Hạnh phúc là khi…

“Nếu nỗi buồn là tài sản thì em là người giàu nhất thế giới này chị ạ!”

Lá thư em gửi cho tôi chỉ vỏn vẹn một câu và được viết bằng nét chữ nhỏ nhắn, tròn trịa của một người rất trẻ. Tôi biết, thời đại này chỉ cần nhấc điện thoại hay internet… gõ gõ và nhấn enter thì dòng chữ ấy sẽ được gửi mà không cần phải mất công ngồi viết và chờ khoảng một tuần sau người ta mới nhận được lá thư của mình. Thế nhưng em vẫn làm việc ấy tự nhiên như là một thói quen. Tôi biết bức thư này không chỉ  đơn giản là sự “trao và nhận” thông thường mà là một cuộc hóa giải nỗi lòng cho chính bản thân em. Nghĩa là viết cho tôi và cho cả em nữa.

Này em! Tôi đang nghĩ về em, cảm nhận nỗi buồn đang dâng lên trong em. Tôi chợt nhớ một đoạn thơ mà một người bạn đã đọc cho tôi nghe trong buổi thảo luận về cảm xúc lòng người…

Có những ngày hồn mình quá đỗi chông chênh

Thả rơi nỗi buồn trên từng con chữ

Đứng giữa mất – còn, buông hay níu giữ

Mới thấy chạnh lòng mà thèm khát những phút bình yên”

Tôi không biết chuyện gì xảy ra khiến cuộc sống em buồn như thế. Tôi khuyên em hãy đặt nỗi buồn xuống, nhận diện và ôm ấp chúng. Phải thương lấy nỗi buồn thì mới hóa giải được chúng. Em phải ngồi thật yên, chuyện trò với nỗi buồn, lúc đó ta mới nhận ra rằng nỗi buồn không phải đến từ bên ngoài, không phải do bất kỳ ai mang đến mà xuất phát từ chính bản thân mình. Chỉ vì trong tâm ta còn ấp ủ nhiều hạt giống giận hờn, ganh ghét, ích kỷ… mà thôi. Nếu những hạt giống ấy được ta gom góp lại, nâng niu, cất giữ cẩn trọng bằng chánh niệm thì khổ đau sẽ không có mặt và trái tim nhỏ bé  của em sẽ được tưới tẩm những hạt giống thương yêu.

Sáng nay, khi tôi thức dậy, cảm giác đầu tiên là thấy mình còn thở nhẹ nhàng, đang hít thở không khí trong lành của buổi sáng tinh khôi. Một cảm giác an bình lan tỏa nơi căn phòng nhỏ bé này. Đặt chân xuống giường cùng với những thói quen hằng ngày, tôi đến mở cửa và nhìn ra bên ngoài, thấy mọi thứ vẫn còn chìm trong tĩnh mịch.

Sự yên tĩnh của cảnh vật và cảm giác an bình trong tâm ùa về và hòa quyện lẫn nhau. Bỗng nhiên tôi biết ơn cuộc sống này biết bao. Nó đã đưa tôi đến đây, được sống giữa bao tình thương của Thầy, Tổ, huynh đệ và tình pháp lữ thân thương. Nó giúp tôi nhận ra hạnh phúc và khổ đau không phải là mặt đối lập của cuộc sống mà là sự hòa quyện lẫn nhau – “Phiền não tức bồ đề”.

Tôi khoác thêm chiếc áo bước ra ngoài, không gian càng trở nên yên tĩnh. Những hạt mưa cuối hạ lất phất rơi nhẹ bên thềm. Tôi tiến về Quan Âm Các, nơi Ngài vẫn đứng uy nghiêm,  kính cẩn đặt bút sen dưới chân Ngài và ngồi thật yên. Tôi thấy trân quý những phút giây mà mình đang có mặt nơi đây.

Tôi muốn nói với em rằng hạnh phúc ở cuộc đời này đơn giản lắm, không cần phải tìm kiếm đâu xa, nó ở ngay bên cạnh mình, trong những việc làm bình dị hàng ngày của em thôi. Em hãy buông xuống hết đi, em sẽ thấy hạnh phúc và khổ đau luôn song hành và tồn tại trong vòng sinh diệt của vạn pháp. Vì thế em hãy học cách chấp nhận khổ đau mới có thể chuyển hóa “rác thành hoa” được.

Cảm ơn những dòng thư ngắn ngủi ấy, cảm ơn em đã sẻ chia và đã giúp tôi trở về với phút giây hạnh phúc, bình yên ở chính mình. Hạnh phúc là khi mình biết ôm ấp khổ đau và trân quý những niềm vui đang hiện hữu phải không em!!!….

Bước chân không biết thở

Có thiếu đi một phần nào thân thể của mình mới biết thượng đế kỳ diệu, sinh con người,  lại ban tặng đầy đủ các cơ quan cần thiết, hữu dụng trong mọi trường hợp. Đôi khi vì cuộc sống, vì mưu sinh tất bật mà chúng ta quên chăm sóc chính ta, lơ đãng với phần tinh thần, không biết chính cái phần ấy đã điều khiển mọi sinh hoạt sinh lý hằng ngày trên cơ thể ta.

Từ ngày đến với Phật Pháp, thọ ngũ giới và sinh hoạt với tăng thân xóm Dừa (Nam California), tôi như được dọn sang căn nhà mới. Căn nhà có những cánh cửa kính thông suốt, tôi có thể nhìn ra khắp bốn phương bằng những bước chân thiền học. Những buổi sáng để tâm bình yên theo nhịp thở. Tiếng chim hót líu lo bên muôn ngàn tiếng động ngoài kia không làm tôi bận rộn. Những ngày hè, nắng rực, tập cười trong thảnh thơi, tôi thấy mình như đứa bé không nghĩ ngợi, đắn đo, lo lắng, tâm trắng như tờ giấy. Bất chợt tôi ngây thơ, vô tội, hiền hòa.

Tôi được học cười, thở, bước, đi, trở về trong an lạc. Trong căn nhà thương yêu ấy, lúc nào cũng rộn vang tiếng cười nói ân cần, lời chia sẻ những kinh nghiệm tu tập quý báu. Tôi yêu nhất là giờ pháp thoại. Có mỗi bài học Chánh Niệm, tôi học hoài mà thực tập vẫn không thông. Thở ra, thở vào dễ thế mà đôi lúc trong cơn giận dữ tôi quên thở, để tạp niệm lấn chiếm tâm hồn. Học bước vững chãi mà lúc lái xe thì không chú tâm lái xe, đầu óc ở đâu đâu. Mê đọc sách như một quán tính, đến nỗi vừa đi vừa đọc, ít chú tâm vào bước mình đi, quên phắt thiền hành. Và thế là bước chân thiếu chánh niệm xảy ra.

Ngày đó đến, 22 tháng 4, tôi té vì chân bước hụt một bậc cửa phía sau nhà khi mắt mải đậu trên cửa gara. Cú ngã khá nặng, tuy không gãy xương nhưng quẹo mắt cá chân, khiến tôi không thể đứng dậy sau 20 phút. Chỉ nội trong vài tiếng đồng hồ bàn chân tôi đã sưng vù, chân trái tôi trở nên bất khiển dụng. Tôi chỉ còn biết nằm một chỗ đắp đá, đặt chân lên cao cho máu bớt dồn xuống, cho bớt sưng. Lần đầu tiên trong đời phải dùng nạng đi lại, thật khó khăn và bất tiện biết bao nhiêu. Khi ấy, mắt nhìn, đầu nghĩ, muốn lấy cái này, làm cái kia mà bất lực, mới biết bất cứ cái gì trên người mình cũng cần. Tôi không còn đổ thừa cho điềm xui mà tự trách mình thiếu thực tập chánh niệm. Lời Sư Ông còn vang vất đâu đó: “Bước vững chãi, đi trong chánh niệm”, làm tôi xấu hổ. Ngay đến nghĩa đen của sự bước, tôi còn chưa vững chãi nói gì đến nghĩa bóng.

Ngày đó, 22 tháng 4, ngày của Mẹ Đất, ngày chân tôi đặt lên Đất Mẹ một cách lơ là nên hụt hẫng. Cũng là ngày quốc tế dành cho trái đất (Earth Day), ngày được dùng để truyền cảm hứng cho nhận thức và đánh giá cao môi trường tự nhiên của Đất Mẹ. Ngày mà nhân loại tạm gác lại những công việc hàng ngày, những lo lắng, buồn phiền để suy nghĩ và hành động cho thế giới tự nhiên mà chúng ta đang sống. Ngày mùa đông vừa chấm dứt chuyển sang xuân, cây cối nẩy chồi ra lá mới, ngày mọi người thường tổ chức các hoạt động nhằm mục đích bảo vệ môi trường hoặc tổ chức trồng cây xanh, thu gom rác thải sao cho môi trường sống xanh, sạch, đẹp.

Thật xấu hổ cho tôi, Mẹ Đất cho tôi một chỗ đặt chân bình an đến thế mà tôi cũng không đặt cho đúng chỗ. Bài Sám Pháp Địa Xúc tôi đọc mỗi lần họp mặt, đọc đó mà như không. Thiêng liêng là vậy, đẹp đẽ là vậy mà mỗi lần lạy xuống, tiếp xúc với Đất để tiếp nhận năng lượng vững chãi và vô úy của Đất mà như không. Thiêng liêng là vậy, đẹp đẽ là vậy, mỗi lần lạy xuống, tiếp xúc với Đất để tiếp nhận năng lượng vững chãi và vô úy của Đất. Đất ôm lấy mình và giúp chuyển hóa vô minh, khổ đau và tuyệt vọng, thế mà tôi như không học. Sư Ông đã dạy: “Thở đi con”, “Tập thở vào, ý thức về cơ thể mình và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng mình là Trái Đất, và tâm thức mình cũng là tâm thức của Trái Đất”.

Có lẽ từ hôm nay, sau lần bước hụt tôi phải tập đi, bước những bước chân vững chãi trong chánh niệm, những bước chân biết thở.

Chốn ấy có nụ cười

Mỗi khi nghĩ tới, nhắc đến, ghé thăm chốn ấy, lòng tôi lại ấm lên, nhẹ nhàng và thanh thản hơn.

Nghĩ tới, làm tôi thấy trước mặt mình hiển hiện lần lượt những nụ cười an nhiên nở trong giờ sinh hoạt, trong giờ hát ca, giờ thiền hành.

Nhắc đến, tôi nghe gió núi lướt nhẹ qua vầng trán, mây trắng giăng giăng trên đầu và mùi sage dại thơm phảng phất lan vào không gian những bụi dứa gai nơi chân núi.

Ghé thăm, tôi thêm được năng lực để bước những bước vững chãi trên đời sống mình mà trước kia tôi từng nghĩ mình sẽ bỏ cuộc.

Chốn ấy là một nơi rất quen thuộc, nhưng mỗi lần ghé tôi lại phát giác ra nó mới.  Mới trong một vẻ đẹp xưa của một tàng cổ thụ.  Lạ ở nét cứng cỏi, dũng cảm của những khối đá núi. Thú vị trong vẻ nhu mì óng ả của con suối băng ngang. Tôi cũng có thể gặp gỡ nhiều người tốt và xấu nhưng đều mang những ưu và khuyết điểm như nhau. Nơi đó, tôi không thấy sự lạc lõng bơ vơ. Nơi ngồi xuống, tôi thấy an tâm và dễ chịu. Nơi đứng lên, tôi có thể tiếp nhận lời khen bằng lòng thanh thản, nhẹ nhàng mà cái ngã thôi lơ lửng ở trên mây. Nghe tiếng chê, tôi có thể mỉm một nụ cười dịu nhẹ, không lao xao, không phản ứng. Tôi được học những phương pháp đánh gục sự sợ hãi, tôi được yêu thương để đem thương yêu mình san sẻ với mọi người. Tôi tập tin tưởng để xóa đi nghi ngại bấy lâu dẫy đầy thành tường, thành vách, nơi van tim. Tôi cảm, tôi thương, tôi hòa mình, tôi đem hồn mình dựa nương êm ả vào chốn ấy.

Chốn ấy là một tụ điểm hòa tan,  không phân biệt ngôn ngữ, giới tính, màu da. Những ngày mùa đông, có các khuôn mặt rám nắng trên màu da vàng xếp nếp dấu chân chim ở đuôi mắt lặng ngắm vầng thái dương lên. Những buổi mùa thu,  những mái tóc vàng, vầng trán phẳng da trắng rực rỡ trong nét mũi cao thong thả chạy bộ lên xuống vài con dốc mỏi. Những đêm mùa hạ, giọng hát chơi vơi của nhiều ngôn ngữ nghe xôn xao trong gió và làn lửa ấm bừng sáng trong khu cắm trại. Những trưa mùa xuân, tiếng cười trẻ thơ nô đùa tíu tít trong manh áo mới, phong bao đỏ, và các miếng mứt ngọt ngào. Và cả bốn mùa vạn vật chan hòa âm ba từ ái của tiếng đại hồng chung.

Chốn ấy có những con đường và những khoảng lặng.

Những con đường mà các chiếc nón lá xinh xắn đơm chữ “thở”, mang tín hiệu của một nụ cười mỉm đi lững thững hành thiền trong im ắng buổi ban mai hồng. Nó có nhiều màu áo nâu thanh thản với cánh tay rộng mở, với ánh mắt long lanh sáng. Nó mang nhiều tiếng tim đập nhịp nhàng trong hiện tại, trong bình an. Nó không có hoa hồng, hoa tu-líp, hoa cẩm chướng rực rỡ nhưng thoảng man mác hương hoa tím, hoa sage, hoa cúc nở.

Và những khoảng lặng, không tranh đua, phê phán, tị hiềm được gói ghém trong những tấm khăn vuông, manh áo ấm đơn sơ, đôi dép nhựa bình dị, đôi guốc mộc thanh thoát. Những khoảng lặng không hoang mang, thao thức, ồn ã, tối ám, mờ mịt của vô minh. Chốn đó sự sống có mặt và ý nghĩa hơn bao giờ hết.

Chị ơi, ngày mai đi cùng em, chúng ta cùng đến chốn ấy nhé!

Cảm ơn những bàn tay

Đã từ lâu con muốn gửi đến những bàn tay lời cảm ơn nhưng sao nói chẳng nên lời. Chính vì thế nên con xin phép được viết ra đây. Làm như vầy thấy dễ hơn rất nhiều.

Cám ơn những bàn tay hằng ngày đã nấu ăn ngon để đại chúng có được những bữa cơm ngon miệng, với nhiều niềm vui.

Cảm ơn những bàn tay hằng ngày đã chăm sóc bàn Bụt, thiền đường mỗi ngày để thiền đường luôn sạch mát, trang nghiêm.

Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày dọn dẹp để cửa nhà luôn sạch đẹp.

Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày lau chùi nhà vệ sinh để nhà vệ sinh luôn sạch sẽ, để ai vô thăm nhà vệ sinh cũng phát khởi niềm an vui. Cảm ơn những bàn tay đã hằng ngày tưới cây, làm đất cho hoa thêm thắm, cho rác thành hoa. Cảm ơn những bàn tay đã làm vườn rất siêng năng để đại chúng có rau xanh sạch để ăn.

Cảm ơn những bàn tay đã siêng năng quét những con đường trong nhà, ngoài ngõ, để ai bước chân qua cũng thấy hạnh phúc lâng lâng. Những con đường ấy là con đường chung và những đôi bàn tay ấy đã cầm chổi quét mỗi ngày.

Con muốn viết thật nhiều, nhiều nữa nhưng viết sao cho hết. Con chỉ muốn gửi tới tất cả mọi người lời cảm ơn sâu sắc nhất vì ai cũng có bàn tay đẹp. Bàn tay ấy đã không ngại ngùng khi phải làm việc, dù đó là nấu ăn, rửa nồi, đổ rác hay chùi nhà vệ sinh…

Con thực sự xúc động và kính phục khi thấy sư em, với đôi tay nhỏ bé của mình nhưng ngày nào cũng qua phòng để hơ ngải cứu, bấm huyện giúp sư cô cùng phòng với con. Con cùng phòng với sư cô mà chẳng giúp được gì. Con cảm động chảy nước mắt khi bị bệnh mà được ăn tô cháo giàu dinh dưỡng do sư chị, sư em mình nấu. Sống trong chùa, xa bố mẹ, anh chị em ruột thịt nhưng con đã có thật nhiều anh chị em huynh đệ – những người cùng lý tưởng, nguyện cùng nhau đi chung một con đường.

Ngày xưa, khi học tiểu học, môn học đạo đức đã giúp con sống đẹp hơn. Con nhớ một bài học mà trong đó có câu như thế này: Một bàn tay đẹp không phải là một bàn tay với những ngón tay búp măng, tô đỏ mà bàn tay ấy đẹp ở chỗ chẳng ngại làm việc gì (con nhớ không được chính xác cho lắm). Trong tăng thân con thấy rất nhiều bàn tay như thế. Những bàn tay đã làm việc hết lòng, rất giỏi để xây dựng tăng thân. Những bàn tay đã hằng ngày mang lại niềm vui và hạnh phúc cho đại chúng. Con không biết nói như thế nào để diễn đạt cho hết lòng biết ơn của con đối với những đôi bàn tay. Chỉ biết rằng khi thấy mọi người làm việc thì trong con lại hiện lên câu nói: Cảm ơn những bàn tay!

Làng Mai dưới mắt nhà thơ Ly Hoàng Ly

PRVDENS VIVO PRVDENS MORIOR[1]

Những con người Tây Phương này, họ tụ lại đây để tìm về hơi thở của chính mình. Hơi thở họ bị ngắt quãng. Đứt đoạn. Họ đến đây để nối hơi thở liền lạc thành một hơi thở sâu lan tỏa khắp thân tâm.

Ngày nào cũng lắng nghe, ghi chép, quay (với sự đồng ý của họ), kín đáo ghi để tôn trọng không khí tự nhiên của các hoạt động, các cuộc trò chuyện. Tôi muốn đóng vai người ngoài cuộc để không bị những cảm xúc, chia sẻ kia tác động, bởi tôi vốn rất nhạy cảm với đau khổ của người khác. Nhưng tôi sụp mấy ngày nay, thân tâm như liệt.

Quá tải với tôi. Tiếng khóc nấc của ai đó chợt bung lên, giữa buổi thiền trong thiền đường, khi ai nấy nhắm mắt, im lặng hít thở. Tiếng nấc ấy sẽ đứng lên, khẽ nhón chân để không ảnh hưởng đến người khác, khẽ mở cửa bước ra ngoài. Đó có thể là tiếng nấc đau khổ, cũng rất có thể là tiếng nấc hạnh phúc.

Những gương mặt nam nữ, lần lượt chảy nước mắt hay òa khóc trong những buổi chia sẻ. Khóc vì hạnh phúc. Khóc vì buồn đau. Họ – những người tự nhận mình là có công việc tốt, thành công, mạnh mẽ, lạc quan, hữu ích với mọi người trong cuộc sống thường ngày, quay về thành những đứa trẻ mẫu giáo, quây quần ở đây, để kể cho những người mà họ chưa từng quen, thậm chí không nhớ hết tên nhau, những nỗi đau của mình – những nỗi đau mà họ bất lực khi sẻ chia với những thân, bạn bè đồng nghiệp trong cuộc sống hàng ngày. Những nỗi đau mà họ bất lực chia sẻ với chính bản thân họ. Họ luôn phải giả vờ hạnh phúc hoặc cố gắng hạnh phúc, giả vờ mạnh mẽ hoặc cố gắng mạnh mẽ để sống có ích với xã hội ngoài kia. Bên ngoài thân thể cường tráng là những hơi thở đứt.

Bà A từ Thuỵ Điển khóc nức khi cất lên lời đầu tiên: “Tôi mới đến đây vài ngày… nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy được yêu thương và hạnh phúc thế này, khi tôi được bao quanh bởi năng lượng nhân ái tử tế, bởi tất cả các bạn. Tôi không quen biết các bạn, nhưng tôi cảm nhận được rõ ràng năng lượng tử tế từ ánh mắt thần thái của các bạn. Tôi quá hạnh phúc. Tôi khóc vì tôi quá hạnh phúc. Tôi xin lỗi vì tôi khóc, nhưng tôi quá hạnh phúc. Thế giới ngoài kia của tôi chưa bao giờ đem lại cho tôi hạnh phúc trọn vẹn thế này… “

Cô B đến từ Mỹ, sụt sùi: “Tôi hay làm ơn rồi mắc oán. Những người bạn thân thiết của tôi, khi họ gặp nạn, họ tìm đến tôi, tôi giúp họ hết lòng. Khi họ giải quyết xong việc của họ, họ trở nên rất tệ với tôi. Tôi có thể cảm thấy họ quay ra ghét tôi. Một ngày tôi không chịu đựng nổi nữa, tôi hỏi thẳng một người bạn: “Tại sao, tại sao lại vậy?” Người ấy trả lời: “Là vì chị quá mạnh mẽ. Mạnh mẽ một cách đáng sợ.” Tôi cho rằng vì họ yếu đuối nên đã để lộ hết chuyện riêng của họ với tôi, nên giờ họ ghét tôi vì họ đã để lộ họ mềm yếu hơn tôi, vì tôi là người duy nhất biết điểm yếu của họ. Vì họ biết tôi là người duy nhất có thể giúp họ, họ đến với tôi, xong họ ghét tôi. Bạn tôi bảo tại sao tôi có thể làm điều mà họ không thể làm? Sao tôi lúc nào cũng giải quyết êm xuôi mọi việc lớn bé mà vẫn cười bình thường? Họ bảo cuộc đời tôi êm xuôi một cách đáng sợ quá. Và họ ghét tôi vì điều đó. Trời ơi sao những con người đó không hiểu được là tôi có đầy nỗi đau khó khăn riêng của tôi, còn khó hơn họ nữa. Nhưng tôi tự học cách chuyển hóa buông bỏ, không phiền đến ai, tôi cố gắng mạnh mẽ vượt qua, và để giúp người thân quanh mình vượt qua khó khăn riêng của họ, vì tôi yêu họ hơn bản thân tôi. Tôi cười đâu có nghĩa tôi có được những điều kiện mà họ có. Họ sung sướng hơn tôi nhiều lắm. Vậy mà cái tôi nhận được lại là sự ganh ghét, đố kỵ, không phải là yêu thương. Tôi cô độc quá. Tôi đau khổ quá. Tôi hoang mang quá. Tôi từng nghĩ, mạnh mẽ quá, sống vì người khác quá là sai lầm của tôi. Nhưng đến đây, tôi học được rằng tôi thiếu sáng suốt với chính mình…”

C từ Canada rơm rớm: “Tôi cố gắng nhiều năm, nhưng mối quan hệ của vợ chồng tôi rất tệ. Chúng tôi không thể đối thoại. Chúng tôi yêu nhau, nhưng không hiểu nhau. Chúng tôi trở nên ghét nhau. Khi đến đây từ năm ngoái, và trở về, tình hình cải thiện hơn, nên tôi trở lại đây, lần này tôi đi cùng vợ. Đây là một nơi tuyệt vời. Tôi biết ơn nơi này. Tôi rất may mắn biết đến một chỗ tuyệt vời thế này…. “

D từ Nga sống tại Pháp, vừa quệt nước mắt vừa nói: “Tôi dường như đang có tất cả, thế mà tôi luôn cảm thấy mình bất hạnh vô cùng. Chồng tôi thành công, lịch lãm, yêu tôi vô cùng. Nhưng tôi cảm thấy ghê sợ chính tôi, hàng ngày tôi tự hỏi tôi đến với anh ấy vì điều gì, vì tiền của anh ấy và cuộc sống an nhàn? Tôi thấy tôi quá tệ. Hình như tôi không yêu anh ấy ngay từ đầu. Tôi lấy anh ấy vì tôi tính toán. Tôi ghét chính mình. Tôi đau khổ vì mất mục đích sống. Tôi không biết tôi sống để làm gì. Để lợi dụng chồng tôi? Tôi không dám sinh con vì tôi rất sợ con tôi sẽ nhìn tôi như một người mẹ thực dụng. Tôi không dám sinh con vì tôi sợ con sẽ ràng buộc tôi sống với người chồng tốt mà tôi không yêu này. Một ngày kia tôi không chịu đựng nổi nữa, tôi đã bỏ chạy qua Ấn độ, sống một năm để rồi tôi tình cờ tìm thấy tờ quảng cáo Plum Village, hóa ra cách nhà tôi có hai tiếng lái xe. Tôi đã đi rất xa để nhận ra cái quý giá rất gần bên mình mà mình không biết. Đây là một nơi tuyệt vời. Tôi vẫn vô cùng hoang mang, nhưng tôi cảm thấy nơi đây sẽ giúp tôi tìm thấy bản thân tôi. Tôi mời chồng tôi đến đây sau chuyến công tác của anh… “

E sống ở Ireland không cầm được nước mắt: “Hôm trước các bạn hỏi tôi nếu phải nói một từ về tổ tiên người thân, thì tôi nói câu gì, trong đầu tôi bật ngay lên ‘truthful’ (chân thật) và tôi nói ‘truthful’. Tôi nói mà không suy nghĩ. Không, tôi đang nói dối với chính mình, tôi dối các bạn. Họ, bố mẹ tôi, cả ông bà tôi, họ luôn hoàn hảo một cách đáng sợ, họ truthful một cách ngộp thở. Họ có thật sự truthful không? Không. Tôi có thể cảm nhận sự giả dối trong cái truthful đó. Vì sao họ phải sống như thế? Cả tuổi thơ tôi là một bi kịch của cái gọi là truthful. Tôi ghét họ. Và tôi cũng yêu họ. Họ tỏ ra hoàn hảo không tì vết. Nhưng họ không thể đối thoại với nhau, bố mẹ và năm anh chị em chúng tôi không có hòa khí. Không khí gia đình lúc nào cũng ngộp thở, khiến tôi đau khổ và hoang mang về thế nào là sống cho đúng, thế nào là hạnh phúc. Có một lần tôi quyết định đem niềm vui về cho cả nhà bằng cách đi hái hoa thuỷ tiên. Tôi hái tất cả hoa thủy tiên của hàng xóm, gom thật nhiều thật nhiều thành một bó to. Vâng, tôi đi ăn cắp hoa của hàng xóm, ăn cắp hạnh phúc của hàng xóm đem về cho gia đình mình. Tôi chỉ muốn nhìn thấy những người thân của tôi cười khi nhìn thấy bất ngờ tôi đem lại cho họ. Tôi nhớ rằng tôi để lọ hoa thuỷ tiên to trong bếp. Nhưng không ai bất ngờ cả. Họ thấy là bình thường. Họ không reo lên, không vui. Họ bình thản. Thế là tôi khóc. Sao những con người này họ lại lạnh lùng vậy. Họ không có tình cảm với nhau. Không ai muốn cười. Tôi không có hạnh phúc cả tuổi thơ. Tôi cực kỳ hoang mang về cuộc sống gia đình của tôi sau này khi tôi đi lấy chồng. Tôi không bao giờ muốn con tôi phải sống đau khổ như tôi. Tôi đau khổ vì cái truthful kiểu ấy.”

Anh F từ Đức trầm ngâm: “Tôi trải qua sự sợ hãi hoảng loạn mấy năm nay rồi, sau cú sốc tình cảm và công việc đến cùng lúc. Tôi không ngủ được. Tôi luôn không cảm thấy an toàn. Thế giới này không đem lại cho tôi sự an toàn. Một tuần ở đây tôi cảm thấy điều đó đã trở lại với tôi: cảm giác an toàn. Tôi thực sự quá may mắn. Tôi ngủ ngon hơn. Tôi tìm lại được mình. Nhất định tôi phải trở lại đây….”

Khóa tu tiếng Pháp.10Chị G từ Ý cười: “Tôi là một nhà trị liệu tâm lý. Tôi theo đạo Cơ đốc. Từ khi tôi biết Làng Mai cách đây 5 năm, năm nào tôi cũng trở lại đây. Đây là nhà tôi muốn về. Chốn an trú của tôi. Tôi trị liệu tâm lý cho mọi người nhưng bản thân tôi cũng đầy khó khăn riêng của mình. Tôi đã chất đầy hận thù trong lòng vì đau khổ, dù tôi đi trị liệu cho người khác. Đây là nơi tôi có thể tái tạo năng lượng, tìm thấy chính tôi.”

Còn biết bao câu chuyện khác…

Họ là những người mà nếu ta gặp trong đời sống hàng ngày, sẽ chỉ thấy họ cười, thành công, mạnh mẽ, nhiệt huyết. Họ sẽ không cần lời khuyên của ai, họ đủ sâu sắc hiểu biết để biết phải làm gì, giúp ích cho người thân, xã hội.

Họ chọn đến đây để trở lại với đứa trẻ năm tuổi thực sự bên trong họ, chân thành, trong sáng, dễ bị tổn thương. Những người lớn này ngày đầu mới đến còn e dè, chỉ hai ngày sau đã khóc vô tư trước mặt những người xa lạ mà họ cảm nhận được ngay là có cùng tần số – những người họ không biết tên, không cùng đất nước, văn hoá, nhưng nói một câu đã hiểu nhau, một cái ôm đầu tiên thấy sâu như đã quen biết hàng mấy chục năm rồi. Họ đến đây không phải để xin lời khuyên rao giảng. Họ đến để học cách tìm về hơi thở sâu trong họ, của chính họ, và ngắm những người có cùng ý nguyện thở hơi thở sâu.

Trước khi đến đây, tôi đã hồ đồ cho rằng pháp môn của Thầy Thích Nhất Hạnh là hơi “cliché” [2] với tôi. Tuy rằng tôi có ý định nghiên cứu pháp môn này cho đến nơi đến chốn để phát triển dự án ‘Prvdens Vivo Prvdens Morior’, tôi đã có tri kiến sai lầm về việc thở ra hít vào của Thầy. Nghe đơn giản quá. Cứ thở ra thở vào là hạnh phúc sao? Thở ra hít vào sâu ai mà chẳng làm được. Ai có tri thức chẳng biết trong hạnh phúc có khổ đau và trong đau khổ có hạnh phúc. Tương tức. Ai chẳng biết điều quan trọng nhất trong cuộc đời là tình yêu thương, là tấm lòng. Ai chẳng biết nói yêu thương thì dễ, để thực sự yêu thương ai là trọn một đời, cứ nhìn những người mẹ là hiểu rồi.

Tôi lầm. Chỉ đến khi thực sự sống và làm việc theo thời khoá từ 5h sáng hàng ngày và nghiên cứu quá trình chuyển hoá của những tăng thân đến đây, tôi biết là tôi ngạo mạn, hồ đồ. Đó cũng là điều tôi chia sẻ với các tăng thân ở đây, rằng tôi đã tự áp đặt tư tưởng cho mình khi mà mình chưa từng có duyên thấy tận mắt nghe tận tai.

Cái gì càng đơn giản càng khó. Thở ra hít vào hàng ngày, nhưng thở ra hít vào với từng phút giây hiện tại, với trái tim trống rỗng và tình yêu thương tràn đầy, không dễ chút nào. Trong cuộc sống của riêng mình, tôi luôn theo quan điểm: Có thể tự hào đọc rất nhiều sách hay, nhưng hiểu cho tường tận sâu rộng chỉ một dòng trong quyển sách đó mà thôi – cái hiểu bằng chính kinh nghiệm sống, máu thịt của mình chứ không phải qua lời lẽ triết lý của người khác, mới là đọc. Đọc cả quyển sách tôi hiểu có đúng một dòng thôi là tôi mừng với chính tôi rồi. Vì quan tâm đến mindfulness (chánh niệm), làm tác phẩm về mindfulness, tôi tìm đọc mindfulness của Sư Ông Làng Mai, thì tôi muốn hiểu cho tường tận nó là gì theo triết lý thực hành của Sư Ông. Vì sao nhiều người đến với mindfulness của Sư Ông? Những con người đến từ khắp thế giới này họ nghĩ gì về mindfulness? Ghi nhận những tâm sự của các tăng thân là một trong những vật liệu thô của dự án.

Để viết nên một chữ hay vẽ được một nét về cuộc sống, dù chữ ấy nét vẽ ấy tinh luyện hoặc còn vụng về, ta phải thực sự sống cùng với điều ấy, bằng cả thân tâm. Tôi đã tham dự lớp Toán cao cấp khá đầy đủ trừ khi quá bệnh, để bóc cái xác chữ và xác số của Toán và tiếng, âm thanh của ‘những người nói Toán’ ra khỏi ngữ cảnh vốn có của nó, đem qua ngữ cảnh của nghệ thuật ý niệm thị giác, đa phương tiện, từ đó dựng nên cái hình thù trừu tượng của sự thất lạc căn tính, văn hoá, lịch sử, ngôn ngữ, nơi mọi người lạc chính mình và lạc mất nhau. Tôi đã cùng thầy và bạn, trèo bao núi lội bao suối, lên bản xa, có lúc đặt lưng trên đất rừng lạnh suốt đêm, chia nhau ngọn nến xíu xiu, sẻ cho nhau từng gáo nước ấm. Đã ngủ trên những chiếc giường đầy rệp mốc của người lao động, nông dân, công nhân, lăn lê bên những đống phân bò. Đã ghẻ lở đầy người vì muỗi độc đốt… để đem vào hội họa những trải nghiệm phát hiện của mình về chân dung và cảnh sống của những con người khác nhau.

Nhưng, chưa bao giờ tôi tiếp xúc dài ngày với sự tương phản choang choang giữa những đau khổ tột cùng và những hạnh phúc tột cùng – vốn ẩn sâu bên trong nội tạng, nay chợt hiển lộ đồng loạt tại cùng một nơi như hoa nở cùng lúc bão gầm.

Tôi hạnh phúc khi họ khóc vì hạnh phúc. Chạnh lòng khi nhìn họ nức nở đau lòng. Họ bảo họ thấy hình ảnh của họ khi nghe câu chuyện của những người khác ở đây. Họ bảo họ có thể thấy ánh sáng trong lòng bàn tay họ từ một đốm nhỏ mỗi ngày mỗi lớn lên, lan rộng ra. Họ bảo họ hoàn toàn hết nhức đầu, thân thể nhẹ đi. Họ bảo họ có thể chạm đến những mưng tấy ẩn sâu bên trong, những mưng tấy mà do áp lực chạy đua với cuộc sống, họ luôn đủ thông minh để vơ một cái áo che tạm lại, mà chưa từng cho mình cơ hội dừng lại, chăm sóc nó, thân tâm nhập một trong sự trống rỗng chánh niệm. Họ quá bận rộn để lắng nhìn sâu đau khổ của chính mình, vuốt ve và chuyển hóa nó, cho đến khi họ bục vỡ, giận dữ, mất sáng suốt điềm tĩnh. Họ dùng mọi cách mọi hình ảnh để diễn tả hạnh phúc mà họ đang chạm được khi đến với mindfulness.

Cuộc đời là bể khổ. Nơi này là nơi những con người tốt hoặc hướng đến điều tốt tụ họp để học phương pháp, triết lý chuyển hóa  rác trong thân tâm mình thành phân bón cho cây. Để khi trở ra ngoài xã hội, họ lại tiếp tục cống hiến. Họ khóc rồi họ thanh thản ăn, đi bộ, rửa rau cuốc đất, đọc sách, cùng nhiều việc khác. Họ cùng nhau khe khẽ hát, hân hoan như trẻ thơ.

Quá tải với tôi. Quá nhiều xúc cảm đối lập. Rất mệt. Khi mà tôi ngoài việc đóng vai người quan sát quay ghi chép, vừa đảm bảo thời khóa để sống cùng với họ, đồng thời chạm đến sự tốt nhất lẫn sự xấu xí nhất, sự già cỗi và sự non nớt nhất của chính mình. Cứ như cùng một lúc nội soi rất nhiều người và nội soi mình. Liên miên trường phẫu thuật.

Các sư cô bảo tôi thôi chị nghỉ vài hôm đi, đừng tham gia các cuộc chia sẻ của họ nữa, vì khi chị phải tiếp xúc với quá nhiều năng lượng tiêu cực, những tiếng khóc của họ, lại làm việc nhiều quá, chị sẽ không chế ngự nổi đâu, những năng lượng đó tác động đến chị, chị trông xanh xao, thẫn thờ lắm, tâm có vẻ bất định lắm rồi đó. Chị nên chỉ tham gia những lúc họ làm việc vui hoặc thiền định thôi. Chị phải biết yêu bản thân mình trước, đừng quá tâm sức.

Phải biết yêu thương chăm sóc mình trước nhất, đó là một trong những quy tắc quan trọng của Làng Mai.

Sư ông Làng Mai có nói: “… Khi tôi rót tách trà của tôi trong chánh niệm. Khi tôi nâng tách trà của tôi trong chánh niệm. Khi tôi uống trà của tôi trong chánh niệm. Tôi thấy mây trong trà của tôi. Tôi thấy tôi đang uống mây của tôi. Mây của tôi không sinh không diệt, vì nó đang ở đây. Nó có thể chuyển hóa thành mưa, thành đá, thành băng… nhưng không bao giờ không là gì cả…”

Tôi hiểu lời Sư Ông theo cách của mình thế này: “Khi tôi rót tách cà phê của tôi trong chánh niệm. Khi tôi nâng tách cà phê của tôi trong chánh niệm. Khi tôi uống cà phê của tôi trong chánh niệm. Tôi thấy yêu thương trong từng giọt cà phê của tôi. Tôi thấy tôi đang uống yêu thương của tôi. Yêu thương của tôi không sinh không diệt, vì nó đang ở đây. Yêu thương của tôi có thể chuyển hóa thành mưa, thành đá, thành băng hà… nhưng không bao giờ không là gì cả…”

Prvdens Vivo Prvdens Morior.

xóm Hạ mùa hè 2015

LHL

[1] Thành ngữ Latinh: “sống chánh niệm, chết chánh niệm”

[2] cliché: BBT tạm dịch là “hơi sáo, hơi rập khuôn”

Nguồn: Phù Sa Online

Nguyện đi trên con đường của Bụt

Trên trời cao giờ này là những ngôi sao cô đơn. Trời Cần Thơ là vậy. Khi ánh đèn thành phố sáng lên thì bầu trời càng mênh mông và cô tịch. Tôi đã nhìn thấy trăng hôm nay, trăng khuyết nửa vòm. Tôi đã đợi ánh trăng này từ đầu tháng 4, vì tôi biết khi trăng tròn vành vạnh sẽ báo hiệu đến ngày Vesak – kỷ niệm ngày Bụt biểu hiện trên trần gian này.

Theo truyền thống Phật giáo tại hầu khắp các quốc gia như: Sri Lanka (Tích Lan), Miến Điện, Thái Lan, v.v. ngày trăng tròn Vesak được gọi là ngày tam hợp với ba sự kiện lớn: “Ngày Thái tử Siddhartha ra đời – người sau này được gọi là Bụt, ngày Bụt thành đạo, ngày Bụt nhập Niết bàn dưới cội Sa-la”.

Ngắm nhìn bầu trời le lói với vài ngôi sao cô đơn thấy gần mà xa lắm, mặt trăng thì đang như thẹn thùng, mắc cỡ,…tôi chợt đặt ra cho mình một câu hỏi, đây là câu hỏi đầy suy tư, rằng: “Bụt trong mình đã sinh chưa?”. Bụt là biểu hiện  của tình thương và tỉnh thức; Bụt là khả năng lắng nghe mà không phán xét; Bụt là người cha hiền lành, là người thầy với gương mặt thân thương và ánh mắt trìu mến… Bụt trong tôi hơn hết còn là một con đường.

Sư Ông Làng Mai từng dạy: “Lắng nghe với tâm từ bi có thể làm người khác bớt khổ”. Tôi chợt nghĩ: Thời xưa ấy, lúc Bụt còn tại thế hẳn Bụt cùng với tăng đoàn đã thực tập vô cùng hùng tráng pháp môn lắng nghe này. Đọc qua kinh điển Nikaya hay A Hàm trên trang Làng Mai, tôi thấy thương Bụt quá. Tình thương ấy giống như một đứa con nhỏ thương cha, giống như một người xa quê lâu ngày chợt muốn ôm hôn đất Tổ. Trong kinh từng kể lại rằng không hiếm khi Bụt ngồi nghe rất lâu các thầy ngoại đạo chất vấn, các thầy ấy có khi không dễ thương lắm, vậy mà Bụt ngồi nghe im lặng và chăm chú đến thế. Có lẽ vì Bụt biết họ có nỗi khổ riêng, họ cần ai đó lắng nghe hơn là trả lời câu hỏi của họ.

Trong quyển Open Heart, Clear Mind (Rộng mở tâm hồn và Phát triển trí tuệ) của Ni sư Chodron có viết: “ Buddha was once an ordinary person like us, with the same problems and doubts we have. By following the path to enlightenment, he became a Buhhda”, tôi tạm hiểu là “Bụt cũng từng là một con người bình thường như chúng ta, Bụt cũng có những khổ đau và hoài nghi như chúng ta vậy. Nhờ đi trên con đường tỉnh thức nên Ngài trở thành Bụt – Bậc Tỉnh thức vẹn toàn”. Đến đây, tôi thấy mình có một niềm tin mãnh liệt rằng sau gần 2559 năm trôi qua, giáo lý của Bụt vẫn còn đó, và nếu đi trên con đường Bụt đã đi thì tôi và các bạn có thể trở thành Bụt như Bụt Thích Ca vậy đó.

Mấy hôm nay đi ngang các chùa, Tịnh Xá, Thất, Thiền viện…tôi thấy cái nhộn nhịp rất riêng của chốn thiền môn. Mọi người như đang chờ đợi, có lẽ cái chờ đợi ấy giống tôi, chờ ngày Vesak.

Giờ đây khi biết rằng: “Bụt của hơn 2500 năm trước đã sinh, con xin nguyện học tập con đường của Bụt, nguyện áp bàn chân nhỏ bé của con, có khi thong dong cũng nhiều khi mệt mỏi, lên dấu chân nơi Bụt đã đi qua. Con nguyện lúc nào cũng nuôi dưỡng chánh niệm, để con luôn được ở gần Bụt”.

Tối nay con nấu trà tươi thơm lắm. Con ngồi thiền im lặng như núi xanh, thảnh thơi như mây trắng, trước mặt con là chén trà tươi, trên bàn Bụt cũng có chén trà thơm như vậy,… Con biết tối nay con đã được uống trà cùng với Bụt.

Cần Thơ, 25/05/2015.

Cành mai năm ấy

Buổi sáng có mặt trời, ơi vũ trụ, ta muốn ôm người vào hai tay. Buổi sáng có chim hót và chị bán xôi đi ngang ngõ trúc, ơi quê hương, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Buổi sáng có chợ họp, ôi thế gian, ta muốn ôm ngươi vào hai tay. Chỉ còn hai mươi giờ nữa thôi, tôi đã không còn có mặt ở đây. Tôi sẽ giao tôi cho lửa.

Quê hương đẹp biết bao nhiêu. Ôi, còn nào chùa, nào lũy tre, nào vườn cau, nào giàn trầu, nào bến sông quen thuộc. Tôi muốn quay trở lui. Nhưng quay trở lui cũng không tìm thấy quê hương.

Đất quê hương, tôi đang đếm bằng những bước chân. Đất quê hương, bom đạn cày nát. Lời cầu nguyện cho những khu vườn xanh, có trúc đào, có xương rồng trước ngõ. Chắp tay tôi nhận chịu lửa đỏ như một lời cầu nguyện. Cho tôi thấy phố thấy nhà lần chót. Cho tôi thấy trời thấy nước thấy cây thấy cỏ lần chót. Cho tôi thấy trăng thấy sao. Cho tôi thấy người, thấy cô thấy bác thấy anh thấy chị thấy già thấy trẻ, thấy đồng bào cười nói. Cho tôi ôm tất cả vào hai vòng tay nhỏ. Tôi đã tìm thấy. Anh chị em ơi, tôi đi nhưng tôi còn ở lại. Sáng mai mặt trời mọc, thơ tôi sẽ tới với người.”

(trích tác phẩm Chân dung – Thiền sư Nhất Hạnh)

Năm 1096, trước khi an nhiên cõi trời phương ngoại, Thiền sư Mãn Giác đã để lại tặng đời một cành mai vô ngại, cành mai vượt thời gian, nở lên từ một tâm hồn thanh thoát. Đến hôm nay, cành mai đó vẫn sống rất thật, trong mỗi độ xuân về, trong mỗi lần xem mai nở, trong mỗi dịp được ngồi yên bên chén trà ấm bốn mùa mà nghe phảng phất đâu đây hòa vào hương trà lời Thiền sư nhắc nhở: “Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận. Đình tiền tạc dạ nhất chi mai”. Cành mai đã đi vào cõi vô khứ lai, để rồi sẽ biểu hiện tiếp tục một cách mầu nhiệm dưới những hình thái khác, góc độ khác, ngay trên cõi đời này, khi nhân duyên vào độ chín. Và vì thế, mãi mãi, lời vị Thiền sư năm nao vẫn còn vang vọng, chớ có cho rằng khi xuân hết thì hoa tàn cả, nhìn cho kỹ đi, một cành mai đêm qua nơi sân trước vẫn tròn đầy.

“Xin tình thương tỉnh thức

Xin Việt Nam hòa bình”

871 năm sau, 1967, cành mai ngày ấy lại biểu hiện. Nhất Chi Mai – chị cả của dòng tu Tiếp Hiện do Thiền sư Nhất Hạnh sáng lập, ngày 16 tháng 05 đã khiến cho cả thế giới chiêm ngưỡng khí phách bi hùng của hương thơm nguyện phụng hiến mình vì nghĩa lớn, vì một Việt Nam hòa bình, vì một dân tộc biết thương yêu nhau, vì một thế giới biết nhìn về lẽ phải.

Được sinh ra trong gia đình khá giả, dù trong thời chiến tranh tàn khốc, chị Mai vẫn được đi về trên một chiếc xe hơi sang trọng. Tương lai chị thật tươi sáng. Tốt nghiệp đại học, chị theo con đường phụng sự xã hội, nguyện sống đời an vui cho đất Việt. Thế nhưng, Việt Nam vẫn cứ chiến tranh, máu xương vẫn mỗi ngày đổ xuống, điêu tàn tiếp nối điêu tàn, đâu đâu cũng nghe tiếng khóc than của đứa con thơ, của người vợ trẻ, tiếng khấn nguyện của những người già không biết con mình sống chết ra sao. Chị Nhất Chi Mai phải chứng kiến điều đó hằng ngày khi vẫn được nghe nói về từ bi, rao giảng về lòng bác ái, tuyên truyền về đoàn kết… có cái gì nghe thật xót xa. Chị không thù hận con người, đích thị trong chị chỉ có tình xót thương. Chị muốn ôm trọn tất cả, vì con người đáng thương, vì con người đang nô lệ cho hận thù, bạo động, nghi ngờ và lòng tham mà giày xéo lên nhau từng ngày. Mỗi ngày, chị tự dặn dò mình bằng cách đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần lời thơ của thầy mình trao gởi. Bài thơ trở thành một đề tài quán chiếu thật sâu sắc của chị:

“Xin hứa với tôi hôm nay
Trên đầu chúng ta có mặt trời
Và buổi trưa đứng bóng
Rằng không bao giờ em thù hận con người
Em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặn :
Kẻ thù chúng ta không phải con người.
Xứng đáng chỉ có tình xót thương
Vì tôi xin em đừng đòi điều kiện
Có thể ngày mai
Trước khuôn mặt bạo tàn
Một mình em đối diện.
Hãy rót cái nhìn dịu hiền
Từ đôi mắt
Hãy can đảm

Dù không ai hay biết…”

(Trích Dặn dò –  thơ Sư Ông Làng Mai)

Những người xung quanh nghĩ rằng, chắc chị Mai thích bài thơ ấy quá, nên cứ suốt ngày ngâm nga cho qua thời giờ, cho khỏi nghĩ đến những công tác từ thiện, khỏi nghĩ đến chiến tranh, khỏi nghĩ đến những em bé nghèo ngửa bàn tay bé xíu xin chút tình thương với tấm thân đen đủi trần truồng và đôi mắt đã bớt long lanh. Vậy mà, chị lẩm nhẩm bài thơ ấy không phải để trốn chạy thực tại, mà để nghĩ về thực tại, nghĩ về cách để có thể hiến dâng cuộc đời mình cho một cuộc tỉnh thức lương tâm nhân loại, cho ước mơ một đất nước hòa bình.

“Và nụ cười em
Hãy để nở
Trong cô đơn
Trong đau thương thống thiết
Những người yêu em
Dù lênh đênh
Qua ngàn trùng sinh diệt
Vẫn sẽ nhìn thấy em.
Tôi sẽ đi một mình
Đầu tôi cúi xuống
Tình yêu thương
Bỗng trở nên bất diệt
Đường xa
Và gập ghềnh muôn dặm
Nhưng hai vầng nhật nguyệt
Sẽ vẫn còn

Để soi bước cho tôi”.

(Trích Dặn dò –  thơ Sư Ông Làng Mai)

Phật đản sanh lần thứ 2511, đúng ngày 8 tháng 4 âm lịch, cành mai kia đã nở. Nhất Chi Mai đã nở giữa biển lửa. Nhưng không phải biển lửa của hận thù. Mai đã tỏa hương giữa biển lửa, để hóa thân thành tình thương và tỉnh thức, cho con người thấy đường đi lên. Chị Mai đã tự thiêu.

Một buổi sáng chùa Từ Nghiêm lửa tỏa, lửa cháy lan thế kỷ, lửa xuyên thấu các hành tinh xa để vượt thời gian và mãi mãi không bao giờ tắt. Thế gian chấn động bởi ánh lửa như tiếng chuông đại hùng lực, đại từ bi. Lửa đốt rụi vô minh, tỵ hiềm, lòng tham cơ hội. Lửa kêu gọi nghĩa đệ huynh. Tự tay mình châm lửa đốt thân sau khi để lại 10 bức thư cho Ba Má, Thầy bạn và chính quyền, cái chết chừng đó thôi cũng đã là vô úy.

Sẽ có những người thóa mạ cái chết ấy, chị Mai tự biết điều ấy, nhưng điềm nhiên mặc kệ, có sao đâu. Chị không điên, không hành động dại dột, không phải vì cảm hứng. Chị đã suy nghĩ nhiều, đã chuẩn bị tất cả. Vì tình thương nhân loại, chị phải hành động. Vì thức tỉnh tình thương trong trái tim nhân loại, chị càng phải hành động. Vì Việt Nam hòa bình, chị lại càng phải hành động. Thế giới đã cúi đầu trước người Mẹ Việt Nam vừa tròn 33 tuổi. Cao Ngọc Phượng, một người em đồng giới Tiếp Hiện với chị, sau này trở thành sư cô Chân Không – một đệ tử lớn của Thiền sư Nhất Hạnh, đã trả lời người phương Tây khi họ thắc mắc về cái chết ấy thật cảm động: “Khi bạn muốn mua một món gì bạn phải trả tiền. Khi bạn muốn mua một món gì quý nhất mà tiền bạc không thể mua được như sự hiểu biết, sự thương yêu, sự nhân nhường nhau để đưa đến chấm dứt chiến tranh khổ đau thì bạn chỉ có thể trả cho người bạn đang đối thoại bằng cái gì quý giá nhất mà bạn có trên đời. Chị tôi không tự tử như nhiều người Tây phương đã tưởng. Không, chị tôi có học thức, có đầy đủ điều kiện để sống tiện nghi như các bạn (Tây phương) dù rằng nước Việt Nam đang chiến tranh. Nhưng chị muốn dâng cái quý nhất của con người trên đời để xin cái quý nhất của con người trên đời. Cái đó là sự sống”. Chị đã dâng sự sống quý nhất trên đời của chị để giữ lại sự sống quý nhất của một dân tộc.

Người bạn trẻ của nước Việt ơi, các bạn đang tiếp nối hồn thiêng sông núi mà bao thế hệ trước đã thao thức, đã hy sinh xương máu để giữ gìn, các bạn cũng là một cành mai. Chúng ta hãy làm sao để cành mai vươn lên giữa biển lửa. Cành mai ấy không được chết giữa biển lửa, càng không được chết vô nghĩa giữa bầu trời bình yên. Bao nhiêu người đã chết oan uổng như vậy rồi, mình đừng tiếp nối hạt giống ấy nữa. Mình mãi phải xứng đáng, đừng bao giờ cô phụ hồn thiêng sông núi.

Chị Nhất Chi Mai, kỷ niệm ngày chị có mặt vì hòa bình, cũng là ngày kỷ niệm một cành mai tỏa thơm trang sử Việt, em viết lại đây vài dòng như lời tri ân sâu sắc đến chị. Từ ngày biết chị, em chưa bao giờ thấy chị vắng mặt trong em, em chưa bao giờ thấy chị vắng mặt trong cành hoa của Thiền sư Mãn Giác. Rồi những cành hoa như chị sẽ được tiếp nối và biểu hiện, hôm nay và mai sau, như chị chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt. Những thế hệ sau chị sẽ tiếp nối và mời cành mai thơm trong chị biểu hiện như điều chị từng nhắc nhở: “Con đường dài mà chông gai quá, mỗi người nhân bản phải đi một đoạn đường gai chông, tiếp nối, bằng cách này hay bằng cách khác, mới mong hết được đường dài…”

Nguyên Tịnh.

Đồi Trị Liệu, 15.05.2012

 


 

LỜI TỰ THUẬT
SAU CÙNG CỦA NHẤT CHI MAI

Tôi viết tất cả 10 bức thư để lại.

Ngày mai tôi sẽ lo lắng một mình tôi buổi lễ tự thiêu.

Tôi cho các nhà báo, nhiếp ảnh hay và một ít bạn thân đến nơi tôi dự định mà không cho họ biết trước chuyện gì sẽ xẩy ra.

Tôi mua 10 lít xăng. Địa điểm tôi chọn là Chùa Từ Nghiêm, tôi có ý đến Nhà Thờ Đức Bà hay một nơi công cộng có tính cách lịch sử một chút, mà thôi.

Phía trước mặt tôi đặt hai bức tượng: Đức Mẹ Maria với hai bàn tay đưa ra. Đức Quán Thế Âm với đôi mắt dịu hiền. Cả hai nhìn tôi và ban ơn cho tôi tròn ước nguyện. Trước mặt và sau lưng tôi có hai biểu ngữ tôi viết:

“Con chắp tay quỳ xuống

Xin Đức Mẹ Maria

Đức Quan Âm, Phổ Hiền

Cho con và ước nguyện.”

Và:

“ Xin đem thân làm đuốc

Xin soi sáng U Minh

Xin Tình người thức tỉnh

Xin Việt Nam Hòa Bình”.

Cầu xin cho tôi can đảm, bình tĩnh mà ngồi yên trong lửa đỏ.

Tôi sẽ quỳ xuống chấp tay niệm Phật và thầm gọi “Việt Nam”.

Người tự thiêu cầu Hòa Bình
Thích Nữ Nhất Chi Mai
Tự: Nhất Chi
Pháp danh: Diệu Huỳnh.

 

THƯ GỬI THẦY
(Chị Nhất Chi Mai là một trong sáu người đầu tiên được thọ 14 Giới Tiếp Hiện với Thầy Làng Mai)

Việt Nam, 15 – 5 – 67.
Kính bạch Thầy,

Ngày mai con sẽ thiêu thân để cầu Hòa Bình cho Việt Nam. Con xin đóng góp với Thầy, với tất cả những nhà nhân bản Việt Nam và thế giới trong phong trào Mong Hòa Bình cho Việt Nam bằng tất cả những gì con hiện có.

Con mong tất cả an lòng, tiếng nói nhân bản, chính nghĩa sẽ được tiếp nối và kết quả không lâu.

ThuguiThayNhatChiMai.jpg
thư Nhất Chi Mai gởi Thầy

Kính thư,
Thích Nữ Nhất Chi Mai
Tự: Nhất Chi
Pháp danh: Diệu Huỳnh
Tự thiêu để cầu Hòa Bình Việt Nam
Mùa Phật Đản 2511 (5-1967)


____________________________________

Những bài có liên quan:

Tụi trẻ con hàng xóm

Nhà tôi dọn về đây ở được hơn một năm. Thỉnh thoảng tụi trẻ con lại kéo nhau sang nhà chơi cùng với hai cô con gái. Bé nhỏ nhất thì khoảng hơn hai tuổi, lớn nhất tầm bảy, tám tuổi, còn lại khoảng bốn đến năm tuổi.

Giữa tháng năm, thời tiết đã oi ả. Cái nắng ban ngày như thiêu đốt, nung cả bầu không khí. Trên từng con phố, nơi có bóng mát là chỗ an trú tuyệt vời nhất cho mọi người. Từ bác xe ôm, người bán hoa quả, cho đến những người chờ đèn đỏ đều dừng lại.

Hôm nay tôi có nhiều việc nên gần tám giờ kém mới về đến nhà. Khi ngồi vào bàn ăn, cảm giác ban đầu là tôi không muốn dùng cơm vì oi quá, nhưng sau đó lại ăn rất ngon. Tụi trẻ con đang nô nghịch, cười đùa. Có hai bé trai gần ba tuổi đang tranh nhau chiếc xe gỗ “vespa”. Tôi lại ra làm ông trọng tài, đánh lạc hướng chúng bằng một trò chơi. Tôi đùn em bé đang ngồi xe một vòng, sau đó hướng dẫn em bé kia làm giống vậy. Tôi hỏi các bé: “Các con có thích không?”. Các bé trả lời là rất thích rồi thay phiên nhau đủn xe, không tranh nhau nữa. Một lát, có bé gái quát một bạn khác. Tôi cười với bé, hỏi: “Con có buồn khi có người quát con không?”. Em đã nói: Có ạ. Tôi nói: “Thế em nghe con mắng như vậy cũng buồn đó. Mà các con ai cũng đẹp như một bông hoa. Khi quát, nó lại thành hoa héo mất. Con có muốn thành hoa héo không?”. Em cười toe toét: “Không ạ”.

Tụi trẻ con xóm tôi như những bông hoa nhỏ, hồn nhiên lắm. Từ lúc chúng vào nhà chơi mà chẳng chào một câu. Lúc chơi thì hét rất to. Khi về thì đồ chơi không thu dọn. Giầy dép, chiếc để ngoài cửa, chiếc thì  ngoài đường. Nhưng bây giờ các em sang chơi tiến bộ rất nhiều. Nhớ hồi trước, những lúc như thế này tôi thấy trong tâm mình khó chịu lắm. Chỉ muốn quát hoặc không cho chúng chơi nữa. Nhưng nhớ đến bài tập chánh niệm nên tôi dễ dàng nhận diện được sự khó chịu ấy và chuyển hóa nó: “Thở vào, tôi thấy trong tôi có sự khó chịu. Thở ra, tôi thấy sự khó chịu này cần được chuyển hóa”.  “Thở vào mình là một bông hoa. Thở ra mình là hoa tươi mát”. Thật màu nhiệm, khi sự khó chịu được nhận diện, nó chợt tan biến.

Chợt nhận thấy các em không chỉ đơn giản được sang chơi mà các em cần được đón nhận những sự tươi mát từ gia đình nữa. Tôi càng hiểu hơn, sự quan trọng trong việc tu tập hàng ngày, dù chỉ là điều nhỏ nhất. Tâm chúng ta trưởng thành hơn là vì những điều đó.

Nhìn những đôi dép của các bé đã được xếp ngay ngắn, lòng tôi thấy vui vui. Mấy lần trước, khi các con vào nhà chơi, giầy dép tôi đều tự tay xếp lại. Lần này là các em tự bảo nhau xếp ngay ngắn và lại còn thích thú nữa là khác. Tôi đã khen các em biết làm việc nhỏ đó, vì việc này quá nhỏ mà ít ai để ý, trong đó có cả những người lớn  như tôi.

Cầm chiếc dĩa, tôi lấy một miếng dứa trên bàn. Miếng dứa được để trong ngăn mát, lúc này ăn thật thích. Tôi thấy không thể thưởng thức được miếng dứa một cách ngon lành như thế nếu mình không ý thức được sự có mặt của nó. Khi tâm ta rong ruổi, khi tâm ta vướng bận vào quá khứ hay ngày mai thì lúc đó ta không thực sự có mặt trong hiện tại, mặc dù ta ngồi ở đó. Sẽ chỉ như một bóng ma, và miếng dứa cũng chỉ là một bóng ma.

Thực tập chánh niệm, đem tâm quay về với thân, từ những sự đơn giản nhất. Tôi vẫn thường để ý vào mỗi bước chân đi. Tôi vẫn thường để ý vào hơi thở, rồi nụ cười. Và có lẽ nó đã trở thành một thói quen mới như việc giữ thăng bằng xe. Thói quen tự nhiên này giúp tôi nhận diện ra những đám cỏ dại chưa được dọn trong tâm hồn, và thấy rằng cuộc sống này rất cần được HIỂU và THƯƠNG.