Thư gửi bạn trẻ – Sóng không chỉ là sóng mà còn là nước nữa

Thân gửi các bạn trẻ như mình,

Lời đầu tiên mình thật sự rất biết ơn sự động viên của quý thầy và quý sư cô BBT Làng Mai đã giúp mình mạnh dạn hơn để bắt đầu những dòng đầu tiên cho bức thư này, với mục đích gửi đến các bạn trẻ như mình.

Vậy Mình là ai? Theo định nghĩa trên CMND thì mình có họ có tên, mình mang tư tưởng của cả 3 thế hệ X, Y và Z; có học vấn, đã từng có công việc lương ổn, vị trí tốt. Nhưng rồi mình nghỉ việc và trở thành một freelancer – để mình có thời gian tìm hiểu về chính mình, tìm hiểu về Phật pháp.

Mình vốn rất hay đặt những câu hỏi cho chính bản thân, nên các đoạn bên dưới sẽ bắt đầu bằng câu hỏi. Tiếp đó, là hành trình mình đi tìm câu trả lời, cũng như bắt đầu với Phật pháp như thế nào?

Vậy bây giờ, tụi mình ngồi lại cùng nhau, cùng tâm sự với nhau xem đâu đó bạn và mình có đang bên nhau không nha?

 

 

“Vì sao tốt nghiệp đại học xong phải đi làm? Lấy chồng/ lấy vợ và sinh con vậy ạ?”

Là câu hỏi của một đứa sinh viên dành cho người lớn, nhưng ai cũng trả lời nó là “Đây là quy luật” của cuộc sống rồi. Mình thấy chưa đúng ở đâu đó, vì sao nó phải đi theo quy luật này. Rồi mình quyết định lấy học bổng du học với cái suy nghĩ lúc đó “Thoát khỏi cái vòng tròn luẩn quẩn kia”.

Những người xung quanh bảo cái lý do mình đưa ra thật chẳng giống ai, và vì bản tính nổi loạn trong mình quá lớn nên mình quyết định vậy thôi. Nhưng với mình, chỉ đơn giản mình muốn trốn tránh và tìm ra câu trả lời cho riêng mình.

 “Rồi mình cũng có thoát ra được cái vòng tròn đó đâu?”

Về lại Việt Nam, mình làm tất bật sáng tối để bù lại thời gian mình đi học. Lúc đó mình phải cạnh tranh với các đồng nghiệp, vì kinh nghiệm làm việc của mình là số 0. Tất cả những gì mình có là vốn kiến thức chưa được thực hành bao giờ. Với một áp lực vô hình, khi thực sự làm việc tại Việt Nam mình mới thấy “Kinh nghiệm làm việc là trên hết”. Đây là sức ép cũng như động lực khá lớn để mình làm “bán mạng”- cụm từ mà mọi người nhìn vào mình thời điểm đó và nói. Đền đáp lại mình được đã được thăng chức, lên lương…

Và rồi lần đầu tiên ấy cũng xảy ra, mình phải cấp cứu khi đang trên đường về nhà vào cuối tuần. Lúc tỉnh dậy nhìn thấy trần bệnh viện, mình bật khóc. Khóc lớn ơi lớn, khiến ai cũng nhìn. Rồi ba má cũng không biết có chuyện gì mà mình khóc to đến vậy. Chỉ có bản thân mình hiểu bài học sâu sắc vào lúc đó “Quan trọng nhất vẫn là sức khoẻ, và những người thân bên bạn – đừng làm họ lo lắng vì bạn.”

Thời gian sau đó, tối nào mình cũng khóc và đặt câu hỏi “Có đáng không, có tiền thì như thế nào, lúc bạn chết rồi, ai sẽ là người đau khổ nhất lúc này?”. Rồi mình bị stress (căng thẳng), mình tự mâu thuẫn với chính bản thân và lặp lại vòng tròn suy nghĩ: “Nhưng cái vòng cơm áo gạo tiền đó, mình có thoát được đâu. Không có tiền thì cũng đâu trả được viện phí nếu mình nằm xuống…”

Mình bắt đầu không chịu được áp lực do chính mình tạo ra. Để xoa dịu tinh thần, mình quyết định xin nghỉ việc và đi học vẽ. Một lần nữa mình vẫn loay hoay muốn thoát ra.

 “Em là ai? Vì sao em lại ở đây? Sau khi chết, em sẽ đi về đâu?”

Có bao giờ bạn tự hỏi mình ba câu này chưa?

Đây là ba câu hỏi mình được một thiện tri thức đặt cho mình, người mình gặp được lúc đi học vẽ, và vẫn đang hướng dẫn mình thực tập đến bây giờ. Ba câu hỏi được đặt ra và mình phải tự tìm câu trả lời. Lúc đó mình băn khoăn nhiều lắm, không biết bắt đầu tìm ở đâu và như thế nào cả.

Mình đi tìm câu trả lời trên sách, triết học, trên mạng. Nhưng sách thì vô số, kiến thức thì nhiều vô kể. Cuối cùng mình bị lạc lối. Cho đến khi mình nhận được gợi ý là tìm hiểu về Phật giáo. Từ nhỏ mình từng biết đến chùa, tụng kinh, quy y và nghe pháp. Nhưng đến lúc này, mình chợt nhận ra: mình không biết gì cả. Một lần nữa, đầu mình như muốn nổ tung với những lầm tưởng hiểu biết của mình về Phật giáo.

Mình bắt đầu tìm hiểu về các khái niệm: “Đạo phật, Tam bảo, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Nghiệp quả, Nhân duyên, Vũ trụ quan của Phật giáo” và nhiều nhiều các khái niệm liên quan khi mình tìm hiểu. Mình tiếp nhận kiến thức theo hướng đọc hiểu và chưa thể hiểu sâu về nó. Vốn liếng ban đầu của mình là tìm đọc trên Wikipedia hoặc các website (trang mạng) diễn đàn Phật học, nơi cho mình kiến thức tổng quan nhất. Lúc này mình có sơ khởi lên được câu trả lời, nhưng mình không biết liệu câu trả lời của mình là đúng hay sai. Mình mâu thuẫn với chính bản thân mình vào lúc này. Và vẫn bế tắc.

 

 

“Đời là bể khổ?”

Sau đó, mình cũng chuyển công tác vài nơi. Câu chuyện bất đồng quan điểm với sếp, công việc cứ lặp đi lặp lại mỗi ngày, hoặc đại loại các vấn đề chốn công sở với đồng nghiệp, với nhân viên mình cũng gặp cả; vui-buồn-giận-tủi đầy đủ trải nghiệm. Thêm nữa, chuyện tình cảm của mình cũng xảy ra chia ly vào thời điểm này.

Rồi mọi người truyền miệng nhau câu “Đời là vô thường mà”, “Có duyên thì gặp lại”. Lúc mới nghe thì mình hoàn toàn chưa hiểu được rõ nghĩa của Vô thường đâu, cứ nghĩ theo hướng buông xuôi thôi ấy. Rồi khi những suy nghĩ tiêu cực xuất hiện và mình bắt đầu mất niềm tin vào bản thân. Mình không biết mình sống vì mục đích gì? Cho dù mình có biết về Tứ đế, thì mình cũng chỉ đang nhìn mọi thứ xung quanh ở đâu cũng là khổ đau…

Cho đến khi, mình vô tình ra nhà sách và tìm đọc cuốn “Trái tim của Bụt” của Sư Ông làng Mai, vì mình vốn muốn hiểu và thực tập về Tứ diệu đế. Và thật may mắn hơn nữa khi mình tìm được kênh Youtube Làng Mai, mình đến được với Pháp thoại Phật pháp căn bản – Trái tim của Bụt.

Mình quyết định nghỉ làm và chuyển sang chế độ làm việc tự do để mình có thể tập trung nghe các bài giảng của Sư Ông đều đặn. Mỗi sáng thức dậy mình rất vui, tâm trạng như quay lại thời đi học vậy (có sách, có Sư Ông giảng bài, mình ghi chú lại kiến thức mình cần nhớ) và quan trọng là thực tập các bài giảng mỗi ngày.

Thời gian này mình mới thật sự hiểu, biết quán chiếu, và thực tập về Phật pháp. Khi gặp lại hai từ Vô thường, mình không còn sợ hãi nữa. Vô thường không có nghĩa là buông xuôi mà là biết cách trở về với hiện tại, về với ngôi nhà lâu ngày không quét dọn của mình. Và từ đây, mình tìm ra được các câu trả lời cho riêng mình.

Để mình thực sự hiểu ”Sóng không chỉ là sóng mà còn là nước nữa. Ngay khi nó nhận ra nó là nước thì mọi khổ đau tan biến” – Sư Ông Làng Mai.

 

 Bức tranh do chính tác giả vẽ 

“Hạnh phúc là gì và mình tìm được nó ở đâu?”

Mình chỉ vừa bước vào hành trình tu học và mình mong rằng các bạn không lạc lối, hoặc cảm thấy cuộc đời vô nghĩa như mình đã từng. Bạn nên biết rằng xung quanh bạn cũng có những người đang như bạn, bạn không hề cô độc trên hành trình này. Và hạnh phúc luôn hiện diện “bây giờ và ở đây”.

Mâu thuẫn của bản thân sẽ luôn có mặt, lúc này bạn nên tự hỏi mục tiêu của bạn là gì? Và tập trung nói chuyện với chính mình để tìm ra câu trả lời.

“Đừng tìm về quá khứ

Đừng tưởng tới tương lai

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới

Hãy quán chiếu sự sống

Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú,

Vững chải và thảnh thơi.” 

(Trích trong “Kinh Người Biết Sống Một Mình”)

Trên đây là một phần câu chuyện của mình. Với mình, học Phật là con đường duy nhất giúp tìm ra được các câu trả lời. Mình vẫn đang tiếp tục bước đi trên hành trình này và mình biết mình không cô đơn.

Mình hiểu bạn cũng có rất nhiều câu hỏi và muốn tìm câu trả lời của riêng bạn. Vậy hãy bắt đầu xây viên gạch cơ bản nhất, bạn sẽ tìm được câu trả lời cho chính bạn.

Mình mong bạn luôn biết tưới tẩm những hạt giống thiện lành trên mảnh vườn của bạn, để bông hoa ấy nở thật đẹp và hương hoa lan toả tích cực đến mọi người xung quanh. Đóng góp việc tốt cho xã hội không nhất định phải đợi đến khi bạn phải sở hữu một cái gì đó đâu.

Các bạn trẻ, các bạn thích trải nghiệm thì cứ trải nghiệm. Quan trọng là biết quay lại nhìn về chính bản thân và đặt câu hỏi “Bạn thật sự muốn gì, sau hết tất cả?” 

Cảm ơn bạn đã đọc đến những dòng cuối thư này. Mong bạn tìm được câu trả lời cho chính bản thân và tưới tẩm cho mình một vườn hoa thơm ngát.

Thân ái,

Mình,

Diệu Thảo – Lương Vương Hạnh

 

 

Khả năng tự chữa trị

Trích trong sách “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” của Sư Ông Làng Mai

 

Khoảng mười lăm năm trước tôi có gặp một chàng thanh niên tại thành phố Montréal, Canada. Anh ta đã cho tôi biết là anh đang bị bệnh ung thư rất nghiêm trọng và sẽ không sống được bao lâu nữa. Sau khi chẩn đoán bệnh tình, bác sĩ cho biết là anh chỉ có thể sống thêm được ba tuần lễ nữa thôi hoặc có thể ít hơn. Hôm đó tôi ngồi ăn sáng bên cạnh anh ấy. Tôi đã ăn sáng thật chánh niệm và trong khi ăn, tôi không suy nghĩ gì về phương cách giúp anh ấy cả. Sau khi ăn xong, tôi quay sang và chia sẻ với anh ấy về nghệ thuật sống an lạc và hạnh phúc trong giây phút hiện tại theo giáo pháp Hiện pháp lạc trú. Tôi đã nói với anh ấy rằng: “Cho dù anh chỉ còn có khoảng ba tuần nữa để sống, nhưng anh vẫn có thể sống sâu sắc trong từng giây từng phút của đời sống còn lại của mình”. Tôi có nói với anh ấy rằng có những người sống tới sáu mươi năm, bảy mươi năm hoặc tám mươi năm, nhưng họ không biết sống đời sống của họ một cách sâu sắc trong giây phút hiện tại, họ không có cơ hội để làm điều đó. Do đó bảy mươi năm hoặc tám mươi năm sống trong sự quên lãng, trong sự hưởng thụ, ăn chơi trác táng… thì chẳng có ý nghĩa gì cả. Tôi có nói tiếp rằng: “Nếu anh biết sống sâu sắc mỗi giây phút của đời sống mình, thì ba tuần lễ là nhiều lắm”. Nghe tôi nói như thế, anh vô cùng vui sướng, xúc động. Tôi đã chia sẻ cho anh ấy các phương pháp thực tập hơi thở chánh niệm và thiền đi. Sau khi tiếp nhận những lời hướng dẫn, anh ấy đã thực tập rất miên mật, đã sống rất sâu sắc những ngày còn lại của đời sống mình; và mầu nhiệm thay, anh đã sống thêm được mười một năm. Anh đã tiếp nhận Ba Sự Quay Về (Tam Quy) và Năm Giới Quý Báu; tôi đã đặt pháp danh cho anh là Chân Sinh.

 

 

Theo lời Bụt dạy, nếu chúng ta có những đau nhức, những vết thương trong thân và tâm, mình có thể dùng hơi thở chánh niệm để ôm ấp và chăm sóc chúng. Có rất nhiều phương pháp tu tập có thể giúp mình thực tập chăm sóc những vết thương, những niềm đau trong thân tâm. Chúng ta phải cho phép thân và tâm mình cơ hội để được chữa trị. Chúng ta biết rằng cơ thể và tâm thức mình có khả năng tự trị liệu rất mầu nhiệm, nhưng vì thiếu sự hiểu biết và kiên nhẫn nên mình không tạo cơ duyên thuận lợi cho khả năng tự trị liệu trong thân tâm mình. Chúng ta luôn luôn lo lắng, sợ hãi, bối rối khi bị những niềm đau, nỗi khổ trấn ngự và chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào thuốc men, nhất là thuốc Tây. Khi ngón tay của mình bị thương, mình không cần phải làm gì nhiều; chỉ cần rửa cho sạch vết thương bằng thuốc sát trùng và để cho nó tự trị liệu lấy. Chỉ cần hai ba ngày sau là vết thương được chữa lành. Nếu quá bối rối, lo sợ và làm đủ điều để băng bó vết thương thì vết thương sẽ rất khó lành. Nhất là khi lo lắng quá độ.

Bụt đưa ra một ví dụ rất hay về một người bị trúng tên. Khi một người bị trúng tên, người đó rất đau nhức. Nếu liền sau đó có một mũi tên thứ hai lao đúng vào chỗ của mũi tên thứ nhất, thì cơn đau nhức không phải chỉ tăng lên gấp hai lần, mà nó tăng lên gấp mười lần hoặc nhiều hơn thế. Cũng vậy, nếu mình có một vết thương trong cơ thể và mình phóng đại nó ra do sự lo lắng và hoảng sợ thì vết thương sẽ trở nên trầm trọng hơn gấp trăm lần. Cách hay nhất là trở về nắm lấy hơi thở chánh niệm – thở vào và thở ra cho thật sâu sắc, dùng năng lượng chánh niệm để ôm ấp và làm cho niềm đau êm dịu trở lại, sau đó nhìn sâu để thấy bản chất của vết thương. Thở vào, mình thầm niệm: ”A! đây chỉ là sự đau nhức của hình hài. Niềm đau nhức này có thể được chữa trị nếu mình cho nó cơ hội tự chữa.” Nếu cần, mình có thể tư vấn với bác sĩ để bác sĩ xác nhận cho mình là vết thương hay sự đau nhức không có gì đáng lo ngại. Khi có một niềm đau nỗi khổ trong thân tâm, không nên hoảng sợ, bởi vì hoảng sợ là một tâm hành phát sinh từ vô minh. Lo lắng và hoảng sợ là những tâm hành trong năm mươi mốt loại tâm hành. Chúng thường làm cho tình trạng trở nên trầm trọng hơn. Mình phải tin vào trí tuệ và khả năng tự trị liệu của cơ thể mình. Thân và tâm mình có tiềm năng tự chữa trị rất mầu nhiệm. Một niềm đau nho nhỏ trong cơ thể và trong tâm không thể hủy diệt mình được đâu.

Khi con thú bị thương, nó thường tìm một nơi thật yên vắng để dưỡng thương. Điều đó cho chúng ta thấy rằng trong cơ thể của con thú có tuệ giác. Con thú biết rằng đi tìm nơi yên vắng để nghỉ ngơi là giải pháp hay nhất. Trong khi bị thương, nó không màng làm gì hết, không cần ăn, không cần đi săn mồi; nó chỉ tìm một nơi yên vắng để dưỡng thương mà thôi. Sau vài ngày điều dưỡng, vết thương của nó được chữa lành hoàn toàn và nó bắt đầu sinh hoạt bình thường trở lại. Ngày nay con người dường như đã đánh mất hoàn toàn niềm tin nơi khả năng tự chữa trị của thân tâm mình. Khi có niềm đau nhức trong thân hoặc trong tâm, ta rất hoảng sợ và tìm đủ mọi cách làm cái này làm cái nọ để quên đi niềm đau nhức ấy; ta uống hết thứ thuốc này đến thức thuốc khác để tống niềm đau ra khỏi thân tâm ta càng nhanh càng tốt. Ta lo lắng quá độ. Vì lo lắng quá độ nên ta không cho phép cơ thể ta cơ hội để nghỉ ngơi và tự điều trị. Ta không biết cách nghỉ ngơi, không biết cách thực tập buông thư. Hơi thở chánh niệm giúp ta học trở lại nghệ thuật buông thư, nghỉ ngơi. Hơi thở chánh niệm giống như người mẹ hiền đang ẵm đứa con yêu quý của mình vào vòng tay và nói: “Con ơi, mẹ đây con. Đừng sợ. Ngủ đi con. Yên giấc đi nào.”

Phép thực tập buông thư, nghỉ ngơi là liều thuốc hữu hiệu giúp ta đối trị với căn bệnh lớn của thời đại, đó là bệnh căng thẳng – stress. Nhiều người trong chúng ta chưa biết cách sử dụng những ngày nghỉ của mình một cách có lợi ích. Thường thường sau một dịp nghỉ hè, nghỉ lễ, người ta trở nên mệt mỏi hơn, căng thẳng hơn. Tôi mong rằng trong các buổi pháp đàm chúng ta có thể chia sẻ và đưa ra những phương cách cụ thể, hữu hiệu như làm thế nào để nghỉ ngơi cho có ích lợi. Trong khóa tu này, chúng ta sẽ có cơ hội thực tập pháp môn thiền buông thư.

 

 

Chúng ta phải tin vào khả năng tự trị liệu của thân tâm ta. Tiềm năng tự chữa là một thực tại, nhưng chúng ta đã đánh mất niềm tin ấy nơi tự thân. Ngược lại, ta dùng quá nhiều các chất dinh dưỡng, thuốc men và chính những thứ đó đôi khi lại tạo ra phản ứng phụ và trở thành nguy hại cho cơ thể ta. Con thú biết rằng bốn hoặc năm ngày không ăn sẽ không nguy hại gì đến tính mạng của nó, ngược lại nhịn đói và nghỉ ngơi sẽ giúp cho vết thương của nó chóng lành hơn. Thế nhưng con người thời nay thì khác, họ rất sợ nhịn đói. Ta nghĩ rằng nếu không ăn gì thì cơ thể sẽ bị suy nhược và vì vậy vết thương của ta sẽ không có cơ hội để tự điều trị. Điều này cần phải xét lại. Thời xưa, người ta thường nhịn đói vài ba tuần liên tiếp mà không hề gì. Đây là phương cách rất hay để điều trị những vùng đau nhức trong cơ thể và tâm thức ta. Ta phải tin vào sức mạnh của trí tuệ, tình thương và khả năng tự chữa trị trong ta. Những năng lượng đó là những năng lượng của Bụt, là cõi Tịnh Độ biểu hiện từ tâm, là Nước Chúa, là nơi nương tựa vững vàng nhất. Nếu mất niềm tin nơi khả năng tự chữa trị của thân tâm ta, nơi sự hiểu biết và thương yêu trong ta, tức là ta đánh mất gia tài quý báu ấy. Đây không phải là vấn đề trừu tượng mà là một thực tại mầu nhiệm. Một thực tại ta có thể sờ mó, trân quý và nương tựa. Vậy thì thay vì hoảng sợ, tuyệt vọng, bất an, ta nên thực tập trở về với hơi thở chánh niệm và đặt hết niềm tin vào sức mạnh của khả năng tự chữa trị của thân tâm ta, của khả năng hiểu và thương trong ta. Đây là sự thực tập quay về nương tựa nơi hải đảo tự thân mà Bụt đã căn dặn chúng ta. Ngài khuyên bảo chúng ta hãy luôn luôn quay về nương tựa nơi hải đảo tự thân, mà đừng nương tựa vào bất cứ một pháp nào khác hoặc một ai khác. Đó là hải đảo của bình an, của niềm tự tin, của đức vững chãi, hiểu biết, thương yêu, thảnh thơi và giác ngộ của tự tâm. Hãy nương tựa nơi hải đảo của tự thân. Ta không cần phải chạy tìm ở bất kỳ một nơi nào khác. Hơi thở chánh niệm giúp ta trở về với hải đảo quý giá đó trong tự thân để có thể thực nghiệm được thực tại nhiệm mầu ấy nơi chính mình.

Mỗi khi gặp nguy hiểm hay bị lâm vào tình trạng khó khăn hoặc thấy mình bị cuốn hút vào một ý tưởng phiêu lưu nào đó, ta hãy lập tức nắm lấy hơi thở chánh niệm để trở về với hải đảo của chính mình. Có bài thi kệ giúp ta thực tập rất hữu hiệu khi gặp những tình huống khó khăn. Và đây là bài kệ:

Quay về nương tựa

Hải đảo tự thân

Chánh niệm là Bụt

Soi sáng xa gần.

Hơi thở là Pháp

Bảo hộ thân tâm.

Năm Uẩn là Tăng

Phối hợp tinh cần.

Thở vào, thở ra

Là hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang.

Trong khi đọc bài thi kệ này, ta có cơ hội trở về nương tựa nơi hải đảo an toàn của chánh niệm, thiết lập được trở lại chất liệu bình an và sự thanh thản ngay trong giây phút ấy. Làm được như thế, ta sẽ cảm thấy thoải mái, nhẹ nhàng ngay lập tức.

 

 

Đừng giấu một giấc mơ

Thầy Chân Trời Văn Lang

 

Giấc mơ đêm qua,

Mẹ về.

Tiếng chim bên cửa sổ,
Hót cho vầng trăng nghiêng nỗi nhớ, 

Ú ớ cơn mơ,

Con chẳng kịp lời…
Giếng nước vẫn đầy… cổ tích… à ơi!

Có hoa lau,
Cuối đồng,
Vẫn trắng.
Mẹ!
Dầm mưa dãi nắng,
Mang lời ru,
Dịu ngọt,
Phía lưng trời…
Vầng trán nhăn còn in dấu… à ơi!

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ”

Vầng trăng trên đầu lặng lẽ
Phía con ngồi,
Mồ côi những lời ru!
Vườn cải hoa vàng,
Năm ấy,
Mùa thu….
Phù sa trên sông,
Thơm trong từng gân bưởi,
Khăn tang gửi trên đồng,
Hoang vu từng mùa gặt thơ con.
Có những chiều mưa non nớt,
Câu hỏi sinh thành bất chợt,
Mộ mẹ ướt bên nào?
Nghiêng hơi ấm,
Về hong!
Mưa ướp cõi lòng,
Dọn dẹp tâm mình,
Đợi mặt trời lên,
Reo với nắng vàng,
Sau ngày bão lớn.

Bát canh hẹ rối lòng,
Tiếng gà gáy sớm,
Tình thương riêng gửi góc trời.
Bàn chân quen con đường lặn lội…
Có những điều chưa nói,
Mượn hương đêm trả lại nắng chiều

Như bông lúa vàng,
Cắm trong bình nhỏ,
Nhớ cánh đồng cô liêu!
Chập chờn những bông hoa
Nụ mang giọt sương đêm
Long lanh sáng mặt trời trên mắt Bụt…

Đôi dép mòn lây lất,
Nghe mồ hôi,
Mặn dưới ánh mặt trời…
Trong xanh như trùng khơi,
Mẹ!
Ánh sao rơi.
Cho con,
ngơ ngác,
Dừng tháng ngày phiêu bạt…
Con về,
Lặng im!
Mẹ là hạt sỏi…
Dặn con:
Đường xa chớ vội!
Hóa giải ngàn câu hỏi
Bằng nụ cười
Nước mắt thành mưa
Mây trời
Tóc mẹ…
Và con,
Áo nâu,
Nón lá,
Lắng lòng nghe,
Tiếng mẹ gọi trên đường…

 

Vén mây giữa trời

 

Thầy Chân Trời Văn Lang

Thầy kính thương,
Khi con viết những dòng này thì tháng ngày cũ trở về chiếm lấy tâm con. Ngày ấy, mẹ con mất sớm, con tìm mẹ qua những bài thơ, bài nhạc bên ngoài để “sống nhờ” và vẽ lại chân dung của mẹ. Nhưng đa số tác phẩm con tiếp nhận được thường buồn, con bị xông ướp trong âm hưởng đó, dù con có ý hướng đến một cái gì trong sáng, nhẹ nhàng, sâu thẳm và có lối đi. Rồi một buổi chiều nơi nhà người quen, con tình cờ đọc được đoản văn Bông hồng cài áo của Thầy do ai đó chép tay trong một cuốn sổ đã cũ màu, để những mong ước kia cựa mình lớn dậy. 

Khi đọc, con có cảm tưởng như Thầy đặt tay trên trái tim con mà viết, dù lúc đó con chưa biết Thầy là ai, đoản văn được chép tay ấy đã không đề tên tác giả. Sau này, con mới biết sách Thầy ít được xuất bản ở Việt Nam sau những năm Thầy ra nước ngoài kêu gọi hòa bình. Con tự hỏi làm thế nào Thầy diễn bày và đưa mẹ về trong con bằng tình thương với tuệ giác chân thường đến vậy? Chính sức mạnh của thương yêu, lòng biết ơn và tuệ giác nơi Thầy, một cách tự nhiên, đã làm nên mối túc duyên cho con được gặp Thầy, về lại suối nguồn thiêng liêng bởi ai cũng là con của Mẹ. Từ đó, con có cơ hội trở về để tự cài lại đóa hoa trong con thật trang nghiêm, đúng nghĩa của một người con thương mẹ. Lòng biết ơn và tình thương đã trồng một căn lành dẫn con về bên Thầy, về với những sâu lắng, nhẹ nhàng, thảnh thơi. 

Con được gặp Thầy và tăng thân qua những trang sách hay pháp thoại của Thầy, qua thư gửi Thầy của những người con áo nâu… Những cái đẹp, thật và lành ấy đã nuôi dưỡng con. Con đã có đường đi giữa bao chùng chình, do dự. Con đi theo Bụt, theo bước chân Thầy, đi theo tiếng gọi âm thầm nơi trái tim khi thấy con cần phải làm gì đó cho cuộc đời này đẹp ra, để không phí hoài một kiếp người. Hơi ấm tình thương, tuệ giác và con đường mở rộng của Thầy là bàn tay đưa con ra khỏi cô đơn, buồn khổ và lay dậy những ước vọng trong con.

Trước khi gặp Thầy, con từng chạy theo sự thần hóa để tìm mẹ hay đi tìm trong tự ngã một linh hồn bất diệt. Điều ấy làm con chao đảo. Thầy đã nghiêng ngọn đuốc và đôi mắt hiền cúi xuống để khơi lại ngọn lửa ấm cho con, ngọn lửa vốn sẵn trong con mà con không biết. Sau này con mới rõ đó chính là tâm bồ đề, tâm hiểu biết và thương yêu. Mẹ về sống trọn trong con từ nguồn tâm ấy, con dừng được trò chơi cút bắt với chính mình. Mỗi sáng trước khi đi dạy học, con đều ngồi yên để nghe tiếng thơ của Thầy:

Mười năm vườn xưa xanh tốt,
hai mươi năm nắng dọi lều tranh.
… Em về, đưa mẹ về cho tôi thăm.
Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc mẹ.

(Bướm bay vườn cải hoa vàng- Sư Ông Làng Mai)

Giọt nắng ấy rơi vào tâm con, con hồi sinh từng ngày. Khi ấy, con chưa từng được gặp Thầy, nhưng con gặp con người trọn vẹn của Thầy qua những con chữ giản dị mà thẳm sâu tựa hồ như chuyên chở cả ánh mắt, bàn tay để vỗ về khi tuyệt vọng, an ủi khi khổ đau, chỉ đường khi bế tắc và khích lệ con tìm lại chính mình. Sự sống tuôn dậy nơi mỗi con chữ của Thầy, êm

dịu và chữa lành nhờ chất liệu từ bi và trí tuệ. Đôi khi con tự hỏi: “Thầy làm thơ hay chính cuộc đời Thầy là thơ?”. Nếu chỉ đón nhận lời Thầy trên phương diện chữ nghĩa thì thật uổng cho con bởi điều Thầy nhắn gửi tràn ra ngoài con chữ. Vì tuệ giác chẳng thể nào nắm bắt mà chỉ có thể trải nghiệm. Con đã lắng nghe rất nhiều lần lời dạy mới mẻ, thâm sâu như lời kinh từ Thầy:

Anh nuôi dưỡng đóa hoa trong tim anh Để cho tôi xinh đẹp
Tôi chuyển hóa rác phiền não trong tôi Để cho anh không phải nhọc nhằn…

(Tương tức- Sư Ông Làng Mai)

Con bắt đầu làm những việc thiện nhỏ mà con có thể, biết gieo trồng những niềm vui cho mình và cho người. Kỷ niệm khi về dự lễ hiệp kỵ nơi chùa lá Pháp Vân khiến con nhớ mãi. Có những cô chú may mắn được gặp và nhận được sự chỉ dạy của Thầy đã khóc rưng rức khi ngồi kể lại những câu chuyện về Thầy. Tấm lòng hiến tặng niềm vui, làm vơi nỗi khổ của các cô, các chú làm cho ngọn lửa bồ đề tâm trong con được dưỡng nuôi. Trong đêm hoa đăng linh thiêng ấy, con phát nguyện xin về làm con của Bụt, của Thầy! Chùa Tổ Từ Hiếu, chùa Từ Đức, những khóa tu ở Long Thành, Thái Lan,… đã dẫn con về với gia đình áo nâu. Con về như hạnh ngộ nguyện xưa, con cúi đầu viết xuống:

Về thôi! Ngồi yên lại
Nghe sóng vỗ từ tâm
Đầu gối trên kinh sáng
Nuôi lớn những nguyện thầm.

Gia đình Cây Sồi Đỏ chúng con ra đời khi Thầy đang thị hiện bệnh. Đại chúng ôm ấp, thương yêu, dưỡng nuôi chúng con hết lòng. Thầy đã có mặt thật đầy nơi đại chúng và trong công trình chuyển hóa của chúng con. Con vui với những điều thiện nhỏ đang lớn dần trong tâm, biết chắp tay và cúi đầu khi thực tập tuệ giác vô ngã mà Bụt và Thầy trao. Thầy giúp con bào mòn được bản ngã, cởi bỏ tập khí sâu dày để về với giây phút hiện tại qua những pháp môn

tu học và môi trường đầy ắp tình người. Con càng thấm thía ơn sâu của Bụt, của Thầy trong mỗi bát cơm, mỗi bước chân, hơi thở, nụ cười… Mỗi khi trở về được với tự thân, con thấy lòng tin cắm rễ sâu hơn vì giáo pháp Thầy trao giúp con chuyển hóa những tập khí sâu dày, bồi đắp thêm niềm tin, làm lớn lên hạnh phúc. Trong đoản văn Bông hồng cài áo, Thầy đã viết: “Con thương mẹ thì không phải ‘làm thế nào’ gì hết. Cứ thương mẹ, thế là đủ lắm rồi, đủ hết rồi, cần chi phải hỏi ‘làm thế nào’ nữa!”. Con gói hết tâm tư dành cho Thầy vào trong sự tu tập hằng ngày của con, và con dần tiếp xúc được với Thầy. Đã đôi lần trong lúc thực tập thiền lạy, khi không còn một niệm lao xao, Thầy đã hiện hữu trong con thực sự. Con gọi thầm: “Thầy là sự bình an của con”. Con biết, nếu con có niệm, định, tuệ vững vàng thì con gặp được Thầy và dâng tặng niềm vui đến Thầy. Thật là cơ hội lớn, phước đức lớn khi được làm một người tu, nhất là một người tu có hạnh phúc. Món quà của hạnh phúc và bình an là món quà quý giá. Bởi nó được gói ghém từ nội lực công phu, là vật trao tặng không thể tìm thấy ở bất cứ nơi nào. Nơi Vườn Ươm (Làng Mai Thái), những vết thương của con dần được chữa lành, những chồi non biểu hiện cho sự hồi sinh. Cuộc đời có những vết thương nhưng nếu nhìn đúng, khéo tu, tất cả đều trở nên cần thiết. Rác và hoa không nằm bên ngoài mà ở ngay nơi thân tâm con. Viết những dòng nhỏ này gửi đến Thầy, con hiểu rằng có những đóa hoa được người khác cài cho con, nhưng đóa hoa của chân hạnh phúc chỉ có thể được cài lên bằng chính sự tu tập của mình. Ngày xưa, Thầy đã trang nghiêm lại đóa hoa nơi tâm con. Hôm nay, con có thể tự cài cho con bông hoa hạnh phúc.

 

 

Lau lách mở lời

Thời ấu thơ của đời sống tâm linh con gắn liền với cuốn sách Tình người của Thầy. Con thấy chú điệu ngày ấy gần con trong mỗi mỗi công phu, chỉ khác là bây giờ con may mắn có điều kiện hơn. Tình người cho con thấy sẽ thiệt thòi biết bao nếu thiếu những người bạn tu với tâm ban đầu đẹp lành để nuôi dưỡng và nâng đỡ nhau. Cảm ơn Thầy đã dựng xây môi trường này để huynh đệ chúng con có con đường sáng, có tương lai, biết nghe đại ngàn hát ca và lau lách mở lời. Nếu viết tiếp Tình người, con sẽ viết thêm chương Đại lão Hòa thượng hồi hương. Truyện kể về sư chú ngày xưa nay đã là Hòa thượng nhưng chí nguyện không đổi dời, tâm ban sơ là tâm vĩnh cửu. Chương đó sẽ có bao nhiêu câu chuyện từ trái tim của đệ tử Thầy. Thầy về lại Tổ đình Từ Hiếu, chúng con tiếp tục những bước chân và chí nguyện của Thầy. Viết đến đây, con thấy ánh mắt Thầy trìu mến, nâng ly trà lên, hiền từ bảo: “Uống trà đi!”, và hiển nhiên, Thầy không quên trồng nơi con một nụ cười!

Trong khi Thầy cười, con xin kể Thầy nghe những buổi trưa ở nơi đây. Thời điểm đó thật đặc biệt, tất cả đều im vắng, trời xanh bình lặng, nắng vàng tươi, chỉ có bước chân và tiếng lá là xao động. Sau giờ cơm trưa, chúng con đi thiền hành theo đường sỏi nhỏ từ phòng học Lá Bối. Từ tượng Bụt trắng, đi thẳng rồi rẽ phải là đã đặt chân đến đường vòng cung ôm lấy đồi An Ban, thong thả xuống dốc với hoa chuông vàng bên hai cây đề là lối đưa lên thất Thầy. Chúng con ngồi trên xích đu, nghe gió núi, ngắm hồ sen và núi Khao Yai hùng vĩ với muôn ngàn mây trắng bay. Rồi chúng con thay nhau chia sẻ sự thực tập, đặt câu hỏi từ đời sống tu học để các huynh đệ trả lời, lúc nào cũng mới và nhiều đạo vị. Giáo pháp của Bụt nhiệm mầu, các con may mắn được Thầy trao lại. Chúng con biết cách về với tự tâm, hiểu mình và thương được người. Đôi khi, tiếng cười hòa theo gió núi vì những tương cảm được tìm thấy trong thực tập hay từ những niềm vui bình dị. Bụt, Tổ và Thầy đã trao gia tài để chúng con thực sự có cơ hội tìm lại mình. Niềm vui của người tu đơn giản mà sâu sắc. Có cơ hội tu học, con thấy tất cả sự sống xuyên thấm vào trong con. Niềm vui âm thầm đó dạy chúng con biết thương nếp sống này một cách tự nguyện, chân thành.

Đường trúc cạnh các bậc đá đưa chúng con đến vườn Bụt. Một khi trong tâm có Bụt thì muôn vị Bụt cùng về họp mặt. Chúng con vỡ ra nhiều điều kì diệu khi cùng đi như một dòng sông. Đôi khi ngôn ngữ không thể diễn bày, cũng như người chưa có cơ hội trải nghiệm sẽ chẳng thể đo được niềm vui ấy. Các vị Bụt ẩn sâu trong rừng núi nơi đây, phải dụng công tìm mới thấy, cũng như chúng con dụng tâm để thấy Bụt trong mình. Chỉ có công trình tu học, chuyển hóa khỏi lầm mê mới đưa chúng con đến chỗ hiểu thương, cảm thông, trân trọng thực sự. Bên cạnh các sư anh, sư chị lớn, con còn may mắn được học từ những sư em nhiều phẩm chất đẹp. Con thích cách gọi đó vì thấy họ vừa là anh chị em của con, cũng vừa là thầy con ngay trong đại gia đình. Dòng sông tăng thân hòa điệu chảy khi chúng con biết thương kính, lắng nghe nhau để cùng xuôi về biển lớn.

Giờ đây, chúng con mời Thầy đi qua cốc của Hòa thượng Thủ tọa và men theo vườn xoài về xóm quý thầy. Con đường thơm hoa nguyệt quế sẽ đưa Thầy vào cổng xóm Trời Quang. Xóm bây giờ rất đẹp, gọn gàng, thiền vị với hoa lá xanh tươi, sen hồng sen trắng, bầu bí và cả những đọt chuối đang lên. Mỗi đêm, ánh đèn vàng tỏa chiếu ấm một vùng nơi tôn tượng Thế Tôn, lẫn trong lời kinh sám pháp có mái đầu tín thành cúi lạy. Mỗi bước chân vì thế được nâng đỡ bởi năng lượng từ bi, thanh thản, tròn đầy ý thức. Khi tâm bồ đề được dưỡng nuôi, nơi nào cũng trở nên thánh địa. Nhớ về Thầy, chúng con hướng tâm về sự phụng trì, học hỏi và thực tập hết lòng trên con đường này.

 

 

Ở chùa Tổ hẳn là Thầy nhớ về cội cây Anh Cả trên mảnh đất này – nơi Thầy ban pháp gieo duyên trong ngày lập Làng trên đất Thái. Bóng cây ấy đã che mát cho Thầy và chúng con. Dưới bóng cây này gia đình cây Hoa Gạo đã ra đời, khuôn mặt ai cũng rạng ngời. Những kỉ niệm được gặp Thầy như mới hôm qua. Cây Anh Cả đã gãy đổ trong một cơn giông lớn, nhưng những gì mát lành Thầy gửi gắm cho chúng con đã thành lẽ sống. Quang cảnh Làng sau cơn giông ngày hôm đó có chút đổi thay: Bụt đã về an tọa dưới cội bồ đề cách cây Anh Cả không xa, mắt Ngài hướng về phía mặt trời rạng rỡ. Điểm kết thúc giờ thiền hành sáng của chúng con thường là ở đó. Sau khi xá chào nhau, có những người anh em vòng lại thăm vườn rau sau đêm sương, có người tập thể dục, có người dừng lại trước con đường thơm hoa nguyệt quế như để nhìn thấy trăng và mưa còn in dấu nơi xác hoa vừa rơi xuống. Không gian bình an, thênh thang, len lỏi những niềm vui đầu ngày sâu trong mỗi hơi thở, bước chân. Trong ngôi nhà chung này, mỗi đứa con của Thầy là cái kèo, cái cột, phiến ngói… Ngày nào còn đi bên nhau là chúng con đã được về nhà, về đến nơi trái tim Thầy mong ước.

Mỗi ngày nơi đây con đều bắt gặp những ảnh hình thân thương của Thầy, và con nhẩm lời Thầy: Con trân quý những tháng ngày còn lại, hạnh phúc cười trên nẻo đường con đi… Con sẽ tiếp tục đi, không phải để đến, mà để thảnh thơi, biết là tay con đang được trong tay Thầy!

Thầy về lại chốn Tổ, chúng con tiếp tục theo dấu chân Thầy để thấy dấu chân con. Con gặp Thầy khi ánh sáng chánh niệm đong đầy nơi thân tâm con. Con thấy pháp thân Thầy tỏa sáng trong từng cử chỉ, từng ánh nhìn, từng chén trà… dù sắc thân Thầy đang dần theo gió vô thường trả về vô tận. Niềm tin cho sự thực tập bền chắc thêm khi con thấy Thầy dù thân bệnh nhưng tâm không bệnh. Nhìn lại mình, con thấy đã đôi lần con mệt mỏi trước bệnh tật, nhưng bàn tay và ánh mắt Thầy vẫn có đó cho con một cách sống động và bình an. Thầy đã cho con đứng dậy, nhắn nhủ rằng con có nhiều điều kiện để hạnh phúc hơn con nghĩ.

Cũng vừa sáng nay, con thấy mưa về giăng khắp núi đồi Pak Chong. Bất chợt con nghĩ người tu phải biết vén mây mù để luôn được quang minh dù ngoài trời xám xịt. Nghĩ đến đây, con thấy Thầy mỉm cười, xoa đầu con. Tất cả đều tự nhiên, ấm áp như mối duyên đầu con gặp. Và Thầy mãi là bàn tay vén mây kỳ diệu, dẫn lối cho con trong cuộc đời.

Con của Thầy

Bông hồng của con

Ba má kính thương,

Vu Lan năm nào con cũng được nhận bông hoa màu hồng trên áo. Vậy mà nhiều lúc vô tình quên lãng hay vì bận bịu lo chuẩn bị sắp xếp buổi lễ, con cũng chẳng ý thức đến điều may mắn đó.  Sau buổi lễ, được cài hoa lên áo xong rồi là tung tăng đi lui đi tới mà quên rằng niềm hạnh phúc lớn lao này bao nhiêu người mong ước nhưng đâu dễ có lại một lần.

 

 

Vài lần con chứng kiến và vỗ về anh chị em khi họ nhận được tin ba hay mẹ qua đời mà không về được vì còn phải chờ cả tháng mới có chuyến bay. Thấy họ can trường, chứ nếu là mình, tu mà không giỏi là như ngồi trên lửa đỏ. Con hay an ủi: Khi nào em nhớ ba, chị cho em mượn ba chị nè. Vững chãi lên nha. Ba má chị hiền và dễ thương lắm. Mỗi lần nhận tin người thân của anh chị em mất, con cũng từ từ học thêm về hai chữ Vô Thường, để khi nó đến con cũng vững vàng như anh chị em con.

Con nhớ những ngày xưa, cứ mỗi trưa, ba nằm ngả lưng thiu thiu trên chiếc ghế bố. Má và con ngồi quanh nhổ mấy cọng tóc trắng lẫn trong mái tóc đen dày của ba. Con đi xa vài năm về, má vẫn lâu lâu nhổ tóc sâu cho ba nhưng phải lựa chứ giờ nhiều sợi trắng rồi. Nhớ cái năm, ba má qua tu viện thăm con, tóc ba đã bạc thêm nhiều. Con chọc ba: mấy đứa nhỏ ở nhà mà nhổ tóc trắng cho ông ngoại chắc nó nhổ hết quá! Cười nói là vậy nhưng con chợt nhận ra, ba con đã già.

Mỗi lần về thăm nhà, vui đó, mừng đó nhưng tới ngày đi lại, là con phải mạnh mẽ lắm mới dứt áo đi được. Lên xe ngồi mà không dám quay đầu lại dù biết là má và mọi người đứng ngóng theo đến khi xe khuất. Ba cứ lo sư cô đi xa lâu đường xá xe cộ không quen, tiễn đưa tới chừng nào hết tiễn được mới thôi. Sư cô thì cứ đòi để con tự đi một mình cho biết mà. Chứ lên xe, thấy ba cứ đứng dưới vẫy tay chào, con sao cầm được nước mắt, rồi ông lơ xe tưởng cô bị gì mà khóc tức tưởi.

Những năm sau này, má không còn hỏi “chừng nào sư cô về nữa?”. Nay ba má có cái facebook, youtube, coi hình Làng, cập nhật thông tin của Làng các nơi. Mấy lần ba khoe: cô coi lễ mừng sinh nhật Sư Ông bên Thái chưa?; coi cái lễ này, sự kiện kia chưa…, ba coi rồi. Thời buổi công nghệ phát triển, cứ gọi điện là được thấy mặt, thấy cảnh, nghe kể chuyện thường hơn nên ba má bớt nhớ sư cô rồi. Coi ti vi, nghe tin tức dịch nặng ở nhiều nơi vậy mà thấy sư cô và các con, các cháu vẫn bình an, khoẻ mạnh là ba má yên tâm. 

Mỗi khi các chị em con chuyện trò với nhau là cứ tấm tắc: không biết sao mà ngày xưa ba má nuôi nổi cả đàn con, bây giờ các chị có một đứa, hai đứa đã thấy đau đầu mất sức. Thương ba má cực khổ cả đời, muốn ba má nghỉ ngơi, tận hưởng cuộc sống cho nhàn nhã, đi đó đi đây thăm bà con thư thả chứ quanh năm vườn tược, heo gà,… Thế giới của má chỉ quẩn quanh sau nhà rồi lại về trước nhà. Bản thân bệnh không dám mua gì ngon, thuốc gì xịn nhưng cho con cái thì nhất hết. Các chị thuyết phục má lên thành phố khám tổng quát, kiểm tra sức khoẻ để có gì mình chữa liền. Má thì theo thuyết khác, mất công khám ra bệnh rồi lại lo, tốn kém đủ thứ.

Lạ vậy đó, đều là thương hết mà lắm khi giận nhau luôn. Con cái muốn ba má sướng để bù lại những tháng năm vất vả nuôi con, đưa ba má đi ăn ngoài cho đỡ cực khỏi phải nấu nướng, dọn dẹp. Các con thay nhau năn nỉ lắm hai ông bà mới chịu đi. Nhưng thấy má có vẻ ăn cũng không ngon dù đó có là sơn hào hải vị. Má mà thấy cái hoá đơn của bữa ăn là “nghỉ chơi” với các chị luôn. Giận đùng đùng, má nói: bữa sau má không đi ăn nhà hàng, tiền đó mình mua đồ về nhà nấu ngon hơn biết bao nhiêu, nấu ra cả gia đình mình có mà ăn cả ngày. Ăn chi ngoài này tốn kém.

Lại có lần cả nhà sắp xếp đi du lịch, nghỉ mát như người ta. Biết tính má nên mấy chị đặt sẵn chỗ nghỉ có không gian cho cả nhà quây quần, tự nấu nướng, nghỉ ngơi đi về cho thoải mái. Tối hôm trước khi đi, má dặn các chị coi đồ đạc cho mấy cháu. Má tất bật sau bếp, sáng ra chất lên xe nào rau muống, rau cải, rau thơm, gạo mắm các kiểu. Nồi cơm điện, bếp ga mini, chén bát, … Cả nhà xúm lại can: Ủa má! Trên chỗ mình mướn có đủ đồ hết á, rau mình mua trên đó rẻ lắm, mình đem lên làm gì cho mất công. Má lạc quan bảo: chứ xe trống chỗ làm chi, đem lên cần là mình có đồ của mình liền; dùng đồ của người ta lỡ hư hỏng phải đền tốn tiền lắm, đồ của mình hư thì không sao. Rau của vườn nhà đầy, đi cả tuần không ai ăn nó già hư thì uổng. Đồ trên đó rẻ thì cũng là mua chứ đâu. Cuối cùng, để có chuyến du lịch cả nhà vui vẻ thì cả nhà “đành” chiều má thôi.

Bởi vậy, các con phải thay đổi cách thương má vì biết má mình là vậy. Với ba má, niềm vui, niềm sung sướng an nhàn là khi thấy con cháu khoẻ mạnh, gia đình nó hạnh phúc. Mỗi mùa hè được đón các cháu về rồi chăm sóc chúng như chăm các con khi xưa. Nhiều khi ba má cũng thấy cực, vì thấy tụi nhỏ nghịch ngợm. Miệng thì than ồn ào đó mà vẫn cười tươi, mắng yêu tụi nó: mai về với ba má các con đi. Rồi mấy đứa lại có dịp ngả vào lòng ngoại rồi làm nũng: Không, con thích ở với ngoại, bá má về đón là con trốn dưới gầm giường.

Cứ như thế mà ba má có niềm vui mỗi ngày chứ chẳng cần con cái sắm sửa đồ sang đồ xịn gì. Đi đây đi đó, ăn nhà hàng, ở khách sạn càng làm má “xót” cái ruột thêm.

Con phát nguyện tu để giúp mọi người bớt khổ nhưng gia đình thì mỗi lần có việc là đã sắp xếp đâu vào đó, xong xuôi mới báo sư cô biết. Sợ sư cô ở xa, biết chuyện lại lo lắng. Để sư cô cứ yên tâm tu, gia đình đã có ba má và các anh chị chăm lo hết. Mỗi sáng, mỗi tối công phu xong con hay trì tụng hồi hướng công đức cho chúng sanh mọi miền, nhưng bao nhiêu công đức tu tập đó con không biết có đủ hồi hướng cho ba má, cho gia đình mình không nữa?!

Mừng vui một mùa Vu Lan nữa con được cài lên áo mình bông hoa màu hồng, con xin nguyện cầu hồng ân Tam bảo đêm ngày che chở cho gia đình con và mọi người bình an. Cầu cho dịch bệnh thiên tai đi qua, để ai đó lâu rồi chưa về thăm mẹ, thăm ba được chạy ùa về một lát, để ngắm nhìn nụ cười của mẹ, nếp nhăn của ba thêm một lần thật kỹ, thật lâu.

Những ai đang ở nhà cùng ba má, đừng nghĩ rằng sáng tối cứ phải nghe má càm ràm, ba lặng lẽ ngồi đó như là một thói quen mà xem như là chuyện thường đâu. Hãy thử nghĩ tới một ngày không xa, khi ba mẹ không còn la rầy, nhắc nhở từng li từng tí cho mình nữa… thì khi đó mình sẽ buồn lắm. Ngày đó đến, mình có khóc, có ước ao thì cũng không còn kịp nữa rồi.

Đoá hoa màu hồng vừa cài lên áo đó anh, thì xin anh, thì xin em hãy cùng tôi vui sướng đi.

(Chân Đăng Nghiêm)

 

 

 

 

Làm gì khi người người thân không hưởng ứng sự thực tập?

Câu hỏi:

Làm thế nào để duy trì sự thực tập khi vợ mình, chồng mình hoặc những thành viên trong gia đình mình không hưởng ứng để cùng thực tập với mình?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Trong trường hợp này, tôi nghĩ quý vị nên thực tập một cách tự nhiên. Quan trọng là đừng bị rơi vào cái bẫy của sự thực tập hình thức. Đừng làm ra vẻ ta đây đang thực tập chánh niệm, thực tập thiền v.v… Điều này ta có thể làm được. Ví dụ, khi thực tập thiền đi, quý vị hãy đi cho thật tự nhiên, đi như thế nào để người ta không thấy là mình đang thực tập thiền đi, nghĩa là đi trong nhịp điệu bình thường, nhưng trong nội dung quý vị vẫn chế tác năng lượng chánh niệm, an lạc và hạnh phúc. Cái đó gọi là Tu vô tu tu (kinh Tứ Thập Nhị Chương). Nghĩa là tu mà không thấy mình tu, không cố gắng dụng công, nhìn bề ngoài giống như là không tu gì cả, nhưng trong nội dung thì ta thật sự đang tu tập rất vững chãi. Điều tối kỵ là đừng vội vàng muốn chia sẻ sự thực tập của mình hoặc áp đặt sự thực tập của mình lên người khác. Tốt nhất là đừng nói gì hết dầu đó là những kinh nghiệm tu học của ta; chỉ cần thực tập cho đàng hoàng và phát triển thêm khả năng lắng nghe, miệng luôn luôn mỉm cười và hành xử, phản ứng cho thật vui tươi, hòa nhã.

Nếu quý vị thành công một lần trong khi ứng xử hòa ái với những người đang tưới tẩm hạt giống tiêu cực nơi mình mà không sinh tâm phiền giận, cau có…, thì sự thành công ấy sẽ tiếp tục được nuôi dưỡng, không những nuôi dưỡng chính bản thân mà còn có thể  giúp cho người kia chuyển hóa. 

 

Đối trị với năng lượng tình dục

Thiền sinh hỏi: 

Kính thưa Thầy, con không biết thầy nhận xét như thế nào về vấn đề trung thành trong mối liên hệ vợ chồng, trong đó có sự liên hệ đồng tính luyến ái. Làm sao chúng con áp dụng phép tu chánh niệm để đối trị với năng lượng tình dục?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Trước hết ta phải thấy rằng năng lượng tình dục chỉ là một loại năng lượng trong nhiều loại năng lượng. Nếu nhìn sâu vào bản chất của nó thì ta sẽ thấy rằng không thể xác quyết nó chỉ đi về phía thỏa mãn tình dục. Vì là năng lượng, cho nên nó có thể chuyển sang hướng khác. Nếu quý vị rất hứng thú muốn làm điều gì đó, muốn thực hiện điều gì đó có ý nghĩa cho cuộc sống thì quý vị sẽ dồn hết năng lượng vào việc thực hiện ước muốn ấy và quý vị sẽ không có nhiều thì giờ để suy nghĩ về vấn đề thỏa mãn tình dục.

Là người xuất gia, chúng tôi nhận thấy rằng trong chúng tôi cũng có năng lượng thèm khát về tình dục như mọi người khác, nhưng với năng lượng của Bồ Đề Tâm hùng hậu, với sự nâng đỡ của Tăng thân, chúng tôi có thể đầu tư hết năng lượng của mình về các hướng khác như ước muốn phụng sự chúng sinh, thực tập để đạt tới hiểu biết lớn và khả năng thương yêu sâu. Tăng thân cần thì giờ và năng lực của chúng tôi để đóng góp và xây dựng. Chúng tôi dành thì giờ để học kinh điển, ngoại điển, pháp đàm và đem những gì mình đã học được áp dụng vào đời sống hàng ngày. Chúng tôi dành thì giờ để chăm sóc cho đệ nhị thân của mình, tức là thành phần khác của Tăng thân mà mỗi người xuất gia đã được Tăng thân bổ nhiệm để chăm sóc. Mỗi thầy hoặc mỗi sư chú đều chịu trách nhiệm cho hạnh phúc và sự tu tập của một thầy hoặc một sư chú khác. Các sư cô cũng thực tập như vậy với nhau. Chúng tôi cũng dành thì giờ để giúp các thiền sinh đến tu học với chúng tôi. Chúng tôi dồn hết năng lực về những hướng như thế và cảm thấy rất hạnh phúc.

Bằng kinh nghiệm của bản thân, của một cộng đồng, chúng tôi nghĩ rằng nếu quý vị tổ chức đời sống của quý vị một cách thông minh và khéo léo sử dụng năng lượng của mình đi về hướng thương yêu, lý tưởng phụng sự, giúp người khác bớt khổ, thì năng lượng tình dục sẽ không còn là vấn đề lớn trong đời sống hàng ngày của quý vị nữa. Vấn đề là khéo léo hướng nguồn năng lượng tình dục đi về phía năng lượng của lý tưởng, thương yêu và hiểu biết.

 

Tham dự trực tiếp lễ Bông Hồng Cài Áo cùng tăng thân chùa Tổ Từ Hiếu – Diệu Trạm, Huế

“Ngày Vu Lan ta nghe giảng và đọc sách nói về ngài Mục Liên và về sự hiếu đễ. Công cha, nghĩa mẹ. Bổn phận làm con. Ta lạy Phật cầu cho mẹ sống lâu. Hoặc lạy mười phương tăng chú nguyện cho mẹ được tiêu diêu nơi cực lạc, nếu mẹ đã mất. Con mà không có hiếu là con bỏ đi. Nhưng hiếu thì cũng do tình thương mà có; không có tình thương, hiếu chỉ là giả tạo, khó khăn, vụng về, cố gắng mệt nhọc. Mà có tình thương là có đủ hết rồi. Cần chi nói đến bổn phận. Thương mẹ, như vậy là đủ. Mà thương mẹ không phải là một bổn phận. Thương mẹ là một cái gì rất tự nhiên. Như khát nước thì uống. Con thì phải có mẹ, phải thương mẹ. Chữ “phải” đây không phải là luân lý, là bổn phận. “Phải” đây là lý đương nhiên. Con thì đương nhiên thương mẹ, cũng như khát thì đương nhiên đi tìm nước uống. Mẹ thương con, nên con thương mẹ. Con cần mẹ, mẹ cần con.

(Trích “Đoản văn Bông Hồng Cài Áo” của Sư Ông Làng Mai)

Kính mời đại chúng trở về thiền đường Hương Cau, Ni viện Diệu Trạm để tham dự buổi lễ Bông Hồng Cài Áo cùng tăng thân chùa Tổ Từ Hiếu – Diệu Trạm, Huế. Chúng ta sẽ cùng nhau thực tập ngồi thiền, tụng kinh; nương vào năng lực hùng hậu của tăng thân chế tác năng lượng thương yêu, trị liệu và thắp sáng ý nghĩa về tình nghĩa, hạnh phúc. Với nguồn năng lượng an lành này, xin nguyện hồi hướng, nguyện cầu bình an đến với cha và mẹ của mình. Và để một lần nữa tiếp xúc với hiện hữu nhiệm màu của cha và của mẹ đang biểu hiện trong mỗi chúng ta.

Buổi lễ sẽ được phát trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai lúc 9:30 (Châu Âu), vào khoảng 14:30 (Việt Nam) Chủ Nhật ngày 29/8/2021.

Trong buổi lễ sẽ tụng đọc bài kinh “Tưới tẩm hạt giống tốt”. Đại chúng có thể in ra giấy hoặc mở ra khi tụng chung với tăng thân:

Con có cha, có mẹ

Cha mẹ có trong con

Nhìn mẹ cha, con thấy

Có con trong cha mẹ.

Con có Bụt, có Tổ

Bụt, Tổ có trong con

Nhìn Bụt Tổ, con thấy

Có con trong Bụt, Tổ. (C)

Con là sự tiếp nối

Của cha mẹ tổ tiên

Con xin nguyền gìn giữ

Và tiếp tục nuôi dưỡng

Những hạt giống an lành

Tài năng và hạnh phúc

Mà con đã tiếp nhận

Từ cha mẹ tổ tiên

Con cũng xin nhận diện

Những hạt giống tiêu cực

Sợ hãi và khổ đau

Ðể dần dần chuyển hóa. (C)

Con là sự tiếp nối

Của Bụt và Tổ Sư

Những hạt giống Từ Bi

Hiểu Biết và Thảnh Thơi

Ðã trao truyền cho con

Con xin nguyền gìn giữ

Tưới tẩm và nuôi lớn.

Con xin nguyền tiếp nối

Sự nghiệp Bụt và Tổ

Và cố công thực hiện

Những gì Bụt và Tổ

Ðang trông đợi nơi con. (C)

Trong cuộc sống hàng ngày

Con xin nguyền gieo rắc

Hạt giống của từ bi

Trong chính bản thân con

Và trong lòng kẻ khác

Con nguyện không tưới tẩm

Những hạt giống thèm khát

Bạo động và hận thù

Nơi con và nơi người.

Con biết nếu thực tập

Ðúng theo pháp môn này

Trong vòng bảy hôm thôi

Là con đã có thể

Thay đổi được tình trạng

Tái lập được truyền thông

Làm nở được nụ cười

Chuyển hóa được niềm đau

Làm lớn lên hạnh phúc. (C)

Con xin đức Thế Tôn

Chứng minh cho lòng con

Hợp nhất cả thân tâm

Con cúi đầu kính lạy. (CC)

 

Dưới đây là đường dẫn của buổi lễ:

 

Lễ Bông Hồng Cài Áo-2021 Làng Mai Thái Lan

Vào ngày 22 tháng 8 vừa qua, tại Tu viện Vườn Ươm-Thái Lan đã diễn ra buổi lễ Bông Hồng Cài Áo trực tuyến, với sự tham dự của hàng trăm thiền sinh đến từ Việt Nam và nhiều quốc gia khác.

Trong tình hình dịch bệnh đang diễn biến phức tạp, cuộc sống của người dân gặp nhiều khó khăn và thử thách. Với mong muốn được cùng đồng hành và chia sẻ sự thực tập đến với đồng bào quê hương cũng như đến với các bạn thiền sinh khắp nơi trên thế giới, buổi lễ không chỉ là một món quà dâng lên Cha Mẹ nhân ngày Vu Lan mà còn là tấm lòng và lời nguyện cầu của Tăng thân gửi đến những người thương nơi phương xa.

Dưới đây là một vài hình ảnh của buổi lễ, kính mời mọi người cùng thưởng thức: