Bình minh vừa dậy tinh khôi

Chân Trời Ruộng Pháp 

Sư chú Trời Ruộng Pháp người Bồ Đào Nha, xuất gia trong gia đình Cây Bạch Quả vào mùa thu năm 2019 tại Làng Mai, Pháp. Sư chú đang sống và tu tập hết lòng tại xóm Thượng. Dưới đây là những chia sẻ của sư chú về hành trình đến với sự chuyển hóa và trị liệu của mình. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh. 

Để có thể viết về những gì con đã đi qua và điều gì đã đưa con đến với con đường xuất gia, con phải nhìn sâu vào những ký ức rất khó đối diện. Trên thực tế, vẫn còn có rất nhiều điều chưa rõ ràng trong con. Cho dù giờ đây tâm con đã rỗng rang và ổn định hơn nhờ thiền tập, con vẫn thấy khó mà hiểu được tâm mình một cách rốt ráo. Có lẽ con không phải là người duy nhất như vậy. Dù sao đi nữa, con đã có thể bắt đầu hiểu được gốc rễ những khổ đau của mình. Những ký ức trước giờ vẫn bị chôn vùi, vì hậu quả của những chấn thương tâm lý trong quá khứ, giờ đây đã hiển hiện rõ ràng hơn. 

Con nhớ là con đã có cảm giác sợ hãi và không thể kết nối với thế giới bên ngoài. Có một khoảng trống trong lòng mà con không thể diễn đạt và cũng không hiểu được. 

Nhìn lại tuổi thơ và thời niên thiếu của mình là một thử thách lớn đối với con, vì phần lớn những ký ức đó đã bị chôn vùi bởi nỗi đau của việc bị ức hiếp và mất mát người thân. Con thấy nỗi sợ hãi, bất an và trống vắng mà con thường cảm nhận trong gần suốt cuộc đời mình đã hình thành do rất nhiều nhân duyên xa gần, từ ông bà tổ tiên cũng như từ những gì đã đi qua trong cuộc đời hiện tại của con. Thế nhưng khi không có đủ sự sáng tỏ, con không thể chấp nhận chúng như là một phần của mình. Do vậy, gần như suốt cuộc đời, con đã chống cự hoặc trốn chạy chính tâm mình. Khổ đau đã trở thành kẻ thù lớn nhất của con, tàn phá tâm con. 

Con đã lớn lên với tinh thần bất ổn như thế. Đến năm mười chín tuổi, ba con mất vì bệnh ung thư phổi. Không lâu sau đó, một người bạn thân của con cũng qua đời vì tai nạn xe mô tô. Những mất mát ấy đã làm cho tinh thần của con sa sút nghiêm trọng. Con đã cố gắng thật vất vả trong rất nhiều năm để thoát khỏi tình trạng ấy mà không hiệu quả. Các bác sĩ đã nhiều lần chẩn bệnh và con điều trị hết theo đơn thuốc này tới đơn thuốc khác mà không có kết quả. Trong nhiều năm, con tự dùng thuốc theo ý mình. Không gì giúp được con hết. Ngay cả khi con tìm ra được một con đường tâm linh, con cũng không hoàn toàn đi ra khỏi sự tối tăm của tâm hồn. Con cảm thấy mình đang xoay vòng trong một thế giới bệnh hoạn nội tâm lẫn ngoại tại. Và con không đủ sức để dừng lại, quay đầu để thấy phía sau mình chính là bờ. Con thấy hoàn toàn bất lực và bị nhấn chìm trong sự đau khổ của chính mình và của thế giới xung quanh. 

Sự đau khổ ấy không chỉ là sự đau khổ của con người mà còn là sự đau khổ của muôn loài. Tám năm trước, con quyết định hoàn toàn ăn chay trường, không sử dụng các sản phẩm từ sữa và trứng, vì con đã thức tỉnh trước những gì con người đã làm đối với động vật. Cũng như chúng ta, loài vật cũng muốn được hạnh phúc và tự do. Con đã trở thành một người hoạt động cho nhân quyền và bênh vực quyền lợi của động vật. Con không thể làm ngơ trước những gì chúng ta đã và đang làm: bóc lột, hành hạ và giết chóc các loài vì sở thích và tiện nghi. Thời gian trôi qua, không biết cách chăm sóc những khổ đau vô hạn bên trong và bên ngoài mình, con đã hoàn toàn gục ngã, không còn thiết sống nữa và đã gần như đánh mất cả mạng sống của mình. 

Con thấy mình thật may mắn vẫn còn sống sau cơn hôn mê. Mặc dù gia đình và người thân của con đã vô cùng đau khổ khi con muốn lấy đi mạng sống của mình, nhưng con có thể thấy là họ sẽ còn đau khổ hơn nhiều nếu con mất đi. Sự thật là con đã không chết trong ngày hôm ấy về mặt vật lý, nhưng có một cái gì đó xảy ra sâu thẳm bên trong làm con cảm thấy mình như đã chết và được sinh trở lại. 

Con đã lập gia đình trong hơn mười năm với một người rất tuyệt vời. Cô ấy giống như một vị Bồ tát, dạy cho con biết ý nghĩa thật sự của lòng từ bi. Thế nhưng cô ấy lại là người bị con gây ra nhiều đau khổ nhất. Và cũng chính cô ấy là người thấy được, ngay cả trong những giây phút đen tối nhất, con đường mà con sẽ đi là con đường xuất gia. Cô ấy đã nhìn ra điều này rất lâu trước khi chính bản thân con nhận ra nó. 

Tình thương là điều đã mang con đến với Làng Mai – đó là tình thương không điều kiện của gia đình và của người bạn hôn phối của con. Sự tiếp xúc sâu sắc với tình thương ấy khiến con muốn học cách để chuyển hóa tự thân và giúp người khác chuyển hóa. Con không muốn tàn hại thêm nữa. Con đã thấy con đường để thoát ra. 

 

 

Ngày hôm nay con đã là một sư chú trong truyền thống Làng Mai. Vợ cũ của con, người bạn hôn phối mới của cô ấy và mẹ con đã đến dự buổi lễ xuất gia. Đó là một ngày không thể nào quên đối với con. Con đã nhận được rất nhiều năng lượng của thương yêu và hỗ trợ từ đại chúng và gia đình. Thay vì cảm thấy mất đi một người thân, bây giờ họ có cả một gia đình lớn. 

Con đã có thể làm mới lại thâm tình với ba người ấy. Thấy được sự thay đổi và khả năng chuyển hóa khổ đau, con và gia đình bắt đầu liên hệ với nhau một cách sâu sắc hơn. Tình thương dành cho nhau thật hơn và đẹp hơn bao giờ hết. Quá khứ đã thật sự được chuyển hóa. 

Ước nguyện của con khi trở thành một người tu là khả năng tỉnh thức trước những gì sâu xa nhất, những góc cạnh tối tăm nhất của tâm mình để con có thể thấy khổ đau và gốc rễ của khổ đau một cách thật rõ ràng. Nhờ đó con có thể chăm sóc và nhổ bật những gốc rễ ấy với tâm từ bi. Chỉ khi nào con có thể chuyển hóa tự thân một cách sâu sắc con mới có thể giúp cho những loài khác được. 

Trong một thế giới đầy sợ hãi, tuyệt vọng, hận thù, tham đắm, trầm cảm và chết chóc, điều hay nhất mà con có thể làm là học cách dừng lại, thở và ôm ấp những gì đang diễn ra, đang có mặt. Như Thầy đã dạy: Dừng lại chính là một hành động mang tính cách mạng, và biết cách khổ thì mình sẽ khổ ít hơn. Chế tác năng lượng của chánh niệm, định và tuệ, con bắt đầu biết trân quý sự sống một cách sâu sắc hơn. Cuối cùng, con đã nhận ra rằng sự sống đích thực là một phép lạ, tràn đầy những điều mầu nhiệm. Vâng, dĩ nhiên là những nỗi khổ niềm đau trên đời này là vô tận nhưng những nhiệm mầu và cái đẹp cũng vô tận. 

Là người xuất sĩ, con học thay đổi cách suy nghĩ của mình để có thể chế tác năng lượng của niềm vui và hạnh phúc bất cứ lúc nào. Chỉ bằng sự có mặt và an trú một cách hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây, chúng ta có thể thật sự thay đổi thế giới. Làm thế nào ta có thể thay đổi được bất cứ điều gì nếu như quá nhiều những cái ta muốn tiêu trừ vẫn còn đang bám quá sâu trong chính tự thân ta? Chúng ta cần phải bắt đầu từ chính bản thân mình. Không có một thế giới riêng biệt ở bên ngoài ta. Ta chính là thế giới. 

Con là một sư chú rất nhỏ và con đường của con còn rất dài ở phía trước. Những hạt giống của sợ hãi, lo lắng, trầm cảm và ân hận còn nhiều trong con. Nhưng bên cạnh đó, con cũng đã gieo trồng tưới tẩm thêm hạt giống của niềm vui, hạnh phúc, thương yêu, từ bi, tin cậy và vững chãi. Trong khi những hạt giống tốt này càng lúc càng lớn lên nhờ sự thực tập thì những hạt giống kia dần dần được lắng xuống. 

Có thể phải qua nhiều kiếp con mới hoàn toàn được giải thoát khỏi những phiền não của mình. Nhưng ở đây, ngay lúc này, khi đang viết xuống những dòng chữ này, con cảm thấy mình được ôm ấp, bao bọc bởi một sự tĩnh lặng thâm sâu và vô tận. Con thấy thật khỏe nhẹ. Lòng biết ơn vì còn được sống trong giây phút này đang tràn ngập trong con. Con nhận ra rằng trong khi tiếp xúc với khổ đau, ta vẫn có thể chạm được hạnh phúc, đây là điều mà ta có thể làm được. Ta chỉ cần thức tỉnh và trở về. Thức tỉnh là ra khỏi giấc mơ mà mình đã ở trong đó gần như suốt cả cuộc đời. Trở về là đem tâm về với thân. Khi có thể làm điều ấy, ta sẽ thấy mình đang ở trong giây phút hiện tại, giây phút duy nhất mà chúng ta có thể thực sự trải nghiệm sự sống. 

 

 

Hương vườn

Chân Bảo Nghiêm 

Sáng nay em ra vườn

Em thấy một con sâu 

Sâu nằm trên cành lá

Lá xanh sâu cũng xanh 

Sáng nay em ra vườn 

Trông thấy một cành hoa 

Hoa là vị Bồ tát 

Tươi cười trong nắng xuân 

Sáng nay em ra vườn

Vườn em đầy hương thơm  

Hương thơm mùi an lạc 

Hương là hương tình thương 

Tay cầm

Chân Bội Nghiêm 

Hãy dành chút thời gian để nhìn kỹ vào bàn tay, để ý từng chi tiết như lần đầu tiên bạn nhìn ngắm một báu vật. Đôi bàn tay đã song hành cùng tôi 35 năm, nhưng trước đây tôi xem thường và thấy không có gì đặc biệt để cần phải chăm sóc hay biết ơn. Chỉ vài năm gần đây tôi mới nhận ra sự nhiệm mầu, bàn tay giúp trị liệu và làm vơi đi những nỗi đau trong lòng. Đôi bàn tay có mặt để bảo vệ và hiến tặng bởi vì “bàn tay cũng là hoa”. Bàn tay nhắc nhở tôi hãy trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì đẹp, thiện, lành và bất diệt. 

Đôi khi tôi hình dung hình ảnh lần đầu tiên ba mẹ để ngón tay trỏ vào bàn tay của tôi khi tôi chào đời được vài ngày. Tôi nắm chặt ngón tay đó để cảm nhận được tình thương. Rồi ngày đầu tiên cầm bút để tập viết những chữ cái, thật khó khăn và đầy thử thách. Đến ngày tôi phải tập đi nhiều nơi một mình, không được cầm tay của ba mẹ hay chị, nỗi sợ hãi và lo lắng khởi lên vì không biết phía trước sẽ có những khó khăn gì. 

Một lần trong lúc nghe pháp thoại, hai tay tôi nắm lại với nhau và đột nhiên một nguồn năng lượng chạy từ đỉnh đầu xuống đến gót chân. Tôi rất ngạc nhiên với sự lạ thường này. Bỗng nhiên tôi nhận ra rằng trong đời không phải lúc nào cũng có người bên cạnh để mình nắm tay. Nhưng hai bàn tay của mình vẫn luôn có mặt ở đó thì tại sao mình lại không để hai bàn tay tự nắm lấy nhau để cảm được tình thương, bình an và sự che chở? Tại sao phải đi tìm bàn tay của một đối tượng nào khác ngoài mình? Từ đó tôi thường xuyên làm công việc “tay nắm tay” này. 

Trong một ngày, đôi bàn tay tiếp xúc trực tiếp với biết bao vật dụng nên chúng ta có thật nhiều cơ hội để nếm được hạnh phúc. Xả thọ là một cảm thọ không vui, không buồn, và tần suất có mặt nhiều hơn cảm thọ dễ chịu hay khó chịu. Quá trình của sự tu tập là tìm cách để chuyển hoá xả thọ thành lạc thọ. Thật ra điều này không quá khó để thực hiện. Vào cuối năm 2017, tôi phát lời nguyện: “Trong năm 2018, mỗi khi bàn tay tiếp xúc với vật gì như ly trà, ngòi bút, vô lăng, áo ấm, hay khi cầm tay người khác, trong con sẽ khởi lên lòng biết ơn”. Lời phát nguyện đó đã giúp nuôi dưỡng niềm hạnh phúc mỗi ngày mỗi lớn trong tôi. Những lúc chánh niệm có mặt, cả người tôi nổi “da gà” vì niềm hạnh phúc quá lớn. 

Hãy tưởng tượng khi vào nhà vệ sinh mà không có cửa để đóng, không có chốt để khoá thì nỗi sợ hãi và lo lắng sẽ đi lên nhiều như thế nào. Hay như khi đang có một dĩa thức ăn rất đẹp và ngon nhưng lại không có muỗng, đũa, lúc đó phải làm sao? Vậy nên tôi đang trân quý tất cả những gì tôi cầm được trong tay, cũng không còn xem thường đôi bàn tay mình nữa. Có lần đi bộ và cầm tay mẹ, tôi thầm nghĩ đến những ngày mẹ làm việc vất vả ngoài ruộng đồng, nấu những bữa ăn, giặt áo cho các con, viết những bức thư hay tập cho tôi lái xe, trong tôi tràn đầy lòng biết ơn. 

Những vật đang nằm trong lòng bàn tay nhắc nhở tôi rằng tất cả những gì có mặt trên cuộc đời đều có ý nghĩa và mục đích, không có gì là vô dụng. Kim chỉ giúp khâu vá những chiếc áo rách, trái táo cho thêm dinh dưỡng, ly nước làm vơi đi cơn khát,… Thế thì tại sao đôi khi ta lại hành hạ mình bằng những suy nghĩ cực đoan như: “Sự có mặt của tôi không có ý nghĩa gì, chỉ gây thêm phiền toái! Tôi là người vô ích, vô dụng, vô tích sự”. Mọi vật hiện hữu đều có mục đích, huống gì một con người? Vì vậy, đừng la mắng chính mình, và cũng đừng thu nhận hay chấp nhận những lời la mắng tiêu cực như thế từ bất cứ ai. Bản thân tôi, mỗi khi nhìn hay nghĩ đến những người thân trong gia đình huyết thống và gia đình tâm linh, tôi đều nhận thấy tầm quan trọng của từng người. 

 

 

Có lần tôi nghe câu chuyện của một cô độ tuổi trung niên sống chung với chồng hơn 30 năm. Người chồng thiếu sự tôn trọng nên đã dùng bạo lực với vợ khiến nỗi đau trong cô rất lớn. Điểm đáng buồn ở đây không chỉ là người vợ chấp nhận bị bạo hành, mà người chồng xem chuyện đánh vợ không có gì là nghiêm trọng và không nhận ra rằng mình đang đánh mất hạnh phúc gia đình. Tôi có chia sẻ trong buổi pháp đàm với sự có mặt của cả hai vợ chồng cô rằng: “Khi các em nhỏ đến tu viện tu học, quý thầy và quý sư cô hướng dẫn các em hãy nâng ly nước lên bằng đôi bàn tay để thể hiện sự trân quý và tôn trọng. Ngay từ lúc nhỏ, chúng ta mời các em ý thức việc hiến tặng tình thương, sự tôn trọng và bất bạo động với những đồ vật để sau này các em không dùng hai bàn tay làm đau bất cứ ai”. Nhìn ánh mắt của chú, tôi cảm nhận có lẽ chú đã ngộ ra rằng chú cần thay đổi hành động của mình. 

Ngày tôi xuống tóc xuất gia, ba mẹ ở xa nên không đến tham dự được. Đó là ngày tôi được sinh ra trở lại và tôi rất mong muốn ba mẹ thấy được con gái út dưới hình tướng mới. Tôi tự nghĩ phải làm sao để cảm nhận sự có mặt của ba mẹ trong buổi lễ. Vậy là, trong khi từ chỗ ngồi đi lên để nhận giới, tôi chắp tay và bước từng bước bình an. Tôi nhìn vào hai bàn tay và thầm nói “Tay phải là mẹ, tay trái là ba.” Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được sự có mặt sâu sắc và vi diệu của ba mẹ khi nhìn vào đôi bàn tay của mình. Giờ đây, dù mẹ đã trở về với đất Mẹ và ba đang ở xa, nhưng điều đó không cản trở sự truyền thông giữa tôi và ba mẹ vì hai bàn tay của tôi vẫn còn nguyên vẹn thì có nghĩa ba mẹ vẫn đang hiện hữu. 

Trước đây tôi không có cảm xúc gì đặc biệt mỗi lần cầm một vật trong tay, nhưng sau này tôi không còn dại dột như thế nữa. Mỗi giây phút, mỗi lần bàn tay cầm hay chạm vào một vật gì thì đó là một cơ hội để tôi cảm nhận, cảm thông, cảm thấu, cảm kích, cảm mến và cảm động chứ không phải để vô cảm hay trầm cảm. 

Mộc Lan ngày 10.11.2019 

 

Còn thương cây táo trên đồi

Chân Chuẩn Nghiêm 

Mỗi lần đi ngang qua đồi táo của Học viện con đều dừng lại để nhìn thật kỹ. Bây giờ đang là mùa đông nên ai cũng có cơ hội nhìn thật rõ dáng hình của từng cây táo. Cây được trồng và lớn lên một cách tự nhiên mà sao có dáng bonsai thật đẹp? Cho dù cây không có một chiếc lá nào nhưng vẫn có một vẻ đẹp riêng. Đến khi xuân về, những cành cây khô ấy lại cho ra không biết bao nhiêu là những chiếc lá non xanh, sau đó là cho hoa, cho trái. Hoa táo đẹp lắm! Ở xóm Mới có cây táo cho hoa rất nhiều và con thường không bỏ lỡ cơ hội ngắm nhìn nó thật sâu, thật kỹ. 

Nụ hoa táo rất đẹp, chúm chím một màu hồng nhạt đầu nụ. Hoa táo phớt chút hồng nhạt trên đầu cánh, đầy đặn và thanh thoát. Hoa táo cũng lâu tàn nên mọi người có thêm nhiều thời gian chiêm ngưỡng. Thật không thể phân biệt được sự già trẻ nơi cây táo. Những cành cây thô cứng, xù xì, có vẻ già cỗi ấy lại tràn đầy sức sống khi mùa xuân về. Nhìn và nghĩ về cây táo, con học được bài học về vô thường rất rõ từ thiên nhiên. Nếu không có vô thường thì không thể có sự thay đổi mầu nhiệm ấy. Sau một vài tháng, cây táo ấy lại mang đầy quả. Những cành táo như gồng mình lên để nâng đỡ và nuôi nấng một đàn con đang tuổi ăn, tuổi lớn, để sau đó hiến tặng những gì tinh túy nhất của mình cho con người. 

Mấy hôm nay, giờ ăn sáng con đều khất thực thêm một hoặc hai miếng táo nhỏ để thưởng thức. Cầm miếng táo trên tay con lại nhớ tới những cây táo trên đồi. Táo cũng có nhiều loại. Khi thì con khất thực được những miếng rất ngọt, khi thì lại rất chua. Cũng có táo xanh, táo đỏ. Khi được miếng táo chua con cũng vẫn ăn rất ngon lành và nghĩ rằng chua cũng rất tốt cho cơ thể. Nếu mình cứ ưa ăn ngọt hoài thì đâu có tốt. Con thầm nghĩ, một người ghép cây giỏi cũng có thể ghép được một cây táo mà khi cho trái thì có cả trái chua và ngọt. Lâu dần, biết đâu cây táo ấy sẽ cho trái vị rất thanh, chua ngọt hài hòa. 

Con nghĩ đến tăng thân, nơi đang nuôi lớn con từng ngày, cũng giống như một cây táo đã được lai ghép. Con cứ tha hồ tận hưởng những trái táo, khi thì ngọt, khi thì không được ngọt lắm. Điều cơ bản là do mình thưởng thức trái táo ấy như thế nào thôi! 

Con qua Học viện đã được hơn bốn tháng, thời gian vừa đủ để con dần quen với đại chúng nơi đây. Chúng xuất sĩ ở đây thật ít. Bên quý thầy chỉ có chín vị, bên quý sư cô thì đông hơn, hai mươi mốt vị. Con số hai mươi mốt là đầu mùa an cư năm nay chứ trước đó thì ít hơn. Rất thương đại chúng Học viện nên bảy sư cô ở Làng đã sang yểm trợ. Từ ngày mới qua con đã thấy sự nỗ lực rất lớn của mỗi huynh đệ. Một người phải lo nhiều việc. Bốn ngày cuối tuần thì công việc nhiều hơn vì thiền 

sinh về tu học khá đông. Điều này cho con thấy là đạo Bụt đang dần đi sâu vào lòng người dân Đức. Chúng xuất sĩ rất được nước Đức yểm trợ. Con thấy con chỉ có lo một việc là tu và học cho tinh tấn mà thôi. 

Bên cạnh những công việc cần phải lo toan vẫn luôn có những câu chuyện vui và nuôi dưỡng con trong đời sống tu học hàng ngày. Con xin viết ra đây để tăng thân cùng vui với con và đại chúng Học viện. 

Niềm vui khi được thêm một tuổi 

Ở Học viện, thường thường, trong ngày xuất sĩ, buổi sáng, đại chúng được nghe pháp thoại Sư Ông, buổi chiều có sinh hoạt ngồi chơi chia sẻ (Be-in) hoặc pháp đàm hay đi bộ, tùy theo sự sắp xếp của ban chăm sóc. Trong ngày xuất sĩ 20 tháng 9, đại chúng được ngồi chơi với nhau vì thời gian qua anh chị em bận tổ chức nhiều khóa tu, rồi sau đó có đến mười ngày làm biếng. Buổi ngồi chơi có trà, bánh và hoa. Đại chúng không nhớ hôm ấy là sinh nhật gia đình xuất gia Cây Sen Trắng, nhưng sau đó thì con đã tự giới thiệu. Thế là con được chúc mừng. 

Tuy đại chúng ở nhà rất ít do có khóa tu bên ngoài, bên quý thầy được ba người, bên quý sư cô được tám người, cộng thêm thầy Thuận Đức (khách tăng) tổng cộng chỉ có 12 người nhưng buổi chia sẻ đã diễn ra thật sâu sắc, cảm động, và… quá giờ. Con nhận thấy rằng các anh chị em của con, những người còn rất trẻ nhưng ai cũng rất thương con đường xuất gia này. Ai cũng thương Thầy, thương tăng thân nên nguyện gánh vác thêm công việc. Sau khi ở nơi này được gần hai tháng thì con đã nhận ra rằng mình thật có lỗi với Thầy, với tăng thân khi đã không chọn nơi này. Nơi đây chỉ có bốn đội luân phiên nên nấu ăn rồi tiếp tục làm công việc khác vào ngày hôm sau thay vì được nghỉ ngơi. Vậy mà ai cũng hoan hỷ để làm. 

Sau buổi chia sẻ, chúng con đã chơi đá cầu với nhau trong tình huynh đệ. 

Chuyện cúng ngọ 

Hôm nay, đội con làm đội chuông nên con được đi cúng ngọ. Sau khi chuẩn bị cơm và nước để cúng Bụt, con đi từng bước thật chánh niệm về thiền đường Vững chãi (Solidity). Học viện có nhiều thiền đường và con đang từ từ nhớ tên các thiền đường để đi cho đúng. 

Xá Bụt, xá Tổ, đặt cơm và nước lên bàn thờ xong con thắp lên ba nén hương, thấy sao khói nhiều quá mặc dù cây hương nào cũng nhỏ xíu. Con sợ hệ thống phòng cháy chữa cháy bắt tín hiệu báo động, nên đi mở cửa. Con đứng ở cửa và cầm ba nén hương đó đưa ra ngoài, đợi cho bớt khói rồi mới dám vào cúng Bụt, nhưng khói chẳng bớt gì cả. Nhớ hôm tụng 14 Giới, sư em con dâng hương bình thường mà còi báo cháy đâu có hú, sao hôm nay con lại sợ nhiều đến như thế! Tuy vậy nhưng con vẫn không dám đi vào vì nghĩ chỉ có mình con ở đây, nhỡ còi báo cháy hú do khói hương này thì con không biết phải làm sao? Rồi xe cứu hỏa tới, cảnh sát tới, đại chúng lại phải trả chi phí từ vài trăm tới một ngàn Euro thì thật là một số tiền khá lớn. 

Thế là con nghĩ ra một cách. Thôi thì mình cắm hương xuống bát hương trước, ba cây hương mà được chia làm ba nơi thì khói còn rất ít nên sẽ không sao. Sau đó mình dâng hương mà không có hương cũng được, Bụt không trách mình đâu. Sau khi tự sắp xếp như thế con thấy khá ổn và con bắt đầu dâng hương, tụng kinh cúng Bụt. 

Cúng ngọ xong, con ngồi yên và nhìn lên Bụt, thấy Bụt đang mỉm cười. Ngoài kia, đại chúng đang đi thiền hành dưới trời thu. 

Chuyện xuôi ngược 

Học viện đang vào thu. Phòng con ở, chỉ cần nhìn ra cửa sổ là thấy ngay một trời thu trước mắt. Lá cây đang dần chuyển sang màu vàng, màu đỏ. Mấy ngày nay trời mưa nên có những giọt nước đọng trên lá. Nhìn càng kỹ, càng sâu lại càng thấy đẹp. Những chiếc lá thu ấy khi có ánh nắng chiếu vào bỗng đẹp hẳn ra. Một người thích chụp hình, yêu thiên nhiên mà bắt gặp cảnh này chắc chắn sẽ không bỏ lỡ cơ hội. Nhiệm mầu của thiên nhiên sẽ được thu vào ống kính. 

Trong cuộc sống, có những việc mình không nên làm ngược. Thế nhưng có những bức hình trở nên rất đẹp nhờ chụp ngược sáng. Những chiếc lá thu còn đọng những giọt nước mưa, có thêm ánh nắng mà được chụp ngược sáng thì đẹp lắm! Cũng như thế, đi tu là đi ngược dòng đời. Nếu ai chưa hiểu thì tưởng rằng những người đi xuất gia là bị thất tình hay chán đời. Họ đâu biết rằng đi tu vui lắm. 

Nhẩm tính, con thấy mình qua Học viện mới hai tháng một ngày mà được tham dự tới hai buổi ngồi chơi chia sẻ, lần nào cũng rất nuôi dưỡng. Con rất biết ơn quý thầy, quý sư cô trong ban chăm sóc đã chuẩn bị rất chu đáo. Con thấy mình như được tiếp thêm lửa – ngọn lửa của bồ đề tâm để bước vào mùa đông rất lạnh trên nước Đức. Thiết nghĩ, con không thể tu hạnh phúc nếu thiếu đi tình huynh đệ. Mà tu tập không có hạnh phúc thì làm sao có thể đi đường dài. Con chỉ ước mong sao cho các huynh đệ mỗi ngày đều thắp được ngọn lửa của bồ đề tâm lên, để đường dài ta cùng nhau đi mãi. 

 

 

Ông chủ tiệm bánh mì 

Nghe kể về ông chủ tiệm bánh mì con không khỏi thán phục. Ông là người Mỹ, đầy nghị lực, đến nước Đức với hai bàn tay trắng. Những ngày đầu tiên trên nước Đức, ông đi rửa chén thuê. Trải qua nhiều khó khăn, bây giờ ông đã trở thành ông chủ của một tiệm bánh mì khá lớn trong vùng Waldbrol. Con đã có cơ hội đi cùng một số quý thầy, quý sư cô đến thăm tiệm. Ngoài bánh mì, tiệm ông còn làm nhiều loại bánh ngọt khác nữa. Mấy năm gần đây, ông thường tặng bánh sinh nhật mỗi khi Học viện được thêm một tuổi. Trong ngày Phật đản cũng vậy, một chiếc bánh sinh nhật rất to với hàng chữ Happy Birthday Buddha (Mừng ngày Bụt Đản sanh) thật dễ thương được ông mang đến. 

Nhân duyên để ông biết đến Học viện cũng là một câu chuyện đầy thú vị. Sư cô Song Nghiêm kể: “Mầu nhiệm lắm em à, chị đang tính đi kiếm xem có tiệm bánh mì nào gần đây không, để xin bánh mì cũ về cho đại chúng chứ bánh mì cũ người ta cũng phải mang đi bỏ thì uổng, trong khi mình không có bánh mì để ăn”. Có lẽ Bụt Tổ đã đưa đường chỉ lối cho ông. Ông đã đọc sách của Sư Ông lúc ở Mỹ. Khi nghe nói tại Đức có một trung tâm thiền tập của Sư Ông thì ông đã đi tìm, nhưng hai năm trôi qua ông vẫn chưa tìm ra, dù từ Học viện đến tiệm bánh mì của ông chỉ có 30 km. Rồi một ngày, ông có được số điện thoại của văn phòng và ông đã gọi điện đến. May quá, đang giờ văn phòng mở cửa nên thầy Pháp Thiên bắt máy. Qua điện thoại, ông nói rằng ông đã tìm Học viện suốt hai năm qua và rất muốn cúng dường. Sư cô Song Nghiêm đã làm một cái hẹn với ông. 

Ngày sư cô hẹn với ông cũng lại là một câu chuyện khá thú vị. Sư cô hẹn ông chín giờ sáng, nhưng hôm đó sư cô lại phải đi bưu điện. Khi lái xe đi ngang qua phía trước tòa nhà lớn thì sư cô thấy một cái xe lớn chở bánh mì. Sư cô muốn đến hỏi để xin bánh mì cũ nhưng nghĩ lại mình có hẹn nên phải về liền kẻo trễ hẹn với người ta. Ông chủ tiệm bánh mì dừng xe ở đó, đang không biết rẽ ngã nào để vào Học viện vì đoạn đường đó có hai ngã rẽ. Nhìn qua cửa xe, ông thấy người lái xe là một sư cô nên ông đã lái xe theo sau. 

Vô đến cửa chính của chùa Đại Bi, ông đến hỏi thăm sư cô. Sư cô nói qua loa với ông vài câu rồi xin phép đi vì có hẹn thì ông nói: “Cô có hẹn với tôi nè”. Sư cô nhìn ông không khỏi ngạc nhiên và mừng rỡ. 

Sau khi nghe ông nói là ông muốn cúng dường thì thầy Pháp Ấn đã cho ông biết những công việc cần làm của Học viện, mỗi công việc cần số tiền là bao nhiêu thì ông vẫn rất điềm tĩnh ngồi 

nghe. Sau đó ông trả lời: “Tôi không có một số tiền lớn như vậy nhưng tôi có bánh mì”. Ông có mang theo bánh mì còn nóng để mời thầy và sư cô. Sư cô lại một lần nữa ngạc nhiên nhưng đầy hạnh phúc, sư cô nhìn ông cười và nói: “Chúng tôi đang rất cần bánh mì của ông. Ông có thể cho chúng tôi xin bánh mì cũ cũng được”. Ông nói: “Không, tôi không thể cúng dường quý vị bánh mì cũ. Tôi sẽ cúng dường quý vị bánh mì nóng mỗi sáng”. Từ đó, ông cho nhân viên chở bánh mì nóng tới mỗi buổi sáng. Nhưng như vậy thì hơi nhiều, đại chúng không dùng hết nên bây giờ bánh mì được mang đến ba ngày cố định trong tuần. 

Khi con nghĩ đến ông chủ tiệm bánh mì, thì hình ảnh của một vị Cấp Cô Độc hiện ra trước mắt con. Đại chúng Học viện biết ơn ông vô cùng. 

Mùa Giáng sinh 

Đây là mùa Giáng sinh đầu tiên con có mặt tại Học viện. Như đã thành thông lệ, cứ đến ngày 24 tháng 12, quý thầy, quý sư cô Học viện rất vui được chào đón tăng thân địa phương và những người láng giềng về đón Giáng sinh trong không khí đầm ấm của một đại gia đình tâm linh. Năm nay, thiền sinh về chật cả thiền đường trong giờ pháp thoại. Mùa Noel, thay vì cả gia đình đi chơi đâu đó thì về Học viện, để vừa nghe pháp, vừa được chơi trong môi trường rất lành, và được ăn cơm chay nữa. 

Sau giờ pháp thoại, đại chúng cùng nhau rước đèn từ nhà ra đến tháp chuông. Trời mưa và có gió khá mạnh nên nến đã bị tắt khi vừa đi được một đoạn, nhưng đại chúng đã đi cùng nhau dưới mưa rất bình an. Sau giờ ăn chiều, đại chúng đã cùng ngồi chơi, có mặt cho nhau trong nhà ăn. Tất cả đã cùng nhau làm nên một buổi tối đầy ý nghĩa. 

Con nghe nói chưa có năm nào mà thiền sinh lại cứ muốn ở lại chơi thêm, chưa muốn về như năm nay. Đúng ra thì sau những tiết mục văn nghệ, khi đã cầm tay nhau, đứng thành vòng tròn và hát bài Không đi đâu cũng không cần đến thì sau đó là lúc chia tay. Thế nhưng mọi người ngồi lại, không muốn về. Vậy là văn nghệ cây nhà lá vườn được tiếp tục. Một bạn gái trẻ, đã từng tham dự khoá tu cho người trẻ (Wake Up) ở Làng lên hát quá hay khiến đại chúng vô cùng hạnh phúc. Tiếp theo, thầy Pháp Ấn bất ngờ được mời hát và thầy rất hoan hỷ nhận lời. 

Đã 10 giờ khuya, phải kết thúc thật rồi. Con chưa biết nhiều tiếng Đức nên chỉ biết nhìn vào mắt của các cô chú, các anh chị người Đức mà nói “Vielen Dank” (Cám ơn nhiều) thôi.

Mọi người đã ra về, con thầm cầu nguyện cho ai ai cũng có được một cuộc sống bình an, hạnh phúc. Học viện đã có trong trái tim của người dân địa phương rồi, và nơi đây đã trở thành chỗ quay về để đoàn tụ. Con chợt nhớ đến Thầy cùng câu: 

‘‘Có con cho nên mới có Thầy. Có một bếp lửa để khi mình đi đâu thì nhớ về. Thầy trò mình hãy chăm sóc bếp lửa hồng để bếp lửa còn cháy mãi, cho mình và cho bè bạn”. 

(Giáng sinh 2012). 

Chỉ còn vài tuần lễ nữa là hết năm 2019, giờ này ban làm báo, quý thầy, quý sư cô, sư chị, sư em của con đang miệt mài ngày đêm để báo được ra đúng thời khắc Giao thừa. Con trân quý biết bao đời sống xuất gia này, và con không cầu cho không có những khó khăn, chỉ cầu cho con được chân cứng đá mềm. Dù thế nào đi chăng nữa thì con vẫn Còn thương cây táo trên đồi. 

 

Tiếng gọi

Trong ngày tiếp nối của Sư Ông Làng Mai vào tháng 10 năm 2019, thầy Pháp Linh đã có cuộc trò chuyện với sư chú Chân Trời Thiện Ý và sư cô Chân Trăng Hiền Nhân (hai vị xuất gia trẻ thuộc gia đình xuất gia Cây Dẻ Gai, đang sống và thực tập ở Làng Mai, Pháp). Khi cuộc trao đổi này diễn ra thì chỉ còn một tuần nữa là kỷ niệm một năm ngày xuất gia của sư cô và sư chú. Nhân dịp này, thầy Pháp Linh muốn biết điều gì đã tạo cảm hứng và là động lực để sư cô và sư chú gia nhập vào gia đình Áo Nâu- Tăng thân xuất sĩ Làng Mai. Buổi phỏng vấn đã được BBT Làng Mai chuyển ngữ từ tiếng anh.

Thầy Pháp Linh:

Sư chú Chân Trời Thiện Ý là người Ý, hiện đang tu học tại chùa Sơn Hạ. Trước khi xuất gia, sư chú đã sống và làm việc ở London trong lĩnh vực tiếp thị. Sư chú thấy ngành nghề đó rất thú vị vì sư chú phải nghiên cứu môn Tâm lý học để hiểu được tâm lý của mọi người. Tuy nhiên, sư chú cảm thấy cái hiểu ấy đôi khi hơi bị lạm dụng để “dụ” người khác bỏ tiền và mua những thứ không thật sự cần thiết.

Vì ước mơ muốn trở thành một nhạc sĩ nên sư chú đã nghỉ công việc tiếp thị để dành một năm học chơi trống. Sư chú rất có khả năng âm nhạc. Sau một năm đầu tư vào lĩnh vực âm nhạc, sư chú vẫn không tìm thấy sự mãn nguyện, và cũng chính thời điểm ấy thì sư chú khám phá ra Thiền tập. Nhân duyên nào đã đưa sư chú đến với Làng Mai và lựa chọn con đường xuất gia này?

Làm sao sư chú có thể để hết tâm huyết vào sự thực tập?

Sư chú có thể chia sẻ đôi chút về hạnh nguyện và đời sống xuất sĩ của sư chú được không?

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con đã làm việc trong ngành tiếp thị, rồi sau đó là âm nhạc. Khi con quan sát và thấy hình ảnh những người sếp của mình- những người có bề dày kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, con đã tưởng tượng và thấy được tương lai của mình. Con cảm thấy trong chiều sâu của tâm hồn, họ thật sự không có hạnh phúc. Lúc con nhận ra điều đó, con thật sự bị đánh động. Con không muốn trở thành họ trong tương lai. Có gì đó không ổn trong cuộc sống của họ.

Theo tiếng gọi của trái tim, con đã lên đường tới London để theo đuổi con đường âm nhạc. Cùng năm đó, con đã có cơ duyên tiếp xúc với pháp môn của Thầy (Sư Ông Làng Mai). Con nghe pháp thoại và thực tập theo những lời Thầy dạy.  Theo đó, cuộc sống của con có những thay đổi tích cực.

Khi kết thúc chương trình học một năm ở London, con nhận ra đây không phải là con đường của mình. Nghề Tiếp thị cũng không phải là con đường của con. Nếu muốn tìm thấy con đường và câu trả lời cho chính mình, con phải quay về với tự tâm. Sau đó con tìm tới Làng và tham gia vào chương trình “Happy Farm” (Nông Trại Hạnh Phúc), nhân duyên của con với Làng đã bắt đầu như thế đó.

Trong khoảng thời gian một năm ấy, con đã nhắc nhở mình là phải ưu tiên cho sự thực tập. Con dặn lòng là sẽ thực tập an trú 100 phần trăm ở đây, còn sau đó thì tính tiếp. Trước kia, lúc còn ở London, vì nhịp sống và sự bận rộn của công việc mà con chỉ “thực tập Thiền bán thời gian” được thôi. Có lẽ ước nguyện muốn xuất gia cũng đã được hình thành từ lúc ấy, nhưng con cũng chờ thời gian để nó thật sự chín muồi. Nếu thật sự đó là ước nguyện cả đời thì không việc gì mà con phải vội.

Con đã thực tập làm một người nông phu hạnh phúc tại nông trại của Làng, và con thương nếp sống này. Ở đây, con có cảm giác là mình “đang thật sự sống”. Niềm tin vào pháp môn, vào sự thực tập và con đường càng ngày càng lớn. Cuối cùng chương trình một năm ở Nông trại Hạnh phúc cũng kết thúc, con nóng lòng muốn viết thư  xin làm tập sự để có thể trở thành một người xuất gia và gia nhập vào dòng chảy của Tăng Thân.

Rất nhiều người muốn mang lại hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Ai cũng đều muốn đóng góp phần của mình. Nhưng trước hết chúng ta cần phải xây dựng một nền móng vững chắc cho chính mình trước khi giúp người khác. Chính vì vậy nên con ý thức rằng thời gian Sadi là thời gian mà còn cần phải chuyên tâm đầu tư vào sự học hỏi và thực tập để xây dựng cho mình nền tảng ấy.

Con thấy mình có rất nhiều may mắn khi được đầu toàn bộ thời gian để thực tập, được học hỏi và tiếp nhận tuệ giác của Thầy. Hiện tại, con hoàn toàn để tâm vào thực tập bước chân và hơi thở chánh niệm. Nhất là khi Thầy không có mặt ở đây với chúng con, và con cũng không có những kỷ niệm trực tiếp với Thầy. Nhiều lúc con tự hỏi: “Giờ này, Thầy đang ở đâu? Tại sao con lại ở trong Tăng Thân của Thầy”.

Tìm thấy Thầy là điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời của con. Con có thể thấy hình ảnh của Thầy trong các sư anh, sư chị, trong thời khóa hàng ngày, trong những uy nghi mà con đang  được thực tập. Đó là động lực cho con thực tập hết lòng, vì con không muốn mình cảm thấy thiếu vắng Thầy.

Thầy Pháp Linh:

Đằng sau quyết định xuất gia, thế nào sư chú cũng phải có một cái thấy về vị trí của người xuất sĩ trong xã hội hiện tại. Tại sao sư chú chọn con đường xuất gia trong khi sư chú có thể tu tập mà không cần phải trở thành một người tu? Làm người tu có ý nghĩa đặc biệt gì?.

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con thấy bây giờ ở khắp nơi trên thế giới có nhiều người đang cố gắng làm nhiều việc có ích. Con lớn lên trong một gia đình Thiên chúa giáo và cuộc sống của con luôn gắn liền với chiều hướng tâm linh. Con không bao giờ muốn sống một cuộc sống không có chiều hướng tâm linh. Con yêu nếp sống tâm linh cho đến nỗi con muốn nó hoàn toàn trở thành cuộc sống của mình. Con cũng thấy đó chính là điều mà thế giới đang cần. Con không nghĩ thế giới đang cần người giúp làm cái này hay cái kia, mà cần những người cố gắng sống một cuộc sống như chúng ta đang sống, cố gắng chạm tới một cái gì sâu xa hơn mà con không thể diễn đạt bằng lời. Con tin tưởng rằng đó chính là câu trả lời cho những gì mà thế giới đang phải đối diện. Đối với con thì bao nhiêu đó là đã đủ để cho con đầu tư tất cả năng lượng của mình rồi.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô Trăng Hiền Nhân là người Pháp, đang sống và tu tập ở xóm Hạ. Trước khi xuất gia, sư cô theo học ngành Triết ở Paris. Sư cô từng nghĩ rằng triết học sẽ giúp sư cô hiểu sâu sắc hơn và tìm được ý nghĩa của đời sống. Sư cô đã học khá sâu trong ngành học này và dự định sẽ trở thành một nhà văn. Nhưng dần dần, càng học lên cao, sư cô càng thấy cách giảng dạy trong trường thiên nhiều về kiến thức, mà ít chứa đựng tuệ giác. Dường như có một khoảng cách giữa những gì người ta nói và cái người ta có thể làm được. Ước muốn thì tốt đẹp nhưng có vẻ như ít người sống theo được.

Đến Làng Mai, phát hiện ra giáo pháp, giới luật và thiền tập, sư cô nghĩ: sự thực tập này có thể giúp san lấp đi khoảng cách ấy. Chúng ta thực ra có thể làm được những gì mình nói, thực hiện được những nguyện ước sâu xa nhất của mình. Xin sư cô chia sẻ một chút về quyết định xuất gia của mình. Đó là một quyết định khá “cấp tiến”. Chắc phải có điều gì đó hướng sư cô nhận ra đây chính là con đường của mình?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con biết con còn rất nhỏ tuổi tu và còn rất nhiều điều cần phải học hỏi trong tăng thân. Sau khi xuất gia, con đã tìm thấy nhiều cái đẹp và chiều sâu của con đường này. Con thật sự rất yêu cuộc sống xuất gia. Nếp sống này rất đẹp. Mình có thể hiến tặng những kinh nghiệm thực tế cho thế giới Tây phương, cho xã hội hiện nay.

Con đã nghe nhiều bài pháp thoại của Thầy. Thầy thường dạy rằng yếu tố căn bản để mang đạo Bụt vào Tây phương là sự có mặt của tăng thân xuất sĩ mà trong đó có những thầy, những sư cô Tây phương ở lại tu học lâu trong chúng. Con thấy mình được nuôi dưỡng và hài lòng với cuộc sống xuất gia. Đây là cái mà con muốn hiến tặng cho xã hội Tây phương.

Có một câu hỏi con luôn tự hỏi mình: Con có thể sống như thế nào để hạt giống xuất sĩ trong con được lớn lên mỗi ngày?

Hàng ngày con thực tập xá chào và nhường quý sư cô đi trước. Con xin được rửa bát cho quý sư cô sau mỗi bữa ăn. Con chủ động quét dọn phòng ở. Hoặc khi con đến phòng của một sư cô lớn, nếu sư cô đang ngồi trên đơn thì con luôn quỳ xuống, chắp tay để thưa chuyện với sư cô. ực tập rất nhiều những hành xử nho nhỏ như vậy nuôi dưỡng niềm vui, sự kính trọng

và đức khiêm cung trong con. Con thấy mình tiếp xúc được với hạt giống xuất gia trong con và giữ gìn, nuôi dưỡng hạt giống đẹp này lớn thêm mỗi ngày.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô đang làm tri đậu hũ. Công việc làm đậu hũ liệu có liên quan gì đến việc thiết lập đạo Bụt ở Tây phương không?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con không biết nếu Thầy đang ở đây thì Thầy có gọi con lên Sơn Cốc và đặt thẳng vấn đề với con: “Sao con lại ở trong bếp? Con nên tổ chức một khóa tu cho các nhà triết học”.

Con cảm thấy tuệ giác của Thầy không chỉ là mang đạo Bụt vào thế giới phương Tây, ầy còn chia sẻ những châu báu trong văn hóa Việt Nam với người Tây phương. í dụ như khi còn nhỏ, con thấy mình thiếu thốn nhiều thứ như tình thương, sự nhẹ nhàng và sự bao dung. ời thơ ấu con không bao giờ được sống, được hít thở, được thả mình trong không khí yêu thương như ở đây. Tại xóm Hạ, trong cuộc sống hàng ngày, con cảm được trong tâm các sư cô người Việt có nhiều hạt giống của thương yêu, nhẹ nhàng, vui tươi, bao dung và đơn giản. Sự thực tập của con là thả mình vào để được hưởng những cái đẹp ấy của văn hóa Việt Nam.

Ở xóm Hạ, những sư em nhỏ nhất được chọn tri trước. Con đã chọn làm đậu hũ. Con không nói được tiếng Việt và chưa hề biết cách làm đậu hũ. Con chỉ có thể thấy rằng khi làm đậu hũ con rất hạnh phúc. Con được hưởng lợi lạc từ bầu không khí tràn đầy năng lượng nhẹ nhàng, vui tươi của quý sư cô. Năng lượng tập thể ấy giúp con trị liệu rất nhiều.

Con nhớ khi đọc quyển sách Đường xưa mây trắng của Sư Ông, đến chương nói về niềm vui của thầy Cát Tường (Svastika) khi nhìn thầy La Hầu La (Rahula) cưỡi trâu: “Nếu không đi tu mà ở lại hoàng cung để sau này làm vua, chắc hẳn Rahula sẽ không bao giờ có dịp cưỡi lên mình trâu mà đi như hôm nay”. Thầy Cát Tường đã nghĩ như vậy và khi con làm đậu hũ, con cũng có một niềm vui tương tự. Nếu không xuất gia, con sẽ không bao giờ biết đến niềm vui khi cùng được làm đậu hũ với quý sư cô người Việt.

Thầy Pháp Linh:

Sư cô và sư chú đã rất can đảm để xuất gia trong giai đoạn này, khi mà Thầy không trực tiếp có mặt ở đây để dạy dỗ cho chúng ta. Nhưng nếu biết cách, chúng ta vẫn có thể tìm ra Thầy, gặp Thầy trong mỗi giây mỗi phút, trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở. Sự quyết tâm, sức mạnh, tâm bồ đề và cách mà sư cô, sư chú đã tìm ra Thầy trong sự thực tập của mình tạo nguồn cảm hứng cho đại chúng rất nhiều. Cảm ơn sư cô và sư chú đã nuôi dưỡng tăng thân bằng sự tươi mát, niềm vui và hạnh nguyện của mình.

 

 

Quê hương mỗi bước chân về

Chân Thuần Khánh 

Tôi trở lại Huế vào mùa thu, rồi mùa đông. Lâu lắm rồi tôi mới lại được ngồi yên trong tiếng mưa ầm ào mênh mang, quen thuộc đến nao lòng này. Nhiều người sợ những cơn mưa dai dẳng của Huế, vậy mà tôi lại thấy thích, rất trân trọng không gian của những khoảnh khắc như thế này. Trong tiếng mưa và cái yên lặng của Huế, của chốn Từ An xưa, tôi cảm nghe như thời gian và không gian, cái xưa và cái nay, cái cũ và cái mới,… cùng một lần có mặt, ngay nơi tôi, ngay nơi mảnh đất này. 

Uống trà trong tiếng mưa  

Người ngồi từ muôn thuở  

Ta một cõi yên vui

Có nhau từng nhịp thở. 

Mây trắng trời phương ngoại 

Gần hai mươi năm quen biết, mỗi khi nghĩ về, tôi luôn cảm thấy mình nhận được đức độ và tình thương của sư chị, dù ở gần hay ở xa. Sư chị không ở với đại chúng lâu, nhưng sư em nào đã từng gần sư chị, đều như một lần uống được dòng nước mát trong nơi cái giếng cổ xưa trên núi, sẽ không bao giờ quên. Tôi vẫn nhớ xóm Hạ thời đó có nhiều “cái giếng nước trong vắt mát lành” như vậy, và tôi, một sa di nhỏ, đầy bỡ ngỡ nhưng không hề thấy xa lạ, tha hồ mà vẫy vùng! Có một sư chị lớn nhìn tôi tung tăng trong những ngày mới đến, mỉm cười và nói: “Thuần Khánh về Làng y như cá được thả về biển lớn, tha hồ mà bơi lội”. Sư chị cũng là một sư chị lớn thời đó, khoan dung, độ lượng, và giản đơn, bình dị. Sư chị lại hay cười. Hễ ai chọc cười là sư chị không dừng lại được. Cười hoài mệt quá, sư chị phải quay ra năn nỉ các chị em xung quanh đừng cười nữa, với cái giọng tha thiết, lúc đó sư chị mới hy vọng có thể ngưng cười. Mỗi lần như vậy, tôi lại không thể không tiếp tục cười, vừa buồn cười chuyện mọi người đang cười, vừa buồn cười cái cách sư chị cố gắng ngưng cười… Thế là cư xá Mây Tím như được nới rộng ra. 

Sư chị hòa đồng và có mặt với đại chúng trong mọi sinh hoạt, lại có đủ thì giờ chơi và chỉ dạy cho các sư em. Có thể thời đó, đời sống của tăng thân đơn giản hơn bây giờ nhiều. Mỗi đội luân phiên chỉ có hai người và mỗi bữa ăn chỉ cần nấu hai hay ba món, kể cả món luộc và xà lách. Không có nhiều lớp học như bây giờ, tôi học mọi thứ bằng cách huân tập, tự quan sát các sư chị và làm theo. Hô canh, ngồi chuông, xướng tán và bắt giọng tụng kinh, hay thỉnh chuông, thỉnh mõ đều học theo cách như vậy. 

Có lần sau buổi tụng kinh tối, đang loay hoay xếp kinh lên kệ, tôi nhận ra sư chị còn nán lại thiền đường khi đại chúng đã về hết, và sư chị đang tủm tỉm cười một mình. Xong việc, tôi lại gần sư chị và cũng mỉm cười. Lúc đó, sư chị không nhịn được, bèn cười phá lên… Tôi biết trong lúc hướng dẫn đại chúng tụng kinh, thế nào tôi cũng đã gây ra điều gì đó không hay rồi. Nhìn sư chị, tôi hỏi: “Chỗ nào vậy sư chị?”. Nhận ra chút lo lắng trong giọng nói của tôi, sư chị hết cười và bắt đầu chỉ cho tôi chỗ tôi đã làm sai. Hóa ra khi bắt giọng tụng bài Chuyển niệm – We are truly present, tôi đã tụng như “đọc truyện”, đã vậy còn thỉnh chuông rất “cảm hứng”, nghĩa là muốn thỉnh lúc nào thì thỉnh. Sư chị nói: “Nhìn em thỉnh chuông tự tin trên đó mà chị muốn… té khỏi bồ đoàn…”. 

Từ hôm đó, tôi theo sư chị học thỉnh chuông, hô canh, bắt giọng tụng kinh. Giọng sư chị thanh tao và ấm áp, giọng tôi thì tùy hứng, thỉnh thoảng còn phải cho thêm “ít muối, ít tiêu” mới mong đúng nhịp. Sư chị kiên nhẫn và vui tươi. Tôi siêng năng học từ sư chị. Vẫn không thể trở thành một sư cô tụng kinh và hô canh hay, nhưng tôi biết rằng mình là một đứa em được thương yêu, được chăm sóc. Tôi đã tiếp nhận tình thương của sư chị, một cách tự nhiên và trong trẻo, như một em bé uống được dòng nước mát lành nơi cái giếng cổ năm xưa, mà lớn lên. 

Năm kia, tôi nhận được soi sáng từ một sư chị: “Sư em không có nhiều khó khăn với các sư chị của mình. Sư em có mối liên hệ tốt với các sư chị, dù ở gần hay ở xa”.Đang là một sư chị, đã chấp nhận và thực tập vai trò sư chị một thời gian, tôi hơi ngạc nhiên và giật mình khi nghe lời soi sáng đó. Tôi xúc động và biết ơn sư chị đã khen ngợi, đồng thời là lời nhắc nhở cho tôi. Làm chị, và giữ gìn được mối liên hệ tốt với những người chị của mình, đó không phải là một may mắn phước đức của tôi hay sao! May mắn hạnh phúc lớn, và cũng là một gia tài quý báu. Thương được chị, bởi vì tôi đã được chị thương, thế thôi. Dù đang làm sư chị của nhiều sư em, tôi vẫn luôn nhận được tình thương của các sư chị. Tôi thích được làm sư em hơn, nhưng vì được các sư chị thương yêu và nuôi lớn, nên dù không hay không giỏi, tôi vẫn đang làm được một sư chị. Biết ơn các sư chị, tôi tập làm sư chị. Biết ơn Thầy, tôi tập làm sư chị, vậy thôi. 

Hôm nghe tin sư chị mất, tôi bàng hoàng. Lòng rưng rưng vần thơ năm nao sư chị đã viết: 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

Con đường nghe tiếng đôi chân 

Chân ơi rong ruổi dừng tâm là dừng. 

Đường xa cỏ non thênh thang 

Khi đi thanh thoát lúc về thảnh thơi 

Khổ đau đã hiểu đã từng

Rằng trong khổ vẫn có đường đi ra! 

Còn khi lên xuống thấp cao

Còn đây tâm lượng bình an là đường

Đường xa ấp ủ bao tình

Người xưa ở lại với người hôm nay. 

Trải lòng cho những đôi chân

Quê hương xưa Mẹ còn nuôi tình người 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

(“Bàn chân ướm hỏi con đường” – thơ sư cô Giải Nghiêm) 

ư chị lên đường, thong dong tự do như cụm mây trắng trên bầu trời trong xanh, như làn gió nhẹ thoảng đưa hương cau hương bưởi. Sư chị về với quê hương tuổi thơ ngàn năm không vướng bận, nơi mỗi nụ cười của đọt lá xanh non, nơi hạt sương mai long lanh tia nắng sớm, nơi bao nhiêu con đường độ lượng quanh đây… 

Ươm nắng cho vạn loài hoa 

Tôi chưa bao giờ gọi Thầy tôi là Sư phụ một cách trực tiếp. Từ ngày xuất gia, các chị em đều gọi Người là Sư, nhưng khi nói chuyện với nhau chúng tôi gọi là Sư phụ. Người Huế không quen xưng hô một cách thân mật, tình cảm thường kín đáo và chỉ ưa thể hiện qua hành động hay cử chỉ chăm sóc âm thầm. Về Huế lần này, tôi nhận ra cái chất đó vẫn còn thật sâu đậm quanh mình. 

Tôi xuất gia năm 18 tuổi, ở với Sư phụ hơn năm năm rồi đi, và đi cho đến tận bây giờ. Mỗi lần về chùa cũng chỉ ở qua loa. Vậy mà không lần nào tôi không cảm nghe cái chất liệu đậm đà tình người đó thấm vào từng ngõ ngách thân tâm tôi, nhất là lần này. Sư phụ tôi duy giọng nói vẫn còn chất Hội An, còn lại là một Sư bà Huế “toàn ròn”. Người tính tình phóng khoáng, cương nghị, lịch thiệp và quảng giao mà cũng lại cẩn trọng và tế nhị vô cùng. Cách hành xử của Người, có lúc thật kỳ lạ, thật can đảm. Điều cần làm thì Sư phụ làm, dứt khoát, mạnh mẽ và đặc biệt “Huế”. Tôi là một đứa học trò cứng đầu và không dễ dàng khuất phục, chỉ khi tự mình thấm được cái chất Huế đó nơi Người, tự mình chứng kiến cách dạy dỗ và nâng đỡ một cách tài tình những tâm hồn khác biệt của Người, tôi mới thật sự khâm phục. 

Hồi đó tôi theo học chương trình đại học ở đời nên đã tiêu tốn không ít thời gian. Tôi ít có cơ hội được làm những công việc của một người sơ cơ mới vào chùa. Sư phụ thường nhắc nhở tôi phải nhớ và thực hành bài học khiêm cung, bài học hòa đồng, chứ không phải học lên cho thật cao là giỏi, là hay. Sư phụ lại thường rầy la tôi, dù với những điều hết sức nhỏ nhặt mà đối với các chị em khác Người có thể dễ dàng bỏ qua. Tôi đã không thật sự hiểu rằng, Sư phụ làm như vậy bởi vì Người muốn rèn luyện, giữ gìn cho tôi, đồng thời muốn cho chị em tôi chấp nhận nhau, không có sự ganh tỵ, hiềm khích xảy ra giữa người đi học nhiều và người phải ở chùa làm việc nhiều. 

Tôi còn nhớ một hôm về chùa sau buổi học ở trường, trong tâm trạng cao hứng, tôi không nhìn ra được chị em mới vừa chấp tác nặng nhọc xong. Thế là vừa đến trước Sư phụ để chào, tôi đã bị rầy thật nặng vì những lý do “không đâu vào đâu”, tôi ngỡ ngàng không hiểu tại sao! Đứng yên chắp tay trước Người, mà tâm tôi không phục. Nghĩ rằng Sư phụ đã không hiểu mình, tôi thầm nhủ mình không được khóc, không cần phải khóc! Về phòng, đang đứng nhìn trân trân ra cửa sổ, cái tâm phân tích và phán xét trong tôi trào dâng. Thấp thoáng bên dưới là nỗi buồn, nỗi buồn cảm như mình không được thương, đang âm thầm len lỏi đâu đó. Nào ngờ, xuất hiện lặng lẽ bên ngoài song cửa là hình dáng Sư phụ. Người thoáng nhìn tôi, khuôn mặt trầm tĩnh và hiền dịu, không nói năng chi, nhẹ nhàng bỏ nơi bậu cửa một cái bánh bao, rồi quay đi. Tôi bật khóc! Có cái gì trong tôi như vỡ òa, như thấm thía, như miên man. Tôi đứng yên tại chỗ và khóc thật lâu. Sư phụ tôi là thế đó. Không cần thêm một lời giải thích nào, sự thấu hiểu có mặt tức thì, và mãi mãi. 

Sau này lớn lên, học làm chị, học cách lo việc chúng và chăm các em, tôi biết rằng, thực hành đức hy sinh ở nơi công việc đã là khó, hy sinh nhu yếu muốn được hiểu, được thương của riêng mình để rèn luyện và hướng dẫn các em lại càng khó hơn. Bài học giản đơn và thấm thía đó, tôi mang theo suốt đời. Hôm nay, Sư phụ đã về với Bụt nhưng ân đức của Người, từ Thể Thanh Pháp Uyển, đã lên đường, ươm nắng cho vạn loài hoa, nở thơm mát khắp muôn phương! 

Thầy ngồi đó, lửa niềm tin trao giữ
Tâm Bồ Đề thắp sáng trái tim con
Cương nghị, chở che, biển tuệ chung dòng Muôn sông nhỏ trở về lòng đại hải. 

 

 

Bình yên như hơi thở 

Mạ thủy chung âm thầm như nguồn cội Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao
Mặc gió mưa giông bão thét gào
Mạ còn đó bình yên như hơi thở 

Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời. 

Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ. 

Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả. 

Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó. 

Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba sự quay về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia. 

Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó. 

Mùa Đông, Huế, 04.01.2020 

 

Hạnh phúc bây giờ

Chân Pháp Ứng 

Áo nâu phai màu nắng

Người về đây với Bụt

Cành lá đi in dấu

Quê hương thoáng nhẹ bay 

Em có mặt đây nuôi dưỡng tôi 

Và tôi đang sống yểm trợ em 

Từng bước chân bé nhỏ 

Cùng chuyển cả đất trời 

Ngược dòng và xuôi dòng 

Đi vui hết cả lòng. 

Bài thơ lấy cảm hứng từ lời dạy Sư Ông về kinh Tam Di Đề (Tuổi trẻ và hạnh phúc) và từ những cảm nhận trong ba tháng khóa tu mùa Thu 1994. 

Bát Nhã xưa và nay

Chân Sùng Nghiêm 

Thời gian trôi qua thật nhanh, gia đình xuất gia Cây Vú Sữa gần đến sinh nhật lần thứ 15. Một quãng thời gian không phải là ngắn. Khi nhìn lại thì mình đã làm được gì? Chuyển hóa được gì? Và có bước tiến như thế nào cho bản thân? Bao nhiêu câu hỏi cần phải nhìn lại để chấn chỉnh đời sống tu học. 

Mỗi độ xuân về, năm hết, Tết cổ truyền sắp đến là chúng tôi luôn nhắc đến ngày xuất gia và tính xem mình xuất gia được bao nhiêu năm rồi. Ngồi lại với nhau là kể bao nhiêu chuyện, chuyện từ thời xin vào tập sự ở chùa Từ Đức, chuyện hái ổi trên đường đi rừng về mà không xin phép rồi được Sư Bá dạy tôi và thầy Pháp Toại (chú Cường hồi đó) dẫn các em đi sám hối, chuyện tổ chức ngày sinh nhật đầu tiên,… 

Tôi nhớ lần thôi nôi tròn một năm của gia đình Cây Vú Sữa, sư mẹ Thoại Nghiêm mua tặng mỗi người một cây vú sữa để trồng, sư cô Phúc Nghiêm thì mua rất nhiều trái vú sữa làm quà. Thế nhưng, tre chưa già mà măng đã mọc. Mấy tháng sau, gia đình Cây Hướng Dương xuất gia, chúng tôi có em. Trở thành sư anh, sư chị, hết được cưng như trước, nhưng thay vào đó thì có nhiều em để chơi cùng. Phải nói rằng chính môi trường, con người và pháp môn đã thu hút rất nhiều người trẻ sau khi chúng tôi đặt chân đến Bát Nhã. 

Những năm đầu, mỗi lần kỉ niệm ngày xuất gia, anh chị em chúng tôi ngồi lại chia sẻ chuyện tu học của mỗi người, chuyện khó khăn vặt vãnh, chuyện giận hờn vu vơ vì không hiểu nhau. Nhưng dần dần theo năm tháng, đề tài chuyển thành chuyện chúng, chuyện này chuyện khác trong chúng, chuyện công việc,… Rồi ý thức nhắc nhau mỗi lần họp mặt đừng nói chuyện công việc nữa, nhưng chỉ được vài phút, đề tài trở lại y như cũ, nóng hổi hơn, hấp dẫn hơn. 

Chúng tôi đặt chân đến Bát Nhã đúng ngày 12 tháng Tư âm lịch. Mọi thứ dường như rất mới với chúng tôi, từ cuộc sống, môi trường, con người. Thế nhưng chúng tôi không cần tốn thời gian để làm quen mà bắt tay ngay vào việc xây dựng cho một tương lai mới. Nào là trồng cây, trồng hoa, trồng rau,… Rồi làm các công việc như mua giường, ráp giường, đóng kệ, hay tổ chức thời khóa tu học. Chúng lúc đó còn ít người lắm, chỉ có vài sư cô lớn từ Làng về chăm sóc chúng tôi gồm 13 chị em gia đình Cây Vú Sữa và 11 sư chị “Huệ” đến từ chùa Kiều Đàm. Mọi thứ diễn ra thật nhẹ nhàng, dễ chịu. Mặc dù toàn tiểu thư, chỉ quen cầm viết nhưng chị em xúm xít chơi với nhau, cùng xây dựng cuộc sống đầy thú vị, làm việc gì cũng xong. Trong một thời gian ngắn mọi thứ đi vào ổn định. Quý sư cô bắt đầu tổ chức ngày quán niệm hàng tháng đầu tiên cho bà con đến tu tập. Rồi sau đó tổ chức các khóa tu lớn cho người trẻ đến tu học. Bát Nhã là một mảnh đất mới, một trung tâm theo phương pháp mới, không giống các chùa xưa nay đã có trên đất Việt Nam. Những khóa tu theo hình thức mới đó đã thu hút bao nhiêu người trẻ ở lại xin tập sự xuất gia. Và gia đình Vú Sữa bắt đầu có em để chăm. 

Một tu viện mới, tăng thân mới, hình ảnh người xuất sĩ mới cùng một pháp môn mới đang có mặt trên quê hương. Tất cả những điều đó đã gây ấn tượng mạnh đến tâm thức của người dân. Chỉ sau hơn một năm mà số lượng các vị xuất sĩ đã tăng lên gần hai trăm. Không chỉ những người trẻ phát tâm xuất gia theo Làng mà còn có quý thầy, quý sư cô đã xuất gia trong những truyền thống khác cũng đến xin tu học chung. Số lượng người xuất gia càng lúc càng tăng. Bốn năm sau, số lượng lên đến 400, toàn là người trẻ. Không biết nếu Bát Nhã còn thì con số sẽ lên đến bao nhiêu, có thể đến hàng ngàn? Một chuyện vui mà tôi nhớ là năm 2007 khi Sư Ông và phái đoàn về tổ chức khóa tu. Số lượng người tham dự khóa tu quá tải cho thiền đường, chỗ ngủ, chỗ ăn,… Tôi làm tri khách cùng với các sư cô khác bị choáng ngợp với lượng người đông như vậy, không biết cách giải quyết, rất khó khăn trong cách tổ chức sắp xếp cho thiền sinh. Sư cô Bích Nghiêm tình nguyện vào để giúp. Sư cô đã quen tổ chức cho hàng ngàn người đến khóa tu ở Làng. Chúng tôi khó khăn với việc sắp xếp chỗ ngủ, phải tận dụng hết tất cả thiền đường nhỏ, lớn và thiền đường Cánh Đại Bàng. Thiền đường Cánh Đại Bàng lúc đó có thể chứa cả ngàn người ngồi nghe pháp thoại, tối thì tận dụng để làm chỗ ngủ. Tôi và sư cô Bích Nghiêm chia ô theo hình chữ nhật chỉ đủ cho một người nằm, đánh số thứ tự để cho các vị ghi danh tiện chia người. Chia dọc, chia ngang không còn chỗ hở rồi dán số thứ tự. Vậy mà cũng ổn, không nghe ai phàn nàn sau đó. Chắc có lẽ bà con ham tu học nên chịu cực chịu khổ vài đêm mà không nề hà gì. Tôi tự hỏi nằm xếp lớp như vậy không biết với những ai khó ngủ thì sẽ ra sao? 

Mấy năm đi qua, chúng tôi được lớn lên trong sự bao bọc, chỉ dạy của Ôn Đức Nghi, của quý thầy, quý sư cô. Được nuôi dưỡng bởi những năng lượng trẻ, tươi vui của các chị em xung quanh nên đời sống xuất gia với tôi cũng đủ đầy hạnh phúc. Thời gian cứ trôi, mọi thứ dần ổn định, bắt đầu đi vào nề nếp tu tập, học hành. Quý thầy, quý sư cô mời thầy về dạy chữ Hán, tổ chức lớp Kinh, và thêm nhiều lớp học khác. Một hình ảnh nuôi dưỡng trong tôi là mỗi ngày đều thấy bóng dáng của Ôn Đức Nghi với bộ đồ màu vàng, đội nón lá xuống ni xá thăm quý sư cô. Ôn rất thương quý sư cô nên hay xuống thăm hỏi. Có lần Ôn khuyên quý sư cô gắng tu học hết lòng, sống hết lòng ở đây và chết ở đây. Ai chết Ôn sẽ chôn mỗi người dưới một gốc thông. Có dịp đi ngang vườn thông, tôi hay nhìn các cây thông để xem cây nào sẽ dành cho mình. 

Rồi vô thường đến, một ngọn gió đi qua, Bát Nhã trở thành huyền thoại, với bao kỉ niệm vui buồn… Mặc dù vậy nhưng trong thâm sâu, mỗi người đều mang ơn mảnh đất Bát Nhã. Cái nôi của bao nhiêu người trẻ từ lúc còn là những mầm xanh. Có lần ngồi trên xe buýt, Sư Ông nói với chị em tôi: “Cánh Đại Bàng đã đưa Bát Nhã đi rất xa, Bát Nhã ở Đức, ở Pháp, ở Úc, ở Mỹ, ở Hong Kong, Thái Lan,…”. Ở đâu anh chị em Bát Nhã cũng có mặt phụng sự và chung tay để xây dựng tăng thân. 

Bát Nhã ngày xưa nay đã thành mưa

Rơi xuống mặt đất thành hạt Bồ đề. 

(Sư cô Đôn Nghiêm) 

Những hạt Bồ đề mỗi ngày mỗi lớn. Các gốc thông giờ đây không một bóng người. Anh chị em Bát Nhã tung cánh khắp nơi để góp tay chung sức mang đạo Bụt đi vào cuộc đời. Những ai đang còn biểu hiện trong tăng thân dù ở trung tâm nào tôi cũng thấy rất quý, rất đáng trân trọng tâm huyết tu học của họ. 

Bát Nhã xưa đã chuyển mình để hôm nay người trẻ khắp nơi vẫn tiếp tục bước vào tăng thân, nguyện nắm tay nhau để xây dựng cho tương lai đạo pháp. Những hạt Bồ đề cuối cùng của thời kỳ Bát Nhã bây giờ cũng đã trưởng thành. Các sư em Cây Sen Hồng là những người trẻ cuối cùng bây giờ cũng đã lớn. Tháng 2 năm 2020 các sư em sẽ nhận truyền đăng làm giáo thọ rồi. 

Gần đến ngày sinh nhật, tôi điểm lại chuyện xưa, chuyện nay để khơi dậy những mầm xanh Bát Nhã, để chúng tôi tiếp tục trân quý nhau, động viên nhau làm động lực vững bước trên con đường tươi đẹp này. Hẹn sẽ viết tiếp vào lần sau. 

 

Ngày ấy bên nhau

Chân Thao Nghiêm 

Mười năm, bao nhiêu chuyện diễn ra, nơi đó chắc giờ đã thay đổi nhiều. Những ngày ấy dường như xưa lắm rồi mà cũng như mới từ hôm qua thôi. Nhắc về nơi ấy là nhắc về một chốn thiêng liêng, nơi mà ai ai cũng mến thương khi đã từng là một người con được sinh ra và lớn lên ở đó. Mất đi là một sự nuối tiếc, rời xa là một nỗi mất mát. Nhưng kỳ diệu thay, vết thương lành lặn theo tháng ngày. Những người con Bát Nhã giờ đã khôn lớn, đi khắp nơi và nếu nhắc lại thì không ai mà không nhớ về những kỷ niệm đẹp, xen lẫn tiếng cười rộn rã và cảm giác ấm áp trong lòng. Con hãnh diện vì mình từng có được cơ hội sống nơi đó, thuở ban sơ, còn thiếu thốn nhiều mặt nhưng tình huynh đệ thì đầy ắp, trong tâm mỗi người ngọn lửa lý tưởng vẫn sáng và mạnh mẽ hơn bao giờ. Nhắc lại đây để các anh chị em nhớ chút kỷ niệm xưa và rồi thế nào cũng đem về thêm nhiều câu chuyện đẹp nữa, bí mật nhưng tới lúc này ai cũng biết và chỉ mỉm cười thôi. Tuổi thơ mà. 

Bát Nhã lúc ban sơ chưa có nhà ăn xóm Bếp Lửa Hồng và thiền đường Tâm Bất Động. Sáng, trưa, chiều và tối, quý sư cô được lên ăn nhờ ở nhà ăn của quý thầy và ngồi thiền ké ở chánh 

điện của chùa. Mãi một thời gian sau mới hoàn tất được nhà bếp và thiền đường riêng ở dưới này. Nhờ ơn của Sư phụ sắp xếp, xây dựng cấp tốc mà ni xá tạm hoàn thành,

tạm đủ chỗ ở để chuyển vào coi như là có một tu viện của mình, nơi mà chị em có thể nương tựa, tu học và xây dựng tăng thân. Sáng sáng, trên đường đi lên chánh điện để ngồi thiền, chị em sẽ được nghe cô Diệu Ngọc và cô Diệu Ngộ thỉnh chuông đại hồng. Giọng hô chuông của các sư cô thật khỏe, niệm đều đều cả trăm biến Nam mô A Di Đà Phật. Lâu lâu các sư chú nhỏ, đệ tử Sư phụ cũng thỉnh chuông. Các chú khoái nhất là chờ quý sư cô nhiếp tâm trong chánh niệm lặng lẽ đi thiền hành ngang qua, và rồi giật mình la lên vì các chú thỉnh chuông quá bất ngờ ngay sau lưng. Cứ nhìn nét mặt và nụ cười của các sư chú thì biết ngay. Sau đó một thời gian, các chị em cũng được luân phiên thỉnh chuông đại hồng. Đại chúng có cơ hội tận hưởng nhiều giọng hô chuông của các sư chị, sư em. Sư phụ luôn nhắc nhở giờ giấc thỉnh chuông phải chính xác. Dân chúng quanh đó đã quen nghe theo tiếng chuông để thức dậy mỗi buổi sáng nên mình không thể nghỉ, phải có sự đều đặn dù đó là ngày làm biếng trong tu viện. 

Bát Nhã thuở ấy hầu hết là người trẻ, nhiều nhất là các sư em tuổi từ 13 đến 25, ham tu, vui vẻ, mạnh khỏe, mà cũng ham chơi, quậy phá và ham ngủ. Mỗi buổi ngồi thiền quý thầy và quý sư cô lớn phải thay phiên làm giám thiền cho cả hai xóm. Chỉ mỗi việc đánh thức các sư em đang gật gù hoặc xoay vòng để khỏi uổng phí thời gian thiền tập thôi cũng đủ vất vả cho quý vị lớn rồi. Thiền đường Tâm Bất Động dần dần không còn đủ chỗ cho quý sư cô nên phải dùng cả hai tầng dưới và trên. Con còn nhớ bước chân rón rén đi lên tầng trên của sư cô giám niệm. Ngại nhất là mỗi lần Sư phụ xuống thăm chúng vào giờ ngồi thiền, Sư phụ cũng đi quanh một vòng và luôn nói lại với quý sư cô lớn sau đó là “quý sư cô ngồi thiền còn ngủ gục nhiều quá”. A ha, mà đừng nghĩ là quý thầy không ngủ gục nhé. Tình cờ thôi, có bữa con đi làm đệ nhị thân cho quý sư cô ngang qua chánh điện của quý thầy đúng vào lúc kết thúc buổi ngồi thiền và nghe quý thầy đọc một bản danh sách. Không phải danh sách nghỉ ngồi thiền đâu, thời đó không ai vắng ngồi thiền cả. Dù có buồn ngủ, các anh chị em đều cố gắng thức dậy đi tới thiền đường để có mặt cho đại chúng. Danh sách này là danh sách các vị ngủ gục trong khi ngồi thiền. Đi qua thoáng nghe đọc tên quý sư chú mà con cứ cười khúc khích. May quá, bởi chắc con cũng có tên trong danh sách nếu những ngày qua con ngồi thiền trên này. Hai xóm gần nhau nên có thể nghe tiếng hô canh từ chánh điện quý thầy và tiếng niệm Bụt đáp lại hùng hồn của các em nhỏ trên xóm Rừng Phương Bối. Giờ thiền tọa không khí tu viện hoàn toàn yên tĩnh, chỉ cảm nhận được tất cả đại chúng đều đang làm chung một việc, đó là quay về chăm sóc tự thân và yểm trợ năng lượng tu học cho nhau. 

Bát Nhã mưa nắng thất thường. Nắng không gắt, chỉ nhè nhẹ thôi. Sáng chiều nào sương mù cũng giăng giăng khắp các sườn đồi quanh tu viện. Sống ở đây như sống ở tiên cảnh. Giờ thiền hành thường là sau giờ ăn sáng (trừ ngày quán niệm). Trời còn se se lạnh, sương còn đọng lại trên đồi cà phê, trà, sầu riêng và khi nắng lên thì ôi chao, đẹp lung linh. Có những buổi thiền hành sương mù quá không thấy hết cả đại chúng, chỉ theo chân các chị em trước mặt để đi thôi. Những lúc như vậy, thân tâm con hoàn toàn cảm nhận không khí mát lạnh và an trú trong từng bước chân mình. Có những ngày trời đang đãi nắng buổi trưa để phơi củi thì bất chợt mưa xuống, các chị em bị thức dậy thường xuyên khỏi giờ nghỉ trưa để ra gom củi giùm. Tinh thần tập thể là ở đó. 

Nếu buổi chiều mà có mưa rào thế nào cũng nhìn thấy cầu vồng đẹp ơi là đẹp ôm trọn vẹn chánh điện xóm Rừng Phương Bối. Lại có những buổi tối trước giờ ngồi thiền thì mưa tầm tã, con đường xuyên từ thiền đường đến ni xá ngắn thôi nhưng lại nằm lơ lửng giữa hai khu nhà, gió thổi mạnh, mưa tạt hết vào người nên không dễ gì tới được thiền đường mà giữ được khô ráo. Những ngày như vậy thời khóa được thay đổi thành “ngồi thiền trên giường”. Đây kia sẽ nghe vang vọng tiếng chuông và tiếng hô canh của từng phòng xen lẫn tiếng mưa, ôi thật êm ả. Có lần vị tri chung, nghĩ là cứ để các chị em ngồi thêm thưởng thức không khí yên tĩnh và tự xả thiền nên không thỉnh chuông để kết thúc. Vậy là các em nhỏ tha hồ ngồi vật vã gật gù trên giường một hồi lâu mới có các chị đến báo cho biết là giờ ngồi thiền đã hết lâu rồi và được đi ngủ. Cái hay thuở ấy là các chị em đều rất tinh tấn trong sự tu tập và rất là ngoan. 

Ngày ấy, mỗi tuần một lần, đại chúng được khất thực thức ăn sáng, thiền hành nhẹ nhàng xuống suối, ngồi bên nhau và thưởng thức bữa ăn im lặng. Tảng đá to ven suối thì ngồi được vài người, hoặc chỉ được hai, ba chị em thôi. Không gian yên tĩnh nghe tiếng suối róc rách, tiếng chim líu lo làm mọi người đều trân trọng tận hưởng hết lòng. Đẹp vậy đấy nên ai cũng cứ nhớ hoài, niềm vui không từ những câu chuyện, những trò chơi, không quan trọng trong bát cơm có gì mà là sự nối kết với nhau bằng công phu tu tập và tình chị em ấm áp bên nhau.

 

 

Nhà bên cạnh có mấy cây ổi 

Bát Nhã hồi ấy đôi khi có những trò nghịch của các em nhỏ còn năng động, ham chơi. Ở một hồi cũng biết có những bí mật xung quanh: cái quán bán bánh kẹo ở trước cổng tam quan, giờ nào là ông bán cà rem thường chạy xe qua và tiếng kèn của ông kêu ra sao, nhất là nhà bên cạnh có bán ổi. Ranh giới nghiêm ngặt, đặt chân ra ngoài là phải xin phép, mà xin thì làm sao được phép để đi mua quà vặt, nên thôi phải làm lén. Thế nào cũng phải có chị em yểm trợ nhau thì kế hoạch mới thành công. Một hai chị em canh chừng, hai vị còn lại nhảy qua được bên kia suối, băng qua hồ nước hàng xóm là có thể hỏi mua được ổi. Đại chúng cũng có dọn trái cây vào giờ ăn trưa nhưng sao vẫn thấy những gì mình tự tìm ra, người lớn không biết thì bỗng dưng thấy ngon hơn nhỉ. Sau này mới vỡ lẽ ra rằng thì ra những lúc đó quý sư cô cũng biết nhưng chỉ cười thôi và nhắm mắt cho qua. Thì ra quý sư cô cũng cảm thông cho những trò nghịch và thú vui của các em nhỏ. 

Chỉ tại chợ Bảo Lộc không bán nhiều kiểu dép
Giờ thiền hành ở Bát Nhã quý sư cô bắt buộc phải chít khăn, cho dù trời nắng. Lý do là vì không thể áp dụng được pháp môn nắm tay nhau đi thiền hành một cách ngẫu nhiên nếu không phân biệt được đâu là quý thầy, đâu là quý sư cô. Đồng phục chỉ có ba màu nâu, nâu và nâu. Dáng dấp thì thanh cảnh giống nhau, cũng nón lá, áo ấm đồng phục nên rất dễ nhầm. Nhìn xuống đôi dép thì cũng chỉ một loại. Chợ Bảo Lộc chỉ bán vài loại dép, mà thích hợp với người tu thì chỉ có một hay hai loại thôi. Chuyện lạc dép và nhầm dép là chuyện như cơm bữa, vì vậy trên dép và nón lá của ai cũng phải viết tên. Lâu lâu bắt gặp những câu thơ thật rõ và thật dài trên nón của các anh chị em, không hẳn là để khoe thơ mà chỉ để khỏi lạc. Còn nhìn vào những đôi dép thì tên của mỗi người là đặc điểm nhận diện rõ nhất trên cùng một kiểu dép. Cái đó chắc có thể được gọi là đồng chúng. 

Ăn thức ăn theo mùa 

Có bài hát của sư cô Chúc Tuệ mà đến hôm nay mỗi khi hát tới câu: “Ôn đi trước kế là đàn con đông thật là đông 300” thì chị em vẫn còn buồn cười. Chỉ hai năm sau thôi số lượng đã đổi thành 500. Ngày quán niệm hàng tuần thì con số đông hơn nhiều, còn quán niệm hàng tháng thì dễ lên tới cả ngàn người. Ban đầu thì rau cải đến từ chợ Bảo Lộc, có cô Khanh gom góp dùm và các sư cô mua thêm. Thời gian đầu còn đi bằng xe gắn máy để mua rau củ, 

một thời gian ngắn sau đó thì tu viện có một chiếc ô tô thùng. Mỗi tuần tri khố đi Đà Lạt một lần để mua rau củ cho rẻ. Bao nhiêu là rau củ dành cho cả tuần được mua về sau mỗi chuyến đi. Thức ăn được nấu theo mùa tùy vào những gì mình có trong vườn và những gì người ta trồng được lúc đó. Mình ăn những gì mình có. Không có ý niệm ngán nếu phải ăn suốt một tuần cùng một loại thực phẩm. Hạnh phúc với nhau là đủ rồi. Sướng nhất là những ngày quán niệm đầu tháng có đoàn cư sĩ ở Sài Gòn, Nha Trang, hay một thành phố nào đó lên tham dự, họ đem theo bao nhiêu là quà bánh và trái cây. Các anh chị em tha hồ mà hạnh phúc. 

Nghĩ lại con thấy thương quý sư anh, sư chị lớn. Làm sao chỉ có vài vị lớn thôi mà có thể lo hết cho các sư em đông ơi là đông như vậy nhỉ? Từ thời khóa sinh hoạt, việc tu học, tổ chức các khóa tu, ngày chánh niệm cho cư sĩ và còn lo chuyện cơm ăn áo mặc cho các em nữa chứ. Sống với nhau đông như vậy mà ngõ ngách nào các chị em cũng nhận được tình thương, bàn tay chăm sóc, sự nâng đỡ, dẫn dắt của quý sư anh, sư chị lớn. Chúng con xin gởi lòng biết ơn của chúng con đến các sư anh, sư chị, những người đã hy sinh rất nhiều cho đàn em thơ ngây, thay Thầy để ban trải tình thương và gieo trồng những hạt giống lành trên mảnh đất mới. Chắc chắn ngày ấy quý sư anh, sư chị đã gặp vô số những thử thách. Con đã thấy niềm tự hào và hạnh phúc lấp lánh trong mắt quý vị mỗi khi thấy các em mình lớn lên từng ngày, trưởng thành từ từ và đang còn đi trên con đường đẹp này. 

Ở trung tâm Làng Mai nào trên khắp thế giới cũng có sự hiện diện của những người con Bát Nhã xưa, đã và đang đóng góp hết sức mình vào công trình xây dựng tăng thân, chia sẻ tình thương và sự tu học cho những người cần đến. Bát Nhã không chỉ là một tu viện xưa, hay một mảnh đất thuộc về quá khứ. Bát Nhã đang được tiếp nối nơi những người con đã từng sinh ra và lớn lên từ đó. Nhớ về nơi đó là nhớ về những bài học, tình huynh đệ và sự bình an mà chúng ta đã từng hiến tặng cho nhau. Thương chúc các anh chị em tiếp tục có mặt một cách đẹp đẽ và vững vàng nơi mình đang sống. Mình luôn vẫn mãi trong nhau và rồi khi nào gặp lại, mình sẽ lại kể cho nhau nghe chuyện xưa để xây dựng một ngày mai. Ngày mai đó chắc chắn là đẹp lắm. 

 

Cho một miền quê hương

Chân Pháp Khả 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, ngày đó còn chưa đầy mười sáu tuổi. Chú theo một chuyến xe của quý thầy đi vào từ Huế. Xe đến xóm Bếp Lửa Hồng trước; xóm Bếp Lửa Hồng có một con đường nhuốm màu đất đỏ như cái sân nhà chú. Ngày đó, có nắng chiếu lên hàng liễu hai bên đường. Đồi chè xanh mát, con đường thoai thoải cong cong. Có hai sư cô ra giúp các thầy chuyển đồ đạc từ trên xe xuống, họ cười rất tươi. Đó là “những nụ cười Làng Mai” lần đầu tiên chú thấy. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, khi xe tiếp tục chạy lên xóm của quý thầy, xóm Rừng Phương Bối. Xe dừng trước tăng xá, có hai chú tiểu nhỏ, mặc áo tràng lam, chạy lon ton từ tăng xá ra chào quý thầy vừa về, nói cười hớn hở. Hai chú nói nhiều thế, một chú nói giọng Huế, một chú nói giọng Quảng Trị, cả hai giọng đều nặng rất đặc trưng. Sau này chú mới biết; tên của hai chú lần lượt là Quang Chính và Bá Khai. Hai chú cười nói với các thầy rất nhiều, mà chẳng nói với “người mới đến” này một câu nào cả. Có lẽ, đồng trang lứa mà lần đầu mới gặp nhau, không nói chuyện chưa hẳn là không thích nhau, mà vì ngại ngùng. Tranh thủ lúc đó, chú đưa mắt nhìn tăng xá, thấy gần gũi vì có ba tầng cao, y như ngôi trường phổ thông của mình. Cứ nghĩ là chùa thì sẽ có mái cong, khói hương nghi ngút, các thầy mặc áo vàng, cổ đeo chuỗi hạt, đi ra đi vào với một sắc thái nghiêm nghị, thậm chí lạnh lùng. Xưa nay sự lạnh lùng luôn là điều dễ làm chú ái ngại nhất. Nhưng các thầy ở đây bận đồ nâu, không đeo chuỗi hạt, dáng vẻ khoan thai, nhìn chú và mỉm cười. Chỉ thế thôi, chú bắt đầu thấy thích. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, món ăn ngày mới đến ấy là cơm nguội và mít kho. Chú đã ăn món đó nhiều lần lúc còn ở nhà rồi, nên không lấy gì làm háo hức lắm. Nhưng, giữa cái không gian núi đồi xanh cao gió mát ấy, chẳng hiểu sao món cơm nguội mít kho trở nên ngon đến diệu kỳ! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, cái phòng đầu tiên được ở tên là Lộng Gió. Tên nó như thế bởi vì mỗi lần mở cửa sổ là gió cao nguyên ùa vào, mát rượi. Gian phòng đó là một khoảng không gian có nhiều điều để nhớ. Có những đêm, bạn nhỏ ngủ giường tầng trên lăn té xuống nền nhà, rồi lại trèo lên ngủ tiếp, rồi lại té, đến ba lần, mà chẳng hề hấn gì cả. Hồi đó, chú chỉ vào để chơi, đâu biết thực tập chánh niệm là gì! Phòng đó U14 có, mà U40 cũng có, nghịch ngợm tới đâu đâu nhưng chưa bao giờ cãi nhau, thân nhau như ruột thịt. U14 thì đùa giỡn đuổi nhau chạy quanh phòng ầm ĩ, nhưng chú Kính – U40, vẫn điềm nhiên hát và gảy đàn guitar, không hề bị phân tâm bởi tiếng ồn lũ trẻ. Chú thích có mấy U14 trong phòng lắm! Nhờ chú Kính, chú bắt đầu biết đến thiền ca, với Lòng không bận về, hay Con cá dung thông. Thi thoảng còn có Nắng thủy tinh, Gọi tên bốn mùa hay Bốn mùa thay lá… nữa. Giọng chú Kính trầm ấm, rất Huế và mang cung cách của người hoài cổ, xa xưa. Sau này, rất muốn gặp lại chú Kính một lần, chỉ để nói lời cảm ơn đã là nguồn cảm hứng cho chú học đánh đàn guitar. Nhưng đã hơn mười hai năm, kể từ khi được ở chung trong cái phòng Lộng Gió thân thương ấy, chú chưa từng được gặp lại chú Kính, dù chỉ một lần. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, hồi đó các thầy thương chú lắm! Biết chú chỉ vào chơi hè thôi, không phải vào thực tập, rất nghịch ngợm ham chơi, vậy mà vẫn thương. Có lẽ vì tình thương ấy, sau này chú đã quay lại. Thi thoảng đi thiền hành được các thầy nắm tay cùng đi, hễ thấy chú đi nhanh thì níu tay để đi chậm lại. Những buổi ngồi thiền sáng, chú hay được các thầy chỉnh lưng cho thẳng. Các thầy nói, lưng mà thẳng thì tính sẽ cương trực. Mỗi khi xuống xóm Bếp Lửa Hồng giúp các sư cô làm việc, sau buổi được đãi một tô chè trái cây. Khi về mỗi đứa còn “xơ-cua” cho riêng mình thêm một bát, để dành cho buổi tối. Quý thầy dạy chú rất tỉ mỉ về cách nấu ăn, cách xào rau muống làm sao để không bị chuyển màu, cách dùng hai vá lớn đảo thức ăn trong chảo bằng hai tay. Mỗi lần đi chợ tít trên Đà Lạt về, các thầy thường gọi chú đến phụ giúp chuyển thực phẩm vào kho. Giúp xong, thì cho ổi, bánh hay xoài… như là “trả công”. Nhưng lần nào cũng thế, dặn chú là không được hưởng một mình, mà nhớ đem về chia đều trong Lộng Gió. Ổi, xoài thì lần nào cũng chia, nhưng nếu là hồng xiêm (sapôchê), thì hình như chưa lần nào chú chịu phân phát cả! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, mỗi tuần hai lần được chơi đá bóng với các thầy trên cái sân Thạch Sỏi huyền thoại. Hồi đó, Bá Khai đâu có được các thầy cho phép chơi cùng đâu, thế mà chú lại được cái may mắn đó. Có lẽ hồi đó Bá Khai còn bé hơn cả chú. Sau này lớn lên, Bá Khai thi thoảng thường “kiện tụng” với chú lắm, kiểu như là một cái gì đó rất “bất công”. Tối đến làm biếng, chú và Bá Khai còn được quý thầy cho vào phòng riêng, ăn mì gói với rong biển. Ở nhà, mì gói đôi khi mẹ mua về đến mấy thùng, để đến nỗi hết hạn, có bao giờ chú nhìn đến đâu. Nhưng ở Bát Nhã, được ăn mì gói trong phòng với quý thầy, là một diễm phúc! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, ba tháng hè trôi qua như cơn gió. Chú phải về lại để học tiếp cấp ba. Ngày chú đi, nắng cũng trong veo như ngày chú đến. Nhưng chú buồn lắm vì phải xa Bát Nhã, xa các thầy, các sư cô. Không được đi thiền hành dưới rừng thông, hay ngồi thiền trong thiền đường Cánh Đại Bàng với hàng trăm chiếc áo nâu nữa. Chú phải về để vẽ tiếp cái tương lai của mình. Ba tháng ở Bát Nhã, chú chưa hề giận ai, vì chung quanh đều là những con người bình dị. Mỗi lần nghe tiếng chuông, chú nương theo hơi thở, nhẹ nhõm cả thanh xuân. Đó là cái trải nghiệm mà những năm tháng học hành chú ít khi nếm được. Chú cảm thấy cuộc sống mình có lẽ phải gắn liền với cái cảm giác an yên đó. Môi trường ở ngoài thường cho chú cảm giác tầm thường, không thỏa mãn, vô định và bất an. Trong khi đó bóng áo nâu đi thảnh thơi giữa rừng thông là một dáng hình tiêu diêu đẹp đẽ. Có một sự so sánh âm thầm diễn ra trong tâm thức. Một lối sống đơn giản, những nụ cười thanh thoát, những lối mòn dẫn xuống suối, tự bao giờ chú xem nó là quê hương. Lúc đó, không thể giải thích thành lời vì chú còn bé quá, chỉ dùng trái tim để trực cảm. Biết rằng lối sống này sao sao đó, sẽ thỏa mãn cho những mơ ước thẳm sâu, ngay cả chính mình vẫn chưa thể gọi tên. Ba tháng ở Bát Nhã, thấy mình chỉ biết nghịch ngợm, rong chơi. Ấy thế mà đã xoay chuyển hoàn toàn, là một ngã rẽ lớn, hay là một bước đột phá mới toanh cho cuộc đời và tâm tư chú. Trước khi vào Bát Nhã, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ đi trên con đường này, không quen với việc cạo đầu, đeo chuỗi hạt, và bận áo vàng. Nhưng giờ đây, xa nơi này, chú nghĩ là mình đang rời xa một vùng trời rất đẹp. 

Thầy từng dạy chú nấu ăn, cũng là người đã chở chú ra bến xe Bảo Lộc. Thầy xem chú như em trai, chú cảm nhận được điều đó. Khi xe chuyển bánh, mắt chú bỗng long lanh, chú lấy tay quẹt đi cái lưu luyến dại khờ và thiêng liêng tuổi nhỏ. Lần đầu tiên trong đời thấy mình tha thiết và đáng thương. Nhưng cũng chính cái lúc phải rời xa ấy, cũng chính là lúc chú biết rõ ràng và chắc chắn, một ngày không xa mình sẽ quay lại nơi này! 

 

 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, hồi đó chú làm sadi cũng được vài ba tháng rồi. Cái thời mà ca hát, làm thơ, sáng tác thiền ca dần trở nên một mảng màu nhiều sinh khí. Lúc ấy xóm Rừng Phương Bối có một nhóm các thầy mà ai đó đã đặt cho cái tên là ban văn nghệ sĩ dòng nhạc áo nâu, hay cổ xúy và khuấy động phong trào viết nhạc, ra thơ. Sau những giờ lớp học mỗi sớm ở thiền đường Cánh Đại Bàng, các thầy thường hẹn nhau ngồi lại hát thiền ca, hay đọc và phân tích thơ của tác giả nào đó, nghe có vẻ am hiểu lắm. Chú còn bé, hiển nhiên không được dự vào. Nhưng chú thích ngồi yên một góc chống cằm nhìn các thầy đàn hát. Chú biết, mình thích hát, và mình cũng thích nhìn mọi người chung quanh hát. Chú thích làm thơ, và chú cũng thích nghe mọi người đọc thơ. Ai mà trách chú lơ thơ bay bổng, học đòi bắt chước lối sống của tao nhân, chú cũng đành chịu. Chú chỉ thấy chúng làm cho lòng hân hoan, khai sáng, không làm mình mất đi nhựa sống, thì mình có sao sống vậy, khỏe khoắn và như nhiên. 

Khi nghe nhạc nghe thơ, mắt chú lúc thì tròn lên thưởng thức, lúc thì phải nhắm lại, vì ý thơ câu nhạc sâu lắng đến tim người. Tác giả đôi khi đã nói hộ giùm mình, những điều mà chú cũng có cùng cảm nhận nhưng không thể chắp bút viết thành chữ, thành câu. Các thầy, các sư cô làm nhạc và thơ hay lắm, những giai điệu ấy đã đôi lần đi vào trong chú với những giấc mơ trưa. Những bài thơ, bài nhạc nào hay, ngày nào chú cũng mang ra hát đi hát lại. Chú hay hát những câu như: “Trong đêm bao la, từng vì sao múa ca, thông reo vi vu, trò chuyện với trăng già…” Hay: “…Tình yêu anh em bắt đầu từ những gì… đơn sơ nhất. Yêu dáng ai ngồi rất thẳng, yêu em bé kể giấc mơ hoạ mi. Yêu thiền ca anh hát lòng đất tuôn mầm xuân. Nắm tay nhau cùng vui bước trên đường…” Đúng là các thầy, các sư cô nhà mình hay thiệt, những cái đẹp của thiên nhiên luôn được xem như một cái gì to lớn lắm! 

Và hễ lần nào chú đọc được những dòng như: 

… Nỗi đau của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối
Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu 

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi, cho tôi được nghe một lần tất cả
Những tiếng tôi khóc, tôi cười
Cho tôi thấy nỗi đau và niềm vui là một… 

(“Hãy gọi đúng tên tôi” – Sư Ông Làng Mai) 

hoặc là: 

… Đừng ghét bỏ thân thể em
Vì đó là đền thờ linh thiêng của linh hồn nhân loại
Mắt trong của em là minh châu ngời sáng, chứa đựng bóng hình tam thiên thế giới
Và tai em có quyền hạn tối cao với suối chim Với hải triều sớm tối

Và bàn tay em
Là những bông hoa thương yêu ngàn đời không cần ai hái
(Những bông hoa còn bừng nở nhiệm mầu Làm diễm lệ cả khu vườn nhân loại)
Và vầng trán em
Là bình minh sáng nhất của các bình minh… 

(“Kiến trúc chân như” – Sư Ông Làng Mai) 

là chú xúc động mà chưa rõ nguyên nhân là gì, chỉ mong tháng năm có thể trả lời cho chú. Có người còn nói rằng khi đọc những dòng thơ đó họ còn rung cảm mãnh liệt hơn, mong được chạy đến bên Thầy, sà vào lòng Thầy mà khóc. Dù là ai thì cũng có quyền một lần trong đời được khóc òa như đứa trẻ, dù gái hay trai thì cũng sẽ không bị chê cười, không bị quở trách là yếu đuối. Những giọt nước mắt đó sẽ cuốn đi bao tủi hờn, thổn thức. Cái chuyện khóc òa kia bỗng trở nên mầu nhiệm đến vô cùng! Chú 

mong lâu lâu mọi người ngồi chung lại, đàn hát hoặc đọc thơ cho nhau nghe, vì chúng ta là những người giàu có, biết thưởng thức sự sống, không bận bịu, có rất nhiều thời gian. Thật ấm cúng khi nuôi nhau bằng ý thơ, con chữ… 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, lúc đã làm sư chú được gần hai mùa an cư. Được thấy hai mùa hoa cà phê nở, trắng tinh và thơm ngào ngạt. Mỗi lần đặt tay lên đầu, là mỗi lần chú tự mỉm cười ngạc nhiên vì bây giờ mình là sư chú, trong khi thời gian ngắn trước đây thôi, cái ý niệm bận chiếc áo nâu trong đầu hẳn còn xa lạ. Thời gian cứ thế trôi… 

Đến một ngày, chú nhận tin là mình và một vài thầy nữa sẽ được chuyển đi trung tâm khác. Cảm thấy hơi bất ngờ và hụt hẫng, vì phải rời xa thiên đường có những ngõ ngách mình chưa biết trước để tranh thủ ghé thăm. Thôi thì cất đi những ngông cuồng tuổi trẻ, mang theo những gì chú có, một chút gió, chút trăng, những tháng ngày an vui, hay cái hương hoa cà phê ngào ngạt. Chú thấy an ủi là mình đã trọn vẹn với tinh thần “Đại chúng cử đâu, con đi đó!”, dù những ước muốn được ở lại nơi đây chưa kịp nói thành lời, chưa được lắng nghe, vô tình để lại một vết thương, không tên không tuổi. Những thương tích trẻ con, tưởng chừng như đến rồi đi, sao thi thoảng nghĩ về nó vẫn còn to lớn thế? Lại thêm một lần xe chuyển bánh, lại thêm một lần mắt chú hóa long lanh. Chú nhìn thật kỹ bóng dáng nâu sòng rảo bước giữa rừng thông, nhìn thiền đường Cánh Đại Bàng ẩn mình giữa những làn sương mai bàng bạc. Chú không thấy tiếc, dù đó đã là lần cuối chú được ngắm nhìn… 

Chỉ có khoảng hai năm ở đó, nhưng mỗi khi nhớ về, Bát Nhã trong chú là một miền quê hương sinh động, mầu nhiệm và an vui. Hễ khi nào thấy ai đó cất bước thảnh thơi, ai đó nở một nụ cười như nhiên thì chú mừng vui lắm, vì nó giúp chú gặp lại “những nụ cười Làng Mai” buổi đầu. Bát Nhã là cái nôi, nơi có một cuộc tao ngộ thật tình cờ giữa chú và những điều tươi đẹp. Chú hứa sẽ học cách không vô tình làm 

tổn thương bất cứ một sư em nào, thương tích ngày xưa luôn dặn dò chú thế. Ai cũng mong được khôn lớn một cách tự nhiên, có đủ không gian để phát giác những tinh hoa, được nói ra những điều mình muốn nói, được lắng nghe, hoặc dù vấp ngã đến đâu cũng sẽ còn nguyên cơ hội, nhận được sự đợi chờ, tha thứ. Nếu như thế, tâm người sẽ hé nụ những bông hoa, và niềm biết ơn sẽ ở trong tim hoài mãi. Không để lòng lắng nghe một tâm hồn thơ trẻ, chú thấy mình như có lỗi với cả một con đường… 

Bây giờ, hóa thân của Bát Nhã đã ở khắp nơi, nhưng chú vẫn hứa rằng một ngày không xa mình sẽ về thăm lại…