Âm thanh của sự tĩnh lặng

(Trích đoạn được chuyển ngữ từ cuốn “Silence” của Sư Ông Làng Mai)

“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi“- (Trịnh Công Sơn). Khi chúng ta ngồi yên với một người bạn mà không nói gì cả, điều đó quý giá và quan trọng như những dấu lặng cần thiết trong âm nhạc. Những người bạn ngồi yên lặng được với nhau có thể hay hơn là nói chuyện.

Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ được nhiều người mến mộ. Ông sinh năm 1939. Ông được gọi là Bob Dylan của Việt Nam. Người ta nói rằng khi ông qua đời năm 2001, hàng ngàn người đến tham dự buổi hoà nhạc tự phát trong lễ tang của ông.

Trịnh Công Sơn rất mệt mỏi với những tiếng ồn, cho dù đó là những tiếng kêu gào khen ngợi hay vỗ tay hoan hô. Ông trân quý những giây phút tĩnh lặng. Ông viết: “Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo.” Trịnh Công Sơn thích những lúc ngồi im lặng với bạn bè mà không cần nói năng hay làm gì cả, chỉ nuôi dưỡng bởi tình bạn. Tất cả chúng ta đều cần những tình bạn như thế.

Ở Làng Mai, chúng tôi thích ngồi thiền, đặc biệt là ngồi với tăng thân, ngồi như một gia đình tâm linh. Trong suốt buổi ngồi thiền, ta không nói gì cả. Ấy vậy mà nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngồi ba, bốn người hay nhiều hơn thì vui hơn là ngồi một mình. Ngồi yên với nhau như thế, mỗi người đều được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của nhau.

Trong tác phẩm Tỳ bà hành có kể một câu chuyện về một người phụ nữ đang chơi đàn Tỳ bà, bỗng dưng ngưng bặt không chơi nữa. Nhưng giây phút mà người chơi đàn Tỳ bà ngưng đàn thì tuy không có tiếng đàn mà còn hay hơn có tiếng đàn nữa. “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay.” (Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là ngay bây giờ. Vô thanh nghĩa là không có âm thanh. Thắng là chiến thắng. Hữu thanh là có âm thanh. Vô thanh thắng hữu thanh, hay nói cách khác là âm thanh nhường cho sự im lặng. Không gian giữa các nốt nhạc rất hào hùng và rất có ý nghĩa. Nó hùng hồn hơn bất cứ loại âm thanh nào. Sự im lặng có thể dễ chịu, sâu sắc hơn âm thanh. Trịnh Công Sơn cũng thấy như vậy.

Một trong những học trò người Mỹ của tôi nói với tôi là ông David Sanborn người Mỹ, chơi kèn Xắc-xô, cũng nói những điều tương tự như vậy trong một cuộc phỏng vấn. Khi nhắc đến người bạn cũng chơi kèn Xắc-xô là Hank Crawford, và Miles Davis, người sáng tác và chơi kèn trumpet nổi tiếng, Sanborn nói: “Hank hiểu rằng khoảng lặng mà ta ngưng lại cũng quan trọng như âm thanh ta phát ra… Và khi nghe Miles Davis, tôi đã bị cuốn hút bởi sự đơn giản và cách sử dụng khoảng lặng của anh ta để làm đầy những khoảng không gian kia.”

Mối quan hệ và sự truyền thông cũng giống như một loại âm nhạc. Ngồi với bạn bè, ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần có sự hiểu biết cảm thông và trân quý sự có mặt mà chúng ta hiến tặng cho nhau là đủ rồi. Tôi tin là trong những năm khổ cực của chiến tranh Việt Nam, điều an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giây phút ngồi yên với bạn bè. Tuy nhiên, nếu một người không biết cách ngồi như thế, nếu anh ta chỉ biết rót rượu hết ly này qua lý khác thì những giây phút ấy sẽ mất đi.

Một lần nọ, khi Bụt đang ở tu viện Jetavana Ấn Độ, trong khi 200 vị khất sĩ thường trú chuẩn bị cho khoá an cư hàng năm thì có 300 thầy từ Kosambi đến. Các vị khất sĩ rất vui mừng khi gặp nhau và họ nói chuyện với nhau rất lớn. Từ phòng của mình nghe ồn, Bụt hỏi vị đệ tử lớn Shariputta: “Có chuyện gì mà ồn dữ vậy?”

Thầy Shariputta trả lời: “Có quý thầy từ Kosambi đến, gặp nhau họ mừng rỡ, nói cười lớn tiếng và đánh mất uy nghi. Xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ.”

Bụt nói: “Nếu họ ồn ào, thô tháo như vậy thì mời họ đi nơi khác. Không thể ở lại đây được.” Đức Bụt muốn dạy cho quý thầy sử dụng năng lượng của mình có ý thức và chánh niệm hơn.

Thầy Shariputta thông báo cho quý thầy nghe những gì Bụt nói. Quý thầy im lặng và dời đi một nơi khác gần đó để an cư. Trong suốt 90 ngày an cư, quý thầy nhớ lại lời Bụt dạy, không đánh mất mình trong những cuộc chuyện trò vô bổ. Họ hết lòng thực tập chế tác niệm định, và cuối mùa an cư họ chuyển hoá được rất nhiều. Điều này không làm cho họ trở nên nặng nề, nghiêm trọng mà trái lại khuôn mặt của họ sáng ngời, nụ cười họ rất tươi.

Vào ngày tự tứ, kết thúc mùa an cư, quý thầy muốn trở lại cảm ơn Bụt đã chỉ dạy cho họ. Khi tin này đến tai thầy Shariputta, thấy nói với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã hoàn tất ba tháng an cư và muốn đến bày tỏ niềm cung kính đối với Đức Thế Tôn.” Bụt cho gọi các thầy đến và chắp tay xá chào.

Lúc đó vào khoảng 7 giờ tối. Ba trăm thầy đến từ Kosambi và vài trăm thầy thường trú ngồi với Bụt trong thiền đường. Thầy trò ngồi với nhau im lặng từ 7 giờ tối cho đến nửa đêm, không ai nói với ai lời nào.

Thầy Ananda, thị giả của Bụt, đi đến bên Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, bây giờ đã là nửa đêm, Đức Thế Tôn có gì nói cho quý thầy nghe không?” Bụt không trả lời, và mọi người ngồi với nhau như thế cho đến 3 giờ sáng, ngồi với nhau mà không nói một lời nào. Thầy Ananda hơi lúng túng, vì vậy thầy đi đến bên Bụt và nói: “Bây giờ là 3 giờ sáng rồi. Đức Thế Tôn có nói gì với quý thầy không?” Bụt vẫn tiếp tục ngồi yên im lặng với mọi người.

Đến 5 giờ sáng, thầy Ananda trở lại và năn nỉ: “Bạch Đức Thế Tôn, mặt trời lên rồi, Ngài không nói gì với quý thầy chăng?”

Cuối cùng Bụt lên tiếng: “Thầy muốn ta nói điều gì? Thầy trò ngồi với nhau hạnh phúc, bình an như vậy không đủ hay sao?”

Có khả năng hiểu và trân quý sự có mặt của người kia là một hạnh phúc rất lớn. Đơn giản như vậy thôi. Mặc dù không nói gì, không có một âm thanh nào phát ra, nhưng hoàn toàn có giá trị hơn bất kỳ một âm thanh nào khác.

Bông hồng cài áo

Nhạc: Phạm Thế Mỹ

Lời: Sư Ông Làng Mai 

Trình bày: Thầy Pháp Tịnh, thầy Pháp Khôi, sư cô Ân Nghiêm

Bông hồng cài áo

Một bông hồng cho em
Một bông hồng cho anh
Và một bông hồng cho những ai
Cho những ai đang còn Mẹ
Đang còn Mẹ để lòng vui sướng hơn
Rủi mai này Mẹ hiền có mất đi
Như đóa hoa không mặt trời
Như trẻ thơ không nụ cười
Ngỡ đời mình không lớn khôn thêm
Như bầu trời thiếu ánh sao đêm

Mẹ, Mẹ là dòng suối dịu hiền
Mẹ, Mẹ là bài hát thần tiên
Là bóng mát trên cao
Là mắt sáng trăng sao
Là ánh đuốc trong đêm khi lạc lối

Mẹ, Mẹ là lọn mía ngọt ngào
Mẹ, Mẹ là nải chuối buồng cau
Là tiếng dế đêm thâu
Là nắng ấm nương dâu
Là vốn liếng yêu thương cho cuộc đời

Rồi một chiều nào đó anh về nhìn Mẹ yêu, nhìn thật lâu
Rồi nói, nói với Mẹ rằng “Mẹ ơi, Mẹ ơi, Mẹ có biết hay không ?”
-Biết gì ? “Biết là, biết là con thương Mẹ không ?”

Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh
Đóa hoa màu hồng vừa cài lên áo đó em
Thì xin anh, thì xin em
Hãy cùng tôi vui sướng đi.

EIAB – 2018

Từ ngày 6.8 đến 11.8.2018 tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu đã có hơn 350 thiền sinh về tham dự khoá tu dành cho người nói tiếng Đức. Khoá tu năm nay có chủ đề “Thường trong vô thường”. Tuy số lượng thiền sinh không đông nhưng năng lượng tu tập rất hùng hậu qua những bước chân cẩn trọng, những nụ cười tĩnh lặng, những đôi mắt tươi sáng, những chia sẻ hết lòng trong giờ pháp đàm… Năm nay còn có sự kiện EIAB kỷ niệm 10 năm ngày tiếp nối. Ông thị trưởng thành phố Waldbrol và các vị tháp tùng đã tới tham dự buổi lễ kỷ niệm đặc biệt này. Ông đã có một bài diễn văn chúc mừng rất cảm động và thấm đậm tinh thần đạo Bụt. Sáng chủ nhật 12.08.2018, ngày quán niệm dành cho người Đức, ông thị trưởng Waldbrol, ông giám đốc bệnh viện Waldbrol cũng tới dự cùng với hơn 300 thiền sinh và một số vị khách mời. Ngày quán niệm được mở đầu với thời niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm (Avalokiteshvara) với thật nhiều tình thương của quý thầy, quý sư cô tại EIAB cũng như quý thầy, quý sư cô đã từ Làng Mai, Pháp sang yểm trợ.

Và sau đây là một vài hình ảnh của khoá tu.

Trong trẻo niềm tin yêu

Sư cô Chân Trăng An Chiếu xuất gia trong gia đình cây Mai Vàng vào dịp Sư Ông về Thái Lan cuối năm 2016. Là một người có đủ điều kiện học hành và tiếp nối sự nghiệp của gia đình, nhưng sư cô muốn làm một cái gì đó mới hơn, hay hơn và cách mạng hơn là đi vào con đường mà gia đình và xã hội đã vạch sẵn. Người đã giúp sư cô có thêm động lực và tiếp sức để sư cô thực hiện được ước mơ của mình chính là Mẹ, một người mẹ kiên định và vững chãi…

Mẹ! Lâu rồi con mới sử dụng lại danh xưng này. Bấy lâu nay, mẹ con mình toàn gọi nhau bằng bạn và xưng tớ phải không? Không biết cách xưng hô ấy bắt đầu từ bao giờ nhưng con nhớ chắc chắn mẹ chính là người khởi xướng. Mẹ có nhớ không, tình cảm giữa chúng ta thay đổi hoàn toàn theo cách xưng hô ấy. Bên cạnh tình mẫu tử thiêng liêng, một tình bạn tri kỷ dần dần phát khởi. Mẹ con mình có thể mở lòng chia sẻ mọi chuyện với nhau phải không mẹ? Từ những khó khăn trong công việc, những xích mích nhỏ nhặt với bạn bè trong trường học đến những kế hoạch, lý tưởng cho tương lai, mẹ con ta đã thực sự sống cùng nhau không giới hạn, không che giấu nhau điều gì.

Cuộc sống đòi hỏi mẹ con ta rất nhiều thứ: phải mạnh mẽ, phải kiên cường thì mới có thể sống sót. Nhưng nhờ có mẹ, con có thể rũ bỏ tất cả lớp vỏ bọc ấy, trở lại là con người với những gì chân thật nhất khi con trở về nhà. Nhà của con là khi có mẹ. Nói đến đây là đủ thấy khi đưa ra quyết định đi tu, quyết chí rời xa chốn an toàn của mình, con đã chật vật thế nào. Không phải cái lần con thản nhiên nói với mẹ rằng con muốn đi tu đâu. Lúc đó, con nào có biết cuộc sống người tu ra làm sao, lấy đâu mà khó khăn, mà chật vật. Con đang nói đến sau vài tháng sống xa mẹ, sau khi ý thức trọn vẹn cuộc sống ở chùa không giống như một trại hè (summer camp) kéo dài vài tuần hay cả tháng con tham gia. Ấy mới là thời điểm con đau khổ nhất.

Khi được hỏi lý do tại sao đi tu, câu trả lời của con vẫn luôn là muốn làm chủ số phận của mình, muốn bước ra khỏi cái bóng của gia đình. Cách diễn đạt ấy dường như khiến mọi người hiểu nhầm con chán ghét gia đình mình, chán ghét mẹ thì phải. Lý do thật sự là gì, mẹ có biết không? Không, làm sao mẹ có thể biết khi con chưa một lần chia sẻ cơ chứ. Con tự hào, thậm chí vô cùng biết ơn khi được làm con gái của mẹ.

Con vẫn luôn thầm hâm mộ những món ăn mẹ nấu. Từ món Á đến món Âu, từ điểm tâm đến tráng miệng, từ món mặn và bây giờ đây là món chay. Bằng sự đam mê khám phá, tinh thần sáng tạo với lòng kiên nhẫn và tình thương vô bờ bến, mẹ đã đưa con đến hết bất ngờ này sang bất ngờ khác. Tiếc rằng, trước đây con chưa biết khen, chỉ chê là giỏi. Thật khó để tìm được một người phụ nữ vừa đảm đang trong công việc gia đình, lại thành công vượt bậc trong sự nghiệp của mình. Ấy vậy mà mẹ lại làm được cả hai điều đó, xuất sắc là đằng khác, chưa kể đến nghệ thuật giáo dục con cái của “bạn” nữa, “bạn mẹ” ạ.

Mẹ, người ta thường nói ở đời ít ai thoát ra được mấy chữ tiền tài, danh vọng. Vậy sao con thấy mẹ buông những thứ ấy ra nhẹ nhàng đến vậy. Đứng nơi đỉnh cao, với muôn vàn cánh cửa cơ hội mở ra trước mắt, làm cách nào mà mẹ có thể bỏ qua tất cả, làm cách nào mà một con người vĩ đại như mẹ có thể lui về sống ẩn dật chốn núi rừng hoang vu với mười ba bạn cún, bốn bạn mèo và các bạn gà vậy? Con vẫn không sao hiểu được, làm cách nào thế hả mẹ? Con tự hỏi: “Con có xứng đáng là con của mẹ?” Câu hỏi này đã vướng bận trong tâm con từ rất lâu rồi. Nhưng ngoài việc tự dằn vặt mình về câu hỏi ấy, con chưa từng tìm ra câu trả lời.

Dõi theo những hạnh nguyện Bồ tát mà mẹ đã và đang không ngừng âm thầm hiến tặng cho mọi người, con thấy mình sao nhỏ bé, hèn kém đến vậy. Con đã từng chỉ biết sống trong cái bóng của mẹ, lặng lẽ chán ghét bản thân vì không có khả năng tiếp nối con đường đẹp mà mẹ đang đi. Con đã từng muốn buông xuôi vì thấy bản thân chẳng bao giờ có đủ sức sánh bước với mẹ để cùng mẹ vượt qua những khó khăn, thử thách. Nhưng mẹ ơi, con tìm thấy rồi. Con tìm ra câu trả lời rồi! Chính ở đây, chính tại nơi này con thấy mình dần trưởng thành, dần xứng đáng làm con gái của một vị Bồ tát là mẹ. Nơi đây giúp con có khả năng tiếp nối mẹ một cách trọn vẹn nhất, đó mới chính là lý do thật sự mẹ ạ.

Mẹ ơi, con không biết mình đã rơi bao nhiêu giọt nước mắt mỗi lần nhớ về mẹ, về em, về căn nhà sàn nhỏ bé nằm nơi lưng chừng núi nữa. Con ước ao được trở về với chốn bình an của con. Con sợ hãi đến run rẩy với từng biến cố xảy ra ở nhà. Nhưng con không bỏ cuộc đâu. Bởi vì tại ngôi nhà thứ hai này, ngôi nhà tâm linh mà con đang ở, mặc dù xa vòng tay mẹ, lần đầu tiên trong đời con thấy mình xứng đáng là sự tiếp nối của mẹ một cách trọn vẹn. Dù tự đứng, tự bước trên đôi chân của mình đau thật đấy, khó thật đấy nhưng con làm được. Sẽ có lúc con vấp ngã, sẽ có lúc con thấy mình như muốn bỏ cuộc, nhưng con biết rằng chỉ cần có niềm tin của mẹ, con sẽ có đủ tỉnh thức để tiếp tục. Thế nên mẹ ơi, hãy tin ở con nhé!

Huế, ngày 02/01/2018

(Chân Trăng An Chiếu)

Lễ Bông hồng cài áo

Ý niệm về mẹ thường không thể tách rời ý niệm về tình thương. Mà tình thương là một chất liệu ngọt ngào, êm dịu và cố nhiên là ngon lành. Con trẻ thiếu tình thương thì không lớn lên được. Người lớn thiếu tình thương thì cũng không lớn lên được. Cằn cỗi, héo mòn… (Trích trong Bông Hồng Cài Áo)  >>

Về Làng, các em được tham dự Lễ Bông Hồng Cài Áo tại mỗi xóm. Đây cũng là một cơ hội để tất cả mọi người trong chúng nuôi lớn thêm tình thương yêu ông bà, cha mẹ trong mình.

Và đây là một vài hình ảnh:

Hội trăng tròn

 

 

 

 

 

Tâm nguyện

Giữa cuộc đời mãi lên xuống đổi thay

Nhớ nghe em giữ tâm hoài bình lặng

Sẽ có thị phi giận hờn trách móc

Cứ khóc đi cho nhẹ nhõm lòng em

Nếu một ngày có cần trong chốc lát

Chút vỗ về dịu ngọt thuở nằm nôi

Tôi xin được bao dung lòng của mẹ

Đón em về ru khúc hát à ơi

Nếu một ngày mỏi mòn trong cô quạnh

Cần một nơi sưởi ấm trái tim côi

Tôi nguyện làm mái nhà xưa vách đất

Nhen bếp hồng đốt lửa ấm tin yêu

Nếu một ngày đường xa chùn gối mỏi

Hãy ngồi đây trên phiến đá hồn tôi

Phút thở nhẹ an ba ngàn thế giới

Ma quỷ nào nhụt nỗi nhuệ khí em!

Nếu một ngày em nát lòng đau nhức

Cần một nơi để khóc thật bình yên

Tôi xin được làm con sông hiền dịu

Đón nước mắt trong về với cội nguồn

Có những lần nhạt nhẽo muốn thả buông

Em sợ hãi cảm quan đời vô vị

Em lạc lõng và nghi ngờ tất cả

Rồi kiêu sa em làm kẻ bất cần

Tôi xin nguyện sẽ là đám bạch vân

Che mát hồn em những trưa nắng gió

Xin nguyện để lòng tôi còn bỏ ngỏ

Có đó cho em cho thực tại em

Cho hòn sỏi cho lá thu cúc dại

Cho cơn mưa giọt nắng con đường quen

Đều về bên em cất lên điệu mới

Cho trời đất dậy sắc sống tinh khôi.

(Chân Thuần Khánh)

Tảo tháp chùa Tổ

 

Hôm qua, cả chúng Diệu Trạm chấp tác Tảo tháp chuẩn bị giỗ Tổ Khai Sơn (6/10 âm lịch) sắp tới. Tối về, ai cũng thấm mệt nhưng được tối làm biếng nên hạnh phúc hơn. Tôi đi ngủ sớm vì muốn buông thư sau cả ngày dài chấp tác. Sáng nay, thứ hai được làm biếng tiếp, tôi cố nằm yên thêm tí nữa nhưng cái gì thôi thúc bên trong khiến tôi xách gói trà nước tìm nơi uống trà, chơi và thưởng thức không gian yên ắng một mình.

Còn gì được hạnh phúc hơn khi được ngồi chơi bên khung cửa sổ phòng học nhìn ra hàng thông trong màn sương se lạnh lúc sáng sớm. Trời vẫn còn chập choạng tối. Tiếng mưa nhè nhẹ rả rích rơi trên mái tôn đều đều nghe quen thuộc lắm. Mùi hương trầm đâu đó phảng phất, thoảng qua khiến tôi nhắm mắt lại, hít thở thật sâu vào buồng phổi như đang mang hơi ấm của tổ tiên tâm linh về có mặt lúc này. Chợt một câu hỏi thoáng lên trong đầu tôi “Mình vào Diệu Trạm được bao lâu rồi nhỉ?”. ”Hình như lâu lắm rồi phải. Ừ, lâu lắm rồi!”. Có những ngày, tôi thích thả bộ qua chùa Tổ chỉ để được đi trên mảnh đất thiêng liêng đó. Khi thì tôi viện cớ qua Thư quán mua ít đồ nhưng thực ra, tôi thích đi dạo trên mảnh đất tâm linh này. Chấp tác chùa Tổ đã khiến tôi góp nhặt không ít hành trang hạnh phúc cho riêng mình. Mấy ngày này, mảnh đất đó đã trở nên thiêng liêng trong tâm trí tôi. Nếu nhìn cảnh quang xung quanh chùa với từng lớp rêu phong bám qua thời gian thì chùa trở nên âm u cổ kính và có gì đó rất xưa, nhưng tại sao du khách vẫn cứ từng đoàn ghé ngang qua chụp hình rồi tham quan chùa trong sự tò mò kính ngưỡng. Tôi cũng tò mò không kém họ, nhưng cái tò mò muốn khám phá chất tâm linh trong tôi nó lớn hơn và mãnh liệt hơn nhiều. Bước qua lớp rêu phong ẩm thấp, âm u đó, tôi vào tận bên trong và bắt đầu công việc tảo tháp.

Xung quanh chùa, tháp mộ rất nhiều và tôi như đứa con tha phương bấy lâu nay được phước duyên về thăm chốn thâm sơn nên cái gì cũng thắc mắc. Tôi chấp tác dọn dẹp quét lá trong các tháp bằng cái tâm chân thành của người con xa quê mới trở về, nhưng tôi vẫn không biết những ngôi mộ này là của vị Tổ nào vì đa phần bia mộ viết bằng chữ Hán. Với cái tâm muốn tìm hiểu về cội nguồn, hôm sau, một Sư em dễ thương đã tận tình giới thiệu và làm hướng dẫn viên du lịch tâm linh cho tôi. Ra về mà trong lòng đầy mãn nguyện y như tâm nguyện bấy lâu nay giờ đã được viên thành.

 Sáng nay, thức dậy thật sớm mà sao lòng tôi thấy bình an, nhẹ nhàng và sâu lắng lạ thường. Tôi pha một bình trà, ngồi thật yên để viết xuống những hoài niệm như cách tôi đang trân quý phút giây quý giá, mà tôi cho đó là giây phút hội ngộ hạnh phúc. Cái gì đang xảy ra trong tôi lúc này? ”Tiếng gọi của thinh không”. Trong từng mạch nhịp của hơi thở, tôi cảm được như mình đang xâu kết lại những quá khứ xa xưa mà tôi chưa hề chạm biết đến. Đây là tháp của Tổ Khai Sơn, đây là tháp của Tổ Đệ Nhị, đây là tháp của Sư Cố, đây là tháp của Sư Thúc… vẫn còn đang văng vẳng bên tai. Tôi càng thấy ngỡ ngàng hơn, khi giấc mơ hiện về trong tâm trí, thời gian tôi điều trị bệnh ở nhà cách đây vài tháng. Trong giấc mơ, tôi còn nhớ như in, có một vị trong hình tướng người tu có tên là Lương Duyên đã đưa cho tôi gói thuốc bảo: “Con hãy uống thuốc này để trị hết bệnh”. Thức dậy, tôi nhớ rõ tên vị thầy thuốc. Tôi mày mò tra cứu trên trang Làng về lịch sử các vị Tổ nhưng tài liệu lúc được lúc không nên tôi đành bỏ sang một bên. Vẫn mang theo giấc mơ đó đi vào Diệu Trạm, tôi âm thầm tìm hiểu lịch sử chùa Tổ qua sách vở cũng như qua các Sư em. Tôi hạnh phúc hơn khi biết một trong các vị đệ tử thân cận của Tổ Khai Sơn có tên là ngài Hải Thuận – Lương Duyên. Quá khứ giờ đây đang xâu kết thành từng chuỗi dài trong tôi, như cuống rốn của người con cùng tử nay đang được gắn liền về vùng đất Tổ thiêng liêng.

Mình cần làm gì đây để hạnh phúc đó được tiếp tục chắp cánh lên đường? Tự nhiên tôi muốn ôm cả Tăng thân Thái Lan vào lòng, nơi đã nuôi tôi lớn khôn về cả thể chất lẫn tinh thần. Tôi muốn ôm cả núi đồi Khao Yai, ôm những con đường quanh co một thời mang tôi về lại thăng bằng qua những giờ phút chênh vênh. Lòng tri ân pha lẫn sự thương kính đối với các Sư Cha, Sư Mẹ bên đó đang tràn về trong tôi. Tình thương của các vị đã luôn có mặt bên cạnh yểm trợ dõi theo từng bước tiến tu của tôi để giờ đây cái tình Tăng thân như là hành trang cho tôi lên đường trong sứ mạng mới. Giờ đây, mỗi bước chân tôi đi thật sự chạm lên đất Tổ, là tôi đang mang hình bóng thân thương của Tăng thân Thái Lan trong mình. Tôi đang có trong họ và họ đang có trong tôi. Mỗi hành động cử chỉ chăm sóc các Sư em Diệu Trạm cũng mang dấu ấn của các Sư mẹ đã từng dạy dỗ nuôi lớn tôi nên người bằng cái tình thân thiết. Tất cả những dấu ấn này đang hiện hữu trong tôi như một sự tiếp nối đẹp và tôi nguyện mình cần phải làm gì để mang sự tiếp nối đẹp đẽ đó đi về tương lai.

”Tôi tảo tháp” cũng là cách tôi muốn trở về gột rửa thân tâm, tìm về chốn gốc rễ nguyên sơ. Tôi chợt nhận ra rằng các chư vị luôn còn đó trong mạch sống tâm linh như chưa hề dứt đoạn. Dòng chảy chánh pháp đã và đang được lưu truyền rộng rãi khắp năm châu, mà nhịp cầu mầu nhiệm cho tôi kết nối quá khứ hiện tại với tương lai là Sư Ông Làng Mai. Qua Sư Ông, tôi biết thêm về cội nguồn huyết thống dòng họ tôi đã từng xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu từ thế kỷ 20. Tôi biết ơn Sư Ông vô cùng, đã để lại cho con cháu hậu lai cả kho tàng lịch sử sinh động, làm khơi nguồn cảm hứng mạch sống tâm linh, khiến thời gian gần đây, tôi luôn thao thức muốn trở về, muốn gần đất Tổ để thực sự được chạm lên mảnh đất thiêng liêng này.

 

 

Những ngày này con cháu Tổ đình về giỗ Tổ càng đông. Tôi qua chùa Tổ chấp tác trong những bước chân hân hoan, là con thật sự đã về, đã tới. Đồi núi Dương Xuân hôm nao vẫn vang hùng tiếng kinh sớm khuya. Rừng thông trăm tuổi vẫn còn đó, reo mừng chào đón các con cháu xa quê trở về. Hồ Bán Nguyệt năm xưa vẫn uy hùng yên lắng trong tiếng chuông Đại Hồng sớm khuya. Hồ Sao Hôm vẫn kiên nhẫn nuôi những cành sen thơm ngát lúc hạ về. Giếng nước vẫn còn đó. Dòng suối reo vẫn còn đó. Mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn như trong nhiều cuốn sách Sư Ông mô tả cảnh chùa Tổ thời Sư Ông còn là Sư chú Phùng Xuân. Quá khứ như chưa hề mất đi, nó đang tiếp tục lưu truyền trong hiện tại và cả mai sau nữa. Chỉ cần tôi thao thức muốn trở về thì quá khứ luôn hiển bày ở đó cho tôi chiêm nghiệm, giữ gìn và trân quý. Cái chất quá khứ uy hùng năm xưa đang làm nên chất hiện tại giàu có cho tôi làm hành trang mang về tương lai.

Tôi thấy mình thật may mắn khi Tăng thân Thái Lan cho tôi cơ hội chuyển chúng, để giờ này tôi được có mặt nơi đây hòa vào dòng chảy thiêng liêng trong những ngày giỗ Tổ, nếm được không khí chùa Tổ pha chút truyền thống tâm linh xứ Huế, để thấy rằng con đường Tăng thân mình đang đi rộng mở thênh thang.

”Một dòng suối uốn quanh trên ngọn đồi xanh xanh
Ở nơi đó đàn chim hót vui trên cành
Người xưa đã đến đây mang dòng thiền về dựng xây
Ngàn năm sau con cháu sum vầy.
Diệu Trạm nét thảnh thơi
Những con người về rong chơi
Mang ấm áp, bình an thắp trong tim người
Từ Hiếu dáng phong sương
Ôm trọn một niềm thương
Lửa thiêng vẫn cháy đêm trường
Một giọt mưa rơi, hàng vạn cây lên tươi
Tình thương dâng hết cho đời…”
     (Trích lời bài hát Bài Ca Đất Tổ)
     
Sư cô Trăng Tịnh Thường
    (Nguồn hình ảnh: Paul Davis)

Thư gửi Ba Mẹ

Sư cô Chân Trăng Thuận Hóa được biểu hiện trong gia đình xuất gia cây Hoàng Yến. Ba sư cô mất lúc sư cô còn bé. Và trong thời gian đang làm tập sự xuất gia tại Diệu Trạm thì mẹ sư cô cũng qua đời. Bằng sự thực tập trở về tiếp xúc với tổ tiên huyết thống trong mình, sư cô đã đi qua niềm đau mất đi những người thân. Sư cô đã thực tập theo lời dạy của Thầy với cách tư duy tích cực và thấy rằng mình thật may mắn khi còn có ba mẹ để nghĩ về…

Diệu Trạm ngày nắng,

Con chào Ba Mẹ!

Ở nơi ấy chắc ba mẹ vẫn vui chứ ạ? Con gái ba mẹ giờ thành một sư cô rồi nè, tu tập vui lắm ạ. Cho nên con tin chắc là ba mẹ cũng sẽ vui lắm. Có lẽ từ xưa nhà mình đã có ai muốn đi tu mà không thực hiện được, cho nên hôm nay con mới có đầy đủ phước duyên vào chùa.

Sáng nay con bước lên thiền đường, không khí buổi sáng thật tĩnh lặng (vì hôm nay được làm biếng). Con ngồi thật yên lắng nghe tiếng gió, tiếng gà gáy sáng, lâu lâu tiếng còi xe vang lên vội vã trong màn đêm và cả tiếng nói ở trong tâm mình nữa. Con ngồi thật yên và có mặt đó cho gia đình. Chắc mọi người bây giờ đang tất bật lo cắt gọt, nấu nướng để bày cúng vì hôm nay là 100 ngày của mẹ. Con ngồi đó và những hình ảnh ngày xưa đi lên trong con.

Hình ảnh ba đạp chiếc xe đạp chở con đi xem lô-tô. Chỉ có ba mới làm được chuyện đó thôi, ba nhỉ! Ba sợ con mỏi chân nên để con ngồi trên xe rồi ba dắt bộ, hết dốc ba lại đạp tiếp. Lúc ấy con còn nhỏ lắm và hôm ấy trăng cũng tròn như hôm nay. Con ngây thơ nhìn theo ông trăng và nghĩ là ông trăng đang đi theo nhìn hai cha con mình. Khi con nói thì ba chỉ cười, lưng áo ba đã ướt đẫm mồ hôi mà chẳng nghe ba than mệt gì cả. Bánh xe vẫn lăn đều trên con đường đất. Chỉ có tình thương của ba mới làm được như vậy thôi. Thật hạnh phúc khi con vẫn còn ký ức về ba. Những hình ảnh đẹp cứ như một cuốn phim dài tua nhanh trong trí nhớ của con. Anh chị em con đứa nào ba cũng thương như nhau. Ba dạy cách sống công bằng trong mỗi hành động của ba. Con nhớ có lần hạ dĩa quýt trên bàn thờ xuống, ba đã chia cho từng người không thiếu ai hết. Lúc đó con tham ăn, sợ bị giành nên cầm trái quýt trốn ở góc nhà ăn một mình đó ba. Con hư ba nhỉ! Lúc nhỏ con luôn là đứa trốn nhà đi chơi, ba biết nhưng chẳng bao giờ phạt con. Ba ơi, ngày ba đi con vẫn chưa chấp nhận được. Không chỉ riêng con mà cả mẹ, anh chị, chú bác… ai cũng bàng hoàng. Với cái đầu nhỏ bé nhưng lì lợm, con đã tự cho rằng ba sẽ trở lại. Con tự động viên mình rằng ba chỉ đi vài tháng. Nhưng rồi một năm, hai năm… con phải tập chấp nhận rằng ba sẽ không về nữa. Con tập sống tự lập khi không có ba bên cạnh. Mỗi ngày trôi qua, nhìn thấy mẹ mỗi ốm hơn, đôi mắt thêm quầng thâm và những vết chân chim nhiều hơn, con càng muốn cố gắng mạnh mẽ.

Rồi năm 2009 mẹ bệnh, con chỉ muốn nghỉ học đi làm. Không phải vì con không thích học mà vì con muốn mẹ đừng bỏ anh em con. Con sợ! Nỗi đau mất ba đã quá lớn lao rồi, con không biết mình có thể chịu đựng được cái viễn cảnh mẹ cũng rời bỏ con mà đi không? Nhưng ngày đó vẫn cứ xảy đến, lạnh lùng và tàn nhẫn đưa mẹ đi. Hai mươi tuổi con trở thành trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, ngơ ngác, bơ vơ và trống trải. Dù rằng trong chùa có những pháp môn thực tập nhưng tại con tu chưa giỏi nên lâu lâu vẫn cảm thấy tủi thân khi nghe mọi người nhắc đến hai chữ ba mẹ.

Ngày hôm nay, khi ngồi thật yên trên thiền đường con cảm thấy hạnh phúc và may mắn. Con may mắn vì ít ra con còn có ba mẹ để nhớ. Có những bạn sinh ra còn không được thấy ba mẹ nữa cơ. Như vậy cũng đủ hạnh phúc với con lắm rồi. Con lại được ba mẹ thương yêu nữa. Mẹ nhớ không, lúc con còn được ngủ với mẹ? Con lạnh run, mẹ quay qua ôm con cho ấm, ai ngờ ấm quá con ngủ mơ… đạp mẹ đau điếng. Rồi lúc con bệnh mẹ lo nấu cháo cho con ăn. Lúc con ho, mẹ vùi củ nghệ bắt con nhai. Nhìn con đau mà mẹ đau gấp ngàn lần, đứng ngồi không yên, lo lắng đủ bề. Chỉ có tình mẹ mới vậy, mẹ nhỉ? Từ lúc mẹ bệnh, con chưa bao giờ thấy mẹ ngủ bình an như vậy. Miệng mẹ khẽ cười, tâm con thấy vui. Con vui vì bây giờ mẹ không còn bị cái hình hài làm cho đau đớn nữa. Mẹ bây giờ là một người tự do, đôi khi con lại thấy mẹ mỉm cười với con. Ba mẹ đang có trong con, nhờ tu tập, con thấy được những hạt giống trao truyền từ ba mẹ, cả tốt lẫn chưa tốt lắm. Nhưng không sao, con sẽ thực tập để chuyển hóa chúng, mẹ ạ.

Con kể cho ba mẹ nghe về ước nguyện đi tu của con nhé! Ước nguyện này đã có trong con từ lúc nhỏ, khi bà nội dắt con đi chùa. Con thích không khí thanh tịnh ở chùa và con muốn được làm một điều gì đó có ích cho xã hội. Ngày đi tu con chỉ có một mong muốn là làm thế nào để con có thể giúp được cho chính con và cho gia đình mình bớt khổ. Con thấy anh chị em trong gia đình thương nhau, nhưng do không hiểu nhau nên mới làm cho nhau khổ. Con muốn tìm một con đường để giải thoát cho con, vì chính trong con cũng có những khổ đau. May mắn là trong nhà con là người được thương nhất, ra ngoài cũng được bạn bè quý mến. Vì con được ba mẹ thương cho nên con mới đi tu. Nhưng cái tình thương con muốn hướng đến là một tình thương rộng lớn hơn. Con muốn thương nhiều hơn ba mẹ thương, nhiều hơn bạn bè thương, nhiều hơn cả tình thương đôi lứa. Con muốn đem tình thương ấy mà đối xử với tất cả mọi người, thứ tình thương không biên giới mà chỉ có những người ba, người mẹ mới làm được. Con đang thực tập để có thể thương được như vậy đó. Khi đi tu rồi thì tình thương không chỉ giới hạn trong gia đình hay trong tình thương đôi lứa. Thương theo tinh thần của đạo Bụt là tình thương có tự do, có hiểu biết. Vì có hiểu mới thương được. Thương như vậy thì mình hạnh phúc mà người cũng hạnh phúc, ba mẹ nhỉ!

Con thấy mình vẫn còn may mắn khi bên con vẫn còn có anh chị, có các bạn đồng tu. Con có cả gia đình tâm linh và huyết thống bên cạnh con. Con đang là sự tiếp nối của ba mẹ, ba mẹ có thấy không? Mỗi ngày con đều thấy mình thật may mắn. Con nuôi dưỡng niềm biết ơn và hạnh phúc trong con. Con biết khi con hạnh phúc thì ba mẹ cũng hạnh phúc, vì con thấy ba mẹ đều đang có trong con. Con yêu ba mẹ nhiều lắm!

Con gái của ba mẹ,

(Chân Trăng Thuận Hóa)

Con gái ông Tư cua

Ngày tháng trôi qua thật nhanh, mới đây mà tôi đã đi tu được tám năm rồi. Đối với tôi, những ký ức về tuổi thơ là những khung ảnh đẹp. Những kỷ niệm về gia đình là gia tài và hành trang giúp tôi vững bước hơn trên đường đạo. Quá khứ trở thành hiện tại và hiện tại lại trở thành quá khứ. Nhờ vậy mà tôi thấm hiểu hơn về câu thư pháp Thầy tôi thường dạy: “Không có bùn làm sao có sen” hay “Khổ đau là chất liệu làm nên hạnh phúc”. Nhận ra mình, thấy được mình, nói được những gì mình muốn nói là hạnh phúc lớn nhất đối với tôi. Tôi thuộc ban A nên khó viết xuống những nỗi lòng, những ray rứt trong trái tim mình. Tôi chấp nhận điểm yếu của chính tôi vì tôi là “hiệp sĩ” mà. Nhưng khi nghĩ tới những gì muốn chia sẻ cùng ba, tôi có thêm nhiều sức mạnh. Và câu chuyện của tôi được bắt đầu như thế này:

Xa quê

Tôi là một cô bé tóc quăn, da phèn, “chân tay gầy ốm như những ống sậy”. Ngoài đôi mắt đen ngơ ngơ, dại dại, trên khuôn mặt không thấy một điểm sáng gì. Ba tôi không có tài làm nông, mẹ tôi không có duyên làm ruộng nên cả gia đình phải tạm xa miền Tây lam lũ, cắp giỏ đệm lên “xì phố” để tìm kế sinh nhai. Không một đồng xu dính túi, gia đình đành ở nhờ nhà ngoại nhưng tôi thấy vui và hạnh phúc lắm. Nhà được dựng tạm trên ống cống thoát nước, căn nhà lá nho nhỏ với dòng nước chảy liu riu. Nhất là khi mưa về, đường mương ống cống trở thành một dòng sông thơ mộng đối với tôi lúc nhỏ.

Thời gian đó, đường mương rất thoáng vì ngày nào nhà tôi cũng quét dọn sạch sẽ. Hồi đó ống cống vừa là chỗ mát mẻ để ngủ trưa khi trời nắng, vừa là chỗ yên ổn để chúng tôi chơi trò trốn tìm, còn đường mương ống cống trở thành “bể bơi” lý tưởng của tôi. Vào mùa mưa đường mương tràn ngập nước, tôi cùng các em và những bạn hàng xóm thay nhau nhảy xuống đó để bơi. Khỏi phải nói là tôi vui tới cỡ nào. May mà ba mẹ đều đi bán hàng nên không biết chuyện gì xảy ra tại nhà, nếu không, chắc tôi sẽ không thực hiện được kỳ tích có một không hai này. Vì vậy, dòng sông ống cống trở thành một người bạn mà tôi không tài nào quên được. Còn người bạn thứ hai của tôi là cây me. Cây me ấy, mặc dầu hơi chua một chút nhưng tán rất rộng, cành thấp, nên tôi tha hồ leo trèo và nghịch phá. Do đó, tôi ăn trên cây me, chơi trên cây me, học trên cây me, ngủ trên cây me và tắm cũng trên cây me. Nghe có vẻ là lạ nhưng thiệt 100% đấy. Tôi thường chơi trò nhảy từ cây me xuống dòng sông liu riu vào những lúc mưa to. Thật tuyệt! Từ trên cây me ùm một cái, nước bắn tung tóe, rưới mát cả lòng tôi, rưới mát cả sự nhớ quê của tôi. Đối với tôi, có thể tạm gọi đó là cõi “Tịnh độ tuổi thơ”.

Nói về chuyện bơi lội thì tôi chợt nhớ lúc ở quê, tôi rất thích bơi nhưng mẹ không cho vì sợ tôi hụt nước. Tôi phải nhờ thằng em giả đò xô tôi xuống sông. Quần áo ướt hết cả rồi nên tôi đành bơi vậy, tôi bơi tới, bơi lui, khá gấp gáp vì sợ hết giờ. Lúc đó tôi thấy cảnh các anh trèo lên cây tràm để nhảy xuống sông thật là thích thú. Tôi cũng muốn thử cảm giác mạnh ấy nhưng vì tôi nhỏ quá nên không dám nhảy. Bơi xong, lên bờ quần áo ướt sũng, hỉ hửng về nhà nhưng ngờ đâu vừa gặp tôi, mẹ liền hỏi: “Con tắm bơi à?” Tôi ngại ngùng, cúi mặt xuống đất và đáp lí nhí: “Dạ, tại thằng Linh đẩy con xuống sông, lỡ ướt đồ rồi nên con mới bơi ạ”. Hic… tôi giả đò hay thiệt đó nhưng liếc thấy thằng em đứng im lìm không nói gì, cũng dán mặt xuống đất, tôi chợt hối hận và thấy thương em ghê. Nhờ chiêu giả bộ ấy mà mẹ không đánh đòn tôi nữa. Sau này, mỗi lần nghĩ tới chuyện đó tôi thấy áy náy vô cùng. Tôi tự hứa với lòng mình sẽ không làm như vậy nữa. Và tôi đâu ngờ rằng trò bơi bất đắc dĩ đó cũng là kỷ niệm cuối cùng của tôi ở vùng quê.

Vì vậy khi lên thành phố, tôi nhớ quê nhưng chưa bao giờ nói cho ba mẹ nghe cả. Tôi biết ba mẹ không có đủ kinh phí để gia đình về thăm quê. Tôi lên thành phố năm tám tuổi nhưng mãi tới lúc học cấp 2 tôi mới được về quê vì ông nội mất, bảo sao tôi không nhớ quê cho được. Nhưng ngồi yên nghĩ lại, có lẽ người nhớ quê nhất phải là ba tôi mới đúng. Tôi im lặng thở và nhìn vào nỗi lòng của ba.

Mẹ về

Ngày qua ngày, gia đình tôi mua được một căn nhà nho nhỏ gần một nghĩa trang cũng nho nhỏ. Lúc đầu, tôi sợ lắm vì mỗi lần về nhà là phải qua nghĩa trang đó. Năm giờ chiều là giờ giới nghiêm của tôi, tôi không dám ra khỏi nhà hay nhìn ra nghĩa địa. Một ngày nọ, hơn năm giờ mà ba mẹ vẫn chưa về. Tôi và em gái sợ quá không biết làm gì cả. Với đầu óc trẻ con, tôi nghĩ: “Khi con ma xuất hiện, nếu tôi ở trong nhà thì không thể chạy ra ngoài được vì lỡ con ma khóa cửa, nhốt hai chị em bên trong thì sao?” Thế là tôi khiêng cái thúng đựng gạo khá to, đặt trước cửa nhà và hai chị em ngồi im trong thúng, không dám nhúc nhích gì. Tôi đợi tiếng xe đạp của mẹ, đợi hoài, đợi mãi mà chẳng thấy. Lâu lâu tôi lén nhìn ra nghĩa trang, xem có bóng dáng gì không? Vô vọng và sợ hãi. Nhưng khi màn sương đang dần dần buông xuống phủ từng ngôi mộ cổ thì tiếng xe đạp mỗi lúc một gần. Sau khi dựng chân chống xe, mẹ ngạc nhiên nhìn hai chị em tôi đang ngồi co ro trong thúng. Biết ý, mẹ nở một nụ cười thật hiền. Thật lạ! Từ lúc mẹ về thì niềm hạnh phúc và bình an của tôi cũng về theo. Tôi chạy ra khỏi thúng, mếu máo và ôm chầm lấy mẹ, nước mắt cứ thế lã chã rơi. Cho tới giờ phút này, chỉ cần được thấy mẹ, ngồi bên mẹ hay chỉ nghe tiếng mẹ là tôi cảm ngay được niềm hạnh phúc và bình an của ngày xưa đó. Tình thương của mẹ là tình thương an lành nhất, mẹ sẵn sàng ôm tôi vào lòng khi tôi cần, mẹ hết lòng lắng nghe khi tôi chia sẻ hay mẹ lặng lẽ thức thâu đêm, đơn giản chỉ để làm quà tặng tôi. Mỗi lần nghĩ tới mẹ là tình thương trong lòng tôi như được ứa ra, rất ngọt ngào và ấm dịu. Tôi không hiểu tại sao nữa nhưng tôi biết một điều: “Mẹ là người bạn tuyệt vời nhất của tôi”. Còn ba tôi thì sao?

Những gì con chưa thấy

Nhà thơ Nguyễn Bính có một bài thơ khá nổi tiếng, đó là bài “Hoa và rượu”. Ba tôi cũng có một bài ca khá nổi xóm, ca suốt mười mấy năm nhưng luôn luôn còn mới, đó là bài “Lá và rượu”. Tôi chỉ muốn ba đổi bài hát mới nhưng hầu như đó chỉ là giấc chiêm bao và tôi đã thất vọng nhiều lần. Chính vì vậy mà tôi ghét chiều về. Hễ ánh sáng bắt đầu chập choạng thì ba hay sai tôi đi mua rượu. Ba nói mua một lít thì tôi mua ba xị, mua một gói thuốc lá thì tôi bảo ngoài tiệm hết rồi nên chỉ còn vài điếu. Có lần khi mua rượu cho ba, về đến giữa đường, tôi đứng lại thử bịt mũi, nhắm mắt, uống liều hai ngụm đầy. Sau vài phút, khuôn mặt tôi dần đỏ lên, tim đập loạn xạ rồi say bí tỉ. Thế là tôi phải nằm bẹp cả một buổi chiều. Hic… tôi tức lắm. Rượu có ngon gì đâu sao người lớn lại thích uống đến thế!

Vì vậy, khi nhìn cảnh mẹ làm quần quật từ sáng đến tối, còn ba khi đi bán hàng về lại uống rượu, tôi không buồn cũng lạ. Tôi càng thương mẹ bao nhiêu thì tình cảm tôi dành cho ba càng xa cách bấy nhiêu. Mặc dù tôi biết ba là người hiền lành, thật thà, hay giúp đỡ người khác. Thậm chí, những người ở quê thường gọi ba bằng một cái tên khá thân thuộc là “Hội đồng chùa”. Dưới quê, ai cũng thương ba cả, ba là một ngôi sao sáng đối với bà con. Còn với riêng tôi, tôi thấy lờ mờ sao ấy. Hay tôi chưa thấy được ánh sáng từ ba? Khi lớn lên, có lúc tôi cũng tự hỏi chính mình: “Sao cái nhìn của tôi lại chật hẹp đến thế, có thể tôi đã để cho những hình ảnh khác chiếm ngự trái tim nên không thấy những điểm sáng từ ba?” Đã có lúc tôi lập nguyện: “Sau này, nếu quen ai mà người đó uống rượu thì tôi sẽ nghỉ chơi ngay lập tức”. Cái đầu của một đứa trẻ thật khủng khiếp, tôi huân tập cái ý nghĩ đó từ ngày này qua ngày khác và trở thành một khối cứng ngắc như đá cuội. Tôi ghét RƯỢU… Do đó, cũng có lúc tôi ghét luôn cả ba (không chánh niệm một tý nào… hì… tôi giận luôn cả ba). Vì đó là bản chất tự nhiên của tính bắc cầu mà. Nói chung, những gì có liên quan tới rượu là kẻ thù của tôi. (Nhờ sống trong hoàn cảnh ấy, sau này em trai tôi không bao giờ uống rượu. Đó là niềm an ủi lớn nhất đối với tôi).

Bài học quý

Tuy tâm trạng tôi như vậy, nhưng sáng nào tôi cũng cùng các em thay phiên nhau ra chợ phụ ba mẹ bán hàng. Ba ở nhà xay cua, mẹ có sạp khác bán trái cây. Gian hàng của gia đình tôi chủ yếu là: cua – còng còn sống, cua xay, mắm tôm và thỉnh thoảng có bày bán trái cây. Khoảng chín giờ sáng, ba mới ra thay ca, tôi về nhà ăn cơm rồi đi học. Ngồi bán hàng, tôi không mời mọc gì, rảnh là tôi lấy tập ra học. Chắc vì vậy mà các cô chú bác ai cũng thương nên chị em tôi bán hàng khá được. Còn ba bán hàng rất có uy tín vì ba chưa bao giờ cân thiếu mà còn bán dư cho bà con nữa nên ai cũng quý ba. Tôi nhớ có lần, người bạn hàng kế bên lấn sạp của ba, những cô bán hàng khác liền mách với tôi. Sau đó, tôi nói nhỏ với ba nhưng ba rất bình tĩnh và nói: “Người ta nghèo mới lấn sạp của mình con ạ. Mình chỉ có vài mặt hàng nên không cần sạp rộng. Họ còn lo cho con cái đi học ở dưới quê nữa”. Nghe ba nói như vậy, tôi thấy xấu hổ và xúc động. Ba biết nhưng ba vẫn để yên vì ba có cái nhìn sâu hơn tôi. Kể từ đó, tôi thấy thương ba hơn và tôi cũng thương được cô chú bán tôm gian hàng kế bên. Vì tôi cảm được cảnh nghèo khó và chật vật của những người vùng quê. Tôi nghĩ đến nụ cười của hai đứa con cô chú, chợt lòng tôi được mở ra. Tôi thích đi học vì tôi muốn đổi đời. Chắc hai đứa nhỏ kia cũng vậy. Xóm chợ đó đã đem đến cho tôi nhiều tiếng cười và nhiều tình thương từ người bán lẫn người mua. Nhờ những tháng ngày buôn bán đó mà tôi đã lớn lên và phấn đấu cho tương lai hơn.

Thấu hiểu tận nguồn cơn

Khi học cấp ba, tôi bắt đầu tiếp xúc với pháp môn Làng Mai. Trong đó, có một bài pháp thoại mà tôi chỉ nhớ vỏn vẹn vài câu: “Bao tử mình cũng là một nghĩa trang thu nhỏ. Chúng ta có thật sự từ bi không? Bao nhiêu con vật đều ở trong bao tử đó. Ta có khác gì những loài vật khác”. Khi nghe câu này xong, tâm tôi thực sự bị đánh động, tôi khẽ khóc. Kể từ lúc ấy, tôi không muốn bán cua giúp ba nữa. Có lần tôi nói với ba: “Ba ơi! Hay mình đổi nghề khác nha ba, mình bán rau cũng được”. Ba tôi lẳng lặng một lúc rồi nói: “Có nhiều lần ba cũng muốn đổi nghề nhưng mình lỡ có mối mang khá nhiều. Ba đổi hàng khác thì không đủ tiền lo cho các con đi học”. Tôi nghẹn ngào và tiếp tục bán cua. Nhưng lần này thì khác, tâm ý tôi đã hoàn toàn thay đổi. Ngày trước tôi ước gì tôi bán thật nhiều cua, bây giờ tôi lại thầm niệm: “Mong rằng đừng ai mua cua về ăn cả. Và cũng đừng ai nhờ tôi xay cua”. Tôi cứ ngồi yên và cầu mong như vậy, trong tôi có một sự đối nghịch rất lớn. Một nửa, tôi mong cho ba bán được hàng nhưng hơn một nửa thì mong đừng ai mua cả. Cho tới bây giờ, tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác của ngày xưa ấy. Có một cô ngồi lựa từng con cua sống. Sau đó nhờ tôi rửa, xé mai và xay cua. Tôi đã xé số cua đó trong nước mắt, tôi không dám khóc ra ngoài nhưng nước mắt cứ chảy ngược vào trong, xé cua tới đâu lòng tôi thắt lại tới đó. Tôi thấy thương tôi và thương cả con cua nữa. Tôi không biết làm cách nào cho lòng được an, tôi đành thầm niệm: “Nam mô Đức Bồ tát lắng nghe Quan Thế Âm hãy tha lỗi cho con”, và mong những con cua đó hãy tha thứ cho gia đình. Vì sự sống còn trên Sài Gòn nên chúng tôi mới làm như vậy.

Nhưng khi lên cấp ba, tôi không còn đi bán nữa vì phải học xa nhà, tôi mừng lắm. Sau một thời gian, ba tôi cũng đổi nghề, không còn nhãn hiệu là ông “Tư cua” nữa mà thay vào đó là ông “Tư bắp”. Tôi vui quá, cười ra nước mắt. Tôi thầm biết ơn “Đức Bồ tát” và biết ơn ba đã thấu hiểu tấm lòng của chị em tôi.

Ấm lòng tình cha

Trước khi đi xuất gia, tôi bắt đầu đến chơi và tìm hiểu ba nhiều hơn trước. Nhờ những buổi uống cà phê tại Nét Xưa, tôi mới hiểu thêm một điều là không phải vì ba muốn uống rượu mà vì ba buồn nhiều, không biết chia sẻ cùng ai nên mượn rượu để lãng quên. Ba sống dưới quê quen rồi nên khi lên Sài Gòn không sánh kịp với người thành phố vì ba hiền lành quá. Mẹ tôi phải đứng ra gánh vác và là nguồn kinh tế chính của gia đình, vì mẹ đã từng sống ở Sài Gòn. Qua những buổi chiều cà phê đó, ba đã tâm sự cho tôi nghe rất nhiều về quá khứ của ba. Có những chuyện thầm kín nhất mà ba cũng kể cho tôi nghe. Tự nhiên tôi thấy thương ba tôi quá! Vậy mà hồi nào tới giờ tôi đã trách ba quá nhiều. Kể từ lúc đó, dường như ba bớt uống rượu hơn một chút.

Trước khi lên Bát Nhã tập sự, vào ngày cuối cùng ở nhà, tôi thỏ thẻ với ba: “Ba ơi! Ngày mai ba nghỉ bán được không? Hai tía con mình đi uống cà phê nha ba”. Ba đồng ý liền, tôi vui biết mấy. Sáng sớm, ba chở tôi trên chiếc xe máy thường ngày chở hàng. Tiếng sên bị khô dầu, quét vào máng kêu lộc cộc. Xe chạy rì rì, mỗi lần lên dốc tôi phải thở hồng hộc cùng xe. Tôi chợt nhói tim, nhưng nghĩ sau này ba sẽ đi chiếc xe của mình nên cũng an tâm hơn. Hai cha con ngồi uống cà phê tại một cái quán lụp xụp trước nghĩa trang Bình Hưng Hòa. Bà chủ hay mở nhạc vàng và thỉnh thoảng lại có nhạc Trịnh Công Sơn mà ba thích. Hai cha con ngồi yên chờ cà phê nhỏ giọt, ngắm đường phố, ngắm người qua lại, ngắm sự sống của một đời người. Sương đã giăng đầy vai áo. Mặc dù xung quanh là nghĩa địa nhưng tôi thấy bình an và ấm áp lắm vì biết rằng bên tôi đang có ba. Ngày đó, tôi nói cho ba biết ý định đi xuất gia của tôi. Ba lặng lẽ một lúc rồi nói: “Mấy hôm nay ba biết được tâm ý của con. Con hãy chọn con đường mà con thấy hạnh phúc. Nhưng con nên biết rằng dù con ở đâu thì ba vẫn luôn ở cạnh con”. Thế là nước mắt tôi lại rơi vì chỉ có ba mới hiểu được nỗi lòng của tôi. Trong đại gia đình, ai cũng phản đối việc tôi đi xuất gia, chỉ riêng ba là người duy nhất yểm trợ tôi mà thôi. Câu cuối cùng ba dặn tôi: “Con à! Trong cuộc sống, học hơn người thì dễ nhưng học để thua người thì rất khó. Mình phải nhẫn được những gì mà người khác không nhẫn được thì mới gọi là kiên nhẫn nha con”. Tôi cảm động và thấy ấm trong lòng. Sau đó, tôi tâm sự với ba: “Ba ơi! Một ngày nào đó nếu ba không thấy con ở nhà thì ba đừng lo nhé. Vì lúc đó con đã ở chùa. Có một điều cuối cùng ba giúp con nha ba. Khi con đi xuất gia, ba chăm sóc bàn thờ giúp con nhé. Ba có biết không? Ước mơ lớn nhất của chị em con là mong cho ba bớt uống rượu để gia đình mình được hạnh phúc hơn”. Ba lại im lặng và nhìn vào khoảng không xa xăm. Ba không nói gì nhưng tôi hiểu ba cảm được nỗi lòng của tôi. Tôi nói vậy, vì biết rằng nếu ba không uống rượu thì ba mới thắp nhang lên bàn thờ được.

Lời của con

Thời gian trôi… Sau hai năm đi xuất gia, tôi được mẹ báo một tin vui: “Ba con không còn uống rượu nhiều nữa. Một ngày chỉ uống ba chung (ly) và xem tivi thôi”. Giọt nước mắt hạnh phúc chợt rơi trên má tôi vì đó là ước mơ chung của cả gia đình, mãi tới hôm nay mới trở thành hiện thực. Tôi biết người vui nhất chính là mẹ. Tôi vui vì khi tôi đi tu, ba tôi không còn “tu chai” nữa mà chuyển thành “tu chay”, dù chỉ được 50%.

Giờ đây, tôi cảm thấy sung sướng và may mắn khi tôi được làm “con gái của ông Tư cua”. Tôi chưa bao giờ mặc cảm vì phải bán hàng ngoài chợ, tôi chưa bao giờ mặc cảm vì nhà nghèo hay vì làn da phèn, mốc mốc của tôi. Tôi thấy tôi giàu có vô cùng vì tôi khám phá được kho tình thương mà ba mẹ dành tặng chị em tôi thật bao la vô tận. Cả cuộc đời của ba mẹ lam lũ, cực khổ cũng vì muốn đem đến cho tôi và các em những gì tốt đẹp nhất. Ba mẹ là nơi bình an nhất mỗi khi tôi nghĩ về. Giờ đây, tôi có thể chia sẻ những nỗi lòng ấp ủ này bởi vì tôi ý thức là ba đang còn đó cho tôi. Và tôi muốn gởi tới ba những lời sám hối chân thành: “Ba ơi! Con xin lỗi ba vì có những lúc khờ dại con đã từng giận ba hay đã từng khởi niệm không thích ba. Ai cũng có những góc khuất phải không ba? Con đã không sáng suốt nhận ra mà còn trách ba nữa. Con thấy hối hận vì những ý niệm nhỏ hẹp của con lắm. Ba hãy tha lỗi cho con nghen ba. Kể từ khi đi tu, con mới hiểu những việc âm thầm mà ba đã làm cho gia đình. Con được trở thành người tu như hôm nay cũng nhờ phước đức mà ba mẹ để lại. Con đang đi theo hướng đi của ba. Ba hãy nắm tay con cùng đi ba nhé!”

Con gái thương của ba

Bé Đen của cả nhà

(Chân Hiệp Nghiêm)