Câu linh chú cho lá thư hoà giải

(Trích trong sách “Thiền sư và em bé năm tuổi” của Sư Ông Làng Mai)

Ở Làng Mai có ba câu linh chú để thực tập khi ta khổ đau vì một ai đó. Chúng ta có thể viết xuống, cất vào ví của mình để nhắc nhở ta thực tập. Câu thứ nhất là: “Em yêu, tôi đang giận. Tôi đang khổ đau và tôi muốn em biết điều này”. Bằng lời nói ái ngữ, ta cho người kia biết sự thật là ta đang khổ đau, ta đang giận người ấy. Có thể ta tự cao tự đại, tự cho mình là đúng. Và khi một người khác tới hỏi ta có ổn không, ta có giận không, có thể ta nói: “Tôi à, tôi mà giận à? Tôi không giận gì cả, không khổ đau gì hết”. Điều này là đi ngược lại với sự thực tập. Thay vì nói như vậy, ta nói rằng: “Em yêu, tôi giận lắm, thật sự rất giận. Tôi khổ đau và muốn em biết điều này”. Nếu muốn ta có thể nói tiếp: “Tôi không hiểu tại sao em lại nói những điều như thế, em lại làm những điều như thế đối với tôi. Tôi rất đau khổ”. Đó là nội dung của câu thần chú thứ nhất.

Câu thần chú thứ hai: “Tôi sẽ cố gắng hết sức”. Điều này có nghĩa là tôi đang thực tập. Tôi biết là mỗi khi tôi giận, tôi không nên nói và làm gì cả mà chỉ trở về với hơi thở, thực tập ôm ấp cơn giận bằng chánh niệm, và nhìn sâu vào nó để thấy rõ gốc rễ sâu xa của nó. Tôi đang cố gắng hết sức. Ta chỉ cho người kia thấy được ta là một hành giả, ta biết cách xử lý cơn giận của ta. Điều này tạo thêm niềm tin và sự kính trọng trong lòng người ấy. Đây cũng là một lời mời gián tiếp, mời người kia cùng thực tập và tự hỏi: “Mình đã làm gì, nói gì khiến người kia đau khổ như vậy?”. Chừng đó là đã bắt đầu thực tập rồi. Câu thần chú thứ hai là mời người kia nhìn sâu để xem thử là người kia đã nói và làm như vậy có chính đáng hay không.

Câu thần chú thứ ba là: “Xin em hãy giúp đỡ tôi”. Bởi vì một mình tôi, tôi không thể chuyển hóa nổi nỗi khổ đau và cơn giận này. Nếu có khả năng viết ra câu thần chú thứ ba này thì ta đã bớt khổ đi rồi. Khi đã trở thành bạn đồng hành với nhau trên con đường thực tập, ta phải chia sẻ với nhau cả niềm hạnh phúc lẫn nỗi khổ đau. “Bây giờ tôi khổ đau và tôi muốn chia sẻ nỗi khổ đau này với anh và tôi muốn anh giúp tôi.” Nếu ta có khả năng viết xuống câu này nghĩa là ta đã vượt qua được sự tự ái của ta.

 

 

Thông thường khi bị tổn thương quá nặng, ta muốn trở về phòng, khóc một mình và từ chối sự giúp đỡ của người khác. Chúng ta tự ái. Chúng ta muốn trừng phạt người kia, bằng cách cho người ấy biết không có người ấy ta vẫn có thể sống bình thường. Vì vậy ba câu này là những hướng dẫn giúp ta thực tập. Thay vì từ chối sự giúp đỡ, ta nói: “Em yêu, anh rất giận em. Anh đang khổ đau. Anh muốn em biết điều này. Anh đang làm hay nhất có thể để xử lý nỗi khổ đau của mình. Xin em giúp đỡ anh”. Ta có thể viết những câu này xuống trên những tấm giấy nhỏ cỡ tấm ‘name card’ và cất vào ví. Khi năng lượng giận dữ xuất hiện, ta biết ta nên làm gì. Ta có thể lấy nó ra đọc. Trong giây phút này Bụt sẽ có mặt với ta. Ta biết rõ những gì nên làm và những gì không nên làm. Nhiều người đã thực tập điều này và chuyển hóa được mối quan hệ của mình, giữa cha và con trai, mẹ và con gái hay giữa những cặp vợ chồng với nhau. Thực tập hơi thở chánh niệm và đi thiền hành giúp ta làm lắng dịu thân tâm rất lớn. Chúng ta cố gắng hết sức mình để giải quyết tình trạng. Đừng phản ứng, đừng để cho cơn giận và bạo động gây thêm khổ đau nữa.

Lá thư hòa giải

Ba câu linh chú này là nền tảng căn bản của một lá thư hòa giải. Viết thư là một sự thực tập rất quan trọng. Cho dù ta có thiện chí lớn bao nhiêu đi nữa nhưng nếu sự thực tập của ta không đủ vững chãi, chúng ta cũng có thể bực bội cáu gắt khi nói chuyện và rồi ta sẽ phản ứng thiếu khéo léo. Điều đó sẽ đánh mất cơ hội hòa giải. Vì vậy đôi khi để an toàn và dễ dàng hơn ta nên viết thư. Trong thư ta cũng có thể nói thật hoàn toàn. Chúng ta có thể cho người kia biết những điều mà người kia đã làm khiến cho ta khổ đau và tổn thương. Chúng ta có thể viết tất cả những điều ta cảm nhận trong lòng.

Trong khi viết thư, sự thực tập của chúng ta là làm lắng dịu những cảm xúc và sử dụng ngôn ngữ hòa ái, thương yêu. Chúng ta cố gắng thiết lập một cuộc đối thoại. Chúng ta có thể viết: “Anh ơi, có thể em là nạn nhân của tri giác sai lầm, và những gì em viết ra đây có thể không phản ánh đúng sự thật. Tuy nhiên, đây là cái thấy của em, là điều em thật sự cảm nhận trong trái tim mình. Nếu tri giác em sai lầm thì xin anh hãy giúp em lấy đi cái tri giác sai lầm này ra khỏi em. Nếu những gì em viết không đúng sự thật thì xin anh hãy cùng em nhìn lại để làm rõ vấn đề này hơn và phá tan những hiểu lầm trong nhau”. Khi viết thư chúng ta phải sử dụng ái ngữ. Nếu có một câu nào đó chưa đủ khéo léo, ta có thể làm mới lại và viết lại câu khác dễ thương hơn.

Trong lá thư, chúng ta phải chứng minh là ta có khả năng hiểu được nỗi khổ đau của người kia. “Anh thương mến, em biết là anh đang đau khổ. Và em biết là anh không hoàn toàn chịu trách nhiệm về nỗi khổ đau của anh”. Khi thực tâp nhìn sâu, ta có thể khám phá ra gốc rễ và nguyên nhân nỗi khổ đau của người kia. Chúng ta có thể nói cho người kia nghe tất cả những gì ta thấy. Chúng ta cũng có thể nói cho người kia biết nỗi khổ của ta, và cho người kia biết là ta hiểu được vì sao người kia lại hành xử, nói năng như vậy.

Chúng ta có thể để dành một, hai, ba tuần để hoàn tất lá thư bởi vì đây là một lá thư rất quan trọng.

 

 

Lá thư này rất thiết thực cho hạnh phúc của chúng ta. Khoảng thời gian ta dành để viết lá thư này thậm chí còn quan trọng hơn là khoảng thời gian một, hai năm ta dùng để viết luận án tiến sĩ. Luận án của ta không quan trọng bằng lá thư. Viết thư như thế là cách hay nhất ta có thể làm để phá tan những chướng ngại trong ta và tái lập được truyền thông. Chúng ta là bác sĩ, là nhà tâm lý trị liệu giỏi nhất cho người thương của ta, bởi vì ta hiểu người đó nhất.

Chúng ta không làm điều này một mình. Chúng ta có những người anh, người chị đã từng thực tập có thể soi sáng và giúp ta viết lá thư này. Người mà ta cần, có mặt ngay tại đây trong tăng thân của chúng ta. Khi viết một cuốn sách, ta thường gởi bản thảo cho bạn bè hoặc cho những nhà chuyên môn nhờ họ đọc và góp ý giúp. Những người bạn đồng hành trong sự thực tập của ta là những chuyên gia, bởi vì họ biết thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi, biết quán chiếu vấn đề sâu sắc và biết nói năng bằng lời ái ngữ. Vì vậy ta đưa thư nhờ sư chị sư anh đọc giúp, và xin sư chị sư anh nói cho ta biết là ngôn ngữ ta sử dụng có đủ hòa ái, bình an, trầm tĩnh chưa, tuệ giác của ta đã đủ sâu chưa. Sau đó ta đưa lá thư này cho một người sư anh sư chị khác. Chúng ta cứ tiếp tục làm như vậy cho đến khi ta thấy lá thư có khả năng mang đến sự chuyển hóa trong người kia và giúp người kia trị liệu.

Chúng ta phải đầu tư thời gian, năng lượng và tình thương yêu vào những lá thư như thế. Không ai lại từ chối giúp đỡ ta trong nỗ lực quan trọng này. Tái lập truyền thông với người ta thương yêu và quan tâm chăm sóc là điều rất quan trọng. Người đó có thể là cha ta, mẹ ta, con gái, con trai ta hay là người bạn hôn phối của ta. Người đó cũng có thể là người ngồi cạnh ta. Chúng ta có thể bắt đầu liền ngay bây giờ. Chúng ta có thể bắt đầu viết thư hôm nay. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng chỉ cần một cây viết và một tờ giấy thôi là chúng ta có thể làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta.

Trong khi ngồi thiền, đi thiền, làm vườn, dọn dẹp hay nấu ăn ta không nghĩ về lá thư. Tuy nhiên tất cả những gì ta làm đều liên quan đến lá thư. Thời gian ta ngồi xuống viết thư chỉ là thời gian ta trải lòng mình ra lên tờ giấy. Chúng ta viết thư khi ta tưới rau, đi thiền hành, nấu cơm cho đại chúng. Tất cả những thực tập này giúp cho ta vững chãi hơn, bình an hơn. Chánh niệm và chánh định mà ta chế tác qua những công việc hằng ngày giúp cho hạt giống của sự hiểu biết, thương yêu trong ta lớn lên. Nếu lá thư của ta được viết ra từ nguồn năng lượng chánh niệm mà ta chế tác trong ngày thì đó là một lá thư quá tuyệt vời. Cho dù những lúc ta không nghĩ về lá thư thì lá thư cũng đang được viết từ trong chiều sâu tâm thức của ta.

Chúng ta không thể chỉ ngồi viết thư thôi. Chúng ta cũng cần phải làm những thứ khác nữa. Chúng ta uống trà, nấu ăn, giặt áo, tưới rau. Thời gian ta làm những công việc này vô cùng quan trọng. Chúng ta phải làm cho đàng hoàng. Chúng ta phải để một trăm phần trăm con người mình vào việc nấu ăn, tưới cây hay rửa chén. Chúng ta thưởng thức tất cả những gì ta đang làm và làm một cách sâu sắc. Điều này rất quan trọng cho lá thư của ta và cho bất cứ điều gì ta muốn thực hiện.

Giải thoát, giác ngộ không tách rời việc rửa chén hay trồng rau. Học cách sống sâu sắc trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày bằng năng lượng chánh niệm và chánh định là sự thực tập của chúng ta. Những ý niệm và những sáng tạo cho tác phẩm nghệ thuật của ta diễn ra ngay nơi mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Lúc ta bắt đầu viết nhạc hay làm thơ chỉ là thời gian ta sinh nó ra. Giống như là thời gian ta sinh con vậy. Đứa bé đã có trong ta rồi trước khi ta sinh ra. Nếu trong ta không có ý niệm gì thì cho dù ta có ngồi vào bàn từ giờ này sang giờ khác, ta cũng không viết được gì, không có gì để cho ra cả. Tuệ giác, lòng từ bi và khả năng viết thư khiến cho trái tim người kia xúc động là hoa trái của sự thực tập. Chúng ta phải tận dụng từng phút giây của đời sống hằng ngày để cho tuệ giác và từ bi đơm hoa.

 

 

Chính năng lượng chánh niệm trong ta cho phép ta viết một lá thư rất thực, đầy tình thương yêu và có khả năng hòa giải với người kia. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu được làm bằng tuệ giác, hiểu biết và từ bi. Nếu không thì đó không phải là một lá thư đầy tình thương yêu. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu phải có khả năng mang lại sự chuyển hóa trong người kia và trên thế giới. Nhưng trước khi mang lại sự chuyển hóa cho người kia chúng ta phải chuyển hóa trong tự thân mình. Có những lá thư mà ta có thể để ra cả đời để viết.

 

Thực tập như thế nào khi thấy trống trải trong lòng

Trích từ pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 2/02/2012 tại Xóm Thượng, Làng Mai.

Trong mỗi chúng ta ai cũng điều có cảm giác trống trải và cô đơn. Vì vậy ta luôn cần một người thương ta để bớt đi cảm giác lạnh lẽo và cô đơn ấy. Vì không biết cách xử lí “khoảng trống ”trong lòng nên ta có khuynh hướng muốn tìm một người để lấp vào khoảng trống đó. Có khi người kia chấp nhận để lấp vào khoảng trống ấy và trở thành cái bóng của ta. Như vậy người đó cũng mất đi tự do. Nhưng nếu người kia không chịu thì ta giận, cho rằng người đó không thương mình và trừng phạt bằng cách nói rằng: “Anh không thương tôi”. Như vậy thì không được gọi là thương yêu.

Có câu chuyện kể về một dòng sông suốt ngày chỉ để hết thời gian của mình đuổi chạy theo những đám mây trên trời, hết đám mây này đến đám mây khác. Nhưng đám mây thì vô thường, bây giờ nó ở đây nhưng đến chiều thì nó đi mất. Vì không thấy được mình là đám mây nên dòng sông cứ mãi đuổi chạy theo đám mây, không bao giờ thấy thoả mãn. Nếu như dòng sông có thể trở về được với chính mình thì sẽ thấy rằng mình toàn là mây thôi. Cái thấy đó sẽ làm cho dòng sông không còn cô đơn, trống trãi nữa. Những gì mà mình đi tìm cầu thì đã có sẵn hết rồi. Cái thấy này có thể đạt được khi mình có Niệm, Định và Tuệ. Niệm tức là khả năng ý thức được những mầu nhiệm xảy ra trong giây phút hiện tại. Định có nghĩa là gìn giữ được cái thấy đó lâu dài và Tuệ là cái thấy làm cho mình vượt qua những lo lắng, buồn khổ, trống trải đó. Khi chúng ta ngồi yên, thở và ý thức về sự có mặt của Bụt, Pháp, Tăng, của tâm bồ đề trong mình thì ta sẽ cảm thấy rất đầy đủ và không còn muốn tìm cầu gì nữa.

 

 

Mình là người tu thì phải biết chế tác những nguồn năng lượng của NIệm, Định, Tuệ trong đời sống hằng ngày. Nếu mình không cảm thấy an lạc, đầy đủ thì sẽ không có gì để cống hiến cho người khác. Vì không ôm ấp được nỗi trống trải cho nên mình tìm một ai đó để lấp vào khoảng trống ấy. Đó là nhu yếu của sự chiếm hữu mà không phải là tình yêu đích thực. Tình yêu đích thực là sự cống hiến và người đầu tiên được đón nhận điều ấy chính là bản thân mình mà không phải là một ai khác. Mình có thể cho bản thân sự tươi mát, niềm vui, bình an, thảnh thơi và tự do bằng sự thực tập chánh niệm. Nếu như thực sự để tâm thực tập thì chỉ với một vài phút, vài giờ hay là một ngày thì đã thấy khác rồi. Đó được gọi là hạ thủ công phu, tức là thực tập thiệt. Sự thực tập này không mang tính nặng nhọc mà ngược lại rất dễ chịu. Thiết lập chánh niệm qua những sinh hoạt hằng ngày như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, rửa bát, giặt áo,… Để mình đích thực trở về có mặt cho thân và tâm. Giúp nhận diện, ôm ấp và chuyển hoá năng lượng của sự trống trải, sợ hãi và lo lắng. Để có thêm bình an và sự vững chãi.

Như những cái nồi mà chưa có nắp đậy lên, nên ta đi kiếm một cái nắp và nghĩ rằng sau khi nồi đã có nắp rồi thì sẽ được bình an. Nhưng không phải như vậy. Sau khi đậy nắp rồi thì nước lại trào ra làm cho tắt lửa, tắt luôn cả cái bếp.

Trong chúng ta, ai cũng có sự trống trải, sợ hãi và có những ước mong. Sợ hãi vì nghĩ rằng trên đời này sẽ không có người nào làm chỗ nương tựa và chăm sóc cho ta. Đó là những tình cảm nảy sinh từ thời thơ ấu. Khi mới sinh ra, tuy đã có tai, mắt, tay, chân nhưng chúng ta chưa dùng được. chúng ta không có khả năng để tự lo cho mình. Một em bé ba tháng, sáu tháng hay một năm làm sao có thể tự lo cho mình được. vì vậy em bé rất trống trải, rất sợ hãi. Nếu không có một người mẹ hay người vú em có mặt khi đói, khi lạnh thì em bé không biết phải làm thế nào để vượt qua những giây phút khó khăn đó. Sinh nở là một chuyện nguy hiểm, nhất là ngày xưa. Cho nên giây phút được chào đời là một khoảnh khắc hiểm nguy và có thể đi theo chúng ta đến lúc trưởng thành.

Dù là con trai hay con gái. Ta có cảm tưởng mình là cái nồi chưa có nắp nên cố đi tìm cho được cái nắp. Khi tìm được một người rồi thì ta mừng quá và cảm thấy yên tâm. Ta quên rằng nguồn gốc của sự tìm kiếm đó được phát sinh từ thời thơ ấu. Đối tượng mà ta tìm kiếm đó chính là một người cha, người mẹ, người vú em. Ngồi bên người yêu ta nói: “Như vậy là được rồi, yên tâm rồi, bây giờ đã có người lo cho mình”. Người yêu đó cũng chính là sự tiếp nối hình bóng người cha, người mẹ và người vú em thôi. Nhưng rồi sự yên tâm đó chỉ được vài tháng hay vài năm. Người kia thay vì chăm sóc thì lại gây ra bao nhiêu khó khăn cho ta. Khi người đó không còn là cha, mẹ hay người vú em nữa thì mình lại đi tìm một nắp nồi khác. Thành ra em bé với nhiều sợ hãi trong ta vẫn còn sống. Chúng ta cần phải quán chiếu và dùng năng lượng của Niệm, Định, Tuệ để ý thức ta không còn là một em bé nữa. Chúng ta bây giờ đã lớn rồi. Đã có thể tự thở và chăm sóc cho bản thân được. Ta không cần một người cha, người mẹ hay người vú em nữa. Chúng ta cần nhắc mình như vậy nếu không thì ta vẫn tiếp tục đi tìm một cái nắp nồi như thường.

Khi chúng ta cảm thấy được đầy đủ thì không cần tìm cầu gì nữa. Vì vậy câu linh chú của ta là “i am here for you”. Chữ “you” ở đây có nghĩa là chính mình. Nếu ta có mặt được cho chính mình thì nồi đã có nắp rồi nên không cần phải sợ hãi nữa. Trong chúng ta ít người có khả năng có mặt cho chính mình lắm. Vì vậy mình muốn một ai đó có mặt để khoả lấp sự trống trải ấy. Tự mình không làm được công việc đó nên ta đi tìm một người khác làm giúp. Đó là sự thật. Không cần có cái nắp, không cần tìm một người cha, người mẹ, người vú em là tuệ giác mà ta cần đạt được. Chúng ta đã lớn rồi, không còn là một em bé bất lực nữa. Chúng ta  có thể tự lo cho mình. Sự thật là ta có hai chân còn khoẻ và tự đi lấy cơm, nước uống được. Ta có thể làm việc để có thực phẩm, có chỗ ở. Vì vậy chúng ta cần trở thành một người lớn thực sự.

Có mặt cho mình để làm gì?

Đầu tiên ta cần có  mặt và mang thân, tâm về lại với nhau. Nuôi dưỡng bản thân bằng cách nhận diện những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt ở trong ta và xung quanh ta. Đó là vai trò của chánh niệm. Khi thở hay đi trong chánh niệm thì mình đem thân về lại với tâm, có mặt được cho giây phút hiện tại và cho chính mình. Khi đó ta sẽ có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu thân tâm bằng những yếu tố mầu nhiệm của cuộc sống. Đó là sự có mặt để tự nuôi dưỡng, chăm sóc chính mình.

Điều thứ hai. Nếu có những tâm hành lo lắng, buồn khổ, sợ hãi đi lên thì mình có mặt để nhận diện, ôm ấp, nhìn sâu và chuyển hoá những tâm hành đó. Không nên đi tìm một ai khác để làm chuyện đó cho mình. Sự thực tập ở đây là có mặt và phải biết chăm lo cho chính mình. Trước hết là tiếp xúc và nuôi dưỡng thân tâm bằng những yếu tố tích cực, sau đó là có mặt nhận diện những khổ đau, thiếu thốn, buồn tủi. Nhìn sâu để tìm thấy gốc rễ sâu xa và thoát ra được. Nếu như sự trống trãi không được làm tan biến bằng cách có mặt cho chính mình mà lại cố tìm kiếm một ai đó để lấp vào khoảng trống ấy thì cả hai điều mất đi tự do và lại không giúp được gì cho nhau. Khi  không có khả năng tự lo cho chính mình thì làm sao có thể lo cho người khác. Nếu như người kia không chăm sóc cho mình được như mong đợi thì mình giận và nói rằng: “Tôi đem anh tới để lo cho tôi mà anh không lo được”. Sự thật là như vậy cho nên chúng ta phải nhìn cho sâu sắc để thấy được bản chất đích thực của tình yêu là gì.

 

Trái tim là một nhiệm mầu của sự sống

 

 

Bạch Đức Thế Tôn. Khi con quán chiếu về thân thể con theo kinh thân hành niệm (niệm thân kinh), con khám phá ra rằng cơ thể con rất mầu nhiệm. Khi con có ý thức là đôi mắt con còn sáng thì con rất trân quý đôi mắt của con. Mỗi lần mở mắt là con có thể nhìn thấy trời xanh mây trắng và những khuôn mặt thân thương, con biết đó là một trong những điều kiện hạnh phúc mà con đang có, vì vậy con rất trân quý đôi mắt của con.

Những mầu nhiệm, những phép lạ ấy nhiều khi con quên mất, con hờn giận, con tủi thân tại vì con không biết rằng trong con có những mầu nhiệm tuyệt vời của sự sống. Mỗi khi con có chánh niệm về trái tim thì con biết rằng trái tim con cũng đang đập một cách bình thường. Có một trái tim bình thường là một điều hết sức mầu nhiệm.

Có rất nhiều người ở trên thế giới đang sống trong lo sợ tại vì trái tim của họ có thể bị nghẽn bất cứ lúc nào. Con được biết là ở tại nước Pháp, cứ mỗi 3 phút là có một người chết vì bệnh nghẽn tim, nên ôm ấp lấy trái tim của con con thấy con có rất nhiều may mắn. Trái tim của con đưa máu đi nuôi thân thể, nhưng trái tim của con cũng suy tư, cũng thương yêu, cũng làm được quyết định vì con biết rằng 60% những tế bào trong tim cũng là những tế bào óc và con muốn ký một hiệp ước sống chung an lạc với trái tim con. Con biết rằng tiêu thụ những sản phẩm như là café, như là thuốc lá, như là rượu mạnh, như là chất dầu mỡ nhiều chất cholesterol, đó là những hành vi không có thân hữu đối với trái tim. Cho nên con nguyện chăm sóc cẩn thận để giữ gìn cho trái tim con được khỏe mạnh. Con cũng trân quý những bộ phận khác của cơ thể như lá gan, trái thận của con bằng cách sống cho có chánh niệm, không tiêu thụ những gì làm hại cho cơ thể con. Và khi giữ gìn bảo hộ thân thể con, con cũng đang giữ gìn bảo hộ thân thể của cha mẹ con, của tổ tiên con và của các con cháu của con.

Lịch học tháng 9/2022 của khoá giảng “Trái tim của thiền tập Làng Mai” do thầy Pháp Niệm hướng dẫn

Kính thưa đại chúng,

Khoá giảng “Trái tim của thiền tập Làng Mai” được thầy Pháp Niệm chia sẻ về nội dung “14 bài kệ Chỉ Quán” đang tiếp tục được diễn ra.

Vào tháng 9/2022 này, Thầy sẽ có 2 buổi giảng vào mỗi 9:00 sáng (giờ Thái Lan) các ngày Chủ nhật 04/09 và 18/09/2022.

Đại chúng có thể lưu lại lịch học tháng này và cập nhật đường dẫn Zoom để có thể tham dự được trọn vẹn với tăng thân.

Buổi học tiếp theo sẽ được truyền trực tiếp từ Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai tại Thái Lan lúc 9:00 sáng Chủ Nhật ngày 04/09/2022. Và sẽ được phát trực tiếp qua Zoom và trên kênh Youtube Làng Mai.

Dưới đây là đường dẫn Zoom của lớp học:
 
 

Mã truy cập: 950 6932 0468
Mật khẩu: 123456

 

Và đây là chuỗi liên kết các bài giảng của khoá học trên Youtube Làng Mai:

 

 

Kính cám ơn đại chúng.

Làm sao để tha thứ?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Tha thứ là hoa trái của hiểu biết. Ðôi khi, mặc dù ta muốn tha thứ cho một người, ta không thể làm được. Thiện chí muốn tha thứ có đấy, nhưng sự chua chát và đau khổ cũng còn đấy. Với tôi, tha thứ là kết quả của sự nhìn sâu và hiểu biết.

Một buổi sáng trong văn phòng chúng tôi ở Paris trong thập niên bảy mươi và tám mươi, chúng tôi nhận được nhiều tin buồn. Một bức thư đến, kể rằng một em bé gái mười một tuổi đi trên một chiếc thuyền vượt biển từ Việt Nam, đã bị bọn hải tặc hãm hiếp. Khi người cha cố can thiệp thì chúng nó vứt ông xuống biển. Vì vậy em bé gái cũng nhảy xuống biển và chết đuối . Tôi nổi giận. Là một con người, bạn có quyền nổi giận; nhưng là một người biết thực tập, bạn không có quyền ngưng thực tập.

 

 

Tôi không ăn sáng được; tin tức đã tràn ngập tôi. Tôi thực tập thiền hành trong khu rừng kế cận. Tôi cố tiếp xúc với cây, với chim và bầu trời xanh để an tịnh tâm hồn, và rồi tôi ngồi xuống để thiền định. Tôi ngồi thiền khá lâu .

Trong lúc ngồi thiền, tôi thấy mình là một em bé sinh ra trên vùng bờ biển Thái Lan. Cha tôi là một người đánh cá nghèo, mẹ tôi là một người vô học. Quanh tôi đầy cảnh nghèo khó. Khi tôi mười bốn tuổi, tôi phải làm việc cùng với cha tôi trên chiếc thuyền đánh cá để mưu sinh; làm việc rất nhọc nhằn. Khi cha tôi mất, tôi phải làm thay cha tôi để nuôi sống gia đình.

Một người đánh cá tôi quen cho tôi biết rằng nhiều thuyền nhân Việt Nam đi vượt biên, mang theo nhiều của quý, như vàng và nữ trang. Anh ta đề nghị rằng nếu chúng tôi chận đánh chỉ một trong những chiếc thuyền ấy và lấy được một số vàng thì chúng tôi sẽ giàu. Là một người đánh cá nghèo, còn trẻ, không có học thức, tôi bị anh ta cám dỗ. Và một hôm tôi quyết định đi theo anh ta để cướp thuyền nhân. Khi tôi thấy anh ta hiếp một người đàn bà trên thuyền, tôi cũng bị cám dỗ làm theo. Tôi nhìn quanh và khi thấy không có gì ngăn cản, không cảnh sát, không ai hăm dọa; tôi tự nói: “tôi cũng làm như vậy được, chỉ một lần thôi.” Ðó là vì sao tôi trở thành một tên cướp biển đi hãm hiếp một em bé gái.

Bây giờ giả sử bạn ở trên thuyền đó và bạn có một cây súng. Nếu bạn bắn tôi và giết tôi, hành động của bạn sẽ không giúp gì được tôi . Suốt đời tôi, không ai giúp tôi và suốt đời cha mẹ tôi cũng không ai giúp ông bà. Là môt đứa bé, tôi không được đi học. Tôi chơi với những đứa trẻ hư hỏng, và lớn lên tôi thành một người đánh cá nghèo khổ. Không một nhà chính trị hay giáo dục nào giúp tôi bao giờ. Và vì không ai giúp nên tôi trở thành một tên cướp biển. Nếu bạn bắn tôi thì tôi chết.

Ðêm ấy, tôi thiền quán về điều này. Tôi lại thấy mình là một chàng đánh cá trẻ trở nên một tên hải tặc. Tôi cũng thấy hàng trăm em bé sinh ra đêm ấy trên vùng dọc theo bờ biển Thái lan. Tôi nhận thấy rằng nếu không ai giúp những em bé này lớn lên có học vấn và có cơ hội sống đời sống đứng đắn, thì trong vòng hai mươi năm nữa, những em bé này cũng sẽ thành những tên hải tặc. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu tôi sinh ra làm một chú bé trong làng đánh cá ấy, tôi cũng đã trở thành một tên hải tặc. Khi tôi hiểu được như vậy cơn giận của tôi đối với những tên hải tặc tan biến mất.

Thay vì nổi giận chàng đánh cá, tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với anh ta. Tôi nguyện nếu tôi có thể làm được gì để giúp những em bé sinh ra đêm ấy trên vùng bờ biển Thái lan, thì tôi sẽ giúp. Năng lượng của cơn giận đã được chuyển hóa thành năng lượng của từ bi nhờ thiền quán. Ta không thể tha thứ nếu không hiểu biết, và hiểu biết là hoa trái của sự nhìn sâu mà tôi gọi là thiền quán.

Lời khấn nguyện đầu năm 2022

 

Kính lạy Sư Ông,

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,

Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập họp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Sư Ông, Đất Mẹ và chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con cũng xin thành tâm sám hối những lầm lỗi mà chúng con đã gây ra trong năm qua. Chúng con ý thức chư vị tổ tiên, Sư Ông đang hiện diện nơi đây trong giờ phút này và luôn là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con.

Trong năm qua, chúng con đã để cho năng lượng hoang mang trên thế giới tưới tẩm hạt giống bất an, lo lắng và sợ hãi nơi tự thân. Có những lúc chúng con không quay về nương tựa nơi sự thực tập. Chúng con đã để cho những cảm xúc mạnh và tri giác sai lầm trấn ngự, khiến chúng con cảm thấy cô đơn, xa cách và tuyệt vọng, đôi khi còn mất niềm tin nơi gia đình và tăng thân. Ý thức được điều đó, chúng con xin sám hối và tự nhắc nhở mình về lời cam kết thực tập kiên nhẫn, từ bi, bao dung và buông bỏ kiến chấp mà chúng con đã phát nguyện. Chúng con biết chỉ cần thực tập hơi thở, bước chân chánh niệm và nương tựa tăng thân cho rốt ráo là chúng con có thể là một sự tiếp nối xứng đáng của Sư Ông và của chư vị tổ tiên tâm linh rồi.

Trong năm qua, loài người chúng con đã tiếp tục để cho sự tham lam, thèm khát và tiêu thụ trấn ngự. Chúng con tiếp tục chạy theo danh vọng, quyền hành, sở hữu vật chất và các tiện nghi tình cảm mà quên rằng những cái đó không thể nào mang lại chân hạnh phúc và tự do đích thực. Chúng con đã gây ra những tổn hại cho chính mình và làm những kỳ quan, cảnh đẹp và sự quân bình trên trái đất  tổn thương trầm trọng. Trong năm mới, chúng con xin tập sống đơn giản hơn, tiêu thụ ít lại, sống sâu sắc với lòng biết ơn, và luôn nhớ rằng chúng con đã có quá đủ những điều kiện để sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Trong năm qua, chúng con cũng tiếp tục để cho sự cuồng tín và cố chấp chia rẽ đại gia đình nhân loại. Chúng con đã gây khổ đau cho nhau, kỳ thị nhau trên căn bản của tôn giáo, quan điểm, dân tộc và quốc gia. Sợ hãi và vô minh đã làm chúng con trở nên hẹp hòi, thờ ơ với những người bất hạnh và để cho xã hội càng lúc càng trở nên quân sự hóa. Chúng con quên rằng chúng con là tương tức, rằng hạnh phúc và khổ đau của mình liên quan đến hạnh phúc và khổ đau của người khác. Trong năm mới, chúng con cam kết sẽ làm hết sức mình để áp dụng tuệ giác tương tức vào đời sống, giúp chuyển hóa tận gốc rễ sự sợ hãi tập thể này và thực tập giúp đỡ những người đang đau khổ.

Chúng con xin lạy xuống để thể hiện lòng biết ơn của chúng con đối với Sư Ông, với chư vị tổ tiên và với Đất Mẹ. Chúng con vô cùng biết ơn liệt vị đã cho chúng con một con đường tu tập và một gia đình tâm linh để nương tựa. Chúng con đã nếm được niềm vui, sự bình an và chuyển hóa trên con đường tu tập. Và chúng con ý thức rằng cùng với nhau, chúng con có thể đối diện được mọi khó khăn, thử thách và thực hiện được ước nguyện của mình. Chúng con tin rằng ai trong chúng con cũng đều có tuệ giác vô phân biệt, đại bi, chánh nghiệp, vô úy do chư vị tổ tiên trao truyền lại. Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng con xin phát nguyện sẽ hết lòng thực tập và đầu tư tất cả năng lượng của chúng con để xây dựng cho tăng thân vững mạnh, để mở rộng con đường cho thế hệ của chính chúng con và cả cho các thế hệ mai sau.

Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu thảo của chúng con.

Sinh hoạt năm 2022

 

Con đã biết thế nào là hạnh phúc chân thực

Bố mẹ và cả nhà thương mến,

Tháng 12 lại về, theo truyền thống phương Tây mùa giáng sinh hay còn gọi là mùa vọng, là mùa của Lòng Biết Ơn bắt đầu từ ngày Lễ Tạ Ơn và xuyên suốt tháng 12 mọi người sẽ cùng hướng vọng về những điều mình biết ơn. Giáng sinh là khi những ánh đèn lung linh lấp lánh được thắp lên, tiếng chuông nhà thờ reo vang, những bông tuyết rơi trắng xoá, và là khi tất cả các con chiên hướng vọng về Chúa, với niềm biết ơn một năm đã qua và nguyện cầu bình an hạnh phúc cho một năm mới. Con thấy đây là một truyền thống rất đẹp và ý nghĩa, cũng giống với tập tục đi chùa đầu năm trong truyền thống đạo Phật của châu Á mình. Và dù là tôn giáo nào, mục đích cuối cùng đều là hướng con người tới đời sống chân thiện mỹ, sống chân thành, thật thà, ý nghĩa, biết yêu thương muôn người và muôn loài.

 

 

Vậy là đã thấm thoát 7 năm con xa nhà, xa vòng tay của bố mẹ để đi Đức học và làm việc. Nhìn lại 7 năm qua, lòng con dâng trào niềm biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ và quê hương Việt Nam đã nuôi lớn con, và cả quê hương thứ hai mà con may mắn có được đó là nước Đức, nơi đã cho con cơ hội được trưởng thành, học hỏi được rất nhiều điều ý nghĩa và được gặp rất nhiều nhân duyên lành. 

Hôm nay con có buổi sinh hoạt tăng thân dịp cuối năm, do tình hình dịch bệnh nên chúng con sinh hoạt trực tuyến qua Zoom. Con có ghi lại vài hình ảnh của tăng thân để chia sẻ và giới thiệu với bố mẹ gia đình tâm linh đã luôn chở che, bảo bọc, nâng đỡ, soi sáng và yêu thương con trong suốt một năm qua. Chúng con dù không cùng chung máu mủ, tuổi tác khác nhau, mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi người mỗi vất vả bộn bề riêng của cuộc sống mưu sinh giữa đất khách quê người, nhưng chúng con có cùng chí nguyện tu tập theo các phương pháp của Sư Ông Thích Nhất Hạnh để chuyển hoá những khổ đau và chế tác được hạnh phúc chân thật; cùng nguyện học Hiểu và Thương và hướng đến lối sống lành, thiện, đẹp cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng và cho cuộc đời này.

Con may mắn, nhờ phước đức tổ tiên, ông bà, bố mẹ, mà có được cơ hội tu tập, biết đến đạo Phật, được quý thầy, quý sư cô ở Làng Mai dìu dắt, nâng đỡ cho con trong sự thực tập. Và còn được cả tăng thân yểm trợ, yêu thương từ cô Thoa, cô Loan, cô Yến, cô Hiền, chị Mỹ, chị Nhiên Ảnh, chị Tuyền, chị Châu, anh Tâm, anh Việt, chị Mỹ Bình, em Hoàng Yến, em Mỹ Nga, em Nụ, cô Tiên Răng Thiên Kim, chú Trí,… Mỗi người đều đã có mặt và yểm trợ cho con bằng tất cả tấm lòng của mình. Người thì xin nghỉ phép mấy ngày liền giúp con chuyển nhà, người thì cho con cái nồi, cái giường, cái máy giặt, cái bàn, lắp ráp tủ đồ; người thì giúp con và động viên con những lúc khó khăn thăng trầm trong cuộc sống, nhiều không kể xiết những điều may mắn mà con đã nhận được… Nhưng hơn tất cả, là tình yêu thương mà mọi người dành cho con. Con may mắn vì không chỉ có gia đình huyết thống bố mẹ anh em yêu thương con, mà còn có những người cha người mẹ người anh người chị người em trong gia đình tâm linh luôn chở che, yêu thương và nâng đỡ con. Họ là những vị Bồ Tát giữa đời thực bằng xương bằng thịt mà con may mắn được tận mắt chứng kiến chứ không phải những tượng Phật bằng đá trên chùa; là những người không quản ngại khó khăn mưa nắng, luôn dốc tâm dốc lòng phụng sự cho đời, luôn yêu thương mọi người mọi loài chúng sanh, và thực tập hạnh nguyện “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”, sống vô cùng an lạc thảnh thơi và hạnh phúc. Ai cũng là một tấm gương sáng cho con noi theo tu tập và hoàn thiện mình.

 

 

Con rất biết ơn bố mẹ đã sinh ra con trong cuộc đời này và cũng biết ơn đời vì cho con cơ hội được sống hạnh phúc, no ấm, đủ đầy. Con biết ơn đạo Phật vì cho con cơ hội có một con đường tu tập để nuôi dưỡng những phẩm chất lành thiện và tìm được hạnh phúc đích thực trong chính tự tâm mình. Hạnh phúc chân thật không phải là của cải, danh vọng, địa vị, quyền lực, nhà lầu, xe sang, quần áo đẹp, mà hạnh phúc chân thật chính là THƯƠNG YÊU, đó là khi con biết yêu thương chính mình hơn – biết quay về chăm sóc những nỗi khổ niềm đau của mình và biết gốc rễ khổ đau của mình từ đâu mà ra để chuyển hoá. Hạnh phúc là khi con biết yêu thương gia đình mình, hiểu những nỗi khổ niềm đau của bố mẹ, các anh chị để con thương cả nhà mình nhiều hơn. Và để con biết yêu thương bạn bè đồng nghiệp, biết yêu thương muôn người và muôn loài, chỉ cần biết trao yêu thương mà không mong đền đáp. Hạnh phúc của con là khi được làm mẹ đỡ đầu cho 27 bé mồ côi ở làng trẻ SOS Cà Mau, được giúp đỡ các bé Nhà May Mắn ở Đăk Nông có điều kiện đến trường, được góp sức xây thư viện cho các trẻ em nghèo miền Trung và được may mắn chia sẻ hàng ngàn bữa ăn cho những trẻ em bị thiếu đói ở châu Phi. Con cũng hạnh phúc khi có thể giúp đỡ được cô bé đồng nghiệp vượt qua giai đoạn trầm cảm; biết hiến tặng những nụ cười thật tươi cho những người con gặp trên đường đi làm. Hạnh phúc trở nên thật hơn và ý nghĩa hơn khi con biết nhận diện ra được mình may mắn biết bao khi có trái tim khoẻ mạnh, trong khi mỗi năm có tới hơn 15.000 trẻ em sinh ra ở Việt Nam bị mắc bệnh tim bẩm sinh và 80% trong số đó không sống được đến năm 18 tuổi, nên con đã điền đơn xin hiến toàn bộ nội tạng và mô sau khi qua đời. Hạnh phúc đong đầy hơn khi mỗi ngày con còn được sống, hay đơn giản là được hít thở không khí trong lành, được nhìn thấy trời xanh mây trắng, được thọ nhận biết bao ơn phước thương yêu của đất trời vũ trụ, nhờ công ơn sinh thành của bố mẹ, vì vậy mà con nguyện sống một đời sống ý nghĩa hơn. Nhờ tu tập, con thấy trái tim mình rộng lớn hơn từng chút từng chút một, con thấy mình quá may mắn và hạnh phúc tràn ngập trong mỗi phút giây cuộc đời, và con khao khát được san sẻ yêu thương may mắn đó cho tất cả mọi người!

 

 

Bố mẹ ơi, con đang sống rất hạnh phúc và bình yên. Thương chúc bố mẹ và cả gia đình mình ở Việt Nam luôn mạnh khoẻ, thảnh thơi và trái tim luôn tràn đầy tình yêu thương.

Con yêu Bố Mẹ, mùa Giáng Sinh từ nước Đức thương yêu! 

Con Tâm Quy Nguyện

Mình có đang thật sự sống không?

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Một số người trong chúng ta cảm thấy rằng đời sống của họ không có ý nghĩa, không đáng sống. Họ đau khổ vì không có hướng đi. Dầu ta giàu có cách mấy, có nhiều quyền uy trong tay, nhưng nếu tâm trí ta bị rối loạn, không có hướng đi rõ ràng thì ta là người đau khổ nhất trên đời. Nếu ta có hướng đi ý nghĩa cho cuộc sống, hướng đi ấy thể hiện được lòng từ bi của ta, thì ta sẽ biết cách giúp cho chính mình và mọi người quanh mình bớt khổ. Ta có cơ duyên tiếp nhận giáo pháp, có kinh nghiệm tu tập và biết rằng mỗi khi có những giây phút khó khăn thì giáo pháp có thể cứu giúp ta và mọi người ra khỏi tình huống khó khăn và tuyệt vọng. Giáo pháp có công năng đưa ta tới bến bờ của an lạc và giải thoát. Chỉ cần trở về tiếp xúc với khả năng tỉnh thức trong ta, có niềm tin nơi bản thân, thì an lạc, hạnh phúc tự nhiên phát sinh và điều đó làm cho ta hạnh phúc thật sự. Ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể có được khi ta có thật nhiều tiền, vợ đẹp, danh tiếng, quyền uy và địa vị trong xã hội, thỏa mãn được sự thèm khát về tình dục… Nhiều người trong chúng ta đã chạy theo con đường hưởng thụ dục lạc và họ nhận thấy rằng càng vướng vào sự thèm khát của ngũ dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành, sắc dục, thức ăn cao lương mỹ vị và ngủ mê bao nhiêu thì họ càng khổ bấy nhiêu. Ta thường cho rằng năm thứ dục lạc là những yếu tố tất yếu của hạnh phúc, nhưng bây giờ ta đã giác ngộ rằng hạnh phúc chân thực chỉ có thể có được khi mình có khả năng buông bỏ và thiết lập lại được tự do của nội tâm. Do đó đức Thế Tôn đã khuyên chúng ta phải thường xuyên thực tập nhìn sâu để hiểu bản chất chân thực của ngũ dục và học cách chế tác niềm vui và hạnh phúc lành mạnh để tự nuôi dưỡng mình. ”Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.” Đây không phải là sự mơ tưởng hão huyền mà là kết quả ta đạt được từ sự thực tập nhìn sâu vào ý niệm hạnh phúc của ta và tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, an vui và hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.

Niềm vui được phát sinh là nhờ ta biết thực tập buông bỏ – Ly sinh hỷ lạc. Rồi đến Định sinh hỷ lạc, tức là niềm vui và hạnh phúc được phát sinh nhờ khả năng chuyên chú, an trú trong Định. Ta đã được học về sự lợi lạc do Định đưa tới. Ví dụ khi ăn cam, ta ăn cam có hạnh phúc nhiều hay ít, điều đó tùy thuộc vào khả năng Niệm và Định của ta. Trong khi ăn cam, nếu ta an trú vững chãi, thiết lập Niệm, Định hùng hậu thì niềm vui và hạnh phúc sẽ rất lớn. Những điều kiện của hạnh phúc luôn có đó trong ta và quanh ta, nhưng vì tâm ta không an trú, không có Định nên ta không nhận diện được chúng. Có một cô thiền sinh sống ở Paris, cô rất thích pháp môn thiền đi. Nhưng sống trong một môi trường bận rộn, trong đó hầu hết mọi người đều chạy như bị ma đuổi nên cô cũng bị cuốn hút theo. Một hôm cô đi lên cầu thang máy cùng với một bà cụ; thấy bà cụ đi chậm rãi, không có vẻ gì vội vã; trông thấy cụ, tự nhiên cô ngẫm lại mình và nói: ”Mình có đang thật sự sống hay không? Sao mình cứ chạy hoài như vậy nè? Hình như mình đang sống như một người chết.” Bà cụ nhìn cô ta và nói: ”Đúng vậy. Nhưng cô còn trẻ, hai chân còn khỏe mạnh, còn có thể chạy nhảy mà. Còn tôi thì khác. Tôi già rồi. Tôi không thể chạy nhảy như cô được nữa. Nếu tôi chạy như cô thì e sẽ té nhào về phía trước mất.” Còn có đôi chân khỏe mạnh để đi, để chạy là một điều kiện của hạnh phúc. Có nhiều người muốn chạy nhưng họ không thể chạy được. Vậy thì, thay vì than phiền, quý vị nên vui mừng mới phải chứ. Chánh niệm làm phát sinh cái thấy và cái thấy ấy đem lại hạnh phúc. ”Thở vào, tôi biết hai chân còn khỏe, còn có thể chạy nhảy, đi đây đi đó. Thở ra, tôi mỉm cười hạnh phúc.” Niệm và Định là nền tảng làm phát sinh hạnh phúc.

 

 

Người lớn tuổi cũng có sự thuận lợi với tuổi già của họ. Nếu họ ý thức được những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt trong họ và chung quanh họ trong giây phút hiện tại thì họ sẽ rất hạnh phúc, vì họ chứng kiến được đời sống đi qua quá nhanh. Họ rất chín chắn, có khả năng thưởng thức từng giây phút của đời sống còn lại và trân quý những yếu tố tích cực trong họ. Họ không chạy ồ ạt như những người trẻ. Họ ngồi thật yên, im lặng và sống thật sâu sắc trong mỗi phút giây của đời sống còn lại. Lúc còn trẻ, ta giống như một dòng thác đổ ồ ạt từ đỉnh cao xuống tận đáy sâu của mặt đất. Và khi về già, ta trở thành một dòng sông thanh thản, nhẹ nhàng trôi chảy và phản chiếu được bầu trời xanh, mây trắng và lòng sông. Dòng suối trẻ trung đang tuôn trào như thác đổ kia không thể làm được việc phản chiếu. Nếu người lớn tuổi có khả năng nhận diện được những yếu tố tích cực trong đời sống của họ, thì họ cũng sẽ tiếp xúc được với hạnh phúc chân thực. Chúng ta cần chế tác năng lượng chánh niệm để nhận diện những yếu tố của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại và năng lượng của Định giúp ta sống sâu sắc với những yếu tố ấy. Định tức là khả năng chuyên chú lâu bền với đối tượng thiền quán, nghĩa là tâm ý không bị tán loạn. Định làm phát sinh niềm vui và an lạc và duy trì niềm hạnh phúc ấy lâu dài. Định sinh hỷ lạc là nền tảng của hạnh phúc. Nếu biết xử lý hai mươi bốn giờ đồng hồ trong ngày của ta một cách khéo léo thì ta sẽ thấy rằng một ngày để sống là nhiều lắm. Ta cảm thấy một ngày dài vô tận là nhờ khả năng an trú trong Định. Còn nếu sống trong thất niệm – thân ở chỗ này tâm ở chỗ khác thì ta đánh mất ta, đánh mất sự sống. Một ngày đi qua trong quên lãng tức là một ngày uổng phí. Và ta thấy một ngày trôi qua sao mà nhanh chóng và vô vị quá. Những người lớn tuổi thì khác, họ thường sống trong sự định tỉnh nhiều hơn những người trẻ. Với năng lượng của Niệm và Định, người lớn tuổi biết trân quý từng giây phút của sự sống đang ban tặng cho họ. Mỗi giây phút của sự sống hàng ngày có thể trở thành một câu chuyện cho con cháu của họ. Đây là một sự thật. Bụt đã làm được điều đó. Bụt đã không để lại cho chúng ta những mớ giáo lý có tính cách lý thuyết, trừu tượng, siêu hình, mà Người đã để lại cho chúng ta một gia tài kinh nghiệm sống của Người. Mỗi bước chân của Bụt tỏa chiếu sự an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Lòng từ bi của Bụt không chỉ bao trùm đến mọi người và mọi loài trong thời đại của Người, mà còn cho cả thời đại của chúng ta nữa.

Tại Á Châu, vào ngày Phật Đản hay ngày mừng tuổi ông bà, người ta thường mua chim, cá v.v… để phóng sinh. Đó là phép thực tập không giết hại của giới thứ nhất trong trong Năm Giới. Đó là nhờ lời dạy về lòng yêu thương của Bụt. Tôi đã đề nghị với các bạn thuộc tín đồ Ki Tô Giáo thực tập phóng sinh thay vì giết gà lôi để ăn mừng trong mùa Lễ Giáng Sinh. Tôi tin rằng đức Ki Tô sẽ rất hài lòng khi thấy các tín đồ của mình yểm trợ trồng thêm cây thông, trồng rừng để bảo vệ môi trường thay vì chặt những cây thông để làm cây Noel mừng Lễ Giáng Sinh. Dù là tín đồ của đức Ki Tô hay Phật tử, chúng ta nên quán chiếu để có cái thấy thật sâu sắc về giá trị của sự sống và nói lên tiếng nói yêu thương của mình để bảo vệ sự sống thay vì góp tay tàn phá sự sống. Tàn phá sự sống quanh mình tức là tự hủy diệt chính mình, là làm tổn hại đến lòng từ bi trong tự thân và cướp đi môi trường sống của kẻ khác, của các thế hệ tương lai. Người không biểu lộ được lòng từ bi là người không có hạnh phúc. Vào ngày lễ Phật Đản, ở các nước như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện và những nước Phật Giáo Á châu khác, dân chúng dâng cúng thật nhiều các thức ăn chay ở các chùa chiền, tự viện để bày tỏ niềm biết ơn đối với Tam Bảo và để bày tỏ lòng thương yêu của mình đối với mọi loài chúng sinh. Người nào tới chùa ngày hôm đó đều được thừa hưởng, không có một ai bị bỏ đói. Là đệ tử Bụt, tôi mong rằng chúng ta có thể tưởng niệm ngày Bụt Đản Sinh mỗi ngày để trên thế giới này sẽ không còn ai bị đói khổ nữa. Truyền thống này xuất phát từ lòng từ bi của Bụt. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở và mỗi lời nói của Bụt đều chuyên chở năng lượng chánh niệm, hiểu biết và thương yêu. Các đệ tử của Người đã thừa kế được nguồn năng lượng thương yêu, hiểu biết và giác ngộ của Người. Nếu thực tập giỏi thì họ có thể trao truyền nguồn năng lượng từ bi, trị liệu và hạnh phúc về cho thế hệ tương lai.

Chúng ta phải tập sống cho thật sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Khi uống nước hay lúc ẵm em bé trong vòng tay hoặc ngồi bên cạnh người thương, nếu ta thiết lập chánh niệm vững vàng, có Định thì sự sống trở thành rất thật đối với ta và niềm vui, hạnh phúc tự dâng được phát sinh. Vì vậy Bụt mới nói rằng niềm vui và hạnh phúc được phát sinh do định lực, tức là khả năng chuyên chú hoàn toàn vào một đối tượng của ta – Định sinh hỷ lạc.

 

 

Có khi ta cần bạn để giúp ta nhận diện được những yếu tố của hạnh phúc mà ta đang có. Đó là lý do tại sao ta cần có Tăng thân. Ta biết rằng Tăng thân có thể dìu dắt và nâng đỡ ta rất nhiều trên con đường thực tập. Với sự thành tâm, ta nên thường xuyên thỉnh cầu Tăng thân soi sáng cho sự thực tập của ta. Và đây là văn thỉnh cầu: ”Kính thưa đại chúng, xin đại chúng từ bi soi sáng, dẫn dắt và nâng đỡ cho con. Con thành tâm thỉnh cầu đại chúng soi sáng cho con để con thấy được những yếu kém của con mà tu tập chuyển hóa.” Với sự thỉnh cầu tha thiết của ta, đại chúng sẽ ngồi lại và cùng nhìn sâu vào ta, chỉ cho ta thấy những yếu tố tích cực và sự yếu kém của ta để giúp ta tu tập chuyển hóa. Pháp môn Soi Sáng rất mầu nhiệm. Pháp môn này không những chỉ đem lại lợi lạc cho đương sự đang thỉnh cầu sự soi sáng mà cho cả những người đang thực tập soi sáng cho đương sự. Đại chúng thực tập nhìn sâu vào người đang được soi sáng với tình thương và lòng lân mẫn và soi sáng cho người ấy, chỉ cho người ấy biết những điểm tích cực và những yếu kém để tu tập chuyển hóa, nhờ vậy mà người ấy tiến bộ rất nhiều sau khi được soi sáng.

Ta hạnh phúc khi được đại chúng công nhận và chỉ cho ta thấy những điểm tích cực của ta. Ta nghĩ: “Mình đang trang bị cho chính mình với những yếu tố tích cực làm niềm vui cho sự tu tập và nuôi dưỡng những ai đến trong cuộc đời của mình bằng những niềm vui ấy. Mình không chỉ thực tập cho riêng mình mà mình thực tập cho cả gia đình và xã hội.” Ta nên biết rằng mỗi khi tu tập, chuyển hóa và trị liệu được tự thân, thì ta sẽ trở thành nguồn suối an lạc và hạnh phúc cho rất nhiều người. Tiếp xúc và vun trồng năng lượng chánh niệm trong ta là quá trình thực tập hàng ngày chứ không phải là vấn đề trừu tượng hay khái niệm mơ hồ. Chánh niệm là nguồn ánh sáng có công năng soi đường chỉ lối và nuôi dưỡng ta. Pháp là những lời Bụt đã nói và được ghi chép lại thành kinh; những lời dạy của Bụt không phải là một hệ thống giáo lý mang tính trừu tượng, hay triết lý mơ hồ. Pháp là một thực chất sống động. Nương vào những lời dạy của Bụt, chúng ta thực tập và chế tác ra chất liệu gọi là Pháp sống qua cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, làm việc, nói năng và lắng nghe trong chánh niệm. Đó là loại Pháp có thực chất và có công năng nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu thân tâm. Lắng nghe trong chánh niệm, lắng nghe với tâm từ bi sẽ đưa tới sự hiểu biết chân thực và thiết lập lại được sự truyền thông. Nếu các anh và các chị của ta biết lắng nghe ta với tâm từ bi, với tâm không thành kiến, không phán xét, không phản ứng, thì ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nếu mọi thành phần trong Tăng thân có khả năng đi, đứng, nằm, ngồi vững chãi, thảnh thơi và bình an, chuyển hóa được những khổ đau trong lòng, thì điều đó có nghĩa là Tăng thân đang vun trồng và tỏa chiếu chất liệu Pháp của tự thân. Pháp ấy đang có mặt trong mỗi giây mỗi phút của đời sống hàng ngày trong và quanh ta; trong từng hơi thở, bước chân, làm việc, nấu bếp, rửa chén… Pháp sống là những gì mà thế giới, gia đình và xã hội của ta đang cần. Chế tác chất liệu Pháp sống như thế là giúp ta và xã hội ta trở nên vững chãi, thảnh thơi và an bình hơn. Không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, vì niềm tin ấy được thiết lập từ kinh nghiệm trực tiếp của bản thân chứ không phải từ những mớ giáo điều hoặc giáo lý trừu tượng, siêu hình. Ví dụ như ta đã học và nắm vững được phương pháp làm đậu hũ, thì khi được giao phó công việc làm đậu hũ, ta sẽ không ngần ngại vì biết rằng ta có thể làm được. Không ai có thể lấy đi niềm tự tin ấy của ta. Niềm tin của ta đối với chánh Pháp cũng vậy. Ta đã chế tác được chất liệu Pháp sống trong ta. Ta biết rằng nhờ thực tập những lời dạy của Bụt mà ta đã vượt thắng được những khó khăn và phục hồi lại được sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc nơi tự thân. Do đó không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, bởi vì niềm tin ấy được phát xuất từ kinh nghiệm của chính bản thân. Ta phải luôn luôn tiếp tục vun trồng chất liệu Pháp sống trong đời sống tu tập hàng ngày để tạo dựng và nuôi dưỡng hạnh phúc cho tự thân và cho Tăng thân.

Tăng thân của ta không cần phải là một Tăng thân toàn hảo ta mới hạnh phúc. Tăng thân của Bụt ngày xưa không phải là đoàn thể toàn hảo, nhưng Người rất hạnh phúc. Hẳn nhiên, trong quá trình dựng Tăng, nuôi dạy đệ tử, Người phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng Người đã dùng tình thương và sự khéo léo của mình để giải quyết những khó khăn ấy một cách êm đẹp. Tôi cũng gặp những trường hợp khó khăn với các đệ tử của tôi, nhưng tôi rất hạnh phúc vì biết rằng các đệ tử của tôi, người nào cũng đang cố gắng hết khả năng của mình để tu tập chuyển hóa. Mọi người trong Tăng thân luôn luôn cố gắng thực tập thở, đi và làm việc trong chánh niệm. Tăng thân truyền cho nhau, yểm trợ nhau bằng năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm tức là chất thánh trong ta. Sở dĩ trong Tăng thân có được năng lượng thánh là nhờ mọi người cố gắng thực tập hết khả năng của mình. Vì vậy dựng Tăng là phép thực tập rất quan trọng của tất cả chúng ta. Chúng ta cần năng lượng tu tập của Tăng thân để nâng đỡ, dìu dắt và soi sáng cho nhau trên con đường thực tập. Và để cho sự thực tập của ta được duy trì lâu bền, ta phải tạo dựng một Tăng thân tại địa phương; nếu không, thì ta sẽ đánh mất sự thực tập rất mau chóng.

 

 

Có nhiều yếu tố có thể giúp ta tạo dựng một Tăng thân, ví dụ ta có thể chọn một quãng đường mòn dễ thương ở gần nhà để thực tập đi trong chánh niệm mỗi ngày hoặc chọn cái gối ngồi thích hợp và đặt tại một nơi thích ý nào đó trong nhà của mình để thực tập ngồi thiền mỗi ngày. Ta cũng có thể mời người thân của ta tu tập với ta như một Tăng thân nhỏ. Ta có thể mời các cháu, nắm tay các cháu để đi thiền ít nhất là một lần mỗi ngày. Ta nhìn quanh và nhận diện những yếu tố Tăng thân đang có mặt. Khu vườn sau nhà cũng có thể là Tăng thân của ta, bình trà cũng có thể là Tăng thân của ta… Tăng thân đang có mặt khắp mọi nơi – trong từng hạt sỏi, đám mây, cây tùng, cây bách… Khi trở về lại địa phương, quý vị nên cố gắng tạo dựng một Tăng thân để tiếp tục nuôi dưỡng sự thực tập. Các nhà tâm lý trị liệu, giáo viên, sinh viên và bác sĩ đều phải có một Tăng thân cho chính mình. ”Con về nương tựa Tăng” không phải là vấn đề tín ngưỡng hay một ý niệm trừu tượng, mà là sự thực tập đích thực. Tăng thân là sự bảo hộ và nâng đỡ cho sự thực tập và thành công của chúng ta.

Lễ Tự Tứ kết thúc An cư kiết đông 2021

Sáng ngày 07/12/2021, lễ Tự tứ kiết thúc khóa An cư kết đông 2021 của Đạo tràng Mai Thôn đã diễn ra tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng. 

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ: