Kết quả của sự buông thư và thiền tập

“Trích trong bài phỏng vấn Sư Ông Làng Mai của Marianne Schnall – Đăng trên The Huffington Post của Mỹ, ngày 21.05.2010″

 

Xin Thầy chia sẻ về những kết quả mà sự buông thư và thiền tập mang lại trong cuộc sống hàng ngày của Thầy?

Thầy: Thiền tập có sức mạnh trị liệu rất lớn, như các nghiên cứu khoa học hiện đại đã cho thấy. Sự thực tập hơi thở ý thức, thiền tọa, thiền hành giúp giải tỏa những căng thẳng trong thân và trong tâm. Khi ta cho chính mình một cơ hội để buông bỏ tất cả những căng thẳng, khả năng tự trị liệu của cơ thể sẽ bắt đầu làm việc. Các con thú trong rừng đều biết điều này. Khi chúng bị thương, bệnh hoặc quá mệt, chúng biết phải làm gì. Chúng tìm một nơi yên tĩnh, nằm xuống để nghỉ ngơi. Chúng không đi tìm thức ăn hoặc đuổi theo những con thú khác, chúng chỉ nghỉ ngơi thôi. Sau vài ngày nằm yên để nghỉ ngơi, chúng được chữa lành và hoạt động bình thường trở lại.

Loài người chúng ta đã đánh mất tuệ giác của sự nghỉ ngơi và thư giãn thật sự. Chúng ta lo lắng quá nhiều. Chúng ta không cho phép cơ thể mình tự chữa lành, và cũng không cho phép tâm ta được chữa lành. Thiền tập có thể giúp ta ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và điều này rất trị liệu. Ta để cho khả năng tự trị liệu trong ta được hoạt động một cách tự nhiên.

Thư giãn hoàn toàn chính là bí quyết để có an lạc trong khi ngồi thiền. Tôi ngồi với một cái lưng thật thẳng nhưng không gồng cứng, và tôi thư giãn tất cả các bắp thịt trong cơ thể. Thở vào, tôi đem tất cả sự chú ý đến một bộ phận nào đó trong cơ thể; thở ra tôi mỉm cười biết ơn và gửi tình thương đến bộ phận đó. Thí dụ như tôi thở vào và hướng sự chú tâm đến khuôn mặt. Trên mặt tôi có khoảng 300 bắp thịt và khi nào tôi lo lắng, giận dữ hoặc sợ hãi, 300 bắp thịt đó siết lại, và bất cứ ai nhìn thấy tôi cũng có thể thấy tôi đang căng thẳng. Nhưng nếu trong khi thở vào, tôi có thể ý thức đến khuôn mặt của mình, và thở ra tôi có thể mỉm cười với khuôn mặt của mình, thì ngay lập tức sự căng thẳng sẽ tan biến. Điều đó gần như là một phép lạ. Chỉ trong một vài hơi thở, ta có thể cảm nhận được sự bình an, hạnh phúc và thư giãn trên khuôn mặt. Mặt ta trở nên nhẹ nhàng, tươi mát, giống như một bông hoa. Khuôn mặt ai cũng đều là một đóa hoa.

 

 

“Thở vào tôi ý thức về gương mặt tôi, thở ra tôi mỉm cười với gương mặt tôi”, ta có thể thực tập như vậy trong vòng ba đến bốn hơi thở. Sau đó, ta hướng sự chú tâm đến các bắp thịt trên hai vai, bởi vì các bắp thịt trên hai vai chúng ta thường hay bị căng thẳng. “Thở vào, tôi ý thức về các bắp thịt trên hai vai; thở ra, tôi thư giãn và mỉm cười với hai vai tôi”. Cứ như thế ta dần dần di chuyển đến khắp các vùng trên cơ thể, và chỉ sau một vài phút ta có thể làm cho cơ thể trở lại bình thường với trạng thái nhẹ nhàng, thư giãn.

Đây là điều mà ai cũng có thể làm được trong một vài phút đầu tiên sau khi ngồi xuống, không nhất thiết là chỉ ngồi trong thiền đường mà thôi. Bất cứ ngồi ở chỗ nào, ta cũng có thể ngồi thật đẹp, như là ta đang ngồi thiền vậy, ngồi đâu ta cũng có thể cảm thấy vững chãi, thảnh thơi. Ngồi xuống để ăn cơm hay làm việc văn phòng, ta nên ngồi thẳng và buông thư. Hãy ngồi như Bụt ngồi.

Tôi biết có một vài Nghị sĩ ở Quốc hội Mỹ thực tập thiền hành ở Capital Hill. Một vị nói với tôi là khi đi đến phòng bỏ phiếu để thông qua một dự luật, ông ấy luôn thực tập thiền hành, hoàn toàn dừng lại mọi suy nghĩ. Văn phòng của ông rất bận rộn, mỗi ngày ông phải trả lời rất nhiều câu hỏi, giải quyết bao nhiêu việc khác nhau. Vì vậy thời gian duy nhất trong ngày mà ông có thể thật sự dừng mọi suy nghĩ để nghỉ ngơi là khi ông rời văn phòng để đến phòng bỏ phiếu thông qua dự luật. Ông để tất cả tâm ý vào hơi thở và vào bước chân, hoàn toàn không suy nghĩ gì hết. Và ông nói điều đó thực sự giúp ông có thể sống còn trong cuộc sống bận rộn tối mắt tối mũi của một Nghị sĩ.

Chúng ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư, điều này rất quan trọng. Nó không những giúp ngăn ngừa rất nhiều các bệnh tật phát sinh từ chứng căng thẳng và lo lắng mãn tính mà còn làm cho đầu óc sáng sủa, tập trung, từ đó tìm ra các phương cách sáng tạo để giải quyết vấn đề. Nếu như ta có thể buông bỏ tập khí luôn chạy về tương lai, biết dừng lại để thư giãn và trở về với chính mình, chúng ta sẽ thành công hơn trong bất cứ phương diện nào mà ta muốn. Và chúng ta sẽ có thêm niềm vui sống.

Thiền tập và thư giãn sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

 

Nếu một số đông người thật sự bỏ thì giờ ra để thiền tập và thư giãn thì sẽ tác động đến xã hội như thế nào?

 

 

Thầy: Có một điều dễ dàng nhận thấy là có quá nhiều bạo động, đói nghèo và khổ đau xung quanh ta; nhưng ta nghĩ rằng ta quá nhỏ bé và bất lực để giúp thay đổi tình trạng. Có thể chính trong gia đình ta cũng có khó khăn; có thể một thành viên trong gia đình đang rất đau khổ, tuyệt vọng và người ấy lâm vào tình trạng nghiện ngập hoặc phạm tội. Ta tự nhủ rằng ta không biết phải làm sao để giúp người kia, trong khi đó ta còn có một cuộc sống bận rộn của riêng mình.

Nhưng chính xác là ta bận cái gì? Đối với rất nhiều người trong chúng ta, đó là bận làm việc để kiếm tiền trả cho cái bằng cấp, chiếc xe mới, cái nhà to hơn, hay một chuyến nghỉ mát kỳ thú. Khi ta dành thời gian để thư giãn và thiền tập, tắt đi những âm thanh ồn ào, không ngớt của các quảng cáo trên các thiết bị điện tử, ta sẽ nhận ra rằng thực ra để có hạnh phúc, ta cần rất ít.

Ta đã có sẵn rất nhiều điều kiện để có hạnh phúc mà không cần tốn một đồng nào hết. Thí dụ như đôi mắt. Đôi mắt của chúng ta thật là mầu nhiệm, là hai viên ngọc quý. Ta chỉ cần mở mắt ra là thấy được trời xanh, mây trắng, những đóa hoa xinh đẹp, thấy gương mặt của những người thương. Hoặc đôi tai của ta: Bất cứ khi nào ta thích, ta đều có thể nghe được âm thanh của bản nhạc gây cho ta cảm hứng, của tiếng chim, dòng suối, hoặc tiếng thông reo. Tất cả những cái đó đều là những mầu nhiệm của sự sống, có sẵn cho ta bất cứ lúc nào. Ta chỉ cần mở mắt, ta chỉ cần lắng tai thôi. Thân thể ta vẫn còn khỏe mạnh, đôi chân ta vẫn còn cứng cáp. Và tất cả những mầu nhiệm đó nằm trong chính thân thể của ta.

Chúng ta có thấy mãn nguyện trong những niềm vui không tốn kém này và sống đơn giản hơn để có thì giờ thật sự lắng nghe những người mà ta gần gũi, hoặc viết thư cho một vị đại biểu quốc hội hay không? Khi ta tỉnh thức, khi ta ý thức hơn về những gì đang xảy ra, và thấy rõ mình thật sự cần phải làm gì (và không nên làm gì), thì cuộc sống của cá nhân ta và toàn xã hội sẽ dễ dàng có những thay đổi lớn. Thật tình thì tôi không biết có cách nào khác để đem đến sự thay đổi ấy ngoài cách này.

Khi thân tâm được thư giãn, người ta sẽ có khuynh hướng bớt nói năng, hành xử một cách bạo động. Khi ấy người ta sẽ có thể chạm đến rất nhiều tuệ giác và nguồn năng lượng dồi dào mà lâu lắm rồi ta chưa chạm đến, từ hồi thơ ấu đến giờ. Trong suốt tiến trình lịch sử, con người – cả nam lẫn nữ – đã đạt được những thành quả có thể nói là không thể tưởng tượng được. Sự thật là, những thay đổi chúng ta có thể làm nên cho chính bản thân và cho xã hội qua sự thực tập chánh niệm là không có giới hạn. Ta chỉ cần bắt đầu thôi, bắt đầu nơi chúng ta đang có mặt, ngay bây giờ, ở đây.

Chữ ký của ta

Tôi không có con cái huyết thống, nhưng lại có rất nhiều con cháu tâm linh. Không có ngày nào tôi không trao truyền những gì mà tôi cho là hay nhất, đẹp nhất của cuộc đời tôi. Cho nên gia đình tâm linh của tôi là một gia đình rất lớn. Bất cứ một tư duy, một lời nói hay một hành động nào cũng đều là những phẩm vật để trao truyền. 

Nếu tư duy của ta đi đôi với trí tuệ, từ bi, bao dung và hòa ái thì tư duy đó là phẩm vật trao truyền cho con cháu tâm linh. Nếu lời nói của ta đi đôi với sự hòa ái, tình thương và hiểu biết, có khả năng an ủi và tạo thêm hy vọng và thương yêu thì lời nói đó là một phẩm vật trao truyền. Nếu hành động của mình đi đôi với ý chí bảo vệ sinh mạng, muốn cứu đời, giúp người thì hành động đó là một phẩm vật trao truyền. 

Mỗi tư duy của tôi đều mang chữ ký của tôi. Không thể chối cãi rằng tư duy đó không phải là của tôi khi rõ ràng nó đã mang chữ ký của tôi. Nếu tư duy đó mang tính tham, sân và si thì đó là tư duy tiêu cực mà tôi lại đi trao truyền lại cho con cháu thì quá tội nghiệp cho họ. Vì con cháu tôi là sự tiếp nối của tôi mà cũng chính là tôi. Tôi rất cẩn thận, phải để cho tư duy của tôi là chánh tư duy. Chánh tư duy là tư duy đi theo hiểu và thương, là sự bao dung. Mỗi lời nói của tôi đều mang theo chữ ký của tôi. Một khi đã nói ra thì ta không thể nói rằng đó là câu tôi đã không nói. Nếu lời nói đó có thể gây hoang mang và hận thù thì tôi không muốn trao truyền những lời nói như vậy; tôi không muốn được tiếp nối bằng những lời nói như vậy. Vì thế sự tu tập giúp cho tôi chỉ trao truyền những cái gì đi đôi với tinh thần từ bi, trí tuệ, hiểu biết, bao dung và thương yêu. 

Hành động cũng như vậy. Mỗi hành động của tôi đều mang chữ ký của tôi và không thể nào chối bỏ được. Hành động đó phải là hành động bảo vệ sự sống, xây dựng tình huynh đệ thì đó mới là phẩm vật đáng trao truyền để được tiếp nối, và luân hồi. Luân hồi tức là được tiếp nối. Nếu mình muốn luân hồi cho thật đẹp thì mình phải chế tác những tư tưởng rất thiện, gọi là chánh tư duy. 

Mình chế tác những ngôn ngữ rất đẹp gọi là chánh ngữ, những hành động rất cao cả gọi là chánh nghiệp. Chỉ có những người có tu thì mới biết là họ đang trao truyền chánh tư duy hay tà tư duy, trao truyền chánh ngữ hay tà ngữ, chánh nghiệp hay tà nghiệp. 

 

 

Vì vậy có một đời sống tâm linh, một chiều chiều hướng tâm linh rất quan trọng cho những người làm cha làm mẹ; làm thầy cô giáo. Là thương gia hay chính trị gia cũng phải có chiều hướng tâm linh để trao truyền những gì tích cực và không phải là trao truyền những chiều hướng tiêu cực. Vì mình không muốn tiếp nối tính cách không đẹp đẽ, cho nên mình cương quyết chỉ trao truyền những gì có tính cách tích cực mà thôi.

Tôi nói với người thanh niên Âu Châu là anh hãy nhìn lại và đặt câu hỏi tại sao cha của anh có nhiều khổ đau, hận thù, bạo động và tuyệt vọng như vậy. Cha anh có muốn như vậy không hay tại vì ông cũng là nạn nhân của xã hội, của gia đình. Ông đã sinh ra và lớn lên ở nơi mà trong đó người ta không chế tác được chất liệu hiểu, thương và bao dung, nuôi dưỡng. Nếu ông ấy có may mắn gặp được một người bạn, một người thầy có đời sống tâm linh sâu sắc để chỉ dẫn cho cha anh phương pháp nhận diện, ôm ấp và chuyển hoá những nỗi khổ niềm đau thì ông ấy đã có thể chuyển hóa và đã không trao truyền những tiêu cực đó cho anh. Nếu cha anh chưa có may mắn đó thì anh nên biết nhìn ông ấy bằng con mắt xót thương và tội nghiệp; cha chưa bao giờ có cơ hội, chưa bao giờ được ai giúp đỡ. Ông bà nội đã làm khổ cha và không có khả năng để giúp cha, bạn bè của cha cũng chưa có cơ hội để giúp ông ấy, tội nghiệp cho cha. Riêng mình, mình may mắn hơn cha, vì mình đã có cơ hội để tiếp xúc những bậc đạo sư, những người anh, người chị, người bạn có chiều hướng tâm linh tốt giúp cho mình nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những khổ đau trong tự thân. 

Vua Trần Thái Tông năm hai mươi tuổi, ôm ấp niềm đau đó; đã may mắn gặp được Viên Chính quốc sư ở trên núi Yên Tử. Chính Viên Chính quốc sư đã khai sinh ra đời sống tâm linh cho vua Trần Thái Tông, từ đó trở về sau vua Trần Thái Tông đã có con đường tu học và chiều hướng tâm linh trong đời sống của mình, của một vị vua và một nhà chính trị. Vì vậy vua Trần Nhân Tông (cháu của vua Trần Thái Tông) đã có cơ hội nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau trong tự thân. Nhờ đó vua Trần Nhân Tông đã tạo nên sự đoàn kết trong dòng họ, trong triều đình. Để thành công được như một ông vua lớn, chúng ta cũng cần một chiều hướng tâm linh.

Nếu cha chúng ta không có cơ hội, thì đó là vì ông ấy thiếu may mắn, điều đó không đáng để cho chúng ta giận dỗi hay thù hằn cha. Chúng ta phải thấy xót thương và tội nghiệp cho cha. Cha chưa bao giờ gặp được một vị thầy như vị thiền sư trên núi Yên Tử kia, chưa bao giờ được tiếp xúc với chánh pháp, với những pháp môn tu tập để giúp cho cha nhận diện, ôm ấp nỗi khổ niềm đau để mà trị liệu và chuyển hóa. Bây giờ mình phải giúp cha, phải thực tập cho được. Sau khi đã thực tập thành công thì hòa giải với cha trong từng tế bào của cơ thể mình. Theo cách đó, mình có thể giúp cho cha hóa giải và trị liệu dễ dàng.

Những người thanh niên ấy đã nghe theo lời tôi. Họ đã tu tập và chuyển hóa, sau đó trở về để giúp cho cha mẹ của họ. Khi mình giúp được cho những người trẻ chuyển hóa khổ đau và trở về hòa giải được với cha mẹ thì niềm vui và hạnh phúc đó rất lớn. Hạnh phúc không phải là có uy quyền và tiền bạc, danh vọng hay sắc dục; mà hạnh phúc vì mình thấy được cuộc đời có ý nghĩa, mình giúp được nhiều người hòa giải được với người thân.

 

Khi năm uẩn không hoà hợp

(Trích  thoại của Sư Ông Làng Mai tại Xóm Hạ, Làng Mai ngày 02 tháng 10 năm 1994) 

Khi một người có “chiến tranh” với cha mẹ, anh em, vợ con trong gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó đang có sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc đó tâm họ không an lạc. Nói một cách khác, năm uẩn của người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng đang chống đối nhau.

Thường thường khi có “chiến tranh” ở bên trong là chúng ta hay “khai chiến” với bên ngoài. Thành ra những người hay “khai chiến” với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong thân tâm của họ. Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy hơi thở và thở theo chánh pháp-tức là ta biết dùng chánh niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc, ta thôi gây chiến. Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt dạy “Tôi đang thở vào và làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh”, tức là ta có thể dùng hơi thở chánh niệm để tạo ảnh hưởng tốt trên “sắc” và “thọ” của mình. Trong khi thực tập nắm lấy hơi thở, ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ tới. Và nhờ vậy mà mình không còn khai chiến với người khác nữa.

Năm uẩn ở đây không có nghĩa là thế giới bên trong. Khi nói năm uẩn là năm uẩn của anh là không đúng, tại vì đứng về phương diện “thân” tức là “sắc“, cũng như đứng về phương diện “thọ“, “tưởng“, “hành” và “thức” thì thân thể của tôi được làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi ăn, không khí tôi thở, nước tôi uống, tất cả những cái đó là từ anh, từ chị, từ những người khác, từ những hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái “sắc” này là của tôi là không đúng. “Thọ” cũng vậy, “thọ” tức là cảm giác, mà cảm giác luôn luôn là cảm giác giác về cái gì, cảm giác về những cái ở trong thân và cảm giác về những cái ngoài thân. Còn “tưởng” tức là tri giác, cũng vậy. Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về anh thì chủ thể của tri giác với đối tượng của tri giác là một. Anh là đối tượng của tri giác của tôi, thành ra nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm hành khác như giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai. Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả những cái ở bên ngoài. Vì vậy nên nói năm uẩn là những cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi chưa tu học thì ta tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta thấy năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng liên kết với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi có liên hệ tới mức mà ta không thể nào tách rời ra được.

Một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người không có hạnh phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng có chiến tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm làm lắng dịu, và đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy cho nên hơi thở chánh niệm là sự thực tập rất quan trọng. Ban đầu, chánh niệm làm lắng dịu tâm tư, đó gọi là an tịnh tâm hành. Một khi tâm hành an tịnh rồi, nếu ta tiếp tục thực tập thì chánh niệm sẽ càng soi sáng cho ta. Ta sẽ thấy rõ mọi thứ hơn. Cũng như trong  căn phòng của ta, nếu không có thì giờ để sắp xếp, thì đồ đạc sẽ lộn xộn, lung tung. Khi bước vào phòng, ta dễ bực bội và khó chịu. Nếu có thì giờ để sắp xếp lại mọi thứ thì trong phòng sẽ có không gian, và ta cảm thấy thoải mái và dễ chịu ngay. Năm uẩn cũng như vậy, nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của ta trở nên bất an, xáo trộn. Và vì vậy mà ta cảm thấy khó chịu, bứt rứt ở bên trong. Một khi trong lòng khó chịu thì ta khai chiến với bên ngoài!

Hãy thắp ngọn đèn chánh niệm lên, nhìn cho kỹ, sắp đặt lại mọi thứ bằng hơi thở chánh niệm. Khi trong lòng có sự an lạc và hòa điệu thì tự nhiên mình có hạnh phúc nội tại lẫn ngoại tại. Vì vậy mà năm uẩn đích thực là tăng thân của ta. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm một cách tinh cần thì sự an lạc cũng từ đó mà phát sinh. Những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng của ta sẽ dần dần được chuyển hóa.

Sau đó ta thực tập tiếp bài Quán niệm hơi thở:

            Thở vào, thở ra,

            Là hoa tươi mát,

            Là núi vững vàng,

            Nước tĩnh lặng chiếu,

            Không gian thênh thang.

Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi thấy là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy tôi là núi, thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi thấy tôi là nước tĩnh …

Lúc đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của ta sẽ lắng xuống, và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh. Mặt nước tĩnh sẽ phản chiếu được sự thật. Nước tĩnh lặng chiếu là như vậy. Nếu tâm mình còn ghét bỏ, còn giận hờn thì hình ảnh về người anh, người em hay người chị của mình bị méo mó đi. Khi tâm tĩnh lặng thì tri giác của ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai lầm mà thôi. Tri giác sai lầm sẽ làm làm khổ mình và cũng làm người khác khổ theo.

Câu cuối của bài thực tập “Không gian thênh thang” nghĩa là lúc đó ở trong tâm ta có không gian và ta thấy khỏe, không còn chật chội nữa! Khi có những tri giác sai lầm, những giận hờn buồn phiền thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không có chỗ cho sư anh sư em của ta. Khi tâm tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, trái tim ta mở rộng hơn ra. Vì vậy mà ta có không gian bên trong và chấp nhận được người kia.

Những lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chãi, là những lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn hết. Nhưng những lúc không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà ta thực tập bài này hạnh phúc sẽ càng được nuôi lớn. Đừng đợi tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới thực tập. Chúng ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có “chiến tranh” ta chỉ cần vài hơi thở là có thể thiết lập được hòa bình.

Hạnh phúc là có sự mát mẻ và thanh lương. Trái với hạnh phúc là cơn sốt. Khi rơi vào ngũ dục ta sẽ lên cơn sốt ngũ dục. Dầu đó là danh, là lợi, là tiền tài, là sắc dục, hay là sự ăn ngon. Trong khi hưởng thụ những dục lạc đó, người nào cũng có những cơn sốt. Ta chỉ cần quán chiếu là thấy cơn sốt có mặt trong lúc hưởng thụ và cơn sốt sẽ trầm trọng hơn sau khi hưởng thụ.

Về giữa núi đồi

Chân Pháp Biểu

Tôi chờ đợi giây phút này từ mấy tháng nay rồi. Từ tối mai, tôi sẽ có cơ hội nhập thất trong bốn tuần. Tôi bắt đầu thấy mình cần dành thời gian cho bản thân khi nhận ra không gian dành cho những tương tác thường ngày với mọi người xung quanh đang dần co rút lại trong tôi. Tôi trở nên dễ bực bội và hay phán xét hơn. Có những điều, chỉ mấy tháng trước đây, không hề là chuyện gì to tát, bây giờ đòi hỏi nhiều không gian hơn trong tâm tôi. Tôi cũng nhìn ra mình bắt đầu cảm thấy tách biệt và xa cách hơn với những người xung quanh.

Cách đây vài năm, chuyện này có lẽ sẽ làm tôi lo lắng. Tôi sẽ tự chất vấn xem mình đã làm gì sai hay mình có cần phải cố gắng ra khỏi cái vỏ của mình nhiều hơn không. Nhưng tôi đã học để mỉm cười với cái tập khí cố hữu này. Mỗi khi cảm thấy “đầy”, thay vì dành cho mình thời gian và không gian để nhìn ra vấn đề và để tự chữa trị, tôi sẽ dẹp hết những cảm xúc, tình cảm của mình sang một bên và tham gia vào các hoạt động, chuyện trò với người khác thậm chí còn nhiều hơn bình thường. May thay, chỉ chút ít trải nghiệm đã có thể đem lại một sự khác biệt lớn. Tôi mỉm cười với mình. Chỉ bấy nhiêu thôi đã đủ để nhắc cho tôi rằng tôi cần dừng lại, nhìn sâu vào nội tâm mình.

Một kỳ nhập thất không hẳn là thời gian nghỉ ngơi. Tuy vậy, khi nó kết thúc, tôi luôn có cảm giác rất sâu là mình đã tìm lại được sức mạnh, và một nguồn năng lượng mới hùng hậu trào dâng trong tôi. Nhưng nghỉ ngơi không phải là thứ làm tôi thích thú nhất trong những đợt nhập thất như thế này. Luôn khám phá ra một điều gì đó của tự thân mà tôi không hề ngờ tới mới là điều thú vị nhất. Đôi khi đó là một cảm xúc sâu sắc về lòng biết ơn và niềm vui. Trong những khoảnh khắc ấy tôi có thể tận hưởng được phần nào những hoa trái của sự tu tập. Nhưng nhiều khi, đó có thể là một vết thương tôi đang mang trong mình hay tâm trạng buồn chán, cô đơn. Những giây phút ấy, tôi thấy mình chạm tới một cái gì đó bấy lâu nay đã được nuôi dưỡng trong chiều sâu tâm thức của mình. Và khi tôi bắt đầu mở lòng ra để thừa nhận sự có mặt của nó, của cả lớp khổ đau này, tôi luôn cảm thấy bị cuốn hút và kinh ngạc nhận ra rằng hình như nó luôn thường trực có mặt đó thông qua mỗi hành động của tôi trong đời sống hàng ngày. Nó giống như một bức toan, trên đó tôi không ngừng vẽ lên mỗi ngày mọi trải nghiệm buồn vui của mình.

Khi chia sẻ với bạn như vậy, tôi có thể cho bạn cảm tưởng các khóa nhập thất của tôi không dễ chịu chút nào, giống như khi phải làm các việc vặt, nhưng sự thực hoàn toàn ngược lại. Ngay từ lần đầu tiên tôi đã nhận ra rằng chạm vào được gốc rễ của khổ đau là một trải nghiệm vô cùng bổ ích, rất đáng làm. Mỗi kinh nghiệm đi qua đem tới cho tôi thật nhiều năng lượng, đầy hy vọng và cảm hứng để tiếp tục thực tập. Có vẻ hơi lạ khi nói điều này, nhưng đây thực sự là những gì tôi thấy. Tôi có cảm giác là trong cuộc sống hàng ngày, tôi thường rời xa trái tim mình. Và những giây phút im lặng của kỳ nhập thất đã giúp tôi về yên lại chính nơi tâm mình. 

Tôi đã luôn là một người phức tạp. Từ khi là một đứa trẻ tôi đã rất hiếu động, ít khi hài lòng với những điều mà đa số những đứa trẻ khác đều có thể chấp nhận bằng một thái độ vui vẻ và trân trọng. Ở tuổi thiếu niên, tôi có cảm giác mình không có chỗ đứng trong thế giới này và mọi thứ trong xã hội dường như đều đi ngược lại với những nguyên tắc của tôi. 

Là một tu sĩ trẻ, tôi cũng cảm thấy có gì đó còn thiếu trong cuộc sống của mình, nhưng rồi giáo pháp đã từ từ thấm vào trái tim tôi. Kể từ đó, mặc dù tôi nhận thấy thân tâm mình không có sự thay đổi nào rõ nét – tôi thấy tôi chẳng khác gì nhiều so với chàng thanh niên đầy hoang mang của 10 năm về trước khi đến tu viện lần đầu, nhưng vì một lý do nào đó, tôi không còn tin vào lý lẽ của anh chàng lãng tử trong tôi nữa. Đôi khi, anh chàng hiện hình và tìm cách sáng tạo ra một câu chuyện gì đó, khi ấy tôi nhìn chàng rồi thong thả hỏi: “Này, anh từ đâu đến vậy?”. Có đôi khi, tôi nói: “Trông anh mệt rồi đấy, sao anh không đặt vali xuống, nghỉ ngơi một chút trước khi tiếp tục cuộc hành trình bất tận của mình?”. Thời gian trôi qua, dần dần anh chàng trở thành bạn với tôi. Tôi vui mừng chào đón sự trở lại của anh dù anh có khuynh hướng xuất hiện tuy chẳng được mời, lại đúng vào những thời điểm không mong đợi. Thực sự là ngay bây giờ, anh chàng đang ngồi đây cùng tôi, khi tôi đang viết những dòng này và đang tự hỏi chuyện gì sẽ diễn ra trong những tuần tới. 

 

 

Ban đầu, tôi đi tu với ý định “quay lưng lại với xã hội”. Đời sống xuất sĩ kỳ thú cuốn hút tôi đến độ tôi nghĩ mình có thể quên hết mọi nhu cầu, mọi ước vọng về tình yêu, sự thừa nhận xã hội cũng như mọi tiện nghi về tình cảm. Nhưng bây giờ, kể cả khi đã là một tu sĩ rồi, tôi biết rằng rất khó để vượt qua những nhu yếu này. Đương nhiên, chúng không còn thô như khi chúng ta theo đuổi cuộc sống ở bên ngoài nhưng hương vị của chúng thì vẫn dễ dàng nhận ra được trong đời sống hàng ngày.

Đôi khi, tôi chăm sóc một sư em trong đại chúng, đây là việc một vị giáo thọ thường làm. Tuy vậy, nếu tôi thật sự trung thực với mình, tôi cần thừa nhận là tôi không chỉ quan tâm tới những tiến bộ trong thực tập và hạnh phúc của các sư em. Một phần trong tôi tìm kiếm sự công nhận trong mắt các sư em. Tôi luôn cần được thương và được hiểu. Tôi không thể ngăn mình mong ước những điều này. Lần đầu tiên nhìn ra chuyện đó, tôi đã rất choáng váng, tôi phản ứng lại chính mình bằng một năng lượng vừa căm ghét vừa xấu hổ. Không cần nói hẳn bạn cũng biết là những phản ứng này không hề giúp tôi cảm thấy dễ chịu hơn và cũng không đem thêm chút nào cảm thông và chấp nhận trong đời sống của tôi.

Thật may mắn, tiếng gọi “Hãy thương chính mình”, như gàu nước lạnh, đã được dội xuống tôi hết lần này tới lần khác. Và rồi một ngày kia, tôi đã có can đảm lắng nghe tiếng nói ấy. Tôi không nhớ giây phút này đã diễn ra lần đầu tiên vào lúc nào nhưng, theo dòng thời gian, có gì đó đã thay đổi rõ nét trong tôi. Bây giờ mỗi khi tôi giật mình nhận ra mình đang đi theo “lối cũ” – đang đi vào lối mòn của căm ghét và mặc cảm hay đang đòi hỏi tình thương và sự công nhận, tôi thường nghĩ tới hình ảnh một cái thất nhỏ nằm giữa những đỉnh núi đầy tuyết phủ. Tôi chưa bao giờ tới đó nhưng tôi biết nơi ấy gìn giữ Tâm ban đầu của tôi. Đó là biểu tượng của niềm mong ước sâu xa về tự do tuyệt đối, về sự vượt thoát nhu yếu rất con người trong tôi là được chấp nhận, được thương yêu và chăm sóc.

Đó là một căn nhà đơn sơ bằng đá có cửa ra vào bằng gỗ và cửa sổ nhìn xuống thung lũng. Bước vào trong, sẽ chỉ có một lò củi nhỏ, một bục gỗ làm giường, một cái bàn và kệ gỗ để ngồi đặt ngay trước cửa sổ, nơi mỗi ngày tôi có thể ngắm mây trời đến đi trên thung lũng.

Nơi ấy, cuối cùng, tôi có thể bình thản khóc cười với buồn vui của chính mình mỗi ngày. Tôi đã tiếp xúc và nuôi dưỡng những tâm nguyện của mình như thế. Đó là nơi tôi trở về nương náu khi lo lắng, cô đơn và bất an có mặt trong tôi.

Một vị thiền sư Trung Hoa đã viết bài thơ này vào một ngày hè, khi ngài đang sống ở một tu viện nằm trong lòng một thành phố đông người:

三面僧鄰一面牆 

更無風路可吹涼

 他年捨此歸何處

 青壁紅霞裹石房

Tam diện tăng lân nhất diện tường

Cánh vô phong lộ khả xuy lương 

Tha niên xả thử quy hà xứ 

Thanh bích hồng hà khoả thạch phòng 

(Thiền sư Tề Kỷ)

Ba hướng tăng nhân, một bức tường 

Nẻo nào cho gió thoảng thanh lương 

Bỏ hết, mai ta về đâu nhỉ 

Thạch thất đồi xanh quyện ráng hồng 

(Bản dịch của thầy Nguyên Tịnh)

Khi đọc bài thơ này tôi đã mỉm cười! Tôi nghĩ tới tác giả và tự nói với mình: “Không lạ lùng sao? Hơn một ngàn năm trôi qua rồi vậy mà cuộc sống của tôi và của Ngài thật giống nhau quá!”. Niềm vui của tôi, trong một thoáng bất ngờ, đã biến thành tình bằng hữu, thành sự tương giao vượt thoát không gian và thời gian. Tôi nghe lòng mình mở ra. Thoáng chốc, dòng chảy sự sống cuồn cuộn trôi trong cả châu thân.

Mỗi khi có thể tiếp xúc với không gian nội tâm này, tôi thấy thật lạ là tôi thường muốn được chia sẻ với ai đó. Nó giống như một hành động hiến tặng sự tử tế và tình thương. Khi trẻ tuổi hơn bây giờ, tôi đã từng làm như thế nhưng khi đó tôi thấy điều mầu nhiệm này đã xẹp xuống như một quả bóng bị châm kim. Tôi nhận ra rằng có những điều không thể nói bằng lời. Trong cuộc sống, được gặp gỡ hai hay ba người bạn có thể hiểu chúng ta chỉ sau một thoáng nhìn, ta có thể coi như mình là một trong số những người may mắn. Không phải lúc nào tôi cũng có mặt trong số này nhưng tôi biết chừng nào tôi còn giữ được sự ấm áp cho thạch thất của mình thì chừng đó tôi còn có đủ năng lượng để đi tới, để tiếp tục thử nghiệm.

Tôi hy vọng là bạn sẽ tạo dựng cho mình một thiền thất như thế, nằm bên một hồ nước trong xanh hay bên một thác nước cuộn chảy đêm ngày. Biết đâu, một ngày, tôi sẽ tới thăm bạn. Ban đầu, có thể bạn sẽ không biết tôi tới nhưng nếu bạn để cửa ngỏ, tôi sẽ nhẹ nhàng bước vào. Tôi sẽ nhìn bạn viết sổ công phu hay đọc kinh cho tới khi bạn nhận ra sự có mặt của tôi và mỉm cười với tôi. Có thể chúng ta sẽ giữ im lặng, có thể chúng ta sẽ vui vẻ nói với nhau về chuyện này chuyện kia. Thực ra,  điều đó không có gì quan trọng bởi hai chúng ta đều biết rằng chẳng có điều gì thực sự cần phải nói. Có thể tôi đã quen biết bạn từ trước. Chúng ta đã cười với nhau mà không cần biết mỗi chúng ta đang mang điều gì trong lòng. Cũng có thể là bạn còn chưa ra đời và còn cần cả nghìn năm nữa để cho cha mẹ bạn gặp nhau. Thêm một lần nữa, điều ấy cũng không thực sự quan trọng. Khi tôi viết ra thế này, tôi có cảm giác rất thật là tôi đang nắm tay bạn. Sau cùng, khuôn mặt và nụ cười bạn soi bóng xuống mặt hồ, in dấu trong những hàng cây, đồng cỏ bên ngoài cửa sổ và trong cả ánh mặt trời vừa hiện ra sưởi ấm ngày đầu tiên trong kỳ nhập thất của tôi.

 

 

 

Pháp Thân Tạng

Chuyện kể rằng, mỗi khi nghe tiếng gió reo vui qua cành lá, tiếng chim líu lo gọi nhau trở về thì những mầm non ngủ say trong lòng đất cũng cựa mình thức giấc… 

Một sớm đầu xuân, triền đồi Xóm Thượng đã vàng rực những hoa thủy tiên. Cánh hoa mỏng và tươi như tự mình ướp hết những giọt nắng vàng của trời xuân.

Sư Ông đã đặt tên nơi ấy là “Pháp Thân Tạng”- tức là kho tàng của Pháp Thân. Hàng ngàn, hàng vạn bông hoa bé xíu tái sinh từ lòng đất như những vị Bồ Tát tùng địa dũng xuất.

Bồ Tát lên nghe kinh hay là Bồ Tát đang thuyết pháp? 

Thương mời mọi người dừng chân bên sườn đồi và hòa mình giữa lòng bao la để ngắm nhìn “Pháp thân tạng”:

Vui đón Tết Tân Sửu 2021

Kính mời đại chúng cùng thưởng thức một số hình ảnh đón Tết vui xuân tại Làng những ngày vừa qua:

Chung một cội nguồn

 

Kính thưa đại chúng,

Hôm nay là ngày 29 tháng 7 năm 2001, chúng ta đang ở chùa Cam Lộ, xóm Hạ thuộc đạo tràng Mai Thôn.

Cách đây chừng sáu năm, trong chuyến đi giảng dạy ở Ý, thầy có đi ngang qua một vùng đất trồng toàn cây ô liu. Ở Pháp hình như không có cây ô liu, hoặc có thể chỉ có một vài cây ở miền Nam, nhưng bên Ý thì có rất nhiều. Thầy nhận thấy những cây ô liu trong đám ruộng đó mọc rất ngộ nghĩnh, thay vì mọc từng cây riêng rẽ thì nó mọc một khóm ba bốn cây chụm lại với nhau. Những cây ô liu đó cũng còn trẻ thôi, khoảng chừng bảy đến tám tuổi. Khi hỏi lại, người ta cho biết trước đó bảy tám năm có một trận lạnh rất lớn và tất cả các cây ô liu trong vùng đó chết hết, người ta phải cắt sát gốc. Nhưng những cây ô liu đó chỉ chết phần trên thôi, phần gốc vẫn còn sống. Khi cây ô liu bị cắt sát gốc rồi thì từ một cây ô liu mẹ sanh ra ba đến bốn cây ô liu con. Cho nên, chín mười năm sau mình thấy những cây ô liu mọc lên từng khóm. Mình lầm tưởng, cứ nghĩ rằng có ba hay bốn cây ô liu riêng biệt, nhưng khi nhìn sâu thì mình thấy kỳ thực chúng cũng chỉ là một cây thôi, từ một gốc mà đi lên.

Giả dụ cây ô liu thứ nhất ganh tỵ với cây ô liu thứ hai. Cây ô liu thứ hai đánh lộn với cây ô liu thứ ba thì rất buồn cười. Như vậy là có sự phân biệt: “Tôi là cây ô liu khác, còn anh là cây ô liu khác”. Không biết các cây ô liu có ganh tỵ, có giận hờn nhau hay không. Nhưng có những em bé hay những người lớn, tuy phát xuất từ một gốc mà thỉnh thoảng họ vẫn ganh tỵ, giận hờn nhau. Họ làm giống như họ là những con người khác nhau, không dính líu gì tới nhau hết. Họ không biết rằng họ từ một gốc mà đi lên, họ bị sự phân biệt, kỳ thị làm cho chia rẽ. Chính sự phân biệt, kỳ thị đó làm cho chúng ta coi nhau như kẻ thù, không thương yêu nhau được dù là anh chị em trong một nhà. Cho nên, tu tập là nhìn sâu để thấy được rằng chúng ta từ một nguồn gốc mà phát hiện. Khi thấy được sự thật đó thì mình sẽ lấy đi được sự phân biệt kỳ thị, và sẽ đạt tới một loại trí tuệ rất đặc biệt gọi là vô phân biệt trí.

Trí vô phân biệt hay vô phân biệt trí, cụm từ này mình nên học thuộc vì trong trường học có thể không được học chữ này, tiếng Phạn là Nirvikalpa-jñāna. Chúng ta có cái trí giúp phân biệt được đây là bông hoa hướng dương, đây là cuốn sách. Bông hoa hướng dương khác cuốn sách. Chúng ta có thể phân biệt được đây là củ cà rốt, đây là trái cà chua. Cái phân biệt đó đôi khi cũng có ích, và trong sự phân biệt đó không có sự kỳ thị, theo phe. Đó gọi là trí phân biệt, nhiều khi rất cần. Nhưng nằm dưới tầng sâu hơn có một loại trí khác, đó là trí không phân biệt, không kỳ thị. Trí này rất quan trọng. Ở trường học, chúng ta chỉ được học nhiều về trí phân biệt thôi, nhưng là người thực tập, mình phải học thêm về trí không phân biệt. Trí không phân biệt tức là trí không có kỳ thị nhau. Mình không thể nói rằng mình không phải là người kia, người kia là da trắng, mình là da đen. Mình không thương người da trắng, mình chỉ thương người da đen thôi, hoặc là người kia là da đen mình là da trắng, mình chỉ thương người da trắng thôi, mình không thương người da đen. Cái đó gọi là phân biệt, kỳ thị. Mình nói người kia là Do Thái, mình không phải là người Do Thái, mình là người Palestine. Người Do Thái thì nói mình không phải là người Palestine, rồi hai bên kỳ thị và làm khổ cho nhau. Kỳ thực mình từ một nguồn gốc mà ra hết.

Trong Hồi giáo cũng như trong Do Thái giáo, chúng ta được học rằng tất cả đều do một gốc mà sinh ra. Tất cả đều do Allah, đều do Thượng đế mà phát sinh ra. Vậy mà mình coi nhau như kẻ thù, rồi có sự kỳ thị phân biệt, chống đối nhau và quyết một mất một còn với nhau. Sự kỳ thị phân biệt đó cần được lấy ra khỏi tâm mình bằng sự thực tập thiền quán để thấy được cái gọi là trí không phân biệt (The wisdom of non-discrimination).

Vô phân biệt trí là gì, mình có thể hiểu được, biết được, nó cũng dễ thôi. Ví dụ, nhìn vào bàn tay phải ta thấy có vô phân biệt trí ở trong bàn tay. Bàn tay này đã làm được rất nhiều việc, nó rất khéo léo tuy đôi khi cũng có một vài cái vụng về. Bàn tay này đã làm được hàng trăm, hàng ngàn bài thơ. Tất cả những bài thơ mà thầy viết xuống đều do bàn tay phải viết xuống hết, bàn tay trái này thì chưa bao giờ làm thơ. Chỉ có một lần, bữa đó thầy không có giấy, không có mực, không có viết nên phải bỏ cái bì thư vào trong máy đánh chữ và đánh máy bài thơ. Đó là bài Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời. Chỉ có bài đó là hai bàn tay làm chung mà thôi, còn các bài khác thì thầy làm bằng bàn tay phải hết.

Bàn tay phải này còn làm được nhiều chuyện khác nữa. Ví dụ như mỗi khi muốn cầm cái búa thì nó cầm rất giỏi, bàn tay kia cầm dở lắm, đóng không được mạnh, đôi khi còn đóng trật. Bàn tay này đôi khi cũng có trật nhưng nó đóng khá hơn. Bàn tay này đã từng viết chữ, làm thơ, viết thư pháp và làm nhiều chuyện khác nữa nhưng bàn tay này không bao giờ kỳ thị, phân biệt hay chê trách bàn tay kia. Nó không nói rằng: “Này, bàn tay trái ơi, anh là đồ vô tích sự, anh chẳng làm được gì hết, không làm thơ được, không viết thư pháp được”. Bàn tay phải không bao giờ nghĩ như vậy. Trong bàn tay phải không có cái gọi là kỳ thị, phân biệt, không có cái mạn, là tôi hơn anh, tôi bằng anh hay tôi thua anh. Trong bàn tay này có trí tuệ gọi là vô phân biệt trí. Cho nên nó sống một cách rất hài hòa và an lạc với bàn tay trái. Bàn tay trái cũng không có mặc cảm, nó không nói: “Trời đất ơi, anh làm hết tất cả mọi cái, còn tôi chẳng làm được gì hết”. Hai bàn tay không mặc cảm, vì chúng nó biết rằng cả hai đều từ một gốc mà ra. Chúng là hai anh em, giữa hai anh em không có sự kỳ thị, phân biệt nên không có vấn đề với nhau.

Bây giờ chị gái mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Em trai mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Đôi khi còn đánh lộn nữa, đôi khi còn giận hờn, ganh tỵ, đủ thứ hết. Thành ra mình chưa có vô phân biệt trí nhiều như hai bàn tay của mình. Chúng ta thấy sự phân biệt tạo ra biết bao nhiêu khổ đau: người da trắng kỳ thị người da đen, người Hồi giáo kỳ thị người Ấn Độ giáo, người Ấn Độ giáo kỳ thị người Hồi giáo, người Do Thái kỳ thị người Palestine, người Palestine kỳ thị người Do Thái. Chúng ta không cư xử được với nhau như hai bàn tay của cùng một cơ thể tại vì trong chúng ta chưa có cái thấy sâu sắc của vô phân biệt trí. Ta nên biết rằng khi bàn tay này đau thì mình cũng đau, phải có cái thấy như vậy thì mới được.

Có một lần thầy dùng tay phải cầm cái búa, tay trái cầm cái đinh tính treo một bức thư pháp trên tường cho đẹp, ai dè thầy đóng làm sao mà đã không đóng trên cái đinh, lại đóng trên ngón tay khiến nó đau quá chừng. Lập tức tay phải bỏ cái búa xuống, nắm lấy cái tay đang bị đau và đi kiếm thuốc, kiếm băng để băng bó. Bàn tay phải của thầy làm một cách rất tự nhiên, không nói rằng ta là bàn tay phải, ta đang băng bó cho ngươi, ta đang chăm sóc cho ngươi, ngươi phải nhớ điều đó mà đừng vô ơn bạc nghĩa. Bàn tay phải không bao giờ suy nghĩ như vậy. Nó không có sự kỳ thị, phân biệt giữa ta và người vì trong nó có cái vô phân biệt trí rất hay. Cho nên hai bàn tay sống với nhau rất hài hòa. Khi hai bàn tay chắp lại thành búp sen thì rất đẹp. Khi ăn cơm, bàn tay trái cầm cái chén, bàn tay phải cầm đôi đũa. Tay trái không nói là tôi nâng cái chén mệt mỏi quá, còn tay phải cũng không nói là tôi phải và cơm vào miệng mệt quá. Không bao giờ chúng có sự kỳ thị, phân biệt hay than phiền như vậy. Cho nên, chúng ta biết rằng trí vô phân biệt là cái có thật mà mình có thể thấy được. Khi mình tu học thành Phật, thành Bồ tát hay La hán thì hoàn toàn mình được như vậy. Mình không còn có sự kỳ thị, phân biệt nữa.

 

 

Khi tới Làng Mai chúng ta thấy các thầy, các sư cô cũng đang cố gắng để làm như vậy. Ở xóm Hạ, mỗi sư cô đều giống như là ngón tay của một bàn tay, người thì làm việc này, người thì làm việc khác, làm một cách lặng lẽ, làm một cách âm thầm, không nói là tôi làm việc này quan trọng hơn sư chị, hoặc công việc của sư chị làm không quan trọng bằng công việc tôi đang làm. Không bao giờ quý sư cô có suy nghĩ như vậy. Tất cả đều cùng làm việc: người thì nấu ăn, người thì rửa chén, người thì đi chợ, người thì lái xe đi đón thiền sinh ở nhà ga, người thì quét dọn, người thì chùi cầu tiêu,… Không có người nào trách móc, than van, nói rằng những người kia không chịu làm, chỉ có một mình mình làm thôi. Vì sao? Vì trong họ đã có một ít trí tuệ gọi là trí tuệ vô phân biệt, tuy chưa hoàn toàn như Bụt, như các vị Bồ tát.

Các thầy trên xóm Thượng cũng vậy, công việc nhiều lắm, nhất là trong mùa hè thiền sinh tới rất đông. Nhiều người có niềm đau nỗi khổ và mình phải lắng nghe họ, chỉ cho họ cách đi thiền hành, cách thở, cách tu tập để cho họ bớt khổ, làm sao để cho họ có hạnh phúc. Đó là niềm vui của mình khi đi tu. Có người thì nói pháp thoại, có người thì hướng dẫn pháp đàm, có người chỉ đi chợ thôi, có người chỉ lái xe thôi nhưng người nào cũng hoan hỷ hết. Tại vì đi chợ cũng rất quan trọng. Người ta không có cơm ăn thì nghe pháp thoại đâu có nổi, đói quá làm sao nghe pháp thoại. Thành ra đi chợ, nấu cơm cũng quan trọng như hướng dẫn pháp đàm hay nói pháp thoại. Cho nên, người nào cũng rất vui khi được làm công việc của mình, không có sự kỳ thị. Đi chợ hay chùi cầu tiêu cũng thiêng liêng, cũng đẹp đẽ giống như hướng dẫn pháp đàm hay nói pháp thoại. Không ai có mặc cảm là mình hơn người khác, thua hay bằng người khác. Tất cả đều làm việc chung như năm ngón tay của một bàn tay, một cách rất hòa hợp, không có sự xô xát, giận hờn hay kỳ thị. Tại vì trong đó đã có chứa đựng phần nào cái thấy của vô phân biệt trí.

Có một bữa thầy Pháp Độ đi lên xóm Thượng hái rau. Ở xóm Trung mọi người thích ăn rau, nhất là rau Việt Nam, nên thầy Pháp Độ đã đi hết cả một buổi sáng hái rau ở xóm Thượng, buổi chiều còn đi xóm khác tiếp tục hái rau. Rồi có tin đồn rằng xóm Trung hết đồ ăn, sẽ nhịn đói ngày mai, ngày mốt. Khi nghe tin như vậy, xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới liền đem đồ ăn xuống để viện trợ. Vì sao vậy? Vì xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới đều thấy mình như là những ngón tay của một bàn tay. Khi thấy có một xóm thiếu thức ăn thì mình phải lo thôi, mình không thể nói tôi là xóm này nè, tôi đem thức ăn xuống cho quý vị đó, quý vị phải biết ơn tôi. Các xóm không bao giờ nghĩ như vậy. Trong thành ngữ Việt Nam có câu “chị ngã em nâng”. Khi người chị té xuống thì người em phải đỡ dậy và người em té xuống thì người chị đỡ dậy. Mình biết là mình từ một gốc mà ra nên mình chăm sóc nhau và không có sự kỳ thị lẫn nhau.

Trong Tâm kinh Bát nhã có câu: “Này Xá Lợi Phất, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc”. Bây giờ mình đem cái đó áp dụng vào trong đời sống gia đình. Mình nói: “Này chị ơi, chị chẳng khác gì em, em chẳng khác gì chị, chị chính thực là em, em chính thực là chị, và còn ba còn má và ông nội, bà ngoại, tất cả đều như vậy hết”. “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”. Tức là chúng ta từ một gốc mà đi ra, chúng ta phải thấy rằng chúng ta đều là những ngón tay của một bàn tay. Vậy cho nên ngón tay cái là ngón tay trỏ, ngón tay trỏ là ngón tay cái, ngón tay cái chẳng khác ngón tay trỏ, ngón tay trỏ chẳng khác ngón tay cái. Ngoài ra ngón tay giữa, ngón tay áp út và ngón tay út cũng đều như vậy cả. Như vậy là tinh thần không kỳ thị.

Các cháu nhỏ cũng có thể hiểu được Tâm kinh Bát nhã rất sâu. Các cháu có thể đóng một vở kịch. Trong kịch có ba má, ông bà nội, ông bà ngoại và mấy đứa con. Ban đầu mấy đứa con không có trí vô phân biệt nên cãi lộn nhau, giành nhau. Bà ngoại kêu lại và nói: “Các con có biết rằng con chị tức là thằng em, thằng em tức là con chị, con chị chẳng khác gì thằng em, thằng em chẳng khác gì con chị, ngoài ra bà nội, bà ngoại, ông nội, ông ngoại, ba má cũng đều như vậy cả”. Tức là nói Tâm kinh Bát nhã đó, thành ra hai đứa nó cười hề hề, nó ôm nhau và không giận nhau nữa. Rồi ngày mai tự nhiên ba má hơi cãi lộn nhau, mình nói: “Này ba, ba chính là má, má chính là ba, ba chẳng khác gì má, má chẳng khác gì ba, ngoài ra ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại và tụi con cũng đều như vậy cả”. Đó là Tâm kinh mà mình có thể áp dụng được liền. Mỗi khi có sự kỳ thị, có sự giận hờn là phải đọc câu linh chú đó: “Thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ tất cả những sự kỳ thị và phân biệt”.

Khi chúng ta đi vào những ngôi chùa như chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, chúng ta thấy có một tượng đức Bồ tát Quan Thế Âm. Tượng đó không phải chỉ có hai cánh tay mà có cả ngàn cánh tay. Chúng ta rất ngạc nhiên tại sao một người mà có thể có nhiều cánh tay như vậy. Đức Bồ tát Quan Thế Âm có tình thương rất lớn, Ngài có thể làm nhiều chuyện một lần. Khi nào mình có tình thương lớn, mình muốn làm nhiều chuyện một lần: rót nước cho người thương uống, dạy cho em học, đem sách ra đọc cho bà ngoại nghe, viết thư cho người bạn, đem cái hoa tặng ba hay má nhân ngày sinh nhật; mình muốn đúng giờ giấc để người khác cũng đi học đúng giờ, muốn đọc lá thư để chia sẻ cho những người bạn của mình, thu âm bài pháp thoại của Sư Ông cho người khác được nghe, muốn gởi cuốn sách này về cho má, đem sách này về dạy các em, hay đem sách kia đọc để ghi âm lại,… Khi mình có tình thương, mình muốn làm rất nhiều việc, nhưng mình chỉ có hai cánh tay thôi thì làm sao làm được. Cho nên đức Bồ tát có đến một ngàn cánh tay. 

Bây giờ mình cứ tưởng tượng xóm Hạ, chùa Cam Lộ là một vị Bồ tát gọi là Bồ tát Xóm Hạ. Bồ tát Xóm Hạ có bao nhiêu tay? Có bao nhiêu sư cô, bao nhiêu cư sĩ thì có bấy nhiêu tay. Một tay thì làm phận sự trụ trì, một tay làm phận sự ban điều hành, một tay lo văn phòng, một tay làm tri xa, lo chở thiền sinh, và có biết bao nhiêu là tay. Mình cứ tưởng tượng Bồ tát Xóm Hạ có cả trăm cái tay. Chúng ta đừng coi xóm Hạ là nhiều người mà coi xóm Hạ chỉ như là một người. Khi chúng ta tới xóm Hạ, chúng ta thấy vị Bồ tát Xóm Hạ đưa ra cả trăm cánh tay để đón chào ta… Mỗi sư cô đóng vai trò là một cánh tay của Bồ tát. Tuy có nhiều cánh tay như vậy nhưng những cánh tay đó hoạt động một cách rất nhịp nhàng, không va chạm, không gây ra sự xích mích đổ vỡ. Cho nên chúng ta phải tập nhìn xóm Hạ như một vị Bồ tát có nhiều tay.

Chúng ta cũng phải tập nhìn xóm Thượng như một vị Bồ tát có nhiều tay. Mỗi thầy là một cánh tay của vị Bồ tát. Mình có thấy các thầy cãi lộn nhau và đánh nhau chưa? Mình có thấy các thầy kỳ thị nhau, làm khổ nhau chưa? Xóm Mới cũng vậy, cũng là một vị Bồ tát có rất nhiều tay. Mỗi sư cô, mỗi đạo hữu thường trú là một cánh tay. Mình có thấy các sư cô giận hờn, kỳ thị, chửi mắng nhau hay không? Tại vì các sư cô đang thực tập vô phân biệt trí. Tuy chưa hay bằng các vị Bồ tát lớn, tuy chưa hay bằng các đức Thế Tôn, nhưng trong mỗi sư cô, trong mỗi thầy đều có một ít cái thấy về vô phân biệt. Cho nên, họ có thể sống với nhau một cách hài hòa và hạnh phúc. Vì vậy, họ có thể tạo dựng hạnh phúc cho những người tới với họ. Tất cả đều đang làm công việc của Bồ tát để chăm sóc cho thiền sinh, làm cho thiền sinh lớn cũng như nhỏ đều được hạnh phúc trong thời gian sống ở Làng Mai. Nếu tinh thần hòa hợp, không kỳ thị đó càng lớn chừng nào thì hạnh phúc của thiền sinh càng lớn chừng đó.

 

 

Cách đây năm sáu năm, thầy có đi giảng dạy tại Hàn Quốc. Thầy được trường Đại học Phật giáo Đông Quốc ở Hán Thành mời giảng. Thầy đã giảng rằng trường Đại học phải là một vị Bồ tát, và mỗi giáo sư của trường Đại học là một cánh tay của vị Bồ tát, nếu không thì đâu phải là trường Đại học Phật giáo. Một trường Đại học Phật giáo phải được tổ chức như là một cơ thể của Bồ tát. Từ viện trưởng cho đến giáo sư, cho đến nhân viên đều phải làm những cánh tay của vị đại Bồ tát. Trường Đại học của mình sau này phải là trường của một vị Bồ tát, ai muốn làm trường Đại học Phật giáo thì phải nghĩ tới chuyện này. Trường Đại học mà chỉ cống hiến kiến thức thôi thì chưa đủ mà phải cống hiến cho sinh viên hai chất liệu trí tuệ và tình thương. Và trí tuệ này cần có chất liệu của trí vô phân biệt. Trí tuệ phân biệt thì nhiều trường Đại học cống hiến lắm nhưng ít trường cống hiến trí không phân biệt. Một Phật học viện, một tu viện hay một trường Đại học Phật giáo nếu nó đích thực là trong truyền thống Phật giáo thì nó phải cống hiến cái trí không phân biệt, chứ cống hiến trí phân biệt không thì chưa đủ. Kiến thức ngoài đời để làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm tiến sĩ về khoa học, về văn chương thì chưa đủ. Phải có cách đào tạo phần này vì chính cái phần này là phần làm phát sinh ra hiểu biết và thương yêu, tức là lòng từ bi. Không có trí không phân biệt thì sẽ không có phần gọi là chấp nhận và thương yêu. Trường học ngoài đời người ta chỉ cung cấp cái kia thôi, trong trường học của đạo Bụt và của tu viện thì mình phải ráng để cung cấp cái này nữa. Khi cung cấp cái thứ hai rồi mới có cái thứ ba, thì lúc đó mới có hòa bình và an lạc, mới có hài hòa với nhau.

Vậy thì mình chỉ cần đưa bàn tay của mình lên nhìn cho kỹ là mình có thể học được rất nhiều từ bàn tay này. Bàn tay này chứa đựng trí không phân biệt. Bàn tay kia cũng vậy, nó hoàn toàn không có mặc cảm là tôi thua, tôi hơn hay tôi bằng. Cho nên chúng nó là hai anh em gương mẫu, hai chị em gương mẫu. Chúng ta có thể đưa hai bàn tay lên, nắm lấy nhau để cảm thấy đây là hai anh em rất hòa thuận, rất hạnh phúc. Tại vì trong mỗi bàn tay đều có trí vô phân biệt. Chúng ta, dù lớn hay nhỏ đều được mời lấy bàn tay phải nắm lấy bàn tay trái để cảm thấy rằng đây là hai anh em đích thực, hai chị em đích thực, sống với nhau hài hòa được là nhờ có cái trí vô phân biệt ở trong đó. Làm xong rồi thì thở ba hơi. Quý vị có thấy được cái trí vô phân biệt trong bàn tay mình không?

Bây giờ đưa bàn tay ra cầm bàn tay của người ngồi bên để coi thử có trí vô phân biệt trong cả hai bàn tay hay không? Người Pháp cầm tay của người Anh, người Anh cầm tay của người Đức, người Palestine cầm tay của người Do Thái, người Do Thái cầm tay của người Palestine. Chúng ta hãy cầm tay nhau để học bài học của trí vô phân biệt. Tôi chính là anh, anh chính là tôi, tôi chẳng khác gì anh, anh chẳng khác gì tôi. Đó là tinh thần của Bát nhã, đó là tinh thần của vô phân biệt trí. Đây là một bài giảng có ý nghĩa rất thâm thúy mà các cháu thiếu nhi cũng có thể hiểu được. Nếu các cháu tiếp tục học theo hướng này thì khi lớn lên sẽ có kiến thức và sự thực tập sâu sắc vững vàng về đạo Bụt.

 

Thư chúc Tết Sư Ông Làng Mai

 
 
 
 
Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni
Kính bạch Thầy
Hôm nay nhân ngày đầu năm mới, chúng con những đệ tử của Thầy xuất gia cũng như tại gia, tập họp về đây, quỳ dưới chân Thầy để đảnh lễ và bày tỏ niềm biết ơn của chúng con lên Thầy và chư vị Tổ Sư.
 
Chúng con ý thức rằng Thầy đang có mặt khắp mọi nơi, không những Thầy đang có mặt ở chùa Tổ, Từ Hiếu, mà Thầy cũng đang có mặt đây với chúng con. Thầy đã trao truyền cho chúng con một gia tài quý giá, một hạnh nguyện thâm sâu và mở ra cho chúng con con đường Đạo Bụt Dấn Thân. Nhờ sự hướng dẫn, dạy dỗ và dìu dắt của Thầy mà chúng con nếm được hoa trái của tình yêu thương, của tình huynh đệ, của bình an và hạnh phúc trong đời sống hằng ngày.
 
Chúng con đang thật sự trở về trong từng hơi thở, đang có mặt thật sâu sắc trong giờ phút linh thiêng này. Chúng con thấy mình thật may mắn và phúc đức được làm con, làm đệ tử của Thầy, được sinh ra trong đời sống tâm linh rất giàu có và phong phú với truyền thống đa văn hoá này.
 
Thầy đã gìn giữ bền bỉ ngọn lửa trong tâm, vượt qua bao biến động thăng trầm và trao truyền ngọn lửa ấy cho chúng con. Giờ đây chúng con nguyện thực tập tinh chuyên để gìn giữ ngọn lửa ấy trong trái tim mình, để xứng đáng là sự tiếp nối đẹp của Thầy, để cùng tăng thân chúng con tiếp tục làm giàu thêm truyền thống của mình và làm mới đạo Bụt, để cho đạo Bụt được cắm rễ sâu vào tây phương.
 
Chúng con rất hạnh phúc được đi trên con đường sáng đẹp này, có tăng thân để được nương tựa, để được bảo hộ chở che, để được nuôi lớn hạnh nguyện của mình. Chúng con nguyện trân quý, gìn giữ và nuôi lớn những gì chúng con đang có để cho chúng con và cho con em của chúng con có một tương lai tươi sáng.
 
Tăng đoàn nguyên thuỷ giờ đây đang tiếp tục lớn mạnh, và làm chỗ nương tựa cho không biết bao nhiêu người. Trong mùa đại dịch này, chúng con đã làm biểu hiện được tầm nhìn rộng lớn của Thầy về một “Tu Viện Điện Tử” qua những khoá tu trực tuyến. Đó cũng là một cách để chúng con gìn giữ bồ đề tâm, làm lớn lên hạnh nguyện độ đời của mình, cũng như nuôi dưỡng và yểm trợ thiền sinh khắp nơi trên thế giới tiếp xúc được với đời sống tâm linh ngay chính trong ngôi nhà của họ.
 
Vào dịp đầu năm mới, chúng con một lòng hướng về Thầy, nguyện noi theo hạnh nguyện của Thầy và theo dấu chân Thầy tiếp tục xây dựng tăng thân như Thầy đã làm, cùng nhau nâng đỡ, bảo bọc để nuôi lớn hạnh phúc của nhau, cùng nhau đi qua những khó khăn thử thách để được chuyển hoá và lớn lên với đầy sự hiểu biết thương yêu và đầy niềm vui sống.
 
Cám ơn Thầy đã luôn có mặt đó cho chúng con, dạy dỗ hướng dẫn, dìu dắt và động viên chúng con, đã kiên nhẫn vì chúng con. Cám ơn Thầy đã làm một bậc Thầy mẫu mực, gần gũi, tâm lý, tinh tế và sâu sắc cho chúng con noi theo. Nhìn đâu trong tăng thân chúng con cũng thấy bóng dáng Thầy, chúng con thấy Thầy trong những cây tùng cao lớn vững chãi Thầy trồng, chúng con thấy Thầy trên những con đường thiền hành, trong những bức thư pháp, trong những quyển sách, những băng giảng của Thầy và trên hết là chúng con thấy Thầy trong từng sư anh sư chị sư em của chúng con, mỗi người đang tiếp nối ít nhất một hạnh nguyện của Thầy. Chúng con nguyện tiếp tục gìn giữ để mang Thầy đi về tương lai.
 
Cũng nhân dịp này chúng con kính chúc đại chúng một năm mới nhiều an vui hạnh phúc.
Chúng con xin đảnh lễ Thầy, đảnh lễ chư vị Tổ Sư để bày tỏ niềm biết ơn của chúng con. Chúng con kính chúc Thầy có nhiều sức khoẻ và nhiều tiếp nối đẹp.