Đại diện Làng Mai tham dự hội nghị thượng đỉnh COP26

Từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 2021, Hội nghị thượng đỉnh tại COP26 do TED tổ chức đã diễn ra tại Edinburgh. Thầy Pháp Hữu, thầy Pháp Linh, sư cô Lăng Nghiêm và sư cô Hiến Nghiêm đại diện Tăng thân Làng Mai đã đem những lời dạy của Thầy và những phương pháp thực tập của Làng đến hiến tặng cho sự kiện TED Countdown trước thềm Hội nghị thượng đỉnh về khí hậu COP26 ở Glasgow. Quý thầy quý sư cô đã tổ chức những buổi thiền tập, hội thảo về nghệ thuật lắng nghe sâu, và một buổi học đặc biệt về “Làm thế nào để trở thành một Tổ Tiên tốt”, với tác giả Roman Krznaric và Rev. Yearwood.

Đây thật sự là một niềm vinh hạnh mà cũng là trải nghiệm sâu sắc đối với người xuất gia trong thời đại mới, khi có cơ hội góp mặt và chia sẻ những phương pháp thực hành tâm linh căn bản trước các nhà chính trị gia, nhà khoa học, nhà hoạt động môi trường, nhà lãnh đạo tư tưởng và nhà lãnh đạo doanh nghiệp. Trong đó, có bà Cristiana Figueres- người học trò xuất sắc của Thầy. Quý thầy quý sư cô cũng đã dành thời gian trò chuyện với người lãnh đạo của COP – ông Nigel Topping và nam diễn viên hài huyền thoại Rainn Wilson.

Qua dịp này, đoàn cũng có dịp kết nối và chia sẻ với Tăng thân cư sĩ ở Edinburgh nhân dịp xuất bản cuốn sách mới của Thầy về Thiền và nghệ thuật bảo vệ Trái Đất (Zen and the Art of Saving the Planet).

Sư cô Hiến Nghiêm đã có một bài chia sẻ tại TED trong ngày 15/10/2021

Trong tuần này, có 2 vị giáo thọ xuất sĩ của Làng Mai sẽ tiếp tục Hội nghị với mong muốn tiếp tục đóng góp sự có mặt và hiến tặng năng lượng bình an cũng như chia sẻ về thực tập chánh niệm.

Xin gửi lời cảm ơn chân thành tới chương trình TED, nhiếp ảnh gia Gilberto Tadday và Lash đã cho phép chúng tôi chia sẻ những khoảnh khắc dưới đây:

Giành lại chủ quyền

Trích trong sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai

Hãy hiểu khổ đế như những nỗi khổ đau có thực của chính bản thân và thời đại

Chúng ta thường được học và hiểu về khổ đế như là cái khổ của sinh, già, bệnh và chết; như là sự ham muốn nhưng không được thỏa mãn yêu thương nhau mà phải xa lìa; ghét nhau mà phải gần nhau; như là khổ đau khi năm uẩn chống báng nhau… Đây là cách diễn tả về khổ đế của người xưa. Nó mang tính biểu trưng, tính hình thức. Nếu nói nguyên nhân xuất gia của thái tử Tất Đạt Đa chỉ vì thấy cảnh sanh, lão, bệnh, tử trong một chuyến du ngoạn qua bốn cổng thành thì quá sơ sài. Chúng ta được biết lúc đi xuất gia, thái tử đã 26, 27 tuổi rồi, lại là người rất thông minh, tinh thông triết học, lẽ nào lại không biết sanh, lão, bệnh, tử là gì? Trong “Đường Xưa Mây Trắng” tôi nói thái tử đi xuất gia là vì thấy trong dân chúng khổ và trong triều đình cũng khổ, vua cha khổ mà các quan đại thần cũng khổ. Tuy họ có quyền hành và địa vị nhưng họ vẫn khổ vì sự chia rẽ, tranh giành quyền lực, đấu đá lẫn nhau; vì chính họ cũng có những khó khăn không giải quyết được nên họ không thể nào giúp được cho người dân, để cho dân chúng lâm vào cảnh nghèo đói, bệnh tật. Từ thực tế ấy, Ngài thấy được rằng chính trị, quyền hành và địa vị không thể mang lại niềm an vui cho chính mình và cho đất nước. Do đó, Ngài muốn đi tìm hạnh phúc, an vui cho mình, cho những người xung quanh theo một hướng khác.

 

 

Ở thời đại này, khi đề cập đến khổ đế, ta cần phải trình bày sao cho khế hợp. Trong khóa tu với nội dung: “Đạo Phật Dấn Thân” được tổ chức tại Hà Nội nhân dịp lễ Phật đản năm 2008, tôi có nói rằng khi nhắc đến khổ, trước tiên ta cần đề cập đến những nỗi khổ có thật trong thân và tâm của chính ta như: lo lắng, sợ hãi, căng thẳng, bạo động, giận hờn, trừng phạt… Đó là những căn bệnh kinh niên. Không biết lo cái gì, sợ cái gì, nhưng cứ lo hoài, sợ hoài. Khi năng lượng của sự giận dữ xâm chiếm thì ta muốn đập phá, muốn trừng phạt và muốn làm cho người kia đau khổ, tại vì người đó đã dám làm cho ta đau khổ. Trong ta sẵn có năng lượng bạo động, bực tức, muốn phản ứng và muốn phá đổ.

Khủng bố là bạo động

Hiện nay trong xã hội có rất nhiều năng lượng bạo động. Việc khủng bố vốn là bạo động nhưng chống khủng bố cũng bạo động không kém gì. Tôi còn nhớ, trong chuyến hoằng pháp tại Nam Hàn, tôi có tham dự một buổi diễn đàn hoà bình của tổ chức Liên Tôn. Lúc ấy, tình hình Iraq rất căng thẳng. Dù Mỹ chưa chiếm đóng Iraq nhưng mọi thứ chuẩn bị cho việc đánh chiếm Iraq đã sẵn sàng. Iraq có thể bị bỏ bom, có thể bị bao vây bất cứ lúc nào. Trong buổi thuyết trình ấy, tôi có nói là nếu là một người dân đang sống tại thành phố sắp bị chiếm đóng thì sẽ rất lo sợ, không biết bom sẽ dội xuống thành phố lúc nào. Những người dân phải sống trong tình trạng sợ hãi như vậy trong suốt một ngày thì sức khỏe sẽ bị ảnh hưởng rất xấu. Huống hồ gì phải sống trong tình trạng ấy liên tục nhiều ngày nhiều tháng? Thành phố có thể chưa bị bao vây, chưa bị chiếm đóng, nhưng người dân đã lo lắng và sợ hãi rồi. Cái đó là bạo động, là khủng bố. Khủng bố và bạo động với chính mình. Như vậy, bạo động và khủng bố đến từ hai phía chứ không đến từ một phía như thông thường ta hay nghĩ. Bạo động có trong tất cả chúng ta. Người có nhiều bạo động thì khổ nhiều, người có ít bạo động thì khổ ít.

Bạo hành trong gia đình

Một trong những vấn đề được quan tâm nhất hiện nay của xã hội là hiện tượng bạo hành trong gia đình. Khi cha mẹ chống báng nhau, gia đình đổ nát thì những đứa con phải lãnh chịu rất nhiều bất hạnh và khổ đau. Chúng khó có thể phát triển toàn diện và bình thường về nhân cách được. Khi trưởng thành, đại đa số những người con ấy mất niềm tin vào cuộc sống lứa đôi. Trên thế giới, tỉ lệ ly dị của các cặp vợ chồng rất lớn. Ở Hòa Lan tỉ lệ ly dị lên tới hơn 50%.

Những rạn nứt trong đời sống gia đình, lứa đôi và sức ép của xã hội đã dẫn đến những hậu quả khá nghiêm trọng và rất thương tâm. Đặc biệt là tình trạng tự tử. Theo thống kê, ở Việt Nam, khoảng vài giờ đồng hồ là có một người tự tử. Ở Pháp, mỗi năm, có trên mười hai ngàn (12.000) người trẻ tự tử. Nghĩa là mỗi ngày, có khoảng ba mươi ba (33) thanh niên chết vì tự tử. Bên cạnh đó còn có chiến tranh, khủng bố, sự phá hoại của môi trường và sự hâm nóng của địa cầu. Đây là những cái khổ đang có thực trong đời sống và ta phải gọi đúng tên chúng. Ta phải hiểu rằng Khổ đế là những nỗi khổ đang đích thực có mặt. Đừng hiểu lầm ý Bụt mà khẳng định rằng cái gì cũng chỉ toàn là khổ đau. Ta cần phải phân biệt được rõ ràng hai vấn đề sau: Chấp nhận khổ đau đang có mặt, và xử lý khổ đau. Rõ ràng, hai vấn đề này hoàn toàn khác nhau. Chúng ta cần điều chỉnh lại cách nhận thức của mình về giáo lý khổ đế mà Bụt đã dạy. Ví dụ, chúng ta có thể nói cái bàn vô thường hoặc vô ngã thì được, chứ còn nói cái bàn khổ thì hơi khó nghe. Mình khổ chỉ khi nào mọi vật vô thường mà mình cho là thường, mọi vật vô ngã mà cho là ngã. Khổ là một thái độ, một sự phản ứng của ta với các hiện tượng chứ không phải là bản chất của sự vật. Ta đừng nên bị nhồi sọ bởi thái độ giáo dục: Đi tìm khổ như bản chất của vạn hữu. Nếu làm vậy, ta đang nghĩ oan cho Bụt. Bụt chỉ nói rằng, có khổ đau, đừng chạy trốn khổ đau, và phải nhận diện những khổ đau đó để tìm cách giải quyết.

 

 

Nhận diện và chuyển hóa khổ đau

Nếu bị kẹt vào ý niệm mọi thứ đều là khổ, ta sẽ trốn chạy, sẽ đè nén, sẽ không dám đối diện với những khổ đau. Trong khi đó muốn chuyển hóa được khổ đau, ta phải nhìn sâu vào khổ đau để tìm ra cội rễ của những khổ đau này. Ví dụ, ta đang có sự căng thẳng trong thân, nếu không biết tại sao có những căng thẳng ấy thì làm sao ta có thể tự chữa trị cho chính mình? Nếu biết được căng thẳng là do ta quá bận rộn, do ta không an trú được trong giây phút hiện tại, do ta chưa có cơ hội để buông thư, thì ta sẽ có được giải pháp rất thích hợp cho chế độ nghỉ ngơi của chính mình. Còn ngược lại nếu mỗi ngày một ít, ta tự chất chứa, dồn nén những căng thẳng thì sau nhiều ngày, những căng thẳng bị dồn chứa ấy sẽ mang đến cho ta nhiều bệnh tật. Do vậy, khi có căng thẳng, ta cần phải cho phép mình được buông thư, hoặc dành thời gian để ngồi thiền, đi thiền thì những căng thẳng sẽ được thư giãn, không bị dồn nén nữa. Xã hội bây giờ ai cũng có căng thẳng, đó là sự thật thứ nhất. Sự thật thứ hai là cách ta tổ chức đời sống làm cho ta càng ngày càng bị căng thẳng. Đó là những sự thật về đạo đức mà không phải là những giả thuyết. Đó là thực tế.

Ta đã cùng nhau nhận diện và gọi tên những khổ đau của xã hội ngày nay. Những khổ đau này không có mặt riêng biệt. Chúng tương tức với nhau. Phần lớn các vấn đề xảy ra đều có liên quan đến sự căng thẳng. Nếu không căng thẳng, ta có thể giải quyết vấn đề một cách nhẹ nhàng, bình tĩnh, không nóng nảy. Tất cả những cái khổ đều tương tức với nhau. Do đó, khi tìm ra được nguyên do của một cái, ta sẽ tìm ra được nguyên do của những cái khác. Ta cũng nên biết, mỗi khổ đau xảy đến từ nhiều nguyên nhân.

Chung một cội nguồn

Sư Ông Làng Mai

Kính thưa đại chúng,
Hôm nay là ngày 29 tháng 7 năm 2001, chúng ta đang ở chùa Cam Lộ, xóm Hạ thuộc đạo tràng Mai Thôn.

Cách đây chừng sáu năm, trong chuyến đi giảng dạy ở Ý, thầy có đi ngang qua một vùng đất trồng toàn cây ô liu. Ở Pháp hình như không có cây ô liu, hoặc có thể chỉ có một vài cây ở miền Nam, nhưng bên Ý thì có rất nhiều. Thầy nhận thấy những cây ô liu trong đám ruộng đó mọc rất ngộ nghĩnh, thay vì mọc từng cây riêng rẽ thì nó mọc một khóm ba bốn cây chụm lại với nhau. Những cây ô liu đó cũng còn trẻ thôi, khoảng chừng bảy đến tám tuổi. Khi hỏi lại, người ta cho biết trước đó bảy tám năm có một trận lạnh rất lớn và tất cả các cây ô liu trong vùng đó chết hết, người ta phải cắt sát gốc. Nhưng những cây ô liu đó chỉ chết phần trên thôi, phần gốc vẫn còn sống. Khi cây ô liu bị cắt sát gốc rồi thì từ một cây ô liu mẹ sanh ra ba đến bốn cây ô liu con. Cho nên, chín mười năm sau mình thấy những cây ô liu mọc lên từng khóm. Mình lầm tưởng, cứ nghĩ rằng có ba hay bốn cây ô liu riêng biệt, nhưng khi nhìn sâu thì mình thấy kỳ thực chúng cũng chỉ là một cây thôi, từ một gốc mà đi lên.

Giả dụ cây ô liu thứ nhất ganh tỵ với cây ô liu thứ hai. Cây ô liu thứ hai đánh lộn với cây ô liu thứ ba thì rất buồn cười. Như vậy là có sự phân biệt: “Tôi là cây ô liu khác, còn anh là cây ô liu khác”. Không biết các cây ô liu có ganh tỵ, có giận hờn nhau hay không. Nhưng có những em bé hay những người lớn, tuy phát xuất từ một gốc mà thỉnh thoảng họ vẫn ganh tỵ, giận hờn nhau. Họ làm giống như họ là những con người khác nhau, không dính líu gì tới nhau hết. Họ không biết rằng họ từ một gốc mà đi lên, họ bị sự phân biệt, kỳ thị làm cho chia rẽ. Chính sự phân biệt, kỳ thị đó làm cho chúng ta coi nhau như kẻ thù, không thương yêu nhau được dù là anh chị em trong một nhà. Cho nên, tu tập là nhìn sâu để thấy được rằng chúng ta từ một nguồn gốc mà phát hiện. Khi thấy được sự thật đó thì mình sẽ lấy đi được sự phân biệt kỳ thị, và sẽ đạt tới một loại trí tuệ rất đặc biệt gọi là vô phân biệt trí.

 

 

Trí vô phân biệt hay vô phân biệt trí, cụm từ này mình nên học thuộc vì trong trường học có thể không được học chữ này, tiếng Phạn là Nirvikalpa-jñāna. Chúng ta có cái trí giúp phân biệt được đây là bông hoa hướng dương, đây là cuốn sách. Bông hoa hướng dương khác cuốn sách. Chúng ta có thể phân biệt được đây là củ cà rốt, đây là trái cà chua. Cái phân biệt đó đôi khi cũng có ích, và trong sự phân biệt đó không có sự kỳ thị, theo phe. Đó gọi là trí phân biệt, nhiều khi rất cần. Nhưng nằm dưới tầng sâu hơn có một loại trí khác, đó là trí không phân biệt, không kỳ thị. Trí này rất quan trọng. Ở trường học, chúng ta chỉ được học nhiều về trí phân biệt thôi, nhưng là người thực tập, mình phải học thêm về trí không phân biệt. Trí không phân biệt tức là trí không có kỳ thị nhau. Mình không thể nói rằng mình không phải là người kia, người kia là da trắng, mình là da đen. Mình không thương người da trắng, mình chỉ thương người da đen thôi, hoặc là người kia là da đen mình là da trắng, mình chỉ thương người da trắng thôi, mình không thương người da đen. Cái đó gọi là phân biệt, kỳ thị. Mình nói người kia là Do Thái, mình không phải là người Do Thái, mình là người Palestine. Người Do Thái thì nói mình không phải là người Palestine, rồi hai bên kỳ thị và làm khổ cho nhau. Kỳ thực mình từ một nguồn gốc mà ra hết.

Trong Hồi giáo cũng như trong Do Thái giáo, chúng ta được học rằng tất cả đều do một gốc mà sinh ra. Tất cả đều do Allah, đều do Thượng đế mà phát sinh ra. Vậy mà mình coi nhau như kẻ thù, rồi có sự kỳ thị phân biệt, chống đối nhau và quyết một mất một còn với nhau. Sự kỳ thị phân biệt đó cần được lấy ra khỏi tâm mình bằng sự thực tập thiền quán để thấy được cái gọi là trí không phân biệt (The wisdom of non- discrimination).

Vô phân biệt trí là gì, mình có thể hiểu được, biết được, nó cũng dễ thôi. Ví dụ, nhìn vào bàn tay phải ta thấy có vô phân biệt trí ở trong bàn tay. Bàn tay này đã làm được rất nhiều việc, nó rất khéo léo tuy đôi khi cũng có một vài cái vụng về. Bàn tay này đã làm được hàng trăm, hàng ngàn bài thơ. Tất cả những bài thơ mà thầy viết xuống đều do bàn tay phải viết xuống hết, bàn tay trái này thì chưa bao giờ làm thơ. Chỉ có một lần, bữa đó thầy không có giấy, không có mực, không có viết nên phải bỏ cái bì thư vào trong máy đánh chữ và đánh máy bài thơ. Đó là bài Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời. Chỉ có bài đó là hai bàn tay làm chung mà thôi, còn các bài khác thì thầy làm bằng bàn tay phải hết.

Bàn tay phải này còn làm được nhiều chuyện khác nữa. Ví dụ như mỗi khi muốn cầm cái búa thì nó cầm rất giỏi, bàn tay kia cầm dở lắm, đóng không được mạnh, đôi khi còn đóng trật. Bàn tay này đôi khi cũng có trật nhưng nó đóng khá hơn. Bàn tay này đã từng viết chữ, làm thơ, viết thư pháp và làm nhiều chuyện khác nữa nhưng bàn tay này không bao giờ kỳ thị, phân biệt hay chê trách bàn tay kia. Nó không nói rằng: “Này, bàn tay trái ơi, anh là đồ vô tích sự, anh chẳng làm được gì hết, không làm thơ được, không viết thư pháp được”. Bàn tay phải không bao giờ nghĩ như vậy. Trong bàn tay phải không có cái gọi là kỳ thị, phân biệt, không có cái mạn, là tôi hơn anh, tôi bằng anh hay tôi thua anh. Trong bàn tay này có trí tuệ gọi là vô phân biệt trí. Cho nên nó sống một cách rất hài hòa và an lạc với bàn tay trái. Bàn tay trái cũng không có mặc cảm, nó không nói: “Trời đất ơi, anh làm hết tất cả mọi cái, còn tôi chẳng làm được gì hết”. Hai bàn tay không mặc cảm, vì chúng nó biết rằng cả hai đều từ một gốc mà ra. Chúng là hai anh em, giữa hai anh em không có sự kỳ thị, phân biệt nên không có vấn đề với nhau.

Bây giờ chị gái mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Em trai mình với mình có cư xử được như hai bàn tay không? Đôi khi còn đánh lộn nữa, đôi khi còn giận hờn, ganh tỵ, đủ thứ hết. Thành ra mình chưa có vô phân biệt trí nhiều như hai bàn tay của mình. Chúng ta thấy sự phân biệt tạo ra biết bao nhiêu khổ đau: người da trắng kỳ thị người da đen, người Hồi giáo kỳ thị người Ấn Độ giáo, người Ấn Độ giáo kỳ thị người Hồi giáo, người Do Thái kỳ thị người Palestine, người Palestine kỳ thị người Do Thái. Chúng ta không cư xử được với nhau như hai bàn tay của cùng một cơ thể tại vì trong chúng ta chưa có cái thấy sâu sắc của vô phân biệt trí. Ta nên biết rằng khi bàn tay này đau thì mình cũng đau, phải có cái thấy như vậy thì mới được.

Có một lần thầy dùng tay phải cầm cái búa, tay trái cầm cái đinh tính treo một bức thư pháp trên tường cho đẹp, ai dè thầy đóng làm sao mà đã không đóng trên cái đinh, lại đóng trên ngón tay khiến nó đau quá chừng. Lập tức tay phải bỏ cái búa xuống, nắm lấy cái tay đang bị đau và đi kiếm thuốc, kiếm băng để băng bó. Bàn tay phải của thầy làm một cách rất tự nhiên, không nói rằng ta là bàn tay phải, ta đang băng bó cho ngươi, ta đang chăm sóc cho ngươi, ngươi phải nhớ điều đó mà đừng vô ơn bạc nghĩa. Bàn tay phải không bao giờ suy nghĩ như vậy. Nó không có sự kỳ thị, phân biệt giữa ta và người vì trong nó có cái vô phân biệt trí rất hay. Cho nên hai bàn tay sống với nhau rất hài hòa. Khi hai bàn tay chắp lại thành búp sen thì rất đẹp. Khi ăn cơm, bàn tay trái cầm cái chén, bàn tay phải cầm đôi đũa. Tay trái không nói là tôi nâng cái chén mệt mỏi quá, còn tay phải cũng không nói là tôi phải và cơm vào miệng mệt quá. Không bao giờ chúng có sự kỳ thị, phân biệt hay than phiền như vậy. Cho nên, chúng ta biết rằng trí vô phân biệt là cái có thật mà mình có thể thấy được. Khi mình tu học thành Phật, thành Bồ tát hay La hán thì hoàn toàn mình được như vậy. Mình không còn có sự kỳ thị, phân biệt nữa.

Khi tới Làng Mai chúng ta thấy các thầy, các sư cô cũng đang cố gắng để làm như vậy. Ở xóm Hạ, mỗi sư cô đều giống như là ngón tay của một bàn tay, người thì làm việc này, người thì làm việc khác, làm một cách lặng lẽ, làm một cách âm thầm, không nói là tôi làm việc này quan trọng hơn sư chị, hoặc công việc của sư chị làm không quan trọng bằng công việc tôi đang làm. Không bao giờ quý sư cô có suy nghĩ như vậy. Tất cả đều cùng làm việc: người thì nấu ăn, người thì rửa chén, người thì đi chợ, người thì lái xe đi đón thiền sinh ở nhà ga, người thì quét dọn, người thì chùi cầu tiêu,… Không có người nào trách móc, than van, nói rằng những người kia không chịu làm, chỉ có một mình mình làm thôi. Vì sao? Vì trong họ đã có một ít trí tuệ gọi là trí tuệ vô phân biệt, tuy chưa hoàn toàn như Bụt, như các vị Bồ tát.

Các thầy trên xóm Thượng cũng vậy, công việc nhiều lắm, nhất là trong mùa hè thiền sinh tới rất đông. Nhiều người có niềm đau nỗi khổ và mình phải lắng nghe họ, chỉ cho họ cách đi thiền hành, cách thở, cách tu tập để cho họ bớt khổ, làm sao để cho họ có hạnh phúc. Đó là niềm vui của mình khi đi tu. Có người thì nói pháp thoại, có người thì hướng dẫn pháp đàm, có người chỉ đi chợ thôi, có người chỉ lái xe thôi nhưng người nào cũng hoan hỷ hết. Tại vì đi chợ cũng rất quan trọng. Người ta không có cơm ăn thì nghe pháp thoại đâu có nổi, đói quá làm sao nghe pháp thoại. Thành ra đi chợ, nấu cơm cũng quan trọng như hướng dẫn pháp đàm hay nói pháp thoại. Cho nên, người nào cũng rất vui khi được làm công việc của mình, không có sự kỳ thị. Đi chợ hay chùi cầu tiêu cũng thiêng liêng, cũng đẹp đẽ giống như hướng dẫn pháp đàm hay nói pháp thoại. Không ai có mặc cảm là mình hơn người khác, thua hay bằng người khác. Tất cả đều làm việc chung như năm ngón tay của một bàn tay, một cách rất hòa hợp, không có sự xô xát, giận hờn hay kỳ thị. Tại vì trong đó đã có chứa đựng phần nào cái thấy của vô phân biệt trí.

Có một bữa thầy Pháp Độ đi lên xóm Thượng hái rau. Ở xóm Trung mọi người thích ăn rau, nhất là rau Việt Nam, nên thầy Pháp Độ đã đi hết cả một buổi sáng hái rau ở xóm Thượng, buổi chiều còn đi xóm khác tiếp tục hái rau. Rồi có tin đồn rằng xóm Trung hết đồ ăn, sẽ nhịn đói ngày mai, ngày mốt. Khi nghe tin như vậy, xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới liền đem đồ ăn xuống để viện trợ. Vì sao vậy? Vì xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới đều thấy mình như là những ngón tay của một bàn tay. Khi thấy có một xóm thiếu thức ăn thì mình phải lo thôi, mình không thể nói tôi là xóm này nè, tôi đem thức ăn xuống cho quý vị đó, quý vị phải biết ơn tôi. Các xóm không bao giờ nghĩ như vậy. Trong thành ngữ Việt Nam có câu “chị ngã em nâng”. Khi người chị té xuống thì người em phải đỡ dậy và người em té xuống thì người chị đỡ dậy. Mình biết là mình từ một gốc mà ra nên mình chăm sóc nhau và không có sự kỳ thị lẫn nhau.

Trong Tâm kinh Bát nhã có câu: “Này Xá Lợi Phất, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc, sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc”. Bây giờ mình đem cái đó áp dụng vào trong đời sống gia đình. Mình nói: “Này chị ơi, chị chẳng khác gì em, em chẳng khác gì chị, chị chính thực là em, em chính thực là chị, và còn ba còn má và ông nội, bà ngoại, tất cả đều như vậy hết”. “Sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị”. Tức là chúng ta từ một gốc mà đi ra, chúng ta phải thấy rằng chúng ta đều là những ngón tay của một bàn tay. Vậy cho nên ngón tay cái là ngón tay trỏ, ngón tay trỏ là ngón tay cái, ngón tay cái chẳng khác ngón tay trỏ, ngón tay trỏ chẳng khác ngón tay cái. Ngoài ra ngón tay giữa, ngón tay áp út và ngón tay út cũng đều như vậy cả. Như vậy là tinh thần không kỳ thị.

Các cháu nhỏ cũng có thể hiểu được Tâm kinh Bát nhã rất sâu. Các cháu có thể đóng một vở kịch. Trong kịch có ba má, ông bà nội, ông bà ngoại và mấy đứa con. Ban đầu mấy đứa con không có trí vô phân biệt nên cãi lộn nhau, giành nhau. Bà ngoại kêu lại và nói: “Các con có biết rằng con chị tức là thằng em, thằng em tức là con chị, con chị chẳng khác gì thằng em, thằng em chẳng khác gì con chị, ngoài ra bà nội, bà ngoại, ông nội, ông ngoại, ba má cũng đều như vậy cả”. Tức là nói Tâm kinh Bát nhã đó, thành ra hai đứa nó cười hề hề, nó ôm nhau và không giận nhau nữa. Rồi ngày mai tự nhiên ba má hơi cãi lộn nhau, mình nói: “Này ba, ba chính là má, má chính là ba, ba chẳng khác gì má, má chẳng khác gì ba, ngoài ra ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại và tụi con cũng đều như vậy cả”. Đó là Tâm kinh mà mình có thể áp dụng được liền. Mỗi khi có sự kỳ thị, có sự giận hờn là phải đọc câu linh chú đó: “Thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ tất cả những sự kỳ thị và phân biệt”.

 

 

Khi chúng ta đi vào những ngôi chùa như chùa Bút Tháp ở Bắc Ninh, chúng ta thấy có một tượng đức Bồ tát Quan Thế Âm. Tượng đó không phải chỉ có hai cánh tay mà có cả ngàn cánh tay. Chúng ta rất ngạc nhiên tại sao một người mà có thể có nhiều cánh tay như vậy. Đức Bồ tát Quan Thế Âm có tình thương rất lớn, Ngài có thể làm nhiều chuyện một lần. Khi nào mình có tình thương lớn, mình muốn làm nhiều chuyện một lần: rót nước cho người thương uống, dạy cho em học, đem sách ra đọc cho bà ngoại nghe, viết thư cho người bạn, đem cái hoa tặng ba hay má nhân ngày sinh nhật; mình muốn đúng giờ giấc để người khác cũng đi học đúng giờ, muốn đọc lá thư để chia sẻ cho những người bạn của mình, thu âm bài pháp thoại của Sư Ông cho người khác được nghe, muốn gởi cuốn sách này về cho má, đem sách này về dạy các em, hay đem sách kia đọc để ghi âm lại,… Khi mình có tình thương, mình muốn làm rất nhiều việc, nhưng mình chỉ có hai cánh tay thôi thì làm sao làm được. Cho nên đức Bồ tát có đến một ngàn cánh tay.

Bây giờ mình cứ tưởng tượng xóm Hạ, chùa Cam Lộ là một vị Bồ tát gọi là Bồ tát Xóm Hạ. Bồ tát Xóm Hạ có bao nhiêu tay? Có bao nhiêu sư cô, bao nhiêu cư sĩ thì có bấy nhiêu tay. Một tay thì làm phận sự trụ trì, một tay làm phận sự ban điều hành, một tay lo văn phòng, một tay làm tri xa, lo chở thiền sinh, và có biết bao nhiêu là tay. Mình cứ tưởng tượng Bồ tát Xóm Hạ có cả trăm cái tay. Chúng ta đừng coi xóm Hạ là nhiều người mà coi xóm Hạ chỉ như là một người. Khi chúng ta tới xóm Hạ, chúng ta thấy vị Bồ tát Xóm Hạ đưa ra cả trăm cánh tay để đón chào ta… Mỗi sư cô đóng vai trò là một cánh tay của Bồ tát. Tuy có nhiều cánh tay như vậy nhưng những cánh tay đó hoạt động một cách rất nhịp nhàng, không va chạm, không gây ra sự xích mích đổ vỡ. Cho nên chúng ta phải tập nhìn xóm Hạ như một vị Bồ tát có nhiều tay.

Chúng ta cũng phải tập nhìn xóm Thượng như một vị Bồ tát có nhiều tay. Mỗi thầy là một cánh tay của vị Bồ tát. Mình có thấy các thầy cãi lộn nhau và đánh nhau chưa? Mình có thấy các thầy kỳ thị nhau, làm khổ nhau chưa? Xóm Mới cũng vậy, cũng là một vị Bồ tát có rất nhiều tay. Mỗi sư cô, mỗi đạo hữu thường trú là một cánh tay. Mình có thấy các sư cô giận hờn, kỳ thị, chửi mắng nhau hay không? Tại vì các sư cô đang thực tập vô phân biệt trí. Tuy chưa hay bằng các vị Bồ tát lớn, tuy chưa hay bằng các đức Thế Tôn, nhưng trong mỗi sư cô, trong mỗi thầy đều có một ít cái thấy về vô phân biệt. Cho nên, họ có thể sống với nhau một cách hài hòa và hạnh phúc. Vì vậy, họ có thể tạo dựng hạnh phúc cho những người tới với họ. Tất cả đều đang làm công việc của Bồ tát để chăm sóc cho thiền sinh, làm cho thiền sinh lớn cũng như nhỏ đều được hạnh phúc trong thời gian sống ở Làng Mai. Nếu tinh thần hòa hợp, không kỳ thị đó càng lớn chừng nào thì hạnh phúc của thiền sinh càng lớn chừng đó.

 

 

Cách đây năm sáu năm, thầy có đi giảng dạy tại Hàn Quốc. Thầy được trường Đại học Phật giáo Đông Quốc ở Hán Thành mời giảng. Thầy đã giảng rằng trường Đại học phải là một vị Bồ tát, và mỗi giáo sư của trường Đại học là một cánh tay của vị Bồ tát, nếu không thì đâu phải là trường Đại học Phật giáo. Một trường Đại học Phật giáo phải được tổ chức như là một cơ thể của Bồ tát. Từ viện trưởng cho đến giáo sư, cho đến nhân viên đều phải làm những cánh tay của vị đại Bồ tát. Trường Đại học của mình sau này phải là trường của một vị Bồ tát, ai muốn làm trường Đại học Phật giáo thì phải nghĩ tới chuyện này. Trường Đại học mà chỉ cống hiến kiến thức thôi thì chưa đủ mà phải cống hiến cho sinh viên hai chất liệu trí tuệ và tình thương. Và trí tuệ này cần có chất liệu của trí vô phân biệt. Trí tuệ phân biệt thì nhiều trường Đại học cống hiến lắm nhưng ít trường cống hiến trí không phân biệt. Một Phật học viện, một tu viện hay một trường Đại học Phật giáo nếu nó đích thực là trong truyền thống Phật giáo thì nó phải cống hiến cái trí không phân biệt, chứ cống hiến trí phân biệt không thì chưa đủ. Kiến thức ngoài đời để làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm tiến sĩ về khoa học, về văn chương thì chưa đủ. Phải có cách đào tạo phần này vì chính cái phần này là phần làm phát sinh ra hiểu biết và thương yêu, tức là lòng từ bi. Không có trí không phân biệt thì sẽ không có phần gọi là chấp nhận và thương yêu. Trường học ngoài đời người ta chỉ cung cấp cái kia thôi, trong trường học của đạo Bụt và của tu viện thì mình phải ráng để cung cấp cái này nữa. Khi cung cấp cái thứ hai rồi mới có cái thứ ba, thì lúc đó mới có hòa bình và an lạc, mới có hài hòa với nhau.

Vậy thì mình chỉ cần đưa bàn tay của mình lên nhìn cho kỹ là mình có thể học được rất nhiều từ bàn tay này. Bàn tay này chứa đựng trí không phân biệt. Bàn tay kia cũng vậy, nó hoàn toàn không có mặc cảm là tôi thua, tôi hơn hay tôi bằng. Cho nên chúng nó là hai anh em gương mẫu, hai chị em gương mẫu. Chúng ta có thể đưa hai bàn tay lên, nắm lấy nhau để cảm thấy đây là hai anh em rất hòa thuận, rất hạnh phúc. Tại vì trong mỗi bàn tay đều có trí vô phân biệt. Chúng ta, dù lớn hay nhỏ đều được mời lấy bàn tay phải nắm lấy bàn tay trái để cảm thấy rằng đây là hai anh em đích thực, hai chị em đích thực, sống với nhau hài hòa được là nhờ có cái trí vô phân biệt ở trong đó. Làm xong rồi thì thở ba hơi. Quý vị có thấy được cái trí vô phân biệt trong bàn tay mình không?

Bây giờ đưa bàn tay ra cầm bàn tay của người ngồi bên để coi thử có trí vô phân biệt trong cả hai bàn tay hay không? Người Pháp cầm tay của người Anh, người Anh cầm tay của người Đức, người Palestine cầm tay của người Do Thái, người Do Thái cầm tay của người Palestine. Chúng ta hãy cầm tay nhau để học bài học của trí vô phân biệt. Tôi chính là anh, anh chính là tôi, tôi chẳng khác gì anh, anh chẳng khác gì tôi. Đó là tinh thần của Bát nhã, đó là tinh thần của vô phân biệt trí. Đây là một bài giảng có ý nghĩa rất thâm thúy mà các cháu thiếu nhi cũng có thể hiểu được. Nếu các cháu tiếp tục học theo hướng này thì khi lớn lên sẽ có kiến thức và sự thực tập sâu sắc vững vàng về đạo Bụt.

 

Lắng tâm để nghe

Con là người mới biết và thực tập pháp môn của Làng được hơn ba tháng nhưng cuộc sống của con đã có rất nhiều thay đổi tích cực. Và sự thay đổi nhiều nhất là ngay chính bản thân con. Trước đó, con luôn là người suy nghĩ tiêu cực vì trải qua những cú sốc tuổi trẻ và thấy cuộc đời thật khắc nghiệt và đau khổ. Khi lòng tốt của con muốn trao đến mọi người thì chính họ đã làm tổn thương con và từ đó trái tim con cứ dần thu hẹp. Con tự xây cho mình một bức tường để muốn giữ khoảng cách với tất cả. Con luôn tự hỏi “hạnh phúc là gì? Mình phải sống như thế này mãi sao?”. Con luôn ước ao có được hạnh phúc chân thực và định nghĩa hạnh phúc của mình không phải vật chất mà là tinh thần. Con hay nghĩ đến những tháng ngày tuổi thơ vui vẻ, hồn nhiên và lại hỏi “tại sao mình không được như vậy nữa?”. Luôn có sức nặng nề trong tâm mà con không biết phải làm thế nào để giải quyết. Vì bản thân có vấn đề nên con đã gây ra đau khổ cho những người xung quanh con. Con thấy mình sai, hối hận và thất vọng về bản thân. Con đã luôn cầu nguyện với Phật và Bồ Tát Quan Thế Âm gia hộ cho con tìm được vị Chân Sư trong cuộc đời này. Con đã lang thang đi tới các chùa để tìm cho được người Thầy đó nhưng mãi không thấy. Có những lúc con đã bật khóc vì cô đơn trong con đường tâm linh của mình.

 

 

Và rồi, cảm tạ đức Phật Thích Ca và Bồ Tát Quan Thế Âm đã đưa con đến với Sư Ông trong một ngày đẹp trời. Lúc đó, con đang quá vô vọng thì ánh sáng đã lóe lên khi con được tiếp xúc pháp môn thực tập Làng Mai trong khóa tu 5 ngày vào tháng 6 năm 2021. Con khóc rất nhiều, khóc như một đứa trẻ được tiếp xúc với pháp môn nhiệm màu của Sư Ông. Con đã rúng động khi nghe những lời giảng sâu sắc của quý thầy, quý sư cô tại Làng Mai Thái Lan và đồng cảm với những nỗi khổ của các thiền sinh trong khóa tu đó. Chỉ trong năm ngày ngắn ngủi, vậy mà con cứ như được sống trong thiên đường. Ánh mắt của con trở nên trìu mến và mọi vật xung quanh con như một bức tranh màu sắc sống động. Con như được ôm lấy và nuôi dưỡng trong những lời dạy sâu sắc của quý thầy, quý sư cô.

Sau khóa tu, con “say mê” đọc sách của Sư Ông quên cả giờ giấc, càng đọc con càng tâm đắc và hạnh phúc. Con cảm thấy tâm thức hạnh phúc của mình đang bị bỏ “đói” bấy lâu nay và lời dạy của Thầy đã giúp cho cái tâm thức đó có cảm giác dần được no hơn. Nhưng rồi thời gian sau đó, con ngẫm ra rằng nếu như mình cứ bay bổng và được ru êm ái trong câu văn của Thầy mà không chịu đi đôi với thực hành nghiêm túc thì có lẽ mình chỉ đang tiếp xúc với cái bóng mà thôi. Thế là con bắt đầu áp dụng sự thực tập cho bản thân và thấy rằng “con đường tu không thực sự dễ dàng”.

Khi lắng nghe sâu bản thân, con đã trồi sụp nhiều lần khi áp dụng sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày và cố gắng tự nhủ “đừng thất vọng, hãy quay về hơi thở”. Khi quay về thân và tâm thì đồng nghĩa ta phải sẵn sàng đối mặt với niềm vui cũng như nỗi đau trong ta. Niềm vui thì không sao nhưng khi phải đối mặt với nỗi khổ, tổn thương, giận dữ thì thật không dễ dàng gì. Khi những đau khổ cứ trồi lên, con đã luôn gọi Bụt trong con giúp con ôm ấp, yêu thương em bé đáng thương này. Có lúc thành công nhưng có lúc thì không. Có thể chánh niệm trong con chưa đủ lớn để dang rộng vòng tay ôm ấp em bé đáng thương của mình.  

Mỗi khi có khó khăn, con lại ngồi nghe Sư Ông giảng hay chăm chú đọc sách. Nhờ đó, con bắt đầu quay lại thực hành với những phương pháp căn bản, thở thật chậm và lắng nghe sâu, sâu hơn nữa, yêu thương mình hơn nữa. Một khi bản thân được cân bằng, con dễ dàng mỉm cười trở lại. Sau mỗi lần thực tập như thế, con có thể sống sâu sắc và nhận diện được những điều hạnh phúc nho nhỏ xung quanh mà trước giờ con không để ý. Con trở nên trầm hơn, ít nói và hành động cũng nhẹ nhàng hơn. Điều đó đã làm chồng con rất vui và tiếp tục ủng hộ con thực tập theo con đường tu học của Làng. Kể từ đó, hạt giống thích làm thơ và vẽ tranh trong con được phát hiện. Con chưa bao giờ nghĩ mình có khả năng này.

Trong quá trình thực tập, con nhận ra rằng: khi có thể lắng nghe thân tâm của mình càng sâu sắc bao nhiêu thì ta có thể tĩnh lặng lắng nghe âm thanh và hình ảnh nhiệm mầu từ Đất Mẹ rõ ràng bấy nhiêu. Quả thật là vậy. Hít vào thở ra, sâu chậm, khỏe nhẹ, Đất Mẹ tuyệt vời, trời xanh mây trắng, chim hót lá reo, gió đùa với lá, nắng trải muôn nơi, ngồi yên tĩnh lặng, đôi môi mỉm cười.

 

 

Mỗi sáng thức dậy, khi nghe những chú chim hót líu lo hay nhìn ánh nắng mới nhè nhẹ xuyên qua cửa sổ, con thấy mọi thứ sao mà đẹp và bình an đến vậy!. Có những lúc, năng lượng chánh niệm trong con bị chùng xuống, con rơi vào căng thẳng, thế là cả gia đình con cùng nhau đi ra ngoại ô, tìm tới những vùng đất có âm thanh của ếch ộp, châu chấu để lắng nghe những tiếng gọi của thiên nhiên như thế. Được tiếp xúc với hương thơm của những loài hoa cỏ dại, con cũng cảm thấy mình có sự liên kết với Đất Mẹ thân yêu, tâm như được cởi trói ngay lúc đó. Đất Mẹ đã nhiều lần hiến tặng cho chúng con ánh trăng rằm lung linh dưới mặt hồ tĩnh lặng. Nhìn thấy trăng, con thấy được hạt giống Bụt trong mình cũng sáng đẹp và thiện mỹ như vậy. Thì ra tìm đến Mẹ đơn giản lắm, chỉ cần ta muốn lắng nghe, muốn quay về thì ta có thể làm được ngay. Muốn là được, đó là sức mạnh của xứ sở hiện tại. Mẹ ở đây, thân ta ở đây, tâm ta đang ở đây, nhiệm màu đang xuất hiện.

 Sau khi duy trì sự thực tập lắng nghe để hiểu và thương bản thân mình được một thời gian, con bắt đầu có kiên nhẫn để lắng nghe người thương của con. Chỉ khi nhận diện về năm uẩn của tự thân thì mới nhận diện được những vấn đề trong mình để biết mình đang bị bệnh gì? tại sao đau khổ? sao cứ quanh quẩn lòng vòng? Và con bắt đầu hiểu rằng người thương của con cũng có những lúc như con. Khi những cảm xúc tiêu cực và tri giác sai lầm khuấy động trong tâm, làm sao để gọi ánh sáng của Bụt chiếu rọi và làm tan cơn bão đó. Nếu cứ loay hoay mãi trong vòng xoáy thì ta sẽ kiệt sức và sẽ phát sinh ra những hành động bất thường. Vì vậy, con đã hiểu được nỗi khổ và vất vả của những người con thương: chồng con, bố mẹ hai bên nội ngoại, anh em, bạn bè, mọi người xung quanh. Từ đó, những xung đột mẫu thuẫn ngày xưa dần dần được tháo gỡ, dù chưa thật sự hoàn toàn nhưng đã êm ái hơn nhiều. Con đã nhận ra rằng: Mọi tổn thương đều cần thêm thời gian để trị liệu. Mỗi ngày một ít rồi mọi chuyện sẽ tốt đẹp.

 Tháng 10 năm 2021   

Con,

Tâm Thuần Thiện                                                                                  

 

                          

Nơi nương tựa vững chãi

Trích trong sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai

Nơi nương tựa vững chãi

Mỗi khi trở về sau một chuyến đi dài mệt nhọc, vừa mở cửa bước vào nhà là chúng ta lập tức thấy khoẻ nhẹ, thoải mái ngay. Cũng như sau một ngày làm việc, phải đối phó với những biến cố, những khó khăn của đời sống hàng ngày, khi được về nhà, được ngồi hoặc nằm nghỉ trong căn phòng của mình ta thấy rất dễ chịu, và căn phòng đó thật quen thuộc, ấm áp. Thực tập trở về hải đảo tự thân cũng giống như vậy. Trong ta có sẵn một vùng rất êm ấm, an ninh. Mỗi khi ta nương theo hơi thở để trở về vùng đất đó thì ta cảm thấy rất bình an, thấy mình được che chở. Cái đó gọi là hải đảo tự thân. Trước khi đức Thế Tôn nhập diệt Ngài cũng có dạy về điều này, nương tựa hải đảo tự thân.

Quê hương bình yên, êm ấm ấy vốn đã có sẵn trong tâm ta. Mỗi khi muốn trở về, ta không cần tốn tiền và mất thời gian đi máy bay hay tàu hỏa mà chỉ cần nương vào hơi thở có ý thức là chúng ta lập tức chạm chân tới miền đất an lành đó. Và quê hương ấy, căn nhà an toàn ấy đi đâu ta cũng mang theo. Tại vì cái hải đảo đó không nằm ở không gian hay ở thời gian ngoài kia mà nó nằm ở trong tâm ta.

 

 

Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải thường xuyên trở về với hải đảo tự thân của mình. Khi mở những cánh cửa giác quan thì chúng ta tiếp xúc với những cái thấy, cái nghe, cái xúc chạm từ bên ngoài. Những pháp trần này như những luồng gió thổi vào căn nhà của ta. Nó làm xáo trộn tâm ta. Cho nên khi trở về, chúng ta phải đóng bớt những cánh cửa giác quan lại.

Đạo Bụt nói tới hai loại tâm thức: một phần tâm thức lớn gọi là tàng thức; một cái thức nhỏ hơn gọi là ý thức, đây là cánh cửa mở ra đón nhận thế giới bên ngoài. Trong đời sống hàng ngày, những âm thanh, những hình ảnh, những bận rộn, lo toan, những ồn ào cụ thể ở bên ngoài sẽ đi vào trong ý thức để rồi rơi vào tàng thức. Nếu những ngọn gió đó mang nhiều ô nhiễm mà cứ ồ ạt thổi vào những cánh cửa giác quan của ta thì sẽ làm cho ta mệt mỏi. Những lúc ấy ta nên đóng cửa lại, ở yên trong “ngôi nhà của mình”. Duy trì hơi thở vào ra có ý thức trong khoảng vài phút thì tâm sẽ bình an trở lại. Đối với người biết thực tập thì chỉ cần một, hai phút là lấy lại được trạng thái cân bằng.

Mỗi khi lên giường tắt đèn đi ngủ, ta nằm nghiêng trong tư thế “Sư tử toạ” đó là thế nằm nghiêng về phía bên phải, trở về với ngôi nhà chân thật của mình và thở. Ta không còn nghe gì nữa, không nói gì nữa. Ta hoàn toàn trở về với chính mình và thở thật bình an. Sau vài ba hơi thở, tự nhiên căn phòng đó trở nên êm dịu, ấm áp, rất thoải mái. Nếu đã quen với phương pháp thở có ý thức, thì chỉ nội trong vài phút là tâm ta có sự lắng dịu và bình an. Và sự lắng dịu, bình an ấy sẽ thấm nhuần giúp nuôi dưỡng và trị liệu những khổ đau trong thân tâm ta.

Có những người không bao giờ cưỡng lại được sự rong ruổi. Họ không biết cách trở về hải đảo tự thân để được nuôi dưỡng. Chúng ta là những người có rất nhiều phước đức nên đã may mắn biết tới phương pháp theo dõi hơi thở để trở về nơi hải đảo tự thân. Và phải biết thêm rằng, nếu thực tập cho giỏi thì trong cái hải đảo tự thân đó vốn có sẵn chim muông, cỏ cây, hoa lá; có suối, bướm, hoa, trời xanh, mây trắng ở trong. Ban đầu ta nghĩ, chỉ có thế giới bên ngoài mới có mặt trời, mới có hoa lá cỏ cây. Nhưng kỳ thực, ở trong này cũng có. Và có khi nó còn đẹp hơn cả ở bên  ngoài. Chúng ta từng đi qua những giấc mơ, trong đó có những hình ảnh, những âm thanh còn đẹp hơn bên ngoài. Vì vậy, ở trong thế giới này cũng có thể có trời xanh, mây trắng. Và tất cả những cái đó đều là những hạt giống ta đã gieo, nay nó trở về và biểu hiện lên bề mặt ý thức. Mây và nắng không hẳn chỉ ở ngoài, mây và nắng nằm cả ở bên trong. Mỗi người phải biết tự chế ra mây, gầy ra nắng, để tới khi bên ngoài không còn mây, không còn nắng thì trong lòng mình vẫn đầy ắp mây trắng nắng vàng. Nhà thơ Mai Thảo đã viết: 

“Hãy chế lấy mây và gầy lấy nắng.
Chế lấy đừng vay mượn đất trời.
Để khi nhật nguyệt còn xa vắng,
Đầu hè vẫn có ánh trăng soi.”

Ánh trăng này là từ trong tâm chiếu ra. Hàng ngày, mỗi khi thực tập thiền hành, thiền toạ ; mỗi khi tiếp xúc được với những mầu nhiệm như nụ hoa, đám mây, giọt nắng, bầu trời xanh, thì tất cả những cái đó đều đi vào tàng thức của ta và trở thành “của để dành” của ta. Thay vì để dành tiền bạc thì ta để dành nắng, để dành mây, để dành niềm hạnh phúc, để dành sự bình an. Đó chính là tu tập.

 

 

Chăm sóc hải đảo tự thân

Có một dạo, cứ vào buổi trưa, sau nửa ngày làm việc tôi hay đi nghỉ một chút. Khi ấy tôi hay mở CD tụng kinh của Thượng toạ Tịnh Quang ra nghe khoảng năm mười phút để cho những bài tụng đó thấm vào trong lòng. Nhưng tới giai đoạn sau, tôi nghĩ rằng không cần phải nghe kinh nữa tại vì kinh đã ngấm sâu vào tàng thức của tôi rồi. Bên trong đã có sẵn nên không cần nhận từ bên ngoài nữa. Lúc đó, tôi chỉ nằm thở và để cho kinh ở trong tôi đi ra. Bấy giờ, sự ấm cúng từ bên trong đi ra còn lớn hơn là sự ấm cúng từ bên ngoài đi vào. Khi theo dõi hơi thở, có sự lắng dịu trong tâm thì ta thấy ở trong mình có đủ hết rồi, và ta không còn cần bất cứ một cái gì từ bên ngoài nữa hết. Rất mong rằng quý vị tập được thói quen này.

Tuỳ theo sự thực tập của ta mà hải đảo tự thân đó có thể trở nên đẹp đẽ tới mức nào. Cũng như khi bước vào một căn phòng sạch sẽ, có treo những bức tranh hay những bức thư pháp thì ta cảm thấy rất thích thú, vì căn phòng gọn gàng và đẹp đẽ quá. Ý thức của ta cũng như vậy. Nếu có tu tập thì trong tâm ta sẽ có hoa, có bướm, có thông reo, có suối chảy. Mỗi khi trở về, ta đều cảm thấy thoải mái, hạnh phúc. Mỗi ngày ta nên trở về nhiều lần. Ban đêm trước khi đi ngủ, nằm trên giường và vui thú với cái vùng an ninh đó. Chỉ có mình với mình thôi. Rất là khỏe.

Khi ta trở về với hải đảo tự thân, ta nuôi dưỡng hơi thở, sống với hơi thở và hơi thở sẽ làm cho thân tâm êm dịu. Bên trong ta có thể hơi có sự xáo trộn, nhưng khi đã trở về rồi thì với hơi thở, ta chăm sóc được thân và tâm, và sự xáo trộn đó sẽ lắng xuống. Chỉ cần trong một hai phút là ta hưởng được sự an tịnh của hải đảo bên trong rồi. Khi có hơi thở chánh niệm và sự lắng dịu rồi thì Tam bảo cũng nằm ngay ở trong đó. Và nương tựa vào cái vùng an ninh đó tức là đang nương tựa vào Phật, Pháp và Tăng. Giây phút đó là giây phút ta thật sự đang Quy y, đang được che chở bởi Bụt, Pháp và Tăng. Quy y không phải là chắp tay lại và chỉ đọc ba câu con về nương tựa Bụt, Pháp, Tăng. Quy y là trở về với hơi thở chánh niệm, an trú trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây. Khi tâm bình an, thoải mái tức là khi ấy trong ta đang có Tam Bảo che chở. Trong hải đảo tự thân luôn luôn có Bụt, Pháp, Tăng; có đạo hữu, tổ tiên, bạn bè ở trong.

 

 

Pháp thoại trực tuyến: Nương tựa hải đảo tự thân

“Khi thấy mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm, khó khăn hoặc đang đánh mất mình, chúng ta có thể thực tập quay về nương tựa. Thay vì hoang mang, hốt hoảng hoặc để mình chìm đắm trong tuyệt vọng, chúng ta phải tin vào khả năng tự chữa trị, tin vào sức mạnh của sự hiểu biết và thương yêu trong chính chúng ta. Chúng ta gọi đó là hải đảo tự thân, là hải đảo của bình an, của niềm tin, của vững chãi, thảnh thơi và thương yêu. Chúng ta có thể quay về đó để nương tựa. Chúng ta không cần đi tìm ở một nơi nào khác. Hãy là hải đảo cho chính mình.”

Kính mời đại chúng trở về Học Viện Ứng Dụng Châu Âu – Làng Mai tại Đức để cùng có mặt và lắng nghe bài pháp thoại của sư cô Đoan Nghiêm với chủ đề “Nương tựa hải đảo tự thân“. Bài pháp thoại sẽ được phát trực tiếp qua Zoom và trên kênh Youtube Làng Mai vào lúc 9.00 sáng (Châu Âu) – vào khoảng 15.00 chiều (giờ Việt Nam) Chủ Nhật ngày 31.10.2021.

Để tham dự trực tiếp qua Zoom, kính mời đại chúng nhấp vào ô vàng dưới đây:

THAM DỰ LẮNG NGHE QUA ZOOM

Mật khẩu: langmai

Dưới đây là liên kết của bài pháp thoại trên kênh Youtube Làng Mai:

 

 

 

Lắng nghe đất mẹ – Món quà mừng ngày tiếp nối thứ 95 của Thầy

Trong cuộc đời hành đạo của mình, Sư Ông đã dành nhiều tâm huyết để trao truyền, giảng dạy và nhấn mạnh về sự tương tức giữa chúng ta và đất Mẹ. Đất Mẹ là chúng ta, chúng ta là đất Mẹ. Sư Ông dạy chúng ta thương yêu đất Mẹ như chính bản thân mình, bởi vì đất Mẹ là hiện tại và cũng là tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta. Cuốn sách Tâm tình với Đất Mẹ là một hướng dẫn cụ thể của Sư Ông về sự thực tập thương yêu, tôn trọng và bảo hộ đất Mẹ.

Từ những năm đầu của thập niên 70, Sư Ông đã tiên phong trong lĩnh vực bảo hộ môi trường sinh thái. Người đã vận động và tổ chức cho Phật tử, các nhà khoa học và các cộng đồng địa phương trong việc chăm sóc và bảo hộ đất Mẹ. Sư Ông dạy rằng bước đầu tiên trong việc chăm sóc tự thân và chăm sóc hành tinh của chúng ta chính là sự thực tập lắng nghe sâu. Đây là một hành động mang tính cách mạng trong thế giới đầy huyên náo và ồn ào của xã hội hiện đại.

Để bày tỏ tình thương và lòng biết ơn đến Sư Ông nhân ngày tiếp nối thứ 95 của Người, chúng ta đã được mời cùng thực tập và chia sẻ với nhau về sự chăm sóc, bảo hộ đất Mẹ của mình; cùng nhau học hỏi các phương cách hiệu quả hơn trong sự thực tập này. Trong đó, quan trọng nhất chính là cách chúng ta thực tập lắng nghe chính mình, lắng nghe người thương và lắng nghe đất Mẹ – qua một phương cách của riêng mình. Sự thực tập chánh niệm của mỗi chúng ta chính là món quà quý giá nhất mà ta có thể dâng lên Người để ăn mừng ngày tiếp nối.

BBT đã nhận được những bức thư chia sẻ về sự thực tập này với hình thức của những bài viết, bài thơ, hình ảnh, bức tranh… Tất cả đã được BBT gom lại và gửi tới Sư Ông nhân ngày tiếp nối năm nay.

Kệ truyền đăng trong Đại giới đàn “Qua Bờ” từ 1-4/10/2021

Quý thầy, quý sư cô Giáo thọ mới:

Trong khoá tu an cư kiết đông 2021 “Vô phân biệt trí” tại Lộc Uyển, Tăng thân đã trao đèn cho 2 thầy dưới đây: 

1. Thầy Thích Chân Pháp Giới

(Lê Anh Tuấn)

Pháp mầu Như Lai người đã tỏ

Giới châu, tâm ấn, liễu vô sanh

Kế thế, truyền đăng dòng sư tử

Thừa tiếp Tâm tông đạo quả thành

2.Thầy Thích Chân Trời Ngộ Không

(Michael Becka)

Ngộ tâm chẳng thuộc thời gian

Không môn nào phải rộn ràng đến đi

Đá mòn mưa pháp khắc ghi

Thiên nhiên nở đóa tường vi cho đời.

Trong đại giới đàn “Qua Bờ” 2021 có những các thầy, các sư cô dưới đây:

1. Thầy Mãn Thức

(Phan Văn Tư

Pd: Tâm Duy)

Trí mầu hoa tạng đã mãn khai
Thức tỉnh hồn say thoát mộng dài
Nắm giữ luật nghi trì mật hạnh
Bồ đề ngự trị giữa trần ai.

 
 

2. Thầy Chân Pháp Thắng

(Đào Hoàng Long

Pd: Tâm Giác Thanh)

An nơi hiện pháp công phu

Nghĩa trả ơn đền tối thắng tu

Đã thấy quê nhà khương kiện bước

Rừng xanh mây bạc cảnh nhàn cư

3. Thầy Chân Pháp Nhiếp

(Pd: Tâm Thọ Bấu)

Pháp mầu truyền lại còn nguyên        
Bao môn nhiếp phục tinh chuyên thở cười
Tới về từng bước thảnh thơi
Trăng thu sáng tỏ chân trời lặng thinh.

4. Thầy Chân Trời An Lạc

(Pd: Tâm Phương Lâm)

Mây tan sấm lặng thấy chân trời
Ra vào an lạc chốn thảnh thơi
Thương yêu nuôi lớn thời thơ ấu
Thở cười sâu lắng mới tinh khôi

5. Thầy Chân Trời Sáng Tỏ

(Lê Minh Cường

Pd: Tâm Nguyên Phước)

Chân trời sáng tỏ đèn tâm

Thở đi nhận diện báo ân hai dòng

Sát na ẩn hiện trùng trùng

Nhìn sâu tự tánh duyên nhân như là.

6. Thầy Chân Trời Tinh Khôi

(Mai Văn Khẩn

Pd: Tâm Thiện Phát)

Chân trời chứa cả thân tâm
Tinh khôi phụng hiến Từ ân trọn đời
Bước chân hơi thở thảnh thơi
Nhìn sâu hiện pháp sáng lời dấn thân.

7. Thầy Chân Trời Tĩnh Lặng

(Nguyễn Văn Sơn

Pd: Tâm Quảng Thái)

Trời khuya vang vọng tiếng chuông ngân

Tĩnh lặng sáu căn gột sáu trân

Đi vào thiền định không vô tướng

Dứt trừ vọng kiến trở về chân

8. Thầy Chân Trời Bao Dung

(Pd: Tâm Quảng Hội)

Chân trời thương hiểu bao dung
Đệ huynh hôm sớm thuỷ chung một dòng
Bước chân địa xúc rỗng không
Đoá hoa hàm tiếu mây hồng có nhau

9. Thầy Chân Trời Tuệ Chiếu

(Pd: Tâm Thanh Trung)

Chí trai cân cả đất trời
Sẵn gươm trí tuệ vào đời độ sinh
Chớ quên soi chiếu lại mình
Chứng nên Phật quả hoàn thành nguyện xưa

10. Sư cô Thích Nữ Chân Quán Nghiêm

(Phan Thị Ngọc Hải

Pd: Tâm Diệu Ngọc)

Chân tướng mài trong ánh lửa hồng
Quán
giới Nghiêm lòng mãi sáng trong
Ngày đêm an trú trên thánh địa
Tự tại rong chơi đến thoả lòng.

11. Sư cô Thích Nữ Chân Tiếp Nghiêm

(Phạm Thị Ngoan

Pd: Tâm Quảng Lê)

Tay Bụt trao truyền nguyện tiếp nhận

Chân pháp an ban giữ nghiêm thân

Rừng thiêng bến cũ cùng quay gót

Ngàn thông khe suối vẫn reo mừng

12. Sư cô Thích Nữ Chân Vũ Nghiêm

(Lê Thị Kim Phương)

trụ phô bày muôn sắc thắm

Lăng già ảnh chiếu cảnh trang nghiêm

Vạn Pháp ẩn hiện tùng duyên khởi

Đất trời hoà tấu khúc tịch nhiên.

13.  Sư cô Thích Nữ Chân Điều Nghiêm

(Lê Thị Hương

Pd: Tâm Diệu Huệ)

Chân thân có mặt tại phàm thân
Điều phục tâm ta hiện rõ dần
Nghiêm tịnh một đời tam tuệ học
Hoàn thành bổn nguyện đáp bốn ân.

14. Sư cô Thích Nữ Chân Dự Nghiêm

(Nguyễn Thị Cẩm Vân

Pd: Tâm Quảng Ngọc)

Hội vui về tới dự trang nghiêm

Bến đỗ tâm linh mãn thệ nguyền

Thân giáo diễn bày pho kinh sử

Đạo tình nuôi lớn đoá bạch liên

15. Sư cô Thích Nữ Chân Cương Nghiêm

(Dư Thị Thủy

Pd: Tâm Nhuận Ngọc)

Cương lĩnh người tu em nắm được

Nghiêm thân vui bước mặc đường xa

Hoa sen vẫn nở hồn tươi thắm

Cát bụi trần gian chẳng bỏ lòng

16.  Sư cô Thích Nữ Chân Ân Nghiêm

(Trần Thị Hồng Phấn

Pd: Tâm Diệu Quỳnh)

Chân vững chãi giữa miền đất tịnh
Ân luôn là chất liệu chuyển tâm
Nghiêm trang nuôi Đại nguyện nơi lòng
Sống viên mãn, trăm năm hiện tiền.

17. Sư cô Thích Nữ Chân Trừng Nghiêm

(Phạm Thị Hoa

Pd: Tâm Thục Huệ)

Tâm trừng thanh ý sáng

Niệm định giữ nghiêm minh

Đất trời nuôi chí lớn

Hoa tuệ hé môi cười.

18. Sư cô Thích Nữ Chân Tu Nghiêm

(Phime Hau Wan Lee

Pd: Tâm Thanh Phong –

Soft Breeze of the Heart)

海衆同修終一味 Chân tu nhất một niệm
莊嚴實地所歸依 Nghiêm hạnh đạo từ tâm
常行 一向如持地 Ưu đàm hoa vẫn nở
建立安般絕是非  Lục độ ngát hương trầm.

19. Sư cô Thích Nữ Chân Hiệp Nghiêm

(Bùi Ngọc Hân

Pd: Tâm Huyền Vi)

協 女 出 釋 女 Hiệp nữ xuất thích nữ

嚴 身 現 戒 身 Nghiêm thân hiện giới thân

功 夫 乘 法 寶 Công phu thừa pháp bảo

處 處 潤 洪 恩 Xứ xứ nhuận hồng ân

20. Sư cô Thích Nữ Chân Thương Nghiêm

(Lê Thị Hạnh

Pd: Tâm Liên Hoa)

Chân trời sáng rỡ bước chân thiền
Lòng thương nuôi trí rộng vô biên
Nghiêm trang dâng Bụt tròn cuộc sống
Liên hoa một nụ, nở hồn nhiên.

21. Sư cô Thích Nữ Chân Her Xuan

(Tan Lay Kuang)

六和爲禪杖 Lục hoà thường quán chiếu
遇義玄無憂 Ái ngữ là huyền âm
舉足登聖地 Dựng xây tình huynh đệ
含笑視春秋 Hợp xướng cùng tăng thân.

22. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Thanh Lương

(Pd: Tâm Giác Chúng)

Chân Trăng toả chiếu Thanh Lương
Nhìn sâu mặc cảm tỏ tường nẻo ra
Thở đi pháp trở về nhà
Đầu kia sen nở ngát toà hương thơm.

23. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Huyền Diệu

(Pd: Tâm Nhật Thuyên)

Thanh lương cổ nguyệt minh hoàn lộ
Gia cơ tông chỉ kiến huyền quan
Vô sanh pháp nhẫn an thường trụ
Diệu khúc hòa âm cử xướng tu

24. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Bích Nham

(Pd: Tâm Liên Tú)

Chân Trăng toả chiếu Bích Nham
Non sông cẩm tú chim ngàn về chơi
Lắng nghe ái ngữ không lơi
Khổ đau vượt thoát vào đời có nhau

25. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Phổ Đà

(Pui Wah Camilla Law

Pd: Peaceful Direction of the Heart)

誓日普陀靈鷲山
法音處處利天人
家歸一步千方月
一步同名報衆恩

Trăng treo trên núi Phổ Đà
Vững thân thiền định tâm hoà cùng trăng
Ta bà tịnh độ đồng thanh
Chân Tăng, chân Bụt đồng hành dạo chơi.

Các vị giáo thọ cư sĩ mới:

1.  Chân Minh Hiện

(Trương Thị Anh Phương)

Tâm an rạng ánh trăng rằm

Thủy mưa cam lộ rã vành lưới mê

Minh vương hạt giống Bồ-đề

Hiện pháp lạc trú đường về bổn môn.

2.True Emerald Ocean – Juliete Hwang

When spirit shines with emerald-pure light
Containing rivers, the vast ocean swells
The Bodhi tree is here, right in plain sight
Each bow we heal with the ancestral bell

3.Chân Chánh Uyển

(Trần Hoàng Phương)

Tâm Bụt tâm con vốn không hai

Quang rạng chơn như tọa liên đài

Chánh kiến ba thân vươn trời rộng

Uyển vườn tuệ giác đã đơm bông.

4.Chân Lưu Phong (True Flowing Tradition)

Lê Chân Tâm (Phi)

Tâm cẩn trọng tư duy chánh ngữ

Nụ hoa cười khởi niệm vô tư

Sống chết một đời không hệ lụy

Chân lưu phong rỗng thể thái hư.

5.Chân Lương Uyển

(Phan Thị Thương Châu)

Chân Lương Uyển chân không thường tại

Tâm Bảo Ngọc diệu thể bất sinh

Niệm, định công phu mặt trời tuệ

Vượt ái sông mê lộ chơn hình.

6.True Land of Happiness (Chân Lạc Độ) (David Hughes)

Grass roots in land twice-blessed by damp and sun
True happiness finds root right here right now
Its voice invites us to no longer run
Our gentle step on earth imprints our vow

7.True Buddha Mountain (Chân Phật Sơn)  (Alex Cline)

The bliss of silence is the Buddha jewel
The wind through pines reveals the mountain’s call
Transcending ebb and flow, all passions cooled
In praise or blame the moon’s still free to soar

8.True Ocean of Jewels (Chân Châu Hải) (Natascha Bruckner)

In oceans lie the rivers, clouds and rain
True jewels refracting light that wakes the deep
Compassion heals by embracing pain
Good friends reveal the path beneath our feet

9.True Land of Joy (Chân Hỷ Độ)

(Theodate Lawlor)

Gardens of joy bloom from Earth’s living crust
Across the land people eat, laugh and play
To harvest fruit we sow patience and trust
And sing to stars that turn to light of day

10.True Ocean of Grace (Chân Ân Hải)

(Joseph Reilly)

The sound of grace bends the wind of the mind
Oceans bring rain to quench the flames of fear
The roots that dig down deep know what they find—
Earth penetrates them all with love right here

11.True Land of Fortunes (Chân Hạnh Độ) 

(John Wadsworth)

Fortunes beginningless and without end
When we maintain virtue within this land
The wooden fish drum’s even beat now blends
With rising tide that floods the shifting sand

 

12.True Lotus Concentration (Chân Liên Định)

(Brian Otto Kimmel)

The beaded drop on lotus leaf now glides
In concentration learning how to fall
Not long nor short in motion it arrives
And chants in silence water’s native call

13.True Mountain of Spirituality (Chân Linh Sơn) (Susan Glogovac)

Fresh mountainflanking flowers fetch dawn dew
A spirit-breath now heals across the land
Each solid step arrives at life still new
Our boundless heart love’s refuge here expands

 

14. True Source of Treasure (Chân Bảo Nguyên)

(Joseph Spaeder)

The stream’s high source continues clouds and snow
True nature’s treasure lies within its flow
The ground of mind is clear and free as is
It has no net or view, just letting go

 

Trái Tim Tương Tức

Sư cô Chân Đức

Mùa an cư năm nay (17.9.2020-15.12.2020), đại chúng đã có cơ hội nhìn sâu vào chủ đề “không phân biệt” dưới góc nhìn tâm phân biệt biểu hiện nơi cá nhân mình và sự biểu hiện của nó trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội để tìm cách làm lớn mạnh hạt giống không phân biệt trong mỗi người chúng ta. Chân Đức xin chia sẻ dưới đây một chút những gì mình đã học hỏi được.

 

 

Trong bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, thầy có nhắc đến cuộc thí nghiệm do một cô giáo người Mỹ thực hiện trong lớp học với học sinh người da trắng thuộc các gia đình trung lưu. Cô giáo đã chia lớp học ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các em mắt xanh, và nhóm thứ hai gồm các em mắt nâu. Trước tiên cô bảo các học sinh mắt xanh rằng vì có mắt xanh nên các em thông minh, và bảo các em học sinh mắt nâu là vì mắt nâu nên các em không thông minh. Khi Chân Đức nghe nói về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức nghĩ thầm: “Một nhà giáo sao lại có thể làm như vậy?”. Cô giáo cũng có nói rằng cô cảm thấy không thoải mái chút nào trong suốt cuộc thí nghiệm, nhưng cô nghĩ rằng nó rất đáng công để thử. Các em học sinh sẽ có thể học được một bài học thực tế từ đời sống thật.

Sau khi các em học sinh mắt xanh nghe nói tính thông minh có thể được căn cứ theo màu mắt, sự tự tin của các em gia tăng và các em học khá hẳn lên. Trong khi đó, các em học sinh mắt nâu mất hết tự tin và học kém đi. Ngày hôm sau, cô giáo lại nói với các em điều ngược lại làm sự tự tin của các em học sinh mắt nâu tăng lên, và các em mắt xanh thì mất hết tự tin. Cuối cùng, cô cho cả lớp biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm. Sau đó, cả lớp đều học khá hẳn lên vì các em đều nhận ra rằng khả năng học tốt là một khả năng bẩm sinh, có sẵn trong mỗi cá nhân. Một điều quan trọng khác nữa mà các em học được là không nên kỳ thị người khác vì vẻ ngoài của họ.

Cô giáo theo dõi học sinh trong lớp cho đến khi các em trưởng thành. Sau khi các em đã ra đời đi làm, các thành viên trong lớp vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm về sự thực tập không kỳ thị theo cách thức mà người da trắng tầng lớp trung lưu thường không làm.

Sau khi nghe chia sẻ về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức có dịp nhìn vào tâm phân biệt của chính mình và tự hỏi: “Mình có đánh giá người khác dựa vào bề ngoài của họ không?”. Chân Đức bắt đầu thấy mình phân biệt như thế nào khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Khi thấy một sư cô hay một thầy mà Chân Đức có ấn tượng tốt, trong lòng Chân Đức ghi nhận “mình thích người này”, trong trường hợp ngược lại thì “mình không thích người này”. Chân Đức không thấy người ấy trong hiện tại như chính họ. Đây là một tập khí sâu dày mà Chân Đức có thể sửa đổi bằng cách dùng chánh niệm quán chiếu về cảm thọ và tri giác. Trong những buổi pháp đàm sau bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, quý thầy, quý sư cô và nhiều vị thiền sinh đến từ các quốc gia khác nhau đã chia sẻ về tâm phân biệt biểu hiện dưới kinh nghiệm cá nhân của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc. Thí dụ như ở Việt Nam, người miền Nam phân biệt người miền Bắc; tại Guatemala, người gốc Latinh phân biệt người bản địa.

Trong một đoạn video ngắn do thầy Pháp Linh chia sẻ, chúng ta nhận thấy trẻ con có thể kỳ thị chính mình dựa trên vẻ bề ngoài. Một em bé da màu có thể nói rằng con búp bê da màu là không đẹp, con búp bê da trắng mới đẹp. Người ta có thể mất tự tin vì những thông điệp nhận được từ xung quanh. Một sư cô sang Úc tị nạn nói với Chân Đức rằng trở ngại lớn nhất của sư cô là mặc cảm sâu dày mình là một người tị nạn. Sư cô đã nhận ra việc chuyển hóa mặc cảm tự ti ấy có ý nghĩa đến mức nào. Chân Đức cũng nhận ra rằng việc làm người khác tự tin hơn quan trọng đến thế nào. Có những người vì vẻ bên ngoài hay vị trí xã hội (thí dụ người tị nạn) bằng cách này hay cách khác đã nhận được thông điệp rằng họ là thấp kém. Họ đã nhận thông điệp ấy từ khi còn thơ ấu, hay có khi trước đó nữa, do tổ tiên trao truyền lại. Bởi vì tổ tiên của họ có thể cũng đã nhận cùng một thông điệp ấy.

Thầy Pháp Linh cũng chia sẻ một đoạn video với một thí nghiệm khác được tiến hành ở Ba Lan. Ở đó, người tị nạn từ Trung Đông, Syria được sắp xếp thành cặp với người Ba Lan. Một người Ba Lan bản xứ ngồi đối diện với một người tị nạn, và họ chỉ ngồi nhìn vào mắt nhau, không nói năng hoặc suy nghĩ gì cả. Đã có một sự cảm thông vượt thoát ngôn từ được thiết lập giữa hai người, một sự thấu hiểu lẫn nhau vượt lên trên giới hạn của kiến thức và tâm phân biệt. Chúng ta học từ Bồ tát Quán Thế Âm cách nhìn bằng con mắt từ bi, và đây là khả năng mà tất cả loài người chúng ta đều có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tập luyện qua những tương tác hàng ngày, để có thể nhận ra khi nào chúng ta đang không nhìn bằng mắt thương.

 

 

Chân Đức cũng có dịp lắng nghe vài cô thiền sinh da đen, thành viên của tăng thân, qua Zoom. Nhóm có bốn người, hai người da trắng và hai người Mỹ da đen. Sau một lần họp mặt, Chân Đức mời một thầy người Tây phương hướng dẫn lần gặp kế tiếp vì nghĩ rằng thầy làm khá tốt. Thầy ấy từ chối và bảo rằng tại sao chúng ta không mời một người khác? Vì thế Chân Đức đã mời một cô người da đen và thấy cô đã hạnh phúc như thế nào khi được mời làm chủ tọa buổi lắng nghe sâu sau đó.

Năm 2016, khi Chân Đức đến Hội Chủng viện Thần học ở New York đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp, tại đó có lễ khánh thành một phân khoa mới với ba giảng viên là người da đen. Chúng tôi được cho biết là Hội dự định sẽ có 50% người da màu trong phân khoa. Ở đây, người ta muốn gửi đi một thông điệp mới thay thế cho thông điệp cũ mà mọi người đã tiếp nhận từ lâu nay là một người da đen không học giỏi bằng một người da trắng. Chúng ta có thể cho rằng hướng đi này là phù hợp với đạo đức. Nó không phải là việc sửa sai quá khứ mà hơn thế nữa, nó cung cấp cho xã hội một cái nhìn mới.

Một số thành viên tăng thân người da đen và da màu đặt câu hỏi là tăng thân của chúng ta góp phần như thế nào trong thông điệp này? Ai trong chúng ta cũng muốn đem giáo pháp chia sẻ cho đồng bào của mình. Các thầy, các sư cô người Việt muốn đem pháp môn Làng Mai về chia sẻ ở Việt Nam; các thầy, các sư cô người Trung hoa muốn đem pháp môn Làng Mai về Trung quốc, vậy thì lẽ đương nhiên người Mỹ da đen cũng muốn chia sẻ pháp môn với đồng bào người Mỹ da đen của họ. Ở Baltimore, tăng thân người da màu đã sở hữu được một nhà thờ cũ, đủ rộng rãi cho vài trăm người, biến nó thành một nơi mà người da đen và người da màu có thể đến với nhau như một tăng thân, cùng chia sẻ và tham gia các sinh hoạt văn hóa. Họ nói rằng các pháp môn cần được chia sẻ trong một bối cảnh hoàn toàn không mang tính tôn giáo.

Ngôn ngữ sử dụng để chia sẻ giáo pháp phải phù hợp với người tiếp nhận. Do đó, khi giới thiệu sự thực tập cho người da màu, tiếng Mỹ được sử dụng có thể sẽ rất khác với tiếng Mỹ dùng giới thiệu pháp môn cho người da trắng, là nhóm của đa số. Người sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất cho người da màu chính là người da màu. Giáo pháp luôn luôn nhu nhuyến như thế. Cũng như ở Việt Nam, giáo pháp đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa Việt thời trước đạo Bụt, như bàn thờ Tổ tiên chẳng hạn. Ở Tây Tạng và Nhật, đạo Bụt cũng tiếp thu văn hóa của các nước này. Ở Tây phương đạo Bụt cũng cần phải như vậy. Có nghĩa là người Mỹ da đen, người Mỹ bản xứ… cần một đạo Bụt thấm nhuần văn hóa Mỹ. Bạn có thể thắc mắc là: chúng ta không thể chỉ có một đạo Bụt Bắc Mỹ duy nhất cho tất cả mọi người tới từ bất cứ nguồn gốc nào hay sao? Không ai muốn có sự chia rẽ, càng có nhiều điểm chung càng tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn cần chăm sóc những nhu cầu riêng của mình. Nhưng nếu thực sự muốn làm lớn lên tâm không phân biệt của mình, chúng ta cần chăm sóc những nhu cầu riêng này trong tinh thần tương tức “hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi, và khổ đau của bạn cũng là khổ đau của chính tôi”.

Chúng ta công nhận nhu cầu của người Mỹ da đen trong việc phát triển một ngôn ngữ mà họ thấy phù hợp cho chính đồng bào của họ. Thế nhưng sau cùng, chúng ta cũng vẫn cần đến với nhau. Thí dụ như trường hợp những khóa tu cho nhiều lứa tuổi đã được tổ chức. Chúng ta cần phong trào Wake Up của người trẻ bởi vì những người trẻ có những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều đó không ngăn ta tổ chức các khóa tu cho mọi lứa tuổi để tất cả mọi người có thể cùng chia sẻ kinh nghiệm và sự thực tập với nhau. Ai thực tập niệm, định, tuệ cũng sẽ có sự giác ngộ. Sự giác ngộ ấy vượt thoát màu da, chủng tộc và, một cách rất tự nhiên, sẽ mang mọi người đến với nhau.

Trong bài pháp thoại về lập trường đạo đức kiên định (moral courage), sư cô Lăng Nghiêm chia sẻ về khuynh hướng thủ thế tiềm ẩn trong ta, về bản năng bảo tồn bản sắc nằm sâu trong mỗi chúng ta. Thật khó để chúng ta đôi khi nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác nếu như ta không có tuệ giác tương tức. Lập trường đạo đức kiên định là khả năng buông bỏ tự tánh riêng biệt của ta. Sư cô Giác Nghiêm cũng nói về ao ước nguyên thủy và cái sợ nguyên thủy làm ta không có khả năng hiểu và chấp nhận người khác.

Sư cô Thuận Nghiêm nói về việc ta sinh ra trong những đặc quyền hoặc trong sự thua thiệt như thế nào. Tương lai của một em bé sơ sinh da trắng trên phương diện giáo dục, vị trí xã hội, chăm sóc y tế hơn hẳn so với những gì  mà một em bé sơ sinh da đen sinh ra trong cùng một thời điểm tại nước Mỹ nhận được.

Trong khóa an cư năm nay, Chân Đức có ý thức hơn về những khổ đau do sự phân biệt chủng tộc gây ra trong thời đại của chúng ta. Chân Đức bắt đầu thấy, trong tư cách là một người thực tập, mình có thể làm gì để gửi một thông điệp khác ra thế giới. Chân Đức có thể có chánh niệm hơn về tâm phân biệt của mình. Đôi khi sự phân biệt cần thiết và hữu ích, nhưng có lúc nó lại dẫn đến những tri giác sai lầm và khổ đau. Trong một buổi vấn đáp, thầy Pháp Biểu có nói rằng ngôn ngữ tự nó đã có tính phân biệt. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ để phân biệt ta nên để ý một chút. Thí dụ như khi nói: “Các sư cô là như thế này…” hay “Các thầy là như thế kia…”, có thể sẽ có một ít sự thật trong câu nói mang tính khái quát hóa đó. Nhưng chúng ta đừng nên bị kẹt và nên biết là ta đang nói một câu có tính cách phân biệt. Ta cũng hay nói những câu như “các thầy, các sư cô người Việt” trong nghĩa đối đãi với “các thầy, các sư cô người Tây phương”. Có khi nói như vậy cũng có vẻ thích hợp, nhưng điều quan trọng là khi sự phân biệt ấy đi lên trong tâm thì ta phải tự hỏi chính mình về giá trị của nó và biết rằng ta đang khái quát hóa một điều chưa chắc đã 100% chính xác.

Trong khóa an cư này, Chân Đức cùng một thầy nữa có cơ hội thực tập lắng nghe sâu với một vài thành viên người da đen trong tăng thân. Lắng nghe sâu là một trong những pháp môn quý báu nhất mà Sư Ông đã trao truyền cho chúng ta. Và thật may mắn, trước khi đại dịch Covid xảy ra chúng ta đã có phương tiện truyền thông trực tuyến để có thể chia sẻ và lắng nghe nhau mà không cần phải di chuyển. Việc lắng nghe sâu là một yếu tố căn bản trong công tác xây dựng tăng thân. Nó cũng là bước thứ nhất và quan trọng nhất trong sự thực tập bao dung. Ta có thể hỏi người kia: “Bạn có thể nói cho tôi nghe tôi đã hành xử như thế nào làm cho bạn khổ?”. Chỉ cần lắng nghe sâu thôi chúng ta đã có thể biết mình cần phải làm gì cho tình trạng khá hơn. Chúng ta có thời gian. Nếu ta cần có ba buổi lắng nghe sâu thì ta không nên cố gắng dồn tất cả vào một buổi.

Loài người chúng ta có vẻ dẫn đầu tất cả các loài trong vấn đề kỳ thị. Việc ông George Floyd bị sát hại là một tiếng chuông cảnh tỉnh cả thế giới về thực trạng này. Chỉ có một con đường duy nhất để đi tới mà thôi: ta phải có một tâm thức và trái tim tương tức. Thực tập chánh niệm, nói năng nhẹ nhàng, nhìn và lắng nghe sâu như một tăng thân sẽ giúp chúng ta đạt tới vô phân biệt trí.

Chùa Cam Lộ, xóm Hạ, ngày 20.12.2020

 

Giải thích buông dần triêng gióng

Thanh khí tương ứng tương cầu

Thương yêu sâu thẳm trong tâm

Sau 52 năm tu học, từ năm 1966 em Chung vào chùa, 1969 được thọ giới Sadi, 1973 thọ giới Tỳ kheo, pháp tự là Giác Viên, con đã có một năng lượng thúc đẩy làm sao để biết áp dụng giáo pháp qua các sinh hoạt. Mãi đến 1994, con qua Làng mới được tu với tăng thân nhiều xóm, nhất là nhờ Thầy (Làng Mai) khéo léo, nhẹ nhàng đầy kiên nhẫn và lời lẽ sâu sắc rõ ràng, biểu hiện sự sống của tuệ giác chân thực nơi Thầy, đã in sâu nhiều ấn tượng vào thân tâm, giúp con cảm nhận được rằng, con đang nhờ ân đức của Tổ tiên huyết thống tâm linh, khí thiêng của non nước Lạc Hồng đã un đúc cho con thêm, cái chất “Thương” đã có từ lúc học lớp 6 và lớn theo năm tháng.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho

Thương yêu trải khắp không thời

Ân đức đó cho con, lúc ở nhà nhờ tình thương bao la, phẩm chất tháo vát của mẹ, nhờ quý thầy dạy cho học từ lớp bình dân nơi thôn xóm, thầy cô cấp1, cấp2, lại nhờ bạn bè đầy ắp tình nghĩa chân quê un đúc. Lúc mới vào chùa, con nhờ nương náu quý Thầy, nhất là sư ôn Trú trì, nhờ các điệu tác động, nhờ đạo hữu mến Thầy giúp điệu hết lòng mà tạo dựng, tác thành cho con.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho tăng chúng, cho đệ tử, đến đạo hữu, và khéo léo kiện toàn từng bước về tổ chức giáo hội tỉnh nhà, đến các khuôn hội, nhất là ở những vùng xa xôi, những nơi đời sống dân chúng thường gánh chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt, nghèo đói, thiếu cơm áo quanh năm, song rất giàu tình đạo, nghĩa Thầy. Lâu ngày, người Quảng Trị gọi Thầy là “Cha”.

Thương yêu bảo hộ quê hương

Thầy chăm sóc chu đáo đoàn tác viên của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội như chú Phúc, chú Đính, chú Hà, anh Tuấn và một sư cô người miền Nam.

Các tác viên trẻ này đang cùng dân chúng xây dựng các làng kiểu mẫu về các mặt giáo dục, y tế, kinh tế. Nội dung xây dựng là đánh thức và nuôi lớn tâm chủ động vươn lên để thoát sự trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp, hay buông xuôi bất lực giữa xu thế vọng ngoại, cùng lúc ấy chiến tranh mỗi ngày mỗi tàn phá khốc liệt khắp nơi. Thầy đang tiếp sức với trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội để cùng nhau xây dựng hướng đi độc lập tự chủ cho quê hương, một hướng đi nhân bản, đậm đà văn hóa Văn Lang. Đây là nền tảng của đạo Phật ở giữa cuộc đời và đó cũng là sự vận hành đổi thay tất yếu, song rất bền vững chất sống của dân tộc Việt Nam.

Thương yêu con cháu trưởng thành

Thầy sống rất tình nghĩa mà hết lòng. Con học nhìn, nghe, cảm, thấm năng lượng thân giáo đầy kiên nhẫn, sâu sắc bền bỉ quý hiếm ấy nơi Thầy qua năm tháng. Thầy chú trọng sự hành trì tu tập, gìn giữ thời khóa công phu nghiêm mật, nhưng đời sống thì rất nông thôn chất phác, từ y phục, lời nói,… cái chất quê ấy là vốn liếng lâu đời của Quảng Trị quanh năm thiếu áo thiếu cơm ai cũng phải “khéo ăn mới no, khéo co mới ấm”.

Nhờ thế có lúc việc chùa, việc học ở trường Bồ Đề, khiến con có một thời gian đau đầu đến mức không nói chuyện tiếp xúc với ai, và không thể học hành bình thường được nữa, con lại may mắn có bác sĩ Hoán, cũng là hiệu trưởng trường Bồ Đề Quảng Trị cho thuốc uống. Cái thâm tình của Thầy, của cuộc sống đã tiếp sức cho con vượt qua một cách tự nhiên dễ dàng hơn.

Những nơi đào tạo tăng tài

Sau khi cho con thọ giới Sadi ở Tổ đình Tây Thiên, Huế vào năm 1969 với pháp tự Giác Viên. Cuối năm đó, Thầy cho con vào Báo Quốc Huế tiếp tục tu học. Con học lớp 11 ở Tư thục Bồ Đề, và học Di Đà sớ sao với Hòa thượng Thiện Hạnh, luật Sadi trường hàng với Hòa thượng Đức Phương. Con thu xếp để có thời gian làm sạch cỏ gấu (cỏ cú) ở vườn cam cạnh nhà bếp của chùa Báo Quốc. Con dần dần bớt bệnh. Dịp này, con thỉnh thoảng lên hầu thăm Sư ông Kim Tiên.

Cuối năm 1970 Thầy gởi con vào Phật Học viện Hải Đức Nha trang học Trung đẳng chuyên khoa II. Con phải dự thính một năm mới đỗ vào chính thức, vì chưa học sơ đẳng Phật học. Năm 1973 con còn được Phật Học viện cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát xuất gia. Cuối năm 1974, tốt nghiệp Trung đẳng chuyên khoa, con được dự lễ khai giảng lớp cao đẳng do Hòa thượng Từ Đàm làm hiệu trưởng. Đầu năm 1975, lớp cao đẳng gián đoạn, chỉ học gia giáo tại Phật Học viện với chư Tôn đức. Con lại được tham dự lớp dịch Trung A hàm, gồm có 10 huynh đệ, do thầy Tuệ Sỹ trực tiếp cố vấn.

Vào Cam Ranh

Cũng trong thời gian này, với sự chấp thuận của Giáo hội tỉnh Khánh Hòa do Hòa thượng Thiện Bình làm chánh đại diện, con được Phật Học viện cử vào trông coi chùa Từ Đức, thôn Quảng Đức. Nơi đây có 300 hộ dân Quảng Trị vào định cư tránh bom đạn đã mấy năm rồi.

Mẹ con bán nhà, đất, rồi vào chùa ăn chay niệm Phật, thỉnh chuông đại hồng và chăm sóc bữa ăn cho con, đứa con duy nhất còn lại nhờ nương náu thiền môn mới còn tồn tại. Anh con đã chết năm 1974 tại bệnh viện Mang Cá Huế. Thay mặt gia đình, con chủ động mai táng anh con. Ra ở Mang Cá con bị cảm, sư Như Minh cho đệ tử giúp đem thức ăn thức uống, thuốc men. Con nhớ ân ấy thường thăm hỏi Sư qua những lá thư, nên đó là dịp con được Sư xin cho qua Làng tu học.

Ở chùa Từ Đức, con và mẹ hôm sớm có nhau rất đầm ấm như khoảng 30 năm trước ở trọ nhà bác ngoài quê. Hai mẹ con cùng xay lúa làm gạo đem bán ở chợ Chùa làng Lưỡng Kim.

Ở Chùa Từ Đức

Phẩm chất của một ngôi chùa

Đất chùa rộng hơn 2 héc-ta. Đạo hữu phát tâm công quả trồng khoai mì, khoai lang, bắp, lúa gieo… Nhờ thế, kinh tế chùa đầy đủ sung túc hơn bất cứ hộ gia đình nào nơi này. Lúc ấy, đạo hữu rất bận việc mưu sinh, tối còn đi họp để nghe cán bộ phổ biến nhiều tin cần thiết, nhưng đạo hữu đi chùa đều đặn, đông đúc, nhờ cái tâm tín mộ Phật sâu sắc ở ngoài quê Quảng Trị lâu đời. Con thương đạo hữu nên đêm đêm con trao đổi một vài nét giáo pháp thuộc chánh tín, duyên khởi, nhân quả, vô ngã, vô thường. Kinh Pháp cú trong tạng Nikaya là kinh con thường sử dụng vào các buổi chia sẻ ấy. Con viết Pháp cú lên vách ván của chùa cho mọi người học. Con dùng Pháp cú để lạy sám hối thay nghi lạy Hồng danh. Con lại sử dụng Pháp cú và Nikaya tóm tắt vào cả thời khóa ở chùa, thay vì trì tụng Lăng nghiêm, Thập chú, Mông sơn,… chùa chỉ tụng Tâm kinh Bát nhã. Những lúc cầu an, cầu siêu, đám tang… con đều vận dụng lối hành trì như thế.

Thời gian này, những giáo lý đã học bốn năm ở Phật Học viện Nha Trang trước đây giúp con rất nhiều. Con triển khai rộng hơn tinh thần ấy vào các ngày 30, 14, và lễ lớn tại chánh điện.

Tu là yêu nước thương nòi

Những lúc dự họp ở ủy ban xã hay hội trường Mặt trận tổ quốc huyện, khi nào được gọi phát biểu trước các cán bộ, quý thầy, quý linh mục, mục sư, chức sắc Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, các nữ tu Thiên chúa và các trưởng ban hộ tự nơi chưa có trú trì, thì con cũng vận dụng tinh thần nội dung giáo pháp ấy vào. Con dùng cách chia sẻ sao cho thích ứng với những gì cán bộ vừa phổ biến. Con diễn đạt không mang tính tôn giáo, chỉ mang tính xã hội có lợi ích chung mà mọi người trong hội trường dù địa vị rất khác nhau vẫn có thể chấp nhận một cách tự nhiên. Phát biểu về luật pháp, kinh tế, văn hóa, an ninh, từ thiện hay mê tín và không mê tín tùy theo yêu cầu… Mỗi lần phát biểu như thế con thấy có an lạc, thêm niềm tin chánh pháp, rằng chánh pháp đã cho con cảm nhận sao đó mà có thể góp một phần dù rất nhỏ, để xây dựng cuộc sống chung. Tuệ giác là chánh pháp rất thiết thực, rất sung mãn.

Mỗi lần cần tiếp xúc riêng với cán bộ, công an, con cũng nhờ tinh thần ấy mà dần dần tạo được sự thân tình, cởi mở, như là sự đàm đạo đậm sắc tình bạn cùng chung xây dựng quê hương đất Việt. Sự xây dựng thích ứng với tình hình trong xã, trong huyện sao cho ngày càng tốt đẹp hơn. Con thấy rất vui khi sống với nhau, dù ở đâu cũng thắm thiết tình người, tình đồng bào ruột thịt.

Biết mình phát khởi ưu tâm

Tuy có hạnh phúc nhiều mặt như vậy ngay sau 1975, nhưng trong sâu thẳm, con vẫn tự thấy mình chưa thực sự có cái thấy rõ ràng về phương cách thực tập hằng ngày. Con luôn nuôi khát vọng và lưu tâm học hỏi để tìm ra và hy vọng một ngày nào đó sẽ thấy được.

Ngày mẹ qua đời

Mười ba năm sau, mẹ mất ngày 28 tháng 9 năm Mậu Thìn (1988). Năm giờ chiều mẹ không ăn, người thở rất yên, không thấy có gì là đau đớn, như người nằm ngủ. Thở mũi rồi thở miệng và hết thở lúc tám giờ tối. Con ở bên mẹ, giữ yên lặng. Có bác Cát, chị Tâm ở Tân Thành, người phát tâm giúp mẹ việc ăn uống, tắm rửa vào thời gian cuối đời và vài đạo hữu địa phương.

 

 

Đám tang lợi lạc cho nhau

Một đám tang hướng về sự yên tĩnh tối đa. Không chiêng trống nhạc theo tập quán. Chỉ trang trí các câu Pháp cú về vô thường, vô ngã, duyên khởi. Không thỉnh mời, báo tin. Mọi người đến là Phật tử, bà con tại địa phương rỉ tai nhau. Có 17 chư Tôn đức tăng ni ở trong tỉnh, Phật tử Nha Trang như chị Sáu, chị Kỳ vào tham dự một xe ca. Có hai linh mục Bình và Dụ là người bà con trong họ. Niệm Phật được yểm trợ bằng loa và điện là bình ắc quy đặt trên xe quan tài đẩy đi. Mỗi người cầm một nén hương. Một đoàn người lặng lẽ từ chùa ra nghĩa trang khoảng một cây số, chỉ có tiếng loa niệm Phật rõ ràng vang xa trong không khí yên tĩnh của buổi sáng miền quê. Tối 30 con chia sẻ, sáng ngày mồng Một di quan. Nội dung chia sẻ về hiếu qua giáo lý Phật dạy. Con lưu tâm rất nhiều là trong tang lễ làm sao đem được an lạc đến cho người còn sống, người tham dự đều biết rõ giáo lý ấy để linh động áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Mọi người còn được hướng dẫn lưu ý tối đa về việc bảo vệ môi trường: không xả rác, thức ăn uống trong tang lễ hoàn toàn chay tịnh, đạm bạc, thiên nhiên và đầy đủ, trang trí giản đơn từ chánh điện đến bàn linh… Như vậy tang lễ không chỉ thuần túy là đau buồn ủ rũ, mà cần biến niềm đau ấy thành chất liệu nuôi dưỡng cả người chết lẫn người còn sống và cuộc đời hiện tại. Từ ấy, các tuần thất, giỗ, nhất là sau năm 1996 thì cúng giỗ hàng năm trở thành ngày quán niệm đều mang tinh thần ấy. Các vị tham dự ngày quán niệm đều là do lòng thương tưởng và muốn tu mà đến. Số người tham dự càng ngày càng đông, càng ngày càng đi vào nội dung thực tập chánh niệm, như con hằng ngày mong ước. Mộ mẹ thật đơn giản, có câu đối:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Anh Tuấn cùng xóm giúp khắc chữ lên tấm xi măng cốt thép đính vào vách mộ bằng đá chẻ hình chữ nhật, được xây xong vài ngày sau đó.

Tiền phúng điếu quý bác ban hộ tự tiếp nhận và chi tiêu. Số vàng mẹ bán đất và nhà còn nguyên, con trao lại cho ban hộ tự sửa chánh điện, con chỉ xin một chỉ mua năng lượng mặt trời sạc bình ắc quy do hợp tác xã thanh lý.

Năng lượng duyên khởi, năng lượng “thương” hồi bé đã cho con cái hướng để hành xử qua sự tiếp nhận những thực tế bấy lâu trong chùa cũng như ở xã hội. Con đã học hỏi và chắt lọc để hình thành.

Biết ơn là được bảo hộ

Năm 1994 con được qua Làng tu học với Thầy Làng Mai và tăng thân, một phần nhờ vào những bức thư thăm viếng vì nhớ ơn sư Tây Linh qua đám tang anh con năm 1974 góp phần vào. Quả là còn biết ơn là còn hạnh phúc mà con được học sau này ở Làng.

Có được tuổi thơ

Nguồn mạch thiêng liêng

Giờ đây, từ lúc vào chùa cho đến 2019, trải qua 52 năm tu học, con mới cảm nhận được rằng, chúng ta có thể có tuổi thơ bất cứ lúc nào trước mọi thăng trầm của cuộc sống. Tuổi thơ rất đẹp này chưa hẳn chỉ thuần túy nhờ vào sự tu học của bản thân, mà còn rất cần nhờ vào năng lượng chở che của mạch sống huyết thống và tâm linh vô thỉ vô chung. Mạch sống này trôi chảy qua mọi ngõ ngách sinh tồn và tiếp nối không ngừng.

Trôi chảy mãi là sự vắng mặt ý niệm vĩnh hằng và đoạn diệt, ý niệm có và không. Chính năng lượng ấy giúp con hình thành cái nhìn tươi sáng trong mọi biểu hiện và ẩn tàng của sự sống giữa trần gian. Cho nên mỗi lần con chợt nhớ đến chiếc áo chữ “Thương” là như có mẹ, có Thầy…, có nguồn mạch của hồn thiêng sông núi đã qua mấy ngàn năm lịch sử. Trên đây là cái nhìn tương tức, chính là cái nhìn của tuổi thơ có được từ lúc còn chú bé cho tới bây giờ. Bây giờ mà rõ nhất là tháng 8 năm 2018 tại Pak Chong, Thái Lan.

Hồi tưởng làm giàu hiện tại

Nay hồi tưởng lại các cơ duyên may mắn có được thì sự may mắn ấy con đã nhận từ vô lượng ân nghĩa, song ở đây con chỉ xin điểm lại những mốc chính mà thôi. Con có một gia đình nhà quê, đầy tình làng nghĩa xóm. Con có mẹ là người giàu năng lượng kiên trì tháo vát giữa những cuộc chiến thảm khốc, trong lúc gia đình chẳng có nhà cửa vốn liếng gì cả mà mẹ vẫn nuôi hai anh em con ăn học đầy đủ. Cho đến lúc vào chùa Tỉnh Hội Quảng Trị, con được sống với quý thầy và tám điệu. Rồi lại gặp được Bổn sư, Thầy đã ân cần giáo huấn từ thuở ban đầu. Sau đó được Thầy cho phép vào sống ở Phật Học viện Báo Quốc, rồi vào Nha Trang. Tại Phật Học viện này bốn năm, với sự giáo dục tận tụy của chư Tôn đức. Đặt biệt ở Nha Trang, Hòa thượng Từ Đàm làm Giáo thọ trưởng, thầy Đổng Minh làm giám học, lại được sự yểm trợ hết lòng của ôn Giám viện Già Lam và Hải Đức nên sự học hành của huynh đệ chúng con về mặt tổ chức rất nghiêm túc và có căn bản ý niệm giáo pháp. Vốn liếng bốn năm học giáo lý ấy giúp con sống vững hơn trong môi trường Từ Đức vào năm 1975. Ở Từ Đức, đạo hữu ban đầu phần lớn người quê Quảng Trị giàu tâm đạo, đã yểm trợ hộ trì đúng mức. Nhờ thế, con đã linh động ứng dụng giáo pháp trong nghi lễ và trong hành trì. Con đã chuyên tâm đi về hướng cùng đạo hữu nắm tay nhau trao đổi ứng dụng giáo pháp vào cuộc sống, lúc ấy tuy đang còn thiếu thốn mọi bề, song mọi người vẫn thực hiện được và chưa bao giờ gián đoạn suốt hơn 45 năm qua.

Đó là sự lưu nhuận đổi thay đi lên của tuổi thơ tươi sáng dần dần đầy ân nghĩa thâm sâu của vô lượng nhân duyên đã nuôi dưỡng thân tâm con.

Nỗi khổ dưỡng nuôi

Tuy vậy, do chưa biết thở, biết đi chánh niệm từng giây phút, nên khổ đau vẫn trỗi dậy, có lúc âm ỉ, có lúc bùng phát đến mức như thiêu đốt tâm can của con.

Nỗi đau này lưu lại bao vết thương sâu nặng trong con, nhưng lại là động cơ thúc đẩy con tu học như một chú điệu nhà quê mới vào chùa từ khi được qua Làng năm 1994.

Qua Làng tu học

Ở Làng, cũng học duyên khởi, tứ niệm xứ, quán niệm hơi thở, vô ngã, vô thường, tương tức như ở Việt Nam. Song Thầy Mai Thôn dạy rất kỹ, rất nhiều lần. Thầy có cách trình bày khéo léo, với ngôn ngữ tươi mới, nhẹ nhàng, sâu lắng. Thầy nhấn mạnh nội dung tương tức ở nhiều lãnh vực: giáo pháp, thân và tâm, con người với con người, con người với sinh môi. Thầy trình bày rõ ràng, khúc chiết cách áp dụng nội dung ấy vào mọi sinh hoạt hằng ngày: “Giác ngộ không rời khỏi rửa bát, lặt rau”.

Nhờ cách giáo dục ấy, lại nhờ tuổi thơ quá khứ giúp con nhận ra, biết cách thực tập từ từ, khiến thân tâm con thanh thản, mỗi ngày mỗi sáng tỏ điều mơ ước lưu tâm trước đây. Đây là tuổi thơ trong sáng lành đẹp nơi con nhờ thừa tự chánh pháp chân truyền.

 

 

Về lại Việt Nam

Sau hơn 2 năm 3 tháng (27 tháng ở Pháp) con trở lại quê hương vào năm 1996. Đến Tân Sơn Nhất, con được mời vào trạm an ninh, lập biên bản, an ninh tạm giữ hộ chiếu.

Trong lúc làm việc, con thấy an tĩnh, có niềm vui tự nhiên phát khởi. Hai ngày sau đúng hẹn, con đem hồ sơ được ký ở Việt Nam cho phép đi Pháp và bản tường thuật đã làm gì, đi đâu ở bên đó, nộp cho an ninh.

Sau khi nghiên cứu, vị công an hỏi con rằng tại sao đi trễ quá lâu? Tại sao cho qua Pháp mà đi Đức, Hoà Lan, Thuỵ Sĩ?

Con trả lời tự nhiên. Có sao nói vậy. Rất thật lòng, nên thấy người con rất thanh thản.

Anh công an mới nói “tôi làm việc này là để bảo vệ người dân trong nước cũng như đi ra nước ngoài”. Nghe vậy, con càng vui hơn, con liền kể cho anh ấy nghe về sự chia sẻ của con ở Làng với nội dung cái lạy làm phát khởi lòng biết ơn tổ tiên đất nước đã bao đời ra sức lập quốc và xây dựng nếp sống ngày một tươi đẹp. Nghe xong, anh ấy nói rằng tôi mong có những người đi ra nước ngoài có tâm như thầy. Anh trao cho con giấy bút, gợi ý cho con viết cảm tưởng sau mấy ngày làm việc. Con đã viết: “Cách làm việc trao đổi của anh đã khích lệ tôi rất nhiều cho việc tu học và xây dựng cuộc sống chung ở quê nhà”.

Con đi xe hơi về Từ Đức, đến chùa đã chiều tối. Đạo hữu đã đông đủ đón chờ. Ai cũng vui. Con chào hỏi tất cả, con cũng rất vui. Vào lễ Phật xong, con xin phép đi tắm rồi ra tiếp xúc với mọi người. Con chia sẻ tổng quát việc tu học trong thời gian ở Pháp và nói một ví dụ chi tiết, đó là thiền hành, giúp cho thân tâm nhẹ nhàng an lạc, lại lưu thông khí huyết, dễ chịu mà tránh được buồn ngủ. Rồi cùng đạo hữu đi thiền quanh chùa, yên tĩnh, mát mẻ.

Từ đó, đêm nào đạo hữu cũng đến làm lễ, đi thiền hành và nghe chia sẻ từ từ về thiền ngồi, thiền lạy, tụng kinh, ăn cơm, làm việc kết hợp với hơi thở có ý thức.

Con rất vui, vì được sống ở miền quê thôn dã cùng với bà con chất phác, chăm làm chăm tu. Hoa trái từ Tân Sơn Nhất theo đó mà lớn lên, vì việc làm lời nói đều hướng về sự thật, rất thực tế, chuyển hoá và trị liệu thân tâm và cộng đồng. Cho đến hôm nay sự chia sẻ thực tập có niềm vui ấy mỗi ngày mỗi phát triển, và lan rộng nhiều nơi vì nhờ có tăng thân khắp chốn.

An Bằng Việt Nam

Bây giờ đi tắm biển, bất chợt thấy đòn gánh mà con liền chấn động. Đó là sự biểu hiện của tuổi thơ mang hướng tương nhiếp tương dung ấy. Từ lâu, sự lưu nhuận của năng lượng mọi cái là nhau, biểu hiện qua chất thương trên chiếc áo nông dân thuở bé, con lại có thêm nhiều cơ may được tưới tẩm liên tục từ thuở vào chùa cho đến lúc qua Làng, mà thời điểm rõ nhất là vào tháng 8 năm 2018, con đã trình bày điều ấy ở bài pháp thoại tổng kết 52 năm tu học vào mùa an cư năm 2018. Câu 41 đến câu 44 ở bài Buông dần triêng gióng con đã viết:

Con tiếp tuệ tương tức

Đường hiếu vẫn mở tung

Con lắng là mẹ lắng

Mạch tiên tổ gia phong

Cái nhìn tương tức là sinh khí biến đòn gánh cũ trở thành một pháp ngữ, nuôi lớn sơ tâm đứa con của mẹ mỗi ngày. Sinh khí ấy là cái tâm thiết tha xây dựng cuộc sống bây giờ ở đây nơi tự thân, nơi huynh đệ, nơi tăng thân, nơi gia đình huyết thống, nơi đất nước và sinh môi theo hướng vô ngã, vô thường, niết bàn.

Hiện Pháp giúp mẹ nuôi con

Hồi tưởng về mẹ là con tiếp xúc với niềm thương ấy lúc mẹ còn sống cũng như lúc mẹ qua đời, trong giây phút hiện tại ở thân tâm con, đứa con của mẹ và ở cuộc sống này. Cuộc sống này cũng là mẹ và con:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Nhờ thế mà sự đầu tư của con thường dồn về giáo pháp dấn thân ngay tại đây. Năng lượng ấy phát khởi nuôi dưỡng con và lớn dần theo năm tháng. Chân trời mầu nhiệm của sự sống hé mở, giúp con ý thức rằng con đang mãi mãi chỉ mới bước được một bước đầu tiên rất khiêm tốn trước sự thật vô ngã vô thường vô lượng vô biên. Ý thức như vậy, giúp con càng cẩn trọng trong từng bước khám phá qua bước chân hơi thở mỗi ngày:

Hơi thở đơn thuần đường thoát khổ

Bước chân địa xúc nẻo giáng trần

Trân quý hai cõi âm dương

Đời con bao phen chìm nổi do sự u mê sâu dày của bản thân, nay một bước khiêm tốn này đã là vô cùng quý báu, con cần hết lòng trân quý mới có sự tiếp tục đi tới.

Có thêm duyên để sống mà tiếp tục thì rất tốt, nếu duyên đến phải chết, thì bước đi hôm nay sẽ che chở bảo hộ cho con. Đó là niềm tin của con đối với Bụt, Tổ, Thầy và huynh đệ gần xa mãi mãi giúp con khám phá không ngừng.

Do vậy, có được 52 năm tu học là một may mắn cho con thừa hưởng thâm ân của Tam Bảo.

Tương tức thực tại nhiệm mầu

Trong mạch sống huyết thống, tâm linh vô lượng, mọi hiện hữu đều là mẹ, là Thầy, là huynh đệ của con.

Ân Thầy hôm sớm đệ huynh
Càn khôn tỏa rạng khai thông suối nguồn.

Quả thực như Thầy đã dạy:

“Cuộc đời như một ảo ảnh, một giấc mộng hay một thực tại nhiệm mầu, điều đó hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, tùy thuộc nơi sự tỉnh thức của bạn”.

(Trích Trái tim mặt trời- Sư Ông Làng Mai)

Hiện pháp đắc an tịnh cư

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 (Kỷ Hợi)