Khơi nối truyền thống văn hóa dân tộc

Trích trong sách “Tương lai văn hóa Việt Nam – viết cho thằng Cu và con Hĩm” của Sư Ông Làng Mai.

 

Hồi ta trạc tuổi hai con, ta đã từng thấy rất bơ vơ. Ta không biết ta sẽ đi về đâu. Có một đêm nọ ta nằm mơ thấy mình đang nằm trong ngôi nhà thờ họ của chúng mình, và ta thấy trong lòng êm ả, lắng dịu. Ngôi nhà thờ họ đối với ta lúc đó như là một nơi che chở cho ta an toàn nhất. Lúc thức dậy, ta chợt thấy bơ vơ thêm lên. Thì ra trong giấc mơ, tiềm thức ta đã đưa ta trở về trốn tránh nơi truyền thống văn hóa dân tộc. Nhà thờ họ, cũng như bàn thờ tổ tiên là tượng trưng cho truyền thống đó. Trong ngôi nhà tổ phụ, và trong bất cứ ngôi nhà nào khác, bàn thờ tổ tiên được đặt ở vị trí trung ương và tôn quý nhất. Năm 1966, hồi các con còn mới được được chừng bốn năm tuổi, tại các thành phố Huế và Đà Nẵng, gia đình nào cũng mang bàn thờ tổ tiên ra đường để chặn cuộc tiến công của xe tăng và thiết giáp. Người ngoại quốc cứ ngỡ là các vị lãnh đạo tôn giáo xứ ta muốn sử dụng tôn giáo làm vũ khí chính trị, nhưng ta nghĩ khác. Ta nghĩ rằng đó là dân tộc ta đã muốn chống lại bạo lực bằng sức mạnh truyền thống của nền văn hóa dân tộc. Các con có thấy một cuộc bộc lộ tâm tư nào mà bi tráng như thế hay chưa?

Bàn thờ tổ tiên còn là biểu tượng rất quan trọng cho truyền thống dân tộc. Nhờ bàn thờ ấy mà chúng ta cảm thấy sự hiện diện của ông bà cha mẹ bên ta, nhất là vào những dịp Tết nhất và kỵ giỗ. Trong ngày kỵ giỗ, người gia trưởng trong khi khấn vái thực sự xúc tiếp với tổ tiên mình. Lấy cớ rằng sự thờ cúng tổ tiên là mê tín mà dẹp bỏ bàn thờ tổ tiên, ta thấy đó là một hành động phá hoại văn hóa rất nguy hại. Nếu bàn thờ tổ tiên mà bị dẹp bỏ thì ai trấn ngự trên bàn thờ tổ quốc? Và bàn thờ tổ quốc còn có nghĩa lý gì? Người mà không có linh hồn thì nước làm gì có?

 

 

Khơi Nối Được Chất Liệu Văn Hóa

Dân tộc ta ngày xưa có tục đốt vàng mã mà bây giờ ta gọi là một hủ tục. Ta chê đó là mê tín. Ta không tin rằng đốt áo quần tiền bạc bằng giấy thì thân nhân ta ở cõi âm có áo quần để mặc và tiền bạc để tiêu xài. Ta không thấy được rằng hành động đốt vàng mã biểu hiện lòng thương nhớ lo lắng của người còn sống đối với người đã khuất. Cái chất liệu văn hóa của sự đốt vàng mã là lòng nhớ thương và niềm chung thủy. Ta có thể bãi bỏ tục đốt vàng mã, lấy cớ rằng điều đó có hại cho nền kinh tế quốc gia, nhưng ta chỉ có thể và chỉ nên làm như thế sau khi đã tìm ra những hình thức sinh hoạt văn hoá khác thay thế cho việc đốt vàng mã. Nếu không thì ta đã vô tình dẹp bỏ một nếp sống tình cảm rất trung hậu và đẹp đẽ trong truyền thống văn hóa ta. Nói tới cái lợi và cái hại kinh tế thì không cùng. Chế tạo vũ khí và theo đuổi chiến tranh thì hại cho kinh tế vô cùng mà ta không hề nói tới. Ta có thể xuất tiền hàng triệu ra mua thức này thức khác, nhưng ta đâu có thể mua được lòng thương nhớ và nghĩa vẹn toàn bằng tiền bạc. Vậy thì tại sao ta nói đến cái hại kinh tế của sự đốt vàng mã. Pháo ta đốt ngày Tết cũng có hại kinh tế lắm chứ. Nhưng ta cứ đốt, bởi vì nó cho ta niềm vui và lòng hy vọng ở năm mới hạnh phúc và thịnh vượng hơn.

Cách đây hai chục năm, hồi các con còn trứng nước ta có viết một đoản văn tên là Bông Hồng Cài Áo về tình mẹ con. Từ ấy đến nay, năm nào giới trẻ xứ ta cũng tổ chức hội Bông Hồng Cài Áo. Đoản văn ấy đã cảm động được trái tim của tuổi trẻ, đã làm cho họ ý thức được sự quý giá của bà mẹ bên mình, đã làm cho bao nhiêu người được sung sướng, con cũng như mẹ. Tuy nó không phải là một cuốn kinh như kinh Vu Lan nhưng nó cũng có thể có một tác dụng tương tợ như tác dụng kinh Vu Lan. Tuy nó rất khác với sự đốt vàng mã, nó cũng nuôi dưỡng được lòng thương yêu như việc đốt vàng mã. Các con hãy nhìn bàn thờ tổ tiên, cây cau, cây nêu, đống rơm, miếng trầu v.v.., hãy lắng nghe những câu ca dao, những lời ru tiếng hát và những tiếng nói tiếng cười của người dân trong xóm v.v.., các con sẽ thấy được những gửi gắm âm thầm của truyền thống văn hóa dân tộc. Nhiệm vụ của các con là khơi nối cho được những giá trị của truyền thống văn hóa dân tộc để có thể làm giàu có thêm cho truyền thống ấy.

 

 

Tôi và Ông

Truyền thuyết một mẹ trăm con cho ta thấy tổ tiên của chúng ta từ ngày xưa đã quan niệm trăm họ như một nhà, và dân tộc ta là một đại gia đình. Ngôn ngữ của ta cũng bộc lộ ý hướng ấy. Tiếng “tôi” trong ngôn ngữ Việt Nam không phải là một tiếng tôi cộc lốc như trong các ngôn ngữ khác. Nói đúng hơn, trong ngôn ngữ ta không có những đại danh từ chỉ nhân vật như je và vous, như I và you, như ngộ và nị. Các con để ý nhận xét mà coi. Nếu đi ngoài đường mà gặp một người thì ta phải thiết lập một thứ liên hệ thân thuộc nào đó giữa ta và người đó trước khi ta có thể mở miệng nói chuyện. Nếu người ấy hơi lớn hơn ta hoặc bằng ta, ta sẽ gọi bằng Anh hoặc Chị và ta tự xưng em. Anh Hai, Chị Ba v.v.., đó là những tiếng ta quen dùng để gọi người trạc tuổi của anh chị ta. Nếu người ấy lớn tuổi hơn ta nhiều, ta gọi bằng Chú, bằng Bác, bằng Dì, bằng Cô hoặc bằng Ông, bằng Bà và ta tự xưng là Cháu. Dùng tiếng tôi thì có vẻ cộc lốc, lạt lẽo. Với lại tiếng “tôi” xưa kia vốn là tiếng khiêm nhường của người thần dân tự xưng với vua, của người đầy tớ tự xưng với chủ. Tôi có nghĩa là bầy tôi (votre sujet) của vua, hoặc tôi tớ (votre serviteur) của chủ. Tiếng “ông và tiếng “ mà ta thường tưởng là tương đương với đại danh từ vous hay you thật ra chỉ là tiếng tôn xưng người đối diện, cho họ đáng bực ông và bà của ta. Tất cả mọi xưng hô trong ngôn ngữ ta đều phải được đặt trong liên hệ gia tộc.

Câu “Cháu xin lỗi bà” ta thiết nghĩ không thể dịch ra Pháp văn là “je vous demande pardon” được. Cái tinh thần của ngữ pháp khiến ta có khuynh hướng muốn dịch: “la petite fille voudrait demander pardon à sa grande mère”. Nếu ta nghe câu tiếng Pháp này không êm tai, đó là tại vì hai văn hóa khác nhau, hai ngôn ngữ khác nhau. Một ngôn ngữ mà không có những đại danh từ nhân vật ngôi nhất và ngôi hai như thế kể cũng hiếm có trên thế giới con nhỉ. Trong những chi tiết như thế, giống nòi đã ký thác cho ta biết bao nhiều niềm ước vọng, biết bao điều mong mỏi. Ta hãy trở lại khai thác tiềm lực của chính ta ngay trong văn hóa ta trước đã.

 

Thầy kéo tôi trở về

Chân Định Nghiêm 

Không ai có thể ngờ rằng tôi đã sống ở Huế hơn một năm rồi. Chính tôi cũng không ngờ nổi. 

Từ khi Làng có thêm xóm Mới, tôi đã rời xóm Hạ để về xóm Mới cư trú hơn hai mươi năm rồi. Làng Mai có đến mười hai xóm cho các sư cô, nhưng tôi chưa từng đổi qua ở xóm khác quá ba tháng. Thầy tôi đã từng nói rằng tôi không đổi trung tâm vì hai lý do. Đó là vì tôi làm trụ trì và biết nói tiếng Pháp. 

Chúng tôi đến từ 42 nước, có 42 quốc tịch khác nhau. Các cư sĩ hay tìm đến các thầy, các sư cô nói cùng một ngôn ngữ với họ, những người mà họ cảm thấy gần gũi vì có thể hiểu rõ được văn hóa và những tâm tư của họ. Số lượng người Pháp về Làng tu học càng ngày lại càng đông, vì vậy các anh chị em tôi mà biết nói tiếng Pháp thì phải ở Làng Mai tại Pháp là lẽ đương nhiên. Và tôi rất hài lòng với những nhân duyên tôi có. 

Không những riêng cho bản thân tôi, tôi rất hài lòng được “an cư lập nghiệp” tại Làng Mai ở Pháp mà tôi cũng đinh ninh rằng đây là nơi mà thầy tôi sẽ sống đến trăm tuổi. Ngày mà Thầy quyết định về lại Huế để sống quãng đời còn lại, tôi hoảng hốt và lo lắng. 

Nhóm thị giả chúng tôi theo Thầy về lại chùa Tổ. Tôi vẫn chưa mở hết hành lý Thầy ra mà chỉ lấy một ít đồ đủ dùng cho một thời gian ngắn. Tôi vẫn hy vọng rằng Thầy sẽ ở đây vài ngày “cho đỡ nhớ” rồi trở về lại Thái Lan. Tôi vừa thưa sư anh Pháp Ấn tôi điều này thì sư anh nói ngay: “Sư em đừng suy nghĩ như vậy. Thầy muốn về đây sống luôn mà. Thầy thích gì là mình đều phải yểm trợ Thầy hết lòng”. 

Một câu nói thật ngắn gọn và đơn sơ thôi mà nó đã làm cho tôi bừng tỉnh. Xưa nay các anh em chúng tôi luôn nghe lời Thầy và yểm trợ thầy mình 200%, nhưng trong tâm trí tôi, tôi vẫn chưa chấp nhận rằng Thầy muốn về sống luôn tại Việt Nam. Chỉ khi nào chấp nhận được thì mới an trú được. Và chỉ khi nào tôi an trú thì tôi mới yểm trợ được Thầy tôi hết lòng được. 

 

 

Trước kia, tôi đã rất mừng vui khi Thầy tôi về lại Việt Nam lần đầu tiên sau 39 năm bị lưu vong. Tôi hạnh phúc cho Thầy nhiều lắm lắm lận. Tôi đã từng nghe Thầy kể nhiều lần rằng Thầy đã dự tính rời quê hương trong vòng ba tháng thôi. Nhưng trong chuyến đi qua Mỹ, ngay sau khi Thầy gửi đến thế giới Lời kêu gọi hòa bình, chính quyền Sài Gòn đã vô hiệu hóa hộ chiếu của Thầy và Thầy đã không được về nước nữa. Những năm đầu, có nhiều đêm trong mơ, Thầy đã thấy mình đang leo lên một ngọn đồi cỏ thật xanh, đang leo nửa chừng thì bị chướng ngại vật và không leo lên được nữa. Bừng tỉnh giấc, Thầy sực nhớ ra rằng mình đang bị lưu vong, đang xa những người mà mình thương quý nhất, đang bỏ lại sau lưng những công trình dang dở. Giấc mơ này cứ lặp đi lặp lại hoài. Cùng lúc đó, Sư cố ở chùa Tổ thỉnh thoảng cũng hay chống gậy đứng nhìn về hướng cổng tam quan mà hỏi thị giả (lúc bấy giờ là Sư thúc Chí Viên tôi): “Thầy về chưa?”. Lần cuối cùng Thầy đảnh lễ Sư cố trước khi lên đường đi Mỹ, Sư cố đã làm lễ đắc pháp cho Thầy, ban cho Thầy một bài kệ và muốn Thầy kế thế Sư cố để làm trụ trì của Tổ đình. Nhưng ngày Sư cố tịch, Thầy có về nước được đâu? Mãi cho đến gần ba mươi năm sau, khi tôi được xuất gia, Việt Nam vẫn chưa giao lưu nhiều với phương Tây. Thỉnh thoảng qua Sơn Cốc, chúng tôi được Thầy trân trọng gắp cho mỗi đứa một trái bùi kho, hay trao cho một cái bánh măng – món quà Thầy mới nhận được từ Việt Nam. Bất cứ một đồ vật gì hay một người nào mới đến từ Việt Nam, còn phảng phất hương thơm từ quê hương, Thầy đều thương quý đặc biệt. Lần đầu tiên được gặp lại một người học trò cũ từ trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, Thầy đã đứng phắt dậy, xoay mặt đi chỗ khác để giấu đi sự xúc động. Khi Thầy rời Việt Nam, người học trò cũ này còn là một sư cô trẻ, bấy giờ đã trở thành Sư bà. Thầy mời Sư bà ngồi xuống dùng cơm với Thầy, Thầy gắp thức ăn bỏ vào chén cho Sư bà, nhưng Sư bà cứ ngồi khóc thút thít. Nhóm các Thượng tọa, các Ni sư và các sư cô đến Làng đầu tiên từ Việt Nam đã được Thầy dẫn đi chơi núi tuyết Pyrénées vào mùa đông, rồi đi chơi biển Bordeaux vào mùa hè và tất cả chúng tôi cùng được đi chơi ké. Đi giảng dạy ở Ấn Độ hay ở Trung Quốc, Thầy hay dành thì giờ để ngồi chơi với các thầy, các sư cô trẻ du học bên đó, hay các Thượng tọa, Ni sư cùng các cư sĩ từ Việt Nam đã tìm cách qua đảnh lễ Thầy. Trong một chuyến hoằng pháp tại Trung Quốc vào năm 1999, Thầy chỉ dãy núi xa xa trước mặt và nói với các thị giả: “Này các con, phía bên kia núi là Việt Nam đó”. 

Nhớ vậy, chúng tôi hạnh phúc vô cùng khi Thầy được về lại thăm quê hương vào năm 2005. Về đến chùa Tổ, Thầy đã giữ lời hứa, đã làm “hướng dẫn viên du lịch”, đưa các đệ tử của Thầy đến từng ngõ ngách để giới thiệu và kể lại cho chúng tôi nghe những kỷ niệm thời Thầy còn làm điệu cách đây hơn sáu mươi năm. Chúng tôi đã chen lấn nhau để được đứng thật gần Thầy mà nghe, để không bỏ sót một chi tiết nào. Một số chúng tôi còn được “xé rào” theo Thầy, được đi thăm những nơi kỷ niệm đặc biệt nằm ngoài chương trình như núi Na, một vài ngôi chùa Huế, tiệm cơm chay Tín Nghĩa ở Sài Gòn,… Nhưng điều làm chúng tôi hạnh phúc nhất vẫn là thấy Thầy trao truyền từ trái tim cho đồng bào ba miền những hoa trái của sự hành trì sau sáu mươi ba năm tu tập, những pháp môn giúp chuyển hóa khổ đau và mang lại hạnh phúc cho cá nhân, cho gia đình và cho xã hội. Đó là ước nguyện của Thầy từ khi mới vào chùa. 

Chuyến về nước năm 2005 đã mang lại cho Thầy rất nhiều hạnh phúc, nhưng Thầy đã mất nhiều tháng ngày sau đó để hồi phục lại sức khỏe. Thầy đã từng quen với những chuyến đi dài để giảng dạy ở nhiều nước trong mấy chục năm qua, nhưng chưa bao giờ có một chuyến hoằng pháp nào làm Thầy mất sức như chuyến đó. Không những Thầy mất sức trong chuyến đi mà Thầy còn phải mất sức trong nhiều tháng trước chuyến đi nữa, vì những cuộc thương thuyết giằng co… Vì vậy mà sau đó, tôi không mong cho thầy tôi về nước nữa. 

Những năm đầu mới xuất gia, hình ảnh tôi có về gốc rễ tâm linh của mình là từ những mẩu chuyện Thầy kể về chùa Tổ, về Sư cố. Những hình ảnh đẹp như những bài thơ, hay những bức tranh vẽ. Đến năm 2000, Thầy lại cho một nhóm anh chị em chúng tôi về Việt Nam lần đầu tiên để được tiếp xúc với truyền thống và học hỏi. Trước khi lên đường, Thầy viết cho chúng tôi bốn câu thơ mà tôi vẫn còn dán trong cuốn nhật ký: 

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ truyền trao. 

Chuyến đi này đẹp như một giấc mơ. Về lại Pháp rồi mà ba chị em chúng tôi cứ nhớ nghĩ hoài về quê hương. Nhưng đến khi về lại Việt Nam theo Thầy năm 2005, tôi bắt đầu tiếp xúc thêm với bề mặt khác của thực tế. Bấy giờ, những bài thơ, những bức tranh vẽ trước kia bắt đầu bị nhấm nhem mực đen, làm cho tôi vỡ mộng và thất vọng vô cùng. Tôi trở lại Việt Nam với Thầy năm 2007 và 2008 trong tâm trạng: “Thầy đi thì mình phải đi theo thôi, làm được gì thì làm”. Cho đến khi sự kiện Bát Nhã xảy ra, ngoài sức tưởng tượng, tôi đã tin rằng vậy là xong, duyên thầy trò chúng tôi với Việt Nam đến đây là chấm dứt, và tôi không phải lo lắng về việc thầy tôi bị mất sức cho những chuyến về nước nữa. 

Đó là vì sao cách đây hơn một năm, khi Thầy quyết định trở về sống luôn ở Việt Nam, tôi hoảng hốt và lo lắng cho Thầy. Về đến ni xá Diệu Trạm, một buổi sáng vừa thức dậy, tôi lại nghe tiếng mưa rơi tầm tã liên tục từ mấy ngày qua, lòng tôi nặng trĩu và một tư tưởng hiện lên trong đầu: “Ôi, làm sao mình có thể sống ở đây với cái khí hậu này được?”. Nhìn lên đầu giường, một số đồ đạc của tôi mới đó mà đã mốc xanh lên rồi! 

Ấy vậy mà sau đó, câu nói ngắn gọn của sư anh tôi: “Sư em đừng suy nghĩ như vậy. Thầy muốn về đây sống luôn mà. Thầy thích gì là mình đều phải yểm trợ Thầy hết lòng” đã làm cho tôi hoàn toàn buông thả mọi sự chống cự còn lại để chấp nhận sự thật rõ ràng là Thầy mình muốn trở về sống tại Việt Nam. Tôi cảm thấy như cái nút thắt trong trái tim tôi được tháo tung. Đầu óc tôi rỗng rang, không còn tính toán và lo lắng. Tại sao tôi phải lo? Đã có Sư cố và chư Tổ lo cho thầy tôi rồi. Vài hôm sau trên con đường từ ni xá Diệu Trạm qua chùa Từ Hiếu, tôi mỉm cười ngạc nhiên khi nhận ra rằng mình đang tung tăng đi qua chùa Tổ dưới mưa, vừa đi vừa thưởng thức những giọt nước rơi trên áo mưa và đang nhúng cả bàn chân một cách thú vị vào vũng nước dọc đường. Tôi đang ở trong một tâm trạng hoàn toàn khác hẳn với tâm trạng cách đây vài ngày. Trời mưa càng dầm dề và khí hậu càng ẩm ướt thì mùa xuân lại càng tươi sáng. Tôi đã hiểu được với tất cả sự thích thú vì sao trong các bài ca và câu thơ, thi sĩ hay viết “đón xuân” thay vì “đón Tết”, điều mà tôi đã không thấy khi sống ở Sài Gòn khi nhỏ và ở hải ngoại khi lớn lên. Những cơn mưa dầm bất chợt ngưng rơi. Những đám mây được vén đi để cho những tia nắng ấm soi thẳng vào thành phố Huế và không khí xuân tuôn dậy: chợ hoa tràn ra dọc hai bên đường với bao nhiêu là những chậu mai, đào, cúc, lan,… đủ màu đủ sắc. Năm ngoái và năm nay, thầy trò chúng tôi đều háo hức đi xem chợ hoa. Khắp nơi rộn ràng quét dọn, trồng hoa, chưng hoa quả, gói bánh, nấu bánh, trang trí, tập văn nghệ,… Tôi tận hưởng không khí chuẩn bị đón Tết hết lòng. 

Nơi tôi tạm trú là ni xá Diệu Trạm, nằm trên một mảnh đất rộng bằng khu nhà ăn của xóm Thượng từ hành lang trước nhà Thạch Lang đến nhà trà. Tầng trệt ở tòa nhà chính là phòng ốc các sư cô, trên lầu là thiền đường. Ở tầng trệt của tòa nhà nhỏ hơn bên cạnh đó là nhà vệ sinh, nhà bếp và khu khất thực. Trên lầu có trai đường, nay đã trở thành phòng ốc cho các sư cô. Trước hai tòa nhà có một khoảng sân hẹp và dài, một phần sân được dùng làm nhà ăn ngoài trời với mái che mà các sư em tôi gọi là nhà rạp. Khu vực này cũng được dùng cho nhiều sinh hoạt khác như văn nghệ ngoài trời, pháp đàm, gói bánh, nấu bánh,… Ni xá rất xanh vì mỗi tấc đất đều được tận dụng tối đa. Ngoài những cây mít sai trái đã có sẵn, các sư em đã trồng đủ các loại cây, từ cây cau, cây ngô đồng, cây thông, cây tùng cho tới cây khế, bưởi, xoài, vả, chè, trúc, bồ kết, trầu bà,… 

Ni xá được trang điểm bốn mùa bởi đủ loài hoa trồng dưới đất, treo dọc mái hiên hay cắm trên cửa sổ. Nào là hoa sói, hoa mộc, hoa hồng, hoa cẩm chướng, hoa hoàng hậu, hoa sứ, hoa mân, hoa đồng tiền, hoa xương rồng, hoa lan, ngọc lan, mộc lan, lan đất, mai vàng, mai chiếu thủy, phượng vĩ, nguyệt quế, hải đường, bằng lăng, bạch môn, thạch thảo, dạ yến thảo, cho đến dạ ngọc minh châu, kể không hết. Đa số các sư em tôi nằm giường đôi và bàn học được kéo ra, xếp vào gọn gàng ngay trên giường. Giữa hai cái giường đôi có bắt hai thanh gỗ để treo áo dài. Một chiếc bàn trà thấp được đặt giữa căn phòng để các em có thể ngồi uống trà chung trên bồ đoàn. Không gian riêng của mỗi em nằm gọn lỏn trên chiếc giường của mình. Bước ra khỏi giường là lối đi trong phòng và không gian chung của các chị em cùng phòng. Và mỗi em đều rất sáng tạo với cách trang hoàng riêng cho không gian của mình. Thỉnh thoảng Thầy qua Diệu Trạm chơi và thăm phòng các sư con. 

Mỗi lần như vậy là cả ni xá lại tưng bừng và hạnh phúc cả ngày. 

Trong không gian chật hẹp này, tại đây không hề có khóa tu. Sự kiện lớn nhất trong năm là lễ Vu lan với một chương trình tu học kéo dài ba ngày. Các bậc phụ huynh của các sư em đến tham dự khá đông, từ khắp các miền trong nước. Các sư em rất hồ hởi phấn khởi, xúm xít chấp tác suốt cả tuần để chuẩn bị. Ba ngày thực tập đã rất nuôi dưỡng tình cha con, tình mẹ con và đã mang đến rất nhiều hạnh phúc. Nhưng than ôi, lễ Vu lan vừa chấm dứt thì một khu nhà vệ sinh cũng đóng cửa để được sửa chữa trong suốt một tuần sau đó. Sửa chữa xong, các sư em lại càng hạnh phúc hơn. 

Khi tôi mới về đây, ni xá còn có một vườn rau nho nhỏ, xinh xắn và rất ngăn nắp. Vườn rau xanh nằm về phía bên tay trái ngay đầu ngỏ làm cho bất cứ ai vừa bước vào khuôn viên ni xá cũng cảm thấy tươi mát và dễ chịu. Đó là một góc xanh tươi dành cho những ai thích làm việc với chân tay và thích tiếp xúc với đất Mẹ. Nhưng vài tháng sau đó, để chuẩn bị hậu sự cho Thầy, chính quyền đã đến đổ đất để biến mảnh vườn xanh này thành bãi đậu xe. Đại chúng Diệu Trạm ai cũng buồn, nhưng khi đổ đất xong rồi, không có xe để đậu, và chiều nào các sư em tôi cũng tung tăng ra chơi đá banh ngoài đó. 

Vào mùa hè nóng bức, đại chúng họp quyết định là tối nào nóng trên 30°C thì thiền đường sẽ được bật máy điều hòa cho các sư em nào muốn vào đó ngủ. Những đêm đầu, máy điều hòa vừa bật lên là các chị em tung tăng ôm mền chiếu lên thiền đường. Có khi còn đem sách để lên ngồi học trên đó nữa. Nhưng những đêm sau, thiền đường vắng dần, vì một số em không quen máy điều hòa và đã bị viêm họng. Chị em chúng tôi liền tìm ra một giải pháp mới: chỉ cần một cái mùng xếp kiểu Thái Lan là mình có thể ngủ ngoài trời một cách an toàn dọc hành lang ngoài thiền đường hay ở nhà trà. Thế là tối nào chúng tôi cũng tung tăng với cái mùng xếp, đi kiếm một chỗ mát nhất cho mình. Có một đêm mát quá, chị em chúng tôi ngủ thật say, ăn trộm đột nhập vào ni xá mà cũng chẳng ai hay biết. Và hình như ăn trộm cũng không làm ăn gì được vì không có lối đi! 

 

 

Từ khi Thầy về, cánh cổng giữa Diệu Trạm và chùa Từ Hiếu đã được mở khóa nên đại chúng có thêm không gian để đi thiền hành qua hồ Sao Hôm đến hồ bán nguyệt. Chánh điện chùa Từ Hiếu đã bắt đầu được trùng tu sau Tết năm ngoái. Khi chánh điện cũ bị đập xuống, trong không khí có nhiều bụi và các chị em tôi phải thỉnh Thầy đi biển vài ngày. Chỉ cần lái xe nửa giờ là đến biển, vì vậy thầy trò chúng tôi đi biển cũng được năm lần rồi. Có một lần, Thầy đã muốn các thị giả đưa Thầy ra tắm biển. Thầy thích nước ấm và sóng vỗ quá, Thầy muốn đi ra xa hơn nữa, rồi lại xa hơn nữa. Lại có một lần ở núi, Thầy nằm trên võng ngắm núi cả ngày, chiều tối rồi mà Thầy cũng không chịu vào nhà. 

Nhờ chấp nhận mà tôi an trú được. Và nhờ an trú mà tôi sống vui và tận hưởng được năng lượng của chư Tổ, tận hưởng được những gì đẹp xung quanh tôi. Nhưng thỉnh thoảng, tôi cũng nhớ xóm Mới, nhất là khi nhận được một món quà từ Pháp, như một hộp sô-cô-la Mme Guinguet chẳng hạn. Mở hộp quà ra là tôi ngửi thấy hương vị của cả mùa đông xứ Pháp, mùa của lễ lược. Tôi không biết khi nhận được hủ bùi kho, Thầy có nhớ chùa Tổ như khi tôi nhận được hộp sô-cô-la và nhớ xóm Mới không. 

Những lúc như vậy, tôi phải thực tập an trú trong giây phút hiện tại để không tiếc thương hay buồn khổ, mà trái lại, để cảm thấy vui vui và hạnh phúc vì nhớ rằng mình còn có một quê hương ấm áp đâu đó trên quả địa cầu này. Có phải là tôi đang đi qua những gì mà Thầy đã từng đi qua không? Thầy đã bị kẹt lại ở hải ngoại một mình như một tế bào bị văng ra khỏi cơ thể trong khi tôi thì đang có Thầy, có các sư chị, sư em, cả một đại chúng dễ thương bên cạnh. Thầy bị kẹt lại ở một đất nước mà ngôn ngữ, thức ăn, tập quán, văn hóa, khí hậu, tất cả đều khác lạ. Hộ chiếu của Thầy đã bị vô hiệu hóa năm 1966, nhưng Thầy vẫn còn suy nghĩ phương cách về lại nước cho đến năm 1968, khi Thầy bay đến Hong Kong. Chỉ sau khi đã hiểu rõ rằng các vị Tôn đức và các học trò của Thầy không muốn Thầy về nước mà chỉ muốn Thầy tiếp tục ở hải ngoại để vận động cho hòa bình, Thầy mới chấp nhận và quyết định bay về Pháp để an trú bên Tây phương. Chắc hẳn giây phút Thầy làm quyết định này là giây phút mà từ đó, để có thể sống còn, Thầy đã thực tập một cách ráo riết an trú bây giờ và ở đây. Và sự thực tập này đã trở thành trái tim của những pháp môn Làng Mai. 

Tuy rằng tôi chỉ mới đi qua một phần triệu của những gì thầy tôi đã đi qua, tôi vẫn cảm là tôi hiểu được Thầy thêm một chút. 

Tại Diệu Trạm mỗi ngày, hai sư em được luân phiên làm đệ nhị thân theo tôi qua thất Thầy để làm thị giả vòng ngoài và nhất là, để được đi thiền hành và được ăn cơm với Thầy. Trong số các em, có một vị ít có cơ hội được gần Thầy từ khi xuất gia. Và nhờ Thầy về đây, sư em được thường xuyên gặp Thầy. Mỗi khi khỏe là Thầy đều đi thăm liêu Sư cố và nhiều lần sư em được đi theo. Vào trong liêu, với ánh mắt rất sáng và nét mặt rất tươi, Thầy luôn cung kính chắp tay xá hình Sư cố, bức chân dung đắp bằng lụa nổi mà Thầy đã cúng dường Sư cố năm 1955, nhân dịp lần đầu tiên Thầy về thăm Sư cố từ Sài Gòn. Rồi trăm lần như một, Thầy quán sát từng đồ vật trong liêu với tất cả sự chăm chú và kính cẩn. Rồi Thầy đưa tay sờ nhẹ vào các đồ vật trong liêu một cách trân quý. Sư cố là người đã luôn săn sóc, nâng đỡ và tin tưởng Thầy. Khi chánh điện và liêu Sư cố được trùng tu, Thầy không đi thăm liêu Sư cố được nữa thì Thầy lại tiếp tục đi thăm công trường trùng tu. Được gần Thầy trong im lặng và được chăm sóc chỗ ở của Thầy, tình thầy trò lớn lên trong trái tim sư em và tự nhiên sư em cởi mở ra, tươi vui và mạnh khỏe hơn. Các sư em khác cũng rất hạnh phúc và trông chờ đến phiên mình để được qua ở cả ngày nơi thất Thầy. Vậy mà có một hôm, một danh sách gồm mười sư em sẽ đổi trung tâm qua Làng Mai Thái Lan được công bố, các sư em buồn quá, có em khóc! Thế là đại chúng đành phải quyết định hủy bỏ chuyến đi để các em được ở lại, gần Thầy. Nhưng sau đó vì không còn chỗ cho các sư em mới và các sư chị lớn từ các trung tâm khác trở về, các sư em vẫn phải chuyển xóm như thường, chỉ trễ hơn được nửa năm. 

Nhờ được tiếp xúc với các sư em đệ nhị thân qua thất Thầy mỗi ngày, tôi đã làm quen và nhớ được tên của tất cả các sư em khá nhanh. Thêm vào đó, tôi nhận chăm sóc hai lớp học mỗi tuần và tôi rất hạnh phúc khi được ngồi chung với các em. Các sư em ham học lắm! Chỉ mới có hai tháng sau đó thôi mà tôi đã cảm thấy rất gần gũi và gắn bó với đại chúng Diệu Trạm rồi. Tôi còn suy nghĩ rằng sau này khi trở lại với xóm Mới bên Pháp, chắc tôi sẽ xin đại chúng cho phép tôi trở lại Diệu Trạm mỗi năm ba tháng. Lần đầu tiên tôi cảm nhận được một điều: nơi mà làm cho mình thật sự muốn trở lại là nơi mình thương chứ không hẳn là nơi mình sống sung sướng và tiện nghi. Nơi tôi thương là Diệu Trạm. Các sư em ở đây cái gì cũng cười được, hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Trong khi đó, nơi thầy tôi thương là một đất nước bao phủ trong lửa đạn. Trong số những người mà Thầy thương, người thì bị ám sát bên bờ sông, người thì tự thiêu, người thì bị mất tích, cho đến người thì bị chết vì tai nạn xe cộ,… Tình thương của Thầy da diết và rộng lớn. 

Tuy rằng tình thương của tôi chắc chắn chỉ nhỏ bằng một phần triệu tình thương của Thầy, tôi vẫn cảm là tôi hiểu được Thầy thêm một chút. 

Đầu tháng 11 vừa rồi, khi Thầy tôi quyết định về lại Làng Mai Thái Lan để khám sức khỏe tổng quát, đi theo Thầy, tôi được sống lại trong bầu không khí an toàn và tiện nghi. Thầy tôi được bao quanh bởi các bác sĩ và y tá, những đệ tử của Thầy. Từ thất của Thầy nhìn ra là dãy núi Khao Yai và không gian bao la. Khí hậu khô ráo và nắng ấm, dù cho nhiệt độ có xuống thật thấp vào đêm. Mỗi sáng, thị giả chỉ cần vén màn lên là Thầy có thể tắm nắng ngay trên giường ngủ. Mỗi ngày, ngoài hai thị giả ở bên Thầy còn có các thầy và các sư chú khác thường xuyên xin được vào gần Thầy để hưởng năng lượng bình an. Nhiều sư cô cũng đến thất Thầy mỗi ngày với niềm hy vọng được đẩy xe hầu Thầy đi dạo. Thầy đi đến đâu là nơi đó lại tấp nập và vui tươi đến đó. 

Khi còn ở Huế cũng vậy. Vào mùa mưa đâu bao giờ có khách du lịch. Ấy vậy mà khi có mặt Thầy tại Huế, các chú tài xế taxi chạy cả ngày. Các nhà khách luôn đầy người, không những đầy người Việt mà còn đầy người ngoại quốc nữa. Họ thường ngồi canh ở tháp chuông để mỗi khi Thầy đi thiền hành, họ được đi theo Thầy. Có những người canh năm, sáu ngày mà cũng vẫn không nản lòng. Họ đến từ miền Bắc, miền Nam, từ các nước Đông Nam Á, từ châu Âu hoặc châu Mỹ. Các ngày quán niệm tại Diệu Trạm cũng đông hơn. Có khi đại chúng được đi thiền hành cùng Thầy quanh hồ bán nguyệt. Ông Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam cùng đoàn Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ, cũng như một số lãnh đạo của Chính phủ Việt Nam đã đến thăm Thầy và con đường trước chùa đã được chính quyền địa phương cho tráng nhựa rất đẹp và êm. 

Về lại Thái, tôi tận hưởng từng giây phút mỗi ngày. Cách đây hơn một năm, đây là điều tôi mong muốn mà, mong muốn Thầy về lại đây. Tôi tận hưởng bầu không khí an toàn và tiện nghi. Nhưng mỗi ngày tôi đều nhớ đến các em ở Diệu Trạm. Trên con đường đất từ Diệu Trạm đến tháp chuông Từ Hiếu, trước kia nhìn lên thấy thất Thầy lúc nào cũng hoa lá xanh tươi, đèn đuốc sáng trưng, ấm cúng, đông các thị giả qua lại. Giờ đây tối đến, nhìn lên lại thấy vắng hoe. Các sư em nhắn tin cho tôi rằng không khí ở Diệu Trạm trầm xuống, ai cũng nhớ Thầy. Để làm cho không khí tươi vui lên, các sư chị lớn dẫn các sư em qua thất Thầy để dọn dẹp, trang hoàng, trưng bày triển lãm sách Thầy trong nhà kính thật đẹp. Các sư chị lớn còn tổ chức đốt lửa, đem máy chiếu xuống nhà rạp cho các sư em xem bóng đá giữa hai đội Việt Nam và Thái Lan nữa. Các sư anh thì kêu thợ đến sơn tường ngoài thất Thầy, sửa tường bên trong và xây thêm nhà vệ sinh phía sau. 

Thầy ở lại Thái năm tuần. Mỗi khi có ai từ Từ Hiếu hay Diệu Trạm sang Thái, tôi lại nhờ đem qua cho Thầy thêm cái này, cái kia. Và mỗi lần các sư em Diệu Trạm thấy ai đóng gói đồ đem qua cho Thầy, các em đều rất buồn và cứ hỏi: “Sao lại gửi đồ tiếp nữa à? Sao Thầy chưa về cho rồi mà còn gửi đồ qua đó nữa?”. 

Ngày Thầy quyết định trở về lại chùa Tổ, tôi hăng hái đi làm hành lý với một tâm trạng hoàn toàn khác hẳn với giây phút cách đó hơn một năm. Tôi hạnh phúc ở Thái mà tôi cũng hạnh phúc được trở về. 

Không những Thầy đã trở về mà Thầy còn kéo tôi trở về theo. Thầy đã bắt đầu làm công việc này từ khi tôi mới về Làng xuất gia. Để bắt đầu, Thầy đã cho tôi tiếp xúc với những gì đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Thầy đã dạy tôi văn hóa Việt Nam qua Phật pháp. Sau đó, không cần dùng lời mà Thầy đã kéo tôi trở về để học chấp nhận và thương yêu. Được trở về, tôi nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn. Tôi đã thôi làm thân cùng tử để trở về với Sư cố, với chư Tổ. 

 

Bình minh vừa dậy tinh khôi

Chân Trời Ruộng Pháp 

Sư chú Trời Ruộng Pháp người Bồ Đào Nha, xuất gia trong gia đình Cây Bạch Quả vào mùa thu năm 2019 tại Làng Mai, Pháp. Sư chú đang sống và tu tập hết lòng tại xóm Thượng. Dưới đây là những chia sẻ của sư chú về hành trình đến với sự chuyển hóa và trị liệu của mình. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh. 

Để có thể viết về những gì con đã đi qua và điều gì đã đưa con đến với con đường xuất gia, con phải nhìn sâu vào những ký ức rất khó đối diện. Trên thực tế, vẫn còn có rất nhiều điều chưa rõ ràng trong con. Cho dù giờ đây tâm con đã rỗng rang và ổn định hơn nhờ thiền tập, con vẫn thấy khó mà hiểu được tâm mình một cách rốt ráo. Có lẽ con không phải là người duy nhất như vậy. Dù sao đi nữa, con đã có thể bắt đầu hiểu được gốc rễ những khổ đau của mình. Những ký ức trước giờ vẫn bị chôn vùi, vì hậu quả của những chấn thương tâm lý trong quá khứ, giờ đây đã hiển hiện rõ ràng hơn. 

Con nhớ là con đã có cảm giác sợ hãi và không thể kết nối với thế giới bên ngoài. Có một khoảng trống trong lòng mà con không thể diễn đạt và cũng không hiểu được. 

Nhìn lại tuổi thơ và thời niên thiếu của mình là một thử thách lớn đối với con, vì phần lớn những ký ức đó đã bị chôn vùi bởi nỗi đau của việc bị ức hiếp và mất mát người thân. Con thấy nỗi sợ hãi, bất an và trống vắng mà con thường cảm nhận trong gần suốt cuộc đời mình đã hình thành do rất nhiều nhân duyên xa gần, từ ông bà tổ tiên cũng như từ những gì đã đi qua trong cuộc đời hiện tại của con. Thế nhưng khi không có đủ sự sáng tỏ, con không thể chấp nhận chúng như là một phần của mình. Do vậy, gần như suốt cuộc đời, con đã chống cự hoặc trốn chạy chính tâm mình. Khổ đau đã trở thành kẻ thù lớn nhất của con, tàn phá tâm con. 

Con đã lớn lên với tinh thần bất ổn như thế. Đến năm mười chín tuổi, ba con mất vì bệnh ung thư phổi. Không lâu sau đó, một người bạn thân của con cũng qua đời vì tai nạn xe mô tô. Những mất mát ấy đã làm cho tinh thần của con sa sút nghiêm trọng. Con đã cố gắng thật vất vả trong rất nhiều năm để thoát khỏi tình trạng ấy mà không hiệu quả. Các bác sĩ đã nhiều lần chẩn bệnh và con điều trị hết theo đơn thuốc này tới đơn thuốc khác mà không có kết quả. Trong nhiều năm, con tự dùng thuốc theo ý mình. Không gì giúp được con hết. Ngay cả khi con tìm ra được một con đường tâm linh, con cũng không hoàn toàn đi ra khỏi sự tối tăm của tâm hồn. Con cảm thấy mình đang xoay vòng trong một thế giới bệnh hoạn nội tâm lẫn ngoại tại. Và con không đủ sức để dừng lại, quay đầu để thấy phía sau mình chính là bờ. Con thấy hoàn toàn bất lực và bị nhấn chìm trong sự đau khổ của chính mình và của thế giới xung quanh. 

Sự đau khổ ấy không chỉ là sự đau khổ của con người mà còn là sự đau khổ của muôn loài. Tám năm trước, con quyết định hoàn toàn ăn chay trường, không sử dụng các sản phẩm từ sữa và trứng, vì con đã thức tỉnh trước những gì con người đã làm đối với động vật. Cũng như chúng ta, loài vật cũng muốn được hạnh phúc và tự do. Con đã trở thành một người hoạt động cho nhân quyền và bênh vực quyền lợi của động vật. Con không thể làm ngơ trước những gì chúng ta đã và đang làm: bóc lột, hành hạ và giết chóc các loài vì sở thích và tiện nghi. Thời gian trôi qua, không biết cách chăm sóc những khổ đau vô hạn bên trong và bên ngoài mình, con đã hoàn toàn gục ngã, không còn thiết sống nữa và đã gần như đánh mất cả mạng sống của mình. 

Con thấy mình thật may mắn vẫn còn sống sau cơn hôn mê. Mặc dù gia đình và người thân của con đã vô cùng đau khổ khi con muốn lấy đi mạng sống của mình, nhưng con có thể thấy là họ sẽ còn đau khổ hơn nhiều nếu con mất đi. Sự thật là con đã không chết trong ngày hôm ấy về mặt vật lý, nhưng có một cái gì đó xảy ra sâu thẳm bên trong làm con cảm thấy mình như đã chết và được sinh trở lại. 

Con đã lập gia đình trong hơn mười năm với một người rất tuyệt vời. Cô ấy giống như một vị Bồ tát, dạy cho con biết ý nghĩa thật sự của lòng từ bi. Thế nhưng cô ấy lại là người bị con gây ra nhiều đau khổ nhất. Và cũng chính cô ấy là người thấy được, ngay cả trong những giây phút đen tối nhất, con đường mà con sẽ đi là con đường xuất gia. Cô ấy đã nhìn ra điều này rất lâu trước khi chính bản thân con nhận ra nó. 

Tình thương là điều đã mang con đến với Làng Mai – đó là tình thương không điều kiện của gia đình và của người bạn hôn phối của con. Sự tiếp xúc sâu sắc với tình thương ấy khiến con muốn học cách để chuyển hóa tự thân và giúp người khác chuyển hóa. Con không muốn tàn hại thêm nữa. Con đã thấy con đường để thoát ra. 

 

 

Ngày hôm nay con đã là một sư chú trong truyền thống Làng Mai. Vợ cũ của con, người bạn hôn phối mới của cô ấy và mẹ con đã đến dự buổi lễ xuất gia. Đó là một ngày không thể nào quên đối với con. Con đã nhận được rất nhiều năng lượng của thương yêu và hỗ trợ từ đại chúng và gia đình. Thay vì cảm thấy mất đi một người thân, bây giờ họ có cả một gia đình lớn. 

Con đã có thể làm mới lại thâm tình với ba người ấy. Thấy được sự thay đổi và khả năng chuyển hóa khổ đau, con và gia đình bắt đầu liên hệ với nhau một cách sâu sắc hơn. Tình thương dành cho nhau thật hơn và đẹp hơn bao giờ hết. Quá khứ đã thật sự được chuyển hóa. 

Ước nguyện của con khi trở thành một người tu là khả năng tỉnh thức trước những gì sâu xa nhất, những góc cạnh tối tăm nhất của tâm mình để con có thể thấy khổ đau và gốc rễ của khổ đau một cách thật rõ ràng. Nhờ đó con có thể chăm sóc và nhổ bật những gốc rễ ấy với tâm từ bi. Chỉ khi nào con có thể chuyển hóa tự thân một cách sâu sắc con mới có thể giúp cho những loài khác được. 

Trong một thế giới đầy sợ hãi, tuyệt vọng, hận thù, tham đắm, trầm cảm và chết chóc, điều hay nhất mà con có thể làm là học cách dừng lại, thở và ôm ấp những gì đang diễn ra, đang có mặt. Như Thầy đã dạy: Dừng lại chính là một hành động mang tính cách mạng, và biết cách khổ thì mình sẽ khổ ít hơn. Chế tác năng lượng của chánh niệm, định và tuệ, con bắt đầu biết trân quý sự sống một cách sâu sắc hơn. Cuối cùng, con đã nhận ra rằng sự sống đích thực là một phép lạ, tràn đầy những điều mầu nhiệm. Vâng, dĩ nhiên là những nỗi khổ niềm đau trên đời này là vô tận nhưng những nhiệm mầu và cái đẹp cũng vô tận. 

Là người xuất sĩ, con học thay đổi cách suy nghĩ của mình để có thể chế tác năng lượng của niềm vui và hạnh phúc bất cứ lúc nào. Chỉ bằng sự có mặt và an trú một cách hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây, chúng ta có thể thật sự thay đổi thế giới. Làm thế nào ta có thể thay đổi được bất cứ điều gì nếu như quá nhiều những cái ta muốn tiêu trừ vẫn còn đang bám quá sâu trong chính tự thân ta? Chúng ta cần phải bắt đầu từ chính bản thân mình. Không có một thế giới riêng biệt ở bên ngoài ta. Ta chính là thế giới. 

Con là một sư chú rất nhỏ và con đường của con còn rất dài ở phía trước. Những hạt giống của sợ hãi, lo lắng, trầm cảm và ân hận còn nhiều trong con. Nhưng bên cạnh đó, con cũng đã gieo trồng tưới tẩm thêm hạt giống của niềm vui, hạnh phúc, thương yêu, từ bi, tin cậy và vững chãi. Trong khi những hạt giống tốt này càng lúc càng lớn lên nhờ sự thực tập thì những hạt giống kia dần dần được lắng xuống. 

Có thể phải qua nhiều kiếp con mới hoàn toàn được giải thoát khỏi những phiền não của mình. Nhưng ở đây, ngay lúc này, khi đang viết xuống những dòng chữ này, con cảm thấy mình được ôm ấp, bao bọc bởi một sự tĩnh lặng thâm sâu và vô tận. Con thấy thật khỏe nhẹ. Lòng biết ơn vì còn được sống trong giây phút này đang tràn ngập trong con. Con nhận ra rằng trong khi tiếp xúc với khổ đau, ta vẫn có thể chạm được hạnh phúc, đây là điều mà ta có thể làm được. Ta chỉ cần thức tỉnh và trở về. Thức tỉnh là ra khỏi giấc mơ mà mình đã ở trong đó gần như suốt cả cuộc đời. Trở về là đem tâm về với thân. Khi có thể làm điều ấy, ta sẽ thấy mình đang ở trong giây phút hiện tại, giây phút duy nhất mà chúng ta có thể thực sự trải nghiệm sự sống. 

 

 

Hương vườn

Chân Bảo Nghiêm 

Sáng nay em ra vườn

Em thấy một con sâu 

Sâu nằm trên cành lá

Lá xanh sâu cũng xanh 

Sáng nay em ra vườn 

Trông thấy một cành hoa 

Hoa là vị Bồ tát 

Tươi cười trong nắng xuân 

Sáng nay em ra vườn

Vườn em đầy hương thơm  

Hương thơm mùi an lạc 

Hương là hương tình thương 

Tay cầm

Chân Bội Nghiêm 

Hãy dành chút thời gian để nhìn kỹ vào bàn tay, để ý từng chi tiết như lần đầu tiên bạn nhìn ngắm một báu vật. Đôi bàn tay đã song hành cùng tôi 35 năm, nhưng trước đây tôi xem thường và thấy không có gì đặc biệt để cần phải chăm sóc hay biết ơn. Chỉ vài năm gần đây tôi mới nhận ra sự nhiệm mầu, bàn tay giúp trị liệu và làm vơi đi những nỗi đau trong lòng. Đôi bàn tay có mặt để bảo vệ và hiến tặng bởi vì “bàn tay cũng là hoa”. Bàn tay nhắc nhở tôi hãy trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì đẹp, thiện, lành và bất diệt. 

Đôi khi tôi hình dung hình ảnh lần đầu tiên ba mẹ để ngón tay trỏ vào bàn tay của tôi khi tôi chào đời được vài ngày. Tôi nắm chặt ngón tay đó để cảm nhận được tình thương. Rồi ngày đầu tiên cầm bút để tập viết những chữ cái, thật khó khăn và đầy thử thách. Đến ngày tôi phải tập đi nhiều nơi một mình, không được cầm tay của ba mẹ hay chị, nỗi sợ hãi và lo lắng khởi lên vì không biết phía trước sẽ có những khó khăn gì. 

Một lần trong lúc nghe pháp thoại, hai tay tôi nắm lại với nhau và đột nhiên một nguồn năng lượng chạy từ đỉnh đầu xuống đến gót chân. Tôi rất ngạc nhiên với sự lạ thường này. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng trong đời không phải lúc nào cũng có người bên cạnh để mình nắm tay. Nhưng hai bàn tay của mình vẫn luôn có mặt ở đó thì tại sao mình lại không để hai bàn tay tự nắm lấy nhau để cảm được tình thương, bình an và sự che chở? Tại sao phải đi tìm bàn tay của một đối tượng nào khác ngoài mình? Từ đó tôi thường xuyên làm công việc “tay nắm tay” này. 

Trong một ngày, đôi bàn tay tiếp xúc trực tiếp với biết bao vật dụng nên chúng ta có thật nhiều cơ hội để nếm được hạnh phúc. Xả thọ là một cảm thọ không vui, không buồn, và tần suất có mặt nhiều hơn cảm thọ dễ chịu hay khó chịu. Quá trình của sự tu tập là tìm cách để chuyển hoá xả thọ thành lạc thọ. Thật ra điều này không quá khó để thực hiện. Vào cuối năm 2017, tôi phát lời nguyện: “Trong năm 2018, mỗi khi bàn tay tiếp xúc với vật gì như ly trà, ngòi bút, vô lăng, áo ấm, hay khi cầm tay người khác, trong con sẽ khởi lên lòng biết ơn”. Lời phát nguyện đó đã giúp nuôi dưỡng niềm hạnh phúc mỗi ngày mỗi lớn trong tôi. Những lúc chánh niệm có mặt, cả người tôi nổi “da gà” vì niềm hạnh phúc quá lớn. 

Hãy tưởng tượng khi vào nhà vệ sinh mà không có cửa để đóng, không có chốt để khoá thì nỗi sợ hãi và lo lắng sẽ đi lên nhiều như thế nào. Hay như khi đang có một dĩa thức ăn rất đẹp và ngon nhưng lại không có muỗng, đũa, lúc đó phải làm sao? Vậy nên tôi đang trân quý tất cả những gì tôi cầm được trong tay, cũng không còn xem thường đôi bàn tay mình nữa. Có lần đi bộ và cầm tay mẹ, tôi thầm nghĩ đến những ngày mẹ làm việc vất vả ngoài ruộng đồng, nấu những bữa ăn, giặt áo cho các con, viết những bức thư hay tập cho tôi lái xe, trong tôi tràn đầy lòng biết ơn. 

Những vật đang nằm trong lòng bàn tay nhắc nhở tôi rằng tất cả những gì có mặt trên cuộc đời đều có ý nghĩa và mục đích, không có gì là vô dụng. Kim chỉ giúp khâu vá những chiếc áo rách, trái táo cho thêm dinh dưỡng, ly nước làm vơi đi cơn khát,… Thế thì tại sao đôi khi ta lại hành hạ mình bằng những suy nghĩ cực đoan như: “Sự có mặt của tôi không có ý nghĩa gì, chỉ gây thêm phiền toái! Tôi là người vô ích, vô dụng, vô tích sự”. Mọi vật hiện hữu đều có mục đích, huống gì một con người? Vì vậy, đừng la mắng chính mình, và cũng đừng thu nhận hay chấp nhận những lời la mắng tiêu cực như thế từ bất cứ ai. Bản thân tôi, mỗi khi nhìn hay nghĩ đến những người thân trong gia đình huyết thống và gia đình tâm linh, tôi đều nhận thấy tầm quan trọng của từng người. 

 

 

Có lần tôi nghe câu chuyện của một cô độ tuổi trung niên sống chung với chồng hơn 30 năm. Người chồng thiếu sự tôn trọng nên đã dùng bạo lực với vợ khiến nỗi đau trong cô rất lớn. Điểm đáng buồn ở đây không chỉ là người vợ chấp nhận bị bạo hành, mà người chồng xem chuyện đánh vợ không có gì là nghiêm trọng và không nhận ra rằng mình đang đánh mất hạnh phúc gia đình. Tôi có chia sẻ trong buổi pháp đàm với sự có mặt của cả hai vợ chồng cô rằng: “Khi các em nhỏ đến tu viện tu học, quý thầy và quý sư cô hướng dẫn các em hãy nâng ly nước lên bằng đôi bàn tay để thể hiện sự trân quý và tôn trọng. Ngay từ lúc nhỏ, chúng ta mời các em ý thức việc hiến tặng tình thương, sự tôn trọng và bất bạo động với những đồ vật để sau này các em không dùng hai bàn tay làm đau bất cứ ai”. Nhìn ánh mắt của chú, tôi cảm nhận có lẽ chú đã ngộ ra rằng chú cần thay đổi hành động của mình. 

Ngày tôi xuống tóc xuất gia, ba mẹ ở xa nên không đến tham dự được. Đó là ngày tôi được sinh ra trở lại và tôi rất mong muốn ba mẹ thấy được con gái út dưới hình tướng mới. Tôi tự nghĩ phải làm sao để cảm nhận sự có mặt của ba mẹ trong buổi lễ. Vậy là, trong khi từ chỗ ngồi đi lên để nhận giới, tôi chắp tay và bước từng bước bình an. Tôi nhìn vào hai bàn tay và thầm nói “Tay phải là mẹ, tay trái là ba.” Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự có mặt sâu sắc và vi diệu của ba mẹ khi nhìn vào đôi bàn tay của mình. Giờ đây, dù mẹ đã trở về với đất Mẹ và ba đang ở xa, nhưng điều đó không cản trở sự truyền thông giữa tôi và ba mẹ vì hai bàn tay của tôi vẫn còn nguyên vẹn thì có nghĩa ba mẹ vẫn đang hiện hữu. 

Trước đây tôi không có cảm xúc gì đặc biệt mỗi lần cầm một vật trong tay, nhưng sau này tôi không còn dại dột như thế nữa. Mỗi giây phút, mỗi lần bàn tay cầm hay chạm vào một vật gì thì đó là một cơ hội để tôi cảm nhận, cảm thông, cảm thấu, cảm kích, cảm mến và cảm động chứ không phải để vô cảm hay trầm cảm. 

Mộc Lan ngày 10.11.2019 

 

Còn thương cây táo trên đồi

Chân Chuẩn Nghiêm 

Mỗi lần đi ngang qua đồi táo của Học viện con đều dừng lại để nhìn thật kỹ. Bây giờ đang là mùa đông nên ai cũng có cơ hội nhìn thật rõ dáng hình của từng cây táo. Cây được trồng và lớn lên một cách tự nhiên mà sao có dáng bonsai thật đẹp? Cho dù cây không có một chiếc lá nào nhưng vẫn có một vẻ đẹp riêng. Đến khi xuân về, những cành cây khô ấy lại cho ra không biết bao nhiêu là những chiếc lá non xanh, sau đó là cho hoa, cho trái. Hoa táo đẹp lắm! Ở xóm Mới có cây táo cho hoa rất nhiều và con thường không bỏ lỡ cơ hội ngắm nhìn nó thật sâu, thật kỹ. 

Nụ hoa táo rất đẹp, chúm chím một màu hồng nhạt đầu nụ. Hoa táo phớt chút hồng nhạt trên đầu cánh, đầy đặn và thanh thoát. Hoa táo cũng lâu tàn nên mọi người có thêm nhiều thời gian chiêm ngưỡng. Thật không thể phân biệt được sự già trẻ nơi cây táo. Những cành cây thô cứng, xù xì, có vẻ già cỗi ấy lại tràn đầy sức sống khi mùa xuân về. Nhìn và nghĩ về cây táo, con học được bài học về vô thường rất rõ từ thiên nhiên. Nếu không có vô thường thì không thể có sự thay đổi mầu nhiệm ấy. Sau một vài tháng, cây táo ấy lại mang đầy quả. Những cành táo như gồng mình lên để nâng đỡ và nuôi nấng một đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn, để sau đó hiến tặng những gì tinh túy nhất của mình cho con người. 

Mấy hôm nay, giờ ăn sáng con đều khất thực thêm một hoặc hai miếng táo nhỏ để thưởng thức. Cầm miếng táo trên tay con lại nhớ tới những cây táo trên đồi. Táo cũng có nhiều loại. Khi thì con khất thực được những miếng rất ngọt, khi thì lại rất chua. Cũng có táo xanh, táo đỏ. Khi được miếng táo chua con cũng vẫn ăn rất ngon lành và nghĩ rằng chua cũng rất tốt cho cơ thể. Nếu mình cứ ưa ăn ngọt hoài thì đâu có tốt. Con thầm nghĩ, một người ghép cây giỏi cũng có thể ghép được một cây táo mà khi cho trái thì có cả trái chua và ngọt. Lâu dần, biết đâu cây táo ấy sẽ cho trái vị rất thanh, chua ngọt hài hòa. 

Con nghĩ đến tăng thân, nơi đang nuôi lớn con từng ngày, cũng giống như một cây táo đã được lai ghép. Con cứ tha hồ tận hưởng những trái táo, khi thì ngọt, khi thì không được ngọt lắm. Điều cơ bản là do mình thưởng thức trái táo ấy như thế nào thôi! 

Con qua Học viện đã được hơn bốn tháng, thời gian vừa đủ để con dần quen với đại chúng nơi đây. Chúng xuất sĩ ở đây thật ít. Bên quý thầy chỉ có chín vị, bên quý sư cô thì đông hơn, hai mươi mốt vị. Con số hai mươi mốt là đầu mùa an cư năm nay chứ trước đó thì ít hơn. Rất thương đại chúng Học viện nên bảy sư cô ở Làng đã sang yểm trợ. Từ ngày mới qua con đã thấy sự nỗ lực rất lớn của mỗi huynh đệ. Một người phải lo nhiều việc. Bốn ngày cuối tuần thì công việc nhiều hơn vì thiền 

sinh về tu học khá đông. Điều này cho con thấy là đạo Bụt đang dần đi sâu vào lòng người dân Đức. Chúng xuất sĩ rất được nước Đức yểm trợ. Con thấy con chỉ có lo một việc là tu và học cho tinh tấn mà thôi. 

Bên cạnh những công việc cần phải lo toan vẫn luôn có những câu chuyện vui và nuôi dưỡng con trong đời sống tu học hàng ngày. Con xin viết ra đây để tăng thân cùng vui với con và đại chúng Học viện. 

Niềm vui khi được thêm một tuổi 

Ở Học viện, thường thường, trong ngày xuất sĩ, buổi sáng, đại chúng được nghe pháp thoại Sư Ông, buổi chiều có sinh hoạt ngồi chơi chia sẻ (Be-in) hoặc pháp đàm hay đi bộ, tùy theo sự sắp xếp của ban chăm sóc. Trong ngày xuất sĩ 20 tháng 9, đại chúng được ngồi chơi với nhau vì thời gian qua anh chị em bận tổ chức nhiều khóa tu, rồi sau đó có đến mười ngày làm biếng. Buổi ngồi chơi có trà, bánh và hoa. Đại chúng không nhớ hôm ấy là sinh nhật gia đình xuất gia Cây Sen Trắng, nhưng sau đó thì con đã tự giới thiệu. Thế là con được chúc mừng. 

Tuy đại chúng ở nhà rất ít do có khóa tu bên ngoài, bên quý thầy được ba người, bên quý sư cô được tám người, cộng thêm thầy Thuận Đức (khách tăng) tổng cộng chỉ có 12 người nhưng buổi chia sẻ đã diễn ra thật sâu sắc, cảm động, và… quá giờ. Con nhận thấy rằng các anh chị em của con, những người còn rất trẻ nhưng ai cũng rất thương con đường xuất gia này. Ai cũng thương Thầy, thương tăng thân nên nguyện gánh vác thêm công việc. Sau khi ở nơi này được gần hai tháng thì con đã nhận ra rằng mình thật có lỗi với Thầy, với tăng thân khi đã không chọn nơi này. Nơi đây chỉ có bốn đội luân phiên nên nấu ăn rồi tiếp tục làm công việc khác vào ngày hôm sau thay vì được nghỉ ngơi. Vậy mà ai cũng hoan hỷ để làm. 

Sau buổi chia sẻ, chúng con đã chơi đá cầu với nhau trong tình huynh đệ. 

Chuyện cúng ngọ 

Hôm nay, đội con làm đội chuông nên con được đi cúng ngọ. Sau khi chuẩn bị cơm và nước để cúng Bụt, con đi từng bước thật chánh niệm về thiền đường Vững chãi (Solidity). Học viện có nhiều thiền đường và con đang từ từ nhớ tên các thiền đường để đi cho đúng. 

Xá Bụt, xá Tổ, đặt cơm và nước lên bàn thờ xong con thắp lên ba nén hương, thấy sao khói nhiều quá mặc dù cây hương nào cũng nhỏ xíu. Con sợ hệ thống phòng cháy chữa cháy bắt tín hiệu báo động, nên đi mở cửa. Con đứng ở cửa và cầm ba nén hương đó đưa ra ngoài, đợi cho bớt khói rồi mới dám vào cúng Bụt, nhưng khói chẳng bớt gì cả. Nhớ hôm tụng 14 Giới, sư em con dâng hương bình thường mà còi báo cháy đâu có hú, sao hôm nay con lại sợ nhiều đến như thế! Tuy vậy nhưng con vẫn không dám đi vào vì nghĩ chỉ có mình con ở đây, nhỡ còi báo cháy hú do khói hương này thì con không biết phải làm sao? Rồi xe cứu hỏa tới, cảnh sát tới, đại chúng lại phải trả chi phí từ vài trăm tới một ngàn Euro thì thật là một số tiền khá lớn. 

Thế là con nghĩ ra một cách. Thôi thì mình cắm hương xuống bát hương trước, ba cây hương mà được chia làm ba nơi thì khói còn rất ít nên sẽ không sao. Sau đó mình dâng hương mà không có hương cũng được, Bụt không trách mình đâu. Sau khi tự sắp xếp như thế con thấy khá ổn và con bắt đầu dâng hương, tụng kinh cúng Bụt. 

Cúng ngọ xong, con ngồi yên và nhìn lên Bụt, thấy Bụt đang mỉm cười. Ngoài kia, đại chúng đang đi thiền hành dưới trời thu. 

Chuyện xuôi ngược 

Học viện đang vào thu. Phòng con ở, chỉ cần nhìn ra cửa sổ là thấy ngay một trời thu trước mắt. Lá cây đang dần chuyển sang màu vàng, màu đỏ. Mấy ngày nay trời mưa nên có những giọt nước đọng trên lá. Nhìn càng kỹ, càng sâu lại càng thấy đẹp. Những chiếc lá thu ấy khi có ánh nắng chiếu vào bỗng đẹp hẳn ra. Một người thích chụp hình, yêu thiên nhiên mà bắt gặp cảnh này chắc chắn sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Nhiệm mầu của thiên nhiên sẽ được thu vào ống kính. 

Trong cuộc sống, có những việc mình không nên làm ngược. Thế nhưng có những bức hình trở nên rất đẹp nhờ chụp ngược sáng. Những chiếc lá thu còn đọng những giọt nước mưa, có thêm ánh nắng mà được chụp ngược sáng thì đẹp lắm! Cũng như thế, đi tu là đi ngược dòng đời. Nếu ai chưa hiểu thì tưởng rằng những người đi xuất gia là bị thất tình hay chán đời. Họ đâu biết rằng đi tu vui lắm. 

Nhẩm tính, con thấy mình qua Học viện mới hai tháng một ngày mà được tham dự tới hai buổi ngồi chơi chia sẻ, lần nào cũng rất nuôi dưỡng. Con rất biết ơn quý thầy, quý sư cô trong ban chăm sóc đã chuẩn bị rất chu đáo. Con thấy mình như được tiếp thêm lửa – ngọn lửa của bồ đề tâm để bước vào mùa đông rất lạnh trên nước Đức. Thiết nghĩ, con không thể tu hạnh phúc nếu thiếu đi tình huynh đệ. Mà tu tập không có hạnh phúc thì làm sao có thể đi đường dài. Con chỉ ước mong sao cho các huynh đệ mỗi ngày đều thắp được ngọn lửa của bồ đề tâm lên, để đường dài ta cùng nhau đi mãi. 

 

 

Ông chủ tiệm bánh mì 

Nghe kể về ông chủ tiệm bánh mì con không khỏi thán phục. Ông là người Mỹ, đầy nghị lực, đến nước Đức với hai bàn tay trắng. Những ngày đầu tiên trên nước Đức, ông đi rửa chén thuê. Trải qua nhiều khó khăn, bây giờ ông đã trở thành ông chủ của một tiệm bánh mì khá lớn trong vùng Waldbrol. Con đã có cơ hội đi cùng một số quý thầy, quý sư cô đến thăm tiệm. Ngoài bánh mì, tiệm ông còn làm nhiều loại bánh ngọt khác nữa. Mấy năm gần đây, ông thường tặng bánh sinh nhật mỗi khi Học viện được thêm một tuổi. Trong ngày Phật đản cũng vậy, một chiếc bánh sinh nhật rất to với hàng chữ Happy Birthday Buddha (Mừng ngày Bụt Đản sanh) thật dễ thương được ông mang đến. 

Nhân duyên để ông biết đến Học viện cũng là một câu chuyện đầy thú vị. Sư cô Song Nghiêm kể: “Mầu nhiệm lắm em à, chị đang tính đi kiếm xem có tiệm bánh mì nào gần đây không, để xin bánh mì cũ về cho đại chúng chứ bánh mì cũ người ta cũng phải mang đi bỏ thì uổng, trong khi mình không có bánh mì để ăn”. Có lẽ Bụt Tổ đã đưa đường chỉ lối cho ông. Ông đã đọc sách của Sư Ông lúc ở Mỹ. Khi nghe nói tại Đức có một trung tâm thiền tập của Sư Ông thì ông đã đi tìm, nhưng hai năm trôi qua ông vẫn chưa tìm ra, dù từ Học viện đến tiệm bánh mì của ông chỉ có 30 km. Rồi một ngày, ông có được số điện thoại của văn phòng và ông đã gọi điện đến. May quá, đang giờ văn phòng mở cửa nên thầy Pháp Thiên bắt máy. Qua điện thoại, ông nói rằng ông đã tìm Học viện suốt hai năm qua và rất muốn cúng dường. Sư cô Song Nghiêm đã làm một cái hẹn với ông. 

Ngày sư cô hẹn với ông cũng lại là một câu chuyện khá thú vị. Sư cô hẹn ông chín giờ sáng, nhưng hôm đó sư cô lại phải đi bưu điện. Khi lái xe đi ngang qua phía trước tòa nhà lớn thì sư cô thấy một cái xe lớn chở bánh mì. Sư cô muốn đến hỏi để xin bánh mì cũ nhưng nghĩ lại mình có hẹn nên phải về liền kẻo trễ hẹn với người ta. Ông chủ tiệm bánh mì dừng xe ở đó, đang không biết rẽ ngã nào để vào Học viện vì đoạn đường đó có hai ngã rẽ. Nhìn qua cửa xe, ông thấy người lái xe là một sư cô nên ông đã lái xe theo sau. 

Vô đến cửa chính của chùa Đại Bi, ông đến hỏi thăm sư cô. Sư cô nói qua loa với ông vài câu rồi xin phép đi vì có hẹn thì ông nói: “Cô có hẹn với tôi nè”. Sư cô nhìn ông không khỏi ngạc nhiên và mừng rỡ. 

Sau khi nghe ông nói là ông muốn cúng dường thì thầy Pháp Ấn đã cho ông biết những công việc cần làm của Học viện, mỗi công việc cần số tiền là bao nhiêu thì ông vẫn rất điềm tĩnh ngồi 

nghe. Sau đó ông trả lời: “Tôi không có một số tiền lớn như vậy nhưng tôi có bánh mì”. Ông có mang theo bánh mì còn nóng để mời thầy và sư cô. Sư cô lại một lần nữa ngạc nhiên nhưng đầy hạnh phúc, sư cô nhìn ông cười và nói: “Chúng tôi đang rất cần bánh mì của ông. Ông có thể cho chúng tôi xin bánh mì cũ cũng được”. Ông nói: “Không, tôi không thể cúng dường quý vị bánh mì cũ. Tôi sẽ cúng dường quý vị bánh mì nóng mỗi sáng”. Từ đó, ông cho nhân viên chở bánh mì nóng tới mỗi buổi sáng. Nhưng như vậy thì hơi nhiều, đại chúng không dùng hết nên bây giờ bánh mì được mang đến ba ngày cố định trong tuần. 

Khi con nghĩ đến ông chủ tiệm bánh mì, thì hình ảnh của một vị Cấp Cô Độc hiện ra trước mắt con. Đại chúng Học viện biết ơn ông vô cùng. 

Mùa Giáng sinh 

Đây là mùa Giáng sinh đầu tiên con có mặt tại Học viện. Như đã thành thông lệ, cứ đến ngày 24 tháng 12, quý thầy, quý sư cô Học viện rất vui được chào đón tăng thân địa phương và những người láng giềng về đón Giáng sinh trong không khí đầm ấm của một đại gia đình tâm linh. Năm nay, thiền sinh về chật cả thiền đường trong giờ pháp thoại. Mùa Noel, thay vì cả gia đình đi chơi đâu đó thì về Học viện, để vừa nghe pháp, vừa được chơi trong môi trường rất lành, và được ăn cơm chay nữa. 

Sau giờ pháp thoại, đại chúng cùng nhau rước đèn từ nhà ra đến tháp chuông. Trời mưa và có gió khá mạnh nên nến đã bị tắt khi vừa đi được một đoạn, nhưng đại chúng đã đi cùng nhau dưới mưa rất bình an. Sau giờ ăn chiều, đại chúng đã cùng ngồi chơi, có mặt cho nhau trong nhà ăn. Tất cả đã cùng nhau làm nên một buổi tối đầy ý nghĩa. 

Con nghe nói chưa có năm nào mà thiền sinh lại cứ muốn ở lại chơi thêm, chưa muốn về như năm nay. Đúng ra thì sau những tiết mục văn nghệ, khi đã cầm tay nhau, đứng thành vòng tròn và hát bài Không đi đâu cũng không cần đến thì sau đó là lúc chia tay. Thế nhưng mọi người ngồi lại, không muốn về. Vậy là văn nghệ cây nhà lá vườn được tiếp tục. Một bạn gái trẻ, đã từng tham dự khoá tu cho người trẻ (Wake Up) ở Làng lên hát quá hay khiến đại chúng vô cùng hạnh phúc. Tiếp theo, thầy Pháp Ấn bất ngờ được mời hát và thầy rất hoan hỷ nhận lời. 

Đã 10 giờ khuya, phải kết thúc thật rồi. Con chưa biết nhiều tiếng Đức nên chỉ biết nhìn vào mắt của các cô chú, các anh chị người Đức mà nói “Vielen Dank” (Cám ơn nhiều) thôi.

Mọi người đã ra về, con thầm cầu nguyện cho ai ai cũng có được một cuộc sống bình an, hạnh phúc. Học viện đã có trong trái tim của người dân địa phương rồi, và nơi đây đã trở thành chỗ quay về để đoàn tụ. Con chợt nhớ đến Thầy cùng câu: 

‘‘Có con cho nên mới có Thầy. Có một bếp lửa để khi mình đi đâu thì nhớ về. Thầy trò mình hãy chăm sóc bếp lửa hồng để bếp lửa còn cháy mãi, cho mình và cho bè bạn”. 

(Giáng sinh 2012). 

Chỉ còn vài tuần lễ nữa là hết năm 2019, giờ này ban làm báo, quý thầy, quý sư cô, sư chị, sư em của con đang miệt mài ngày đêm để báo được ra đúng thời khắc Giao thừa. Con trân quý biết bao đời sống xuất gia này, và con không cầu cho không có những khó khăn, chỉ cầu cho con được chân cứng đá mềm. Dù thế nào đi chăng nữa thì con vẫn Còn thương cây táo trên đồi. 

 

Tiếng gọi

Trong ngày tiếp nối của Sư Ông Làng Mai vào tháng 10 năm 2019, thầy Pháp Linh đã có cuộc trò chuyện với sư chú Chân Trời Thiện Ý và sư cô Chân Trăng Hiền Nhân (hai vị xuất gia trẻ thuộc gia đình xuất gia Cây Dẻ Gai, đang sống và thực tập ở Làng Mai, Pháp). Khi cuộc trao đổi này diễn ra thì chỉ còn một tuần nữa là kỷ niệm một năm ngày xuất gia của sư cô và sư chú. Nhân dịp này, thầy Pháp Linh muốn biết điều gì đã tạo cảm hứng và là động lực để sư cô và sư chú gia nhập vào gia đình Áo Nâu- Tăng thân xuất sĩ Làng Mai. Buổi phỏng vấn đã được BBT Làng Mai chuyển ngữ từ tiếng anh.

Thầy Pháp Linh:

Sư chú Chân Trời Thiện Ý là người Ý, hiện đang tu học tại chùa Sơn Hạ. Trước khi xuất gia, sư chú đã sống và làm việc ở London trong lĩnh vực tiếp thị. Sư chú thấy ngành nghề đó rất thú vị vì sư chú phải nghiên cứu môn Tâm lý học để hiểu được tâm lý của mọi người. Tuy nhiên, sư chú cảm thấy cái hiểu ấy đôi khi hơi bị lạm dụng để “dụ” người khác bỏ tiền và mua những thứ không thật sự cần thiết.

Vì ước mơ muốn trở thành một nhạc sĩ nên sư chú đã nghỉ công việc tiếp thị để dành một năm học chơi trống. Sư chú rất có khả năng âm nhạc. Sau một năm đầu tư vào lĩnh vực âm nhạc, sư chú vẫn không tìm thấy sự mãn nguyện, và cũng chính thời điểm ấy thì sư chú khám phá ra Thiền tập. Nhân duyên nào đã đưa sư chú đến với Làng Mai và lựa chọn con đường xuất gia này?

Làm sao sư chú có thể để hết tâm huyết vào sự thực tập?

Sư chú có thể chia sẻ đôi chút về hạnh nguyện và đời sống xuất sĩ của sư chú được không?

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con đã làm việc trong ngành tiếp thị, rồi sau đó là âm nhạc. Khi con quan sát và thấy hình ảnh những người sếp của mình- những người có bề dày kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, con đã tưởng tượng và thấy được tương lai của mình. Con cảm thấy trong chiều sâu của tâm hồn, họ thật sự không có hạnh phúc. Lúc con nhận ra điều đó, con thật sự bị đánh động. Con không muốn trở thành họ trong tương lai. Có gì đó không ổn trong cuộc sống của họ.

Theo tiếng gọi của trái tim, con đã lên đường tới London để theo đuổi con đường âm nhạc. Cùng năm đó, con đã có cơ duyên tiếp xúc với pháp môn của Thầy (Sư Ông Làng Mai). Con nghe pháp thoại và thực tập theo những lời Thầy dạy.  Theo đó, cuộc sống của con có những thay đổi tích cực.

Khi kết thúc chương trình học một năm ở London, con nhận ra đây không phải là con đường của mình. Nghề Tiếp thị cũng không phải là con đường của con. Nếu muốn tìm thấy con đường và câu trả lời cho chính mình, con phải quay về với tự tâm. Sau đó con tìm tới Làng và tham gia vào chương trình “Happy Farm” (Nông Trại Hạnh Phúc), nhân duyên của con với Làng đã bắt đầu như thế đó.

Trong khoảng thời gian một năm ấy, con đã nhắc nhở mình là phải ưu tiên cho sự thực tập. Con dặn lòng là sẽ thực tập an trú 100 phần trăm ở đây, còn sau đó thì tính tiếp. Trước kia, lúc còn ở London, vì nhịp sống và sự bận rộn của công việc mà con chỉ “thực tập Thiền bán thời gian” được thôi. Có lẽ ước nguyện muốn xuất gia cũng đã được hình thành từ lúc ấy, nhưng con cũng chờ thời gian để nó thật sự chín muồi. Nếu thật sự đó là ước nguyện cả đời thì không việc gì mà con phải vội.

Con đã thực tập làm một người nông phu hạnh phúc tại nông trại của Làng, và con thương nếp sống này. Ở đây, con có cảm giác là mình “đang thật sự sống”. Niềm tin vào pháp môn, vào sự thực tập và con đường càng ngày càng lớn. Cuối cùng chương trình một năm ở Nông trại Hạnh phúc cũng kết thúc, con nóng lòng muốn viết thư  xin làm tập sự để có thể trở thành một người xuất gia và gia nhập vào dòng chảy của Tăng Thân.

Rất nhiều người muốn mang lại hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Ai cũng đều muốn đóng góp phần của mình. Nhưng trước hết chúng ta cần phải xây dựng một nền móng vững chắc cho chính mình trước khi giúp người khác. Chính vì vậy nên con ý thức rằng thời gian Sadi là thời gian mà còn cần phải chuyên tâm đầu tư vào sự học hỏi và thực tập để xây dựng cho mình nền tảng ấy.

Con thấy mình có rất nhiều may mắn khi được đầu toàn bộ thời gian để thực tập, được học hỏi và tiếp nhận tuệ giác của Thầy. Hiện tại, con hoàn toàn để tâm vào thực tập bước chân và hơi thở chánh niệm. Nhất là khi Thầy không có mặt ở đây với chúng con, và con cũng không có những kỷ niệm trực tiếp với Thầy. Nhiều lúc con tự hỏi: “Giờ này, Thầy đang ở đâu? Tại sao con lại ở trong Tăng Thân của Thầy”.

Tìm thấy Thầy là điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời của con. Con có thể thấy hình ảnh của Thầy trong các sư anh, sư chị, trong thời khóa hàng ngày, trong những uy nghi mà con đang  được thực tập. Đó là động lực cho con thực tập hết lòng, vì con không muốn mình cảm thấy thiếu vắng Thầy.

Thầy Pháp Linh:

Đằng sau quyết định xuất gia, thế nào sư chú cũng phải có một cái thấy về vị trí của người xuất sĩ trong xã hội hiện tại. Tại sao sư chú chọn con đường xuất gia trong khi sư chú có thể tu tập mà không cần phải trở thành một người tu? Làm người tu có ý nghĩa đặc biệt gì?.

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con thấy bây giờ ở khắp nơi trên thế giới có nhiều người đang cố gắng làm nhiều việc có ích. Con lớn lên trong một gia đình Thiên chúa giáo và cuộc sống của con luôn gắn liền với chiều hướng tâm linh. Con không bao giờ muốn sống một cuộc sống không có chiều hướng tâm linh. Con yêu nếp sống tâm linh cho đến nỗi con muốn nó hoàn toàn trở thành cuộc sống của mình. Con cũng thấy đó chính là điều mà thế giới đang cần. Con không nghĩ thế giới đang cần người giúp làm cái này hay cái kia, mà cần những người cố gắng sống một cuộc sống như chúng ta đang sống, cố gắng chạm tới một cái gì sâu xa hơn mà con không thể diễn đạt bằng lời. Con tin tưởng rằng đó chính là câu trả lời cho những gì mà thế giới đang phải đối diện. Đối với con thì bao nhiêu đó là đã đủ để cho con đầu tư tất cả năng lượng của mình rồi.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô Trăng Hiền Nhân là người Pháp, đang sống và tu tập ở xóm Hạ. Trước khi xuất gia, sư cô theo học ngành Triết ở Paris. Sư cô từng nghĩ rằng triết học sẽ giúp sư cô hiểu sâu sắc hơn và tìm được ý nghĩa của đời sống. Sư cô đã học khá sâu trong ngành học này và dự định sẽ trở thành một nhà văn. Nhưng dần dần, càng học lên cao, sư cô càng thấy cách giảng dạy trong trường thiên nhiều về kiến thức, mà ít chứa đựng tuệ giác. Dường như có một khoảng cách giữa những gì người ta nói và cái người ta có thể làm được. Ước muốn thì tốt đẹp nhưng có vẻ như ít người sống theo được.

Đến Làng Mai, phát hiện ra giáo pháp, giới luật và thiền tập, sư cô nghĩ: sự thực tập này có thể giúp san lấp đi khoảng cách ấy. Chúng ta thực ra có thể làm được những gì mình nói, thực hiện được những nguyện ước sâu xa nhất của mình. Xin sư cô chia sẻ một chút về quyết định xuất gia của mình. Đó là một quyết định khá “cấp tiến”. Chắc phải có điều gì đó hướng sư cô nhận ra đây chính là con đường của mình?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con biết con còn rất nhỏ tuổi tu và còn rất nhiều điều cần phải học hỏi trong tăng thân. Sau khi xuất gia, con đã tìm thấy nhiều cái đẹp và chiều sâu của con đường này. Con thật sự rất yêu cuộc sống xuất gia. Nếp sống này rất đẹp. Mình có thể hiến tặng những kinh nghiệm thực tế cho thế giới Tây phương, cho xã hội hiện nay.

Con đã nghe nhiều bài pháp thoại của Thầy. Thầy thường dạy rằng yếu tố căn bản để mang đạo Bụt vào Tây phương là sự có mặt của tăng thân xuất sĩ mà trong đó có những thầy, những sư cô Tây phương ở lại tu học lâu trong chúng. Con thấy mình được nuôi dưỡng và hài lòng với cuộc sống xuất gia. Đây là cái mà con muốn hiến tặng cho xã hội Tây phương.

Có một câu hỏi con luôn tự hỏi mình: Con có thể sống như thế nào để hạt giống xuất sĩ trong con được lớn lên mỗi ngày?

Hàng ngày con thực tập xá chào và nhường quý sư cô đi trước. Con xin được rửa bát cho quý sư cô sau mỗi bữa ăn. Con chủ động quét dọn phòng ở. Hoặc khi con đến phòng của một sư cô lớn, nếu sư cô đang ngồi trên đơn thì con luôn quỳ xuống, chắp tay để thưa chuyện với sư cô. ực tập rất nhiều những hành xử nho nhỏ như vậy nuôi dưỡng niềm vui, sự kính trọng

và đức khiêm cung trong con. Con thấy mình tiếp xúc được với hạt giống xuất gia trong con và giữ gìn, nuôi dưỡng hạt giống đẹp này lớn thêm mỗi ngày.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô đang làm tri đậu hũ. Công việc làm đậu hũ liệu có liên quan gì đến việc thiết lập đạo Bụt ở Tây phương không?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con không biết nếu Thầy đang ở đây thì Thầy có gọi con lên Sơn Cốc và đặt thẳng vấn đề với con: “Sao con lại ở trong bếp? Con nên tổ chức một khóa tu cho các nhà triết học”.

Con cảm thấy tuệ giác của Thầy không chỉ là mang đạo Bụt vào thế giới phương Tây, ầy còn chia sẻ những châu báu trong văn hóa Việt Nam với người Tây phương. í dụ như khi còn nhỏ, con thấy mình thiếu thốn nhiều thứ như tình thương, sự nhẹ nhàng và sự bao dung. ời thơ ấu con không bao giờ được sống, được hít thở, được thả mình trong không khí yêu thương như ở đây. Tại xóm Hạ, trong cuộc sống hàng ngày, con cảm được trong tâm các sư cô người Việt có nhiều hạt giống của thương yêu, nhẹ nhàng, vui tươi, bao dung và đơn giản. Sự thực tập của con là thả mình vào để được hưởng những cái đẹp ấy của văn hóa Việt Nam.

Ở xóm Hạ, những sư em nhỏ nhất được chọn tri trước. Con đã chọn làm đậu hũ. Con không nói được tiếng Việt và chưa hề biết cách làm đậu hũ. Con chỉ có thể thấy rằng khi làm đậu hũ con rất hạnh phúc. Con được hưởng lợi lạc từ bầu không khí tràn đầy năng lượng nhẹ nhàng, vui tươi của quý sư cô. Năng lượng tập thể ấy giúp con trị liệu rất nhiều.

Con nhớ khi đọc quyển sách Đường xưa mây trắng của Sư Ông, đến chương nói về niềm vui của thầy Cát Tường (Svastika) khi nhìn thầy La Hầu La (Rahula) cưỡi trâu: “Nếu không đi tu mà ở lại hoàng cung để sau này làm vua, chắc hẳn Rahula sẽ không bao giờ có dịp cưỡi lên mình trâu mà đi như hôm nay”. Thầy Cát Tường đã nghĩ như vậy và khi con làm đậu hũ, con cũng có một niềm vui tương tự. Nếu không xuất gia, con sẽ không bao giờ biết đến niềm vui khi cùng được làm đậu hũ với quý sư cô người Việt.

Thầy Pháp Linh:

Sư cô và sư chú đã rất can đảm để xuất gia trong giai đoạn này, khi mà Thầy không trực tiếp có mặt ở đây để dạy dỗ cho chúng ta. Nhưng nếu biết cách, chúng ta vẫn có thể tìm ra Thầy, gặp Thầy trong mỗi giây mỗi phút, trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở. Sự quyết tâm, sức mạnh, tâm bồ đề và cách mà sư cô, sư chú đã tìm ra Thầy trong sự thực tập của mình tạo nguồn cảm hứng cho đại chúng rất nhiều. Cảm ơn sư cô và sư chú đã nuôi dưỡng tăng thân bằng sự tươi mát, niềm vui và hạnh nguyện của mình.

 

 

Quê hương mỗi bước chân về

Chân Thuần Khánh 

Tôi trở lại Huế vào mùa thu, rồi mùa đông. Lâu lắm rồi tôi mới lại được ngồi yên trong tiếng mưa ầm ào mênh mang, quen thuộc đến nao lòng này. Nhiều người sợ những cơn mưa dai dẳng của Huế, vậy mà tôi lại thấy thích, rất trân trọng không gian của những khoảnh khắc như thế này. Trong tiếng mưa và cái yên lặng của Huế, của chốn Từ An xưa, tôi cảm nghe như thời gian và không gian, cái xưa và cái nay, cái cũ và cái mới,… cùng một lần có mặt, ngay nơi tôi, ngay nơi mảnh đất này. 

Uống trà trong tiếng mưa  

Người ngồi từ muôn thuở  

Ta một cõi yên vui

Có nhau từng nhịp thở. 

Mây trắng trời phương ngoại 

Gần hai mươi năm quen biết, mỗi khi nghĩ về, tôi luôn cảm thấy mình nhận được đức độ và tình thương của sư chị, dù ở gần hay ở xa. Sư chị không ở với đại chúng lâu, nhưng sư em nào đã từng gần sư chị, đều như một lần uống được dòng nước mát trong nơi cái giếng cổ xưa trên núi, sẽ không bao giờ quên. Tôi vẫn nhớ xóm Hạ thời đó có nhiều “cái giếng nước trong vắt mát lành” như vậy, và tôi, một sa di nhỏ, đầy bỡ ngỡ nhưng không hề thấy xa lạ, tha hồ mà vẫy vùng! Có một sư chị lớn nhìn tôi tung tăng trong những ngày mới đến, mỉm cười và nói: “Thuần Khánh về Làng y như cá được thả về biển lớn, tha hồ mà bơi lội”. Sư chị cũng là một sư chị lớn thời đó, khoan dung, độ lượng, và giản đơn, bình dị. Sư chị lại hay cười. Hễ ai chọc cười là sư chị không dừng lại được. Cười hoài mệt quá, sư chị phải quay ra năn nỉ các chị em xung quanh đừng cười nữa, với cái giọng tha thiết, lúc đó sư chị mới hy vọng có thể ngưng cười. Mỗi lần như vậy, tôi lại không thể không tiếp tục cười, vừa buồn cười chuyện mọi người đang cười, vừa buồn cười cái cách sư chị cố gắng ngưng cười… Thế là cư xá Mây Tím như được nới rộng ra. 

Sư chị hòa đồng và có mặt với đại chúng trong mọi sinh hoạt, lại có đủ thì giờ chơi và chỉ dạy cho các sư em. Có thể thời đó, đời sống của tăng thân đơn giản hơn bây giờ nhiều. Mỗi đội luân phiên chỉ có hai người và mỗi bữa ăn chỉ cần nấu hai hay ba món, kể cả món luộc và xà lách. Không có nhiều lớp học như bây giờ, tôi học mọi thứ bằng cách huân tập, tự quan sát các sư chị và làm theo. Hô canh, ngồi chuông, xướng tán và bắt giọng tụng kinh, hay thỉnh chuông, thỉnh mõ đều học theo cách như vậy. 

Có lần sau buổi tụng kinh tối, đang loay hoay xếp kinh lên kệ, tôi nhận ra sư chị còn nán lại thiền đường khi đại chúng đã về hết, và sư chị đang tủm tỉm cười một mình. Xong việc, tôi lại gần sư chị và cũng mỉm cười. Lúc đó, sư chị không nhịn được, bèn cười phá lên… Tôi biết trong lúc hướng dẫn đại chúng tụng kinh, thế nào tôi cũng đã gây ra điều gì đó không hay rồi. Nhìn sư chị, tôi hỏi: “Chỗ nào vậy sư chị?”. Nhận ra chút lo lắng trong giọng nói của tôi, sư chị hết cười và bắt đầu chỉ cho tôi chỗ tôi đã làm sai. Hóa ra khi bắt giọng tụng bài Chuyển niệm – We are truly present, tôi đã tụng như “đọc truyện”, đã vậy còn thỉnh chuông rất “cảm hứng”, nghĩa là muốn thỉnh lúc nào thì thỉnh. Sư chị nói: “Nhìn em thỉnh chuông tự tin trên đó mà chị muốn… té khỏi bồ đoàn…”. 

Từ hôm đó, tôi theo sư chị học thỉnh chuông, hô canh, bắt giọng tụng kinh. Giọng sư chị thanh tao và ấm áp, giọng tôi thì tùy hứng, thỉnh thoảng còn phải cho thêm “ít muối, ít tiêu” mới mong đúng nhịp. Sư chị kiên nhẫn và vui tươi. Tôi siêng năng học từ sư chị. Vẫn không thể trở thành một sư cô tụng kinh và hô canh hay, nhưng tôi biết rằng mình là một đứa em được thương yêu, được chăm sóc. Tôi đã tiếp nhận tình thương của sư chị, một cách tự nhiên và trong trẻo, như một em bé uống được dòng nước mát lành nơi cái giếng cổ năm xưa, mà lớn lên. 

Năm kia, tôi nhận được soi sáng từ một sư chị: “Sư em không có nhiều khó khăn với các sư chị của mình. Sư em có mối liên hệ tốt với các sư chị, dù ở gần hay ở xa”.Đang là một sư chị, đã chấp nhận và thực tập vai trò sư chị một thời gian, tôi hơi ngạc nhiên và giật mình khi nghe lời soi sáng đó. Tôi xúc động và biết ơn sư chị đã khen ngợi, đồng thời là lời nhắc nhở cho tôi. Làm chị, và giữ gìn được mối liên hệ tốt với những người chị của mình, đó không phải là một may mắn phước đức của tôi hay sao! May mắn hạnh phúc lớn, và cũng là một gia tài quý báu. Thương được chị, bởi vì tôi đã được chị thương, thế thôi. Dù đang làm sư chị của nhiều sư em, tôi vẫn luôn nhận được tình thương của các sư chị. Tôi thích được làm sư em hơn, nhưng vì được các sư chị thương yêu và nuôi lớn, nên dù không hay không giỏi, tôi vẫn đang làm được một sư chị. Biết ơn các sư chị, tôi tập làm sư chị. Biết ơn Thầy, tôi tập làm sư chị, vậy thôi. 

Hôm nghe tin sư chị mất, tôi bàng hoàng. Lòng rưng rưng vần thơ năm nao sư chị đã viết: 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

Con đường nghe tiếng đôi chân 

Chân ơi rong ruổi dừng tâm là dừng. 

Đường xa cỏ non thênh thang 

Khi đi thanh thoát lúc về thảnh thơi 

Khổ đau đã hiểu đã từng

Rằng trong khổ vẫn có đường đi ra! 

Còn khi lên xuống thấp cao

Còn đây tâm lượng bình an là đường

Đường xa ấp ủ bao tình

Người xưa ở lại với người hôm nay. 

Trải lòng cho những đôi chân

Quê hương xưa Mẹ còn nuôi tình người 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

(“Bàn chân ướm hỏi con đường” – thơ sư cô Giải Nghiêm) 

ư chị lên đường, thong dong tự do như cụm mây trắng trên bầu trời trong xanh, như làn gió nhẹ thoảng đưa hương cau hương bưởi. Sư chị về với quê hương tuổi thơ ngàn năm không vướng bận, nơi mỗi nụ cười của đọt lá xanh non, nơi hạt sương mai long lanh tia nắng sớm, nơi bao nhiêu con đường độ lượng quanh đây… 

Ươm nắng cho vạn loài hoa 

Tôi chưa bao giờ gọi Thầy tôi là Sư phụ một cách trực tiếp. Từ ngày xuất gia, các chị em đều gọi Người là Sư, nhưng khi nói chuyện với nhau chúng tôi gọi là Sư phụ. Người Huế không quen xưng hô một cách thân mật, tình cảm thường kín đáo và chỉ ưa thể hiện qua hành động hay cử chỉ chăm sóc âm thầm. Về Huế lần này, tôi nhận ra cái chất đó vẫn còn thật sâu đậm quanh mình. 

Tôi xuất gia năm 18 tuổi, ở với Sư phụ hơn năm năm rồi đi, và đi cho đến tận bây giờ. Mỗi lần về chùa cũng chỉ ở qua loa. Vậy mà không lần nào tôi không cảm nghe cái chất liệu đậm đà tình người đó thấm vào từng ngõ ngách thân tâm tôi, nhất là lần này. Sư phụ tôi duy giọng nói vẫn còn chất Hội An, còn lại là một Sư bà Huế “toàn ròn”. Người tính tình phóng khoáng, cương nghị, lịch thiệp và quảng giao mà cũng lại cẩn trọng và tế nhị vô cùng. Cách hành xử của Người, có lúc thật kỳ lạ, thật can đảm. Điều cần làm thì Sư phụ làm, dứt khoát, mạnh mẽ và đặc biệt “Huế”. Tôi là một đứa học trò cứng đầu và không dễ dàng khuất phục, chỉ khi tự mình thấm được cái chất Huế đó nơi Người, tự mình chứng kiến cách dạy dỗ và nâng đỡ một cách tài tình những tâm hồn khác biệt của Người, tôi mới thật sự khâm phục. 

Hồi đó tôi theo học chương trình đại học ở đời nên đã tiêu tốn không ít thời gian. Tôi ít có cơ hội được làm những công việc của một người sơ cơ mới vào chùa. Sư phụ thường nhắc nhở tôi phải nhớ và thực hành bài học khiêm cung, bài học hòa đồng, chứ không phải học lên cho thật cao là giỏi, là hay. Sư phụ lại thường rầy la tôi, dù với những điều hết sức nhỏ nhặt mà đối với các chị em khác Người có thể dễ dàng bỏ qua. Tôi đã không thật sự hiểu rằng, Sư phụ làm như vậy bởi vì Người muốn rèn luyện, giữ gìn cho tôi, đồng thời muốn cho chị em tôi chấp nhận nhau, không có sự ganh tỵ, hiềm khích xảy ra giữa người đi học nhiều và người phải ở chùa làm việc nhiều. 

Tôi còn nhớ một hôm về chùa sau buổi học ở trường, trong tâm trạng cao hứng, tôi không nhìn ra được chị em mới vừa chấp tác nặng nhọc xong. Thế là vừa đến trước Sư phụ để chào, tôi đã bị rầy thật nặng vì những lý do “không đâu vào đâu”, tôi ngỡ ngàng không hiểu tại sao! Đứng yên chắp tay trước Người, mà tâm tôi không phục. Nghĩ rằng Sư phụ đã không hiểu mình, tôi thầm nhủ mình không được khóc, không cần phải khóc! Về phòng, đang đứng nhìn trân trân ra cửa sổ, cái tâm phân tích và phán xét trong tôi trào dâng. Thấp thoáng bên dưới là nỗi buồn, nỗi buồn cảm như mình không được thương, đang âm thầm len lỏi đâu đó. Nào ngờ, xuất hiện lặng lẽ bên ngoài song cửa là hình dáng Sư phụ. Người thoáng nhìn tôi, khuôn mặt trầm tĩnh và hiền dịu, không nói năng chi, nhẹ nhàng bỏ nơi bậu cửa một cái bánh bao, rồi quay đi. Tôi bật khóc! Có cái gì trong tôi như vỡ òa, như thấm thía, như miên man. Tôi đứng yên tại chỗ và khóc thật lâu. Sư phụ tôi là thế đó. Không cần thêm một lời giải thích nào, sự thấu hiểu có mặt tức thì, và mãi mãi. 

Sau này lớn lên, học làm chị, học cách lo việc chúng và chăm các em, tôi biết rằng, thực hành đức hy sinh ở nơi công việc đã là khó, hy sinh nhu yếu muốn được hiểu, được thương của riêng mình để rèn luyện và hướng dẫn các em lại càng khó hơn. Bài học giản đơn và thấm thía đó, tôi mang theo suốt đời. Hôm nay, Sư phụ đã về với Bụt nhưng ân đức của Người, từ Thể Thanh Pháp Uyển, đã lên đường, ươm nắng cho vạn loài hoa, nở thơm mát khắp muôn phương! 

Thầy ngồi đó, lửa niềm tin trao giữ
Tâm Bồ Đề thắp sáng trái tim con
Cương nghị, chở che, biển tuệ chung dòng Muôn sông nhỏ trở về lòng đại hải. 

 

 

Bình yên như hơi thở 

Mạ thủy chung âm thầm như nguồn cội Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao
Mặc gió mưa giông bão thét gào
Mạ còn đó bình yên như hơi thở 

Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời. 

Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ. 

Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả. 

Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó. 

Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba sự quay về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia. 

Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó. 

Mùa Đông, Huế, 04.01.2020 

 

Hạnh phúc bây giờ

Chân Pháp Ứng 

Áo nâu phai màu nắng

Người về đây với Bụt

Cành lá đi in dấu

Quê hương thoáng nhẹ bay 

Em có mặt đây nuôi dưỡng tôi 

Và tôi đang sống yểm trợ em 

Từng bước chân bé nhỏ 

Cùng chuyển cả đất trời 

Ngược dòng và xuôi dòng 

Đi vui hết cả lòng. 

Bài thơ lấy cảm hứng từ lời dạy Sư Ông về kinh Tam Di Đề (Tuổi trẻ và hạnh phúc) và từ những cảm nhận trong ba tháng khóa tu mùa Thu 1994.