(tại xóm Thượng, Làng Mai, ngày 27.5.2018)
Bụt thở cho con
(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 2.8.1998 tại xóm Hạ, Làng Mai)
Ngày xưa khi mới đi xuất gia, lúc mười sáu tuổi, tôi có học bài kệ thỉnh chuông:
“Văn chung thanh, phiền não khinh.
Trí tuệ trưởng, bồ đề sanh.
Ly địa ngục, xuất hỏa khanh.
Nguyện thành Phật, độ chúng sanh”.
Nghĩa là: Nghe tiếng chuông thì cảm thấy những phiền não trong lòng mình trở nên vơi nhẹ, trí tuệ trong mình phát triển, lìa khỏi những khổ đau của địa ngục, tức là những ngọn lửa thiêu đốt của tham dục, sợ hãi và hận thù. Con nguyện sẽ trở thành một vị Phật để độ cho chúng sanh. Và sau mỗi thời công phu, tôi cũng được đọc câu:
“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.
Nghĩa là: Tất cả chúng sanh đang đau khổ số lượng đông đảo không thể đếm được, con muốn cứu độ tất cả, không bỏ sót một ai. Phiền não nhiều vô tận, con nguyện chuyển hóa hết. Những lời dạy thâm sâu của đức Phật và những pháp môn Ngài đưa ra nhiều không thể đo lường hết được, con nguyện tu tập hết. Con đường thành Phật cao viễn tột cùng, con nguyện đi tới tận cùng để thành Phật. Những bài kệ đó cho thấy rõ ràng mục đích của người tu là được thành Phật. Thành Phật là chuyện có thể làm được. Lý tưởng của người tu là để thành Phật, chứ không phải để làm những chuyện khác như là làm chùa lớn, hay lập hội để làm chủ tịch, làm hòa thượng pháp chủ, hay làm trụ trì.
Mục đích tu là để trở thành Phật thôi, đâu có thể nào khác được. Hồi mười sáu tuổi mình đã được học rất rõ ràng như vậy rồi. Nhưng lúc đó, mình còn nghĩ rằng thành Phật chắc lâu lắm mới được, phải từ kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Nếu có người tự xưng tôi là Phật Di Lặc giáng sinh, tôi là Phật Thích Ca, hay tôi là Bồ tát Quán Thế Âm đây, thì mình nghĩ: Ông này chắc là điên rồi. Mình còn là chúng sanh sờ sờ, tham, sân, si còn nhiều, tự ái còn nhiều, xưng là Phật thì ai mà tin được.
Nhưng có một hôm, đang đi thiền hành, đi rất hay, sự nhất tâm rất cao, có niệm, có định, và có tuệ, hạnh phúc rất lớn, tự nhiên tôi có cảm tưởng rằng đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một đức Phật đang đi. Trong con người mình lúc đó có một người đang đi thiền hành và một người đang quán sát. Người quán sát đó nói rằng: “Đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một vị Phật đang đi”, tại vì mình thấy rõ ràng mỗi bước đều có niệm, có định, có tuệ, có hạnh phúc và có giải thoát, không luyến tiếc quá khứ, không mơ ước tương lai. Trong con người của mình có một quán sát viên và một diễn viên. Diễn viên này không có ý muốn trình diễn để cho người ta coi, mà thực sự đang đi với tất cả hạnh phúc. Đi không với mục đích để dạy người ta, để làm mẫu cho người ta đi theo, mà đi giống như một đức Phật đang đi vậy.
Nhớ lại năm đó, tôi và một số các vị xuất gia ở Làng Mai qua hoằng pháp ở Đại Hàn. Hôm đó, cảnh sát đã chặn đường một đại lộ lớn tại Hán Thành để cho mấy ngàn người đi thiền hành. Khởi đầu buổi thiền hành, tôi đứng trên cái bục cao để hướng dẫn mọi người thiền hành làm sao cho có an lạc trong từng bước chân. Sau khi hướng dẫn xong, bước xuống bục để bắt đầu đi thì tôi không có lối để đi. Thiên hạ bao quanh rất đông. Hàng trăm ống kính của máy chụp hình, máy quay phim bao quanh tôi. Không chỉ có những nhà báo mà thôi, người thường cũng có máy ảnh và máy quay phim rất nhiều.
Lúc đó, tôi thấy khó quá! Đi thiền hành như vậy làm sao đi được! Tôi tự nhủ rằng mình chịu thua thôi, mình để Bụt đi giùm mình. “Bụt ơi, con chịu thua rồi! Xin Ngài đi giùm con!” Tự nhiên trong tôi Bụt hiện ra, Bụt bước xuống, Bụt đi một bước, hai bước rất chánh niệm, rất vững chãi. Rừng người từ từ rẽ ra, nhường lối cho Bụt đi. Thật hay. Mình không yêu cầu quý đạo hữu rẽ ra để có đường cho mình đi, mình không phải nói với ai như vậy hết. Bụt ở trong mình lãnh trách nhiệm này. Ngài chỉ cần bước một bước, hai bước là tự nhiên hoàn cảnh trở nên rất thuận lợi. Nhìn cho kỹ thì đức Bụt đó không phải ở ngoài mình, đức Bụt đó ở trong mình. Mình đã tập luyện lâu ngày rồi. Khi Bụt đi thiền hành thì ngài không có cố gắng gì hết, Bụt đi thật tự nhiên, thảnh thơi, thật giải thoát.
Trong mỗi người của chúng ta có Bụt và có ma. Ma nói rằng: “Đi thiền hành mệt quá! Bây giờ mình muốn về nằm trên cái giường của mình cho khỏe”. Mình trốn đi thiền hành, đó là do ma ở trong con người mình xúi. Nhưng trong con người mình cũng có Bụt. Tại vì khi đi thiền hành, Bụt đi rất hay, rất hạnh phúc, đầy năng lượng. Mỗi bước chân đem tới an lạc, thảnh thơi, chuyển hóa, trị liệu, nuôi dưỡng. Trong con người mình có hai yếu tố: một là yếu tố Bụt, hai là yếu tố ma. Ma này cũng hiền thôi. Đó là ma làm biếng, ma nghi ngờ, ma mặc cảm cho rằng mình không giỏi, ma trốn đi công phu, ngủ nướng thêm mười lăm phút nữa… Ma đó cũng dễ thương thôi. Bụt đối với ma không hề có khiển trách, không đánh đập, không trừng phạt. Bụt rất dễ thương, Bụt luôn luôn nói: “Thôi mà! Dậy đi cho rồi, ma!” Bụt cư xử với ma như một người anh với người em của mình. Trong những tuần của khóa hè này, các thiền sinh của chúng ta đã được học rằng trong con người mình, Bụt luôn ôm lấy ma như một người anh ôm lấy đứa em vậy.
Làng Mai có nhiều thầy giỏi về máy tính, trong đó có thầy Pháp Ấn, hễ thấy sư em nào có khó khăn về máy vi tính thì sư anh Pháp Ấn tới giúp và giải quyết rất nhanh. Mình loay hoay với cái máy vi tính hơn một giờ đồng hồ rồi mà không làm gì được. Thấy sư anh đi ngang qua, mình mừng quá! Sư anh nói xích qua bên kia một chút. Sư anh ngồi vô mới có một hai phút đã xong. Rất hay. Sư anh đó tức là Bụt trong người của mình. Mỗi khi mình làm biếng, mình mệt nhọc, mình nghi ngờ, mình thấy khó khăn, thì mình nói: “Sư anh ơi, làm giùm em đi!” Sư anh giúp đỡ đó tức là Bụt ở trong mình.
Nếu mình thực tập khôn khéo thì mình để cho Bụt làm hết mấy chuyện mà mình làm biếng làm. Và tôi đã thực tập như vậy. Cho nên trong khóa này quí vị có một bài kệ mới để sử dụng trong khi đi thiền hành: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mà Bụt luôn luôn thở rất hay và đi rất hay. Trong khi Bụt thở, trong khi Bụt đi thì mình có thể làm biếng được. Bụt như một người anh luôn luôn ôm lấy em mình, thở và đi cho em mình. Trong khi Bụt thở, Bụt đi thì mình được hưởng cái thở và cái đi. Câu đầu là: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mầu nhiệm quá!
Sau khi thực tập được chừng vài ba phút, mình thực tập đoạn kệ thứ hai: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Trong mình có phần làm biếng và có phần siêng năng. Phần siêng năng ôm lấy phần làm biếng để đi giùm, và phần làm biếng được thừa hưởng. Quý vị cứ thực tập đi rồi biết. Khi nào thấy khó khăn, chán nản, làm biếng thì mình nói: “Thôi Bụt ơi, Bụt làm giùm con đi!” Bụt sẽ chấp nhận làm liền. Bụt làm rất hay.
“Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Sướng lắm, mình đâu có cần làm gì đâu, Bụt làm hết. Công nhận là Ngài đi thiền hành rất là hay! Và Ngài ở trong mình chứ không phải ngoài mình. Hạnh phúc lắm, được đi với Bụt và được Bụt làm cho hết, mình chỉ hưởng thụ thôi. “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Kế tới là: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Sau một ngày học hỏi hoặc làm việc mệt nhọc, mình được tắt đèn đi ngủ, nằm trên giường có nệm êm, chăn ấm, mình phải hưởng cái đó. Mình có thể nói: “Bụt nằm thở, Bụt nghỉ ngơi, mình được nằm thở, mình được nghỉ ngơi”. Nằm xuống, đừng suy nghĩ vớ vẩn, ý thức là mình đang có dịp được nghỉ ngơi, được nằm trên giường của mình, khỏi phải làm gì hết, chỉ thở cho nhẹ để hơi thở đưa mình vào giấc ngủ. Mình cũng mời Bụt thở, mời Bụt nghỉ ngơi, và mình cũng thở theo, nghỉ ngơi theo. Mình sẽ đi vào giấc ngủ rất dễ dàng.
Hôm ấy đi thiền hành, tôi đã đi thật hay, tại vì tôi đã mời Bụt đi và Bụt đã đi quá hay. Mình nhờ Bụt làm cái gì Bụt cũng làm hay cả. Có nhiều lúc tôi đánh răng, tôi mời Bụt đánh răng, thì Bụt đánh răng rất hay, đánh răng rất chánh niệm, rất hạnh phúc. Có một bữa, tôi viết thư pháp, vẽ vòng tròn, vẽ vòng tròn thì mình muốn vẽ cho thật tròn và cho tự nhiên. Bữa đó tôi nói: “Thôi để Bụt vẽ, mình vẽ làm chi cho mệt”. Bụt vẽ rất hay. Mình vẽ thì mình còn sợ đẹp hay không đẹp, còn Bụt vẽ, Bụt chẳng sợ gì hết. Và vì không sợ cho nên rất đẹp. Mình cứ thử đi. Mầu nhiệm lắm.
Bụt luôn luôn có mặt hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày cho mình. Vậy mà mình cứ đi kiếm Bụt ở đâu đâu. Kiếm ở trên trời, kiếm ở bên Tây phương, kiếm ở trên bàn thờ, kiếm ở trong chùa. Không phải. Bụt ở trong chùa là Bụt bằng đồng, Bụt bằng xi măng, còn Bụt ở trong mình là thật, là trí tuệ, từ bi, giải thoát, tha thứ, bao dung. Khi gặp một người khó chịu, mình thấy mệt quá, mình chịu thua. “Bụt nói chuyện gì với người này đi cho con khỏi nói”. Thì Bụt sẽ nói và sẽ nói rất hay, rất từ bi. Quý vị nên nương tựa vào Bụt ở trong mình. Bụt ở trong mình hay lắm. Mỗi lần mình nương tựa như vậy, mình giao phó cho Bụt làm thì Bụt càng ngày càng sáng, càng rõ trong mình. Đó là thực tập quy y Phật một cách rất thực tế. Nói con về nương tựa Phật, đó chỉ là nói thôi, chưa phải là quy y thật. Quy y thật là phải để cho Bụt có mặt trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày.
Tôi đã quyết định rồi, đến giờ tôi chết thì tôi sẽ nói: “Bụt ơi chết giùm con”. Và Bụt sẽ chết một cách rất an nhiên, hạnh phúc. Mình được chết theo cái kiểu đó thì rất khỏe. Vấn đề thành Phật không phải là vấn đề xa xôi, kiếp sau hay là ngàn muôn kiếp sau. Vấn đề thành Phật là vấn đề bây giờ, ở đây. Mình thành Phật trong mỗi giây phút. Khi mình nương tựa Phật là mình để cho Bụt làm, để cho Bụt thở, để cho Bụt đi. Mình đang từ từ thành Phật đó. Và khi mình nói rằng mình là Phật, thì không phải là mình điên đâu. Trước đây, mình thấy ai tự xưng là Phật thì mình nghĩ người đó điên rồi. Nhưng theo đúng pháp môn này thì thành Phật là vấn đề mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút.
Tin ở hoa hồng
Khi chị Caroline cất giọng bằng dấu hiệu trên thì cả hội trường hơn 400 người đồng loạt đáp lời và sau đó là sự im lặng tuyệt đối. Đó là cách chị ấy kêu gọi sự chú ý của mọi người khi muốn thông báo một điều gì…
Xung quanh chúng tôi không phải là thiền đường, là chương trình trẻ em hay thanh thiếu niên, càng không phải là thiền sinh tìm về trong một khóa tu chánh niệm thông thường. Đó là trại hè thường niên vùng bờ đông nước Mỹ với tên gọi: Trại hè Văn hóa Việt Nam – đặc biệt dành cho các gia đình người Mỹ bản xứ nhận nuôi trẻ em mồ côi Việt Nam do Catalyst Foundation tổ chức. Đây là tổ chức thiện nguyện được sáng lập bởi chị Caroline cách đây 17 năm, là một nhịp cầu, một cánh tay đưa trẻ em mồ côi Việt Nam đến với các gia đình Mỹ. Và không dừng lại ở đó, tổ chức này còn thực hiện hai trại hè mỗi năm ngay sau khi thành lập để các gia đình được hội tụ, để các em được gặp gỡ và kết nối với nhau.
Các em, từng là trẻ mồ côi sống trong trại tế bần hay những vùng xa xôi, hẻo lánh của Việt Nam, bây giờ đến với trại hè này với gia đình mới, với cuộc đời mới. Có em bé chỉ mới 1 hoặc 2 tuổi, có em 5,6,7… tuổi, có em đã vào tuổi thiếu niên, thiếu nữ, có em đã trưởng thành cùng Catalyst, và nay quay trở lại làm tình nguyện viên trong các trại hè sau. Tất cả vì một lòng Việt Nam, dù không cần ai phải nói tiếng Việt cả. Điều đó không thành vấn đề, bởi các em cần hội nhập trong gia đình mới cùng với cha mẹ nuôi, anh chị em người bản xứ. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện thôi. Điều tuyệt vời nhất là cả gia đình các em đều có mặt trong trại hè Văn hóa Việt Nam này. Chúng tôi gọi đây là nơi gặp gỡ của những trái tim, bởi điều mầu nhiệm này sẽ không xảy ra nếu ta không có trái tim và vòng tay lớn hơn chính mình. Và chính các em, những khuôn mặt bé trai, bé gái rất Việt Nam, chính sự có mặt và trở lại của các em, đã đưa chúng tôi về bên nhau.
Chúng tôi, những người tu sĩ áo nâu khởi nguồn từ Việt Nam cũng có mặt đó cho các em, chơi với các em, khơi dậy hình ảnh trong tâm khảm và tiềm thức xa xôi của các em một thế giới tâm linh, một điểm tựa hồn thiêng sông núi mà chúng tôi và các em đã được ngọn gió tổ tiên thổi qua tận nơi này. Chương trình với các em là những buổi thiền ca, thiền sỏi, thiền buông thư và cả thiền viết thư pháp. Tất cả các em từ tuổi thiếu nhi, thanh thiếu niên đều được tham dự những chương trình thích hợp với mình. Bao nhiêu cũng không đủ khi chúng tôi dạy các em nghệ thuật sống tỉnh thức, thương yêu, tha thứ và có mặt cho nhau. Nhưng thật ra chính các em lại dạy cho chúng tôi cách mở lòng đón nhận những tin yêu của cuộc sống; từ vũng bùn, đóa sen trong trái tim em đã nở rộ, để đón nhận một gia đình mới, hòa nhập một xã hội mới, làm sống dậy một cây đời mới. Các em đã dạy chúng tôi bài học không lời về khái niệm gia đình: nơi nào có tình thương yêu, nơi đó có sự ấm áp của gia đình.
Những người cha, người mẹ, chị Caroline và tất cả những người bạn đã chung tay đưa các em về đây, hội ngộ dưới một mái nhà Văn hóa Việt Nam này. Tất cả các em đều hiểu và chấp nhận một sự thật mình là con nuôi đến từ Việt Nam. Trại hè này dành riêng cho các em như một cuộc về nguồn, trở về để được tự do tắm mát trong nguồn cội của mình. Mà quý hơn cả là gia đình hiện tại của các em cũng được tham gia, tìm hiểu thêm về món ăn, câu chuyện, phong tục, tập quán, văn hoá của người Việt để nối thêm nhịp cầu hiểu và thương trong nhau. Vì một bước ngoặt bất ngờ của định mệnh, các em đến sống trong những trại mồ côi ở Việt Nam, và cũng chính tại nơi đó, các em lại bước qua một số phận khác là gặp gỡ các cha mẹ nuôi của mình. Phần lớn các em được bảo hộ và lớn lên trong môi trường Mỹ, cha mẹ nuôi là những người bản xứ, không phải là người Việt. Nhưng mỗi năm, nhờ những trại hè như vậy, các em được gặp nhau thường xuyên, được gắn kết từ gia đình nhỏ sang gia đình lớn, với chị Caroline, với các anh chị tình nguyện viên mà các em gọi trìu mến là nhóm ACM, nhóm Anh-Chị-Em. Chị Caroline như là người mẹ thứ hai, thứ ba, thứ n.., là người thân không thể tách rời trong gia đình của các em. Đa số các anh chị tình nguyện viên là người Mỹ gốc Việt, cũng có mặt, yêu thương, chia sẻ, quan tâm, trò chuyện, chơi đùa cùng các em hết mình, bằng cả trái tim, bằng những niềm vui, niềm cảm thông, bằng những trò chơi dân gian bình dị của tuổi thơ Việt Nam. Tất cả chúng tôi đều thấu hiểu sâu sắc rằng chỉ cần các em còn có gia đình, còn cơ hội sống, còn được thương yêu, thì các em sẽ còn có tương lai. Hạnh phúc ấy tuy nhỏ bé, âm thầm nhưng rất có ý nghĩa với hết thảy mọi người.
Chúng tôi có mặt ở đó, những vị xuất sĩ Việt, cùng với những người anh, người chị mang dòng máu Việt khác nữa, để chuyển tải một thông điệp là các em không bao giờ cô đơn cả. Ta luôn có cách để tìm về với nhau, với chính mình, tiếp xúc với cội nguồn sâu xa nhất của mình. Chúng tôi thở cùng các em, để thấy núi, thấy sông, thấy bầu trời bình yên thật sự có mặt, thật sự hiện hữu. Chúng tôi cùng nhau trở về với hơi thở vỡ lòng mà có khi em đã không có cơ hội được nhắc nhớ từ thuở xa xưa. Thở đi em, rồi các em sẽ thấy bình an này là thật, cả gia đình và những yêu thương này nữa. Em hãy hít thở thật sâu, còn được hít thở là ta còn có cơ hội sống, làm mới, yêu thương. Và cả thứ tha. Chúng ta cùng làm điều đó với nhau, yêu thương nhau đầy như trời cao, như biển cả để ta vẫn còn tin cuộc sống đẹp như đóa hồng ngát hương trong vườn mỗi sớm mai thức dậy. Và em hãy tự tin ngắt đóa hồng ngày hôm nay dành tặng cho những người thương đang có mặt cùng em. Em hãy biết ơn điều đó, tiếp xúc sâu trong tận cùng tế bào của mình để mỗi ngày em học cách yêu mình và yêu người nhiều hơn.
Đôi khi chúng tôi thấy mênh mông nỗi buồn trong những đôi mắt bé thơ kia. Sự cắt lìa với tình mẫu tử thiêng liêng để lại cho các em những tổn thương lớn lao không dễ gì xóa nhòa trong tàng thức. Có thể đó là điều không tránh khỏi, là sự sắp đặt tréo ngoe của số phận, nhưng tôi muốn nói với các em rằng chúng ta có thể vượt qua những khổ nạn đó của đời sống cùng với nhau, như một gia đình. Nếu cần thì tay chúng tôi đây, lòng chúng tôi đây, em hãy sà vào và khóc đi dù không cần biết lý do là gì. Trong vũ trụ này, không một điều gì có thể mất đi cả dù chỉ là một giọt nước. Hạt nước mắt khô, lên trời có khi lại thành mây, mây ra biển, lên núi, về sông biết đâu lại làm mưa. Mưa rơi xuống lại nẩy những mầm xanh hy vọng. Chúng tôi không biết sự có mặt của mình có thể đem lại điều gì tốt đẹp không, nhưng lòng tin nói với tôi và em rằng, yêu thương thì không cần diễn bày, món quà có mặt là vô giá. Khi tôi ôm một em bé trong tay, tôi đã ôm bằng tất cả cái ôm của những người mẹ, người em, người chị Việt Nam, mong rằng em cảm nhận được trọn vẹn tình cảm đó. Với tình thương yêu đích thực từ đáy lòng mình, ta đã có thể làm nên điều kỳ diệu rồi.
Chúng tôi cũng được ngồi chơi với những bậc sinh thành. Người Việt Nam gọi cha mẹ là những bậc sinh thành nên tôi xin phép gọi cha mẹ nuôi của các em cũng bằng danh từ thiêng liêng đó. Công sinh thành và công dưỡng dục là ngang nhau; huống chi, họ lại có công sinh ra các em trong một đời sống khác. Hành trình gặp nhau, kiếm tìm nhau giữa cha mẹ và con cái cũng gian nan không kém, ít nhất là khoảng cách nửa vòng trái đất và to rộng hơn là tiếng nói của con tim. Một bà mẹ đã nói với con gái nuôi của mình rằng: “Con không được sinh ra từ bụng mẹ mà được sinh ra từ trái tim của ba mẹ”. Lựa chọn từ trái tim bao giờ cũng là lựa chọn đúng đắn nhất dù ngoài kia cuộc sống còn đầy lo toan, vất vả và bất toàn.
Những bậc cha mẹ ấy khi ngồi tâm sự cùng chúng tôi, chỉ bày tỏ sự quan tâm sâu sắc và chia sẻ những yêu thương to như trời biển dành cho những đứa con của họ, gửi gắm niềm hy vọng, hạnh phúc và tương lai của mình vào những đứa con nuôi ấy. Họ chắc hẳn có nhiều lựa chọn, nhưng họ đã chọn các em. Và vì chúng tôi cũng mang dòng máu Việt nên chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến họ dẫu rằng họ không cần điều đó. Chúng tôi hiểu gia đình các em có thể chọn một trại hè khác thay vì đến đây hằng năm như thế này, họ hoàn toàn có thể bỏ qua quá khứ, quên đi mình từ đâu đến bởi ai ai cũng chỉ muốn nghĩ về tương lai… Thế mà nhiệm mầu thay, những gia đình ấy tiếp tục đưa con mình về trại hè, mỗi năm đều được mong chờ như lần đầu tiên. Họ lựa chọn đối diện với sự thật, tình gia đình và cả khổ đau để có thể sống hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.
Khi chúng tôi ngồi giữa những bậc cha mẹ tóc vàng với những đứa con tóc đen ấy, chúng tôi lúng túng, luýnh quýnh và rơi tõm vào hố thẳm của tình yêu thương. Dù không lựa chọn đời sống gia đình vì mang nghiệp tu sĩ, chúng tôi đều hiểu ai cũng có những gánh nặng phải mang trên vai, bởi vậy chẳng ai đủ thảnh thơi để mang vác thêm gánh nặng của người khác trừ phi phải rất yêu thương, kiên nhẫn, bao dung, rộng lượng… Không từ ngữ nào có thể nói hết những gì họ đã mang đến cho những đứa con nuôi ấy… Chúng tôi chia sẻ với những bậc sinh thành ấy bằng lời chân thành của trái tim, bằng cách lắng nghe sâu như một phần làm nhẹ đi những gánh nặng vật chất và tinh thần của họ. Bằng pháp môn Làm mới, chúng tôi nhắc nhớ sự có mặt cho nhau hết lòng và sự trân quý từng phút giây hội ngộ của cuộc đời. Những cơ duyên hạnh ngộ và sống cùng nhau trong đời sống này không dễ có, nên khi đã tìm thấy nhau, chỉ cần ngồi bên nhau, thở cười với nhau trong tình thâm thì những phút giây ấy trở thành quan trọng và quý giá nhất rồi. Từ đó, họ sẽ tiếp tục gom góp nhiều phút giây ý nghĩa như vậy nữa cho gia đình. Chúng tôi thấy nụ cười đã nở trên môi, trong tim họ…
Ở trại hè còn có những chương trình văn hóa cho gia đình, có trò chơi, có món ăn Việt cho các em, có buổi chợ đêm gặp nhau trong niềm hân hoan, trong những chiếc áo dài các em đang mặc. Tôi thấy tà áo dài tung bay, tôi thấy hồn thiêng được trải dài. Các em sẽ mang nước Việt và hồn Việt đến mỗi căn nhà bằng những vẻ đẹp không hình tướng như thế. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành, là người con của cả địa cầu chứ không chỉ còn là con của nước Việt nữa. Nhưng tôi mong em nhớ, mình vẫn nhỏ bé với quê hương, vẫn chảy dòng máu Việt Nam da vàng, kiên cường, lạc quan, khiêm cung, bình dị… như đã từng qua hơn 4000 năm. Chúng tôi nguyện sẽ luôn có mặt ở đó cho các em, vững bền như sông núi Việt Nam, nhẹ nhàng khơi nguồn dòng chảy tâm linh đưa những người con đất Việt đi thật xa rồi sẽ trở về. Chúng tôi tin rằng cho dù em có đi đâu xa nguồn cội của mình, nhưng những lúc như vậy là lúc tìm về, để cội rễ trong lòng em luôn tươi mới, vững bền; để các em luôn được tưới tắm từ nguồn giếng nước thơm trong, mát lành đã từng nuôi dưỡng tổ tiên của mình. Không hiểu sao tôi tin lắm sự trưởng thành và hóa giải những đau khổ của các em. Trời không mưa sao mắt tôi ngân ngấn nước.
Tôi lại muốn nói thêm với các em rằng các em không đơn độc trên hành trình cuộc sống này. Cuộc đời hẳn đã bày ra những trò chơi trốn tìm để các em từ gia đình này lại trở thành thành viên trong gia đình khác. Tất cả đều mang một tên gọi thôi: Gia đình. Mà theo đạo Bụt, đạo tỉnh thức của chúng tôi, chúng ta từ vô lượng kiếp đã từng hữu duyên gặp nhau, đã từng là anh-chị-em, gia đình của nhau rồi. Hội ngộ này chỉ là một mắt xích nhỏ để ta nối thêm niềm yêu thương, quan tâm, chia sẻ dành cho nhau, làm đầy đời sống trong nhau. Gia đình trở thành một khái niệm rộng lớn hơn. Có những nhân duyên dài lâu hay ngắn ngủi để có thể đi cùng nhau, nhiều lắm là 18 năm có lẻ thôi, nên em hãy trân quý dù đoạn đường nhiều hoa hồng hay trái đắng. Tôi đã nhìn thấy đủ nhiều, đã hiểu đủ sâu để biết rằng yêu thương không có nghĩa là phải gắn bó. Đôi khi, yêu thương là chấp nhận sự chia ly và hẹn ngày trở lại để gặp nhau. Như những con thuyền ra khơi và gửi lại những lời hẹn ở bến bờ. Tôi tin các em sẽ học được cách quay về sống với hiện tại, trân quý những điều bình thường đẹp đẽ lấp lánh trong tim, trong tay. Rồi ngày sẽ lại tươi mới phải không em, khi em biết hạnh phúc, bình an là có thật qua những cái ôm xiết, những nụ hôn, những bữa ăn chiều có nhau. Em cứ sống tốt, giữ gìn niềm vui qua tháng ngày và thả trôi những nỗi buồn phiền tiền kiếp. Đôi khi được sinh ra không phải là lựa chọn của chúng ta nhưng sống vui và đẹp như thế nào vẫn có thể nằm trong khả năng của em. Tôi biết em làm được điều đó vì tôi tin em. Tôi tin những người yêu thương em sẽ luôn nghĩ về em, luôn có em trong tim của họ. Và yêu thương em có bây giờ cũng là tình cảm từ trái tim bao la không biên giới. Em hãy dang tay đón nhận, hãy mỉm cười an yên rồi cuộc đời sẽ trả lại em những ngày tháng hồn nhiên. Cứ bình yên, nỗi đau nào cũng được chữa lành và cũng qua đi. Em nhớ nhé, đừng quên!
Khi tôi viết những dòng này thì những giờ khắc cuối năm cũng chậm rãi đi qua. Chút nữa thôi, chúng tôi sẽ đốt lên một đám lửa thật to giữa trời tuyết trắng và sẽ gửi những lời khấn nguyện hay những ước mong của mình cho năm mới trong ánh lửa hồng đó. Nguyện cầu bình an cho em, cho tôi và cho hết thảy nhân loại này. Thời gian đã đi hết một vòng 365 ngày, và mùa xuân sẽ tới sau một mùa đông đằng đẵng băng giá. Tuyết sẽ tan, đất Mẹ sẽ ươm những mầm xanh như bao giờ, bao giờ. Vì lẽ đó, chúng tôi còn niềm tin vui và hạnh phúc. Tôi chúc các em tôi dù ở nơi đâu cũng hưởng trọn những tin yêu và bình an trong sâu thẳm lòng mình. Giữa niềm vui còn được sống, ta còn có ý nghĩa của sự hồi sinh. Hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời không phải là tiền tài, địa vị mà chính là tìm thấy chính mình, không còn bơ vơ lạc loài nữa, là niềm vui mỗi ngày mở mắt nở nụ cười tươi bên những người thân thương. Em hãy mỉm cười và hát ca đi vì ta còn có nhau, còn tin tưởng nhau, tin vào tình yêu thương và cuộc sống như Hoàng tử bé luôn tin vào vẻ đẹp bất tận của đóa hồng.
Chân Lân Nghiêm
Thấy Bụt
Chân Đào Nghiêm
Nhiều ngày trước khi chuyến hành hương về đất Bụt bắt đầu, tôi cùng với các anh chị em xuất sĩ đã có mặt tại Ấn Độ để hướng dẫn một khóa tu. Và ngày hôm qua, chúng tôi đã gặp nhóm cư sĩ nói tiếng Pháp, thành viên của chuyến hành hương. Tôi cảm thấy thật vui sướng, thấy mình thật may mắn được tham gia vào chuyến đi này. Những người bạn cư sĩ đã góp phần rất lớn để chuyến đi được thực hiện. Hạnh phúc biết bao được đặt chân lại trên mảnh đất Ấn Độ sau bao năm tháng mong chờ. Tôi để cho mình được mặc lòng tắm trong hương vị, âm thanh, cảnh vật, con người… nơi đây. Năng lượng của Ấn Độ thật ấn tượng: rất đông người ở khắp nơi, âm thanh đủ loại và ô nhiễm… Sự thực tập là đây. Làm sao để giữ được sự điềm nhiên và bình an nội tâm trong khung cảnh náo động này, để vẫn mở lòng ra và đón nhận.
Đến thành phố cổ Ba La Nại (Varanasi), chúng tôi đi men theo bờ sông Hằng bằng thuyền. Có rất nhiều người cầu nguyện, tắm trên sông. Sự im lặng của mọi người trên thuyền đã giúp tôi tận hưởng được cảnh mặt trời lên và vẻ đẹp của sông Hằng. Cả người tôi rúng động trước sự thành kính, tôn thờ, niềm tin tha thiết, sự mộ đạo và tín ngưỡng sâu dày của những con người nơi đây.
Một cái xác phủ kín hoa đang chờ để được thiêu, một xác khác vừa được thiêu xong, tro đang được thu lượm… Nỗi buồn xâm chiếm lòng tôi. Trẻ em, người lớn cạo tóc trước khi đầm mình dưới dòng sông Hằng linh thiêng. Trò chơi của sự sống và cái chết… Đây quả là những phút giây khiến chúng ta hoặc sẽ mở lòng ra hoặc sẽ bị xáo trộn cực độ. Đối với tôi, sáng hôm ấy, trái tim tôi đã mở ra.
Chúng tôi đi thiền hành trên những con phố nhỏ ở Ba La Nại. Cuộc sống phơi bày trước mắt. Tôi thấy những cảnh đói nghèo, nheo nhóc, nhưng tôi cũng gặp rất nhiều những nụ cười, những ánh mắt thân thiện.
Dừng chân tại Lộc Uyển (Sarnath) nơi Bụt đã cho bài thuyết pháp đầu tiên sau ngày thành đạo, nơi Ngài nhận những vị đệ tử xuất gia và tại gia đầu tiên, cả đoàn cùng đi nhiễu quanh tháp. Thầy, tất cả huynh đệ ở Làng Mai và con gái tôi, Sivakami, đã cùng có mặt trong mỗi bước chân của tôi.
Hạnh phúc quá! Tôi đang đứng tại Bồ đề đạo tràng (Bodh Gaya) – Phật tích linh thiêng – nơi Bụt thành đạo. Từ rạng sáng, một nhóm nhỏ trong chúng tôi đã lên đường tới đây. Hàng ngàn con chim cùng hót vang đón chào ngày mới trên những cây đại thụ bên đường dẫn tới Bảo tháp Đại giác (Mahabodhi). Tôi tận hưởng từng bước chân an trú trong hiện tại của mình. Trời sáng hẳn, tiếng chim ngừng bặt nhường chỗ cho những lời đọc kinh, chú nguyện của hàng trăm người đang có mặt ở nơi này. Một lần nữa, tôi mở rộng mọi giác quan để đón nhận những gì đang hiện diện. Chiều tối, tôi quay lại đền và được chứng kiến một quang cảnh hoàn toàn khác. Tới giờ đóng cửa, hoa và các phẩm vật trên bàn thờ đã được lấy xuống. Chỉ còn lại năng lượng kính ngưỡng, chú tâm được chế tác bởi những người đã tới trong ngày và sự có mặt của những chú chó canh đền đứng nhìn chúng tôi cho tới khi chúng tôi ra về.
Ngày tiếp theo là ngày kỷ niệm mười bốn năm tôi được xuất gia. Hạnh phúc làm sao! Tôi có mặt tại Bồ đề đạo tràng vào đúng ngày này. Chúng tôi trở lại đây từ rất sớm, trước cả giờ mở cửa. Trong số những người đứng đợi có một vị thầy tu Tây Tạng. Tôi chắp tay chào thầy và được nhận lại một nụ cười nở trên khuôn mặt đầy từ bi, bao dung. Buổi sáng hôm ấy, bước chân tôi đã nhiều lần quay lại nơi vị thầy tu ấy ngồi trong an trú và tự tại.
Sau này, tôi cũng gặp một sư cô người Tây Tạng đã có tuổi, người nhỏ bé. Một người trẻ tuổi hơn đi theo đỡ sư cô. Khi sư cô ngồi dưới cội bồ đề ngắm nhìn những cành cây, một chiếc lá rời cành, rơi xuống ngay nơi chân sư cô. Sư cô cúi xuống nhặt chiếc lá rồi đứng dậy, khi đó tôi đã bắt gặp ánh mắt và gương mặt rạng rỡ của sư cô. Tôi như cảm nhận được trọn vẹn niềm vui sướng của sư cô, bởi vì ngày hôm trước tôi cũng đã hân hoan như vậy khi một chiếc lá bồ đề rơi xuống, đậu ngay trước mặt tôi.
Cả đoàn cùng ngồi dưới tán lá cây bồ đề. Tôi đọc một chương trong cuốn Đường xưa mây trắng của Thầy, chương Sao mai đã mọc. Chúng tôi đã cùng trải qua những phút giây thật kỳ diệu.
Sau đó chúng tôi trở lại khách sạn, dùng bữa sáng và chuẩn bị lên đường tới thành cổ Vương Xá (Rajgir).
Chiều hôm sau, cả đoàn tới thăm núi Linh Thứu. Chúng tôi cùng đi thiền hành trên con đường được vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) xây dựng cho Bụt, cùng ngồi ngắm mặt trời lặn trên đỉnh núi trong sắc tím rồi chuyển thành vàng cam. Những ngọn núi xung quanh Linh Thứu đẹp rực rỡ. Tôi chiêm ngưỡng cảnh tượng huy hoàng này trong niềm hạnh phúc vô bờ. Đã tới lúc phải quay về vì trời sẽ tối rất nhanh, nhưng vài người trong chúng tôi vẫn cạo đầu và đắp y để làm mới lại tâm bồ đề trước khi rời khỏi thánh tích linh thiêng mang đậm dấu ấn của Bụt này.
Trong nhật ký hành trình ngày 29 tháng 10 ở Câu Thi Na (Kushinagar), tôi đã viết: “Sự yên tĩnh của buổi sáng hôm nay thật là một món quà tuyệt vời. Không một tiếng động, không một tiếng còi xe, không cả tiếng người, chỉ có duy nhất tiếng chim hót. Tâm tôi cần sự yên tĩnh lắng dịu và mát mẻ này biết bao bởi vì trong suốt chuyến đi, sự ồn ã, náo nhiệt của âm thanh không ngừng có mặt . Tôi chạm được sâu sắc phần con người của Bụt. Tôi cảm nhận Người rất gần với tôi, thật gần gũi như khi tôi cảm nhận được sự có mặt của Đức Chúa ở trong tôi và bên cạnh tôi”.
Trong suốt cuộc hành trình này, tôi đã để cho sự sống nhiệm mầu của Bụt thấm vào trong tôi. Dường như tôi đã được sống lại những gì Người đã trải qua, những gì Người đã từng nhìn, nghe, nếm, ngửi. Cảm giác này rất thật, rất cụ thể và sống động trong tôi. Đó không phải là một ý niệm hay một sự lý tưởng hóa. Người không còn là một nhân vật trừu tượng mà tôi nhìn thấy qua những bức tượng. Người là tổ tiên của tôi, Người rất thật, sống động trong tôi. Dường như trước đó tôi chỉ biết tới Người qua trí năng của mình. Tôi đã không cảm được mối liên hệ mật thiết giữa tôi và Người, tôi đã không thấy được Người có trong tôi.
Tại Xá Vệ (Vaishali), tôi được viếng thăm di tích của các ni viện nơi quý sư cô – những bậc tiền bối của tôi – ngày xưa từng tu tập trong nhiều năm tháng. Những người phụ nữ dũng cảm ấy đã đi ngược lại những cấm đoán của xã hội Ấn Độ thời đó, cầu xin xuất gia theo Bụt. Chúng tôi là hậu duệ của quý vị đây! Chúng tôi đang có mặt nơi này, nơi quý vị từng sống. Tôi thấy cảm động quá! Tôi để niềm xúc động ấy thấm vào trong tôi, đọng lại nơi trái tim. Tôi thấy mình không cần có bất cứ một ý niệm nào hết, chỉ để cho cảm xúc này được sống trong tôi.
Khi tăng thân cùng đi bộ tới chùa Niết Bàn (Mahaparinirvana), có nhiều bé gái tới xin ăn. Tôi nắm bàn tay một em gái nhỏ. Cả hai chúng tôi cùng bước đi. Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh của Thầy cùng thiền hành với trẻ em. Bước chân tôi bỗng trở nên vững chãi, chánh niệm hơn để tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc rất đẹp này. Chúng tôi đi những bước thật đều, thật hòa điệu. Bé gái nhỏ đã tặng cho tôi sự tươi mát, nhẹ nhàng của em. Trước khi tới ngôi chùa, hai chúng tôi chia tay nhau. Người này trao tặng cho người kia một nụ cười thật tươi. Tôi trân quý biết bao những giây phút cùng có mặt với em.
Cả tăng thân đi thiền hành trong khuôn viên chùa. Một tượng Bụt nằm rất lớn chiếm trọn vẹn không gian. Chúng tôi có thể cảm nhận rõ ràng năng lượng chánh niệm của cả nhóm. Đại chúng cùng ngồi xuống, một thầy trong đoàn làm thiền hướng dẫn: “Để Bụt thở… Để Bụt ngồi…” Mỗi câu đi thẳng vào từng tế bào của cơ thể tôi. Chúng tôi thực tập tiếp xúc với sự bất sinh bất diệt qua hình ảnh của Bụt. Bụt vẫn đang có mặt trong cuộc đời…
Chúng tôi tới Nepal. Sáng hôm ấy, một cơn bão đã đi qua lòng tôi. May mắn sao, cả đoàn cùng đi thiền hành dọc theo khu rừng nơi Bụt được sinh ra. Thiên nhiên làm tôi dễ chịu hơn, tôi tập trung vào mỗi bước chân để đưa bình an về lại trong tâm. Một người bạn nắm tay tôi cùng bước đi. Sự hiện diện vững chãi, bao dung, đầy thương mến mà tôi cảm nhận được từ người bạn ấy đã giúp tôi trở về được với vẻ đẹp của giây phút hiện tại…
Trong tôi dâng lên lòng biết ơn những nhân duyên giúp tôi tham dự vào chuyến hành hương Phật tích này. Đây là ước mong của tôi từ năm 2008 khi Thầy và tăng thân đi thăm Ấn Độ mà tôi đã không thể tham dự cùng. Ngày hôm nay đây, mong ước của tôi đã thành hiện thực với sự có mặt của Thầy trong suốt chuyến đi. Thầy không cùng đi bên tôi nhưng Thầy ở trong tôi.
Bụt và Thầy luôn có đây, bước cùng tôi trên mọi nẻo đường tôi đi.
Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk with me) ra mắt tại Paris ngày 03.05.2018
Tối ngày 03.05.2018, tại rạp chiếu phim Le Grand Rex – một trong những rạp chiếu phim lớn nhất và lâu đời của châu Âu – ở trung tâm Paris, bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk with me) đã ra mắt người xem thủ đô Paris. Các vị xuất sĩ Làng Mai được mời tới dự buổi công chiếu và có cơ hội giới thiệu về phương pháp thực tập chánh niệm theo truyền thống Làng Mai. Hơn 2000 khán giả đã ngồi chật kín 3 tầng của rạp chiếu phim.
Sư Cô Chân Không, thầy Pháp Liệu cùng hai nhà làm phim Marc J. Francis và Max Pugh được mời lên sân khấu ngay sau khi bộ phim kết thúc và có một buổi trả lời phỏng vấn với các vị dẫn chương trình của Kênh 2 đài truyền hình Pháp. Những tràng pháo tay sau khi bộ phim kết thúc và tràng pháo tay kéo dài sau bài hát “Nụ cười” (Le Sourire) bằng tiếng Pháp của Sư cô Chân Không đã thể hiện tình cảm của khán giả với bộ phim và với các vị xuất sĩ đến từ Làng Mai.
Tờ báo nổi tiếng của Pháp “Le Figaro” ngày hôm sau có một bài báo nói về sự kiện công chiếu bộ phim cũng như phương pháp thiền tập của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và các vị xuất sĩ Làng Mai.
Trước buổi công chiếu, các bạn trẻ trong nhóm Wake-up Paris tổ chức rất chu đáo một buổi ngồi thiền tại quảng trường Cộng Hoà ngay trung tâm Paris. Sau khi ngồi thiền, quý thầy, quý sư cô và các bạn thiền sinh đã thiền hành tới rạp Grand Rex cách đó khoảng 1km. Những hình ảnh dưới đây được Christophe Audebert ghi lại.
Trở về trong tình anh em
Cách đây 5 năm, cũng đúng tháng 5, Sư Ông có cho pháp thoại ở Jamsil Stadium, Seoul, về vấn đề làm sao giúp đem lại sự hòa giải giữa Bắc và Nam Hàn. Hơn 11.000 người từ khắp nơi đến nghe. Tựa đề là ” Stop and Heal” ( Hãy dừng lại và trị liệu). Hội trường lúc đó đông nghẹt người.
Tình hình Bắc và Nam Hàn vào thời điểm đó rất căng thẳng, ai cũng nghĩ chắc sẽ không tránh nổi chiến tranh xảy ra. Trước khi rời Hoa Kỳ qua Đại Hàn, gia đình và bạn con ngăn cản, khuyên không nên đi. Con còn đăng trên Facebook hỏi có nên đi không, đa số các bạn đều khuyên con đừng mạo hiểm. Nhưng con nghĩ nếu Sư Ông và tăng đoàn không sợ, con lại sợ chi?
Chuyến hoằng pháp của Sư Ông tại Hàn Quốc nằm trong chuyến hoằng pháp ở châu Á kéo dài hai tháng. Sư Ông khai mạc lễ khánh thành Làng Mai ở Thái Lan, hướng dẫn khóa tu, rồi đêm đó bay thẳng từ Thái Lan qua Đại Hàn, cùng tăng đoàn và khoảng 10 thiền sinh. Mọi người bay ban đêm vì vé rẻ và tiết kiệm thời gian, khoảng 6 giờ sáng thì đến Incheon, phi trường của Seoul. Thiền sinh đi trong đoàn đều đến một ngôi chùa để rửa mặt, đánh răng và ngồi chờ đến 12 giờ trưa mới làm thủ tục vào khách sạn. Con vào phòng tắm của chùa mà nhìn thấy mặt con trong gương hết sức mệt, như cá khỏi nước, hết năng lượng. Bay cả đêm, không ngủ được, vì bị thức dậy ăn hai cử ( ăn đêm và sáng) và họ thông báo đủ thứ cả đêm, và cũng vì sau vài tuần ở Thái Lan, con không ngủ được như ở nhà mình. Vì vậy mà con mệt lả, chỉ muốn vô khách sạn thật lẹ để ngủ một giấc. Nhưng rồi con thấy Sư Ông qua bàn ăn của các thiền sinh để hỏi thăm sức khỏe, và Sư Ông nói với đầy tình thương: ” Các con ăn có ngon không, cơm của Đại Hàn ngon dẻo quá phải không?”. Con nhìn mặt Sư Ông lúc đó….hết sức ngạc nhiên! Sao Sư Ông có thể tươi mát như rứa được???!!! Không có một chút mệt mỏi, nụ cười trên môi, còn có sức qua hỏi thăm thiền sinh nữa.
Con còn trẻ, đáng ra phải khỏe hơn Sư Ông chứ… Mấy tuần qua, con chỉ ăn, ngủ và nghe pháp thoại, trong lúc Sư Ông cực nhọc bao nhiêu, cho pháp thoại hằng ngày. Con còn nhớ có một bữa trưa nắng gắt, chúng con thiền sinh Việt Nam và Thái ngồi dưới túp lều nghe pháp thoại, ba mẹ thầy Pháp Siêu và con ngồi nóng quá, chịu không nổi, muốn xỉu luôn. Còn trong lúc đó, Sư Ông ngồi ngoài nắng mấy tiếng liên tiếp cho pháp thoại, không có một cây dù che nắng. Sau đó con nghe quý thầy bảo hôm đó là 400 C. Cái đó chỉ là một chi tiết nhỏ của bao nhiêu cực nhọc Sư Ông đã chịu đựng trong thời gian ở Thái, chỉ vì thương chúng con. Vì tu viện chưa xây nên nghe pháp thoại và ăn ngoài trời.
Con chỉ bay một đêm thôi mà giờ đây con cười cũng không nổi nữa. Lúc đó con mới hiểu được thiền định của Sư Ông thâm hậu cỡ nào, mặc dù trước đó mấy năm con đã chứng kiến Sư Ông khỏe ra sao khi đi hoằng pháp ở Indonesia và nhiều nước khác. Con là một người ít khi biết mệt vì quen đi du lịch nhiều tháng liên tiếp, nhưng trong thời gian ở Đại Hàn, con phải nằm bẹp trong khách sạn một ngày, không ra khỏi phòng nổi. Khi đi hai tháng liên tiếp theo Sư Ông, không có một ngày nghỉ.
Các ông chủ tập đoàn – CEO, CFO – bay từ Seoul đến Gangwon nói với con: “Chúng tôi đã kính xin Thầy về nước chúng tôi rất nhiều năm qua, mà Thầy không về đây được. Mặc dù chúng tôi có cả những công ty rất bận bịu, không có thời gian ăn ngủ nữa, nhưng phải lấy một tuần ra, bay về đây tham dự khóa tu. Vì chúng tôi đã chờ quá lâu và không biết Thầy có về lại đây được nữa không, nhiều khi 10 năm nữa Thầy cũng không có thời gian”. Con nghe mà xúc động, trân quý đến nhường nào.
Con biết Sư Ông, vì đi hoằng pháp mấy chục năm liên tục, không thích có quá nhiều máy ảnh, đầy flash chụp liên tiếp vào mặt, nhất là lúc đang cho pháp thoại, cứ bao nhiêu camera chụp tứ tung, làm Sư Ông bị chi phối. Nhưng nguyên một chuyến hoằng pháp ở Đại Hàn, có một đoàn quay phim của đài truyền hình Đại Hàn đi theo 24h để truyền hình trực tiếp cho người Đại Hàn coi, nghĩa là bao nhiêu máy quay phim và máy ảnh liên tục từ sáng đến chiều rọi vào mặt của Sư Ông.
Trở lại chuyện Sư Ông đến Jamsil Stadium thuyết pháp trước 11.000 người. Anh hướng dẫn viên du lịch dẫn chúng con đến Jamsil Stadium, đi đến đó mất bốn tiếng mặc dù không xa khách sạn. Trong lúc kiếm đường dắt chúng con vào hội trường đông nghẹt, đường xá ở ngoài lẫn trong xe kẹt cứng, anh cứ tấm tắc với con: “Tôi không biết Thầy cô là ai trước đây, và cả bây giờ cũng chưa hình dung được, nhưng tôi chưa bao giờ thấy kẹt đường xá vào sân vận động Jamsil như vậy, chỉ vì một vị thầy thuyết pháp chỉ 30 phút”. Sau khi ngồi nghe khoảng 15 phút, anh ấy trở lại nói với con: ” Tôi thật ngạc nhiên về vị Thầy của cô, vì vị thầy của chúng tôi, rất nổi tiếng và được kính mến ở toàn Đại Hàn, mà chỉ ngồi ở bục thấp đằng sau, chỉ để…… thông dịch!”.
Câu đầu tiên Sư Ông nói trước 11.000 người Hàn là: ” Don’t sit there and pray!” (Các bạn đừng ngồi đó và cầu nguyện thôi). Tất cả mọi người trong sân vận động đều lặng im… Con thấy không khí tĩnh lặng quá nên run, nói với bác sĩ Đoàn ngồi bên cạnh là con run quá, sợ người Hàn phản ứng, vì họ có thưa với Sư Ông là họ tổ chức một buổi ngồi thiền và cầu nguyện cho Bắc và Nam Hàn không xảy ra chiến tranh sau đó. Bác Đoàn quay qua con và nói nhỏ ” Bác còn run hơn con. Vì bác còn bảo thủ. Sư Ông thì không”. Nhưng hơn 11.000 người đó lại vổ tay, cổ vũ Sư Ông dạy tiếp. Con thở phào bình an. Sư Ông dạy họ hành động, đừng ngồi đó chỉ thụ động: “Cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để đạt tới tuệ giác, phải làm sao chấm dứt tranh chấp giữa anh em Nam Hàn trước. Công giáo, Phật giáo đều thực tập hiểu và thấy giá trị của nhau. Đảng cầm quyền và đảng đối lập cũng phải tập chấp nhận giá trị của nhau. Miền Nam ổn định rồi thì sẽ liên hệ với miền Bắc từng bước một…”
Hôm nay Bắc và Nam Hàn trở thành anh em, con biết Sư Ông vui mừng lắm, vì đó là tâm niệm của Sư Ông bao nhiêu năm qua. Cách đây 5 năm, chắc cũng có nhiều người nghĩ Sư Ông không thực tế. Nhưng lúc chúng con ngồi đằng sau các vị quan chức trong chính phủ Hàn Quốc, họ ngồi lắng nghe Sư Ông giảng dạy rất chăm chú.
Sư Ông chỉ muốn trao truyền thông điệp hòa bình ở bất cứ nơi nào Sư Ông đi qua. Và Sư Ông vẫn tiếp tục trao truyền những bài học quý giá cho mọi người, qua hơn 100 cuốn sách Sư Ông viết trong hơn 50 năm – đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng – để mọi người có thể giữ tâm bình an. Tâm chúng con an, thế giới mới an. Chúng con thành kính tri ân Sư Ông, chúng con nguyện giữ chánh niệm mỗi ngày để không phụ lòng Sư Ông đã bỏ ra cả cuộc đời, cho chúng con và cho đời.
(Như Trang)
Nhân dịp này, BBT xin giới thiệu bài tường thuật của quý thầy, quý sư cô thị giả về chuyến hoằng pháp tại Hàn Quốc vào tháng 5 năm 2013:
Tối 30.04.2013, Sư Ông và 40 quý thầy, quý sư cô lên máy bay đi Hàn quốc. Vì bay suốt đêm nên tới đây Sư Ông khá mệt. Ngày hôm sau đi thăm Hòa Thượng Trưởng Phái Tào Khê và họp báo. Có hơn 30 ký giả. Nhiều bài báo đã được đăng khắp nơi bằng tiếng Hàn, nhất là bài viết rất dài trong nhật báo lớn nhất Choong An. Đài truyền hình BTN thu và phát hình cuộc đối thoại của Sư Ông Làng Mai và Thiền sư Mishan.
Thiền sư Mishan rất kính quý Sư Ông – nhân cơ hội phỏng vấn khá dài trên truyền hình này, Thiền Sư đã khéo léo hỏi những câu giúp Sư Ông giải thích cho thính chúng và Phật tử Đại Hàn hiểu rõ về Thiền Chánh Niệm Việt Nam có phải thuộc Đại Thừa không, sao không tu theo Công Án v.v. Buổi đối thoại thật súc tích và khai thông.
Chiều ngày 03.05.2013, hai chiếc xe buýt chở tăng thân và Sư Ông đi ngay lên núi có khóa tu cho 500 thiền sinh tại tu viên Nguyệt Tinh Cổ Tự (Woljeongsa-월정사-月精寺) ở Ngũ Đài Sơn. Sáng ngày 04.05 Sư Ông đã hướng dẫn cho 500 thiền sinh tại chùa và 500 người đi thiền hành. Sau đó đoàn thiền hành đã tiếp tục đi bộ trong rừng. Khóa tu đã kết thúc vào ngày 07.05. Ngày 07.05.2013 khóa tu tại trường Đại học Phật giáo Choong Ang Sangha, Soul. Khóa tu kéo dài hai ngày cho 300 học tăng nội trú và 200 xuất sĩ thuộc các chùa lân cận.
Sự trẻ trung của tăng thân Làng Mai khiến cho Hòa Thượng Mishan cũng vui lây và cũng đứng ra cùng hát chung với đàn hậu thế. Sau khóa tu xuất sĩ ấy, tăng thân chỉ ăn chiều bằng cơm hộp trên xe buýt để kịp giờ xuôi về miền Nam tỉnh Busan.
Ngày 10.05.2013, tuy tăng thân xuất sĩ ở chùa Hoằng Pháp, ngoại ô thành phố Phủ Sơn (Busan-부산-釜山), nhưng buổi thuyết giảng mà 10.000 người Hàn Quốc chờ đợi thiền sư giảng dạy là ở ngôi chùa cổ tên chùa Phạm Ngư vào lúc 3 giờ chiều. Vậy mà đã 1 giờ trưa rồi Sư Ông vẫn nằm bất động trên giường, không thể gượng dậy được. Cơn đau bụng và sốt đã làm Người cứ thiêm thiếp bất động. Sư Ông nằm đó và nghe ban tổ chức báo cáo là không phải 10.000 người như họ dự đoán, mà là 12.000 người đã có mặt rồi. Và người ta vẫn còn tiếp tục lũ lượt kéo tới hăm hở chờ đợi nghe Sư Ông thuyết giảng. Với đà này thì trong 2 tiếng đồng hồ nữa số người tham dự chắc chắn sẽ tăng đến 13.000 hoặc hơn vào đúng giờ khai mạc.
Làm sao Sư Ông có thể để cho 13.000 con người dễ thương ấy phải thất vọng ra về dù cơn sốt đang hoành hành làm cho cơ thể rã rời…Thời khắc thì cứ vô tình trôi qua, …13 giờ 30, …rồi 13 giờ 55… nhưng cơn đau vẫn bám lấy Người. Cuối cùng Sư Ông tự nhủ: “thôi thì để cho chư Tổ thuyết pháp thay mình vậy. Nhưng trước hết mình phải ngồi dậy, đi mặc áo tràng giùm Tổ thì Tổ mới lo được cho mình phần tiếp theo!”. Sau cái cố gắng ấy, Sư Ông gượng ngồi dậy được, Người theo dõi hơi thở và từ từ khỏe ra rồi thong thả lên xe đi đến nơi thuyết pháp.
Vừa tới nơi, quý Hòa thượng của Giáo hội Hàn Quốc vây kín Sư Ông và báo tin là: “Chúng con không ngờ thiên hạ quy ngưỡng Sư Ông và đến đông như thế. Chúng con xin Sư Ông vui lòng báo tin giùm là ngày 27.09 sắp tới Giáo Hội chúng con sẽ tổ chức Lễ Cầu Nguyện Hòa Bình cho toàn quốc Nam – Bắc Hàn, xin Sư Ông mời giùm mọi người nhớ đến đông đủ như hôm nay hoặc nhiều hơn”. Sư Ông bỗng lên tiếng sửa lại: “Cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để đạt tới tuệ giác, phải làm sao chấm dứt tranh chấp giữa anh em Nam Hàn trước. Công giáo, Phật giáo đều thực tập hiểu và thấy giá trị của nhau. Đảng cầm quyền và đảng đối lập cũng phải tập chấp nhận giá trị của nhau. Miền Nam ổn định rồi thì sẽ liên hệ với miền Bắc từng bước một…” Dứt câu Sư Ông lại mệt nhoài phải nhờ thị giả đưa vào phòng xoa dầu đánh gió 15 phút sau mới đỡ được phần nào. Khi ấy Sư Ông mới quyết định đứng dậy đi ra. Căn lều vĩ đại nhưng chỉ có mái che, bốn bề gió lộng khiến ban thị giả sốt ruột nhưng không biết làm sao che chắn được. Sư cô Mai Nghiêm cùng nhiều thầy, nhiều sư cô khác biết rõ tình trạng sức khỏe của Sư Ông hôm ấy nên cứ ngồi vừa niệm Bồ Tát vừa khóc. Sau thời Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, Sư Ông cầm máy phát âm. Và kỳ diệu thay! Gương mặt Người bỗng sáng lên!

Đại chúng người Hàn như đang tận hưởng từng giọt nước cam lồ sau cơn hạn hán. Bài giảng vẫn bắt đầu bằng những chỉ dẫn đơn giản như: “Chúng ta nên nhớ chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ, ông bà tổ tiên. Chúng ta và con cháu ta là sự tiếp nối của ta và những vị tổ tiên ấy. Làm bậc cha mẹ, chúng ta phải tập lắng nghe những khó khăn của con trai con gái mình. Các con tập lắng nghe học hỏi những tuệ giác kinh nghiệm của mẹ, của cha. Dù có giận con hay giận cha cách mấy thì cha con cũng tập nói những lời có nghĩa có tình, v.v.”
Sau đó Sư Ông dạy đến sự tập hiểu, tập thương những người trong đại gia đình, trong đoàn thể, trong những nhóm khác nhau về ý thức hệ. Tập lắng nghe nhau, thấy được cái khổ của nhau mà chấp nhận. Sư Ông thuật lại là tăng thân đã giúp các nhóm Palestinians và Do Thái hòa giải được với nhau sau ba tuần tu tập chung, v.v. Sư Ông cũng nhắc lại là: sau ngày 11.09.2000, khi hai tòa nhà thương mại tại New York bị đánh sập, Sư Ông đã cho hai bài thuyết pháp vừa cầu nguyện tại sảnh đường Berkeley cho 4000 người thiền sinh Mỹ đến nghe. Sư Ông nhấn mạnh là Bắc Hàn dọa gửi vũ khí nguyên tử cốt để che cái sợ, cái giận và mặc cảm. Ta phải thương và phải tìm cách lấy ra những chướng ngại ấy của đồng bào miền Bắc, để cho họ không cần phải chạy đua theo cơn giận và che giấu sự sợ hãi bằng sự dọa nạt dùng vũ khí hạt nhân…
Sư Ông nói tiếp: “Tôi biết ngày 27.09 năm nay quý vị sẽ tổ chức cầu nguyện Hòa bình. Nhưng cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để phát khởi tuệ giác, phải làm sao chấm dứt đao binh…” Lời nói chân thành đầy lòng từ bi của vị Thiền sư già khiến rất đông người như bừng tỉnh. Các đệ tử xuất sĩ cũng như cư sĩ của Sư Ông đều vui mừng. Không ai có thể ngờ một phép lạ mầu nhiệm như vậy đã đến với Sư Ông. Chỉ cách đây hơn một giờ thôi Sư Ông nằm bất động, không thể nhấc mình lên được mà giờ này có thể thấy gương măt hớn hở chờ đợi của hàng vạn con người tâm huyết của xứ Hàn mà Sư Ông khỏe ra từ từ. Ngày hôm sau Sư Ông lại phải có mặt cho ngày Quán Niệm ở Seoul. Để dưỡng sức cho buổi giảng lớn ngày 13.05 tại Jamsil Stadium với hơn 10. 000 người đã giữ chỗ trước ở thủ đô Séoul, Sư Ông chỉ ra chào đại chúng rồi giới thiệu hai vị Giáo thọ lớn thay Sư Ông hướng dẫn cho 700 thiền sinh.

Hôm sau nữa lại đến phiên giảng cho 10 000 người Hàn quốc ở miền Seoul thủ đô phía Bắc của Nam Hàn. Bài giảng này cũng sâu sắc và bổ túc cho bài giảng ở Busan nên dân Hàn mừng như được châu báu. Họ xin phép đánh máy bài giảng ra, nhập chung với bài ở Busan để làm thành một tập gọi là Kim Chỉ Nam cho dân Nam Hàn cũng như Bắc Hàn (nếu tìm cách gửi được ra Bắc), và sẽ in thành sách là cách dễ phổ biến ra toàn quốc.
Nghỉ ngơi vài ngày, Sư Ông và tăng đoàn lại tiếp tục thong dong qua Hồng Kông, và khắp nơi trên thế giới chỉ với một hạnh nguyện duy nhất là “Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, biến vô minh thành tuệ giác”. Một hạnh nguyện cao đẹp của một Thiền Sư.
(Để đọc toàn bộ bài tường thuật, xin xem tại đường link sau: https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/nam-2013/but-va-to-trong-ta/)
Khoá tu tiếng Ý (29.4-5.5.2018)
Vừa qua, tại Làng Mai đã diễn ra khoá tu dành cho người Ý. Có 320 thiền sinh về tham dự. Trong khoá tu có hơn 100 người nhận 5 Giới và 3 người nhận 14 Giới. Khoá tu đã rất thành công trong niềm vui và hạnh phúc của tứ chúng Làng Mai.
Hạnh phúc của bạn, hạnh phúc của tôi
(Bài của sư chú Chân Trời Đức Định. BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Tối nay, sau buổi thiền tọa, toàn bộ ngọn đồi xóm Thượng được phủ kín trong sương. Sương làm cho những ngọn đèn dọc các lối đi như tỏa hào quang. Ngôi tháp chuông một lần nữa gửi những chùm ánh sáng từ bốn góc tháp tỏa trên mặt đất xung quanh và hắt lên bầu trời sẫm đen đang được tô điểm bởi muôn vì sao lấp lánh.
Từ thiền đường lớn dạo bước về tăng xá, tôi gặp người bạn thân quý của tôi – cội lê cổ thụ. Tôi dừng lại cách cây vài mét. Thỉnh thoảng một thầy hoặc một sư chú trở về tăng xá và ngọn đèn tự động bật lên rồi lại tắt đi. Tôi đứng đó, thẳng hàng với cây lê và ngọn đèn nên tôi không bị ánh sáng làm chói mắt. Từ góc này tôi có thể thưởng thức cây lê trong đường nét sắc sảo của hình ảnh tương phản trắng đen, được vẽ nên bằng ánh sáng của màn sương phủ khắp xung quanh.
Vài ngày trước, quý thầy đã làm công việc cắt tỉa cây trong xóm, trong đó có cả người bạn cổ thụ này của tôi. Thường thì tôi không thấy dễ chịu gì với việc cắt tỉa cây, vì tôi có cảm giác việc đó làm mấy cái cây đau đớn. Nhưng đêm nay khi ngắm cội lê già, một cảm xúc bỗng đi lên trong tôi: Bạn ấy trông thật hạnh phúc và tươi mát!
Đứng trước cội lê, tôi hỏi: “Bạn có vui lòng nếu chúng tôi cắt tỉa cho bạn không?” Và câu trả lời mà tôi nhận được đêm nay đã thật sự làm tôi chấn động. Câu trả lời đó chính là: “Bạn hạnh phúc là tôi hạnh phúc”. Nghe cứ như là một câu thần chú vậy.
Tôi bị chấn động, tôi cảm thấy một niềm kính ngưỡng và biết ơn sâu xa. Khi ôm lấy người bạn cổ thụ, tôi xin bạn giúp tôi nuôi dưỡng đức hạnh đó trong trái tim tôi.

Nhìn lại trải nghiệm này, tôi cảm thấy thật hạnh phúc bởi tôi có thể nhận ra tăng thân mình cũng đang sống và tu tập với tinh thần ấy.
Đối với bản thân tôi, mỗi khi cơn giận hay khổ đau phát khởi, tôi học cách có mặt mà không trốn chạy hoặc đè nén cảm thọ đó và coi nó như một phần của chính mình để có thể chăm sóc, ôm ấp nó. Còn nếu một người trong tăng thân làm cho những người khác khổ đau thì tăng thân sẽ không phản ứng theo hướng trách móc, mà sẽ thực tập nhìn sâu cho tới khi có thể tìm ra cách thức giúp đỡ mà không dựa trên tâm phân biệt, kỳ thị. Tôi nhớ đến sự kiện ở tu viện Bát Nhã cách đây gần chín năm, khi ấy quý thầy, quý sư cô Bát Nhã đã đứng yên như cội lê cổ thụ, dù đang bị đe dọa. Cắm rễ trong giáo pháp, các thầy các sư cô đã không phản ứng vì giận dữ hay sợ hãi.
Tôi cảm thấy cội lê già, bằng sự tĩnh lặng của mình, đã phản chiếu lại tâm tôi một cách giản đơn: “Cách bạn nhìn tôi phản ánh những gì xảy ra trong tâm bạn. Những gì bạn đối xử với tôi là cách bạn đối xử với chính mình”.
Lễ xuất gia Cây Giáng Hương (Narra Padauk/ Padouk Tree) ngày 02.07.2017
Lễ xuất gia Cây Giáng Hương diễn ra tại Làng Mai Thái Lan vào ngày 02.07.2017, gồm 4 sư chú và 4 sư cô : Chân Trời Trúc Lâm, Chân Trăng Tuệ Phương, Chân Trăng Tuệ Khai, Chân Trăng Tuệ Nhã, Chân Trời Đại Lão, Chân Trời Uyên Nguyên, Chân Trăng Tuệ Uyển và Chân Trời Hồng Lĩnh











































































































































































































