Chương trình Tâm tang Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Làng Mai, Pháp

Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Kính khải bạch Chư Tôn Trưởng lão Hòa Thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,

Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,

Chúng tôi xin được thông báo chương trình các buổi lễ Tâm tang sẽ được truyền trực tuyến từ Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam và từ Làng Mai, Pháp và cũng được tổ chức tại các trung tâm của Làng Mai tại Mỹ và châu Á (xin vào website của các trung tâm để biết thêm chi tiết).

Trong giờ phút trọng đại này, xin mời quý vị cùng chúng tôi chế tác một năng lượng hùng hậu của bình an, từ bi và chánh niệm để gửi đến vị thầy thương quý của chúng ta.

Vui lòng bật chế độ phụ đề Tiếng Việt cho các video dưới đây:

Sư cô Chân Đức: Tinh thần Các Buổi Lễ

 

 

Thầy Pháp Hữu: Chế Tác Năng Lượng Chánh Niệm Tập Thể

 

 

Thầy Pháp Ứng: Khoảnh khắc thiêng liêng

 

  • Chương trình cụ thể các buổi lễ trong các ngày Tâm tang như sau:

Ngày 1 – Thứ Bảy, 22.1.2022 truyền trực tuyến từ Làng Mai, Pháp

 

 

Ngày 2 – Chủ nhật, ngày 23.1.2022

Theo dõi các buổi lễ truyền từ Huế, nơi Sư Ông cư ngụ những ngày cuối cùng, và từ Xóm Thượng, Làng Mai, Pháp, là nhà của Sư Ông trong gần bốn thập niên. Đây cũng là một trung tâm lớn nhất so với tất cả các trung tâm khác thuộc truyền thống Làng Mai.

08:00 (giờ Việt Nam)

Lễ nhập Kim quan – truyền trực tuyến từ Việt Nam TRỰC TIẾP

Xin quý vị hãy tìm một nơi yên tĩnh để ngồi yên và trở về với hơi thở trong khi theo dõi buổi lễ.

 

 

Ngày 3 – Thứ Hai, ngày 24.1.2022

Link của buổi truyền trực tuyến sẽ được cập nhật

09:30 (giờ Pháp)

Ngày 3: Lễ tưởng niệm – Truyền trực tuyến từ Làng Mai, Pháp TRỰC TIẾP

 

 

Ngày 4 – Thứ Ba, ngày 25.1.2022

Link của buổi truyền trực tuyến sẽ được cập nhật

09:30 (giờ Pháp)

Lễ xuất gia – Truyền trực tiếp tại Làng Mai Pháp TRỰC TIẾP

(Mừng sự tiếp nối của Sư Ông Làng Mai)

 

 

Ngày 5 – Thứ Tư, ngày 26.1.2022

Link của buổi truyền trực tuyến sẽ được cập nhật

09:30 (giờ Pháp)

Lễ tưởng niệm – Trực tuyến từ Làng Mai Pháp TRỰC TIẾP

 

 

Ngày 6 – Thứ Năm, ngày 27.1.2022

Link của buổi truyền trực tuyến sẽ được cập nhật

09:30 (giờ Pháp)

Ngày Quán niệm – Truyền trực tuyến từ Làng Mai Pháp TRỰC TIẾP

Đại chúng sẽ cùng thực tập chung với nhau và cùng nghe pháp thoại bằng DVD của Sư Ông

 

 

Ngày 7 – Thứ Sáu, ngày 28.1.2022

Chương trình sinh hoạt riêng tại mỗi xóm.

 

Ngày 8 – Thứ Bảy, ngày 29.1.2022

Link của buổi truyền trực tuyến sẽ được cập nhật

07:00 (Giờ Việt Nam)

Lễ Trà tỳ – Truyền trực tuyến từ Huế, Việt Nam TRỰC TIẾP

 

Xem thêm:

Điện thư từ Đức Đạt Lai Lạt Ma

Điện thư phân ưu

Tôi rất buồn khi biết tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh – một người bạn, một người anh em trong đạo của tôi đã viên tịch. Tôi xin gửi lời chia buồn của tôi đến các đệ tử của Ngài ở Việt Nam và trên khắp thế giới.

Thiền sư đã sống một cuộc đời thực sự ý nghĩa. Ngài đã phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam bằng những phương tiện ôn hòa, ủng hộ nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi Martin Luther King, cũng như nỗ lực hết sức để giúp cho mọi người thấy nếp sống chánh niệm và từ bi không những góp phần đem lại sự bình an nội tại cho từng cá nhân, mà còn đóng góp vào nền hòa bình cho thế giới.

Tôi tin chắc rằng cách tưởng niệm tốt nhất đối với Thiền sư là tiếp tục nỗ lực của Ngài trong việc mang lại hòa bình cho thế giới.

(chữ ký)

Ngày 22 tháng 01 năm 2022

Lời tri ân từ cộng đồng quốc tế

 

 

 

Đức Đạt Lai Lạt Ma “Thiền sư đã sống một cuộc đời thực sự ý nghĩa. Ngài đã phản đối cuộc chiến tranh Việt Nam bằng những phương tiện ôn hòa, ủng hộ nhà hoạt động dân quyền người Mỹ gốc Phi Martin Luther King, cũng như nỗ lực hết sức để giúp cho mọi người thấy nếp sống chánh niệm và từ bi không những góp phần đem lại sự bình an nội tại cho từng cá nhân, mà còn đóng góp vào nền hòa bình cho thế giới.” 

Tổng thống Hàn Quốc Moon Jae In – “Thiền sư được mọi người kính ngưỡng như là vị lãnh đạo tâm linh có tầm ảnh hưởng nhất. Thiền sư luôn thể hiện tình thương yêu đối với nhân loại qua hành động của mình. Những lời dạy về nghệ thuật sống hạnh phúc của Ngài đã chạm đến trái tim và trở thành ánh sáng soi đường của rất nhiều người. Bước chân chánh niệm và những lời dạy của Thiền sư sẽ luôn được tiếp nối.”

Trong suốt cuộc đời tu tập của mình, Thiền sư Thích Nhất Hạnh không ngừng góp phần làm mới đạo Bụt. Người không những chỉ làm cho danh từ “đạo Bụt dấn thân” được biết đến rộng rãi mà còn thực sự sống trong tinh thần ấy. Trong hơn nửa thế kỷ, trên bình diện quốc tế, Người đã vận động không mệt mỏi cho hòa bình dựa trên nền tảng bình đẳng và công bằng xã hội. Antonio Guterrres, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc đã nói: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh dành cả cuộc đời để nói lên tiếng nói cho hòa bình. Người dạy chúng ta vượt lên trên sự chia rẽ bằng cách nuôi dưỡng lòng cảm thông, bao dung và cái thấy về sự gắn kết sâu sắc giữa con người với nhau.”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh không né tránh những thử thách mà toàn thế giới đang phải đối diện. Là tác giả của hơn 100 cuốn sách, là một trong những người tiên phong trong việc bảo vệ trái đất gắn liền với tâm linh, Thiền sư đã tổ chức các hội nghị quốc tế cũng như có những bài viết về sinh thái và biến đổi khí hậu từ đầu những năm 1970. Hơn nửa triệu người đã học hỏi và thực tập các pháp môn chánh niệm, cam kết thực tập Năm Giới tân tu – con đường đạo đức ứng dụng toàn cầu mà Thiền sư đã khởi xướng. Tác phẩm của Thiền sư được xuất bản chỉ vài tháng trước đây, Zen and the Art of Saving the Planet” (Thiền và Nghệ thuật bảo vệ hành tinh), nhấn mạnh tầm quan trọng của sự thực tập chánh niệm nơi mỗi cá nhân và sự tỉnh thức tập thể, góp phần đem lại sự trị liệu mà cả hành tinh đang cần đến.

Jim Yong Kim – Cựu Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (World Bank): “Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ảnh hưởng đến cá nhân tôi cũng như rất nhiều người khác thông qua cách tiếp cận độc đáo đối với chánh niệm, hòa quyện với cam kết mạnh mẽ vì công bằng xã hội của Người. Khi tôi mời Thiền sư đến thăm Ngân hàng Thế giới, Người đã chạm đến trái tim của hàng trăm nhân viên nơi đây, thậm chí còn hướng dẫn mọi người thiền hành qua những con phố đông đúc của Washington DC. Sự ra đi của Thiền sư để lại một nỗi nhớ thương sâu sắc trong lòng mọi người, nhưng tôi tin di sản của Thiền sư sẽ được tiếp nối bởi các đệ tử của Người trên khắp thế giới.

Christiana Figueres, cựu Thư ký Điều hành Công ước Liên hợp quốc về Biến đổi Khí hậu và là đệ tử của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, ghi nhận những lời dạy của Thiền sư đã giúp cho bà có thể dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu năm 2016: “Tôi đã học được rất nhiều điều từ Thầy nhưng có lẽ quan trọng nhất là kỹ năng lắng nghe sâu trong việc giải quyết xung đột, giúp tháo gỡ vô số rào cản chính trị trong các cuộc đàm phán. Những tuệ giác và phương pháp thực tập của Người đã giúp mở ra một không gian hợp tác giàu có mới mẻ, mà qua đó các chính phủ có thể đi đến bản thỏa thuận về môi trường mang tính lịch sử này. Những phương pháp thực tập chánh niệm đầy thực tiễn của Thầy sẽ là một kho tàng quý báu cho các thế hệ sau – những người muốn tạo nên những thay đổi cho xã hội trong tương lai.”  

Cựu Phó Tổng thống Hoa Kỳ Al Gore nói: “Di sản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh là tuệ giác, lòng từ bi và sự tôn trọng đối với hành tinh của chúng ta và sự tôn trọng lẫn nhau. Những lời dạy của Người sẽ tiếp tục truyền cảm hứng cho các nhà hoạt động xã hội và môi trường trong cuộc đấu tranh bền bỉ để bảo vệ Trái đất và nhân loại.”

Ban Ki Moon, cựu Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc (2007-2016): “Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã và sẽ tiếp tục là bậc thầy có tầm nhìn xa trông rộng và là người góp phần kiến tạo một nền đạo đức toàn cầu dựa trên sự tôn trọng và thấu hiểu lẫn nhau.”

Matthieu Ricard – vị tu sĩ Phật giáo Tây Tạng được mệnh danh là “Người hạnh phúc nhất thế giới”: “Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những bậc thầy tâm linh đáng kính và phạm hạnh nhất trong thời đại chúng ta. Ngài là một trong những vị đạo sư biện tài nhất. Ngài không chỉ đóng vai trò là người khởi xướng trên con đường giảng dạy và thực hành các phương pháp tu học của đạo Bụt, mà còn là người dẫn đường của chân lý bằng chính sự nghiệp vận động cho nhân quyền.”

 Marc Benioff – Giám đốc điều hành của tập đoàn Salesforce: “Thầy Nhất Hạnh có ảnh hưởng sâu sắc tới tôi. Thầy từng hỏi tôi: ‘Điều gì quan trọng hơn với anh, thành công hay hạnh phúc?’ Tôi đã trả lời: ‘Cả hai, thưa Thầy’. Nhưng Thầy nói: ‘Anh phải lựa chọn – anh có thể là nạn nhân của thành công của chính mình nhưng sẽ không bao giờ có thể là nạn nhân của hạnh phúc’.

Joan Halifax, Viện trưởng của trung tâm thiền tập Upaya:“Thầy đã dạy tôi: là một nhà hoạt động xã hội không tách rời với việc là một người tu. Chính Thầy đã mở lối cho rất nhiều người trong chúng tôi đến với con đường của đạo Bụt dấn thân.”

David Steindl-Rast, thầy tu Công giáo dòng Biển Đức, học giả và giảng viên:“Có một người huynh đệ, một bậc thiện tri thức như Thầy Nhất Hạnh là một trong những món quà lớn nhất trong cuộc đời tôi. Vào thời điểm buồn thương này, tôi muốn dang cánh tay mình tới vô số những người bạn đang cảm thấy mất mát trước sự ra đi của Người và nói với họ rằng: Chúng ta, từ khắp nơi trên thế giới, hãy cùng nhau tôn vinh di sản của Thầy – những lời Thầy trao truyền về tương tức – bằng cách chung tay, sẵn sàng tiếp tục cống hiến cho sự nghiệp xây dựng hòa bình của Thầy.”

Jeff Wilson, Giáo sư về Tôn giáo và Đông Á tại Đại học Renison (Ontario, Canada), tác giả của Mindful America: The Mutual Transformation of Buddhist Zen and American Culture (tạm dịch: Nước Mỹ và pháp môn chánh niệm: Sự biến chuyển tương hỗ giữa Thiền Phật giáo và văn hóa Mỹ) : “Thích Nhất Hạnh là vị thầy Phật giáo có ảnh hưởng nhất trong năm mươi năm qua. Ngoài việc thúc đẩy thực tập chánh niệm, khả năng trình bày những tuệ giác và thực tập đạo Bụt bằng ngôn ngữ rõ ràng, dễ tiếp cận và chân thành của Thiền sư đã làm tăng đáng kể số lượng người tìm đến với đạo Bụt. Di sản của Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ tiếp tục tạo ảnh hưởng lớn cho nền Phật giáo hiện tại và tương lai.”

 Alejandro González Iñárritu, đạo diễn đã từng đoạt giải Oscar: “Những lời chỉ dạy và phương pháp thực hành của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Tuệ giác của Người đã đánh thức trái tim của hàng triệu người. Đối với tôi, năng lượng chánh niệm có công năng còn mạnh hơn năng lượng hạt nhân.”

 

Thông báo di huấn

Tổ Đình Từ Hiếu – Compassionate Filial Piety Monastery

Đạo Tràng Mai Thôn – Plum Village Practice Center

Thông Báo Di Huấn

Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Kính khải bạch Chư Tôn Trưởng lão Hòa Thượng, Chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,

Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,

Sau những năm tháng an dưỡng tại chốn Tổ Từ Hiếu từ ngày 26 tháng 10 năm 2018, Thiền Sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh Niên Trưởng Trú Trì Tổ Đình Từ Hiếu, Khai Sơn Đạo Tràng Mai Thôn Quốc Tế đã thâu thần thị tịch vào lúc 01:30 giờ sáng ngày 22 tháng 01 năm 2022, nhằm ngày 20 tháng chạp năm Tân Sửu.

Chúng con mạn phép được thay mặt Môn đồ Pháp quyến kính xin thông báo di huấn của Thiền Sư:

  1. Quý Thầy tại Tổ Đình Từ Hiếu và Tăng Thân Làng Mai sẽ sắp xếp tang lễ theo nghi thức tâm tang và kính xin chư Tôn Đức đồng hộ niệm cho các buổi Lễ Nhập Kim Quan và Lễ Trà Tỳ.

                        8h00 ngày 23.01.2022 Lễ Nhập Kim Quan

                        7h00 ngày 29.01.2022 Lễ Trà Tỳ

  1. Tang lễ sẽ kéo dài trong 7 ngày theo hình thức của một khóa tu im lặng. Trong suốt thời gian đó, kính xin quý vị đến thăm viếng cùng thực tập chung với chúng tôi – tâm niệm cúng dường – để cho toàn bộ tang Lễ Tâm Tang được diễn ra trong sự im lặng, trang nghiêm, thanh tịnh, tĩnh lặng và nhẹ nhàng.
  2. Sau Lễ Trà Tỳ, Xá Lợi sẽ được an vị tại Tổ Đình Từ Hiếu và các trung tâm khác của Làng Mai khắp nơi trên thế giới mà không cần phải xây tháp.

Theo di huấn của Thiền Sư, chúng con kính xin thông báo để Chư Tôn thiền đức và quý vị thân hữu, thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới được liễu tri và đồng hộ niệm cho Lễ Tâm Tang được trang nghiêm thanh tịnh. Chúng tôi xin quý vị hoan hỷ miễn các phúng điếu vòng hoa, trướng liễn.

Kính xin quý vị xem thêm chương trình chi tiết của tang lễ tâm tang và khóa tu im lặng trên trang nhà của Làng Mai (www.langmai.org), và trong tập cẩm nang cho tang lễ và khóa tu.

Chúng tôi thành kính tri ân.

Phật lịch 2566, Tổ Đình Từ Hiếu, ngày 22 tháng 01 năm 2022

(nhằm ngày 20 tháng chạp năm Tân Sửu)

Phật lịch 2566, Tổ Đình Từ Hiếu, ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng chạp năm Tân Sửu)

 

Xem thêm:

Cáo phó: Thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch

Cuộc đời thiền sư Thích Nhất Hạnh

Chương trình Tâm tang

Đôi nét về Thiền Sư Thích Nhất Hạnh

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Sư Ông Làng Mai – là một bậc thầy hướng dẫn tâm linh có ảnh hưởng lớn trên khắp thế giới. Thiền sư đồng thời là một nhà thơ, một nhà hoạt động cho hòa bình và được nhiều người biết đến qua các bài giảng cũng như qua các cuốn sách nổi tiếng về chánh niệm và về hòa bình. Mục sư Martin Luther King từng gọi Thiền sư là “một tông đồ của hòa bình và bất bạo động” khi đề cử Người cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967. Trong gần 40 năm sống xa quê hương, Thiền sư là một trong những người tiên phong đem đạo Bụt, đặc biệt là pháp môn chánh niệm, đến với xã hội Tây phương và góp phần xây dựng một cộng đồng Phật giáo dấn thân cho thế kỷ XXI.

Sinh năm 1926 tại miền Trung Việt Nam, Thiền sư Thích Nhất Hạnh xuất gia ở tuổi 16 tại chùa Từ Hiếu, cố đô Huế. Vào đầu những năm 50, khi còn là một tỳ kheo trẻ, Thiền sư đã tích cực dấn thân trong phong trào làm mới đạo Bụt. Người là một trong những tu sĩ Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam tìm học thêm những môn tân học tại các trường đại học ở Sài Gòn và cũng là một trong những tu sĩ đầu tiên đạp xe đạp trên đường phố vào thời bấy giờ.

Hoạt động xã hội trong bối cảnh chiến tranh

Khi chiến tranh xảy ra tại Việt Nam, các tu sĩ Phật giáo buộc phải đối diện với câu hỏi là nên tiếp tục tu tập trong chùa hay là ra ngoài giúp những người dân đang gánh chịu khổ đau vì bom rơi và sự tàn phá của chiến tranh. Thiền sư là một trong những người chọn làm cả hai. Người đã khởi xướng phong trào Đạo Bụt Dấn thân và kể từ đó, dành trọn cuộc đời mình để tu tập, giảng dạy giúp mọi người lấy sự chuyển hóa tự thân làm nền tảng cho hạnh phúc của cá nhân và cả xã hội.

 

Thiền sư và các đồng sự đã tổ chức cứu trợ cho đồng bào bị lũ lụt tại miền Trung năm 1964 dưới cảnh bom đạn

 

Năm 1961, Thiền sư rời Việt Nam sang Mỹ để nghiên cứu về đề tài “Tôn giáo học so sánh” (Comparative Religion) tại đại học Princeton, sau đó giảng dạy và nghiên cứu về đạo Bụt tại đại học Columbia. Khi về lại Việt Nam vào đầu những năm 60, Thiền sư đã thành lập Viện Đại học Vạn Hạnh, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm và Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã hội – một tổ chức hỗ trợ tái thiết nông thôn với mười ngàn tác viên, hoạt động dựa trên nguyên tắc bất bạo động và từ bi của đạo Bụt. Ngoài ra, Người còn thành lập Dòng tu Tiếp Hiện dành cho cả tu sĩ và cư sĩ Phật giáo vào năm 1966, với tinh thần đem đạo Bụt đi vào cuộc đời.

Thiền tập không phải là để lẩn tránh cuộc đời, mà là để trở về với chính mình và nhìn sâu vào những gì đang xảy ra. Một khi đã thấy được gốc rễ của khổ đau, ta sẽ có động lực để hành động. Có chánh niệm, ta sẽ biết nên làm gì và không nên làm gì để có thể đem lại sự thay đổi.  (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Ngày 1.5.1966, Người được thầy bổn sư – Thiền sư Thích Chân Thật – truyền đăng phú pháp tại chùa Từ Hiếu với bài kệ truyền đăng:

Nhất hướng phùng xuân đắc kiện hành
Hành đương vô niệm diệc vô tranh
Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
Diệu pháp Đông Tây khả tự thành.

Rời Việt Nam đi kêu gọi hòa bình

Một vài tháng sau đó, Thiền sư một lần nữa phải rời quê hương sang Mỹ và du thuyết tại nhiều nước châu Âu để kêu gọi hòa bình cho Việt Nam. Cũng chính trong chuyến đi vào năm 1966 này, Thiền sư lần đầu tiên gặp gỡ Mục sư Martin Luther King, để rồi năm 1967, Mục sư King đã đề cử Người cho giải Nobel Hòa bình. Tuy nhiên nỗ lực kêu gọi hòa bình của Thiền sư đã không làm hài lòng nhà cầm quyền Việt Nam thời bấy giờ, vì vậy Người không được phép về lại quê hương trong suốt 39 năm sau đó.

 

“Thầy Nhất Hạnh là một tông đồ của hòa bình và bất bạo động” – Mục sư Martin Luther King Jr.

 

Dù phải sống cuộc đời lưu vong, Thiền sư vẫn không ngừng đi khắp các nước để nói lên ước vọng hòa bình của người dân Việt và vận động các nhà lãnh đạo Tây phương lên tiếng phản đối cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Thiền sư cũng là người dẫn đầu Phái đoàn Phật Giáo tại Hội nghị hòa bình Paris năm 1969.

Thành lập Làng Mai tại Pháp

Trong thời gian vận động hòa bình cho Việt Nam, Thiền sư vẫn tiếp tục công việc viết lách, giảng dạy về nghệ thuật sống chánh niệm và chế tác bình an. Đầu những năm 70, Thiền sư vừa nghiên cứu và giảng dạy về lịch sử Phật giáo Việt Nam tại đại học Sorbonne, Paris. Năm 1975, Người thành lập một cộng đồng tu học gần Paris có tên là Phương Vân Am. Đến năm 1982, Phương Vân Am trở nên quá nhỏ cho số người muốn đến tu học, vì vậy tăng thân đã chuyển đến một địa điểm mới ở vùng Dordogne, miền Nam nước Pháp. Nơi này về sau có tên là Làng Mai.

 

Những ngày đầu của Làng Mai

 

Dưới sự hướng dẫn tâm linh của Thiền sư, từ một nông trại nhỏ, Làng Mai nay đã trở thành một tu viện Phật giáo lớn nhất và phát triển năng động nhất ở châu Âu, với hơn 200 xuất sĩ thường trú và hơn 10 ngàn thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới tìm đến Làng Mai mỗi năm để học “nghệ thuật sống chánh niệm”.

Thiền sinh – đủ mọi lứa tuổi, quốc gia, tôn giáo – khi về Làng đều được hướng dẫn cách thực tập thiền tọa, thiền hành, thiền ăn, thiền buông thư, thiền làm việc, học cách dừng lại, mỉm cười và trở về với hơi thở. Dựa trên những giáo lý căn bản của đạo Bụt, các phương pháp thực tập này đã được Thiền sư khai triển và làm cho dễ ứng dụng vào đời sống hàng ngày, đáp ứng được những khó khăn, thách thức của thời đại.

Tính đến nay, đã có hơn 100.000 người tiếp nhận và hành trì theo Năm giới quý báu mà Thiền sư đã làm mới lại dựa trên Năm giới truyền thống. Theo Thiền sư, Năm giới tân tu này là đóng góp của đạo Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu.

 

Pháp thoại cho trẻ em tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai

 

Những năm gần đây, Thiền sư đã sáng lập phong trào Wake Up – một phong trào sống tỉnh thức với sự tham gia của hàng ngàn người trẻ trên khắp thế giới. Thiền sư cũng khởi xướng chương trình Wake Up Schools đào tạo các giáo viên để họ có thể đem chánh niệm vào các trường học ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á.

 

Viết thư pháp – 2013

 

Không chỉ là một bậc thầy tâm linh, Thiền sư còn là một nhà văn, nhà thơ, một nghệ sĩ. Từ năm 2010, những tác phẩm thư pháp nổi tiếng của Thiền sư  – với các câu thiền ngữ ngắn chuyên chở thông điệp về sự thực tập chánh niệm – đã được triển lãm tại Hồng Kông, Đài Loan, Canada, Đức, Pháp và Hoa Kỳ.

Trong mười năm qua, Thiền sư đã thành lập các trung tâm tu học theo truyền thống Làng Mai tại California, New York, Mississippi, Việt Nam, Paris, Hồng Kông, Thái Lan, Úc và Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức.

Tại các trung tâm tu học này thường có những khóa tu đặc biệt dành cho doanh nhân, giáo viên, gia đình, các nhân viên y tế, các nhà tâm lý trị liệu, các chính trị gia, người trẻ, cũng như các cựu chiến binh. Ngoài ra, Thiền sư và tăng thân Làng Mai cũng đã từng tổ chức khóa tu cho cả người Israel và Palestine. Ước tính mỗi năm có khoảng hơn 75.000 người tham gia tu học cùng tăng thân Làng Mai trên khắp thế giới.

Tại trụ sở Ngân hàng Thế giới (World Bank), tháng 9 năm 2013

 

Thiền sư đã có những buổi chia sẻ về chánh niệm tại Quốc hội các nước như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Ireland, Ấn Độ và Thái Lan. Tại Hội nghị Tôn giáo thế giới được tổ chức tại Melbourne, Úc (năm 2009), cũng như tại Hội nghị của UNESCO tại Paris (năm 2006), Thiền sư đã lên tiếng kêu gọi thế giới cần có những hành động cụ thể để thay đổi tình trạng bạo động, chiến tranh và biến đổi khí hậu toàn cầu. Trong chuyến hoằng pháp tại Mỹ năm 2013, Thiền sư đã có những buổi hướng dẫn về thực tập chánh niệm tại trụ sở của Google, Ngân hàng thế giới và Đại học Y tế Cộng đồng của Harvard.

Vào ngày 11 tháng 11 năm 2014, sau nhiều tháng suy yếu về sức khỏe, Thiền sư đã bị xuất huyết não khá nghiêm trọng. Dù chưa nói lại được và gần như bị liệt nửa người phía bên phải, Thiền sư vẫn tiếp tục nuôi dưỡng và tạo cảm hứng cho các đệ tử – cả xuất sĩ lẫn cư sĩ – bằng sự có mặt đầy bình an, tĩnh lặng và ý chí dũng mãnh của Người.

Thiền sư đã về lại Tổ đình Từ Hiếu – nơi Người bắt đầu con đường xuất gia tu học ở tuổi 16, và bày tỏ mong muốn ở lại nơi đây trong những ngày còn lại của cuộc đời mình. Dù ngồi trên xe lăn, Thiền sư vẫn thường đi dạo quanh khuôn viên Tổ đình, thăm chánh điện, tháp Tổ hay dẫn đại chúng đi thiền hành quanh hồ bán nguyệt. Sự trở về chốn tổ Từ Hiếu của Người là một tiếng chuông chánh niệm, nhắc cho chúng ta nhớ rằng có một gốc rễ tâm linh sâu dày là một điều rất quý giá. Dù đã từng tham dự một khoá tu, hay đơn giản là đọc một cuốn sách của Thiền sư, hoặc nghe một bài pháp thoại và được đánh động bởi những lời dạy của Người, chúng ta đang được kết nối với dòng chảy tuệ giác và từ bi nơi Tổ đình Từ Hiếu.

Xem thêm:

Đám mây không bao giờ chết

Trung thành với tinh thần thiền được truyền thừa từ Thiền sư Khương Tăng Hội và Thiền sư Lâm Tế, Thầy không bao giờ tìm kiếm danh tiếng hay địa vị. Ấy vậy mà ông thầy tu giản dị và nhẹ nhàng này đã chạm tới không biết bao nhiêu trái tim, và đã làm thay đổi cuộc sống của không biết bao nhiêu người. Thầy được mô tả như là “nhân vật quan trọng bậc nhất trong đạo Bụt Tây phương… xét từ phương diện số lượng thiền sinh mà Thầy có ảnh hưởng trực tiếp, cũng như mức độ ảnh hưởng của các từ ngữ mà Thầy tạo ra hoặc nhấn mạnh (như: “engaged Buddhism” – đạo Bụt dấn thân; “interbeing” – tương tức, “mindfulness” – chánh niệm, v.v.)  đến ngôn ngữ đương đại của đạo Bụt ở Tây phương.[i]  

Trong một nghiên cứu hàn lâm gần đây của John Powers với tựa đề The Buddhist World (“Thế giới Phật giáo”), Thầy được chọn là một trong 10 nhà lãnh đạo tâm linh có tầm ảnh hưởng lớn lao, nổi bật nhất trong lịch sử đạo Bụt, dựa trên tầm ảnh hưởng của Thầy đối với nền Phật giáo đương đại trên toàn cầu[ii]. Các pháp môn thực tập chánh niệm cùng với mô hình khóa tu của Thầy – được phát triển dựa trên chính kinh nghiệm trực tiếp và tuệ giác của Thầy – đã được hàng trăm ngàn người từ khắp các châu lục, từ mọi tầng lớp trong xã hội học hỏi và thực tập. Chỉ trên nước Mỹ, sách của Thầy đã được bán trên 3 triệu quyển, và 10 triệu quyển trên toàn thế giới.

Trong chặng đường hoằng pháp bền bỉ suốt 65 năm, Thầy đã góp phần quan trọng vào công trình làm mới đạo Bụt cho thế kỷ 21; chuyển hóa đạo Bụt tín mộ, hay đạo Bụt có tính học thuật thành một đạo Bụt của tuệ giác, của kinh nghiệm tâm linh thực nghiệm, rất linh động và luôn tự mình làm mới. Thầy đã sống qua các thời kỳ hỗn loạn, suy vong của chế độ thuộc địa, chiến tranh, rồi toàn cầu hóa. Dù trong thời kỳ nào, Người cũng luôn cống hiến một hướng đi của Phật giáo phù hợp với thời đại. Thầy đã đem những tuệ giác trong kho tàng của đạo Bụt truyền thống kết hợp với những yếu tố tâm lý học, khoa học, sinh thái học, đạo đức học và giáo dục của Tây phương để giải quyết tận gốc rễ những nguyên nhân gây sợ hãi, bạo động, đàn áp, bất công và tàn hoại môi trường; đồng thời chỉ ra một hướng đi cho gia đình nhân loại để có thể tiếp xúc với bình an, hòa giải và hạnh phúc đích thực[iii].

Vào ngày 11 tháng 11 năm 2014, một tháng sau ngày sinh nhật thứ 89, Thầy bị một cơn tai biến mạch máu não trầm trọng, nhưng sau đó Thầy đã hồi phục một cách đáng kinh ngạc. Sau thời gian chữa trị ở Pháp và ở San Francisco, Mỹ, sức khỏe của Thầy đã tiến triển rất khả quan. Sau đó Thầy trở về Pháp và ở tại Làng Mai trọn năm 2016, trước khi chuyển về Trung tâm quốc tế Làng Mai Thái Lan để sống cùng các đệ tử xuất sĩ trẻ của Thầy ở đây. Tháng 10 năm 2018, Thầy quyết định trở về Việt Nam để sống những năm tháng cuối đời ở Tổ đình Từ Hiếu, Huế, nơi Thầy giữ chức vị Trú trì và là người đứng đầu tông phái từ năm 1968.

Lần trở về này của Thầy có ý nghĩa vô cùng quý báu, nó giúp cho những người học trò trong tăng thân quốc tế rộng lớn của Thầy có thể duy trì sự kết nối sâu sắc, không gián đoạn với gốc rễ tâm linh của mình ở Việt Nam[iv]. Bằng chính cuộc đời mình, Thầy đã dạy chúng ta rằng ta có thể ôm ấp được cả những nghịch cảnh lớn lao nhất bằng lòng can đảm và tâm từ bi, rằng sự có mặt đích thực chính là món quà quý nhất mà ta có thể hiến tặng cho những người mà ta yêu thương.

Tiếp tục công trình trị liệu, chuyển hóa và hòa giải của Thầy, các đệ tử của Người đã và đang xây dựng tăng thân khắp nơi trên thế giới. Số lượng người Tây phương đến xuất gia ở Làng Mai ngày càng tăng lên. Làng Mai từ một nông trại nhỏ tại miền quê của nước Pháp đã biến thành một tu viện Phật giáo lớn nhất châu Âu.

Các giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ của Thầy tiếp tục hướng dẫn ngày càng nhiều các khóa tu và các chương trình đào tạo cho gia đình, thầy cô giáo, các nhà khoa học, các nhà hoạt động xã hội, giới doanh nhân, các nhà hoạt động môi trường và thế hệ trẻ. Với sự thành lập của tăng thân ARISE, cộng đồng của Thầy tiếp tục khám phá những cách thức mới để yểm trợ người da màu; với tăng thân Trì Địa (Earth Holder), cộng đồng đang phát triển phương thức bảo hộ trái đất, cống hiến những pháp môn thực tập để đối trị nỗi sợ hãi, cô đơn và tuyệt vọng khi mọi người phải đối diện với tình trạng khủng hoảng khí hậu.

Có thể nói sức mạnh, sự đa dạng và sức sống của tăng thân quốc tế mà Thầy đã dày công tạo dựng chính là di sản vĩ đại nhất mà Thầy để lại cho cuộc đời. Hạnh nguyện và niềm hy vọng của Thầy vẫn đang được tiếp nối bởi tăng thân yêu quý của Người – một tăng thân quốc tế đang không ngừng lớn mạnh, gồm mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi quốc gia, mọi tầng lớp xã hội. Tăng thân ấy vẫn đang tiếp tục công trình làm mới đạo Bụt mà Thầy đã trao truyền, luôn phát triển, sáng tạo những pháp môn mới càng ngày càng thích ứng với thời đại của chúng ta.

 

 

[i] Trích từ tác phẩm Mindful America: The Mutual Transformation of Buddhist Meditation and American Culture (Nước Mỹ chánh niệm: Sự chuyển hóa có tính hỗ tương của thiền tập Phật giáo và văn hóa Mỹ) của Jeff Wilson, xuất bản năm 2014, trang 34

[ii] Tác phẩm The Buddhist World (Thế giới Phật giáo) của John Powers, xuất bản năm 2016, trang 606-616

[iii] Năm 2017, Hội Chủng viện Thần học Hoa Kỳ (Union Theological Seminary – gọi tắt là UTS) tại New York đã khai giảng đã đưa Chương trình Thích Nhất Hạnh với Đạo Bụt dấn thân ( Thich Nhat Hanh Program for Engaged Buddhism) vào chương trình Thạc sỹ Thần học về đạo Bụt và Tinh thần Dấn thân Liên tôn giáo (Master of Divinity in Buddhism and Interreligious Engagement).

[iv] Tháng 4 năm 2019, chín thượng nghị sĩ của Mỹ đã đến Huế trong một chuyến viếng thăm chính thức để bày tỏ sự kính trọng và lòng tri ân đối với Thầy. Thầy khỏe và sáng suốt, có thể tiếp phái đoàn hơn một tiếng đồng hồ. Phái đoàn bao gồm các thượng nghị sĩ Leahy, Murkowski, Stabenow, Whitehouse, Udall, Portman, Baldwin, Hirono, and Kaine cùng với các phu nhân/phu quân. Một số vị đã từng tham dự pháp thoại của Thầy tại Quốc hội Mỹ năm 2003 và 2011; có người thậm chí đã tham gia khóa tu của Thầy. Họ nói rằng Thầy đã dạy họ cách chế tác bình an, cách mỉm cười, cách thưởng thức từng bước chân khi họ đi đến phòng bỏ phiếu.

 

Nhà lãnh đạo tâm linh toàn cầu và “người cha của chánh niệm”

Năm 2008 và năm 2009 ghi dấu một làn sóng mới – một bước phát triển khá mạnh mẽ trong hoạt động của Thầy và tăng thân Làng Mai ở Tây phương và châu Á. Nó có nhiều điểm khá tương đồng với các hoạt động của Thầy trong những năm 1964 – 1966 trong cách lĩnh vực đạo đức (giới luật), giáo dục, và hoạt động dấn thân.  Thầy đã làm mới cụm từ “đạo Bụt dấn thân” thành “đạo Bụt ứng dụng” để diễn tả chính xác hơn sự thực tập áp dụng chánh niệm một cách đích thực trong mọi lĩnh vực của đời sống[i]. Đối với Thầy, là một Phật tử thuần thành và một nhà hoạt động xã hội là chưa đủ; là một học giả đạo Bụt – ngay cả đạo Bụt dấn thân – cũng chưa đủ. Giáo lý đạo Bụt, nếu muốn thực sự linh động, cần phải được ứng dụng vào đời sống hàng ngày, trong các mối quan hệ, cách tư duy, nói năng và hành động của chúng ta. Nhân dịp UNESCO mời Thầy đến thuyết trình ở Paris, Thầy đã mở rộng và làm mới nguyên tắc của một nền đạo đức toàn cầu (dựa trên Năm giới tân tu) để nó thực sự trở thành một nguyên tắc đạo đức có tính phổ quát, có thể giải quyết tận gốc rễ những bất công xã hội, bạo động, sợ hãi, lo lắng, thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng[ii].

 

Thầy đã thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB) ở Đức; và khởi xướng một chương trình đào tạo thầy cô giáo trong việc đem chánh niệm vào trường học – chương trình có tên là Wake Up Schools[iii]. Thầy cho rằng chương trình Wake Up Schools có thể hiến tặng cho các em học sinh “một cơ hội thứ hai” để được học những điều mà các em không được tiếp nhận từ gia đình như: cách xử lý căng thẳng và cảm xúc mạnh; cách lắng nghe sâu và nói năng bằng lời từ ái; cách chế tác một giây phút hạnh phúc cho chính mình và cho những người khác; cách nhận diện và biến ước mơ sâu sắc nhất của mình thành hiện thực. Thầy luôn tìm tòi những cách thức không mang tính tôn giáo để chia sẻ “nghệ thuật sống hạnh phúc” và “nghệ thuật chuyển hóa khổ đau” với những người trẻ trên khắp thế giới. Với trên ba mươi năm kinh nghiệm trong việc chia sẻ sự thực tập chánh niệm với gia đình và trẻ em, Thầy thấy được sự cần thiết phải gìn giữ bản chất đích thực của chánh niệm khi nó được đem vào trong lớp học và môi trường giáo dục. Quyển sách Thầy cô giáo hạnh phúc làm thay đổi thế giới mà Thầy là đồng tác giả với giáo sư Katherine Weare, đã phác họa phương hướng đem chánh niệm vào trường học dựa trên nền tảng xây dựng những cộng đồng tu học có thực chất.

Ngoài ra Thầy còn khởi xướng phong trào Wake Up (dành cho giới trẻ Phật tử và không Phật tử cho một xã hội lành mạnh và từ bi) . Rất nhanh chóng, phong trào này đã phát triển mạnh mẽ thành một mạng lưới gồm hơn 100 tăng thân địa phương hoạt động ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á. Các bạn trẻ cùng nhau sinh hoạt định kỳ hàng tuần, tổ chức các buổi ngồi thiền công cộng, đi bộ trong chánh niệm, các khóa tu cuối tuần và các hoạt động dấn thân khác. Những chia sẻ chân thành của Thầy về cách thực tập xử lý khổ đau và cảm xúc mạnh, chuyển hóa những vướng mắc trong tình cảm cũng như ước nguyện phụng sự và giúp thế giới này tốt đẹp hơn đã chạm đến trái tim và tạo cảm hứng cho rất nhiều người trẻ[iv].  Khi những người trẻ tổ chức một buổi ngồi thiền công cộng với Thầy tại quảng trường Trafalgar, London, đã có hơn 3000 người tham dự, làm cho sự kiện này trở thành sinh hoạt thiền tập lớn nhất trong lịch sử của thành phố London.

 Lối ra

Thầy nhận ra rằng quan niệm sai lầm về hạnh phúc chính là gốc rễ của khổ đau ở Tây phương: rất nhiều người cho rằng khi chạy theo tiền tài, danh vọng, quyền hành và dục lạc, họ sẽ có hạnh phúc. Thế nhưng những cái đó chỉ làm tăng thêm sự xa cách, thèm khát, bất an cũng như dẫn đến sự bất công và tàn hoại các tài nguyên thiên nhiên quý báu. Khi được hỏi điều gì làm Thầy ấn tượng nhất trong những năm đầu tiên ở tại Tây phương, Thầy nói: “điều đầu tiên tôi nhận ra rằng thậm chí khi người ta có rất nhiều tiền, quyền lực và danh vọng, người ta vẫn có thể cực kỳ đau khổ. Nếu ta không có đủ bình an và từ bi ở trong lòng, thì không có cách gì ta có thể hạnh phúc được”[v]. Giáo lý của Thầy nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc tiếp xúc cái mà Thầy gọi là hạnh phúc đích thực ngay trong giờ phút hiện tại. Thầy khẳng định rằng giúp cho mọi người tiếp xúc với hạnh phúc đích thực là cách tối ưu để giải quyết tận gốc rễ tình trạng bất công, bất bình đẳng và tình trạng chạy trốn khổ đau bằng tiêu thụ hiện đang xảy ra trong xã hội. Thầy nói khi chúng ta biết hạnh phúc đích thực là gì, ta sẽ dễ dàng sống một cuộc sống giản dị, và ta sẽ biết cách chăm sóc chính mình, chăm sóc các mối quan hệ cũng như chăm sóc đất Mẹ.

Trên bình diện toàn cầu

Luôn can đảm lên tiếng về một số vấn đề hóc búa nhất của xã hội, đồng thời hiến tặng những giải pháp thực tiễn qua các pháp môn thực tập chánh niệm, Thầy trở thành một diễn giả được săn đón ở cả Đông lẫn Tây phương[vi]. Năm 2008, Thầy được mời sang Ấn độ trong một chuyến thăm chính thức với tư cách là một vị khách quý của chính phủ Ấn độ. Thầy đã cho các bài thuyết pháp và hướng dẫn khóa tu cũng như có một bài diễn văn tại Quốc hội, gặp gỡ bà Sonia Gandhi – Chủ tịch đảng Quốc đại, và được mời làm tổng biên tập danh dự cho tờ Thời báo Ấn độ (The Times of India) trong ngày kỷ niệm Thánh Gandhi. Thầy đã được mời phát biểu tại Hội nghị Tôn giáo Thế giới (2009) và tại trường Đại học Mahidol, Bangkok cho các chính trị gia Thái lan (2010). Năm 2011, Thầy được mời nói chuyện tại Quốc hội Mỹ lần thứ hai, và năm 2012 nói chuyện cho Quốc hội Anh tại điện Westminster, cho Quốc hội Bắc Ireland tại Stormont, và Thượng viện Pháp tại Paris. Sau buổi pháp thoại công cộng tại Dublin, thời báo của Ireland The Irish Times đã gọi Thầy là “người cha của chánh niệm”[vii].

Năm 2014, Tòa thánh Vatican đã gửi một phái đoàn chính thức đến Làng Mai để mời Thầy đại diện cho Phật giáo tham gia Hội nghị các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới tại Rome để cùng ra một tuyên cáo toàn cầu phản đối chế độ nô lệ hiện đại và nạn buôn người. Khi Tổng thống Obama đến thăm Việt Nam, ông đã trích dẫn những lời dạy của Thầy về hòa giải trong bài diễn văn chính thức tại Hà nội[viii].

Phát triển ở Đông phương

Không muốn bị đóng khung bởi “nhãn hiệu” một vị thầy theo Thiền tông, Tịnh Độ tông hay Nam tông nên Thầy thường nói rằng Thầy chỉ “trình bày giáo lý của đạo Bụt nguyên thủy theo tinh thần Đại thừa”, hay “đem đạo Bụt Đại thừa về tắm lại trong dòng suối nguyên thủy”[ix]. Tại các trung tâm thực tập thuộc Làng Mai, các nghi lễ đã được Thầy giản lược đi rất nhiều để phục hồi cái tinh yếu sống động của Thiền Phật giáo. Làm như thế, Thầy đã đi xa hơn việc chỉ đơn thuần giảng dạy “thiền đại thừa”. Trên thực tế Thầy đã truyền dạy một đạo Bụt hiện đại, cách tân nhưng vẫn giữ được gốc rễ của giáo lý nguyên thủy. Sự kết hợp độc đáo giữa giáo lý nguyên thủy và tinh thần đại thừa đã làm cho pháp môn của Thầy càng đặc biệt thu hút ở cả phương Đông lẫn phương Tây.

Từ năm 2008 trở đi, tầm ảnh hưởng của Thầy ở châu Á tăng lên nhanh chóng, nhất là đối với giới trẻ. Họ bị cuốn hút bởi một đạo Bụt mới qua những lời giảng của Thầy, một đạo Bụt không bị ràng buộc bởi giáo điều, nghi lễ và sự mê tín. Năm 2013, hơn 10 ngàn người đã tham dự buổi pháp thoại công cộng của Thầy ở Busan, Hàn Quốc và 11 ngàn người tại buổi pháp thoại công cộng ở Hồng Kông, nơi Thầy cũng hướng dẫn những buổi huấn luyện đặc biệt cho thầy cô giáo và nhân viên y tế. Là một trung tâm nòng cốt của Làng Mai ở châu Á, trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan với hơn 200 vị xuất gia, đã và đang hướng dẫn các khóa tu ở Nhật, Indonesia, Philippines và Đài Loan. Ở Thái Lan, Thầy đã giảng dạy và hướng dẫn khóa tu tại trường đại học hoàng gia Mahachulalongkorn (MCU), trường đại học Phật giáo lớn nhất thế giới, quê hương của rất nhiều vị học giả nổi tiếng của Phật giáo Nam Tông[x]. Tại Trung Quốc, những kinh văn cổ bằng chữ Hán được Thầy dịch ra ngôn ngữ hiện đại đã được dịch ngược lại sang tiếng Trung Quốc đương đại và được chào đón bởi một số đông độc giả.

Cũng tại châu Á, các tác phẩm thư pháp với những thiền ngữ giản dị mà sâu sắc, với nét bút thanh thoát chuyên chở năng lượng chánh niệm của Thầy được rất nhiều người yêu thích. Thư pháp của Thầy đã được triển lãm một cách quy mô tại Bảo tàng mỹ thuật của Đại học Hồng Kông (Hong Kong University Museum and Art Gallery) vào tháng 11 năm 2010; sau đó là các cuộc triễn lãm tại Đài Loan (2011) và Băng Cốc, Thái Lan (2013)[xi]. Ban đầu khi viết thư pháp, Thầy chỉ muốn nhắc nhở các học trò của mình về sự thực tập chánh niệm qua những câu thiền ngữ như: Thở đi con, Mỉm cười, An lạc từng bước chân, Con đã về con đã tới, … Ngày nay, những bức thư pháp của Thầy đã trở thành những tác phẩm nghệ thuật được nhiều người yêu thích trên khắp thế giới, và đã được xuất bản dưới dạng sách[xii]. Tính cho đến nay, Thầy đã viết hơn 10.000 tấm thư pháp cho các học trò của mình.

 Ông thầy tu có ảnh hưởng lớn

Trong chuyến hoằng pháp cuối cùng của Thầy tại Bắc Mỹ vào năm 2013, Thầy đã hướng dẫn một khóa tu cho hơn 1500 nhà giáo dục ở Toronto, Canada;  khai mạc triển lãm thư pháp của Thầy tại Broadway, New York; cho pháp thoại tại trường đại học Y khoa Harvard; hướng dẫn các buổi sinh hoạt chuyên đề về chánh niệm tại trụ sở Ngân hàng Thế giới ở Washington; nói chuyện tại trường đại học Stanford; hướng dẫn một ngày tu chánh niệm cho hơn 700 nhân viên của Google; và hướng dẫn một buổi chiều chánh niệm cho một số Giám đốc điều hành (CEO) hàng đầu của Thung lũng Silicon, trong đó có Marc Benioff, CEO của Saleforce. Marc Benioff đã trở thành một hộ pháp rất đắc lực của Thầy. “Anh muốn trở thành số một hay anh muốn được hạnh phúc?”, Thầy đã hỏi các CEO. “Nếu anh hạnh phúc, anh không thể nào là nạn nhân của hạnh phúc. Nhưng nếu anh thành công, anh có thể trở thành nạn nhân của sự thành công”, Thầy nói.

Mùa xuân năm 2014, Thầy đã làm hậu thuẫn cho Christiana Figueres, đệ tử của Thầy, khi bà chuẩn bị lãnh đạo các cuộc đàm phán về khí hậu (COP-21) tại Paris. Các cuộc đàm phán đã dẫn đến Hiệp ước Paris nổi tiếng. Sau này bà Christiana Figueres đã chia sẻ rằng nhờ sự hướng dẫn và những lời dạy của Thầy mà bà đã thành công[xiii]. Ảnh hưởng của Thầy cũng lan đến cả Hollywood. Hai đạo diễn từng đoạt giải Oscar là Alejandro G. Inarritu và Alfonso Cuarón đã đến dự các khóa tu và thực tập theo giáo pháp của Thầy. Cố nghệ sĩ hài Gary Shandling cũng là một người hết lòng thực tập theo Thầy. Ông là người nói lời giới thiệu Thầy trước khi Thầy phát biểu tại Quốc hội Mỹ[xiv].

Chánh niệm là con đường, không phải là một công cụ

Tháng Sáu năm 2014, trong khi sức khỏe đang suy yếu, Thầy hướng dẫn khóa tu 21 ngày với chủ đề “Chuyện gì xảy ra khi ta đang sống? Chuyện gì xảy ra khi ta chết?”. Trong khóa tu này, Thầy đã trình bày tuệ giác của mình về nghệ thuật sống chết[xv]. Đó là thời gian sự thực tập chánh niệm không mang màu sắc tôn giáo được nhiều người đặc biệt ưa chuộng. Thậm chí đến quân đội Mỹ cũng mời những chuyên gia chánh niệm, trong đó có cả những giáo thọ cư sĩ của Làng Mai, đến huấn luyện quân nhân để họ có thể thi hành nhiệm vụ tốt hơn. Khi được hỏi rằng các vị giáo thọ cư sĩ có nên huấn luyện chánh niệm cho quân đội hay không, Thầy giải thích rằng bất cứ khi nào một đệ tử của Thầy giảng dạy chánh niệm, họ nên cống hiến một giáo pháp hoàn chỉnh, bao gồm cả đạo đức, và không bao giờ nên pha loãng hay làm biến chất sự thực tập, hoặc sử dụng nó cho một mục đích phi đạo đức. Thầy nói “Chánh niệm là con đường, mà không phải là một công cụ”. Tháng 9 năm 2014, Thầy hoàn tất bản dịch mới của Tâm Kinh Bát Nhã, trong đó làm rõ ý nghĩa của chữ “không” trong Tâm kinh. Thầy giải thích “không” không có nghĩa là “không có gì”, mà có nghĩa là “không có một cái ngã riêng biệt”. Thầy đã biến những giáo lý thâm sâu của Tâm kinh Bát Nhã – một trong những bản kinh thiêng liêng nhất của đạo Bụt Đại thừa – trở thành một sự thực tập hết sức linh động[xvi].

 

 

[i] Bài viết “Why We Need a Global Ethic,” in True Peace Work: Essential Writings on Engaged Buddhism (2019) , trang 295-302.

[ii] Xem bài nói chuyện của Thầy tại UNESCO vào ngày 7 tháng 10 năm 2006 tại kết nối này. Xem thêm các pháp thoại trong khóa tu 21 ngày “Con đường của Bụt” (tháng 6 năm 2009) về đạo đức toàn cầu. Các bài pháp thoại trong khóa tu này đã được in thành sách Good Citizens: Creating Enlightened Society (2012). Năm giới tân tu được in trong sách Để có một tương lai (NXB Văn hóa Sài Gòn).

[iii] Để tìm hiểu thêm về chương trình này, xin xem tại website wakeupschools.org, và sách “Thầy cô giáo hạnh phúc làm thay đổi thế giới” (2016), TS. Thích Nhất Hạnh và Katherine Weare đồng tác giả.

[iv] Đọc tác phẩm Cultivating the Mind of Love (1996).

[v] Phỏng vấn của John Malkin, tạp chí Shambhala Sun,  ngày 1.7.2003

[vi] Thầy nằm trong danh sách 60 vị anh hùng châu Á do tạp chí Time bầu chọn năm 2006.

[vii] Thời báo Irish Times, số ra ngày 10.4.2012.

[viii] “…Hai nước đã học được bài học như Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng nói: đối thoại thực sự là khi cả hai bên đều sẵn sàng thay đổi… Theo cách đó, cuộc chiến vốn chia rẽ chúng ta nay lại là cội nguồn của sự hàn gắn.” – Trích diễn văn của Tổng thống Obama, ngày 24.5.2016 tại Hà Nội, Việt Nam. Nguồn: https://obamawhitehouse.archives.gov/the-press-office/2016/05/24/remarks-president-obama-address-people-vietnam

[ix] Phỏng vấn với Melvin McLeod, đăng trên tạp chí Shambhala Sun, ngày 17.2.2017 với tựa đề Love and Liberation: An interview with Thich Nhat Hanh (Tình thương và giải thoát); Xem “Trở về dòng suối nguyên thỉ” – định đề số 37 trong 40 định đề của Làng Mai, tác phẩm Làng Mai nhìn núi Thứu.

[x] Ngày 26 tháng 3 năm 2011, Làng Mai và trường đại học MCU đã ký kết văn bản Hiệp ước đối tác, một sự cộng tác giữa hai bên trong việc chia sẻ các khóa tu và ngày quán niệm, yểm trợ cho phong trào Wake Up ở Thái Lan (chia sẻ giáo lý đạo Bụt ứng dụng và đạo đức học ứng dụng với thế hệ trẻ), và phát triển một chương trình Thạc sĩ về đạo Bụt ứng dụng tại MCU.

[xi] Ngoài ra còn có các cuộc triển lãm thư pháp của Thầy tại Vancouver, Canada (2011) và tại Đức (2012).

[xii] This Moment is Full of Wonders: The Zen Calligraphy of Thich Nhat Hanh (2015)

[xiii] Bài phỏng vấn Christina Figueres của Jo Confino: “Vị anh hùng ẩn danh đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới”, đăng trên báo Huffington Post,  ngày 22.1.2016.

[xiv] Bài viết “G. Inarritu trong phim tài liệu về chánh niệm Walk With Me” của Leo Barraclough, đăng trên báo Variety, số ra ngày 9.3.2017.

[xv] Các bài pháp thoại trong khóa tu 21 ngày đã làm nên nội dung của quyển sách “The Art of Living: Peace and Freedom in the Here and Now” (2016)

[xvi] Xem thêm: Tâm kinh Tuệ giác qua bờ

Về lại Việt Nam

Năm 2005, sau một năm thương thuyết – đúng dịp Việt Nam nộp đơn xin gia nhập Tổ chức thương Mại Thế giới (WTO), Chính phủ Việt Nam cuối cùng đã cho phép Thầy trở về quê hương, cùng một phái đoàn với hơn 200 đệ tử sau 39 năm bị lưu vong.

Thầy đã cho pháp thoại công cộng và hướng dẫn các khóa tu, và một số sách của Thầy cuối cùng cũng được phép chính thức xuất bản tại Việt Nam[i]. Dù chương trình sinh hoạt của tăng đoàn không được phép quảng bá trên các phương tiện truyền thông và nằm dưới sự kiểm soát rất chặt chẽ của chính quyền, những ngày quán niệm và các khóa tu do Thầy hướng dẫn vẫn có hàng ngàn người tham dự. Hàng trăm người trẻ muốn xuất gia với Thầy được chào đón tại Bát Nhã, một tu viện mới được thành lập tại cao nguyên Lâm Đồng, không xa Phương Bối[ii]. Năm 2007, Thầy trở lại Việt Nam để chủ trì ba Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan, cầu nguyện cho hàng triệu người đã thiệt mạng trong chiến tranh. Năm 2008, Thầy trở về nước một lần nữa để cho một bài phát biểu quan trọng nhân dịp đại lễ Phật Đản quốc tế (Vesak) do Liên Hiệp Quốc tổ chức tại Hà Nội[iii]. Trong ba lần về thăm quê hương, Thầy đều có các cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của Nhà nước Việt Nam[iv]. Trong những cuộc gặp này, cũng như trong những lần Thầy gặp gỡ các nhà lãnh đạo của Quốc hội Hoa Kỳ, Quốc hội Ấn Độ, Quốc hội Anh hay Quốc hội Bắc Ireland, Thầy đều đưa ra những lời khuyến nghị để giúp đem lại một nền đạo đức, thịnh vượng và tiến bộ trên các lĩnh vực như xã hội dân sự, giáo dục và quan hệ quốc tế.

Thế nhưng những điều kiện thuận lợi đó không kéo dài được bao lâu. Sự phát triển quá nhanh chóng của tu viện Bát Nhã, với 400 xuất sĩ và có đến hàng trăm người trẻ đến tu học hàng tháng đã khiến chính quyền Việt Nam lo ngại và coi đây là một mối đe doạ. Vào ngày 27 tháng 9 năm 2009, sau nhiều tháng bị quấy nhiễu, tất cả vị xuất gia đã bị buộc phải rời khỏi Bát Nhã theo từng nhóm nhỏ để xin tá túc tại một số tự viện hiếm hoi dám mạo hiểm mở cửa che chở họ. Ngày nay, các thầy và các sư cô Bát Nhã ấy đã trở thành những giáo thọ trẻ phụng sự trong các tu viện của Làng Mai đang phát triển bên ngoài Việt Nam, tại châu Âu, châu Mỹ và châu Á. Một loạt các tu viện mới được thành lập ở khắp nơi sau sự kiện Bát Nhã năm 2007, bao gồm tu viện Bích Nham ở phía bắc ngoại ô New York, Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ở Paris, Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan tại Khaoyai, tu viện Mộc Lan tại Mississipi (Hoa Kỳ), Viện Phật học Ứng dụng Á Châu tại đảo Lantau Hongkong,  Tu viện Nhập Lưu ở bang Victoria, Úc[v].

 

 

[i] Trước chuyến về Việt Nam của Thầy, 4 quyển sách đã được phép xuất bản, đến mùa thu thì có tất cả là 12 quyển được phép xuất bản. Tham khảo Vấn đáp tại Lộc Uyển ngày 17 tháng 9 năm 2005.

[ii] Xin xem báo cáo chi tiết về chuyến  đi này trong Lá thư Làng Mai số 29 – năm 2006 trên Trang nhà Làng Mai.

[iii] Xin xem Lá thư Làng Mai (LTLM) số 31 – năm 2008 về ba Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan và LTLM 32 – năm 2009 về Đại lễ Phật đản (Vesak) tại Hà Nội.

[iv] Năm 2008, Thầy đã có cuộc gặp gỡ chính thức với Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

[v] Đại chúng thuộc tu viện Rừng Phong và tu viện Thanh Sơn ở Vermont đã kết hợp lại để thành lập nên tu viện Bích Nham; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ là tên mới của thiền đường Hoa Quỳnh (được thành lập từ năm 1985) ở Paris sau khi cơ sở được xây dựng lại và có chúng xuất sĩ thường trú vào năm 2008.

Đạo Bụt không biên giới

Trong thập niên 1990 và đầu thập niên 2000, Thầy đã mang giáo lý và sự thực tập đạo Bụt ra khỏi bối cảnh của tôn giáo để phụng sự cho thế giới. Thầy đã hướng dẫn các khóa tu đặc biệt cho các nhà tâm lý trị liệu, thầy cô giáo, giới lãnh đạo doanh nghiệp, chính trị gia, khoa học gia, những nhà sinh môi, nghệ sĩ, nhân viên cảnh sát và thậm chí cả cho người Do Thái và người Palestin[i]. Tại Hoa Kỳ, Thầy đã hướng dẫn các khóa tu cho cựu chiến binh Mỹ – chính những người đã từng tham gia vào cuộc chiến tranh trên quê hương của Thầy – giúp mang lại sự hòa giải sâu sắc.

Theo năm tháng, số người từ khắp nơi trên thế giới tìm với Làng Mai để tu học ngày càng đông. Qua tiếp xúc với thiền sinh, Thầy và tăng thân bắt đầu phát triển những pháp môn chánh niệm khế cơ hơn và có tính cách phi tôn giáo để có thể áp dụng một cách rộng rãi trong các trường học, cơ quan y tế và nơi làm việc. Thầy giải thích rằng chánh niệm cống hiến một chiều hướng tâm linh trong đời sống hàng ngày. Ai cũng có thể thực tập chánh niệm được dễ dàng dù họ có tôn giáo hay không tôn giáo. Ngày nay tại Quốc hội Hoa Kỳ, có những nghị sĩ thực tập thiền hành trong khi đi đến phòng bỏ phiếu. Có những giáo viên thỉnh chuông cho học sinh thở trong lớp học, và thậm chí có những linh mục tổ chức thiền trà cho giáo dân trong giáo phận của mình. Thầy nói: “Đạo Bụt của chúng tôi là một đạo Bụt không biên giới”[ii]. Thầy khuyến khích mọi người giữ đạo gốc của mình, thay vì đổi theo đạo Bụt[iii]. Đối với Thầy, “ai cũng có thể hưởng được lợi lạc từ giáo lý và sự thực tập đạo Bụt. Đạo Bụt là một gia tài của cả nhân loại chứ không riêng của những người Phật tử. Bởi vì đạo Bụt được làm bằng những yếu tố không phải là đạo Bụt”[iv]

Quy tắc của một nền đạo đức toàn cầu

Trong những năm Thầy ở Việt Nam, trong bối cảnh đất nước bị thực dân đô hộ và chiến tranh kéo dài với ý thức hệ và vũ khí của ngoại bang, Thầy đã đào sâu vào gia tài của Phật giáo Việt Nam để tìm một hướng đi cho dân tộc. Và sau này, khi chân trời của Thầy mở rộng, Thầy cũng đã làm như thế trên bình diện toàn cầu: đào sâu vào gia tài tâm linh của đạo Bụt để cống hiến những pháp môn cụ thể và những quy tắc đạo đức có thể vượt ra khỏi biên giới của văn hóa và tôn giáo, gieo trồng hạt giống của một “sự giác ngộ tập thể”.

Thầy đã trình bày cái thấy của đạo Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu – đó là Năm giới tân tu – tại Hội nghị thượng đỉnh về SIDA được tổ chức tại Nhà Trắng; với Phó tổng thống Ấn độ K.R. Narayanan (kết quả là ông đã thành lập một Ủy ban Đạo đức ở Quốc hội), và tại Hội nghị Kinh tế Thế giới ở Davos, Thụy Sĩ[v]. Ước tính là từ thập niên 1980, trong các buổi lễ truyền giới do Thầy và tăng thân chủ trì, có hàng trăm ngàn người đã chính thức cam kết đem những nguyên tắc đạo đức này áp dụng vào đời sống hàng ngày. Năm 1999, UNESCO mời Thầy cùng với các ứng viên cho giải Nobel hòa bình khởi thảo bản “Tuyên cáo về một nền hòa bình và bất bạo động năm 2000” (“Manifesto 2000”) cho thiên niên kỷ mới[vi]. Bản Tuyên cáo cuối cùng (một cam kết thực hành 6 điểm đạo đức cụ thể trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình, nơi làm việc và cộng đồng dựa trên Năm giới tân tu của Thầy) đã lấy được trên 70 triệu chữ ký trên toàn thế giới, trong đó có chữ ký của nhiều nguyên thủ quốc gia.  

Rất nhiều năm trước khi Thầy được phép trở về Việt Nam, Thầy đã được mời đem giáo pháp đạo đức ứng dụng sang Trung Quốc: lần đầu tiên năm 1995, sau đó là ba chuyến hoằng pháp liên tiếp dưới sự bảo trợ chính thức của Hội Phật giáo Trung Quốc vào các năm 1999, 2001 và 2002[vii]. Thầy đã có cơ hội tham bái tổ đình của dòng thiền Lâm Tế, được mời cho pháp thoại, hướng dẫn khóa tu và lần đầu tiên giới thiệu về bản Năm giới tân tu bằng chữ Hán. Thầy đã gặp gỡ Thứ trưởng về Tôn giáo và đã tặng ông câu thư pháp bằng tiếng Anh với dòng chữ “Spiritual Dimension” (Chiều hướng tâm linh). Thầy giải thích rằng “Hiện trong mọi lĩnh vực của sự sống xã hội và con người, như chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, v.v. yếu tố tâm linh đã trở nên rất cần thiết, vì vậy Thầy mong rằng Tôn Giáo Sự Vụ có thể nâng đỡ cho Phật giáo để Phật giáo có thể cống hiến được tuệ giác và kinh nghiệm mình cho xã hội, để làm giảm bớt bạo động, lo lắng và khổ đau trong những lĩnh vực ấy của sự sống”.

Ngày xưa, chư Tổ đem giáo lý đạo Bụt từ Trung Quốc sang Việt Nam. Giờ đây, Thầy đem về lại cho Trung Quốc một đạo Bụt mới, đầy sức sống, mang tính thực tiễn và dễ áp dụng vào đời sống. Những cuốn sách của Thầy như Giận, Phép lạ của sự thỉnh thứcĐường xưa mây trắng được rất nhiều người Trung Quốc, đặc biệt là giới trẻ, yêu thích. Thầy rất vui khi bản dịch quyển Bước tới thảnh thơi – cẩm nang dành cho sadi và sadini từ chữ Hán cổ sang chữ Hán hiện đại của Thầy có thể được xuất bản ở Trung Quốc và được sử dụng rộng rãi tại các Viện Phật học. Hơn 400 năm qua, các sadi, sadini của Trung Quốc vẫn sử dụng cuốn cẩm nang này bằng chữ Hán cổ.

Sinh thái học bề sâu

Đầu những năm 2000, Thầy trở thành một phát ngôn viên hàng đầu cho “sinh thái học bề sâu”, phát triển giáo lý về môi trường mà Thầy đã bắt đầu từ hội nghị Đại Đồng vào những năm đầu của thập niên 1970. Tuệ giác về tương tức trở thành kim chỉ nam cho hoạt động dấn thân của Thầy. Trong tác phẩm The World We Have (Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh) được xuất bản năm 2008, Thầy không ngần ngại nói ra sự thật về sự khủng hoảng sinh môi ngày càng trầm trọng và đề ra hướng đi của đạo Bụt để đối trị với tình trạng ấy. “Nếu loài người chúng ta vẫn tiếp tục sống như hiện nay thì nền văn minh của chúng ta sẽ sớm bị diệt vong”[viii]. Năm 2007, theo sự chỉ dạy của Thầy, tất cả các trung tâm tu học của Làng Mai đã bắt đầu dùng thực phẩm thuần chay (vegan) nhằm gửi một thông điệp mạnh mẽ đến mọi người rằng một chế độ ăn thuần chay dựa trên rau củ quả có thể làm giảm thiểu khổ đau và bảo hộ trái đất[ix]. Tuệ giác sâu sắc nhất của Thầy dành cho các nhà hoạt động môi trường, được ghi lại trong quyển sách Tâm tình với đất Mẹ, là một lời mời gọi “hãy yêu thương đất Mẹ”. Chính tình thương đối với đất Mẹ sẽ là nguồn năng lượng thực sự bền vững gây cảm hứng cho các nhà hoạt động môi trường trong hành động và sự dấn thân của họ.

 

Nền tảng đạo đức để xây dựng hòa bình

Tháng 9 năm 2001, trong lúc Thầy đang ở Hoa Kỳ để hướng dẫn các khóa tu, cho pháp thoại công cộng và trả lời các buổi phỏng vấn về quyển sách “Giận” vừa mới xuất bản thì tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới (WTC) ở New York bị tấn công. Thầy đã dẫn đầu một đoàn thiền hành hàng trăm người đi chung quanh khu Ground Zero – nơi tưởng niệm các nạn nhân thiệt mạng trong vụ khủng bố nói trên. Thầy đã đề cập tới vấn đề bất bạo động và tha thứ trong bài phát biểu trước một thính chúng hơn 2000 người tại nhà thờ Riverside, nơi mà 35 năm về trước Mục sư King đã lên tiếng chống chiến tranh Việt Nam. Lúc đó rất nhiều người đã cố gắng thuyết phục Thầy đừng lên tiếng vì e rằng Thầy có thể gặp nguy hiểm khi kêu gọi người dân Mỹ bình tĩnh, thực tập từ bi và bao dung trong lúc căng thẳng đang lên đến đỉnh điểm như vậy. Thầy nói: “Cho dù thầy có bị bắn (khi thầy lên tiếng) thì thầy sẽ vẫn còn là thầy của quí vị. Nhưng nếu vì sợ hãi mà thầy giữ im lặng thì thầy sẽ không còn xứng đáng là thầy của quí vị nữa, và sự mất mát ấy sẽ còn to lớn hơn nhiều”.

Hai năm sau, lúc tình hình căng thẳng giữa Nam – Bắc Triều tiên lên cao điểm, trong một bài phát biểu tại Hàn Quốc, Thầy nhận xét rằng “Các nhà lãnh đạo chính trị của chúng ta được huấn luyện về khoa học chính trị nhưng không được đào tạo về cách thức xây dựng hòa bình, trong nội tâm cũng như bên ngoài. Chúng ta cần giúp họ đem lại một chiều hướng tâm linh cho đời sống chính trị của đất nước”[x]. Năm 2003, sáu tháng sau khi Hoa Kỳ chiếm đóng Iraq, Thầy đã mạnh dạn kêu gọi hòa bình tại Thư viện Quốc hội (Library of Congress) của Hoa Kỳ, gặp gỡ Thượng nghị sĩ John McCain để nói lên mối quan ngại của mình. Cũng trong dịp này, Thầy đã hướng dẫn hai ngày tu chánh niệm cho các nghị sĩ Hoa Kỳ. Một lần nữa, Thầy khẳng định điều quan trọng là đừng cho kẻ thù của mình là quỷ dữ, như Thầy đã từng khẳng định trong chiến tranh Việt Nam, mà nên nhìn họ với con mắt từ bi, đó mới là cách hay nhất để bảo đảm sự an ninh và hòa bình đích thực. Theo Thầy, từ bi là biểu hiện của sức mạnh và lòng can đảm vô cùng to lớn, chứ không phải là sự yếu đuối như ta thường nghĩ.

 

 

[i] Những bài giảng cho doanh nhân và các chính trị gia đã được biên tập thành sách The Art of Power (Quyền lực đích thực, 2007); những bài giảng cho tù nhân và các cán bộ trại giam được xuất bản thành sách Be free where you are (Sống tự do ở bất cứ nơi nào ở đâu, 2002); những bài giảng cho người Israel và Palestine được làm thành sách Peace Begins Here: Palestinians and Israelis Listening to Each Other (2001)

[ii] Phát biểu của Thầy ở Hàn Quốc, tháng Tư năm 1995, được Daniel J. Adams ghi lại trong “Thich Nhat Hanh Then and Now,”(Thích Nhất Hạnh ngày ấy và bây giờ), Phòng lưu trữ của Trung tâm Thomas Merton Center.

[iii] Phỏng vấn với Don Lattin cho tờ The San Francisco Chronicle, tháng 12 năm 1997: Khi bạn mở lòng với những truyền thống khác, và bạn sẵn lòng học hỏi từ các truyền thống ấy, bạn có một cơ hội để hiểu khác hơn về chính truyền thống của bạn. Đó là điều mà tôi đã học được […] Có những người thực tập theo đạo Bụt, sau đó quay trở lại đạo gốc của họ và khám phá ra rất nhiều điều mà trước đây họ không thấy […] Chúng ta có quyền được hưởng lợi lạc từ bất kỳ truyền thống tâm linh nào.  Bạn cần phải biết [và] hưởng lợi lạc từ mỗi truyền thống. Bởi vì mỗi truyền thống đều có những châu báu và giá trị riêng của nó. Giống như ta ăn trái cây vậy. Nếu bạn thích ăn táo hoặc ăn cam thì bạn vẫn có thể thử ăn xoài, ăn chuối. Bạn không hề phản bội lại trái cam của bạn chút nào khi bạn thử xoài, thử chuối. Chúng ta có quyền thưởng thức tất cả các loại trái cây, và chúng ta có quyền thưởng thức mọi truyền thống tâm linh của loài người. Bạn không nên loại trừ bất cứ truyền thống nào với lý do rằng “Truyền thống của tôi mới là truyền thống chính cống” – như thế thì thật quá hẹp hòi. Chúng ta cần giải phóng chính mình ra khỏi cách suy nghĩ như vậy […] Tôi luôn kêu gọi mọi người nên là chính mình, nên quay về với gốc rễ tâm linh của chính mình. Sẽ không có một mối nguy hiểm nào chờ đón nếu ai đó muốn thử pháp môn của Làng Mai, bởi vì pháp môn của Làng Mai là một phương tiện giúp đem người đó trở lại với văn hóa và gốc rễ tâm linh của chính họ. Điều duy nhất mà tôi quan tâm chính là làm sao cho mọi người có một cơ hội thực tập để cho họ bớt khổ đau. Sau đó họ sẽ quay lại với truyền thống gốc và cố gắng làm mới lại truyền thống của họ…”

[iv] Pháp thoại ngày 21 tháng 6 năm 2009 tại Làng Mai.

[v] Tại Ấn độ năm 1996, tại Davos năm 2000, tại Nhà trắng tháng 12 năm 2000.

[vi] Xem http://www.peace.ca/manifesto2000codeofethics.htm

[vii] Xem thêm trong LTLM số 19 năm 1996,  LTLM số 23-2000 (bài “Địa thượng thần thông”), LTLM số 25-2002 (bài “Đi như một dòng sông”) và LTLM số 26 – 2003

[viii] The World We Have: A Buddhist Approach to Peace and Ecology (Hướng đi của đạo Bụt cho hoà bình và môi sinh), trang 37.

[ix] Trong thư gửi các đệ tử viết tại tu viện Bích Nham ngày 12.10.2007, có tựa đề “Ăn chay để bảo vệ đất Mẹ”, Thầy kêu gọi toàn thể các trung tâm trực thuộc Làng Mai dùng thực phẩm thuần chay để không chỉ làm vơi nhẹ khổ đau cho muôn loài cầm thú mà còn giúp giảm thiểu dấu ấn carbon.

[x] “Spiritual Reflections on War and Peace” (Quán chiếu về hướng đi tâm linh cho vấn đề chiến tranh và hòa bình), in trong Mindfulness Bell  số 34, mùa thu 2003.