Lịch học tháng 9/2022 của khoá giảng “Trái tim của thiền tập Làng Mai” do thầy Pháp Niệm hướng dẫn

Kính thưa đại chúng,

Khoá giảng “Trái tim của thiền tập Làng Mai” được thầy Pháp Niệm chia sẻ về nội dung “14 bài kệ Chỉ Quán” đang tiếp tục được diễn ra.

Vào tháng 9/2022 này, Thầy sẽ có 2 buổi giảng vào mỗi 9:00 sáng (giờ Thái Lan) các ngày Chủ nhật 04/09 và 18/09/2022.

Đại chúng có thể lưu lại lịch học tháng này và cập nhật đường dẫn Zoom để có thể tham dự được trọn vẹn với tăng thân.

Buổi học tiếp theo sẽ được truyền trực tiếp từ Tu viện Vườn Ươm, Làng Mai tại Thái Lan lúc 9:00 sáng Chủ Nhật ngày 04/09/2022. Và sẽ được phát trực tiếp qua Zoom và trên kênh Youtube Làng Mai.

Dưới đây là đường dẫn Zoom của lớp học:
 
 

Mã truy cập: 950 6932 0468
Mật khẩu: 123456

 

Và đây là chuỗi liên kết các bài giảng của khoá học trên Youtube Làng Mai:

 

 

Kính cám ơn đại chúng.

Làm sao để tha thứ?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Tha thứ là hoa trái của hiểu biết. Ðôi khi, mặc dù ta muốn tha thứ cho một người, ta không thể làm được. Thiện chí muốn tha thứ có đấy, nhưng sự chua chát và đau khổ cũng còn đấy. Với tôi, tha thứ là kết quả của sự nhìn sâu và hiểu biết.

Một buổi sáng trong văn phòng chúng tôi ở Paris trong thập niên bảy mươi và tám mươi, chúng tôi nhận được nhiều tin buồn. Một bức thư đến, kể rằng một em bé gái mười một tuổi đi trên một chiếc thuyền vượt biển từ Việt Nam, đã bị bọn hải tặc hãm hiếp. Khi người cha cố can thiệp thì chúng nó vứt ông xuống biển. Vì vậy em bé gái cũng nhảy xuống biển và chết đuối . Tôi nổi giận. Là một con người, bạn có quyền nổi giận; nhưng là một người biết thực tập, bạn không có quyền ngưng thực tập.

 

 

Tôi không ăn sáng được; tin tức đã tràn ngập tôi. Tôi thực tập thiền hành trong khu rừng kế cận. Tôi cố tiếp xúc với cây, với chim và bầu trời xanh để an tịnh tâm hồn, và rồi tôi ngồi xuống để thiền định. Tôi ngồi thiền khá lâu .

Trong lúc ngồi thiền, tôi thấy mình là một em bé sinh ra trên vùng bờ biển Thái Lan. Cha tôi là một người đánh cá nghèo, mẹ tôi là một người vô học. Quanh tôi đầy cảnh nghèo khó. Khi tôi mười bốn tuổi, tôi phải làm việc cùng với cha tôi trên chiếc thuyền đánh cá để mưu sinh; làm việc rất nhọc nhằn. Khi cha tôi mất, tôi phải làm thay cha tôi để nuôi sống gia đình.

Một người đánh cá tôi quen cho tôi biết rằng nhiều thuyền nhân Việt Nam đi vượt biên, mang theo nhiều của quý, như vàng và nữ trang. Anh ta đề nghị rằng nếu chúng tôi chận đánh chỉ một trong những chiếc thuyền ấy và lấy được một số vàng thì chúng tôi sẽ giàu. Là một người đánh cá nghèo, còn trẻ, không có học thức, tôi bị anh ta cám dỗ. Và một hôm tôi quyết định đi theo anh ta để cướp thuyền nhân. Khi tôi thấy anh ta hiếp một người đàn bà trên thuyền, tôi cũng bị cám dỗ làm theo. Tôi nhìn quanh và khi thấy không có gì ngăn cản, không cảnh sát, không ai hăm dọa; tôi tự nói: “tôi cũng làm như vậy được, chỉ một lần thôi.” Ðó là vì sao tôi trở thành một tên cướp biển đi hãm hiếp một em bé gái.

Bây giờ giả sử bạn ở trên thuyền đó và bạn có một cây súng. Nếu bạn bắn tôi và giết tôi, hành động của bạn sẽ không giúp gì được tôi . Suốt đời tôi, không ai giúp tôi và suốt đời cha mẹ tôi cũng không ai giúp ông bà. Là môt đứa bé, tôi không được đi học. Tôi chơi với những đứa trẻ hư hỏng, và lớn lên tôi thành một người đánh cá nghèo khổ. Không một nhà chính trị hay giáo dục nào giúp tôi bao giờ. Và vì không ai giúp nên tôi trở thành một tên cướp biển. Nếu bạn bắn tôi thì tôi chết.

Ðêm ấy, tôi thiền quán về điều này. Tôi lại thấy mình là một chàng đánh cá trẻ trở nên một tên hải tặc. Tôi cũng thấy hàng trăm em bé sinh ra đêm ấy trên vùng dọc theo bờ biển Thái lan. Tôi nhận thấy rằng nếu không ai giúp những em bé này lớn lên có học vấn và có cơ hội sống đời sống đứng đắn, thì trong vòng hai mươi năm nữa, những em bé này cũng sẽ thành những tên hải tặc. Tôi bắt đầu hiểu rằng nếu tôi sinh ra làm một chú bé trong làng đánh cá ấy, tôi cũng đã trở thành một tên hải tặc. Khi tôi hiểu được như vậy cơn giận của tôi đối với những tên hải tặc tan biến mất.

Thay vì nổi giận chàng đánh cá, tôi cảm thấy có lòng từ bi đối với anh ta. Tôi nguyện nếu tôi có thể làm được gì để giúp những em bé sinh ra đêm ấy trên vùng bờ biển Thái lan, thì tôi sẽ giúp. Năng lượng của cơn giận đã được chuyển hóa thành năng lượng của từ bi nhờ thiền quán. Ta không thể tha thứ nếu không hiểu biết, và hiểu biết là hoa trái của sự nhìn sâu mà tôi gọi là thiền quán.

Lời khấn nguyện đầu năm 2022

 

Kính lạy Sư Ông,

Kính lạy chư vị Tổ tiên tâm linh và huyết thống của chúng con,

Kính lạy Đất Mẹ – Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa,

Trong giờ phút linh thiêng khởi sự cho Năm Mới, chúng con tập họp lại đây như một gia đình tâm linh để cùng dâng lên Sư Ông, Đất Mẹ và chư vị tổ tiên lòng biết ơn và nguyện ước sâu sắc của chúng con. Chúng con cũng xin thành tâm sám hối những lầm lỗi mà chúng con đã gây ra trong năm qua. Chúng con ý thức chư vị tổ tiên, Sư Ông đang hiện diện nơi đây trong giờ phút này và luôn là nơi nương tựa vững chãi cho tất cả chúng con.

Trong năm qua, chúng con đã để cho năng lượng hoang mang trên thế giới tưới tẩm hạt giống bất an, lo lắng và sợ hãi nơi tự thân. Có những lúc chúng con không quay về nương tựa nơi sự thực tập. Chúng con đã để cho những cảm xúc mạnh và tri giác sai lầm trấn ngự, khiến chúng con cảm thấy cô đơn, xa cách và tuyệt vọng, đôi khi còn mất niềm tin nơi gia đình và tăng thân. Ý thức được điều đó, chúng con xin sám hối và tự nhắc nhở mình về lời cam kết thực tập kiên nhẫn, từ bi, bao dung và buông bỏ kiến chấp mà chúng con đã phát nguyện. Chúng con biết chỉ cần thực tập hơi thở, bước chân chánh niệm và nương tựa tăng thân cho rốt ráo là chúng con có thể là một sự tiếp nối xứng đáng của Sư Ông và của chư vị tổ tiên tâm linh rồi.

Trong năm qua, loài người chúng con đã tiếp tục để cho sự tham lam, thèm khát và tiêu thụ trấn ngự. Chúng con tiếp tục chạy theo danh vọng, quyền hành, sở hữu vật chất và các tiện nghi tình cảm mà quên rằng những cái đó không thể nào mang lại chân hạnh phúc và tự do đích thực. Chúng con đã gây ra những tổn hại cho chính mình và làm những kỳ quan, cảnh đẹp và sự quân bình trên trái đất  tổn thương trầm trọng. Trong năm mới, chúng con xin tập sống đơn giản hơn, tiêu thụ ít lại, sống sâu sắc với lòng biết ơn, và luôn nhớ rằng chúng con đã có quá đủ những điều kiện để sống hạnh phúc ngay trong hiện tại.

Trong năm qua, chúng con cũng tiếp tục để cho sự cuồng tín và cố chấp chia rẽ đại gia đình nhân loại. Chúng con đã gây khổ đau cho nhau, kỳ thị nhau trên căn bản của tôn giáo, quan điểm, dân tộc và quốc gia. Sợ hãi và vô minh đã làm chúng con trở nên hẹp hòi, thờ ơ với những người bất hạnh và để cho xã hội càng lúc càng trở nên quân sự hóa. Chúng con quên rằng chúng con là tương tức, rằng hạnh phúc và khổ đau của mình liên quan đến hạnh phúc và khổ đau của người khác. Trong năm mới, chúng con cam kết sẽ làm hết sức mình để áp dụng tuệ giác tương tức vào đời sống, giúp chuyển hóa tận gốc rễ sự sợ hãi tập thể này và thực tập giúp đỡ những người đang đau khổ.

Chúng con xin lạy xuống để thể hiện lòng biết ơn của chúng con đối với Sư Ông, với chư vị tổ tiên và với Đất Mẹ. Chúng con vô cùng biết ơn liệt vị đã cho chúng con một con đường tu tập và một gia đình tâm linh để nương tựa. Chúng con đã nếm được niềm vui, sự bình an và chuyển hóa trên con đường tu tập. Và chúng con ý thức rằng cùng với nhau, chúng con có thể đối diện được mọi khó khăn, thử thách và thực hiện được ước nguyện của mình. Chúng con tin rằng ai trong chúng con cũng đều có tuệ giác vô phân biệt, đại bi, chánh nghiệp, vô úy do chư vị tổ tiên trao truyền lại. Trong giờ phút trang nghiêm này, chúng con xin phát nguyện sẽ hết lòng thực tập và đầu tư tất cả năng lượng của chúng con để xây dựng cho tăng thân vững mạnh, để mở rộng con đường cho thế hệ của chính chúng con và cả cho các thế hệ mai sau.

Chúng con kính dâng lên chư vị hương hoa, quả phẩm để bày tỏ lòng biết ơn và hiếu thảo của chúng con.

Sinh hoạt năm 2022

 

Con đã biết thế nào là hạnh phúc chân thực

Bố mẹ và cả nhà thương mến,

Tháng 12 lại về, theo truyền thống phương Tây mùa giáng sinh hay còn gọi là mùa vọng, là mùa của Lòng Biết Ơn bắt đầu từ ngày Lễ Tạ Ơn và xuyên suốt tháng 12 mọi người sẽ cùng hướng vọng về những điều mình biết ơn. Giáng sinh là khi những ánh đèn lung linh lấp lánh được thắp lên, tiếng chuông nhà thờ reo vang, những bông tuyết rơi trắng xoá, và là khi tất cả các con chiên hướng vọng về Chúa, với niềm biết ơn một năm đã qua và nguyện cầu bình an hạnh phúc cho một năm mới. Con thấy đây là một truyền thống rất đẹp và ý nghĩa, cũng giống với tập tục đi chùa đầu năm trong truyền thống đạo Phật của châu Á mình. Và dù là tôn giáo nào, mục đích cuối cùng đều là hướng con người tới đời sống chân thiện mỹ, sống chân thành, thật thà, ý nghĩa, biết yêu thương muôn người và muôn loài.

 

 

Vậy là đã thấm thoát 7 năm con xa nhà, xa vòng tay của bố mẹ để đi Đức học và làm việc. Nhìn lại 7 năm qua, lòng con dâng trào niềm biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ và quê hương Việt Nam đã nuôi lớn con, và cả quê hương thứ hai mà con may mắn có được đó là nước Đức, nơi đã cho con cơ hội được trưởng thành, học hỏi được rất nhiều điều ý nghĩa và được gặp rất nhiều nhân duyên lành. 

Hôm nay con có buổi sinh hoạt tăng thân dịp cuối năm, do tình hình dịch bệnh nên chúng con sinh hoạt trực tuyến qua Zoom. Con có ghi lại vài hình ảnh của tăng thân để chia sẻ và giới thiệu với bố mẹ gia đình tâm linh đã luôn chở che, bảo bọc, nâng đỡ, soi sáng và yêu thương con trong suốt một năm qua. Chúng con dù không cùng chung máu mủ, tuổi tác khác nhau, mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi người mỗi vất vả bộn bề riêng của cuộc sống mưu sinh giữa đất khách quê người, nhưng chúng con có cùng chí nguyện tu tập theo các phương pháp của Sư Ông Thích Nhất Hạnh để chuyển hoá những khổ đau và chế tác được hạnh phúc chân thật; cùng nguyện học Hiểu và Thương và hướng đến lối sống lành, thiện, đẹp cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng và cho cuộc đời này.

Con may mắn, nhờ phước đức tổ tiên, ông bà, bố mẹ, mà có được cơ hội tu tập, biết đến đạo Phật, được quý thầy, quý sư cô ở Làng Mai dìu dắt, nâng đỡ cho con trong sự thực tập. Và còn được cả tăng thân yểm trợ, yêu thương từ cô Thoa, cô Loan, cô Yến, cô Hiền, chị Mỹ, chị Nhiên Ảnh, chị Tuyền, chị Châu, anh Tâm, anh Việt, chị Mỹ Bình, em Hoàng Yến, em Mỹ Nga, em Nụ, cô Tiên Răng Thiên Kim, chú Trí,… Mỗi người đều đã có mặt và yểm trợ cho con bằng tất cả tấm lòng của mình. Người thì xin nghỉ phép mấy ngày liền giúp con chuyển nhà, người thì cho con cái nồi, cái giường, cái máy giặt, cái bàn, lắp ráp tủ đồ; người thì giúp con và động viên con những lúc khó khăn thăng trầm trong cuộc sống, nhiều không kể xiết những điều may mắn mà con đã nhận được… Nhưng hơn tất cả, là tình yêu thương mà mọi người dành cho con. Con may mắn vì không chỉ có gia đình huyết thống bố mẹ anh em yêu thương con, mà còn có những người cha người mẹ người anh người chị người em trong gia đình tâm linh luôn chở che, yêu thương và nâng đỡ con. Họ là những vị Bồ Tát giữa đời thực bằng xương bằng thịt mà con may mắn được tận mắt chứng kiến chứ không phải những tượng Phật bằng đá trên chùa; là những người không quản ngại khó khăn mưa nắng, luôn dốc tâm dốc lòng phụng sự cho đời, luôn yêu thương mọi người mọi loài chúng sanh, và thực tập hạnh nguyện “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”, sống vô cùng an lạc thảnh thơi và hạnh phúc. Ai cũng là một tấm gương sáng cho con noi theo tu tập và hoàn thiện mình.

 

 

Con rất biết ơn bố mẹ đã sinh ra con trong cuộc đời này và cũng biết ơn đời vì cho con cơ hội được sống hạnh phúc, no ấm, đủ đầy. Con biết ơn đạo Phật vì cho con cơ hội có một con đường tu tập để nuôi dưỡng những phẩm chất lành thiện và tìm được hạnh phúc đích thực trong chính tự tâm mình. Hạnh phúc chân thật không phải là của cải, danh vọng, địa vị, quyền lực, nhà lầu, xe sang, quần áo đẹp, mà hạnh phúc chân thật chính là THƯƠNG YÊU, đó là khi con biết yêu thương chính mình hơn – biết quay về chăm sóc những nỗi khổ niềm đau của mình và biết gốc rễ khổ đau của mình từ đâu mà ra để chuyển hoá. Hạnh phúc là khi con biết yêu thương gia đình mình, hiểu những nỗi khổ niềm đau của bố mẹ, các anh chị để con thương cả nhà mình nhiều hơn. Và để con biết yêu thương bạn bè đồng nghiệp, biết yêu thương muôn người và muôn loài, chỉ cần biết trao yêu thương mà không mong đền đáp. Hạnh phúc của con là khi được làm mẹ đỡ đầu cho 27 bé mồ côi ở làng trẻ SOS Cà Mau, được giúp đỡ các bé Nhà May Mắn ở Đăk Nông có điều kiện đến trường, được góp sức xây thư viện cho các trẻ em nghèo miền Trung và được may mắn chia sẻ hàng ngàn bữa ăn cho những trẻ em bị thiếu đói ở châu Phi. Con cũng hạnh phúc khi có thể giúp đỡ được cô bé đồng nghiệp vượt qua giai đoạn trầm cảm; biết hiến tặng những nụ cười thật tươi cho những người con gặp trên đường đi làm. Hạnh phúc trở nên thật hơn và ý nghĩa hơn khi con biết nhận diện ra được mình may mắn biết bao khi có trái tim khoẻ mạnh, trong khi mỗi năm có tới hơn 15.000 trẻ em sinh ra ở Việt Nam bị mắc bệnh tim bẩm sinh và 80% trong số đó không sống được đến năm 18 tuổi, nên con đã điền đơn xin hiến toàn bộ nội tạng và mô sau khi qua đời. Hạnh phúc đong đầy hơn khi mỗi ngày con còn được sống, hay đơn giản là được hít thở không khí trong lành, được nhìn thấy trời xanh mây trắng, được thọ nhận biết bao ơn phước thương yêu của đất trời vũ trụ, nhờ công ơn sinh thành của bố mẹ, vì vậy mà con nguyện sống một đời sống ý nghĩa hơn. Nhờ tu tập, con thấy trái tim mình rộng lớn hơn từng chút từng chút một, con thấy mình quá may mắn và hạnh phúc tràn ngập trong mỗi phút giây cuộc đời, và con khao khát được san sẻ yêu thương may mắn đó cho tất cả mọi người!

 

 

Bố mẹ ơi, con đang sống rất hạnh phúc và bình yên. Thương chúc bố mẹ và cả gia đình mình ở Việt Nam luôn mạnh khoẻ, thảnh thơi và trái tim luôn tràn đầy tình yêu thương.

Con yêu Bố Mẹ, mùa Giáng Sinh từ nước Đức thương yêu! 

Con Tâm Quy Nguyện

Mình có đang thật sự sống không?

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Một số người trong chúng ta cảm thấy rằng đời sống của họ không có ý nghĩa, không đáng sống. Họ đau khổ vì không có hướng đi. Dầu ta giàu có cách mấy, có nhiều quyền uy trong tay, nhưng nếu tâm trí ta bị rối loạn, không có hướng đi rõ ràng thì ta là người đau khổ nhất trên đời. Nếu ta có hướng đi ý nghĩa cho cuộc sống, hướng đi ấy thể hiện được lòng từ bi của ta, thì ta sẽ biết cách giúp cho chính mình và mọi người quanh mình bớt khổ. Ta có cơ duyên tiếp nhận giáo pháp, có kinh nghiệm tu tập và biết rằng mỗi khi có những giây phút khó khăn thì giáo pháp có thể cứu giúp ta và mọi người ra khỏi tình huống khó khăn và tuyệt vọng. Giáo pháp có công năng đưa ta tới bến bờ của an lạc và giải thoát. Chỉ cần trở về tiếp xúc với khả năng tỉnh thức trong ta, có niềm tin nơi bản thân, thì an lạc, hạnh phúc tự nhiên phát sinh và điều đó làm cho ta hạnh phúc thật sự. Ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể có được khi ta có thật nhiều tiền, vợ đẹp, danh tiếng, quyền uy và địa vị trong xã hội, thỏa mãn được sự thèm khát về tình dục… Nhiều người trong chúng ta đã chạy theo con đường hưởng thụ dục lạc và họ nhận thấy rằng càng vướng vào sự thèm khát của ngũ dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành, sắc dục, thức ăn cao lương mỹ vị và ngủ mê bao nhiêu thì họ càng khổ bấy nhiêu. Ta thường cho rằng năm thứ dục lạc là những yếu tố tất yếu của hạnh phúc, nhưng bây giờ ta đã giác ngộ rằng hạnh phúc chân thực chỉ có thể có được khi mình có khả năng buông bỏ và thiết lập lại được tự do của nội tâm. Do đó đức Thế Tôn đã khuyên chúng ta phải thường xuyên thực tập nhìn sâu để hiểu bản chất chân thực của ngũ dục và học cách chế tác niềm vui và hạnh phúc lành mạnh để tự nuôi dưỡng mình. ”Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.” Đây không phải là sự mơ tưởng hão huyền mà là kết quả ta đạt được từ sự thực tập nhìn sâu vào ý niệm hạnh phúc của ta và tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, an vui và hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.

Niềm vui được phát sinh là nhờ ta biết thực tập buông bỏ – Ly sinh hỷ lạc. Rồi đến Định sinh hỷ lạc, tức là niềm vui và hạnh phúc được phát sinh nhờ khả năng chuyên chú, an trú trong Định. Ta đã được học về sự lợi lạc do Định đưa tới. Ví dụ khi ăn cam, ta ăn cam có hạnh phúc nhiều hay ít, điều đó tùy thuộc vào khả năng Niệm và Định của ta. Trong khi ăn cam, nếu ta an trú vững chãi, thiết lập Niệm, Định hùng hậu thì niềm vui và hạnh phúc sẽ rất lớn. Những điều kiện của hạnh phúc luôn có đó trong ta và quanh ta, nhưng vì tâm ta không an trú, không có Định nên ta không nhận diện được chúng. Có một cô thiền sinh sống ở Paris, cô rất thích pháp môn thiền đi. Nhưng sống trong một môi trường bận rộn, trong đó hầu hết mọi người đều chạy như bị ma đuổi nên cô cũng bị cuốn hút theo. Một hôm cô đi lên cầu thang máy cùng với một bà cụ; thấy bà cụ đi chậm rãi, không có vẻ gì vội vã; trông thấy cụ, tự nhiên cô ngẫm lại mình và nói: ”Mình có đang thật sự sống hay không? Sao mình cứ chạy hoài như vậy nè? Hình như mình đang sống như một người chết.” Bà cụ nhìn cô ta và nói: ”Đúng vậy. Nhưng cô còn trẻ, hai chân còn khỏe mạnh, còn có thể chạy nhảy mà. Còn tôi thì khác. Tôi già rồi. Tôi không thể chạy nhảy như cô được nữa. Nếu tôi chạy như cô thì e sẽ té nhào về phía trước mất.” Còn có đôi chân khỏe mạnh để đi, để chạy là một điều kiện của hạnh phúc. Có nhiều người muốn chạy nhưng họ không thể chạy được. Vậy thì, thay vì than phiền, quý vị nên vui mừng mới phải chứ. Chánh niệm làm phát sinh cái thấy và cái thấy ấy đem lại hạnh phúc. ”Thở vào, tôi biết hai chân còn khỏe, còn có thể chạy nhảy, đi đây đi đó. Thở ra, tôi mỉm cười hạnh phúc.” Niệm và Định là nền tảng làm phát sinh hạnh phúc.

 

 

Người lớn tuổi cũng có sự thuận lợi với tuổi già của họ. Nếu họ ý thức được những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt trong họ và chung quanh họ trong giây phút hiện tại thì họ sẽ rất hạnh phúc, vì họ chứng kiến được đời sống đi qua quá nhanh. Họ rất chín chắn, có khả năng thưởng thức từng giây phút của đời sống còn lại và trân quý những yếu tố tích cực trong họ. Họ không chạy ồ ạt như những người trẻ. Họ ngồi thật yên, im lặng và sống thật sâu sắc trong mỗi phút giây của đời sống còn lại. Lúc còn trẻ, ta giống như một dòng thác đổ ồ ạt từ đỉnh cao xuống tận đáy sâu của mặt đất. Và khi về già, ta trở thành một dòng sông thanh thản, nhẹ nhàng trôi chảy và phản chiếu được bầu trời xanh, mây trắng và lòng sông. Dòng suối trẻ trung đang tuôn trào như thác đổ kia không thể làm được việc phản chiếu. Nếu người lớn tuổi có khả năng nhận diện được những yếu tố tích cực trong đời sống của họ, thì họ cũng sẽ tiếp xúc được với hạnh phúc chân thực. Chúng ta cần chế tác năng lượng chánh niệm để nhận diện những yếu tố của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại và năng lượng của Định giúp ta sống sâu sắc với những yếu tố ấy. Định tức là khả năng chuyên chú lâu bền với đối tượng thiền quán, nghĩa là tâm ý không bị tán loạn. Định làm phát sinh niềm vui và an lạc và duy trì niềm hạnh phúc ấy lâu dài. Định sinh hỷ lạc là nền tảng của hạnh phúc. Nếu biết xử lý hai mươi bốn giờ đồng hồ trong ngày của ta một cách khéo léo thì ta sẽ thấy rằng một ngày để sống là nhiều lắm. Ta cảm thấy một ngày dài vô tận là nhờ khả năng an trú trong Định. Còn nếu sống trong thất niệm – thân ở chỗ này tâm ở chỗ khác thì ta đánh mất ta, đánh mất sự sống. Một ngày đi qua trong quên lãng tức là một ngày uổng phí. Và ta thấy một ngày trôi qua sao mà nhanh chóng và vô vị quá. Những người lớn tuổi thì khác, họ thường sống trong sự định tỉnh nhiều hơn những người trẻ. Với năng lượng của Niệm và Định, người lớn tuổi biết trân quý từng giây phút của sự sống đang ban tặng cho họ. Mỗi giây phút của sự sống hàng ngày có thể trở thành một câu chuyện cho con cháu của họ. Đây là một sự thật. Bụt đã làm được điều đó. Bụt đã không để lại cho chúng ta những mớ giáo lý có tính cách lý thuyết, trừu tượng, siêu hình, mà Người đã để lại cho chúng ta một gia tài kinh nghiệm sống của Người. Mỗi bước chân của Bụt tỏa chiếu sự an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Lòng từ bi của Bụt không chỉ bao trùm đến mọi người và mọi loài trong thời đại của Người, mà còn cho cả thời đại của chúng ta nữa.

Tại Á Châu, vào ngày Phật Đản hay ngày mừng tuổi ông bà, người ta thường mua chim, cá v.v… để phóng sinh. Đó là phép thực tập không giết hại của giới thứ nhất trong trong Năm Giới. Đó là nhờ lời dạy về lòng yêu thương của Bụt. Tôi đã đề nghị với các bạn thuộc tín đồ Ki Tô Giáo thực tập phóng sinh thay vì giết gà lôi để ăn mừng trong mùa Lễ Giáng Sinh. Tôi tin rằng đức Ki Tô sẽ rất hài lòng khi thấy các tín đồ của mình yểm trợ trồng thêm cây thông, trồng rừng để bảo vệ môi trường thay vì chặt những cây thông để làm cây Noel mừng Lễ Giáng Sinh. Dù là tín đồ của đức Ki Tô hay Phật tử, chúng ta nên quán chiếu để có cái thấy thật sâu sắc về giá trị của sự sống và nói lên tiếng nói yêu thương của mình để bảo vệ sự sống thay vì góp tay tàn phá sự sống. Tàn phá sự sống quanh mình tức là tự hủy diệt chính mình, là làm tổn hại đến lòng từ bi trong tự thân và cướp đi môi trường sống của kẻ khác, của các thế hệ tương lai. Người không biểu lộ được lòng từ bi là người không có hạnh phúc. Vào ngày lễ Phật Đản, ở các nước như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện và những nước Phật Giáo Á châu khác, dân chúng dâng cúng thật nhiều các thức ăn chay ở các chùa chiền, tự viện để bày tỏ niềm biết ơn đối với Tam Bảo và để bày tỏ lòng thương yêu của mình đối với mọi loài chúng sinh. Người nào tới chùa ngày hôm đó đều được thừa hưởng, không có một ai bị bỏ đói. Là đệ tử Bụt, tôi mong rằng chúng ta có thể tưởng niệm ngày Bụt Đản Sinh mỗi ngày để trên thế giới này sẽ không còn ai bị đói khổ nữa. Truyền thống này xuất phát từ lòng từ bi của Bụt. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở và mỗi lời nói của Bụt đều chuyên chở năng lượng chánh niệm, hiểu biết và thương yêu. Các đệ tử của Người đã thừa kế được nguồn năng lượng thương yêu, hiểu biết và giác ngộ của Người. Nếu thực tập giỏi thì họ có thể trao truyền nguồn năng lượng từ bi, trị liệu và hạnh phúc về cho thế hệ tương lai.

Chúng ta phải tập sống cho thật sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Khi uống nước hay lúc ẵm em bé trong vòng tay hoặc ngồi bên cạnh người thương, nếu ta thiết lập chánh niệm vững vàng, có Định thì sự sống trở thành rất thật đối với ta và niềm vui, hạnh phúc tự dâng được phát sinh. Vì vậy Bụt mới nói rằng niềm vui và hạnh phúc được phát sinh do định lực, tức là khả năng chuyên chú hoàn toàn vào một đối tượng của ta – Định sinh hỷ lạc.

 

 

Có khi ta cần bạn để giúp ta nhận diện được những yếu tố của hạnh phúc mà ta đang có. Đó là lý do tại sao ta cần có Tăng thân. Ta biết rằng Tăng thân có thể dìu dắt và nâng đỡ ta rất nhiều trên con đường thực tập. Với sự thành tâm, ta nên thường xuyên thỉnh cầu Tăng thân soi sáng cho sự thực tập của ta. Và đây là văn thỉnh cầu: ”Kính thưa đại chúng, xin đại chúng từ bi soi sáng, dẫn dắt và nâng đỡ cho con. Con thành tâm thỉnh cầu đại chúng soi sáng cho con để con thấy được những yếu kém của con mà tu tập chuyển hóa.” Với sự thỉnh cầu tha thiết của ta, đại chúng sẽ ngồi lại và cùng nhìn sâu vào ta, chỉ cho ta thấy những yếu tố tích cực và sự yếu kém của ta để giúp ta tu tập chuyển hóa. Pháp môn Soi Sáng rất mầu nhiệm. Pháp môn này không những chỉ đem lại lợi lạc cho đương sự đang thỉnh cầu sự soi sáng mà cho cả những người đang thực tập soi sáng cho đương sự. Đại chúng thực tập nhìn sâu vào người đang được soi sáng với tình thương và lòng lân mẫn và soi sáng cho người ấy, chỉ cho người ấy biết những điểm tích cực và những yếu kém để tu tập chuyển hóa, nhờ vậy mà người ấy tiến bộ rất nhiều sau khi được soi sáng.

Ta hạnh phúc khi được đại chúng công nhận và chỉ cho ta thấy những điểm tích cực của ta. Ta nghĩ: “Mình đang trang bị cho chính mình với những yếu tố tích cực làm niềm vui cho sự tu tập và nuôi dưỡng những ai đến trong cuộc đời của mình bằng những niềm vui ấy. Mình không chỉ thực tập cho riêng mình mà mình thực tập cho cả gia đình và xã hội.” Ta nên biết rằng mỗi khi tu tập, chuyển hóa và trị liệu được tự thân, thì ta sẽ trở thành nguồn suối an lạc và hạnh phúc cho rất nhiều người. Tiếp xúc và vun trồng năng lượng chánh niệm trong ta là quá trình thực tập hàng ngày chứ không phải là vấn đề trừu tượng hay khái niệm mơ hồ. Chánh niệm là nguồn ánh sáng có công năng soi đường chỉ lối và nuôi dưỡng ta. Pháp là những lời Bụt đã nói và được ghi chép lại thành kinh; những lời dạy của Bụt không phải là một hệ thống giáo lý mang tính trừu tượng, hay triết lý mơ hồ. Pháp là một thực chất sống động. Nương vào những lời dạy của Bụt, chúng ta thực tập và chế tác ra chất liệu gọi là Pháp sống qua cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, làm việc, nói năng và lắng nghe trong chánh niệm. Đó là loại Pháp có thực chất và có công năng nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu thân tâm. Lắng nghe trong chánh niệm, lắng nghe với tâm từ bi sẽ đưa tới sự hiểu biết chân thực và thiết lập lại được sự truyền thông. Nếu các anh và các chị của ta biết lắng nghe ta với tâm từ bi, với tâm không thành kiến, không phán xét, không phản ứng, thì ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nếu mọi thành phần trong Tăng thân có khả năng đi, đứng, nằm, ngồi vững chãi, thảnh thơi và bình an, chuyển hóa được những khổ đau trong lòng, thì điều đó có nghĩa là Tăng thân đang vun trồng và tỏa chiếu chất liệu Pháp của tự thân. Pháp ấy đang có mặt trong mỗi giây mỗi phút của đời sống hàng ngày trong và quanh ta; trong từng hơi thở, bước chân, làm việc, nấu bếp, rửa chén… Pháp sống là những gì mà thế giới, gia đình và xã hội của ta đang cần. Chế tác chất liệu Pháp sống như thế là giúp ta và xã hội ta trở nên vững chãi, thảnh thơi và an bình hơn. Không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, vì niềm tin ấy được thiết lập từ kinh nghiệm trực tiếp của bản thân chứ không phải từ những mớ giáo điều hoặc giáo lý trừu tượng, siêu hình. Ví dụ như ta đã học và nắm vững được phương pháp làm đậu hũ, thì khi được giao phó công việc làm đậu hũ, ta sẽ không ngần ngại vì biết rằng ta có thể làm được. Không ai có thể lấy đi niềm tự tin ấy của ta. Niềm tin của ta đối với chánh Pháp cũng vậy. Ta đã chế tác được chất liệu Pháp sống trong ta. Ta biết rằng nhờ thực tập những lời dạy của Bụt mà ta đã vượt thắng được những khó khăn và phục hồi lại được sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc nơi tự thân. Do đó không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, bởi vì niềm tin ấy được phát xuất từ kinh nghiệm của chính bản thân. Ta phải luôn luôn tiếp tục vun trồng chất liệu Pháp sống trong đời sống tu tập hàng ngày để tạo dựng và nuôi dưỡng hạnh phúc cho tự thân và cho Tăng thân.

Tăng thân của ta không cần phải là một Tăng thân toàn hảo ta mới hạnh phúc. Tăng thân của Bụt ngày xưa không phải là đoàn thể toàn hảo, nhưng Người rất hạnh phúc. Hẳn nhiên, trong quá trình dựng Tăng, nuôi dạy đệ tử, Người phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng Người đã dùng tình thương và sự khéo léo của mình để giải quyết những khó khăn ấy một cách êm đẹp. Tôi cũng gặp những trường hợp khó khăn với các đệ tử của tôi, nhưng tôi rất hạnh phúc vì biết rằng các đệ tử của tôi, người nào cũng đang cố gắng hết khả năng của mình để tu tập chuyển hóa. Mọi người trong Tăng thân luôn luôn cố gắng thực tập thở, đi và làm việc trong chánh niệm. Tăng thân truyền cho nhau, yểm trợ nhau bằng năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm tức là chất thánh trong ta. Sở dĩ trong Tăng thân có được năng lượng thánh là nhờ mọi người cố gắng thực tập hết khả năng của mình. Vì vậy dựng Tăng là phép thực tập rất quan trọng của tất cả chúng ta. Chúng ta cần năng lượng tu tập của Tăng thân để nâng đỡ, dìu dắt và soi sáng cho nhau trên con đường thực tập. Và để cho sự thực tập của ta được duy trì lâu bền, ta phải tạo dựng một Tăng thân tại địa phương; nếu không, thì ta sẽ đánh mất sự thực tập rất mau chóng.

 

 

Có nhiều yếu tố có thể giúp ta tạo dựng một Tăng thân, ví dụ ta có thể chọn một quãng đường mòn dễ thương ở gần nhà để thực tập đi trong chánh niệm mỗi ngày hoặc chọn cái gối ngồi thích hợp và đặt tại một nơi thích ý nào đó trong nhà của mình để thực tập ngồi thiền mỗi ngày. Ta cũng có thể mời người thân của ta tu tập với ta như một Tăng thân nhỏ. Ta có thể mời các cháu, nắm tay các cháu để đi thiền ít nhất là một lần mỗi ngày. Ta nhìn quanh và nhận diện những yếu tố Tăng thân đang có mặt. Khu vườn sau nhà cũng có thể là Tăng thân của ta, bình trà cũng có thể là Tăng thân của ta… Tăng thân đang có mặt khắp mọi nơi – trong từng hạt sỏi, đám mây, cây tùng, cây bách… Khi trở về lại địa phương, quý vị nên cố gắng tạo dựng một Tăng thân để tiếp tục nuôi dưỡng sự thực tập. Các nhà tâm lý trị liệu, giáo viên, sinh viên và bác sĩ đều phải có một Tăng thân cho chính mình. ”Con về nương tựa Tăng” không phải là vấn đề tín ngưỡng hay một ý niệm trừu tượng, mà là sự thực tập đích thực. Tăng thân là sự bảo hộ và nâng đỡ cho sự thực tập và thành công của chúng ta.

Lễ Tự Tứ kết thúc An cư kiết đông 2021

Sáng ngày 07/12/2021, lễ Tự tứ kiết thúc khóa An cư kết đông 2021 của Đạo tràng Mai Thôn đã diễn ra tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng. 

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:

Câu chuyện dòng sông và đám mây

Trích trong sách “Không diệt, không sinh đừng sợ hãi” của Sư Ông Làng Mai

Có một con suối nhỏ từ núi chảy xuống. Nó rất nhỏ tuổi, và nó muốn ra tới biển thật nhanh. Nó không biết sống với hiện tại một cách bình an. Nó rất vội vã vì nó còn rất trẻ. Nó không biết thực tập “đã về đã tới” nên từ núi đổ xuống, nó hối hả vượt qua cánh đồng và trở thành một dòng sông.

Là sông thì nó chảy chậm hơn. Điều này làm cho nó bứt rứt vì nó sợ không bao giờ gặp được biển. Vì là sông nên nó chảy chậm hơn, và mặt nước tĩnh lặng hơn. Dòng sông bắt đầu soi bóng mấy đám mây trên bầu trời – mây hồng, mây bạc, mây trắng… Nhiều hình dạng thật đẹp đẽ. Suốt ngày sông trôi chảy theo mây. Nó trở nên vướng mắc với những đám mây xinh đẹp. Và dòng sông đau khổ vì mây thì vô thường. Mây di động luôn luôn theo các cơn gió, chúng bỏ dòng sông, đi tới những chốn xa xôi. Sông đau khổ vô cùng. Nó cố gắng hoài hủy để đuổi theo mây. Thật là đáng buồn vì mây không ở yên một chỗ với sông bao giờ.

 

 

Một hôm trời giông bão, mây bị cuốn đi hết. Bầu trời trống, trong vắt và xanh tuyệt. Dòng sông thất vọng não nề! Không có một gợn mây trên trời. Tấm lòng tan nát vì bầu trời trống trải. “Không có mây thì sống làm sao? Không có người thương nữa thì sống làm gì?” Dòng sông muốn tự tử, nhưng nó không biết làm sao để chết. Cả đêm sông than khóc.

Đêm hôm đó, dòng sông có cơ hội để nghe được tiếng khóc của mình. Đó là tiếng sóng vỗ vào hai bên bờ sông. Khi nó nghe được tiếng sóng vỗ của chính nó, dòng sông tỉnh ngộ. Nó hiểu ra là bản chất của sông cũng là bản chất của mây. Nó chính là mây. Mây đang nằm trong sông vì cả hai cùng có bản chất là nước. Mây làm bằng nước. Vậy thì tại sao mình phải chạy theo mây? Sông tự nhủ, “ta chỉ chạy theo mây nếu như ta không phải là mây mà thôi!”

Đêm đó, trong tận cùng tuyệt vọng và cô đơn, dòng sông thức tỉnh và nhận ra nó cũng là mây.  Buổi sớm hôm sau, bầu trời trong vắt trước đây làm cho sông cảm thấy cô đơn, lại hiện ra thật mới lạ, kỳ diệu và trong sáng. Màu xanh của bầu trời biểu hiện sự hồn nhiên và tự do mà dòng sông mới nếm được. Sông biết bầu trời là nơi trú ẩn của tất cả các đám mây, mây không thể ra khỏi bầu trời được. Dòng sông hiểu rằng bản chất của mây là không sinh – không diệt, không đến – không đi, vậy thì tại sao sông lại khóc? Sao ta lại khóc như bị chia lìa với mây vậy?

Dòng sông còn có một giác ngộ khác buổi sáng hôm đó. Nó nhìn thấy bản chất không sinh-diệt của bầu trời. Điều này làm cho sông trở nên rất an nhiên tự tại. Nó bắt đầu tiếp nhận và phản chiếu bầu trời. Trước kia nó không phản chiếu bầu trời, nó chỉ biết tới những đám mây. Nay thì sông có bầu trời luôn luôn hiện diện ngày đêm. Trước đây dòng sông không tiếp xúc được với bản chất của thực tại, nó chỉ tiếp xúc được với những gì thay đổi, sinh diệt. Nay tiếp xúc với cả bầu trời, dòng sông trở nên bình an và thanh thản vô cùng, như chưa bao giờ được vậy.

Chiều hôm đó khi những đám mây trở lại, sông không còn vướng bận vào đám nào nữa hết. Không còn đám mây nào sông cảm thấy là đặc biệt, là của riêng nó nữa. Nó mỉm cười với tất cả các đám mây, chào mừng và yêu mến tất cả.

 

 

Bây giờ dòng sông cảm nhận được hạnh phúc của sự buông xả. Nó không còn tùy thuộc hay yêu mến đặc biệt một đám mây nào. Sông yêu thương tất cả. Nó thưởng thức và phản chiếu bất cứ đám mây nào đi qua bầu trời. Khi mây bay xa, nó nói: “Tạm biệt mây nhé, gặp lại nay mai.” Và dòng sông thấy nhẹ lòng. Nó biết đám mây sẽ trở lại sau khi mây biến thành mưa  hay tuyết.

Dòng sông được tự do. Hầu như nó cũng không còn thấy cần chảy ra ngoài biển nữa. Đêm đó trăng tròn và chiếu sáng cả lòng sông. Mặt trăng, dòng sông và nước đều thiền quán bên nhau. Dòng sông thưởng thức sự tự do nhiệm màu của giây phút hiện tại. Nó được giải thoát khỏi mọi đau buồn.

Khi chúng ta chạy đuổi theo một thứ gì, muốn nắm bắt nó, ta sẽ đau khổ. Khi không có gì để đuổi theo, ta cũng khổ đau. Nếu bạn đã là dòng sông, nếu bạn đã từng chạy theo mây, đau khổ, than khóc vì cảm thấy cô đơn, xin hãy nắm lấy tay chính mình như nắm tay một người bạn. Hãy quán chiếu thật sâu, bạn sẽ thấy rằng thứ mà bạn tìm kiếm kia vẫn thường hiện diện ngay đây, đó chính là bạn!

Bạn là thứ mà bạn muốn trở thành. Vậy thì tìm kiếm làm gì nữa? Bạn là một sự biểu hiện tuyệt diệu. Tất cả vũ trụ đều góp phần vào việc làm cho bạn hiển hiện. Không có gì không ở trong bạn cả. Vương quốc của Thượng đế, Niết bàn, Tịnh độ, Hạnh phúc và Tự do, tất cả đều trong bạn.

 

Khai giảng khóa học “Trái tim của Thiền tập Làng Mai” – thầy Pháp Niệm chia sẻ về nội dung “14 bài kệ chỉ quán”

Khi nói đến thiền tập đạo Bụt, chúng ta luôn nói đến hai khía cạnh của sự thực tập đó là thiền chỉ và thiền quán. Chỉ tiếng Phạn là Samatha (Stopping), nghĩa là dừng lại, ngưng lại, là lắng trong, là làm cho yên tĩnh lại để có thể chuyên chú vào một đối tượng – tâm nhất cảnh, không để cho tâm ý trôi lăn, đi hoang. Quán tiếng Phạn là vipaśyanā ; Pali: vipassanā (Insight meditation; Deep looking), nghĩa là nhìn sâu, là thấy rõ, là thấu hiểu được bản chất chân thực của đối tượng quán chiếu. Chỉ và Quán là hai danh từ rất quan trọng trong truyền thống thiền tập đạo Bụt và rất đặc thù đạo Bụt. Cốt lõi của chỉ và quán là niệm, định và tuệ; đó là ba nguồn năng lượng thánh gọi là tam vô lậu học, tức là ba nguồn năng lực mầu nhiệm nếu được phát huy một cách đúng đắn và vững chãi thì sẽ đưa tới sự trị liệu, chuyển hóa và tự do rất lớn. Ba nguồn năng lượng thánh này có mặt trong nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Bụt như trong Bát Chánh Đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần… Chỉ và quán Bụt dạy rất kỹ, rất cụ thể trong các kinh nguyên thỉ như kinh Tứ Niệm Xứ, Quán Niệm Hơi Thở. Dù chúng ta tu tập ở truyền thống đạo Bụt nào thì phép tu chỉ quán vẫn luôn là trái tim, là cốt lõi của sự thực tập.

Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán được Sư Ông Làng Mai phóng tác, có lẽ vào khoảng năm 2002-2003 và đã được Sư Ông lược giảng vào năm 2003, song rất tiếc là chưa tìm lại được băng đĩa thâu lại những bài giảng ấy. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán, chúng ta thấy được chủ ý của tác giả rất rõ là muốn đem nguồn tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt Đại Thừa, của thiền Đại thừa vào tắm trở lại trong dòng sông đạo Bụt Nguyên thỉ, qua đó chúng ta có một nên tảng pháp hành vững chắc và thực tiễn, có hệ thống, và chúng ta có cơ hội tiếp xúc tất cả những tinh tuý và sự sinh động của cả hai dòng chảy của sự truyền thừa mà không cảm thấy có sự tách biệt nào. Khi nói tới thiền Đại thừa thì chúng ta cũng bao gồm cả thiền Đông độ, một dòng thiền được sinh sôi nãy nở từ Trung Quốc, vốn được lưu xuất từ dòng thiền Nguyên thỉ, nhưng biến dạng cho phù hợp với văn hóa và tâm tư của người Trung Hoa hay nói chung là người Á đông.

Nhưng trên tất cả, phép tu Chỉ và Quán vẫn là nền tảng, là cốt lõi và chánh niệm chính là trái tim của thiền tập đạo Bụt. Trong nền tảng giáo lý căn bản của Bụt như giáo lý Tứ Diệu Đế trong đó có Bát Chánh Đạo và trong các phẩm trợ đạo như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần… đều có nói đến chánh niệm. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng chánh niệm là trái tim của thiền tập mà hễ có chánh niệm là có chánh định và tất yếu là có chánh kiến, tức là tuệ. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán và pháp môn tu học của Làng Mai, chúng ta thấy chánh niệm chính là nền tảng, là trái tim của sự thực tập Làng Mai. Trong suốt 49 năm hành đạo của Bụt, ngài chỉ đề cập tới khổ và còn đường chuyển hóa khổ đau, đem lại an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong kiếp này và cùng nhau tạo dựng một thế giới an lành và hài hòa ngày bây giờ và ở đây. Vì vậy con đường Bụt là con đường hiểu biết và thương yêu được thể hiện quá giáo lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo và nền tảng pháp hành của giáo lý đạo Bụt là kinh Tứ Niệm Xứ và kinh Quán Niệm Hơi Thở hay còn gọi là kinh An Ban Thủ Ý.

Khóa học này sẽ kéo dài trong thời hạn khoảng 1 năm hoặc có thể hơn vì mỗi tháng chỉ học một ngày vào ngày Chủ Nhật; vừa học vừa tham cứu, trải nghiệm. Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán nhìn thì đơn giản nhưng chứa đựng một nội hàm giáo lý và phương pháp tu tập trong truyền thống thiền rất phong phú và thực tiễn. Vì vậy dù biết rằng năng lực còn giới hạn nhưng vì các sư cô sư chú trẻ và các thiền sinh có duyên với Làng Mai chưa được học trực tiếp Mười Bốn Bài Kệ từ Thầy (Sư Ông Làng Mai) nên chúng tôi vẫn mạo muội chia sẻ lại cho các vị ấy được tiếp cận để học hỏi và thực tập.

Kính bạch Thầy, trong quá trình trình bày, chắc chắn chúng con sẽ con rất nhiều thiếu sót, chúng con ngưỡng cầu Thầy yểm trợ và soi sáng cho chúng con có đủ năng lực và sự sáng suốt để truyền trao lại cho các thế hệ của các sư em của chúng con.

Đệ tử kính lễ,

Thích Chân Pháp Niệm

…………………………….

Các buổi giảng sẽ được phát trực tuyến qua Zoom và trên Youtube Làng Mai vào 9:00 sáng (giờ Thái Lan). Và sẽ được cập nhật lịch học hàng tháng trên langmai.org.

Để tham gia khóa học này, đại chúng có thể lưu lại liên kết Zoom dưới đây:

 

Mã: 930 1619 1472
Mật khẩu: 123456
 

Và lưu lại chuỗi liên kết Youtube của các buổi học trên Youtube Làng Mai:

Lớp học là một gia đình

Tất cả chúng ta ai cũng có những nhu yếu sâu sắc của mình. Mà nhu yếu sâu sắc nhất là thương yêu và được thương yêu. Chúng ta phải tìm cách chạm vào những hạt giống thương yêu của học sinh. Thương yêu là một nghệ thuật. Nếu nhà giáo dục biết cách thương yêu thì người đó sẽ có khả năng dạy cho học sinh của mình biết cách thương và cách tiếp nhận tình thương.

Nhu yếu sâu sắc thứ hai là nhu yếu hiểu. Khi ta tò mò muốn tìm hiểu thì ta sẽ thích học hỏi. Vì vậy, nếu ta có thể khơi dậy hạt giống tò mò muốn tìm hiểu trong học sinh, thì các em sẽ ham học. Khi đó ta không cần ép các em mà việc dạy và học sẽ trở thành một niềm vui.

Tôi luôn luôn cảm thấy vui sướng mỗi khi bước vào lớp học. Nhìn các em tôi thấy hạnh phúc và các em cũng hạnh phúc vì cả thầy lẫn trò đều có cùng một ước muốn. Chúng ta phải làm cho đối tượng của việc dạy và học trở thành vui tươi, có thể đánh thức hạt giống thương yêu và tâm muốn tìm hiểu nơi học sinh cũng như nơi thầy cô giáo.

 

 

Chuyện này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được không những cho học sinh mà còn cho cả chúng ta – những giáo viên, bởi vì ai cũng đều có nhu yếu muốn hiểu và được hiểu, muốn thương và được thương. Chúng ta không chỉ cần được học sinh hiểu, mà cũng cần đồng nghiệp và ban lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo ngành giáo dục hiểu. Nếu không được hiểu thì chúng ta không thể nào có hạnh phúc và không thể hoàn thành trách nhiệm của mình. Những vị làm việc trong ngành giáo dục cần phải học cách lắng nghe nhau và thực tập ái ngữ để nói cho người khác hiểu được những khó khăn và khổ đau của mình. Trường học có thể được vận hành như một tăng thân, một cộng đồng thực tập của những nhà giáo dục. Chúng ta có thể đến để chia sẻ với nhau những băn khoăn và cái thấy của mình, đồng thời giúp người khác ý thức về khó khăn mà mình đang gặp phải.

Nhiều người trong chúng ta có đủ năng lực để tổ chức những buổi lắng nghe sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục. Ta cần bầu ra một số thành viên trong cộng đồng giáo dục để nêu lên những mối quan tâm lo lắng của chúng ta. Ta phải mời được những nhà chức trách trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm những nhà làm luật và quan chức chính phủ, đến nghe ta nói. Đây là sự thực tập giới thứ tư, ái ngữ và lắng nghe như một tập thể. Trên khắp đất nước có nhiều bậc nhân sĩ có khả năng lắng nghe, họ là những học giả, nhà báo, thi sĩ, chính trị gia…, ta có thể mời những người đó đến tham gia thực tập lắng nghe chúng ta. Buổi thực tập chia sẻ và lắng nghe đó có thể được phát sóng trên vô tuyến truyền hình cho cả nước theo dõi.

Lớp học là một gia đình

Thiền tập không còn là sự thực tập của một cá nhân. Chúng ta cần thực tập chung với nhau như một tăng thân hay một đoàn thể. Năm phép thực tập chánh niệm (hay còn gọi là “Năm Giới” trong đạo Bụt) cần được thực tập chung trong tinh thần của một quốc gia. Trong lớp học, giáo viên cần có thời gian lắng nghe những khổ đau và khó khăn của học sinh. Khi được lắng nghe, các em sẽ thấy nhẹ lòng hơn và nhờ đó mới có tinh thần để học tập và tiếp thu những gì ta muốn trao truyền. Các em cũng cần có cơ hội tìm hiểu những nỗi khổ tâm và khó khăn của thầy cô giáo. Giáo viên nên chia sẻ những khó khăn cũng như những ước nguyện sâu sắc của mình với học sinh. Một giáo viên hay một học sinh lớp lớn có thể đóng vai trò người điều phối để tổ chức một buổi chia sẻ và lắng nghe sâu. Bằng cách này chúng ta có thể biến lớp học thành một tăng thân, một cộng đồng, một gia đình.

Giáo viên và học sinh có thể tổ chức những buổi sinh hoạt trong đó thầy trò chơi với nhau, cùng thưởng thức âm nhạc, đi bộ, hoặc ăn chung như trong một gia đình. Chúng ta có khả năng tổ chức để biến lớp học thành một gia đình. Trong không khí gia đình đó ta mới có thể tạo điều kiện để mọi người hiểu và cảm thông sâu sắc cho nhau. Niềm đau nỗi khổ trong mỗi người nhờ đó mà được vơi nhẹ đi. Điều này sẽ làm cho việc dạy và học trở nên vui vẻ hơn. Dù lương tháng chẳng là bao nhưng sự nghiệp trao truyền tuệ giác và tình thương của một nhà giáo mang lại cho chúng ta rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều niềm vui.

 

 

Chúng ta cần phải làm gì để giáo viên và học sinh cảm thấy hạnh phúc trong lớp học? Đây là công án, là đề tài thiền quán cho mỗi người – làm sao để các em cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nghĩ đến trường lớp? Làm sao để giáo viên cảm thấy hứng khởi khi nghĩ đến lớp học của mình? Giáo viên có thể vận dụng tài năng và sức sáng tạo của mình, kết hợp với tài năng và sức sáng tạo của học sinh để làm cho lớp học trở thành một môi trường tuyệt diệu cho cả thầy lẫn trò. Điều này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được.

Nhóm tương thân tương ái

Trong lớp học, nếu các em có nỗi khổ nào đó thì giáo viên có thể giúp các em thành lập các nhóm tương thân tương ái để tìm hiểu và giúp chuyển hóa khổ đau đó. Giáo viên cùng các em học sinh có thể chọn 2 – 5 học sinh vào nhóm. Mục đích của nhóm là thực tập bình an để làm cho tất cả các học sinh và các thầy cô giáo hạnh phúc. Sau khi nhóm khởi đầu đã có một vài kinh nghiệm thực tập lắng nghe sâu, những em khác có thể thay phiên nhau tham gia vào nhóm để học hỏi phương pháp thực tập này. Rất nhiều khổ đau của các em là do hiểu lầm mà ra. Vì vậy, thường thường các em cảm thấy người khác không nghe mình, không hiểu mình. Qua sự thực tập lắng nghe sâu và nhìn sâu, con đường thoát khổ sẽ tự hiển bày. Sự thực tập lắng nghe và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau có thể làm cho lớp học trở nên hạnh phúc và hòa hợp.

Để chuyển hóa những khó khăn trong lớp học, nhóm tương thân tương ái có thể tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu với tâm thương yêu. “Thưa thầy/cô, chúng em muốn tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu để mọi người có thể nói ra tất cả những khổ đau, khó khăn của mình. Nhiều bạn có khổ đau trong gia đình, nhiều bạn gặp khó khăn trong lớp học, chúng em rất mong được thầy/cô hiểu những khổ đau, khó khăn của chúng em”. Đây là một yêu cầu rất chính đáng. Khi bạn lắng nghe những tâm tư tình cảm của học sinh là bạn đã thực tập lời Bụt dạy: nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ban giám hiệu nên cho phép giáo viên tổ chức những buổi lắng nghe như thế để giáo viên ngồi lắng nghe thật hết lòng những khổ đau, khó khăn của học sinh mình.

Nhóm tương thân tương ái có thể tìm cách giúp cho nỗi khổ của bạn mình vơi nhẹ. Nhóm có thể đề cử một hay hai thành viên đến gặp thầy/cô giáo có liên quan để nói cho thầy/cô giáo ấy biết về khó khăn của bạn mình. “Thưa thầy/ cô, chúng em không biết tại sao ngày nào bạn ấy cũng khóc, bạn ấy cho chúng em biết là thầy/cô làm bạn ấy khổ. Bạn ấy thật sự là rất khổ, bạn ấy không hề có ý trách móc thầy/cô, bạn ấy chỉ không muốn khổ như vậy nữa mà thôi. Xin thầy/ cô chỉ dạy cho chúng em cách giúp bạn ấy bớt khổ”. Khi nhóm tương thân tương ái đến thưa với thầy/cô giáo như vậy, tôi tin là thế nào giáo viên ấy cũng sẽ tìm cách thay đổi tình trạng.

Dĩ nhiên nếu em học sinh có đủ can đảm thì em có thể đến nói chuyện trực tiếp với thầy/cô giáo. “Thưa thầy/cô, em không biết tại sao thầy/cô lại tập trung vào em mỗi ngày làm em rất khổ sở. Em không biết mình đã làm gì sai. Nếu em có điều gì làm cho thầy/cô không vui, xin thầy/cô cho em biết, em sẽ cố gắng hết sức để thay đổi”. Học sinh có thể chia sẻ bằng những lời dễ thương như vậy. Trong trường hợp, học sinh không đủ tự tin để chia sẻ trực tiếp với thầy/cô giáo thì nhờ nhóm tương thân tương ái giúp. Đó là một cách xử lí rất hòa ái.

 

 

Giáo viên cũng nên nói cho học sinh biết là mình cũng có những nỗi khổ riêng trong gia đình và nếu có thêm những nỗi khổ trong lớp học thì có thể hơi quá sức cho mình. Nếu trong lớp có một Nhóm tương thân tương ái thì các em học sinh nên tìm cách động viên thầy cô giáo của mình nói ra được những khó khăn trong lòng. Khi các em đã hiểu những khó khăn của thầy cô giáo thì các em sẽ hành xử dễ thương hơn, sẽ hợp tác và biết cách yểm trợ cho thầy cô giáo.

Nếu giáo viên và học sinh không bắt được nhịp cầu cảm thông sâu sắc cho nhau thì cả thầy lẫn trò không thể nào có hạnh phúc. Thầy cô chẳng có hứng thú giảng dạy mà trò cũng chẳng có hứng thú để học.