bụt, nguyện áp bàn chân nhỏ bé của con, có khi thong dong cũng nhiều khi mệt mỏi, lên dấu chân nơi Bụt đã đi qua. Con nguyện lúc nào cũng nuôi dưỡng chánh niệm, để con luôn được ở gần Bụt”.
Tối nay con nấu trà tươi thơm lắm. Con ngồi thiền im lặng như núi xanh, thảnh thơi như mây trắng, trước mặt con là chén trà tươi, trên bàn Bụt cũng có chén trà thơm như vậy,… Con biết tối nay con đã được uống trà cùng với Bụt.
Cần Thơ, 25/05/2015.
Cành mai năm ấy
“Buổi sáng có mặt trời, ơi vũ trụ, ta muốn ôm người vào hai tay. Buổi sáng có chim hót và chị bán xôi đi ngang ngõ trúc, ơi quê hương, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Buổi sáng có chợ họp, ôi thế gian, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Chỉ còn hai mươi giờ nữa thôi, tôi đã không còn có mặt ở đây. Tôi sẽ giao tôi cho lửa.
… Quê hương đẹp biết bao nhiêu. Ôi, còn nào chùa, nào lũy tre, nào vườn cau, nào giàn trầu, nào bến sông quen thuộc. Tôi muốn quay trở lui. Nhưng quay trở lui cũng không tìm thấy quê hương.
Đất quê hương, tôi đang đếm bằng những bước chân. Đất quê hương, bom đạn cày nát. Lời cầu nguyện cho những khu vườn xanh, có trúc đào, có xương rồng trước ngõ. Chắp tay tôi nhận chịu lửa đỏ như một lời cầu nguyện. Cho tôi thấy phố thấy nhà lần chót. Cho tôi thấy trời thấy nước thấy cây thấy cỏ lần chót. Cho tôi thấy trăng thấy sao. Cho tôi thấy người, thấy cô thấy bác thấy anh thấy chị thấy già thấy trẻ, thấy đồng bào cười nói. Cho tôi ôm tất cả vào hai vòng tay nhỏ. Tôi đã tìm thấy. Anh chị em ơi, tôi đi nhưng tôi còn ở lại. Sáng mai mặt trời mọc, thơ tôi sẽ tới với người.”
(trích tác phẩm Chân dung – Thiền sư Nhất Hạnh)
Năm 1096, trước khi an nhiên cõi trời phương ngoại, Thiền sư Mãn Giác đã để lại tặng đời một cành mai vô ngại, cành mai vượt thời gian, nở lên từ một tâm hồn thanh thoát. Đến hôm nay, cành mai đó vẫn sống rất thật, trong mỗi độ xuân về, trong mỗi lần xem mai nở, trong mỗi dịp được ngồi yên bên chén trà ấm bốn mùa mà nghe phảng phất đâu đây hòa vào hương trà lời Thiền sư nhắc nhở: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”. Cành mai đã đi vào cõi vô khứ lai, để rồi sẽ biểu hiện tiếp tục một cách mầu nhiệm dưới những hình thái khác, góc độ khác, ngay trên cõi đời này, khi nhân duyên vào độ chín. Và vì thế, mãi mãi, lời vị Thiền sư năm nao vẫn còn vang vọng, chớ có cho rằng khi xuân hết thì hoa tàn cả, nhìn cho kỹ đi, một cành mai đêm qua nơi sân trước vẫn tròn đầy.
Xin Việt Nam hòa bình”
871 năm sau, 1967, cành mai ngày ấy lại biểu hiện. Nhất Chi Mai – chị cả của dòng tu Tiếp Hiện do Thiền sư Nhất Hạnh sáng lập, ngày 16 tháng 05 đã khiến cho cả thế giới chiêm ngưỡng khí phách bi hùng của hương thơm nguyện phụng hiến mình vì nghĩa lớn, vì một Việt Nam hòa bình, vì một dân tộc biết thương yêu nhau, vì một thế giới biết nhìn về lẽ phải.
Được sinh ra trong gia đình khá giả, dù trong thời chiến tranh tàn khốc, chị Mai vẫn được đi về trên một chiếc xe hơi sang trọng. Tương lai chị thật tươi sáng. Tốt nghiệp đại học, chị theo con đường phụng sự xã hội, nguyện sống đời an vui cho đất Việt. Thế nhưng, Việt Nam vẫn cứ chiến tranh, máu xương vẫn mỗi ngày đổ xuống, điêu tàn tiếp nối điêu tàn, đâu đâu cũng nghe tiếng khóc than của đứa con thơ, của người vợ trẻ, tiếng khấn nguyện của những người già không biết con mình sống chết ra sao. Chị Nhất Chi Mai phải chứng kiến điều đó hằng ngày khi vẫn được nghe nói về từ bi, rao giảng về lòng bác ái, tuyên truyền về đoàn kết… có cái gì nghe thật xót xa. Chị không thù hận con người, đích thị trong chị chỉ có tình xót thương. Chị muốn ôm trọn tất cả, vì con người đáng thương, vì con người đang nô lệ cho hận thù, bạo động, nghi ngờ và lòng tham mà giày xéo lên nhau từng ngày. Mỗi ngày, chị tự dặn dò mình bằng cách đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần lời thơ của thầy mình trao gởi. Bài thơ trở thành một đề tài quán chiếu thật sâu sắc của chị:
Dù không ai hay biết…”
(Trích Dặn dò – thơ Sư Ông Làng Mai)
Những người xung quanh nghĩ rằng, chắc chị Mai thích bài thơ ấy quá, nên cứ suốt ngày ngâm nga cho qua thời giờ, cho khỏi nghĩ đến những công tác từ thiện, khỏi nghĩ đến chiến tranh, khỏi nghĩ đến những em bé nghèo ngửa bàn tay bé xíu xin chút tình thương với tấm thân đen đủi trần truồng và đôi mắt đã bớt long lanh. Vậy mà, chị lẩm nhẩm bài thơ ấy không phải để trốn chạy thực tại, mà để nghĩ về thực tại, nghĩ về cách để có thể hiến dâng cuộc đời mình cho một cuộc tỉnh thức lương tâm nhân loại, cho ước mơ một đất nước hòa bình.
Để soi bước cho tôi”.
(Trích Dặn dò – thơ Sư Ông Làng Mai)
Phật đản sanh lần thứ 2511, đúng ngày 8 tháng 4 âm lịch, cành mai kia đã nở. Nhất Chi Mai đã nở giữa biển lửa. Nhưng không phải biển lửa của hận thù. Mai đã tỏa hương giữa biển lửa, để hóa thân thành tình thương và tỉnh thức, cho con người thấy đường đi lên. Chị Mai đã tự thiêu.

Một buổi sáng chùa Từ Nghiêm lửa tỏa, lửa cháy lan thế kỷ, lửa xuyên thấu các hành tinh xa để vượt thời gian và mãi mãi không bao giờ tắt. Thế gian chấn động bởi ánh lửa như tiếng chuông đại hùng lực, đại từ bi. Lửa đốt rụi vô minh, tỵ hiềm, lòng tham cơ hội. Lửa kêu gọi nghĩa đệ huynh. Tự tay mình châm lửa đốt thân sau khi để lại 10 bức thư cho Ba Má, Thầy bạn và chính quyền, cái chết chừng đó thôi cũng đã là vô úy.
Sẽ có những người thóa mạ cái chết ấy, chị Mai tự biết điều ấy, nhưng điềm nhiên mặc kệ, có sao đâu. Chị không điên, không hành động dại dột, không phải vì cảm hứng. Chị đã suy nghĩ nhiều, đã chuẩn bị tất cả. Vì tình thương nhân loại, chị phải hành động. Vì thức tỉnh tình thương trong trái tim nhân loại, chị càng phải hành động. Vì Việt Nam hòa bình, chị lại càng phải hành động. Thế giới đã cúi đầu trước người Mẹ Việt Nam vừa tròn 33 tuổi. Cao Ngọc Phượng, một người em đồng giới Tiếp Hiện với chị, sau này trở thành sư cô Chân Không – một đệ tử lớn của Thiền sư Nhất Hạnh, đã trả lời người phương Tây khi họ thắc mắc về cái chết ấy thật cảm động: “Khi bạn muốn mua một món gì bạn phải trả tiền. Khi bạn muốn mua một món gì quý nhất mà tiền bạc không thể mua được như sự hiểu biết, sự thương yêu, sự nhân nhường nhau để đưa đến chấm dứt chiến tranh khổ đau thì bạn chỉ có thể trả cho người bạn đang đối thoại bằng cái gì quý giá nhất mà bạn có trên đời. Chị tôi không tự tử như nhiều người Tây phương đã tưởng. Không, chị tôi có học thức, có đầy đủ điều kiện để sống tiện nghi như các bạn (Tây phương) dù rằng nước Việt Nam đang chiến tranh. Nhưng chị muốn dâng cái quý nhất của con người trên đời để xin cái quý nhất của con người trên đời. Cái đó là sự sống”. Chị đã dâng sự sống quý nhất trên đời của chị để giữ lại sự sống quý nhất của một dân tộc.
Người bạn trẻ của nước Việt ơi, các bạn đang tiếp nối hồn thiêng sông núi mà bao thế hệ trước đã thao thức, đã hy sinh xương máu để giữ gìn, các bạn cũng là một cành mai. Chúng ta hãy làm sao để cành mai vươn lên giữa biển lửa. Cành mai ấy không được chết giữa biển lửa, càng không được chết vô nghĩa giữa bầu trời bình yên. Bao nhiêu người đã chết oan uổng như vậy rồi, mình đừng tiếp nối hạt giống ấy nữa. Mình mãi phải xứng đáng, đừng bao giờ cô phụ hồn thiêng sông núi.
Chị Nhất Chi Mai, kỷ niệm ngày chị có mặt vì hòa bình, cũng là ngày kỷ niệm một cành mai tỏa thơm trang sử Việt, em viết lại đây vài dòng như lời tri ân sâu sắc đến chị. Từ ngày biết chị, em chưa bao giờ thấy chị vắng mặt trong em, em chưa bao giờ thấy chị vắng mặt trong cành hoa của Thiền sư Mãn Giác. Rồi những cành hoa như chị sẽ được tiếp nối và biểu hiện, hôm nay và mai sau, như chị chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt. Những thế hệ sau chị sẽ tiếp nối và mời cành mai thơm trong chị biểu hiện như điều chị từng nhắc nhở: “Con đường dài mà chông gai quá, mỗi người nhân bản phải đi một đoạn đường gai chông, tiếp nối, bằng cách này hay bằng cách khác, mới mong hết được đường dài…”
Nguyên Tịnh.
Đồi Trị Liệu, 15.05.2012
LỜI TỰ THUẬT
SAU CÙNG CỦA NHẤT CHI MAI
Tôi viết tất cả 10 bức thư để lại.
Ngày mai tôi sẽ lo lắng một mình tôi buổi lễ tự thiêu.
Tôi cho các nhà báo, nhiếp ảnh hay và một ít bạn thân đến nơi tôi dự định mà không cho họ biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra.
Tôi mua 10 lít xăng. Địa điểm tôi chọn là Chùa Từ Nghiêm, tôi có ý đến Nhà Thờ Đức Bà hay một nơi công cộng có tính cách lịch sử một chút, mà thôi.
Phía trước mặt tôi đặt hai bức tượng: Đức Mẹ Maria với hai bàn tay đưa ra. Đức Quán Thế Âm với đôi mắt dịu hiền. Cả hai nhìn tôi và ban ơn cho tôi tròn ước nguyện. Trước mặt và sau lưng tôi có hai biểu ngữ tôi viết:
“Con chắp tay quỳ xuống
Xin Đức Mẹ Maria
Đức Quan Âm, Phổ Hiền
Cho con và ước nguyện.”
Và:
“ Xin đem thân làm đuốc
Xin soi sáng U Minh
Xin Tình người thức tỉnh
Xin Việt Nam Hòa Bình”.
Cầu xin cho tôi can đảm, bình tĩnh mà ngồi yên trong lửa đỏ.
Tôi sẽ quỳ xuống chấp tay niệm Phật và thầm gọi “Việt Nam”.
Người tự thiêu cầu Hòa Bình
Thích Nữ Nhất Chi Mai
Tự: Nhất Chi
Pháp danh: Diệu Huỳnh.
THƯ GỬI THẦY
(Chị Nhất Chi Mai là một trong sáu người đầu tiên được thọ 14 Giới Tiếp Hiện với Thầy Làng Mai)
Việt Nam, 15 – 5 – 67.
Kính bạch Thầy,
Ngày mai con sẽ thiêu thân để cầu Hòa Bình cho Việt Nam. Con xin đóng góp với Thầy, với tất cả những nhà nhân bản Việt Nam và thế giới trong phong trào Mong Hòa Bình cho Việt Nam bằng tất cả những gì con hiện có.
Con mong tất cả an lòng, tiếng nói nhân bản, chính nghĩa sẽ được tiếp nối và kết quả không lâu.
Kính thư,
Thích Nữ Nhất Chi Mai
Tự: Nhất Chi
Pháp danh: Diệu Huỳnh
Tự thiêu để cầu Hòa Bình Việt Nam
Mùa Phật Đản 2511 (5-1967)
____________________________________
Những bài có liên quan:
Tụi trẻ con hàng xóm
Nhà tôi dọn về đây ở được hơn một năm. Thỉnh thoảng tụi trẻ con lại kéo nhau sang nhà chơi cùng với hai cô con gái. Bé nhỏ nhất thì khoảng hơn hai tuổi, lớn nhất tầm bảy, tám tuổi, còn lại khoảng bốn đến năm tuổi.
Giữa tháng năm, thời tiết đã oi ả. Cái nắng ban ngày như thiêu đốt, nung cả bầu không khí. Trên từng con phố, nơi có bóng mát là chỗ an trú tuyệt vời nhất cho mọi người. Từ bác xe ôm, người bán hoa quả, cho đến những người chờ đèn đỏ đều dừng lại.
Hôm nay tôi có nhiều việc nên gần tám giờ kém mới về đến nhà. Khi ngồi vào bàn ăn, cảm giác ban đầu là tôi không muốn dùng cơm vì oi quá, nhưng sau đó lại ăn rất ngon. Tụi trẻ con đang nô nghịch, cười đùa. Có hai bé trai gần ba tuổi đang tranh nhau chiếc xe gỗ “vespa”. Tôi lại ra làm ông trọng tài, đánh lạc hướng chúng bằng một trò chơi. Tôi đùn em bé đang ngồi xe một vòng, sau đó hướng dẫn em bé kia làm giống vậy. Tôi hỏi các bé: “Các con có thích không?”. Các bé trả lời là rất thích rồi thay phiên nhau đủn xe, không tranh nhau nữa. Một lát, có bé gái quát một bạn khác. Tôi cười với bé, hỏi: “Con có buồn khi có người quát con không?”. Em đã nói: Có ạ. Tôi nói: “Thế em nghe con mắng như vậy cũng buồn đó. Mà các con ai cũng đẹp như một bông hoa. Khi quát, nó lại thành hoa héo mất. Con có muốn thành hoa héo không?”. Em cười toe toét: “Không ạ”.
Tụi trẻ con xóm tôi như những bông hoa nhỏ, hồn nhiên lắm. Từ lúc chúng vào nhà chơi mà chẳng chào một câu. Lúc chơi thì hét rất to. Khi về thì đồ chơi không thu dọn. Giầy dép, chiếc để ngoài cửa, chiếc thì ngoài đường. Nhưng bây giờ các em sang chơi tiến bộ rất nhiều. Nhớ hồi trước, những lúc như thế này tôi thấy trong tâm mình khó chịu lắm. Chỉ muốn quát hoặc không cho chúng chơi nữa. Nhưng nhớ đến bài tập chánh niệm nên tôi dễ dàng nhận diện được sự khó chịu ấy và chuyển hóa nó: “Thở vào, tôi thấy trong tôi có sự khó chịu. Thở ra, tôi thấy sự khó chịu này cần được chuyển hóa”. “Thở vào mình là một bông hoa. Thở ra mình là hoa tươi mát”. Thật màu nhiệm, khi sự khó chịu được nhận diện, nó chợt tan biến.
Chợt nhận thấy các em không chỉ đơn giản được sang chơi mà các em cần được đón nhận những sự tươi mát từ gia đình nữa. Tôi càng hiểu hơn, sự quan trọng trong việc tu tập hàng ngày, dù chỉ là điều nhỏ nhất. Tâm chúng ta trưởng thành hơn là vì những điều đó.
Nhìn những đôi dép của các bé đã được xếp ngay ngắn, lòng tôi thấy vui vui. Mấy lần trước, khi các con vào nhà chơi, giầy dép tôi đều tự tay xếp lại. Lần này là các em tự bảo nhau xếp ngay ngắn và lại còn thích thú nữa là khác. Tôi đã khen các em biết làm việc nhỏ đó, vì việc này quá nhỏ mà ít ai để ý, trong đó có cả những người lớn như tôi.
Cầm chiếc dĩa, tôi lấy một miếng dứa trên bàn. Miếng dứa được để trong ngăn mát, lúc này ăn thật thích. Tôi thấy không thể thưởng thức được miếng dứa một cách ngon lành như thế nếu mình không ý thức được sự có mặt của nó. Khi tâm ta rong ruổi, khi tâm ta vướng bận vào quá khứ hay ngày mai thì lúc đó ta không thực sự có mặt trong hiện tại, mặc dù ta ngồi ở đó. Sẽ chỉ như một bóng ma, và miếng dứa cũng chỉ là một bóng ma.
Thực tập chánh niệm, đem tâm quay về với thân, từ những sự đơn giản nhất. Tôi vẫn thường để ý vào mỗi bước chân đi. Tôi vẫn thường để ý vào hơi thở, rồi nụ cười. Và có lẽ nó đã trở thành một thói quen mới như việc giữ thăng bằng xe. Thói quen tự nhiên này giúp tôi nhận diện ra những đám cỏ dại chưa được dọn trong tâm hồn, và thấy rằng cuộc sống này rất cần được HIỂU và THƯƠNG.
Khi tôi giận …
Cơ thể tôi nóng lên, cơ tim như thắt chặt lại, mặt tôi nóng ran. Tôi cảm giác hình như mình đang chìm trong cái nhìn hoang dại – bởi không gian mà tôi tri giác giờ chỉ toàn là sự oán ghét biểu hiện và rất ít sự dễ thương. Lúc ấy, có lẽ tôi không còn là tôi dễ thương nữa, có khi cũng chẳng khác loài Atula hung dữ.
Tôi quên đi bài học buông thư, tôi quên mình còn có một hơi thở để quay về. Lúc ấy, tôi thấy lẻ loi quá, không một ai bên cạnh để hát cho tôi nghe bài hát “thở vào, thở ra, là hoa tươi mát, là núi vững vàng…”, cũng chẳng ai xem tôi là bông hoa để biết rằng tôi đang cần được tưới tẩm. Thật sự tôi đã để cho cảm giác giận dữ chế ngự mình như thế. Ôn từng nói: “Khi con giận thì hãy nhớ đi thiền hành. Khi thở vào, con có thể bước ba bước, thở ra có thể bước ba hay bốn bước (tùy theo chiều dài hơi thở của con), ngay lúc đó con đã tạo ra năng lượng để chuyển hóa cơn giận một cách khéo léo nhất”. Thế mà sau vài ngày rời Dưỡng Chân Tuệ Uyển, tôi lại để cho cơn giận làm mình mất đi lý trí, mất đi oai nghi, mất đi sự dễ thương trong mắt của đứa em. Xin lỗi em rất nhiều.
Sư Ông từng dạy: “Hạnh phúc có nghĩa là ít đau khổ. Nếu không chuyển hóa được đau khổ thì không thể nào có hạnh phúc”. Khổ đau có thể hiểu là có quá nhiều sự giận. Có khi tôi thấy mình như một đứa trẻ, đứa trẻ này rất hay hờn giận lung tung, cũng có khi nó bị chứng tự kỷ ám thị nên sinh ra cái vỏ bọc không dám chia sẻ với ai hết lòng, ngoại trừ người nó tin tưởng lắm.
Nói đến cơn giận có nghĩa là nói đến sự mất chánh niệm. Nếu ngay lúc có một trạng thái sân phát khởi trong tâm, mình biết mình đã có sự sân hiển lộ. Người có trí sẽ tìm cách chế ngự, thì ngay lúc ấy có lẽ tâm hành không phải chịu sự chi phối quá nhiều của ngoại cảnh. Lúc giận, tôi chỉ nghĩ đến cơn giận, tôi thấy mình có đầy đủ cái lý để mình có quyền giận! Và ngược lại, người kia sai hết, hay ít nhất cũng sai hoặc cũng vô tâm, và chính suy tưởng ấy kéo tôi đi dài trong sự tức giận vô lý.
Dù có diễn giải thế nào thì sự sân giận cũng là vô nghĩa. Nó làm ảnh hưởng đến bản thân, lại làm cho bạn bè xung quanh khó chịu.
Giờ đây, khi đã ngồi lại lặng lẽ giữa không gian bao la, tôi biết chỉ khi lòng mình tràn đầy năng lượng yêu thương thì thân tâm mình thấy khỏe lắm. Mình tựa như bông hoa xinh tươi, mà bông hoa ấy lại vừa được tưới tẩm bởi giọt nước cam lộ và được tạo hóa thưởng cho một cơn gió ngọt ngào.
“Thở vào, tôi thấy gốc rễ của giận nơi tự ái và u mê
Thở ra, tôi cười với niềm tự ái và u mê của tôi”.
Giờ đây, khi đi, đứng, nằm, ngồi con nguyện sống chánh niệm, không để tâm lang thang đi về miền phương nào. Khi chén cơm trên tay, con nguyện lúc thọ thực hạnh phúc được chế tác, gửi đến mọi người thương bên con, để mọi người luôn hạnh phúc. Khi con đang tức giận, xin người thương của con quán tưởng con là hoa đang thiếu đi giọt nước, xin người đừng tưới tẩm thêm ánh nắng khổ đau, xin người hát con nghe bài ca về đất Mẹ – nhẹ nhàng và sâu lắng.

Tâm Hùng Lâm
Để gió cuốn đi
Không chỉ có vẻ đẹp về đêm, nếu chúng ta dậy sớm từ lúc mặt trời chưa mọc, từ lúc chị lao công chưa đẩy xe đi thu rác, từ lúc phố còn thưa người, từ lúc trên cầu có vài bóng người đẩy từng xe rau.v.v.. bạn sẽ thấy một ngày mới thật tinh khôi. Bạn sẽ thấy mình tươi mát khi được dang tay hít một vài hơi thở, được ngắm nhìn vẻ dịu dàng của thành phố lúc đó.
Gió sớm mai êm dịu và ngọt lành lắm. Trong tất cả chúng ta, có lẽ cũng đã từng được thưởng thức những cơn gió ấy. Nó đến và đi tự nhiên nên luôn cho chúng ta cảm giác sảng khoái và nạp thêm năng lượng cho một ngày mới.
Ngoài góc nhìn rất đẹp ở trên, còn có nhiều góc chụp khác trên con phố sớm mai. Nó nhỏ lắm, nhỏ đến mức nằm ngoài sự chú ý, chúng ta phải để ý mới thấy được. Như hôm vừa rồi, trong lúc thực tập thiền đi để chế tác phút giây thảnh thơi, có một chiếc lá khô như muốn theo đi cùng. Chiếc lá dường như cũng thích thú đặt những bước chân thảnh thơi lên đất, những bước chân vô ưu, nhẹ nhàng xoa dịu cho đất Mẹ, người đã cho chúng hình hài chiếc lá này. Vì mới thực tập, nên chiếc lá khô tạo ra tiếng loẹt quẹt khi bước, khi chạy trên mặt đất. Bước chân ấy thật dễ thương và nghe thật vui tai.
Không biết chiếc lá khô có thấy gió nâng mỗi bước chân của mình không? Có thể lá biết, có thể lá cũng không biết nhưng khoảnh khắc nhìn chiếc lá thật thích. Rồi mấy hôm thôi, lá lại hòa mình về lòng đất để trở lại với hình hài một chiếc lá non mới.
Trên con phố còn im lìm, chợt có tiếng xe gầm lên lao vun vút trong vội vã. Vẫn giữ những bước chân và hơi thở, một nụ cười như thế. Từng đợt gió lại nâng mát đôi bàn chân.

Bản hòa ca sớm mai
Nếu bạn quên mật khẩu, chúng tôi có thể tạo mật khẩu mới cho bạn.
Ai là con của Bụt
Ngày 4/4/2015, tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan đã diễn ra lễ xuất gia gieo duyên lần đầu tiên cho hơn 30 em nhỏ. Các em sẽ ở lại tu viện và thực tập như một vị xuất gia trong ba tuần (từ ngày 28/3 đến ngày 19/4/2015. Dưới đây là bài chia sẻ về sự kiện đặc biệt này.

Trung tâm Làng Mai Thái Lan được mệnh danh là tu viện trẻ vì có rất nhiều người xuất gia trẻ với sự năng nổ, nhiệt tình và tâm huyết tu học. Các vị như những cái cây đang vào độ vươn cao, trổ nhánh, đơm hoa hay đang mọc lá xanh non bên cạnh bóng mát của các cây cổ thụ. Đây là một tu viện trẻ nhất của Làng Mai. Vậy mà độ trẻ trung không dừng ở đó, mà còn đang được trẻ hóa cấp kỳ, bởi các sư em trong chương trình “Những vị Bụt nhỏ” (Baby Buddhas).
Hai ba ngày nay, tu viện có hơn ba mươi bóng áo nâu lon ton chạy. Đó là những cô bé, cậu bé tuổi từ tám đến mười bốn xúng xính trong những bộ đồ vạt hò nâu. Có những cậu bé với ống quần phết đất, chốc chốc phải kéo quần lên, các sư cô thấy thương quá nên gọi lại để buộc ống quần cho em. Các em gái thì một số vừa đi vừa nắm hai ống quần, bởi vì quần áo đặt mua hơi dài so với chiều cao của các em, và các em cũng chưa quen bận đồ rộng rãi theo kiểu người tu. Có những chú bé chín tuổi mà bé xíu cứ như là năm tuổi vậy. Đây là những mầm non, rất non của Vườn Ươm Thái Lan đang được ấp ủ và chỉ vài ngày nữa thôi sẽ nẩy mầm.
Chưa khi nào tăng thân có số lượng lớn các em nhỏ xuất gia như vậy, dẫu chỉ là xuất gia gieo duyên trong ba tuần. Đây cũng là lần đầu tiên có lễ xuất gia gieo duyên trong tăng thân nên đại chúng ai cũng háo hức và vui lây. Tất cả các em đều là người Thái và sau ba tuần thì trở lại với cuộc sống bên ngoài cùng gia đình. Chúng con biết hạt giống tỉnh thức đang gieo và sẽ được ấp ủ nuôi dưỡng để lớn lên. Mai đây, biết đâu có vài hạt giống sẽ trở thành những bông hoa trong vườn hoa xuất sĩ, như những đóa hoa sen trong hồ sen tăng thân. Còn những hạt giống khác sẽ trở thành hoa hồng, hoa lan hay hoa cỏ lau bình dị khiêm tốn, nhưng tất cả đều làm đẹp cho cuộc đời.

Dẫu là hoa gì cũng là hoa, dẫu là xuất gia trong ba tuần hay trọn đời, dẫu là xuất sĩ hay cư sĩ thì đều mang trong lòng ước mơ sống cuộc đời lành, đẹp, bình an và hạnh phúc. Có em chia sẻ trong thư xin tham dự chương trình này rằng em muốn được lên thiên đường. Em thì nói muốn tu để tạo phước đức cho cha mẹ. Em thì xuất gia để cầu nguyện cho Sư Ông khỏe lại. Em thì nói rằng muốn được cạo đầu và bận quần áo nâu như quý thầy, quý sư cô. Có em muốn thực hiện mong ước của một sư cô là được thấy các em nhỏ người Thái xuất gia.
Nhiều lắm những chia sẻ khao khát sống cuộc sống tỉnh thức và bước đi trên con đường đẹp mà Bụt đã đi. Mỗi cô bé, chú bé là một Baby Buddha, nghĩa là một vị Bụt nhỏ, một người tiếp nối Bụt. Lý ra, giờ này, các em có thể ở nhà hay ở trường để vòi vĩnh với cha mẹ, hoặc nô đùa cùng chúng bạn. Nhưng các em lại chịu đến tu viện ở những ba tuần với những người lạ mà có em chưa từng tiếp xúc. Các em chịu bận đồ nâu đơn giản, không xem truyền hình, không chơi trò chơi điện tử, không ăn kem hay quà vặt.v.v… Các em cũng chịu cạo đầu – điều này hơi khó khăn một chút cho các em gái lúc ban đầu, nhất là những em có mái tóc dài. Người tu nữ chưa phải là hình ảnh quen thuộc của người Thái.
Thỉnh thoảng có những em trai nhỏ khóc vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ, anh chị. Hoặc có em khóc khi thử áo vì cho rằng áo rộng quá và nhất định không chịu mặc. Dù sư cô giải thích rằng đó là áo hậu bận với Y, và kiểu tay áo rộng như vậy. Em cho rằng áo gì mà kỳ quá! Nhưng rồi được dỗ dành thì cũng nguôi ngoai. Thật thương biết mấy và cũng khâm phục các em vì còn bé thế mà đã biết hướng đến con đường này. Con đường làm cho Bụt hiển lộ mỗi khi các em dừng lại nghe tiếng chuông, khi chắp tay quán nguyện cám ơn mọi người và mọi loài trước khi dùng cơm, hay khi thiền hành cùng đại chúng mỗi sáng mà không nói năng tíu tít hay đùa giỡn như thường lệ.
Nhưng đâu chỉ có các em là những vị Bụt nhỏ. Cha mẹ các em đang ở nhà cũng là những vị Bụt tương lai nếu ba mẹ cũng đang tập thở, tập đi trong chánh niệm để yểm trợ con mình. Và cha mẹ cũng đang tự mình đi trên con đường của sự tỉnh thức.
Và còn nữa, Bụt đang có mặt nơi các vị xuất sĩ chăm sóc các em trực tiếp hay gián tiếp. Bụt có mặt nơi từng bước chân chánh niệm, nơi từng hơi thở có ý thức.
Mỗi người đều đang là một Baby Buddha. Và Bụt có được tiếp nối đẹp đẽ và đầy đủ hay không là do lối sống tỉnh thức được hiển lộ nhiều hay ít trong mỗi chúng ta. Ai đã, đang và sẽ đi trên con đường tỉnh thức đều là con Bụt cả.
Một số hình ảnh về các em được xuất gia gieo duyên tại Trung tâm Làng Mai Thái Lan:

Các em chụp hình với Ôn Thủ tọa Tu viện Vườn Ươm Thái Lan



Xem thêm hình ảnh về lễ xuất gia gieo duyên tại Thái Lan:
https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=808179152584193&id=219206538148127

