Mẹ có biết, con thương mẹ không?

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn mẹ
Đang còn mẹ để lòng vui sướng hơn…
 

Chị tôi đặt từng bước trong sự ý thức rõ ràng, tay cầm một bông hồng tươi thắm tiến về phía mẹ. Từng bước chân ấy hòa vào  từng nốt nhạc của bài “Bông Hồng Cài Áo”. Chị chầm chậm ngồi xuống, hai mắt nhìn mẹ một hồi lâu. Mặc dù chị cũng hay qua thăm bố mẹ, lúc thì trái táo, trái nho, khi thì cân cam cân quýt, nhưng chưa bao giờ chị thực sự nhìn  mẹ rõ ràng như thế. Lần nào chị cũng vội vàng, còn kịp về chuẩn bị hàng họ cho sáng ngày mai…

Chị xúc động, vì suốt hơn 40 năm, chưa bao giờ chị tặng mẹ dù chỉ một bông hoa. Nhưng bây giờ, ngay lúc này, trước cả nhà, trước các con và các cháu, chị đang ngồi trước mẹ và chuẩn bị nói “Mẹ ơi, mẹ có biết, con thương mẹ không?”… Chị biết đây không phải là một việc làm mang tính hình thức, nên chị thở vào và thở ra một lúc. Khi thấy lòng thật nhẹ và bình an, chị bắt đầu nhìn mẹ và nói…

…Khi mẹ cầm bông hoa trên tay, khi mẹ nghe cô con gái hơn bốn mươi tuổi của mình nói câu đó. Mẹ đã khóc, và khẽ thấm nước mắt và nở một nụ cười. Rồi nụ cười ấy lại nở trên khuôn mặt của bố năm nay cũng đã gần 80. Đối với bố mẹ, có lẽ đó là món quà ý nghĩa nhất, to lớn nhất…

Trước đây khi đọc cuốn “Bông Hồng Cài Áo”, trong lòng tôi cũng đã nghĩ đến việc làm như thế tặng cho bố mẹ nhưng do thói quen từ bé chưa bao giờ tặng hoa, chưa bao giờ thực tập nói lời ái ngữ, v.v.. đã không cho tôi thực hiện điều ấy. Nhưng tối hôm qua, ba anh chị em dưới sự yểm trợ của tăng thân đã làm được điều đó thành công. Tất cả mọi người đều cảm thấy vui vì nếm được vị ngọt của sự hòa hợp. Cả nhà cùng đứng cạnh nhau, cùng dang hai tay thật rộng, cùng ôm nhau trong hơi thở ý thức mình đang có mặt.

Một người bạn của tôi đến tham dự cũng đỏ hoe đôi mắt. Anh có cảm nhận bác gái ngồi đó cũng như mẹ của mình. Anh chợt nghĩ về mẹ, nếu mẹ của anh đang ngồi đó thì anh cũng muốn lao ra cầm tay mẹ, muốn ngắm nhìn mẹ và nói ra những điều mà trước đây mình chỉ giữ nó trong đầu hay nhìn mẹ từ xa.

Này em ơi
Cuộc sống có bao lâu
Sao em còn hờ hững?
Hộp cơm trưa cắp nách
Nhà nhiều tầng
Nhưng bước thấp bước cao
Mẹ vẫn đang ngồi đó cho em
Mẹ chờ em có mặt
Và nở một nụ cười
Chỉ vậy thôi
Là lòng mẹ vui rồi.
 

Ký sự khóa tu “Phép lạ của sự tỉnh thức”

Làng Mai Thái Lan, tháng 6 năm 2017.

Tháng sáu, khi kỳ nghỉ hè bắt đầu, thay vì đưa con đi những khu nghỉ dưỡng ở biển như mọi năm, tôi lại dắt người bạn tám tuổi đến khóa tu ở Làng Mai Thái. Tôi chỉ là một người hay đọc sách của Sư Ông chứ chưa thực sự tham gia một khóa tu nào cả, cũng như chưa từng tham gia thực tập ở đâu. Vì đi lần đầu, lại dắt con theo nên cũng có nhiều thứ để lo lắng trước khi đi. Ngay trước khi đi thì sếp ở nhà lại yêu cầu sửa báo cáo và phải nộp gấp cùng với việc chuẩn bị cho những chuyến đi công tác dày đặc sau khóa tu khiến tôi vừa đi vừa ôm laptop làm việc. Trong lòng không khỏi lo lắng làm sao có thể làm xong mà tập trung vào khóa tu. Đúng là quá nhiều thử thách, để xem tôi có buông bỏ hết mà học thiền hay không?

Khóa tu năm nay rất đông người tham gia. Mọi người được chia vào ở những khu khác nhau, có người ở cư xá, có người ở lều. Vì đi hai mẹ con nên tôi được ở lều bé để đi ra đi vào đỡ phiền đến người khác. Trong lều có đệm, gối và chăn mỏng rất rộng rãi, thoải mái. Buổi tối trời đêm se lạnh nên không cần quạt hay điều hòa gì cả. Và trong lều thì đương nhiên không có ổ điện, không wifi, muốn có internet thì phải đi bộ ra cổng làng khá xa. Đêm đầu tiên hai mẹ con thao thức khó ngủ vì xung quanh toàn tiếng dế kêu, rồi nhìn ốc sên bò qua bò lại trên thành lều thích quá cứ ngắm mãi. Không gian này, âm thanh này thực sự rất quý với những người chỉ ở thành phố như chúng tôi.

Lều nhỏ được dựng sát nhau thành từng cụm, đối với chúng tôi thì ở lều thích hơn là ở nhà nhiều ^.^

Từ cửa lều nhìn ra là trời xanh, mây trắng tươi xanh và bình yên

Trên đầu là cây sa kê trĩu quả

Tôi nhớ lắm buổi sáng đầu tiên thức dậy từ bốn giờ sáng, dò dẫm bước ra khỏi lều, không khí ở ngoài mát lạnh, trong lành và tinh khiết. Bước từng bước trên cỏ còn đẫm sương, ngẩng đầu lên nhìn trời còn tối nhưng đầy sao lấp  lánh. Tiếng chuông chùa từng nhịp ngân vang từ phía thiền đường. Chậm rãi hít thở, chậm rãi bước vào thiền đường, chậm rãi chắp tay xá tượng Bụt, chậm rãi ngồi xuống và nhắm mắt lại để tận hưởng không khí buối sáng vô cùng tĩnh lặng. Sau khi ngồi thiền và tụng kinh sáng, chúng tôi đi thiền hành một vòng quanh núi, qua đồng cỏ, qua vườn xoài, qua cư xá nơi Sư Ông ở. Cảm giác nhìn thấy Sư Ông trước mắt thật xúc động, không chỉ là quyển sách tôi vẫn mang theo đọc trong mỗi chuyến đi công tác, không chỉ là giọng nói từ các bài pháp thoại tôi vẫn hay nghe từ Youtube, mà là con người thật, trước mắt tôi, trong hiện tại này. Cái không khí lúc ấy, những cảm nhận ấy tạo ra một thứ năng lượng tươi sáng và mạnh mẽ đến nỗi sau này khi về rồi tôi vẫn thấy nhớ vô cùng.

Có một thời khóa tôi rất thích vào các buổi trưa sau khi ăn là thiền buông thư. Giờ thiền buông thư, thích nhất là được nghe quý thầy chơi đàn và hát với một chất giọng rất trầm ấm, ngọt ngào. Nghe sư cô Chân Không nói chuyện và hát cũng rất thích vì giọng sư cô hay vô cùng với những bài hát ru giống của mẹ thời thơ ấu. Tôi không ngủ trưa bao giờ, cũng chẳng thích ngủ trưa. Thế nhưng nằm nhắm mắt, thư giãn, hít thở, thấy gió thổi mát rượi, nhìn bầu trời xanh ngắt, mây từng cụm trắng xốp, nền nhà bóng như mặt hồ phản chiếu nền trời xanh, thấy đẹp quá, hạnh phúc quá. Sau này khi về rồi, tôi vẫn cố gắng duy trì thiền buông thư bằng cách cho mình 5-10 phút thả lỏng sau giờ ăn trưa. Tôi luôn lưu trong điện thoại file mp3 bài giảng thiền buông thư của sư cô Chân Không, để lúc rảnh rỗi lại nghe và thực tập.

Những gì tôi nhận được từ chuyến đi này nhiều không kể hết được, đúng nghĩa là thanh lọc hoàn toàn cơ thể và tâm trí. Chỉ riêng việc ăn chay, ăn ít, không khí trong lành và thực tập hít thở và tập trung vào giây phút hiện tại làm toàn bộ cơ thể cũng như tâm trí trở nên nhẹ nhõm và bình yên. Mặc dù thiếu ngủ nhưng tôi không hề đau đầu, không mệt mỏi, tâm trạng luôn vui vẻ, thoải mái. Những bài giảng pháp còn rất gần gũi với cuộc sống hàng ngày, những câu chuyện được chia sẻ trong giờ thảo luận làm suy nghĩ của tôi sâu sắc thêm rất nhiều.  Sự kết nối giữa tôi và con trai cũng trở nên gắn bó hơn. Hai mẹ con lúc thì ngồi chơi trong thiền đường, lúc thì dắt tay nhau đi dạo và hát thiền ca. Buổi tối ngắm sao trên trời, ban ngày ngắm cây cối xung quanh, nghe tiếng dế kêu, chim hót, tận hưởng từng phút từng giây.

Cậu bé của tôi cứ lê la chơi suốt ở ngoài bãi cỏ, chơi với các bạn, chơi với cào cào, châu chấu, sâu bọ. Bạn ấy vui lắm, cười nói suốt ngày. Bạn cũng thuộc và rất thích hát các bài thiền ca. Tôi rất cảm động khi đọc lá thư của bạn, chỉ vỏn vẹn có mấy câu nhưng rất nhiều trái tim và có hình con bọ ngựa to đến nửa trang giấy. Suốt năm ngày ở Làng, bạn cũng phải ăn chay giống người lớn, chỉ có cơm, rau hoặc bún, phở chay nhưng nấu rất ngon. Ăn uống đơn giản mà tôi cũng ngạc nhiên thấy bạn ăn ngon lành, ngủ ngoan, chơi ngoan và tự lập cũng như hiểu biết thêm nhiều điều mới.

Được trò chuyện, gặp gỡ với nhiều người từ khắp các nơi tôi mới biết rất nhiều người đi với bố, mẹ, con nhỏ hoặc đưa cả gia đình đến đây. Năm nay Làng chỉ nhận 600 người và đó mới chỉ là một nửa số lượng thiền sinh đăng ký. Rất nhiều người không được đi vì hết chỗ hoặc phút chót vẫn đi vì lỡ mua vé rồi nhưng ra ở bên ngoài. Thế mới thấy sức hút của nơi này lớn đến thế nào. Gặp gỡ và học hỏi cùng với tăng thân Làng Mai giống như tiếp xúc với một nguồn năng lượng tích cực, mạnh mẽ nhưng vô cùng ấm áp, tươi vui khiến người ta nhớ mãi.

Để xem thêm một vài hình ảnh của khoá tu, xin bấm vào đây:

http://langmai.org/dai-may-tim/vien-anh/lang-mai-thai-lan/lang-mai-thai-lan-2017/khoa-tu-phep-la-cua-su-tinh-thuc/

Sen ngát hương ngọc lan

Vậy là mùa hạ đã bắt đầu, những nụ sen đầu mùa đang vươn lên trên mặt hồ, nở tròn thanh khiết. Mỗi sáng chị em chúng tôi thiền hành quanh hồ sen ở đài Quan Âm và hạnh phúc nhìn ngắm, tận hưởng những nhiệm mầu của cuộc sống. Có những đóa sen nở tròn viên mãn, có những đóa hàm tiếu chờ tỏa ra, và thật nhiều những chồi sen vừa mới nhú lên khỏi mặt nước. Tôi vốn ưa thích hoa sen từ nhỏ, vì hoa sen gắn liền với đạo Phật và với hình ảnh của Đức Thế Tôn trong tuổi thơ tôi. Từ nhỏ tôi thường dùng nhiều hình ảnh hoa sen để thể hiện ước mơ thầm kín của mình là được làm người tu. Cầm ngòi bút trên tay bao giờ tôi cũng vẽ xuống một đóa sen, những bài thơ tôi làm cũng lấy hình ảnh hoa sen. Đặc biệt mỗi lần mắt tôi chạm thấy bất cứ bông hoa sen nào thì niềm vui trong tôi lại rạo rực, hớn hở, vì ở đó bao giờ tôi cũng gặp gỡ được khối tình thiêng liêng của mình với Đức Thế Tôn, với con đường của Đức Thế Tôn. Lưu lại trong thơ tôi có câu “Gởi trong sen trắng mối tình thiêng liêng” – mối tình đầu với Đức Thế Tôn thiêng liêng là vậy!

Đứng yên lặng bên đài Quan Âm, tôi lại ngửi được hương ngọc lan nồng nàn. Một gốc ngọc lan to lớn, đúng là cổ thụ. Hoa thật nhiều nên tôi chỉ còn ngửi thấy duy nhất hương ngọc lan. Thường hương sen  thơm lắm, nhưng trong khung cảnh này thật là “Sen ngát hương ngọc lan mà!”. Câu nói trong đầu khiến tôi thấy điều gì đó lạ lùng nhưng thật vui. Phải, sen có hương sen, ngọc lan có hương ngọc lan, nhưng hương ngọc lan có vẻ nổi trội nên mình không ngửi được hương sen. Điều đó không có nghĩa hương sen không có, không thơm, không quý. Cũng vậy, hình ảnh hoa sen đang thu hết sự chú ý của tôi bởi cánh hồng phớt trắng thanh khiết và nhẹ nhàng, nhưng cũng không có nghĩa là hoa ngọc lan vắng mặt. Tôi mỉm cười với vài điều liên hệ tới cuộc sống quanh mình. Chị em chúng tôi đang quây quần trong ngôi chùa nhỏ này chỉ  còn sáu chị em xuất sĩ và chín em tập sự. Mỗi người mỗi hương, mỗi hoa. Có người mạnh mặt này hơn, có người mạnh mặt khác. Mỗi người bổ trợ cho nhau, đóng góp cái tốt nhất của mình cho đại chúng. Sáu chị em tôi, mỗi người đứng ra lãnh lấy một trách nhiệm hướng dẫn các sư em tương lai. Người khá nghi lễ thì đứng lớp nghi lễ, người khá ngoại ngữ thì đứng lớp ngoại ngữ, lớp giới luật, lớp phật pháp căn bản, lịch sử Bụt, thiền ca…  Dĩ nhiên trong mỗi người đều có nhiều khả năng, có thể không mấy nổi trội, nhưng ai cũng đang phát huy khả năng tốt nhất của mình để làm cho Tăng thân đẹp nhất, hay nhất, lợi lạc nhất. Tôi cảm thấy rất hạnh phúc, thảnh thơi và nhẹ nhàng với tinh thần này. Mình không cần phải cố gắng làm tất cả. Mình chỉ cần hiến tặng hay nhất khả năng của mình. Như sen nở, ngọc lan tỏa hương, cũng thú vị quá còn gì. Mình tận hưởng trọn vẹn tinh hoa của mỗi loài.

Sống trong tăng thân, tôi thường ưa thích việc quan sát mình và liên hệ của mình với những người xung quanh. Thi thoảng tôi vẫn thấy vài lần chị em không cùng ý kiến, không vừa lòng nhau. Nhất là khi mình sống trong môi trường nhỏ, ở rất gần nhau. Mỗi người đều có sự khác biệt trong kinh nghiệm sống, nhận thức, lãnh hội khác nhau nên bên cạnh nhiều cái hay, cái đẹp, vẫn còn đó những vụng về, yếu kém. Chị em tôi người về từ xóm Hạ, xóm Mới, người từ Mộc Lan, Bích Nham, người về từ Học viện ở Đức, còn tôi thì mới về từ Thái Lan. Tôi sống không để ai ra khỏi lòng mình dù sự khác biệt có khi làm mình không dễ chịu. Tôi nhận diện và soi sáng cho mình bằng cái tuệ giác “Sen ngát hương ngọc lan” – hình ảnh nuôi dưỡng mà tôi vẫn tiếp xúc và trân trọng trong đời sống tăng thân. Ai cũng có những tích cực, lành mạnh và tốt đẹp đã và đang nuôi dưỡng mình. Mình phải chấp nhận nhau, chấp nhận sự khác biệt trong từng tính cách, nhận thức và hành xử. Mình không thể bắt hoa sen thành hoa ngọc lan được, cũng không thể bắt hoa ngọc lan phải tỏa hương sen. Mỗi loài hoa có phần hiến tặng riêng của mình. Nếu mình biết đón nhận, tận hưởng thì mình giàu có, tăng thân mình giàu có. Tất cả có thể hòa vào nhau nếu mình buông đi phần cố chấp vào bản ngã mình có – “Tôi là hoa sen, tôi tỏa hương sen; chị là hoa ngọc lan, chị tỏa hương ngọc lan. Nếu có tôi thì không có chị, vì hương của chị khiến mọi người không thể ngửi được hương của tôi”. Tôi vẫn sống rất gần với những tâm hành, cảm xúc, tri giác đến đi trong tâm mình. Tôi thấy đời tu mình vui đủ với những vấn đề và tuệ giác xử lí vần đề. Mỗi lần đi qua những phản ứng trước những khác biệt ấy, tôi biết mình chưa giỏi trong việc làm chủ mình, và tôi biết tôi đã hành xử thiếu tuệ giác. Nhìn lại thấy may vì tôi không thất bại quá nhiều, nên ngôi nhà nhỏ này với tôi đủ nuôi dưỡng, đủ hạnh phúc.

Mỗi cơ hội làm biếng chị em tôi không hẹn hò mà cứ xúm xít bên nhau – buổi cơm, tiệc trà, những câu chuyện đông tây ngập tràn tình huynh đệ, và gần hơn cả là những chuyện vui trong ngôi chùa nhỏ, câu chuyện của các sư em tương lai. Các em mới vào tu, nên đi đâu chúng tôi cũng bắt gặp những vụng về của các em. Vậy là chị em tôi phải huân tập thói quen mới, thói quen để ý để nhắc nhở các em. Bây giờ tôi mới thấm hiểu nỗi lòng của quý sư cô đã từng chăm dạy chúng tôi thời đầu tập tu ở thiên đường Bát Nhã. Phải nói là ngày xưa có khi tôi cũng thấy sợ những lời nhắc nhở mỗi ngày của quý sư cô, nhưng cái sợ ấy sách tấn, chỉ đường cho tôi hoàn thiện bản thân. Tôi thấy lòng mình biết ơn những người đi trước và ý thức rằng mình phải tiếp nối tình thương ấy, trách nhiệm ấy. Tôi cẩn trọng với tâm mình. Không để trách nhiệm nhắc nhở các em vô tình tưới tẩm hạt giống khó tính, bực bội trong tôi. Mỗi ngày tôi để tâm nuôi lớn tình thương, kiên nhẫn, hiểu thương trong mình. Thỉnh thoảng tôi vẫn thất bại khi thiếu chánh niệm, nhưng tôi không buồn vì tôi kịp thấy tâm mình, điều chỉnh và nuôi lại những hạt giống lành đẹp và lý tưởng thanh cao. Thấy các em mới vào tu còn nhiều chật vật, tôi thấy thương nên để tâm chăm sóc, có khi nhẹ nhàng khuyên bảo, có khi dạy thật mạnh, có khi kiên nhẫn điều chỉnh những nhận thức sai lầm của các em về sự tự ti yếu đuối của các em, sự cố gắng đến mức căng thẳng,… Tôi thật mừng khi các em đang đón nhận được tình thương của tôi, dù tình thương ấy vẫn chưa hoàn hảo và lớn rộng như tình thương của Thầy và các anh chị lớn của tôi.

Tôi thường trở về nhìn ngắm lại tâm tư mình, can đảm đối diện, nhìn nhận những thất bại dù vi tế. Tôi cũng không quên ăn mừng, tán thưởng mình bằng nụ cười mãn nguyện với những hoa trái tôi làm được trong ngày. Những hoa trái của công phu. Dừng lại, nhận diện tâm mình, chấp nhận và quán chiếu để chuyển hóa những tiêu cực của bản thân…, từ đó tôi đã có thể dễ dàng hơn để chấp nhận, hiểu, và thương các sư chị, sư em và thế hệ tương lai của mình một cách chân tình và sâu sắc.

Tôi thấy lòng tôi nhẹ và vui, cuộc sống trở nên hanh thông và đơn giản. Tôi để tâm xây dựng huyền thoại Tuệ Uyển bằng những bước chân thảnh thơi và an trú, bằng tiếng kinh tụng trầm hùng hôm sớm, bằng những bữa cơm sum vầy, với những tháng ngày chị em đang có mặt bên nhau nơi này. Tôi biết ơn vì tôi đang được sống nơi đây từng ngày bình yên. Tôi biết ơn từng đóa sen trong hồ, tôi biết ơn hương ngọc lan và suối nguồn tuệ giác của Bụt Tổ đã thấm vào tâm tôi, giúp tôi biết nuôi lớn hạnh phúc và cởi trói những sợi dây phiền não âm thầm buộc lấy mình.

                                                      Tuệ Uyển ngày đầu Hạ 2017

                                                               Chân Tuyết Nghiêm

Vườn bưởi sân trăng

Mọi người vẫn thường đùa cái trụ điện cao thế ở đây là tháp Eiffel, bởi vì so với cái chùa nhỏ bé như nơi chị em tôi ở thì cái trụ điện cao thế này cũng có thể cũng hùng vĩ như tháp Eiffel nằm giữa lòng thủ đô Paris của nước Pháp. Đêm qua trăng rằm tháng giêng sáng cả sân vườn. Đứng ở dưới chân “tháp Eiffel Tuệ Uyển” là điểm sáng nhất của sân chùa đêm trăng. Chị em chúng tôi có cơ hội đi thiền trăng một vòng quanh vườn chùa rồi về đó ngồi ngắm trăng. Trăng thật đẹp, tôi nghĩ đến cái tên gọi cho trụ điện cao thế thấy vui vui, nó cũng có duyên đấy chứ!

Từng bước chậm rãi trên con đường hàng cau, đi ngang qua vườn bưởi, tôi lại cảm nhận rõ ràng hương hoa bưởi thơm ngào ngạt. Tôi lấy làm thích thú vì rằng tôi nhớ nghe đâu đó các thi sĩ đã từng diễn tả cái không khí thi vị này. Vườn bưởi sân trăng hòa vào bước chân nhẹ nhàng thanh thản của những con người đang hướng về sự tỉnh thức. Lòng tôi cũng nhẹ lâng đi giữa các chị em. Cùng nhìn về một hướng, những thế ngồi vững an lòng tôi cảm nhận, đã mở ra một đêm hội trăng rằm lung linh, huyền hoặc. Tôi cũng ngồi đó lắng yên và hạnh phúc. Tôi thật đang ở trong lòng quê hương – có hương bưởi, hương cau thoang thoảng trong gió, có tiếng côn trùng rỉ rả trong đêm… Tôi lại được về với mình, rồi ẩn mình trong một giấc ngủ bình yên.

Sáng thức dậy, trăng còn đó treo vắt vẻo trên “tháp Eiffel Tuệ Uyển” trước sân. Tôi ghé thăm một chút và im lặng thưởng thức không gian huyền hoặc ấy. Những vần thơ lại tìm đến ngẫu nhiên. Lâu lắm rồi mới bắt gặp lại cảm giác thân quen này. Tôi lấy giấy bút ra viết xuống mấy dòng mộc mạc cho tôi và để chia sẻ với những người tri kỷ.

Ánh trăng ghé bên thềm 
Vườn bưởi ngát hương đêm 
Trần gian hóa Tịnh Độ 
Nhân tâm thoát não phiền 

Ánh trăng ghé qua thềm 
Trong lặng lẽ bình yên 
Tâm tu vẫn nguyên vẹn 
Tình thương thêm vững bền 

Ánh trăng ghé bên thềm 
Chuông đại hồng vang lên 
Muôn loài nghe tỉnh thức 
Quay về nẻo chân nguyên 

Ánh trăng ghé qua thềm 
Dáng ai ngồi thật yên 
Niềm vui áo giải thoát 
Ôi mầu nhiệm cõi thiền 

Ánh trăng ghé qua thềm 
Đưa tiễn một màn đêm 
Cho ban mai tìm đến 
Gặp gỡ ngày bình yên.

Nhờ lời Thầy dạy mà tôi đang biết cách để tận hưởng cuộc sống này. Tôi đang nuôi mình bằng những hạnh phúc bình dị, những quà tặng tự nhiên. Rõ ràng năng lượng chánh niệm mang tôi về có mặt cho sự sống và mang sự sống về hiển bày trước mắt tôi, mở ra cho tôi một chân trời bình an và hạnh phúc. Một nụ cười mãn nguyện nở trong tim tôi. Tôi lại tiếp tục đón nhận những ân huệ của cuộc đời và giá trị của con đường tôi đang đi.

Tuệ Uyển – 13.02.2017.

Con dấu hạnh phúc

Về Sơn Cốc, ngôi nhà nhỏ bình yên với rừng tre Ca Lan Đà râm mát, bên suối Tào Khê róc rách, thầy tôi nằm đưa võng và chúng tôi ngồi quây quần bên Thầy. Tiếng chim líu lo trong một ngày nắng đẹp, tôi thấy tuổi thơ mình trở về gần gũi và thân quen như những ngày về quê ngoại. Tịnh Độ hay ta bà, mơ hay thật? Khi Thầy tôi ngồi đó vẽ những vòng tròn thư pháp như đang chơi một trò chơi trẻ con.

Thầy nói: “Thầy đang trồng những quả bí, quả cam”. Hai chị em tôi đỡ lấy những “quả bí”, “quả cam” ấy đem phơi cho ráo mực. Phút chốc tôi thấy mình nhỏ bé như chưa từng là một người lớn. Dù lớn bao nhiêu tuổi, về bên Thầy chúng tôi vẫn có cảm nhận mình vẫn là những đứa bé con. Tôi ngồi đó và thoáng nhìn một con người nổi tiếng như Thầy sao lại bình dị đến lạ trong cách sống mộc mạc mà bền bỉ sắc son một lòng cho quê hương đến thế. Hình ảnh này đẹp lắm bạn ơi!

Tôi nhìn Thầy và thở, hình ảnh Thầy như tiếng chuông đại hồng gióng lên hồi chuông tỉnh thức mà vui sống. Tôi nhận ra mình đang được sống trong tăng thân, được thực tập khi nghe chuông, khi tiếp xúc với một bông hoa, một cái đẹp nên tự nhiên tôi đã có được những hơi thở mới bình an. Tôi cười khi nhận ra đứa bé bất an ngày xưa trong tôi cũng biết thở, biết cười, biết buông thư. Ngước nhìn lại, bé bắt gặp khuôn mặt ba bé ngày xưa cũng đã giãn đi những nếp nhăn và bắt đầu bình an trở lại, mọi người chung quanh cũng trở nên yên lắng và bình an trong cùng một nhịp thở của bé. Bé thở đều: “vào”… “ra”…, “vào”… “ra”…,“vào”… “ra”… theo từng nhịp như để lưu giữ cái phút giây mầu nhiệm ấy. Và càng nhìn Thầy bé lại thấy ba của bé bình an và thanh thản đến lạ! Bởi ngay giờ phút này, đứa bé ngày xưa là tôi ngày nay như nhận thấy hai đời sống tâm linh và huyết thống đang âm thầm lưu nhuận trong nhau, tôi đang được trao truyền và tiếp nối.

Rồi Thầy đã ôn tồn chỉ cho tôi cách xếp một tờ giấy, đóng một con dấu sao cho ngay. Bạn biết không, tôi đã từng nhập môn công việc đóng dấu cho văn thư và tôi đã từng đóng dấu cho cả ngàn cuốn sách. Vậy thì tôi đã cho ra đời biết bao con dấu? Nhưng hôm qua, tôi được học cách đóng một con dấu hạnh phúc. Con dấu đó ra đời sau những bước chân thiền hành bình an, hơi thở bình an, lời thăm hỏi bình an giữa tình Thầy trò. Thầy từ từ bước vào Nội viện (nơi dành cho gia đình xuất gia) và ngồi vào bàn vẽ trong ngôi nhà kính thân thương mà Thầy thường gọi đùa là xưởng vẽ của Thầy. Thầy ghi lên những “quả bí”, “quả cam” một câu thư pháp như trao truyền một bí kíp của khu vườn bí mật rồi nói: “Chữ Thầy đơn giản quá con hỉ!” Tôi chắp tay “Dạ”, khẽ thầm công nhận. Thầy cầm con dấu ấn xuống và đưa cho tôi. Đang mải mê chiêm ngưỡng những tác phẩm của Thầy, Thầy nhìn tôi và bảo: “Bây giờ con đóng dấu cho Thầy.” Tôi “Dạ” và hành nghề như trước đây tôi đã từng làm. Mỗi khi đóng một con dấu tôi lại nghe tiếng kêu lách cách quen thuộc, dù tôi đã nhẹ nhàng hơn trước đây nhiều lắm rồi đó.

Thầy tôi nhìn tôi cười, chầm chậm bỏ cây bút xuống, rồi ôn tồn chỉ cho tôi cách đóng một con dấu, canh con dấu như thế nào cho thẳng với mép giấy vuông góc đi vào, rồi ấn bốn góc cho ngay ngắn. Một con dấu đỏ tròn đầy và đẹp lạ lùng hiện ra như vừa được khai nguồn sự sống. Tôi nhìn lại những con dấu vụng về của mình và cẩn trọng đón nhận kinh nghiệm và niềm vui mà Thầy vừa chỉ dạy. Một con dấu bình an trong cách trao truyền và tiếp nhận. Tôi nhận ra những con dấu ngày xưa của tôi vô hồn và tội nghiệp với những hơi thở dồn dập, những suy nghĩ miên man và nỗi buồn giận đã tạo nên những tiếng kêu chát chúa và đanh lại nơi góc phòng làm việc. Tôi nhận ra tôi đang được học một bài học không có trong sách vở. Bài học tạo ra không gian bình an để vui sống và làm việc. Bây giờ tôi cảm nhận rõ hơn nguồn năng lượng bình an mà Thầy đang hiến tặng cho cuộc đời, Thầy gìn giữ cẩn thận trong từng hơi thở, trong từng bước chân đi và từng lời giảng mộc mạc chân tình.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpgGiờ đây tôi có cơ hội đóng lại những con dấu, mỗi con dấu hôm nay ở Nội viện mang theo bao niềm vui, bao hạnh phúc. Và tôi biết trong mỗi tấm thư pháp ấy Thầy đã gói lại rất nhiều ân tình cuộc sống để gửi tặng cho đời. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy những tán lá xanh ve vẫy, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối róc rách và nắng hạ. Bởi Thầy đã khai sinh ra những đứa con này trong cái thanh bình của một nơi bình yên như thế, với nhiều tình thương như thế.

Đĩa mực đã hết, Thầy lại ung dung nhỏ vào mấy giọt nước và khẽ nói: “Nếu có mấy giọt trà thì thơm hơn”. Tôi tủm tỉm cười và mang lại cho Thầy một cốc trà rồi thưa: “Dạ liệu mọi người có biết trong này có hương thơm của trà không, thưa Thầy?” Thầy cười và nói: “Họ không biết nhưng mà mình biết và chưa chắc họ đã biết trong này còn có hơi thở nữa…” Tôi đỡ tấm thư pháp từ tay Thầy, bàn tay tiếp nối bàn tay sẽ đưa những tấm thư pháp này về muôn hướng. Mầu nhiệm thay một mảnh giấy nhỏ có thể chứa biết bao ân tình cuộc sống của Thầy và Tăng thân.

Cầm một tấm thư pháp “Uống trà đi”, tôi lại thấy hình ảnh Thầy ung dung hớp từng ngụm trà nhỏ và nói “Uống trà đi các sư con” mà tôi vẫn thường nghe. Tin rằng khi bạn thấy dòng chữ này, bạn cũng sẽ nghe giọng nói thân quen của Thầy vọng về nơi từng con chữ. Xếp lại chồng thư pháp, con dấu nhỏ mỉm miệng cười tươi như hoa ban sớm để chào tạm biệt tôi. Tôi cười đáp lại. Ngày mai những con dấu sẽ cười tươi với bạn và bạn nhớ cười lại cho tươi bạn nhé! Bởi mỗi nẻo về của niềm vui sẽ tiếp nối đường đi cho những niềm vui mới. Một ngày mới đang bắt đầu bạn có nhận ra không?

Nhật ký thị giả

20.06.2012

Hôm ni là ngày đầu tiên con tập sự làm thị giả cho Thầy. Con thấy trong con có một chút hồi hộp, mừng rỡ, sung sướng, mắc cỡ và hơi lo lắng… Quý Sư mẹ nở hoa cười tươi khi biết con được làm thị giả, quý sư chị thì căn dặn con đừng làm bể đồ gì của Thầy nghe, con chỉ “nhe răng” cười. Thầy ơi! Răng mà con “hậu đậu” quá, con không biết phải làm gì cả. Mấy bữa ni, con hay đi khoe với Bụt là con được làm thị giả cho Thầy và con xin Bụt yểm trợ. Thầy là nơi bình an nhất rồi, sao con còn run nữa? Sáng ni, con đã đọc đi đọc lại những chương uy nghi có liên quan tới việc làm thị giả. Con tự nói với mình rằng Thầy là cha ruột của mình mà. Nói rứa thôi nhưng tim con vẫn đập “tưng tưng”, mặt con đỏ bừng mỗi khi gặp Thầy. Con gọi tên từng cảm thọ nổi lên rồi mỉm cười với chúng. Mong sao lần tới con bớt run và tự  nhiên hơn. Con nghe Thầy nói bụng Thầy không được khỏe. Cho con gửi lời thăm đến cái bụng của Thầy, cái bụng ngoan nhé cho Thầy con khỏe.

Thầy ơi! Con muốn nói với Thầy là chúng con rất hạnh phúc khi Thầy còn đây và niềm an vui của Thầy là gia tài lớn nhất cho chúng con. Hôm ni, Thầy có dạy về Tư niệm thực, mỗi người phải biết nuôi dưỡng trong mình một ước mơ, biết buông bỏ những điều vụn vặt, vô ích. Con sẽ để thêm thì giờ quán chiếu và thực tập xây dựng một Bát Nhã trong mình.

 

03.07.2012

Sáng ni, con được dạo chơi cùng Thầy ra vườn. Con vui lắm lắm!

Thầy đã chỉ cho con những cây Thầy trồng cách đây 35 năm. Đó cũng là con của Thầy, là Sư anh, Sư chị của chúng con, hơn con tới 15 tuổi lận. Thầy nói những cái cây đó không bao giờ bỏ Thầy, luôn trung thành với Thầy. Thưa Thầy! Con cũng sẽ như vậy, không bao giờ rời bỏ Thầy, rời bỏ Tăng thân, không bao giờ từ bỏ ước nguyện, Bồ đề tâm ban đầu của mình. Thầy tin con nhe!

Thầy nằm trên võng, con đưa nhè nhẹ. Hai thầy trò mình nhìn lên nền trời xanh thẳm. “Trời hôm nay đẹp quá! Thầy đố con tại sao nền trời lại màu xanh? Nếu màu da trời là xanh thì tại sao ban đêm nó lại màu đen?” Con chỉ biết trả lời ý sau: “Dạ tại vì ban đêm mặt trời đi ngủ nên bầu trời màu đen, còn vế trước thì con không biết”. Thầy dạy: “Con về tìm hiểu thử coi. Vui lắm!”  Rồi Thầy chỉ cho con những chiếc lá bạch dương đong đưa trên cành, con thấy nó giống như đang hát, chị gió thoảng qua làm nó cứ hát mãi không thôi. Con ý thức rất rõ là Thầy còn đây cho chúng con. Tự nhiên con lại xúc động nữa rồi. Giây phút ngồi bên Thầy thật là hạnh phúc, đâu cần phải làm gì.

Tuy con còn nhiều vụng về nhưng trong thời gian ni con chưa làm bể đồ đạc chi cả. Con mừng quá! Con tự căn dặn mình là phải thật chánh niệm, ý thức những gì mình đang làm. Có những lúc con không hiểu ý Thầy như Thầy muốn đi cửa trước, con lại bỏ dép cửa sau, thay vì lấy cái muỗng thì con lại lấy cái dĩa, quên nón của Thầy, rang đồ bị cháy… vậy mà Thầy vẫn từ bi mỉm cười, chỉ lại cho con. Con thấy con có rất nhiều phước đức, cái gì không hiểu thì con đi hỏi quý sư mẹ, sư chị. Sư mẹ Định Nghiêm hết lòng hướng dẫn tổng quát cho con và sư em Trăng Phương Nam về việc làm thị giả. Con cũng hay hỏi Y chỉ sư con và các sư chị trong phòng, các sư chị chia sẻ xong thì con bớt hồi hộp và an tâm hơn rất nhiều. Y chỉ sư con tuy trẻ nhưng rất giỏi, việc gì cũng biết. Con rất vui khi được gọi Y chỉ sư là sư chị thay vì sư mẹ. Trong thời gian làm thị giả, con chưa bị ai rầy hay nhắc nhở chi cả. Con chỉ suýt khóc mấy lần vì xúc động. Hôm nay, đi dạo ở Sơn Cốc, Thầy xoa đầu con rồi bất chợt nói: “Lỡ mai này con rời xa Thầy thì răng hè?”, lòng con se lại, con biết chỉ có sự thực tập hạnh phúc, bình an mỗi ngày mới là câu trả lời hay nhất cho con.

Ngày mai, Thầy có phỏng vấn ở Xóm Mới, tự nhiên con cứ trằn trọc suốt. Thầy là người trả lời câu hỏi chứ đâu phải con mà sao con thấy tim mình đập tưng tưng. Con mất ngủ chừng mười phút rồi ngủ say sưa tới sáng. Những lúc đợi Thầy qua, ban thị giả chúng con cứ bị chọc là: “sao hôm nay chit khăn đẹp rứa?” À! Mà cũng lạ, ai làm thị giả Thầy thì tự nhiên uy nghi người đó đẹp ra.

04.07.2012

Chiều hôm ni, con được đưa cơm qua Sơn Cốc, Thầy nói: “Hôm trước con hứa với Thầy là không bao giờ rời bỏ Thầy, bỏ Tăng thân, đó là con hứa trong hiện tại thôi, đâu biết được sau này ra sao. Vô thường lắm!” Thưa Thầy con nói thiệt mà. Con biết đây là ngôi nhà hạnh phúc nhất cho con.

Thầy còn dặn nếu lỡ con có vướng mắc ai thì nhớ báo cho Thầy biết ngay. Dạ vâng ạ! Con nghĩ con xấu xí, vụng về như ri thì có ai khờ mới vướng con mà con cũng không dám vướng ai. Con muốn là một con người tự do. Con có kể cho các sư chị con nghe về lời căn dặn của Thầy, chị em con nói sẽ để ý, nâng đỡ nhau. Con thấy mình rất may mắn và hạnh phúc khi được sống trong Tăng thân, được che chở và bảo hộ.

Hôm nay, trong bữa ăn, câu nói của Thầy làm con cảm động quá. Thầy nói Thầy rất hạnh phúc vì còn có thể đi thiền hành được lên đồi. Thầy đã thực tập cho Ôn Trúc Lâm và nhiều Ôn khác bằng tuổi của Thầy đang ở quê nhà. Thầy rất cưng đôi chân của mình, đâu biết còn bước được bao lâu nữa. Nghe tới đó thôi, mắt con đỏ hoe, mũi con cay cay. Con suýt khóc, may mà cầm lại được không thôi thì quê lắm. Thầy ơi! Đôi chân con đây còn khỏe mạnh, con sẽ bước cho Thầy.

Không biết sao càng gần Thầy, con càng thấy mình như gần Bụt, bình an, nhẹ nhàng, không cần lo lắng chi cả, bồ đề tâm con lên phơi phới. Thầy như một nguồn năng lượng vô tận, không bao giờ hết hạn sử dụng, cứ cho mãi, cho đi mãi không thôi. Mỗi lần con làm biếng thực tập, con nghĩ tới Thầy thì con làm siêng hơn. Khóa tu mùa Hè ni không có thời khóa tập thể dục buổi sáng. Con rất thích dậy sớm để tập khí công. Con đã đặt đồng hồ báo thức rồi nhưng con cứ ngủ nướng thêm một chút. Có khi một chút của con kéo dài tới giờ thức chúng luôn. Con còn ham ngủ quá Thầy ơi! Sáng ni, con cũng muốn “nướng’ thêm một xíu nhưng trong đầu con hiện lên hai chữ “Sư Ông”. Vậy là con giật mình tỉnh dậy. Hai bốn giờ tinh khôi đang chờ đón con, con nhoẻn miệng cười: “Thầy còn có công hiệu mạnh hơn đồng hồ báo thức.”…hi hi hi…

 

11.07.2012

Thưa Thầy! Hôm nay, con có một tâm hành không dễ thương. Đó là lúc thiền sinh đưa quá nhiều sách xin chữ ký Thầy. Con không muốn nhận, con thấy một chút gì đó không vui khi họ nhờ ký một lần mấy chục quyển. Con biết cái bụng Thầy không được khỏe, con sợ Thầy mệt. Con không biết cách nào để trả lại vì chồng sách đã đặt sẵn trên bàn của con. Nhìn cái mặt của các bạn thiền sinh, con thấy tội quá đi. Ngày mai, họ phải rời Làng rồi, với lại chỉ cần một chữ ký của Thầy thôi là họ đủ hạnh phúc, giống như mang được Thầy về nhà. Con mang sách qua Sơn Cốc nhưng không dám hỏi Thầy. Con hỏi nhỏ Sư cô Chân Không, Sư cô trả lời: “Ký sách chắc Thầy không mệt đâu!”. Ai dè Thầy nghe được, Thầy bảo con để sẵn cây bút trên bàn, Thầy sẽ ký. Con mừng quá trời. Thầy con từ bi ghê!

Anh trai con có gửi nước yến qua cho Thầy nhưng Thầy nói: “Bỏ Thầy mà đi nên Thầy không uống đâu, Thầy còn đang giận.” Thầy nhìn con vừa cười vừa nói: “Mai mốt, con bỏ Thầy đi, con gửi gì về Thầy cũng không nhận đâu.” Con nhìn Thầy cười lại, con nghĩ con sẽ thực tập cho ngoan để chuyện này không xảy ra. Một lúc sau, Thầy cười ra tiếng và nói: “Thầy mắc cười quá con hơ? Thương chớ làm sao mà giận được!” Rứa là cả hai cùng cười. Con biết mỗi khi có ai bỏ chúng ra đi thì Thầy đau như mất một đứa con. Con cũng vậy. Bây giờ thì con hết buồn chuyện anh con đi rồi. Nhờ anh con dẫn dắt nên con mới biết Thầy, biết Tăng thân, mới trở thành một Sư cô. Con biết ơn anh nhiều lắm! Lúc trước, con cũng giận anh con vì anh chẳng hề nói cho con hiểu tại sao anh bỏ Thầy, bỏ chúng ra đi. Anh chỉ nói sau này lớn lên em sẽ hiểu, rằng anh luôn có mặt cho em, rằng mùa xuân ở Làng rất đẹp, em nhớ thưởng thức… Tự nhiên anh dắt con đi tu rồi bỏ con lại một mình như rứa… Nhưng may quá, bên con còn có Thầy, có pháp môn, có các Sư cha, Sư mẹ, Sư anh, Sư chị và Sư em rất thương yêu con. Những giây phút vui chơi, thực tập cùng đại chúng, con hay gửi năng lượng cho anh vì con biết ở ngoài đó chắc anh phải lo lắng, làm việc, phải bon chen… già đi nhiều lắm. Anh còn nói anh đang đem đạo Bụt áp dụng vào cuộc đời. Con mong cho anh có nhiều thời gian và bình an để tận hưởng những mầu nhiệm của cuộc sống. Em cảm ơn anh đã chăm sóc má, anh chị, chơi với mấy em giùm em. Anh em mình mỗi người làm thật tốt, thật đàng hoàng cái phần của mình là mình có mặt cho nhau rồi phải không anh? Em đang thở và mỉm cười cho anh nè! hi hi hi…

Ngày cuối cùng khóa tu mùa Hè.

Thầy nói hôm nay thiền sinh thực tập đi thiền hành trân quý và hạnh phúc lắm. Con cũng vậy, vì con ý thức được rằng hôm ni là ngày cuối hai chị em con được làm thị giả cho Thầy. Đi bên Thầy, con thấy bước chân mình trọn vẹn hơn, hơi thở đều đặn hơn. Đồi mận đẹp quá! Cảm ơn Bác hàng xóm đã cho chúng con đi trên đồi mận. Con nghĩ cái đồi này rất may mắn vì ngày ngày nó được in những dấu chân bình an.

Hai chị em con đưa Thầy về. Đến cửa, Thầy cho chúng con về nghỉ. Con và sư em Trăng Phương Nam xin đưa Thầy vô tận trong nhà, đặt lại túi kinh trên bàn cho Thầy. Ba thầy trò nhìn nhau, Thầy nói: “Làm thị giả giỏi lắm!”. Con thấy có cái gì đó nghẹn nghẹn nơi cổ, con lại xúc động nữa rồi! Thấy trái táo bị hở gió trên bàn, con thưa: “Con mang trái ni về nghe Thầy? Thầy cười và “Ừ” một cái. Ba thầy trò lại nhìn nhau. Thật khó nhưng con cũng phải thưa: “Chị em con về thiệt nha Thầy?” Cả ba Thầy trò nhìn nhau cười vui. Thầy xoa đầu chúng con và nói: “Khi nào thích các con cứ qua đây chơi, không cần phải làm thị giả mới được qua.” Chị em con mừng rỡ đồng thanh: Dạ! Ra khỏi Sơn Cốc, bước lên xe rồi, tự nhiên nước mắt con cứ chảy ra. Sư chị Doãn Nghiêm và sư em Trăng Phương Nam chọc con nhưng mà con không thèm sợ quê nữa. Lần ni, con khóc thật sự luôn, sướng ghê! Tới Xóm Mới thì con lau nước mắt kẻo quý sư chị thấy lại chọc con tiếp.

Con mừng là sau khi làm thị giả con không bị lên kí nào. Con nhớ tuần đầu con bị lên một kí vì chiều nào đưa cơm cho Thầy, Thầy cũng gắp cho con thật nhiều thức ăn. Con đón nhận hết lòng, ăn hết lòng và còn cười hi hi nữa. Các sư chị con ở xóm, nhất là Y chỉ sư nói con mà lên kí thì sẽ bắt con chạy thể dục năm tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thầy nói con mà mập thì Thầy sẽ chịu trách nhiệm cho con. Thầy nói như rứa nhưng con không muốn là một sư cô mập đâu, nên mỗi lần Thầy gắp thêm thức ăn cho con thì con lại trả giá: “Một xíu thôi thưa Thầy!” Thầy còn chọc con: “Ừ, một xíu.” Mà cái chữ “xíu” của Thầy nó thiệt là dài. Có những lúc Thầy nói: “Bây giờ, Thầy có xu hướng muốn đãi con ăn sô cô la nhưng Thầy sợ con mập nên Thầy sẽ chừng mực lại gùm con.” Con vừa mừng vừa tiếc. Cuối cùng thị giả xong, con xuống lại 1 kí. Cảm ơn trời đất!

Làm thị giả là cơ hội cho con được gần gũi và học hỏi từ Thầy. Con cảm nhận được tình thầy trò, cha con thật sự chứ không phải là một người đệ tử với một vị Thiền sư nổi tiếng. Càng thực tập con càng thấy thương Thầy và Tăng thân nhiều lắm. Con thấy giữa thầy trò mình có một sợi dây liên hệ vô hình nào đó rất mật thiết. Những lúc Thầy mệt, con cũng thấy đau đau. Thầy không muốn chúng con bị trúng mũi tên thứ hai, Thầy trúng mũi tên thứ nhất mà Thầy còn không lo thì tụi con lo làm gì, mỗi người tự lo phần của mình thôi là đủ rồi. Con lạy Bụt, lạy đất Mẹ, nguyện cầu cho vô thường gìn giữ Thầy chúng con. Con được học hỏi rất nhiều qua thân giáo, qua cách sống đơn giản của Thầy. Nhờ đó, con dần buông bỏ những “con bò” trong thân và tâm mình như đồ chơi, gấu bông, tập khí đi nhanh, nói nhiều… thật là vui và nhẹ nhàng!

Được làm thị giả với sư em Trăng Phương Nam, con thấy thoải mái lắm. Sư em hài hước, dễ thương, có trách nhiệm, đặc biệt rất thương Thầy, thương chúng. Có những lúc hai chị em con chọc nhau, nói qua nói lại, giành nhau làm, giành nhau ăn… đến hồi gay cấn thì sực nhớ ra mình đang làm thị giả cho Thầy, phải hòa hợp, nâng đỡ nhau. Vậy là cả hai bắt tay cười xòa. Có khi chỉ cần một thị giả đi theo Thầy thôi, hai chị em con quyết định bằng cách chơi xù xì, ai thắng thì được đi nhưng cuối cùng vì ham vui nên cả hai cùng đi. Sau mỗi lần làm thị giả trong ngày quán niệm tại xóm, hai chị em con cùng ngồi lại chia sẻ những vụng về của mình để rút kinh nghiệm cho kì tới. Cả hai cùng cười phá lên vì ngày nào cũng có thêm chuyện mới lạ, có thêm sự ngây ngô, thêm kinh nghiệm. Đến khi quen dần thì hết phiên được làm thị giả. Con biết hết làm thị giả rồi thì cơ hội gần Thầy cũng ít lại. Con thấy hơi buồn và tiếc tiếc.

Sau này, con hay được các sư chị thị giả mời làm thị giả của thị giả, đi thiền hành theo Thầy, làm đậu hũ hay trồng cây… Con hạnh phúc lắm. Thưa Thầy con đã trồng xong cây hoa “rung rinh” sau vườn rồi ạ. Con cũng đang trồng con vào Tăng thân, cắm rễ, lớn lên, đâm hoa kết trái. Thầy ơi! Con sẽ là một cái cây xanh tươi, vững chắc trong khu vườn Tăng thân. Thầy đã dạy chúng con trở về với ngôi nhà đích thực của mình là biết ôm ấp, chấp nhận, thương yêu và chuyển hóa chính mình. Con nguyện tận hưởng giây phút hiện tại bằng cả thân tâm. Đó là ngôi nhà an ổn tuyệt vời nhất cho tất cả chúng con. Khi nào con lỡ quên, xin Thầy nhắc nhở lại giùm con. À! Con muốn kể cho Thầy nghe một tin vui trong khi đi thiền hành sáng nay. Vì trời mưa và có gió nên Thầy không dẫn đại chúng đi thiền hành được. Sư cha Pháp Ứng dẫn đại chúng đi vòng quanh nhà ăn Xóm Hạ. Con ý thức rất rõ là đất Mẹ đang có đó dưới từng bước chân của chúng con. Con bước thật nhẹ nhàng, tâm con lắng dịu. Con thưởng thức từng hơi thở và bước chân. Con đang đi bằng chính đôi chân khỏe mạnh của mình. Đã về, đã tới… con đang thực sự có mặt cho giây phút hiện tại. Và chỉ trong mười bước đầu tiên thôi, con thấy thân tâm con khỏe nhẹ. Cái cảm giác bình an, thoải mái lan tỏa toàn thân. Khi mình biết dừng lại mọi suy nghĩ, tính toán thì tự nhiên hạnh phúc nó tới phải không Thầy?

Mấy bữa nay, mỗi tối trước khi đi ngủ, con đọc một chương trong cuốn “Đường xưa mây trắng”. Con thấy con ngủ ngon và bình an sau đó. Thỉnh thoảng con còn mơ thấy Thầy. Con không biết sao mỗi lần đọc đến chương “Sao mai đã mọc” là tâm con lại chấn động mạnh. Hạt giống của giác ngộ, của thương yêu nằm sẵn trong tự thân mỗi người. Vậy mà bấy lâu nay mình không chịu nhận ra, cứ lặn ngụp trong biển sinh tử hoài làm chi. Bụt đã dạy, Thầy đã dạy như rứa, con cũng đã đọc đi đọc lại bao lần rồi mà sao con vẫn còn lênh đênh, mưa nắng thất thường. Con chưa là tri kỷ của Bụt được, con mới là hàng xóm thôi. Thầy nhớ nhắc con tới thăm Bụt thường xuyên nghe.

Con nhớ trong một bài pháp thoại, Thầy có nhắc tới kinh A Nậu La Độ. Bụt hỏi ngài A Nậu La Độ: “Có thể tìm Như Lai qua hình sắc, cảm thọ, tri giác tâm hành hay nhận thức không?” Ngài trả lời “Bạch Thế Tôn, không.” Bụt lại hỏi: “Vậy có thể tìm Như Lai ngoài những cái đó không? Đại đức thưa: “ Bạch Thế Tôn, không.” Bụt dạy: “Ngay khi ta còn sống đây mà còn không thể nắm bắt được thì huống chi sau khi ta nhập diệt”. Con nghĩ tới Thầy và con thấy mình thật may mắn vì Thầy còn đây cho chúng con. Thưa Thầy! Con đang tập nhìn sâu để thấy hóa thân Thầy trong các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và đặc biệt là trong con, trong từng bước chân, hơi thở…  Thầy nói mỗi khi nhìn thấy một sư cô, sư chú bước đi thảnh thơi hay ngồi chơi bình an và vững chãi là Thầy mừng lắm. Vì trong vị đó đang có Bụt, có Thầy. Con nhận ra rằng con đang được là con của Bụt, là sự tiếp nối của Thầy chứ không còn là hàng xóm nữa. Năm mới ni, con cũng xin làm mới sự thực tập của mình. Ngồi thiền cho có an lạc và tỉnh thức hơn, tập ngừng suy nghĩ khi đi, ăn cơm chậm lại để cảm nhận được món quà của trời Cha và đất Mẹ, tới chơi với chị em và các bạn thiền sinh nhiều hơn, làm việc gọn gàng, sử dụng đồ của chúng tiết kiệm đúng công dụng, đúng lúc, đúng chỗ, bớt vụng về lại… Khi càng thực tập có niềm vui con càng thấy được gần Thầy, gần Bụt. Càng lúc con càng có nhiều chuyện để viết thêm nhưng chắc con phải dừng lại ở đây thôi. Con mong cho Thầy luôn ngủ ngon, thời cơm ngon, chơi vui. Thầy đừng lo lắng nhiều cho chúng con Thầy nghe.

Thầy ơi! Con đã về thật rồi

Bên căn nhà xưa, bếp lửa hồng ấm cũ

Thầy trò ta cùng chung tay nhóm lửa

Hạnh phúc là bây giờ, ở đây

 

Con của Thầy

Chân Đôn Nghiêm

Sơn Cốc mùa trăng

(Thưởng thức một tuần làm biếng ở Sơn Cốc)

 

Chân Minh Hy

Chỗ tôi đang ngồi viết đây là trước cái lò củi ở Sơn Cốc, đêm nay là đêm cuối tôi ở Sơn Cốc, sáng mai tôi về lại Xóm Thượng rồi. Một tuần ở đây thật thú vị. Tôi chẳng làm gì hết. Chỉ có mặt và để cho năng lượng bình an ở đây thấm vào lòng.

Có bốn huynh đệ cùng đi chung. Thầy Pháp Đường đã về chiều hôm qua, thầy Pháp Siêu, thầy Pháp Linh đã về hai hôm trước, chỉ còn tôi ở lại. Chỉ có tôi là ăn cơm mỗi ngày ba bữa, còn ba Thầy kia thì nhịn đói theo phương pháp thanh lọc cơ thể. Ban đầu tôi không biết, cho nên đem đồ ăn trong một tuần cho cả tôi và thầy Pháp Đường, ai dè thầy cũng nhịn đói luôn, làm tôi tự nấu tự ăn một mình. Cũng vui. Nhưng sau đó thì lại vui hơn, vì ngày nào cũng được qua ăn cơm với Sư Ông. Thế là đồ ăn dư lại càng dư nữa. Tôi thì có tính hay mắc cỡ, ngại đi ăn cơm nhà người khác lắm! Sư Ông là Thầy mà, tại sao mình mắc cỡ nhỉ? Biết vậy mà vẫn mắc cỡ như thường, hồi nhỏ đã vậy rồi mà, tôi chưa đi ăn cơm của một nhà hàng xóm nào.

Tôi nhớ có một bữa đó, đang đi thiền hành thì bụng đói, lại nhớ các anh em ở Sơn Hạ nữa. Nghĩ rằng, lâu quá chưa được ngồi ăn cơm với các anh em ở Sơn Hạ, hôm nay mình xuống ăn cơm một bữa đi! Vậy là tôi rẽ lối đi xuống Sơn Hạ. Đến nơi rồi thì mới biết là mắc cỡ quá, biết là huynh đệ của mình đó mà không dám vào. Nghĩ bụng, chắc là chuông chưa thỉnh… nhưng chuông đã thỉnh rồi kìa, sao không có ai gọi mình một tiếng nhỉ! Thế là tôi đi một vòng quanh Sơn Hạ, rồi vác cái bụng đói đi về. Biết rứa đừng xuống cho rồi. Mắc cỡ đúng là khổ thiệt!

Tôi nghe sư em Chiêu Nghiêm kể, lúc đầu sư em làm thị giả cho Sư Ông thì căng thẳng lắm, thấy mệt quá chừng, sau một ngày làm thị giả thì về nằm thừ người ra (bây giờ sư em Chiêu Nghiêm làm thị giả quen rồi). May mà tôi chưa làm thị giả, chỉ nội một việc ngồi ăn cơm với Thầy thôi mà chẳng tự nhiên chút nào. Cơm cũng để Thầy xới cho, đồ ăn cũng để Thầy gắp cho. Nghĩ bụng, chắc bữa sau phải trốn thôi. Ngại quá đi. Nhưng ngày nào Thầy cũng cho thị giả qua gọi, trân quý cái tình của Thầy cho nên tôi lại đi. Có một bữa chiều, Thầy qua phòng và gọi: "Minh Hy qua đây chơi con!" Nghe Thầy gọi mà nhẹ cả người, qua chơi thôi chứ không phải qua ăn cơm. Ai ngờ, Thầy nói qua chơi, tức là qua ăn cơm đó. Thầy dễ thương thiệt!

Bây giờ thì tôi tự nhiên hơn chút xíu rồi. Có thể tự xới cơm cho mình và cho Thầy được rồi. Biết gắp đồ ăn cho các sư em nữa. Thầy thật là khéo, ở với Thầy một tuần thì thấy mình tự nhiên hẳn ra, thấy gần gũi nữa là khác. Chỉ có điều lúc đầu hơi bị ngố chút xíu. Thầy xới cơm thì ăn cơm, Thầy gắp thức ăn cho thì cũng cứ rứa mà ăn thôi. Cho đến một bữa, đang lúc ăn cơm Thầy nói: "Con gắp thức ăn cho sư em con". Đó là cái tình anh em đó, là không khí của một gia đình đó mà. Trong câu nói đó tôi chợt hiểu ý của Thầy, "cái tình Thầy đã trao cho con rồi đó, con nhớ trao lại cho các sư em con". Thưa Thầy, con đã hiểu, con sẽ trao lại cho các sư em của con.

Tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mà có cái tình Thầy – trò đẹp như ở đây. Nó mộc mạc, nó chân tình nhưng sao mà sâu lắng khó quên. Trong một tuần này tôi cũng được đọc hồi ký của Thầy, đó là một niềm hạnh phúc nữa. Người học trò nào cũng muốn biết thêm về Thầy mình, nhưng hiếm khi có những người học trò có được may mắn đó. Ngoài việc đọc hồi ký, tôi dành thời gian đi dạo quanh vườn, đi để nghe suối chảy, nghe chim hót và nghe tiếng gió reo qua rừng tre. Bước chân tôi nhờ vậy mà thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Tôi cũng có thời gian ngồi nhìn lại mình hàng giờ bên bếp lửa. Ở đây, lò sưởi điện bị hỏng cho nên anh em tôi đốt củi cả ban ngày lẫn đêm về, để chơi với ánh lửa và để sưởi ấm. Ngồi yên như vậy, tôi nhìn lại mình, nhìn lại sự tu học của mình ở Làng trong ba năm qua, nhìn lại con đường mà mình đang đi, nhìn lại tâm tư tình cảm của mình, cách mình xây dựng tình huynh đệ… Như người học trò kia, sau một năm học tập thì ôn lại bài để chuẩn bị cho một kỳ thi; còn tôi thì ngồi ôn lại những cái ấy, điều chỉnh một chút xíu trước lúc đi xa.

Vậy, đây cũng là quê hương của mình nữa rồi. Đáng lẽ ra phải nói là về quê hương chứ, mà về quê hương thì đâu có nói "đi xa" được. Tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi thuộc về nó và nó ở trong tôi lúc nào chẳng hay.

Tôi chép lại bài thơ này như là một kỷ niệm của tôi với Sơn Cốc.

Ta về Sơn Cốc

Mùa trăng dạo ấy

Tình đẹp như mây

Nhẹ tợ khói lam chiều

Mái tranh quê

Gọi về bao con trẻ

Bữa cơm chiều

Nhẹ gửi mối tình riêng

Tình thật đẹp

Như trăng kia ngời sáng

Dạ một lòng

Xin giữ mãi về sau.

Sơn Cốc ơi! Ta sắp đi. Đi là để trở về, nhớ là để thương nhau nhiều hơn.

Sơn Cốc 11.03.2012

Người làm vườn tận tụy

Khung cửa sổ phòng tôi nhìn xuống vườn cỏ rộng, nơi có cái nhà kính và vườn rau. Ngay cạnh cửa sổ, tôi kê một tấm ván gỗ coi như là bộ phản để ngồi uống trà. Từ chỗ ngồi này, mỗi ngày tôi nhìn xuống những thay hình đổi dạng của vườn rau. Nhưng những thay hình đổi dạng liên tục của vườn không phải là đề tài tôi muốn nói, mà điều tôi muốn nói tới là những người làm vườn.

Mùa Xuân và mùa Hè vừa rồi, một người em Tây phương của tôi đảm nhận việc làm vườn. Làm vườn, đối với người em ấy của tôi là một niềm hạnh phúc. Một lần, có người so sánh niềm vui khi làm vườn ấy của em tôi với niềm vui của những người trẻ đi shopping, em tôi cười hiền từ gật gù, nhưng im lặng. Chẳng những em tôi có mặt ở vườn trong những giờ chấp tác của đại chúng, em tôi còn có mặt ở vườn cả những lúc mà mọi người gọi là giờ rảnh rỗi hay giờ cá nhân. Vào những giờ rảnh rỗi và giờ cá nhân ấy, có người trong anh em chúng tôi dùng để học thêm chút tiếng Anh, tiếng Pháp hay chữ Hán; có người ngồi trước máy tính viết thư cho gia đình, bạn bè; cũng có người nhâm nhi tách trà rồi khe khẽ hát một mình trong phòng vắng; cũng có người ở phòng học, trước một chồng sách dày đang tìm tòi nghiên cứu; và cũng có người đi lang thang trong rừng hay đơn giản chỉ là nằm khoèo trong chăn ấm. Người em ấy của tôi hiếm khi cầm tới cuốn sách, cũng chẳng hề để dành hàng giờ trong phòng học. Những giờ rảnh rỗi ấy, tôi thường thấy em tôi, từ điểm nhìn sau khung cửa sổ trên tấm phản, vui tươi quanh quẩn trong vườn rau. Có khi thì lo tưới tắm, khi thì chăm chú nhặt từng cọng lá vàng cho gốc cà chua, khi thì lấy rơm kê cho trái bí non mới rụng cuống hoa; lại có khi chỉ ngồi đó, trên gốc sồi giữa vườn cỏ rộng tênh đưa mắt mỉm cười nhìn quanh từng ngọn rau, từng cánh hoa.

Một buổi chiều, khi đó hãy còn là đầu Xuân, lúc mặt trời vừa chín đỏ trên đỉnh ngọn bạch dương ở góc rừng, tôi cũng ngồi sau khung cửa sổ, nhìn xuống vườn rau còn mùi đất mới, thấy em tôi ngồi trầm tư thật lâu trên một phiến đá cạnh cái giàn nhỏ mà năm trước một người em khác của tôi đã trồng su su và bầu. Tôi đã chẳng phải rời khỏi phòng, sẽ vẫn ngồi yên đó để ngắm những khoảnh khắc bình yên của em tôi như mọi khi nếu như khuôn mặt quen thân với đôi mắt xanh trong vắt ấy không mang vẻ hoang mang và kiếm tìm. Ngồi yên, nhìn quanh, rồi đứng dậy lục từng hũ từng bao bì trong cái thùng xốp ở góc vườn; mân mê từng cái gốc bầu khô dưới chân giàn, rồi trở về ngồi nơi phiến đá dáo dác nhìn quanh. Tôi rời phòng, xuống vườn sau và đi ra vườn rau nơi em tôi, khi ấy đang đào bới tìm tòi gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu khô quắt.

Một nụ cười tươi trên môi, nhưng không đủ vẻ hân hoan và sáng ngời trong mắt như mọi khi. Em tôi vừa chào hỏi và nói chuyện với tôi vừa tiếp tục tìm tòi cái gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu từ năm ngoái. Mấy vồng đất mới đã xanh chồi non, những bụi rau thơm trong nhà kính cũng đã cho nhiều lá non, cái giàn dưa leo cũng đã có ngọn, những vồng khoai tây đã gieo xong và vẫn còn đợi hơi ấm dưới lớp rơm phủ vàng nâu. Đưa mắt quanh vườn, em tôi chỉ cho tôi những loại rau củ vừa được trồng, vừa được gieo và trong giọng nói đã bắt đầu có chút hân hoan tươi tắn thường ngày. Sau khi đi hết một vòng bằng mắt quanh vườn, em tôi trở lại những cái gốc khô trước mặt và nói với tôi rằng năm ngoái, cũng thời gian này, những ngọn su su và những ngọn bầu đã bắt đầu leo lên giàn rồi, đã hơn tuần nay, em tôi tìm khắp vườn mà chẳng thấy hạt giống nào của những loài cây ấy cả. Em tôi cũng muốn có giàn mướp đắng, có giàn su su và giàn bầu như năm ngoái. Tuy phát âm những chữ đó không rõ lắm, nhưng tình thương cho những giống cây ấy qua giọng nói và ánh mắt em tôi là rất rõ ràng.

Năm ngoái, người làm vườn là một thầy người Việt Nam. Mùa Hè năm ngoái, những cái giàn thấp này được phủ đầy màu xanh của mướp đắng, su su và bầu. Em tôi trồng khoai tây và cà chua rất giỏi, và cũng bắt đầu thương mướp đắng, su su và bầu. Tôi chẳng rành rẽ chuyện vườn tược, kể cả chuyện trồng bầu, trồng su su và trồng mướp đắng. Tuy nhiên, tôi thấy vườn các xóm khác đã bắt đầu trồng xuống những loài cây này vào các hố ủ phân dưới chân giàn rồi. Tôi nói với em tôi thế, và trong đôi mắt màu xanh trong vắt ấy đã lấp lánh phản chiếu niềm vui, niềm vui ấy phảng phất một chút màu nâu nếu như tôi không nhìn lầm.

Ngày hôm sau, tôi được nghe các anh chị em làm vườn của các xóm khác kể lại niềm vui của họ khi họ lấy những cây su su giống, những cây bầu giống và những cây mướp đắng giống cho một thầy người Tây phương.

Cũng sau khung cửa, trên tấm phản gỗ ấy vào một buổi chiều đầu mùa Hè, tôi cũng ngồi đó nhìn xuống vườn, em tôi cũng ngồi trên phiến đá dưới những cái giàn thấp, nhưng chẳng hề có dáng tìm tòi và lo âu nữa mà đôi mắt trong màu xanh ấy đã vui tươi phản chiếu màu xanh của những trái mướp đắng, những trái bầu non, những trái su su non đang treo lủng lẳng trên giàn. Vườn rau là đạo tràng, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của em tôi.

Mấy tuần nay, cũng sau khung cửa sổ trên cái phản gỗ trong phòng, tôi ngồi đó nhìn xuống vườn rau đầu mùa Đông. Những cái giàn trống trơn chỉ còn vài cành khô quắt queo, đám dây bí vàng vọt dập nát sau thu hoạch, những vồng khoai tây chỉ còn cỏ dại, những luống cà chua còn lủng lẳng vài quả hoặc rất non hoặc đã thối và quanh vườn, lá khô phủ vương vãi trên những đám cỏ dại tốt tươi. Người em làm vườn của tôi đã đi tới một trung tâm khác rồi, đã mấy tuần nay cái dáng nâu điềm đạm ấy chẳng còn quanh quẩn trong nhà kính hay những vồng đất nữa. Vườn rau đã bị bỏ hoang gần cả tháng cuối mùa Thu. Tôi vẫn thường ngồi yên nhìn xuống vườn rau và theo dõi từng thay hình đổi dạng của nó, nhưng vì chẳng phải là người làm vườn giỏi, tôi ít khi để ý tới từng giống cây, từng họ quả mà chỉ ngắm nghía khung cảnh chung chung vậy thôi, đơn giản là vì tôi thích cái cảnh ấy. Thế nhưng ngày này qua ngày khác, khung cảnh vườn rau yêu thích của tôi vẫn là cái khô quắt ấy trên giàn, vẫn là cái dập nát ấy nơi đám dây bí và vẫn là cái tươi tắn hớn hở của cỏ dại nơi những vồng cà chua khoai tây. Có thay đổi chăng là cái khô quắt kia trở nên quắt queo hơn, cái dập nát kia có thêm màu vàng vọt và cái tươi vui của cỏ dại trở nên hân hoan, hớn hở hơn.

Một lần, tôi chẳng còn thấy vui khi nhìn mãi xuống vườn rau như mọi khi nữa. Thu chín, cây phong lớn trước cửa phòng tôi đang thay một chiếc áo mới rực rỡ và đã kéo tôi ra khỏi vườn rau héo úa. Ngồi bên cửa sổ, trên cái phản gỗ, tôi nhìn từng chiếc lá hình sao theo điệu hát khe khẽ của gió mà diễn điệu múa trở về. Từng chiếc từng chiếc, từng đám từng đám và rồi cơn mưa lớn hôm qua đã mời được hết những chiếc lá cuối cùng lên chuyến tàu chót mà trở về với Mùa Yên. Chiều nay, khi chút nắng ấm hiếm hoi cuối Thu đang lau khô những cành nâu khẳng khiu ấy, tôi vẫn ngồi bên khung cửa trên tấm phản gỗ, gió mang theo một mùi thơm rất quen thuộc đến cho tôi và khi đưa mắt nhìn theo hướng đến của cái mùi thơm thân quen ấy, tôi thấy một cột khói nhạt đang tung tăng nhảy múa tươi vui giữa bầu xanh và niềm vui. Vâng, một thứ niềm vui nhẹ như cột khói ấy cũng từ lòng tôi thoát ra, và ngay lập tức, cùng nhảy múa hân hoan giữa bầu xanh với cột khói đang bốc lên từ vườn rau ấy.

Một người em khác của tôi, cũng có đôi mắt xanh, trong và sáng như bầu xanh lồng lộng đầy nắng cuối Thu hôm nay, đang nói cười tung tăng trong vườn rau và với vài người cư sĩ nữa, đang gom hết những thứ khô quắt, héo úa và dập nát ấy thành một đống lớn, và từ đó mà những đám khói đã nhảy múa cùng với mùi thơm quen thuộc tới cửa sổ phòng tôi. Không như người em kia của tôi: trầm lặng, kỹ lưỡng và ân cần, người em này của tôi năng nỗ, sinh động và vui tính; trong khi người em kia của tôi chăm chút, tưới tắm, nuôi dưỡng từng cọng lá chồi hoa, thì người em này của tôi cắt, nhổ, đốt bằng hết những “hậu thân” của những cọng lá chồi hoa ấy. Thế nhưng, từ chỗ ngồi của tôi sau cửa sổ, vườn rau bỗng trở nên sinh khí lạ thường.

Trong đám dây bí dập nát ấy, em tôi nhặt được dăm quả còn tươi. Trước khi nhổ hết những bụi cà chua, em tôi đã gom hết quả dù còn non hay đã bắt đầu vữa. Ở cuối vườn, em tôi đã cắt hết cỏ dại và đang lật hết đám đất ấy lên. Chỉ trong một buổi chiều, cái vẻ hoang vu tiêu điều của vườn rau như đã bốc hơi theo đám khói thơm. Vườn rau, sau khi được dọn dẹp sạch sẽ và cày xong đất đã sẵn sàng cho một mùa mới. Em tôi với những người bạn trở lại bên đống lửa đang tàn dần theo hoàng hôn ngắn ngủi của buổi cuối Thu, ngồi đó, trên những khúc củi khô, cười nói và lên kế hoạch cho một vụ mùa khác vào năm tới. Nhìn xuống từ khung cửa sổ, tôi đã thấy màu xanh yêu thương quen thuộc từ đôi mắt phản chiếu những lá bó xôi, những lá cải, những đọt bầu, đọt mướp đang biểu hiện trong ánh mắt tươi vui hồng ánh lửa của em tôi. Vườn rau, dù lúc này chỉ là những đám đất nâu trống trơn, vẫn là đạo tràng của em tôi, là nơi tu đạo và là nơi hành đạo của em tôi.

Mỗi năm, chúng tôi đón hàng ngàn người về Làng tu học. Vào mùa Hè, mỗi tuần có cả ngàn người đến tu học chung với chúng tôi. Những khi ấy, tôi chẳng có cơ hội ngồi yên ở cửa sổ phòng tôi mà nhìn các em tôi làm vườn. Những lúc ấy là lúc chính tôi phải thực tập chuyện làm vườn. Thầy tôi dạy rằng thiền sinh là vườn của chúng tôi. Anh em tôi không phải ai cũng làm vườn rau giỏi như những người em có đôi mắt xanh mà tôi vừa kể, nhưng ai cũng phải học làm vườn, nhất là những khu vườn sinh động đến với chúng tôi hàng ngàn lượt mỗi năm. Chuyện làm vườn của anh em tôi là một quá trình học hỏi cam go tuy cũng có nhiều hoa trái. Mùa này là Mùa Yên, tuy cũng có những “khu vườn” đến tu học chung với chúng tôi và chúng tôi vẫn tiếp tục săn sóc những khu vườn ấy, nhưng mùa này, người làm vườn tận tụy nhất là Thầy của chúng tôi, bởi vì, mùa này là mùa mà Thầy chúng tôi phải nuôi dưỡng và chuẩn bị nhiều nhất cho những người làm vườn con, những sự tiếp nối của mình.

Thầy tôi đã bắt đầu sự nghiệp làm vườn của mình từ rất trẻ. Từ lúc ấy, Thầy tôi thường nói, Thầy đã ước có một khu vườn lý tưởng cho mình. Và Thầy đã thực hiện được điều mong muốn ấy một cách tuyệt hảo. Mới đây thôi, Thầy nói rằng cho đến lúc này, sau 70 năm thực tập làm vườn, Thầy vẫn thấy rất cần nương tựa một mảnh vườn. Có thể mường tượng ra một người làm vườn mà không có một mảnh vườn chăng? Điều Thầy tôi nói thật dễ hiểu làm sao, nhưng nếu đã từng là một người làm vườn, người ta sẽ dễ dàng hơn để hiểu rằng cái điều nghe dễ hiểu ấy mới thực sự khó làm như thế nào!

Vì đã mang ước vọng ấy, mọi công phu của Thầy tôi đều nhắm đến việc rèn luyện mình trở nên một người làm vườn chuyên nghiệp. Thầy thích thú với công việc của một người làm vườn. Thầy cũng an trú trong công việc của một người làm vườn. Thầy yêu thương những mảnh vườn của mình và có hạnh phúc với những mảnh vườn ấy. Những mảnh vườn là đạo tràng của Thầy tôi, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi. Chúng tôi là đạo tràng của Thầy tôi, chúng tôi là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi.

Nhiều khi tôi tự hỏi mình rằng có phải mình là một góc vườn đẹp của Thầy? Hay mình đang là một luống rau héo úa vàng vọt phải cần Thầy thường xuyên chăm bón. Có khi, tôi phải cẩn thận lắm mới không để cho mình tự biến thành một ổ sâu, có thể lây lan sang các phần vườn khác của Thầy. Lắm khi, nhìn Thầy phải dụng công chăm bón cho nhiều thứ không thuận tiện đang hẹn nhau diễn trò trong vườn, tôi xót xa, nhưng chẳng biết làm gì khác ngoài việc giữ cho cành lá của mình xanh tươi mạnh khỏe để Thầy bớt phải lo phần mình. Từ chỗ ngồi sau khung cửa sổ phòng mình, tôi có thể nhìn thấy hết việc làm vườn của các em tôi. Nhưng từ góc nhìn hẹp tối của tâm mình, khó khăn lắm tôi mới nhìn được một chút nhỏ bé việc làm vườn của Thầy tôi. Và từ việc làm của Thầy tôi, không biết tự lúc nào, tôi đã bắt đầu thấy cái ước vọng lúc trẻ của Thầy tôi mỉm cười trong lòng tôi, và tôi bắt đầu thấy được nhiều hơn sự cao quý của nó.

Nhưng việc làm vườn không phải luôn luôn suông sẻ. Thầy tôi thường bảo khi rau cải trong vườn không được tươi thì đừng đổ lỗi cho rau cải, đó chính là trách nhiệm của người làm vườn. Đó là Thầy tôi, luôn có trách nhiệm và hết lòng trong phần việc của mình. Nếu như anh chị em rau cải chúng tôi luôn hợp tác tốt với người làm vườn thì sẽ bớt cho Thầy tôi được rất nhiều công sức. Thầy tôi hiểu rõ từng loại hoa quả trong vườn mình và luôn luôn hết lòng săn sóc chúng tôi. Như tôi đã nói, Thầy tôi luôn nhận trách nhiệm về mình khi trong vườn có cọng rau, ngọn cải nào không được tươi tốt. Thế nhưng những khó khăn của Thầy tôi không phải biểu hiện từ việc không tươi tốt của những cọng rau ngọn cải.

Có lần, mấy quả mướp đắng trong vườn không chịu lớn nữa, không chịu tiếp tục chín nữa. Lý do bởi vì chúng muốn mình là dưa leo như những quả tươi xanh phẳng phiu ở giàn bên cạnh. Làm sao mà một quả mướp đắng lại có thể trở thành một trái dưa leo? Thầy tôi phải mất biết bao công sức để chuyển hóa cái tưởng ấy của người anh em mướp đắng của tôi. Và thường thì Thầy tôi sẽ cho trái mướp đắng thấy được hết cái đẹp cái hay của mình để rồi chúng tiếp tục lớn lên, tiếp tục chín mà chẳng còn chật vật với ý tưởng trở thành một quả dưa leo nữa. Nhưng đôi khi tôi cũng thấy Thầy tôi buồn khi phải nhìn một vài trái mướp đắng ấy héo đi rồi rụng xuống khỏi giàn.

Cũng có lần Thầy tôi phải ngồi hàng giờ cạnh một bụi ớt tươi tốt để truyền thông với những quả ớt tí hon ấy, chỉ với mục đích để chúng hiểu rằng ớt là cay. Tôi chẳng hề thấy các em tôi phải làm thế với đám bí hay đám khoai tây của mình bao giờ. Nhưng Thầy tôi thì thường phải làm thế, và đó là một việc rất mất công. Bụi ớt anh em kia của tôi tuy tươi tốt, nhưng phàn nàn, rằng tại sao chúng không hút được những tinh chất thơm tho của đất trời như những bụi rau húng của vồng bên cạnh mà chỉ toàn là vị cay xè, ít người ưa. Làm như rằng chuyện quả ớt cay là do Thầy tôi tự ý gây ra. Nhìn Thầy tôi với đầy yêu thương kiên nhẫn, tháo gỡ từng nút thắt trong cái vọng tưởng của bụi ớt, tôi thấy thương Thầy lạ lùng. Thế đấy, tuy là cùng uống nước cả, tuy là cùng thở khí trời cả và tuy là rễ hút chất trong cùng một mảnh đất nhưng từng loài rau quả lại thu nhận những thứ chất liệu khác nhau, sử dụng chúng khác nhau và cuối cùng biểu hiện ra những thứ hoa trái khác nhau. Thầy tôi biết tường tận từng loại hạt giống và cũng hiểu tường tận hoa trái của những loại hạt giống ấy với những điều kiện biểu hiện của chúng. Bụi ớt anh em của tôi cuối cùng cũng nhận ra gia tài đích thực của mình và chiều hôm qua đã biểu hiện thành niềm hạnh phúc trong những tô phở của anh em tôi.

Lắm khi, Thầy tôi biết rõ là sẽ khiến cho chúng tôi chẳng vui, chẳng hoan hỷ nhưng Người cũng phải làm điều Người cần làm. Mới đây thôi, khi những gốc bí bắt đầu mạnh và những ngọn bí xanh tươi vươn ra bốn phía, chúng bò lan cả sang luống cà và còn muốn níu kéo cả những đám dâu rừng đầy gai. Thầy tôi phải dứt khoát tháo những ngọn bí với tua tủa những chiếc vòi lò xo ra khỏi những đọt cà chua hãy còn chưa có hoa rồi hướng chúng quay trở vào vườn bí. Còn những ngọn bí bò quá xa, muốn gia nhập hội của những đám dâu rừng đầy gai ấy cũng được Thầy tôi dứt khoát kéo về. Có mấy ngọn đã bám quá chặt những chiếc vòi lò xo của mình vào những cành đầy gai, Thầy tôi phải đành lòng cắt bỏ chúng. Cũng có mấy đọt bí dại dột bò ra hướng lối đi, đã mấy lần được Thầy tôi kéo về hướng khác nhưng chúng vẫn cứ một mực quay ra hướng cũ, lại “khéo léo” núp dưới những đám cỏ làm Thầy tôi chẳng thấy chúng được. Chỉ sau một vài hôm, chúng dập nát dưới những gót giày. Dù vậy, Thầy tôi vẫn phải tiếp tục công việc của mình và nhờ thế, cuối cùng bí đã được thu hoạch. Mùa này, anh em chúng tôi chẳng có ngày nào là không được ăn một món bí.

Thầy tôi chưa từng từ chối một mảnh vườn nào. Chỉ cần mảnh vườn ấy chịu để cho Thầy tôi cày xới, gieo giống, vun bón và tưới tẩm thì thế nào hoa trái cũng biểu hiện trên mảnh vườn ấy; chỉ cần những rau cải hoa màu trên những mảnh vườn ấy không từ chối ánh sáng, không từ chối nước và sự săn sóc của Thầy tôi thì thế nào chúng cũng được lớn lên tươi tốt. Thầy tôi có niềm tin rất lớn vào đất, vào nắng, vào nước, vào hạt giống… và quan trọng hơn cả là rất tự tin vào khả năng chăm bón tưới tẩm của mình. Nhưng mọi việc sẽ dễ dàng biết mấy cho Thầy tôi nếu như anh em tôi cũng có được những đức tính của mảnh vườn nhỏ mà tôi thường ngồi nhìn các em tôi săn sóc. Bởi vì đất tâm của chúng tôi rất khác nhau cho nên Thầy tôi có khi phải đợi mười năm hoặc hơn thế nữa cho một hạt giống nảy mầm nơi mảnh đất này, trong khi trên một mảnh đất khác, hạt giống ấy nảy mầm chỉ sau thời gian một bài thiền ca; có khi Thầy tôi phải gieo cùng một hạt giống ấy rất nhiều lần cho một mảnh đất nọ mà lần nào mảnh đất ấy cũng làm cho hạt giống kia thối đi, nhưng trên mảnh đất khác thì chỉ cần một lần gieo, hạt giống ấy liền nảy mầm và lớn lên tươi tốt. Nhưng dù cho đó là một mảnh đất như thế nào thì Thầy tôi vẫn có khả năng làm cho hoa trái biểu hiện được trên mảnh đất ấy.

Có thật nhiều chuyện để kể về việc làm vườn của Thầy tôi, nhưng tôi chẳng thể kể hết được. Tuy nhiên, có một điều tôi không thể không nhớ khi học làm vườn, điều này Thầy tôi thường dạy chúng tôi, đó là đừng bao giờ cho rằng mình đã là một người làm vườn thành công rồi, và đừng bao giờ lìa bỏ mảnh vườn của mình.

Tôi là một góc vườn của Thầy tôi, nhưng tôi cũng là một người đang học làm vườn và tôi cũng đang có những mảnh vườn để thực tập. Tăng thân tôi là mảnh vườn lớn và tôi, vừa thuộc về mảnh vườn ấy mà cũng vừa là người làm vườn. Thầy tôi, đã gần 90 tuổi và đã làm vườn trong 70 năm mà vẫn luôn thấy rằng mình cần một mảnh vườn. Nếu thế thì Thầy tôi vừa là người làm vườn, việc làm vườn là việc của Thầy tôi và Thầy tôi cũng là một mảnh vườn. Chúng tôi thuộc về mảnh vườn ấy, và đó là một mảnh vườn tuyệt hảo. Cho dù Thầy tôi không cho rằng mình là một người làm vườn thành công thì ai cũng biết rằng vườn của Thầy tôi là một mảnh vườn tuyệt hảo. Và ai ai cũng thấy được rằng dù đã gần 90 tuổi, Thầy tôi vẫn còn là một người làm vườn rất tận tụy.

Từ chỗ ngồi sau cửa sổ trên tấm phản gỗ, tôi thích nhìn xuống vườn rau, nơi các em tôi đang hành đạo. Từ góc vườn của mình, tôi nhìn khắp mảnh vườn, tôi thấy Thầy tôi vẫn đang làm vườn. Các em tôi, những người làm vườn có hạnh phúc. Thầy tôi, người làm vườn tận tụy.

(Hình ảnh: Sư Ông Làng Mai trồng cây tại đất mới – Thái Lan, năm 2011)

Thầy tôi

chơi với trẻ em

Nếu không viết được về Thầy tôi trước khi chuyển hóa sang một kiếp sống khác, thì đó sẽ là điều tôi ân hận và tiếc nhất đời. Dù chỉ viết được một bài thay vì một cuốn sách, tôi cũng phải bắt đầu hôm nay…

Trước khi được gặp mặt Thầy lần đầu tiên, một buổi sáng mùa Xuân năm 1982 tại thiền viện Mount Tremper thuộc tiểu bang Nữu Ước, tôi không hình dung được là tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một ông thầy tu nhỏ bé, đi đứng và ngôn từ nhẹ nhàng như vậy. Tôi đã có ý hơi lo lắng, về chuyện “vỡ mộng” khi sắp được gặp mặt người mà mình rất kính ngưỡng qua các sáng tác, từ thập niên 1960. Nhưng sự tin tưởng của tôi vào vị Thầy tác giả đó, thật sự đã tăng lên rất nhiều lần sau khi được diện kiến. Thầy cũng chính là người khiến cho tôi quyết định từ năm đó, sẽ dùng hết thì giờ rảnh của mình vào việc học và hành đạo Phật.

Tôi học được từ Thầy thật nhiều điều hay, tưởng như không đếm xuể, và không thể nhớ hết. Năng lượng từ bi của Thầy đã bao phủ con người tôi, sau khi được Thầy tiếp chuyện suốt nửa ngày “làm biếng” của Thầy trong khóa tu dành cho các thiền sinh Mỹ. Thầy ân cần dặn dò trước khi chia tay “Hãy thở và lái xe trong giới hạn 55 miles thôi”, đã khiến tôi cảm thấy vững tâm khi phải vượt qua mấy cái xe vận tải lớn, không còn vừa lái vừa run như bao lần trước nữa.

Khóa tu đầu tại Làng Hồng (mùa Hè 1984) đã khiến tất cả gia đình tôi thay đổi, trong chiều hướng biết sống hạnh phúc hơn. Gia tài lớn nhất mà chúng tôi để lại cho con cháu, chính là những gì chúng tôi học và hành được qua Phật Pháp mà Thầy đã chỉ dạy không ngừng nghỉ, từ ba thập niên qua. Riêng tôi, do thiện duyên được làm “thị thiệt” hầu Thầy trong một số khóa tu, vào những năm chưa có tăng đoàn Làng Mai, tôi học được một số điều từ cách nói năng, hành xử của Thầy –  những bài học riêng tư chỉ có mình tôi – hoặc thêm vài đồng đạo được nghe, được hưởng. Tuy chưa thực hành giỏi, tôi cũng xin kể trong đây được vài chuyện mà tôi còn nhớ rõ.

Trong khóa tu năm 1987 tại tu viện Kim Sơn, đại chúng phiền lòng không ít vì sau mỗi buổi pháp thoại của Thầy, có một ông thi sĩ tự lên cầm micro đọc thơ (không hay gì mấy) của ông. Thầy từ bi ngồi nghe ông cúng dường nên không ai đứng dậy ra về trước, cho tới ngày gần chót, ông tự đề cao “thơ tôi hay hơn thơ Thầy vì tôi dám nói về Sex!” Trên máy bay từ California trở về Montreal cùng Thầy, tôi nhắc lại chuyện làm cho mình và đại chúng bực mình đó, khi bị “mất thì giờ nghe ông ta đọc thơ…”, Thầy nhỏ nhẹ bảo tôi “Mình phải tập thương cả những người như vậy!”

Trong những lúc chỉ có hai Thầy trò, khi nhắc tới tên một người đã từng bỏ Thầy đã viết nhiều bài báo sai sự thật để bôi xấu Thầy, Thầy vẫn luôn luôn gọi người đó là “anh”, không bao giờ có chữ  “thằng”.  Lòng bao dung và từ bi của Thầy khiến cho Thầy thương luôn những người “đánh phá” Thầy bằng ngòi bút hay lời đồn đại. Suốt cuộc đời tu hành, càng nổi danh, Thầy càng bị hàm oan nhiều chuyện do những con người “vô minh”, nhưng Thầy không một lần lên tiếng biện luận. Nhiều học trò xin Thầy lên tiếng cải chính để sự thật được sáng tỏ, Thầy chỉ nghiêm giọng dạy trò “hãy lo tu thôi, đừng mất thì giờ về những chuyện thị phi đó!”

Đem pháp môn Thiền Chánh Niệm và các phép thực tập từ Làng Mai đi giảng dạy cho các thiền sinh đã học từ nhiều truyền thống Thiền khác nhau (Nhật Bản, Trung Hoa, Nam Tông hay Tây Tạng…), hoặc từ các tôn giáo khác (Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái.v.v…), là chuyện không dễ dàng, nếu như Thầy không phải là một bậc chân tu lỗi lạc. Đối với các học trò cư sĩ Tiếp Hiện của thập niên 1980, Thầy cũng đã từ bi khuyến khích họ đi tìm hiểu và thực hành, thử nghiệm các phương pháp Thiền khác, để có lòng tin vững chãi hơn vào pháp môn Làng Mai. Trong một buổi họp với chúng Tiếp Hiện Canada, Thầy nói: “Nếu ba năm gặp lại thầy mà không thấy thầy tiến bộ, thì nên tìm thầy khác mà tu!”

Cũng vào khoảng cuối thập niên 1980, khi Làng Hồng bắt đầu có đông thiền sinh về tu học, dân Làng Cây Phong (Canada) chúng tôi đã phải năn nỉ Thầy để làm lò sưởi trong phòng Thầy ngủ và làm việc. Mỗi khi Đông về, Thầy ngồi viết bài mà tay tê cứng vì lạnh! Dù bản quyền hàng trăm cuốn sách mang lại cho Thầy một số tịnh tài đáng kể, hạnh “sống nghèo hành đạo” của Thầy có lẽ không có một vị Sư nào theo kịp, dù vị đó chỉ có một ngôi chùa nhỏ. Sư cô Như Ngọc (chùa A Di Đà, Orange County) đã có kinh nghiệm vá áo tràng cũ cho Thầy khi cô sang tu tại Làng Mai. Chú Thanh Hương (sinh hoạt bên cạnh Thầy đầu thập niên 1970 tại Paris), cho biết chi tiết Thầy trò thường chỉ sống bằng tiền lương dạy học của Thầy, nấu cơm bằng gạo nuôi chim chứ không mua được gạo thường. Lúc đó, Thầy đã được Phật tử Âu và Mỹ cúng dường hàng triệu Mỹ Kim để giúp các chương trình xã hội Phật giáo bên Việt Nam, nhưng Thầy không bao giờ xài đồng tiền nào trong quỹ đó!

Kiến thức Phật học và kinh nghiệm hành đạo của Thầy tôi mênh mông như biển. Nhưng Thầy có thể dạy cả những bé thơ mới năm, sáu tuổi, cũng như chuyển đổi được tâm tình các cụ đã quá tuổi “Thất thập cổ lai hy” (trên 70). Thầy tôi càng hoằng pháp, càng có nhiều người hâm mộ và tu học theo, dù họ có duyên tham dự các khóa tu trực tiếp hay gián tiếp qua sách vở, băng và đĩa nhựa. Công trình hoằng hóa nhân loại qua Duy Biểu học của Thầy có những dấu ấn sâu xa vào các tâm lý gia Âu và Mỹ. Sách vở của họ sáng tác từ giữa thập niên 1990 về sau, hầu hết đều nói tới Cognition therapy, Live here and now, Be aware.v.v… Theo anh Josepth Emet, một nhạc sĩ Canadian, giáo thọ Làng Mai, thì chữ Mindfulness không có trong tự điển tiếng Anh, trước khi sách The Miracle of Mindfulness được xuất bản đầu thập niên 1970… Trong chuyến bay đi thăm cháu ngoại kỳ này, tôi  bật cười khi nghe cô tiếp viên hàng không nhắc nhở khách du hành: “Please, be mindful when you get back your luggage from the cabin above you!”

Ảnh hưởng của Thầy tôi lên các thế hệ tương lai sẽ còn lớn lao hơn hiện tại rất nhiều. Hòa thượng Mãn Giác khi sinh tiền có nói: “Thầy Nhất Hạnh là một con người đi trước thời đại khoảng 30 tới 50 năm”. Nếu có đủ duyên may được làm người trong kiếp tới, tôi lại mong được thực tập Phật Pháp qua pháp môn Làng Mai.

 

Ngày 30/12/2011