Mùa hè 2018

Mùa hè tại Làng Mai đang biểu hiện cùng với những đóa sen hồng thắm và tiếng cười vang của em thơ.

Mỗi tuần của khóa tu mùa hè, Làng Mai đón gần 1000 thiền sinh từ nhiều quốc gia với 15 ngôn ngữ khác nhau về tu học.

Lướt trên những con sóng lừng

Sư cô Hài Nghiêm, người Pháp, xuất gia năm 2008 tại Làng Mai. Sư cô hiện đang sống và tu tập tại Trung tâm Làng Mai Thái Lan. Sư cô là một vị xuất sĩ rất có tâm huyết với người trẻ. Sư cô đã về Làng Mai để giúp hướng dẫn chương trình dành riêng cho các em thiếu niên trong bốn tuần lễ của khóa tu mùa Hè vào tháng 7 năm 2017. Bài viết sau đây là những cảm nhận của sư cô về khóa tu ấy.

Sau khóa tu mùa Hè, một số sư cô hướng dẫn chương trình thiếu niên (teen program) đã cùng ngồi uống trà với nhau ở xóm Mới. Mấy chị em vừa thưởng thức ly trà thơm, vừa ngắm vẻ đẹp của hồ sen nở muộn cuối tháng tám. Những lá sen bắt đầu ngả màu nâu và rất nhiều đài sen đã khô gợi ý tưởng cho việc trang trí vào mùa Giáng sinh sắp tới. Dù các đóa sen không còn to nữa, mùa hè vẫn còn đang hiện diện. Con không biết các sư chị, sư em có thường nghĩ đến những gì vừa xảy ra trong bốn tuần lễ cùng sinh hoạt tu tập với các em teen nữ trong khóa tu mùa Hè hay không. Hay là cũng giống như con, những hình ảnh, âm thanh, cảm thọ mà mình có đã phần nào phai nhạt, bởi vì nhóm các em teen nữ cuối cùng đã rời Làng vào ba tuần trước. Từ lúc đó đến thời điểm chúng con ngồi uống trà đã có bốn khóa tu phong phú khác diễn ra rồi.

Những gì diễn ra trong mùa hè năm 2017 đã để lại trong lòng con một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Con cứ nhắc đi nhắc lại với chính mình và với những người khác là khóa tu mùa Hè vừa qua đã đem lại cho con rất nhiều chuyển hóa, nhiều nuôi dưỡng trong không khí đầy ắp thương yêu và niềm vui sâu lắng. Chương trình dành cho các em teen nữ mang tên “Wise Wild Waves”, tạm dịch là “Những ngọn sóng lừng đầy tuệ giác”. Một cái tên mới tuyệt làm sao. Nhóm hướng dẫn chương trình bao gồm các sư cô (Phú Nghiêm, Chuyên Nghiêm, Tại Nghiêm, Trăng Linh Dị và con) cùng với các bạn tình nguyện viên đã chọn cái tên đó.

Không biết khi nào và tại sao hình ảnh của sóng đã hình thành trong ý tưởng của chúng con. Có thể vì chúng con muốn chuyển tải cho các em thông điệp của Sư Ông: “Hãy là chính ta, ta mới đẹp” (“Be beautiful, be yourself”) trong cái nghĩa là một ngọn sóng không cần phải đi đâu để tìm nước, bởi sóng chính là nước. Vì vậy cái tên Sóng thật là thích hợp với các em tuổi thiếu niên. Và những ngọn sóng lừng (nguyên văn “wild waves” là những ngọn sóng hoang dã), chính là những ngọn sóng chưa thuần nhưng rất khỏe mạnh được người trượt sóng ưa chuộng nhất. Ngọn sóng lừng có tuệ giác là vì em biết dù em có lên xuống bao nhiêu lần đi nữa, em vẫn chính là nước, là một phần của đại dương mênh mông bất tuyệt. Em biết em không cần phải trở thành một cái gì khác mới có hạnh phúc. Chúng con không hề nghi ngờ một chút nào về sự tuyệt vời và thích hợp của cái tên ấy cho chương trình teen, dù khi đó chưa có em teen nữ nào đến cả.

Sư cô Phú Nghiêm thật sự là một họa sĩ và một nhà trang trí nội thất tài năng. Sư cô đã vẽ một bức tranh tuyệt đẹp minh họa một em teen nữ đang lướt trên một lượn sóng thân thiện với rất nhiều con cá xinh xinh bơi lội cùng với những sinh vật biển khác.

Một khoảnh khắc dễ thương khác mà nhóm chúng con có trước khi các em đến là lúc các chị em cùng đi chơi với nhau tại một nhà thờ gần xóm Mới. Ngồi trên lan can của nhà thờ nhìn xuống có thể nhìn thấy toàn cảnh ở phía dưới thung lũng vùng Dieulivol. Màu vàng trên những cánh đồng hoa hướng dương đã thấp thoáng đây đó, dù là hoa chưa nở rộ, dòng sông Dropt nhìn xa trông như một con rắn uốn lượn, chỉ có thể định hình được nhờ các hàng cây dọc bờ sông.

Sư cô Tại Nghiêm, người tình nguyện chăm sóc chương trình thiếu niên liên tiếp bốn năm qua lúc nào cũng có mặt để làm phấn chấn tâm ban đầu của tất cả mọi người. Sư cô đã rất tự nhiên mời chúng con chia sẻ cảm nghĩ và hoài bão của mình khi tham gia vào cuộc “phiêu lưu” này. Ngoài ra mọi người cũng trao đổi về những thử thách, những lo lắng, suy tư bên cạnh niềm hứng khởi trước một viễn cảnh vui tươi trong mấy tuần hướng dẫn các em tu tập sắp đến. Dù chỉ mới gặp nhau có mấy ngày nhưng tình chị em dường như đã được vun bồi và lớn dậy làm con tin tưởng tới một nghìn phần trăm là chương trình sẽ rất thành công.

Có lúc con tự vấn mình: sao mình lại có thể chắc chắn đến như vậy? Mình không nhớ đến những giây phút khó khăn đã đi qua hồi trước hay sao? Mình không nhớ có khi mình còn không muốn ra gặp và hướng dẫn các em sinh hoạt khi có chuông thời khóa hay sao? Đúng vậy, con vẫn nhớ như in những thời khắc đó, nhưng không, con không còn sợ hãi nữa. Trái lại nữa là đằng khác, con náo nức mong đến lúc gặp gỡ các em và cha mẹ của các em.

Đã nhiều năm qua, chúng con biết điểm nhấn quan trọng nhất của mỗi tuần là buổi thực tập pháp môn Làm mới giữa các em và cha mẹ. Sinh hoạt này thường diễn ra vào ngày gần cuối của mỗi tuần trước khi các em và phụ huynh rời Làng, môi trường thực tập chung của gia đình. Buổi thực tập đó thường là buổi đáng nhớ nhất nên tất cả mọi người ai cũng biết là mình cần chuẩn bị thật kỹ càng. Trên thực tế, sự thực tập làm mới đối với tự thân, tổ tiên, người thương, gia đình, xã hội hay cả với hành tinh của chúng ta nữa, thường xảy ra trong suốt khóa tu chứ không phải chỉ ở buổi sinh hoạt Làm mới mà thôi. Thực tập tiếp xúc với giây phút hiện tại, đem thân về lại với tâm trong sự hòa điệu với hơi thở ý thức; dần dần hiểu được mối quan hệ mật thiết giữa khổ đau và hạnh phúc là trải nghiệm trực tiếp trong việc chăm sóc chính mình của các em và các bậc cha mẹ. Ý này đã được Thầy tóm lược bằng một vòng tròn có một mũi tên vẽ ngược vào trong, và trong bức thư pháp Lối ra tùy thuộc đường vào nội tâm.

Vì vậy, khi thiết kế chương trình sinh hoạt tu tập mỗi tuần, chúng con đã dành một thời hướng dẫn tổng quát đặc biệt cho cha mẹ (hoặc những người bảo hộ cho các em) để khuyến khích họ thường xuyên hỏi han các em, quan tâm đến các buổi sinh hoạt của các em (bởi vì phần lớn các sinh hoạt tu tập của các em đều không cùng với phụ huynh) và chuẩn bị sẵn sàng hai bước đầu tiên của thực tập Làm mới: Thứ nhất là thể hiện niềm trân quý đối với những điểm đẹp của con mình, nếu có thể được thì viết một bức thư và làm sẵn một món quà bằng những vật liệu thiên nhiên. Món quà này thể hiện những phẩm chất đẹp mà cha mẹ trân quý ở con. Thứ hai là xin lỗi con nếu mình đã có lúc hành xử không khéo léo hay không chánh niệm đối với con.

Song song đó, chúng con cũng dành cho các em một buổi đặc biệt để giới thiệu phương pháp thực tập Làm mới. Trong buổi sinh hoạt đó, chúng con cho các em rất nhiều thời gian để các em chia sẻ riêng với nhau về liên hệ với tự thân và với cha mẹ. Ngay sau buổi này là một buổi làm thủ công hay mỹ thuật để các em có thể bắt đầu viết thư, vẽ tranh hoặc làm một món quà cho cha mẹ.  

Có một em gái tên N. đến Làng trong tuần thứ nhất của mùa hè, đó cũng là lần đầu tiên em đến Làng. Cha em đã về Làng vào mùa hè năm trước với người chị sinh đôi của em. N. kết bạn rất dễ dàng với các em gái người Pháp khác. Có thể thấy là em rất thích khóa tu. Khi con được một sư cô báo cho biết là em không muốn tham dự buổi thực tập Làm mới, con đã đến gặp em để hỏi thì em bảo: “Dạ, thú thật là con rất ngại đến đó”. Vì vậy, con đề nghị em cứ đến tham dự nhưng em và cha không cần phải làm mới trong buổi đó, em chỉ cần có mặt trong khi các em khác và phụ huynh chia sẻ với nhau thôi.

Một số em đã tham dự khóa tu trong những năm trước còn nhớ Làm mới là một thực tập có rất nhiều cảm xúc. Có khi phải dùng đến một vài hộp khăn giấy để lau nước mắt. Vì vậy vòng tròn làm mới được các em mệnh danh là “Vòng tròn nước mắt”. Dĩ nhiên là các em này đã “báo động” làm hạt giống lo lắng trong các em mới tới bị tưới tẩm ít nhiều. Đó là trường hợp của N. Sau này con được biết là vào mùa hè năm trước, cha của N. đã quá xúc động đến nỗi không nói được câu nào để tưới hoa cho chị gái của N., dù là hai cha con rất thương nhau.

Đêm đó, khi nhóm các em gái người Pháp thực tập làm mới với gia đình, không khí rất ấm áp, bình an và vui tươi. N. đến ngồi cạnh một người bạn gái trong khi cha em ngồi ở phía bên kia của vòng tròn. Con thấy không ai là không thoải mái, kể cả N. Em rất chú ý lắng nghe khi mọi người chia sẻ, chẳng hạn như khi một ông bố nói về rất nhiều điểm đẹp ở đứa con gái 13 tuổi của ông. Trên tay ông là một nắm sỏi được trang trí thật đẹp để thể hiện sự dũng cảm, cái đẹp, tính rộng rãi và hay quan tâm chăm sóc của con gái. Ông lại có một nắm sỏi khác không có trang trí để bày tỏ là ông còn biết rất nhiều điểm đẹp không đếm xuể khác mà ông chưa phám phá ra, hoặc chưa được hoàn toàn thể hiện ở con mình.

Con tin rằng N., cũng như chính con, đã cảm động khi nghe những chia sẻ của một em gái tên M. và mẹ của em. Hai mẹ con ngồi trong vòng tròn và mở lòng ra với nhau một cách rất là tha thiết. Khi mẹ của M. nói: “Con là một người trẻ rất đặc biệt. Con rất dũng cảm khi là chính con, con không cố gắng để trở thành một người khác. Mẹ sẽ yểm trợ con đi trên con đường của chính con” thì không những M. rơi nước mắt mà rất nhiều người khác cũng khóc. Con không thể rời đôi mắt nhòa lệ của mình khỏi những người con gái trẻ tuổi rất đẹp ấy. Cái đẹp của sự tiếp nối và tự do của những người phụ nữ của cả hai thế hệ đang cố gắng vươn lên.

Con không thể không cảm thấy mình quá may mắn khi giữa mẹ con và con cũng có được mối quan hệ yểm trợ không điều kiện ấy, mặc dù khi con ở vào lứa tuổi của M., hai mẹ con chưa bao giờ ngồi tưới hoa cho nhau như thế.

Mỗi năm trôi qua, con lại càng ý thức rõ rệt hơn về sức mạnh của các buổi Làm mới đối với các gia đình có con tuổi teens. Sức mạnh này có được đơn giản là vì tất cả các gia đình cùng ngồi lại chứ không phải chỉ giữa thành viên của một gia đình ngồi riêng với nhau mà thôi. Sự gắn bó giữa các em với nhau đã lên đến đỉnh điểm nên các em đã có thể mở lòng ra với nhau và với cả những người lớn nữa. Thật là không thể tưởng tượng được và không thể nào quên được. Đó là một việc rất quý báu và hiếm hoi trên cõi đời này. Ai cũng nhận ra rằng đó thật sự là một cơ hội quá tuyệt vời. Dù cho một số cha mẹ và các em biết rằng mình sẽ phơi bày chỗ yếu dễ tổn thương của mình ra nhưng họ vẫn bước bước chân thần kỳ ấy, bởi kết quả của sự thực tập sẽ chữa lành những vết thương một cách không thể nghĩ bàn.

Đó là lý do tại sao vào cuối buổi Làm mới tối hôm ấy, cha của N. đã quyết định phải thử làm mới với con gái. Ông lấy một cành hoa từ chậu hoa trang trí rồi bước sang ngồi đối diện với N. Vừa mới bắt đầu mở lời ông đã khóc và không thể nói thêm gì được nữa. N. cũng khóc. Người cha ngồi thêm một vài giây nữa rồi xin vị chủ tọa thỉnh một tiếng chuông giúp ông trở về với hơi thở ý thức để làm lắng dịu cảm xúc. Sau tiếng chuông, với những nụ cười đồng cảm, chúng con chuyền hộp khăn giấy đến cho hai cha con. Hai người không nói thêm lời nào nữa. Tuy nhiên, trong khoảnh khắc ấy, cánh cửa trái tim của hai cha con đã trở nên rộng mở.

Sau giờ phút đó, con được biết là có rất nhiều điều giữa hai cha con đã được giải tỏa. Tối hôm sau, chúng con tổ chức cho các em sinh hoạt vòng tròn trên đồi mận trước khi khóa tu kết thúc. Hôm ấy, tất cả mọi người được mời chia sẻ một điều tuyệt vời nhất mà mình đã trải nghiệm trong một tuần tu tập ở Làng. Con đã rất ngạc nhiên và vui mừng khi N. chia sẻ không ngần ngại khoảnh khắc tuyệt vời nhất của em chính là lúc cha em đến với em trong buổi thực tập Làm mới. Điều đó có nghĩa là nỗi sợ hãi lớn nhất của em về thực tập Làm mới (làm lúc ban đầu em không muốn đến) giờ đã hóa thành niềm hạnh phúc sâu lắng nhất.

Sự thần kỳ kế tiếp là vào ngày N. rời xóm Mới, cha em đã ở lại để đón người chị sinh đôi của em tên là M. Và điều tuyệt vời chắc chắn phải xảy ra, đó là khi thực tập làm mới với M., người cha đã có thể nói thành lời, dù là trong nước mắt. Ông nói về lòng tri ân và sự ân hận của mình với M., nhưng đồng thời, cũng chính là với cả gia đình. Nhờ đó, ông đã làm sáng tỏ một số hiểu lầm đã từ lâu mang nặng trong trái tim của M.

Một lần nữa con lại khóc… và con đã khóc suốt cả bốn tuần vì cảm động bởi các em và gia đình không chỉ đơn thuần là những gia đình bình thường, họ đã trở thành những người bạn thân thiết, là gia đình của con, là chính bản thân con… Khi trái tim của họ mở ra thì trái tim của con cũng mở ra. Em bé, em teen trong con, mẹ và bà ngoại trong con đã thực sự được trị liệu về tất cả mọi mặt, chỉ nhờ con và các em đã có mặt cùng nhau thật hết lòng.

Những dòng chia sẻ này được viết ra khi khóa tu mùa Hè kết thúc đã được ba tuần. Thực ra chúng con thấy rằng không thể đo đếm thời gian bằng cách tính theo tuần được nữa. Bởi vì sự tiếp xúc với bao nhiêu thế hệ của thiền sinh và sự thực tập của họ đã làm nên con người của chúng con. Cũng bởi vì tất cả những người lớn hay trẻ em mà chúng con tiếp xúc đã trở thành một phần rất đẹp của chúng con. Vì vậy có thể nói rằng tháng 7 năm 2017 đã được làm nên bởi tổng số 4000 người đến thực tập trong bốn tuần lễ của khóa tu mùa Hè tại Làng Mai.

Nhắn nhủ

Bạn là khu vườn nhỏ

Tôi là nắng ngoài sân

Khu vườn im lìm thở

Nắng vòng quanh, vòng quanh

Đời muôn màu muôn hướng

Sao lại chọn thanh bần

Có chi trong nhịp thở

Mà lòng vui vô ngần?

Cuộc sống là đổi thay

Đâu cũng vào đó cả

Ngại chi lời qua lại

Cứ hiểu bằng tim mình

Tôi gọi về cây khế

Trong vườn xưa nhẹ lay

Nhớ chí ai hừng hực

Gánh sơn hà trên vai

Bạn đi tìm ý sống

Tôi trở về nơi mình

Lục tìm trong thăm thẳm

Những vốc nắng lung linh

Càng đi qua tháng năm

Tôi càng mong ngây dại

Cứ ngơ ngơ thế đó

Đời vậy thôi! Trong lành

Nhắn nhủ nhau thế nhé

Để tuổi trẻ tự nhiên

Để dáng hình tôi, bạn

Tan vào cõi vô biên.

(Chân Pháp Khả)

Vô ngã là tinh hoa của đạo Bụt

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 22.11.2012 trong khoá An cư kiết đông 2012-2013)

https://www.youtube.com/watch?v=WDaf2h-qaXY&list=PLMG8i-w8rYWnQwMqNdHmmdlkWMk7fI74o&index=6

Chánh kiến đầu tiên là tuệ giác vô thường, và vô thường đưa tới vô ngã. Ngã là một cái gì tồn tại hoài hoài, nó mãi mãi vẫn là nó. Nếu có cái ngã thì em bé không thể lớn lên được, nhờ có vô ngã nên em bé trở thành người lớn. Không có vô thường, vô ngã thì em bé không thể trở thành một thiếu nữ xinh đẹp. Không có vô thường, vô ngã thì hạt bắp luôn luôn là hạt bắp, hạt bắp không thể trở thành cây bắp. Vô thường rất hay, nhờ vô thường mà sự sống có mặt, mà vô thường chính là vô ngã.

Ngã là tự tánh, em bé không có tự tánh nhưng đó không phải là một tin buồn, tại vì nếu có tự tánh thì em bé không thể trở thành một cô thiếu nữ hay một chàng thanh niên. Không có tự tánh là không có một cái gì thường tại bất biến, mà ngã là cái thường tại bất biến. Đã chấp nhận vô thường là một sự thật thì ta cũng phải chấp nhận vô ngã. Hiện nay khoa học đã chấp nhận vô thường nên một ngày nào đó chắc chắn khoa học sẽ chấp nhận vô ngã.

Những khám phá khoa học gần đây cho ta thấy rằng vô ngã là một sự thật. Ví dụ như óc ta có hàng tỷ tế bào (neuron), nhưng không có tế bào óc nào làm chủ để ra lệnh, sai khiến. Những tế bào thông tin với nhau nên khi một tư tưởng phát sinh thì đó là thành quả của tất cả neuron. Các nhà khoa học thần kinh nói rằng bộ óc của con người giống như một dàn nhạc, trong đó mỗi nhạc sĩ đều đang sử dụng một nhạc khí mà không có nhạc trưởng. Cơ thể của ta được làm ra bởi biết bao nhiêu là tế bào, mà không có tế bào tự xưng là ông chủ.

Các khám phá khoa học đã chứng minh và xác nhận vô thường-vô ngã là một sự thật, nhưng vấn đề là ta có áp dụng được tuệ giác vô thường-vô ngã đó vào trong đời sống hằng ngày để ta bớt khổ hay không? Thực tại là vô thường, vô ngã mà ta cứ nghĩ nó là thường, là ngã thì ta khổ, ta vô minh. Vấn đề không phải là câu nói mà vấn đề là có áp dụng được câu nói đó vào đời sống của mình hay không.

Mưa đã là rơi, sự có mặt của mưa là rơi. Gió đã là thổi, sự có mặt của gió là thổi. Sự có mặt của cái bàn là công dụng của cái bàn. Chúng ta đã học trong 44 bài kệ thắng nghĩa rằng: Các pháp không tác dụng, sự có mặt của các pháp chính là công dụng của nó.

Triết học Trung quốc nói: Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử. Chủ từ và chủ từ là một. Cha mà không làm cha thì không phải là cha. Vua phải đích thực làm vua, dân phải đích thực làm dân, cha phải đích thực làm cha, con phải đích thực làm con. Quân quân là vua làm vua, thần thần là dân làm dân, phu phụ là cha làm cha, tử tử là con làm con. Sự có mặt của ta chính là hành động của ta. Mỗi một danh từ đều là động từ, vì vậy ta không cần phải có một chủ từ nằm ngoài động từ, không cần có một tác giả nằm ngoài tác nghiệp.

Chúng ta nghĩ rằng phải có một cái ngã thì mới thoát khỏi luân hồi và đi vào Niết bàn. Không có ngã thì ai thoát luân hồi, ai vào Niết bàn? Không có ngã thì ai thấy, ai nghe, ai tu, ai tạo nghiệp và ai tiếp nhận quả báo? Không có ngã thì ai thấy, ai hiểu được Phật pháp? Thầy A Nan dạy: Nếu một người, trong khi tiếp xúc mà không bị kẹt vào xúc, không đứng trong cái kẹt đó và thấy không cần có một cái ngã thì người đó thấy được sự thật tức là người đó thấy pháp và hiểu pháp. Khi những điều kiện có đủ thì tự nhiên sự vật biểu hiện và khi những điều kiện không đủ nữa thì hiện tượng đó không còn. Ta không cần vai trò của một cái ngã.

Bụt nói: Khi những điều kiện có đủ để cái khổ phát sinh thì khổ phát sinh, khi những điều kiện có đủ để cái khổ tiêu diệt thì cái khổ tiêu diệt, không có chủ thể nào đứng ra chủ trương làm cái khổ phát sinh hay tiêu diệt. Đó là câu khó nhất trong kinh Trung Đạo Nhân Duyên: Người đời vì bị kẹt vào trong các cảnh giới của nhận thức cho nên tâm họ bị ràng buộc. Nếu một người không tiếp nhận, không nắm bắt và không đứng trong cái kẹt ấy, không kế độ và chấp vào một cái ngã thì người ấy sẽ thấy khi điều kiện có đủ để cái khổ sinh thì cái khổ sinh và khi có đủ điều kiện để cái khổ diệt thì cái khổ tiêu diệt, trong đó không cần phải có một cái ngã và không cần phải có những ý niệm có và không, những ý niệm có và không không thể áp đặt vào được.

Này Kātyāyana, người ấy không còn hồ nghi gì nữa, không bị phiền não nào sai sử nữa và cái thấy ấy không do ai trao truyền mà chỉ tự mình tự biết. Cái thấy ấy gọi là chánh kiến, cái mà Đức Như Lai đang nói đến.

Không cần phải có một chủ thể, khi điều kiện có đủ thì sự vật biểu hiện và khi điều kiện không còn đủ thì sự vật tiêu diệt. Sự giải thoát cũng như thế. Người ta cứ nghĩ rằng có một cái ngã đi luân hồi, đi vào thân xác này rồi đi ra khỏi thân xác này để đi vào một thân xác khác và đi vòng vòng như vậy. Đó là quan niệm về luân hồi của Bà la môn giáo, của Áo Nghĩa Thư. Đạo Bụt không công nhận quan niệm đó, nhưng trong đạo Bụt có người chưa thấy được vô ngã nên tin vào luân hồi có màu sắc của Bà la môn giáo hơn là Phật giáo. Vì chưa học đủ, chưa được khai thị nên ý niệm về luân hồi, về nghiệp, về quả báo của chúng ta vẫn còn mang nặng chất liệu của Bà la môn giáo. Bà la môn giáo tin vào một cái ngã.

Tuy đạo Bụt có tiếp thu giáo lý về nghiệp, về luân hồi và về báo nhưng giáo lý và sự hành trì của đạo Bụt về nghiệp, về luân hồi và về báo rất khác với Bà la môn giáo. Chúng ta phải hiểu luân hồi, nghiệp và báo dưới ánh sáng của vô ngã: “Có sự liên tục, có nghiệp, có luân hồi, có quả báo nhưng không cần có một cái ngã”. Nước có thể luân hồi thành nước đá, nước đá có thể luân hồi thành mây, mây có thể luân hồi thành dòng sông, có một sự liên tục với nhau nhưng không cần có một cái ngã, một cái ta bất di bất dịch mới có thể luân hồi. Câu “ gieo bắp thì được bắp, gieo đậu thì được đậu“ rất đúng nhưng không cần phải có một cái ngã. Đạo Bụt chủ trương: Khi các điều kiện đầy đủ thì hạt bắp trở thành cây bắp và trái bắp mà không cần phải có một cái ngã trong đó.

Bài kệ thắng nghĩa đầu tiên chúng ta đã học năm ngoái có câu:

Không hề có chủ nhân

Không kẻ làm người chịu

Các pháp không tác dụng

Dù chuyển dụng chẳng không.

Không có người gây ra nghiệp, không có người thọ nghiệp nhưng nghiệp vẫn có. Khi điều kiện đủ thì tự nhiên có nghiệp, khi điều kiện hết thì nghiệp cũng không còn mà không cần phải có một cái ngã trong đó. Vô ngã là tinh hoa của đạo Bụt. Trong cộng đồng của Đạo Bụt có biết bao nhiêu người, mà người hiểu được pháp và chứng ngộ thì rất ít. Phần lớn đều là những tín hữu và cái hiểu của họ còn vướng mắc vào ý niệm ngã rất nhiều. Nhưng chúng ta phải để cho họ đi từ từ. Muốn hiểu được Bụt ta phải thấy được vô ngã. Có những người tự xưng là Bụt nhưng chất Bụt của họ còn ít mà chất Bà la môn thì nhiều. Tu tập từ từ thì càng ngày chất Bụt càng nhiều và niềm tin vào ngã, vào thần ngã và sự mê tín càng bớt đi.

https://youtu.be/WDaf2h-qaXY

Kệ truyền đăng trong khoá tu 21 ngày 2018 “Tri kỷ của Bụt”

Trong khoá tu này, tăng thân Làng Mai đã có lễ truyền đăng cho 26 vị tân giáo thọ cư sĩ đến từ nhiều nước trên thế giới (14 – 15.6.2018)

1. Tiếp hiện True Shining Bodhicitta 

(Scott Schang, Mỹ)

The sun of insight shines in every realm
Indestructible is the seed of bodhicitta
The sound of the rising tide heals all wounds
Every step restores the life of mother earth.
2. Tiếp hiện Chân Niệm Đức

(Denise Ségor, Mỹ)

The source of mindfulness is a seed

Nurtured in mind’s earth by virtue’s rain

Harmonizing different voices

The future Buddha is the sangha.

3. Tiếp hiện True Holy Heart

(Bill Woodall, Mỹ)

Nature itself is silent and holy

Always clear of ideas of right and wrong.

Living in the world heart undisturbed

A pillar to hold the sangha-body.

4. Tiếp hiện Chân Phúc Hải

(Bruce Nichols, Mỹ)

Navigating the deep Dharma ocean

The boat of merit, lighthouse of wisdom

Teach the practice with the Dharma-body,

Accept, embrace, listen to suffering.

5. Tiếp hiện  True Wondrous Joy

(Diane Little Eagle, Mỹ)

Land ancestors are here wonderfully

In the joy of the grass, width of the sky.

Suffering, the mud, awaits compassion.

Strong and solid we grow lotus flowers.

6. Tiếp hiện   True Spiritual Peace

(Michele Tae, Mỹ)


Sacred 
eyes see that emptiness is form

Drops of  peace fall gently on all around

Complexes dissolve where there is true love

The Dharma continues for times to come.

7. Tiếp hiện  Chân Giác Dụng

(Margret de Backere, Đức)

How wonderful that the tree is there:

The tree itself is the tree’s function.

We awaken to life’s miracle

Our true home is the present moment.

8. Tiếp hiện Chân Bích Trì

(Caitlin Bush, New Zealand)

The emerald stream wends its way through life

Reaching the lake of true understanding.

Look at its water! All is reflected.

Inclusiveness dissolves all complexes.

9. Tiếp hiện  True Precious Eyes

(Phil Stein, Mỹ)


Precious
is the time spent with young people

Eyes able to look at all with love.

The muni does not need to shun the world

And enters the door of mindful action.

10. Tiếp hiện  Chân Thường Đức

(Theresa Payne, Vương quốc Anh)


Ever-present
the miracle of life.

Indestructible the virtue of love.

Being there with the breath for another

Will reveal the truth of interbeing.

11. Tiếp hiện  Chân Nhã Hương

(Tineke Spruytenburg, Hà Lan)


Graceful
is the practice of the Dharma

The incense of the heart is lit for all

Being able to adapt as needed

Brings all beings to the shore of freedom.

12. Tiếp hiện Chân Tăng Lực

(Valerie Brown, Mỹ)

In the true Sangha is the true Buddha.

The power of cutting through afflictions

comes from the power of understanding.

All bow down in the spirit of oneness.

13. Tiếp hiện True Silent Faith

(Rick Sonnenberg, Mỹ)

Silent the sunrise over the mountain

Giving faith in the miracle of life.

Looking deeply we are able to heal

Conflicts that have arisen, large or small.

14 Tiếp hiện   Chân An Sơn

(Vivien Ephraimson Abt, Mỹ)

The clouds that gather around the mountain

Are the peace that the Dharma doors offer.

The gentle flow of the breath is music

That ennobles the sangha far and wide.

15. Tiếp hiện   True Solid Practice

(Angie Searle, Vương quốc Anh)

Solid are the footsteps that caress the earth.

Cultivating our mind is the practice.

Taking care of this ancestral body

We honour four objects of gratitude.

16. Tiếp hiện Chân Trú An

(Greg Gallo, Mỹ)

Right mindfulness is the safest abode.

Right view is the source for peace in the world.

Coming back to our true home, mother earth

We care for the future generations.

17. Tiếp hiện Chân Linh Giải

(Sheila Canal, Mỹ)

The spiritual path is limitless love;

Understanding that removes division.

Together we advance a global ethics

To lessen the suffering of the world.

18. Tiếp hiện  Chân Hạnh Bi
(Ava Avalos, Botswana)

Right action goes hand in hand with right view.

The rain of compassion waters good seeds.

Looking into the eyes of suffering,

Self and other dissolve into oneness.

19Tiếp hiện Chân Nguyên An

(Josselyne Letort-Vanel, Pháp)

Stopping to look deeply you see the source,
From which comes peace now and for the future.
Spring flowers of the heart can bloom afresh.
The gifts of the Dharma are falling rain.
(French translation )
T’arrêtant pour regarder profondément tu vois la source
D’où vient la paix de maintenant et pour le futur.
Les fleurs printanières peuvent à nouveau éclore
Les cadeaux du Dharma sont la pluie qui tombe.
20. Tiếp hiện Chân Hương Đạo

(Christiane Terrier, Pháp)

Fragrant is the incense of the heart.

It turns the endless path to joy.

Faith always gives rise to inner strength.

Birth and death are no obstacle.

(French translation )

Parfumé est l’encens du coeur

Le chemin éternel se transforme en joie

De la foi s’élève la force intérieure

Naissance et mort ne font plus obstacle.

21. Tiếp hiện Chân Nguyên Ngôn

(Serge Letort, Pháp)

La nature en soi est silencieuse

Une parole apporte le bonheur à tous les êtres

Pratiquer la parole aimante au quotidien

C’est comprendre et aimer en action.

(English translation )

Nature by itself is silent

One word brings happiness to all beings.

Practicing loving speech in daily life

Is understanding and love in action.

22Tiếp hiện Chân Trí Viên

(Dominique Le Moine, Pháp)

Trí tuệ như gương trong

Viên mãn tựa trăng rằm

Tâm từ bi trải rộng

Hỷ lạc luôn hanh thông.

La sagesse est comme un pur miroir

Reflétant la perfection telle la pleine lune

La compassion est partout présente

Joie et bonheur se manifestent à chaque moment.

23Tiếp hiện Chân Nguyên Lạc

(Jack Bertho, Pháp)

Sur le Chemin où me ramènent mes pas la lune brille

Tout le paysage intérieur et alentour scintille d’une joie originelle

La présence de nos frères et de nos sœurs tel un sourire

Fait s’épanouir la fleur de cet instant précieux .

24. Tiếp hiện Chân Ân Đạo

(Juan Gregorio Hidalgo Ruiz, Tây Ban Nha)

The pathis in the depths of consciousness

Nourishing gratitude since childhood years.

Once the transmission has been received

There is no more need to search for it.

El camino está en las profundidades de la conciencia

Nutriendo la gratitud desde la infancia.

Una vez que la transmisión ha sido recibida

No hay más necesidad de buscarla.

25. Tiếp hiện Chân Bảo Giang

(Rosa María Serrano Salcedo, Tây Ban Nha)

Precious is this lifetime on Mother Earth

When the river of the sangha holds us.

Joyfully accepting the gifts of Dharma

Our heart brims to the full with gratitude.

Preciosa es esta vida sobre la Madre Tierra

Cuando el río de la sangha nos sostiene.

Aceptando alegremente los dones del Dharma

Nuestro corazón rebosa de gratitud.

26Tiếp hiện Chân Bảo Sơn

(Luis Del Val Martinez, Tây Ban Nha)

Each moment a precious eternity
The jewelled mountain is always there.
Why wait another day to touch the truth,
Whose message is found in clouds and rain?

Cada momento una preciosa eternidad
La montaña enjoyada siempre está ahí.
¿Por qué esperar otro día para tocar la verdad,
cuyo mensaje se encuentra en las nubes y la lluvia?

Chánh kiến – trái tim của đạo Bụt

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2012-2013)

Chánh kiến là trái tim của đạo Bụt

Nền tảng thực tập giáo lý đạo Bụt không dựa trên niềm tin về luân hồi, về nghiệp và quả báo. Trái tim của đạo Bụt dựa trên một cái thấy rất sáng về Bốn sự thật, cái thấy đó là chánh kiến. Cái thấy đó rất sâu, ta phải đạt được bằng thiền quán. Niệm và định càng vững chãi thì cái thấy càng sáng.

Tuệ, có khi còn được gọi là chánh kiến   (right view, la vue correcte) tức là cái thấy đúng. Có cái thấy đúng thì tư duy của ta sẽ đúng gọi là chánh tư duy . Muốn có cái thấy đúng chúng ta phải thực tập chánh địnhchánh niệm. Sự thực tập trong đạo Bụt bắt đầu từ chánh niệm, chánh định và từ đó sẽ phát khởi ra chánh kiến. Đạo đức học của đạo Bụt căn cứ trên cái thấy sáng và đúng.

Thân, khẩu, ý là nghiệp

Phải có cái thấy đúng thì ta mới tư duy đúng và hành động đúng. Có cái thấy đúng (ý) thì ta có lời nói (ngữ) đúng tức chánh ngữ , hành động (thân) đúng tức chánh nghiệp . Thân, khẩu, ý là sự tạo nghiệp. Trong một ngày chúng ta tạo không biết bao nhiêu là nghiệp, nghiệp lành hay nghiệp dữ. Nếu phát khởi tâm niệm tha thứ, thương yêu thì ta tạo nghiệp tốt, còn nhưng nếu phát khởi tư tưởng giận hờn, hận thù, chán đời thì ta tạo nghiệp xấu. Mỗi ngày ta tạo nghiệp, nhưng nghiệp không có nghĩa là xấu. Nghiệp có thể tốt, có thể xấu.

Mỗi ngày chúng ta nói, viết thư hay gửi e-mail. Những điều chúng ta nói, viết có thể là nghiệp tốt hay nghiệp xấu. Những điều mình nói hay viết có thể làm cho mình và cho người khác có hạnh phúc.

Chúng ta sử dụng thân của mình để hành động. Hành động của cơ thể mình có tính cách bảo hộ, cứu độ, che chở thì đó là nghiệp tốt. Nếu hành động đó có tính cách phá hoại, giết chóc, tàn hại thì đó là nghiệp xấu. Thân, khẩu, ý là ba mặt của hành động.

Chiếc đũa thần chánh kiến

Thường thì chúng ta nghĩ rằng ta chỉ có thể làm hạnh phúc cho người khi ta có nhiều tiền, khi ta là triệu phú vì nếu có nhiều tiền thì ta có thể ban phát cho người. Ta mơ làm vua hay làm tổng thống, vì nếu có quyền trong tay thì ta có thể ban ân huệ cho người. Ta nghĩ nếu có tiền bạc, quyền lực, danh vọng thì ta có thể làm hạnh phúc cho mình và cho người khác. Đó là sự mê tín, tại vì nhìn chung quanh chúng ta thấy nhiều người có tiền bạc, quyền hành, danh vọng nhưng họ rất đau khổ và không giúp được cho ai. Chúng ta cảm thấy khó thở tại vì ta không có hạnh phúc và không làm được hạnh phúc cho người khác.

Nhưng theo giáo lý Tứ thần túc thì khác. Trong điều kiện của ta hiện bây giờ, dù không có một thước đất cắm dùi, dù không có trương mục hàng triệu đô la, ta vẫn có thể làm hạnh phúc được cho người khác. Ngay bây giờ và ở đây ta có thể làm phép thần thông. Ta là một bà tiên với chiếc đũa thần, ta có thể làm hạnh phúc cho người khác ngay bây giờ và ở đây. Khi người kia hạnh phúc thì ta cũng hạnh phúc. Người kia là ai? Người kia đang ở gần đây hay là đang ở bên Mỹ, đang ở Việt Nam? Mình có thể làm cho người đó hạnh phúc bằng cách phát ra một tư tưởng của sự tha thứ và thương yêu, có chất hiểu và thương. Mình đã từng phát khởi một tư tưởng thương, tha thứ để tư tưởng ôm lấy người kia hay chưa? Hay là mình chỉ tiếp tục trách móc người đó? Sở dĩ mình chỉ trách móc, hờn oán mà không thương, không đùm bọc, che chở được người đó là tại vì mình không có chánh kiến.

Chánh kiến là thấy được nỗi khổ niềm đau của người đó, nếu thấy được thì tự nhiên mình hết giận người đó. Mình muốn nói hay làm điều gì đó để người đó bớt khổ. Có được tư tưởng đó đã là một phép lạ, nó làm cho mình khoẻ ngay. Mình có thể gọi điện thoại hay viết một lá thư trong đó đầy tràn những lời hiểu biết thương yêu. Khi nói hay viết ra những lời như vậy thì mình rất khoẻ và người đó cũng khỏe khi nghe hay đọc những lời đó. Đó là phép lạ mà mình có thể làm được ngay bây giờ. Mình hãy làm ngay trưa hôm nay đi! Ngồi ăn cơm mình hãy nghĩ tới người đó, người đó có bao nhiêu là bế tắc, hệ lụy, khổ đau mà lâu nay không được ai giúp. Thấy được như vậy là mình có chánh kiến.

Có cái thấy đúng thì tự nhiên mình tư duy đúng. Tư duy đúng là tư duy có chất liệu hiểu và thương và khi chất liệu hiểu và thương được chế tác ra là ta cảm thấy khoẻ ngay. Một tư tưởng tha thứ, thương yêu, đùm bọc làm cho ta hết bệnh trong thân cũng như trong tâm. Nó là một năng lượng chữa trị mà ta được thừa hưởng trước cả người kia. Nhờ có tâm niệm thương yêu, tha thứ mà ta có thể và làm những điều giúp cho người kia bớt khổ ngay trong ngày hôm nay. Chỉ cần năm phút nhìn cho sâu để thấy được nỗi khổ niềm đau của người đó thì ta đã phát khởi được một tư tưởng từ bi. Đó là một phép lạ!

Ta ngồi xuống viết một là thư hay ta thở rồi điện thoại nói một câu thì tình trạng có thể thay đổi liền lập tức. Đó là gì nếu không phải là một phép lạ? Ta không cần phải có 100 triệu đô la trong trương mục, hay làm bộ trưởng, tổng thống mới có thể làm phép lạ. Với con người phàm này của ta, nhưng nếu có chất thánh ở trong thì ta đã có thể làm được phép lạ ngay bây giờ, ta có thể làm bà tiên hay ông tiên ngay trong ngày hôm nay. Mình phải thực tập cái gọi là bố thí, hiến tặng. Mình rất giàu nên mình phải thực tập hiến tặng (dāna), tiếng Anh là generosity. Vì trái tim của mình nhỏ bằng trái sim nên mình không thể làm hạnh phúc cho người kia. Bây giờ ta làm cho trái tim của mình lớn ra. Trước tiên là ta chấp nhận được mình. Trong chúng ta có người không tự chấp nhận được mình. Ta tự trách móc, khinh khi mình. Trái tim chúng ta nhỏ quá nên ta không tự thương được mình. Và nếu ta không thương được chính mình thì làm sao ta có thể thương được người khác?

Muốn làm cho trái tim lớn lên thì ta phải có cái thấy, thấy những nỗi khổ niềm đau của chính mình. Thấy được thì tự nhiên thương được. Thấy được nổi khổ niềm đau của chính mình thì mình thấy được nỗi khổ niềm đau của người kia. Vì vậy cái thấy rất quan trọng, nó có thể thay đổi tư duy của mình, khiến mình nghĩ, nói và làm những điều đưa đến hạnh phúc ngay lập tức. Trái tim của mình phải có lượng lớn (capacity) gọi là tâm lượng . Trong Truyện Kiều Kim Trọng nói: Lượng xuân dù có hẹp hòi, có nghĩa là cô hãy mở lòng ra để thương tôi. Một vị bồ tát là một người có tâm lượng rất lớn. Trong kinh, bài chúc tán ngày mồng một có câu ca ngợi Bụt Thích Ca:

Tâm bảo thái hư

Lượng châu sa giới

“Tâm bảo thái hư” có nghĩa là trái tim của Bụt ôm trọn cả thái hư. “Lượng châu sa giới” có nghĩa là lượng của Ngài bao trùm hết cả tam thiên đại thiên thế giới. Nếu có tâm lượng lớn, ta sẽ có rất nhiều không gian. Tâm lượng của mình có lớn hay không là do mình có cái thấy hay không. Tất cả nền đạo lý Phật giáo được xây dựng trên nền tảng gọi là tuệ giác (prajña) tức là cái thấy. Trên cái thấy đó chúng ta dựng lên sự thực tập chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp. Thực tập như thế thì chúng ta có hạnh phúc và có thể đem hạnh phúc cho người ngay lập tức.

Ta có thể làm phép lạ ngay bây giờ và ở đây nhờ ba chiếc đũa thần mà chiếc đũa thần đầu tiên là tư duy của ta. Ta có khả năng phát khởi ra một tư tưởng tha thứ và muốn giúp người, khi đó ta cảm thấy khoẻ và sự trị liệu thân tâm xảy ra liền. Tuy ta chưa làm gì cả nhưng người kia cũng đã bắt đầu hưởng được, tại vì những gì xảy ra trong ta có ảnh hưởng đến thế giới ngay lập tức. Ta có tư tưởng đen tối, hận thù thì thế giới sẽ tối sầm lại ngay. Nếu tư tưởng đó là từ bi, chấp nhận, thương yêu thì thế giới sẽ sáng lên lập tức.

Ta phải nhớ rằng không phải là ta không có quyền lực. Quyền lực chính trị, danh vọng hay tiền tài chưa phải là quyền lực thật sự, vì chúng có thể làm cho người ta hệ lụy, khổ đau. Nhưng ta có sức mạnh của thương yêu (the power of love). Trong ta có hạt giống của hiểu biết, từ bi. Nếu biết tiếp xúc với những hạt giống đó thì tự nhiên ta có được năng lượng thương yêu. Ta không có tiền, không có địa vị, quyền hành trong xã hội nhưng ta có quyền lực rất lớn là quyền lực thương yêu. Ta có quyền thương yêu mình và thương yêu người khác. Và mình có thể thực hiện được điều đó ngay ngày hôm nay. Sự thực tập hơi thở và bước chân có thể làm cho quyền lực thương yêu lớn lên.

Ngoài chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chúng ta có chánh mạng 命tức phương tiện sinh sống chân chánh và chánh tinh tấn . Đó là bát chánh đạo tức con đường chuyển hóa khổ đau và đưa tới hạnh phúc. Đó mới là cốt tủy của giáo lý đạo Bụt mà không phải là giáo lý luân hồi, nghiệp hay quả báo. Tài năng của Bụt không phải ở chỗ sáng tác ra giáo lý về luân hồi, nghiệp và quả báo. Tài năng của Bụt là phát khởi ra và đưa cho chúng ta một con đường. Đó là con đường bát chánh dựa trên cái thấy Tứ diệu đế tức Bốn sự thật. Cái thấy này là cái thấy về Tứ đế .

Bắt đầu từ giờ phút này quí vị, người xuất gia cũng như tại gia, đừng nên có mặc cảm, đừng nghĩ là mình không có quyền năng (helpless). Với niệm, định chúng ta có thể có được cái thấy, trước hết là thấy được khổ đau của mình. Hiểu được khổ đau của mình thì tình thương trào lên và mình chấp nhận được mình. Hiểu được khổ đau của mình rồi thì tự nhiên mình hiểu được khổ đau của người khác. Mình không còn buồn, giận, trách móc nữa. Mình muốn làm, muốn nói điều gì đó cho người đó bớt khổ. Chuyện đó có thể xảy ra ngay trong ngày hôm nay. Chúng ta đừng có mặc cảm là mình bất lực. Chúng ta có quyền lực, quyền lực của thương yêu. Khả năng của thương yêu dựa trên khả năng của hiểu biết, trước hết là hiểu khổ đau của chính mình và sau đó là hiểu khổ đau của người khác. Bắt đầu hôm nay chúng ta sẽ hành xử như một bà tiên hay một ông tiên có khả năng làm hạnh phúc cho mình và cho người khác. Chúng ta đừng chờ đợi một lực lượng bên ngoài. Trái tim của đạo Bụt là chánh kiến. Chánh kiến làm cho con người trở thành một vị Bụt, một người phàm trở thành ra một vị thánh. Tất cả sự thực tập trong đạo Bụt đều nhắm tới mục đích duy nhất là có được cái thấy (chánh kiến).

Chánh kiến là tuệ, là sự nghiệp của người tu

Chánh kiến (right view) là cái thấy đúng, xác thực. Louis de la Vallée Poussin, một học giả người Bỉ, đã dịch chữ chánh kiến là la bonne vue, nhưng bây giờ người ta dịch chữ chánh kiến là la vue juste.

Chánh kiến là cái thấy đúng với sự thật. Sự thật có hai tầng:

  • tầng thứ nhất là sự thật ước lệ tức thế tục đế.
  • tầng thứ hai là sự thật tuyệt đối tức thắng nghĩa đế.

Khi Đức Thế Tôn dạy “chánh kiến là một cái thấy vượt thoát có-không“ thì đó là chánh kiến thuộc thắng nghĩa đế. Câu nói “có sinh, có diệt, có có, có không, có người, có ta“ cũng là một loại sự thật, nhưng là sự thật ước lệ. Chánh kiến là tuệ 慧 (insight), là một cái thấy trực tiếp, là một trực giác không đi ngang qua lý luận, suy tư. Cái thấy trực tiếp là sự chứng ngộ được biểu hiện ra khi chúng ta có đủ chánh định và chánh niệm.

Tuệ là cái quan trọng nhất đối với người tu, là cái mà ta tìm cầu đêm ngày. Tuệ là sự nghiệp của người tu. Trong kinh như kinh Bát Đại Nhân Giác tức kinh Tám điều giác ngộ của các bậc đại nhân có câu: Duy tuệ thị nghiệp (惟 慧 是 業). Tuệ là sự nghiệp mà ta đeo đuổi trong cuộc đời. Ta chỉ lấy trí tuệ để làm sự nghiệp của đời mình. Người đời thường chạy theo danh vọng thì danh là sự nghiệp của họ:

“Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.” (Nguyễn Công Trứ)

Những doanh thương thì chạy theo sự giàu sang, sự nghiệp của họ là một gia tài đồ sộ; còn đối với những ông tướng thì sự nghiệp của họ là một cuộc chiến thắng vẻ vang. Sự nghiệp của người tu là tuệ, tại vì tuệ đem tới tự do, hạnh phúc. Ngày xưa trường đại học Vạn Hạnh ở Việt Nam do tôi góp sức tạo dựng lúc đầu đã lấy bốn chữ duy tuệ thị nghiệp làm phương châm sống và hành trì cho học tăng.

Chánh kiến đưa tới chánh tư duy

Khi có chánh kiến thì tất cả tư duy của ta là chánh tư duy 正 思 惟 (right thinking). Chánh tư duy là tư duy đưa tới tuệ , tới hiểu và thương, giúp cho ta bỏ đi những kỳ thị, so sánh, lo lắng, sợ hãi. Tư duy có hai phần: tầm 尋 (vitarka) và từ 伺 (vicāra).

Tầm, tiếng Phạn là vitarka. Khi có sự tiếp xúc ví dụ như mắt ta tiếp xúc với sắc, tai ta tiếp xúc với âm thanh, ý ta tiếp xúc với pháp, mũi tiếp xúc với mùi hương thì trong đầu ta phát sinh ra những ý niệm gọi là tưởng (notion), tiếng Phạn là samjñā. Tưởng là những hạt rất nhỏ như những hạt bụi, những hạt bụi nhỏ đó kết lại thành tư tưởng (thinking). Mắt ta xúc chạm với sắc làm sinh những cái tưởng, tai ta xúc chạm với âm thanh sinh ra những cái tưởng, hình hài ta xúc chạm với cảm xúc làm sinh ra những cái tưởng.

Tầm là bắt đầu suy nghĩ, bắt đầu kết hợp những cái tưởng lại với nhau, giống như những nguyên tử bắt đầu kết hợp lại để làm ra vật chất. Vật chất có những nguyên tử rất nhỏ, còn tâm linh có những cái tưởng rất nhỏ. Những cái tưởng đó phát sinh ra từ xúc tức là từ sự xúc chạm giữa sáu căn với sáu trần. Những nguyên tử kết hợp lại thành chất này hay chất khác, còn những cái tưởng kết hợp lại thành tư duy, tức tầm và từ. Các nguyên tử (atom) tới với nhau làm ra những phân tử (molecule), và những phân tử kết hợp lại với nhau làm thành vật chất (cell, tissue). Những cái tưởng kết hợp lại với nhau thành những tầm (initial thinking), và khi tầm đi sâu hơn nữa thì có sự phân biệt, so sánh, ước đoán gọi là Từ 伺 (discussive thinking)

Tầm và từ được ví như con ong tới thăm một bông hoa. Khi con ong vừa đáp xuống bông hoa thì gọi là tầm (initial thought), tư duy còn đang ở giai đoạn khởi đầu, chưa có sự phân biệt, so sánh. Đến khi con ong đi khám xét bông hoa để lấy được phấn hoa thì gọi là từ. Trong đầu của chúng ta luôn luôn có những nguyên tử, tâm của ta được làm bằng những hạt rất nhỏ gọi là tưởng. Những hạt tưởng tới với nhau làm thành tầm (initial thinking). Khi tầm đi sâu hơn, so sánh, ước lượng, tưởng tượng thì gọi là từ (discussive thinking). Một bên là vật chất còn một bên là tinh thần, vật chất thì do những hạt nguyên tử rất nhỏ làm ra và tinh thần thì do những hạt tưởng rất nhỏ làm ra. Trong một giây trong đầu của ta phát ra không biết bao nhiêu là tưởng. Tưởng do xúc và thọ làm phát sinh ra.

Xúc (sparśa), tiếng Anh là contact. Sự xúc chạm giữa sáu căn và sáu trần tạo ra những cảm thọ (vedanā). Và xúc, thọ tạo ra tưởng. Xúc cũng có thể tạo ra sự chú ý gọi là tác ý (manaskāra), tiếng Anh là attention. Ví dụ như đang suy nghĩ lung tung thì ta nghe có tiếng chuông, tai ta xúc chạm với tiếng chuông. Tự nhiên ta chấm dứt sự suy tư và tác ý tới tiếng chuông. Chú ý tới tiếng chuông, ta buông bỏ suy tư, nhiếp tâm vào hơi thở và thiết lập lại thân tâm trong giây phút hiện tại. Tác ý đó gọi là như lý tác ý tức là tác ý tốt (yoniso-manaskāra), tiếng Anh là appropriate attention. Nghe tiếng chim hót, tiếng thông reo, thấy hoa nở hay thấy một người bạn tu đang đi là những như lý tác ý. Nếu chú ý tới những cái làm cho tâm mình loạn, mình mất tự chủ, mình giận, mình buồn, mình sợ hãi, mình bị vướng mắc, thì đó là phi như lý tác ý (anyoniso-manaskāra), tiếng Anh là inappropriate attention. Người tu phải thực tập như lý tác ý để đừng bị kéo theo những cái không có lợi cho sự tu học của mình.

Ban đầu có những cái tưởng do sự xúc chạm, sự chú ý và do cảm thọ làm phát sinh ra. Những cái tưởng đó tới với nhau làm thành tầm và từ. Và chúng ta có thể đi tới một quyết định tức là 思 (cetanā), tiếng Anh là volition. Tư là ước muốn, ta quyết định chạy theo, quyết định chiếm đoạt hay quyết định lìa bỏ. Tác ý, thọ, tưởng đưa tới tư duy (thinking), và tùy theo tư duy đó là chánh tư duy (right thinking) hay là tà tư duy (wrong thinking) mà ta phản ứng khác nhau.

Ví dụ như khi ta xúc chạm với những cái không như ý mình thì ta thấy bực, ta giận, ta muốn tẩy chay cái đó, ta muốn bỏ chạy hay muốn trừng phạt. Đó là tư, tức là quyết tâm của ta muốn phản ứng lại, như chạy theo, hay trừng phạt, hay bám lấy. Nhưng nếu có niệm, định, tuệ xen vào thì ta sẽ có một thái độ khác. Người đó nói một câu hay làm một hành động không dễ thương, nhưng nếu ta thấy và hiểu được thì tự nhiên ta không còn có ý muốn bỏ đi, muốn trừng phạt hay trả thù mà ta muốn nói một câu gì, làm một điều gì đó để cho người kia bớt khổ. Tư (volition), xúc (contact), thọ (feeling), tưởng (notion, perception), tác ý (attention) là những hạt tâm lý luôn luôn có mặt trong bất cứ giờ phút nào của đời sống hằng ngày.

 

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Chuyện kể về Thầy tôi… và Làng Cây Phong

(Chân Cơ)

Anh Chân Cơ là một trong những vị đầu tiên được Sư Ông Làng Mai truyền giới Tiếp hiện ở Tây phương vào năm 1986. Anh được truyền đăng vào năm 1990 và hiện đang là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Làng Cây Phong ở Montréal, Canada.

Em à,

Làng Cây Phong (LCP), Canada, bắt đầu thành hình từ năm 1985, khi Thầy tôi quyết định khởi sự đi hoằng pháp tại Canada. Như vậy LCP đã có mặt hơn 30 năm rồi, và gần như năm nào LCP cũng có khóa tu thiền tập theo truyền thống Làng Mai. Trong 5 năm đầu, Làng chỉ tổ chức mỗi năm một khóa, nhưng các khóa tu trong những năm đó lại đáng ghi nhớ hơn hết vì có Thầy Làng Mai mỗi năm mỗi qua để hướng dẫn. Vào những năm sau, LCP thường tổ chức mỗi năm ít nhất hai, ba khóa tu. Những năm gần đây, chúng tôi có tới ba, bốn hoặc năm khóa tu trong một năm. Nói chuyện với các anh chị kỳ cựu của LCP, tôi thường hay hỏi Thầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời của các anh chị ấy như thế nào. Gần như ai cũng có câu trả lời giống nhau: thật là may mắn và phước đức được gặp Thầy và được Thầy hướng dẫn, gặp pháp môn tu tập giản dị, thực tiễn và quý giá. Chỉ có bài học Hiểu và Thương từ khóa tu đầu tiên mà ai trong chúng tôi cũng cảm thấy mình có duyên lành, khởi sự nhìn cuộc sống bằng con mắt khác, tránh được bao nhiêu hiểu lầm và vượt qua bao buồn phiền trong cuộc sống, nhất là có khả năng tạo và giữ hòa khí với mọi người.

Bài học này, trong anh chị em chúng tôi, có lẽ bác Chân Hội Nguyễn Tấn Hồng – bác Cả của Làng Cây Phong, là người thấm nhuần hơn ai hết. Khi tôi viết những dòng chữ này, bác Chân Hội đã lên đường rong chơi trời phương ngoại được hơn một tuần rồi. Tôi xin kể về sự gặp gỡ của bác và Thầy tôi cho em nghe nhé.

Năm 1985, khi Thầy qua hướng dẫn khóa tu đầu tiên tại Canada, tuổi của bác đã là 63. Bác di cư qua Canada khi đã ngoài 50 tuổi, sau khi đã tạo bao công trình cùng sự nghiệp đáng kể tại quê nhà trước năm 1975. Qua Canada, với hai bàn tay trắng, ở tuổi không còn trẻ, bác đã phải học để lấy lại bằng y sĩ để hành nghề. Sau khi thi được bằng, bác tìm cách giúp những bác sĩ đến sau cùng hoàn cảnh có thể thi lấy bằng lại. Ngoài ra, bác còn tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng khác có tính cách giúp ích xã hội. Trong cộng đồng người Việt tại Montreal, Canada, nhắc đến bác ai cũng tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ. Khi được gặp Thầy, bác lại càng nhận thấy rõ hướng đi trong cuộc đời, cho nên trong suốt hơn ba mươi năm qua, bác đã lèo lái và hướng dẫn anh chị em chúng tôi trong LCP cho đến ngày hôm nay. Một hai hôm trước ngày từ giã, bác còn dặn dò tôi về đường hướng tốt đẹp của Làng và lòng tin cậy của Thầy chúng tôi.

Chân lý trao truyền qua ngõ tâm

Một ngày sau khi bác Chân Hội ra đi, Sư cô Chân Không đã gởi e-mail, nhắc về bài kệ truyền đăng Thầy trao cho bác năm 1990:

Chân lý trao truyền qua ngõ tâm

Hội giải siêu nhiên vượt dị đồng

Hạt giống bồ đề gieo rải khắp

Ngại gì hai nẻo sắc và không.

Khi chúng ta gặp và được trao truyền giáo pháp, ta bắt đầu hiểu về sự sống, về cuộc đời hơn. Cái thấy của ta cũng rõ ràng, rộng rãi và siêu thoát hơn, không còn bị vướng mắc bởi những khó khăn với người và những khác biệt vì hoàn cảnh. Từ đó lòng ta mở ra và trải rộng, và ta mong muốn mang hạt giống bồ đề gieo rắc khắp mọi nơi, không màng khó nhọc. Khi được gặp Thầy, bác đã không còn trẻ, vậy mà đã được Thầy đặt niềm tin tưởng, mong muốn bác giúp trong việc hướng dẫn người đi sau.

Và đây là bài kệ kiến giải mà bác đã trình lên Thầy trong buổi lễ truyền đăng năm ấy:

Hạnh phúc rất đơn sơ,

Nhận cuộc đời chìm, nổi

Kiếm chi nơi xa xôi,

Sống an nhiên, tự tại.

Một bài kệ đơn sơ, giản dị nhưng chuyên chở một cái thấy sâu sắc về cuộc đời và về sự thực tập theo pháp môn Hiện pháp lạc trú, Bây giờ và ở đây. Bác đã có dịp chia sẻ về bài kệ kiến giải này trong pháp thoại của nhiều khóa tu tại LCP. Bác cũng có nhắc đến một kỷ niệm khi đi dạo cuối tuần cùng gia đình, trên đồi Mont-Royal. Lúc ấy gia đình bác mới định cư ở Canada, tiền bạc tài chánh còn rất eo hẹp. Ngày hôm ấy, bác ngắm nhìn cậu con trai út nhặt được một cái đuôi diều của ai bị đứt, rồi bé cầm đuôi diều chạy chơi sung sướng tung tăng; bác đã ngộ ra rằng hạnh phúc thật đơn sơ, không cần có nhiều điều kiện. Bác đã từng có nhà cao, cửa rộng tại quê nhà, nhưng cuộc sống của bác tại Canada lại hết sức giản dị, dù sau này đã được hành nghề y sĩ: bác vẫn ở nhà thuê trong suốt cuộc đời còn lại, chỉ có một chiếc xe bình dân để đi thăm viếng bệnh nhân, thường xuyên đóng góp giúp ích vào các quỹ từ thiện và dành thời gian chia sẻ hạt giống bồ đề được Thầy trao truyền.

Những hạnh phúc đơn sơ, khi được bác chia sẻ trong những lần pháp thoại đã khiến cho tôi nhiều phen bừng tỉnh. Chẳng hạn như những lần đi ngang nhà của người địa phương, bác đứng lại, xin phép ngắm nhìn hoa đẹp trong vườn của họ. Về sau, khi LCP đã có miếng đất, bác thường về Làng làm vườn, trồng hoa dọc hai ven đường vào thiền đường. Giờ đây, khi em viếng thăm LCP và thấy có hoa mọc như cỏ dại, rất có thể là em đang ngắm những bông hoa do bác Chân Hội trồng.

Tiếng chuông đại hồng

Miếng đất của LCP, sau gần hai năm tìm kiếm, chúng tôi đã chung nhau đóng góp và mua được từ năm 1987. Miếng đất lúc ấy còn hoang sơ, chỉ có hồ, đồi và rừng núi. Sang năm 1988, trong khóa tu với Thầy, chúng tôi đã mời Thầy đi thăm đất. Cũng bắt đầu từ năm 1987 đó, Thầy khởi sự đưa thiền ca vào công phu thực tập. Thầy dạy cho chúng tôi bài Tiếng chuông chùa cổ do Thầy sáng tác. Ngoài ra Thầy cũng khuyến khích tăng thân LCP phổ nhạc những ý thơ hoặc thi kệ đã học được. Từ lúc ấy chúng ta đã có được các bài thiền ca mà bây giờ rất phổ biến trong các trung tâm tu học Làng Mai, như:

In, out

Deep, slow

Calm, ease

Smile, release

Present moment,

Wonderful moment

                                (Phổ nhạc: Chân Hoa Lâm)

Je suis chez moi, je suis arrivé

Il n’y a qu’ici et maintenant

Bien solide, vraiment libre,

Je prend refuge en moi-même

……                                                                                       

(Phổ nhạc: Chân Hoa, Monique Mayers)

Trở lại bài Tiếng chuông chùa cổ, năm ấy chúng tôi đã cùng Thầy hát vang bản nhạc đó khi đứng trên một mỏm đá lớn trong rừng núi của Làng, sau khi đã băng rừng, vượt dốc quanh co. Hình ảnh tôi nhớ mãi là hình ảnh Thầy đứng cạnh bác Chân Hội; mỗi khi chúng tôi hát đến câu Boong, boong,… tôi là chuông đại hồng thì Thầy lại nắm tay, vỗ vào vai của bác theo nhịp của tiếng boong, boong,… có ý như bác là cái chuông đại hồng, giúp Thầy đưa tiếng chuông tỉnh thức vào khắp nẻo tăm tối, kể cả trong chốn rừng sâu núi thẳm.

Tháng 12 năm 2017, anh chị em LCP chúng tôi lại có dịp đi thăm Thầy tại Làng Mai Thái Lan. Chúng tôi cũng đã cùng nhau hát bài Tiếng chuông chùa cổ. Lần này bác Chân Hội đã quá lớn tuổi nên không thể đi theo. Khi hát đến câu Boong, boong… Sư cô Chân Không lại nắm tay, vỗ vào vai tôi theo nhịp hát. Lúc ấy, tôi đã biết chắc trong lòng, noi gương bác thì được, chứ làm được như bác trong nhiều năm qua thì thật là quá khó.

Hoa quỳnh hé nở tối nay

Trong khóa tu đầu tiên tại Camps Les Sommets, Katevale, Canada, Sư cô Chân Không (lúc đó còn gọi là dì Chín, chưa xuất gia) đã xin Thầy giới thiệu và cho chúng tôi tham gia buổi tụng giới Tiếp hiện. Lần đầu được nghe tụng đọc giới Tiếp hiện, tôi nhớ rất rõ, như được nghe tiếng sấm của sự hiểu biết bên tai. Tối hôm đó, sau khi được tiếp xúc với giới, tôi đi dạo trong đêm, nhìn thấy sao Bắc Đẩu mà nghĩ rằng có lẽ mình đã có được một ngôi sao Bắc Đẩu của chính mình, ngôi sao này ở ngay trong lòng của giới bản. Chỉ một năm sau thôi, tháng 6 năm 1986, Thầy đã cho sáu anh chị em chúng tôi thọ giới Tiếp hiện.

Câu chuyện về cái đêm trước ngày chúng tôi thọ giới thật đáng ghi nhớ, tôi không thể không kể cho em nghe. Trong khóa tu đó, chị Chân Huyền – Đỗ Quyên có mang lên khóa tu một cây hoa quỳnh nụ đã lớn, sắp đến ngày khai hoa. Chúng tôi đã để chậu hoa quỳnh đó trong phòng Thầy. Trong đêm trước ngày truyền giới, Thầy kể lại, trong khi tìm pháp danh và pháp hiệu cho người đầu tiên là bác Chân Hội, thì đóa hoa quỳnh hé nở, hương thơm lan tỏa khắp phòng. Thầy đặt ngay cho bác pháp danh Tâm Khai, pháp hiệu Chân Hội. Đúng vậy, Thầy đã cho chúng tôi “nhảy lớp”, truyền Tam quy Ngũ giới và giới Tiếp hiện cùng một lúc. Đêm hôm đó, Thầy lại tạo cho chúng tôi một kỷ niệm khó quên khác: thay cho thời ngồi thiền, chúng tôi đã được cùng Thầy thiền trà, ngắm hoa quỳnh, cũng như tận hưởng được hương hoa thơm ngát. Chúng tôi đã sống những giây phút đáng sống thật trọn vẹn; người thì kể chuyện, người thì hát, người khác lại ngâm thơ. Anh Chân Lễ, năm đó đi tháp tùng Thầy đến khóa tu, cũng đã ngâm thơ với một phong cách đặc biệt khiến tôi khâm phục và nhớ mãi.

Ngay trong khóa tu năm ấy, anh bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang đã làm một bài thơ tặng sáu anh chị em chúng tôi trong ngày thọ giới. Bài thơ có tên của từng người, kể luôn cả pháp danh và pháp hiệu: Cơ Hội Thanh Văn Huyền Giác

Thọ giới hôm nay được sáu người

Tâm Khai, Chân Hội, ngắm hoa cười

Lan thơm, Nguyệt chiếu vườn chân Lý

Đạo mở, Tâm Nguyên tánh Giác khơi

Toàn Bửu, Chân Văn tròn nghĩa ý

Đỗ Quyên, Tâm Ngộ, sắc càng tươi

Chân Cơ, Tâm Tạng, cơ huyền diệu

Tiếp hiện ngày thêm mãi trẻ vui.

(Nguyễn Ngọc Lang)

Mới hôm trước đây, gặp lại anh Lang trong buổi tiễn đưa bác Chân Hội ra đi, anh còn nhắc lại và đọc vanh vách bài thơ cho tôi nghe. Khi mình được sống bên một người có sự tỉnh thức thì thời gian ấy rất dễ dàng trở nên huyền thoại. Thời gian ấy sẽ là vốn liếng hạnh phúc theo ta lâu dài, khuyến khích ta tu tập tinh chuyên để tiếp tục nuôi dưỡng hạt giống an vui trong ta và trong mọi người. Có phải như thế không em?

Làng Cây Phong có tự lúc nào?

Buổi sáng, sau buổi lễ truyền giới Tiếp hiện năm 1986 đó, Thầy lại cho chúng tôi một kỷ niệm khác. Trước giờ giảng pháp, khi mọi người đã ngồi yên chờ đợi, Thầy lần lượt gọi vài người lên bên Thầy. Trước khi gọi tên, Thầy đã nhắc nhở mọi người phải thực tập làm người tham dự, chứ không chỉ làm người quan sát người được gọi lên. Thầy đặt câu hỏi cho người được gọi nhưng cũng là câu hỏi cho mọi người. Ai cũng phải xem mỗi câu hỏi đều là cho mình. Hôm đó chị Chân Huyền được gọi lên, nhưng “may” cho chị, trong khi làm bếp cho buổi ăn sáng, chị bị phỏng tay. Chị Chân Huyền được Thầy “tha cho”, không đặt câu hỏi khó. Sau đó bác Chân Hội được mời lên. Sau đây là câu hỏi của Thầy và câu đáp của bác:

Thầy:                                               

  • Làng Cây Phong có tự lúc nào?  

Bác Chân Hội thật tình trả lời ngay:  

  • LCP có từ năm ngoái, năm 1985, ngay sau khóa tu đầu tiên với Thầy.

Thầy lại hỏi lại:

  • Làng Cây Phong có tự lúc nào?

Bác Chân Hội:

  • Làng Cây Phong đã có mặt tự ngàn xưa, trước khi Chân Hội được gặp Thầy…

Thầy:

  • Có thế chứ!

Bài học của Lá-nuôi-Cây, Con-nuôi-Mẹ, bài học của Vô-thỉ-Vô-chung, Không-sinh-Không-diệt,… bác Chân Hội đã hiểu rõ từ những năm đầu tiên đó. Không phụ lòng Thầy, với hạt giống của sự hiểu biết và thương yêu, bác đã biết vượt qua nhiều nẻo sắc, không để mang hạnh phúc đơn sơ đến mọi nơi. Có thể vì vậy mà trong một dịp gặp Thầy, Thầy đã tặng cho Làng Cây Phong, trao qua tay bác một thư pháp đặc biệt: Đừng phụ núi rừng. Có thể đây là bức thư pháp duy nhất trong các bức thư pháp của Thầy có câu thiền ngữ này. Bác rất tâm đắc với câu công án ấy và vẫn thường nhắc nhở anh chị em trong Làng về ý nghĩa thâm sâu của nó. Theo lời khuyên của bác, bức thư pháp này đang được treo trong thiền đường Nến Ngọc của Làng.

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Những ngày sau cùng của bác, khi đến thăm, trong lòng tôi đã hiện ra hai câu thơ đề tặng bác:

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Giữa đêm hoa nở, hương thơm ngát trời.

Vậy mà tôi đã không có dịp để đọc cho bác nghe, có lẽ vì trong những ngày đó bác vẫn còn nói chuyện rất tỉnh táo, hỏi thăm sức khỏe của Thầy bên Thái Lan, nhắc nhở tôi làm sao để đạo Bụt cắm rễ được trên đất phương Tây, làm sao xây dựng Làng Cây Phong cho người có chỗ về nương tựa, làm sao chăm sóc tăng thân Québec,… làm sao thì làm nhưng đừng phụ núi rừng… Những ngày sau, tôi lại thấy thêm trong lòng hai câu thơ sau để ghi ơn bác Cả Tâm Khai – Chân Hội của Làng Cây Phong:

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Giữa đêm hoa nở, hương thơm ngát trời

Một tâm, một dạ giúp đời

Xây làng, dựng cốc cho người người tu.

Bác ra đi với 96 năm tuổi đời. Tôi còn nhớ khi xưa, năm 1990, lúc tôi cùng bác qua Làng Mai để nhận đèn truyền đăng của Thầy, có người hỏi bác muốn ra đi như thế nào? Bác trả lời: “Tôi muốn ra đi trong chánh niệm”. Bác đã được toại nguyện, đã không phụ công ơn thầy tổ, đã giúp xây dựng nhiều tăng thân tại Canada, không chỉ có Làng Cây Phong mà thôi. Lòng từ bi, bao dung của bác sẽ ở mãi với những ai có duyên gặp bác trong cuộc đời.

Đất nước tình thương

 

Đất Nước mình đẹp lắm đấy em ơi
Biển trải rất xa và núi rừng xanh thẳm
Những con đường lúa đôi bờ xa tắp
Những hàng cây im lặng đợi mặt trời

 

Đất Nước mình đẹp lắm đấy em ơi
Từ Lũng Cú đến Cà Mau đất mũi
Đất Nước mình qua bao phen hờn tủi
Vẫn nở hoa, cây táo ấy sau nhà!

 

Em thương thôi, đừng hờn giận nữa nha
Bởi Đất Nước cần nhiều tình thương lắm!
Những khổ đau thấm sâu vào từng dặm
Hàn gắn đến bao giờ? Tổ Quốc mới đi lên?

 

Em đừng giận nữa, chỉ thở thôi nghe em
Nghe tiếng tim mình đập trong lòng Đất Nước
Bỏ hết xuống cái Tôi mình quá lớn
Chỉ để thương ngay nỗi khổ trong mình

 

Trước khi cất lời, em giữ lại lặng thinh
Dù nhìn thấy những điều tim buốt nhói
Hay trăn trở với muôn vàn câu hỏi
Phải làm sao để đỡ những muộn phiền?

 

Phải chăng Đất Nước là của những kẻ có tiền?
Hay những kẻ quên mình từ đâu nhỉ?
Bao gian khó trút lên người chăm chỉ
Mặn mồ hôi mà cay đắng chất chồng?

 

Em thấy đấy, nước mình đáng thương không?
Nếu thương thật thì em ngồi yên lại
Đừng để giận cuốn mất mình đi mãi
Bình an rồi, em sẽ rõ đúng – sai….

 

Đất Nước mình vẫn sẽ có ngày mai
Nếu từ hôm nay, em thương mình chân thành nhất…
Hãy yêu Đất Nước từ những gì có thật
Như yêu ba, yêu mẹ, yêu mình…
Như yêu chiều tà hay yêu ánh bình minh
Như yêu bão tố hay những ngày nắng hạn
Như yêu thầy, yêu bạn….
Yêu mùa hè đã đến cầm tay….

 

Em ạ, em phải thấy mình rất may
Khi thấy Đất Nước còn an bình như thế…
Dù những chuyện trái ngang vô kể
Thì niềm thương còn ở trái tim mình!

 

(Nguyễn Thùy Linh)

Hương vị của hôm nay

Sư cô Chân Trăng Mai Lâm là một sư cô người Pháp, hiện đang tu tập tại xóm Hạ, Làng Mai. Dưới đây là chia sẻ của sư cô về sự thực tập nuôi dưỡng tâm ban đầu của mình. Bài viết được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Có thể có nhiều người biết lý do vì sao con muốn chia sẻ về sự thực tập nuôi dưỡng tâm ban đầu của mình. Nhưng nếu có ai không biết thì con xin bắt đầu bằng cách nói về con một chút. Con đã được xuất gia với Thầy Làng Mai vào tháng Chạp năm 1999. Tháng Tám năm 2004, con xin rời đại chúng để trở về tìm hiểu gốc rễ tâm linh là đạo Cơ đốc, đạo gốc của con. Tháng Chạp năm 2017, con trở lại Làng xuất gia một lần nữa trong gia đình cây Mai Vàng.

Con nhớ lần đầu tiên tới xóm Mới, khi đó con không hề biết chút gì về đạo Bụt, hay về cuộc sống của người xuất sĩ dù con đã đọc sách và nghiên cứu rất nhiều. Trước đó con cũng có tập ngồi thiền và thăm viếng một số chùa ở Nhật, nhưng con chưa biết cách áp dụng sự thực tập vào đời sống hàng ngày. Và đó chính là điều mà con đang tìm kiếm. Vì vậy khi mới đến Làng, con rất hào hứng muốn biết, muốn làm tất cả mọi thứ. Nói chung con vô cùng nhiệt tình, dù bề ngoài rất yên lặng. Con muốn hiến tặng thời gian và năng lượng của mình để giúp người bớt khổ. Con mơ sẽ làm được một cái gì đó thật đẹp trong cuộc đời mình, làm một cái gì đó để… cứu thế giới này chẳng hạn…

Thực tế là con đã mang trong mình một gánh nặng do tổ tiên bao đời trao truyền lại, cụ thể là qua cuộc ly dị đầy sóng gió của ba mẹ khi con vừa lên ba tuổi. Con bị chia cắt với các anh chị em và về ở với mẹ. Thời thơ ấu, cứ mỗi hai hay ba năm con lại phải theo mẹ di chuyển chỗ ở. Con không có đủ thời gian để thực sự cắm rễ ở một nơi nào cả. Và khi con lên mười lăm tuổi, con bỗng nhận ra rằng mình cũng đang đi về hướng mà ba mẹ đang đi.

Con tự hỏi: “Mình phải làm gì đây?”

Con mơ đến chuyện bỏ nhà ra đi, để lại tất cả sau lưng, trở thành một người sống ở nước ngoài và bắt đầu lại tất cả trong một môi trường hoàn toàn xa lạ. Con bỏ ngang việc học đại học để du lịch sang các nước Á châu như Nhật, Thái Lan… Nhưng không lâu sau đó con nhận ra mình vẫn đang mang theo hành trang nặng nề ấy. Con cần một cái gì khác hơn và có ý nghĩa hơn là đi du lịch. Rồi con được đọc một quyển sách của Thầy Làng Mai. Mới đọc lần đầu tiên con đã thấy bị cuốn hút. Con đến Làng tham dự khóa tu mùa Hè và có cơ hội được có mặt trong một buổi lễ xuất gia.

Cạo sạch mái tóc

Nguyện cho mọi người

Dứt hết phiền não

Độ thoát cho đời.

Nghe bài kệ, con nhận ra rằng cuộc sống xuất gia chính là lời giải đáp cho khát khao tìm kiếm một con đường có ý nghĩa cho cuộc đời con.

Quả thật hạnh phúc đã hiện diện… Thế nhưng không lâu sau lễ xuất gia của mình, một lần nữa con lại nhận ra rằng khổ đau của mình đã không hề được cạo sạch cùng với mái tóc. Nỗi đau của con vẫn còn đó thật sâu ở bên trong, dù con đang ngồi trong thiền đường trên bồ đoàn, đang nấu ăn hay đang ngồi chơi với một sư cô. Bất cứ lúc nào hay nơi nào, con cũng đang phải đối diện với nỗi khổ niềm đau ở bên trong.

Con lại tự hỏi: “Mình phải làm gì đây?”

Con bắt đầu viết thư cho Thầy, mỗi khi thấy mình lâm vào một tình trạng quá phức tạp mà con không thể tự mình hiểu được. Con rất ý thức về những khó khăn của mình, nhưng đồng thời lại bị chúng nhấn chìm. Con học cách thở, cách đi và đặt niềm tin vào một vài sư cô trong tăng thân. Thời gian trôi qua, con vẫn tiếp tục xây giấc mơ cho cuộc đời mình. Giấc mơ của con là thực hiện những dự án thực sự như: vận động cho hòa bình theo đường lối bất bạo động, xây dựng tu viện ở các thành phố lớn hoặc thành lập các cộng đồng thực tập ở những nơi hẻo lánh. Từng chút, từng chút một, những ước vọng đó đã lấy đi tất cả sự bình an trong con. Nói chuyện với bất cứ thầy hoặc sư cô nào, con chỉ quan tâm khi cuộc nói chuyện đó có liên quan đến một dự án mới. Con hạnh phúc khi được tham gia vào một ban nào đó, hạnh phúc được làm một cái gì đó, bất cứ cái gì.

Trong khi đó, trái tim con không hề thấy thỏa mãn. Con không có bình an, không có đủ niềm vui (thiền duyệt) trong các sinh hoạt của mình. Thỉnh thoảng, nỗi khổ đau của con lại trở về, nhắc con phải chăm sóc nó và chăm sóc chính con. Mỗi lần như thế, con lại xin phép biến mất hai hoặc ba ngày. Con sợ làm phiền người khác, sợ mình có vẻ trẻ con, sợ nhất là bị phán xét rằng mình không phải là một người tu giỏi. Con thường đi dạo trên những ngọn đồi xung quanh hay trốn trong rừng. Con hay thức dậy trước chuông thức chúng để có một khoảng thời gian tĩnh lặng cho riêng mình, để viết, đọc và cảm thấy an toàn. Nhu yếu được yên lặng và sống một mình của con càng lúc càng lớn lên. Sở dĩ nhu yếu này trở nên quá lớn là vì chỉ khi nào những điều kiện của bình an, tĩnh lặng ở bên ngoài hiện diện thì khi đó con mới có thể tìm được sự bình an ở bên trong mà con đang thiếu thốn.

Vào những ngày đầu tiên sau khi con xuất gia, Thầy đã khuyến khích con nhìn sâu vào gốc rễ Cơ đốc giáo của mình. Con vâng lời Thầy, viếng thăm các linh mục và nữ tu trong những tu viện Cơ đốc giáo, đọc Thánh Kinh và nghe thánh ca. Đời sống nội tâm của con hấp thụ tất cả những thức ăn đó và con thấy được nuôi dưỡng khi nghiên cứu về các điều luật của dòng thánh Benedicto hoặc thánh Dominic. Con vui thích khi tưởng tượng về cuộc sống của một tu sĩ đạo Cơ đốc. Con đã trốn tránh khổ đau của mình bằng những hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tâm ban đầu trong con hoàn toàn bị đánh mất. Con đã quên không làm mới lại, bắt đầu lại từ nơi mình đang đứng. Thay vì vậy, con lại đi tìm một khởi điểm khác: đó là khát khao được sống một cuộc sống khác, bay xa khỏi chính mình để tìm sự bình an…

Con đã liên lạc thư từ với Mẹ Bề trên của một tu viện nữ dòng Thánh Benedicto trong suốt hai năm, cho nên khi con chia sẻ về những ưu tư và nguyện ước của mình, Mẹ Bề trên đã đề nghị con đến tu viện học hỏi thêm về giáo lý. Con xin phép rời tăng thân đến đó hai tháng. Và con đã ở lại đó mười một năm.

Một thời gian sau, con quyết định gửi y lại và thưa rõ với Thầy về nhu yếu sâu sắc muốn tìm hiểu thêm về truyền thống và tổ tiên tâm linh của con. Trong khoảng thời gian con ở tu viện, có hai lần một số quý thầy và quý sư cô từ Làng đến viếng thăm. Niềm vui khi gặp lại các thầy, các sư cô y như khi gặp các anh chị em cùng huyết thống. Con chưa bao giờ thấy mối liên hệ này đứt đoạn. Con chỉ đi trên con đường của riêng mình mà chưa bao giờ quay lưng lại với những gì mà con đã được học hỏi từ Thầy. Và con vẫn thấy chánh niệm chính là một sự yểm trợ lớn lao giúp sự thực tập trong tu viện của con càng thêm sâu sắc.

Con lại trở thành một người thỉnh sinh (chủng sinh – postulant), một tập sinh (novitiate), rồi khấn tạm và khấn trọn đời. Con có cảm tưởng mình thật sự đã làm mới lại, theo những quy định không khác với những gì mà con đã trải qua. Cuộc sống xuất gia lại như mới mẻ, dễ dàng, hấp dẫn và thú vị! Những bức tường cao của một nhà tu kín nhìn có vẻ rất an toàn. Con có cảm giác đi vào trong tu viện cũng giống như mình đóng tất cả các cửa lại, không thể đi ra. Sự thật tuyệt đốicon từ nay sẽ phải đối diện nhau đến trọn đời. Điều đó cũng có nghĩa là con sẽ không còn chỗ nào để trốn tránh nữa…

Con lại phải nhìn vào những yếu tố đen tối nhất đã làm nên con người của mình: không có khả năng tiếp nhận tình thương, hèn nhát, sự kiêu hãnh, và trên tất cả là nhu cầu được công nhận, được thương. Thượng Đế – sự thật tuyệt đối- đang có mặt ngay đây, chắc chắn là như vậy, cũng như Người đang có mặt ở khắp nơi. Thế nhưng con không thể thấy bất cứ một cái gì khác hơn là cái tôi khó chịu của mình. Con không thể tiếp nhận bất cứ một sự soi sáng nào từ bên ngoài. Cuối cùng, sơ hướng dẫn lúc con còn là tập sinh, nhân dịp làm việc chung đã nói với con: “Em cần phải làm gì đó mới được, em không còn hạnh phúc nữa…”

Con phải làm gì bây giờ?

Con đã quay về với mình để quán chiếu một thời gian. Vào một buổi chiều tháng Sáu đầy nắng, con ngồi đọc sách dưới bóng một cây linden cổ thụ. Con ngồi đó khoảng một tiếng đồng hồ rồi đứng lên để ra về. Bước đi không đầy 100 mét, con bỗng nghe tiếng răng rắc lạ tai, ngoái nhìn lại, con thấy cây linden của con đã gãy đôi. Nếu như nó gãy khi con còn ngồi dưới gốc cây thì sao? Có thể con đã chết rồi, thế nhưng con vẫn đang còn sống. Nhận thức này thôi thúc con phải hành động.

Lần đầu tiên trong đời con quyết định phải hành động từ nội tại, không chuyển môi trường mà phải tìm hiểu ước muốn sâu sắc nhất của chính mình, cái mà Làng Mai gọi là tâm nguyện. Tại sao con lại chọn cuộc sống của một người xuất sĩ? Nếu muốn giúp người, con cần phải làm sao có đủ dũng lực và hạnh phúc để có thể làm được việc ấy. Nếu con chỉ muốn trốn chạy khó khăn, tốt hơn là con nên tìm cho mình một nơi nào có những điều kiện dễ chịu hơn. Nếu chỉ là để sống một mình với Thượng Đế, như là một người đồng hành thì con đã sai lầm: con đã cố đi trên con đường đó trong tám năm trời nhưng vẫn thấy thiếu một cái gì đó, thấy trống vắng. Trong con có một cái vực sâu mà con rất sợ phải rơi vào.

Con đã chia sẻ những suy tư của mình với một linh mục ở tu viện gần bên. Cha đã lắng nghe con với một sự thông cảm sâu sắc và một nụ cười đầy từ bi trong khi con khám phá ra một cảm giác mới mẻ trong tâm mình: “Con luôn cố gắng để trở thành một người khác, một người tốt hơn con, một người mạnh mẽ có thể thay đổi cả thể giới và thay đổi chính mình. Nhưng bây giờ thì con biết con chỉ là một người yếu đuối và cô độc, và con không thể tự mình làm bất cứ một cái gì”. “Tốt lắm!”- Cha không nói gì thêm mà chỉ khuyến khích con tiếp tục con đường mới mẻ này, con đường của sự khiêm cung, công nhận rằng mình có những giới hạn. Con bắt đầu cảm thấy khỏe nhẹ hơn rất nhiều. Một người rất bình thường, không phải là bậc thánh, cũng không phải bậc giác ngộ, mà chỉ là một người thảnh thơi, tự tại hơn đang dần dần trở lại trong con, bởi vì con không còn tự phán xét đòi hỏi mình nữa. Và chính con người tự do đó trong con đã giúp con quyết định rời khỏi tu viện dòng Benedicto.

Con luôn tự nhắc nhở mình rằng lý do duy nhất con rời tu viện là từ chính con, con không có khả năng sống cuộc sống của người xuất gia. Suy nghĩ được như thế, con thấy lòng mình rất vui và nhẹ nhõm. Trong thời gian quán chiếu sâu này, một câu nói của thánh Giăng (Saint Jean de la Croix) thường đi lên trong tâm con, chói sáng như một vì sao hướng con đi trên con đường mà con muốn bước: “Giờ đây chỉ còn một công việc duy nhất mà ta cần làm, đó là thương yêu”.

Con tìm được một nơi tạm trú trong giai đoạn chuyển tiếp. Đó là một cộng đồng gồm những người trẻ (và không còn trẻ nữa) sống chung với những người khuyết tật. Người sáng lập cộng đồng đặt tên nó là “l’Arche” (Con thuyền cứu thế Noah) với ước muốn xây dựng cộng đồng thành một nơi của lòng vị tha và tôn vinh sự sống. Có một số nữ tu cũng đến đây nương tựa và dần dần những vị này trở thành những người có thể hiểu con và giúp con tìm được lối ra. Sống chung với những người có thể mạnh dạn nói lên những điều mình nghĩ, yêu thương một cách chân thành và chia sẻ từ trái tim mình một cách không sợ hãi đem lại cho con rất nhiều trị liệu.

Cùng với cộng đồng ở đây, con khám phá ra hạnh phúc lớn nhất của con là khi con thực sự có mặt và để cho mọi sự diễn ra trong dòng chảy tự nhiên của nó. Con cũng khám phá ra chỉ cần thực sự có mặt trong chánh niệm có thể mang lại lợi ích lớn nhất và có thể làm giảm thiểu rất nhiều đau khổ của người khác. Con nhận ra nỗi khổ đau của chính con trong những người ở đây, và con không muốn ai phải khổ đau, chỉ muốn đem một giọt nước thanh lương làm dịu đi sự nóng bức cho người bất cứ khi nào con tiếp xúc với khổ đau.

Con được phép ở đó hai năm như một nữ tu, tuy không mặc áo dòng nhưng vẫn giữ trọn vẹn những lời khấn. Con có thể trở lại tu viện bất cứ lúc nào. Tuy nhiên trong suốt hai năm ấy con không muốn làm một quyết định nào cả.

Tháng 10 năm 2014, con nhận được một bức thư của Thầy nói rằng con có thể trở lại Làng Mai. Con đã không trả lời ngay. Rồi Thầy trở bệnh nặng. Con vẫn còn đang trong giai đoạn nhìn lại ước nguyện sâu sắc nhất của cuộc đời mình là gì. Thời gian này con về Làng dự khóa tu sức khoẻ và đến thăm Thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Mỗi lần như thế con đều cảm thấy mình đã về nhà. Thậm chí khi các thầy hay các sư cô mà con quen biết không còn ở đó, thậm chí khi Thầy không còn ở đó.

Con xin phép rời tu viện trở lại cuộc sống ngoài đời, và chỉ khi nhận được lá thư từ tu viện, chính thức cho phép con được ra đời thì con mới thấy thật rõ ràng đó là điều mình hoàn toàn không muốn. Con vẫn còn nhớ rất rõ câu: “Giờ đây chỉ còn một công việc duy nhất mà ta cần làm, đó là thương yêu”. Con biết chắc chắn có một nơi tại miền Nam nước Pháp, ở đó con có thể học cách hiến tặng tình thương đích thực… Vì vậy con đã xin tăng thân cho con trở lại, và con đã về Làng vào khóa tu 21 ngày năm 2016, mười hai năm kể từ khi con rời xóm Hạ.

Chắc chắn là con cần phải làm mới. Nhưng chẳng phải chúng ta cần làm mới mỗi ngày trong đời sống hay sao? Ngày hôm nay thiền hành có hương vị của hôm nay, thiền tọa cũng thế. Trò chuyện, chia sẻ với các sư chị sư em, ăn, ngủ… tất cả mọi cái mà chúng ta gọi là thực tập đều có thể có hương vị của hôm nay. Con có thể cho rằng mình đã biết cách thực tập và biết phải làm gì. Thế nhưng thực tế thì không phải như vậy.

Từ khi trở lại với tăng thân, con cảm thấy rằng hạnh phúc của mình tùy thuộc một cách hiển nhiên vào phẩm chất của sự tu tập mà không vào một cái gì khác. Sống trong tăng thân, con có rất nhiều khoảnh khắc rất đẹp, có nhiều lúc khó khăn, đôi khi không lường trước được, nhưng cũng có khi chúng lại giống như những người bạn cũ. Có một điều mà gần đây con cảm thấy rất trân quý trong nếp sống tăng thân, đó là con có thể học hỏi từ tất cả mọi điều để nuôi lớn thương yêu. Con có thể mở cửa một cách nhẹ nhàng và đầy chánh niệm vì thương, vì muốn thực tập chánh niệm, đồng thời vì các sư chị, sư em con cũng đang cần sự yên bình; vì muốn tạo cảm hứng cho các bạn thiền sinh, cho những người có thể đang nhìn vào mình để thực tập theo. Điều này cũng đúng cho tất cả mọi thứ khác: con có thể đi trong chánh niệm, chùi phòng vệ sinh, nấu ăn hoặc viết bài cho Lá Thư Làng Mai vì tình thương. Con thực tập để cho tình thương và lòng từ bi là ý nghĩa tối hậu cho tất cả mọi việc con làm. Nếu con có thể khắc ghi điều đó trong tâm thì dù cho con có mệt, có buồn, có bệnh, ánh sáng vẫn soi đường con đi: ánh sáng của từ bi và tương tức.

Con nhận ra rằng điều duy nhất mà con biết về sự liên hệ giữa con với vạn vật, đó là: tự riêng mình, con không là gì cả. Con không là gì cả nếu không có những giọt sương lóng lánh trên chiếc lá sen, nếu mặt trời không nhô lên trên đồi mận, nếu trẻ con không đu lên những cây tre vào mùa hè ở Làng, và nếu không có những nụ cười của các sư chị, sư em của con…

Chào tuổi trẻ tôi

Sư cô Trăng Hồ Sen xuất gia trong gia đình cây Hoàng Yến ngày 12.05.2016 tại Làng Mai Thái Lan, sau thời gian tập sự tại Diệu Trạm. Mười tám tuổi, cái tuổi mà ở bên ngoài ai cũng vạch ra cho mình một hướng đi và theo đuổi sự nghiệp cho tương lai với bao kỳ vọng của chính mình và gia đình, sư cô đã chọn con đường xuất gia, gia nhập vào gia đình Áo nâu. Là một người tu trẻ, sư cô đã thực tập và trải qua những thử thách đầu đời tu thật thú vị.

Tuổi trẻ vào chùa

Tuổi trẻ tôi vào chùa khi lên mười tám. Hai năm rồi, sao tôi lại vào chùa với cái tuổi này nhỉ? Tôi thích đàn, thích hát, thích thể thao và nhất là tôi không thích sống cuộc đời đã được lập trình sẵn: học, đi làm, lấy chồng, sinh con, chăm con… Nhiều người tuổi trẻ như tôi đồng ý với nhau rằng cuộc đời đã lập trình sẵn như vậy. Con người vốn dĩ phải bận rộn như vậy, nhưng tôi không chấp nhận, không thích cuộc sống đó. Tôi muốn cuộc đời mình ý nghĩa hơn. Mười tám tuổi, tôi nghĩ có thể mình sẽ trở thành giáo viên để có thể trao truyền những ý nghĩa cuộc đời lại cho thế hệ tương lai như thầy cô của tôi đang làm. Nhưng tôi lại cũng thích đi đây đi đó.

Rồi tôi khám phá ra được một ước mơ mà ngày xưa tuổi thơ đã gởi gắm cho tôi. Tôi nhớ lại những lời hỏi đáp giữa tôi và bạn bè lúc nhỏ:

– Ê, lớn lên mày muốn làm gì?
– Tao chắc chắn sẽ là một sư cô, tao sẽ đi tu.


Nói rồi tôi bật cười thiệt to. Tuổi thơ tôi cũng thường xem phim siêu nhân, nhưng tôi chẳng bao giờ muốn làm nữ anh hùng, tuổi thơ tôi chỉ thích đi tu thôi. Hồi đó, tôi thường theo ba mẹ đi chùa, thích mang những bộ quần áo thùng thình và thích những bước đi nhẹ nhàng của quý thầy. Trái tim nhỏ bé của tuổi thơ tôi đã cảm thấy thật bình an và ước chi mình cũng có thể đem lại sự bình an như vậy cho mọi người.

Tuổi trẻ tôi chỉ có sách vở, con chữ và con số. Mười tám tuổi, tôi bắt đầu nhận ra xung quanh tôi cuộc đời không phải đơn giản như vậy. Đằng sau sự đầy đủ và êm đềm mà ba mẹ cho chúng tôi là sự hy sinh và những lo lắng của ba mẹ. Đi tìm ý nghĩa của cuộc đời, tôi tự hỏi mình sinh ra để làm gì và giúp được gì? Chọn lấy một ngành nghề rồi đi học và kiếm tiền, tuân theo quy luật cũ kỹ ấy hay sao?

Một lần nữa, mầu nhiệm thay, những bóng áo nâu lại xuất hiện trong cuộc đời tôi, mở ra một ngã rẽ hoàn toàn khác mà ngày xưa tuổi thơ tôi đã từng ao ước đến. Một nếp sống mà tôi có thể dành tặng cho tuổi thơ của mình và cả cho tuổi trẻ của tôi nữa. Mãi đến khi đi tìm ý nghĩa của cuộc đời mình tôi mới bắt gặp tuổi thơ tôi. Vậy là tuổi trẻ tôi vào chùa.

Tuổi trẻ ngơ ngơ

Lúc còn tuổi thơ, tôi có cái ngơ ngơ của tuổi thơ. Bây giờ tuổi trẻ, tôi có cái ngơ ngơ của tuổi trẻ. Một trong những cái ngơ ngơ của tôi là hay quên. Đầu của tôi hay suy nghĩ lung tung và chẳng nhớ mình đã làm gì, nói gì. Tôi cũng hay để đồ đâu quên đó. Quý sư mẹ bảo người trẻ ngày xưa khác với người trẻ bây giờ. Thì người trẻ lúc nào cũng mới mà! Mới đây thôi, tôi thưa với sư mẹ là tôi sẽ khất thực cho sư mẹ. Nhưng rồi tôi quên và đã bưng bát đi tuốt lên trai đường ăn cơm với đại chúng. Ăn xong tôi mới nhớ sư mẹ đang ở nhà đợi cơm. Tôi ơi!

Tôi có lúc như là con nít nhưng có khi lại y chang bà già. Lúc mới vào chùa, tôi được gọi là tuổi trẻ… già. Bởi những suy nghĩ và hành động của tôi so với các bạn đồng trang lứa có vẻ như chững chạc hơn. Thực ra cũng tại tôi xa nhà đi học từ nhỏ nên không được sống với tuổi thơ được ba mẹ chăm sóc nhiều nên tính tự lập trong tôi được biểu hiện. Nhưng cũng có khi hạt giống tuổi thơ trong tôi lại biểu hiện thật rõ. Càng ngày tôi càng thấy mình con nít hơn hay sao ấy. Ở trong chùa lạ ghê, tôi được học biết bao nhiêu thứ: học nấu ăn, học cách chia sẻ trước đại chúng, học nói, học cách làm việc và tổ chức các ngày Tết cho đại chúng như tết Trung Thu, tết Tây… Càng ngày tôi càng biết làm nhiều việc hơn nhưng càng ngày tôi thấy mình cũng con nít hơn. Chắc bởi trong những điều đã học, tôi được học trở về nương tựa nơi các sư chị, sư em của mình nữa. Trước giờ tôi cứ quen tự giải quyết mọi vấn đề của mình. Tôi muốn làm mọi thứ thật hoàn hảo, nhưng bây chừ tôi có các sư chị sư em đó, mỗi người làm một chút và tôi không cần phải lo lắng chi cả, tôi chỉ cần làm hết lòng thôi. Tôi đã từng rất sợ mình bị ngơ ngơ, sợ làm sai cho nên tôi mới hay suy nghĩ cách này cách khác để mình được hoàn hảo. Tôi đâu biết là khi mình làm sai thì sẽ được dạy bảo, được chỉ bày. Đại chúng luôn có mặt đó để soi sáng cho tôi. Vậy là tôi đã bớt già rồi.

Nhưng mà tôi vẫn cứ ngơ ngơ nhiều thứ. Tôi đã bảo rồi mà, tôi hai mươi sẽ không lặp lại những ngơ ngơ của tuổi mười tám nhưng vẫn có cái ngơ ngơ của tuổi hai mươi. Có nhiều điều tôi chưa biết thành ra cứ ngơ ngơ vậy mà hay. Ngơ ngơ để tuổi hai mốt, hai hai học nữa. Tôi thở và không băn khoăn nữa. Tôi sẽ sống hết lòng với cái ngơ ngơ của mình.

Tuổi trẻ là phải gào như thác

“Tuổi trẻ là phải gào như thác”. Giới sư của tôi dạy vậy đó. Mà tôi thấy đúng như vậy. Có đôi khi bước ra khỏi nhà vệ sinh, tôi chầm chậm xỏ dép vào, bước từng bước chân thật chánh niệm. Chợt tôi dừng lại, nhìn bên trái, nhìn bên phải và không có ai. Vèo! Năm giây sau tôi đã ở trước cửa phòng mình và khoái chí cười thích thú. Có khi tôi đang chải răng chầm chậm rất có ý thức. Bỗng nhiên thấy nguồn năng lượng trẻ trong tôi dư thừa quá. Vậy là tôi… xoẹt…xoẹt…xoẹt. Xong! Tất nhiên tôi vẫn bước đi thật chậm rãi một cách khoan thai, đặt ý thức xuống lòng bàn chân và thưởng thức sự chậm rãi của bước chân mình.

Tuổi trẻ là thác gào. Tôi đang có sức khỏe và tinh thần hăng hái. Tôi gào thét cả bên trong lẫn bên ngoài. Tôi nhận thức những gì đang xảy ra xung quanh và đón nhận những thử thách mới mẻ và học làm những điều chưa bao giờ làm. Nhưng thác cũng chỉ là một phần của dòng chảy. Tôi cũng có những khúc sông thật bình yên vì tôi có một khoảng không gian của tâm hồn để trở về.

Tuổi trẻ về nhà

Ba bệnh, tôi và chị gái của tôi là sư em Trăng Hải Chiếu được phép về nhà gấp. Trên xe tôi ngồi thật bình an thở cho ba. Ở chùa, đại chúng đang ngồi thiền và tôi cũng đang thở cùng đại chúng. Tôi phải làm gì khi về nhà đây nhỉ? Chiều hôm ấy, tôi vừa đi chợ về thì được báo tin ba bị tai nạn và tôi cần đi liền, chẳng kịp chào quý sư cô vì sợ trễ xe. Tôi cũng không có giờ để được quý sư cô dặn dò sự thực tập khi về nhà, quý sư cô chỉ dặn qua một mình chị gái của tôi. Tôi chưa biết phải làm gì cả, chỉ có mặt với hơi thở thôi.

Vào bệnh viện gặp ba, tôi chắp tay búp sen và ba cũng làm vậy. Ba tôi đang nằm, mắt rưng rưng khi nhìn chị em tôi. Mắt tôi cũng ướt theo, tôi thật “mít ướt” nhưng chỉ chút xíu thôi, tôi và ba cùng trở về với hơi thở.

Mẹ bảo hai chị em tôi về nhà cho yên vì ở bệnh viện đông người và hơi xô bồ, cảnh bệnh nhân đau ốm khổ sở, cộng thêm người nhà của bệnh nhân khắp nơi đông đúc, mẹ nghĩ cảnh ở bệnh viện không hợp với chị em tôi. Tôi thấy hơi ấm ức, giá mà tôi không đi xuất gia, chỉ là một đứa con bình thường ở nhà thì tôi có thể ở lại giúp mẹ chăm ba. Tôi nhất quyết không chịu và giải thích cho mẹ hiểu, xin mẹ đừng bọc chị em tôi kỹ quá như vậy. Ở chùa quý sư cô đã dạy phải tiếp xúc với những khổ đau bên ngoài để trân quý hơn những bình yên trong tu viện. Chính tôi cũng ý thức được rằng những kinh nghiệm khó khăn sẽ giúp cho sự tu học của tôi rất nhiều, mẹ có thể tin ở chị em tôi.

Thời gian đó, tôi và chị tôi đã đem hết những gì mình đã được học và thực tập ra áp dụng. Tôi thực tập thiền hành dù chỉ vài bước chân thôi. Tôi chế tác ra năng lượng bình an để gởi cho ba mẹ trong mỗi món ăn tôi nấu. Từ từ, bóng áo nâu xuất hiện trong bệnh viện trở nên quen thuộc. Tôi thấy bình an hơn khi ở bên cạnh ba mẹ. Tôi hát cho ba nghe, tôi cười và cảm nhận được năng lượng bình an của tôi có mặt.

Tuy nhiên, trong cái đầu mới lớn của tôi có nhiều câu hỏi đặt ra. Một người trẻ đi tu có thể giúp được gì cho gia đình mình? Tôi cứ thở với công án đó. Về nhà, dù đã là một sư cô, tôi vẫn như hồi xưa, vẫn cứ nhe răng cười với bất cứ ai đang nhìn tôi. Nhờ đi tu tôi giữ được nụ cười ấy (chứ ở ngoài lắm khi người ta lại bảo mình cười vô duyên). Nhưng tôi cảm thấy bản thân mình vẫn chưa đủ lông đủ cánh. Tôi vẫn chưa giữ được sự bình an khi về nhà, tôi chưa giúp được gì nhiều cho ba mẹ. Tôi thấy thương ba mẹ lắm và ước chi mình có thể san sẻ được những lo lắng, buồn tủi của ba mẹ. Có lẽ công phu tu học của tôi chưa đủ, nhất định tôi sẽ trau dồi thêm phẩm chất chánh niệm trong tôi. Điều lớn nhất tôi có thể đem đến cho ba mẹ là sự bình an và hạnh phúc của mình.

Câu chuyện tuổi trẻ đi tu của tôi chẳng bao giờ kết thúc.

Đôi khi tôi cũng cần được nghỉ ngơi. Khi đặt lưng nằm xuống, tự thấy mình đã học và làm việc rất hết lòng nên tôi cũng cho phép mình nghỉ ngơi đôi chút. Tôi có được bao nhiêu thời gian? Tôi được quý sư cô nhắc nhở rằng tuổi trẻ sẽ đi qua nhanh lắm. Tôi có hết lòng với tuổi trẻ của mình hay chưa? Tôi thực tập, học hành, làm việc và chơi đã hết lòng và đã học thương hết lòng chưa?

Tôi từng nghĩ và muốn nói với chính tôi rằng tôi đã làm rất tốt mọi thứ với khả năng của tôi đang có. Thỉnh thoảng tôi vẫn sợ hãi, vẫn mặc cảm tự ti và thậm chí còn kiêu ngạo và tự hào nữa cơ. Nhưng những cái đó là tôi. Tôi cũng có niềm tin, có ý chí và tôi có tuổi trẻ. Những khúc sông êm ả hay những khúc sông thác gào cũng chính là tôi. Tôi hãy cứ thở, cứ thưởng thức con người của tôi để những điều tốt đẹp được hình thành và lớn lên trong chính tâm hồn tôi.

Chào tuổi trẻ tôi!

Chân Trăng Hồ Sen