Đám mây không bao giờ chết

Trung thành với tinh thần thiền được truyền thừa từ Thiền sư Khương Tăng Hội và Thiền sư Lâm Tế, Thầy không bao giờ tìm kiếm danh tiếng hay địa vị. Ấy vậy mà ông thầy tu giản dị và nhẹ nhàng này đã chạm tới không biết bao nhiêu trái tim, và đã làm thay đổi cuộc sống của không biết bao nhiêu người. Thầy được mô tả như là “nhân vật quan trọng bậc nhất trong đạo Bụt Tây phương… xét từ phương diện số lượng thiền sinh mà Thầy có ảnh hưởng trực tiếp, cũng như mức độ ảnh hưởng của các từ ngữ mà Thầy tạo ra hoặc nhấn mạnh (như: “engaged Buddhism” – đạo Bụt dấn thân; “interbeing” – tương tức, “mindfulness” – chánh niệm, v.v.)  đến ngôn ngữ đương đại của đạo Bụt ở Tây phương.[i]  

Trong một nghiên cứu hàn lâm gần đây của John Powers với tựa đề The Buddhist World (“Thế giới Phật giáo”), Thầy được chọn là một trong 10 nhà lãnh đạo tâm linh có tầm ảnh hưởng lớn lao, nổi bật nhất trong lịch sử đạo Bụt, dựa trên tầm ảnh hưởng của Thầy đối với nền Phật giáo đương đại trên toàn cầu[ii]. Các pháp môn thực tập chánh niệm cùng với mô hình khóa tu của Thầy – được phát triển dựa trên chính kinh nghiệm trực tiếp và tuệ giác của Thầy – đã được hàng trăm ngàn người từ khắp các châu lục, từ mọi tầng lớp trong xã hội học hỏi và thực tập. Chỉ trên nước Mỹ, sách của Thầy đã được bán trên 3 triệu quyển, và 10 triệu quyển trên toàn thế giới.

Trong chặng đường hoằng pháp bền bỉ suốt 65 năm, Thầy đã góp phần quan trọng vào công trình làm mới đạo Bụt cho thế kỷ 21; chuyển hóa đạo Bụt tín mộ, hay đạo Bụt có tính học thuật thành một đạo Bụt của tuệ giác, của kinh nghiệm tâm linh thực nghiệm, rất linh động và luôn tự mình làm mới. Thầy đã sống qua các thời kỳ hỗn loạn, suy vong của chế độ thuộc địa, chiến tranh, rồi toàn cầu hóa. Dù trong thời kỳ nào, Người cũng luôn cống hiến một hướng đi của Phật giáo phù hợp với thời đại. Thầy đã đem những tuệ giác trong kho tàng của đạo Bụt truyền thống kết hợp với những yếu tố tâm lý học, khoa học, sinh thái học, đạo đức học và giáo dục của Tây phương để giải quyết tận gốc rễ những nguyên nhân gây sợ hãi, bạo động, đàn áp, bất công và tàn hoại môi trường; đồng thời chỉ ra một hướng đi cho gia đình nhân loại để có thể tiếp xúc với bình an, hòa giải và hạnh phúc đích thực[iii].

Vào ngày 11 tháng 11 năm 2014, một tháng sau ngày sinh nhật thứ 89, Thầy bị một cơn tai biến mạch máu não trầm trọng, nhưng sau đó Thầy đã hồi phục một cách đáng kinh ngạc. Sau thời gian chữa trị ở Pháp và ở San Francisco, Mỹ, sức khỏe của Thầy đã tiến triển rất khả quan. Sau đó Thầy trở về Pháp và ở tại Làng Mai trọn năm 2016, trước khi chuyển về Trung tâm quốc tế Làng Mai Thái Lan để sống cùng các đệ tử xuất sĩ trẻ của Thầy ở đây. Tháng 10 năm 2018, Thầy quyết định trở về Việt Nam để sống những năm tháng cuối đời ở Tổ đình Từ Hiếu, Huế, nơi Thầy giữ chức vị Trú trì và là người đứng đầu tông phái từ năm 1968.

Lần trở về này của Thầy có ý nghĩa vô cùng quý báu, nó giúp cho những người học trò trong tăng thân quốc tế rộng lớn của Thầy có thể duy trì sự kết nối sâu sắc, không gián đoạn với gốc rễ tâm linh của mình ở Việt Nam[iv]. Bằng chính cuộc đời mình, Thầy đã dạy chúng ta rằng ta có thể ôm ấp được cả những nghịch cảnh lớn lao nhất bằng lòng can đảm và tâm từ bi, rằng sự có mặt đích thực chính là món quà quý nhất mà ta có thể hiến tặng cho những người mà ta yêu thương.

Tiếp tục công trình trị liệu, chuyển hóa và hòa giải của Thầy, các đệ tử của Người đã và đang xây dựng tăng thân khắp nơi trên thế giới. Số lượng người Tây phương đến xuất gia ở Làng Mai ngày càng tăng lên. Làng Mai từ một nông trại nhỏ tại miền quê của nước Pháp đã biến thành một tu viện Phật giáo lớn nhất châu Âu.

Các giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ của Thầy tiếp tục hướng dẫn ngày càng nhiều các khóa tu và các chương trình đào tạo cho gia đình, thầy cô giáo, các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội, giới doanh nhân, các nhà hoạt động môi trường và thế hệ trẻ. Với sự thành lập của tăng thân ARISE, cộng đồng của Thầy tiếp tục khám phá những cách thức mới để yểm trợ người da màu; với tăng thân Trì Địa (Earth Holder), cộng đồng đang phát triển phương thức bảo hộ trái đất, cống hiến những pháp môn thực tập để đối trị nỗi sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng khi mọi người phải đối diện với tình trạng khủng hoảng khí hậu.

Có thể nói sức mạnh, sự đa dạng và sức sống của tăng thân quốc tế mà Thầy đã dày công tạo dựng chính là di sản vĩ đại nhất mà Thầy để lại cho cuộc đời. Hạnh nguyện và niềm hy vọng của Thầy vẫn đang được tiếp nối bởi tăng thân yêu quý của Người – một tăng thân quốc tế đang không ngừng lớn mạnh, gồm mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi quốc gia, mọi tầng lớp xã hội. Tăng thân ấy vẫn đang tiếp tục công trình làm mới đạo Bụt mà Thầy đã trao truyền, luôn phát triển, sáng tạo những pháp môn mới càng ngày càng thích ứng với thời đại của chúng ta.

 

 

[i] Trích từ tác phẩm Mindful America: The Mutual Transformation of Buddhist Meditation and American Culture (Nước Mỹ chánh niệm: Sự chuyển hóa có tính hỗ tương của thiền tập Phật giáo và văn hóa Mỹ) của Jeff Wilson, xuất bản năm 2014, trang 34

[ii] Tác phẩm The Buddhist World (Thế giới Phật giáo) của John Powers, xuất bản năm 2016, trang 606-616

[iii] Năm 2017, Hội Chủng viện Thần học Hoa Kỳ (Union Theological Seminary – gọi tắt là UTS) tại New York đã khai giảng đã đưa Chương trình Thích Nhất Hạnh với Đạo Bụt dấn thân ( Thich Nhat Hanh Program for Engaged Buddhism) vào chương trình Thạc sỹ Thần học về đạo Bụt và Tinh thần Dấn thân Liên tôn giáo (Master of Divinity in Buddhism and Interreligious Engagement).

[iv] Tháng 4 năm 2019, chín thượng nghị sĩ của Mỹ đã đến Huế trong một chuyến viếng thăm chính thức để bày tỏ sự kính trọng và lòng tri ân đối với Thầy. Thầy khỏe và sáng suốt, có thể tiếp phái đoàn hơn một tiếng đồng hồ. Phái đoàn bao gồm các thượng nghị sĩ Leahy, Murkowski, Stabenow, Whitehouse, Udall, Portman, Baldwin, Hirono, and Kaine cùng với các phu nhân/phu quân. Một số vị đã từng tham dự pháp thoại của Thầy tại Quốc hội Mỹ năm 2003 và 2011; có người thậm chí đã tham gia khóa tu của Thầy. Họ nói rằng Thầy đã dạy họ cách chế tác bình an, cách mỉm cười, cách thưởng thức từng bước chân khi họ đi đến phòng bỏ phiếu.

 

Nhà lãnh đạo tâm linh toàn cầu và “người cha của chánh niệm”

Năm 2008 và năm 2009 ghi dấu một làn sóng mới – một bước phát triển khá mạnh mẽ trong hoạt động của Thầy và tăng thân Làng Mai ở Tây phương và châu Á. Nó có nhiều điểm khá tương đồng với các hoạt động của Thầy trong những năm 1964 – 1966 trong cách lĩnh vực đạo đức (giới luật), giáo dục, và hoạt động dấn thân.  Thầy đã làm mới cụm từ “đạo Bụt dấn thân” thành “đạo Bụt ứng dụng” để diễn tả chính xác hơn sự thực tập áp dụng chánh niệm một cách đích thực trong mọi lĩnh vực của đời sống[i]. Đối với Thầy, là một Phật tử thuần thành và một nhà hoạt động xã hội là chưa đủ; là một học giả đạo Bụt – ngay cả đạo Bụt dấn thân – cũng chưa đủ. Giáo lý đạo Bụt, nếu muốn thực sự linh động, cần phải được ứng dụng vào đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ, cách tư duy, nói năng và hành động của chúng ta. Nhân dịp UNESCO mời Thầy đến thuyết trình ở Paris, Thầy đã mở rộng và làm mới nguyên tắc của một nền đạo đức toàn cầu (dựa trên Năm giới tân tu) để nó thực sự trở thành một nguyên tắc đạo đức có tính phổ quát, có thể giải quyết tận gốc rễ những bất công xã hội, bạo động, sợ hãi, lo lắng, thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng[ii].

 

Thầy đã thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB) ở Đức; và khởi xướng một chương trình đào tạo thầy cô giáo trong việc đem chánh niệm vào trường học – chương trình có tên là Wake Up Schools[iii]. Thầy cho rằng chương trình Wake Up Schools có thể hiến tặng cho các em học sinh “một cơ hội thứ hai” để được học những điều mà các em không được tiếp nhận từ gia đình như: cách xử lý căng thẳng và cảm xúc mạnh; cách lắng nghe sâu và nói năng bằng lời từ ái; cách chế tác một giây phút hạnh phúc cho chính mình và cho những người khác; cách nhận diện và biến ước mơ sâu sắc nhất của mình thành hiện thực. Thầy luôn tìm tòi những cách thức không mang tính tôn giáo để chia sẻ “nghệ thuật sống hạnh phúc” và “nghệ thuật chuyển hóa khổ đau” với những người trẻ trên khắp thế giới. Với trên ba mươi năm kinh nghiệm trong việc chia sẻ sự thực tập chánh niệm với gia đình và trẻ em, Thầy thấy được sự cần thiết phải gìn giữ bản chất đích thực của chánh niệm khi nó được đem vào trong lớp học và môi trường giáo dục. Quyển sách Thầy cô giáo hạnh phúc làm thay đổi thế giới mà Thầy là đồng tác giả với giáo sư Katherine Weare, đã phác họa phương hướng đem chánh niệm vào trường học dựa trên nền tảng xây dựng những cộng đồng tu học có thực chất.

Ngoài ra Thầy còn khởi xướng phong trào Wake Up (dành cho giới trẻ Phật tử và không Phật tử cho một xã hội lành mạnh và từ bi) . Rất nhanh chóng, phong trào này đã phát triển mạnh mẽ thành một mạng lưới gồm hơn 100 tăng thân địa phương hoạt động ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á. Các bạn trẻ cùng nhau sinh hoạt định kỳ hàng tuần, tổ chức các buổi ngồi thiền công cộng, đi bộ trong chánh niệm, các khóa tu cuối tuần và các hoạt động dấn thân khác. Những chia sẻ chân thành của Thầy về cách thực tập xử lý khổ đau và cảm xúc mạnh, chuyển hóa những vướng mắc trong tình cảm cũng như ước nguyện phụng sự và giúp thế giới này tốt đẹp hơn đã chạm đến trái tim và tạo cảm hứng cho rất nhiều người trẻ[iv].  Khi những người trẻ tổ chức một buổi ngồi thiền công cộng với Thầy tại quảng trường Trafalgar, London, đã có hơn 3000 người tham dự, làm cho sự kiện này trở thành sinh hoạt thiền tập lớn nhất trong lịch sử của thành phố London.

 Lối ra

Thầy nhận ra rằng quan niệm sai lầm về hạnh phúc chính là gốc rễ của khổ đau ở Tây phương: rất nhiều người cho rằng khi chạy theo tiền tài, danh vọng, quyền hành và dục lạc, họ sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng những cái đó chỉ làm tăng thêm sự xa cách, thèm khát, bất an cũng như dẫn đến sự bất công và tàn hoại các tài nguyên thiên nhiên quý báu. Khi được hỏi điều gì làm Thầy ấn tượng nhất trong những năm đầu tiên ở tại Tây phương, Thầy nói: “điều đầu tiên tôi nhận ra rằng thậm chí khi người ta có rất nhiều tiền, quyền lực và danh vọng, người ta vẫn có thể cực kỳ đau khổ. Nếu ta không có đủ bình an và từ bi ở trong lòng, thì không có cách gì ta có thể hạnh phúc được”[v]. Giáo lý của Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tiếp xúc cái mà Thầy gọi là hạnh phúc đích thực ngay trong giờ phút hiện tại. Thầy khẳng định rằng giúp cho mọi người tiếp xúc với hạnh phúc đích thực là cách tối ưu để giải quyết tận gốc rễ tình trạng bất công, bất bình đẳng và tình trạng chạy trốn khổ đau bằng tiêu thụ hiện đang xảy ra trong xã hội. Thầy nói khi chúng ta biết hạnh phúc đích thực là gì, ta sẽ dễ dàng sống một cuộc sống giản dị, và ta sẽ biết cách chăm sóc chính mình, chăm sóc các mối quan hệ cũng như chăm sóc đất Mẹ.

Trên bình diện toàn cầu

Luôn can đảm lên tiếng về một số vấn đề hóc búa nhất của xã hội, đồng thời hiến tặng những giải pháp thực tiễn qua các pháp môn thực tập chánh niệm, Thầy trở thành một diễn giả được săn đón ở cả Đông lẫn Tây phương[vi]. Năm 2008, Thầy được mời sang Ấn độ trong một chuyến thăm chính thức với tư cách là một vị khách quý của chính phủ Ấn độ. Thầy đã cho các bài thuyết pháp và hướng dẫn khóa tu cũng như có một bài diễn văn tại Quốc hội, gặp gỡ bà Sonia Gandhi – Chủ tịch đảng Quốc đại, và được mời làm tổng biên tập danh dự cho tờ Thời báo Ấn độ (The Times of India) trong ngày kỷ niệm Thánh Gandhi. Thầy đã được mời phát biểu tại Hội nghị Tôn giáo Thế giới (2009) và tại trường Đại học Mahidol, Bangkok cho các chính trị gia Thái lan (2010). Năm 2011, Thầy được mời nói chuyện tại Quốc hội Mỹ lần thứ hai, và năm 2012 nói chuyện cho Quốc hội Anh tại điện Westminster, cho Quốc hội Bắc Ireland tại Stormont, và Thượng viện Pháp tại Paris. Sau buổi pháp thoại công cộng tại Dublin, thời báo của Ireland The Irish Times đã gọi Thầy là “người cha của chánh niệm”[vii].

Năm 2014, Tòa thánh Vatican đã gửi một phái đoàn chính thức đến Làng Mai để mời Thầy đại diện cho Phật giáo tham gia Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới tại Rome để cùng ra một tuyên cáo toàn cầu phản đối chế độ nô lệ hiện đại và nạn buôn người. Khi Tổng thống Obama đến thăm Việt Nam, ông đã trích dẫn những lời dạy của Thầy về hòa giải trong bài diễn văn chính thức tại Hà nội[viii].

Phát triển ở Đông phương

Không muốn bị đóng khung bởi “nhãn hiệu” một vị thầy theo Thiền tông, Tịnh Độ tông hay Nam tông nên Thầy thường nói rằng Thầy chỉ “trình bày giáo lý của đạo Bụt nguyên thủy theo tinh thần Đại thừa”, hay “đem đạo Bụt Đại thừa về tắm lại trong dòng suối nguyên thủy”[ix]. Tại các trung tâm thực tập thuộc Làng Mai, các nghi lễ đã được Thầy giản lược đi rất nhiều để phục hồi cái tinh yếu sống động của Thiền Phật giáo. Làm như thế, Thầy đã đi xa hơn việc chỉ đơn thuần giảng dạy “thiền đại thừa”. Trên thực tế Thầy đã truyền dạy một đạo Bụt hiện đại, cách tân nhưng vẫn giữ được gốc rễ của giáo lý nguyên thủy. Sự kết hợp độc đáo giữa giáo lý nguyên thủy và tinh thần đại thừa đã làm cho pháp môn của Thầy càng đặc biệt thu hút ở cả phương Đông lẫn phương Tây.

Từ năm 2008 trở đi, tầm ảnh hưởng của Thầy ở châu Á tăng lên nhanh chóng, nhất là đối với giới trẻ. Họ bị cuốn hút bởi một đạo Bụt mới qua những lời giảng của Thầy, một đạo Bụt không bị ràng buộc bởi giáo điều, nghi lễ và sự mê tín. Năm 2013, hơn 10 ngàn người đã tham dự buổi pháp thoại công cộng của Thầy ở Busan, Hàn Quốc và 11 ngàn người tại buổi pháp thoại công cộng ở Hồng Kông, nơi Thầy cũng hướng dẫn những buổi huấn luyện đặc biệt cho thầy cô giáo và nhân viên y tế. Là một trung tâm nòng cốt của Làng Mai ở châu Á, trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan với hơn 200 vị xuất gia, đã và đang hướng dẫn các khóa tu ở Nhật, Indonesia, Philippines và Đài Loan. Ở Thái Lan, Thầy đã giảng dạy và hướng dẫn khóa tu tại trường đại học hoàng gia Mahachulalongkorn (MCU), trường đại học Phật giáo lớn nhất thế giới, quê hương của rất nhiều vị học giả nổi tiếng của Phật giáo Nam Tông[x]. Tại Trung Quốc, những kinh văn cổ bằng chữ Hán được Thầy dịch ra ngôn ngữ hiện đại đã được dịch ngược lại sang tiếng Trung Quốc đương đại và được chào đón bởi một số đông độc giả.

Cũng tại châu Á, các tác phẩm thư pháp với những thiền ngữ giản dị mà sâu sắc, với nét bút thanh thoát chuyên chở năng lượng chánh niệm của Thầy được rất nhiều người yêu thích. Thư pháp của Thầy đã được triển lãm một cách quy mô tại Bảo tàng mỹ thuật của Đại học Hồng Kông (Hong Kong University Museum and Art Gallery) vào tháng 11 năm 2010; sau đó là các cuộc triễn lãm tại Đài Loan (2011) và Băng Cốc, Thái Lan (2013)[xi]. Ban đầu khi viết thư pháp, Thầy chỉ muốn nhắc nhở các học trò của mình về sự thực tập chánh niệm qua những câu thiền ngữ như: Thở đi con, Mỉm cười, An lạc từng bước chân, Con đã về con đã tới, … Ngày nay, những bức thư pháp của Thầy đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật được nhiều người yêu thích trên khắp thế giới, và đã được xuất bản dưới dạng sách[xii]. Tính cho đến nay, Thầy đã viết hơn 10.000 tấm thư pháp cho các học trò của mình.

 Ông thầy tu có ảnh hưởng lớn

Trong chuyến hoằng pháp cuối cùng của Thầy tại Bắc Mỹ vào năm 2013, Thầy đã hướng dẫn một khóa tu cho hơn 1500 nhà giáo dục ở Toronto, Canada;  khai mạc triển lãm thư pháp của Thầy tại Broadway, New York; cho pháp thoại tại trường đại học Y khoa Harvard; hướng dẫn các buổi sinh hoạt chuyên đề về chánh niệm tại trụ sở Ngân hàng Thế giới ở Washington; nói chuyện tại trường đại học Stanford; hướng dẫn một ngày tu chánh niệm cho hơn 700 nhân viên của Google; và hướng dẫn một buổi chiều chánh niệm cho một số Giám đốc điều hành (CEO) hàng đầu của Thung lũng Silicon, trong đó có Marc Benioff, CEO của Saleforce. Marc Benioff đã trở thành một hộ pháp rất đắc lực của Thầy. “Anh muốn trở thành số một hay anh muốn được hạnh phúc?”, Thầy đã hỏi các CEO. “Nếu anh hạnh phúc, anh không thể nào là nạn nhân của hạnh phúc. Nhưng nếu anh thành công, anh có thể trở thành nạn nhân của sự thành công”, Thầy nói.

Mùa xuân năm 2014, Thầy đã làm hậu thuẫn cho Christiana Figueres, đệ tử của Thầy, khi bà chuẩn bị lãnh đạo các cuộc đàm phán về khí hậu (COP-21) tại Paris. Các cuộc đàm phán đã dẫn đến Hiệp ước Paris nổi tiếng. Sau này bà Christiana Figueres đã chia sẻ rằng nhờ sự hướng dẫn và những lời dạy của Thầy mà bà đã thành công[xiii]. Ảnh hưởng của Thầy cũng lan đến cả Hollywood. Hai đạo diễn từng đoạt giải Oscar là Alejandro G. Inarritu và Alfonso Cuarón đã đến dự các khóa tu và thực tập theo giáo pháp của Thầy. Cố nghệ sĩ hài Gary Shandling cũng là một người hết lòng thực tập theo Thầy. Ông là người nói lời giới thiệu Thầy trước khi Thầy phát biểu tại Quốc hội Mỹ[xiv].

Chánh niệm là con đường, không phải là một công cụ

Tháng Sáu năm 2014, trong khi sức khỏe đang suy yếu, Thầy hướng dẫn khóa tu 21 ngày với chủ đề “Chuyện gì xảy ra khi ta đang sống? Chuyện gì xảy ra khi ta chết?”. Trong khóa tu này, Thầy đã trình bày tuệ giác của mình về nghệ thuật sống chết[xv]. Đó là thời gian sự thực tập chánh niệm không mang màu sắc tôn giáo được nhiều người đặc biệt ưa chuộng. Thậm chí đến quân đội Mỹ cũng mời những chuyên gia chánh niệm, trong đó có cả những giáo thọ cư sĩ của Làng Mai, đến huấn luyện quân nhân để họ có thể thi hành nhiệm vụ tốt hơn. Khi được hỏi rằng các vị giáo thọ cư sĩ có nên huấn luyện chánh niệm cho quân đội hay không, Thầy giải thích rằng bất cứ khi nào một đệ tử của Thầy giảng dạy chánh niệm, họ nên cống hiến một giáo pháp hoàn chỉnh, bao gồm cả đạo đức, và không bao giờ nên pha loãng hay làm biến chất sự thực tập, hoặc sử dụng nó cho một mục đích phi đạo đức. Thầy nói “Chánh niệm là con đường, mà không phải là một công cụ”. Tháng 9 năm 2014, Thầy hoàn tất bản dịch mới của Tâm Kinh Bát Nhã, trong đó làm rõ ý nghĩa của chữ “không” trong Tâm kinh. Thầy giải thích “không” không có nghĩa là “không có gì”, mà có nghĩa là “không có một cái ngã riêng biệt”. Thầy đã biến những giáo lý thâm sâu của Tâm kinh Bát Nhã – một trong những bản kinh thiêng liêng nhất của đạo Bụt Đại thừa – trở thành một sự thực tập hết sức linh động[xvi].

 

 

[i] Bài viết “Why We Need a Global Ethic,” in True Peace Work: Essential Writings on Engaged Buddhism (2019) , trang 295-302.

[ii] Xem bài nói chuyện của Thầy tại UNESCO vào ngày 7 tháng 10 năm 2006 tại kết nối này. Xem thêm các pháp thoại trong khóa tu 21 ngày “Con đường của Bụt” (tháng 6 năm 2009) về đạo đức toàn cầu. Các bài pháp thoại trong khóa tu này đã được in thành sách Good Citizens: Creating Enlightened Society (2012). Năm giới tân tu được in trong sách Để có một tương lai (NXB Văn hóa Sài Gòn).

[iii] Để tìm hiểu thêm về chương trình này, xin xem tại website wakeupschools.org, và sách “Thầy cô giáo hạnh phúc làm thay đổi thế giới” (2016), TS. Thích Nhất Hạnh và Katherine Weare đồng tác giả.

[iv] Đọc tác phẩm Cultivating the Mind of Love (1996).

[v] Phỏng vấn của John Malkin, tạp chí Shambhala Sun,  ngày 1.7.2003

[vi] Thầy nằm trong danh sách 60 vị anh hùng châu Á do tạp chí Time bầu chọn năm 2006.

[vii] Thời báo Irish Times, số ra ngày 10.4.2012.

[viii] “…Hai nước đã học được bài học như Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng nói: đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi… Theo cách đó, cuộc chiến vốn chia rẽ chúng ta nay lại là cội nguồn của sự hàn gắn.” – Trích diễn văn của Tổng thống Obama, ngày 24.5.2016 tại Hà Nội, Việt Nam. Nguồn: https://obamawhitehouse.archives.gov/the-press-office/2016/05/24/remarks-president-obama-address-people-vietnam

[ix] Phỏng vấn với Melvin McLeod, đăng trên tạp chí Shambhala Sun, ngày 17.2.2017 với tựa đề Love and Liberation: An interview with Thich Nhat Hanh (Tình thương và giải thoát); Xem “Trở về dòng suối nguyên thỉ” – định đề số 37 trong 40 định đề của Làng Mai, tác phẩm Làng Mai nhìn núi Thứu.

[x] Ngày 26 tháng 3 năm 2011, Làng Mai và trường đại học MCU đã ký kết văn bản Hiệp ước đối tác, một sự cộng tác giữa hai bên trong việc chia sẻ các khóa tu và ngày quán niệm, yểm trợ cho phong trào Wake Up ở Thái Lan (chia sẻ giáo lý đạo Bụt ứng dụng và đạo đức học ứng dụng với thế hệ trẻ), và phát triển một chương trình Thạc sĩ về đạo Bụt ứng dụng tại MCU.

[xi] Ngoài ra còn có các cuộc triển lãm thư pháp của Thầy tại Vancouver, Canada (2011) và tại Đức (2012).

[xii] This Moment is Full of Wonders: The Zen Calligraphy of Thich Nhat Hanh (2015)

[xiii] Bài phỏng vấn Christina Figueres của Jo Confino: “Vị anh hùng ẩn danh đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới”, đăng trên báo Huffington Post,  ngày 22.1.2016.

[xiv] Bài viết “G. Inarritu trong phim tài liệu về chánh niệm Walk With Me” của Leo Barraclough, đăng trên báo Variety, số ra ngày 9.3.2017.

[xv] Các bài pháp thoại trong khóa tu 21 ngày đã làm nên nội dung của quyển sách “The Art of Living: Peace and Freedom in the Here and Now” (2016)

[xvi] Xem thêm: Tâm kinh Tuệ giác qua bờ

Về lại Việt Nam

Năm 2005, sau một năm thương thuyết – đúng dịp Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức thương Mại Thế giới (WTO), Chính phủ Việt Nam cuối cùng đã cho phép Thầy trở về quê hương, cùng một phái đoàn với hơn 200 đệ tử sau 39 năm bị lưu vong.

Thầy đã cho pháp thoại công cộng và hướng dẫn các khóa tu, và một số sách của Thầy cuối cùng cũng được phép chính thức xuất bản tại Việt Nam[i]. Dù chương trình sinh hoạt của tăng đoàn không được phép quảng bá trên các phương tiện truyền thông và nằm dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của chính quyền, những ngày quán niệm và các khóa tu do Thầy hướng dẫn vẫn có hàng ngàn người tham dự. Hàng trăm người trẻ muốn xuất gia với Thầy được chào đón tại Bát Nhã, một tu viện mới được thành lập tại cao nguyên Lâm Đồng, không xa Phương Bối[ii]. Năm 2007, Thầy trở lại Việt Nam để chủ trì ba Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan, cầu nguyện cho hàng triệu người đã thiệt mạng trong chiến tranh. Năm 2008, Thầy trở về nước một lần nữa để cho một bài phát biểu quan trọng nhân dịp đại lễ Phật Đản quốc tế (Vesak) do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Hà Nội[iii]. Trong ba lần về thăm quê hương, Thầy đều có các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của Nhà nước Việt Nam[iv]. Trong những cuộc gặp này, cũng như trong những lần Thầy gặp gỡ các nhà lãnh đạo của Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Ấn Độ, Quốc hội Anh hay Quốc hội Bắc Ireland, Thầy đều đưa ra những lời khuyến nghị để giúp đem lại một nền đạo đức, thịnh vượng và tiến bộ trên các lĩnh vực như xã hội dân sự, giáo dục và quan hệ quốc tế.

Thế nhưng những điều kiện thuận lợi đó không kéo dài được bao lâu. Sự phát triển quá nhanh chóng của tu viện Bát Nhã, với 400 xuất sĩ và có đến hàng trăm người trẻ đến tu học hàng tháng đã khiến chính quyền Việt Nam lo ngại và coi đây là một mối đe doạ. Vào ngày 27 tháng 9 năm 2009, sau nhiều tháng bị quấy nhiễu, tất cả vị xuất gia đã bị buộc phải rời khỏi Bát Nhã theo từng nhóm nhỏ để xin tá túc tại một số tự viện hiếm hoi dám mạo hiểm mở cửa che chở họ. Ngày nay, các thầy và các sư cô Bát Nhã ấy đã trở thành những giáo thọ trẻ phụng sự trong các tu viện của Làng Mai đang phát triển bên ngoài Việt Nam, tại châu Âu, châu Mỹ và châu Á. Một loạt các tu viện mới được thành lập ở khắp nơi sau sự kiện Bát Nhã năm 2007, bao gồm tu viện Bích Nham ở phía bắc ngoại ô New York, Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Paris, Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan tại Khaoyai, tu viện Mộc Lan tại Mississipi (Hoa Kỳ), Viện Phật học Ứng dụng Á Châu tại đảo Lantau Hongkong,  Tu viện Nhập Lưu ở bang Victoria, Úc[v].

 

 

[i] Trước chuyến về Việt Nam của Thầy, 4 quyển sách đã được phép xuất bản, đến mùa thu thì có tất cả là 12 quyển được phép xuất bản. Tham khảo Vấn đáp tại Lộc Uyển ngày 17 tháng 9 năm 2005.

[ii] Xin xem báo cáo chi tiết về chuyến  đi này trong Lá thư Làng Mai số 29 – năm 2006 trên Trang nhà Làng Mai.

[iii] Xin xem Lá thư Làng Mai (LTLM) số 31 – năm 2008 về ba Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan và LTLM 32 – năm 2009 về Đại lễ Phật đản (Vesak) tại Hà Nội.

[iv] Năm 2008, Thầy đã có cuộc gặp gỡ chính thức với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

[v] Đại chúng thuộc tu viện Rừng Phong và tu viện Thanh Sơn ở Vermont đã kết hợp lại để thành lập nên tu viện Bích Nham; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ là tên mới của thiền đường Hoa Quỳnh (được thành lập từ năm 1985) ở Paris sau khi cơ sở được xây dựng lại và có chúng xuất sĩ thường trú vào năm 2008.

Đạo Bụt không biên giới

Trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Thầy đã mang giáo lý và sự thực tập đạo Bụt ra khỏi bối cảnh của tôn giáo để phụng sự cho thế giới. Thầy đã hướng dẫn các khóa tu đặc biệt cho các nhà tâm lý trị liệu, thầy cô giáo, giới lãnh đạo doanh nghiệp, chính trị gia, khoa học gia, những nhà sinh môi, nghệ sĩ, nhân viên cảnh sát và thậm chí cả cho người Do Thái và người Palestin[i]. Tại Hoa Kỳ, Thầy đã hướng dẫn các khóa tu cho cựu chiến binh Mỹ – chính những người đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh trên quê hương của Thầy – giúp mang lại sự hòa giải sâu sắc.

Theo năm tháng, số người từ khắp nơi trên thế giới tìm với Làng Mai để tu học ngày càng đông. Qua tiếp xúc với thiền sinh, Thầy và tăng thân bắt đầu phát triển những pháp môn chánh niệm khế cơ hơn và có tính cách phi tôn giáo để có thể áp dụng một cách rộng rãi trong các trường học, cơ quan y tế và nơi làm việc. Thầy giải thích rằng chánh niệm cống hiến một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày. Ai cũng có thể thực tập chánh niệm được dễ dàng dù họ có tôn giáo hay không tôn giáo. Ngày nay tại Quốc hội Hoa Kỳ, có những nghị sĩ thực tập thiền hành trong khi đi đến phòng bỏ phiếu. Có những giáo viên thỉnh chuông cho học sinh thở trong lớp học, và thậm chí có những linh mục tổ chức thiền trà cho giáo dân trong giáo phận của mình. Thầy nói: “Đạo Bụt của chúng tôi là một đạo Bụt không biên giới”[ii]. Thầy khuyến khích mọi người giữ đạo gốc của mình, thay vì đổi theo đạo Bụt[iii]. Đối với Thầy, “ai cũng có thể hưởng được lợi lạc từ giáo lý và sự thực tập đạo Bụt. Đạo Bụt là một gia tài của cả nhân loại chứ không riêng của những người Phật tử. Bởi vì đạo Bụt được làm bằng những yếu tố không phải là đạo Bụt”[iv]

Quy tắc của một nền đạo đức toàn cầu

Trong những năm Thầy ở Việt Nam, trong bối cảnh đất nước bị thực dân đô hộ và chiến tranh kéo dài với ý thức hệ và vũ khí của ngoại bang, Thầy đã đào sâu vào gia tài của Phật giáo Việt Nam để tìm một hướng đi cho dân tộc. Và sau này, khi chân trời của Thầy mở rộng, Thầy cũng đã làm như thế trên bình diện toàn cầu: đào sâu vào gia tài tâm linh của đạo Bụt để cống hiến những pháp môn cụ thể và những quy tắc đạo đức có thể vượt ra khỏi biên giới của văn hóa và tôn giáo, gieo trồng hạt giống của một “sự giác ngộ tập thể”.

Thầy đã trình bày cái thấy của đạo Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu – đó là Năm giới tân tu – tại Hội nghị thượng đỉnh về SIDA được tổ chức tại Nhà Trắng; với Phó tổng thống Ấn độ K.R. Narayanan (kết quả là ông đã thành lập một Ủy ban Đạo đức ở Quốc hội), và tại Hội nghị Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ[v]. Ước tính là từ thập niên 1980, trong các buổi lễ truyền giới do Thầy và tăng thân chủ trì, có hàng trăm ngàn người đã chính thức cam kết đem những nguyên tắc đạo đức này áp dụng vào đời sống hàng ngày. Năm 1999, UNESCO mời Thầy cùng với các ứng viên cho giải Nobel hòa bình khởi thảo bản “Tuyên cáo về một nền hòa bình và bất bạo động năm 2000” (“Manifesto 2000”) cho thiên niên kỷ mới[vi]. Bản Tuyên cáo cuối cùng (một cam kết thực hành 6 điểm đạo đức cụ thể trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình, nơi làm việc và cộng đồng dựa trên Năm giới tân tu của Thầy) đã lấy được trên 70 triệu chữ ký trên toàn thế giới, trong đó có chữ ký của nhiều nguyên thủ quốc gia.  

Rất nhiều năm trước khi Thầy được phép trở về Việt Nam, Thầy đã được mời đem giáo pháp đạo đức ứng dụng sang Trung Quốc: lần đầu tiên năm 1995, sau đó là ba chuyến hoằng pháp liên tiếp dưới sự bảo trợ chính thức của Hội Phật giáo Trung Quốc vào các năm 1999, 2001 và 2002[vii]. Thầy đã có cơ hội tham bái tổ đình của dòng thiền Lâm Tế, được mời cho pháp thoại, hướng dẫn khóa tu và lần đầu tiên giới thiệu về bản Năm giới tân tu bằng chữ Hán. Thầy đã gặp gỡ Thứ trưởng về Tôn giáo và đã tặng ông câu thư pháp bằng tiếng Anh với dòng chữ “Spiritual Dimension” (Chiều hướng tâm linh). Thầy giải thích rằng “Hiện trong mọi lĩnh vực của sự sống xã hội và con người, như chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, v.v. yếu tố tâm linh đã trở nên rất cần thiết, vì vậy Thầy mong rằng Tôn Giáo Sự Vụ có thể nâng đỡ cho Phật giáo để Phật giáo có thể cống hiến được tuệ giác và kinh nghiệm mình cho xã hội, để làm giảm bớt bạo động, lo lắng và khổ đau trong những lĩnh vực ấy của sự sống”.

Ngày xưa, chư Tổ đem giáo lý đạo Bụt từ Trung Quốc sang Việt Nam. Giờ đây, Thầy đem về lại cho Trung Quốc một đạo Bụt mới, đầy sức sống, mang tính thực tiễn và dễ áp dụng vào đời sống. Những cuốn sách của Thầy như Giận, Phép lạ của sự thỉnh thứcĐường xưa mây trắng được rất nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là giới trẻ, yêu thích. Thầy rất vui khi bản dịch quyển Bước tới thảnh thơi – cẩm nang dành cho sadi và sadini từ chữ Hán cổ sang chữ Hán hiện đại của Thầy có thể được xuất bản ở Trung Quốc và được sử dụng rộng rãi tại các Viện Phật học. Hơn 400 năm qua, các sadi, sadini của Trung Quốc vẫn sử dụng cuốn cẩm nang này bằng chữ Hán cổ.

Sinh thái học bề sâu

Đầu những năm 2000, Thầy trở thành một phát ngôn viên hàng đầu cho “sinh thái học bề sâu”, phát triển giáo lý về môi trường mà Thầy đã bắt đầu từ hội nghị Đại Đồng vào những năm đầu của thập niên 1970. Tuệ giác về tương tức trở thành kim chỉ nam cho hoạt động dấn thân của Thầy. Trong tác phẩm The World We Have (Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh) được xuất bản năm 2008, Thầy không ngần ngại nói ra sự thật về sự khủng hoảng sinh môi ngày càng trầm trọng và đề ra hướng đi của đạo Bụt để đối trị với tình trạng ấy. “Nếu loài người chúng ta vẫn tiếp tục sống như hiện nay thì nền văn minh của chúng ta sẽ sớm bị diệt vong”[viii]. Năm 2007, theo sự chỉ dạy của Thầy, tất cả các trung tâm tu học của Làng Mai đã bắt đầu dùng thực phẩm thuần chay (vegan) nhằm gửi một thông điệp mạnh mẽ đến mọi người rằng một chế độ ăn thuần chay dựa trên rau củ quả có thể làm giảm thiểu khổ đau và bảo hộ trái đất[ix]. Tuệ giác sâu sắc nhất của Thầy dành cho các nhà hoạt động môi trường, được ghi lại trong quyển sách Tâm tình với đất Mẹ, là một lời mời gọi “hãy yêu thương đất Mẹ”. Chính tình thương đối với đất Mẹ sẽ là nguồn năng lượng thực sự bền vững gây cảm hứng cho các nhà hoạt động môi trường trong hành động và sự dấn thân của họ.

 

Nền tảng đạo đức để xây dựng hòa bình

Tháng 9 năm 2001, trong lúc Thầy đang ở Hoa Kỳ để hướng dẫn các khóa tu, cho pháp thoại công cộng và trả lời các buổi phỏng vấn về quyển sách “Giận” vừa mới xuất bản thì tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) ở New York bị tấn công. Thầy đã dẫn đầu một đoàn thiền hành hàng trăm người đi chung quanh khu Ground Zero – nơi tưởng niệm các nạn nhân thiệt mạng trong vụ khủng bố nói trên. Thầy đã đề cập tới vấn đề bất bạo động và tha thứ trong bài phát biểu trước một thính chúng hơn 2000 người tại nhà thờ Riverside, nơi mà 35 năm về trước Mục sư King đã lên tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Lúc đó rất nhiều người đã cố gắng thuyết phục Thầy đừng lên tiếng vì e rằng Thầy có thể gặp nguy hiểm khi kêu gọi người dân Mỹ bình tĩnh, thực tập từ bi và bao dung trong lúc căng thẳng đang lên đến đỉnh điểm như vậy. Thầy nói: “Cho dù thầy có bị bắn (khi thầy lên tiếng) thì thầy sẽ vẫn còn là thầy của quí vị. Nhưng nếu vì sợ hãi mà thầy giữ im lặng thì thầy sẽ không còn xứng đáng là thầy của quí vị nữa, và sự mất mát ấy sẽ còn to lớn hơn nhiều”.

Hai năm sau, lúc tình hình căng thẳng giữa Nam – Bắc Triều tiên lên cao điểm, trong một bài phát biểu tại Hàn Quốc, Thầy nhận xét rằng “Các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta được huấn luyện về khoa học chính trị nhưng không được đào tạo về cách thức xây dựng hòa bình, trong nội tâm cũng như bên ngoài. Chúng ta cần giúp họ đem lại một chiều hướng tâm linh cho đời sống chính trị của đất nước”[x]. Năm 2003, sáu tháng sau khi Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq, Thầy đã mạnh dạn kêu gọi hòa bình tại Thư viện Quốc hội (Library of Congress) của Hoa Kỳ, gặp gỡ Thượng nghị sĩ John McCain để nói lên mối quan ngại của mình. Cũng trong dịp này, Thầy đã hướng dẫn hai ngày tu chánh niệm cho các nghị sĩ Hoa Kỳ. Một lần nữa, Thầy khẳng định điều quan trọng là đừng cho kẻ thù của mình là quỷ dữ, như Thầy đã từng khẳng định trong chiến tranh Việt Nam, mà nên nhìn họ với con mắt từ bi, đó mới là cách hay nhất để bảo đảm sự an ninh và hòa bình đích thực. Theo Thầy, từ bi là biểu hiện của sức mạnh và lòng can đảm vô cùng to lớn, chứ không phải là sự yếu đuối như ta thường nghĩ.

 

 

[i] Những bài giảng cho doanh nhân và các chính trị gia đã được biên tập thành sách The Art of Power (Quyền lực đích thực, 2007); những bài giảng cho tù nhân và các cán bộ trại giam được xuất bản thành sách Be free where you are (Sống tự do ở bất cứ nơi nào ở đâu, 2002); những bài giảng cho người Israel và Palestine được làm thành sách Peace Begins Here: Palestinians and Israelis Listening to Each Other (2001)

[ii] Phát biểu của Thầy ở Hàn Quốc, tháng Tư năm 1995, được Daniel J. Adams ghi lại trong “Thich Nhat Hanh Then and Now,”(Thích Nhất Hạnh ngày ấy và bây giờ), Phòng lưu trữ của Trung tâm Thomas Merton Center.

[iii] Phỏng vấn với Don Lattin cho tờ The San Francisco Chronicle, tháng 12 năm 1997: Khi bạn mở lòng với những truyền thống khác, và bạn sẵn lòng học hỏi từ các truyền thống ấy, bạn có một cơ hội để hiểu khác hơn về chính truyền thống của bạn. Đó là điều mà tôi đã học được […] Có những người thực tập theo đạo Bụt, sau đó quay trở lại đạo gốc của họ và khám phá ra rất nhiều điều mà trước đây họ không thấy […] Chúng ta có quyền được hưởng lợi lạc từ bất kỳ truyền thống tâm linh nào.  Bạn cần phải biết [và] hưởng lợi lạc từ mỗi truyền thống. Bởi vì mỗi truyền thống đều có những châu báu và giá trị riêng của nó. Giống như ta ăn trái cây vậy. Nếu bạn thích ăn táo hoặc ăn cam thì bạn vẫn có thể thử ăn xoài, ăn chuối. Bạn không hề phản bội lại trái cam của bạn chút nào khi bạn thử xoài, thử chuối. Chúng ta có quyền thưởng thức tất cả các loại trái cây, và chúng ta có quyền thưởng thức mọi truyền thống tâm linh của loài người. Bạn không nên loại trừ bất cứ truyền thống nào với lý do rằng “Truyền thống của tôi mới là truyền thống chính cống” – như thế thì thật quá hẹp hòi. Chúng ta cần giải phóng chính mình ra khỏi cách suy nghĩ như vậy […] Tôi luôn kêu gọi mọi người nên là chính mình, nên quay về với gốc rễ tâm linh của chính mình. Sẽ không có một mối nguy hiểm nào chờ đón nếu ai đó muốn thử pháp môn của Làng Mai, bởi vì pháp môn của Làng Mai là một phương tiện giúp đem người đó trở lại với văn hóa và gốc rễ tâm linh của chính họ. Điều duy nhất mà tôi quan tâm chính là làm sao cho mọi người có một cơ hội thực tập để cho họ bớt khổ đau. Sau đó họ sẽ quay lại với truyền thống gốc và cố gắng làm mới lại truyền thống của họ…”

[iv] Pháp thoại ngày 21 tháng 6 năm 2009 tại Làng Mai.

[v] Tại Ấn độ năm 1996, tại Davos năm 2000, tại Nhà trắng tháng 12 năm 2000.

[vi] Xem http://www.peace.ca/manifesto2000codeofethics.htm

[vii] Xem thêm trong LTLM số 19 năm 1996,  LTLM số 23-2000 (bài “Địa thượng thần thông”), LTLM số 25-2002 (bài “Đi như một dòng sông”) và LTLM số 26 – 2003

[viii] The World We Have: A Buddhist Approach to Peace and Ecology (Hướng đi của đạo Bụt cho hoà bình và môi sinh), trang 37.

[ix] Trong thư gửi các đệ tử viết tại tu viện Bích Nham ngày 12.10.2007, có tựa đề “Ăn chay để bảo vệ đất Mẹ”, Thầy kêu gọi toàn thể các trung tâm trực thuộc Làng Mai dùng thực phẩm thuần chay để không chỉ làm vơi nhẹ khổ đau cho muôn loài cầm thú mà còn giúp giảm thiểu dấu ấn carbon.

[x] “Spiritual Reflections on War and Peace” (Quán chiếu về hướng đi tâm linh cho vấn đề chiến tranh và hòa bình), in trong Mindfulness Bell  số 34, mùa thu 2003.

Làm mới đạo Bụt – những cành lá mới trên cây đại thụ

Qua nhiều năm thực tập hơi thở chánh niệm, thiền hành và an trú trong hiện tại, Thầy đã ôm ấp và trị liệu nỗi đau khi không được trở về quê hương. “Chính nhờ sự thực tập mà tôi đã có thể trở về với quê hương đích thực của mình ngay bây giờ và ở đây,” Thầy giải thích. “Quê hương đích thực của chúng ta không phải là một ý niệm trừu tượng mà là một thực tại chắc thật mà ta có thể tiếp xúc bằng đôi chân, đôi tay và bằng ý thức. Nó có mặt ngay bây giờ và ở đây, và không ai có thể lấy nó đi được. Người ta có thể chiếm đóng đất nước bạn. Họ có thể bỏ bạn vào tù. Nhưng họ không thể tước đoạt quê hương đích thực và sự tự do của bạn.”

Thầy nói “Đã về, đã tới” chính là cốt tủy của sự thực tập và là “bài pháp thoại ngắn nhất” của Thầy. Bốn chữ đó cũng đã trở thành giáo lý quan trọng nhất khi Thầy hướng dẫn thiền sinh tu tập ở Làng Mai để họ thật sự trở về với tự thân, để thấy đó chính là ngôi nhà đích thực của họ trong giây phút hiện tại. Bốn chữ đó đã trở thành pháp ấn đầu tiên trong Bốn Pháp ấn của Làng Mai[i]:

Sự thực tập đã về đã tới thể hiện được cái hiểu của tôi về giáo pháp của Bụt… Từ khi tìm được quê hương đích thực của mình, tôi không còn đau khổ nữa. Quá khứ hay tương lai không còn là ngục tù giam hãm tôi nữa. Tôi có khả năng sống ngay bây giờ và ở đây. Tôi có thể tiếp xúc với quê hương đích thực của mình.

Tương lai có mặt nơi hiện tại. Đây là điều mà tôi đã nhận ra được. Và khi tiếp xúc với hiện tại một cách sâu sắc, ta có thể tiếp xúc với quá khứ. Nếu ta biết cách xử lý hiện tại một cách rốt ráo, ta có thể chữa lành quá khứ. Nhiều người nghĩ là quá khứ đã đi qua, mình không thể làm gì được nữa, mình không thể quay lại quá khứ, sửa chữa những gì đã xảy ra. Nhưng theo giáo lý của Bụt, quá khứ vẫn còn đó với tất cả những nỗi khổ niềm đau. Và nếu ta biết cách trở về với ngôi nhà của giây phút hiện tại và tiếp xúc với hiện tại thật sâu sắc thì ta sẽ tiếp xúc được với quá khứ, và ta có thể chữa lành quá khứ. Một khi chữa lành được cho chính mình nghĩa là ta cũng đồng thời chữa lành cho tổ tiên của ta. Điều này là điều ta có thể làm được. Tổ tiên trong tôi đang đau khổ thì chính tôi cũng đang đau khổ. Và vì tôi có thể tiếp xúc với giây phút hiện tại thật sâu sắc, tôi chữa trị cho chính mình, và tôi cũng chữa trị cho tổ tiên tôi, trong đó có cha, mẹ, anh, chị, ông bà của tôi”[ii].

 

Đi sâu nghiên cứu đạo Bụt với tư cách một học giả

Tại Làng Mai Pháp, Thầy tiếp tục công việc nghiên cứu, xuất bản sách mới, dịch kinh, thực hiện ước mơ hiện đại hóa các giáo lý căn bản của đạo Bụt và đem một sức sống mới cho các bản kinh nguyên thủy. Tác phẩm Đường xưa mây trắng, một cuốn sách viết về cuộc đời của Bụt, được xuất bản năm 1988 và đã được dịch ra trên 20 thứ tiếng. Qua tác phẩm này, Thầy đã giúp cho chúng ta khám phá lại Bụt như một con người mà không phải là một vị thần linh, dẫn dắt người có tâm cầu đạo thoát ra khỏi hình ảnh một vị Bụt của truyền thuyết và huyền thoại để tiếp xúc với Bụt như một vị thầy giản dị. Thầy đã rất hạnh phúc đem quyển Đường xưa mây trắng được dịch ra tiếng Hindi trong chuyến hành hương về Ấn Độ năm 1997. Quyển sách đã phục hồi tính nhân bản cho một trong những hình tượng nổi bật nhất của đất nước này[iii]. Từ đó đến nay, nó đã trở thành một trong những quyển sách bán chạy nhất ở Ấn Độ[iv].

Bản dịch mới những kinh căn bản của Phật giáo như Bát Nhã Tâm Kinh (được xuất bản thành sách Trái tim của hiểu biết), Kinh An ban thủ ý (sách Kinh Quán niệm hơi thở), Kinh Tứ niệm xứ (sách Con đường chuyển hóa) được Thầy chú giải dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm mà Thầy tiếp nhận từ truyền thống, kết hợp với nguồn cảm hứng từ thiền sư Khương Tăng Hội.

Thầy đã đi sâu nghiên cứu kinh An ban thủ ý (Quán niệm hơi thởĀnāpānasati Sutta) và phát hiện ra ba bản kinh tương tự trong Hán tạng mà các học giả Tây phương đương thời ít biết đến (các kinh số 803, 810 và 815 của bộ Tạp A Hàm). Thầy đã so sánh các bản kinh trong Hán tạng với bản kinh trong tạng Pali, nhờ đó đã có thể bổ sung cho bản Pali và giúp các hành giả có thể áp dụng vào sự thực tập. Thầy nhấn mạnh rằng “đây là lúc chúng ta đem kinh An ban thủ ý trở lại vị trí đúng đắn trong truyền thống thiền tập”[v]. Thầy phát hiện ra Thiền sư Tăng Hội đã sử dụng các kinh nguyên thủy với một cái nhìn phóng khoáng của đạo Bụt Đại thừa. Tại Làng Mai, Thầy đã kết hợp truyền thống Nam tông với truyền thống Bắc tông, và các kinh căn bản được sử dụng tại Làng được lấy từ tất cả các truyền thống khác nhau – từ các tạng Pali, Hán tạng, Sanskrit, Cao Ly (Hàn Quốc) và Tây Tạng[vi]. Suốt hai thập niên giảng dạy tại Làng Mai, Thầy đã cho các bài pháp thoại và chú giải kinh điển từ tạng Hán và tạng Pali, kết hợp những kiến thức Thầy đã được học hỏi nghiên cứu từ truyền thống với kinh nghiệm thực chứng của chính Thầy. Thầy đã dạy các khóa học về Tâm lý học và triết học Phật giáo (trong đó có Ba mươi bài tụng Duy thức của ngài Thế Thân, Nhiếp đại thừa luận của ngài Vô Trước, Trung quán luận của ngài Long Thọ), về Lâm Tế Ngữ Lục, các kinh điển Đại thừa chính yếu[vii], Kinh Nghĩa Túc và Kinh Pháp Cú Hán tạng.

Thành lập tăng thân xuất sĩ

Năm 1988, sau 35 năm giảng dạy, cuối cùng Thầy đã bắt đầu nhận đệ tử xuất gia và xây dựng tăng đoàn xuất sĩ. Thầy thấy được giá trị của liên hệ thầy trò qua sự cam kết cùng nhau học hỏi và tu tập miên mật trong môi trường của một tăng thân thường trú. Tại đỉnh Linh Thứu, Ấn Độ, vào tháng 11 năm 1988, Thầy đã làm lễ xuất gia cho chị Cao Ngọc Phượng (sư cô Chân Không) – một đệ tử và cũng là một cộng sự lâu năm của Thầy, cùng với chị Annabel Laity (sư cô Chân Đức) – đệ tử xuất gia người Tây phương đầu tiên của Thầy và chị Thanh Minh (sư cô Chân Vị). Trong một thời gian ngắn sau lễ xuất gia này còn có nhiều lễ xuất gia nữa. Đến giữa thập niên 90, đã có khoảng 30 sư cô, sư chú và các vị tập sự từ ít nhất là 6 nước khác nhau sống và tu tập tại Làng Mai dưới sự giáo dưỡng của Thầy.

Khi tăng thân mỗi ngày mỗi lớn,  Thầy đã phát triển những phương pháp thực tập để xây dựng tăng thân[viii]. Thầy luôn thúc đẩy tinh thần bình đẳng, cộng tác và tình huynh đệ giữa các thầy và các sư cô, nhấn mạnh đến phương pháp làm quyết định dựa trên sự đồng thuận mà không dựa trên uy quyền của một cá nhân. Thầy là một trong những vị đạo sư đầu tiên trong thời hiện đại đã tân tu giới bản Tỳ kheo và Tỳ kheo ni (Pratimokṣa)[ix].  Thầy là vị thầy đầu tiên của Phật giáo đương đại nhận ra rằng chánh niệm và giới phải đi đôi với nhau và xác quyết rằng trong Tam học, giới (śīla ) và niệm (smṛti) là một: nếu ta hành trì chánh niệm nghĩa là ta đang hành trì giới; và giới giúp ta thực tập chánh niệm[x]. Quyển cẩm nang cho sadi, sadini Bước tới thảnh thơi (1996) và quyển giáo khoa Trái tim của Bụt (1997) của Thầy ngày nay được sử dụng rộng rãi tại các viện Phật học trên toàn thế giới.

Thầy đã cô đọng những nguyên tắc nền tảng cho tất cả giáo lý và pháp môn thực tập của Thầy trong 40 định đề của truyền thống Làng Mai[xi].

 Một cách hành trì mới

Nhằm huấn luyện tăng thân xuất sĩ còn non trẻ, Thầy bắt đầu cụ thể hóa những nguyên tắc của đạo Bụt ứng dụng mà Thầy khởi xướng. Điểm nhấn trong các pháp môn của Làng Mai là tính thực tiễn. Mục tiêu của sự thực tập không phải là để tìm cầu niết bàn, để được tái sinh vào cõi Tịnh độ, đạt tới sự giác ngộ cao tột, hay tích phước. Thay vào đó, Thầy dạy các đệ tử của mình cách làm lắng dịu và thư giãn thân tâm; hiểu rõ tâm ý, nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nỗi khổ niềm đau để hiểu và thương, chuyển hóa cơn giận, thực tập ái ngữ lắng nghe để tái lập lại truyền thông và hòa giải. Thầy dạy đệ tử rằng sự thực tập chánh niệm hay sự tu học nói chung không phải là lao tác cực nhọc; không nên chạy theo hình thức và thực tập một cách máy móc, mà phải bằng sự có mặt thật sự nhờ nương vào hơi thở ý thức và các bài thi kệ.

Nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc chế tác năng lượng chánh niệm theo tinh thần các kinh An ban thủ ý và kinh Tứ niệm xứ, Thầy có chủ ý không đi theo các lối thiền công án hay thiền mặc chiếu. Thậm chí có nhiều nghi lễ truyền thống mà Thầy đã từng duy trì, giờ đây Thầy nhận thấy không còn hiệu quả và nuôi dưỡng sự thực tập tâm linh trong thế kỷ 21 như trước đây nữa. Thầy dạy các đệ tử không tìm cầu bất cứ điều gì ở tương lai – ngay cả tìm cầu sự giác ngộ – mà trở về với hiện tại để tiếp xúc với hạnh phúc, sự trị liệu, bình an, và Tịnh độ đang có sẵn. Thầy giải thích rằng thực tập chánh niệm không phải là để trốn chạy khổ đau, hoặc để đạt tới giác ngộ, mà là để chữa trị và chuyển hóa khổ đau ngay trong giây phút hiện tại. Thầy khai triển pháp môn Thiền lạy (Sám pháp địa xúc) để giúp hành giả tiếp xúc với tổ tiên tâm linh và huyết thống. Đây là một trong rất nhiều phương pháp áp dụng giáo lý tương tức một cách cụ thể. Khai thác những nét đẹp trong văn hóa Việt nam, Thầy đã giới thiệu cho các đệ tử quốc tế của mình cách thiết lập một bàn thờ tổ tiên, giúp họ thực tập nối kết và hòa giải với tổ tiên tâm linh và huyết thống trong chính tự thân, và biết nương tựa tổ tiên trên con đường tâm linh.

Những giáo lý này của Thầy nghe qua thì có vẻ rất đơn giản, nhưng thực ra những giáo lý ấy tiêu biểu cho một đường hướng cực kỳ cấp tiến trong thiền tập. Tất cả các phương pháp cụ thể về thực tập chánh niệm do Thầy phát triển – từ phương pháp thở chánh niệm đến thiền hành, rửa bát, đánh răng, nấu ăn, làm việc, dừng lại và thở khi nghe chuông …- đã làm Thầy trở thành một trong những thiền sư đầu tiên trong thời hiện đại gỡ bỏ sự huyền bí của Thiền, làm cho sự thực tập trở về với tự thân và tiếp xúc với giây phút hiện tại trở nên gần gũi và dễ tiếp cận  hơn.

Khi nhu yếu tham dự các khoá tu do Thầy hướng dẫn ngày càng tăng, vào cuối những năm 1990, Thầy mở thêm một số trung tâm tu học tại Hoa kỳ: tu viện Thanh Sơn tại Vermont năm 1998, tu viện Lộc Uyển tại California năm 2000. Thầy cũng đã truyền đăng phú pháp cho vài chục đệ tử cư sĩ – những người đã có nhiều kinh nghiệm tu học – trở thành Giáo thọ, tiếp tục công trình hoằng pháp của Thầy trên thế giới. Trong số đó, có rất nhiều vị đã  thành lập các cộng đồng sống chánh niệm tại châu Âu, châu Mỹ cũng như châu Úc, và trở thành những vị thầy dạy chánh niệm được nhiều người biết đến. 

Thầy luôn nhấn mạnh đến sức mạnh của thiền tập cộng đồng trong việc trị liệu và chuyển hóa, cũng như tầm quan trọng của việc xây dựng các cộng đồng thực tập chánh niệm tại địa phương (hay còn gọi là tăng thân). Thầy mong muốn mọi người có một nơi để cùng tu tập, nuôi dưỡng niềm vui, sự gắn kết nhằm đối trị với sự cô đơn, biệt lập và chủ nghĩa cá nhân đang chiếm ưu thế trong thế giới hiện đại. Ngày nay, những đệ tử cư sĩ của Thầy đã xây dựng được một mạng lưới gồm hơn 1500 tăng thân thực tập chánh niệm tại hơn 40 quốc gia trên thế giới.

Các trung tâm thiền tập (có tăng thân xuất sĩ thường trú) do Thầy thành lập cũng dần mở rộng thêm tám trung tâm nữa, đó là: tu viện Bích Nham (New York); Thiền đường Hơi thở Nhẹ (Paris); Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB, Đức); Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan (Khao Yai, Thái Lan); tu viện Mộc Lan (Mississippi); Viện Phật học Ứng dụng châu Á (AIAB, Hồng Kông); tu viện Nhập Lưu (bang Victoria, Úc); và tu viện Suối Tuệ (Verdelot, Pháp).

 

 

[i] Trong pháp thoại ngày 10.5.2012, Thầy đã nói về Bốn pháp ấn của Làng Mai (nghĩa là bất kỳ giáo lý nào của Làng Mai cũng bao gồm bốn yếu tố này, nếu không thì đó không phải là giáo lý đích thực của Làng Mai). Bốn pháp ấn đó là: 1. Đã về, đã tới; 2. Đi như một dòng sông; 3. Đế thời tương tức; 4. Sát na dị thục.

[ii] Pháp thoại của Thầy ngày 25 tháng 3 năm 2004.

[iii] Quyển sách do Tiến sĩ Ramchandra Tiwari dịch ra tiếng Hindi và được công ty sách Hind Pocket Books xuất bản năm 1997. Thầy đã dâng quyển sách cúng dường Bụt tại cội bồ đề ở Bodhagaya trong chuyến hành hương Ấn độ năm 1997.

[iv] Quyển sách được công nhận là tác phẩm về cuộc đời của Bụt được yêu chuộng nhất bằng tiếng Hindi. Đến này nó đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng ở Ấn Độ.

[v] Trích từ tác phẩm Breathe! You are Alive: Sutra on the Full Awareness of Breathing (Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Thích Nhất Hạnh chú giải), tr.18.  Rất nhiều truyền thống Đại thừa khác tập trung vào các kinh điển như kinh Hoa Nghiêm hoặc kinh Pháp Hoa… thay vì kinh Quán niệm hơi thở.

[vi] Giải thích của Thầy trong pháp thoại tại Đà Nẵng vào ngày 10 tháng 4 năm 2007, đã được dịch ra tiếng Anh và in trong báo Mindfulness Bell, số 46, mùa thu 2007 dưới tựa đề “The Three Spiritual Powers” (Tam đức: đoạn đức, ân đức và trí đức – Ba nguồn sức mạnh tâm linh)

[vii] Các kinh điển Đại thừa chính yếu, bao gồm: Bát Thiên Tụng Bát Nhã  (Aṣṭasāhasrikā Prajñāpāramitā Sūtra),  Phật mẫu bảo đức tạng bát nhã ba la mật kinh (Prajñāpāramitā Ratnaguṇasaṁcayagāthā), kinh Đại Bảo tích (the Ratnakūṭa Sūtra collection), kinh Duy Ma Cật (Vimalakīrti Sūtra), kinh Pháp Hoa (Saddharma Puṇḍarīka Sūtra), kinh Hoa Nghiêm (Avataṃsaka Sūtra), và kinh Kim Cương (Vajracchedikā Prajñāpāramitā Sūtra).

[viii] Xem tác phẩm Sống chung an lạc: Phương cách xây dựng tăng thân (NXB Văn hóa Sài Gòn).  

[ix] Giới bản tân tu cho nam và nữ khất sĩ đã được Thầy công bố lần đầu ngày 31 tháng 3 năm 2003 tại Viện Đại Học Tăng Già Trung Ương (Choong Ang Sangha University ) ở Seoul, Hàn Quốc.

[x] Theo truyền thống, có hai phiên bản của Tam học. Đó là Giới, Định, Tuệ và Niệm, Định, Tuệ. Thầy là người đầu tiên khẳng định rằng Giới và Niệm là một.

[xi] Được Thầy giảng dạy trong các bài pháp thoại tại Làng Mai từ năm 2005 đến 2007 và in thành sách Làng Mai Nhìn Núi Thứu (2014)

Xây dựng những cộng đồng thực tập chánh niệm và hòa bình

Từ những những thập niên 50 và 60 ở Việt Nam cho tới thời gian hoạt động ở Paris trong những năm 70, Thầy đã nhận thấy việc tạo lập môi trường sống bình an và xây dựng những cộng đồng sống chánh niệm là con đường chắc chắn nhất để chữa lành những vết thương chiến tranh, khổ đau và gieo trồng hạt giống của bình an, trị liệu, hòa giải và tỉnh thức trên thế giới. 

Chế tác bình an là một sự thực tập

Tháng 6 năm 1982, Thầy đang ở New York và tham dự một cuộc biểu tình cho hòa bình cùng với một số đệ tử của cố Thiền sư người Nhật Shunryu Suzuki[i]. Thầy dẫn đầu phái đoàn đi một cách chậm rãi, bình an; nhưng tốc độ đi của đoàn quá chậm cho đám đông ở phía sau, và rất nhiều người đã vượt qua mặt đoàn và tỏ vẻ rất tức giận. “Có rất nhiều giận dữ trong phong trào hòa bình,” Thầy quan sát[ii]. “Mỗi khi bạn có một ý nghĩ đầy sân hận và chứa đựng cái thấy sai lầm, đó chính là chiến tranh. Chiến tranh có thể biểu hiện qua cách ta suy nghĩ, nói năng và hành động. Có thể chúng ta đang sống trong chiến tranh mà không hề hay biết, nó xảy ra trong cách chúng ta tranh đấu với chính bản thân và với những người xung quanh… Có thể trong cuộc sống hàng ngày, ta cũng có một vài khoảnh khắc ngưng chiến. Nhưng phần lớn là những khoảnh khắc của chiến tranh”. Đối với Thầy, sự thực tập chánh niệm là điều vô cùng thiết yếu để chế tác hòa bình: “Cách ta sống đời sống hàng ngày sẽ góp phần làm nên hòa bình hay chiến tranh. Chánh niệm có thể cho ta biết là ta đang đi về hướng chiến tranh và chính năng lượng chánh niệm sẽ giúp ta quay lại để đi về hướng khác, hướng của hòa bình”[iii]. Với chánh niệm, chúng ta có thể chuyển hóa cách tư duy:

Hoạt động hòa bình không chỉ là việc tháo gỡ bom. Thậm chí khi ta vận chuyển toàn bộ bom lên mặt trăng, ta cũng vẫn không có an ninh, bởi vì gốc rễ của chiến tranh và của những trái bom vẫn còn đó, ở trong tâm thức cộng đồng của chúng ta. Chúng ta không thể xóa bỏ chiến tranh bằng các cuộc biểu tình đầy giận dữ. Chuyển hóa tâm thức cộng đồng là cách duy nhất có thể xóa bỏ chiến tranh tận gốc[iv].

Và như thế Thầy đã chuyển trọng tâm từ các cuộc biểu tình và họp báo qua công việc có bề sâu hơn, đó là việc chuyển hóa tâm thức cộng đồng qua các khóa tu chánh niệm và qua nếp sống cộng đồng. Các khóa tu đã trở thành lĩnh vực hoạt động của Thầy và đem lại rất nhiều chuyển hóa.

Làng Mai ra đời

Cộng đồng tu học do Thầy hướng dẫn phát triển rất nhanh nên Phương Vân Am không còn đủ chỗ để đón thiền sinh đến tu học. Năm 1982, Thầy và các cộng sự đã tìm được một mảnh đất rộng hơn, đó là một nông trại tọa lạc ở vùng thung lũng sông Dordogne, miền Tây Nam nước Pháp. Tại đây, giữa những ngọn đồi chập chùng và ruộng nho xanh mướt, họ đã thành lập một trung tâm tu học chánh niệm có tên là Làng Mai, cái tên bắt nguồn từ 1250 cây mận (hay còn được gọi là cây mai) được trồng trên mảnh đất màu mỡ này. Những ngôi nhà có sẵn ở Làng lúc đó đã đổ nát. Nhà kho đã được biến thành thiền đường và chuồng cừu được sửa sang lại làm phòng ngủ. Giường thì được làm bằng những tấm ván đặt trên bốn viên gạch[v]

 Những pháp môn chánh niệm mới

Trong khóa tu mùa hè đầu tiên ở Làng, có 117 thiền sinh tới thực tập thiền tọa, thiền hành, ăn cơm trong chánh niệm, và thưởng thức thiền trà trong bầu không khí thư giãn với âm nhạc và thơ ca. Ngoài những người tị nạn Việt Nam tìm đến Làng để được hướng dẫn và trị liệu khi sống nơi xứ người, còn có những người trẻ muốn tìm một hướng đi, những nghệ sĩ và những nhà hoạt động hòa bình tha thiết muốn được nghe những tuệ giác từ một Thiền sư.

Thầy cho tư vấn và nói pháp thoại mỗi ngày, dạy trẻ em cùng người lớn những pháp môn thực tập chánh niệm mà họ có thể áp dụng trong đời sống hàng ngày. Thầy giới thiệu cách áp dụng thi kệ chánh niệm trong các hoạt động thường nhật như đánh răng, quét nhà, thắp nến – sự thực tập của chính Thầy khi mới bước vào đời sống xuất gia[vi]. Cùng với thời gian, càng ngày Thầy càng phát triển được nhiều phương pháp thực tập mới. Những phương pháp này giúp cho các thành viên trong tăng thân tiếp xúc được với sự bình an, khỏe nhẹ và niềm vui của việc an trú trong hiện tại, giúp họ có sự chuyển hóa và trị liệu[vii]. Cũng trong những năm này, Thầy đã phát triển các pháp môn Sám pháp địa xúc (thiền lạy với những bài hướng dẫn quán chiếu), thiền hướng dẫn, pháp đàm (sử dụng phương pháp ái ngữ và lắng nghe sâu) và thiền buông thư. Căn cứ trên nền tảng vững chắc về Tâm lý học Phật giáo, Thầy đã phát triển pháp môn Làm mới –  một pháp môn thiết thực dựa trên khả năng ái ngữ và lắng nghe sâu để đem lại sự hòa giải, giúp vợ chồng, cha mẹ, con cái, bạn bè lâu năm giải quyết khó khăn giữa họ với nhau, thiết lập lại truyền thông. Những pháp môn có vẻ đơn giản này thực chất là được xây dựng dựa trên tuệ giác của đạo Bụt về vô ngã, vô thường và tương tức, để giúp thiền sinh thấy được gốc rễ của khổ đau, từ đó đưa đến sự trị liệu và chuyển hóa.

Nhờ tài năng và sự tháo vát của chị Phượng – người cộng sự lâu năm với Thầy, cũng như của những vị thường trú có mặt ở Làng từ lúc ban sơ, Làng Mai đã bắt đầu hiến tặng những hoa trái, dù khả năng tài chính của Làng vẫn còn rất eo hẹp. Vào mùa hè thứ ba, Làng Mai đón tiếp trên 300 thiền sinh và đến năm 1990, Làng đã đón đến gần 1000 thiền sinh. Trong hai thập niên tiếp theo, Làng Mai đã phát triển thành một trung tâm tu học Phật giáo lớn nhất ở Tây phương, thu hút thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới, với hơn 4000 người vào mỗi mùa hè và đón hơn 10.000 thiền sinh đến tu học mỗi năm.

 Thầy của những người thầy

Trong các thập niên 80 và 90, Thầy thường xuyên qua Hoa Kỳ để giảng dạy và có ảnh hưởng càng ngày càng lớn, trong bối cảnh thiền tập đang phát triển nhanh chóng ở Tây phương. Thầy hướng dẫn những khóa tu tại các trung tâm thiền Phật giáo mọc lên ở hai bờ Đông và Tây Hoa Kỳ[viii]. Mùa xuân 1983, Hội Thân hữu Hòa bình Phật giáo và Trung tâm Thiền ở San Francisco tổ chức khóa tu đầu tiên do Thầy hướng dẫn cho Phật tử Tây phương tại Trung tâm Tassajara Zen Mountain[ix]. Mô thức của khóa tu chánh niệm mà Thầy thiết kế hoàn toàn khác với những khóa tu đặt trọng tâm vào thực tập tọa thiền (sesshin) của những truyền thống thiền khác. Thầy là một trong những vị thầy Phật giáo đầu tiên ở Tây phương nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc kết hợp thiền tập và chánh niệm với các hoạt động thường nhật xảy ra bên ngoài thiền đường, theo tinh thần thiền tập của truyền thống Lâm Tế[x].

Từ kinh nghiệm tu học và sự chứng nghiệm của chính mình, Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc áp dụng hơi thở chánh niệm trong việc chữa trị thân tâm. Thầy chế tác và giới thiệu cho thiền sinh những phương pháp thực tập như dừng lại và thở theo tiếng chuông. Và Thầy giới thiệu một hình thức mới của pháp môn thiền hành mà chính Thầy đã thực tập và phát triển. Đó là hình thức thiền hành nhẹ nhàng, thư giãn ở giữa thiên nhiên, rất khác với phép kinh hành. Theo phép thiền hành, ta kết hợp hài hòa giữa bước chân, hơi thở với những thiền ngữ trong khi đi. Thầy còn phát triển một pháp môn mới là thiền buông thư, dựa trên việc sử dụng ánh sáng chánh niệm để soi chiếu và làm lắng dịu toàn thân từ đầu đến chân. Ngoài ra, Thầy còn đi tiên phong trong phương pháp thực tập thiền tọa có hướng dẫn, kết hợp những câu hướng dẫn và các từ khóa với hơi thở, để giúp cho thiền sinh chế tác hỷ lạc, đem lại sự trị liệu và tuệ giác[xi]. Cho đến nay, những cách thức mới mẻ, đầy sáng tạo và vô cùng hiệu quả trong thiền tập do Thầy phát kiến đã được hàng ngàn người dạy thiền tiếp nhận và chia sẻ lại với hàng triệu người trên toàn thế giới.

Thầy đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của nguyên tắc đạo đức Phật giáo và Năm giới trong thiền tập, những điều mà rất nhiều người đã bỏ qua vì cho rằng chúng không phù hợp với một đạo Bụt hiện đại ở Tây phương[xii]. Thầy luôn nhấn mạnh rằng đạo đức và chánh niệm không thể tách rời nhau; và thiền tập hoặc chánh niệm mà không có đạo đức thì không phải là chánh niệm đích thực. Những điều đó đã làm Thầy trở thành một biểu tượng quan trọng của đạo đức, khi đạo Bụt và thiền tập càng ngày càng trở nên được ưa chuộng ở Tây phương. Nhiều thiền sinh đến tham dự những khóa tu của Thầy trong thập niên 1980 sau này đã trở thành những người thầy dạy chánh niệm hàng đầu ở Tây phương, trong đó có Joan Halifax, Jack Kornfield, Joanna Macy và Sharon Salzberg. Jon Kabat-Zinn dự khóa tu với Thầy tại Hội Thiền Minh Sát (Insight Meditation Society) ở Massachusetts năm 1987. Giáo lý của Thầy về “chánh niệm trong đời sống hàng ngày” và phương pháp thiền hành do Thầy khởi xướng giờ đây đã được phổ biến rộng rãi bởi phong trào chánh niệm và đã đem đến sự trị liệu cho hàng trăm ngàn người ở khắp nơi trên thế giới.

Tương tức

Chính tại một trong những khóa tu tại trung tâm thiền tập Tassajara ở California, lần đầu tiên Thầy đã sử dụng từ “interbeing” để giải thích cho thiền sinh Tây phương về tính tương tức của vạn pháp. Sử dụng từ gốc “to be” làm nên một từ mới là inter-being để dịch sahabhūtā (từ tương tức bằng tiếng Phạn) là một cách chuyển ngữ rất sáng tạo và đầy tuệ giác. Thầy dạy đệ tử nhìn bằng con mắt tương tức để thấy rằng một tờ giấy không thể nào có mặt nếu không có những đám mây, rừng cây và những cơn mưa. “Tương tức nghĩa là ta không thể nào tự mình có mặt hay làm cho một cái khác có mặt, ta phải cùng nhau có mặt”, Thầy giải thích[xiii]. Sự quán chiếu về tương tức có thể giúp thiền giả cởi bỏ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị. Chỉ với một danh từ đơn giản interbeing – tương tức, Thầy đã chuyển tải được tuệ giác nằm phía sau cam kết “không phe phái” của mình trong cuộc chiến tranh Việt Nam. Cái thấy của Thầy trong thời kỳ khủng hoảng thuyền nhân, được thể hiện qua bài thơ Hãy gọi đúng tên tôi, chính là sự chứng ngộ về tương tức của Thầy: tất cả mọi thứ đều là sự biểu hiện của mạng lưới nhân duyên trùng điệp, và ta cũng là một trong muôn vàn những nhân duyên ấy. Như Thầy đã nói: “Tất cả mọi cái đều chứa đựng trong nó tất cả những cái khác”[xiv]. Ngay trong những khóa tu đầu tiên, Thầy đã dạy rằng không thể có hạnh phúc nếu không có khổ đau, nếu không có bùn thì không thể có sen. Tuệ giác về tương tức đã trở thành cốt lõi trong những lời dạy của Thầy. Nó đã giúp cho nhiều người biết thực tập nhìn sâu để hiểu nỗi khổ niềm đau của họ, để trị liệu và chuyển hóa. Thầy dạy rằng bất cứ ai cũng có thể sử dụng tuệ giác về tương tức để tiếp xúc với tự tánh của thực tại, vượt thoát khỏi mọi ý niệm, trong đó có ý niệm “hiện hữu (có)” và “không hiện hữu (không)”. Tuệ giác và phương pháp hành trì rất cụ thể về tương tức (Interbeing) đã trở thành một trong những sự đóng góp nổi bật của Thầy cho sự thực tập đạo Bụt ở Tây phương.

 

Năm 1984, cha của Thầy qua đời ở Nha Trang. Một số đông chư tăng đã thay mặt Thầy đi dự tang lễ vì biết rằng Thầy không thể trở về quê hương. Khi ấy, Thầy đã thực tập quán chiếu để thấy mình là sự tiếp nối của cha: “Tôi thấy cha tôi đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể tôi, mẹ tôi cũng vậy. Ông bà, tổ tiên của tôi cũng chưa bao giờ thực sự chết. Tất cả đều đang có mặt trọn vẹn trong từng tế bào của cơ thể tôi. Khi nghe một tiếng chuông, tôi mời tất cả cha mẹ, ông bà, tổ tiên cùng nghe chuông với tôi. Trong khi nghe chuông, tôi có thể đọc thầm bài kệ: Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe. Tiếng chuông huyền diệu đưa về quê hương[xv].

 

 

[i] Cuộc biểu tình chống vũ khí hạt nhân ở New York ngày 13.06.1982 là một trong những cuộc biểu tình lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ (theo New York Times). Thầy sang New York để tham dự Hội nghị Tôn trọng Sự sống (Reverence for Life Conference ), một hội nghị liên tôn về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân được tổ chức song song với một hội nghị thượng đỉnh của các nhà lãnh đạo quốc tế về vấn đề giải trừ vũ khí hạt nhân do Liên Hiệp Quốc tổ chức (“The United Nations Second Special Session on Disarmament”).

[ii] Trong một buổi vấn đáp tại tu viện Bích Nham ngày 29.8.2013, Thầy nói: “Trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam, ở Mỹ đã diễn ra phong trào hòa bình phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam. Và khi người ta đòi hòa bình mà không được đáp ứng, họ trở nên rất giận dữ. Vì vậy có rất nhiều sân hận trong phong trào hòa bình lúc đó.” Khi đi du thuyết ở Mỹ và trò chuyện với các nhóm này, Thầy nói: “Nếu bạn có quá nhiều giận dữ trong tự thân thì hòa bình không thể thành tựu. Bạn phải hòa bình trước khi bạn vận động cho hòa bình”. Ngoài ra trong buổi phỏng vấn với John Malkin của báo Shambhala Sun, số ra ngày 1 tháng bảy, 2003, Thầy nói: “Vào thập niên 60, người dân Mỹ rất từ bi và sẵn sàng yểm trợ chúng tôi trong việc chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng những người tham gia phong trào hòa bình ở Mỹ không có đủ kiên nhẫn. Họ rất dễ nổi giận khi những gì họ làm không đem lại kết quả như mong muốn. Có rất nhiều giận dữ và bạo động trong các phong trào hòa bình lúc bấy giờ. Bất bạo động và từ bi là nền tảng của phong trào đấu tranh cho hòa bình. Nếu không có đủ bình an, sự hiểu biết và thương yêu trong chính tự thân thì những công việc mà chúng ta làm không phải thật sự là vì hòa bình. Chúng ta đều biết là hòa bình phải bắt đầu từ chính tự thân, nhưng không phải nhiều người trong chúng ta biết cần phải làm như thế nào để có được điều đó.”

[iii] Pháp thoại công cộng dành cho các nhà lãnh đạo tôn giáo tại Hàn Quốc ngày 19.3. 2003, được đăng trên báo Mindfulness Bell, số 34, mùa thu 2003.

[iv] Pháp thoại ngày 21 tháng 2 năm 1991.

[v] Để tìm hiểu thêm về lịch sử Làng Mai, xin đọc bài Ngày em hai mươi tuổi (LTLM số 25 – 2002) của Thầy và bài Làng Mai qua năm tháng (LTLM số 35 – 2012) của Sư cô Chân Không trên Trang nhà Làng Mai

[vi] Các bài thi kệ đã được in thành sách Từng bước nở hoa sen – NXB Lá Bối (1985)

[vii] Những bài giảng của Thầy về sự thực tập hiện pháp lạc trú đã được Tu viện Kim Sơn in thành sách An trú trong hiện tại vào năm 1986. 

[viii] Bao gồm Hội Thiền Minh Sát (Insight Meditation Society), Học viện Omega, Hiệp hội Ojai và trung tâm thiền San Francisco

[ix] Xin xem trang nhà của Hội Phật giáo Hòa bình

[x] Quyển Nẻo vào thiền học (1971)Phép lạ của sự tỉnh thức (1975) đã nêu rất rõ phương hướng cho sự thực tập hàng ngày.

[xi] Các bài thiền hướng dẫn mà Thầy sử dụng trong các khóa tu đã được in thành sách Sen búp từng cánh hé

[xii] Điều này đã được James William Coleman đề cập đến trong tác phẩm của ông có tên The New Buddhism: The Western Transformation of an Ancient Tradition by James William Coleman (Một Đạo Bụt mới: Hình tướng Tây phương của một truyền thống cổ đại) –  2002.

[xiii] “Tương tức, tiếng Phạn là sahabhūta. Ta không thể nào tự mình có mặt hay làm cho một cái khác có mặt, ta phải cùng nhau có mặt. Chúng ta dùng ý niệm tương tức để thoát ra khỏi ý niệm có, dùng ý niệm câu hữu thay thế cho ý niệm hữu. Thoát được ý niệm có thì đồng thời cũng thoát được ý niệm không. Nhờ ý niệm tương tức mà ta thoát ra khỏi ý niệm có và không. Đó là nhờ tài năng của tùy thuận trí. Ta vẫn sử dụng danh từ và ý niệm, nhưng sử dụng rất khéo theo trí tùy thuận để từ từ thoát ra khỏi danh từ và ý niệm. Ta dùng những ý niệm mới là tương sinh và tương tức để thoát ra khỏi những ý niệm cũ là sinh-diệt và có-không. Và khi thoát ra được rồi thì chúng ta phải bỏ những ý niệm đó đi. Cũng như ta dùng thuổng để đào giếng, đào giếng xong rồi thì ta phải cất thuổng đi, không cần phải mang nó theo suốt đời. Tương sinh và tương tức giúp ta vượt thoát sinh-diệt và hữu-vô.” – trích pháp thoại ngày 10.1.2013 tại Làng Mai, Pháp.

[xiv] Trích pháp thoại của Thầy, ngày 25.3.2004

[xv] Pháp thoại của Thầy ngày 20 tháng 6 năm 2014

Phép lạ của sự tỉnh thức: chế tác bình an và trị liệu

Những bài giảng của Thầy tại đại học Sorbonne trong những năm đầu của thập niên 1970 đã được làm thành quyển sách Việt Nam Phật Giáo Sử Luận gồm ba tập, trong đó trình bày rõ ràng nguồn gốc của pháp môn chánh niệm và vai trò đặc biệt của Thiền Việt Nam tại châu Á[i]. Là một giáo sư tại đại học Sorbonne, Thầy có cơ hội khai thác bộ sưu tập những tài liệu Phật giáo phong phú tại thư viện quốc gia Paris. Tại đây, Thầy đã khám phá ra các tài liệu quý hiếm với các chi tiết về cuộc đời của Thiền sư Khương Tăng Hội, một danh tăng kiệt xuất người Việt, có cha là người Trung Á và mẹ là người Việt[ii]. Vào thế kỷ 247 sau công nguyên, Thiền sư Tăng Hội đã từ Giao Châu du hóa lên miền Bắc, đến nước Đông Ngô (bây giờ là miền Nam Trung Quốc), trở thành vị thiền sư đầu tiên hoằng pháp tại Trung Quốc, trước Tổ Bồ Đề Đạt Ma ba thế kỷ. Thiền sư Tăng Hội đã dựng chùa Kiến Sơ tại Luy Lâu, và tổ chức giới đàn truyền giới cho các vị xuất gia đầu tiên của Đông Ngô, thiết lập nền tảng và cấu trúc cho một truyền thống thiền Phật giáo hưng thịnh suốt hơn một ngàn năm tại Trung Hoa[iii]. Thiền sư Tăng Hội đã hành thiền và dạy thiền dựa trên các kinh điển nguyên thỉ về thiền tập, trong đó có kinh Quán niệm hơi thở và kinh Bốn lĩnh vực quán niệm, nhưng tư tưởng thiền của Người là tư tưởng thiền Đại Thừa, đi tiên phong cho cả tư tưởng Hoa Nghiêm và Duy Thức. Nghiên cứu này của Thầy đã được ghi lại trong tác phẩm Nẻo vào thiền học[iv], và sau này trong tác phẩm Thiền sư Khương Tăng Hội: Sơ tổ của thiền tông Việt Nam và Trung Hoa (2001).

Trong các tác phẩm của mình, Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc đem ý thức và sự chú tâm vào từng hành động. “Cuộc đời không phải để mà ngồi dù ngồi chín năm xây mặt vào vách cũng thế. Ngồi chỉ là những bước đầu… Thiền là ăn, là thở, là nấu cơm, là gánh nước, là chùi cầu tiêu vệ sinh. Thiền là dọi ý thức minh mẫn vào mọi động tác thân khẩu ý…”[v]. Chính trong khoảng thời gian này Thầy đã đi sâu hơn vào việc nghiên cứu và học hỏi các kinh điển nguyên thỉ của đạo Bụt, trong đó có kinh Niệm Xứ (Satipaṭṭhāna)An Ban Thủ Ý (Ānāpānasati). Tuệ giác và những khám phá của Thầy trong thời gian này đã trở thành nền tảng cho những pháp môn mà Thầy cống hiến cho các thiền sinh trong các khóa tu về sau[vi].

Chính tại Sceaux vào năm 1973, Thầy bắt đầu viết quyển Phép lạ của sự tỉnh thức, phát triển xa hơn các pháp môn chánh niệm đã được diễn giải trong quyển Nẻo vào thiền học, chuyển tải kinh nghiệm thực tập chánh niệm của chính Thầy trong hơn một thập niên. Ban đầu nó chỉ là một cẩm nang thực tập cho các tác viên trẻ của trường TNPSXH để họ có thể tiếp tục làm việc trong điều kiện đầy khó khăn và hiểm nguy của chiến tranh. Chủ ý của Thầy là đưa ra một đường hướng tâm linh cũng như những pháp môn thực tập thật cụ thể để có thể dễ dàng áp dụng trong khi phụng sự. Sau này Thầy giải thích: “Bởi vì nếu bạn không tu tập trong khi phụng sự, bạn sẽ đánh mất mình, tinh thần bị kiệt quệ, và đó không phải là đạo Bụt dấn thân”[vii].  Những trang cuối của cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức đã được Thầy viết trên gác của nhà giáo sư Thomas Roëp ở Alkmaar tại Hà Lan. Sau đó, Giáo sư Thomas cũng có giúp Thầy khi Thầy in cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức tại nhà in của Phương Vân Am với máy offset Gestetner. Mobi Warren đã dịch quyển sách sang tiếng Anh với tựa đề The Miracle of Mindfulness [viii].

The Miracle of Mindfulness (Phép lạ của sự tỉnh thức) đã nhanh chóng trở thành một cẩm nang thiền tập hàng đầu ở Tây phương. Jon Kabat-Zinn đã nói: “Đó là quyển sách đầu tiên đánh thức đọc giả Tây phương, làm họ lưu ý tới đề tài chánh niệm”.  Quyển sách là một tác phẩm đột phá trong lĩnh vực thiền tập vào những năm cuối của thập niên 1970 và những năm đầu của thập niên 1980, đưa sự thực tập thiền ra khỏi thiền đường và chỉ cho mọi người biết làm thế nào để có thể đem chánh niệm vào đời sống hàng ngày. Như lời một học giả trường đại học Oxford đã nói: “Quyển sách đã âm thầm gieo hạt giống cho một cuộc cách mạng”.[ix] Đến nay thì nó đã trở thành một quyển sách cổ điển về thiền tập bán chạy nhất, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng[x].

Phương Vân Am

Sau ngày 30.4.1975, sự liên lạc giữa Thầy và các bạn hữu cùng các cộng tác viên trong cộng đồng Phật giáo Việt Nam bị cắt đứt một cách đột ngột. Chính phủ mới tịch thu tất cả những nguồn tài trợ cho các chương trình xã hội của Thầy. Cuối năm 1975, Thầy cùng phái đoàn rút hẳn về Phương Vân Am và thành lập một cộng đồng thực tập chánh niệm nơi đây. Cộng đồng ở Phương Vân Am sống rất giản dị. Thầy và các cộng sự làm những gì trong khả năng cho phép để tiếp tục chương trình bảo trợ trẻ em mồ côi, gây quỹ để gởi về Việt Nam những gói thuốc tây có thể bán đổi lấy vài chục kí gạo. Họ tập trung chủ yếu vào việc yểm trợ tinh thần và tài chính cho các văn nghệ sĩ – những tinh hoa của gia tài văn hóa Việt Nam – đang phải đương đầu với những nghịch cảnh lớn lao nhất. Họ gửi những gói quà cứu trợ kèm theo những lá thư ký tên giả; những người nhận không thể biết được ai thực sự đã giúp đỡ cho họ[xi]. Trong thời gian này, Thầy dành nhiều thời gian làm vườn và những công việc ở ngoài trời. Có người hỏi Thầy: “Thưa Thầy, Thầy trồng rau xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy”. Thầy mỉm cười đáp: “Bạn ơi, nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được”[xii]

Thời kỳ trị liệu

Ôm ấp nỗi đau không được trở lại quê hương, Thầy dành thì giờ để thực tập thiền hành, thiền tọa, làm vườn và viết lách. Không để cho tuyệt vọng xâm chiếm quả là một thử thách. Thầy cùng các cộng sự của mình học cách trân quý sự sống và lấy lại sự quân bình bằng cách tiếp xúc với những cái đẹp vẫn đang có mặt ở xung quanh, trong phút giây hiện tại. Sự thực tập hơi thở ý thức đã giúp Thầy xử lý cơn sốc tâm lý khi hộ chiếu của Thầy bị vô hiệu hóa, khi những chương trình xã hội ở Việt Nam bị ngừng hoạt động, đồng thời sự thực tập này cũng giúp Thầy ôm ấp nỗi đau khi nhận tin báo tử của rất nhiều người thương của Thầy ở Việt Nam. Cùng với sự ra đi của Sư Ông – vị bổn sư của Thầy, ba người học trò gần gũi nhất của Thầy cũng đã bị thiệt mạng từ khi Thầy bắt đầu bị lưu vong: Sư chú Nhất Trí, đệ tử xuất gia đầu tiên của Thầy, bị bắt cóc cùng với bảy tác viên khác của trường TNPSXH vào năm 1967 và biệt tích từ đó. Thầy Thanh Văn, giám đốc trường TNPSXH bị một người lính Mỹ say rượu lái xe tải đụng chết năm 1971. Thầy Châu Toàn, từng là thư ký của tờ Hải Triều Âm và sau này tiếp nối thầy Thanh Văn làm Giám đốc điều hành trường TNPSXH, bị nhồi máu cơ tim vào tháng Sáu năm 1974. Thầy viết: “Tôi đối xử với thầy Châu Toàn như một người em ruột. Có thể nói tôi yêu Châu Toàn còn hơn yêu em trai nữa, có thể bởi vì chúng tôi cùng có một thao thức chung, một lý tưởng chung”[xiii].

Trong những năm sau đó, Thầy viết các quyển Tố, Trái Tim Mặt Trời, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận tập II và tập III[xiv]. Lúc ở Paris, Thầy đã tham gia một khóa học nghề về in ấn. Và tại Phương Vân Am, Thầy đã tự in và đóng những quyển sách bằng tiếng Việt của mình, tự dàn trang, thiết kế bìa, khắc bản rồi in, cắt và đóng sách bằng tay[xv]. Sách được phân phối cho người Việt tị nạn tại châu Âu. Tại Việt Nam, cách duy nhất để tránh kiểm duyệt là in sách dưới bút hiệu khác rồi gởi về cho các bạn hữu ở Việt Nam qua những lá thư mỏng, mỗi lần chỉ gửi vài trang để không bị tịch thu. Sau đó sách sẽ được in chui[xvi].

Làn sóng thuyền nhân

Tháng 12 năm 1976, Thầy được mời tham dự Hội Nghị Tôn giáo và Hòa bình Thế giới tại Singapore. Tại đây, Thầy được biết về số phận của những người dân Việt tìm cách trốn khỏi miền Nam Việt Nam bằng thuyền. Đã có hàng ngàn người trôi dạt ngoài biển khơi, giao thân mạng mình cho bão tố và hải tặc. Nếu thuyền của họ tới được bờ thì thường bị đẩy trở ra biển. Vào thời điểm đó, khi không thể tiếp tục các chương trình xã hội ở Việt Nam, Thầy đã tìm mọi cách để giúp những thuyền nhân lênh đênh trên biển. “Nói về từ bi thôi chưa đủ, chúng ta cần phải biến từ bi thành hành động”, sau này Thầy đã nói như vậy[xvii]. Từ Singapore, Thầy cùng chị Phượng và những người cộng sự thuê ba chiếc tàu: chiếc Roland là một tàu chở hàng, chiếc Leap Dal là tàu chở dầu và chiếc Sài gòn 200 là một chiếc tàu nhỏ cơ động có thể chuyển người đến các chiếc tàu lớn; ngoài ra, còn mướn một máy bay nhỏ để truy tìm những người trôi dạt trên biển. Trong vòng vài tuần, Thầy và các cộng sự đã vớt được hơn 800 thuyền nhân ngoài biển khơi[xviii].

Nhưng nỗ lực cứu trợ thuyền nhân của Thầy đã làm cho Giám đốc của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Người Tị Nạn tức giận, cho nên chỉ ba tháng sau chương trình đã bị đóng cửa. Những chiếc tàu cứu hộ trên đó có vài trăm thuyền nhân đã không được phép vào lãnh hải Mã Lai để tránh bão, cũng không được phép vào để mua thực phẩm và nhiên liệu. Chính quyền Singapore ra lệnh cho Thầy phải rời khỏi nước họ trong vòng 24 giờ đồng hồ. Đó là giây phút mà Thầy phải gánh chịu sức ép và nỗi tuyệt vọng khủng khiếp, bởi vì sự sống chết của mấy trăm mạng người đang tùy thuộc vào hành động của Thầy. Sau khi biết tin mình sẽ bị trục xuất, Thầy đã hành thiền để tìm một lối ra, và Thầy đã thiền tập cả đêm hôm đó. Sau này Thầy nói là nhờ chú tâm vào hơi thở và bước chân chánh niệm, Thầy mới có thể thiết lập lại sự bình an và sáng suốt để có một cái thấy sáng tỏ giúp Thầy tìm ra một giải pháp cho vấn đề: làm thế nào xóa được lệnh trục xuất, để ở lại Singapore lâu hơn, để có thời gian sắp xếp công việc, bảo đảm sự an toàn cho tất cả mọi người ở trên tàu[xix]. Trải nghiệm ở Singapore giúp cho Thầy chứng nghiệm được một điều, đó là với hơi thở chánh niệm, ta luôn có thể tìm được sự bình an, sáng suốt và tuệ giác, dù trong những tình huống khó khăn nhất. Hay nói cách khác, đó là “dục an đắc an”. Nếu thực sự muốn an thì có an,  an ngay trong cơn nguy khốn[xx].

Về lại châu Âu, qua những bài giảng và những cuốn sách của mình, Thầy tiếp tục thu hút một số đông những người Việt tị nạn đến tu tập cùng Thầy. Trong những tháng mùa hè, nhiều gia đình tụ tập tại Phương Vân Am để hưởng không khí của miền quê và khôi phục lại tinh thần. Tại đó, họ được Thầy dạy những pháp môn thực tập chánh niệm để ôm ấp và chữa trị những vết thương chiến tranh, đồng thời tiếp xúc được với gốc rễ văn hóa và tâm linh để có thêm sức mạnh và sự vững chãi.  Một số bài thơ đáng nhớ và cảm động nhất của Thầy đã được sáng tác trong giai đoạn cứu trợ thuyền nhân, tiêu biểu là bài Chúng ta hãy trả lời và bài Hãy gọi đúng tên tôi, trong đó Thầy thấy mình là người thuyền nhân mà cũng là người hải tặc, là người trong trại cải tạo mà cũng là người đảng viên cao cấp, là người buôn bán vũ khí mà cũng là em bé nghèo đói trơ xương[xxi].

 

[i] Tập đầu tiên của Việt Nam Phật giáo sử luận được xuất bản vào năm 1974 dưới bút danh Nguyễn Lang – lấy từ tên khai sinh của Thầy (Nguyễn Đình Lang).

[ii] Cha của ngài Tăng Hội là người gốc Khương cư (ngày nay là Uzbekistan) thuộc Trung Á, là một thương nhân đến lập nghiệp tại Việt Nam, và sau đó lập gia đình với một phụ nữ người Việt, mẹ của ngài.

[iii] Trích Cao Tăng Truyện của Huệ Hạo, Nhất Hạnh dịch

[iv] Nẻo vào thiền học được NXB Lá Bối phát hành năm 1971 và được dịch sang nhiều thứ tiếng: tiếng Pháp có tựa là Clés pour le Zen và tiếng Anh có tựa Zen Keys.

[v] Trích từ tác phẩm Nẻo về của ý, NXB Văn hóa Sài Gòn, tr. 183

[vi] Kinh An ban thủ ý (Ānāpānasati sutta)  – được Thầy dịch từ tạng Pali và chú giải – đã được ấn hành vào năm 1975 với tựa đề Kinh Quán niệm hơi thở.

[vii] Pháp thoại 21 tháng 6 năm 2009 tại Làng Mai, Pháp.

[viii] Đầu tiên quyển sách được phát hành tại Việt Nam vào cuối năm 1974 dưới bút danh Thạc Đức và có tựa đề là Ý thức em mặt trời tỏ rạng. Năm sau, quyển sách được in chui với tựa đề Hàm tiếu thiền: Phép lạ của sự tỉnh thức. Bản tiếng Anh đầu tiên được Hội Thân hữu Hoà giải (F.O.R) tại Mỹ và châu Âu xuất bản năm 1975 với tựa đề The Miracle of Being Awake. Hòa thượng người Đức Nyanaponika, từng đến viếng thăm Thầy tại Sceaux, rất thích cuốn sách này và đã sắp xếp để cuốn sách này được xuất bản tại Sri Lanka bởi Hội Theravada Buddhists. 

[ix]  Lời ngỏ do Giáo sư Mark Williams, trường Đại Học Oxford, viết cho bản in đặc biệt kỷ niệm 40 năm quyển The Miracle of Mindfulness ra đời (1975-2015). 

[x] Được Fellowship of Reconciliation, Mỹ xuất bản đầu tiên năm 1975 với tựa đề The Miracle of Being Awake. Chỉ sau khi nhà in Beacon Press đồng ý xuất bản, tên quyển sách được đổi thành The Miracle of Mindfulness. Trong khi đó, quyển sách lại mang tên Be Still and Know: Meditation for Peacemakers khi được nhà in Pax Christi ở London xuất bản. Bản tiếng Pháp đầu tiên có tên là Le Miracle est de Marcher sur Terre (Phép lạ là đi trên mặt đất). Năm 1976, nó được xuất bản ở in Sri Lanka và Thailand như là một “cẩm nang thiền tập cho những nhà hoạt động trẻ tuổi”.

[xi] Tác phẩm Phương hương xuôi vạn lý, Sư cô Chân Không

[xii] Trích lời giới thiệu của Thầy cho cuốn sách Con đường mở rộng của Sư cô Chân Không

[xiii] Trích từ tác phẩm Bây giờ mới thấy – NXB Phương Đông, tr.38.

[xiv] Quyển Tố được xuất bản lần đầu tiên năm 1980 và Trái Tim Mặt Trời xuất bản năm 1982 bởi NXB Lá Bối ở Paris. Việt Nam Phật giáo Sử luận tập I, do NXB Lá Bối ở Sài gòn xuất bản năm 1974; tập II do NXB Lá Bối ở Paris xuất bản năm 1978; tập III hoàn tất năm 1984 và được xuất bản năm 1985. 

[xv] “Có một thời gian tôi đi học nghề in. Hiện bây giờ tôi in sách và đóng sách khá giỏi. In trong chánh niệm, đóng sách trong chánh niệm. Tôi đã in hàng chục cuốn sách, đóng hàng chục ngàn cuốn sách” – Trích Ngày em hai mươi tuổi, LTLM số 25

[xvi] Vì trong giai đoạn này sách của Thầy bị cấm lưu hành tại Việt Nam nên quyển Việt Nam Phật giáo Sử luận (ba tập) đã được in dưới tên tác giả Nguyễn Lang (là tên khai sinh của Thầy) và phát hành không chính thức. Cho đến hôm nay thì bộ sách này vẫn đang được sử dụng làm sách giáo khoa tại trường đại học Vạn Hạnh và những viện Phật học khác tại Việt Nam. Bản tiếng Anh sắp được Parallax xuất bản.

[xvii] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), chương “At Sea on Solid Ground”, tr.61.

[xviii] Trích tác phẩm Trái Tim Mặt Trời, Thích Nhất Hạnh (1982)

[xix] “Thầy nhận ra rằng nếu Thầy có thể thuyết phục tòa Đại sứ Pháp thay mặt Thầy can thiệp và thuyết phục chính quyền Singapore cho phép Thầy được ở lại thêm một tuần nữa, Thầy sẽ có đủ thời gian để sắp xếp, bảo đảm an toàn cho hàng trăm thuyền nhân tị nạn đang lênh đênh trên biển không nhiên liệu, không thực phẩm.” – At Home in the World , Thích Nhất Hạnh (2016), tr. 61.

[xx] Trích lá thư “Bây giờ rõ mặt đôi ta” viết cho đệ tử ngày 7.3.2010.

[xxi] Bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi” đã nói lên được tinh thần tương tức – một giáo lý cốt tủy của đạo Bụt. Tương tức nghĩa là mọi sự vật, hiện tượng đều nương vào nhau mà biểu hiện, mọi thứ có mặt trong nhau. Không có cái gì có thể tồn tại một cách biệt lập. Giáo lý tương tức cũng là nền tảng của đạo Bụt dấn thân: với cái thấy tương tức, ta có thể ôm lấy mọi khía cạnh của thực tại, cả khổ đau lẫn hạnh phúc, và từ đó có thể giúp đem lại một sự thay đổi tích cực cho thế giới.   

Tiếp nhận những yếu tố mới từ Tây phương

Bị chia cách với những học trò của mình và với phong trào hòa bình Phật giáo tại Việt Nam, Thầy đã thiết lập tình thân hữu với các nhân sĩ, nhà thơ, sinh viên và các tu sĩ Cơ đốc giáo hoạt động tích cực cho hòa bình. Khi các cuộc hòa đàm trở nên dai dẳng (kéo dài trong khoảng 5 năm), các bạn của Thầy bắt đầu tổ chức các chuyến du thuyết cho Thầy, dịch sách Thầy ra nhiều thứ tiếng. Ngoài ra, họ còn tổ chức gây quỹ cho các chương trình cứu trợ xã hội ở Việt Nam.

Những người bạn Cơ đốc giáo của Thầy ở Rome tổ chức một cuộc biểu tình rầm rộ với sự tham gia của 300 tu sĩ Cơ đốc giáo, mỗi vị đeo quanh cổ một tờ cáo thị có viết tên của một nhà sư Phật giáo đang bị giam giữ ở Việt Nam[i]. Cô Hebe Kohlbrugge nhất quyết giúp các chương trình bảo trợ trẻ em mồ côi Việt nam nên khi chính quyền Hà Lan từ chối không yểm trợ cho công việc của Thầy, cô đã trả lại huy chương mà cô được nhà nước ban tặng vì những đóng góp của cô trong việc cứu người Do Thái khỏi sự tàn sát của phát xít Đức trong Thế Chiến thứ II. 

 Đối thoại liên tôn

Tình bạn và các cuộc đối thoại giữa Thầy với cha Daniel Berrigan – một vị linh mục dòng Tên, cha Thomas Merton – một tu sĩ thuộc dòng tu Luyện Tâm (Trappist – một dòng tu kín), mục sư đạo Lutheran Heinz Kloppenburg (hội trưởng Hội Thân Hữu Hòa Giải Đức), Hannes de Graff – nhà thần học Hà Lan, cũng như cuộc hội thảo của Thầy tại Đại hội Tôn giáo Thế giới ở Chicago nhiều năm sau đó đã trở thành cơ sở cho cuốn sách về mối liên hệ giữa Phật giáo và Cơ đốc giáo, có tựa đề “Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời”[ii]. Quyển sách này của Thầy đã có ảnh hưởng lớn đến cả Phật giáo lẫn Cơ đốc giáo. Thầy đã có cơ hội mở rộng tầm nhìn và hiểu biết về Cơ đốc giáo một cách sâu sắc hơn nhiều so với hồi còn ở Việt Nam[iii].

Cha Berrigan đến sống với Thầy và các cộng sự của Thầy tại Sceaux trong nhiều tháng để học thiền và chánh niệm. Những cuộc đàm thoại đáng nhớ trong đêm khuya giữa cha và Thầy tại văn phòng ở Sceaux đã được ghi âm lại và sau đó làm thành sách với tựa đề  The Raft Is Not the Shore (Chiếc bè không phải là bờ bên kia)[iv]. Sự tiếp xúc và đối thoại với những người bạn Cơ Đốc giáo đã tạo cảm hứng cho Thầy viết thêm những tác phẩm như: Trở về nhà: Bụt và Chúa là anh em (Going Home: Jesus and Buddha as Brothers); Hiệu lực cầu nguyện[v].

Sống lưu vong tại Paris, Thầy bắt đầu nắm vai trò lãnh đạo trong công việc yểm trợ và hướng dẫn tâm linh cho ngày càng đông các Phật tử Việt Nam sống tại Pháp và nhiều nước ở châu Âu. Tháng 6 năm 1969, khi Thầy tổ chức Buổi cầu nguyện cho hòa bình ở Paris tại một khách sạn gần Bộ ngoại giao Pháp, một đám đông gồm khoảng 600 người tham gia đã nói lên được sự phối hợp độc đáo giữa những người Việt ở hải ngoại với các nhà trí thức và các nhà hoạt động xã hội ở Tây phương[vi].

Khởi đầu phong trào môi sinh

Ngay trong thời gian này, phạm vi hoạt động của Thầy đã vượt ra khỏi những vấn đề liên quan đến Phật giáo và hòa bình. Thầy đã cùng ông Alfred Hassler, Tiến sĩ Pierre Lépine của viện Pasteur Paris, nhiều nhà trí thức và nhà khoa học quen biết khác triệu tập một hội nghị đầu tiên về môi trường ở châu Âu tại Menton, Pháp. Hoạt động của họ bắt đầu bằng bản Tuyên Ngôn Menton (Menton Statement) – ”Một thông điệp cho 3.5 tỷ công dân của hành tinh trái đất”. Bản tuyên ngôn đề cập tới vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Được phát thảo vào tháng 5 năm 1970, bản tuyên ngôn có chữ ký của hơn 2000 khoa học gia và được đăng trên tạp chí Courier của UNESCO[vii]. Một năm sau, Thầy và các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ. Năm 1972, họ đứng ra chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng (Great Togetherness”), song song với Hội Nghị thượng đỉnh của Liên Hiệp Quốc về Môi trường ở Stockholm[viii]. Sinh thái học bề sâu (deep ecology), tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất tiếp tục là những đề tài quan trọng được Thầy đưa vào các bài giảng và các tác phẩm của Thầy.   

Thầy tiếp tục giảng dạy ở khắp nơi. Tháng Năm năm 1971, lúc Thầy đang ở tại Washington D.C trong chuyến du thuyết kêu gọi hòa bình và ngưng bắn ở Việt Nam thì một ký giả của tờ Baltimore Sun báo cho Thầy tin chính quyền miền Nam Việt Nam đã gởi một công hàm quốc tế vô hiệu hóa hộ chiếu của Thầy, buộc Thầy phải sống lưu vong[ix]. Đó là một cú sốc rất lớn đối với Thầy. Thầy bay sang châu Âu và ngay khi đáp xuống Paris, Thầy đã có một cuộc họp báo để xin tị nạn chính trị tại Pháp. Hai năm sau, vào tháng Giêng năm 1973, khi Hiệp định Paris cuối cùng đã được ký kết, Thầy thử xin về nước nhưng vẫn bị từ chối. Phải nhiều thập niên sau Thầy mới có thể trở lại quê hương.

 

 

[i]Cuộc biểu tình diễn ra vào ngày 11 tháng 10 năm 1971, trùng với buổi họp báo được Thầy và các cộng sự tổ chức tại khách sạn Lutèce Paris. Đó là một phần trong chiến dịch “Hãy ngưng ngay sự giết chóc”mà Thầy cùng hợp tác với Ủy Ban Lương Tâm Quốc tế về Việt Nam (International Comittee of Conscience on Việt Nam). Chiến dịch này nhằm vận động các nghị sĩ, các nhà lãnh đạo tôn giáo và đã thu thập được hơn 9000 chữ ký

[ii] Cuốn sách có tựa đề tiếng Anh là Living Buddha, living Christ, xuất bản năm 1995. Đại hội Tôn giáo Thế giới được tổ chức ở Chicago năm 1993.

[iii] Cha Thomas Merton đã từng viết về tình huynh đệ với Thầy: “Tôi đã từng nói rằng tôi coi thầy Nhất Hạnh như một người anh em của tôi, và điều này là sự thật. Cả hai chúng tôi đều những người tu và có tuổi đạo cũng gần bằng nhau. Chúng tôi đều là những nhà thơ, cả hai đều là những nhà hiện sinh. Tôi thấy tôi có nhiều điểm tương đồng với thầy Nhất Hạnh còn hơn với những huynh đệ người Mỹ của tôi. Và tôi không ngại khi nói ra điều đó.” (nguồn: tác phẩm Passion for Peace: The Social Essays của tác giả  William H. Shannon, ed. (1997), tr.260-1.)

[iv] Cha Daniel Berrigan đến vào tháng Chín năm 1974. Cuốn sách của Thầy và cha Berrigan có tựa đề The Raft is not the Shore được nhà xuất bản Beacon Press ấn hành năm 1975.

[v] Tác phẩm Going Home: Jesus and Buddha as Brothers được xuất bản năm 1999; tác phẩm The Energy of Prayer: How to Deepen Your Spiritual Practice được xuất bản năm 2006 (sách tiếng Việt là Hiệu lực cầu nguyện, do NXB Lá Bối Hoa Kỳ ấn hành năm 2003)

[vi] Buổi cầu nguyện cho hòa bình diễn ra tại khách sạn Hôtel du Palais du Quai d’Orsay vào ngày 8 tháng 6 năm 1969.

[vii] Ấn bản tháng 7 năm 1971 của UNESCO Courier.

[viii] Thông tin về cuộc gặp gỡ giữa Thầy và ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc ngày 11.5.1971, cũng như sự yểm trợ của ông U Thant được ghi lại và lưu tại kho lưu trữ của Liên Hiệp Quốc. Những thông tin về Hội nghị Đại Đồng được lưu tại Swarthmore Library.  Trong thời gian ở Stockholm, chị Cao Ngọc Phượng có một loạt những cuộc gặp gỡ riêng đầy tâm huyết với các bộ trưởng và các cơ quan của Thụy Điển, và cô đã thành công trong việc thuyết phục họ bảo trợ cho chương trình từ thiện xã hội của GHPGVNTN giúp xây dựng lại làng mạc bị dội bom ở Việt Nam. Khoản viện trợ đầu tiên là 300.000 đô-la thông qua Nhà Thờ Tin Lành Thụy Điển (Swedish Lutheran Church). Nguồn: tác phẩm Learning True Love (2007), tr.164.

[ix] Đêm đó Thầy đã sáng tác bài thơ Tôi về lật lại trang xưa – tuyển tập Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt, Thích Nhất Hạnh.

Hòa đàm Paris

Đầu năm 1969, một chuyến bay dài ngang qua Hồng Kông, Nhật và Ấn độ đã đưa Thầy trở lại Paris, nơi Thầy tiếp tục công việc vận động hòa bình trong Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973).  Tháng Chín năm 1970, Thầy được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris. Chị Phượng đã bay từ Việt Nam sang giúp cho Thầy. Ngoài ra Thầy còn được sự hỗ trợ của rất nhiều người trẻ quốc tế, thiện nguyện viên của phong trào hòa bình. Thầy thuê một căn hộ nhỏ nằm trong khu nghèo của người Ả rập ở Maisons Alfort, thuộc quận 18 của thành phố Paris và mở một văn phòng tại số 11, đường Goutte d’Or. Tại đó, họ đã làm việc để đại diện cho Phật tử Việt Nam và những người dân không có tiếng nói ở miền Nam lẫn miền Bắc. Họ cũng tiếp tục yểm trợ cho những công tác xã hội ở Việt Nam, điều hành bởi chính những tác viên của trường TNPSXH, phối hợp với cơ quan OXFAM[i], tổ chức Ân Xá Quốc Tế (Amnesty international) và nhiều tổ chức nhân đạo khác[ii]. Qua những mạng lưới này, họ đã tìm được sự bảo trợ khắp nơi trên thế giới cho hàng ngàn trẻ em mồ côi vì chiến tranh ở Việt Nam. Đến năm 1975 đã có khoảng 20 ngàn nhà hảo tâm ở châu Âu và Hoa Kỳ bảo trợ cho khoảng 10 ngàn trẻ em mồ côi tại Việt Nam[iii].

Những năm tháng ở Paris là khoảng thời gian Thầy và các cộng sự của mình sống trong nghèo khó nhưng đầy niềm vui và tình huynh đệ. Các tình nguyện viên cùng làm việc với Thầy trong một căn hộ nhỏ. Họ phải để cái máy in rô-nê-ô trong phòng tắm[iv]. Để có đủ tiền sinh sống, Thầy nhận dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne nổi tiếng.  Thầy trò chỉ ăn gạo gãy mua được các tiệm bán thực phẩm bán cho chim ăn. Thầy và những người cộng sự biên tập và phát hành tờ Le Lotus, lá thư của Phật giáo và tiếng nói của người dân chạy dưới đạn bom, nhằm cung cấp những tin tức từ trong nước và thúc đẩy phong trào tranh đấu cho hòa bình ngày càng lớn mạnh khắp châu Âu và Mỹ. Sau một ngày làm việc cho các hoạt động hòa bình và xã hội, vào buổi tối cả cộng đồng nhỏ đó có cơ hội ngồi ăn cơm với nhau trong chánh niệm, rửa chén trong chánh niệm, hát và ngồi thiền trong im lặng. Thầy hướng dẫn cả nhóm thực tập thiền hành ngoài trời, và chủ trì những buổi tụng giới của dòng tu Tiếp hiện – đây là nguyên tắc đạo đức mới mẻ, thể hiện tinh thần dấn thân và là ngọn đuốc dẫn đường cho mọi người. Mỗi tuần, họ tổ chức một buổi thiền chánh niệm công cộng trong hội trường của nhóm Quaker gần đó (tại Vaugirard Boulevard), thu hút những người trẻ Tây phương muốn tới tìm hiểu. Khi đã tìm được một chỗ rộng rãi hơn để làm văn phòng ở Sceaux[v], họ đã sử dụng không gian ở Goutte d’Or này để làm nơi tọa thiền.

Tháng 8 năm 1971, các bạn của Thầy đã tìm cho phái đoàn một nông trại nhỏ, đổ nát ở miền quê Fontvannes, cách Paris khoảng 2 giờ lái xe, không xa Forêt d’Othe cho lắm[vi]. Vào cuối tuần, họ bắt đầu về đó để tĩnh tu, nghỉ ngơi và làm mới lại thân tâm. Họ thực tập thiền hành trong rừng, làm vườn, trồng rau và bắt đầu sửa chữa lại các tòa nhà. Nơi đây được gọi là Phương Vân Am. Để cho người Tây Phương dễ nhớ, nơi đây còn được gọi là Les Patates Douces hay Sweet Potatoes (Khoai Lang) để nhớ tới người dân nghèo Việt Nam, chỉ có khoai lang là món rẻ tiền nhất ăn thay cơm khi đói[vii].

 

[i] OXFAM là một liên minh quốc tế gồm 19 tổ chức cùng phối hợp hoạt động tại trên 90 quốc gia trên thế giới nhằm hỗ trợ cho công tác xóa đói giảm nghèo và đấu tranh cho bình đẳng.

[ii] Các tổ chức nhân đạo như: F.O.R., The Third Way in Vietnam, Friends Quaker House, Christian Aid, Save the Children, Help the Aged, Huddersfield Famine Committee, Comité pour les Enfants du Vietnam, Swedish International Development Aid (SIDA), War Resistance International (WRI), Mouvement Chrétien pour la Paix (MCP), Hiflt fur Vietnam (Help for Vietnam in Germany), và nhiều tổ chức khác.

[iii] Xin xem sách Learning True Love của Sư cô Chân Không, tr. 306 – 307

[iv] Nguồn: Bài viết của Jim Forest với tựa đề “Only the Rice Loves You: a month with Thich Nhat Hanh in Paris,”  (“Chỉ có cơm thương mình thôi: Một tháng cùng sống với Thầy Nhất Hạnh”) – 1972.

[v] Tại số 69 Desgranges, Sceaux

[vi] Làng Mai qua năm tháng

[vii] Thời gian này, phái đoàn gồm có Thanh Hương, Chơn Hòa, Chơn Ngữ, Laura Hassler, Mobi Warren, Lợi, Thoa, Raphael Ruiz, Pierre Marchand, Neige Achiary, Jim Forest, Marie Emmeny and một số người khác. Thường thì có khoảng 10 người, cùng nhau thực tập thiền tọa, thiền hành, tụng giới và pháp đàm. Để tìm hiểu thêm về Phương Vân Am, xin đọc bài Làng Mai qua năm tháng.

Tình huynh đệ: Tình bạn với Mục sư Martin Luther King Jr.

Tháng Giêng năm 1967, sáu tháng sau lần gặp gỡ lần đầu tiên, Mục sư King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa Bình. Mục sư nói: “Những phát kiến cho hòa bình của thầy Nhất Hạnh, nếu được thực hiện, sẽ dựng lên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”[i]. Vài tháng sau, vào ngày 4 tháng 4 năm 1967, trong bài diễn văn quan trọng “Beyond Việt Nam” tại nhà thờ Riverside, Mục sư King đã trích dẫn những đoạn trong cuốn Hoa sen trong biển lửa của Thầy. Đó là lần đầu tiên ông dứt khoát lên án chiến tranh và đi đến quyết định kết hợp phong trào đấu tranh cho hòa bình với phong trào dân quyền. Mục sư King đã chia sẻ thông điệp hào hùng của Thầy: “Kẻ thù của chúng ta không phải con người. Kẻ thù của ta là sự hận thù, kỳ thị, cuồng tín và bạo động”. Và khi Mục sư King xuống đường biểu tình chống chiến tranh, ông đã đi dưới tấm biểu ngữ có dòng chữ Kẻ thù ta đâu có phải là người. Giết người đi thì ta ở với ai? viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt[ii].

Tại Geneva tháng 05 năm 1967, Thầy và Mục sư King gặp nhau lần thứ hai, và cũng là lần cuối, trong hội nghị Pacem in Terris (Hòa Bình trên Trái đất) do Hội đồng các Giáo hội Thế Giới (World Council of Churches) tổ chức. Trong cuộc gặp này, Thầy và Mục sư King tập trung thảo luận về hướng đi xây dựng một “cộng đồng yêu quý”, xây dựng tình thân hữu giữa các dân tộc và các quốc gia dựa trên nguyên tắc bất bạo động, hòa giải, công bằng, bao dung và không kỳ thị. Cả hai đều thấy rằng đây không phải là một giấc mơ không tưởng, mà là một mục tiêu thực tế có thể đạt được khi số đông quần chúng tuân thủ theo những nguyên tắc và phương pháp sống hòa bình và bất bạo động. Theo hướng đi đó, tất cả mọi hoạt động tranh đấu và dấn thân đều phải dựa trên tinh thần bất bạo động, luôn đi theo đường hướng hòa giải, đoàn kết, nuôi dưỡng tình thương để có thể chuyển thù thành bạn và giúp xây dựng “cộng đồng yêu quý”[iii]. Tại Geneva, Thầy đã có dịp nói với Mục sư King: “ Mục sư có biết rằng ở Việt Nam người ta xem mục sư như là một vị Bồ tát hay không? Một người suốt đời tranh đấu cho nhân quyền, và đã đứng ra lên tiếng chống lại sự tàn sát ở Việt Nam. Vì vậy mà ở Việt Nam người ta coi mục sư là một vị Bồ tát, nghĩa là một người mang hết tất cả sức mình, hết năng lượng của mình để làm những việc có thể làm vơi được những đau khổ của chúng sanh”[iv].

Gần một năm sau thì Mục sư King bị ám sát. Thầy đang ở Hoa Kỳ thì nhận được tin dữ này. Sự ra đi đầy thương tâm của một người bạn, một người tri kỷ có cùng nhiệt tâm, cùng một hướng đi đã tác động đến Thầy một cách sâu sắc. “Tôi cảm thấy hoàn toàn suy sụp. Tôi không thể ăn, không thể ngủ. Tôi đã phát nguyện là sẽ tiếp tục xây dựng cái mà Mục sư King gọi là cộng đồng yêu quý, không chỉ cho chính tôi, mà cho cả ông ấy. Tôi đã và đang thực hiện lời hứa đó với mục sư King. Và tôi luôn cảm thấy sự yểm trợ của ông dành cho tôi”[v].

Cuối tháng Giêng năm 1968, khi Thầy đang ở New York thì được tin cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân ở Việt nam. Cuộc giao chiến và tàn phá xảy ra nặng nề nhất ở Huế, nơi chiến sự kéo dài hơn cả tháng. Hàng ngàn dân thường bị tàn sát. Chị Phượng và các cộng sự khác của trường TNPSXH viết thư kể cho Thầy về sự tàn bạo của đợt tấn công này. Đường phố đầy xác người chết. Chị và các bạn điều động tình nguyện viên đi nhặt xác và đào các hố chôn tập thể[vi]. Trong khi đó, khuôn viên của trường TNPSXH đã trở thành trại tị nạn cho hàng ngàn người. Sau cuộc bạo động này, nhiều vị tôn túc trong Giáo hội đã bị bắt giam. Hòa thượng Thích Đôn Hậu, người đã truyền giới lớn cho Thầy, đã bị bắt cóc mang ra Bắc. Nhiều chùa bị dội bom. Chùa Từ Hiếu cũng không tránh khỏi tình trạng bị bom đạn bắn phá. Không lâu sau đó, người thầy kính yêu của Thầy, Thiền sư Thích Chân Thật, viên tịch. Trong giờ phút cuối, Sư Ông đã nằm trong thế sư tử tọa, hai tay chắp lại thành búp sen. Sau này Thầy ghi lại: “Thầy trò mình cũng mong ước thực tập được như Sư Ông, giữ gìn chí nguyện và Tâm Ban Đầu cho nguyên vẹn trong suốt một đời tu”[vii]. Trong di chúc để lại, Thiền sư Thích Chân Thật đã đề cử Thầy tiếp nối làm trú trì chùa Từ Hiếu[viii]. Thầy không thể về dự tang lễ – các bạn của Thầy sợ Thầy sẽ bị nguy hiểm đến tánh mạng khi trở về Việt Nam. Họ thuyết phục Thầy ở lại ngoại quốc, tiếp tục kêu gọi hòa bình và vận động một mạng lưới quốc tế yểm trợ cho công tác nhân đạo của trường TNPSXH.

 

 

[i]  Mối tình tri kỷ

[ii] Điển hình như trong cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam vào ngày 25.3.1967 tại Chicago  (Los Angeles Sentinel)

[iii] Để hiểu thêm về giấc mơ xây dựng Cộng đồng Yêu quý của Mục sư King, xin xem tại đường link này: http://www.thekingcenter.org/king-philosophy#sub4

[iv]  Ai là người tri kỷ

[v] Trích từ tác phẩm At Home in the World (2016), “Martin Luther King Jr., Bodhisattva

[vi] Trích từ tác phẩm Con đường mở rộng  (chương 10: Tết Mậu thân) của Sư cô Chân Không

[vii] Trích Thư Thầy ngày 13.10.2009 với tựa đề Âm thanh huyền diệu của chiếc hồ cầm

[viii] Thầy là người đệ tử duy nhất được Sư Ông – Hoà thượng Thích Chân Thật – phú pháp truyền đăng và phó thác làm trú trì chùa Từ Hiếu. Từ khi được thành lập bởi Tổ khai sơn Tánh Thiên Nhất Định, chùa Từ Hiếu chỉ có 4 vị được chính thức phó thác làm trú trì:

  1. Hải Thiệu Cương Kỷ (1810-1899)
    HT.
    Thanh Thái Huệ Minh (1861-1939)
    HT
    . Thanh Quý Chân Thật (1884-1968)
    HT. Trừng Quang Nhất Hạnh (1926 – )

 Phụ tá cho vị trú trì là vị Giám tự: HT. Thích Huệ Đăng (1930-1892); HT. Thích Tâm Tịnh (1868-1927); HT. Thích Chí Niệm (1918-1979), sư đệ của Thầy; HT. Thích Chí Mậu (1948-2009), sư đệ của Thầy; TT. Thích Từ Đạo (1955-), đệ tử của HT. Thích Chí Mậu.