Kệ truyền đăng trong Đại giới đàn “Qua Bờ” từ 1-4/10/2021

Quý thầy, quý sư cô Giáo thọ mới:

Trong khoá tu an cư kiết đông 2021 “Vô phân biệt trí” tại Lộc Uyển, Tăng thân đã trao đèn cho 2 thầy dưới đây: 

1. Thầy Thích Chân Pháp Giới

(Lê Anh Tuấn)

Pháp mầu Như Lai người đã tỏ

Giới châu, tâm ấn, liễu vô sanh

Kế thế, truyền đăng dòng sư tử

Thừa tiếp Tâm tông đạo quả thành

2.Thầy Thích Chân Trời Ngộ Không

(Michael Becka)

Ngộ tâm chẳng thuộc thời gian

Không môn nào phải rộn ràng đến đi

Đá mòn mưa pháp khắc ghi

Thiên nhiên nở đóa tường vi cho đời.

Trong đại giới đàn “Qua Bờ” 2021 có những các thầy, các sư cô dưới đây:

1. Thầy Mãn Thức

(Phan Văn Tư

Pd: Tâm Duy)

Trí mầu hoa tạng đã mãn khai
Thức tỉnh hồn say thoát mộng dài
Nắm giữ luật nghi trì mật hạnh
Bồ đề ngự trị giữa trần ai.

 
 

2. Thầy Chân Pháp Thắng

(Đào Hoàng Long

Pd: Tâm Giác Thanh)

An nơi hiện pháp công phu

Nghĩa trả ơn đền tối thắng tu

Đã thấy quê nhà khương kiện bước

Rừng xanh mây bạc cảnh nhàn cư

3. Thầy Chân Pháp Nhiếp

(Pd: Tâm Thọ Bấu)

Pháp mầu truyền lại còn nguyên        
Bao môn nhiếp phục tinh chuyên thở cười
Tới về từng bước thảnh thơi
Trăng thu sáng tỏ chân trời lặng thinh.

4. Thầy Chân Trời An Lạc

(Pd: Tâm Phương Lâm)

Mây tan sấm lặng thấy chân trời
Ra vào an lạc chốn thảnh thơi
Thương yêu nuôi lớn thời thơ ấu
Thở cười sâu lắng mới tinh khôi

5. Thầy Chân Trời Sáng Tỏ

(Lê Minh Cường

Pd: Tâm Nguyên Phước)

Chân trời sáng tỏ đèn tâm

Thở đi nhận diện báo ân hai dòng

Sát na ẩn hiện trùng trùng

Nhìn sâu tự tánh duyên nhân như là.

6. Thầy Chân Trời Tinh Khôi

(Mai Văn Khẩn

Pd: Tâm Thiện Phát)

Chân trời chứa cả thân tâm
Tinh khôi phụng hiến Từ ân trọn đời
Bước chân hơi thở thảnh thơi
Nhìn sâu hiện pháp sáng lời dấn thân.

7. Thầy Chân Trời Tĩnh Lặng

(Nguyễn Văn Sơn

Pd: Tâm Quảng Thái)

Trời khuya vang vọng tiếng chuông ngân

Tĩnh lặng sáu căn gột sáu trân

Đi vào thiền định không vô tướng

Dứt trừ vọng kiến trở về chân

8. Thầy Chân Trời Bao Dung

(Pd: Tâm Quảng Hội)

Chân trời thương hiểu bao dung
Đệ huynh hôm sớm thuỷ chung một dòng
Bước chân địa xúc rỗng không
Đoá hoa hàm tiếu mây hồng có nhau

9. Thầy Chân Trời Tuệ Chiếu

(Pd: Tâm Thanh Trung)

Chí trai cân cả đất trời
Sẵn gươm trí tuệ vào đời độ sinh
Chớ quên soi chiếu lại mình
Chứng nên Phật quả hoàn thành nguyện xưa

10. Sư cô Thích Nữ Chân Quán Nghiêm

(Phan Thị Ngọc Hải

Pd: Tâm Diệu Ngọc)

Chân tướng mài trong ánh lửa hồng
Quán
giới Nghiêm lòng mãi sáng trong
Ngày đêm an trú trên thánh địa
Tự tại rong chơi đến thoả lòng.

11. Sư cô Thích Nữ Chân Tiếp Nghiêm

(Phạm Thị Ngoan

Pd: Tâm Quảng Lê)

Tay Bụt trao truyền nguyện tiếp nhận

Chân pháp an ban giữ nghiêm thân

Rừng thiêng bến cũ cùng quay gót

Ngàn thông khe suối vẫn reo mừng

12. Sư cô Thích Nữ Chân Vũ Nghiêm

(Lê Thị Kim Phương)

trụ phô bày muôn sắc thắm

Lăng già ảnh chiếu cảnh trang nghiêm

Vạn Pháp ẩn hiện tùng duyên khởi

Đất trời hoà tấu khúc tịch nhiên.

13.  Sư cô Thích Nữ Chân Điều Nghiêm

(Lê Thị Hương

Pd: Tâm Diệu Huệ)

Chân thân có mặt tại phàm thân
Điều phục tâm ta hiện rõ dần
Nghiêm tịnh một đời tam tuệ học
Hoàn thành bổn nguyện đáp bốn ân.

14. Sư cô Thích Nữ Chân Dự Nghiêm

(Nguyễn Thị Cẩm Vân

Pd: Tâm Quảng Ngọc)

Hội vui về tới dự trang nghiêm

Bến đỗ tâm linh mãn thệ nguyền

Thân giáo diễn bày pho kinh sử

Đạo tình nuôi lớn đoá bạch liên

15. Sư cô Thích Nữ Chân Cương Nghiêm

(Dư Thị Thủy

Pd: Tâm Nhuận Ngọc)

Cương lĩnh người tu em nắm được

Nghiêm thân vui bước mặc đường xa

Hoa sen vẫn nở hồn tươi thắm

Cát bụi trần gian chẳng bỏ lòng

16.  Sư cô Thích Nữ Chân Ân Nghiêm

(Trần Thị Hồng Phấn

Pd: Tâm Diệu Quỳnh)

Chân vững chãi giữa miền đất tịnh
Ân luôn là chất liệu chuyển tâm
Nghiêm trang nuôi Đại nguyện nơi lòng
Sống viên mãn, trăm năm hiện tiền.

17. Sư cô Thích Nữ Chân Trừng Nghiêm

(Phạm Thị Hoa

Pd: Tâm Thục Huệ)

Tâm trừng thanh ý sáng

Niệm định giữ nghiêm minh

Đất trời nuôi chí lớn

Hoa tuệ hé môi cười.

18. Sư cô Thích Nữ Chân Tu Nghiêm

(Phime Hau Wan Lee

Pd: Tâm Thanh Phong –

Soft Breeze of the Heart)

海衆同修終一味 Chân tu nhất một niệm
莊嚴實地所歸依 Nghiêm hạnh đạo từ tâm
常行 一向如持地 Ưu đàm hoa vẫn nở
建立安般絕是非  Lục độ ngát hương trầm.

19. Sư cô Thích Nữ Chân Hiệp Nghiêm

(Bùi Ngọc Hân

Pd: Tâm Huyền Vi)

協 女 出 釋 女 Hiệp nữ xuất thích nữ

嚴 身 現 戒 身 Nghiêm thân hiện giới thân

功 夫 乘 法 寶 Công phu thừa pháp bảo

處 處 潤 洪 恩 Xứ xứ nhuận hồng ân

20. Sư cô Thích Nữ Chân Thương Nghiêm

(Lê Thị Hạnh

Pd: Tâm Liên Hoa)

Chân trời sáng rỡ bước chân thiền
Lòng thương nuôi trí rộng vô biên
Nghiêm trang dâng Bụt tròn cuộc sống
Liên hoa một nụ, nở hồn nhiên.

21. Sư cô Thích Nữ Chân Her Xuan

(Tan Lay Kuang)

六和爲禪杖 Lục hoà thường quán chiếu
遇義玄無憂 Ái ngữ là huyền âm
舉足登聖地 Dựng xây tình huynh đệ
含笑視春秋 Hợp xướng cùng tăng thân.

22. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Thanh Lương

(Pd: Tâm Giác Chúng)

Chân Trăng toả chiếu Thanh Lương
Nhìn sâu mặc cảm tỏ tường nẻo ra
Thở đi pháp trở về nhà
Đầu kia sen nở ngát toà hương thơm.

23. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Huyền Diệu

(Pd: Tâm Nhật Thuyên)

Thanh lương cổ nguyệt minh hoàn lộ
Gia cơ tông chỉ kiến huyền quan
Vô sanh pháp nhẫn an thường trụ
Diệu khúc hòa âm cử xướng tu

24. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Bích Nham

(Pd: Tâm Liên Tú)

Chân Trăng toả chiếu Bích Nham
Non sông cẩm tú chim ngàn về chơi
Lắng nghe ái ngữ không lơi
Khổ đau vượt thoát vào đời có nhau

25. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Phổ Đà

(Pui Wah Camilla Law

Pd: Peaceful Direction of the Heart)

誓日普陀靈鷲山
法音處處利天人
家歸一步千方月
一步同名報衆恩

Trăng treo trên núi Phổ Đà
Vững thân thiền định tâm hoà cùng trăng
Ta bà tịnh độ đồng thanh
Chân Tăng, chân Bụt đồng hành dạo chơi.

Các vị giáo thọ cư sĩ mới:

1.  Chân Minh Hiện

(Trương Thị Anh Phương)

Tâm an rạng ánh trăng rằm

Thủy mưa cam lộ rã vành lưới mê

Minh vương hạt giống Bồ-đề

Hiện pháp lạc trú đường về bổn môn.

2.True Emerald Ocean – Juliete Hwang

When spirit shines with emerald-pure light
Containing rivers, the vast ocean swells
The Bodhi tree is here, right in plain sight
Each bow we heal with the ancestral bell

3.Chân Chánh Uyển

(Trần Hoàng Phương)

Tâm Bụt tâm con vốn không hai

Quang rạng chơn như tọa liên đài

Chánh kiến ba thân vươn trời rộng

Uyển vườn tuệ giác đã đơm bông.

4.Chân Lưu Phong (True Flowing Tradition)

Lê Chân Tâm (Phi)

Tâm cẩn trọng tư duy chánh ngữ

Nụ hoa cười khởi niệm vô tư

Sống chết một đời không hệ lụy

Chân lưu phong rỗng thể thái hư.

5.Chân Lương Uyển

(Phan Thị Thương Châu)

Chân Lương Uyển chân không thường tại

Tâm Bảo Ngọc diệu thể bất sinh

Niệm, định công phu mặt trời tuệ

Vượt ái sông mê lộ chơn hình.

6.True Land of Happiness (Chân Lạc Độ) (David Hughes)

Grass roots in land twice-blessed by damp and sun
True happiness finds root right here right now
Its voice invites us to no longer run
Our gentle step on earth imprints our vow

7.True Buddha Mountain (Chân Phật Sơn)  (Alex Cline)

The bliss of silence is the Buddha jewel
The wind through pines reveals the mountain’s call
Transcending ebb and flow, all passions cooled
In praise or blame the moon’s still free to soar

8.True Ocean of Jewels (Chân Châu Hải) (Natascha Bruckner)

In oceans lie the rivers, clouds and rain
True jewels refracting light that wakes the deep
Compassion heals by embracing pain
Good friends reveal the path beneath our feet

9.True Land of Joy (Chân Hỷ Độ)

(Theodate Lawlor)

Gardens of joy bloom from Earth’s living crust
Across the land people eat, laugh and play
To harvest fruit we sow patience and trust
And sing to stars that turn to light of day

10.True Ocean of Grace (Chân Ân Hải)

(Joseph Reilly)

The sound of grace bends the wind of the mind
Oceans bring rain to quench the flames of fear
The roots that dig down deep know what they find—
Earth penetrates them all with love right here

11.True Land of Fortunes (Chân Hạnh Độ) 

(John Wadsworth)

Fortunes beginningless and without end
When we maintain virtue within this land
The wooden fish drum’s even beat now blends
With rising tide that floods the shifting sand

 

12.True Lotus Concentration (Chân Liên Định)

(Brian Otto Kimmel)

The beaded drop on lotus leaf now glides
In concentration learning how to fall
Not long nor short in motion it arrives
And chants in silence water’s native call

13.True Mountain of Spirituality (Chân Linh Sơn) (Susan Glogovac)

Fresh mountainflanking flowers fetch dawn dew
A spirit-breath now heals across the land
Each solid step arrives at life still new
Our boundless heart love’s refuge here expands

 

14. True Source of Treasure (Chân Bảo Nguyên)

(Joseph Spaeder)

The stream’s high source continues clouds and snow
True nature’s treasure lies within its flow
The ground of mind is clear and free as is
It has no net or view, just letting go

 

Trái Tim Tương Tức

Sư cô Chân Đức

Mùa an cư năm nay (17.9.2020-15.12.2020), đại chúng đã có cơ hội nhìn sâu vào chủ đề “không phân biệt” dưới góc nhìn tâm phân biệt biểu hiện nơi cá nhân mình và sự biểu hiện của nó trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội để tìm cách làm lớn mạnh hạt giống không phân biệt trong mỗi người chúng ta. Chân Đức xin chia sẻ dưới đây một chút những gì mình đã học hỏi được.

 

 

Trong bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, thầy có nhắc đến cuộc thí nghiệm do một cô giáo người Mỹ thực hiện trong lớp học với học sinh người da trắng thuộc các gia đình trung lưu. Cô giáo đã chia lớp học ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các em mắt xanh, và nhóm thứ hai gồm các em mắt nâu. Trước tiên cô bảo các học sinh mắt xanh rằng vì có mắt xanh nên các em thông minh, và bảo các em học sinh mắt nâu là vì mắt nâu nên các em không thông minh. Khi Chân Đức nghe nói về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức nghĩ thầm: “Một nhà giáo sao lại có thể làm như vậy?”. Cô giáo cũng có nói rằng cô cảm thấy không thoải mái chút nào trong suốt cuộc thí nghiệm, nhưng cô nghĩ rằng nó rất đáng công để thử. Các em học sinh sẽ có thể học được một bài học thực tế từ đời sống thật.

Sau khi các em học sinh mắt xanh nghe nói tính thông minh có thể được căn cứ theo màu mắt, sự tự tin của các em gia tăng và các em học khá hẳn lên. Trong khi đó, các em học sinh mắt nâu mất hết tự tin và học kém đi. Ngày hôm sau, cô giáo lại nói với các em điều ngược lại làm sự tự tin của các em học sinh mắt nâu tăng lên, và các em mắt xanh thì mất hết tự tin. Cuối cùng, cô cho cả lớp biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm. Sau đó, cả lớp đều học khá hẳn lên vì các em đều nhận ra rằng khả năng học tốt là một khả năng bẩm sinh, có sẵn trong mỗi cá nhân. Một điều quan trọng khác nữa mà các em học được là không nên kỳ thị người khác vì vẻ ngoài của họ.

Cô giáo theo dõi học sinh trong lớp cho đến khi các em trưởng thành. Sau khi các em đã ra đời đi làm, các thành viên trong lớp vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm về sự thực tập không kỳ thị theo cách thức mà người da trắng tầng lớp trung lưu thường không làm.

Sau khi nghe chia sẻ về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức có dịp nhìn vào tâm phân biệt của chính mình và tự hỏi: “Mình có đánh giá người khác dựa vào bề ngoài của họ không?”. Chân Đức bắt đầu thấy mình phân biệt như thế nào khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Khi thấy một sư cô hay một thầy mà Chân Đức có ấn tượng tốt, trong lòng Chân Đức ghi nhận “mình thích người này”, trong trường hợp ngược lại thì “mình không thích người này”. Chân Đức không thấy người ấy trong hiện tại như chính họ. Đây là một tập khí sâu dày mà Chân Đức có thể sửa đổi bằng cách dùng chánh niệm quán chiếu về cảm thọ và tri giác. Trong những buổi pháp đàm sau bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, quý thầy, quý sư cô và nhiều vị thiền sinh đến từ các quốc gia khác nhau đã chia sẻ về tâm phân biệt biểu hiện dưới kinh nghiệm cá nhân của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc. Thí dụ như ở Việt Nam, người miền Nam phân biệt người miền Bắc; tại Guatemala, người gốc Latinh phân biệt người bản địa.

Trong một đoạn video ngắn do thầy Pháp Linh chia sẻ, chúng ta nhận thấy trẻ con có thể kỳ thị chính mình dựa trên vẻ bề ngoài. Một em bé da màu có thể nói rằng con búp bê da màu là không đẹp, con búp bê da trắng mới đẹp. Người ta có thể mất tự tin vì những thông điệp nhận được từ xung quanh. Một sư cô sang Úc tị nạn nói với Chân Đức rằng trở ngại lớn nhất của sư cô là mặc cảm sâu dày mình là một người tị nạn. Sư cô đã nhận ra việc chuyển hóa mặc cảm tự ti ấy có ý nghĩa đến mức nào. Chân Đức cũng nhận ra rằng việc làm người khác tự tin hơn quan trọng đến thế nào. Có những người vì vẻ bên ngoài hay vị trí xã hội (thí dụ người tị nạn) bằng cách này hay cách khác đã nhận được thông điệp rằng họ là thấp kém. Họ đã nhận thông điệp ấy từ khi còn thơ ấu, hay có khi trước đó nữa, do tổ tiên trao truyền lại. Bởi vì tổ tiên của họ có thể cũng đã nhận cùng một thông điệp ấy.

Thầy Pháp Linh cũng chia sẻ một đoạn video với một thí nghiệm khác được tiến hành ở Ba Lan. Ở đó, người tị nạn từ Trung Đông, Syria được sắp xếp thành cặp với người Ba Lan. Một người Ba Lan bản xứ ngồi đối diện với một người tị nạn, và họ chỉ ngồi nhìn vào mắt nhau, không nói năng hoặc suy nghĩ gì cả. Đã có một sự cảm thông vượt thoát ngôn từ được thiết lập giữa hai người, một sự thấu hiểu lẫn nhau vượt lên trên giới hạn của kiến thức và tâm phân biệt. Chúng ta học từ Bồ tát Quán Thế Âm cách nhìn bằng con mắt từ bi, và đây là khả năng mà tất cả loài người chúng ta đều có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tập luyện qua những tương tác hàng ngày, để có thể nhận ra khi nào chúng ta đang không nhìn bằng mắt thương.

 

 

Chân Đức cũng có dịp lắng nghe vài cô thiền sinh da đen, thành viên của tăng thân, qua Zoom. Nhóm có bốn người, hai người da trắng và hai người Mỹ da đen. Sau một lần họp mặt, Chân Đức mời một thầy người Tây phương hướng dẫn lần gặp kế tiếp vì nghĩ rằng thầy làm khá tốt. Thầy ấy từ chối và bảo rằng tại sao chúng ta không mời một người khác? Vì thế Chân Đức đã mời một cô người da đen và thấy cô đã hạnh phúc như thế nào khi được mời làm chủ tọa buổi lắng nghe sâu sau đó.

Năm 2016, khi Chân Đức đến Hội Chủng viện Thần học ở New York đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp, tại đó có lễ khánh thành một phân khoa mới với ba giảng viên là người da đen. Chúng tôi được cho biết là Hội dự định sẽ có 50% người da màu trong phân khoa. Ở đây, người ta muốn gửi đi một thông điệp mới thay thế cho thông điệp cũ mà mọi người đã tiếp nhận từ lâu nay là một người da đen không học giỏi bằng một người da trắng. Chúng ta có thể cho rằng hướng đi này là phù hợp với đạo đức. Nó không phải là việc sửa sai quá khứ mà hơn thế nữa, nó cung cấp cho xã hội một cái nhìn mới.

Một số thành viên tăng thân người da đen và da màu đặt câu hỏi là tăng thân của chúng ta góp phần như thế nào trong thông điệp này? Ai trong chúng ta cũng muốn đem giáo pháp chia sẻ cho đồng bào của mình. Các thầy, các sư cô người Việt muốn đem pháp môn Làng Mai về chia sẻ ở Việt Nam; các thầy, các sư cô người Trung hoa muốn đem pháp môn Làng Mai về Trung quốc, vậy thì lẽ đương nhiên người Mỹ da đen cũng muốn chia sẻ pháp môn với đồng bào người Mỹ da đen của họ. Ở Baltimore, tăng thân người da màu đã sở hữu được một nhà thờ cũ, đủ rộng rãi cho vài trăm người, biến nó thành một nơi mà người da đen và người da màu có thể đến với nhau như một tăng thân, cùng chia sẻ và tham gia các sinh hoạt văn hóa. Họ nói rằng các pháp môn cần được chia sẻ trong một bối cảnh hoàn toàn không mang tính tôn giáo.

Ngôn ngữ sử dụng để chia sẻ giáo pháp phải phù hợp với người tiếp nhận. Do đó, khi giới thiệu sự thực tập cho người da màu, tiếng Mỹ được sử dụng có thể sẽ rất khác với tiếng Mỹ dùng giới thiệu pháp môn cho người da trắng, là nhóm của đa số. Người sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất cho người da màu chính là người da màu. Giáo pháp luôn luôn nhu nhuyến như thế. Cũng như ở Việt Nam, giáo pháp đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa Việt thời trước đạo Bụt, như bàn thờ Tổ tiên chẳng hạn. Ở Tây Tạng và Nhật, đạo Bụt cũng tiếp thu văn hóa của các nước này. Ở Tây phương đạo Bụt cũng cần phải như vậy. Có nghĩa là người Mỹ da đen, người Mỹ bản xứ… cần một đạo Bụt thấm nhuần văn hóa Mỹ. Bạn có thể thắc mắc là: chúng ta không thể chỉ có một đạo Bụt Bắc Mỹ duy nhất cho tất cả mọi người tới từ bất cứ nguồn gốc nào hay sao? Không ai muốn có sự chia rẽ, càng có nhiều điểm chung càng tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn cần chăm sóc những nhu cầu riêng của mình. Nhưng nếu thực sự muốn làm lớn lên tâm không phân biệt của mình, chúng ta cần chăm sóc những nhu cầu riêng này trong tinh thần tương tức “hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi, và khổ đau của bạn cũng là khổ đau của chính tôi”.

Chúng ta công nhận nhu cầu của người Mỹ da đen trong việc phát triển một ngôn ngữ mà họ thấy phù hợp cho chính đồng bào của họ. Thế nhưng sau cùng, chúng ta cũng vẫn cần đến với nhau. Thí dụ như trường hợp những khóa tu cho nhiều lứa tuổi đã được tổ chức. Chúng ta cần phong trào Wake Up của người trẻ bởi vì những người trẻ có những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều đó không ngăn ta tổ chức các khóa tu cho mọi lứa tuổi để tất cả mọi người có thể cùng chia sẻ kinh nghiệm và sự thực tập với nhau. Ai thực tập niệm, định, tuệ cũng sẽ có sự giác ngộ. Sự giác ngộ ấy vượt thoát màu da, chủng tộc và, một cách rất tự nhiên, sẽ mang mọi người đến với nhau.

Trong bài pháp thoại về lập trường đạo đức kiên định (moral courage), sư cô Lăng Nghiêm chia sẻ về khuynh hướng thủ thế tiềm ẩn trong ta, về bản năng bảo tồn bản sắc nằm sâu trong mỗi chúng ta. Thật khó để chúng ta đôi khi nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác nếu như ta không có tuệ giác tương tức. Lập trường đạo đức kiên định là khả năng buông bỏ tự tánh riêng biệt của ta. Sư cô Giác Nghiêm cũng nói về ao ước nguyên thủy và cái sợ nguyên thủy làm ta không có khả năng hiểu và chấp nhận người khác.

Sư cô Thuận Nghiêm nói về việc ta sinh ra trong những đặc quyền hoặc trong sự thua thiệt như thế nào. Tương lai của một em bé sơ sinh da trắng trên phương diện giáo dục, vị trí xã hội, chăm sóc y tế hơn hẳn so với những gì  mà một em bé sơ sinh da đen sinh ra trong cùng một thời điểm tại nước Mỹ nhận được.

Trong khóa an cư năm nay, Chân Đức có ý thức hơn về những khổ đau do sự phân biệt chủng tộc gây ra trong thời đại của chúng ta. Chân Đức bắt đầu thấy, trong tư cách là một người thực tập, mình có thể làm gì để gửi một thông điệp khác ra thế giới. Chân Đức có thể có chánh niệm hơn về tâm phân biệt của mình. Đôi khi sự phân biệt cần thiết và hữu ích, nhưng có lúc nó lại dẫn đến những tri giác sai lầm và khổ đau. Trong một buổi vấn đáp, thầy Pháp Biểu có nói rằng ngôn ngữ tự nó đã có tính phân biệt. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ để phân biệt ta nên để ý một chút. Thí dụ như khi nói: “Các sư cô là như thế này…” hay “Các thầy là như thế kia…”, có thể sẽ có một ít sự thật trong câu nói mang tính khái quát hóa đó. Nhưng chúng ta đừng nên bị kẹt và nên biết là ta đang nói một câu có tính cách phân biệt. Ta cũng hay nói những câu như “các thầy, các sư cô người Việt” trong nghĩa đối đãi với “các thầy, các sư cô người Tây phương”. Có khi nói như vậy cũng có vẻ thích hợp, nhưng điều quan trọng là khi sự phân biệt ấy đi lên trong tâm thì ta phải tự hỏi chính mình về giá trị của nó và biết rằng ta đang khái quát hóa một điều chưa chắc đã 100% chính xác.

Trong khóa an cư này, Chân Đức cùng một thầy nữa có cơ hội thực tập lắng nghe sâu với một vài thành viên người da đen trong tăng thân. Lắng nghe sâu là một trong những pháp môn quý báu nhất mà Sư Ông đã trao truyền cho chúng ta. Và thật may mắn, trước khi đại dịch Covid xảy ra chúng ta đã có phương tiện truyền thông trực tuyến để có thể chia sẻ và lắng nghe nhau mà không cần phải di chuyển. Việc lắng nghe sâu là một yếu tố căn bản trong công tác xây dựng tăng thân. Nó cũng là bước thứ nhất và quan trọng nhất trong sự thực tập bao dung. Ta có thể hỏi người kia: “Bạn có thể nói cho tôi nghe tôi đã hành xử như thế nào làm cho bạn khổ?”. Chỉ cần lắng nghe sâu thôi chúng ta đã có thể biết mình cần phải làm gì cho tình trạng khá hơn. Chúng ta có thời gian. Nếu ta cần có ba buổi lắng nghe sâu thì ta không nên cố gắng dồn tất cả vào một buổi.

Loài người chúng ta có vẻ dẫn đầu tất cả các loài trong vấn đề kỳ thị. Việc ông George Floyd bị sát hại là một tiếng chuông cảnh tỉnh cả thế giới về thực trạng này. Chỉ có một con đường duy nhất để đi tới mà thôi: ta phải có một tâm thức và trái tim tương tức. Thực tập chánh niệm, nói năng nhẹ nhàng, nhìn và lắng nghe sâu như một tăng thân sẽ giúp chúng ta đạt tới vô phân biệt trí.

Chùa Cam Lộ, xóm Hạ, ngày 20.12.2020

 

Giải thích buông dần triêng gióng

Thanh khí tương ứng tương cầu

Thương yêu sâu thẳm trong tâm

Sau 52 năm tu học, từ năm 1966 em Chung vào chùa, 1969 được thọ giới Sadi, 1973 thọ giới Tỳ kheo, pháp tự là Giác Viên, con đã có một năng lượng thúc đẩy làm sao để biết áp dụng giáo pháp qua các sinh hoạt. Mãi đến 1994, con qua Làng mới được tu với tăng thân nhiều xóm, nhất là nhờ Thầy (Làng Mai) khéo léo, nhẹ nhàng đầy kiên nhẫn và lời lẽ sâu sắc rõ ràng, biểu hiện sự sống của tuệ giác chân thực nơi Thầy, đã in sâu nhiều ấn tượng vào thân tâm, giúp con cảm nhận được rằng, con đang nhờ ân đức của Tổ tiên huyết thống tâm linh, khí thiêng của non nước Lạc Hồng đã un đúc cho con thêm, cái chất “Thương” đã có từ lúc học lớp 6 và lớn theo năm tháng.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho

Thương yêu trải khắp không thời

Ân đức đó cho con, lúc ở nhà nhờ tình thương bao la, phẩm chất tháo vát của mẹ, nhờ quý thầy dạy cho học từ lớp bình dân nơi thôn xóm, thầy cô cấp1, cấp2, lại nhờ bạn bè đầy ắp tình nghĩa chân quê un đúc. Lúc mới vào chùa, con nhờ nương náu quý Thầy, nhất là sư ôn Trú trì, nhờ các điệu tác động, nhờ đạo hữu mến Thầy giúp điệu hết lòng mà tạo dựng, tác thành cho con.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho tăng chúng, cho đệ tử, đến đạo hữu, và khéo léo kiện toàn từng bước về tổ chức giáo hội tỉnh nhà, đến các khuôn hội, nhất là ở những vùng xa xôi, những nơi đời sống dân chúng thường gánh chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt, nghèo đói, thiếu cơm áo quanh năm, song rất giàu tình đạo, nghĩa Thầy. Lâu ngày, người Quảng Trị gọi Thầy là “Cha”.

Thương yêu bảo hộ quê hương

Thầy chăm sóc chu đáo đoàn tác viên của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội như chú Phúc, chú Đính, chú Hà, anh Tuấn và một sư cô người miền Nam.

Các tác viên trẻ này đang cùng dân chúng xây dựng các làng kiểu mẫu về các mặt giáo dục, y tế, kinh tế. Nội dung xây dựng là đánh thức và nuôi lớn tâm chủ động vươn lên để thoát sự trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp, hay buông xuôi bất lực giữa xu thế vọng ngoại, cùng lúc ấy chiến tranh mỗi ngày mỗi tàn phá khốc liệt khắp nơi. Thầy đang tiếp sức với trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội để cùng nhau xây dựng hướng đi độc lập tự chủ cho quê hương, một hướng đi nhân bản, đậm đà văn hóa Văn Lang. Đây là nền tảng của đạo Phật ở giữa cuộc đời và đó cũng là sự vận hành đổi thay tất yếu, song rất bền vững chất sống của dân tộc Việt Nam.

Thương yêu con cháu trưởng thành

Thầy sống rất tình nghĩa mà hết lòng. Con học nhìn, nghe, cảm, thấm năng lượng thân giáo đầy kiên nhẫn, sâu sắc bền bỉ quý hiếm ấy nơi Thầy qua năm tháng. Thầy chú trọng sự hành trì tu tập, gìn giữ thời khóa công phu nghiêm mật, nhưng đời sống thì rất nông thôn chất phác, từ y phục, lời nói,… cái chất quê ấy là vốn liếng lâu đời của Quảng Trị quanh năm thiếu áo thiếu cơm ai cũng phải “khéo ăn mới no, khéo co mới ấm”.

Nhờ thế có lúc việc chùa, việc học ở trường Bồ Đề, khiến con có một thời gian đau đầu đến mức không nói chuyện tiếp xúc với ai, và không thể học hành bình thường được nữa, con lại may mắn có bác sĩ Hoán, cũng là hiệu trưởng trường Bồ Đề Quảng Trị cho thuốc uống. Cái thâm tình của Thầy, của cuộc sống đã tiếp sức cho con vượt qua một cách tự nhiên dễ dàng hơn.

Những nơi đào tạo tăng tài

Sau khi cho con thọ giới Sadi ở Tổ đình Tây Thiên, Huế vào năm 1969 với pháp tự Giác Viên. Cuối năm đó, Thầy cho con vào Báo Quốc Huế tiếp tục tu học. Con học lớp 11 ở Tư thục Bồ Đề, và học Di Đà sớ sao với Hòa thượng Thiện Hạnh, luật Sadi trường hàng với Hòa thượng Đức Phương. Con thu xếp để có thời gian làm sạch cỏ gấu (cỏ cú) ở vườn cam cạnh nhà bếp của chùa Báo Quốc. Con dần dần bớt bệnh. Dịp này, con thỉnh thoảng lên hầu thăm Sư ông Kim Tiên.

Cuối năm 1970 Thầy gởi con vào Phật Học viện Hải Đức Nha trang học Trung đẳng chuyên khoa II. Con phải dự thính một năm mới đỗ vào chính thức, vì chưa học sơ đẳng Phật học. Năm 1973 con còn được Phật Học viện cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát xuất gia. Cuối năm 1974, tốt nghiệp Trung đẳng chuyên khoa, con được dự lễ khai giảng lớp cao đẳng do Hòa thượng Từ Đàm làm hiệu trưởng. Đầu năm 1975, lớp cao đẳng gián đoạn, chỉ học gia giáo tại Phật Học viện với chư Tôn đức. Con lại được tham dự lớp dịch Trung A hàm, gồm có 10 huynh đệ, do thầy Tuệ Sỹ trực tiếp cố vấn.

Vào Cam Ranh

Cũng trong thời gian này, với sự chấp thuận của Giáo hội tỉnh Khánh Hòa do Hòa thượng Thiện Bình làm chánh đại diện, con được Phật Học viện cử vào trông coi chùa Từ Đức, thôn Quảng Đức. Nơi đây có 300 hộ dân Quảng Trị vào định cư tránh bom đạn đã mấy năm rồi.

Mẹ con bán nhà, đất, rồi vào chùa ăn chay niệm Phật, thỉnh chuông đại hồng và chăm sóc bữa ăn cho con, đứa con duy nhất còn lại nhờ nương náu thiền môn mới còn tồn tại. Anh con đã chết năm 1974 tại bệnh viện Mang Cá Huế. Thay mặt gia đình, con chủ động mai táng anh con. Ra ở Mang Cá con bị cảm, sư Như Minh cho đệ tử giúp đem thức ăn thức uống, thuốc men. Con nhớ ân ấy thường thăm hỏi Sư qua những lá thư, nên đó là dịp con được Sư xin cho qua Làng tu học.

Ở chùa Từ Đức, con và mẹ hôm sớm có nhau rất đầm ấm như khoảng 30 năm trước ở trọ nhà bác ngoài quê. Hai mẹ con cùng xay lúa làm gạo đem bán ở chợ Chùa làng Lưỡng Kim.

Ở Chùa Từ Đức

Phẩm chất của một ngôi chùa

Đất chùa rộng hơn 2 héc-ta. Đạo hữu phát tâm công quả trồng khoai mì, khoai lang, bắp, lúa gieo… Nhờ thế, kinh tế chùa đầy đủ sung túc hơn bất cứ hộ gia đình nào nơi này. Lúc ấy, đạo hữu rất bận việc mưu sinh, tối còn đi họp để nghe cán bộ phổ biến nhiều tin cần thiết, nhưng đạo hữu đi chùa đều đặn, đông đúc, nhờ cái tâm tín mộ Phật sâu sắc ở ngoài quê Quảng Trị lâu đời. Con thương đạo hữu nên đêm đêm con trao đổi một vài nét giáo pháp thuộc chánh tín, duyên khởi, nhân quả, vô ngã, vô thường. Kinh Pháp cú trong tạng Nikaya là kinh con thường sử dụng vào các buổi chia sẻ ấy. Con viết Pháp cú lên vách ván của chùa cho mọi người học. Con dùng Pháp cú để lạy sám hối thay nghi lạy Hồng danh. Con lại sử dụng Pháp cú và Nikaya tóm tắt vào cả thời khóa ở chùa, thay vì trì tụng Lăng nghiêm, Thập chú, Mông sơn,… chùa chỉ tụng Tâm kinh Bát nhã. Những lúc cầu an, cầu siêu, đám tang… con đều vận dụng lối hành trì như thế.

Thời gian này, những giáo lý đã học bốn năm ở Phật Học viện Nha Trang trước đây giúp con rất nhiều. Con triển khai rộng hơn tinh thần ấy vào các ngày 30, 14, và lễ lớn tại chánh điện.

Tu là yêu nước thương nòi

Những lúc dự họp ở ủy ban xã hay hội trường Mặt trận tổ quốc huyện, khi nào được gọi phát biểu trước các cán bộ, quý thầy, quý linh mục, mục sư, chức sắc Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, các nữ tu Thiên chúa và các trưởng ban hộ tự nơi chưa có trú trì, thì con cũng vận dụng tinh thần nội dung giáo pháp ấy vào. Con dùng cách chia sẻ sao cho thích ứng với những gì cán bộ vừa phổ biến. Con diễn đạt không mang tính tôn giáo, chỉ mang tính xã hội có lợi ích chung mà mọi người trong hội trường dù địa vị rất khác nhau vẫn có thể chấp nhận một cách tự nhiên. Phát biểu về luật pháp, kinh tế, văn hóa, an ninh, từ thiện hay mê tín và không mê tín tùy theo yêu cầu… Mỗi lần phát biểu như thế con thấy có an lạc, thêm niềm tin chánh pháp, rằng chánh pháp đã cho con cảm nhận sao đó mà có thể góp một phần dù rất nhỏ, để xây dựng cuộc sống chung. Tuệ giác là chánh pháp rất thiết thực, rất sung mãn.

Mỗi lần cần tiếp xúc riêng với cán bộ, công an, con cũng nhờ tinh thần ấy mà dần dần tạo được sự thân tình, cởi mở, như là sự đàm đạo đậm sắc tình bạn cùng chung xây dựng quê hương đất Việt. Sự xây dựng thích ứng với tình hình trong xã, trong huyện sao cho ngày càng tốt đẹp hơn. Con thấy rất vui khi sống với nhau, dù ở đâu cũng thắm thiết tình người, tình đồng bào ruột thịt.

Biết mình phát khởi ưu tâm

Tuy có hạnh phúc nhiều mặt như vậy ngay sau 1975, nhưng trong sâu thẳm, con vẫn tự thấy mình chưa thực sự có cái thấy rõ ràng về phương cách thực tập hằng ngày. Con luôn nuôi khát vọng và lưu tâm học hỏi để tìm ra và hy vọng một ngày nào đó sẽ thấy được.

Ngày mẹ qua đời

Mười ba năm sau, mẹ mất ngày 28 tháng 9 năm Mậu Thìn (1988). Năm giờ chiều mẹ không ăn, người thở rất yên, không thấy có gì là đau đớn, như người nằm ngủ. Thở mũi rồi thở miệng và hết thở lúc tám giờ tối. Con ở bên mẹ, giữ yên lặng. Có bác Cát, chị Tâm ở Tân Thành, người phát tâm giúp mẹ việc ăn uống, tắm rửa vào thời gian cuối đời và vài đạo hữu địa phương.

 

 

Đám tang lợi lạc cho nhau

Một đám tang hướng về sự yên tĩnh tối đa. Không chiêng trống nhạc theo tập quán. Chỉ trang trí các câu Pháp cú về vô thường, vô ngã, duyên khởi. Không thỉnh mời, báo tin. Mọi người đến là Phật tử, bà con tại địa phương rỉ tai nhau. Có 17 chư Tôn đức tăng ni ở trong tỉnh, Phật tử Nha Trang như chị Sáu, chị Kỳ vào tham dự một xe ca. Có hai linh mục Bình và Dụ là người bà con trong họ. Niệm Phật được yểm trợ bằng loa và điện là bình ắc quy đặt trên xe quan tài đẩy đi. Mỗi người cầm một nén hương. Một đoàn người lặng lẽ từ chùa ra nghĩa trang khoảng một cây số, chỉ có tiếng loa niệm Phật rõ ràng vang xa trong không khí yên tĩnh của buổi sáng miền quê. Tối 30 con chia sẻ, sáng ngày mồng Một di quan. Nội dung chia sẻ về hiếu qua giáo lý Phật dạy. Con lưu tâm rất nhiều là trong tang lễ làm sao đem được an lạc đến cho người còn sống, người tham dự đều biết rõ giáo lý ấy để linh động áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Mọi người còn được hướng dẫn lưu ý tối đa về việc bảo vệ môi trường: không xả rác, thức ăn uống trong tang lễ hoàn toàn chay tịnh, đạm bạc, thiên nhiên và đầy đủ, trang trí giản đơn từ chánh điện đến bàn linh… Như vậy tang lễ không chỉ thuần túy là đau buồn ủ rũ, mà cần biến niềm đau ấy thành chất liệu nuôi dưỡng cả người chết lẫn người còn sống và cuộc đời hiện tại. Từ ấy, các tuần thất, giỗ, nhất là sau năm 1996 thì cúng giỗ hàng năm trở thành ngày quán niệm đều mang tinh thần ấy. Các vị tham dự ngày quán niệm đều là do lòng thương tưởng và muốn tu mà đến. Số người tham dự càng ngày càng đông, càng ngày càng đi vào nội dung thực tập chánh niệm, như con hằng ngày mong ước. Mộ mẹ thật đơn giản, có câu đối:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Anh Tuấn cùng xóm giúp khắc chữ lên tấm xi măng cốt thép đính vào vách mộ bằng đá chẻ hình chữ nhật, được xây xong vài ngày sau đó.

Tiền phúng điếu quý bác ban hộ tự tiếp nhận và chi tiêu. Số vàng mẹ bán đất và nhà còn nguyên, con trao lại cho ban hộ tự sửa chánh điện, con chỉ xin một chỉ mua năng lượng mặt trời sạc bình ắc quy do hợp tác xã thanh lý.

Năng lượng duyên khởi, năng lượng “thương” hồi bé đã cho con cái hướng để hành xử qua sự tiếp nhận những thực tế bấy lâu trong chùa cũng như ở xã hội. Con đã học hỏi và chắt lọc để hình thành.

Biết ơn là được bảo hộ

Năm 1994 con được qua Làng tu học với Thầy Làng Mai và tăng thân, một phần nhờ vào những bức thư thăm viếng vì nhớ ơn sư Tây Linh qua đám tang anh con năm 1974 góp phần vào. Quả là còn biết ơn là còn hạnh phúc mà con được học sau này ở Làng.

Có được tuổi thơ

Nguồn mạch thiêng liêng

Giờ đây, từ lúc vào chùa cho đến 2019, trải qua 52 năm tu học, con mới cảm nhận được rằng, chúng ta có thể có tuổi thơ bất cứ lúc nào trước mọi thăng trầm của cuộc sống. Tuổi thơ rất đẹp này chưa hẳn chỉ thuần túy nhờ vào sự tu học của bản thân, mà còn rất cần nhờ vào năng lượng chở che của mạch sống huyết thống và tâm linh vô thỉ vô chung. Mạch sống này trôi chảy qua mọi ngõ ngách sinh tồn và tiếp nối không ngừng.

Trôi chảy mãi là sự vắng mặt ý niệm vĩnh hằng và đoạn diệt, ý niệm có và không. Chính năng lượng ấy giúp con hình thành cái nhìn tươi sáng trong mọi biểu hiện và ẩn tàng của sự sống giữa trần gian. Cho nên mỗi lần con chợt nhớ đến chiếc áo chữ “Thương” là như có mẹ, có Thầy…, có nguồn mạch của hồn thiêng sông núi đã qua mấy ngàn năm lịch sử. Trên đây là cái nhìn tương tức, chính là cái nhìn của tuổi thơ có được từ lúc còn chú bé cho tới bây giờ. Bây giờ mà rõ nhất là tháng 8 năm 2018 tại Pak Chong, Thái Lan.

Hồi tưởng làm giàu hiện tại

Nay hồi tưởng lại các cơ duyên may mắn có được thì sự may mắn ấy con đã nhận từ vô lượng ân nghĩa, song ở đây con chỉ xin điểm lại những mốc chính mà thôi. Con có một gia đình nhà quê, đầy tình làng nghĩa xóm. Con có mẹ là người giàu năng lượng kiên trì tháo vát giữa những cuộc chiến thảm khốc, trong lúc gia đình chẳng có nhà cửa vốn liếng gì cả mà mẹ vẫn nuôi hai anh em con ăn học đầy đủ. Cho đến lúc vào chùa Tỉnh Hội Quảng Trị, con được sống với quý thầy và tám điệu. Rồi lại gặp được Bổn sư, Thầy đã ân cần giáo huấn từ thuở ban đầu. Sau đó được Thầy cho phép vào sống ở Phật Học viện Báo Quốc, rồi vào Nha Trang. Tại Phật Học viện này bốn năm, với sự giáo dục tận tụy của chư Tôn đức. Đặt biệt ở Nha Trang, Hòa thượng Từ Đàm làm Giáo thọ trưởng, thầy Đổng Minh làm giám học, lại được sự yểm trợ hết lòng của ôn Giám viện Già Lam và Hải Đức nên sự học hành của huynh đệ chúng con về mặt tổ chức rất nghiêm túc và có căn bản ý niệm giáo pháp. Vốn liếng bốn năm học giáo lý ấy giúp con sống vững hơn trong môi trường Từ Đức vào năm 1975. Ở Từ Đức, đạo hữu ban đầu phần lớn người quê Quảng Trị giàu tâm đạo, đã yểm trợ hộ trì đúng mức. Nhờ thế, con đã linh động ứng dụng giáo pháp trong nghi lễ và trong hành trì. Con đã chuyên tâm đi về hướng cùng đạo hữu nắm tay nhau trao đổi ứng dụng giáo pháp vào cuộc sống, lúc ấy tuy đang còn thiếu thốn mọi bề, song mọi người vẫn thực hiện được và chưa bao giờ gián đoạn suốt hơn 45 năm qua.

Đó là sự lưu nhuận đổi thay đi lên của tuổi thơ tươi sáng dần dần đầy ân nghĩa thâm sâu của vô lượng nhân duyên đã nuôi dưỡng thân tâm con.

Nỗi khổ dưỡng nuôi

Tuy vậy, do chưa biết thở, biết đi chánh niệm từng giây phút, nên khổ đau vẫn trỗi dậy, có lúc âm ỉ, có lúc bùng phát đến mức như thiêu đốt tâm can của con.

Nỗi đau này lưu lại bao vết thương sâu nặng trong con, nhưng lại là động cơ thúc đẩy con tu học như một chú điệu nhà quê mới vào chùa từ khi được qua Làng năm 1994.

Qua Làng tu học

Ở Làng, cũng học duyên khởi, tứ niệm xứ, quán niệm hơi thở, vô ngã, vô thường, tương tức như ở Việt Nam. Song Thầy Mai Thôn dạy rất kỹ, rất nhiều lần. Thầy có cách trình bày khéo léo, với ngôn ngữ tươi mới, nhẹ nhàng, sâu lắng. Thầy nhấn mạnh nội dung tương tức ở nhiều lãnh vực: giáo pháp, thân và tâm, con người với con người, con người với sinh môi. Thầy trình bày rõ ràng, khúc chiết cách áp dụng nội dung ấy vào mọi sinh hoạt hằng ngày: “Giác ngộ không rời khỏi rửa bát, lặt rau”.

Nhờ cách giáo dục ấy, lại nhờ tuổi thơ quá khứ giúp con nhận ra, biết cách thực tập từ từ, khiến thân tâm con thanh thản, mỗi ngày mỗi sáng tỏ điều mơ ước lưu tâm trước đây. Đây là tuổi thơ trong sáng lành đẹp nơi con nhờ thừa tự chánh pháp chân truyền.

 

 

Về lại Việt Nam

Sau hơn 2 năm 3 tháng (27 tháng ở Pháp) con trở lại quê hương vào năm 1996. Đến Tân Sơn Nhất, con được mời vào trạm an ninh, lập biên bản, an ninh tạm giữ hộ chiếu.

Trong lúc làm việc, con thấy an tĩnh, có niềm vui tự nhiên phát khởi. Hai ngày sau đúng hẹn, con đem hồ sơ được ký ở Việt Nam cho phép đi Pháp và bản tường thuật đã làm gì, đi đâu ở bên đó, nộp cho an ninh.

Sau khi nghiên cứu, vị công an hỏi con rằng tại sao đi trễ quá lâu? Tại sao cho qua Pháp mà đi Đức, Hoà Lan, Thuỵ Sĩ?

Con trả lời tự nhiên. Có sao nói vậy. Rất thật lòng, nên thấy người con rất thanh thản.

Anh công an mới nói “tôi làm việc này là để bảo vệ người dân trong nước cũng như đi ra nước ngoài”. Nghe vậy, con càng vui hơn, con liền kể cho anh ấy nghe về sự chia sẻ của con ở Làng với nội dung cái lạy làm phát khởi lòng biết ơn tổ tiên đất nước đã bao đời ra sức lập quốc và xây dựng nếp sống ngày một tươi đẹp. Nghe xong, anh ấy nói rằng tôi mong có những người đi ra nước ngoài có tâm như thầy. Anh trao cho con giấy bút, gợi ý cho con viết cảm tưởng sau mấy ngày làm việc. Con đã viết: “Cách làm việc trao đổi của anh đã khích lệ tôi rất nhiều cho việc tu học và xây dựng cuộc sống chung ở quê nhà”.

Con đi xe hơi về Từ Đức, đến chùa đã chiều tối. Đạo hữu đã đông đủ đón chờ. Ai cũng vui. Con chào hỏi tất cả, con cũng rất vui. Vào lễ Phật xong, con xin phép đi tắm rồi ra tiếp xúc với mọi người. Con chia sẻ tổng quát việc tu học trong thời gian ở Pháp và nói một ví dụ chi tiết, đó là thiền hành, giúp cho thân tâm nhẹ nhàng an lạc, lại lưu thông khí huyết, dễ chịu mà tránh được buồn ngủ. Rồi cùng đạo hữu đi thiền quanh chùa, yên tĩnh, mát mẻ.

Từ đó, đêm nào đạo hữu cũng đến làm lễ, đi thiền hành và nghe chia sẻ từ từ về thiền ngồi, thiền lạy, tụng kinh, ăn cơm, làm việc kết hợp với hơi thở có ý thức.

Con rất vui, vì được sống ở miền quê thôn dã cùng với bà con chất phác, chăm làm chăm tu. Hoa trái từ Tân Sơn Nhất theo đó mà lớn lên, vì việc làm lời nói đều hướng về sự thật, rất thực tế, chuyển hoá và trị liệu thân tâm và cộng đồng. Cho đến hôm nay sự chia sẻ thực tập có niềm vui ấy mỗi ngày mỗi phát triển, và lan rộng nhiều nơi vì nhờ có tăng thân khắp chốn.

An Bằng Việt Nam

Bây giờ đi tắm biển, bất chợt thấy đòn gánh mà con liền chấn động. Đó là sự biểu hiện của tuổi thơ mang hướng tương nhiếp tương dung ấy. Từ lâu, sự lưu nhuận của năng lượng mọi cái là nhau, biểu hiện qua chất thương trên chiếc áo nông dân thuở bé, con lại có thêm nhiều cơ may được tưới tẩm liên tục từ thuở vào chùa cho đến lúc qua Làng, mà thời điểm rõ nhất là vào tháng 8 năm 2018, con đã trình bày điều ấy ở bài pháp thoại tổng kết 52 năm tu học vào mùa an cư năm 2018. Câu 41 đến câu 44 ở bài Buông dần triêng gióng con đã viết:

Con tiếp tuệ tương tức

Đường hiếu vẫn mở tung

Con lắng là mẹ lắng

Mạch tiên tổ gia phong

Cái nhìn tương tức là sinh khí biến đòn gánh cũ trở thành một pháp ngữ, nuôi lớn sơ tâm đứa con của mẹ mỗi ngày. Sinh khí ấy là cái tâm thiết tha xây dựng cuộc sống bây giờ ở đây nơi tự thân, nơi huynh đệ, nơi tăng thân, nơi gia đình huyết thống, nơi đất nước và sinh môi theo hướng vô ngã, vô thường, niết bàn.

Hiện Pháp giúp mẹ nuôi con

Hồi tưởng về mẹ là con tiếp xúc với niềm thương ấy lúc mẹ còn sống cũng như lúc mẹ qua đời, trong giây phút hiện tại ở thân tâm con, đứa con của mẹ và ở cuộc sống này. Cuộc sống này cũng là mẹ và con:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Nhờ thế mà sự đầu tư của con thường dồn về giáo pháp dấn thân ngay tại đây. Năng lượng ấy phát khởi nuôi dưỡng con và lớn dần theo năm tháng. Chân trời mầu nhiệm của sự sống hé mở, giúp con ý thức rằng con đang mãi mãi chỉ mới bước được một bước đầu tiên rất khiêm tốn trước sự thật vô ngã vô thường vô lượng vô biên. Ý thức như vậy, giúp con càng cẩn trọng trong từng bước khám phá qua bước chân hơi thở mỗi ngày:

Hơi thở đơn thuần đường thoát khổ

Bước chân địa xúc nẻo giáng trần

Trân quý hai cõi âm dương

Đời con bao phen chìm nổi do sự u mê sâu dày của bản thân, nay một bước khiêm tốn này đã là vô cùng quý báu, con cần hết lòng trân quý mới có sự tiếp tục đi tới.

Có thêm duyên để sống mà tiếp tục thì rất tốt, nếu duyên đến phải chết, thì bước đi hôm nay sẽ che chở bảo hộ cho con. Đó là niềm tin của con đối với Bụt, Tổ, Thầy và huynh đệ gần xa mãi mãi giúp con khám phá không ngừng.

Do vậy, có được 52 năm tu học là một may mắn cho con thừa hưởng thâm ân của Tam Bảo.

Tương tức thực tại nhiệm mầu

Trong mạch sống huyết thống, tâm linh vô lượng, mọi hiện hữu đều là mẹ, là Thầy, là huynh đệ của con.

Ân Thầy hôm sớm đệ huynh
Càn khôn tỏa rạng khai thông suối nguồn.

Quả thực như Thầy đã dạy:

“Cuộc đời như một ảo ảnh, một giấc mộng hay một thực tại nhiệm mầu, điều đó hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, tùy thuộc nơi sự tỉnh thức của bạn”.

(Trích Trái tim mặt trời- Sư Ông Làng Mai)

Hiện pháp đắc an tịnh cư

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 (Kỷ Hợi)

 

 

Buông dần triêng gióng (1)

Thầy Thủ tọa Thích Giác Viên

   1.

Con nhặt đòn gánh cũ

Nơi để rác bên đường

Do chợt nhớ về mẹ

Lòng thương cảm kính thương

 

5.     

Ngày con còn lớp sáu

Chiến tranh ngập máu xương.

Chết sau lưng trước mặt

Say ngủ thở bình yên

 

10. 

Pháo đâu xuyên thủng mái

Nổ già trẻ chịu chung

Đớn đau khô suối lệ

Kêu trời ngoài hay trong?

 

15.   

Nguồn lực nào xui khiến

Con may áo nông dân 

Bao mì đà hết bột

Tự thêu một chữ thương

Mỗi lần mặc áo ấy

Lòng nhẹ nhõm lạ thường

 

20.  

Muốn xuất gia xin mẹ.

Không do dự vấn vương

Ngàn lần con chẳng muốn

Khoác súng ra chiến trường

 

25. 

Mẹ nhìn con lâu lắm

Với đôi mắt tỏ tường 

Một cái nhìn sâu thẳm

Sâu hơn lòng đại dương

Không hề lộ dấu hiệu

Lệ đang nhỏ vào tim

 

30.

Ở chùa con nhớ mẹ 

Xin mẹ chớ vào thăm

Con hình dung nỗi khổ

Đôi quang gánh trĩu vai

Quãng đường dài sỏi đỏ

Lửa lựu đẫm nắng nung

 

35.

Mắt con thành suối lệ

Lệ mẹ đã tuôn dòng

Năm (mươi) hai năm tu tập

Sóng cồn lắng tâm trong

Mẹ hiền con quá vãng (1988)

 

40.

Đã trên ba mươi năm

Con tiếp tuệ tương tức

Đường hiếu vẫn mở tung

Con lắng là mẹ lắng

Mạch tiên tổ gia phong

 

45.

Nay nhìn đòn gánh cũ

Con mẹ lớn sơ tâm

Nguyện chí thành phụng hiến

Sống nếp sống bỏ buông.(2)

 

Ân thầy hôm sớm đệ huynh

Càn khôn tỏa rạng suối nguồn khai thông

 

                                              Hiện pháp đắc an tịnh cư

                                   An Bằng, ngày 16 tháng 05 năm 2019

 

(1) Triêng gióng: Gióng là chiếc quang nhỏ bằng tre hay mây. Gióng là quang, triêng là đòn gánh thường được làm bằng tre. Triêng gióng (quang gánh) là dụng cụ thường dùng của dân tộc Việt Nam, nhất là nông thôn.

Cụ Phan Bội Châu có câu thơ: Một triêng đủng đỉnh hai đầu thúng

(2) Bỏ  buông: câu đối ở mộ mẹ 1988:

                                                                               Trông xác vữa mẹ già chết để lại
                                                                             Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi.

.

   

Nụ cười

(Lời Việt: Sư cô Chân Không dựa theo bài hát Pháp Je souris à l’étoile)

 

Thương tặng các em tôi đã đi cứu trợ lũ lụt

Cười cùng vầng trăng đang lấp lánh trên cao

Cười cùng vầng đông đưa ta ra khỏi đêm sâu

Cười cùng ngày mới đang lên,

cùng tiếng chim lao xao.

Thế gian đang mỉm cười với ta,

ta cũng vui theo.

 

Cười cùng em thơ đang bơ vơ chẳng có ăn

Mười ngày trôi qua mưa tuôn, gạo cơm hết đã lâu.

Buồng chuối sạch từ lâu, nồi sắn cũng cạn khô

Thức ăn chẳng có gì, gạo muối cũng không còn

 

Lòng thầm cầu mong

Ấp dưới có chút cơm

Nhưng nghe: đường cùng sạt luôn,

xe cấp cứu khó lái lên.

 

Người cứu không thể nào lên.

Chỉ còn cách lên núi mà đi,

Gặp sạt lở ráng tránh kiếm lối đi

Nguy hiểm cũng cứ đi…

Ô kìa ruộng lúa còn đâu…

chỉ thấy cả biển khơi

Xà lách, cải làm dưa, hành,

tỏi bán Tết cũng mất tăm…

Ôi, tất cả đã thành mưa,

 

Ngồi mênh mông giữa xóm thôn nhưng như đang giữa biển khơi.

Hồi nào, mới hôm qua là làng xóm ngát tiếng trẻ thơ

Nay sao chỉ thấy biển mù giăng, đường sá mất biệt tăm?

Ôi thế gian đang nghĩ gì khi mưa, gió bão tung hoành

 

Lòng thầm niệm luôn Bồ tát Quán Thế Âm

Chỉ xin một mình con cực khổ đến thế thôi

Bồ tát… ôi… giang tay, và giúp các xóm xa

 

Thế gian đang rất cần nhiều nắng sau cơn mưa…

Rồi một ngày kia khi giá buốt tỏa khắp nơi

Đừng tìm tôi, bạn ơi, không tìm ra,

hình bóng của tôi đâu

Hãy thấy tôi là mưa,

là cả vũ trụ trong vòng tay.

Tôi vẫn múa ca suốt đời cuộc sống nhiệm mầu

 

Rồi một ngày kia có cháu bé mới sinh

Nhoẻn nụ cười yêu, em ôm hết cả thế gian

Rồi bé sẽ ngọt ngào hơn, và bé hát ca luôn

Bé cứ đi, mãi hoài,

múa ca trên sông núi đất Mẹ.

 

Thư cảm ơn

Chương trình Hiểu & Thương năm 2020

Sư cô Chân Không

Kính thưa quý đạo hữu và ân nhân,
Lại một năm nữa trôi qua với nhiều sự kiện và biến cố xảy ra trên thế giới và trên quê hương thân yêu của chúng ta. Bà con đồng bào, nhất là những người sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vừa phải đối diện với đói nghèo, cơ cực, vừa phải chống chọi với đại dịch Covid và bão lụt. Chương trình Hiểu và Thương với sự yểm trợ của quý đạo hữu và ân nhân tiếp tục góp một phần nhỏ của mình để đem những giọt nước từ bi thanh lương đến với đồng bào.

 

 

Chương trình Hiểu và Thương xin chân thành tri ân những bàn tay từ bi, lân mẫn và tấm lòng của quý đạo hữu và ân nhân, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chương trình sẽ không thể nào tiếp tục nếu không có những yểm trợ quý báu này.

Kính chúc quý đạo hữu và ân nhân cũng như quý cô bác, anh chị và gia quyến một năm mới an lành và hạnh phúc.

Báo cáo cứu trợ lũ lụt

Từ ngày 8 tháng 10, mình đi cứu lụt quá sức là nhiều ở ngay thành nội, thành phố Huế. Nhiều chỗ ngập lút đầu nên chỉ dám đi ba chuyến quanh ngoại ô Huế gần gần, như Hương Sơ, v.v. Khi đi những nơi xa như Phong Điền, Lương Mai, các sư cô về báo cáo thấy thương và nguy hiểm cho các sư cô lắm. Nhân viên tiếp cứu của nhà nước mà mất tích 13 người, qua ngày sau 22 người mất tích ở Quảng Trị (trong đó có 2 vị tướng). Vậy mà hôm sau ba đoàn đi cứu trợ có quý thầy Từ Minh, Pháp Hương, quý sư cô Như Hiếu, một đoàn đi Quảng Trị, một đoàn đi Phong Điền, Thừa Thiên, rồi hôm sau cũng lại đi Thừa Thiên nhưng ra đảo Ma Nê và Tân Bình. Ôi chao là nguy hiểm! Mới hôm trước là đường đi và ruộng, nay nước lên có cảm tưởng là đi giữa biển nước mênh mông. Những vùng này là thương nhất, người lớn trẻ con đều sống bấp bênh trên nước. Còn nhiều nơi lũ lụt ở Thừa Thiên, còn nhiều nơi lắm, khổ lắm.

 

 

May mắn là mình có gửi đi trực tiếp 100 triệu tiền mặt cho thầy Huyền Diệu (đệ tử Ôn Khế Chơn, Thiên Minh, Huế) ở Phong Điền. 100 triệu nhờ Ni sư Như Minh ở Huế và 100 triệu nhờ Ni sư Diệu Đàm tạm lo giúp Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc.

Nhưng bình tâm mà xét thì lụt và đói nhiều nhất là Phong Điền, Thanh Hà, Quảng Điền, Thành Trung thuộc Thừa Thiên nên Ban Cứu Trợ đã giúp anh em Tiếp Hiện HIỂU & THƯƠNG ở Thừa Thiên lo đi cứu cấp Thành Trung, Thanh Hà (quê bên chị của Sư Ông Làng Mai).

Theo hướng dẫn của thầy Từ Minh, sư cô Chân Không và thầy Từ Hải nhờ thư ký là sư cô Trăng Thương Yêu ghi rõ ràng như sau:

Chương Trình Từ Thiện Hiểu & Thương của Từ Hiếu và Diệu Trạm cứu trợ lũ lụt 2020

1. Trưởng ban cố vấn: Ni trưởng Thích Nữ Chân Không
2. Phó ban cố vấn: Thầy Chân Pháp Ứng, thầy lớn ở xóm Thượng, Làng Mai
3. Ban điều hành: Thầy Từ Hải, thầy Pháp Nhiệm, sư cô Chơn Tâm, sư cô Phát Nghiêm

Thư ký: Sư cô Trăng Thương Yêu

Cứu trợ đợt một

Tại Quảng Bình

Gồm có hai đoàn cứu trợ đi Quảng Bình với 10.000 phần quà.

– Đoàn thứ nhất do thầy Từ Hải, Tổ đình Từ Hiếu hướng dẫn cùng với các sư cô Diệu Trạm.
– Đoàn thứ hai do thầy Pháp Ứng từ xóm Thượng, Làng Mai hướng dẫn cùng với các sư cô Diệu Trạm.

Cả hai đoàn chia nhau leo núi cao đi đến những thôn làng sạt lở phía trên núi Bản Rục, xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa, huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, huyện Lệ Thủy rồi Tuyên Hóa, xuống các xã đồng bằng bị lũ lụt. Đoàn cũng niệm Bồ tát Quán Thế Âm, hát những bài tu học thật thấm thía và vui thêm cho đồng bào. Đoàn leo núi thăm viếng từng thôn hẻo lánh bị lấp vùi, thật tận tụy. Nhờ vào tình thương và sự đóng góp tài chánh của các anh chị em cùng khắp năm châu và cả những chùa cùng khắp trên thế giới gửi về tận tay đồng bào các huyện lũ lụt nặng nề nhất Quảng Bình.

 

 

Tại Quảng Trị

Có một đoàn đi Quảng Trị với 10 nghìn phần quà do quý thầy Pháp Hương, Mãn Thành, sư cô Chơn Tâm cùng ba sư cô khác ở Diệu Trạm, cũng leo núi rất hiểm nguy, gởi quà cứu trợ đến các thôn làng. Leo núi cứu trợ rất vất vả, nhất là vùng huyện Đakrông, Hướng Hóa, Quảng Trị.

Tại Thừa Thiêncũng có hai đoàn đi cứu lụt:

–  Đoàn thứ nhất do thầy Pháp Nhiệm, quý sư cô Diệu Trạm cứu trợ 300 phần quà ở A Lưới.

–  Đoàn thứ hai đem 250 phần quà do tăng thân Hiểu và Thương Thừa Thiên gồm anh Lê A, Nguyễn Nam, anh Sum, chị Chân Hỷ Hạnh, chị Cecile Phạm, nhóm Pháp Việt giúp trẻ em mồ côi Việt Nam và vợ chồng chú Minh, con trai út của Bác Em (chị ruột của Sư Ông Làng Mai). Vợ chồng chú ra Huế dự hiệp kỵ ba mẹ Sư Ông tại Diệu Trạm nên cùng được đi phát quà ở Nam Đông Hương Hữu cheo leo, rất vất vả.

 

 

Cứu trợ đợt hai:

Quảng Nam và Quảng Ngãi

Hai đoàn cho Quảng Bình do quý thầy Pháp Ứng và Từ Hải hướng dẫn phát quà, ăn nghỉ tại chỗ luôn 10 ngày nên đa số khá mệt rồi.

Sau hai chuyến đi dài ở Quảng Bình và Quảng Trị, thầy Pháp Ứng vẫn cố gắng đi Quảng Ngãi và Quảng Nam thăm nạn nhân trung tâm bão số 9 tại Quảng Ngãi Thứ Bảy, ngày 7 tháng 11, lúc 4 giờ sáng, vài thầy ở chùa Từ Hiếu và vài sư cô ở ni xá Diệu Trạm sẽ hướng dẫn chuyến đi vì thầy Pháp Ứng, sư cô Chơn Tâm đi Quảng Trị 10 ngày về khá vất vả. Tuy khá mệt nhưng vẫn quyết định đi Quảng Ngãi giúp nhiều ấp thật nghèo ở huyện Mộ Đức và cùng giúp với nhóm chị Cecile Phạm Phi Long cho các thôn trên núi sạt lở ở Nam Giang, Tây Giang. Các sư cô Chơn Tâm, Tại Nghiêm lại đi sau chuyến dài ở Quảng Bình và Quảng Trị.

 

 

 

 

Ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, mình chỉ đủ tiền giúp 300 cái nhà hoàn toàn tan nát. Mỗi gia đình 800.000 đồng VN (tương đương khoảng 38 Euro cho xây lại một mái nhà của 7 người trong gia đình mà nóc vách đều không còn). Họ vẫn chưa có điện để dùng, chưa có mùng mền và thức ăn, nhưng chắc cũng sẽ có đoàn cứu trợ khác vì mình đã lỡ hứa đi phát ở Quảng Nam: 400 phần quà, 300 phần thị xã, 400 phần quà ở hai nơi là Cà Dy và Tây Giang.

 

 

13 giờ ngày 7 tháng 11 mới tới Đức Phong, Mộ Đức. Sư cô Chân Không dặn cho thêm 10 gia đình phát sinh mỗi nhà một triệu. Tới nơi hiểu ra mới thấy không đến nỗi nào. Họ có cơm ăn, chỗ tạm trú trong khi chờ đợi cứu trợ.

 

 

Cứu trợ trẻ em nghèo ở vùng núi:

Sư cô Trăng Thương Yêu nói so với Quảng Trị, vùng núi sạt lở, trẻ em đen đủi nghèo xác xơ. Bố mẹ mỗi cháu chỉ cần nộp 10.000 đồng Việt Nam cho bữa ăn trưa lúc 10 giờ 30, bữa lỡ lúc 13 giờ. Các cháu ngủ dậy ăn bữa lỡ, chơi và hát, 15 giờ ăn cháo chiều rồi về nhà ngủ. Nhà nước mời ba mẹ các em cho con đi học để biết chữ, biết mẫu giáo. Ban đầu chương trình Hiểu và Thương tài trợ 10.000 đồng cho bữa ăn sáng cho ba ấp, tất cả là 300 cháu. Người dân tộc thiểu số không quen cho con đi học vì bị mất cánh tay giữ em mà còn đóng tiền ăn tới 10.000 đồng. Nhưng trẻ của ba ấp đầu đều đã được đi học, được uống sữa lúc 13 giờ, ăn củ khoai trước khi về nhà, được cô giáo rửa tay chân, thích quá nên ấp 4, ấp 5, ấp 6 đòi đi học mà không chịu trả tiền. Sư cô Chân Không nói Sư cô không đủ tiền vì đã nuôi nhiều trẻ rồi. Các cô giáo tùy nghi mà sử dụng số tiền 200 đô Mỹ lúc ban đầu Sư cô cho ba lớp đó, thế là họ xài cũng chỉ có 200 mỹ kim cho 6 lớp. Rồi 3 ấp chót của A-vao cũng đòi đi học mà cũng không đủ sức đóng tiền cơm. Vậy là chỉ riêng A-vao mình đã nuôi mỗi tháng 900 em, mỗi em chỉ có 3000 đồng một bữa ăn. Các xã Nam Đông cũng đang kêu gọi chỉ có 3000 đồng VN một ngày cơm cho các cháu. Tóm lại năm 2020, Làng và Maitreya Fonds tài trợ bữa ăn trưa cho 5966 cháu, chỉ có 3000 đồng một cháu mỗi ngày (thay vì 10.000 đồng).

 

 

 

 

Thưa quý thân hữu và ân nhân

Mọi đóng góp cho chương trình Hiểu và Thương, xin gửi về các địa chỉ hoặc tại các ngân hàng như sau:

Tại Việt Nam, miền Trung và Trung Bắc

Tài khoản dưới tên: Cao Thị Mỹ Hà – VIETCOMBANK chi nhánh Hùng Vương Huế TK tiền Việt Nam số 0161001757893
TK tiền Euros số 016114175 8236
TK tiền USD 0161 37 175 8235

SWIFT Code BFTVVNVX 016

Tại Việt Nam, miền Tây Nam

Tài khoản dưới tên: Đỗ Thị Hồng Vân
Số tài khoản: 0421000419439, ngân hàng Vietcombank
chi nhánh Phú Thọ, Tp Hồ Chí Minh E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Số tài khoản: 0421000419439, ngân hàng Vietcombank
chi nhánh Phú Thọ, Tp Hồ Chí Minh E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Tại Mỹ

Địa chỉ: Thich Nhat Hanh Foundation
(Chương trình Giọt Nước Cánh Chim – Love and Understanding), Deer Park Monastery
2944 Melru Lane, Escondido CA 92026 USA Email: info@tnhf.org
https://tnhf.org/donate

Tại châu Âu

Địa chỉ: CBZ Village des Pruniers, Banque CREDIT AGRICOLE
IBAN FR76 1330 6003 4242 9011 9901 196 BIC AGRIFRPP833

Tại Đức

Maitreya Fonds e.V. – Spenden-Konto: Munchner Bank e. G.
Konto-Nr.: 2520010 – BLZ: 701 900 00
IBAN: DE 92701900000002520010

BIC: GENODEF 1M01
E-mail: hilfe@maitreya-fonds.de

Tại Hà Lan

Stichting Leven in Aandacht
Dorpsstraat 25, 7221 BN Steenderen, Holland IBAN: NL52INGB0006839039
E-mail: administratie@aandacht.net

Kính mến và tri ân,

Sư Cô Chân Không.

 

Rạng nẻo đường vui

Sư cô Chân Trăng Mây Lành

 

Đường đồi núi quanh co hiểm trở

Nhưng ta thấy ý nguyện thẳng băng

Gửi thiện tâm của mạnh thường quân

Tới bà con đồng bào bão lũ.

 

Dù ngoài kia gió mưa vần vũ

Nhưng trong lòng rực rỡ nắng lên

Nghe trong ta rơi rụng ưu phiền

Vùng đất tâm trời quang mây tạnh.

 

Đây: gạo, chăn, mền, quần áo lạnh

Và tịnh tài, dù một chút thôi

Kèm tình thương làm ấm lòng người

Lân mẫn nhau những khi khốn khó.

 

Nhìn bà con nhận quà hớn hở

Chắp tay hoa bày tỏ biết ơn

Trong ánh mắt vơi bớt nỗi buồn

Niềm vui rạng những ngày mưa lụt.

 

Con cũng chắp tay tri ân Bụt

Và mọi người ở khắp bốn phương

Gieo mầm san sẻ, sống yêu thương

Con đường Bụt ngàn xưa mở lối.

                      (Cảm nhận sau chuyến đi cứu trợ ở Quảng Ngãi)

 

Bước ra để thấy

Sư cô Chân Trăng Khiêm Hạ

Huế vào những ngày mưa bão…

Con sinh ra và lớn lên trên vùng đất miền Trung, nhưng dường như con chưa bao giờ thực sự biết thế nào là lũ lụt, thế nào là ngập nhà và mất hết tất cả sau mưa lũ, gió bão. Cho đến những ngày này, khi tất cả quý thầy, quý sư cô ở Từ Hiếu và Diệu Trạm chúng con đặt hết tâm sức và thời gian đem tình thương đến khắp nơi trên mảnh đất miền Trung bé nhỏ (Huế, Quảng Trị, Quảng Nam…), con mới nhận ra sự thiếu sót của mình. Hai mươi lăm năm sống trên đất Huế, nhưng đây là lần đầu con cảm nhận được nỗi đau do lũ lụt và gió bão gây ra cho người dân quê mình. Và lần này con được bước ra, bước ra để thấy trước mắt mình là những ngôi nhà đang chìm trong biển nước mênh mông…

 

 

Người dân miền lũ những ngày này phải tập “sống chung với lũ”. Những con đường đi học ngày nào giờ đây là nước. Những cánh đồng lúa xanh um ngày nào giờ đây là biển cả. Bèo trôi, lúa trôi, động vật trôi và bao nhiêu là rác cũng đang bập bềnh trên mặt nước. Năm nay lụt to, mà chẳng ai nghĩ là lại to đến vậy nên hầu như chưa có sự chuẩn bị gì hết. Nên chi, mất mát nhiều hơn, đau thương cũng nhiều hơn…

Nhớ hồi còn đi học con được nghe các bạn kể về mùa mưa lũ. Nào là nhà các bạn đều bị ngập đến nửa căn, sách vở thì ướt sũng, phải đợi cái nắng đầu tiên ló dạng, mang ra phơi thì mới có sách vở để đi học trở lại. Gia súc, gia cầm của nhiều gia đình có thể chết hết. Với cái đầu non nớt, con đâu thể hình dung được những tổn thất lại lớn đến như vậy. Con chỉ thấy vui với những con nước, vui với những trò chơi mùa lụt. Con đâu nghĩ rằng chống chọi với lụt lại khó khăn, đau thương và mất mát quá nhiều như vậy. Con thật ngây thơ.

Cho đến năm nay, khi đã là một người xuất sĩ, con đã lớn hơn, đã yên hơn, được bước ra và nhìn rõ, con mới thấy những gì đang xảy ra quanh mình trong mùa nước lũ. Và con thấy mình may mắn quá. Con có đủ cơm ăn ba bữa, áo quần khô ráo, không phải lo lắng gì cả. Con thực sự thán phục ý chí và nghị lực của người dân quê. Phải tập sống chung an lạc với những gì thiên nhiên mang lại, năm này qua năm khác. Họ vẫn chấp nhận làm lại từ đầu với những gì còn lại sau cơn lũ, dù biết rằng những gì mình tích góp được trong cả năm qua bây giờ chẳng còn gì. Nhìn những con người nơi đây, con rất khâm phục sự kiên cường và mạnh mẽ của họ. Mất người thân, mất hoa màu, mất hết những gì họ đã dành dụm bao năm. Con người miền Trung là vậy. Họ luôn cố gắng đứng lên, gạt đi nỗi đau chồng chất trong tâm hồn lẫn thể xác để gầy dựng lại mọi thứ, gầy dựng lại cuộc sống cho ngày mai.

Sau những ngày mưa bão, con được làm vườn lại. Mảnh vườn xanh tươi ngày nào nay trơ ra sỏi đá. Rau bị dập nát và úng gần hết. Nhìn cảnh hoang tàn ấy con mới hiểu rằng thế nào là mưa thối đất, câu nói thường dùng của bao người dân miền Trung. Con tự hỏi: “Sao họ có thể chịu nổi khi mọi thứ lại trở về con số không như vậy?”. Mọi thứ mất hết chỉ sau những ngày mưa to gió lớn, bão lũ hoành hành.

 

 

Bước ra để thấy và để trân quý những gì mình đang có. Chỉ cần một ánh đèn nhỏ sáng lên cho những người dân vùng ngập lụt, hay chỉ một bát cơm nóng thôi đã là quý giá, đã đủ làm họ hạnh phúc rồi. Điện cúp, nước cúp, gói mì trên tay nhưng là để ăn sống, chắt chiu chút nước sạch hiếm hoi để mong chờ ngày nước rút. Nhưng đến bao giờ? Còn con, con đang có tất cả những nhu yếu phẩm cơ bản mà một con người đang cần.

Ra khỏi vùng nước nổi, xe chúng con đang thẳng tiến lên đồi để về lại chùa. Trời vẫn còn đang mưa, cây cối còn ngả nghiêng theo từng đợt gió, hai bên đường nhà cửa như vẫn còn đang ngủ. So với vùng nước lụt con vừa đi qua thì nơi đây vẫn còn khô ráo lắm. Con thấy hạnh phúc khi ít ra vẫn còn những nơi cao ráo để khi cần thiết mọi người có thể lên đây tránh lũ. Những ngày khó khăn như vầy mới thấy cái tình được biểu hiện rõ hơn, mới thấy thấm câu tục ngữ “lá lành đùm lá rách” là như thế nào.

Khi trở về, con lại được nghe thêm các câu chuyện về những nỗi đau mà người dân phải gánh chịu mỗi ngày được quý sư cô, sư chị, sư em kể lại từ các chuyến đi khác. Mọi người lại có thêm động lực để ngày mai tiếp tục nấu cơm cứu trợ, tiếp tục lên đường.

Chuyến đi hôm nay đã đem lại cho con thật nhiều ý nghĩa. Một ngày con không thể nào quên. Con đã cho mình cơ hội được làm điều mà con luôn ấp ủ trong trái tim: “Đi để thấy, để cảm nhận, để hiểu và thương thực sự”. Nhiệt huyết tuổi trẻ không cho con lùi bước. Chỉ có một con đường là đi tới.

Những trải nghiệm thực tế này cho con thấy rõ và vun bồi thêm niềm tin vào con đường mình đã chọn. Rằng đây là đạo Bụt dấn thân, đạo Bụt đi vào cuộc đời. Và cứ thế mỗi khi chuyến đi thực tế được ghi lên bảng thông tin là mọi người đều nhanh tay đăng ký.

Con cảm ơn Bụt, Tổ; cảm ơn quý thầy, quý sư cô đã cho chị em chúng con cơ hội được bước ra, được tiếp cận và thấy rõ hơn con đường của mình.

Bước ra để thấy, để cảm nhận, để trân quý hơn những gì mình đang có.

 

Hạnh duyên

Sư cô Chân Định Nghiêm

Vào mùa đông năm 2013-2014, sư em Uyển Nghiêm là chị lớn trong ban chăm sóc của xóm Mới. Hôm đó gần đến Tết rồi, các anh chị em ngồi chơi và bàn với nhau về chương trình Tết. Có một thầy nghe nói sư em giỏi tập kịch nên đề nghị sư em tập cho các chị em một tác phẩm của Sư Ông để đóng cho văn nghệ Tết. Nhưng xưa nay các thầy, các sư cô cũng đã đóng hết các tác phẩm của Sư Ông rồi! Sư em suy nghĩ hoài mới nhớ đến vở kịch Cậu Đồng. Sư em dự định đi xin Sư Ông kịch bản để tập nhưng hôm ấy, vừa mở máy đọc sách Kindle ra thì lại thấy đúng tác phẩm này đã có ngay trong máy. Sư em mừng quá! Vài ngày sau, khi được gặp Sư Ông, sư em bèn thưa:

– Bạch Sư Ông, Sư Ông đã từng viết một vở kịch tên Cậu Đồng phải không Sư Ông?

-Đúng vậy, thật ra câu chuyện đó xuất xứ từ một tác phẩm của Pháp. Nhưng khi thầy tập cho các em trong Gia đình Phật tử, thầy làm cho nó giống với hoàn cảnh Việt Nam ngày xưa. Mà vì sao con hỏi câu này vậy?

– Bạch Sư Ông, cho văn nghệ Tết năm nay, con còn đang phân vân không biết nên tập kịch Một bó hoa đồng hay Cậu Đồng.

-Tập Cậu Đồng đi con – Sư Ông trả lời ngay không cần suy nghĩ. Nhưng cuốn đó xưa lắm rồi, tụi con có để tập không?

– Bạch Thầy, con đã tìm ra được rồi ạ.

-Ủa, sao con hay vậy?Con kiếm ra được ở đâu?

– Bạch Thầy, ở trên máy Kindle của con.

Thế là về lại xóm Mới, sư em bắt đầu in kịch bản và tuyển chọn diễn viên ngay. Cậu Đồng là nhân vật chính trong vở kịch. Cậu thường lên đồng và làm như có đức Ông nhập vào cậu để dạy bảo đủ điều. Ông Phán, một ông nhà giàu cuồng tín, tôn sùng cậu Đồng, xem cậu là người đức độ nhất và rước cậu về nhà sống chung. Trong khi đó, trừ mẹ ông Phán, cả gia đình ông đều biết rõ bộ mặt đạo đức giả và gian tà của cậu Đồng nhưng họ có nói gì thì ông Phán cũng không tin, trái lại ông còn la rầy cả nhà là bất kính, phạm thượng với thần thánh. Ông Phán nghe lời cậu Đồng đến mức ông sắp hủy bỏ hôn ước của đứa con gái một của mình để ép gả cho cậu Đồng, rồi đuổi đứa con trai duy nhất của ông ra khỏi nhà. Chưa hết, ông còn ký giấy tờ để giao hết nhà cửa và tài sản của ông cho cậu Đồng. Cho đến một hôm, ông Phán chứng kiến cảnh cậu Đồng tán tỉnh vợ mình mà không hề sợ Thánh quở phạt hành động bất chính đó. Ông giận quá, đuổi cậu Đồng ra khỏi nhà. Nhưng oái oăm thay, cậu Đồng lại đuổi ngược ông đi vì nhà cửa ông đã ký giao hết cho cậu rồi. May quá, ông em vợ của ông Phán trước đó đã tình cờ thấy được tờ giấy giao tài sản nên đã tráo với tờ giấy giả. Nhờ vậy mà ông Phán và cả gia đình thoát nạn!

Đầu tiên, sư em Uyển Nghiêm đi mời sư chị Hạnh Nghĩa đóng vai cậu Đồng.

– Em cho chị vai gì được được một chút, chị đã xấu rồi mà sao em lại bắt chị đóng vai ác nữa? – Sư chị nhăn nhó phản đối đóng vai chính.

-Vở kịch này mà không có chị đóng thì coi như bỏ. Thôi, chị không chịu đóng vai chính thì chị cũng phải đóng một vai khác mới được chị nờ.

Sư em năn nỉ ỉ ôi một hồi thì sư chị đồng ý đóng vai mẹ ông Phán.

Sau đó sư em lại đi mời sư em Phẩm Nghiêm. Trong thời gian chuẩn bị Tết, công việc ngút ngàn. Nào là dọn dẹp chùi rửa khắp xóm, nào là nấu ăn, nào là đi mua sắm Tết, nào là gói bánh chưng, bánh tét, nào là đốn tre chuẩn bị dựng cây nêu, xây cổng cho hội chợ, v.v. Sư em Phẩm Nghiêm lại có tánh ôm đồm nên chuyện gì cũng phụ. Vì vậy, khi nghe sư chị Uyển Nghiêm nhờ đóng một vai, sư em trả lời rất nhanh gọn để đi chấp tác tiếp:

– Ok, chị. Chị đưa kịch bản cho em coi sớm để còn tập nữa- Sư em Phẩm Nghiêm cười hề hề rồi biến mất.

Sư em Uyển Nghiêm đi mời tiếp sư chị Dung Nghiêm, các sư em Phương Nghiêm, Hiểu Nghiêm, Chỉnh Nghiêm, Quế Nghiêm và Trăng Chùa Xưa. Hầu hết các sư em đều hoan hô ủng hộ. Người thì nhận đóng vai con Sen, người thì đóng vai con gái, con trai ông Phán, người thì đóng vai ông Hoài – em vợ ông Phán, cảnh binh, v.v.

Đến sư cô Tuệ Nghiêm, sư cô hỏi lui hỏi tới rất kỹ về vai mà sư cô sẽ đóng:

–  Không còn ai khác đóng sao em? – Sư cô lưỡng lự.

–  Vai chọn người sư cô à! – Sư em Uyển Nghiêm trả lời nhanh nhảu

–  Ghê vậy đó! Thôi được rồi, chị đồng ý.

Sư em Uyển Nghiêm lại đi kiếm tôi. Vừa nghe sẽ có vở kịch Cậu Đồng cho văn nghệ Tết năm nay, tôi vui quá. Tôi đã từng nghe nhiều lần đến vở kịch này mà chưa bao giờ thấy “mặt mũi” tác phẩm như thế nào. Sư Ông đã phóng tác từ tác phẩm Le Tartuffe của Molière, một đại văn hào Pháp của thế kỷ XVII mà bất cứ học sinh nào bên Pháp cũng phải học để thi tú tài. Tôi hồ hởi phấn khởi, tán thán sư em có ý hay quá. Đây cũng là cơ hội ngàn vàng để tôi và các chị em được biết đến vở kịch này. Tôi hoàn toàn yểm trợ sư em, vì vậy khi sư em rủ tôi đóng một vai, tôi nhận lời ngay và cũng chẳng quan tâm hay thắc mắc mình sẽ đóng vai nào. Được các sư em cho đóng một vai trong vở kịch này là tôi đã mừng lắm rồi.

Dầu cho phòng ốc ngổn ngang, chưa kịp dọn dẹp cho Tết, chúng tôi cũng bỏ hết mọi việc sau lưng để đi tập kịch được ba lần. Trong căn phòng Dodo ấm cúng bên lò sưởi củi, “bà bầu” Uyển Nghiêm nướng hạt dẻ cho mọi người ăn, còn tôi thì nấu sô-cô-la nóng để các “kịch sĩ” thưởng thức và có nhiều năng lượng mà tập. Đây là những giây phút vui nhất trước ngày Tết và cũng là cơ hội để các chị em chúng tôi khám phá thêm những tính cách của mỗi chị em mà xưa nay chưa ai thấy trong đời sống hàng ngày. Chưa bao giờ tôi thấy sư em Chỉnh Nghiêm nhí nhảnh như thế! Sư em Hạnh Nghĩa thì nhập vai khỏi nói. Tôi đóng cũng nhập vai lắm chứ! Lúc tôi liếc mắt tán tỉnh bà Phán, các sư em “hết hồn” luôn! Chỉ có sư em Phẩm Nghiêm tập làm ông Phán mà cứ bị đạo diễn chê hoài. Lúc ông Phán chứng kiến cảnh cậu Đồng tán tỉnh vợ mình, ông Phán nổi giận đùng đùng và sẽ nắm áo xách cổ cậu Đồng lên. Nhưng sư em Phẩm Nghiêm không dám túm cổ xách tôi lên! Cứ bị chê hoài, sư em Phẩm Nghiêm nổi bực:

– Không cần tập, cứ để đó rồi vài bữa em đóng cho mà xem!

Vào 30 Tết, như hằng năm, đại chúng các xóm tập họp tại xóm Mới để đi thiền hành rồi nghe Sư Ông đọc thơ, bình thơ. Chiều hôm đó, Sư ông giảng về những phong tục Việt Nam trong đó có đốt vàng mã, lên đồng v.v. như để giúp cho đại chúng hiểu thêm về vở kịch Cậu Đồng trong buổi văn nghệ sắp tới. Sau đó đại chúng ngồi thiền đón giao thừa theo giờ Việt Nam. Đúng 18 giờ tối bên Pháp, nghĩa là 00 giờ ở Việt Nam, đại chúng bước sang năm mới với ba hồi chuông trống Bát nhã, một thời kinh và khấn lạy tổ tiên. Làm lễ xong, đại chúng ăn tiệc đầu năm rồi xem văn nghệ.

 

 

Hôm đó, Sư Ông bị trúng gió nhưng vẫn đi xem kịch. Lần đầu tiên, mà cũng là lần độc nhất, Sư Ông tập cho nhóm gia đình Phật tử diễn vở kịch này, tại nhà hát ở Cầu Đất, là vào dịp Tết đầu năm 1952. Lúc đó Sư Ông còn là một sư chú, mới có 25 tuổi. Mãi cho đến hôm nay, 62 năm sau, hơn nửa thế kỷ, Sư Ông mới xem lại vở kịch này.

Thiền đường Trăng Rằm chật kín không khác gì một nhà hát lớn. Các thầy, các sư cô chậm chân một chút là phải đứng quanh ngoài cửa sổ. Tất cả các diễn viên đều đã có mặt sẵn sàng, chỉ có tôi là vẫn còn loay hoay trong phòng để chuẩn bị mấy bao lì xì cho các sư em sắp đến xông đất. Ngoài thiền đường, sư em Biểu Nghiêm đang nôn nóng đợi tôi để hóa trang. Sư em đợi không nổi nữa, phải chạy vào tận phòng để kéo tôi ra. Vừa nghe Sư Ông đang ngồi ngoài thiền đường đợi xem kịch, tôi hốt hoảng, thả xấp lì xì xuống đi theo sư em. Tôi bỏ quên lại cả cái đãy trong đó có kịch bản, phòng hờ để ôn lại vào phút cuối.

 

 

Đây là một vở kịch lồng tiếng. Thầy Pháp Độ vừa cất lên giọng Bắc xưa, đặc sệt của thầy là Sư Ông đã xoay người ra sau nhìn quanh đại chúng. Thầy đã cố ý ngồi trốn trong một góc thiền đường, ấy vậy mà vẫn không trốn được cặp mắt của Sư Ông.

Khi nãy, thấy tôi đến trễ vào phút cuối, “bà bầu” Uyển Nghiêm thấy nghi nghi nên đã chui xuống gầm bàn ngay chỗ tôi diễn để nhắc tuồng. Đến lúc diễn trên sân khấu chúng tôi mới thấy đồ hóa trang của nhau. Sư cô Tuệ Nghiêm mặc áo làm bà Phán rất yểu điệu và sang trọng. Sư em Hạnh Nghĩa mặc áo dài đóng vai bà cụ ông Phán, vái lạy than khóc dữ dội, suýt nữa là áo xống hóa trang bị tuột luôn! Sư em Quế Nghiêm trong vai Thu Hương, con ông Phán với cái bím tóc hết sức hiền từ và ngoan ngoãn. Ông Phán được sư em họa sĩ Tuyết Hoa điểm bộ râu trên mặt làm cho ông lại càng thêm vẻ giàu và ngố.

 

 

Tôi đóng vai cậu Đồng, hơi bị khớp trước mặt Sư Ông và khán giả nên không dám “tán tỉnh” bà Phán nhiều quá, tôi giảm đô xuống 50%. Ấy vậy mà ông Phán nổi giận đùng đùng, túm cổ áo kéo xốc tôi lên. Còn con Sen thì tỏ vẻ xem thường và miệt thị tôi không còn chỗ nói, qua cái cách cô ấy thảy cái khăn xuống rồi nguẩy mặt đi. Sư Ông chăm chú xem vở kịch từ đầu đến cuối.

 

 

Hôm sau, các sư em mang cơm dâng Sư Ông ở Sơn Cốc. Vừa thấy sư em Phẩm Nghiêm từ xa, Sư Ông đã lên tiếng: “Ông Phán qua rồi!”. Sau bữa cơm, trước ly trà nóng, Sư Ông cười tủm tỉm trong khi lắng nghe các sư em bàn tán, bình phẩm từng diễn viên. Sư Ông hỏi sư em Phẩm Nghiêm:

– Ai vẽ râu cho con?
-…
-Lúc con nắm cổ áo sư cô Định Nghiêm, con nghĩ gì?
Sau một lúc lâu, Sư Ông lại nói:
– Sư cô Định Nghiêm chưa biết lên đồng.

Đúng rồi! Đạo diễn nói tôi phải rùng mình lên khi lên đồng thì tôi cứ rùng, có người nói tôi giống bị điện giật. Mà hình như trong chúng tôi không có ai rành về chuyện này, mà cũng chẳng có ai lên mạng tìm hiểu thêm để chỉ cho tôi. Mỗi lần tập đến đoạn đó, mọi người không có gì để bàn bạc nên chỉ lướt qua thôi.

Từ thời làm sadi, tôi cũng thường hay đóng kịch, nhưng đây là vở kịch khiến tôi vui và ấn tượng nhất. Các chị em tôi có ngờ đâu, đó là vở kịch đón xuân cuối cùng mà Sư Ông ngồi xem một cách thích thú khi chưa ngã bệnh.

Một buổi sáng yên tĩnh có nắng ấm cách đây gần hai năm, trong thời gian thị giả Sư Ông ở Huế, tôi gặp hai dì cháu đến xin đảnh lễ Sư Ông. Sau khi thăm hỏi một hồi, tôi mới biết đây là cô Thành, tức Phương Hải, người đã từng được Sư Ông dạy đóng vai con Sen năm xưa. Cuối năm 1951, Sư Ông, lúc bấy giờ còn là chú Nhất Hạnh, được thầy Đức Thiệu, trụ trì chùa Viên Giác ở Cầu Đất mời lên mở một khóa giáo lý mười lăm ngày tại đó. Thầy Đức Thiệu đã từng là bạn học của chú Nhất Hạnh tại Phật học đường Báo Quốc ở Huế, là đệ tử lớn của thầy Trí Thủ.

Lớp giáo lý có chừng ba mươi người, trong đó có những người rất trẻ và bé Thành là một trong những người trẻ ấy. Cứ mỗi tối sau giờ cơm chiều, các em, các bác lên chùa để học giáo lý. Suốt trong hai tuần không có ai vắng mặt. Chú Nhất Hạnh cưng nhóm học trò này của chú lắm. Tất cả các học viên nam được chú đặt tên bắt đầu bằng chữ Đức, và tất cả các em nữ được đặt tên bắt đầu bằng chữ Phương. Cô Phương Nguyên sau này đã trở thành Sư bà Như Lý, Ni trưởng chùa Long Hoa. Bé Thành thì được tên Phương Hải. Cuối khóa, mỗi em đều viết một bài và Tạp chí Liên Hoa đã xuất bản văn tập kỷ niệm ấy.

Xong lớp giáo lý này, thầy Đức Thiệu mời chú Nhất Hạnh ở lại thêm hai tuần nữa để ăn Tết trước khi về Sài Gòn. Mỗi tối, các em, các bác lại tiếp tục lên chùa để tụng kinh rồi vừa nghe chú kể chuyện vừa hơ tay sưởi ấm bên bếp lửa hồng trước cái lạnh mùa đông miền cao nguyên. Mỗi sáng, họ lại nối gót chú thiền hành lên đồi trà ở phía sau chùa Viên Giác để tắm mình trong hương trà ngào ngạt. Từ trên đồi nhìn xuống, bên trái là đồn điền trà của Pháp, bên phải dưới phố là nhà thờ. Con đường chính và thôn xóm, tất cả đều chìm trong sương mù và chầm chậm lộ hình dưới ánh nắng ban mai.

Thấy các em trẻ trong lớp này có rất nhiều năng khiếu về kịch nghệ, chú Nhất Hạnh tập cho các em vở kịch Cậu Đồng với rất nhiều thích thú. Khi còn đi học theo chương trình Pháp ở trường tư thục Vương Gia Cần tại Sài Gòn, chú đã có cảm hứng phóng tác và Việt hóa vở kịch Le Tartuffe của Molière. Bấy giờ mỗi chiều, chú đi bộ từ chùa Viên Giác xuống phố tập kịch cho các em. Chú chọn cho bé Phương Hải vai con Sen. Bé nũng nịu than phiền:

– Thưa chú, sao chú không cho con đóng vai gì khác mà chú cho con đóng vai con ở?

-Con không biết à, vai đó là vai khó nhất đó con. Con đóng hay nên chú mới chọn vai đó cho con.

Các em trình diễn kịch trong dịp Tết để gây quỹ lập đoàn quán cho Gia đình Phật tử Cầu Đất. Sau này rời Cầu Đất về lại Đà Lạt, nơi chú đã lập trường tiểu học Tuệ Quang, chú Nhất Hạnh cũng mở một lớp giáo lý khác, dạy ba, bốn buổi tối mỗi tuần. Nhóm học trò từ Cầu Đất của chú bữa nào cũng thuê xe vượt qua quãng đường dài 23 cây số, bất kể trời mưa giá rét, vẫn chăm chỉ đến học lớp này. Có những đêm mưa gió, xe đưa các em đến lớp học trễ, chú đã luôn đợi nhóm Cầu Đất đến lớp đông đủ rồi mới bắt đầu giảng bài.

Lần đầu tiên Sư Ông về lại Việt Nam vào năm 2005, Sư Ông đang đi dạo thăm một ngôi chùa tại Bảo Lộc cùng với rất đông chư Tôn đức, cô Phương Hải thấy Sư Ông từ xa, quá mừng và không cần biết đến ai xung quanh, cô vừa rượt theo Sư Ông vừa la to:

– Thưa Thầy, con Phương Hải đây Thầy!

Sư Ông dừng lại, xoay ra sau, cũng vừa đúng lúc cô chạy đến nơi, quỳ xuống trước Sư Ông.

– Con Phương Hải đóng vai con Sen đây Thầy.

Lúc đóng vai con Sen, bé chưa đầy 15 tuổi. 53 năm sau, bé 68 tuổi, tóc bé đã bạc, vậy mà Sư Ông nhận ra bé ngay. Sư Ông cười vui và đưa tay xoa đầu người học trò cưng năm xưa.

Mười bốn năm sau ở Huế cũng vậy, sau khi nghe giới thiệu, Sư Ông đã lập tức nhận ra cô Phương Hải và nắm tay cô. Cô Phương Hải than thở với Sư Ông rằng bây giờ cô yếu và hay bệnh lắm, có thể đây là lần cuối cùng cô đi được đến Huế để thăm Sư Ông. Lúc cô chào Sư Ông để đi về, cô đi xa rồi mà Sư Ông vẫn còn vẫy tay chào cô qua cửa sổ.

 

 

Sư Ông và các chị em chúng tôi cứ ngỡ rằng không còn cuốn Cậu Đồng nào nữa qua năm tháng và nhất là sau chiến tranh. Không ngờ chính cô Phương Hải còn giữ lại được một bản gốc mà bìa sách đã sờn phai và những trang giấy đã vàng ố. Sư Ông viết lời tựa tại Lâm Viên, mùa xuân Quí Tỵ (1953). Trang đầu cuốn sách có chữ ký của Thanh Huyền (cô Thanh) ngày 18-01-1956. Trên danh sách các nhân vật, cô Thanh còn ghi tên của từng diễn viên đóng vai nào.Cô đã gửi cuốn sách này cúng dường Sư Ông và cuốn này hiện đang được tàng trữ trong kho lưu trữ sách Sư Ông tại Sơn Cốc bên Pháp.

Năm ngoái, 2020, vào tháng Bảy, trang điện tử vnexpress.net đăng một bài với tựa đề Hàng trăm khán giả xem Thành Lộc diễn “Cậu Đồng”:

“Hơn 330 khán giả ủng hộ nghệ sĩ Thành Lộc diễn lại Cậu Đồng – vở kinh điển của 23 năm trước, do nghệ sĩ Đoàn Minh Ngọc đạo diễn. Vở công diễn lần đầu năm 1997, được khán giả ủng hộ nồng nhiệt, mang về cho Thành Lộc giải Mai Vàng năm 1998. Đến nay, tác phẩm đạt kỷ lục về suất diễn của Idecaf. ( https://vnexpress.net/hang-tram-khan-gia-xem-thanh-loc-dien-cau-dong-4128492.html )”2 400 đêm diễn và suất nào cũng “cháy vé”. Vở kịch này được xem là thành công của một sân khấu đang có lượng khán giả đông nhất tại Sài Gòn.

Họ biết rằng Cậu Đồng được Việt hóa từ tác phẩm Le Tartuffe của đại văn hào Pháp Molière, nhưng không biết ai đã Việt hóa tác phẩm này. Các sư em Thư Nghiêm và Tư Nghiêm trước khi xuất gia cũng đã từng đi xem vở kịch này. Đến khi về Làng Mai xuất gia, các sư em mới biết rằng vở kịch này là do Sư Ông phóng tác.

Sau khi đọc tin tức trên trang điện tử vnexpress.net, chị Liên, một vị cư sĩ trong tăng thân đã liên lạc để cho nghệ sĩ Thành Lộc biết ai đã phóng tác vở kịch này. Đạo diễn Trần Minh Ngọc đã xác minh ngay rằng tác giả đúng là Sư Ông. Đó là nhờ quyển sách từ cô Phương Hải mà đạo diễn đã đối chiếu với kịch bản ông đang có, chứ nếu chỉ tìm kiếm trên google về các tác phẩm của Sư Ông thì không thấy có vở kịch này trong danh mục.

Ngay sau đó trên facebook, nghệ sĩ Thành Lộc đã viết như sau: “Đây là một niềm hoan hỉ lớn, một vinh dự và cũng là sự may mắn từ DUYÊN LÀNH mà sân khấu kịch Idecaf chúng tôi có được: Chúng tôi đã từ một nhịp cầu nối thật tình cờ mà biết được người đã phóng tác vở kịch CẬU ĐỒNG – từ vở kịch Pháp Le Tartuffe của nhà soạn kịch lừng danh Molière – và đã Việt hóa vở kịch để được đạo diễn NSND Trần Minh Ngọc (người lĩnh hội văn hóa Pháp và Tây học từ nhỏ) dàn dựng và trình diễn cho quý vị khán giả xem từ 23 năm trước cho đến hiện nay là AI.

Và bắt đầu từ suất diễn tối thứ năm 20/8/2020 sắp tới, sân khấu chúng tôi sẽ vô cùng hoan hỉ và hãnh diện được xướng tên để giới thiệu cùng quý khán giả yêu kịch Idecaf tên của “Ngài”, đây cũng là bổn phận và trách nhiệm của công ty Thái Dương (kịch Idecaf) chúng tôi, chứ không giới thiệu ở đây. Ahihi… vì vui quá nên cho phép tôi được giữ bí mật, chỉ dành bật mí này cho quý khán giả mua vé xem Cậu Đồng mà thôi!

* Chú ý: Hiện nay các nghệ sĩ trong vở còn chưa biết tin này nên tôi thấy đã quá chừng… các nghệ sĩ ơi! Muốn biết tên người phóng tác này là ai thì inbox nhé, tôi cho biết! Hí hí…”

Sau buổi diễn, trên facebook nghệ sĩ Thành Lộc đã kể tiếp: “Suất diễn mới vừa rồi, khi chúng tôi xướng tên người đã dịch thuật và Việt hóa vở hài kịch cổ điển Pháp LE TARTUFFE (Kẻ đạo đức giả) của Molière sang phiên bản Việt Nam với tựa đề CẬU ĐỒNG, khán giả đã ồ lên rõ to và vỗ tay!

Một cảm giác thật sự hoan hỉ!”

Ngay sau đó, các anh chị trong tăng thân ở Sài Gòn nhắn tin cho tôi rằng: “Mấy hổm rày ở Sài Gòn đang rất là hot, vở kịch Cậu Đồng đang diễn trở lại dưới tên tác giả là Thiền sư Thích Nhất Hạnh”. Rất nhiều trang báo cũng đăng tin về sự kiện này.

Ông Huỳnh Anh Tuấn – giám đốc Công ty Thái Dương (Idecaf) – cho biết: “Chúng tôi mong muốn sớm hợp thức hóa thủ tục để trả lại đúng tên của Thiền sư cho một tác phẩm sân khấu mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Dù chậm còn hơn cứ để hai chữ khuyết danh. Khán giả đang hưởng ứng vở kịch này, lượng vé bán ngày càng tăng, các suất diễn trong tuần cũng dành cho vở kịch này. Do đó, đây là một tín hiệu đẹp để hướng tới việc tri ân công đức của Thiền sư đã viết kịch bản, tạo duyên may để sân khấu chúng tôi dàn dựng và được công diễn”. 

Thế là nhà biên kịch Châu Thổ, một trong những đệ tử cư sĩ của Sư Ông liền liên lạc với Idecaf để xin một suất diễn đặc biệt dành cho các tăng thân cư sĩ ở Sài Gòn vào ngày 30.9.2020. Không có đủ vé cho mọi người nên các anh chị trong ban tổ chức của tăng thân phải đứng xem kịch. Trước giờ diễn, Idecaf đã hoan hỉ dành 30 phút cho các đệ tử của Sư Ông dùng sân khấu để sinh hoạt và biến sân khấu kịch thành thiền đường, cùng thực tập chánh niệm trước và trong khi xem kịch. Chị Mỹ Hằng hướng dẫn thính chúng ngồi thiền 20 phút, an tịnh thân tâm và thưởng thức vở kịch một cách sâu sắc.

Hơn 300 người ngồi yên, buông thư và theo dõi hơi thở:

1. Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

Vào – Ra

 

2. Thở vào, tôi buông thư toàn thân.

Thở ra, tôi buông thả mọi căng thẳng trong thân và tâm.

Buông thư toàn thân – Buông thả mọi căng thẳng

 

3. Thở vào, tôi quán tưởng Thầy năm 25 tuổi

Thở ra, tôi tiếp xúc với năng lượng trẻ trung, đầy nhiệt huyết và sáng tạo nơi Thầy.

Thầy 25 tuổi – Trẻ, đầy nhiệt huyết và sáng tạo

 

4. Thở vào, tôi tiếp xúc được với năng lượng của Thầy lan tỏa cùng khắp trong 70 năm qua.

Thở ra, tôi tiếp xúc được với những hạt giống tốt Thầy gieo trồng trong suốt 70 năm qua.

Thầy lan tỏa cùng khắp – Hạt giống tốt khắp nơi

 

5. Thở vào, tôi tiếp xúc được với năng lượng của Thầy trong chính tôi.

Thở ra, tôi xúc chạm được với những hạt giống tốt Thầy đã gieo trồng nơi tôi.

Năng lượng Thầy trong tôi – Hạt giống tốt Thầy gieo trồng nơi tôi

 

6. Thở vào, Thầy đang cùng thở vào với tôi.

Thở ra, Thầy đang cùng thở ra với tôi.

Thầy thở vào với tôi – thở ra với tôi

 

7. Thở vào, tôi là sự tiếp nối của Thầy.

Thở ra, tôi có thêm niềm tự tin và hạnh phúc.

Tôi tiếp nối Thầy – Thêm tự tin và hạnh phúc

 

8. Thở vào, Thầy trong tôi đang thở.

Thở ra, Thầy trong tôi đang mỉm cười.

Thầy trong tôi thở – mỉm cười

Đại chúng ngồi thiền xong, cô Châu Thổ lên giới thiệu về vở kịch. Điều đặc biệt nhất là cô còn mời cô Phương Hải lên sân khấu để khán giả được làm quen với người đóng vở kịch này lần đầu trong vai con Sen vào năm 1952. Hầu hết những diễn viên còn lại trong nhóm đều đã không còn.

Có lẽ đây là lần đầu tiên các khán giả lại gây ấn tượng mạnh cho đoàn nghệ sĩ Idecaf đến như vậy. Không khí an tịnh và trang nghiêm quá, nghệ sĩ Hữu Châu đóng vai ông Phán rất xúc động, tới mức bị quên lời thoại ở đoạn đầu.

Vở kịch chấm dứt, đoàn diễn viên ra chào khán giả. Nghệ sĩ Thành Lộc chia sẻ vài lời với đại chúng. Anh có giải thích như thế này: “Cách đây 23 năm, chúng tôi nhận được kịch bản này từ một bản đánh máy đã bị xé trang đầu, nên chúng tôi không biết là của tác giả nào. Nhưng cũng có thể, nếu vào thời điểm đó mà biết là của ai thì chưa chắc vở này đã được diễn. Cho nên điều này đúng là hạnh duyên”. Khán giả vỗ tay ầm ầm! Các đại diện tăng thân lên tặng sách Sư Ông( Đạo Phật ngày nay, Am mây ngủ và Văn Lang dị )sử cho từng nhà nghệ sĩ để tỏ lòng cảm kích.

Có lẽ họ không biết là từ khi còn trẻ, Sư Ông đã quan tâm và yểm trợ đặc biệt giới văn nghệ sĩ. Khi Sư Ông mới thành lập nhà xuất bản Lá Bối năm 1964, Sư Ông đã có một buổi hội thảo với các nhà văn, nhà thơ, các nhạc sĩ như Hồ Hữu Tường, Tam Ích, Phạm Duy… Sư Ông đã nói đến trách nhiệm của văn nghệ sĩ là khai thị và trị liệu. Với tài năng của mình, các nhà văn, nghệ sĩ mang sứ mạng tưới tẩm hạt giống tốt nơi quần chúng và làm cho cuộc đời bớt khổ. Trong những năm ở Tây phương, Sư Ông đã hướng dẫn nhiều khóa tu cho giới văn nghệ sĩ ở Mỹ, Âu châu và Sư Ông cũng hướng dẫn những pháp môn thực tập giúp họ thực hiện được sứ mạng đó. Đồng thời trong những năm khó khăn nhất tại quê nhà, Sư Ông đã tìm cách tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc, khơi lại nguồn hứng khởi nơi các văn nghệ sĩ qua những lá thư, những gói quà gửi về cho họ và cho gia đình họ( Phương Hương xuôi vạn lý, Sư cô Chân Không.)

Ông Huỳnh Anh Tuấn cũng đã bày tỏ với báo chí như thế này: “Sau khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh trao tập Bông hồng cài áo cho NSND Kim Cương cách đây hơn 50 năm, sân khấu cải lương và kịch nói đã có tác phẩm Bông hồng cài áo do soạn giả Hoàng Khâm chuyển thể. Từ bài viết này, nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ đã sáng tác ca khúc Bông hồng cài áo. Cứ đến mùa Vu Lan báo hiếu, giai điệu và ca từ của ca khúc này lại vang lên ở nhiều nơi. Người làm sân khấu lại càng háo hức, hân hoan khi biết vở kịch Cậu Đồng là do Thiền sư Thích Nhất Hạnh phóng tác và Sân khấu Idecaf đã dàn dựng, tổ chức biểu diễn thành công. Đó là hạnh duyên mà những người làm nghệ thuật như chúng tôi trân quý, mang ơn công đức của Thiền sư đã viết nên những tác phẩm đẹp đời, đẹp đạo, gieo vào lòng khán thính giả thiện tâm sống tốt đẹp vì đời sống cộng đồng” ( https://nld.com.vn/van-nghe/nsut-thanh-loc-cong-bo-kich-cau-dong-cua-thien-su-thich-nhat-hanh-20200906155736292.htm )