Sinh hoạt năm 2022

 

Con đã biết thế nào là hạnh phúc chân thực

Bố mẹ và cả nhà thương mến,

Tháng 12 lại về, theo truyền thống phương Tây mùa giáng sinh hay còn gọi là mùa vọng, là mùa của Lòng Biết Ơn bắt đầu từ ngày Lễ Tạ Ơn và xuyên suốt tháng 12 mọi người sẽ cùng hướng vọng về những điều mình biết ơn. Giáng sinh là khi những ánh đèn lung linh lấp lánh được thắp lên, tiếng chuông nhà thờ reo vang, những bông tuyết rơi trắng xoá, và là khi tất cả các con chiên hướng vọng về Chúa, với niềm biết ơn một năm đã qua và nguyện cầu bình an hạnh phúc cho một năm mới. Con thấy đây là một truyền thống rất đẹp và ý nghĩa, cũng giống với tập tục đi chùa đầu năm trong truyền thống đạo Phật của châu Á mình. Và dù là tôn giáo nào, mục đích cuối cùng đều là hướng con người tới đời sống chân thiện mỹ, sống chân thành, thật thà, ý nghĩa, biết yêu thương muôn người và muôn loài.

 

 

Vậy là đã thấm thoát 7 năm con xa nhà, xa vòng tay của bố mẹ để đi Đức học và làm việc. Nhìn lại 7 năm qua, lòng con dâng trào niềm biết ơn tổ tiên ông bà cha mẹ và quê hương Việt Nam đã nuôi lớn con, và cả quê hương thứ hai mà con may mắn có được đó là nước Đức, nơi đã cho con cơ hội được trưởng thành, học hỏi được rất nhiều điều ý nghĩa và được gặp rất nhiều nhân duyên lành. 

Hôm nay con có buổi sinh hoạt tăng thân dịp cuối năm, do tình hình dịch bệnh nên chúng con sinh hoạt trực tuyến qua Zoom. Con có ghi lại vài hình ảnh của tăng thân để chia sẻ và giới thiệu với bố mẹ gia đình tâm linh đã luôn chở che, bảo bọc, nâng đỡ, soi sáng và yêu thương con trong suốt một năm qua. Chúng con dù không cùng chung máu mủ, tuổi tác khác nhau, mỗi người mỗi hoàn cảnh, mỗi người mỗi vất vả bộn bề riêng của cuộc sống mưu sinh giữa đất khách quê người, nhưng chúng con có cùng chí nguyện tu tập theo các phương pháp của Sư Ông Thích Nhất Hạnh để chuyển hoá những khổ đau và chế tác được hạnh phúc chân thật; cùng nguyện học Hiểu và Thương và hướng đến lối sống lành, thiện, đẹp cho mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng và cho cuộc đời này.

Con may mắn, nhờ phước đức tổ tiên, ông bà, bố mẹ, mà có được cơ hội tu tập, biết đến đạo Phật, được quý thầy, quý sư cô ở Làng Mai dìu dắt, nâng đỡ cho con trong sự thực tập. Và còn được cả tăng thân yểm trợ, yêu thương từ cô Thoa, cô Loan, cô Yến, cô Hiền, chị Mỹ, chị Nhiên Ảnh, chị Tuyền, chị Châu, anh Tâm, anh Việt, chị Mỹ Bình, em Hoàng Yến, em Mỹ Nga, em Nụ, cô Tiên Răng Thiên Kim, chú Trí,… Mỗi người đều đã có mặt và yểm trợ cho con bằng tất cả tấm lòng của mình. Người thì xin nghỉ phép mấy ngày liền giúp con chuyển nhà, người thì cho con cái nồi, cái giường, cái máy giặt, cái bàn, lắp ráp tủ đồ; người thì giúp con và động viên con những lúc khó khăn thăng trầm trong cuộc sống, nhiều không kể xiết những điều may mắn mà con đã nhận được… Nhưng hơn tất cả, là tình yêu thương mà mọi người dành cho con. Con may mắn vì không chỉ có gia đình huyết thống bố mẹ anh em yêu thương con, mà còn có những người cha người mẹ người anh người chị người em trong gia đình tâm linh luôn chở che, yêu thương và nâng đỡ con. Họ là những vị Bồ Tát giữa đời thực bằng xương bằng thịt mà con may mắn được tận mắt chứng kiến chứ không phải những tượng Phật bằng đá trên chùa; là những người không quản ngại khó khăn mưa nắng, luôn dốc tâm dốc lòng phụng sự cho đời, luôn yêu thương mọi người mọi loài chúng sanh, và thực tập hạnh nguyện “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ”, sống vô cùng an lạc thảnh thơi và hạnh phúc. Ai cũng là một tấm gương sáng cho con noi theo tu tập và hoàn thiện mình.

 

 

Con rất biết ơn bố mẹ đã sinh ra con trong cuộc đời này và cũng biết ơn đời vì cho con cơ hội được sống hạnh phúc, no ấm, đủ đầy. Con biết ơn đạo Phật vì cho con cơ hội có một con đường tu tập để nuôi dưỡng những phẩm chất lành thiện và tìm được hạnh phúc đích thực trong chính tự tâm mình. Hạnh phúc chân thật không phải là của cải, danh vọng, địa vị, quyền lực, nhà lầu, xe sang, quần áo đẹp, mà hạnh phúc chân thật chính là THƯƠNG YÊU, đó là khi con biết yêu thương chính mình hơn – biết quay về chăm sóc những nỗi khổ niềm đau của mình và biết gốc rễ khổ đau của mình từ đâu mà ra để chuyển hoá. Hạnh phúc là khi con biết yêu thương gia đình mình, hiểu những nỗi khổ niềm đau của bố mẹ, các anh chị để con thương cả nhà mình nhiều hơn. Và để con biết yêu thương bạn bè đồng nghiệp, biết yêu thương muôn người và muôn loài, chỉ cần biết trao yêu thương mà không mong đền đáp. Hạnh phúc của con là khi được làm mẹ đỡ đầu cho 27 bé mồ côi ở làng trẻ SOS Cà Mau, được giúp đỡ các bé Nhà May Mắn ở Đăk Nông có điều kiện đến trường, được góp sức xây thư viện cho các trẻ em nghèo miền Trung và được may mắn chia sẻ hàng ngàn bữa ăn cho những trẻ em bị thiếu đói ở châu Phi. Con cũng hạnh phúc khi có thể giúp đỡ được cô bé đồng nghiệp vượt qua giai đoạn trầm cảm; biết hiến tặng những nụ cười thật tươi cho những người con gặp trên đường đi làm. Hạnh phúc trở nên thật hơn và ý nghĩa hơn khi con biết nhận diện ra được mình may mắn biết bao khi có trái tim khoẻ mạnh, trong khi mỗi năm có tới hơn 15.000 trẻ em sinh ra ở Việt Nam bị mắc bệnh tim bẩm sinh và 80% trong số đó không sống được đến năm 18 tuổi, nên con đã điền đơn xin hiến toàn bộ nội tạng và mô sau khi qua đời. Hạnh phúc đong đầy hơn khi mỗi ngày con còn được sống, hay đơn giản là được hít thở không khí trong lành, được nhìn thấy trời xanh mây trắng, được thọ nhận biết bao ơn phước thương yêu của đất trời vũ trụ, nhờ công ơn sinh thành của bố mẹ, vì vậy mà con nguyện sống một đời sống ý nghĩa hơn. Nhờ tu tập, con thấy trái tim mình rộng lớn hơn từng chút từng chút một, con thấy mình quá may mắn và hạnh phúc tràn ngập trong mỗi phút giây cuộc đời, và con khao khát được san sẻ yêu thương may mắn đó cho tất cả mọi người!

 

 

Bố mẹ ơi, con đang sống rất hạnh phúc và bình yên. Thương chúc bố mẹ và cả gia đình mình ở Việt Nam luôn mạnh khoẻ, thảnh thơi và trái tim luôn tràn đầy tình yêu thương.

Con yêu Bố Mẹ, mùa Giáng Sinh từ nước Đức thương yêu! 

Con Tâm Quy Nguyện

Mình có đang thật sự sống không?

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

Một số người trong chúng ta cảm thấy rằng đời sống của họ không có ý nghĩa, không đáng sống. Họ đau khổ vì không có hướng đi. Dầu ta giàu có cách mấy, có nhiều quyền uy trong tay, nhưng nếu tâm trí ta bị rối loạn, không có hướng đi rõ ràng thì ta là người đau khổ nhất trên đời. Nếu ta có hướng đi ý nghĩa cho cuộc sống, hướng đi ấy thể hiện được lòng từ bi của ta, thì ta sẽ biết cách giúp cho chính mình và mọi người quanh mình bớt khổ. Ta có cơ duyên tiếp nhận giáo pháp, có kinh nghiệm tu tập và biết rằng mỗi khi có những giây phút khó khăn thì giáo pháp có thể cứu giúp ta và mọi người ra khỏi tình huống khó khăn và tuyệt vọng. Giáo pháp có công năng đưa ta tới bến bờ của an lạc và giải thoát. Chỉ cần trở về tiếp xúc với khả năng tỉnh thức trong ta, có niềm tin nơi bản thân, thì an lạc, hạnh phúc tự nhiên phát sinh và điều đó làm cho ta hạnh phúc thật sự. Ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có thể có được khi ta có thật nhiều tiền, vợ đẹp, danh tiếng, quyền uy và địa vị trong xã hội, thỏa mãn được sự thèm khát về tình dục… Nhiều người trong chúng ta đã chạy theo con đường hưởng thụ dục lạc và họ nhận thấy rằng càng vướng vào sự thèm khát của ngũ dục như tiền tài, danh vọng, quyền hành, sắc dục, thức ăn cao lương mỹ vị và ngủ mê bao nhiêu thì họ càng khổ bấy nhiêu. Ta thường cho rằng năm thứ dục lạc là những yếu tố tất yếu của hạnh phúc, nhưng bây giờ ta đã giác ngộ rằng hạnh phúc chân thực chỉ có thể có được khi mình có khả năng buông bỏ và thiết lập lại được tự do của nội tâm. Do đó đức Thế Tôn đã khuyên chúng ta phải thường xuyên thực tập nhìn sâu để hiểu bản chất chân thực của ngũ dục và học cách chế tác niềm vui và hạnh phúc lành mạnh để tự nuôi dưỡng mình. ”Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.” Đây không phải là sự mơ tưởng hão huyền mà là kết quả ta đạt được từ sự thực tập nhìn sâu vào ý niệm hạnh phúc của ta và tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, an vui và hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.

Niềm vui được phát sinh là nhờ ta biết thực tập buông bỏ – Ly sinh hỷ lạc. Rồi đến Định sinh hỷ lạc, tức là niềm vui và hạnh phúc được phát sinh nhờ khả năng chuyên chú, an trú trong Định. Ta đã được học về sự lợi lạc do Định đưa tới. Ví dụ khi ăn cam, ta ăn cam có hạnh phúc nhiều hay ít, điều đó tùy thuộc vào khả năng Niệm và Định của ta. Trong khi ăn cam, nếu ta an trú vững chãi, thiết lập Niệm, Định hùng hậu thì niềm vui và hạnh phúc sẽ rất lớn. Những điều kiện của hạnh phúc luôn có đó trong ta và quanh ta, nhưng vì tâm ta không an trú, không có Định nên ta không nhận diện được chúng. Có một cô thiền sinh sống ở Paris, cô rất thích pháp môn thiền đi. Nhưng sống trong một môi trường bận rộn, trong đó hầu hết mọi người đều chạy như bị ma đuổi nên cô cũng bị cuốn hút theo. Một hôm cô đi lên cầu thang máy cùng với một bà cụ; thấy bà cụ đi chậm rãi, không có vẻ gì vội vã; trông thấy cụ, tự nhiên cô ngẫm lại mình và nói: ”Mình có đang thật sự sống hay không? Sao mình cứ chạy hoài như vậy nè? Hình như mình đang sống như một người chết.” Bà cụ nhìn cô ta và nói: ”Đúng vậy. Nhưng cô còn trẻ, hai chân còn khỏe mạnh, còn có thể chạy nhảy mà. Còn tôi thì khác. Tôi già rồi. Tôi không thể chạy nhảy như cô được nữa. Nếu tôi chạy như cô thì e sẽ té nhào về phía trước mất.” Còn có đôi chân khỏe mạnh để đi, để chạy là một điều kiện của hạnh phúc. Có nhiều người muốn chạy nhưng họ không thể chạy được. Vậy thì, thay vì than phiền, quý vị nên vui mừng mới phải chứ. Chánh niệm làm phát sinh cái thấy và cái thấy ấy đem lại hạnh phúc. ”Thở vào, tôi biết hai chân còn khỏe, còn có thể chạy nhảy, đi đây đi đó. Thở ra, tôi mỉm cười hạnh phúc.” Niệm và Định là nền tảng làm phát sinh hạnh phúc.

 

 

Người lớn tuổi cũng có sự thuận lợi với tuổi già của họ. Nếu họ ý thức được những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt trong họ và chung quanh họ trong giây phút hiện tại thì họ sẽ rất hạnh phúc, vì họ chứng kiến được đời sống đi qua quá nhanh. Họ rất chín chắn, có khả năng thưởng thức từng giây phút của đời sống còn lại và trân quý những yếu tố tích cực trong họ. Họ không chạy ồ ạt như những người trẻ. Họ ngồi thật yên, im lặng và sống thật sâu sắc trong mỗi phút giây của đời sống còn lại. Lúc còn trẻ, ta giống như một dòng thác đổ ồ ạt từ đỉnh cao xuống tận đáy sâu của mặt đất. Và khi về già, ta trở thành một dòng sông thanh thản, nhẹ nhàng trôi chảy và phản chiếu được bầu trời xanh, mây trắng và lòng sông. Dòng suối trẻ trung đang tuôn trào như thác đổ kia không thể làm được việc phản chiếu. Nếu người lớn tuổi có khả năng nhận diện được những yếu tố tích cực trong đời sống của họ, thì họ cũng sẽ tiếp xúc được với hạnh phúc chân thực. Chúng ta cần chế tác năng lượng chánh niệm để nhận diện những yếu tố của sự sống đang có mặt trong giây phút hiện tại và năng lượng của Định giúp ta sống sâu sắc với những yếu tố ấy. Định tức là khả năng chuyên chú lâu bền với đối tượng thiền quán, nghĩa là tâm ý không bị tán loạn. Định làm phát sinh niềm vui và an lạc và duy trì niềm hạnh phúc ấy lâu dài. Định sinh hỷ lạc là nền tảng của hạnh phúc. Nếu biết xử lý hai mươi bốn giờ đồng hồ trong ngày của ta một cách khéo léo thì ta sẽ thấy rằng một ngày để sống là nhiều lắm. Ta cảm thấy một ngày dài vô tận là nhờ khả năng an trú trong Định. Còn nếu sống trong thất niệm – thân ở chỗ này tâm ở chỗ khác thì ta đánh mất ta, đánh mất sự sống. Một ngày đi qua trong quên lãng tức là một ngày uổng phí. Và ta thấy một ngày trôi qua sao mà nhanh chóng và vô vị quá. Những người lớn tuổi thì khác, họ thường sống trong sự định tỉnh nhiều hơn những người trẻ. Với năng lượng của Niệm và Định, người lớn tuổi biết trân quý từng giây phút của sự sống đang ban tặng cho họ. Mỗi giây phút của sự sống hàng ngày có thể trở thành một câu chuyện cho con cháu của họ. Đây là một sự thật. Bụt đã làm được điều đó. Bụt đã không để lại cho chúng ta những mớ giáo lý có tính cách lý thuyết, trừu tượng, siêu hình, mà Người đã để lại cho chúng ta một gia tài kinh nghiệm sống của Người. Mỗi bước chân của Bụt tỏa chiếu sự an lạc, vững chãi và thảnh thơi. Lòng từ bi của Bụt không chỉ bao trùm đến mọi người và mọi loài trong thời đại của Người, mà còn cho cả thời đại của chúng ta nữa.

Tại Á Châu, vào ngày Phật Đản hay ngày mừng tuổi ông bà, người ta thường mua chim, cá v.v… để phóng sinh. Đó là phép thực tập không giết hại của giới thứ nhất trong trong Năm Giới. Đó là nhờ lời dạy về lòng yêu thương của Bụt. Tôi đã đề nghị với các bạn thuộc tín đồ Ki Tô Giáo thực tập phóng sinh thay vì giết gà lôi để ăn mừng trong mùa Lễ Giáng Sinh. Tôi tin rằng đức Ki Tô sẽ rất hài lòng khi thấy các tín đồ của mình yểm trợ trồng thêm cây thông, trồng rừng để bảo vệ môi trường thay vì chặt những cây thông để làm cây Noel mừng Lễ Giáng Sinh. Dù là tín đồ của đức Ki Tô hay Phật tử, chúng ta nên quán chiếu để có cái thấy thật sâu sắc về giá trị của sự sống và nói lên tiếng nói yêu thương của mình để bảo vệ sự sống thay vì góp tay tàn phá sự sống. Tàn phá sự sống quanh mình tức là tự hủy diệt chính mình, là làm tổn hại đến lòng từ bi trong tự thân và cướp đi môi trường sống của kẻ khác, của các thế hệ tương lai. Người không biểu lộ được lòng từ bi là người không có hạnh phúc. Vào ngày lễ Phật Đản, ở các nước như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện và những nước Phật Giáo Á châu khác, dân chúng dâng cúng thật nhiều các thức ăn chay ở các chùa chiền, tự viện để bày tỏ niềm biết ơn đối với Tam Bảo và để bày tỏ lòng thương yêu của mình đối với mọi loài chúng sinh. Người nào tới chùa ngày hôm đó đều được thừa hưởng, không có một ai bị bỏ đói. Là đệ tử Bụt, tôi mong rằng chúng ta có thể tưởng niệm ngày Bụt Đản Sinh mỗi ngày để trên thế giới này sẽ không còn ai bị đói khổ nữa. Truyền thống này xuất phát từ lòng từ bi của Bụt. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở và mỗi lời nói của Bụt đều chuyên chở năng lượng chánh niệm, hiểu biết và thương yêu. Các đệ tử của Người đã thừa kế được nguồn năng lượng thương yêu, hiểu biết và giác ngộ của Người. Nếu thực tập giỏi thì họ có thể trao truyền nguồn năng lượng từ bi, trị liệu và hạnh phúc về cho thế hệ tương lai.

Chúng ta phải tập sống cho thật sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Khi uống nước hay lúc ẵm em bé trong vòng tay hoặc ngồi bên cạnh người thương, nếu ta thiết lập chánh niệm vững vàng, có Định thì sự sống trở thành rất thật đối với ta và niềm vui, hạnh phúc tự dâng được phát sinh. Vì vậy Bụt mới nói rằng niềm vui và hạnh phúc được phát sinh do định lực, tức là khả năng chuyên chú hoàn toàn vào một đối tượng của ta – Định sinh hỷ lạc.

 

 

Có khi ta cần bạn để giúp ta nhận diện được những yếu tố của hạnh phúc mà ta đang có. Đó là lý do tại sao ta cần có Tăng thân. Ta biết rằng Tăng thân có thể dìu dắt và nâng đỡ ta rất nhiều trên con đường thực tập. Với sự thành tâm, ta nên thường xuyên thỉnh cầu Tăng thân soi sáng cho sự thực tập của ta. Và đây là văn thỉnh cầu: ”Kính thưa đại chúng, xin đại chúng từ bi soi sáng, dẫn dắt và nâng đỡ cho con. Con thành tâm thỉnh cầu đại chúng soi sáng cho con để con thấy được những yếu kém của con mà tu tập chuyển hóa.” Với sự thỉnh cầu tha thiết của ta, đại chúng sẽ ngồi lại và cùng nhìn sâu vào ta, chỉ cho ta thấy những yếu tố tích cực và sự yếu kém của ta để giúp ta tu tập chuyển hóa. Pháp môn Soi Sáng rất mầu nhiệm. Pháp môn này không những chỉ đem lại lợi lạc cho đương sự đang thỉnh cầu sự soi sáng mà cho cả những người đang thực tập soi sáng cho đương sự. Đại chúng thực tập nhìn sâu vào người đang được soi sáng với tình thương và lòng lân mẫn và soi sáng cho người ấy, chỉ cho người ấy biết những điểm tích cực và những yếu kém để tu tập chuyển hóa, nhờ vậy mà người ấy tiến bộ rất nhiều sau khi được soi sáng.

Ta hạnh phúc khi được đại chúng công nhận và chỉ cho ta thấy những điểm tích cực của ta. Ta nghĩ: “Mình đang trang bị cho chính mình với những yếu tố tích cực làm niềm vui cho sự tu tập và nuôi dưỡng những ai đến trong cuộc đời của mình bằng những niềm vui ấy. Mình không chỉ thực tập cho riêng mình mà mình thực tập cho cả gia đình và xã hội.” Ta nên biết rằng mỗi khi tu tập, chuyển hóa và trị liệu được tự thân, thì ta sẽ trở thành nguồn suối an lạc và hạnh phúc cho rất nhiều người. Tiếp xúc và vun trồng năng lượng chánh niệm trong ta là quá trình thực tập hàng ngày chứ không phải là vấn đề trừu tượng hay khái niệm mơ hồ. Chánh niệm là nguồn ánh sáng có công năng soi đường chỉ lối và nuôi dưỡng ta. Pháp là những lời Bụt đã nói và được ghi chép lại thành kinh; những lời dạy của Bụt không phải là một hệ thống giáo lý mang tính trừu tượng, hay triết lý mơ hồ. Pháp là một thực chất sống động. Nương vào những lời dạy của Bụt, chúng ta thực tập và chế tác ra chất liệu gọi là Pháp sống qua cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, làm việc, nói năng và lắng nghe trong chánh niệm. Đó là loại Pháp có thực chất và có công năng nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu thân tâm. Lắng nghe trong chánh niệm, lắng nghe với tâm từ bi sẽ đưa tới sự hiểu biết chân thực và thiết lập lại được sự truyền thông. Nếu các anh và các chị của ta biết lắng nghe ta với tâm từ bi, với tâm không thành kiến, không phán xét, không phản ứng, thì ta sẽ bớt khổ rất nhiều. Nếu mọi thành phần trong Tăng thân có khả năng đi, đứng, nằm, ngồi vững chãi, thảnh thơi và bình an, chuyển hóa được những khổ đau trong lòng, thì điều đó có nghĩa là Tăng thân đang vun trồng và tỏa chiếu chất liệu Pháp của tự thân. Pháp ấy đang có mặt trong mỗi giây mỗi phút của đời sống hàng ngày trong và quanh ta; trong từng hơi thở, bước chân, làm việc, nấu bếp, rửa chén… Pháp sống là những gì mà thế giới, gia đình và xã hội của ta đang cần. Chế tác chất liệu Pháp sống như thế là giúp ta và xã hội ta trở nên vững chãi, thảnh thơi và an bình hơn. Không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, vì niềm tin ấy được thiết lập từ kinh nghiệm trực tiếp của bản thân chứ không phải từ những mớ giáo điều hoặc giáo lý trừu tượng, siêu hình. Ví dụ như ta đã học và nắm vững được phương pháp làm đậu hũ, thì khi được giao phó công việc làm đậu hũ, ta sẽ không ngần ngại vì biết rằng ta có thể làm được. Không ai có thể lấy đi niềm tự tin ấy của ta. Niềm tin của ta đối với chánh Pháp cũng vậy. Ta đã chế tác được chất liệu Pháp sống trong ta. Ta biết rằng nhờ thực tập những lời dạy của Bụt mà ta đã vượt thắng được những khó khăn và phục hồi lại được sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc nơi tự thân. Do đó không ai có thể lay chuyển được niềm tin của ta nơi chánh Pháp, bởi vì niềm tin ấy được phát xuất từ kinh nghiệm của chính bản thân. Ta phải luôn luôn tiếp tục vun trồng chất liệu Pháp sống trong đời sống tu tập hàng ngày để tạo dựng và nuôi dưỡng hạnh phúc cho tự thân và cho Tăng thân.

Tăng thân của ta không cần phải là một Tăng thân toàn hảo ta mới hạnh phúc. Tăng thân của Bụt ngày xưa không phải là đoàn thể toàn hảo, nhưng Người rất hạnh phúc. Hẳn nhiên, trong quá trình dựng Tăng, nuôi dạy đệ tử, Người phải đối diện với nhiều khó khăn, nhưng Người đã dùng tình thương và sự khéo léo của mình để giải quyết những khó khăn ấy một cách êm đẹp. Tôi cũng gặp những trường hợp khó khăn với các đệ tử của tôi, nhưng tôi rất hạnh phúc vì biết rằng các đệ tử của tôi, người nào cũng đang cố gắng hết khả năng của mình để tu tập chuyển hóa. Mọi người trong Tăng thân luôn luôn cố gắng thực tập thở, đi và làm việc trong chánh niệm. Tăng thân truyền cho nhau, yểm trợ nhau bằng năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm tức là chất thánh trong ta. Sở dĩ trong Tăng thân có được năng lượng thánh là nhờ mọi người cố gắng thực tập hết khả năng của mình. Vì vậy dựng Tăng là phép thực tập rất quan trọng của tất cả chúng ta. Chúng ta cần năng lượng tu tập của Tăng thân để nâng đỡ, dìu dắt và soi sáng cho nhau trên con đường thực tập. Và để cho sự thực tập của ta được duy trì lâu bền, ta phải tạo dựng một Tăng thân tại địa phương; nếu không, thì ta sẽ đánh mất sự thực tập rất mau chóng.

 

 

Có nhiều yếu tố có thể giúp ta tạo dựng một Tăng thân, ví dụ ta có thể chọn một quãng đường mòn dễ thương ở gần nhà để thực tập đi trong chánh niệm mỗi ngày hoặc chọn cái gối ngồi thích hợp và đặt tại một nơi thích ý nào đó trong nhà của mình để thực tập ngồi thiền mỗi ngày. Ta cũng có thể mời người thân của ta tu tập với ta như một Tăng thân nhỏ. Ta có thể mời các cháu, nắm tay các cháu để đi thiền ít nhất là một lần mỗi ngày. Ta nhìn quanh và nhận diện những yếu tố Tăng thân đang có mặt. Khu vườn sau nhà cũng có thể là Tăng thân của ta, bình trà cũng có thể là Tăng thân của ta… Tăng thân đang có mặt khắp mọi nơi – trong từng hạt sỏi, đám mây, cây tùng, cây bách… Khi trở về lại địa phương, quý vị nên cố gắng tạo dựng một Tăng thân để tiếp tục nuôi dưỡng sự thực tập. Các nhà tâm lý trị liệu, giáo viên, sinh viên và bác sĩ đều phải có một Tăng thân cho chính mình. ”Con về nương tựa Tăng” không phải là vấn đề tín ngưỡng hay một ý niệm trừu tượng, mà là sự thực tập đích thực. Tăng thân là sự bảo hộ và nâng đỡ cho sự thực tập và thành công của chúng ta.

Lễ Tự Tứ kết thúc An cư kiết đông 2021

Sáng ngày 07/12/2021, lễ Tự tứ kiết thúc khóa An cư kết đông 2021 của Đạo tràng Mai Thôn đã diễn ra tại thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng. 

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ:

Câu chuyện dòng sông và đám mây

Trích trong sách “Không diệt, không sinh đừng sợ hãi” của Sư Ông Làng Mai

Có một con suối nhỏ từ núi chảy xuống. Nó rất nhỏ tuổi, và nó muốn ra tới biển thật nhanh. Nó không biết sống với hiện tại một cách bình an. Nó rất vội vã vì nó còn rất trẻ. Nó không biết thực tập “đã về đã tới” nên từ núi đổ xuống, nó hối hả vượt qua cánh đồng và trở thành một dòng sông.

Là sông thì nó chảy chậm hơn. Điều này làm cho nó bứt rứt vì nó sợ không bao giờ gặp được biển. Vì là sông nên nó chảy chậm hơn, và mặt nước tĩnh lặng hơn. Dòng sông bắt đầu soi bóng mấy đám mây trên bầu trời – mây hồng, mây bạc, mây trắng… Nhiều hình dạng thật đẹp đẽ. Suốt ngày sông trôi chảy theo mây. Nó trở nên vướng mắc với những đám mây xinh đẹp. Và dòng sông đau khổ vì mây thì vô thường. Mây di động luôn luôn theo các cơn gió, chúng bỏ dòng sông, đi tới những chốn xa xôi. Sông đau khổ vô cùng. Nó cố gắng hoài hủy để đuổi theo mây. Thật là đáng buồn vì mây không ở yên một chỗ với sông bao giờ.

 

 

Một hôm trời giông bão, mây bị cuốn đi hết. Bầu trời trống, trong vắt và xanh tuyệt. Dòng sông thất vọng não nề! Không có một gợn mây trên trời. Tấm lòng tan nát vì bầu trời trống trải. “Không có mây thì sống làm sao? Không có người thương nữa thì sống làm gì?” Dòng sông muốn tự tử, nhưng nó không biết làm sao để chết. Cả đêm sông than khóc.

Đêm hôm đó, dòng sông có cơ hội để nghe được tiếng khóc của mình. Đó là tiếng sóng vỗ vào hai bên bờ sông. Khi nó nghe được tiếng sóng vỗ của chính nó, dòng sông tỉnh ngộ. Nó hiểu ra là bản chất của sông cũng là bản chất của mây. Nó chính là mây. Mây đang nằm trong sông vì cả hai cùng có bản chất là nước. Mây làm bằng nước. Vậy thì tại sao mình phải chạy theo mây? Sông tự nhủ, “ta chỉ chạy theo mây nếu như ta không phải là mây mà thôi!”

Đêm đó, trong tận cùng tuyệt vọng và cô đơn, dòng sông thức tỉnh và nhận ra nó cũng là mây.  Buổi sớm hôm sau, bầu trời trong vắt trước đây làm cho sông cảm thấy cô đơn, lại hiện ra thật mới lạ, kỳ diệu và trong sáng. Màu xanh của bầu trời biểu hiện sự hồn nhiên và tự do mà dòng sông mới nếm được. Sông biết bầu trời là nơi trú ẩn của tất cả các đám mây, mây không thể ra khỏi bầu trời được. Dòng sông hiểu rằng bản chất của mây là không sinh – không diệt, không đến – không đi, vậy thì tại sao sông lại khóc? Sao ta lại khóc như bị chia lìa với mây vậy?

Dòng sông còn có một giác ngộ khác buổi sáng hôm đó. Nó nhìn thấy bản chất không sinh-diệt của bầu trời. Điều này làm cho sông trở nên rất an nhiên tự tại. Nó bắt đầu tiếp nhận và phản chiếu bầu trời. Trước kia nó không phản chiếu bầu trời, nó chỉ biết tới những đám mây. Nay thì sông có bầu trời luôn luôn hiện diện ngày đêm. Trước đây dòng sông không tiếp xúc được với bản chất của thực tại, nó chỉ tiếp xúc được với những gì thay đổi, sinh diệt. Nay tiếp xúc với cả bầu trời, dòng sông trở nên bình an và thanh thản vô cùng, như chưa bao giờ được vậy.

Chiều hôm đó khi những đám mây trở lại, sông không còn vướng bận vào đám nào nữa hết. Không còn đám mây nào sông cảm thấy là đặc biệt, là của riêng nó nữa. Nó mỉm cười với tất cả các đám mây, chào mừng và yêu mến tất cả.

 

 

Bây giờ dòng sông cảm nhận được hạnh phúc của sự buông xả. Nó không còn tùy thuộc hay yêu mến đặc biệt một đám mây nào. Sông yêu thương tất cả. Nó thưởng thức và phản chiếu bất cứ đám mây nào đi qua bầu trời. Khi mây bay xa, nó nói: “Tạm biệt mây nhé, gặp lại nay mai.” Và dòng sông thấy nhẹ lòng. Nó biết đám mây sẽ trở lại sau khi mây biến thành mưa  hay tuyết.

Dòng sông được tự do. Hầu như nó cũng không còn thấy cần chảy ra ngoài biển nữa. Đêm đó trăng tròn và chiếu sáng cả lòng sông. Mặt trăng, dòng sông và nước đều thiền quán bên nhau. Dòng sông thưởng thức sự tự do nhiệm màu của giây phút hiện tại. Nó được giải thoát khỏi mọi đau buồn.

Khi chúng ta chạy đuổi theo một thứ gì, muốn nắm bắt nó, ta sẽ đau khổ. Khi không có gì để đuổi theo, ta cũng khổ đau. Nếu bạn đã là dòng sông, nếu bạn đã từng chạy theo mây, đau khổ, than khóc vì cảm thấy cô đơn, xin hãy nắm lấy tay chính mình như nắm tay một người bạn. Hãy quán chiếu thật sâu, bạn sẽ thấy rằng thứ mà bạn tìm kiếm kia vẫn thường hiện diện ngay đây, đó chính là bạn!

Bạn là thứ mà bạn muốn trở thành. Vậy thì tìm kiếm làm gì nữa? Bạn là một sự biểu hiện tuyệt diệu. Tất cả vũ trụ đều góp phần vào việc làm cho bạn hiển hiện. Không có gì không ở trong bạn cả. Vương quốc của Thượng đế, Niết bàn, Tịnh độ, Hạnh phúc và Tự do, tất cả đều trong bạn.

 

Khai giảng khóa học “Trái tim của Thiền tập Làng Mai” – thầy Pháp Niệm chia sẻ về nội dung “14 bài kệ chỉ quán”

Khi nói đến thiền tập đạo Bụt, chúng ta luôn nói đến hai khía cạnh của sự thực tập đó là thiền chỉ và thiền quán. Chỉ tiếng Phạn là Samatha (Stopping), nghĩa là dừng lại, ngưng lại, là lắng trong, là làm cho yên tĩnh lại để có thể chuyên chú vào một đối tượng – tâm nhất cảnh, không để cho tâm ý trôi lăn, đi hoang. Quán tiếng Phạn là vipaśyanā ; Pali: vipassanā (Insight meditation; Deep looking), nghĩa là nhìn sâu, là thấy rõ, là thấu hiểu được bản chất chân thực của đối tượng quán chiếu. Chỉ và Quán là hai danh từ rất quan trọng trong truyền thống thiền tập đạo Bụt và rất đặc thù đạo Bụt. Cốt lõi của chỉ và quán là niệm, định và tuệ; đó là ba nguồn năng lượng thánh gọi là tam vô lậu học, tức là ba nguồn năng lực mầu nhiệm nếu được phát huy một cách đúng đắn và vững chãi thì sẽ đưa tới sự trị liệu, chuyển hóa và tự do rất lớn. Ba nguồn năng lượng thánh này có mặt trong nền tảng giáo lý cốt lõi của đạo Bụt như trong Bát Chánh Đạo, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần… Chỉ và quán Bụt dạy rất kỹ, rất cụ thể trong các kinh nguyên thỉ như kinh Tứ Niệm Xứ, Quán Niệm Hơi Thở. Dù chúng ta tu tập ở truyền thống đạo Bụt nào thì phép tu chỉ quán vẫn luôn là trái tim, là cốt lõi của sự thực tập.

Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán được Sư Ông Làng Mai phóng tác, có lẽ vào khoảng năm 2002-2003 và đã được Sư Ông lược giảng vào năm 2003, song rất tiếc là chưa tìm lại được băng đĩa thâu lại những bài giảng ấy. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán, chúng ta thấy được chủ ý của tác giả rất rõ là muốn đem nguồn tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt Đại Thừa, của thiền Đại thừa vào tắm trở lại trong dòng sông đạo Bụt Nguyên thỉ, qua đó chúng ta có một nên tảng pháp hành vững chắc và thực tiễn, có hệ thống, và chúng ta có cơ hội tiếp xúc tất cả những tinh tuý và sự sinh động của cả hai dòng chảy của sự truyền thừa mà không cảm thấy có sự tách biệt nào. Khi nói tới thiền Đại thừa thì chúng ta cũng bao gồm cả thiền Đông độ, một dòng thiền được sinh sôi nãy nở từ Trung Quốc, vốn được lưu xuất từ dòng thiền Nguyên thỉ, nhưng biến dạng cho phù hợp với văn hóa và tâm tư của người Trung Hoa hay nói chung là người Á đông.

Nhưng trên tất cả, phép tu Chỉ và Quán vẫn là nền tảng, là cốt lõi và chánh niệm chính là trái tim của thiền tập đạo Bụt. Trong nền tảng giáo lý căn bản của Bụt như giáo lý Tứ Diệu Đế trong đó có Bát Chánh Đạo và trong các phẩm trợ đạo như ngũ căn, ngũ lực, thất bồ đề phần… đều có nói đến chánh niệm. Từ đó chúng ta có thể khẳng định rằng chánh niệm là trái tim của thiền tập mà hễ có chánh niệm là có chánh định và tất yếu là có chánh kiến, tức là tuệ. Qua Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán và pháp môn tu học của Làng Mai, chúng ta thấy chánh niệm chính là nền tảng, là trái tim của sự thực tập Làng Mai. Trong suốt 49 năm hành đạo của Bụt, ngài chỉ đề cập tới khổ và còn đường chuyển hóa khổ đau, đem lại an lạc, giải thoát và hạnh phúc ngay trong kiếp này và cùng nhau tạo dựng một thế giới an lành và hài hòa ngày bây giờ và ở đây. Vì vậy con đường Bụt là con đường hiểu biết và thương yêu được thể hiện quá giáo lý Tứ Diệu Đế và Bát Chánh Đạo và nền tảng pháp hành của giáo lý đạo Bụt là kinh Tứ Niệm Xứ và kinh Quán Niệm Hơi Thở hay còn gọi là kinh An Ban Thủ Ý.

Khóa học này sẽ kéo dài trong thời hạn khoảng 1 năm hoặc có thể hơn vì mỗi tháng chỉ học một ngày vào ngày Chủ Nhật; vừa học vừa tham cứu, trải nghiệm. Mười Bốn Bài Kệ Chỉ Quán nhìn thì đơn giản nhưng chứa đựng một nội hàm giáo lý và phương pháp tu tập trong truyền thống thiền rất phong phú và thực tiễn. Vì vậy dù biết rằng năng lực còn giới hạn nhưng vì các sư cô sư chú trẻ và các thiền sinh có duyên với Làng Mai chưa được học trực tiếp Mười Bốn Bài Kệ từ Thầy (Sư Ông Làng Mai) nên chúng tôi vẫn mạo muội chia sẻ lại cho các vị ấy được tiếp cận để học hỏi và thực tập.

Kính bạch Thầy, trong quá trình trình bày, chắc chắn chúng con sẽ con rất nhiều thiếu sót, chúng con ngưỡng cầu Thầy yểm trợ và soi sáng cho chúng con có đủ năng lực và sự sáng suốt để truyền trao lại cho các thế hệ của các sư em của chúng con.

Đệ tử kính lễ,

Thích Chân Pháp Niệm

…………………………….

Các buổi giảng sẽ được phát trực tuyến qua Zoom và trên Youtube Làng Mai vào 9:00 sáng (giờ Thái Lan). Và sẽ được cập nhật lịch học hàng tháng trên langmai.org.

Để tham gia khóa học này, đại chúng có thể lưu lại liên kết Zoom dưới đây:

 

Mã: 930 1619 1472
Mật khẩu: 123456
 

Và lưu lại chuỗi liên kết Youtube của các buổi học trên Youtube Làng Mai:

Lớp học là một gia đình

Tất cả chúng ta ai cũng có những nhu yếu sâu sắc của mình. Mà nhu yếu sâu sắc nhất là thương yêu và được thương yêu. Chúng ta phải tìm cách chạm vào những hạt giống thương yêu của học sinh. Thương yêu là một nghệ thuật. Nếu nhà giáo dục biết cách thương yêu thì người đó sẽ có khả năng dạy cho học sinh của mình biết cách thương và cách tiếp nhận tình thương.

Nhu yếu sâu sắc thứ hai là nhu yếu hiểu. Khi ta tò mò muốn tìm hiểu thì ta sẽ thích học hỏi. Vì vậy, nếu ta có thể khơi dậy hạt giống tò mò muốn tìm hiểu trong học sinh, thì các em sẽ ham học. Khi đó ta không cần ép các em mà việc dạy và học sẽ trở thành một niềm vui.

Tôi luôn luôn cảm thấy vui sướng mỗi khi bước vào lớp học. Nhìn các em tôi thấy hạnh phúc và các em cũng hạnh phúc vì cả thầy lẫn trò đều có cùng một ước muốn. Chúng ta phải làm cho đối tượng của việc dạy và học trở thành vui tươi, có thể đánh thức hạt giống thương yêu và tâm muốn tìm hiểu nơi học sinh cũng như nơi thầy cô giáo.

 

 

Chuyện này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được không những cho học sinh mà còn cho cả chúng ta – những giáo viên, bởi vì ai cũng đều có nhu yếu muốn hiểu và được hiểu, muốn thương và được thương. Chúng ta không chỉ cần được học sinh hiểu, mà cũng cần đồng nghiệp và ban lãnh đạo nhà trường và lãnh đạo ngành giáo dục hiểu. Nếu không được hiểu thì chúng ta không thể nào có hạnh phúc và không thể hoàn thành trách nhiệm của mình. Những vị làm việc trong ngành giáo dục cần phải học cách lắng nghe nhau và thực tập ái ngữ để nói cho người khác hiểu được những khó khăn và khổ đau của mình. Trường học có thể được vận hành như một tăng thân, một cộng đồng thực tập của những nhà giáo dục. Chúng ta có thể đến để chia sẻ với nhau những băn khoăn và cái thấy của mình, đồng thời giúp người khác ý thức về khó khăn mà mình đang gặp phải.

Nhiều người trong chúng ta có đủ năng lực để tổ chức những buổi lắng nghe sâu sắc trong lĩnh vực giáo dục. Ta cần bầu ra một số thành viên trong cộng đồng giáo dục để nêu lên những mối quan tâm lo lắng của chúng ta. Ta phải mời được những nhà chức trách trong lĩnh vực giáo dục, bao gồm những nhà làm luật và quan chức chính phủ, đến nghe ta nói. Đây là sự thực tập giới thứ tư, ái ngữ và lắng nghe như một tập thể. Trên khắp đất nước có nhiều bậc nhân sĩ có khả năng lắng nghe, họ là những học giả, nhà báo, thi sĩ, chính trị gia…, ta có thể mời những người đó đến tham gia thực tập lắng nghe chúng ta. Buổi thực tập chia sẻ và lắng nghe đó có thể được phát sóng trên vô tuyến truyền hình cho cả nước theo dõi.

Lớp học là một gia đình

Thiền tập không còn là sự thực tập của một cá nhân. Chúng ta cần thực tập chung với nhau như một tăng thân hay một đoàn thể. Năm phép thực tập chánh niệm (hay còn gọi là “Năm Giới” trong đạo Bụt) cần được thực tập chung trong tinh thần của một quốc gia. Trong lớp học, giáo viên cần có thời gian lắng nghe những khổ đau và khó khăn của học sinh. Khi được lắng nghe, các em sẽ thấy nhẹ lòng hơn và nhờ đó mới có tinh thần để học tập và tiếp thu những gì ta muốn trao truyền. Các em cũng cần có cơ hội tìm hiểu những nỗi khổ tâm và khó khăn của thầy cô giáo. Giáo viên nên chia sẻ những khó khăn cũng như những ước nguyện sâu sắc của mình với học sinh. Một giáo viên hay một học sinh lớp lớn có thể đóng vai trò người điều phối để tổ chức một buổi chia sẻ và lắng nghe sâu. Bằng cách này chúng ta có thể biến lớp học thành một tăng thân, một cộng đồng, một gia đình.

Giáo viên và học sinh có thể tổ chức những buổi sinh hoạt trong đó thầy trò chơi với nhau, cùng thưởng thức âm nhạc, đi bộ, hoặc ăn chung như trong một gia đình. Chúng ta có khả năng tổ chức để biến lớp học thành một gia đình. Trong không khí gia đình đó ta mới có thể tạo điều kiện để mọi người hiểu và cảm thông sâu sắc cho nhau. Niềm đau nỗi khổ trong mỗi người nhờ đó mà được vơi nhẹ đi. Điều này sẽ làm cho việc dạy và học trở nên vui vẻ hơn. Dù lương tháng chẳng là bao nhưng sự nghiệp trao truyền tuệ giác và tình thương của một nhà giáo mang lại cho chúng ta rất nhiều hạnh phúc, rất nhiều niềm vui.

 

 

Chúng ta cần phải làm gì để giáo viên và học sinh cảm thấy hạnh phúc trong lớp học? Đây là công án, là đề tài thiền quán cho mỗi người – làm sao để các em cảm thấy hạnh phúc mỗi khi nghĩ đến trường lớp? Làm sao để giáo viên cảm thấy hứng khởi khi nghĩ đến lớp học của mình? Giáo viên có thể vận dụng tài năng và sức sáng tạo của mình, kết hợp với tài năng và sức sáng tạo của học sinh để làm cho lớp học trở thành một môi trường tuyệt diệu cho cả thầy lẫn trò. Điều này chúng ta hoàn toàn có thể thực hiện được.

Nhóm tương thân tương ái

Trong lớp học, nếu các em có nỗi khổ nào đó thì giáo viên có thể giúp các em thành lập các nhóm tương thân tương ái để tìm hiểu và giúp chuyển hóa khổ đau đó. Giáo viên cùng các em học sinh có thể chọn 2 – 5 học sinh vào nhóm. Mục đích của nhóm là thực tập bình an để làm cho tất cả các học sinh và các thầy cô giáo hạnh phúc. Sau khi nhóm khởi đầu đã có một vài kinh nghiệm thực tập lắng nghe sâu, những em khác có thể thay phiên nhau tham gia vào nhóm để học hỏi phương pháp thực tập này. Rất nhiều khổ đau của các em là do hiểu lầm mà ra. Vì vậy, thường thường các em cảm thấy người khác không nghe mình, không hiểu mình. Qua sự thực tập lắng nghe sâu và nhìn sâu, con đường thoát khổ sẽ tự hiển bày. Sự thực tập lắng nghe và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau có thể làm cho lớp học trở nên hạnh phúc và hòa hợp.

Để chuyển hóa những khó khăn trong lớp học, nhóm tương thân tương ái có thể tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu với tâm thương yêu. “Thưa thầy/cô, chúng em muốn tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu để mọi người có thể nói ra tất cả những khổ đau, khó khăn của mình. Nhiều bạn có khổ đau trong gia đình, nhiều bạn gặp khó khăn trong lớp học, chúng em rất mong được thầy/cô hiểu những khổ đau, khó khăn của chúng em”. Đây là một yêu cầu rất chính đáng. Khi bạn lắng nghe những tâm tư tình cảm của học sinh là bạn đã thực tập lời Bụt dạy: nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ban giám hiệu nên cho phép giáo viên tổ chức những buổi lắng nghe như thế để giáo viên ngồi lắng nghe thật hết lòng những khổ đau, khó khăn của học sinh mình.

Nhóm tương thân tương ái có thể tìm cách giúp cho nỗi khổ của bạn mình vơi nhẹ. Nhóm có thể đề cử một hay hai thành viên đến gặp thầy/cô giáo có liên quan để nói cho thầy/cô giáo ấy biết về khó khăn của bạn mình. “Thưa thầy/ cô, chúng em không biết tại sao ngày nào bạn ấy cũng khóc, bạn ấy cho chúng em biết là thầy/cô làm bạn ấy khổ. Bạn ấy thật sự là rất khổ, bạn ấy không hề có ý trách móc thầy/cô, bạn ấy chỉ không muốn khổ như vậy nữa mà thôi. Xin thầy/ cô chỉ dạy cho chúng em cách giúp bạn ấy bớt khổ”. Khi nhóm tương thân tương ái đến thưa với thầy/cô giáo như vậy, tôi tin là thế nào giáo viên ấy cũng sẽ tìm cách thay đổi tình trạng.

Dĩ nhiên nếu em học sinh có đủ can đảm thì em có thể đến nói chuyện trực tiếp với thầy/cô giáo. “Thưa thầy/cô, em không biết tại sao thầy/cô lại tập trung vào em mỗi ngày làm em rất khổ sở. Em không biết mình đã làm gì sai. Nếu em có điều gì làm cho thầy/cô không vui, xin thầy/cô cho em biết, em sẽ cố gắng hết sức để thay đổi”. Học sinh có thể chia sẻ bằng những lời dễ thương như vậy. Trong trường hợp, học sinh không đủ tự tin để chia sẻ trực tiếp với thầy/cô giáo thì nhờ nhóm tương thân tương ái giúp. Đó là một cách xử lí rất hòa ái.

 

 

Giáo viên cũng nên nói cho học sinh biết là mình cũng có những nỗi khổ riêng trong gia đình và nếu có thêm những nỗi khổ trong lớp học thì có thể hơi quá sức cho mình. Nếu trong lớp có một Nhóm tương thân tương ái thì các em học sinh nên tìm cách động viên thầy cô giáo của mình nói ra được những khó khăn trong lòng. Khi các em đã hiểu những khó khăn của thầy cô giáo thì các em sẽ hành xử dễ thương hơn, sẽ hợp tác và biết cách yểm trợ cho thầy cô giáo.

Nếu giáo viên và học sinh không bắt được nhịp cầu cảm thông sâu sắc cho nhau thì cả thầy lẫn trò không thể nào có hạnh phúc. Thầy cô chẳng có hứng thú giảng dạy mà trò cũng chẳng có hứng thú để học.

Bão Xuống Cho Đời Rực Rỡ Sen – Tiểu sử Thầy Giác Thanh

 

 

Tác giả Dã Hạc chính là Thượng tọa Tâm Tông, hiệu Chân Giác Thanh, tự Trạm Nhiên, thế danh Lê Văn Hiếu.

Thầy Giác Thanh sinh ngày 9 tháng 6 năm 1947 (Đinh Hợi) tại một thôn xóm hẻo lánh của làng Sóc Sơn, quận Tri Tôn, tỉnh Rạch Giá. Con của cụ ông Lê Văn Đạt và cụ bà Nguyễn Thị Nhớ, Thượng tọa là con thứ ba của gia đình sáu anh em gồm bốn trai và hai gái.

Như bao nhiêu đứa trẻ của đồng quê Việt Nam lớn lên trong hoàn cảnh đất nước điêu linh vì chiến tranh và nghèo khó, Thầy Giác Thanh có một tuổi thơ sớm biết theo anh chị ra đồng hái rau, bắt cá, phơi mặt mày thanh tú cho nắng nhiệt đới ươm da. Tuy nhiên hạt giống tu tập đã có mặt từ kiếp xưa nên mới bảy, tám tuổi đã bắt đầu biết chảy nước mắt cảm thương thân phận bé nhỏ của kiếp nhân sinh trước cảnh sương khói bao la của đất trời. Thời gian sống tại vùng quê xa vắng này chấm dứt khi ông bà cụ rời nhà ra tỉnh Rạch Giá. Cũng từ ấy Thầy bắt đầu viết những chữ a, b xiêu vẹo đầu tiên trong cuộc đời sách bút học trò. Đầy là thời điểm nửa vùng quê hương phương Nam tạm yên tiếng súng qua hiệp định Geneve.

Rồi ngày tháng đi qua, chú bé mặt rám nắng hồng của thôn Trà Lóc quê mùa năm xưa, giờ đã thành cậu học sinh ưu tú, thông minh và đầy can trường khi thừa tiếp hào khí yêu quê hương của anh hùng Nguyễn Trung Trực. Thầy Giác Thanh đã lớn lên trong ngôi trường ấy. Thầy đã thể hiện tâm tư của mình qua bài thơ đầu đời Thầy viết cho quê hương vào năm học đệ nhất, 1967. Bài thơ có tên: “Khóc Quê Hương”.

Quê hương ơi có những đêm dài lặng lẽ

Ta nằm đổ lệ khóc thương mi.

Quê hương ơi ngươi có tội tình chi

Để lũ quỷ đem mi ra dày xéo,

Chẳng xót, chẳng thương,

Chẳng nghĩ đến tình người?

Chúng bán mi cho loài quỷ vương.

Ta thương mi ta mua lại bằng xương máu,

Bằng khối óc, bằng con tim

Và bằng cả xác thân này.

Xác thân dù hóa thành tro bụi,

Nguyện trải đường đi đến thái hòa.

Người xưa dạy: “Nam nhi tự hữu xung thiên chí”, làm trai có chí xông trời thẳm. Nếu ta không muốn làm hạt cát bị hất tung vào cơn gió xoáy để đi tàn phá quê hương, thì ta hãy nằm yên đây. Hoặc đẹp hơn nữa hãy làm kẻ độc hành lội ngược dòng sinh tử. Thầy đã chuyển hướng cuộc đời, đặt lý tưởng và tình yêu lớn của mình vào con đường khám phá nội tâm. Thầy đi xuất gia vào giữa năm 1967 tại chùa Thanh Hoa, làng Tấn Mỹ, quận Chợ Mới, tỉnh Long Xuyên. Pháp hiệu Giác Thanh được bổn sư là Hòa thượng Phổ Huệ đặt cho từ lúc ấy.

Thầy đã ở chùa Giác Nguyên (quận IV Sài gòn) vào năm 1968, rồi dời về chùa Xá Lợi năm 1969 và thọ đại giới tại Tổ đình Giác Viên vào sau mùa Vu Lan 1970. Thầy đã vào đại học Vạn Hạnh năm 1971 và đã mòn gót chân ruổi rong khi nghe nơi nào có bậc danh tăng thuyết pháp dạy kinh. Rồi cơ duyên khai mở ban đầu đã đến khi thầy bắt gặp quyển “Thanh Quy” của tu viện Chơn Không. Tự thân thầy tuy không nhập khóa đầu tiên nhưng mỗi năm đã về tu viện những tháng hè để học và thực tập.

Ngày đầu xuân 1974, Thầy về lại Chơn Không, bắt đầu nhập khóa II chính thức của tu viện. Rồi những sáng nghe kinh, những chiều thiền tọa, trà khuya sương khói đọng bếp lửa nắng chiều nghiêng. Đạo tình huynh đệ và pháp nhũ của vị thầy già trên núi Tao Phùng đã khơi mở và thắp sáng nẻo về nơi người con trai cùng tử ấy. Thầy Giác Thanh là một thiền sinh giỏi và cũng là một sư anh lớn trong những sư anh dễ thương nhất của tu viện Chơn Không. Hầu như không có phật tử hay khách tăng nào đến đây mà không có ấn tượng tốt đẹp về vị tri khách hiền dịu, nhẹ nhàng và chân tình ấy. Thầy còn là bóng mát, là sự ngọt ngào cho những đứa em mới vào tu, là sự bao dung, sự hiểu biết rộng và sâu để điều hòa và nối kết tình đồng môn.

Thế rồi lịch sử Việt Nam một lần nữa lật sang trang. Sau mùa xuân 1975, những ngày tháng yên bình, tĩnh tại của thiền sinh Chơn Không đã lùi vào quá khứ. Có những buổi lao động dưới cơn nắng lửa, Thầy dừng cuốc bảo: “Trượng phu việc lớn chưa xong, chôn tấm thân hữu dụng vì ba miếng khoai sắn như thế ư? Các em ạ! Chúng ta hãy dành một chút thì giờ cho chính mình.” Từ đó có được phút giây thanh thản nào, Thầy ngồi tĩnh tại độc ẩm trà bên khóm tre vàng râm mát trước sân. Khi sáng sớm, lúc chiều hôm, nhìn sương khói mơ hồ lãng đãng, thấy tình người chấp cánh bay cao, Thầy nghe ngọa khí đầy lòng lên thốt ra lời thơ Độc Ẩm:

Cư nhân gian thượng

Hữu ngã độc ẩm

Tam thập niên mộng

Duy nhất trà bình

Làm người sống ở trên đời

Có ta ta biết uống chơi một mình

Ba mươi năm mộng phù sinh

Bạn bè khuya sớm một bình trà thôi.

Rồi mùa đông năm 1977, Thầy rời thiền viện Thường Chiếu về Mỹ Luông cất Ẩn Không am để tĩnh cư. Ẩn Không am bằng tre lá. Bên cạnh am có một thiền thất nhỏ làm chỗ thiền tọa cho Thầy. Toàn cảnh toát ra phong vị của thiền sư có cuộc sống thanh cao, khiết bạch, đạo hạnh sáng ngời, và nó cũng có một chút gì lãng đãng mộng mơ của thi nhân. Sau bốn năm dừng chân tại Ẩn Không am, Thầy lại lên đường như đoạn kết của bài thơ Mộng Vàng Hoa.

Ta lữ khách,

Trong cát bụi thời gian dài thăm thẳm

Hồn tưởng chừng lạc lõng giữa cồn hoang.

Mộ sáng nọ cồn hoang thức dậy

Chim gào to ta giục giã lên đường

Đời gió cát tưởng chừng như tắm gội,

Giữa trùng khơi sóng nước đại dương.

Vào thượng tuần tháng 7 năm 1981, Thầy có mặt trên chiếc tàu vượt biên băng ngang qua vùng vịnh Thái Lan. Cũng như bao chuyến vượt biển đau thương của người Việt, tàu Thầy đi không tránh khỏi cướp biển man rợ giữa trùng khơi. Chứng kiến cảnh cướp bóc, sát hại, hãm hiếp dã man, lòng bi phẫn của người con Phật nổi lên, Thầy bảo họ: “Các anh có còn trái tim không? Sao nở ra tay và nhẫn tâm với đồng loại như vậy.” Kẻ dữ tức giận quăng Thầy xuống biển khơi. May thay cũng có người còn sót lại trái tim nên lời thầy có năng lực đánh động chất người trong họ. Hắn là tên thuyền trưởng của tàu, hắn đã quăng lưới kéo Thầy lên, thế là trò chơi sinh tử lại thêm một lần hò hẹn nữa.

Thầy đã ở trại Song La (Indonesia) từ tháng 7, 1981 cho đến đầu năm 1982 thì được Hòa Thượng Thích Mãn Giác, hội chủ Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam bảo lãnh Thầy sang Hoa Kỳ. Đặt chân lên đất Mỹ, lần đầu tiên có được 300 USD, Thầy đi chợ mua trà cụ và trà và rồi tự tay nấu nước pha trà dâng lên cúng dường Ôn. Ôi! Của không đáng, chỉ một chung trà nóng có nghĩa gì đâu? Nhưng đẹp lòng làm sao việc này, nó gói được tấm lòng biết ơn sâu sắc của người con trai mòn gót phiêu linh. Ôn đã là bóng mát, làm bến đỗ để thuyền đời Thầy Giác Thanh dừng lại. Dù thời gian lưu lại chùa Phật Giáo Việt Nam không được lâu lắm nhưng năng lượng thương yêu như mẹ hiền của Ôn đã vá được những vết hằn ngao ngán trong lòng người lãng tử. Cuối mùa xuân năm 1982, vâng lời Ôn, Thầy về giúp Thầy Trí Tuệ ở chùa Nam Tuyền (Virginia). Thầy đã sống đầm ấm với Thầy Trí Tuệ.

Trong thời gian này Thầy cũng lang thang đến các trung tâm tu tập theo các truyền thống Nhật Bản, Đại Hàn và Miến Điện. Có lẽ sương khói của cuộc lữ du đã tắt trong mắt trong, nhưng hành trình phải trở về nhà xưa đang thôi thúc trong lòng ngùn ngụt lửa. Thầy đã lại lê gót tây đông, gõ khắp cửa của các bậc đạo sư, mong đón nhận một cú đẩy để trượt thẳng vào không gian lồng lộng.

Thế rồi cuối mùa hè năm 1986, Thầy gặp Sư Ông Làng Mai qua Bắc Mỹ mở các khóa quán niệm cho thiền sinh Hoa Kỳ. Sư Ông thấy Thầy mỏi mệt với công phu để tác thành định huệ lực. Sư Ông bảo: “Thầy Giác Thanh à! Thầy hãy bỏ hết chuyện công phu nặng nhọc ấy đi. Hãy đi dạo với tôi. Thầy nhìn kìa lá phong mùa này đang chuyển từ màu vàng sang màu đỏ, đẹp vô cùng. Sự sống là như vậy, mầu nhiệm như vậy, nó chưa từng sinh và chưa từng diệt. Hãy nhìn và tiếp nhận sự sống như chính nó đi.” Lời khai thị của Sư Ông như giọt nước làm tràn ly đầy, như tiếng sét xé tan màn mây, lộ ra khung trời trong bát ngát. Từ đó Thầy dừng lại cuộc tìm kiếm qua cách thế dụng công.

Khóa tu mùa hè năm 1990, tại Làng Mai thiền sinh Âu Mỹ được tiếp xúc với vị thầy Việt Nam mới có mặt tại Làng. Vị ấy là Thầy Giác Thanh. Nụ cười Thầy biểu lộ niềm bình an và tĩnh lạc đã có mặt từ bên trong. Vào năm 1991, Thầy về hẳn bên Làng Mai sống hạnh phúc bên cạnh cây lão sồi, làm cây sồi anh che chắn gió mưa cho các cây sồi em thêm bụ bẫm. Thuở ấy cộng đồng Phật tử Việt ở châu Âu, nhất là ở thiền đường Hoa Quỳnh, Paris, quen gọi Thầy bằng các quen rất thơ là Thầy Hoa Quỳnh. Dĩ nhiên đây là tên gọi vì Thầy làm giáo thọ phụ trách và hướng dẫn sự tu tập nơi này. Nhưng một mặt khác đây cũng là tên gọi xứng với phong cách tinh khiết và thầm lặng tỏa hương của Thầy. Cuối năm 1991, Thầy được truyền đăng làm giáo thọ. Pháp kệ Sư Ông Làng Mai trao cho Thầy trong lễ truyền đăng:

Giác tánh nguyên thường tánh

Thanh Âm diễn Diệu Âm

Biển Tỳ Lô trăng sáng

Sóng nhạc vẫn trầm hùng.

Và đây là bài kệ Thầy trình trước Sư Ông và đại chúng trong lễ truyền trăng:

Vô tướng

Bình nước trắng bên này

Bình nước tiểu bên kia

Sẽ đi về trời mây

Biển cả với sông ngòi.

Mặt trời sáng ban ngày

Mặt trăng soi ban đêm

Chỉ rõ lối đi về

Đường ta đi thênh thang.

Làng Mai đối với Thầy Giác Thanh là chiếc nôi nuôi lớn hạnh phúc cho mình, cho người, nơi gieo hạt mầm hiểu biết thương yêu cho nhiều thế hệ, nhiều quốc gia. Thầy viết một bài thơ “Thấu Thể” đề: Riêng tặng Ân Sư” để nói lên lòng kính trọng và khuất phục đến Sư Ông Làng Mai:

Một cái nhìn chớp nhoáng

Xô ngã mấy trường thành

Con cúi đầu tiếp nhận

Đời đời nguyện chẳng quên.

Sư Ông đã cất cho Thầy chiếc thất gỗ xinh xắn bên bìa rừng gần thất ngồi yên của Sư Ông. Thất Thầy quanh năm rộn rã tiếng chim và đong đưa sắc hoa bìm tim tím. Thầy đã từng chọn cho mình cái tên Phù Vân cốc. Từ đây vùng trời tâm linh không gian lồng lộng, Thầy đã có những bước chân thong dong và vững chãi, rồi cũng từ ấy nụ cười và tiếng nói mang tặng được cho thiền sinh phẩm chất của sự an lạc sâu hơn. Và nhờ vậy chuyến hoằng pháp của Thầy vào năm 1992 với các khóa tu mở ra cho các tăng thân miền Đông – Bắc Mỹ đã thành công thật lớn. Có thể nói không sợ sai lầm rằng trên bước đường hoằng pháp, Thầy đi đến các nơi như Pháp, Mỹ, Úc, Canada … mở các khóa tu, hướng dẫn thiền sinh, thành lập các tăng thân từ năm 1992 đến 1995, cho đến khi về trụ tại Rừng Phong năm 1998, về Lộc Uyển năm 2000 và mãi cho đến khi thu thần tịch diệt, nơi nào có bước chân Thầy đi qua, thiền sinh đều cảm nhận được năng lượng ngọt ngào, tươi mát, an lạc, thảnh thơi của Thầy tỏa ra. Và họ đã dành cho Thầy tất cả niềm thương yêu và kính trọng.

Mùa thu năm 1995, cơn bệnh tiểu đường, gan và phổi tiềm phục lâu năm nay bắt đầu phát tác. Thầy đã sống với cơn bệnh từ năm 1992, cũng có thể trước đó. Thầy đã dùng hơi thở mình ôm ấp và làm dịu đi cơn bệnh. Thầy đã bảo bọc thương yêu nó như một bà mẹ, không hề trách cứ phiền hà con, cho dù con có hoang nghịch ra sao. Người xưa lắm vị gặp chướng duyên, thân kề cái chết đã nỗ lực dụng công nên một đời liễu quyết được đại sự. Thầy thân mang trọng bệnh, tâm vẫn cứ an nhiên, và nhất là những lời thơ cuối đuợc viết từ năm 1997 trở về sau đã gây được niềm tin lớn cho Phật tử.

Bước chân trên đất thực

Hoa thắm nở ngàn nơi

Chỉ một niệm chiếu soi

Siêu nhiên ngoài ba cõi.

Và bài ‘Ánh Sáng Của Mùa Đông’ như một bản tuyên ngôn hùng tráng của người đã về:

Đối diện cùng tuyết trắng

Bỗng dưng tôi biến mất

Và cả một vũ trụ

Trở thành ánh sáng của tự tâm.

Năm 1997, Thầy Giác Thanh được đề cử làm Giáo Thọ hướng dẫn việc tu học tại tu viện Rừng Phong và đạo tràng Thanh Sơn ở Vermont. Thầy đã tặng những bước chân vững chãi và hạnh phúc của mình cho tất cả thầy, cô và phật tử về tu học nơi đây. Vào năm 2000, Thầy cùng một số người trong tăng thân Làng Mai chọn đất Lộc Uyển, rồi được Sư Ông suy cử chức trụ trì Lộc Uyển Tự, Đại Ẩn Sơn. Thầy đã biết đây là chốn an trụ cuối cùng của cuộc đời nên muốn đem hết hơi tàn để đền ơn bậc đạo sư mà mình quý trọng nhất. Thế nhưng lần này cơn bệnh ngang bướng không thỏa hiệp và cuối cùng như mọi hiện tượng sinh diệt của nhân gian. Thầy đã trả hình hài sương khói về cho mộng huyễn. Các bậc thánh La Hán khi thu thần nhập niết bàn từng tuyến bố: “Việc đáng làm đã làm xong.” Thầy đã về Lộc Uyển vào đầu hè năm 2000 và đã ra đi vào mùa thu năm 2001. Ngày tháng lưu ngụ nơi này thật ngắn so với tuổi thọ trung bình của một đời người và phù du biết mấy khi so với tuổi thọ của trăng sao. Thế nhưng điều Thầy đã làm được lớn vô vàn và đã đi vào bao nhiêu tấm lòng của người còn ở lại. Một giọng nói hiền hòa, chậm rãi đầy thương yêu, một nụ cười an lạc cho đến phút giây cận kề thần chết, một cái nhìn sắc bén trí tuệ thấm sâu và mênh mông từ ái, những bước chân an bình diễn đạt nội tâm ‘đã về, đã tới.’ Đó là món quà lớn lao nhất Thầy tặng cho các sư em và cho tất cả tăng thân có mặt nhiều nơi trên thế giới. Thấy quả xứng đáng vị giáo thọ của các thiền sinh Âu , Mỹ và Việt. Tuy Thầy có ra đi nhưng Thầy đã hóa thân vào trong họ. Lời Thầy đã làm hành trang cho họ để họ đi vào tự thân trí tuệ, và tự thân của hạnh phúc và thương yêu. Nhất là những bài pháp thoại cuối cùng, Thầy gượng dậy giữa cơn đau thuyết cho thính chúng tại thiền đường Trăng Rằm, Lộc Uyển Tự. Ôi! Lời Thầy sao mà sâu sắc đến vậy. Thầy là một sư anh lớn được thương quý nhất trong lòng các sư em hiện tại. Ở đây mỗi sư em nhớ về Thầy một cách khác nhau. Thầy như người anh chở che, đôi khi nghiêm khắc, như vị thầy từ ái, như mẹ hiền vỗ về, như người chị chăm sóc thương yêu, như người bạn mở lòng ra cho mình tâm sự. Thầy đã cho các sư em hết cả tấm lòng thương yêu mà mình có. Thấy như cánh đồng đầy hoa thơm cỏ lạ và cũng có nhiều loại hoa mộc mạc, bình dị, đơn sơ để các em dạo chơi tùy thích. Đến với Thầy các em thấy mình mất hút và hòa tan như con nước sông hòa tan vào biển lớn. Các sư em nghĩ sẽ khó mà có được một sư anh đáng quý như Thầy. Bài thơ cho các sư em Thầy viết:

Xin đừng la rầy trách mắng các em tôi

Vì sợ rằng màu xám của buồn đau

Sẽ phủ vây những mảnh hồn trong suốt tinh anh.

Thầy cũng là một học trò đạo nghĩa thật sâu. Niềm hiếu kính đối với Sư Ông Làng Mai nơi Thầy thăm thẳm. Thầy cũng tròn ân đối với vị ân sư khơi mở bước đầu trên con đường tâm linh khi ngài có dịp đặt chân lên đất Mỹ vào tháng 10 năm 2000. Thầy đã cùng một số sư em, phật tử và tăng thân Nam – Bắc Cali hỗ trợ và tổ chức các buổi thuyết pháp của Hòa thượng Trúc Lâm bình yên trên vùng nam Cali. Việc Thầy làm đã thành công kỳ diệu nhưng cũng thầm lặng nào ai biết. Đối với bạn hữu và người thân ngoài đời hay trong đạo Thầy cư xử rất trọn tình. Lần đầu tiên về thăm lại quê hương Việt Nam vào năm 1992, bạn bè rất ngỡ ngàng vì Thầy quá bình dị. Không ngờ Thầy đã sống nhiều, đã kinh qua niềm đau nỗi khổ, trải nghiệm lắm truân chuyên và hiểu biết rộng sâu bởi đã học hỏi thân cận các bậc đạo sư lớn, thế mà khiêm tốn và bình thường đến dễ thương như vậy. Khoác chiếc áo Tiếp Hiện, đeo túi vải thô lòng thòng trên vai, không kẻ đón người đưa, không kiêu xa, không hình thức của kẻ áo gấm về làng. Cũng nụ cười mỉm mỉm và nhẹ nhàng, Thầy đi qua các chướng ngại mang tin vui vật chất và niềm tịnh lạc của pháp hành về tặng cho một số đông người ở quê hương. Ngoài việc chung là vậy, Thầy đã dành thì giờ thăm lại bạn bè xưa. Những bạn tu đón Thầy bồi hồi xúc động. Bạn bè nhân gian chảy nước mắt, mừng mừng chẳng biết nói chi. Người thân trong gia đình bàng hoàng như gặp Thầy trong cơn mơ. Sau đó Thầy lên đường về Mỹ. Trước khi về Thầy tìm mua bộ đồ trà mình yêu thích nhất, gói ghém thật gọn mang về để trân trọng tặng bạn thân. Bằng hữu của Thầy hiện tại nơi đây không đếm được bao nhiêu, nhưng nhìn sự thương quý của họ đối với Thầy đủ biết được tình Thầy trao cho họ.

Làm về thăm quê hương thứ hai vào năm 1999, Thầy bảo các bạn: “Mình về thăm lần này là lần cuối, chắc mình không về được nữa đâu.” Lời nói tưởng chừng đùa ai ngờ đâu sự thật. Lần này một người bạn thân thuở nhỏ đã giúp Thầy hoàn thành những gì cần giúp đỡ đối với người thân trong gia đình trước lúc đi xa. Thầy đã đến và đi trong cuộc đời này đẹp như thế đó. Sống kiêu hùng và cũng khiêm cung, phong lưu nhưng cũng chất chiu từng đồng tình nghĩa. Cuộc đời Thầy như đóa quỳnh tinh khiết nở trong đêm. Phút cận tử mắt nhắm nghiền tưởng chìm vào cõi vĩnh hằng, ấy thế mà khi nghe pháp ngữ của Sư Ông Làng Mai từ Bắc Kinh gọi về khai thị, Thầy đã mỉm cười, mặt tươi hồng và mở mắt ra, thần thái tinh anh rạng rỡ:

Trượng phu tiếng đã biết

Việc đáng làm đã làm

Tháp vừa dựng sườn núi

Tiếng cười trẻ đã vang.

Ngoài ra Sư Ông còn làm hai câu đối tặng Thầy:

Một lá ngô đồng rơi, người vẫn cùng ta leo đổi thế kỷ

Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh.

Người xưa khi nói câu: ‘Việc đáng làm đã làm’ hẳn sẽ không còn tái hiện nhân thân trong cuộc đời vô thường nữa. Tuy nhiên kẻ trượng phu ra vào tự tại, đến đi thong dong, quả đại giác chưa tròn tức sẽ tái lai hành Bồ Tát đạo. Xin nguyện trăm kiếp nghìn đời luôn cùng Thầy làm bạn pháp.

Lộc Uyển Tự – Đại Ẩn Sơn,

19/10/2001

Thích Phước Tịnh

 

Xem thêm:

Đêm Thơ Nhạc: “Bão xuống cho đời rực rỡ sen” để tưởng nhớ thầy Giác Thanh sau 20 năm thầy rong chơi cùng Phù Vân.