Từ điển Làng Mai – L

Lá rụng về cội (thuật ngữ) Xu thế tất yếu tìm về cội nguồn tâm linh mà Sư Ông Làng Mai đã thấy được. Tướng Võ Nguyên Giáp từ lâu đã thực tập thiền tọa mỗi ngày. Cô Stevie Westmoreland là con gái của đại tướng William C. Westmoreland, Tổng tư lệnh chỉ huy quân lực Hoa Kỳ tại Việt Nam trong những năm 1963 đến 1968, đã tới dự trọn khóa tu sáu ngày (11.08 – 17.08.2007) tổ chức tại trường Đại học StoneHill ở tiểu bang Massachusetts Hoa Kỳ. Cuối khóa tu, cô đã được quy y và thọ năm giới một lần với khoảng trên năm trăm thiền sinh Hoa Kỳ vào ngày 17.08.2007 với pháp danh Tâm Đức Hướng (Virtuous Direction of the Heart) và trở nên con cháu của thiền tổ Liễu Quán. Cô chia sẻ rằng đã hòa giải được với ba và đã ôm lấy ba cô trong tự thân để ba của cô cùng được lạy với cô, và cùng với cô tiếp nhận Ba quy và Năm giới.

 

Là Phật Tử (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Hương Quê, Sài Gòn ấn hành năm 1950, nội dung là những giáo lý và hành trì của người Phật tử tại gia.

 

Lạc Nghĩa Đường (điện đường) Khách đường của Tổ Đình Từ Hiếu.

 

Lạc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1987, tập sự xuất gia năm 2006 (19 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (20 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Hoa Tâm, pháp tự Chân Lạc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 435 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lạc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lạc tọa (thuật ngữ) Có hạnh phúc trong khi ngồi.

 

Làm Lại Thâm Tình (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai xuất bản tại Việt Nam năm 1994 (không rõ tên Nhà xuất bản).

 

Làm mới (pháp môn) Phép thực tập nhìn lại tình trạng của mình và mối liên hệ giữa mình và người thân để có thể hóa giải buồn giận, phá tan mây mù của sự hiểu lầm, đem hạnh phúc trở về để nuôi lớn hạnh phúc ấy. Mỗi tuần ta nên làm mới một lần, dù giữa ta và người kia không có vấn đề với nhau. Người kia có thể là cha, mẹ, con hay người bạn đời của ta. Làm mới cũng là một hình thức của sự thực tập sám hối, cần đến tâm thành khẩn và ý chí thực tập để thay đổi tình trạng. Sự thực tập làm mới dễ nhất là giữa hai người, nếu thấy hơi khó khăn thì ta mời thêm một người thứ ba, người mà cả hai bên đều thương kính và tin cậy. Làm mới cũng có thể thực hiện được trong một nhóm tăng thân nhiều người. Trong thời gian làm mới, ai cũng thực tập theo dõi hơi thở và sử dụng phép lắng nghe. Khi nói ta phải sử dụng ái ngữ, nghĩa là lời nói dịu dàng, trầm tĩnh, không lên án, không trách móc. Đây là quá trình thực tập, gồm bốn phần: 1. Tưới hoa: trong phần này ta nhắc đến những điểm tích cực và dễ thương của người kia. Đây không phải là nói nịnh để làm lớn sự tự hào, tự phụ của người đó, mà để giúp người đó có thêm tự tin nơi bản thân họ và do đó cố gắng phát triển những điểm tích cực ấy, những điểm có thể tạo dựng hạnh phúc cho tự thân và cho người khác. 2. Tự tỉnh: trong phần này, ta tự nói về những thiếu sót của chính ta, những lúc ta thiếu chánh niệm và vì vậy đã vụng về nói những lời hoặc có những cử chỉ đã có thể làm buồn lòng người khác. Và ta hứa sẽ thực tập khá hơn trong những ngày sắp tới để không còn lặp lại những vụng dại vừa qua. 3. Nói lên niềm đau: trong phần này, ta có thể nói lên niềm đau của ta, niềm đau mà ta ngỡ rằng đã được phát sinh do một lời nói hay cử chỉ của người khác. Ta có thể thêm rằng vì sự thực tập của ta còn kém nên ta còn dễ buồn dễ giận như vậy và ta mong người kia hãy yểm trợ ta trong sự thực tập, lần sau xin đừng nói và đừng làm như thế. 4. Thực tập lắng nghe: Khi nghe người kia nói lên niềm đau, ta có thể nghĩ rằng người ấy có tri giác sai lầm và đã tự làm khổ mình, chứ ta không hề có ý làm người kia khổ. Tuy nhiên ta không nên đính chính ngay trong lúc ấy để biến giờ làm mới thành một cuộc tranh luận. Ta chỉ nên học cách lắng nghe của Bồ tát Quan Thế Âm, nghe với tâm từ bi và cho người kia biết rằng ta đang lắng nghe, ghi nhận những điều người ấy nói và ta nguyện sẽ chiêm nghiệm và nhìn kỹ lại những gì đã xảy ra. Sau đó ta tìm cơ hội tới với người đó để giúp cho họ thấy được rằng họ đã có nhận thức sai lầm. Nếu ta thấy được sự vụng về hoặc lầm lỡ của ta thì ta phải lập tức viết thư xin lỗi và hứa sẽ thực tập hay hơn trong những ngày tới.

Lãm Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1990, tập sự xuất gia năm 2006 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (17 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Hỷ, pháp tự Chân Lãm Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 453 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lãm Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lan Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Hòa Lan, quốc tịch Hòa Lan, sinh năm 1951, tập sự xuất gia năm 2003 (51 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 07 tháng 07 năm 2003 (51 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Peaceful of the Heart, pháp tự Chân Lan Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vô Ưu. Thọ giới Thức Xoa Ma Na tháng 1 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang. Là đệ tử thứ 181 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lan Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Làng Cây Phong (cơ sở) Một trung tâm thiền tập do tăng thân Montreal ở Canada thành lập từ năm 1985 tại làng Cantons de l’Est gần Bolton Ouest, tỉnh Quebec, Canada.

 

Làng Mai (cơ sở) Viện Cao Đẳng Phật Học Làng Mai (còn gọi là Tu Viện Làng Mai, hay Mai Thôn Đạo Tràng, hay Làng Hồng trước kia), tại Miền Nam nước Pháp, do Thầy Làng Mai (thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh) khai sáng năm 1982. Là nơi cư trú và tu học của các thầy và các sư cô Làng Mai, và là nơi đón nhận hàng ngàn các vị tu sĩ và cư sĩ từ các nước trên thế giới đến tu học mỗi năm. Làng Mai gồm có bốn chùa chính là: chùa Pháp Vân (thuộc Xóm Thượng, xem Pháp Vân), chùa Cam Lộ (thuộc Xóm Hạ, xem Cam Lộ), chùa Từ Nghiêm (thuộc Xóm Mới, xem Từ Nghiêm) và chùa Sơn Hạ (thuộc Xóm Thượng, xem Sơn Hạ). Ngoài ra Làng Mai còn bao gồm sáu xóm khác là: Xóm Trung (xem Xóm Trung), Xóm Đoài (xem Xóm Đoài), Xóm Tây Hồ (xem Tây Hồ), Xóm Lưng Đồi (xem Lưng Đồi), Xóm Đầu Thôn (xem Đầu Thôn), và Xóm Giếng (xem Giếng Thơm). Tiếng Anh là Plum Village, tiếng Pháp là Village des Pruniers. Xem thêm Để nuôi lớn hạnh phúc trong thời gian ở Làng MaiViện Cao Đẳng Phật Học.

Làng Mộc Lan (cơ sở) Một trung tâm thiền tập tại tiểu bang Missisippi, Hoa Kỳ, do tăng thân người An Bằng và nhiều đồng bào phật tử Việt Nam tại hải ngoại thành lập năm 2007.

Làng Sen Búp (cơ sở) Một trung tâm thiền tập cho tăng thân Sen Búp tại thành phố Sydney, tiểu bang New South Wales, Úc Châu.Lãnh đạo với Hùng Lực và Từ Bi (phát biểu) Bài thuyết trình của Sư Ông Làng Mai tại Quốc Hội Ấn Độ sáng ngày 17.10.2008. Tiếng Anh là Leading with Courage and Compassion. Hôm đó cũng là ngày khai mạc khoá họp mùa thu của Quốc Hội Ấn Độ và Thầy Làng Mai được mời khởi đầu cho khoá họp bằng một bài thuyết trình mang đậm tính chất tâm linh và đạo đức. Trong bài chia sẻ của mình, Sư Ông Làng Mai đã đề nghị áp dụng chuông chánh niệm tại Quốc Hội: khi thấy không khí tranh chấp trở nên ngột ngạt, không ai còn nghe được ai thì vị chủ toạ có thể thỉnh chuông để toàn thể các vị dân biểu có cơ hội dừng lại, trở về với hơi thở, làm lắng dịu thân tâm trước khi tiếp tục bàn luận việc nước.

 

Lăng Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1973, tập sự xuất gia năm 2002 (29 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 2 năm 2003 (30 tuổi) tại chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Diệu Giác, pháp tự Chân Lăng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồ Đào. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Thọ giới lớn ngày 14 tháng 1 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Là đệ tử thứ 168 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lăng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lắng Lòng Nghe (tháp miếu) Một tháp chuông thuộc Chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới.

 

Lắng nghe (điện đường, pháp môn) 1. Tịnh thất của Thầy Làng Mai tại tổ đình Từ Hiếu. 2. Lắng nghe với tất cả tâm tư mình, và với nguyện ước giúp người nói ra được những đau khổ uất ức của họ. Cùng với ái ngữ – lời nói hòa ái, lắng nghe là những phương tiện giúp ta tái lập được truyền thông tốt với những người khác. Xem truyền thông.Lắng nghe để hiểu, Nhìn lại để thương (chữ viết) Câu đối Sư Ông viết cho các chùa, các tu viện thuộc Làng Mai và các trung tâm tu tập pháp môn Làng Mai trên thế giới nhân dịp xuân Kỷ Sửu.

 

Lâm Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2007 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 2 năm 2008 (19 tuổi) tại tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Nhuận Thủy, pháp tự Chân Lâm Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là đệ tử thứ 504 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lâm Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lâm Tế (tên gọi, tông phái, lễ lược) 1. Tên một thiền sư người Trung Hoa, thế kỷ thứ IX, thiền Tổ của thiền phái Lâm Tế. Các vị xuất gia và tại gia thọ giới với Thầy Làng Mai đều thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế. 2. Một phái thiền có tên là thiền Lâm Tế, hay tông Lâm Tế. 3. Tên một đại giới đàn được tổ chức từ ngày 7 đến ngày 14 tháng 2 năm 2004 tại tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ trong khóa An Cư Kiết Đông 2003-2004.

 

Lập Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2006 (17 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (18 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Nguyên Dung, pháp tự Chân Lập Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 442 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lập Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Learning True Love (sách) Một cuốn sách của Sư Cô Chân Không, gồm những câu chuyện sư cô kể về cuộc đời hoạt động xã hội của mình và theo phụ tá Thầy Làng Mai được các đạo hữu người nước ngoài sưu tập và ghi chép lại bằng tiếng Anh. Thầy Làng Mai và Maxine Hong Kingston viết lời đề tựa. Được Parallax ấn hành năm 1993 và đã được dịch sang nhiều thứ tiếng khác. Bản tiếng Pháp có tựa đề La Force de L’amour. Bản tiếng Việt đang được Sư cô viết lại.

Leo đồi thế kỷ (sách, thuật ngữ)1. Một cuốn sách phiên tả băng giảng các bài pháp thoại của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1997. 2. Tăng thân cùng thực tập chung bắt đầu từ năm 2001, để đi qua thế kỷ 21. Thế kỷ 21 được ví như một ngọn đồi, tăng thân cùng leo đồi thế kỷ thứ 21 trong tình huynh đệ với rất nhiều năng lượng và niềm vui. Câu đối Thầy Làng Mai viết tưởng niệm Thầy Giác Thanh, đệ nhất trụ trì của tu viện Lộc Uyển: ‘Một lá ngô đồng rơi, người vẫn cùng ta leo đồi thế kỷ. Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh’.

Lê Nguyên Thiều (tên gọi) Cũng có tên là Lê Triều Quang, tổng thư ký ban điều hành đầu tiên của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, một trong những người đầu tiên có công trong việc sáng lập Mai Thôn Đạo Tràng tại Pháp.

Lễ Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Úc, sinh năm 1970, tập sự xuất gia năm 2005 (35 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 8 năm 2005 (35 tuổi) tại Chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Hạnh, pháp tự Chân Lễ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 tại Làng Mai trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 243 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lễ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Lễ Giỗ Tổ Tiên (sinh hoạt) Tiếng Anh là Ancestors Festival. Buổi lễ tổ chức cho các bạn thiền sinh về Làng tu tập trong khóa tu mùa hè với tinh thần giúp các bạn nhận diện, tiếp xúc được với gốc rễ tổ tiên huyết thống của mình để từ đó công nhận, trân qúy và phát huy những nét đẹp của ông bà tổ tiên đã được trao truyền tới mình.

Lễ Hòa Bình (sinh hoạt) Tiếng Anh là Peace Festival. Buổi lễ được tổ chức trong khóa tu mùa hè để tưởng niệm các nạn nhân Hirosima và Nagasaki. Sau chương trình văn nghệ với những tiết mục ca ngợi hòa bình, mỗi người tự lấy cho mình một cây nến đã được thắp sẵn và đặt trong những bông sen bằng giấy màu và cùng đại chúng vừa rước nến vừa niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm. Chúng ta biết rằng sự bình an trong mỗi cá nhân góp phần vào sự bình an trên thế giới. Vì vậy ta nuôi dưỡng hòa bình trên thế giới bằng từng bước chân an lạc của ta. Ta niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Thế Âm vì Ngài là người có khả năng lắng nghe được tiếng khóc khổ đau của tất cả chúng sinh và khi ta nhất tâm niệm danh hiệu Ngài, năng lượng từ bi của Ngài giúp tâm ta trở nên thanh tịnh và ta cũng có thể nghe được tiếng kêu của mọi loài. Ta niệm tên Bồ Tát Quán Thế Âm cũng là để cầu Bồ Tát gia hộ không để cho nhân loại phải chịu đựng thảm họa như thế thêm một lần nào nữa. Trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quan Âm còn nhắc nhở mỗi người về sự có mặt của hạt giống từ bi, thương yêu vốn có sẵn trong tâm mình, tưới tẩm hạt giống đó và khơi dậy khả năng lắng nghe và ái ngữ vốn là những phương tiện hữu hiệu giúp giải tỏa xung đột, đem tới hòa giải và hòa bình.

Lễ Trăng Rằm (sinh hoạt) Buổi lễ được tổ chức trong khóa tu mùa hè. Lấy ý tưởng từ bài thơ “Bụt là vầng trăng mát. Đi ngang trời thái không. Hồ tâm chúng sinh lặng. Trăng hiện bóng trong ngần.” Vầng trăng là một biểu hiện thật màu nhiệm và tuyệt vời của thiên nhiên và có thể trở thành một đề tài quán chiếu rất thú vị cho chúng ta. Nếu ta có mặt đó cho Trăng thì vầng Trăng cũng có mặt đó, rất thật, cho chúng ta. Ngồi thiền hay đi thiền dưới ánh trăng để thật sự có mặt đó cho Trăng là một phép thiền tập rất nuôi dưỡng, làm cho cuộc sống đẹp và có ý nghĩa hơn. Ngày xưa ông cha ta có thời gian để ăn mừng trăng lên hay ăn mừng hoa đào nở, nhưng trong xã hội hiện nay chúng ta bị lôi cuốn theo những chương trình TV và các trò chơi vô bổ mà quên đi nghệ thuật thưởng thức những màu nhiệm của cuộc sống. Đêm trăng rằm, chúng ta dành thời gian ngồi yên lại, để cho hồ tâm ta tĩnh lặng lại và phản chiếu bóng trăng trong ngần. Khi đó ta sẽ cảm nhận được sự tự do của vầng trăng treo giữa hư không. Lễ Trăng Rằm ở Làng Mai cũng là cơ hội giới thiệu cho các bạn thiền sinh về tham dự khóa tu một nét đẹp của văn hóa Việt Nam. Các em thiếu nhi đặc biệt thích lễ hội này vì được quí thầy, quí sư cô hướng dẫn làm lồng đèn để các em cùng nhau rước vào đêm lễ hội. Trong khi đợi trăng lên, đại chúng ngồi quây quần thưởng thức văn nghệ, uống trà và ăn bánh. Còn gọi là Lễ Mừng Trăng chứ không được gọi là Tết Trung Thu vì khóa tu mùa hè thường vào tháng 7 dương lịch.

Lệ Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp. Thọ giới Sa Di Ni ngày 23 tháng 03 năm 1999 tại Làng Mai, pháp tự Chân Lệ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Mộc Lan. Là đệ tử thứ 80 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lệ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lệ Trang (tên gọi) Thượng tọa Lệ Trang. Trú trì chùa Định Thành. Thượng tọa rất giỏi về nghi lễ Phật giáo, đã làm chủ sám Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại chùa Vĩnh Nghiêm, Sài Gòn năm 2007. Thượng tọa đã từng viếng thăm và giảng dạy tại Làng Mai trong mùa An Cư Kiết Đông 2007 – 2008.

Liên Hoa (tạp chí) Tạp chí do Thầy Làng Mai làm chủ bút, số 1 ra ngày 18 tháng 12 năm 1952 do nhóm Phật Giáo Thiện Hữu, Đà Lạt chủ trương xuất bản. Chủ nhiệm là Huỳnh Văn Trọng, quản lý là Pierre Marti.

 

Liên Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1988, tập sự xuất gia năm 2006 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (19 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Quảng Ân, pháp tự Chân Liên Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2009 tại chùa Từ Hiếu trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 441 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Liên Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Liên Thanh (tên gọi) Một vị xuất gia nữ tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2006 (21 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 8 năm 2006 (21 tuổi) tại Bồ Đề Đạo Tràng – Ấn Độ, pháp danh Như Lương, pháp tự Liên Thanh. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử của Thượng Tọa Thích Giác Viên. Gốc chùa Tịnh xá Ngọc Phật. Sư cô thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế. Đến Làng Mai từ năm 2007.

 

Liễu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Anh, sinh năm 1949, tập sự xuất gia năm 2002 (53 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 26 tháng 5 năm 2002 (53 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp tự Chân Liễu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Xoan. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Thọ giới lớn ngày 14 tháng 1 năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp. Là đệ tử thứ 151 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Liễu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Liễu Quán (tên gọi) Vị tổ sư của phái thiền Liễu Quán từ đó xuất phát bốn chúng của đạo tràng Mai Thôn. Ngài sinh năm 1667 và tịch năm 1742. Ngài họ Lê, sinh ở Phú Yên. Tập sự xuất gia dưới sự dắt dẫn của thiền sư Giác Phong chùa Thiên Thọ (Báo Quốc) lúc 14 tuổi. Thọ giới sa di trong giới đàn Thiền Lâm năm 28 tuổi. Hai năm sau (1697) thọ đại giới. Năm 1712 được tổ Minh Hoàng (Tử Dung) truyền tâm ấn và cho pháp hiệu Thật Diệu, chính thức thành tổ thứ 35 tông Lâm Tế. Ngài để lại bài kệ ‘Thật Tế Đại Đạo’ và trở nên thiền tổ của phái Liễu Quán. Bài kệ như sau: Thật tế đại đạo. Tính hải thanh trừng. Tâm nguyên quảng nhuận. Đức bổn từ phong. Giới định phước tuệ. Thể dụng viên thông. Vĩnh siêu trí quả. Mật khế thành công. Truyền trì diệu lý. Diễn xướng chánh tông. Hành giải tương ưng. Đạt ngộ chân không.

 

Liệu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1990, tập sự xuất gia năm 2006 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (17 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Bảo Chân, pháp tự Chân Liệu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 450 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Liệu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lịch Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1984, tập sự xuất gia năm 2005 (21 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (22 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Bối Hỷ, pháp tự Chân Lịch Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 tại tu viện Bát Nhã trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại chùa Từ Hiếu trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 329 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lịch Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Linh Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Thái Lan, quốc tịch Thái Lan, sinh năm 1961, tập sự xuất gia năm 1997 (36 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 02 năm 1998 (37 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Hướng Quang, pháp tự Chân Linh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Táo. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2000. Thọ giới lớn ngày 09 tháng 12 năm 2000 trong đại giới đàn Năm 2000. Nhận truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng: Đất Linh nở đóa chân thiền. Trên lưng bạch tượng trang Nghiêm lối về. Mùa thu lá đỏ sơn khê. Diễn dương pháp tạng tràn trề niềm tin. Là đệ tử thứ 56 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Linh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Linh Quy (cơ sở) Một cư xá thuộc Xóm Thượng. Còn được gọi là cốc Linh Quy.

Linh Thứu (địa danh, lễ lược) 1. Tên một ngọn núi ở Ấn Độ, nơi Bụt thường lưu trú. 2. Tên một đại giới đàn được tổ chức tại núi Linh Thứu, Ấn Độ tháng 11 năm 1988. Trong đại giới đàn này, ba sư cô Chân Không Nghiêm, Chân Đức Nghiêm và Chân Vị Nghiêm đã được Thầy Làng Mai thế phát và truyền giới lớn.

 

Lĩnh Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1981, tập sự xuất gia năm 2005 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (26 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Hằng Nhẫn, pháp tự Chân Lĩnh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 tại Làng Mai trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 313 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lĩnh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Living Buddha, Living Christ (sách) Một cuốn sách nguyên bản tiếng Anh của Thầy Làng Mai, nhà Parallax xuất bản năm 1995 tại Hoa Kỳ. Đây là cuốn sách đầu của Thầy về đề tài đối thoại với Cơ Đốc giáo. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.

Love in Action (sách) Một cuốn sách nguyên bản tiếng Anh của Thầy Làng Mai, được viết và xuất bản năm 1993 tại Hoa Kỳ, Nxb Parallax Press ấn hành. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.

 

Lộc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1990, tập sự xuất gia năm 2005 (15 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (16 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Diệu Học, pháp tự Chân Lộc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2008 tại tu viện Bát Nhã trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 358 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lộc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Lộc Uyển (cơ sở) Một tu viện thuộc Làng Mai, tại tiểu bang California, Hoa Kỳ. Gồm có hai xóm là Xóm Vững Chãi, còn được gọi là Xóm Trên (xem Vững Chãi) và Xóm Trong Sáng (xem Trong Sáng), còn được gọi là Xóm Dưới. Thành lập năm 2000, là nơi cư trú và tu học của các thầy và các sư cô Làng Mai, và hàng năm đón nhận hàng ngàn các vị tu sĩ và cư sĩ từ các nước trên thế giới đến tu học. Địa chỉ: 2499 Melru Lane, Escondido, CA 92026, USA. Địa chỉ trang nhà: www.deerparkmonastery.org. Xem thêm Đường Về Vườn Nai.

Lời Khấn Nguyện tại Trai Đàn (văn kiện)

văn kiện được Thầy Làng Mai viết ra để đọc trong các Đại trai đàn tổ chức tại Việt Nam năm 2007, được xem như là trái tim của các trai đàn, thay thế cho bài văn tế truyền thống. Nghe nói Thầy Làng Mai đã để ra nhiều tuần lễ để chiêm nghiệm trước khi viết xuống được thành văn. Trong hoàn cảnh chính trị Việt Nam năm 2007, viết xuống và nói ra được tâm tư và hoài vọng mình một cách thẳng thắn và thành khẩn thật là rất khó. Cần phải có rất nhiều khéo léo mới có thể nói ra được một cách chân thật điều mình muốn nói. (Xin xem Đại Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan Phổ Cáo Quốc Dân). Được tuyên đọc lần đầu tiên vào khoảng nửa đêm ngày 16.03.2007, giữa thời kinh siêu độ trong đại trai đàn đầu tiên được tổ chức tại chùa Vĩnh Nghiêm. Báo Giác Ngộ số 232 ra ngày 22 tháng 3 năm 2007 đã in lại lời khấn nguyện này.

Sau đây là nguyên văn Lời Khấn Nguyện:

“Kính thưa Liệt Vị Hương Linh, quý vị là cha chúng tôi, là chồng chúng tôi, là anh trai chúng tôi, là em trai chúng tôi, là con trai chúng tôi. Quý vị cũng là mẹ chúng tôi, là vợ chúng tôi, là chị gái chúng tôi, là em gái chúng tôi, là con gái chúng tôi. Trong cơn binh lửa, trong cảnh tao loạn, quý vị đã bỏ lại hình hài của quý vị mà đi. Chúng tôi đã đánh mất quý vị. Quý vị hoặc đã chiến đấu dũng cảm cho đất nước và đã chết một cách hào hùng không hề thương tiếc thân mạng. Chúng tôi rất hãnh diện vì quý vị. Nhưng quý vị có thể cũng đã bỏ mình trong những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, nỗi oan khổ không thể nào nói lên được. Trên rừng sâu, trong biển cả, nơi chốn tù đầy, chết vì bom đạn hoặc vì kiệt sức, hoặc vì bị bức bách, bị hãm hiếp rồi bị sát hại mà không có phương tiện chống cự lại. Có biết bao nhiêu quý vị đã ngã quỵ mà nắm xương tàn không biết đang được chôn vùi ở đâu. Những tai ương mà đất nước và dân tộc ta phải chịu đựng trong bao nhiêu năm tranh đấu cho độc lập và cho tự do, chính quý vị là những người phải gánh chịu nhiều nhất. Chúng tôi, những người thân thuộc và đồng bào của quý vị hôm nay tới đây thắp hương tưởng niệm quý vị, hoặc thiết lập bàn thờ cho quý vị trước hiên nhà, trong chúng tôi cũng có những người vẫn còn tiếp tục gánh chịu oan khổ. Nhưng may thay, cơn ác mộng đã qua, đất nước đã được hòa bình, dân tộc đang có cơ hội xây dựng kiến thiết trở lại, nhờ phúc đức tổ tiên, chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ pháp lực gia trì thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ, cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Nam Bắc, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo, đảng phái và ý thức hệ. Tất cả chúng ta đều là đồng bào của nhau, gặp vận nước rủi ro, trên đường tranh đấu cho độc lập, cho tự do, bị dồn vào thế đối lập nhau, vì tự vệ mà phải chống đối nhau. Nhưng phước đức tổ tiên để lại vẫn còn, cho nên hôm nay tất cả chúng ta mới được về lại với nhau để nhìn nhận nhau như con một nhà, để cùng hứa với nhau là sẽ học cho thật thuộc bài học của đau thương trong quá khứ: nguyện từ nay về sau không để cho đất nước bị chia cắt một lần nào nữa, từ nay về sau khi có khó khăn nội bộ sẽ không nhờ đến bất cứ một thế lực ngoại bang nào can thiệp nữa, từ nay về sau sẽ không khởi xướng một cuộc chiến tranh ý thức hệ nào nữa, từ nay về sau sẽ không sử dụng vũ khí bên ngoài để tranh đấu với nhau nữa, từ nay về sau nỗ lực xây dựng một xã hội thật sự dân chủ để có thể giải quyết tất cả mọi bất đồng bằng những phương thức hòa bình dân chủ mà không sử dụng đến những phương tiện tranh đấu bạo động giữa người đồng bào. Lạy chư vị tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh chứng minh. Trước mặt quý ngài chúng con xin kính cẩn phát nguyện như thế và chúng con biết rằng một phen đã phát nguyện được như thế thì mọi oan ức sẽ được hoàn toàn giải tỏa và những vết thương hằn sâu trong lòng tất cả mọi chúng con sẽ bắt đầu được chữa lành. Hôm nay Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan được thành lập, mọi nhà đều có thiết bàn thờ cầu nguyện, chúng con ngưỡng nguyện ơn trên Tam Bảo độ thoát cho tất cả mọi hương linh, để tất cả được nương vào pháp lực vô song mà được chuyển hóa siêu thăng. Chúng tôi và các con cháu nguyện sẽ lên đường tiếp tục chí hướng của liệt vị hương linh, chúng tôi nguyện mang quý vị trong trái tim để đi về hướng tình huynh đệ và nghĩa đồng bào và luôn luôn nhớ rằng bầu và bí đều có thể leo chung một giàn, gà cùng một mẹ không bao giờ bôi mặt đá nhau, và tuệ giác ấy của tổ tiên sẽ soi đường chỉ lối cho con cháu chúng ta bây giờ và mãi mãi”.

Lời cảnh giác và khích lệ của thiền sư Quy Sơn (văn học) Bản dịch của Thầy Làng Mai từ nguyên bản Quy Sơn Cảnh Sách bằng tiếng Hán ra quốc ngữ với một giọng văn rất thân mật và hiện đại.

Lời Qua Tiếng Lại (bài hát) Một bài hát do sư cô Chân Đoan Nghiêm viết lời, sư cô Chân Không phổ nhạc. Lời qua tiếng lại. Giải quyết chi đâu. Sao không dừng lại. Kẻo hố thêm sâu. Lời qua tiếng lại. Đưa ta tới đâu. Sao không dừng lại. Thở nhẹ và sâu. Lời qua tiếng lại. Đưa ta tới đâu. Sao không dừng lại. Mỉm cười nhìn nhau.

Luận Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1991, tập sự xuất gia năm 2006 (15 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (16 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Chúc Hạnh, pháp tự Chân Luận Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 462 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Luận Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Luật Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2005 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 8 năm 2005 (20 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Ngọc Pháp, pháp tự Chân Luật Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hướng Dương. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 tại Làng Mai trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 279 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Luật Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Luyện Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2005 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (21 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Diệu Thiện, pháp tự Chân Luyện Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Là đệ tử thứ 333 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Luyện Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Lưng Đồi (cơ sở) Một cư xá thuộc chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới.

Lương Duyên (tên gọi) Một vị đệ tử lớn của thiền sư Nhất Định. Tổ sinh năm 1806, năm 13 tuổi tập sự xuất gia ở chùa Báo Quốc. Năm 24 tuổi thọ giới lớn tại giới đàn Báo Quốc, pháp danh là Hải Thuận. Năm 1837 tổ được tổ Nhất Định truyền đăng phó pháp với bài kệ: Lương Duyên hội ngộ giới châm đầu. Đạo học tâm truyền xứng sở cầu. Phúc tuệ song tu vô gián đoạn. Quang dương tổ ấn vĩnh trường lưu. Năm 1849, tổ được cử làm trụ trì quốc tự Diệu Đế, và năm 1859 làm trụ trì chùa Báo Quốc. Tổ tịch năm 1892.

Lương Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Úc, sinh năm 1972, tập sự xuất gia năm 1998 (26 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 26 tháng 10 năm 1998 (26 tuổi) tại chùa Cam Lộ – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Thường, pháp tự Chân Lương Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sung. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2000. Thọ giới lớn ngày 18 tháng 12 năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới. Nhận truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Cổ Pháp với bài kệ truyền đăng: Lối về trọn nẻo thanh lương. Nghiêm trì tịnh giới mở đường vô sinh. Công phu trái kết hoa thành. Núi sông thức giấc bình minh ngọt ngào. Là đệ tử thứ 75 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lương Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Lưu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2006 (17 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (18 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Phước Ngàn, pháp tự Chân Lưu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 446 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lưu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán

 

Lưu Phong (tên gọi) Một trong những vị ni sư đệ tử xuất gia của sư tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Hạnh, trú trì Chùa Kiều Đàm, Tp HCM. Ni sư Lưu Phong thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán. Ni Sư thường được đại chúng Làng Mai thân mật gọi là “Sư O”.

 

Lưu Phương (tên gọi) Một trong những vị ni sư đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng An, trú trì chùa Liên Hoa, Nha Trang. Ni sư Lưu Phương thuộc thế hệ thứ 42 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán. Ni Sư thường được đại chúng Làng Mai thân mật gọi là “Sư O”.

 

Lữ Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1991, tập sự xuất gia năm 2006 (15 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (16 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Đạo, pháp tự Chân Lữ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 457 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lữ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lực Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp, quốc tịch Pháp, sinh năm 1979, tập sự xuất gia năm 2007 (28 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 2 năm 2008 (29 tuổi) tại Chùa Cam Lộ – Làng Mai, pháp danh Tâm Chân Lạc, pháp tự Chân Lực Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là đệ tử thứ 483 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lực Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

 

Lý Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2005 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (26 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Hoa, pháp tự Chân Lý Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức xoa ma na năm 2008 tại tu viện Bát Nhã trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại chùa Từ Hiếu trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Là đệ tử thứ 325 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Lý Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.