Pháp thoại trực tuyến: Xin nguyện làm mới thân tâm

(Thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung bài tụng “Sám Nguyện” trong sách Nhật Tụng Thiền Môn)

Trong đạo Bụt, chúng ta có danh từ tụng kinh. Tụng kinh có nghĩa là ôn lại, đọc lại những lời Bụt dạy. Có khi chúng ta tụng một mình, có khi chúng ta tụng với tăng thân. Có khi chúng ta tụng thầm, có khi chúng ta tụng thành tiếng. Có lúc trong khi tụng, ta có năng lượng của chánh niệm, của đức tin, của tình thương. Tụng kinh là để chúng ta có cơ hội tiếp xúc với lời Bụt dạy, tiếp xúc với tuệ giác của Bụt. Đồng thời ta có dịp tưới tẩm những hạt giống đẹp, lành, và tươi tốt ở trong ta. Từ đó, phát nguyện làm mới lại thân tâm mình bằng những hành động cụ thể đã được chỉ dạy trong mỗi lời kinh.

Đệ tử xin nguyền trở lại

Sống trong hiện tại nhiệm mầu

Vườn tâm ươm hạt giống tốt

Vun trồng hiểu biết, thương yêu.

(Trích từ bài tụng “Sám Nguyện” trong Nhật Tụng Thiền Môn)

Để dễ dàng trong việc học hỏi và hành trì những lời dạy được trình bày trong mỗi bài kinh, chúng ta nên dành thì giờ tìm hiểu và học cho thật sâu sắc ý kinh.

Kính mời đại chúng trở về thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, Làng Mai (Pháp) để được lắng nghe thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung của bài tụng “Sám Nguyện”. Bài tụng này có trong cuốn sách Nhật Tụng Thiền Môn – là một trong những cuốn kinh hiện đang sử dụng trong các buổi tụng kinh tại một số chùa và tư gia của người Việt. Đây cũng là cuốn kinh đang được lưu hành và sử dụng trong các thời công phu tại các tu viện Làng Mai khắp nơi.

Buổi chia sẻ với chủ đề “Xin nguyện làm mới thân tâm” sẽ được phát trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai lúc 9:30 sáng (giờ Châu Âu), vào khoảng 14:30 chiều (giờ Việt Nam) Chủ Nhật ngày 26/9/2021. Kính mời đại chúng truy cập vào liên kết dưới đây để cùng tham dự lắng nghe:

 

Mưa tình thương nảy mầm sự sống

Sư cô Chân Quy Nghiêm 

Hôm đó sau buổi thiền hành trên xóm quý thầy, sư em đang lững thững đi sau lưng một sư anh thì đột nhiên sư anh quay lại nhìn sư em và nói: “Mây mù che đỉnh núi”, rồi sư anh tiếp tục bước đi. 

Sư em giật mình, rõ ràng sư em đang suy nghĩ vẩn vơ không để ý đến bước chân hơi thở nên không thấy được quang cảnh trước mắt. Sư anh đi trước mà vẫn thấy được sư em đi sau đang làm gì, nghĩ gì để mà nhắc nhở. Đúng là con của Bụt, không lơ là chút nào. Sư em mỉm cười thầm cảm ơn sư anh. 

Hôm đó đúng là trời không có nắng, rặng núi Khao Yai hùng vĩ bị mây mù che, quang cảnh núi mây mờ ảo như trong tranh rất đẹp. Núi bị mây che có vẻ mơ màng nhưng sư em vẫn thấy được sự vững vàng của núi. Dù núi cao hùng vĩ bao nhiêu vẫn có lúc bị mây mù che phủ, núi biết điều đó, và núi cũng biết rằng rồi mây mù sẽ tan, nên núi không để mất sự vững chãi. Núi cũng thấy được rằng nhờ có mây mù mà có mưa, mưa làm lòng đất trở nên mềm mại, xanh tươi và nở đầy hoa. 

Mấy hôm nay sau buổi thiền hành, đi qua mấy lối cỏ về lại xóm mình, sư em để ý thấy có mấy cánh hoa trắng như tuyết nằm khiêm tốn đây đó trên mặt đất. Cỏ mới được phát sạch, hoa mới biểu hiện ra, mong manh và tinh khiết. Chắc chắn khi nằm trong lòng cỏ rậm, hoa vẫn nở thật tươi thắm, dù không ai trông thấy, hoa vẫn hiến tặng hết lòng sự có mặt tươi mát của mình. Đóa hoa nhỏ nhắn mà mầu nhiệm thay, giúp cho sư em khám phá lại chính mình, cũng như lời nhắc nhở của sư anh, ngắn gọn mà đầy đủ, giúp cho sư em nhìn lại sâu hơn. 

Sư em rất trân quý sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em trong Đại Chúng. Một đại gia đình có đủ mọi người đủ mọi lứa tuổi và trình độ khác nhau, cho nên sự thực tập có nhiều màu sắc rất phong phú. Sư em thấy ai cũng đóng góp yểm trợ cho nhau trong sự tu tập bằng nhiều phương cách. Đôi khi sự đóng góp yểm trợ không qua lời nói mà rất thầm lặng, kín đáo và sâu. 

Cho nên qua thời gian, sư em thấy ai cũng trở nên dịu dàng và chín chắn. Cái gì cũng cần thời gian để chuyển hóa, để phát triển. Chỉ cần mình có đủ kiên nhẫn, đủ niềm tin và sự tinh tấn, thì rác sẽ nở ra hoa và kết trái mà thôi. 

 

 

Đất mới bây giờ xanh mát và đầy hoa tươi thắm, một vùng cỏ cây chen đá, lá chen hoa ( Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)  rất là ngoạn mục. Không gian thênh thang, trời mây lãng đãng, về đây tự nhiên ai cũng trở thành thi sĩ và nhạc sĩ mà không cần cố gắng. Thiên nhiên đất trời tự nó đã là thơ là nhạc, mình chỉ cần có mặt ở đó để thưởng thức và được nuôi dưỡng. 

Sống được những gì Bụt dạy trong đời sống hàng ngày, sư em thấy tình thương tức thì được biểu hiện một cách tự nhiên, và mình thấy được tình thương luôn có mặt trong mỗi người mỗi vật chung quanh. Mình tu tập là để tiếp tục chăm sóc tưới tẩm cho tình thương đó luôn được bồi đắp và phát triển, không để nó trở nên héo hắt khô cằn. 

Mưa pháp mưa tình thương luôn làm cho sự sống nảy mầm tươi tốt.

Sư em thật hạnh phúc và tràn đầy biết ơn. 

 

Huyền thoại một chuyến đi

 

Thầy Chân Pháp Nguyện 

Ngày được thông tin về tình hình sức khỏe của Thầy đang trên đà xuống dốc, anh em tôi tranh thủ sắp xếp công việc để về có mặt bên Thầy. 

Chuyến bay hồi hương 

Tất cả các chuyến bay dân sự và thương mại quốc tế không được phép hoạt động trong thời gian đại dịch Covid-19, nên bốn anh em tôi từ tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan được Đại sứ quán Việt Nam ở Bangkok sắp xếp cho đi chuyến bay ‘hồi hương’ giải cứu đồng bào Việt Nam đang bị kẹt tại Thái Lan. Chúng tôi được thông báo chuyến bay sẽ hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất và sau đó sẽ được xe chuyển về cách ly tại trại quân đội ở Cần Thơ. 

Tại cổng bay, nhân viên hàng không phát cho mỗi hành khách một bộ dụng cụ phòng chống dịch Covid-19. Họ bảo: “Quý thầy mặc đồ này vào trước khi lên máy bay”. Tôi mở bao dụng cụ ra thì thấy trong đó gồm có: một bộ đồ phòng chống dịch màu xanh, một cái khẩu trang, một đôi găng tay và một cặp mắt kính bảo hộ. Tôi nhìn quanh thì thấy ai cũng tháo ra mặc vào. Thấy thế anh em tôi cũng làm theo. Mặc bộ đồ này cho tôi một cảm giác như là một phi hành gia và tôi đang chuẩn bị đi qua một hành tinh khác. Tiếp theo đó là những cảm giác nóng nực, khó chịu, v.v… Nghĩ đến những người phi hành gia phải mặc những bộ đồ còn cồng kềnh khủng khiếp hơn, thì tự nhiên bao nhiêu nóng nực, khó chịu trở nên lắng dịu. 

Chuyến bay VN 604 của hãng hàng không Vietnam Airlines bắt đầu khởi hành từ sân bay quốc tế Suvarnabhumi (Bangkok, Thái Lan) vào lúc 12:20 chiều, ngày 01 tháng 10 năm 2020. Chuyến bay gồm có 290 hành khách và tất cả đều mặc đồ đồng phục màu xanh bao phủ từ đầu cho đến chân, kể cả cặp mắt và cái miệng. Những người tiếp viên hàng không cũng không ngoại lệ. Không ai nói chuyện với ai. Tất cả đều chìm trong im lặng. Tôi thầm nghĩ đây là chuyến bay đầu tiên thực tập im lặng hùng tráng tuyệt đỉnh. Đúng 2 giờ 5 phút chiều, máy bay hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

 

 

Chuyến xe ân tình 

Xuống tới lầu dưới, có một vài người vì quá nóng nên đã tháo bộ đồ phòng chống dịch ra. Thấy thế một anh nhân viên tiến tới nhắc nhở mọi người không được cởi đồ và khẩu trang ra cho đến khi về tới trại cách ly. Nhìn ra, tôi thấy sáu chiếc xe buýt lớn đang chờ sẵn ở phía ngoài cửa hông của phi trường quốc nội. Có một anh hài hước nói rằng: “Ôi! Có một chiếc xe buýt nhìn giống như xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’ của thập niên 70”. Chúng tôi xếp hàng từng nhóm lên xe buýt. Tới phiên anh em chúng tôi là đúng chiếc xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’. Anh em tôi cười ríu rít! Tôi vui miệng nói đùa: “Đây là duyên của mình”. Đặc điểm của chiếc xe buýt này là không có máy lạnh và tất cả các cửa sổ đều được đóng lại và dán kín băng keo. Tôi thầm nghĩ bụng: “Nếu có một con Covid-19 nào trên xe thì cũng đừng mong mà tẩu thoát”. Tôi hỏi chú tài xế từ đây về trại cách ly ở Cần Thơ khoảng bao lâu. Chú bảo: “Mình về Đồng Nai”. Lúc này tôi mới biết Đồng Nai là nơi mà chúng tôi sẽ được cách ly. 

Trước đoàn xe buýt là một chiếc xe gíp do hai chú cảnh sát giao thông dẫn đường và phía hông là một chiếc xe mô tô do hai chú cảnh sát giao thông khác thổi kèn hộ tống. Đoàn xe vừa chạy vừa thổi kèn báo động, nên xe nào cũng phải tránh ra. Không khí tưng bừng nhộn nhịp như đưa đón tổng thống! Có một người hành khách bảo rằng: “Le quá! Mình được hộ tống như tổng thống Obama”. Một người khác nghe vậy rồi hài hước đáp rằng: “Không đâu, hộ tống Covid đó!”. Tôi ngồi im lặng mà thầm biết ơn chú tài xế và chiếc xe buýt rất nhiều. Chú tài xế lái xe rất chuyên nghiệp với nhiều bình an. Tôi nghĩ việc lái xe thì không khó, nhưng để làm một người tài xế bình an đưa những người có khả năng bị nhiễm Covid-19 đòi hỏi tình thương và sự can đảm. Một công việc ít ai muốn làm vì nó mang nhiều mạo hiểm. Trong khi đó thì chiếc xe buýt tuy trông rất cũ kỹ nhưng lại rất chung tình. Tôi thầm niệm đây là chiếc xe ân tình chứa đầy tình thương đưa người về chốn bình an, trong đó có sự giãn cách bất an và lo lắng. 

Tình người trong trại cách ly 

Chúng tôi may mắn được xếp ở chung với nhau cùng tám người khác. Trong đó có ba thầy từ truyền thống khác và năm người cư sĩ nam. Trại cách ly được chia ra thành hai khu vực, một bên nam một bên nữ. Mỗi phòng có khoảng từ 10 đến 12 người ở chung. Đây là Trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI, nên hạ tầng cơ sở được thiết kế theo kiểu quân đội. Trại gồm có bốn tòa nhà tập thể thiết kế theo mô hình chữ nhật, ở giữa là sân thể thao. Phòng ốc thì đơn giản chỉ có giường tầng, nhà vệ sinh tập thể, còn phần ăn uống thì có cơm hộp được đặt ở ngoài đưa vào mỗi ngày ba buổi.

Hiện tại, miền Trung đang bị bão lụt, nên thời tiết ở Đồng Nai cũng bị ảnh hưởng. Phần nhiều là ngày nào cũng mưa. Để sống sót được 14 ngày cách ly mà không bị trầm cảm thì phải có một biện pháp nuôi dưỡng chung. Nếu không thì suốt ngày chỉ biết nằm ngồi trên giường. Để cho căn phòng được ấm cúng hơn, anh em tôi quyết định sắp xếp lại căn phòng. Chúng tôi dời vài cái giường tầng lại gần với nhau để tạo thêm không gian ở khoảng giữa làm nơi ngồi chơi uống trà. May mắn cho chúng tôi là trại cách ly không xa ni xá Trạm Tịch, nên quý sư cô đã thương tình gửi vào cho một chiếc chiếu, năm cái tọa cụ, vài cây nến và một cây đàn ghi- ta. Phía sau nhà có một cái hàng rào với nhiều hoa dại mọc xen lẫn với nhau, thầy Pháp Niệm nhẹ tay hái một bó đem vào cắm trong bình nước và đặt giữa phòng trà. Thế là chúng tôi có được một phòng trà dã chiến ấm cúng hạnh phúc. Đây không chỉ đơn thuần là một phòng trà mà còn là thiền đường, phòng ăn và chỗ giao lưu kết nối nuôi dưỡng anh em tôi trong thời gian ở đây. 

Sau khi vào trại cách ly, chúng tôi mới biết các em thanh niên mà chúng tôi nhìn thấy ở phi trường Bangkok sáng nay là các em đi làm bất hợp pháp ở Thái Lan, nên đã bị giam giữ trong thời gian dịch bệnh. Tổng cộng có hơn 70 em được phép hồi hương kỳ này. Chúng tôi có cơ hội ngồi chơi và trò chuyện cùng các em. Có những em hoàn cảnh gia đình rất đáng thương, phần lớn từ Quảng Bình và Thanh Hóa. Vì kinh tế gia đình nên buộc phải đi qua Thái Lan kiếm sống. Có một em trai chia sẻ: “Ở Quảng Bình không có việc làm, nếu cứ ngồi không thì chết đói cả nhà, nên con qua Thái Lan tìm việc làm để giúp gia đình. Một tháng nếu con gói ghém, không xài, ít nhất con có thể dành dụm gửi về phụ giúp gia đình từ 7 đến 10 triệu đồng”. Tôi hỏi: “Em làm công việc gì ở Thái Lan?”. Em đáp: “Dạ, con giúp việc ở nhà hàng”. Phần lớn các em đến từ gia đình nghèo, ít học, nên công việc chỉ là lao động chân tay. Có em làm thợ hồ, có em phụ vựa rau, nhà hàng, hay bán hàng rong. Một em trai khác chia sẻ: “Cách ly ở đây quá sướng. Ở đây được cho ăn một ngày ba bữa đàng hoàng và có giường ngủ riêng”. Nghe những mảnh đời gian nan vất vả của các em, tôi cảm thấy chạnh lòng thương xót. 

Ngày nào chúng tôi cũng có cơ hội uống trà và ăn cơm chung với nhau ba buổi. Cứ vài hôm thì quý sư cô gửi thức ăn vô tiếp tế, nhờ thế mà chúng tôi có cơ hội san sẻ với các em. Một hộp mì gói hay một vài trái quýt, có lẽ không đáng giá là bao nhưng nó chứa đựng tình người. Có một em quê ở Sóc Trăng nói: “Đây là lần đầu tiên con được ở chung phòng với quý thầy. Con thấy năng lượng rất khác. Thật là một phước đức lớn cho con”. Trước khi rời trại, em cúng dường một chút tịnh tài để tiếp tục gieo duyên với quý thầy. Tôi cảm được lòng quý kính Tam bảo và âm thầm hồi hướng công đức cho em. 

Mỗi ngày trong trại tôi tự nuôi mình bằng những pháp môn căn bản như thiền tọa, thiền hành, uống trà, tập thể dục, v.v. Tôi không xem đó là thời khóa mà thấy nó là lẽ sống rất tự nhiên, là thức ăn nuôi dưỡng hàng ngày không thể thiếu. Tuy không gian trong trại nhỏ bé, nhưng tôi cảm thấy đủ thoải mái và hạnh phúc. Tôi tự nhắc mình hai tuần cách ly này là món quà vô giá để nghỉ ngơi. Nhờ thế mà tôi tìm được niềm vui, lấy được sự quân bình, và thấy được nhiều ý nghĩa trong cuộc sống. 

 

 

Về bên Thầy 

Trước cửa thất Lắng Nghe có để vài chai khử trùng, một hộp khẩu trang y tế, và một hộp bao giầy. Vào thời điểm này, đó là quy định trước khi vào thất, mọi người phải khử trùng và mang khẩu trang. Tôi thở ba hơi dài trước khi bước vào thất. Cảnh tượng và không khí trong thất rất thân thương và sống động như ngày nào. Nó cho tôi một cảm giác quen thuộc lạ thường. Tôi rất hạnh phúc vì Thầy vẫn còn đó. Tôi im lặng bước đến, nắm lấy tay Thầy rồi ngồi yên thưởng thức sự hiện hữu của nhau. 

Lần sau tôi trở lại thăm Thầy vào buổi tối. Tôi bước đến xá Thầy, rồi nhấc cái ghế ngồi bên tay trái Thầy, vì Thầy thuận nhìn bên trái. Tôi chắp tay nhìn Thầy, thưa: “Thưa Thầy! Con là Pháp Nguyện. Con đã tới và con đã về bên Thầy đây!”. Tôi quan sát và thấy rằng tuy Thầy yếu nhưng vẫn tỉnh táo, đặc biệt là đôi mắt rất trong. Sau thời gian ngồi thở trong im lặng với Thầy vài phút, tôi nắm lấy tay Thầy rồi bắt đầu chia sẻ: “Thưa Thầy! Chúng con rất biết ơn sự hiện hữu của Thầy. Hôm nay là ngày 11 tháng 11, đúng sáu năm từ khi Thầy bị đột quỵ. Trong sáu năm qua, Thầy đã từ bi thị hiện để tiếp tục làm chỗ nương tựa tinh thần cho chúng con. Thầy đã cho chúng con rất nhiều thời gian cũng như không gian để trưởng thành, để lớn lên ,và để củng cố sự tu học. Nhờ vào lòng từ bi và đức độ của Thầy, tăng thân của mình bây giờ khá vững mạnh, tứ chúng tu học hết lòng. Con biết lúc nào Thầy cũng thong dong tự tại. Việc cần làm đã làm. Chúng con nguyện đặt hết tâm sức để tiếp tục sự nghiệp của Thầy. Xin Thầy hãy yên lòng!”. Trong khi trò chuyện với Thầy, tôi cảm được hơi ấm từ bàn tay của Thầy như một nguồn năng lượng dâng trào. Thầy nhìn tôi chăm chú với khuôn mặt đầy sức sống và thấm nhuần lòng từ bi như đang gửi gắm một niềm tin trọn vẹn. 

Nhờ Bụt Tổ gia hộ, sức khỏe của Thầy trở nên khá hơn mỗi ngày. Đến lúc này thì tay và chân trái của Thầy đã cử động được khá nhiều mà Thầy thường dùng để biểu lộ cảm giác. Bên cạnh đó, Thầy cũng dùng cặp mắt tinh anh để truyền đạt ý nghĩ của Thầy. Hơn ba tháng qua, có thể nói Thầy đã đủ khỏe để lấy lại chủ quyền của một vị thiền sư. Vì thế, trong mấy ngày này các anh chị em thị giả cũng phải cẩn thận lắm. Nếu không thì sẽ bị “quất một gậy”. Cây gậy của Thầy rất từ bi, nhưng rất hữu hiệu, đó chính là đôi mắt. Chỉ cần nhìn anh em thị giả chúng tôi một cái thôi thì cũng đủ làm cho chúng tôi “hú hồn”. 

Chuyến về Việt Nam thăm Thầy kỳ này, đối với tôi là một chuyến đi huyền thoại, có một không hai. Nó không thể nào có được nếu không có những tấm lòng Bồ tát đứng phía sau giúp đỡ, cũng như những tấm lòng bền sắt tươi son luôn có mặt đó để chăm lo cho Thầy. Tôi xin tri ân đại chúng cũng như những người hảo tâm đã yểm trợ và giúp đỡ chúng tôi có được visa. Chúng tôi nghĩ rằng chuyến này về là để chuẩn bị hậu sự cho Thầy. May mắn thay, con cháu về đông vui nên sức khỏe của Thầy khá lên. Chúng tôi biết tất cả đại chúng khắp nơi trên thế giới cũng đã và đang tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy. Chúng tôi rất biết ơn đại chúng. Theo kinh nghiệm trong thời gian qua cho thấy năng lượng tập thể rất quan trọng. Nếu chúng ta đều suy nghĩ tích cực, hướng về cái thật, cái thiện và cái đẹp thì năng lượng tập thể đó có thể thay đổi được tình hình. 

Tôi đã trải nghiệm và học hỏi được rất nhiều điều trong chuyến đi này từ lúc khởi hành. Ý chí mạnh mẽ của Thầy đã dạy cho tôi một bài học vô giá: dù cuộc đời có bão táp phong ba ra sao cũng đừng vì thế mà bỏ cuộc. Hãy can đảm đứng lên sau khi vấp ngã, hãy can đảm sống thực với lòng mình, và hãy can đảm làm một con người vô sự. 

 

 

Nắng lên rực rỡ ngày khai hội

Sư cô Chân Trăng Khai Hội 

Sư cô Trăng Khai Hội xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế. 

Diệu Trạm, mùa đông 2020 

“Con kính bạch Sư Ông, con là Chân Trăng Khai Hội. Con chính thức là đệ tử, là con của Sư Ông trong gia đình xuất gia cây Hoa Mộc ạ!”. Đã nhiều lần con muốn hô thật to câu ấy để khoe với Sư Ông và cho núi đồi Dương Xuân biết. Nhưng nếu Sư Ông khỏe, chắc Sư Ông sẽ nhắc y chỉ sư của con: “Con nhà thiền sao có người tăng động như thế”, hoặc sẽ dạy con: “Ngồi xuống thở đi con!”. Nghĩ vậy nên con không hô to câu ấy nữa mà làm một việc khác thiền vị và có sự thực tập hơn: viết thư. Con viết thư cảm ơn mọi người thân của con khắp Bắc, Trung, Nam, tiện thể khoe với mọi người về cái tên mới của mình. Sự kiện sinh ra trong gia đình cây Hoa Mộc với 18 anh chị em, được làm con của Sư Ông và tăng thân là một niềm hạnh phúc lớn đối với con. 

Những kỷ niệm, những lần được đảnh lễ Sư Ông, thiền hành cùng Sư Ông là liều thuốc bổ nuôi dưỡng con mỗi ngày. Lúc đầu, con nghĩ niềm vui đó con muốn giữ cho riêng con, vì với ngòi bút vụng về của mình, con chẳng thể diễn tả hết những cảm xúc trong lòng lúc được gặp Sư Ông. 

Ngày con tới ni xá Diệu Trạm, cũng là lần đầu tiên con tiếp xúc trực tiếp với Làng Mai. Nhìn quý sư cô với tà áo nâu, thong dong nơi từng bước chân, con đã “phải lòng” pháp môn. Ngay khi ấy ý muốn xuất gia của con từ lâu được nuôi dưỡng trở lại nên con về nhà thu xếp mọi thứ. Sau hai tháng, con có mặt tại Diệu Trạm để xin tập sự xuất gia. Từ giây phút đó con đã có con đường để đi, có Sư Ông và tăng thân là nơi con nương tựa tu học. 

Con rất thích pháp môn thiền hành. Vào một buổi sáng cuối xuân đẹp trời ngày 28 tháng 3 năm 2020, đại chúng Diệu Trạm vừa thiền hành về thì nghe tin Sư Ông đang thiền hành. Tất cả mọi người từ cổng phụ quay đầu hướng về thất Lắng Nghe. Tuy vẫn bước đi nhẹ nhàng nhưng trong đại chúng có một niềm hân hoan lớn. Con cũng bước đi nhưng quả thực trong lòng có chút vội vàng. Không vội sao được khi chúng con rất ít được trực tiếp gặp Sư Ông và thiền hành cùng Người. Con nhận ra ngay tâm vội vàng của con lúc ấy, cười với chính con và trở về theo dõi hơi thở. Đấy là sự thực tập của con. Chúng con được đi thiền với Sư Ông từ thất ra tới hồ bán nguyệt. Năng lượng bình an của Sư Ông rất lớn, con cảm nhận được khi thiền hành cùng Người. Con thấy trong con không có những lao xao, thấy lòng thật êm ái và nhẹ nhàng. Khi đại chúng dừng lại nghỉ trước hồ Bán Nguyệt, sư cô Định Nghiêm giới thiệu mọi người với Sư Ông, trong đó có các chị em tập sự chúng con. Lần đầu tiên được chính thức đảnh lễ Sư Ông, con hạnh phúc vô cùng! Sư Ông nhìn con thật kỹ, yên lặng và đưa tay trái lên xá chào. Con thấy thật bình an và hạnh phúc. Năng lượng bình an, tĩnh tại của Sư Ông bao trùm tất cả từ không gian, mặt trời, tới gió mây. Nắng hôm đó thật đẹp, mặt trời xuyên qua những tán cây bàng, cây thông tạo ra những tia sáng lấp lánh nhiều màu sắc như hào quang tỏa sáng vậy. Gió thoảng, mây trắng nhẹ nhàng bay như vui với niềm vui của đại chúng.

 

 Một lần khác, đó là ngày an cư thứ 12 trong năm 2020, Sư Ông qua thăm Diệu Trạm. Hôm đó chỉ có các sư bé ở nhà, quý sư cô lớn đã đi Bố tát tại chùa Diệu Hỷ. Sư Ông thăm phòng và sau đó quyết định ở lại dùng sáng. Thị giả dọn bàn ăn của Sư Ông trên hành lang phòng khách. Chị em con trải chiếu và xếp ghế ngồi ngoài sân, cạnh cây Nguyệt Quế, hướng về phía Sư Ông. Mọi người ngồi yên theo dõi hơi thở và ngắm Sư Ông. Khi Sư Ông đưa tay lên quán nguyện, chúng con cũng làm theo. Rồi Sư Ông đưa tay mời mọi người. Con ngồi nhìn cách Sư Ông đưa muỗng lên bằng tay trái rất gọn và từ tốn. Đã lâu lắm rồi đại chúng mới được ngồi gần và thưởng thức bữa sáng cùng Sư Ông nên mọi người cứ mải ngắm mà không chịu ăn. Thế là Sư Ông đưa tay ra hiệu bảo chúng con ăn đi. Cả đại chúng cười vui vẻ và tiếp tục ăn cùng Sư Ông. Ánh mặt trời đã bắt đầu chiếu sáng, hòa cùng niềm vui của mọi người tạo thành một khung cảnh thật đẹp, thật ấm áp. Thỉnh thoảng Sư Ông lại nhìn kỹ từng người, khoảnh khắc đó cũng làm mọi người vui sướng. Lâu lâu Sư Ông lại ra hiệu cho chúng con ăn đi và thế là chúng con ăn hết thức ăn của bữa sáng, ăn tới món chè đậu đen mà tri khố chuẩn bị cho bữa trưa luôn. Bữa sáng vừa được ngồi ăn, vừa được ngồi chơi với Sư Ông thật hạnh phúc. Lúc đó, con đã tự nhắc mình “đây là giây phút hạnh phúc”. Với tất cả sự tôn kính, con thấy Sư Ông là một người ngồi ăn “dễ thương” nhất. Từng muỗng thức ăn đưa lên, Sư Ông dùng rất cẩn trọng. Con có cảm giác việc quan trọng nhất của Sư Ông lúc đó là nâng muỗng thức ăn và nhai rất kỹ, kể cả sữa. Điều này rất nuôi dưỡng con. Sau đó là tiết mục hát cúng dường. Sư Ông lắng nghe chăm chú và khi bài hát kết thúc, Sư Ông đưa tay lên động viên tinh thần các sư con của mình. Khung cảnh đó đã đi vào trong con, nuôi dưỡng tình thầy trò. Con thật biết ơn giây phút nhiệm mầu ấy! 

Còn có những niềm vui nho nhỏ khác bên Sư Ông, nhưng con xin giữ lại để nuôi dưỡng con. Giờ phút này đây trong con dâng lên lòng biết ơn rất lớn. Nếu không có Sư Ông, nếu không có pháp môn thì con đâu có được niềm hạnh phúc lớn lao như ngày hôm nay. Ngày xuất gia, con đã hạnh phúc biết bao, con được gọi Sư Ông là Thầy. Tiếng gọi ấy thiêng liêng và khó diễn tả lắm! Con không biết tả thế nào nhưng nó không giống như con gọi một vị thầy khác. Nó thân thương, gần gũi mà cũng đầy tôn kính. Con biết ơn Thầy và tăng thân đã sinh ra con trong gia đình tâm linh. 

Tôi sẽ xin rằng tất cả

Nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu

Tôi sẽ xin rằng “tất cả”.

Tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam cực độ,

Cả ngài, cả tôi, cả người thiên hạ.

Núi sông, cây cỏ,

Xuôi về, sáng hôm nay, trong duy-nhất nhiệm mầu.

Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau.

Tách ra ngoài đại-thể !

Đã từ lâu, ngàn vạn đời,                                                                           

Chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù an vui.         

Sáng hôm nay em tôi trở về quỳ dưới Phật đài

Mắt đầm đìa lệ.

Ôi ! một  linh hồn đi tìm bến đỗ.

(Hình bóng của tôi xưa,

phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ!)

Hãy để yên cho em quỳ lâu, rất lâu trên Phật điện.

Cho lệ em thầm lặng chảy, cho lệ em mặc sức tràn trề.

Cứ để yên cho quỳ lâu thêm nữa,

Đủ thì giờ cho lệ em khô ráo.

Bởi vì, người ơi, một mai kia,

Tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em ở ven đồi,

Túp lều duy-nhất còn lại của đời em.

Cho lửa cháy lên cao,

Cho tan-hoang tất cả,

Cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã.

Cũng như chiếc bè, trong đại-dương, tan rã.

Để vỏ cứng hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu,

Sẽ vỡ toang. Tràn trề ánh sáng.

Tôi sẽ đợi em, bên ánh lửa hồng cháy rực rỡ của túp lều.

Nước mắt sung-sướng chan hoà,

Tôi nhìn em.

Rồi khi cầm tay em, tôi hỏi rằng: “em muốn bao nhiêu

Tất nhiên em sẽ cười mà  xin rằng “tất cả ”.

Bài thơ này được in lần đầu trong tạp chí Phật Giáo Việt Nam (số 13, rằm tháng tám Đinh Dậu, 1956), cơ quan ngôn luận chính thức của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam do Hoà Thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm và thầy làm chủ bút. Trong Phật Giáo Việt Nam số 16 (ngày rằm tháng 11 Đinh Dậu, 1956) có một bài ký tên Thiều Chi đàm luận về bài thơ này. 

Lê Minh,

Đã hai tháng rồi, chú hứa giảng cho cháu bài thơ đăng ở số 13. Thế mà lận-đận mãi chẳng viết cho cháu được một chữ. Hôm nay, năm gần hết, Tết gần đến, chú cũng muốn làm cho xong công việc mà chú đã hứa với cháu. Để còn sửa-soạn ăn Tết nữa chứ. Để dây-dưa qua sang năm thì có lẽ cả chú cháu ta đều không an lòng. Có phải không hở Lê-Minh?

Tác-giả bài “Tôi sẽ xin rằng tất cả” chỉ mỉm cười khi nghe chú nói đến câu chuyện giảng thơ. Thì cũng như chú đã viết cho cháu trong thơ trước đấy. Giảng thơ là một việc mà các tác-giả không bao giờ muốn làm. Giảng thơ, cũng như “chữa giúp” một bài thơ, đều là những việc làm gượng gạo, máy móc, và có khi tàn nhẫn nữa. Tàn-nhẫn là bởi người ta không thể nào nói cho hết được cái hay sâu-xa của bài thơ, cái hay mà mỗi người chỉ có thể nhận thấy một cách trực-tiếp khi đọc bài thơ ấy. Và như thế là giết chết giá-trị bài thơ. Còn gì mà không tàn-nhẫn. Có khi ta đọc một bài thơ, thấy hay “đến tận xương tủy”, mà nói cái hay ấy ra thì không thể nào nói được.

Vậy hôm nay chú giảng một bài thơ, tức là chú đã gượng- gạo và tàn-nhẫn đấy. Nhưng biết làm sao hơn? Cháu đọc bài thơ, cháu không hiểu, không cảm, và nhất định đòi chú phải giảng cho bằng được. Mà chiều cháu, tức là làm trái ý tác-giả bài thơ. Thôi cũng đành. Nhưng trước hết, chú phải nói rằng những lời giảng của chú chỉ có thể “giúp” cháu nhận được cái hay của bài thơ mà thôi chứ không phải là để “nói” ra cái hay của bài thơ đâu, cháu nhé. Có như thế chú mới không mang tội với tác-giả, và không làm ngược lại với điều mà chú nghĩ.

Giảng một bài thơ đã là chuyện khó, huống nữa lại là giảng một bài thơ đạo. Bởi vì những tình-cảm và những ý-tưởng trong một bài thơ đạo rất khác với những tình-cảm và những ý-tưởng của một bài thơ thường. Trong thơ thường, các thi-sĩ nói lên những buồn nhớ, thương yêu, giận ghét, nói tóm lại, là những tình-cảm rất “con người” của họ. Những tình-cảm ấy, đã là con người (nhất là con người phàm-tục chúng ta) ai cũng có. Và vì vậy, mỗi khi chúng ta đọc thơ của họ là chúng ta thấy rung-cảm ngay.

Chúng ta sống với những tình-cảm mà thi-sĩ đã sống: tâm-hồn chúng ta đã được rung-động theo chiều-hướng rung-động của tâm-hồn thi-sĩ. Thi-ca đã tác-động được trên tâm-hồn chúng ta, vì thế mà chúng ta thấy cái hay. Tóm lại, ta cảm được nghệ-phẩm là vì ta rất gần nghệ-sĩ. Khi ta mang một tâm-trạng u-buồn chẳng-hạn, ta sẽ nghe thấy tiếng tiêu buồn-bã hơn ngày thường. Nhưng giá ta đang vui (như khi cháu được tin thi đỗ chẳng hạn) ta sẽ thấy tiếng tiêu ấy không còn buồn bã như thế nữa.

Cháu bảo rằng cháu không thấy bài thơ ấy hay, vì bài thơ ấy không gây được rung-cảm trên tâm-hồn cháu. Đúng như thế. Nhưng không phải vì cháu không rung-cảm mà cháu có thể nói rằng bài thơ kia thiếu mất yếu-tố tình-cảm. Không! Đối với chú, tình- cảm bài thơ ấy rất dồi-dào. Trong một bài thơ đạo, tình-cảm không phải là những thứ tình- cảm đau khổ vui buồn nặng-nề và phàm-tục. Tình-cảm ở đây là những tình-cảm siêu-thoát, an-lạc, mà chỉ những tâm-hồn thanh-tịnh mới cảm thấy được. Mang một tâm-hồn trĩu- nặng những tình-cảm thế-nhân mà đọc thơ giải-thoát thì làm sao mà rung-cảm, mà nhận được cái hay, hở cháu?

Cho nên người xưa rất thận-trọng trong việc đọc thơ. Họ đọc thơ cũng như đọc kinh. Trước khi xem một bài thơ, có người đã ăn chay ba bốn hôm, tắm rửa sạch-sẽ. Họ ngồi bên án-thư, đốt trầm lên cho không-khí thanh-khiết mới bắt đầu thưởng-thức bài thơ. Bao nhiêu hận-phiền lắng xuống. Tâm hồn họ lúc bấy giờ đã thanh-thoát lắm rồi. Như thế họ mới mong tiếp-nhận những tình-cảm siêu- thoát mà thi-nhân trang-trọng gửi cho họ. Giọng ngâm thơ có thể biểu-lộ một phần nào tính-cách siêu-thoát của những tình cảm trong thơ. Cháu có nghe người ta ngâm thơ trên các đài Phát-thanh đấy chứ? Cháu có thấy giọng ngâm nào cũng buồn, và nếu không buồn thấm-thía thì cũng buồn xa-vắng mênh-mông không? Đấy! Không buồn thì không hay, bởi vì chính tình-cảm của các tác-giả đều là những tình-cảm thế- nhân, nặng-nề, sầu đau ngàn kiếp. Thơ mà cứ một hướng đi như thế, chả trách có người đã bảo chất thơ là một chất sầu-não ma-túy, làm héo hắt tâm hồn con người.

Cũng bởi vì vậy mà chú ít ưa nghe những bản-nhạc sầu đau, những giọng thơ lâm-ly thống thiết. Nghe những thứ ấy, tâm hồn của chúng ta phải trở về sống với những tình cảm sầu đau, biết bao giờ vươn lên để sống trong thế-giới của tình-cảm siêu-thoát cho được? Hôm nào cháu ít việc, cháu thử lên chùa Báo-Quốc nhờ một thầy ngâm cho nghe theo điệu nhà Thiền một vài bài thơ ngày xưa, như bài “Vô biên phiền não đoạn” hay bài “Tào khê thủy” chẳng hạn. Cháu sẽ thấy giọng ngâm rất lạ kỳ, và nhạc-điệu mang rất nhiều màu-sắc giải thoát, siêu việt. Lối ngâm thơ ấy rất khó tập, chú bắt chước mãi mà hiện giờ mới chỉ tạm ngâm được thôi. Chính nhạc-sĩ Nguyễn-hữu-Ba đã nghiên-cứu kỹ-lưỡng về giọng ngâm ấy, và cũng công nhận là rất khó. Đôi khi phải tập nghe hằng năm cho quen tai mới bắt chước được đấy, cháu ạ.

Sở dĩ điệu ngâm khác hẳn giọng ngâm mà cháu thường nghe bởi vì có như thế mới diễn tả nổi những tình cảm siêu-thoát trong thơ. Mà trong khi nghe, chúng ta phải lắng lặng tâm tư, đem hết năng-khiếu của chúng ta ra để mà trực nhận. Hơn thế nữa, chúng ta phải biết sống với đời tâm-linh thanh-thoát. Phải thường thường gạt bỏ những mầu sống tình cảm thấp kém, để tập sống với những tình cảm cao thượng, giải-phóng. Có như thế, tâm hồn ta mới thanh- thoát, và có như thế ta mới trực-nhận được những tình cảm siêu-việt của bài thơ. Cháu không có rung cảm khi cháu đọc một bài thơ bởi vì cháu cách xa với tác-giả bài thơ quá. Nếp sống tình cảm của cháu còn cách xa nếp sống tâm-linh sâu xa của tác-giả quá. Cho nên, không có sự thông cảm, không có sự đồng thanh tương-ứng. Cháu “ghét” bài thơ là phải. Cháu bảo: “Cháu có cảm tình với tác-giả TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU bao nhiêu, thì nay cháu lại có ác-cảm với tác giả bài thơ kia bấy nhiêu.” Nhưng cháu có hiểu đâu rằng “Tiếng Địch Chiều Thu” phản chiếu một nếp sống tình cảm chưa lấy gì làm siêu-việt, vì thế rất gần với nếp sống tình cảm của cháu. Trong khi ấy, bài kia là một sản-phẩm gần đây của tác giả, lại phản chiếu một nếp sống tâm-linh giàu có và thanh thoát hơn nhiều. Giữa hai tác phẩm: một thời gian gần mười năm! Trong mười năm, tác-giả đã đi từ một nếp sống tình cảm tầm thường đến một nếp sống thanh-tịnh giải-thoát.

Đó chỉ là nói chuyện tình-cảm trong thơ. Nhưng thơ không phải chỉ là tình cảm. Thơ còn là hình bóng (images) nữa. Thơ mà không có hình bóng thì không còn vẻ đẹp. Những bài thơ hay tự cổ chí kim đều là những bài thơ mang đầy những hình bóng đẹp. Cháu đọc nhiều thơ chắc cháu đã nhận thấy như thế. Chúng ta thử đọc hai câu sau đây của Nguyễn-Gia- Thiều:

Sóng cồn cửa biển nhấp-nhô
Chiếc thuyền bảo ảnh lô-xô mặt ghềnh

Cháu có thấy đó là một hình bóng tuyệt- đẹp và tân-kỳ không? Qua hình-bóng đẹp ấy, chúng ta lại trực-nhận ngay được tính cách vô thường mong manh của cuộc đời. Đấy, những câu thơ như thế là những câu thơ hay; tác giả đã thành công. Nhưng trong một bài thơ đạo, hình bóng sẽ là những hình-bóng siêu-việt và linh-động hơn. Ta phải lột bớt những lớp màng mỏng trong con mắt ta thì mới nhận được những hình bóng linh diệu đó. Chú đã đọc nhiều bài thơ của các Thiền gia đời Lý đời Trần, đọc với một tâm hồn thanh-tịnh. Mỗi lần đọc là mỗi lần khám-phá. Có những hình bóng mà ban đầu chú đã không có thể nhận ra. Cháu thử đọc vài câu xem:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Nhật nguyệt bao hàm giới tử-trung.

Dịch:

Càn khôn rút lại đầu lông xíu

Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.

                                        (Ngô-Tất-Tố)

hay

Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận,

Liên phát lô trung thấp vị can.

Dịch:

Trên núi, ngọc thiêu màu vẫn nhuận,

Trong lò sen nở sắc thường tươi.

(Ngô-Tất-Tố)

Những hình bóng đó có thể không là gì hết đối với cháu, nhưng đối với chú lại là những hình-bóng tuyệt-kỳ. Cháu có nghe nói đến hình bóng “cành mai” của Mãn- Giác thiền-sư không? Đấy, đó cũng lại là một hình bóng của lối thơ giải-thoát. Nếu cháu chịu khó đi sâu vào đời sống tâm-linh nội hướng, cháu sẽ khám-phá được nhiều mới lạ khi cháu đi vào trong nền văn-nghệ đạo học. Chưa chừng cháu sẽ có thể “đạt” hơn chú, và khám-phá nhiều hơn chú. Nhưng thôi, ta nói chuyện cũng đã lâu rồi, mà bài thơ thì chú chưa đề cập gì tới. Chú không tự- hào là đã hiểu và đã cảm được toàn thể bài thơ. Chú chỉ diễn tả một phần nào cái hiểu và cái cảm của chú mà thôi. Nếu những lời chú nói mà có thể làm cho cháu hé thấy một phần nào cái hay của bài thơ thì như thế chú cũng đã thành công vậy.

Bài thơ mà chúng ta đang nói đến đây, theo chú, đã có đủ hai yếu-tố để thành-công: đó là tình-cảm và hình- bóng. Chú đã nói cho cháu nghe qua quan-niệm về thi-ca của chú. Nhờ vậy, có lẽ chú sẽ diễn-bày nhận-xét của chú một cách dễ-dàng hơn.

Tác-giả bài thơ “Tôi sẽ xin rằng tất cả” đã muốn diễn-tả một trực-giác nội-tâm. Trực-giác nội-tâm ấy, nếu chúng ta miễn- cưỡng mà nói, là sự thể-nhận cái Ta rộng lớn và bao trùm tất cả vạn loại hữu-tình vô- tình. Cháu có thấy bài thơ chia làm hai đoạn rõ-ràng đấy không? Đoạn đầu trình-bày trực- giác đó, và đoạn kế tiếp là đoạn diễn-tả. Nếu đọc kỹ, cháu sẽ thấy đoạn sau này rất giàu hình-bóng và tình-cảm.

Chúng ta từ lúc sinh ra, ai nấy cũng đều mang theo một thứ trực-giác sai-lầm (nhà Phật gọi là tợ – hiện – lượng): đó là trực-giác ngã – chấp. Chúng ta tự tách riêng ra khỏi đại-thể bao-la, tự xem mình là một cá- thể biệt-lập, một cái Ta trường cữu bất biến. Thứ trực-giác sai lầm ấy là nguyên-nhân cho tất cả những tham vọng, ích kỷ và khổ đau. Đã có một cái Ta biệt lập (Ngã) cố nhiên cũng phải có những vật sở-thuộc của cái Ta ấy (Phi Ngã). Thế là đã có một ranh giới phân-biệt cái này và cái kia, ta và người. Ta tham cầu, là tham cầu cho cái Ta nhỏ bé. Ta vui, buồn, thương, ghét cũng là vì cái Ta nhỏ bé. Ta khổ đau cũng vì cái Ta nhỏ bé. Nếu nhận thức được (một cách thực nghiệm) rằng cái Ta nhỏ bé chỉ là giả-ảnh, ta sẽ thể nhập vào cái Ta rộng lớn tức là cái đại thể.

Nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu
Tôi sẽ xin rằng “tất cả ”.

Đó là lối diễn tả. Nếu không muốn “tất cả”, tức là đã muốn một phần. Mà muốn một phần, tức là còn chấp có Ta và những cái thuộc về Ta, nghĩa là còn phân biệt những ranh giới ảo-vọng. Xin rằng “tất cả”, có nghĩa là nhận thấy mối liên lạc mật thiết giữa mình và muôn loài, hơn nữa ,là nhận thấy vạn vật là những hiện tường diệu dụng cùng chung bản thể nhiệm mầu:

Tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam tột độ,
Cả ngài, cả tôi, cả người thiên hạ.
Núi sông, cây cỏ,
Xuôi về sáng hôm nay, trong duy nhất nhiệm mầu.

Tham lam” ở đây không còn có nghĩa là tham lam nữa. Bởi vì trong đại thể duy-nhất làm gì còn có Ta và cái phụ thuộc vào Ta để mà tham lam. Cực-độ của sự tham lam chính lại là sự chấm dứt của tham lam vậy. Tất cả đều là cái Ta rộng lớn thì ngoài ra còn có gì nữa mà để tham lam? Cái tiểu-ngã đã về hợp nhất với đại-ngã. Nếu chưa trở về thì vẫn còn là những mảnh riêng biệt, khổ đau:

Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau
Tách ra ngoài đại thể !
Đã từ lâu, ngàn vạn đời,
Chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù an vui.

Có phải cháu đã thắc mắc nhiều về những tiếng “ngục tù an vui” không? CÓ gì là khó hiểu đâu. Cháu nên nhớ rằng chúng ta, bất cứ là ai, bao giờ cũng muốn có một chỗ nương tựa, về tinh thần cũng như về vật chất. Về tinh thần, chúng ta mong muốn có một tình yêu bền chặt, một uy thế, một cái danh. Nhưng tất cả đều phờ phỉnh, đều vô thường, đều phản bội ta. Chính chỗ nương tựa cuối cùng của bao nhiêu người là sự nương tựa vào một đấng Tạo hoá cũng lại là mong manh, dễ đổ. Vì sao? Vì tất cả đều được xây dựng trên tư dục, trên ước mong. Về vật chất, ta lại càng thấy rõ. Tiền tài, sắc đẹp, là những thứ không thể nương tựa. Tất cả đều là những vô thường, phờ phĩnh, dối gạt. Ta nương tựa trên nó (nghĩa là nương tựa ngay trên dục vọng của chính ta) thì có ngày ta sẽ khổ đau, vì tất cả những thứ mà ta dựa nương đó, dù là tinh thần hay vật chất, đều là những thứ phải có ngày tan vỡ.

Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, chúng ta đã đi tìm một chỗ nương tựa cho bản thân ta. Bao nhiêu lần chỗ nương tựa tan rã là bấy nhiêu lần ta khổ đau sầu hận. Chỉ vì một nguyên nhân duy nhất: đó là vọng chấp hữu-ngã. Ta đã đi tìm toàn những chỗ nương tựa giả trá phờ phĩnh và tưởng rằng đó là những chỗ an vui của ta. Cứ như thế, ta loanh quanh luẩn quẩn mải với cuộc đời tư dục, không thoát ra ngoài được. Đó là một chốn ngục tù: ngục tù của dục giới. Lại cũng là ngục tù của bản ngã: cái vỏ cứng mà ta tự bọc mình vào chính là cái vỏ tự ngã ngăn cách ta với thế giới đại thể. Bao giờ ta thoát được vỏ cứng ấy, bao giờ ta không còn tìm những chỗ nương tựa an vui giả trá nữa, ta sẽ hoà mình vào với đại thể bao la.

Sáng hôm nay, em tôi trở về quỳ dưới phật đài
Mắt đầm đìa lệ.
Ôi! một linh hồn đi tìm bến đỗ
(Hình bóng của tôi xưa,
phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ!)

Hình ảnh của “người em” tức là hình ảnh của một con người đã bao nhiêu phen khổ đau vì cuộc thế vô thường. Đó là một con người, như muôn triệu con người khác, đã buồn đau sau bao nhiêu cuộc biến thiên, đã luống công tìm một nơi nương tựa lâu dài. Tất cả những nơi nương tựa căn cứ trên dục vọng mê lầm đều đã theo luật vô thường tan rã. Trong sự khổ đau vô biên của tâm hồn, con người chỉ biết quay về tìm sự an ủi vỗ về của tín  ngưỡng. Hình bóng của một con người mắt đầm-đìa-lệ trở về quỳ dưới Phật đài, cũng là hình bóng của một chiếc thuyền rã rời đi tìm bến đỗ. Đó cũng có thể là hình bóng của chính chúng ta, và của tác giả ngày xưa:

(Hình bóng của tôi xưa,
phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ !)

Chúng ta hãy để yên cho người ta khóc! Nước mắt sẽ làm dịu bớt nỗi khổ trong lòng. Tín ngưỡng, tuy chưa phải là yếu tố tối hậu của giải thoát, nhưng là một thứ thuốc nhiệm mầu làm dịu bớt khổ đau:

Hãy để yên cho em quỳ lâu, rất lâu trên Phật điện.
Cho lệ em thầm lặng chảy, cho lệ em mặt sức tràn trề.
Cứ để yên cho quỳ lâu thêm nữa,
Đủ thì giờ cho lệ em khô ráo.

Biết bao nhiêu người đã tìm được sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Nhưng dù sao, tín ngưỡng vẫn là một phương tiện. Ở những tôn giáo thần truyền, tín ngưỡng đóng vai trò giải phóng con người. Ở đạo Phật, tín ngưỡng chỉ là tín ngưỡng. Tín ngưỡng cần thiết cho mọi chúng ta, những con người yếu đuối. Tín ngưỡng để bớt khổ đau, để chữa lành những vết thương tâm hồn mà ta đã mang lấy từ muôn ngàn kiếp khổ. Nhưng một ngày kia ta sẽ lành mạnh. Và có thể ta lại nối kiếp phiêu lãng tử sinh.

Nếu đã nhận thức được cái khổ của cuộc sống bồng bềnh phiêu dạt, ta sẽ không còn muốn trở về với kiếp đau khổ luân hồi. Ta sẽ tìm đường giải thoát. Nhưng giải thoát không phải chỉ là tìm kiếm sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Không! nếu tín ngưỡng là một phương tiện, thì mãi mãi nó vẫn là một phương tiện… Không thể để cho người ta an tâm trú ẩn trong túp lều phương tiện đó:

Bởi vì, người ơi, một sáng mai kia,
Tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em ở ven đồi,
Túp lều duy nhất còn lại của đời em.

Đấy, bao nhiêu kiếp khổ đau, rốt cuộc người ta đã rời bỏ tất cả những nơi nương tựa phĩnh phờ: chỗ nương tựa cuối cùng chỉ là một túp lều tín ngưỡng. Nhưng không lẽ để người ta an trú mãi trong túp lều nghèo khổ và tiêu cực đó. Cuộc đời đại ngã, không khổ đau, không ước vọng. Thời gian ẩn náu trong túp lều tín ngưỡng đã giúp người lành mạnh. Người đã đủ sức trở về. Chỉ cần một biến động cuối cùng, một sự khai ngộ để đưa người về cuộc sống. Túp lều sáng nay đã cháy và chỗ nương tựa cuối cùng tan rã.

Cho lửa cháy lên cao,
Cho tan hoang tất cả,
Cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã,
Cũng như chiếc bè trong đại dương tan rã.
Để vỏ cứng của hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu
Sẽ vở toang. Tràn trề ánh sáng.

Nếu cháu có đọc những sách thiền học, cháu sẽ thấy lối khai thị nhiệm mầu của các vị Tổ sư khi truyền tâm ấn. Còn gì hoảng hốt cho bằng khi thấy chiếc bè chở mình tan rã giữa đại dương? Còn gì khổ đau bằng khi chỗ nương tựa cuối cùng của mình tan rã? Sự hỗn độn ấy gây nên một trạng thái khủng hoảng. Ở đây không phải là một sự khủng hoảng thất bại mà là một sự khủng hoảng trưởng thành, một sự khủng hoảng vỡ da (crise de croissance), một sự thoát hình. Sự hỗn độn ở đây, vì vậy, là một sự hỗn độn nhiệm mầu. Và chính trong sự  hổn độn nhiệm màu ấy, vỏ cứng của bản ngã tan vỡ.

Dấu chấm sau chữ “toang” diễn tả sự đột biến một cách tài tình. Tiếp ngay đó là một kết quả rực rỡ tràn trề ánh sáng.

Bây giờ đây là một cảnh tượng đẹp đẽ, oai hùng và cảm động, cảnh tượng của thành công:

Tôi sẽ đợi em, bên ánh lửa hồng cháy rực của túp lều,
Nước mắt sung sướng chan hoà,
Tôi nhìn em

Những con người vừa được cởi mở bỗng nhiên đẹp hẳn lên bên ánh lửa hồng rực rỡ của chiếc lều bừng cháy. Hình ảnh tàn tích của bao nhiêu kiếp sống vô minh như đang bị thiêu đốt tan tành theo túp lều tranh cùng với những mảnh vỏ vỡ toang của bản ngã. Nước mắt ở đây không còn là thứ nước mắt sầu đau. Cái nhìn ở đây không còn có lời gì mô tả. Còn nói năng gì được trong cảnh tượng hùng vĩ của giờ giải phóng. Cái nhìn ở đây cô đọng và mênh mang, chứa đầy những ý nghĩa mà ngàn vạn lời nói đi nữa cũng không thể nào diễn tả cho được:

Nước mắt sung sướng chan hoà,
Tôi nhìn em

(Đến đây, ta trở về với ý tưởng đoạn đầu, ý tưởng của sự trực nhận đại ngã:)

Rồi khi cầm tay em tôi hỏi rằng “em muốn bao nhiêu
Tất nhiên em sẽ cười mà xin rằng “tất cả”.

Lẽ đương nhiên như thế; con người đã trở về với đại ngã, làm gì còn có ý tưởng phân biệt ra những biên giới mê mờ.

Đọc toàn bài, chúng ta thấy phát ra tự thâm tâm những rung-động tinh-khiết, nhẹ-nhàng. Cháu có thấy một hồn thơ bàng-bạc từ đầu đến cuối bài thơ không? Sự rung-cảm ấy chỉ có thể có khi chúng ta “thấy” được hình bóng và hiểu được ý thơ.

Về phương-diện hình thức, cháu thấy thơ hoàn-toàn tự-do. Tính-cách hạn- cuộc của số câu số chữ sẽ ngăn cản ý thơ rất nhiều. Dùng đến ngữ-ngôn đã là bị hạn-cuộc một từng. Nếu còn bị bó vào khuôn-khổ của số câu số chữ thì làm sao diễn tả những trực-giác nội tâm cho được. Tuy nhiên, đọc kỹ lại, cháu cũng sẽ thấy được âm điệu đặc biệt của lời thơ. Có một vài vần khép lại rất nhẹ. Nhưng tính cách phóng-khoáng thì chúng ta thấy rất rõ.

Cháu viết: “Hay đó cũng là một lối thơ như thơ báo Sáng tạo”.

Không, cháu đừng so-sánh. Thơ họ cứ để mặc họ. Lối thơ đạo đã có từ xưa, và hình- thức hoàn-toàn tự-do. Cháu tìm đọc một vài bài thơ xưa của các thiền-sư hay cứ đọc ngay thơ của Tagore, của Chrisnamurti, của Trang- Chu chẳng hạn, cháu sẽ thấy rõ.

Có lẽ chú đã viết nhiều quá. Nhưng chú vẫn thấy bất-mãn. Hình như chú không nói được gì. Chú đã biết trước như thế, bởi vì giảng thơ quả thật là một việc tàn-nhẫn. Có lẽ đây là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng trong đời chú. Tác-giả bài thơ có cười chú, chú cũng ráng chịu. Trước sau, chú vẫn vì cháu đấy.

Thôi năm hết Tết đến, nợ cháu chú đã trả rồi đấy. Chúc cháu một mùa Xuân mới thanh- tịnh, giải-thoát, và nhớ viết thơ cho chú.

Anh trai và em gái

Cách đây khoảng mười lăm năm, có một cậu con trai gốc Việt sinh ra và lớn lên tại nước Thụy Sĩ, đến Làng Mai vào những khóa tu mùa Hè. Mỗi năm cậu trai trẻ ấy đều đến Làng Mai tu tập cùng với em gái. Cậu ấy có nội kết và không truyền thông được với ba. Cậu rất giận ba cậu vì ba cậu thường hay la rầy và nói chuyện không ôn hòa với mọi người trong gia đình. Mỗi khi cậu làm điều gì sơ ý, thay vì tới hỏi han giúp đỡ và nói vài lời an ủi vỗ về để biểu lộ tình thương và sự chăm sóc của người cha thì ba thường hay la rầy cậu nặng lời. Ông thường la: ”Đồ ngu! Tại sao mày chơi để rồi bị té như vậy?” Cậu không hiểu được tại sao ba lại đối xử với mình như thế. Từ đó cậu trở nên hờn ghét ba và tự hứa với chính mình là sau này lớn lên sẽ không bao giờ hành xử như ba mình. Cậu nghĩ là sau này cậu sẽ làm hay hơn ba: “Nếu có con và nếu con mình có lỡ làm điều lầm lỗi, thiếu cẩn trọng như mình bây giờ thì mình sẽ tới giúp đỡ và an ủi nó thay vì giáng cho nó một câu nặng nề như ba đã đối xử với mình”. 

Một hôm tại chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, trong lúc đang ngồi trông em gái của mình chơi giỡn với một đứa bạn gái khác trên võng. Cả hai đứa đu đưa qua lại trên võng rất khoái chí. Bất chợt chiếc võng bị lật, hai đứa té nhào xuống đất. Em gái của cậu bị trầy trên trán, chảy máu một chút. Thấy vậy, cậu rất giận dữ, định chạy tới la rầy em mình một trận. Cậu định nói: ”Đồ ngu! Tại sao mày vô ý như vậy!” Nhưng nhờ đã biết phương pháp tu tập, cậu lập tức trở về với hơi thở và thực tập đi thiền hành để chăm sóc cảm thọ của mình thay vì tới la em. Cố nhiên lúc đó đã có người tới chăm sóc em gái của cậu rồi. Trong khi đi thiền hành, cậu khám phá ra một điều mầu nhiệm. Cậu thấy rằng mình rất giống ba. Trong cậu có nguồn năng lượng muốn rầy la, muốn trừng phạt giống hệt như ba thường hay la rầy mình. Năng lượng đó cậu cho nó là sự ngu dại.

 

 

Khi người thương của quý vị đang khổ, thay vì đem tâm phiền giận để la rầy, trách móc thì quý vị nên tới an ủi, vỗ về, bày tỏ sự yêu thương, ân cần và nâng đỡ của mình để người kia bớt khổ. Cậu trai trẻ kia nhận thấy trong mình có nguồn năng lượng muốn trừng phạt giống hệt như ba mình. Nhưng cậu đã có khả năng dừng lại kịp thời. Đó chính là tuệ giác, là khả năng nhận diện được cái gì đang xảy ra trong mình và chung quanh mình. Cậu trai trẻ này mới mười bốn tuổi thôi, nhưng cậu đã có khả năng thực tập dừng lại và nhận diện được như vậy rồi. Cậu nhận thấy mình là sự tiếp nối rõ ràng của ba. Cậu đã tiếp nhận năng lượng tập khí muốn la rầy, trừng phạt ấy từ ba. Tiếp tục thực tập đi trong chánh niệm, cậu thấy rằng hạt giống giận trong cậu không thể nào chuyển hóa được nếu cậu không thực tập. Nếu như không thực tập bây giờ thì sau này cậu sẽ trao truyền năng lượng tập khí ấy lại cho con cái cậu. 

Đối với một cậu bé mới mười bốn hai tuổi mà đã có thể thực tập thành công như vậy, thì đó là sự kiện thật phi thường, thật mầu nhiệm. Cậu bé đạt được hai cái thấy chỉ trong vòng mười lăm phút thực tập thiền đi. Cậu nghĩ rằng khi về lại Thụy Sĩ, cậu sẽ chia sẻ cái thấy ấy với ba. Cậu sẽ khéo léo mời ba cùng thực tập thiền đi và thở trong chánh niệm cùng với cậu để cả hai cha con có thể chuyển hóa năng lượng tập khí tiêu cực ấy. Với cái thấy thứ ba, cậu đã làm tan biến cơn giận, nội kết đối với ba. Vì cậu đã hiểu ba cũng chỉ là nạn nhân của sự trao truyền. Có thể ba đã tiếp nhận những hạt giống tiêu cực từ ông nội. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé ấy có khả năng đạt tới cái thấy thứ ba này.

Nếu một em thiếu niên có thể thực tập được như vậy thì chắc chắn là chúng ta đều có khả năng làm được như thế.

Pháp thoại trực tuyến: Bình An Trong Từng Hơi Thở, Bình An Trong Mỗi Con Người

Chúng ta phải làm gì để giúp đem lại bình an cho thế giới trong khi đại dịch Covid – 19 đang lan tràn khắp nơi và là mối lo âu, sợ hãi cho biết bao người trong hiện tại?

Câu trả lời là: Chúng ta phải bắt đầu từ chính tự thân. Chúng ta phải học làm thế nào để chính ta là sự bình an. Ta phải làm cho thân, cảm thọ, tri giác và cách ta suy nghĩ, nói năng cũng có bình an. Nếu ta biết cách làm thì ta sẽ tạo cảm hứng cho người khác cũng làm được như vậy. Và thế giới sẽ được bình an.

Nếu có nhiều căng thẳng, đau nhức trong thân thì ta sẽ không có bình an. Vì vậy ta phải thực tập để làm thư giãn sự căng thẳng và làm dịu đi sự đau nhức trong thân thì ta sẽ có nhiều bình an hơn.

Kính mời đại chúng có mặt và lắng nghe bài pháp thoại của thầy Pháp Dung với chủ đề “Bình An Trong Từng Hơi Thở, Bình An Trong Mỗi Con Người”. Buổi chia sẻ sẽ được truyền trực tiếp từ Thiền đường Thái Bình Dương – Tu viện Lộc Uyển, Làng Mai (Mỹ) vào lúc 19.00 thứ 7 ngày 18.9.2021 (giờ địa phương) vào khoảng 9.00 sáng Chủ Nhật ngày 19.9.2021 (giờ Việt Nam).

Để tham dự lắng nghe buổi chia sẻ qua Zoom, kính mời đại chúng bấm vào ô vàng dưới đây:

Tham dự trực tiếp qua Zoom

Meeting ID: 922 2793 2181

Mật khẩu: langmai

Hoặc theo dõi trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai với đường dẫn sau:

Đạo Bụt đi vào trực tuyến – Mùa an cư 2021 tại Làng Mai, Pháp

Làng Mai, PhápMùa an cư 2021

Chúng con kính bạch Thầy!

Suốt mấy tháng không mưa, chiều hôm nay trời chuyển và có một ít mưa. Mưa cũng sẽ tiếp tục trong tuần này nữa, giống như đất trời cũng chuẩn bị an cư với chúng con.

Tối  ngày 8.9 vừa qua, tại mỗi xóm ở Làng Mai, chúng con đã làm lễ đếm thẻ và kiết giới an cư mùa Thu năm 2021. Chúng con đã mời Thầy, mời Đức Thế Tôn và Bồ tát sứ giả giám trai cùng an cư với chúng con trong ba tháng mùa mưa này. Cảm ơn Thầy vẫn có mặt đó cho chúng con, chúng con hạnh phúc nhiều lắm.

“Hạnh phúc thay được sống

Cùng Tăng đoàn an cư

Thẻ này là chứng tích

Chín mươi ngày công phu.”

Sáng ngày 9.9.2021 đại chúng 3 xóm Làng Mai đã tập trung về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân của Xóm Thượng để làm lễ đối thú an cư. Năm nay, chúng con có ba tuần để chuẩn bị cho khóa an cư nên mọi việc chuẩn bị khá tươm tất. Những công việc như chuyển xóm, chuyển phòng, dọn dẹp trong xóm, họp thời khóa, lớp học đều được thực hiện với rất nhiều niềm vui. Bên cạnh đó chúng con còn thực tập sám hối, thực tập buông bỏ để chuẩn bị thân tâm cho mùa an cư nữa. Năm nay, tại Xóm Thượng, chúng con có một buổi thực tập chia sẻ với nhau về những điều mình muốn thực tập trong suốt 90 ngày công phu. Đó là dịp để mỗi chúng con trở về nhìn sâu vào trong tự thân và đồng thời biết cách nâng đỡ các anh em khác, để cho ai cũng có thể thực hiện được ước nguyện của mình.

Ngoài ra chúng con cũng được ôn lại những điều Thầy đã dạy về mùa an cư.

 

 

An cư là cứu cánh

Khóa tu chính là hạnh phúc chứ không phải là phương tiện để tìm cầu hạnh phúc. “Chỉ quán đả tọa”, chỉ quán đả hành, chỉ quán đả tức. Chỉ cần ngồi, chỉ cần đi, chỉ cần thở là hạnh phúc rồi. Chúng con sẽ thực tập thưởng thức từng ngày chúng con đang có trong khóa tu sao cho có hạnh phúc.

Từ cách thực tập, tổ chức các sinh hoạt cho cư sĩ, xuất sĩ và hướng dẫn thực tập cũng đều sẽ đi về hướng đó. Thực tập, tổ chức, hướng dẫn trong hạnh phúc. Đó chính là sự hòa điệu, là nụ cười, là sự thư thái, bình an.

Khóa an cư này còn có hơn 1000 thiền sinh khắp nơi trên thế giới đăng ký tu học qua mạng chung với chúng con. Những bài pháp thoại vào mỗi chủ nhật sẽ được phát trực tuyến; mỗi tuần có phát trực tuyến một buổi công phu tối, mỗi hai tuần sẽ có pháp đàm, có tụng 5 giới, 14 giới, và vấn đáp. Đó là dịp để chúng con kết nối và hiến tặng những hạnh phúc đến với các bạn thiền sinh.

Công việc chính của người tu

Sau nhiều năm tu học trong Tăng thân, có những học trò của Thầy có khuynh hướng muốn đi vào đời để giúp người, nghĩ rằng trong tu viện quá yên ổn còn khổ đau ngoài kia thì quá nhiều.

Thầy đã trả lời rằng: công việc chính của người tu là chuyển hóa phiền não và như thế khi mình giúp người sẽ sâu sắc hơn.

Chuyển hóa phiền não khó thành hiện thực nếu mình không có khả năng trở về với “xứ sở hiện tại” để làm ra một giây phút của niềm vui, của sự khỏe nhẹ. Cảm nhận được niềm vui sống thì sẽ thấy được những khó khăn rất rõ, có khi nó chỉ là những ý niệm, những lo lắng, sợ hãi.

Thầy đã thực tập và chỉ ra cho chúng con rằng, trong bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào cũng có một vài điều kiện may mắn và chúng con phải tập nhìn cho kỹ vào chút ít điều kiện hạnh phúc ấy để sống và để vượt qua.

Đạo Bụt đi vào trực tuyến

Mười năm trước, Thầy đã dạy chúng con về cách làm Trang nhà Làng Mai theo mô thức một ngôi chùa điện tử, có cổng tam quan, phật đường, thiền đường, trai đường, lầu chuông, tàng kinh các, … Lúc ấy chỉ mỗi pháp thoại của Thầy vào các ngày quán niệm được phát trực tuyến, nhưng giờ đây, tất cả các sinh hoạt đều có thể phát trực tuyến. Mỗi xóm đều có một ban chăm sóc về kỹ thuật và phần đông chúng con có thể sử dụng phần mềm “zoom” cho các sinh hoạt trực tuyến.

 

 

Trong thời gian qua, những trung tâm Làng Mai ở Châu Á cũng đã làm quen với các chương trình sinh hoạt qua mạng. Nhìn một nhóm gần 20 sư cô ở Diệu Trạm học về kỹ thuật cho khóa tu trực tuyến khiến chúng con cảm thấy rất vui. Khóa tu đã quá thành công. Đây thực sự là lúc “đạo Bụt đi vào trực tuyến.” Đại dịch covid đã tạo ra những thói quen thực tập mới: Tham dự thiền tập qua mạng, tụng kinh qua mạng, tụng giới qua mạng, truyền 5 giới, 14 giới qua mạng, vấn đáp qua mạng, các sự kiện khác như: đêm thơ nhạc, lễ bông hồng cài áo, be – in, … cũng đều rất thành công.

Buổi lễ Đối thú an cư cũng đã được tuyền trực tuyến qua mạng cho hơn 1000 thiền sinh đã đăng ký tham dự khóa tu 3 tháng cùng tăng thân ngay tại nhà của họ. Và sắp tới đây, Đại giới đàn “Qua Bờ” cũng sẽ được truyền giới trực tuyến từ Tu viện Lộc Uyển. Việc tổ chức một khóa tu trực tuyến hay một giới đàn trực tuyến cần khá nhiều thời gian nhưng chúng con may mắn vì mình có một Tăng thân, chúng con đã làm chung với nhau trong hai năm qua nên mọi việc đã trở nên dễ dàng hơn.

Chúng con thấy Thầy đã thấy được tất cả những cái này từ trước, chỉ là bây giờ khoa học công nghệ tiến bộ nên việc thực hiện cũng đã thuận tiện hơn. Trước đây chỉ có thể làm qua điện thoại hoặc qua mạng nhưng không có hình ảnh.

Những danh từ mới cũng đã bắt đầu xuất hiện, như: truyền giới trực tuyến, “giới trường trực tuyến”, …, các pháp môn thực tập như pháp đàm, thiền hướng dẫn, cách “tác pháp yết ma” cũng sẽ được học hỏi và hướng dẫn theo một hình thức mới.

Chúng con thấy Tăng thân có khả năng thích ứng và làm mới rất nhanh, đó là nhờ vào tài năng của Tăng thân và ước muốn đem đạo Bụt đi vào cuộc đời trong mọi hoàn cảnh. Chưa bao giờ, chúng con thấy Tăng thân quan trọng như lúc này và sự hòa điệu trong tăng thân có khả năng rất lớn để đem hạnh phúc đến cho mọi người.

Trong kinh Sức mạnh Quan Âm nói rằng:

“Ai nghe danh thấy hình

Mà tâm sanh chánh niệm

Thì thoát khỏi mọi cõi

Đây nói sơ lược thôi.”

Chúng con nhận thấy điều ấy rất rõ ràng trong các chương trình trực tuyến. Rất nhiều thiền sinh đã được nuôi dưỡng và trị liệu qua các khóa tu. Nhờ các khóa tu trực tuyến mà rất nhiều “tri kỷ” của Làng Mai đã có cơ hội tham dự tu học với tăng thân. Có nhiều người đã từng đọc sách, biết đến Thầy qua mấy chục năm nhưng chưa từng đủ điều kiện để về Làng hay tham dự một khóa tu do Làng Mai tổ chức. Khóa tu này xong, họ lại đăng ký khóa tu kế tiếp và cứ thế các khóa tu cứ dần đông lên. Chỉ cần có chánh niệm thì dù tham dự tu học qua mạng vẫn đem lại rất nhiều lợi lạc.

 

 

Năm sau, Làng Mai chuẩn bị bước sang năm thứ 40. Khóa tu này là một cách chúng con ăn mừng ngày Làng Mai 40 tuổi. Mỗi ngày chúng con vẫn đang học hỏi và thực tập những lời Thầy dạy, vì vậy chúng con thấy Thầy vẫn hiện hữu rất rõ nơi đây, trong Tăng thân yêu quý này.

Thầy đã làm chỗ nương tựa rất vững chắc cho tất cả chúng con trong kiếp này và trong rất nhiều kiếp trước, và cũng sẽ trong tương lai nữa phải không Thầy.

Chắc chắn Thầy cũng sẽ hỏi: Trong lúc này, các con có thể làm chỗ nương tựa cho Thầy được không?

Dạ, chắc chắn là được. Chúng con sẽ làm chỗ nương tựa cho Thầy với một Tăng thân hạnh phúc.

“Thầy gửi Thầy nơi Bụt, Thầy gửi Thầy cho con.

Con gửi con cho Bụt, con gửi con nơi Thầy.”

Chúng con thở cùng Thầy,

Các con của Thầy

 

Suối mát nuôi mầm xanh

    Thầy Chân pháp Hải

Đã nhiều lần, tôi nghĩ về chính mình hồi còn là một người trẻ ở Úc với chí nguyện được trở thành tu sĩ. Lúc ấy, tôi đã đi khắp nơi để tìm kiếm một môi trường tu tập thích hợp – một nơi có phương pháp thực tập cụ thể và phù hợp với một người Úc như tôi. Vào thời đó chưa có một nơi như vậy. Tôi đã phải bay một chặng đường dài đến tận Làng Mai, Pháp để được tiếp xúc với những bài giảng có công năng chuyển hóa của Thầy và một. tăng thân xuất sĩ thường trú. Nhờ phước đức của ông bà tổ tiên và sự dễ thương, tử tế của rất nhiều người mà tôi mới gặp được giáo pháp của Thầy, được xuất gia thành một người tu và sống cuộc đời đẹp đẽ này cho đến hôm nay. 

Tháng Hai năm 2020, có một người ở Sydney đã liên lạc với Hội đồng quản trị Làng Mai Úc để xin được cúng dường một mảnh đất trên vùng cao nguyên Blue Mountains nằm ngoài Sydney để làm tu viện. Tình cờ lúc đó, tôi đang ở Sydney để thăm gia đình trong ít ngày. Thấy vậy, thầy Pháp Khâm đã thu xếp để từ Hồng Kông bay sang và cuối tháng Hai, chúng tôi cùng đi tham quan mảnh đất đó ở làng Bilpin. 

Đến nơi, cả hai chúng tôi đều sửng sốt bởi vẻ đẹp thiên nhiên của mảnh đất này. Có đất dành cho trồng trọt, có những hồ nhỏ, thác nước, có các con suối tự nhiên và rừng cây. Mảnh đất này nối liền với một trong những công viên quốc gia lớn nhất ở Úc – Blue Mountains. Khi đại chúng quyết định tiếp nhận sự cúng dường này, mảnh đất đã được đặt tên là Sơn Tuyền – Mountain Spring, để thể hiện sự trân trọng đối với những con suối tự nhiên ở đây.    

Chúng tôi bắt tay vào việc xây dựng trung tâm này với những điều kiện hiện có rất đơn giản nhưng cũng rất vui. Có nhiều thứ để làm, nhưng chúng tôi đặt trọng tâm vào sự thực tập vì cảm thấy điều quan trọng nhất có thể làm ngay lúc này là tạo ra một năng lượng thực tập trên mảnh đất này, để rồi từ nguồn năng lượng đó, mọi thứ sẽ được biểu hiện. 

 

Tôi không thể không nhớ đến lá thư mà Thầy đã viết cho các tăng thân địa phương vào thời tu viện Lộc Uyển được thành lập. Nhân đây, tôi cũng xin phỏng theo để viết lại những lời này, bởi vì tôi tin Thầy cũng sẽ gửi đến chúng tôi những lời động viên tương tự trong thời điểm khởi đầu tạo dựng nơi nương náu này: 

“Kính thưa quý vị!
Dường như Tổ tiên mong muốn chúng ta thành lập một tu viện nơi đây. Chúng ta có thực hiện được điều đó hay không là tùy thuộc vào Tổ tiên và phước đức của tất cả mọi người, dù Phật tử hay không Phật tử, người Việt hay không là người Việt.

Tu viện Sơn Tuyền sẽ là một trung tâm chú trọng vào sự tu học chứ không phải là nơi
gửi người đi tụng kinh cầu an, cầu siêu cùng những hoạt động khác tương tự như thế. Đại chúng cư trú ở đây sẽ là những người đến từ nhiều quốc gia khác nhau, chứ không phải chỉ là những xuất sĩ gốc Việt. Mỗi năm, tu viện sẽ tổ chức một số khóa tu chánh niệm cho những Phật tử gốc Úc châu và gốc Việt trong môi trường lành mạnh này. Các bạn có thể xem nơi đây giống như một trường đại học của trái tim (University of the Heart) vậy. 

Sự có mặt của chúng thường trú chuyên tâm tu học sẽ là niềm vui rất lớn cho các tăng thân trong nước. 

Tu viện Sơn Tuyền sẽ tiếp nhận những người trẻ gốc Việt và Úc nào có mong muốn xuất gia tu học. Tu viện sẵn sàng góp phần vào việc đào tạo, hướng dẫn các thế hệ tiếp theo, để trong tương lai những người trẻ đó sẽ tiếp tục chia sẻ giáo pháp và hướng dẫn thiền tập cho những cư sĩ Phật tử ở Úc. 

Tôi rất mong quý vị sẽ hết lòng giúp đỡ những vị xuất sĩ có mặt ở đây, để ngay từ đầu, chúng ta có thể cùng nhau vượt qua những thử thách mà chúng ta sẽ phải đối diện và tạo nên một nền tảng vững chắc cho tu viện. Bởi vì tu viện thuộc về mỗi người trong quý vị”. 

Trong Nhật tụng Thiền môn có một bài tụng rất hay, trong đó có câu: 

Chúng con được ngồi đây 

Trong phút giây hiện tại 

Bao bọc bởi tăng thân 

Thấy mình thật may mắn.

Ngồi đây trong ánh nắng sớm, tôi thấy thật vui được là một phần trong dòng chảy vô tận này, và được góp phần xây dựng một nơi nương tựa vững chắc, tươi mát cho những thế hệ hiện tại và tương lai. Những hạt giống chúng ta đang cùng nhau gieo trồng lúc này, thực ra đã mang về những hoa thơm trái lành. 

Một trong ba nguyên tắc của tu viện Sơn Tuyền là: “Chúng ta sẽ hoan hỷ sử dụng những gì chúng ta đang có, mà không nghĩ rằng chúng ta phải có thêm cái này hay cái kia, rồi mới có thể phụng sự”. Đây là một sự thực tập rất sâu. Thường thì người ta hay hướng tâm vào những điều kiện hay những cái mà mình không có, và nghĩ rằng vì điều kiện còn thiếu thốn nên không thể thực hiện được những ước nguyện của mình. Ở tu viện Sơn Tuyền, thay vì chú ý đến những gì chưa có, chúng tôi tập trung vào việc hết lòng hiến tặng những gì mà chúng tôi đang có. Có nghĩa là hướng tâm vào những cơ hội thay vì vào những hạn chế. 

Ví dụ như trong thời điểm này, hầu hết những tiện nghi của chúng tôi đều chưa biểu hiện mà chỉ mới tồn tại dưới dạng hạt giống. Thay vì thấy đó là một trở ngại và nghĩ rằng mình cần đợi cho đến khi có một thiền đường hoặc một nhà ăn để tổ chức ngày quán niệm, chúng tôi lại thấy đây là một cơ hội để tổ chức những ngày quán niệm của mình theo cách đơn giản, thân tình giữa thiên nhiên. Giống như quay về với những ngày quán niệm nguyên sơ trong thời gian đầu của dòng tu Tiếp hiện. 

Vì chúng tôi buộc phải giới hạn số lượng người đến dự ngày quán niệm nên đã tạo ra được một năng lượng rất riêng và thân mật. Mỗi ngày Chủ nhật đều khác nhau tùy theo nhóm người tham dự. Nhưng bao giờ chúng tôi cũng bắt đầu bằng một vài phút uống trà chào đón và làm quen với những người mới đến. Sau đó là một pháp thoại ngắn, nêu rõ trọng tâm của những thực tập trong ngày. Tiếp theo, chúng tôi bắt đầu buổi thiền hành yên lặng ngoài trời. Chúng tôi đi vào rừng, giữa những cây xanh, ngắm nhìn thác nước và tận hưởng không khí trong lành. 

Kế đó, chúng tôi thưởng thức ngồi thiền một lúc giữa thiên nhiên, rồi ghé thăm một trong những nơi linh thiêng ở Sơn Tuyền là Deva Springs. Sau cùng, chúng tôi quay về một tảng đá to bằng phẳng để dùng bữa trưa trong chánh niệm giữa thiên nhiên. 

Sau khi ăn trưa xong, chúng tôi lại tiếp tục đi bộ một vòng về lại những khu nhà nhỏ của tu viện và kết thúc bằng một buổi pháp đàm, tụng giới hoặc thực tập sám pháp địa xúc. 

Có một điều chúng tôi ghi nhận là hầu như khi nào thiền sinh đến đây, họ đều khá mỏi mệt, nhưng chỉ sau vài giờ, họ đã trở nên nhẹ nhàng và vui vẻ hơn nhiều. Đó thực sự là một điều kỳ diệu của tu viện Sơn Tuyền. Mảnh đất này nhắc cho chúng tôi nhớ mình thực sự là ai. 

Khi chúng ta chú ý đến những gì mình chưa có, thì rốt cuộc chúng ta cũng chỉ thấy những thứ đó mà thôi. Còn khi chúng ta nhìn vào những cơ hội, để được phụng sự và mở lòng ra, thì chúng ta sẽ trở nên giàu có hơn, cho dù chúng còn nằm dưới những hình thức mà ta không ngờ tới. 

 

Tu viện Sơn Tuyền đã được chào đón nồng hậu bởi cộng đồng địa phương Bilpin. Gần đây, trong bản tin của Bilpin, tu viện Sơn Tuyền được giới thiệu trong phần tin chính với những lời bình luận như: “Chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của quý thầy ở Bilpin và quý thầy đã tạo ra một sự khác biệt lớn. Cảm ơn quý thầy đã có mặt ở đây.”, hoặc “Trước khi quý thầy đến Bilpin, chúng tôi không nghĩ là ở đây cần có một tu viện, thế nhưng, giờ đây chúng tôi nhận ra là chúng tôi đang mong chờ quý vị”. Đó thực sự là tinh thần và nguồn năng lượng mà chúng tôi cảm nhận được ở đây. Chúng tôi thấy như được trở về nhà, trên tất cả mọi phương diện. Chúng tôi đang cắm rễ sâu vào đất đai và con người nơi đây. Đó là một cộng đồng thật tuyệt vời. Và chúng tôi mong muốn có thể hiến tặng lại cho họ điều gì đó. 

Cộng đồng địa phương đã đề nghị chúng tôi dạy những lớp về chánh niệm mỗi tuần trong làng. Mỗi sáng Chủ nhật, thầy Tenzin và tôi dành một giờ để hướng dẫn về cách thực tập chánh niệm ở hội trường Bilpin hoặc ở ngay tại tu viện Sơn Tuyền trước khi bắt đầu ngày quán niệm. Học viên tham dự lớp một cách hào hứng, chân thành và vui vẻ với khoảng 30 người ở đủ mọi độ tuổi, từ 13 đến 85. Họ tạo thành nhóm thiền sinh chủ chốt của tu viện. Họ rất thích pháp môn thiền hành, đến nỗi đã tự lập ra một nhóm tăng thân địa phương tập trung lại mỗi tuần một lần để cùng thực tập thiền hành. 

Những người dân thường ghé qua tu viện để tặng cho chúng tôi khi thì nước táo, một ít rau củ quả, khi thì lại là một thứ đồ đạc gì đó, hoặc giúp chúng tôi làm một vài công việc. Có nhiều khi họ ghé đến chỉ để uống một tách trà và nói chuyện chốc lát. 

Vào ngày thứ Bảy, trong vùng có tổ chức buổi ăn sáng và chợ phiên cho dân làng. Họ đề nghị chúng tôi mở một gian hàng ở đó. Khi tôi nói chúng tôi không có gì để bán cả thì những người dân nói rằng chuyện đó không quan trọng, chỉ cần sự có mặt của mấy ông thầy tu ở Bilpin là đủ. Vì thế, tuần trước chúng tôi đã bắt đầu gian hàng của mình với một vài tấm thư pháp, vài quyển sách cho mọi người mượn và một ít chả giò. Quả là một dịp dễ thương để làm quen với những người địa phương và chuyện trò với họ. 

 

Một nét đặc biệt khác của Bilpin là vào mỗi tuần, tùy theo giới hạn cho phép, có một bữa ăn của cả cộng đồng ở hội trường địa phương. Theo đó, các nhóm và các gia đình trong làng sẽ thay phiên nhau nấu cho tất cả mọi người. Chúng tôi đã nấu một bữa ăn chay theo lời đề nghị của họ và bữa ăn đó đã trở thành rất nổi tiếng. Thực ra, chúng tôi đã đoạt được giải thưởng cho bữa ăn được ưa thích nhất trong năm! 

Bên cạnh đó, quý thầy, một số bạn trong nhóm Wake Up và các bạn trẻ trong vùng đang cùng nhau làm việc tái tạo lại rừng và xây dựng một nông trại hạnh phúc cho tu viện. Đây là một công việc rất vui; dễ thương nhất là thấy được bao nhiêu người dân trong làng cùng đến đóng góp thời gian, công sức, hạt giống và dụng cụ để cùng làm. Khu vườn trở nên rất đẹp và là một nơi nương tựa cho nhiều người. 

Cuối cùng, mỗi buổi tối, chúng tôi còn hướng dẫn tu học qua mạng với tăng thân Compassionate Ocean, với số người tham dự hiện tại là 493 người trên toàn thế giới. Trong bất kỳ thời khóa nào được đưa ra, cũng có khoảng 100 người cùng ngồi thiền, đi thiền, cùng tập thở và thực tập chia sẻ với chúng tôi. Quả là một việc quá tuyệt vời khi xây dựng một tăng thân không mang tính cục bộ (non-local) như thế! 

Dường như những gốc rễ của giáo pháp đang được cắm sâu xuống đất này và bắt đầu nở hoa, một bông hoa nhỏ bé trong khu vườn tăng thân trên toàn thế giới. 

Lễ đối thú An cư kiết thu 2021

Sáng ngày 9/9/2021 tứ chúng Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ đối thú An cư kiết thu. Năm nay, không chỉ có quý thầy, quý sư cô và thiền sinh đang tu học tại Làng, mà còn có hơn một ngàn thiền sinh từ khắp nơi trên thế giới cùng tham dự trực tuyến với Làng trong mùa An cư này.

Mùa an cư hay “mùa yên” là sự tiếp nối truyền thống từ thời Bụt còn tại thế, khi Bụt và quý thầy, quý sư cô mỗi năm đều ở yên tại trú xứ của mình trong 3 tháng mùa mưa. Đây là thời gian để mỗi vị tu sĩ trở về tự thân, nương tựa nơi gia đình tâm linh để đào sâu và nuôi dưỡng Pháp thân bằng sự thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày, và cũng để tiếp nối gia tài của Bụt, Tổ và của Thầy.

Năm 2021 tiếp tục là một năm nhiều biến động và thử thách đối với nhiều quốc gia trên thế giới. Điều đó cũng đòi hỏi chúng ta thực tập quán vô thường, học hỏi để thích ứng, buông bỏ, và chấp nhận thực tế. Đó cũng chính là Tiếng Chuông Chánh Niệm để thức tỉnh chúng ta về tình trạng nguy cấp của Trái Đất. Đất Mẹ đang cần rất nhiều sự chăm sóc, bảo hộ và trị liệu. Nguyện cho sự thực tập của quý thầy quý sư cô trong mùa An cư này là một phần đóng góp để chung tay giữ gìn và nuôi dưỡng Đất Mẹ.

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ, kính mời mọi người cùng thưởng thức: