Tối ngày 03.05.2018, tại rạp chiếu phim Le Grand Rex – một trong những rạp chiếu phim lớn nhất và lâu đời của châu Âu – ở trung tâm Paris, bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk with me) đã ra mắt người xem thủ đô Paris. Các vị xuất sĩ Làng Mai được mời tới dự buổi công chiếu và có cơ hội giới thiệu về phương pháp thực tập chánh niệm theo truyền thống Làng Mai. Hơn 2000 khán giả đã ngồi chật kín 3 tầng của rạp chiếu phim.
Sư Cô Chân Không, thầy Pháp Liệu cùng hai nhà làm phim Marc J. Francis và Max Pugh được mời lên sân khấu ngay sau khi bộ phim kết thúc và có một buổi trả lời phỏng vấn với các vị dẫn chương trình của Kênh 2 đài truyền hình Pháp. Những tràng pháo tay sau khi bộ phim kết thúc và tràng pháo tay kéo dài sau bài hát “Nụ cười” (Le Sourire) bằng tiếng Pháp của Sư cô Chân Không đã thể hiện tình cảm của khán giả với bộ phim và với các vị xuất sĩ đến từ Làng Mai.
Sư cô Chân Không cùng hai nhà làm phim Marc J. Francis và Max Pugh trước giờ công chiếu
Sư cô Chân Không, thầy Pháp Liệu và hai nhà làm phim có cuộc trò chuyện với người dẫn chương trình của Kênh 2 đài truyền hình Pháp sau khi bộ phim kết thúc
Sự có mặt của các vị xuất sĩ Làng Mai trong buổi công chiếu
Tờ báo nổi tiếng của Pháp “Le Figaro” ngày hôm sau có một bài báo nói về sự kiện công chiếu bộ phim cũng như phương pháp thiền tập của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và các vị xuất sĩ Làng Mai.
Trước buổi công chiếu, các bạn trẻ trong nhóm Wake-up Paris tổ chức rất chu đáo một buổi ngồi thiền tại quảng trường Cộng Hoà ngay trung tâm Paris. Sau khi ngồi thiền, quý thầy, quý sư cô và các bạn thiền sinh đã thiền hành tới rạp Grand Rex cách đó khoảng 1km. Những hình ảnh dưới đây được Christophe Audebert ghi lại.
Các bạn trong nhóm Wake up Paris và khoảng 150 người cùng quý thầy, quý sư cô từ Làng Mai cùng có mặt tại quảng trường Cộng Hoà tại trung tâm Paris
Sư cô Chân Không có mặt cho đại chúng giữa đường phố Paris
Các bạn trẻ trong nhóm Wake up Paris với nụ cười rạng rỡ trong vai trò những người tổ chức và yểm trợ rất chu đáo
Sư cô Chân Không hướng dẫn đại chúng hát thiền ca trước khi ngồi thiền
Các bạn thiền sinh rất chăm chú dù đường phố xung quanh đông đúc náo nhiệt
“Thở vào, thở ra. Là hoa tươi mát. Là núi vững vàng. Nước tĩnh lặng chiếu. Không gian thênh thang”
Thầy Pháp Liệu làm thiền hướng dẫn cho đại chúng
Cùng nhau theo dõi hơi thở, trở về với năng lượng bình an trong tự thân.
Quý sư cô từ Thiền đường Hơi thở nhẹ tới yểm trợ các bạn thiền sinh
Những hơi thở chế tác năng lượng bình an giữa những tiếng ồn do động cơ, còi xe…
Các bạn trong nhóm Wake up dẫn đường cho đoàn thiền hành với năng lượng rất tươi mát.
Sư cô Chân Không dẫn đầu đoàn thiền hành hướng về rạp Grand Rex, nơi sẽ diễn ra buổi công chiếu bộ phim “Bước chân an lạc” sau đó chừng 2 giờ.
Đoàn người thiền hành chầm chậm và yên lặng tạo nên một năng lượng chánh niệm giữa lòng phố xá náo nhiệt
Các bạn tình nguyện viên trong nhóm Wake up hướng dẫn đoàn giữ an toàn giao thông
Một góc nhìn từ một tiệm ăn bên đường
Năng lượng của đoàn thiền hành rất hùng tráng và rất yên
Chờ qua đường
“Chúng tôi đang thiền hành. Cảm ơn các bạn đã kiên nhẫn”
Cách đây 5 năm, cũng đúng tháng 5, Sư Ông có cho pháp thoại ở Jamsil Stadium, Seoul, về vấn đề làm sao giúp đem lại sự hòa giải giữa Bắc và Nam Hàn. Hơn 11.000 người từ khắp nơi đến nghe. Tựa đề là ” Stop and Heal” ( Hãy dừng lại và trị liệu). Hội trường lúc đó đông nghẹt người.
Tình hình Bắc và Nam Hàn vào thời điểm đó rất căng thẳng, ai cũng nghĩ chắc sẽ không tránh nổi chiến tranh xảy ra. Trước khi rời Hoa Kỳ qua Đại Hàn, gia đình và bạn con ngăn cản, khuyên không nên đi. Con còn đăng trên Facebook hỏi có nên đi không, đa số các bạn đều khuyên con đừng mạo hiểm. Nhưng con nghĩ nếu Sư Ông và tăng đoàn không sợ, con lại sợ chi?
Chuyến hoằng pháp của Sư Ông tại Hàn Quốc nằm trong chuyến hoằng pháp ở châu Á kéo dài hai tháng. Sư Ông khai mạc lễ khánh thành Làng Mai ở Thái Lan, hướng dẫn khóa tu, rồi đêm đó bay thẳng từ Thái Lan qua Đại Hàn, cùng tăng đoàn và khoảng 10 thiền sinh. Mọi người bay ban đêm vì vé rẻ và tiết kiệm thời gian, khoảng 6 giờ sáng thì đến Incheon, phi trường của Seoul. Thiền sinh đi trong đoàn đều đến một ngôi chùa để rửa mặt, đánh răng và ngồi chờ đến 12 giờ trưa mới làm thủ tục vào khách sạn. Con vào phòng tắm của chùa mà nhìn thấy mặt con trong gương hết sức mệt, như cá khỏi nước, hết năng lượng. Bay cả đêm, không ngủ được, vì bị thức dậy ăn hai cử ( ăn đêm và sáng) và họ thông báo đủ thứ cả đêm, và cũng vì sau vài tuần ở Thái Lan, con không ngủ được như ở nhà mình. Vì vậy mà con mệt lả, chỉ muốn vô khách sạn thật lẹ để ngủ một giấc. Nhưng rồi con thấy Sư Ông qua bàn ăn của các thiền sinh để hỏi thăm sức khỏe, và Sư Ông nói với đầy tình thương: ” Các con ăn có ngon không, cơm của Đại Hàn ngon dẻo quá phải không?”. Con nhìn mặt Sư Ông lúc đó….hết sức ngạc nhiên! Sao Sư Ông có thể tươi mát như rứa được???!!! Không có một chút mệt mỏi, nụ cười trên môi, còn có sức qua hỏi thăm thiền sinh nữa.
Con còn trẻ, đáng ra phải khỏe hơn Sư Ông chứ… Mấy tuần qua, con chỉ ăn, ngủ và nghe pháp thoại, trong lúc Sư Ông cực nhọc bao nhiêu, cho pháp thoại hằng ngày. Con còn nhớ có một bữa trưa nắng gắt, chúng con thiền sinh Việt Nam và Thái ngồi dưới túp lều nghe pháp thoại, ba mẹ thầy Pháp Siêu và con ngồi nóng quá, chịu không nổi, muốn xỉu luôn. Còn trong lúc đó, Sư Ông ngồi ngoài nắng mấy tiếng liên tiếp cho pháp thoại, không có một cây dù che nắng. Sau đó con nghe quý thầy bảo hôm đó là 400 C. Cái đó chỉ là một chi tiết nhỏ của bao nhiêu cực nhọc Sư Ông đã chịu đựng trong thời gian ở Thái, chỉ vì thương chúng con. Vì tu viện chưa xây nên nghe pháp thoại và ăn ngoài trời.
Con chỉ bay một đêm thôi mà giờ đây con cười cũng không nổi nữa. Lúc đó con mới hiểu được thiền định của Sư Ông thâm hậu cỡ nào, mặc dù trước đó mấy năm con đã chứng kiến Sư Ông khỏe ra sao khi đi hoằng pháp ở Indonesia và nhiều nước khác. Con là một người ít khi biết mệt vì quen đi du lịch nhiều tháng liên tiếp, nhưng trong thời gian ở Đại Hàn, con phải nằm bẹp trong khách sạn một ngày, không ra khỏi phòng nổi. Khi đi hai tháng liên tiếp theo Sư Ông, không có một ngày nghỉ.
Các ông chủ tập đoàn – CEO, CFO – bay từ Seoul đến Gangwon nói với con: “Chúng tôi đã kính xin Thầy về nước chúng tôi rất nhiều năm qua, mà Thầy không về đây được. Mặc dù chúng tôi có cả những công ty rất bận bịu, không có thời gian ăn ngủ nữa, nhưng phải lấy một tuần ra, bay về đây tham dự khóa tu. Vì chúng tôi đã chờ quá lâu và không biết Thầy có về lại đây được nữa không, nhiều khi 10 năm nữa Thầy cũng không có thời gian”. Con nghe mà xúc động, trân quý đến nhường nào.
Con biết Sư Ông, vì đi hoằng pháp mấy chục năm liên tục, không thích có quá nhiều máy ảnh, đầy flash chụp liên tiếp vào mặt, nhất là lúc đang cho pháp thoại, cứ bao nhiêu camera chụp tứ tung, làm Sư Ông bị chi phối. Nhưng nguyên một chuyến hoằng pháp ở Đại Hàn, có một đoàn quay phim của đài truyền hình Đại Hàn đi theo 24h để truyền hình trực tiếp cho người Đại Hàn coi, nghĩa là bao nhiêu máy quay phim và máy ảnh liên tục từ sáng đến chiều rọi vào mặt của Sư Ông.
Trở lại chuyện Sư Ông đến Jamsil Stadium thuyết pháp trước 11.000 người. Anh hướng dẫn viên du lịch dẫn chúng con đến Jamsil Stadium, đi đến đó mất bốn tiếng mặc dù không xa khách sạn. Trong lúc kiếm đường dắt chúng con vào hội trường đông nghẹt, đường xá ở ngoài lẫn trong xe kẹt cứng, anh cứ tấm tắc với con: “Tôi không biết Thầy cô là ai trước đây, và cả bây giờ cũng chưa hình dung được, nhưng tôi chưa bao giờ thấy kẹt đường xá vào sân vận động Jamsil như vậy, chỉ vì một vị thầy thuyết pháp chỉ 30 phút”. Sau khi ngồi nghe khoảng 15 phút, anh ấy trở lại nói với con: ” Tôi thật ngạc nhiên về vị Thầy của cô, vì vị thầy của chúng tôi, rất nổi tiếng và được kính mến ở toàn Đại Hàn, mà chỉ ngồi ở bục thấp đằng sau, chỉ để…… thông dịch!”.
Câu đầu tiên Sư Ông nói trước 11.000 người Hàn là: ” Don’t sit there and pray!” (Các bạn đừng ngồi đó và cầu nguyện thôi). Tất cả mọi người trong sân vận động đều lặng im… Con thấy không khí tĩnh lặng quá nên run, nói với bác sĩ Đoàn ngồi bên cạnh là con run quá, sợ người Hàn phản ứng, vì họ có thưa với Sư Ông là họ tổ chức một buổi ngồi thiền và cầu nguyện cho Bắc và Nam Hàn không xảy ra chiến tranh sau đó. Bác Đoàn quay qua con và nói nhỏ ” Bác còn run hơn con. Vì bác còn bảo thủ. Sư Ông thì không”. Nhưng hơn 11.000 người đó lại vổ tay, cổ vũ Sư Ông dạy tiếp. Con thở phào bình an. Sư Ông dạy họ hành động, đừng ngồi đó chỉ thụ động: “Cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để đạt tới tuệ giác, phải làm sao chấm dứt tranh chấp giữa anh em Nam Hàn trước. Công giáo, Phật giáo đều thực tập hiểu và thấy giá trị của nhau. Đảng cầm quyền và đảng đối lập cũng phải tập chấp nhận giá trị của nhau. Miền Nam ổn định rồi thì sẽ liên hệ với miền Bắc từng bước một…”
Hôm nay Bắc và Nam Hàn trở thành anh em, con biết Sư Ông vui mừng lắm, vì đó là tâm niệm của Sư Ông bao nhiêu năm qua. Cách đây 5 năm, chắc cũng có nhiều người nghĩ Sư Ông không thực tế. Nhưng lúc chúng con ngồi đằng sau các vị quan chức trong chính phủ Hàn Quốc, họ ngồi lắng nghe Sư Ông giảng dạy rất chăm chú.
Sư Ông chỉ muốn trao truyền thông điệp hòa bình ở bất cứ nơi nào Sư Ông đi qua. Và Sư Ông vẫn tiếp tục trao truyền những bài học quý giá cho mọi người, qua hơn 100 cuốn sách Sư Ông viết trong hơn 50 năm – đã được dịch ra rất nhiều thứ tiếng – để mọi người có thể giữ tâm bình an. Tâm chúng con an, thế giới mới an. Chúng con thành kính tri ân Sư Ông, chúng con nguyện giữ chánh niệm mỗi ngày để không phụ lòng Sư Ông đã bỏ ra cả cuộc đời, cho chúng con và cho đời.
(Như Trang)
Nhân dịp này, BBT xin giới thiệu bài tường thuật của quý thầy, quý sư cô thị giả về chuyến hoằng pháp tại Hàn Quốc vào tháng 5 năm 2013:
Tối 30.04.2013, Sư Ông và 40 quý thầy, quý sư cô lên máy bay đi Hàn quốc. Vì bay suốt đêm nên tới đây Sư Ông khá mệt. Ngày hôm sau đi thăm Hòa Thượng Trưởng Phái Tào Khê và họp báo. Có hơn 30 ký giả. Nhiều bài báo đã được đăng khắp nơi bằng tiếng Hàn, nhất là bài viết rất dài trong nhật báo lớn nhất Choong An. Đài truyền hình BTN thu và phát hình cuộc đối thoại của Sư Ông Làng Mai và Thiền sư Mishan.
Thiền sư Mishan rất kính quý Sư Ông – nhân cơ hội phỏng vấn khá dài trên truyền hình này, Thiền Sư đã khéo léo hỏi những câu giúp Sư Ông giải thích cho thính chúng và Phật tử Đại Hàn hiểu rõ về Thiền Chánh Niệm Việt Nam có phải thuộc Đại Thừa không, sao không tu theo Công Án v.v. Buổi đối thoại thật súc tích và khai thông.
Chiều ngày 03.05.2013, hai chiếc xe buýt chở tăng thân và Sư Ông đi ngay lên núi có khóa tu cho 500 thiền sinh tại tu viên Nguyệt Tinh Cổ Tự (Woljeongsa-월정사-月精寺) ở Ngũ Đài Sơn. Sáng ngày 04.05 Sư Ông đã hướng dẫn cho 500 thiền sinh tại chùa và 500 người đi thiền hành. Sau đó đoàn thiền hành đã tiếp tục đi bộ trong rừng. Khóa tu đã kết thúc vào ngày 07.05. Ngày 07.05.2013 khóa tu tại trường Đại học Phật giáo Choong Ang Sangha, Soul. Khóa tu kéo dài hai ngày cho 300 học tăng nội trú và 200 xuất sĩ thuộc các chùa lân cận.
Sự trẻ trung của tăng thân Làng Mai khiến cho Hòa Thượng Mishan cũng vui lây và cũng đứng ra cùng hát chung với đàn hậu thế. Sau khóa tu xuất sĩ ấy, tăng thân chỉ ăn chiều bằng cơm hộp trên xe buýt để kịp giờ xuôi về miền Nam tỉnh Busan.
Ngày 10.05.2013, tuy tăng thân xuất sĩ ở chùa Hoằng Pháp, ngoại ô thành phố Phủ Sơn (Busan-부산-釜山), nhưng buổi thuyết giảng mà 10.000 người Hàn Quốc chờ đợi thiền sư giảng dạy là ở ngôi chùa cổ tên chùa Phạm Ngư vào lúc 3 giờ chiều. Vậy mà đã 1 giờ trưa rồi Sư Ông vẫn nằm bất động trên giường, không thể gượng dậy được. Cơn đau bụng và sốt đã làm Người cứ thiêm thiếp bất động. Sư Ông nằm đó và nghe ban tổ chức báo cáo là không phải 10.000 người như họ dự đoán, mà là 12.000 người đã có mặt rồi. Và người ta vẫn còn tiếp tục lũ lượt kéo tới hăm hở chờ đợi nghe Sư Ông thuyết giảng. Với đà này thì trong 2 tiếng đồng hồ nữa số người tham dự chắc chắn sẽ tăng đến 13.000 hoặc hơn vào đúng giờ khai mạc.
Làm sao Sư Ông có thể để cho 13.000 con người dễ thương ấy phải thất vọng ra về dù cơn sốt đang hoành hành làm cho cơ thể rã rời…Thời khắc thì cứ vô tình trôi qua, …13 giờ 30, …rồi 13 giờ 55… nhưng cơn đau vẫn bám lấy Người. Cuối cùng Sư Ông tự nhủ: “thôi thì để cho chư Tổ thuyết pháp thay mình vậy. Nhưng trước hết mình phải ngồi dậy, đi mặc áo tràng giùm Tổ thì Tổ mới lo được cho mình phần tiếp theo!”. Sau cái cố gắng ấy, Sư Ông gượng ngồi dậy được, Người theo dõi hơi thở và từ từ khỏe ra rồi thong thả lên xe đi đến nơi thuyết pháp.
Vừa tới nơi, quý Hòa thượng của Giáo hội Hàn Quốc vây kín Sư Ông và báo tin là: “Chúng con không ngờ thiên hạ quy ngưỡng Sư Ông và đến đông như thế. Chúng con xin Sư Ông vui lòng báo tin giùm là ngày 27.09 sắp tới Giáo Hội chúng con sẽ tổ chức Lễ Cầu Nguyện Hòa Bình cho toàn quốc Nam – Bắc Hàn, xin Sư Ông mời giùm mọi người nhớ đến đông đủ như hôm nay hoặc nhiều hơn”. Sư Ông bỗng lên tiếng sửa lại: “Cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để đạt tới tuệ giác, phải làm sao chấm dứt tranh chấp giữa anh em Nam Hàn trước. Công giáo, Phật giáo đều thực tập hiểu và thấy giá trị của nhau. Đảng cầm quyền và đảng đối lập cũng phải tập chấp nhận giá trị của nhau. Miền Nam ổn định rồi thì sẽ liên hệ với miền Bắc từng bước một…” Dứt câu Sư Ông lại mệt nhoài phải nhờ thị giả đưa vào phòng xoa dầu đánh gió 15 phút sau mới đỡ được phần nào. Khi ấy Sư Ông mới quyết định đứng dậy đi ra. Căn lều vĩ đại nhưng chỉ có mái che, bốn bề gió lộng khiến ban thị giả sốt ruột nhưng không biết làm sao che chắn được. Sư cô Mai Nghiêm cùng nhiều thầy, nhiều sư cô khác biết rõ tình trạng sức khỏe của Sư Ông hôm ấy nên cứ ngồi vừa niệm Bồ Tát vừa khóc. Sau thời Niệm Bồ Tát Quán Thế Âm, Sư Ông cầm máy phát âm. Và kỳ diệu thay! Gương mặt Người bỗng sáng lên!
Sư Ông chú nguyện, Tăng đoàn niệm bồ tát Quan Thế Âm trước giờ pháp thoại tại Busan
Đại chúng người Hàn như đang tận hưởng từng giọt nước cam lồ sau cơn hạn hán. Bài giảng vẫn bắt đầu bằng những chỉ dẫn đơn giản như: “Chúng ta nên nhớ chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ, ông bà tổ tiên. Chúng ta và con cháu ta là sự tiếp nối của ta và những vị tổ tiên ấy. Làm bậc cha mẹ, chúng ta phải tập lắng nghe những khó khăn của con trai con gái mình. Các con tập lắng nghe học hỏi những tuệ giác kinh nghiệm của mẹ, của cha. Dù có giận con hay giận cha cách mấy thì cha con cũng tập nói những lời có nghĩa có tình, v.v.”
Sau đó Sư Ông dạy đến sự tập hiểu, tập thương những người trong đại gia đình, trong đoàn thể, trong những nhóm khác nhau về ý thức hệ. Tập lắng nghe nhau, thấy được cái khổ của nhau mà chấp nhận. Sư Ông thuật lại là tăng thân đã giúp các nhóm Palestinians và Do Thái hòa giải được với nhau sau ba tuần tu tập chung, v.v. Sư Ông cũng nhắc lại là: sau ngày 11.09.2000, khi hai tòa nhà thương mại tại New York bị đánh sập, Sư Ông đã cho hai bài thuyết pháp vừa cầu nguyện tại sảnh đường Berkeley cho 4000 người thiền sinh Mỹ đến nghe. Sư Ông nhấn mạnh là Bắc Hàn dọa gửi vũ khí nguyên tử cốt để che cái sợ, cái giận và mặc cảm. Ta phải thương và phải tìm cách lấy ra những chướng ngại ấy của đồng bào miền Bắc, để cho họ không cần phải chạy đua theo cơn giận và che giấu sự sợ hãi bằng sự dọa nạt dùng vũ khí hạt nhân…
Sư Ông nói tiếp: “Tôi biết ngày 27.09 năm nay quý vị sẽ tổ chức cầu nguyện Hòa bình. Nhưng cầu nguyện thôi thì không đủ. Quý vị phải tu trước một tháng… phải mời những nhân sĩ, những người có lòng với quốc gia dân tộc đến tu tập thiền quán để phát khởi tuệ giác, phải làm sao chấm dứt đao binh…” Lời nói chân thành đầy lòng từ bi của vị Thiền sư già khiến rất đông người như bừng tỉnh. Các đệ tử xuất sĩ cũng như cư sĩ của Sư Ông đều vui mừng. Không ai có thể ngờ một phép lạ mầu nhiệm như vậy đã đến với Sư Ông. Chỉ cách đây hơn một giờ thôi Sư Ông nằm bất động, không thể nhấc mình lên được mà giờ này có thể thấy gương măt hớn hở chờ đợi của hàng vạn con người tâm huyết của xứ Hàn mà Sư Ông khỏe ra từ từ. Ngày hôm sau Sư Ông lại phải có mặt cho ngày Quán Niệm ở Seoul. Để dưỡng sức cho buổi giảng lớn ngày 13.05 tại Jamsil Stadium với hơn 10. 000 người đã giữ chỗ trước ở thủ đô Séoul, Sư Ông chỉ ra chào đại chúng rồi giới thiệu hai vị Giáo thọ lớn thay Sư Ông hướng dẫn cho 700 thiền sinh.
Hôm sau nữa lại đến phiên giảng cho 10 000 người Hàn quốc ở miền Seoul thủ đô phía Bắc của Nam Hàn. Bài giảng này cũng sâu sắc và bổ túc cho bài giảng ở Busan nên dân Hàn mừng như được châu báu. Họ xin phép đánh máy bài giảng ra, nhập chung với bài ở Busan để làm thành một tập gọi là Kim Chỉ Nam cho dân Nam Hàn cũng như Bắc Hàn (nếu tìm cách gửi được ra Bắc), và sẽ in thành sách là cách dễ phổ biến ra toàn quốc.
Nghỉ ngơi vài ngày, Sư Ông và tăng đoàn lại tiếp tục thong dong qua Hồng Kông, và khắp nơi trên thế giới chỉ với một hạnh nguyện duy nhất là “Chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, biến vô minh thành tuệ giác”. Một hạnh nguyện cao đẹp của một Thiền Sư.
Vừa qua, tại Làng Mai đã diễn ra khoá tu dành cho người Ý. Có 320 thiền sinh về tham dự. Trong khoá tu có hơn 100 người nhận 5 Giới và 3 người nhận 14 Giới. Khoá tu đã rất thành công trong niềm vui và hạnh phúc của tứ chúng Làng Mai.
Thầy Pháp Ứng giảng về danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm.
Quý thầy, quý sư cô niệm danh hiệu đức Bồ Tát Quan Thế Âm khai mạc khoá tu.
Thầy Pháp Khí (người Pháp) cho pháp thoại bằng tiếng Anh. Sư chú Trời Đạo Phương (người Ý) thông dịch sang tiếng Ý.
Sư chú Đạo Phương – thông dịch viên trong giờ pháp thoại.
Thiền hành tại xóm Hạ.
Thiền hành giữa rừng bạch dương, xóm Hạ.
Sư cô Chân Không có mặt cùng đại chúng trong khoá tu.
Tháp chuông Hoà Ái, xóm Hạ.
Thuyết trình về Năm giới (tại xóm Mới).
Sư cô Chân Không cho pháp thoại bằng tiếng Anh, cô Rucco (người Ý) thông dịch sang tiếng Ý.
Thiền hành giữa rừng mận xanh mát, xóm Mới.
Những chiếc lá xanh non.
Vấn đáp là một cơ hội để các bạn thiền sinh có cơ hội được tháo gỡ những khúc mắc trong lòng.
Quý thầy, quý sư cô lớn trả lời vấn đáp.
Thầy Pháp Hữu
Sư cô Diệu Nghiêm (người Ái Nhĩ Lan)
Thầy Pháp Bản (người Ý)
Những câu hỏi bằng tiếng Ý được thông dịch sang tiếng Anh.
Xin đại chúng tất cả đều thở như một cơ thể, xướng tụng như một cơ thể, lắng nghe như một cơ thể, và vượt thoát biên giới ngã chấp, phá bỏ mặc cảm hơn người, thua người và bằng người.
Hồn nhiên em thơ
Những chiếc dù đủ màu sắc.
Từng bước chân thảnh thơi.
Cắt gọt là niềm vui
Rạng rỡ những nụ cười
Chấp tác là niềm vui
Đừng thấy mình riêng lẻ cây ơi. Nước này tuôn chảy từ mạch đất trời. Đất này là đại địa. Ta có nhau tự muôn đời.
Đẹp thay sự quét dọn. Tịnh nghiệp ngày thêm lớn.
Tháp chuông Đã về đã tới (xóm Thượng) trong buổi sớm mai.
Đi như một dòng sông
Chuông báo chúng (xóm Mới)
Sư cô Chân Đức cho pháp thoại về “Không sinh, không diệt” để kết thúc khoá tu
Sư chú Khiết Anh (người Ý) làm thông dịch viên trong giờ pháp thoại
Ngày cuối cùng của khoá tu, tại xóm Thượng đã diễn ra lễ truyền 5 giới cho hơn 100 người.
Chắp tay búp sen. Con nhìn lên Bụt.
Giới tử lạy Tam Bảo sau khi được truyền 5 Giới.
Niềm vui sau khi được nhận 5 Giới của các bạn thiền sinh.
Sư chú Khiết Anh vui cùng mẹ
Vòng tay thân ái.
Tăng thân Ý tặng quà cho quý thầy, quý sư cô để tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tăng thân xuất sĩ.
Sư cô Chân Không cho thiền buông thư bằng tiếng Anh. Cô Rucco thông dịch sang tiếng Ý.
Sư cô Thoại Nghiêm thuyết trình về pháp môn Làm mới
Thiền ôm sau khi làm mới
Thiền sinh Ý dùng cơm trưa picnic cùng nhau trong ngày sinh hoạt tại xóm Mới.
Rừng bạch dương – xóm Hạ.
Bàn ghi danh trong khoá tu.
Niềm vui của quý sư cô trong nhà bếp
Bữa cơm chiều trong tình huynh đệ.
Tăng thân có thêm ba thành viên tiếp hiện người Ý. Lễ truyền giới được diễn ra tối ngày 3.5 tại thiền đường Chuyển Hoá, xóm Thượng.
Quý sư cô xóm Mới hát tặng đại chúng trong buổi Be – in để kết thúc khoá tu.
(Bài của sư chú Chân Trời Đức Định. BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)
Tối nay, sau buổi thiền tọa, toàn bộ ngọn đồi xóm Thượng được phủ kín trong sương. Sương làm cho những ngọn đèn dọc các lối đi như tỏa hào quang. Ngôi tháp chuông một lần nữa gửi những chùm ánh sáng từ bốn góc tháp tỏa trên mặt đất xung quanh và hắt lên bầu trời sẫm đen đang được tô điểm bởi muôn vì sao lấp lánh.
Từ thiền đường lớn dạo bước về tăng xá, tôi gặp người bạn thân quý của tôi – cội lê cổ thụ. Tôi dừng lại cách cây vài mét. Thỉnh thoảng một thầy hoặc một sư chú trở về tăng xá và ngọn đèn tự động bật lên rồi lại tắt đi. Tôi đứng đó, thẳng hàng với cây lê và ngọn đèn nên tôi không bị ánh sáng làm chói mắt. Từ góc này tôi có thể thưởng thức cây lê trong đường nét sắc sảo của hình ảnh tương phản trắng đen, được vẽ nên bằng ánh sáng của màn sương phủ khắp xung quanh.
Vài ngày trước, quý thầy đã làm công việc cắt tỉa cây trong xóm, trong đó có cả người bạn cổ thụ này của tôi. Thường thì tôi không thấy dễ chịu gì với việc cắt tỉa cây, vì tôi có cảm giác việc đó làm mấy cái cây đau đớn. Nhưng đêm nay khi ngắm cội lê già, một cảm xúc bỗng đi lên trong tôi: Bạn ấy trông thật hạnh phúc và tươi mát!
Đứng trước cội lê, tôi hỏi: “Bạn có vui lòng nếu chúng tôi cắt tỉa cho bạn không?” Và câu trả lời mà tôi nhận được đêm nay đã thật sự làm tôi chấn động. Câu trả lời đó chính là: “Bạn hạnh phúc là tôi hạnh phúc”. Nghe cứ như là một câu thần chú vậy.
Tôi bị chấn động, tôi cảm thấy một niềm kính ngưỡng và biết ơn sâu xa. Khi ôm lấy người bạn cổ thụ, tôi xin bạn giúp tôi nuôi dưỡng đức hạnh đó trong trái tim tôi.
Nhìn lại trải nghiệm này, tôi cảm thấy thật hạnh phúc bởi tôi có thể nhận ra tăng thân mình cũng đang sống và tu tập với tinh thần ấy.
Đối với bản thân tôi, mỗi khi cơn giận hay khổ đau phát khởi, tôi học cách có mặt mà không trốn chạy hoặc đè nén cảm thọ đó và coi nó như một phần của chính mình để có thể chăm sóc, ôm ấp nó. Còn nếu một người trong tăng thân làm cho những người khác khổ đau thì tăng thân sẽ không phản ứng theo hướng trách móc, mà sẽ thực tập nhìn sâu cho tới khi có thể tìm ra cách thức giúp đỡ mà không dựa trên tâm phân biệt, kỳ thị. Tôi nhớ đến sự kiện ở tu viện Bát Nhã cách đây gần chín năm, khi ấy quý thầy, quý sư cô Bát Nhã đã đứng yên như cội lê cổ thụ, dù đang bị đe dọa. Cắm rễ trong giáo pháp, các thầy các sư cô đã không phản ứng vì giận dữ hay sợ hãi.
Tôi cảm thấy cội lê già, bằng sự tĩnh lặng của mình, đã phản chiếu lại tâm tôi một cách giản đơn: “Cách bạn nhìn tôi phản ánh những gì xảy ra trong tâm bạn. Những gì bạn đối xử với tôi là cách bạn đối xử với chính mình”.
Lễ xuất gia Cây Giáng Hương diễn ra tại Làng Mai Thái Lan vào ngày 02.07.2017, gồm 4 sư chú và 4 sư cô : Chân Trời Trúc Lâm, Chân Trăng Tuệ Phương, Chân Trăng Tuệ Khai, Chân Trăng Tuệ Nhã, Chân Trời Đại Lão, Chân Trời Uyên Nguyên, Chân Trăng Tuệ Uyển và Chân Trời Hồng Lĩnh
Lễ dẫn thỉnh diễn ra trong không khí trang nghiêm
Các giới tử trình diện trước Tam Bảo
Các giới tử trong ngày dẫn thỉnh
Các giới tử cùng Y Chỉ Sư
Thầy Pháp Niệm dâng hương trước lễ xuất gia
Các giới tử trình diện trước Tam Bảo
Các giới tử lạy Tứ Ân
Đầu cành dương liễu vương cam lộ/ Một giọt mười phương rưới cũng đầy…
Bao nhiêu trần lụy tiêu tan hết/ Đàn tràng thanh tịnh ở ngay đây
Nước này vốn sẵn tám công đức. Rửa đi trần cấu của muôn loài
Sư cô Chân Không đại diện Sư Ông và tăng thân làm lễ xuống tóc cho các giới tử
Đep thay áo giải thoát. Áo ruộng phước nhiệm mầu. Con cúi đầu tiếp nhận. Đời đời nguyện mang theo
Đại chúng hộ niệm cho các giới tử trong giờ phút xuống tóc
Cạo sạch mái tóc. Nguyện cho mọi người. Dứt hết phiền não. Độ thoát cho đời.
Gia đình xuất gia Trúc Vàng có 13 vị đã được làm lễ xuất gia vào ngày 17 tháng 10 năm 2010. Lễ xuất gia được tổ chức tại Tu viện Thái Lan nhân chuyến về thăm Thái Lan 2010 của Sư Ông và tăng thân Làng Mai.
Đến từ hai nước khác nhau: Việt Nam và Indonesia, Gia đình xuất gia Sen Xanh có 17 vị đã được làm lễ xuất gia vào ngày 27 tháng 05 năm 2010. Đây là bài hát do Sư chị Ân Nghiêm sáng tác để tặng các Sư em nhân ngày xuất gia.
Khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống lòng đất ẩm, khoảng một tuần sau hạt bắp sẽ nảy mầm và dần dần trở thành một cây bắp con. Ta có thể hỏi cây bắp con: “bắp ơi, em có nhớ lúc em còn là một hạt bắp không?” Có thể cây bắp con không nhớ, nhưng nhờ quan sát, ta biết cây bắp con đã đến từ hạt bắp.
Khi nhìn vào cây bắp, ta không còn thấy hạt bắp, và ta tưởng là hạt bắp đã chết, nhưng kỳ thực hạt bắp đâu có chết, mà hạt bắp đã trở thành cây bắp. Khi chúng ta thấy được hạt bắp trong cây bắp là chúng ta có thứ tuệ giác mà Bụt gọi là vô phân biệt trí. Vô phân biệt trí là không có sự phân biệt giữa hạt bắp và cây bắp, vì hạt bắp và cây bắp có trong nhau, chúng chỉ là một thứ. Ta không thể tách hạt bắp ra khỏi cây bắp và ngược lại. Nhìn sâu vào cây bắp con ta có thể thấy được hạt bắp, hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp.
Nhờ có thiền tập, ta thấy được những điều mà người khác không thấy. Nhờ có quán chiếu, ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái, giữa cây bắp và hạt bắp. Cho nên chúng ta cần sự thực tập để giúp ta thấy rằng chúng ta tương tức với nhau. Khổ đau của một người là khổ đau của tất cả mọi người. Nếu người Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, hay người Ấn Độ giáo và Hồi giáo, người Do Thái và người Palestin nhận ra rằng họ đều là anh em với nhau, khổ đau của bên này cũng là khổ đau của bên kia thì chiến tranh sẽ chấm dứt mau chóng. Nếu chúng ta thấy được rằng chúng ta và các loài sinh vật khác đều có chung một bản thể thì đâu có sự chia cách hay phân biệt, chúng ta sẽ sống chung hòa bình với mọi loài, với thiên nhiên. Thấu suốt được tính tương tức, ta sẽ không còn phàn nàn, đổ lỗi cho nhau, sẽ không còn bóc lột, chém giết nhau. Chỉ với ý thức sáng tỏ đó mới mong cứu vãn được trái đất xinh đẹp của chúng ta.
Là người, chúng ta vẫn nghĩ rằng ta và thế giới thực vật và động vật khác biệt nhau, chẳng có gì liên quan với nhau. Cho nên đôi khi ta bâng khuâng không biết nên đối xử với thiên nhiên như thế nào. Nếu chúng ta hiểu rằng con người và thiên nhiên không thể tách rời nhau thì ta sẽ biết cách đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình, với tất cả sự cẩn trọng nhẹ nhàng, với tất cả tình thương yêu, không có sự bạo động. Cho nên nếu chúng ta không muốn mình bị thương tổn thì không nên làm thương tổn thiên nhiên, vì làm thương tổn thiên nhiên là làm thương tổn chính mình và ngược lại.
Chúng ta không biết rằng khi chúng ta gây thiệt hại cho người khác là chúng ta gây thiệt hại cho chính mình. Vì muốn tích lủy của cải mà ta đã không ngần ngại khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, và ta tước đoạt quyền sinh sống của bao nhiêu người đồng loại. Những áp bức và bất công xã hội đã tạo ra hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, và ta tiếp tục dung túng những tệ nạn xã hội, thản nhiên để chiến tranh leo thang mà không biết rằng khổ đau của con người là khổ đau chung của cả đại gia đình nhân loại. Trong khi bao nhiêu người phải chịu khổ đau vì chiến tranh, vì đói khát, ta vẫn đắm chìm trong những ảo vọng của tiền tài, tưởng rằng có thể tìm đựợc một nơi an toàn cho riêng mình.
Chúng ta cần phải thấy rõ rằng số phận của mỗi người đóng góp vào số phận chung của toàn thể nhân loại. Nếu chúng ta muốn sống bình an hạnh phúc, chúng ta cũng phải giúp cho những loài khác sống bình an hạnh phúc. Một nền văn minh mà trong đó ta phải chém giết và bóc lột lẫn nhau để sống là một nền văn minh không lành mạnh. Muốn có một nền văn minh lành mạnh, tất cả mọi người dân phải có quyền bình đẳng về giáo dục, về công việc làm, có đủ thức ăn, chỗ ở, không khí và nước uống trong sạch. Họ có tự do đi lại và có thể ở bất cứ nơi đâu. Nền kinh tế, chính trị nào phủ nhận những quyền lợi này của con người là phá sản toàn bộ nhân loại. Ý thức được những gì đang xảy ra cho nhân loại là việc làm cấp thiết để kịp thời sửa chữa những tổn hại đang có mặt khắp nơi.
Muốn cho nhân loại sống chung với nhau trong hòa bình, chúng ta phải biết hợp tác với nhau trong tinh thần hòa hợp để giúp nhau tồn tại. Nếu chúng ta cứ tiếp tục sống tách biệt nhau, chỉ để tâm đến những nhu yếu nhỏ bé của riêng mình thì chúng ta không đóng góp gì cho nền hòa bình chung rất thiết yếu cho sự sinh tồn của cả nhân loại. Con người là một phần của thiên nhiên, chúng ta cần ý thức rõ điều này trước khi biết cách tạo dựng một đời sống hòa hợp giữa con người với nhau. Nếu ta vẫn còn tâm độc ác, muốn chia cắt, thì ta phá hủy tính hài hòa nơi con người và nơi thiên nhiên. Chúng ta cần những đạo luật có nội dung từ bi giúp ta biết hành xử nhẹ nhàng với chính bản thân mình và với thiên nhiên, nhờ đó ta có thể chữa trị được những thương tích và chấm dứt được tình trạng độc ác đối với con người và thiên nhiên.
Chúng ta cần phải học cách sống hài hòa với thiên nhiên, vì chúng ta là một phần của thiên nhiên. Thiên nhiên có thể rất tàn bạo, có thể gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Nhưng ta cần phải đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình. Nếu chúng ta tìm cách khống chế thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ nổi loạn. Chúng ta phải là những người bạn đầy chân tình đối với thiên nhiên thì chúng ta mới biết cách xử dụng những điều kiện thuận lợi của thiên nhiên để tạo dựng một môi trường sống hài hòa. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết đúng đắn về thiên nhiên. Cuồng phong, bão tố, hạn hán, lũ lụt, núi lửa, sự sinh sôi nẩy nở của những loài sâu bọ độc, tất cả những hiện tượng này gây nguy hại cho sự sống. Chúng ta có thể dễ dàng ngăn ngừa những tai họa này nếu chúng ta biết nghiên cứu ngay từ lúc đầu địa chất của vùng đất ta đang sống. Nhờ nắm rõ tình hình địa chất, ta có thể có những phương án xây dựng để phòng ngừa, thay vì tìm cách áp đảo thiên nhiên bằng những đập ngăn nước, hay phá rừng và những chính sách thiết bị khác mà cuối cùng chỉ gây thêm tổn hại cho môi trường.
Vì muốn ức chế thiên nhiên mà ta đã sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, giết hại không biết bao nhiêu loại côn trùng và chim chóc, làm xáo trộn đời sống tự nhiên của muôn loài. Nền kinh tế phát triển gây ô nhiễm môi trường, làm kiệt quệ nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hũy chỗ cư trú của bao nhiêu loài sinh vật. Phát triển kinh tế như thế chỉ đem lợi lộc cho một số ít người, và trong thực tế đã dần dần phá hủy toàn bộ đời sống thiên nhiên.
Vì vậy mà con người trở nên bệnh hoạn, xã hội trở nên bệnh hoạn, thiên nhiên trở nên bệnh hoạn.
Ta phải làm gì đây để tái lập sự quân bình? Phải bắt đầu từ đâu để tìm cách chữa trị? Bắt đầu từ mỗi cá nhân, hay từ xã hội? Hay từ thiên nhiên ?
Ta phải làm việc chữa trị trong cả ba lĩnh vực cùng một lúc.
Các ngành khác thường chỉ chú tâm đến lĩnh vực riêng của họ. Các nhà chính trị thì nghĩ rằng một xã hội trật tự là cần thiết để bảo vệ con người và thiên nhiên, vì thế họ khuyến khích mọi người tham gia vào cuộc đấu tranh thay đổi guồng máy chính trị.
Các tu sĩ phật giáo thì giống như những bác sĩ tâm lý trị liệu thấy được vấn đề từ quan điểm tâm lý. Mục đích của thiền tập là để giúp ta tìm lại sự cân bằng trong đời sống. Thực tập thiền trong đạo Bụt là để điều hòa thân và tâm, thực tập hơi thở giúp làm lắng dịu thân tâm. Cũng như những phương pháp chữa bệnh khác, bệnh nhân được đặt trong một môi trường có những điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục lại sức khỏe. Thông thường các bác sĩ tâm lý trị liệu để nhiều thì giờ quan sát bệnh nhân, sau đó có những lời khuyên thích ứng với mỗi bệnh nhân. Cũng có một số bác sĩ biết thực tập như các tu sĩ là biết quán sát bản thân trước, biết nhận diện để vượt thoát được những sợ hãi, giận hờn và tuyệt vọng trong lòng họ. Ða số các bác sĩ khác thì thường nghĩ rằng họ không có vấn đề gì về tâm lý cả. Người tu sĩ, trái lại, luôn nhận diện được rằng là người, họ rất dễ bị sợ hãi, lo âu trấn ngự, nhất là dễ bị ảnh hưởng bởi những căn bệnh trầm kha của thời đại mới.
Người phật tử tin vào mối tương quan mật thiết của mọi cá nhân trong xã hội và môi trường sống, cho nên khi họ lành bệnh là xã hội và môi trường sống cũng lành bệnh, vì vậy mà họ chấm dứt được những lo âu sợ hãi trong lòng. Người phật tử biết rằng chính họ phải bắt đầu sự chuyển hóa trong nội thân thì xã hội và thiên nhiên sẽ tự động chuyển hóa theo. Cho nên muốn cho xã hội và môi trường sống trở lại lành mạnh, mỗi người chúng ta phải biết cách khôi phục trở lại sức khỏe tinh thần của mình.
Muốn khôi phục lại tinh thần lành mạnh không có nghĩa là phải thích ứng với những điều kiện mới của đời sống hiện đại. Bởi vì đời sống hiện đại không lành mạnh chút nào, thích nghi với đời sống đó chỉ làm mình thêm bệnh hoạn. Những người tìm đến các bác sĩ tâm lý trị liệu đều là nạn nhân của lối sống hiện đại. Lối sống này chỉ làm con người xa cách nhau, gia đình nhân loại bị phân tán. Cách hay nhất là chuyển về sinh sống ở miền quê, nơi đó ta được cuốc đất, trồng rau, sản xuất hoa màu, giặt quần áo trên sông, sống nếp sống đơn giản như hàng triệu người nông dân trên thế giới.
Muốn việc chữa trị có hiệu quả, ta cần phải thay đổi môi trường sinh sống. Thay đổi guồng máy hoạt động chính trị chưa phải là phương án duy nhất. Tìm cách tự trấn an mình khỏi những bức xúc bằng lối tiêu thụ bừa bãi cũng không giải quyết được vấn đề. Bởi vì nguồn gốc của mọi tâm bệnh hiện nay đều phát xuất từ sự phát triển quá mức của nền kinh tế, đưa đến nhiều tệ nạn xã hội như là ô nhiễm môi sinh, quá nhiều tiếng ồn, nơi nào bạo động cũng có mặt, và hầu như ai cũng bị áp lực thời gian đè nặng. Muốn chấm dứt tình trạng này thì phải biết phòng bệnh.
Khi ta hiểu được trách nhiệm của mình đối với nhân loại thì ta biết giữ gìn cho tinh thần luôn được lành mạnh. Làm được như vậy cho ta là đồng thời giúp cho người khác không bị bệnh hoạn. Dù ta là ai đi nữa, thầy tu hay thầy cô giáo, bác sĩ trị liệu, nghệ sĩ, thợ mộc, hay là chính trị gia, chúng ta cũng đều là con người như nhau. Nếu chính ta không áp dụng được những gì ta dạy cho người khác trong đời sống hàng ngày thì ta cũng mắc bệnh tâm thần như họ thôi. Nếu ta cứ tiếp tục sống theo lề lối hiện tại thì có ngày ta cũng trở thành nạn nhân của lối sống vị kỷ, đầy sợ hãi và lo âu.
Một người nghệ sĩ chỉ thấy rõ được cái cây khi ông ta có được mối giao cảm nào đó với cây. Một con người không có nhân tính thì không nhìn thấy được một con người khác, cũng như không nhìn thấy được cái cây. Phần đông chúng ta không thấy rõ được sự vật bởi vì chúng ta không trọn vẹn là mình. Chỉ khi nào ta là ta một cách trọn vẹn, ta mới có thể hiểu rằng một người thôi cũng đủ để chứng minh cho mọi người khác thấy là đời sống có giá trị, ta có thể tin vào tương lai nếu ta biết sống một cách trọn vẹn trong hiện tại. Nhưng tin vào tương lai để làm gì khi hàng triệu người sống đau khổ và chết dần mòn quanh ta mà ta vẫn không hay biết. Chỉ khi nào ta thấy được những gì đang xảy ra quanh ta, ta mới thấy rõ được chính mình, mới thấy rõ được vạn vật.
Ta hãy nhớ lại cơn sóng thần năm 2000 ở Ấn Độ Dương, hàng trăm ngàn người ở Indonesia, Tích Lan, Thái Lan, Ấn Độ và Phi Châu đã bị cơn sóng cuốn đi. Rất nhiều khách du lịch đến từ Âu châu, Úc châu và Mỹ châu cũng bị mất xác trong cơn sóng thần. Mọi người trên thế giới đều kinh hoàng và ai cũng đặt câu hỏi tại sao, tại sao Chúa lại để cho chuyện này xảy ra, tại sao những người này phải chết? Tôi cũng đau đớn như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ có thực tập, tôi ngồi yên được, tôi nhìn sâu và thấy được rằng khi những người này chết thì lòng chúng ta cũng chết theo họ, bởi vì tất cả chúng ta đều có liên hệ mật thiết với nhau.
Chúng ta biết rằng khi những người thương của chúng ta chết thì một phần của chúng ta cũng chết theo. Chúng ta chết theo người thương, điều này cũng dễ hiểu thôi. Nếu chúng ta có hiểu biết, có thương yêu, thì khi người khác chết, dù người đó là một người ta chưa hề quen biết ở bên kia đại dương, ta vẫn cảm thấy đau khổ và chết theo họ như thường. Ta nhận thấy ra một điều là họ đã chết thay cho chúng ta. Vì thế ta phải sống cho họ. Ta phải sống như thế nào để con em chúng ta có một tương lai tươi sáng hơn.
Cái chết của họ có ý nghĩa hay không, cách sống của ta sẽ chứng minh điều đó. Khi ta thấy được họ chính là ta, và ta chính là họ, họ chết thì ta cũng chết, ta sống thì họ cũng sống, nếu ta có được tuệ giác tương tức này, ta sẽ thấy ít đau khổ hơn và ta biết phải tiếp tục sống như thế nào, để lúc nào họ cũng có mặt trong ta, và khi hiểu được như vậy, ta có được sự bình an trong lòng.
Ta thực tập chánh niệm và nhìn sâu vào bản chất của sự vật để khám phá được thực tướng của sự vật, thực tướng đó chính là tính tương tức. Thấy được tính tương tức trong mọi sự vật, ta mới có được sự bình an, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với mọi thứ. Với tuệ giác này, ta sẽ thực hiện dễ dàng công trình thương yêu và bảo vệ lâu dài cho trái đất cũng như cho mọi người mọi loài sống trên trái đất.