Ngày 23.01, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ gửi lời chia buồn khi nghe tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch. Dưới đây là thông cáo từ Phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Ned Price:
Thay mặt người dân Hoa Kỳ, chúng tôi xin chân thành chia buồn trước sự ra đi của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một tu sĩ Phật giáo, một nhà hoạt động vì hòa bình, và là người sáng lập phong trào đạo Bụt dấn thân. Thiền sư cũng là người sáng lập Đạo Tràng Mai Thôn – một cộng đồng thực tập chánh niệm.
Là một người thầy, một nhà lãnh đạo tinh thần nổi tiếng trên thế giới và được nhiều người thuộc các tôn giáo khác nhau thương kính, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã dành hơn 60 năm để ủng hộ tự do tôn giáo, nhân quyền, bất bạo động và tình yêu thương cho tất cả mọi người. Thiền sư đã được đề cử giải Nobel Hòa bình và nhiều giải thưởng khác vì những đóng góp của mình.
Thiền sư là một nhân vật kiệt xuất. Ảnh hưởng của Thiền sư không chỉ giới hạn trong cộng đồng tôn giáo mà thôi. Cả thế giới sẽ vô cùng tiếc nhớ tiếng nói đầy tuệ giác của Người. Khi suy ngẫm về cuộc đời của Thiền sư, chúng tôi luôn nhớ đến di sản và dấu ấn sâu sắc mà Người để lại cho nhân loại. Lòng của chúng tôi hướng về người dân Việt Nam – quê hương của Thiền sư và tất cả những ai trên khắp thế giới được truyền cảm hứng từ tâm hồn từ mẫn của Người.
Tôi vô cùng xúc động khi nghe tin Thiền sư Thích Nhất Hạnh, người sáng lập Làng Mai tại Pháp và nhiều trung tâm thiền tập Phật giáo trên thế giới như Mỹ, Đức và Thái Lan đã viên tịch bình an vào ngày 22 tháng 01 năm 2022, hưởng thọ 95 tuổi. Tôi xin được bày tỏ niềm cảm thông chân thành về sự ra đi của Thiền sư.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã có đóng góp phi thường trong việc truyền bá Phật giáo, những công tác xã hội từ thiện và góp phần vào sự hòa bình của xã hội.
Đây là một sự mất mát vô cùng to lớn đối với những người Phật tử trên toàn thế giới. Thiền sư là một trong những người đi đầu trong việc hoằng pháp và hợp tác giữa trường Đại học Mahachulalongkornrajavidyalaya University (MCU) và tăng thân Làng Mai, lễ ký kết đã được đôi bên thực hiện vào năm 2011 (MOU). Trường Đại học MCU cũng đã hân hạnh trao bằng Tiến sĩ Danh dự đến Thiền sư Thích Nhất Hạnh với những nghiên cứu của Thiền sư về chuyên ngành Tâm lý học Phật giáo vào năm 2011.
Tôi ý thức rằng Thiền sư đã sống một cuộc đời đạo hạnh và tôi tin rằng Ngài chắc chắn sẽ chứng quả Bồ đề.
Không có cái gì từ có trở thành không hết. Tất cả đều được tiếp nối dưới một hình thức này hay một hình thức khác. Đám mây luân hồi ra thành cơn mưa và cơn mưa luân hồi ra thành ra nước trà. Khi uống trà trong chánh niệm, tôi thấy tôi đang uống mây. Không cần phải là thi sĩ mới thấy mình đang uống mây, mình chỉ cần là một thiền giả thôi. Khi nhìn vào nước trà mình thấy đây là cơn mưa, đây là đám mây và mình đang uống mây. Nước trà là sự tiếp nối của cơn mưa, cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây và đám mây là sự tiếp nối của sức nóng mặt trời cùng nước ao, hồ, sông, biển. Luôn luôn có sự tiếp nối như vậy, gọi là luân hồi.
Mình đừng đi tìm cái tướng, mình đừng kẹt vào tướng. Nếu kẹt vào tướng, mình không nhận diện được sự tiếp nối. Nhìn vào cơn mưa, mình phải thấy đám mây, đó là nhìn với con mắt vô tướng.
Nếu quý vị nghe tin thầy Nhất Hạnh không còn nữa thì quý vị đừng có khóc, vì quý vị nhìn vào quý thầy, quý sư cô trẻ, quý vị phật tử trẻ đang tiếp nối Thầy. Quý vị thấy cách họ đi, cách họ đứng, cách họ ngồi, cách họ giúp đời thì đó là Thầy. Thầy đang còn tiếp tục. Thầy không chết đi. Mình không cần phải khóc, mình không cần phải buồn. Không có gì chết hết. Cái gì cũng tiếp tục. Cái đó chỉ có tu thiền, quán chiếu thì mới thấy được mà thôi. Mình sẽ vượt thắng được cô đơn, tuyệt vọng.
Trong đạo Bụt, chúng ta nói về tính tương tức của vạn vật, nghĩa là không ai trong chúng ta có thể tồn tại một cách biệt lập, riêng rẽ. Chúng ta phải tương tức với những thành phần khác. Nó cũng giống như bên trái và bên phải. Nếu bên phải không có đó thì bên trái cũng không thể có mặt. Nếu không có bên trái thì cũng không có bên phải. Không thể nào có thể lấy bên trái ra khỏi bên phải hoặc lấy bên phải ra khỏi bên trái. Sự sống luôn có mặt đồng thời với cái chết, không có trước mà cũng không có sau. Sự sống không thể tách rời khỏi cái chết. Nơi nào có sự sống thì nơi đó có cái chết và nơi nào có cái chết thì nơi đó có sự sống. Điều này cần phải quán chiếu kỹ mới có thể hiểu được.
Khi chúng ta biết sinh và diệt luôn có mặt đồng thời với nhau thì chúng ta không còn sợ hãi cái chết. Bởi vì chính giây phút mà cái chết xảy ra thì sự sống cũng đồng thời sinh khởi. La vie est avec la mort (Sự sống luôn đi liền với cái chết). Chúng không thể tách rời. Để chứng nghiệm được điều này đòi hỏi phải có một sự thiền quán rất sâu. Ta không nên chỉ dùng trí năng để thiền quán. Ta phải quan sát sự sống trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày. Ta sẽ thấy rằng sinh và diệt tương tức với nhau, điều này xảy ra đối với vạn vật, từ cây cỏ, cầm thú, thời tiết, vật chất và năng lượng. Các nhà khoa học cũng đã tuyên bố rằng không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự chuyển biến từ hình thái này sang hình thái khác mà thôi. Vì vậy chỉ có sự chuyển biến là có thật, còn sinh và diệt là những cái không có thật. Những gì mà ta gọi là sinh và diệt thì đó chỉ là sự chuyển biến mà thôi.
Chúng ta cần sống đời sống của mình một cách chánh niệm hơn, với sự định tĩnh để có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với những gì đang diễn ra trong ta và xung quanh ta. Và khi đó, chúng ta sẽ có cơ hội tiếp xúc với bản chất chân thực của thực tại, đó là bản chất không sinh không diệt. Đạo Bụt gọi đó là Niết bàn (Nirvana). Niết bàn chính là bản chất không sinh không diệt. Trong đạo Thiên chúa, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản chất không sinh, không diệt của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản tánh chân thật của chúng ta.
Bụt nói rằng có một nơi rất an toàn mà mình có thể trở về bất cứ lúc nào mình muốn: đó là hải đảo tự thân. Trong tự thân bạn có một hải đảo an toàn, nếu trở về đấy thì bạn sẽ không còn bị sóng gió cuộc đời kéo đi nữa. Attadipasaranam có nghĩa là quay về nương tựa (saranam) nơi hải đảo (dìpa) của tự thân. Khi bạn trở về với hơi thở ý thức, bạn trở về với chính bạn, bạn tiếp xúc với hải đảo an toàn nơi tự thân bạn, nơi ấy có tổ tiên, quê hương và tam bảo là Bụt, Pháp và Tăng. Thở và để ý tới hơi thở là bắt đầu quay về. Quay về với hơi thở, với thân thể, với cảm thọ, với tri giác, tâm tư và với tâm thức mình. Đó là năm yếu tố làm nên tự thân: thân thể (sắc), cảm giác (thọ), tri giác (tưởng), tâm tư (hành), và nhận thức (thức) của mình. Năm yếu tố ấy được gọi là năm uẩn (skandha). Hơi thở có ý thức đem thân tâm về một mối, trong khi thở, tất cả thân thể, cảm giác, tri giác, tâm tư và nhận thức của bạn đều trở về tiếp xúc với hơi thở ấy, như khi bạn cất lên tiếng hát thì mọi người trong gia đình đều im lặng lắng nghe! Hơi thở sẽ làm lắng dịu thân và tâm, đưa thân và tâm về một mối và tạo ra được sự hài hòa giữa năm uẩn. Chính lúc ấy, hải đảo tự thân biểu hiện làm chỗ nương tựa an toàn cho tất cả năm uẩn.
Bài kệ đầy đủ như sau:
Quay về nương tựa hải đảo tự thân Chánh niệm là Bụt soi sáng xa gần Hơi thở là pháp bảo hộ thân tâm Năm uẩn là Tăng, phối hợp tinh cần. Thở vào, thở ra Là hoa tươi mát Là núi vững vàng Nước tĩnh lặng chiếu Không gian thênh thang.
Là những học trò của Bụt, những tri kỷ của Bụt, chúng ta nghe lời Bụt. Chúng ta phải biết trở về chính hải đảo tự thân của chúng ta.
Chúng ta sẽ gặp được tổ tiên tâm linh và huyết thống, chúng ta sẽ gặp được suối nguồn gốc rễ của chúng ta, chúng ta sẽ có bình an, có sự an ổn, có ánh sáng. “Hãy nương tựa nơi hải đảo tự thân, hãy nương tựa vào pháp mà đừng nương tự vào một ai khác”. Bụt có tình thương rất lớn, Ngài biết rằng số đệ tử sẽ cảm thấy bơ vơ rất đông, cho nên Ngài dạy như vậy.
Hình hài của tôi không phải là một cái gì vĩnh cửu. Cái đáng cho quý vị nương tựa chính là hải đảo tự thân của quý vị, nó luôn có đó cho quý vị, quý vị không cần phải đi máy bay hay đi xe bus mà vẫn tới được hải đảo tự thân bằng hơi thở và bằng bước chân. Noel này nếu quý vị có mua một cây “sapin” về để trang trí, quý vị nên biết rằng quê hương không nằm ở ngoài. Nó nằm trong lòng mình!
Và quê hương đó không phải nhiều năm mình mới về được, phải đi xa mới về tới được. Nếu mình biết cách, nếu mình biết sử dụng Niệm và Định thì mình có thể về được trong một hơi thở, trong một bước chân. Quê hương không phải là một nơi chốn xa cách bởi không gian và thời gian. Quê hương có thể có mặt trong giờ phút hiện tại nếu mình biết trở về.
Khi ta nhìn lên bầu trời và không thấy đám mây mà ta yêu quý đâu nữa, ta nghĩ rằng đám mây đó đã chết, nhưng sự thực là đám mây đó vẫn đang tiếp tục tồn tại nhưng dưới hình tướng là mưa hay những hình tướng khác mà thôi. Sinh và diệt chỉ là những hiện tượng mà ta nhìn thấy trên bề mặt. Nếu ta nhìn thật sâu thì không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự tiếp nối không ngừng. Khi ta tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt thì ta không còn lo sợ cái chết. Không chỉ đạo Bụt nói về không sinh không diệt, mà khoa học cũng nói về điều này. Giữa hai bên có thể chia sẻ với nhau những khám phá của mình, điều này sẽ rất thú vị. Chúng ta cần sống đời sống của mình cho sâu sắc hơn để có thể tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt.
Chúng ta cần sống đời sống của mình một cách chánh niệm hơn, với sự định tĩnh để có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với những gì đang diễn ra trong ta và xung quanh ta. Và khi đó, chúng ta sẽ có cơ hội tiếp xúc với bản chất chân thực của thực tại, đó là bản chất không sinh không diệt. Đạo Bụt gọi đó là Niết bàn (Nirvana). Niết bàn chính là bản chất không sinh không diệt. Trong đạo Thiên chúa, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản chất không sinh, không diệt của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản tánh chân thật của chúng ta.
Đám mây không sợ chết, bởi vì chúng biết rằng nếu chúng không phải là một đám mây thì chúng có thể trở thành một cái gì khác cũng đẹp không kém, chẳng hạn như mưa hay tuyết.