Mỗi lời là châu ngọc

(Trích trong pháp thoại ngày 16 tháng 12 năm 1993 của Sư Ông Làng Mai dạy về chánh ngữ)

Chánh ngữ tức là lời nói chân chính. Đây là một phép thực tập rất quan trọng. Chúng ta biết rằng chánh tư duy cũng là một hình thức của chánh ngữ, tư duy là loại ngôn ngữ thầm ở trong tâm. Tuy người khác không nghe thấy nhưng trong tâm, ta thường thường vẫn đang nói. Tầm và từ là hai hình thức ngữ ngôn ở trong tâm. Như có một cuốn băng ghi âm phát thanh ở trong đầu mình một cách liên tục, ta nghĩ cái này rồi nghĩ qua cái khác. Tư duy ở trong ta, như con tầm tự giam mình trong kén, lúc nào cũng tự nói mình nghe. Nếu có chánh tư duy thì tầm và từ sẽ soi sáng cho ngôn ngữ và cho hành động, và làm giàu cho chánh kiến. Ngược lại, tà tư duy sẽ làm giảm bớt chánh kiến, đánh mất chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, v.v.. Có những tư duy bị che dấu, thỉnh thoảng tự nhiên ta bật nói ra. Bởi vậy chánh tư duy sẽ đưa đến chánh ngữ. Về tư duy có tầm và từ, còn về chánh ngữ có ngôn và luận. Ngôn tương đương với tầm (vitarka), còn luận tương đương với từ (vicara). Ngôn chỉ là nói, còn luận là có phân tích, chứng minh, mổ xẻ.

 

 

Ái ngữ

Kinh Tạp A Hàm số 785 định nghĩa chánh ngữ bằng cách nêu ra bốn đặc tính: không nói dối, không nói hai lưỡi, không ác khẩu và không nói thêu dệt. Thứ nhất là không vọng ngữ, nghĩa là không nói dối. Vọng là sai. Có nói là không, không nói là có, trắng nói đen, đen nói trắng, nói không đúng sự thật, là vọng ngữ.

Thứ hai là không lưỡng thiệt. Lưỡng thiệt tức là hai lưỡi, với người này nói thế này, với người khác thì nói khác. Đôi khi nói cho vừa ý một người, rồi lại nói khác đi để làm vừa ý một người khác, kết quả là nói lời không đúng sự thật. Cố nhiên cách nói có thể thay đổi cho người ta dễ tiếp nhận, nhưng chánh ngữ là phải nói đúng sự thật.

Thứ ba là không ác khẩu. Ác khẩu tức là nói to tiếng, thô tục, quát mắng, chửi thề, nói lời tạo đau khổ, bực tức, hận thù cho người khác. Có những người tâm rất tốt, không muốn làm hại ai, nhưng khi nói ra thì như châm trích và tàn hại người ta vậy. Đó là khẩu xà tâm Phật. Tuy gọi là tâm Phật, nhưng thực sự bên trong còn có quá nhiều nội kết cho nên cái miệng mới nói lời ác. Nếu có thói quen ái ngữ thì ta sẽ không nói như vậy. Dầu là tâm ta không có ý hại ai nhưng nếu ta bị tập khí ác ngữ miệng ta vẫn gây ra những đổ vỡ. Lời nói có thể làm cho người khác thêm mặc cảm, lời nói có thể làm cho người ta mất hết ý chí, và có khi lời nói có thể làm cho người khác đi tự tử. Khi cha mẹ mắng con: ‘‘Mày là đồ vô dụng, không ra cái tích sự gì cả! Nói như vậy cũng là ác khẩu, vì câu nói đó tiêu diệt niềm tin của em bé, làm cho nó có mặc cảm tự ti. Cho nên tu tập chánh ngữ rất quan trọng.

Thứ tư là không ỷ ngữ. Ỷ ngữ tức là nói những lời thêu dệt. Thêu dệt là vẽ vời ra cho sự việc thêm đẹp đẽ hơn gấp bội, hoặc xấu xa hơn gấp bội. Như nói thế nào làm cho mọi chuyện thê lương hơn, hay mỹ miều hơn, giật gân hơn hoặc hấp dẫn hơn mà không cần đúng với sự thật.

Nhiều kinh điển định nghĩa chánh ngữ là không nói dối mà phải nói lời chân thật, không nói hai lưỡi mà chỉ nói một lời thôi, không ác khẩu mà chỉ nói những lời dịu dàng, không ỷ ngữ, chỉ nói sự thật không thêm không bớt. Khi nói về chánh ngữ, chúng ta trở về với giới thứ tư trong năm giới: “không được nói dối, không được nói để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không được nói lời gây chia rẽ căm thù, không loan truyền những tin mà mình không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều mình không biết rõ. Phải có can đảm nói ra sự thật về những điều bất công, và phải dùng lời nói của mình để thực hiện hòa giải và thương yêu”. Giới thứ tư nhằm duy trì chánh ngữ.

Khi dùng điện thoại, chúng ta có thể thực tập chánh ngữ. Thiền điện thoại không những là phép thực tập chánh ngữ, mà còn thực tập chánh tư duy. Trước khi bấm số, chúng ta thở theo một bài kệ:

Tiếng đi ngoài ngàn dặm, 

Xây dựng niềm tin yêu, 

Mỗi lời là châu ngọc, 

Mỗi lời là gấm thêu.

Lúc bắt đầu thực tập, chưa thuộc những câu kệ, chúng ta viết kệ xuống một mảnh giấy, dán vào chỗ điện thoại. Mỗi khi ta dùng điện thoại ta lại nhìn thấy bài kệ, và bắt đầu tập hơi thở chánh niệm: thở vào đọc câu đầu (tiếng đi ngoài ngàn dặm), thở ra đọc câu thứ hai (xây dựng niềm tin yêu). Thở vào đọc câu thứ ba (mỗi lời là châu ngọc), thở ra đọc câu thứ tư (mỗi lời là gấm thêu). Trong khi thực tập thở ra và thở vào, ta lặp lại lời nguyện ái ngữ, nguyện sẽ nói những lời xây dựng, bồi đắp thương yêu và hiểu biết. Trong lúc đó, ta cũng đang thực tập chánh tư duy, nhờ vậy lòng ta an tĩnh hơn, ta nhìn thấy mọi chuyện sáng rõ hơn. Người bên kia cầm ống điện thoại lên sẽ được tiếp xúc với một con người tươi mát, nghe những lời xây dựng, êm đẹp, không làm họ đau khổ, có thể giúp họ đạt được an tịnh trong giây lát.

Dùng ái ngữ, chúng ta có thể tạo hạnh phúc cho người khác. Lời nói của mình có thể khơi dậy những hạt giống của niềm tin và an vui nơi người khác. Đó là một hành động phát xuất từ tình thương yêu.

 

 

Khi thấy hai người không hòa hợp với nhau, ta có thể dùng lời nói hòa giải để đưa họ tới gần nhau. Quán chiếu vào tâm trạng, hoàn cảnh và nỗi đau khổ của mỗi người, ta có thể luôn luôn tìm ra những điểm tích cực. Nói những sự thật tích cực về người này cho người khác nghe sẽ giúp họ hiểu lẫn nhau. Chỉ cần nói sự thật thôi, khi hai bên hiểu nhau hơn họ sẽ sẵn sàng tha thứ cho nhau, sẽ dễ dàng hoà giải với nhau hơn. 

Như ở Nam Phi, có một cộng đồng da trắng, một cộng đồng da đen thường thù ghét, kỳ thị và chống đối nhau từ lâu. Ta biết rất rõ là cả hai cộng đồng, dù đen hay trắng đều đau khổ, vì cả hai đều sống trong sợ hãi, lo lắng. Người thực tập chánh ngữ trình bày những nỗi khổ đau, sợ hãi, mặc cảm, những ước vọng của cộng đồng này cho người trong cộng đồng kia nghe. Mỗi bên bắt đầu thấy an ninh và hạnh phúc của mình liên hệ tới hạnh phúc của bên kia. Nhờ vậy lòng họ có thể chuyển hóa. Nếu ta đứng về một phe thì sẽ chỉ làm cho tình trạng càng căng thẳng, càng khó khăn hơn.

Muốn thành công trong việc hòa giải ta cần biết nói năng khéo léo. Nhưng bản chất nội tâm của con người hoà giải rất quan trọng. Con người đó cần chứa đựng sự hiểu biết, thương yêu, cần được cả hai bên tin cậy, thì lời nói mới có ảnh hưởng lớn lao hơn. Vì lời nói phát xuất từ chánh tư duy, chánh ngữ, chứ không phải là do mưu mẹo, và những khéo léo bên ngoài mà thôi.

Chánh ngữ là nói sự thật, nhưng sự thật nhiều khi cũng có thể cũng gây ra đau khổ. Cho nên sự thật phải được diễn tả bằng ngôn ngữ khôn ngoan để giúp cho người nghe dễ chấp nhận. Nói một sự thật mà gây tan vỡ và hư hại thì không phải là chánh ngữ. Khi nói phải biết tâm lý, dùng thứ ngôn ngữ thích hợp với người nghe, chọn thời gian và hoàn cảnh thuận tiện, và diễn tả cách nào để họ hiểu được, chấp nhận được, thì mới nên nói.

Vì vậy chánh ngữ cần chất liệu của chánh tư duy, lại cần chất liệu của nghệ thuật nói năng khôn ngoan. Chúng ta phải học hỏi nghệ thuật truyền thông và diễn đạt. Nhưng hình thức khéo léo có nghệ thuật phải chứa đựng chánh tư duy. Nịnh nọt, tán dương, tâng bốc sai sự thật, hoặc chỉ làm tăng thêm ngã mạn của người, đều là tà ngữ.

 Hạt giống của Chánh Ngữ

Không thể hiểu được chánh kiến, chánh tư duy và chánh ngữ nếu không biết rằng tất cả chúng ta đều có hạt giống của những chánh đạo này trong tâm thức. 

Nhắc lại, năm yếu tố tạo thành con người là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành và Thức. Sắc là phần sinh lý. Thọ là cảm giác. 

Tưởng là tri giác. Tri giác gồm có hai phần: chủ thể của tri giác, và đối tượng của tri giác. 

Chúng ta thấy một cái bàn, cái bàn mà chúng ta đang thấy và đang sờ vào là đối tượng của tri giác, của tưởng. Còn tự thân cái bàn có thể rất khác. Đối với một con mọt đang ăn cái bàn thì đó là một kho thức ăn. Cũng một dòng sông, đối với con cá là nhà cửa, là lâu đài của nó mà đối với chúng ta đó là cái nơi để lấy nước tắm và giặt. 

Khi hai người ghét nhau, thì trước hết họ ghét cái đối tượng tri giác, cái tưởng của họ về người kia. Nhưng tự thân người kia so với ý niệm mình có về người kia thường rất khác nhau. Hai kẻ yêu nhau cũng vậy. Người được yêu khác với hình ảnh trong tri giác người đang yêu. (Cưới về ba, bốn năm sau mới thấy được một phần sự thật!). Vậy tri giác có thể rất sai lầm. Ví dụ như ta chụp ảnh cây bồ đề. Nhìn hình ảnh ta thấy cây bồ đề, nhưng đó chỉ là hình ảnh cây bồ đề thôi. Cây bồ đề thật ở ngoài không phải là cây bồ đề in trên phim ảnh. Chánh kiến tùy thuộc vào tưởng. Vì thế luôn luôn ta phải dùng chánh niệm, phải trở về khám phá những thiếu sót, sai lầm của tưởng. Đó là phương pháp duy nhất để cho cái thấy của ta bớt sai lầm, để tăng thêm phần chánh kiến. Chánh kiến mạnh thì tư duy mới vững vàng được.

Uẩn thứ tư là Hành. Hành tức là những hiện tượng tâm lý phát khởi trong ta. Vui, buồn, giận, ghen, thương, ghét, đều là hành. 

Uẩn thứ năm là Thức. Tất cả những cảm thọ và tri giác của chúng ta đều có hạt giống chứa ở trong thức. Thức ở đây phải hiểu là tâm địa, là đất tâm, tức là mảnh vườn trong đó có sẵn tất cả những hạt giống của tâm hành. Chúng ta có hạt giống của tình thương, của sự ghét bỏ, chúng ta có hạt giống của sự trung kiên, hạt giống của sự phản bội. Chúng ta có đủ các loại hạt giống, tốt cũng như xấu. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của chánh kiến. Có chánh kiến, không phải tại vì Bụt trao cho ta, thầy trao cho ta, mà vì chúng ta có sẵn nó trong tâm rồi. Khi chúng ta nói ‘‘Phật tại tâm” là nghĩa như vậy. Tuệ giác đó đã có sẵn ở trong tâm thức của ta. Tuệ giác ấy chỉ cần người hay hoàn cảnh giúp khơi mở ra thôi. Có thể đó là Bụt, là thầy, là bạn, có thể là một nỗi đau khổ cùng cực của ta. Khi ta đau khổ nhiều tự ta cũng có thể khơi mở được chánh kiến.

Ngày Bụt thành đạo, Ngài ngồi thiền suốt đêm. Và buổi sáng tinh sương, nhìn lên thấy sao mai đã mọc, Ngài đạt được quả vị vô thượng chánh đẳng chánh giác (giác ngộ hoàn toàn). Những lời đầu tiên mà Bụt thốt ra chứa đựng một chút ngạc nhiên. Ngài nói: ‘‘Lạ quá, tất cả mọi người đều có tuệ giác trong lòng. Vậy mà đời này sang đời khác, kiếp này sang kiếp khác, con người cứ trôi lăn trong biển trầm luân, khổ ải”. Câu nói của Ngài có nghĩa rằng tuệ giác Ngài đạt tới không phải từ bên ngoài mang vào mà đã từ trong chiều sâu tâm thức phát hiện lên. Hạt giống của trí tuệ, hạt giống của từ bi đều có sẵn trong tâm thức mỗi người.

 

 

Hạt giống chánh kiến ở trong tâm thức ta gọi là giác tánh. Tất cả chúng sinh đều có sẵn giác tánh, nên ta vẫn nói rằng Bụt ở trong lòng. Phật tức tâm là một sự thật có thể chứng nghiệm được, chứ không phải là lý thuyết. Vì nếu không sẵn hạt giống giác tánh thì có tu, có học gì chúng ta cũng sẽ không thành công. Tu học có nghĩa là tạo những điều kiện tưới tẩm cho hạt giống tuệ giác nở ra. Khi hạt giống của chánh kiến nẩy mầm rồi, tự nhiên tư duy sẽ đi vào đường chánh. Càng thực tập chánh tư duy, chúng ta lại càng giúp cho những hạt giống chánh kiến khác nẩy nở thêm. Chánh kiến nuôi dưỡng chánh tư duy và chánh tư duy khơi mở thêm chánh kiến. Rồi nhờ sự phát triển của chánh kiến và chánh tư duy mà chánh ngữ biểu hiện. Bởi vậy khi lời nói của chúng ta còn gây ra đau khổ thì ta phải biết là cái thấy của chúng ta chưa sáng, và tư duy của chúng ta chưa đúng.

Ngôn ngữ có hạt giống trong đất tâm. Những lời nói, kho ngữ vựng, những hình thức diễn tả ngôn ngữ đều có hạt giống ở đấy cả. Tu tập chánh ngữ bắt đầu từ tâm, bắt đầu từ tưởng, tức là tri giác. Tri giác sai lầm sẽ sinh nhiều tà kiến. Tri giác càng đúng thì càng thêm chánh kiến. Tri giác sai lầm, tư duy chúng ta sẽ sai lầm. Giữa chánh ngữ, chánh kiến và chánh tư duy có liên hệ mật thiết. 

Sự tu tập chánh ngữ phải căn cứ trên chánh kiến và chánh tư duy. Những hạt giống của tri giác nằm sâu trong tâm thức, và tư duy cũng ở sâu trong tâm thức, những hạt giống ngữ ngôn cũng vậy, ba loại hạt giống đó có liên hệ với nhau. Trong tương giao giữa mọi người, chúng ta cần tập nhìn đúng, nghĩ đúng về người khác. Muốn tập chánh ngữ, ta phải bắt đầu bằng sự quán chiếu về người và về mình. Xung đột giữa vợ chồng, cha con hay bạn bè có khi xảy ra chỉ vì lời nói. Tu tập chánh ngữ là một yếu tố rất quan trọng để xây dựng niềm thông cảm.

Mười thương

Sư cô Chân Bảo Nghiêm

Một thương cắt tóc đi tu                                                                     

Khăn nâu chít chéo làm duyên cho cả làng                                              

Hai thương chiếc áo nhật bình

Mặc vào ngay ngắn thấy mình là người tu

Ba thương đôi guốc gỗ vuông

Bước đi từng bước nhẹ nhàng an nhiên

Bốn thương nón lá quai nâu

Đong đưa trước gió làm say ông trời

Năm thương bình bát trên tay

Theo Thầy khất thực vững vàng thảnh thơi

Sáu thương biết thở biết cười

Nói lời ái ngữ dịu dàng dễ thương

Bảy thương biết lắng nghe sâu

Tưới hoa, hoa nở từ trong tâm người

Tám thương đi, đứng, nằm, ngồi

Đoan trang mẫu mực rõ ràng oai nghi

Chín thương chuyển hóa thân tâm

Khơi nguồn cam lộ tình thương ngọt ngào

Mười thương trên kính dưới nhường

Thầy thương bạn mến một nhà an vui.

 

Tình thương

Sư cô Chân Bảo Nghiêm

Tôi rất sợ tình thương

Nó chỉ làm tôi mất nhiều năng lượng

Tôi gọi tên tình thương

Để nhìn thấy rõ mặt nó.

Tôi gọi tên tình thương Cha, thương Mẹ

để rõ mặt nó trong tâm tôi.

Tôi gọi tên tình thương Tổ tiên tôi,

để nhìn rõ mặt nó trong tâm tôi.

Tôi gọi tên tình thương sư anh, sư chị, sư em,

để thấy rõ mặt nó trong tâm tôi

để thấy rõ mặt nó đang đứng đâu trong tôi

là chân tôi, là tay tôi

hay nó là cái đầu của tôi.

Tôi gọi tên Tình thương Tổ tiên tâm linh tôi

để thấy rõ mặt nó trong tâm tôi

và để thấy mặt nó trong tôi,

để thấy nó luôn luôn có mặt đó cho tôi,

hiểu biết cho tôi, và

làm cho đầy tràn sự chấp nhận niềm vui, yên ổn.

Tôi hết sợ tình thương, vì tình thương thật

tuyệt vời, đích thực…

 

Những điều con chưa kể

Thầy Chân Trời Tuệ Chiếu

Thầy Trời Tuệ Chiếu thuộc gia đình xuất gia cây Trúc Xanh, thọ giới lớn năm 2016 trong đại giới đàn Ân Nghĩa tại tu viện Vườn Ươm. Hiện nay thầy đang tu học tại viện Vô Ưu, Đức.

                                                       Viện Vô Ưu, ngày 30 tháng 12 năm 2020

Thầy kính thương,
Sau khi tốt nghiệp Đại học, con có ý muốn vào Bát Nhã tập sự, nhưng Bát Nhã không còn nữa nên con xuất gia tại một ngôi chùa ở quê nhà. Một năm sau, con được thầy Pháp Hội cho tham dự khóa tu đầu xuân tại chùa Tổ Từ Hiếu. Sau năm ngày có mặt tại khóa tu, con đã thương nơi này rồi. Con thỉnh rất nhiều băng đĩa cũng như sách của Thầy về đọc và thực tập tại chùa cùng với nhóm các bạn trẻ sinh viên. Con đã tập hướng dẫn cho các bạn nghe chuông, thiền hành, pháp đàm, hát thiền ca như trong khóa tu. Suốt thời gian đó, con dành nhiều thời gian để đọc sách, nghe pháp thoại của Thầy, thực tập và chia sẻ. Trong con, một nguồn năng lượng tươi mới đã phát sinh từ khi nào con không biết. Trước đó, con chỉ biết làm theo những gì người khác chỉ bảo, nhưng lần này con cảm thấy yêu thích những gì mình làm. Sau này con đã sang Thái Lan tập sự và xuất gia lại. Nhưng tăng thân người trẻ vẫn được duy trì và phát triển gần mười năm bởi người sư em của con ở đó. Mỗi lần về thăm nhà, con đều ghé thăm chùa, thăm Thầy con và ngồi chơi với các em. Tuy con không còn ở đó nữa nhưng sư em của con vẫn giữ vững niềm tin vào pháp môn tu học của Thầy để xây dựng tăng thân qua những buổi thiền trà, thiền ca, ngồi thiền, sám pháp địa xúc, thiền hành,…

Sau đại lễ Vesak 2008, con ngỡ sẽ không còn cơ hội gặp lại Thầy nữa, nhưng trong sâu thẳm, con có một niềm tin sẽ được gặp lại Thầy.

Thầy kính thương! Người thanh niên Thái Bình năm nào đã thất vọng vì không gặp được thần tượng của mình trong ngày lễ Vesak 2008 vẫn tiếp tục nuôi dưỡng niềm tin, ý chí để hy vọng một ngày nào đó được gặp lại người thầy mình yêu quý. Dù chưa gặp được Thầy, người thanh niên đã bắt đầu chập chững học theo cách sống của Thầy, đã biết áp dụng những lời dạy của Thầy về hơi thở ý thức, đi chánh niệm, ái ngữ lắng nghe. Con đã gieo hy vọng và cầu nguyện hàng ngày. Rồi một ngày điều đó cũng đến.“Sư chú lên Đình Quán gặp Pháp Hội”. Tin nhắn đó đã đưa con đến bên Thầy và trở thành đệ tử của Thầy – sự kiện quan trọng nhất thay đổi cuộc đời của con. Những giờ phút được Thầy xuống tóc, được ngồi ăn cơm chung với Thầy, được chụp hình với Thầy, được theo Thầy đi hoằng pháp là những giờ phút tuyệt vời nhất. Sau lễ xuất gia, chúng con được ngồi chơi riêng bên Thầy, Thầy ngồi võng uống trà và nói: “Sự sống rất nhiệm mầu, các con hãy trân quý, đừng đánh mất sự sống trong sự buồn giận, lo lắng”. Thầy còn nói thêm: “Lên trên đó (trường MCU) các con hãy đi thảnh thơi an lạc để ai nhìn vào cũng nhận ra được các con là con của thầy”. Lời Thầy dạy ngắn gọn nhưng đủ cho con thực tập cả đời.

 

 

Ngày con về lại thăm chùa Tổ đầu năm 2019, có ngờ đâu con được gặp lại Thầy. Sự trở về đã làm con vui mừng khôn tả, nhưng vui hơn là thầy trò được gặp lại nhau trên mảnh đất thân thương đầy kỷ niệm này, nơi mà con cũng đã từng sống hồi còn là chú sadi. Con nhớ, về đến nơi, con mệt quá nhưng vẫn muốn lên thăm Thầy. Con lên thất đúng lúc Thầy đang dùng cơm. Sư mẹ Định Nghiêm gọi con lại ngồi gần trước Thầy ở phía bên ngoài cửa sổ. Sau khi xá Thầy xong, một lúc sau con mệt quá và gục đầu ngủ bên cửa sổ trước mắt Thầy lúc nào không hay. Khi tỉnh lại, con nghe thầy thị giả kể là Thầy đã lấy tay chỉ vào con và lắc đầu. Chắc lúc đó trông con mắc cười lắm, nhưng con thích cảm giác của người con lâu ngày mới về lại thăm gia đình. Ngày hôm sau, con chuẩn bị về Thái Lan thì sư mẹ Định Nghiêm gọi con lên ăn sáng với Thầy. Lần này, con được phép vào bên trong thất Lắng Nghe. Chúng con mỉm cười nhìn Thầy thưởng thức bữa sáng thong thả, khoan thai. Bất ngờ Thầy đưa ly sữa Thầy đang dùng sang cho con. Con đã đưa hai tay ra tiếp nhận tình thương của Thầy. Con hạnh phúc và hiểu được rằng Thầy muốn con lớn mau, vững vàng đi trên đôi chân của mình khi không có Thầy.

Sau hơn bảy năm ở Thái, con đã viết thư tình nguyện qua Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) để trải nghiệm và phụng sự nơi đây. Con đã ở đây được hơn ba tháng rồi. Mọi thứ vẫn còn tươi mới, quý huynh đệ ai cũng dễ mến, dễ gần. Con cũng được ghé và ở lại Làng, được sống những ngày thảnh thơi trong tình thương huynh đệ. Một buổi sáng, sư cha Pháp Ứng dẫn con đi thăm vườn: “Sư em, đây là cây Wild Chicory (diếp xoăn dại), đây là red Oak (sồi đỏ), đây là Mimosa, đây là Magnolia (mộc lan)”. Sư cha còn chỉ cho con cây Tùng Thầy trồng hồi Làng mới thành lập, và cả nơi quý thầy ở hồi chưa xây tăng xá. Bên cạnh sư cha, còn có thầy Minh Hy, thầy Pháp Hữu, thầy Pháp Biểu, thầy Pháp Khả đã đón chào, yêu thương chăm sóc chúng con như anh em một nhà.

Về Làng chúng con còn được đi hái bắp, hái mận, lượm hạt dẻ cùng quý thầy, quý sư cô. Những lúc đó tâm tư con đầy ắp niềm vui và rộn tiếng cười tình huynh đệ. Năm nay chúng con lượm được nhiều bắp lắm và chế biến thành nhiều món ăn khác nhau một cách khéo léo và lạ miệng. Con cũng được về thăm Sơn Cốc, được đi thiền hành, được đốt lửa, được thăm nơi ở của Thầy. Có về tận đây con mới thấy được đời sống của Thầy giản dị và khiêm cung đến chừng nào.

Nhìn lại hành trình con đã đi qua không có dấu chân nào mà không có bàn tay của Thầy, của tăng thân, của huynh đệ nâng đỡ. Nếu không có Thầy và tăng thân, con không thể nào có được hình hài như ngày hôm nay. Con còn nhiều vụng về trong cách nâng đỡ, chăm sóc các sư em của mình, nhưng con đang cố gắng mỗi ngày. Con biết, huynh đệ chăm sóc và nâng đỡ nhau là điều mà Thầy luôn luôn mong đợi. Nhìn lên, con có nhiều sư anh, sư chị vững chãi chăm sóc, nâng đỡ các sư em như thầy Minh Hy, sư anh Pháp Tri, sư anh Pháp Kính, sư chị Phổ Nghiêm, sư chị Chuẩn Nghiêm, vv. những sư anh, sư chị là điểm tựa và nguồn cảm hứng cho con đi tới.

Trong suốt 10 năm qua con đã ít nhiều thấm lời Thầy và tăng thân chỉ dạy, con đã khôn lớn hơn trước, đã biết trở về tự thân nhiều hơn, đã biết tư duy tích cực hơn, không để sự lo lắng, buồn phiền chi phối. Con đã biết sống chung hòa hợp với những khó khăn trong con và bên ngoài. Giáo lý có bùn mới có sen đã cho con cái thấy mới về sự tương tức khổ đau và hạnh phúc, thiện ác, chính tà. Những tuần gần đây con thực tập làm mới mình trong từng sinh hoạt, thực tập căn bản và con tự nhắc nhở là mỗi ngày mình phải mới, mới trong cách tu, cách học, cách làm việc, cách chơi, cách đối diện khổ đau và chế tác hạnh phúc.

Thầy kính thương, đến bây giờ, tinh thần, ý chí và nhiệt huyết của người thanh niên năm nào vẫn còn cháy, vẫn cùng tăng thân tiếp nối hạnh nguyện của Thầy.

Thầy như lá rụng về cội

Con là hạt mầm vươn lên

Mai này không còn Thầy nữa

Thầy vẫn còn mãi trong con.

                                                                                                       Thương và nhớ Thầy

                                                                                                           Con của Thầy

 

 

Học cười

Sư cô Chân Trăng Thanh Khê

Sư cô Trăng Thanh Khê xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế.

Con có một niềm vui!
Con đã làm xong bìa của quyển sổ có tên là Nhật ký hạnh phúc. Bìa chỉ có một chữ Smile (Mỉm cười), không có chữ gì mang ý nghĩa là hạnh phúc cả. Xung quanh con trang trí bằng một “nùi” những chấm tròn đủ màu sắc giống hình cầu vồng vậy. Smile là một trong những câu thư pháp của Sư Ông mà con thích nhất. Đặt bút xuống trang trí bìa quyển sổ, con liền nghĩ ngay tới chữ Smile.

 

 

Con cũng có một bức thư pháp với chữ Smile trong vòng tròn. Tết năm 2017, khi con xin một thầy viết cho con bức thư pháp, thầy hỏi con thích chữ gì, con trả lời là chữ gì cũng được, và con nhận được bức thư pháp này. Hồi đó con thích chữ gì mà nghe có vẻ “đao to búa lớn” một chút, chứ chữ “Mỉm cười” thì ai cũng mỉm cười mà. Con cũng chưa nhìn lại bản thân mình để tìm hiểu xem vì sao thầy lại tặng chữ Smile cho con thay vì một chữ nào khác. Con chưng câu thư pháp trên bàn học từ tháng này qua năm nọ.

Vào một ngày, con đến chùa xin làm tập sự xuất gia. Con bắt đầu tập sống chung trong một cộng đồng lớn. Suốt quãng thời gian đó, câu mà con được nghe quý sư cô nhắc mỗi ngày là “cười lên em!”. Có khi con được nhắc một ngày đến mấy lần. Sáng, trưa, chiều mọi người cứ thấy con trầm trầm, cúi đầu mà đi, nhìn có vẻ buồn buồn là… “cười đi em!”. Con không biết là khuôn mặt con nhìn buồn nên nghĩ thầm “mình bình thường mà”. Chuyện không bình thường nhất với con là việc tập mỉm cười mỗi ngày. Lúc đó, sự thực tập quan trọng nhất của con là “cười”. Phải cười cả ngày ư? Làm sao mình có thể vui vẻ để cười cả ngày cho được? Thôi thì không sao, mình cứ nhe răng ra cười cái đã, còn chuyện vui vẻ gì gì đó tính sau vậy. Nghĩ rồi con bắt đầu thực tập cười.

Chưa hết, ngay ngày đầu tiên con chuyển vào phòng mới với quý sư cô, con lượm được một cái quạt tay trên đó ghi chữ Smile. Nhìn cái quạt, con cảm thấy sao mà Smile nó đeo đuổi con quá chừng vậy nè! Con kể với sư chị về sự nghiệp thực tập smile của con. Sư chị nói có lần bạn của sư chị tới chùa chơi, khi qua cổng gặp một vị cư sĩ chào người bạn đó với một nụ cười, bạn sư chị rất vui và thấy trong lòng rất ấm áp. Đến chùa, ai cũng có thể mỉm cười vui vẻ, gần gũi với nhau dù không phải người quen, ở ngoài hiếm khi được như vậy. Đó là ấn tượng của bạn sư chị khi đến chùa. Con nghe mà thấy ốt dột quá. Mình ở chùa nè, sao mình thực tập dở quá vậy.

Trời đang mưa. Con đang ngồi bên bàn học của mình, uống một ly trà gừng và… mỉm cười. Bây giờ con đã có thể mỉm cười được với chính mình. Khi hạnh phúc, mình mỉm cười và khi mỉm cười, mình có hạnh phúc. Con không tin là con đã có thể thay đổi được như vậy. Con đã từng là một cô bé không biết cười, chỉ biết sống một mình, nhìn mọi người, mọi vật xung quanh bằng sự xa cách như không dính líu gì đến mình. Con không biết hòa vào năng lượng chung, niềm vui chung của mọi người. Con phớt lờ đi vẻ đẹp của bông hoa tim tím đang dành cho con. Vườn cây xanh mát, tiếng mưa tí tách… con cũng bỏ quên.

Sự chuyển hóa của con không phải chỉ tự riêng con làm ra. Nó còn đến từ những gì con nhận được từ xung quanh: tình thương, sự kiên nhẫn… đã cho con được như bây giờ, cho con biết mỉm cười, biết hạnh phúc với cuộc sống mà con đang sống. Tình thương của quý sư cô quá lớn và con không thể nào không hạnh phúc cho được. Mỗi lần sờ lên cái đầu trọc của mình, con không hề bớt hạnh phúc một chút nào!

 

Lại mưa về nguồn

Sư chú Chân Trời Đức Định

                                                                                      Nước đi ra biển lại mưa về nguồn

                                                                                                      (Thề non nước – Tản Đà)

Sư chú Trời Đức Định là người Pháp, xuất gia năm 2016, tại Làng Mai, Pháp, trong gia đình cây Mai Vàng. Hiện sư chú đang sống và thực tập tại trung tâm Suối Tuệ, Paris. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Dưới đây là bức thư con gửi đến các huynh đệ trong gia đình xuất gia cây Mai Vàng sau thời gian con về nhà chăm sóc cho cha. Từ lúc gia đình con biết cha bị ung thư cho đến khi cha qua đời chỉ có hai tháng rưỡi. Trong suốt thời gian ấy, con đã có mặt với gia đình. Ngày nào con và chị gái cũng dành thời gian kề cận, chăm sóc cho cha. Khi con trở lại tăng thân để tham gia khóa tu xuất sĩ tại Đức, các huynh đệ trong gia đình xuất gia đã rất ân cần và hết lòng yểm trợ con.

Bức thư này ghi lại một vài trải nghiệm rất riêng tư của con. Con mong rằng nó có thể phản ánh tinh thần tôn trọng sâu sắc sự sống, nhất là khi con vẫn còn đang đi qua quá trình trị liệu, hòa giải, học hỏi và chế tác bình an trên tất cả mọi phương diện.

Gia đình cây Mai Vàng thương quý,

Cho phép con được cảm ơn các sư anh, sư chị, sư em đã thương yêu và ôm ấp con, nhất là trong khóa tu xuất sĩ vừa qua. Con đã được nâng đỡ rất nhiều. Lúc thì một huynh đệ lắng nghe con, lúc khác thì cả gia đình có mặt, lắng nghe nhau, rất dễ thương. Có khi các sư chú đến phòng con, ngồi chờ con về cùng uống trà. Các sư cô cũng có mặt cho con hết lòng. Con cảm được sự quan tâm thầm lặng của huynh đệ, thấy mình thật sự được hiểu và yểm trợ. Nghĩ về những giây phút ấy, con rất cảm động. Con thấy mình thật may mắn và giàu có.

Từ khi con rời Làng lên trung tâm Suối Tuệ, mỗi lần huynh đệ có dịp gặp nhau, con cảm nhận sự hiểu biết và kết nối trở nên sâu sắc, tự nhiên hơn. Lần gặp nào cũng có phẩm chất. Con rất vui khi thấy sự trưởng thành của từng sư anh, sư chị, sư em trong gia đình; thấy chất liệu của tự do và vững chãi có mặt trong mỗi người.

Con sẽ tiếp tục học hỏi để chấp nhận chính mình và mở lòng hơn để có thể thật sự có mặt cho gia đình, có cơ hội kết nối tốt hơn với mọi người và có thể yểm trợ các huynh đệ khi cần thiết.

Con muốn chia sẻ một chút những trải nghiệm của con khi được chăm sóc cha. Với con, điều này giống như một bó hoa nhỏ gồm những bông hoa và những cành lá đủ kiểu, đủ màu mà con đã góp nhặt trên chặng đường đồng hành với cha khi cha ra đi.

Thiên nhiên quả là một phước lành. Thực tập với thiên nhiên đã giúp con rất nhiều. Những khi khổ đau đi lên, con ra ngoài đi dạo, nhìn ngắm cây cối, sông nước và những bờ cát. Rồi đột nhiên con có thể chạm được đến sự bình an và thấy khỏe hẳn ra. Có lần con nhìn thấy một thân cây có vẻ là thân cây chết. Nó lớn nhưng chỉ có một vài chồi xanh dưới gốc, cứ như một cố gắng sau cùng để níu lấy sự sống. Nó như nói với con rằng dù sự sống mang hình tướng cái cây đang đi đến hồi kết thúc thì sự sống mang những hình tướng khác đã bắt đầu rồi. Trong thân cây chết chứa đầy những hình thức khác của sự sống. Sự tiếc nuối khi thấy gốc cây chết chỉ là một ý niệm mà thôi. Tâm ý thông thoáng một chút là con đã có thể thấy được bao nhiêu nhiệm mầu ở xung quanh. Ngay cả chính nỗi buồn về cái cây cũng là một phần của sự mầu nhiệm. Bởi nó không chỉ được ôm ấp bởi tình thương của con, của cái cây mà còn của một cái gì đó lớn lao hơn.

 

 

Một ngày nọ con cùng với sư chú Đức Trí-đệ nhị thân đến để yểm trợ cho con – dắt con chó của cha đi dạo trên một bãi biển tuyệt đẹp. Một làn “gió trời” thổi tung lớp cát mỏng xung quanh lên cao khoảng 10cm. Thật là một cảnh tượng tuyệt vời! Một cảm giác mầu nhiệm, đầy ấn tượng đi lên trong con. Ngọn gió ấy đã chữa lành một cái gì đó sâu xa hơn những gì ý thức con có thể nắm bắt được.

Con quan sát gió thổi tung và đẩy cát đi dọc theo bãi biển, tạo thành những đụn cát mới. Có lúc nó đi qua những vùng cát ướt, nhìn giống như những thung lũng hoang vu hay sa mạc khô cằn nằm giữa những vách đá nhọn do gió khắc chạm. Trong khi quan sát, con thấy những khó khăn và khổ đau mà cha con và con đã đi qua. Con thấy cát phải rời khỏi nơi trú ngụ, bỏ lại sau lưng hình dạng cũ, đi qua những khó khăn để tạo nên những đụn cát mới, tròn, láng. Những mầu nhiệm mới – sự sống mới đã ra đời. Lòng con dâng lên một nỗi dịu dàng sâu lắng, giúp con nhìn vào hoàn cảnh gia đình và sự sống bằng con mắt không phân biệt. Trong khoảnh khắc ấy, bên trong và bên ngoài con giao hòa, dung thông. Niềm tin tưởng, sự cảm nhận ý nghĩa đời sống và tình thương cũng đồng thời có mặt .

Quá trình chữa lành tổn thương từ tận gốc rễ này đã diễn ra không theo sự điều khiển của ý chí, nhưng với sự hậu thuẫn rất lớn của thiên nhiên. Con đã có thể tiếp xúc và thấy rõ ràng hơn mặt mũi của những nỗi khổ niềm đau sâu kín trong con. Con biết điều này rất lợi lạc cho con và con cũng ước mong nó sẽ giúp con tập trung vào những gì thực sự quan trọng, giúp con chạm vào được sự quyết tâm, lòng can đảm và nuôi lớn năng lượng chánh niệm và hạnh phúc trong con.

Trong quá trình cha con từ giã sự sống, con đã có một vài cái thấy mà con muốn chia sẻ với huynh đệ, mong rằng mọi người có chút lợi lạc từ trải nghiệm của con. Khi thấy cha phải chịu khổ đau cả về thân lẫn tâm, con không chấp nhận được. Thật khó quá! Nó có vẻ bất bình thường và không thể chấp nhận được. Sau này nhìn lại, con thấy đó chỉ là một phần của sự sống mà ta phải trải qua, nó không phải là cái gì mà ta không thể chấp nhận. Hình hài của tất cả chúng ta, kể cả của con, đều có cùng bản chất, đều phải đi qua bệnh tật, tất cả các bộ phận trong cơ thể đều phải đi qua sự tàn hoại. Tâm của con cũng là đối tượng của những sự thay đổi. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy. Đó không phải là việc bất bình thường. Một khía cạnh quan trọng là ý niệm của ta làm trầm trọng thêm sự đau khổ, trong khi thực tế những khổ đau và khó khăn chính là nguồn gốc của tình yêu và lòng từ bi một khi chúng ta có thể nhìn rõ được mặt mũi của chúng

Chấp nhận thực tại đã khơi nguồn cho tình thương và từ bi hiển lộ, giúp con thay đổi cách mình đối diện với hoàn cảnh. Nếu trong những khoảnh khắc ấy con không bị lạc trong các ý tưởng đúng sai, có lẽ con đã có thể ôm ấp nỗi khổ của cha con như là người mẹ ôm ấp đứa con sơ sinh của mình. Cũng giống như khi con không đủ hiểu nhu cầu của cha khi người không còn khả năng diễn đạt nữa, thay vì dằn vặt bản thân ,lẽ ra con nên ôm ấp và gửi lòng từ bi đến cho chính mình. Dù đã không có khả năng làm như vậy ngay thời điểm đó, con vẫn còn cơ hội để làm ngay bây giờ. Con có thể chữa lành vết thương quá khứ qua hiện tại. Hiện giờ, con đã sẵn sàng hơn để học cách làm bạn với những đau đớn trong thân, có lẽ do con nghĩ mình cần chuẩn bị đối diện với những khó khăn lớn hơn. Con học nhìn những cơn đau nhỏ như là cơ hội để huấn luyện tâm mình, giữ bình an để không bắn vào mình mũi tên thứ hai. Nhờ đi qua quá trình đó với cha mà con biết mình có khả năng đi qua nó. Kinh nghiệm này mang lại cho con một sức mạnh nội tâm mới để có thể đối diện với nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Đôi khi trong lòng con không an ổn chút nào khi nghĩ rằng cha chưa làm xong một vài điều trước khi ra đi. Thí dụ như hòa giải với người này, người kia, hay làm lành lại mối quan hệ giữa hai cha con ở một khía cạnh nào đó… Sâu kín trong lòng, con có cảm giác “dở dang”. Con nghĩ là vòng đời của cha chưa hoàn tất. Ý nghĩ này làm cho con đau khổ. Nhưng có những lúc con thấy không có cái gì được gọi là một cuộc đời hoàn tất, một vòng tròn khép kín như tâm con đã vẽ ra. Cây cỏ, thú vật và con người là những minh chứng cho điều đó. Có những cái phát triển thật to lớn, đến một mức độ trưởng thành tương đối, rồi chết đi sau một vòng đời. Con có khuynh hướng tiếp nhận tri giác này như là một tiêu chuẩn. Nhưng trên thực tế, trong cuộc sống, có những chúng sanh hoại diệt rất sớm, có loại khá nhỏ bé hoặc có hình dáng lạ lùng, một số bị tàn tật, thiên hình vạn trạng. Trong bất kỳ trường hợp nào, bao giờ cũng có những cái không hoàn hảo, không hoàn tất, cũng có cái “không bình thường”. Thậm chí trong những trường hợp được coi là bình thường, hoàn chỉnh, con nghĩ là bao giờ cũng có cái chưa được làm, chưa được nói. Bao giờ cũng có những trường hợp người ta đinh ninh rằng nếu như họ có thể sống thêm vài ngày, vài tháng thì họ đã có thể làm lành, chữa lành thương tích trước khi ra đi. Trên thực tế, cuộc sống vẫn tiếp diễn và có sự tiếp nối. Vậy thì tại sao con lại muốn hoàn tất cái này hay cái khác? Bởi vì mọi cái phải dựa vào nhau để biểu hiện và tồn tại, và vì mọi cái trở thành cái khác khi chúng tàn hoại. Tại sao con lại muốn cuộc đời của cha, của con, hay bất cứ cái gì khác phải hoàn hảo?

 

Đôi khi con cũng nhận ra những cái mà con cho là cha chưa hoàn thành đang nằm trong tay con ở hiện tại. Con có cơ hội để tiếp tục những gì mà cha đã nỗ lực hoàn thiện, bằng chính con người và tâm tư của con. Ngay từ nơi con đang đứng, con có thể tiếp tục làm cho cha. Con hiểu rằng, tại thời điểm này, ngoài tình thương yêu và sự hiểu biết, tất cả những gì hời hợt mà chúng ta đang đầu tư vào: những đề án, ước muốn được công nhận, những vẻ bề ngoài của phẩm cách, tất cả những giá trị và ý tưởng về cuộc sống mà ta bám víu vào,…Tất cả những cái đó chúng ta cần phải buông bỏ hết.

Cha con đã thương yêu, chăm sóc người khác bằng những cách rất cụ thể. Và cha cũng nhận lại những tình cảm đó qua sự có mặt và chăm sóc từ hai chị em con cũng như từ bạn bè, đồng nghiệp khi họ bày tỏ sự cảm kích đối với cha. Cha con là người khó bày tỏ suy nghĩ của mình, ít khi công nhận những cái đẹp của bản thân và của con cái. Khó khăn này đã đi lên trong những giây phút cha ra đi. May mắn thay hai chị em con đã sẵn sàng chào đón nó, đã bày tỏ tình thương yêu với cha cũng như nói cho cha nghe những điều tốt đẹp.

Nhờ ơn Tam Bảo mà con đã thấy rằng sự tiếp nối của tất cả mọi thứ đang xảy ra ngay bây giờ. Con là sự tiếp nối của tất cả các phẩm chất tốt đẹp và cả những khó khăn mà con đang học hỏi để chuyển hóa. Con làm việc này, ngay trong giây phút hiện tại, với tư cách của một người đại diện, một đại sứ của dòng chảy tâm linh và huyết thống không gián đoạn. Con làm cho chính con, cho cha, và cho tất cả. Như vậy đó, thưa cha. Cha con mình hãy để cho điều đó diễn ra nhé! Con dừng lại, thở một chút cho tâm lắng dịu, cho những ý niệm được giải phóng, cho bức tường ngăn cách giữa mọi thứ trở nên trong suốt, thông thoáng. Lúc ấy sự truyền thông đích thực có thể xảy ra.

Con thường đi dạo dọc theo dòng suối bắt nguồn từ một ngọn núi nhỏ. Dòng nước mát trong này đã luôn chảy ngang qua khung cảnh tuổi thơ con. Đây là vùng đất nơi con lớn lên. Con thích đi dạo ở đó và có thể buông xuống nhiều cảm xúc tiêu cực. Con có cảm giác mình được gột sạch và chữa trị. Trong những lần con đến đó, bài thơ nhỏ này đi lên trong con. Đó không hẳn là một bài thơ mà là một trải nghiệm. Con cảm được nước, ý thức được dòng chảy của nó, của sự đồng nhất trong dòng nước đang chảy tới, như một cuộn băng vô tận liên tục mở ra.

Cá từng đàn bơi lội

Không một bóng trên sông

Ta thưởng thức trọn lòng

Con biết có những chú cá dưới sông dù con chưa nhìn thấy chúng. Nhưng con có thể thấy cách chúng cùng bơi với nhau, ngược dòng, trong một điệu múa tự do nhưng có thứ tự, như những cá nhân, nhưng đồng thời cũng như một gia đình. Con biết đó là những con cá, nhưng chúng cũng là dòng sông, liên tục tương tác với môi trường xung quanh. Ý niệm của con về sự tách biệt giữa con cá này với những con cá khác và với chính dòng sông đã được hóa giải bởi ý thức về sự tương duyên miên mật này.

Trải nghiệm của con về những con cá và dòng sông thật rõ ràng, sống động. Một niềm hạnh phúc lớn lao dâng lên trong lòng con. Sau đó từng chữ của bài thơ nhỏ này đã đi lên trong con. Khi câu thơ thứ ba ngân lên, con tiếp xúc được với sự có mặt của mình trong tăng thân. Tương tự như một đàn cá, chúng ta hạnh phúc được là chính mình, đồng thời chúng ta cũng là một cơ thể đồng nhất, là một dòng sông không ngừng trôi chảy.

Xin cảm ơn các sư anh ,sư chị ,sư em đã lắng nghe con.

Con rất hạnh phúc có tăng thân và có tất cả các đệ huynh.

 

Mưa bên núi xanh

Sư cô Chân Duyệt Nghiêm

Bây giờ là một buổi chiều “vô sự” của ngày lễ Tạ ơn ở đây. Một buổi chiều có thể “ngồi hát ca rất tự do” hay một mình yên lặng như thế cả buổi chiều nếu muốn, vì không có gì cần nói và cần làm cả. Đôi khi tôi yêu cái sang trọng của sự xa xỉ về thời gian. Có người nói: “Trong sự sang trọng có sự tĩnh lặng!”. Có lẽ điều này khá đúng đối với thời gian. Khi đó, mình không cần tất tả chạy đi làm cái này cái nọ, tính toán bàn chuyện cho cái kia hay là tiếp chuyện ai. Mình có thể “ngồi không”, “ngồi chơi”, để thở, để cảm nhận và để đôi khi chợt nhận ra có những thứ mình đã để quá lâu ở trong lòng…

Trước mặt tôi lại là một khung cửa sổ rộng nhìn ra cánh rừng cuối thu, đất trời vẽ thành một bức tranh trầm mặc. Bên ngoài bây giờ là nắng vàng thật đầy, cái nắng chiều cuối thu này thường vàng lên rực rỡ rồi cũng vụt tắt thật nhanh vì ngày trở nên càng lúc càng ngắn, bầu trời cao xanh bên trên những hàng cây xám bạc, và dưới đất, xung quanh, lá vàng khô ngập đầy không gian.

Cuối cùng tôi đã trở lại Bích Nham. Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà đã gần bốn năm kể từ lần đến trước. Giữa hai đầu thời gian đó, trí nhớ tôi đã nhiều lần quay về, thấy mình đi vào rừng, đi dọc theo con suối, ngồi trên băng ghế để nghe ngắm dòng suối, đi từ nhà ăn lên ni xá, đi đến thiền đường, thấy mình đứng yên để ngắm đàn nai đang dạo chơi hoặc chạy theo dậm chân vờ hù dọa những chú sóc béo mập… trong những ngày cỏ xanh hay những ngày tuyết phủ. Tôi đã không chắc là mình có thể quay lại nơi đây trong thời buổi dịch bệnh rối ren này, nhưng có lẽ vì đã nhiều lần nghĩ đến nên cuối cùng tôi cũng đã quay trở lại.

Sáng nay sau buổi ngồi thiền, khi đi từ thiền đường về lại nhà ăn, tôi lại nghe tiếng suối đổ ầm ào trong rừng và từ chỗ tôi đứng nhìn qua, cánh rừng đang mờ ảo dưới làn mưa bụi. Có lẽ con suối nhỏ ẩn nấp trong rừng không len lỏi, róc rách nữa mà đang lớn mạnh và ào ạt tuôn tràn. Tôi đứng lại một hồi lâu, nhìn về phía cánh rừng, lắng nghe tiếng suối rừng trầm hùng ấy và có cảm giác, lại thêm một lần, giấc mơ và hiện thực gặp được nhau. Thật đẹp!

 

 

Tái sinh trần tạ ơn Người từ bi…

Pháp thoại sáng nay nói về niềm biết ơn, chánh niệm và hạnh phúc. Nên tôi cũng ngồi yên và để cho những niềm biết ơn dâng lên trong lòng mình.

Trong những nỗi nhớ về Thầy, tôi cứ nhớ ngày Thầy đọc xong bài viết của tôi về chuyện tôi đã khó khăn với gia đình như thế nào khi rời nhà đi tu. Sáng đó, ngày quán niệm ở xóm Hạ, Thầy vừa đến là cho thị giả đi tìm tôi. Tôi vào phòng Thầy, ngồi xuống bên võng Thầy đang ngồi, Thầy đưa bàn tay mềm, ấm của Thầy bảo tôi nắm lấy, để ủ bàn tay tôi vào hai bàn tay Thầy, Thầy nói: “Thầy vừa đọc bài viết của con”. Rồi từ ngày đó cho đến ngày tôi về Việt Nam thăm nhà, không có chuyện gì nghĩ là có thể giúp ích cho tôi mà Thầy và Sư cô không làm. Tôi nhớ hình ảnh Thầy dẫn tôi vào thư viện ở Sơn Cốc, trải xuống sàn những tấm thư pháp mà Thầy đã viết để tặng cho tôi mang về nhà. Hai thầy trò ngồi xem những tấm thư pháp, Thầy hỏi: “Con thích tấm nào?”. Tôi thưa: “Dạ, thưa Thầy, con thấy… tấm nào cũng đẹp hết!”. Rồi Thầy nói: “Thôi vậy cho con hết đó!”. Thầy gọi tôi lên Sơn Cốc và xóm Mới ăn cơm nhiều lần để dạy tôi cách về thăm nhà sẽ làm gì, nói gì với ba mẹ… Thầy còn dạy tôi nhớ chít khăn cho đẹp. Thầy nói: “Một mảnh khăn vuông đó mà là truyền thống của cả ngàn năm rồi đó con!”. Sư cô Chân Không thì tặng tôi bộ sách của Sư cô lúc đó mới xuất bản. Sư cô viết lời đề tặng tôi kín hết cả trang đầu tiên, mà thực ra là tưới hoa tôi để cho… ba má tôi đọc. Rồi ngày tôi về, Sư cô còn gọi điện về Long Thành nhắn các sư chị, sư em ra sân bay đón tôi và về nhà tôi chơi. Thành ra, có một số chị em trước đó tôi chưa từng biết mặt và chỉ gặp nhau những ngày đó nhưng tôi thấy thương quý và biết ơn các chị em rất nhiều cho đến bây giờ. Thế nhưng, lần đó tôi “làm ăn” thất bại quá. Cái nút thắt đó tôi gỡ không ra. Cho đến khi tôi qua lại, Thầy hiểu ra sự việc, không khuyên tôi cố gắng làm gì với gia đình nữa, mà chỉ “ráng tu” thôi và “những gì mà con muốn ba con làm cho con thì bây giờ con làm điều đó với các sư em mình!”. Thầy tinh tế và bao dung quá, nên từ đó tôi thấy lòng mình cũng nhẹ nhàng và có nhiều không gian hơn. Cho nên, đôi khi sau này tôi cũng làm chuyện này, chuyện kia với gia đình, nhưng tôi không còn quá cố gắng và trông đợi gì cả. Để cho đến một ngày đột nhiên nhận ra, mọi người ai cũng đã bình tâm trở lại và chấp nhận nhau, thương yêu nhau như ngày nào.

Từ ngày Thầy bệnh đến nay, tôi không gặp được Thầy nữa. Đôi khi tôi thấy thiếu Thầy và nhớ Thầy nhiều lắm! Thầy như một bếp lửa để mọi người có thể đến ngồi quây quần hơ tay, sưởi ấm vào mùa đông và như một mặt hồ rộng mát để cho ai cũng có thể nhảy xuống mặc tình tắm gội mùa hè. Đặc biệt là khi trong chúng có chuyện lộn xộn, tôi cứ ước ao có Thầy, chỉ để đưa một ánh nhìn, nói một câu nói, mà làm thông thương và giải tỏa hết những buồn phiền, mâu thuẫn, ấm ức. Còn bây giờ nếu có giây phút nào tôi có Thầy, tôi sẽ chỉ ngồi yên thôi, ủ chén trà nóng của Thầy cho trong tay và cảm nhận sự có mặt quý báu của Thầy…

 

 

Tôi gặp Làng, gặp đất trời của Làng, gặp quý thầy, quý sư cô, rồi mới gặp Sư cô Chân Không và gặp Thầy…Mỗi sự gặp gỡ đó đều là một điều kiện cần và đủ trên con đường tôi đi, mà nếu thiếu một điều kiện nào cũng sẽ không có tôi trong phút giây này.

Cũng như tôi nhớ ngày đó, lần đầu đến gặp sư cô Chân Không, xin Sư cô giúp tôi làm giấy tờ để tôi có thể ở lại Làng an cư ba tháng. Đó là mùa đông năm 2006. Tôi đã kết thúc những việc học hành, thay vì về Việt Nam thì tôi đến Làng. Và vì tôi có ý định ở lại Làng an cư ba tháng “thử” cho biết nên tôi thưa điều này với sư cô Song Nghiêm. Sư cô nói sẽ thưa sư cô Chân Không dùm tôi. Vậy nên ngày tôi vào gặp sư cô Chân Không để nói chuyện làm giấy tờ, tôi nghĩ Sư cô chỉ làm giấy cho tôi ở ba tháng, vậy đã là quý lắm rồi. Nhưng khi tôi mới mở miệng tính giải thích chuyện học hành đi ở của mình thì Sư cô chỉ nói: “Con đưa passport cho sư cô. Sư cô làm giấy cho con một năm luôn”. Rồi Sư cô còn nhìn tôi – một cái nhìn “sấm sét” và nói thêm: “Sư cô tin con!”. Có lẽ ngày đó, Sư cô không biết là Sư cô đã… điểm trúng huyệt của tôi. Nên sau này, lúc nào có… chạm dây chạm mạch, tâm tư bất thường hay manh động muốn “lên núi”, thì tôi cũng “đành” nắm lấy cái niềm tin, niềm thương năm nào của Sư cô đã dành cho mình để đi tiếp, để “làm mới”, để sống tốt hơn và nguyện tiếp tục những gì mà Sư Ông và Sư cô đang làm và muốn các con làm… Vì rằng, ngày đó, Sư cô đâu biết tôi là ai, có muốn tu học gì không mà Sư cô vẫn tin, vẫn thương và gia hạn giấy tờ cho tôi; nếu không thì lấy đâu mà tôi ở lại Làng an cư, rồi làm tập sự, rồi xuất gia tu học đến bây giờ! Còn những câu chuyện về “thương người, giúp người” của Sư cô có lẽ phải làm thành sách nhiều tập, và mọi người trong chúng hay ngoài chúng, đều có thể viết cho quyển sách ấy. Sư cô ơi, cầu nguyện Bụt Tổ gia hộ cho Sư cô khỏe mạnh để sống lâu với chúng con, để thương chúng con, thương Đời và để chúng con được thương Sư cô ạ!

Khi ngồi nghe bài pháp thoại sáng nay, trong tôi còn đi lên một hình ảnh là tôi ngồi viết xuống những điều mà mình biết ơn với một sư chị. Mỗi điều đó tôi viết vào một tấm giấy nhỏ hình tròn, tổng cộng là ba mươi mấy tấm, bằng với số tuổi sư chị. Rồi tôi cột tất cả lại để tặng cho sư chị nhân dịp sinh nhật.

Nhân duyên gặp gỡ sư chị thật lạ và tương đối dài lâu. Đó là khi tôi mới chân ướt chân ráo đến Làng, ở xóm Hạ làm cư sĩ dài hạn trong ba tháng an cư, còn sư chị làm giáo thọ tập sự. Sư chị đã nhận tôi làm y chỉ muội. Và cho đến tận ngày tôi rời Làng, sau hơn mười năm, cũng là sư chị ra đứng tươi cười vẫy chào cho đến khi xe tôi đi khuất, khi biết trong lòng tôi đang có bao nhiêu cảm xúc rối bời…

Nhớ những ngày đầu tiên ấy, tôi ngáo ngơ lắm, chưa có chút mùi vị tương chao gì, từ nhỏ đến lớn chỉ biết học hành nên đâu có biết cách sống trong chùa như thế nào cho phải phép. Sư chị phải “dạy dỗ” tôi từ đầu, từ cách ăn, cách đứng, cách ngồi cho đến việc nấu ăn, thưa hỏi quý sư cô… Mà tôi cũng đâu phải là người dễ dạy! Vì “trót” học hành nhiều quá nên người khác nói gì mình cũng hay lý luận, chất vấn. Sư chị đã phải nhiều phen “vất vả”. Thậm chí tôi còn nhất định không chịu viết thư lúc quý sư cô họp để xét tập sự và xét cho xuất gia vì cái thói tật “không thích hình thức” lẫn “ám ảnh” về những thủ tục hành chính từ thuở còn đi học ở Pháp, làm sư chị phải khuyên nhủ, giải thích, thuyết phục, lẫn năn nỉ và “đe dọa”… Để rồi cuối cùng tôi viết thư cho quý sư cô, mà nghĩ lại là vì thương sư chị đã phải vất vả với mình nên mới viết(!) Ngày tôi xuất gia, mấy cô trò ai cũng vui, sau buổi lễ, sư chị là người cạo tóc cho tôi, cho tôi bộ đồ vạt hò và cái áo nhật bình mà tôi mặc lần đầu trong cuộc đời xuất sĩ. Nhìn lại đoạn đường của mười mấy năm ấy, biết bao nhiêu chuyện buồn vui, lên xuống, thất thường của tôi đã xảy ra, như cái buổi đầu lơ ngơ đó. Tôi may mắn luôn có sư chị kiên nhẫn, thầm lặng, bao dung để sẻ chia, cho dù ở gần hay xa. Và tôi biết trong những tháng ngày sắp tới, sư chị sẽ vẫn luôn ở đâu đó để động viên, an ủi và khích lệ tôi những khi tôi buồn vui hay có những bất an, dao động. Tôi vẫn nhớ năm đầu tiên ấy, sau buổi lễ đối thú an cư của ba xóm, còn có thêm nghi thức các y chỉ sư và y chỉ muội đối thú với nhau tại mỗi xóm. Lúc đó, sư chị làm y chỉ sư cho một mình tôi và theo đúng nghi thức, các y chỉ muội sẽ thưa thỉnh và lạy y chỉ sư ba lạy trước khi vị y chỉ sư nói lời hoan hỷ nhận những vị đó làm y chỉ muội của mình! Tôi vẫn còn nhớ mãi buổi tối hôm đó. Không phải tình cờ là như vậy!

Và cũng vì niềm tin yêu đó mà bây giờ tôi mới thấy thương quý và mến phục các sư em của mình. Như mình ngày đó còn khờ dại, chẳng biết phép tắc gì mà rồi cũng “ráng tu”, đến một lúc thấy lòng tha thiết và trân quý biết bao nhiêu việc được làm một người tu, thì mới thấy các em mình bây giờ mới dễ thương, mới “chùa” làm sao và hẳn là… có tương lai! Nhìn các sư em ngoan hiền, siêng năng làm việc và đi công phu, hồn nhiên vui buồn… tôi luôn thầm cầu mong cho các em giữ hoài được cái tâm trong sáng, hiền lành ấy của mình, dù có thể đôi khi các em sẽ phải chịu ít nhiều thiệt thòi nào đó… Tôi gửi niềm tin và niềm thương ấy vào vũ trụ rồi đó, các em có nhận được chưa?

Tôi nhớ tôi viết một bài thơ sinh nhật có câu:

Sinh nhật mùa thu…

Cúi tạ đất trời vô cùng

Bao nhiêu nghĩa tình làm sao nói hết

Bao nhiêu thâm sâu làm sao thấy được…

Và:

Tạ ơn đời sống đã cho ta có mặt
Tạ ơn đời sống đã vì ta có mặt
Để ta biết yêu thêm, yêu hoài những nỗi đời riêng…

Thật lòng, đó là một hình ảnh mà tôi luôn cố gắng tỏ bày, dù không thể. Bao nhiêu niềm biết ơn sâu xa tự trong đáy lòng, đối với đất trời, với Thầy, với đại chúng, với mọi người và với tất cả những nhân duyên đẹp đẽ cho những cuộc hội ngộ vẫn luôn còn đó trong tôi!

Xin đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau

Xin đi từ thơ ấu, đi vui và bên nhau…

                                              (Kỷ niệm- Phạm Duy)

 

 

Tôi nhớ ngày tôi lên Sơn Cốc để chào sư cô Chân Đức trước khi sang Mỹ. Sư cô dạy tôi và một sư em: “Mình nhớ đi đâu thì cũng ‘mang’ Thầy theo – cách mình thở, cách mình đi, cách mình nói năng, tiếp xử… – mình làm như Thầy đang làm”. Chỉ có vậy thôi đó. Đủ để tôi làm hành trang mang theo với mình. Tôi nghĩ, sẽ có những công trình xây dựng và những chương trình hoằng hóa càng ngày càng quy mô để theo kịp thời đại, nhưng có lẽ cũng sẽ không lớn hơn hay cần thiết hơn những điều mà sư cô Chân Đức đã thay Thầy dạy tôi ngày ấy.

Mùa thu đông này, là một mùa đẹp cho tôi “quay về”, đúng nơi chốn và thời điểm. Những ngày về đây, tôi đã thỏa lòng đi vào rừng, bước những bước chân không thành tiếng trên lối đi đầy rêu mềm hay lá mục, đưa tay khẽ sờ vào những thân cây to lớn xù xì hay tựa người vào đó, cảm nhận năng lượng trầm hùng, bao dung của cánh rừng và đất Mẹ. Tôi muốn đi nhẹ nhàng cho trái đất yên bình trở lại. Và không cần khua động, tôi chỉ muốn có mặt tròn đầy để cảm nhận sự có mặt của tất cả sự sống quanh mình. Thiên nhiên không yêu mình theo kiểu quan tâm, chăm sóc; thiên nhiên chỉ cho mình không gian, vẻ đẹp, sự trong lành và tĩnh lặng đầy cảm thấu để mình có thể an lòng mà vui tươi và độ lượng.

Lúc này, tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Một trang sách mới mở ra, tôi tự nhủ lòng sẽ cẩn trọng để đọc và viết lên đó, cho hôm nay và cả những ngày sau. Tôi đang có tất cả những gì mình cần – để nghỉ ngơi, để bắt đầu lại và đi tiếp. Có thiền đường, có những con đường thiền hành, thư viện, nhà ăn… Có những người có thể cùng tôi bước đi những bước chân thảnh thơi và chánh niệm. Có vạt nắng, có cánh rừng, có con suối nhỏ hát ca, có những chú sóc hồn nhiên, có đàn nai bình yên ăn lá cỏ. Có những giây phút lặng lẽ “ngồi nghĩ lại mình” và buông xuống tất cả để lòng nhẹ nhõm… Chợt nhận ra đôi khi lòng mình chỉ khát khao những điều bình thường, giản dị như thế này thôi. Bây giờ là tháng Mười hai. Trời nhiều khi rất lạnh, nhưng tôi luôn yêu những buổi khuya đi từ phòng ngủ đến phòng học hoặc đến thiền đường; bước ra cùng trăng sao và chìm đắm vào cái tịch lặng không cùng của đất trời. Như những ngày tháng đầu tiên năm nào mới đến Làng, được thức dậy sớm để đi ngồi thiền cũng như thế. Đi như được trở về.

Những đợt tuyết đầu tiên của mùa đông đã bắt đầu rơi. Và với tuyết ai cũng có thể trở thành em bé, hồn nhiên để trông đợi, đón nhận và chơi đùa. Mùa lạnh đang đến rồi, nhưng tôi sẽ gắng giữ cho hồn mình ấm áp…

Pháp thoại trực tuyến: Xin nguyện làm mới thân tâm

(Thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung bài tụng “Sám Nguyện” trong sách Nhật Tụng Thiền Môn)

Trong đạo Bụt, chúng ta có danh từ tụng kinh. Tụng kinh có nghĩa là ôn lại, đọc lại những lời Bụt dạy. Có khi chúng ta tụng một mình, có khi chúng ta tụng với tăng thân. Có khi chúng ta tụng thầm, có khi chúng ta tụng thành tiếng. Có lúc trong khi tụng, ta có năng lượng của chánh niệm, của đức tin, của tình thương. Tụng kinh là để chúng ta có cơ hội tiếp xúc với lời Bụt dạy, tiếp xúc với tuệ giác của Bụt. Đồng thời ta có dịp tưới tẩm những hạt giống đẹp, lành, và tươi tốt ở trong ta. Từ đó, phát nguyện làm mới lại thân tâm mình bằng những hành động cụ thể đã được chỉ dạy trong mỗi lời kinh.

Đệ tử xin nguyền trở lại

Sống trong hiện tại nhiệm mầu

Vườn tâm ươm hạt giống tốt

Vun trồng hiểu biết, thương yêu.

(Trích từ bài tụng “Sám Nguyện” trong Nhật Tụng Thiền Môn)

Để dễ dàng trong việc học hỏi và hành trì những lời dạy được trình bày trong mỗi bài kinh, chúng ta nên dành thì giờ tìm hiểu và học cho thật sâu sắc ý kinh.

Kính mời đại chúng trở về thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, Làng Mai (Pháp) để được lắng nghe thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung của bài tụng “Sám Nguyện”. Bài tụng này có trong cuốn sách Nhật Tụng Thiền Môn – là một trong những cuốn kinh hiện đang sử dụng trong các buổi tụng kinh tại một số chùa và tư gia của người Việt. Đây cũng là cuốn kinh đang được lưu hành và sử dụng trong các thời công phu tại các tu viện Làng Mai khắp nơi.

Buổi chia sẻ với chủ đề “Xin nguyện làm mới thân tâm” sẽ được phát trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai lúc 9:30 sáng (giờ Châu Âu), vào khoảng 14:30 chiều (giờ Việt Nam) Chủ Nhật ngày 26/9/2021. Kính mời đại chúng truy cập vào liên kết dưới đây để cùng tham dự lắng nghe:

 

Mưa tình thương nảy mầm sự sống

Sư cô Chân Quy Nghiêm 

Hôm đó sau buổi thiền hành trên xóm quý thầy, sư em đang lững thững đi sau lưng một sư anh thì đột nhiên sư anh quay lại nhìn sư em và nói: “Mây mù che đỉnh núi”, rồi sư anh tiếp tục bước đi. 

Sư em giật mình, rõ ràng sư em đang suy nghĩ vẩn vơ không để ý đến bước chân hơi thở nên không thấy được quang cảnh trước mắt. Sư anh đi trước mà vẫn thấy được sư em đi sau đang làm gì, nghĩ gì để mà nhắc nhở. Đúng là con của Bụt, không lơ là chút nào. Sư em mỉm cười thầm cảm ơn sư anh. 

Hôm đó đúng là trời không có nắng, rặng núi Khao Yai hùng vĩ bị mây mù che, quang cảnh núi mây mờ ảo như trong tranh rất đẹp. Núi bị mây che có vẻ mơ màng nhưng sư em vẫn thấy được sự vững vàng của núi. Dù núi cao hùng vĩ bao nhiêu vẫn có lúc bị mây mù che phủ, núi biết điều đó, và núi cũng biết rằng rồi mây mù sẽ tan, nên núi không để mất sự vững chãi. Núi cũng thấy được rằng nhờ có mây mù mà có mưa, mưa làm lòng đất trở nên mềm mại, xanh tươi và nở đầy hoa. 

Mấy hôm nay sau buổi thiền hành, đi qua mấy lối cỏ về lại xóm mình, sư em để ý thấy có mấy cánh hoa trắng như tuyết nằm khiêm tốn đây đó trên mặt đất. Cỏ mới được phát sạch, hoa mới biểu hiện ra, mong manh và tinh khiết. Chắc chắn khi nằm trong lòng cỏ rậm, hoa vẫn nở thật tươi thắm, dù không ai trông thấy, hoa vẫn hiến tặng hết lòng sự có mặt tươi mát của mình. Đóa hoa nhỏ nhắn mà mầu nhiệm thay, giúp cho sư em khám phá lại chính mình, cũng như lời nhắc nhở của sư anh, ngắn gọn mà đầy đủ, giúp cho sư em nhìn lại sâu hơn. 

Sư em rất trân quý sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em trong Đại Chúng. Một đại gia đình có đủ mọi người đủ mọi lứa tuổi và trình độ khác nhau, cho nên sự thực tập có nhiều màu sắc rất phong phú. Sư em thấy ai cũng đóng góp yểm trợ cho nhau trong sự tu tập bằng nhiều phương cách. Đôi khi sự đóng góp yểm trợ không qua lời nói mà rất thầm lặng, kín đáo và sâu. 

Cho nên qua thời gian, sư em thấy ai cũng trở nên dịu dàng và chín chắn. Cái gì cũng cần thời gian để chuyển hóa, để phát triển. Chỉ cần mình có đủ kiên nhẫn, đủ niềm tin và sự tinh tấn, thì rác sẽ nở ra hoa và kết trái mà thôi. 

 

 

Đất mới bây giờ xanh mát và đầy hoa tươi thắm, một vùng cỏ cây chen đá, lá chen hoa ( Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)  rất là ngoạn mục. Không gian thênh thang, trời mây lãng đãng, về đây tự nhiên ai cũng trở thành thi sĩ và nhạc sĩ mà không cần cố gắng. Thiên nhiên đất trời tự nó đã là thơ là nhạc, mình chỉ cần có mặt ở đó để thưởng thức và được nuôi dưỡng. 

Sống được những gì Bụt dạy trong đời sống hàng ngày, sư em thấy tình thương tức thì được biểu hiện một cách tự nhiên, và mình thấy được tình thương luôn có mặt trong mỗi người mỗi vật chung quanh. Mình tu tập là để tiếp tục chăm sóc tưới tẩm cho tình thương đó luôn được bồi đắp và phát triển, không để nó trở nên héo hắt khô cằn. 

Mưa pháp mưa tình thương luôn làm cho sự sống nảy mầm tươi tốt.

Sư em thật hạnh phúc và tràn đầy biết ơn. 

 

Huyền thoại một chuyến đi

 

Thầy Chân Pháp Nguyện 

Ngày được thông tin về tình hình sức khỏe của Thầy đang trên đà xuống dốc, anh em tôi tranh thủ sắp xếp công việc để về có mặt bên Thầy. 

Chuyến bay hồi hương 

Tất cả các chuyến bay dân sự và thương mại quốc tế không được phép hoạt động trong thời gian đại dịch Covid-19, nên bốn anh em tôi từ tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan được Đại sứ quán Việt Nam ở Bangkok sắp xếp cho đi chuyến bay ‘hồi hương’ giải cứu đồng bào Việt Nam đang bị kẹt tại Thái Lan. Chúng tôi được thông báo chuyến bay sẽ hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất và sau đó sẽ được xe chuyển về cách ly tại trại quân đội ở Cần Thơ. 

Tại cổng bay, nhân viên hàng không phát cho mỗi hành khách một bộ dụng cụ phòng chống dịch Covid-19. Họ bảo: “Quý thầy mặc đồ này vào trước khi lên máy bay”. Tôi mở bao dụng cụ ra thì thấy trong đó gồm có: một bộ đồ phòng chống dịch màu xanh, một cái khẩu trang, một đôi găng tay và một cặp mắt kính bảo hộ. Tôi nhìn quanh thì thấy ai cũng tháo ra mặc vào. Thấy thế anh em tôi cũng làm theo. Mặc bộ đồ này cho tôi một cảm giác như là một phi hành gia và tôi đang chuẩn bị đi qua một hành tinh khác. Tiếp theo đó là những cảm giác nóng nực, khó chịu, v.v… Nghĩ đến những người phi hành gia phải mặc những bộ đồ còn cồng kềnh khủng khiếp hơn, thì tự nhiên bao nhiêu nóng nực, khó chịu trở nên lắng dịu. 

Chuyến bay VN 604 của hãng hàng không Vietnam Airlines bắt đầu khởi hành từ sân bay quốc tế Suvarnabhumi (Bangkok, Thái Lan) vào lúc 12:20 chiều, ngày 01 tháng 10 năm 2020. Chuyến bay gồm có 290 hành khách và tất cả đều mặc đồ đồng phục màu xanh bao phủ từ đầu cho đến chân, kể cả cặp mắt và cái miệng. Những người tiếp viên hàng không cũng không ngoại lệ. Không ai nói chuyện với ai. Tất cả đều chìm trong im lặng. Tôi thầm nghĩ đây là chuyến bay đầu tiên thực tập im lặng hùng tráng tuyệt đỉnh. Đúng 2 giờ 5 phút chiều, máy bay hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

 

 

Chuyến xe ân tình 

Xuống tới lầu dưới, có một vài người vì quá nóng nên đã tháo bộ đồ phòng chống dịch ra. Thấy thế một anh nhân viên tiến tới nhắc nhở mọi người không được cởi đồ và khẩu trang ra cho đến khi về tới trại cách ly. Nhìn ra, tôi thấy sáu chiếc xe buýt lớn đang chờ sẵn ở phía ngoài cửa hông của phi trường quốc nội. Có một anh hài hước nói rằng: “Ôi! Có một chiếc xe buýt nhìn giống như xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’ của thập niên 70”. Chúng tôi xếp hàng từng nhóm lên xe buýt. Tới phiên anh em chúng tôi là đúng chiếc xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’. Anh em tôi cười ríu rít! Tôi vui miệng nói đùa: “Đây là duyên của mình”. Đặc điểm của chiếc xe buýt này là không có máy lạnh và tất cả các cửa sổ đều được đóng lại và dán kín băng keo. Tôi thầm nghĩ bụng: “Nếu có một con Covid-19 nào trên xe thì cũng đừng mong mà tẩu thoát”. Tôi hỏi chú tài xế từ đây về trại cách ly ở Cần Thơ khoảng bao lâu. Chú bảo: “Mình về Đồng Nai”. Lúc này tôi mới biết Đồng Nai là nơi mà chúng tôi sẽ được cách ly. 

Trước đoàn xe buýt là một chiếc xe gíp do hai chú cảnh sát giao thông dẫn đường và phía hông là một chiếc xe mô tô do hai chú cảnh sát giao thông khác thổi kèn hộ tống. Đoàn xe vừa chạy vừa thổi kèn báo động, nên xe nào cũng phải tránh ra. Không khí tưng bừng nhộn nhịp như đưa đón tổng thống! Có một người hành khách bảo rằng: “Le quá! Mình được hộ tống như tổng thống Obama”. Một người khác nghe vậy rồi hài hước đáp rằng: “Không đâu, hộ tống Covid đó!”. Tôi ngồi im lặng mà thầm biết ơn chú tài xế và chiếc xe buýt rất nhiều. Chú tài xế lái xe rất chuyên nghiệp với nhiều bình an. Tôi nghĩ việc lái xe thì không khó, nhưng để làm một người tài xế bình an đưa những người có khả năng bị nhiễm Covid-19 đòi hỏi tình thương và sự can đảm. Một công việc ít ai muốn làm vì nó mang nhiều mạo hiểm. Trong khi đó thì chiếc xe buýt tuy trông rất cũ kỹ nhưng lại rất chung tình. Tôi thầm niệm đây là chiếc xe ân tình chứa đầy tình thương đưa người về chốn bình an, trong đó có sự giãn cách bất an và lo lắng. 

Tình người trong trại cách ly 

Chúng tôi may mắn được xếp ở chung với nhau cùng tám người khác. Trong đó có ba thầy từ truyền thống khác và năm người cư sĩ nam. Trại cách ly được chia ra thành hai khu vực, một bên nam một bên nữ. Mỗi phòng có khoảng từ 10 đến 12 người ở chung. Đây là Trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI, nên hạ tầng cơ sở được thiết kế theo kiểu quân đội. Trại gồm có bốn tòa nhà tập thể thiết kế theo mô hình chữ nhật, ở giữa là sân thể thao. Phòng ốc thì đơn giản chỉ có giường tầng, nhà vệ sinh tập thể, còn phần ăn uống thì có cơm hộp được đặt ở ngoài đưa vào mỗi ngày ba buổi.

Hiện tại, miền Trung đang bị bão lụt, nên thời tiết ở Đồng Nai cũng bị ảnh hưởng. Phần nhiều là ngày nào cũng mưa. Để sống sót được 14 ngày cách ly mà không bị trầm cảm thì phải có một biện pháp nuôi dưỡng chung. Nếu không thì suốt ngày chỉ biết nằm ngồi trên giường. Để cho căn phòng được ấm cúng hơn, anh em tôi quyết định sắp xếp lại căn phòng. Chúng tôi dời vài cái giường tầng lại gần với nhau để tạo thêm không gian ở khoảng giữa làm nơi ngồi chơi uống trà. May mắn cho chúng tôi là trại cách ly không xa ni xá Trạm Tịch, nên quý sư cô đã thương tình gửi vào cho một chiếc chiếu, năm cái tọa cụ, vài cây nến và một cây đàn ghi- ta. Phía sau nhà có một cái hàng rào với nhiều hoa dại mọc xen lẫn với nhau, thầy Pháp Niệm nhẹ tay hái một bó đem vào cắm trong bình nước và đặt giữa phòng trà. Thế là chúng tôi có được một phòng trà dã chiến ấm cúng hạnh phúc. Đây không chỉ đơn thuần là một phòng trà mà còn là thiền đường, phòng ăn và chỗ giao lưu kết nối nuôi dưỡng anh em tôi trong thời gian ở đây. 

Sau khi vào trại cách ly, chúng tôi mới biết các em thanh niên mà chúng tôi nhìn thấy ở phi trường Bangkok sáng nay là các em đi làm bất hợp pháp ở Thái Lan, nên đã bị giam giữ trong thời gian dịch bệnh. Tổng cộng có hơn 70 em được phép hồi hương kỳ này. Chúng tôi có cơ hội ngồi chơi và trò chuyện cùng các em. Có những em hoàn cảnh gia đình rất đáng thương, phần lớn từ Quảng Bình và Thanh Hóa. Vì kinh tế gia đình nên buộc phải đi qua Thái Lan kiếm sống. Có một em trai chia sẻ: “Ở Quảng Bình không có việc làm, nếu cứ ngồi không thì chết đói cả nhà, nên con qua Thái Lan tìm việc làm để giúp gia đình. Một tháng nếu con gói ghém, không xài, ít nhất con có thể dành dụm gửi về phụ giúp gia đình từ 7 đến 10 triệu đồng”. Tôi hỏi: “Em làm công việc gì ở Thái Lan?”. Em đáp: “Dạ, con giúp việc ở nhà hàng”. Phần lớn các em đến từ gia đình nghèo, ít học, nên công việc chỉ là lao động chân tay. Có em làm thợ hồ, có em phụ vựa rau, nhà hàng, hay bán hàng rong. Một em trai khác chia sẻ: “Cách ly ở đây quá sướng. Ở đây được cho ăn một ngày ba bữa đàng hoàng và có giường ngủ riêng”. Nghe những mảnh đời gian nan vất vả của các em, tôi cảm thấy chạnh lòng thương xót. 

Ngày nào chúng tôi cũng có cơ hội uống trà và ăn cơm chung với nhau ba buổi. Cứ vài hôm thì quý sư cô gửi thức ăn vô tiếp tế, nhờ thế mà chúng tôi có cơ hội san sẻ với các em. Một hộp mì gói hay một vài trái quýt, có lẽ không đáng giá là bao nhưng nó chứa đựng tình người. Có một em quê ở Sóc Trăng nói: “Đây là lần đầu tiên con được ở chung phòng với quý thầy. Con thấy năng lượng rất khác. Thật là một phước đức lớn cho con”. Trước khi rời trại, em cúng dường một chút tịnh tài để tiếp tục gieo duyên với quý thầy. Tôi cảm được lòng quý kính Tam bảo và âm thầm hồi hướng công đức cho em. 

Mỗi ngày trong trại tôi tự nuôi mình bằng những pháp môn căn bản như thiền tọa, thiền hành, uống trà, tập thể dục, v.v. Tôi không xem đó là thời khóa mà thấy nó là lẽ sống rất tự nhiên, là thức ăn nuôi dưỡng hàng ngày không thể thiếu. Tuy không gian trong trại nhỏ bé, nhưng tôi cảm thấy đủ thoải mái và hạnh phúc. Tôi tự nhắc mình hai tuần cách ly này là món quà vô giá để nghỉ ngơi. Nhờ thế mà tôi tìm được niềm vui, lấy được sự quân bình, và thấy được nhiều ý nghĩa trong cuộc sống. 

 

 

Về bên Thầy 

Trước cửa thất Lắng Nghe có để vài chai khử trùng, một hộp khẩu trang y tế, và một hộp bao giầy. Vào thời điểm này, đó là quy định trước khi vào thất, mọi người phải khử trùng và mang khẩu trang. Tôi thở ba hơi dài trước khi bước vào thất. Cảnh tượng và không khí trong thất rất thân thương và sống động như ngày nào. Nó cho tôi một cảm giác quen thuộc lạ thường. Tôi rất hạnh phúc vì Thầy vẫn còn đó. Tôi im lặng bước đến, nắm lấy tay Thầy rồi ngồi yên thưởng thức sự hiện hữu của nhau. 

Lần sau tôi trở lại thăm Thầy vào buổi tối. Tôi bước đến xá Thầy, rồi nhấc cái ghế ngồi bên tay trái Thầy, vì Thầy thuận nhìn bên trái. Tôi chắp tay nhìn Thầy, thưa: “Thưa Thầy! Con là Pháp Nguyện. Con đã tới và con đã về bên Thầy đây!”. Tôi quan sát và thấy rằng tuy Thầy yếu nhưng vẫn tỉnh táo, đặc biệt là đôi mắt rất trong. Sau thời gian ngồi thở trong im lặng với Thầy vài phút, tôi nắm lấy tay Thầy rồi bắt đầu chia sẻ: “Thưa Thầy! Chúng con rất biết ơn sự hiện hữu của Thầy. Hôm nay là ngày 11 tháng 11, đúng sáu năm từ khi Thầy bị đột quỵ. Trong sáu năm qua, Thầy đã từ bi thị hiện để tiếp tục làm chỗ nương tựa tinh thần cho chúng con. Thầy đã cho chúng con rất nhiều thời gian cũng như không gian để trưởng thành, để lớn lên ,và để củng cố sự tu học. Nhờ vào lòng từ bi và đức độ của Thầy, tăng thân của mình bây giờ khá vững mạnh, tứ chúng tu học hết lòng. Con biết lúc nào Thầy cũng thong dong tự tại. Việc cần làm đã làm. Chúng con nguyện đặt hết tâm sức để tiếp tục sự nghiệp của Thầy. Xin Thầy hãy yên lòng!”. Trong khi trò chuyện với Thầy, tôi cảm được hơi ấm từ bàn tay của Thầy như một nguồn năng lượng dâng trào. Thầy nhìn tôi chăm chú với khuôn mặt đầy sức sống và thấm nhuần lòng từ bi như đang gửi gắm một niềm tin trọn vẹn. 

Nhờ Bụt Tổ gia hộ, sức khỏe của Thầy trở nên khá hơn mỗi ngày. Đến lúc này thì tay và chân trái của Thầy đã cử động được khá nhiều mà Thầy thường dùng để biểu lộ cảm giác. Bên cạnh đó, Thầy cũng dùng cặp mắt tinh anh để truyền đạt ý nghĩ của Thầy. Hơn ba tháng qua, có thể nói Thầy đã đủ khỏe để lấy lại chủ quyền của một vị thiền sư. Vì thế, trong mấy ngày này các anh chị em thị giả cũng phải cẩn thận lắm. Nếu không thì sẽ bị “quất một gậy”. Cây gậy của Thầy rất từ bi, nhưng rất hữu hiệu, đó chính là đôi mắt. Chỉ cần nhìn anh em thị giả chúng tôi một cái thôi thì cũng đủ làm cho chúng tôi “hú hồn”. 

Chuyến về Việt Nam thăm Thầy kỳ này, đối với tôi là một chuyến đi huyền thoại, có một không hai. Nó không thể nào có được nếu không có những tấm lòng Bồ tát đứng phía sau giúp đỡ, cũng như những tấm lòng bền sắt tươi son luôn có mặt đó để chăm lo cho Thầy. Tôi xin tri ân đại chúng cũng như những người hảo tâm đã yểm trợ và giúp đỡ chúng tôi có được visa. Chúng tôi nghĩ rằng chuyến này về là để chuẩn bị hậu sự cho Thầy. May mắn thay, con cháu về đông vui nên sức khỏe của Thầy khá lên. Chúng tôi biết tất cả đại chúng khắp nơi trên thế giới cũng đã và đang tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy. Chúng tôi rất biết ơn đại chúng. Theo kinh nghiệm trong thời gian qua cho thấy năng lượng tập thể rất quan trọng. Nếu chúng ta đều suy nghĩ tích cực, hướng về cái thật, cái thiện và cái đẹp thì năng lượng tập thể đó có thể thay đổi được tình hình. 

Tôi đã trải nghiệm và học hỏi được rất nhiều điều trong chuyến đi này từ lúc khởi hành. Ý chí mạnh mẽ của Thầy đã dạy cho tôi một bài học vô giá: dù cuộc đời có bão táp phong ba ra sao cũng đừng vì thế mà bỏ cuộc. Hãy can đảm đứng lên sau khi vấp ngã, hãy can đảm sống thực với lòng mình, và hãy can đảm làm một con người vô sự.