Từ điển Làng Mai – C

Các khóa giảng căn bản của Làng Mai (khóa giảng)
Đây là những khóa giảng mà một vị giáo thọ được đào tạo tại Làng Mai phải học qua và phải biết áp dụng vào sự thực tập. Những khóa giảng này được các vị giáo thọ sử dụng để hướng dẫn các học tăng trong chương trình bốn năm của Viện Cao Đẳng Phật Học. Tất cả đều sẽ được đưa lên mạng Làng Mai để các vị giáo thọ ngoài Làng Mai có thể tải xuống để học hỏi, thực tập và sử dụng.

  1. Ba mươi bài tụng duy thức (An Cư Kiết Đông 1988-1989).
  2. Tạng Kinh Nam Truyền (An Cư Kiết Đông 1989-1990).
  3. Tạng Kinh Bắc Truyền, lịch sử tư tưởng Phật Giáo Đại Thừa (An Cư Kiết Đông 1990-1991 và 1991-1992). Từ khóa này đã có những sách sau đây được phiên tả và ấn hành: Bồ Tát Tại Gia, Bồ Tát Xuất Gia (giảng Kinh Duy Ma Cật), Sen Nở Trời Phương Ngoại (giảng Kinh Pháp Hoa), Kim Cương Gươm Báu Chặt Đứt Phiền Não (giảng Kinh Kim Cương), tất cả đều do Lá Bối xuất bản.
  4. Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (An Cư Kiết Đông 1992-1993, khóa mùa xuân 1993).
  5. Trái Tim Của Bụt (Phật Pháp Căn Bản, An Cư Kiết Đông 1993-1994), các bài pháp thoại trong khóa giảng này đã được phiên tả và xuất bản thành sách Trái Tim Của Bụt (do nhà Lá Bối ấn hành).
  6. Tuổi trẻ, tình yêu và hạnh phúc (Kinh Samadhi, khóa mùa Thu 1994). Nội dung khóa này đã được làm thành sách nhan đề là Hạnh Phúc, Mộng và Thực (do nhà Lá Bối ấn hành).
  7. Truyền thống sinh động của thiền tập (An Cư Kiết Đông 1994-1995, 1995-1996, và 1996-1997). Khóa giảng này đã được làm thành sách nhưng chưa xuất bản, sẽ được đưa lên mạng.
  8. Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (An Cư Kiết Đông 1997-1998, khóa mùa Xuân 1998, An Cư Kiết Đông 1998-1999, khóa mùa Xuân 1999). Khóa này giảng về tất cả các kinh và bài tụng trong sách Nhật Tụng Thiền Môn 2000, tương đương với sách Nhị Khóa Hợp Giải trong truyền thống.
  9. Nhiếp Đại Thừa Luận (An Cư Kiết Đông 2000-2001), nền tảng của Duy Biểu Học.
  10. Trung Quán Luận, con đường vượt thoát Lưỡng Biên (An Cư Kiết Đông 2001-2002 và 2002-2003).
  11. Lâm Tế Lục (An Cư Kiết Đông 2003-2004 và 2004-2005).
  12. Giới và Luật, lịch sử và hành trì (An Cư Kiết Đông 2004-2005).
  13. Dị Bộ Tông Luân Luận (lịch sử và tông chỉ các bộ phái Phật giáo, An Cư Kiết Đông 2005-2006).
  14. Các Định đề giáo lý Làng Mai (khóa mùa Xuân 2006, khóa mùa thu 2006 và An Cư Kiết Đông 2006-2007).
  15. Kim Sư Tử Chương (An Cư Kiết Đông 2007-2008).
  16. Con đường của Bụt – những đóng góp của đạo Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu (An cư Kiết Đông 2008 – 2009, khóa tu 21 ngày năm 2009).

Call Me By My True NamesCall Me By My True Names (sách) Tuyển tập thơ bằng tiếng Anh của Thầy Làng Mai do nhà Parallax ấn hành năm 1992 tại Hoa Kỳ. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.

Cam Lộ (cơ sở, điện đường, lễ lược, nhạc kinh, tên gọi)
1. Ngôi chùa thuộc Xóm Hạ, do sư cô Diệu Nghiêm trú trì. Địa chỉ: Meyrac, 47120 Loubes-Bernac, France.
2. Tên một thiền đường thuộc Xóm Hạ.
3. Tên một đại giới đàn diễn ra từ ngày 10 đến ngày 11 tháng 1 năm 1992 tại Làng Mai trong khóa An Cư Kiết Đông 1998 – 1999. Đây là đại giới đàn đầu tiên tại Làng Mai được cử hành theo nghi lễ truyền thống nhưng tất cả các văn kiện và nghi thức cổ truyền được chính Sư Ông Làng Mai soạn thảo và chuyển ra Việt ngữ thành những bản văn có giá trị văn chương và trở thành những văn kiện quý giá cho các đại giới đàn sau này.
4. Một bài nhạc kinh, lời của Thầy Làng Mai, nhạc sĩ Anh Việt phổ nhạc. Tào Khê một dòng biếc. Chảy mãi về phương đông. Quan Âm bình nước tịnh. Tẩy sạch dấu phong trần. Cành dương rưới cam lộ. Làm sống dậy mùa xuân. Đề hồ trong cổ họng. Làm lắng dịu muôn lòng. Nam Mô Bồ Tát Cam Lộ Vị.
5. (Trăng Cam Lộ) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 7 năm 2012 (30 tuổi), pháp danh Tâm Viên Tín, pháp tự Chân Trăng Cam Lộ. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Đỗ Quyên. Là đệ tử thứ 762 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cam Lộ thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cảnh Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1981, tập sự xuất gia năm 2005 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Chúc Thu, pháp tự Chân Cảnh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Nhận truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị tổ chức tại Làng Mai với bài kệ truyền đăng:
Chân tâm biểu lộ nên chân cảnh
Tịnh độ trình bày cõi diệu nghiêm
Tráng lệ nến hồng vừa thắp sáng
Triều âm pháp lực đã trao truyền.
Là đệ tử thứ 315 của Thầy Làng Mai, sư cô Cảnh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cánh Đại Bàng Tên một thiền đường mới được xây dựng năm 2006 tại tu viện Bát Nhã. Thiền đường có khả năng chứa được hai ngàn người.

Cao Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2007 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 08 tháng 06 năm 2008 tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Hạnh Ân, pháp tự Chân Cao Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Ngô Đồng. Thọ giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 tại Tu viện Vườn Ươm trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ. Nhận truyền đăng năm 2018 trong Khoá tu xuất sĩ diễn ra tại Đạo tràng Mai Thôn với bài kệ truyền đăng:
Tâm cao tầng thượng giới
Thân nghiêm đại địa an
Một sáng về vô tận
Nguyện tung cánh đại bàng.
Là đệ tử thứ 522 của Thầy Làng Mai, sư cô Cao Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cao Rộng (Trời Cao Rộng) (tên gọi) Một vị xuất gia nam của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, thọ giới Sa Di ngày 27 tháng 5 năm 2010 (28 tuổi), pháp danh Tâm Đức Lâm, pháp tự Chân Trời Cao Rộng. Sư chú thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Xanh. Là đệ tử thứ 673 của Thầy Làng Mai, sư chú Trời Cao Rộng thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cát Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1978, tập sự xuất gia năm 2000 (22 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 12 tháng 2 năm 2001 tại chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Từ, pháp tự Chân Cát Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trà My. Thọ giới lớn ngày 9 tháng 2 năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế. Nhận truyền đăng tại Làng Mai năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng:

Cát tường hiện nét trang nghiêm
Quê xưa hoa nở đất thiêng nhiệm mầu
Sen hồng tịnh độ cho nhau
Một kho gia bảo truyền trao muôn đời.
Là đệ tử thứ 121 của Thầy Làng Mai, sư cô Cát Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cát Tường (tên gọi)
1. (Trời Cát Tường) Một vị xuất gia nam của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1976, thọ giới Sa Di ngày 28 tháng 4 năm 2013 (37 tuổi), pháp danh Tâm Viên Thiện, pháp tự Chân Trời Cát Tường. Sư chú thuộc gia đình xuất gia Cây Hoa Gạo. Là đệ tử thứ 791 của Thầy Làng Mai, sư chú Trời Cát Tường thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.
2. (Trăng Cát Tường) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1998, tập sự xuất gia năm 2014 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 18 tháng 12 năm 2014 tại Tu viện Vườn Ươm, pháp danh Tâm Nguyên Trang, pháp tự Chân Trăng Cát Tường. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sồi Đỏ. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 2 năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây tại Tu viện Vườn Ươm. Là đệ tử thứ 906 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cát Tường thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Căn Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Hoa Kỳ, sinh năm 1983, tập sự xuất gia năm 2008 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 (25 tuổi) tại Chùa Pháp Vân – Làng Mai, pháp danh Tâm Minh Diệu, pháp tự Chân Căn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Là đệ tử thứ 562 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Căn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cắm rễ trong tăng thân (thuật ngữ) Tu học trong một đoàn thể mà chấp nhận được đoàn thể ấy là gia đình tâm linh của mình, thấy được mọi người trong tăng thân là anh chị em của mình, không bao giờ có ý muốn rời tăng thân, tin tưởng vào tăng thân, có hạnh phúc khi sống với tăng thân.

Cẩm Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2005 (16 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Diệu Yêm, pháp tự Chân Cẩm Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới Thức Xoa Ma Na năm 2008 tại tu viện Bát Nhã trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Thọ giới lớn ngày 19 tháng 1 năm 2010 trong đại giới đàn Thủy Tiên. Nhận truyền đăng trong đại giới đàn Cam Lộ Vị năm 2014 tại Tu viện Vườn Ươm với bài kệ truyền đăng:
Non sông cẩm tú còn đây
Pháp môn thực tập tháng ngày tinh nghiêm
Trước sau trọn vẹn lời nguyền
Về nơi bỉ ngạn ngồi trên pháp tòa.
Là đệ tử thứ 350 của Thầy Làng Mai, sư cô Cẩm Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cẩm Tú (Trăng Cẩm Tú) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1994, tập sự xuất gia năm 2012 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 28 tháng 4 năm 2013 tại Tu viện Vườn Ươm, pháp danh Tâm Diệu Đức, pháp tự Chân Trăng Cẩm Tú. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hoa Gạo. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 2 năm 2017 tại Tu viện Vườn Ươm trong đại giới đàn Tánh Thiên. Là đệ tử thứ 790 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cẩm Tú thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cần Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Úc, sinh năm 1950, tập sự xuất gia năm 2001 (51 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 2 năm 2002 (52 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Diệu Hoa, pháp tự Chân Cần Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ tại Làng Mai. Nhận truyền đăng năm 2010 trong đại giới đàn Thuỷ Tiên tại Đạo tràng Mai Thôn với bài kệ:
Nếp xưa vốn sẵn tinh cần
Trang nghiêm niệm lực pháp thân tài bồi
Hào quang chiếu diệu muôn nơi
Tay tiên nâng đóa kim đài ngát hương
Là đệ tử thứ 132 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cần Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cẩn Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2005 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 8 tháng 1 năm 2006 (21 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Bối Nguyện, pháp tự Chân Cẩn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hồng Giòn. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 01 năm 2009 tại Làng Mai trong đại giới đàn Mùa Sen Mới. Nhận truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng:
Mỗi bước chân đi Cẩn trọng
Tạo thành Tịnh độ trang Nghiêm
Trái tim sáng ngời định lực
Trước sau trọn vẹn ước nguyền.
Là đệ tử thứ 325 của Thầy Làng Mai, sư cô Cẩn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cẩn Trọng (bài hát) Một bài hát do Thầy Làng Mai và bé Trần Đông Phương viết lời và phổ nhạc. Qua ngõ vắng. Lá rụng đầy. Tôi theo con đường nhỏ. Đất hồng như môi son bé thơ. Bỗng nhiên tôi cẩn trọng. Từng bước chân đi.

Câu chuyện dòng sông (thuật ngữ) Hình ảnh được Thầy Làng Mai thường sử dụng để giúp thiền sinh thấy được cái mình đi tìm đã có sẵn trong tự thân mình. Đây là giáo lý vô đắc. Tuổi trẻ được ví như một dòng suối, chảy ào ạt, mau về tới biển. Đến khi thành dòng sông, nước chảy chậm lại, và dòng sông chảy êm ả hơn. Dòng sông phản chiếu các đám mây đủ sắc, và bắt đầu chạy theo các đám mây. Đám mây tan biến thì dòng sông sầu khổ. Đến khi nhận ra sự thật là đám mây và nước cùng một bản thể thì dòng sông không còn rong ruổi nữa, và đạt tới trạng thái Hiện Pháp Lạc Trú.

Câu linh chú thứ năm (thuật ngữ) Đây là một lời trào phúng. Một vị hành giả cư sĩ có một bà vợ hơi khó tính, sau khi học hỏi về bốn câu linh chú (xem thêm bốn câu linh chú) đã nói: “tôi cần có câu linh chú thứ năm mới có thể được yên nhà, yên cửa”. Đó là mỗi khi bà vợ nói gì thì anh ta nói: Vâng, em nói đúng (Yes, madam).

Cây Anh Đào (gia đình) Nhóm 16 vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 12 năm 1999 tại Làng Mai. Gia đình Cây Anh Đào gồm các thầy và các sư cô: Chân Quy Nghiêm, Chân Giác Nghiêm, Chân Pháp Lữ, Chân Khế Nghiêm, Chân Hội Nghiêm, Chân Độ Nghiêm, Chân Thành Nghiêm, Chân Đạo Nghiêm, Chân Thệ Nghiêm, Chân Châu Nghiêm, Chân Hảo Nghiêm, Chân Pháp Vị, Chân Pháp Duyên, Chân Pháp Cơ, Chân Pháp Tuệ, Chân Mẫn Nghiêm.

Cây Bạch Dương (gia đình) Nhóm 22 vị cùng được xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2017. Lễ truyền giới được tiến hành tại Đạo tràng Mai Thôn và Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Bạch Dương (tên tiếng Anh Poplar Tree) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Nhật Quang, Chân Trời Khiết Hỷ, Chân Trăng Giác Ân, Chân Trăng Giác Hiếu, Chân Trời Khiết Lâm, Chân Trời Khiết Minh, Chân Trời Địa Xúc, Chân Trời Lặng Chiếu, Chân Trăng An Bình, Chân Trăng An Tâm, Chân Trăng An Cư, Chân Trăng Giác Hoà, Chân Trời Khiết Anh, Chân Trời Khiết Tâm, Chân Trời Tâm Không, Chân Trăng An Nhiên, Chân Trăng Giác Minh, Chân Trời Thinh Không, Chân Trăng Tuệ Văn, Chân Trăng Tuệ Viên, Chân Trời Núi Cao và Chân Trời Đuốc Thiêng.

Cây Bạch Quả (gia đình) Nhóm 15 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 10 năm 2019. Lễ truyền giới được tiến hành tại Đạo tràng Mai Thôn và Tu viện Lộc Uyển, Mỹ. Gia đình Cây Bạch Quả (tên tiếng Anh Ginkgo Tree) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Khương Cư, Chân Trời Ruộng Đức, Chân Trời Ruộng Pháp, Chân Trăng Khương Định, Chân Trời Ruộng Hiếu, Chân Trời Ruộng Nghĩa, Chân Trăng Khương Âm, Chân Trăng Khương Ý, Chân Trăng Khương Giới, Chân Trăng Thanh Đoan, Chân Trời Chí Đạo, Chân Trời Minh Hội, Chân Trời Minh Địa, Chân Trời Ruộng Lành, Chân Trời Ruộng Hương.

Cây Bồ Đề (gia đình) Thầy Chân Pháp Ấn, xuất gia ngày 24 tháng 5 năm 1992 tại Làng Mai.

Cây Bông Sứ (gia đình) Nhóm 12 vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 05 năm 2000 tại Làng Mai. Gia đình Cây Bông Sứ gồm các thầy và các sư cô: Chân Thông Nghiêm, Chân Quả Nghiêm, Chân Hộ Nghiêm, Chân Đẳng Nghiêm, Chân Thuận Nghiêm, Chân Đạt Nghiêm, Chân Pháp Cần, Chân Pháp Lĩnh, Chân Pháp Đôn, Chân Phụng Nghiêm, Chân Vĩnh Nghiêm, Chân Học Nghiêm.

Cây Bưởi (gia đình) Gồm thầy Chân Pháp Trí và sư cô Chân Thuần Nghiêm, cùng được xuất gia ngày 9 tháng 2 năm 1995 tại Làng Mai.

Cây Cam (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 16 tháng 2 năm 1996 tại Làng Mai. Gia đình Cây Cam gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Độ, Chân Pháp Khai, Chân Thiều Nghiêm, Chân Phúc Nghiêm, Chân Giới Nghiêm.

Cây Cẩm Lai (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Cẩm Lai gồm các sư cô: Chân Đào Nghiêm, Chân Cúc Nghiêm, Chân Thăng Nghiêm, Chân Trân Nghiêm.

Cây Cúc Đại Đoá (gia đình) Nhóm 26 vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 01 năm 2012. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai- Pháp, đồng thời truyền về Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Cúc Đại Đoá gồm các thầy và các sư cô: Chân Trung Nghiêm, Chân Trời Linh Thứu, Chân Trời Bắc Sơn, Chân Trời Nguyên Sinh , Chân Trăng Đông Hải, Chân Trời Đại Giác, Chân Trời Đại Tuệ, Chân Trăng Thủy Tiên, Chân Trời Đại Định, Chân Trăng Vườn Tiên, Chân Trăng Hoa Tiên, Chân Trăng Hương Tích, Chân Trăng Sông Hồng, Chân Trăng Hiên Ngọc, Chân Trăng Quy Nguyện, Chân Trời Lĩnh Nam, Chân Trăng Núi Na, Chân Trời Đại Nguyện, Chân Trăng Tản Viên, Chân Trời Hiền Lương, Chân Trời Đâu Suất, Chân Trời Xá Vệ, Chân Trăng Ngàn Phương, Chân Trăng Hương Giang, Chân Trăng Tịnh Chiếu, Chân Trăng Kinh Kỳ.

Cây Dâu Tây (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 28 tháng 06 năm 2001 tại Làng Mai. Gia đình Cây Dâu Tây gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Lượng, Chân Hóa Nghiêm, Chân Pháp Lực, Chân Pháp Khí, Chân Mật Nghiêm.

Cây Dẻ Gai (gia đình) Nhóm 10 vị cùng được xuất gia ngày 25 tháng 10 năm 2018. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai. Gia đình cây Dẻ Gai (Tên tiếng Anh là Beech Tree) Gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Thiện Phong, Chân Trời Thiện Chí, Chân Trăng Hiền Đức, Chân Trăng Hiền Tâm, Chân Trời Thiện Hoà, Chân Trời Thiện Đức, Chân Trời Thiện Khai, Chân Trời Thiện Ý, Chân Trăng Hiền Nhân, Chân Trời Thiện Trì.

Cây Dừa (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 6 năm 1996 tại Làng Mai. Gia đình Cây Dừa gồm các thầy và các sư cô: Chân Thục Nghiêm, Chân Pháp Kiều, Chân Hà Nghiêm, Chân Pháp Hiền, Chân Hỷ Nghiêm.

Cây Đan Mộc (gia đình) Nhóm 19 vị cùng được xuất gia ngày 01 tháng 12 năm 2015. Trong đó 10 vị được xuất gia ở Làng Mai-Pháp và 9 vị được xuất gia tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Đan Mộc (tên tiếng Anh là Red Wood Tree) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Đạo Phương, Chân Trời Đạo Lực, Chân Trời Đạo Hành, Chân Trời Đạo Quang, Chân Trời Đạo Kiên, Chân Trăng Tĩnh Mặc, Chân Trời Tiêu Dao, Chân Trời Đạo Tuệ, Chân Trời Đạo Sơn,  Chân Trời Đạo Sinh, Chân Trời Đạo Quy, Chân Trăng Ban Mai, Chân Trăng Hồ Thu, Chân Trăng Thái Bình, Chân Trăng Đại Dương, Chân Trời Thiên Trúc, Chân Trời Tuệ Nhật, Chân Trăng Thiên Hà, Chân Trời Luy Lâu.

Cây Đầu Xuân (gia đình) Nhóm 3 vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 5 năm 2019. Lễ truyền giới được tiến hành tại Tu viện Bích Nham, tiểu bang New York, Mỹ. Gia đình Cây Đầu Xuân (hay có tên gọi khác là Cây Linh Kiều, tên tiếng Anh là Forsythias Tree) gồm các thầy và sư cô Chân Trời Đại Lực, Chân Trăng Khánh Thiền và Chân Trăng Nguyên Anh.

Cây Đoàn (gia đình) Nhóm 27 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 12 năm 2013. Trong đó 8 vị được xuất gia ở Làng Mai- Pháp và 19 vị được xuất gia tại Tu viện Vườn Ươm. Lễ xuất gia được truyền trực tuyến qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Đoàn gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Duệ, Chân Trăng Diệu Viên, Chân Trăng Diệu Âm, Chân Trời Nguyện Lực, Chân Trời Hy Mã, Chân Trăng Ưu Bát, Chân Trăng Tịnh Độ, Chân Trời Linh Quang, Chân Trời Đạt Nguyện, Chân Trăng Uyên Nguyên, Chân Trăng Phương Khê, Chân Trời Nhất Tâm, Chân Trăng Tào Khê, Chân Trời Hướng Thượng, Chân Trăng Hoa Lâm, Chân Trời Liễu Ngộ, Chân Trời Định Lực, Chân Trời Niệm Lực, Chân Trăng Thiên Trúc, Chân Trăng Kỳ Diệu, Chân Trời Ngộ Đạt, Chân Trời Tuệ Giác, Chân Trời Tuệ Minh, Chân Trăng Mãn Khai, Chân Trời Định Hướng, Chân Trời Bằng Hữu, Chân Trăng Nến Ngọc, Chân Trăng Hàm Tiếu.

Cây Đu Đủ (gia đình) Nhóm 10 vị cùng được xuất gia ngày 11 tháng 2 năm 2007 tại Làng Mai. Gia đình Cây Đu Đủ gồm các thầy và sư cô Chân Pháp Bản, Chân Pháp Khê, Chân Pháp Quang, Chân Nhẫn Nghiêm, Chân Pháp Mãn, Chân Pháp Khởi, Chân Pháp Địa, Chân Pháp Đồng, Chân Pháp Chu, Chân Pháp Siêu.

Cây Giáng Hương (gia đình) Nhóm 8 vị cùng được xuất gia ngày 02 tháng 07 năm 2017. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Giáng Hương gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Trúc Lâm, Chân Trăng Tuệ Phương, Chân Trăng Tuệ Khai, Chân Trăng Tuệ Nhã, Chân Trời Đại Lão, Chân Trời Uyên Nguyên, Chân Trăng Tuệ Uyển, Chân Trời Hồng Lĩnh.

Cây Hải Đường (gia đình) Nhóm 27 vị cùng được xuất gia ngày 10 tháng 05 năm 2006 tại tu viện Bát Nhã. Gia đình Cây Hải Đường gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Cường, Chân Pháp Tầm, Chân Nội Nghiêm, Chân Đóa Nghiêm, Chân Tác Nghiêm, Chân Tinh Nghiêm, Chân Hiệu Nghiêm, Chân Chính Nghiêm, Chân Thuấn Nghiêm, Chân Quốc Nghiêm, Chân Pháp Nhiên, Chân Pháp Diệu, Chân Triển Nghiêm, Chân Pháp Hùng, Chân Kiều Nghiêm, Chân Áo Nghiêm, Chân Pháp Hào, Chân Nhạc Nghiêm, Chân Khả Nghiêm, Chân Phát Nghiêm, Chân Trạm Nghiêm, Chân Pháp Chủng, Chân Họa Nghiêm, Chân Tích Nghiêm, Chân Đán Nghiêm, Chân Pháp Phong, Chân Du Nghiêm.

Cây Hoa Đỗ Quyên (gia đình) Nhóm 19 vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 07 năm 2012. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai- Pháp, đồng thời truyền về Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Hoa Đỗ Quyên gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Tam Muội, Chân Trăng Tin Yêu, Chân Trăng Tịnh Thường, Chân Trăng Linh Sơn, Chân Trời Tùy Niệm, Chân Trăng Hải Ấn, Chân Trăng Ân Nghĩa, Chân Trời Bình Minh, Chân Trời Phạm Hạnh, Chân Trăng Cam Lộ, Chân Trời Tương Lai, Chân Trăng Cố Hương, Chân Trăng Diệu Lý, Chân Trời Biểu Hiện, Chân Trăng Lên Ngôi, Chân Trăng Nguyên Sơ, Chân Trời Trung Hậu, Chân Trăng Bích Ngọc, Chân Trăng Huyền Sử.

Cây Hoa Gạo (gia đình) Nhóm 26 vị cùng được xuất gia ngày 28 tháng 04 năm 2013. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Hoa Gạo gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Hiện Pháp, Chân Trời Long Hoa, Chân Trăng Thủy Chung, Chân Trăng Sông Hằng, Chân Trời Cát Tường, Chân Trời Bình An, Chân Trời Quang Đãng, Chân Trăng Thường Chiếu, Chân Trăng Ngàn Dặm, Chân Trăng Lên Cao (Cao Đăng Nguyệt), Chân Trời Nội Tâm, Chân Trời Quy Ngưỡng, Chân Trời Linh Cảm, Chân Trăng Tháng Tám (Trung Thu Nguyệt), Chân Trăng Thu Thủy, Chân Trăng Thiên Thần (Thiên Sứ Nguyệt), Chân Trăng Cẩm Tú, Chân Trời Nguyện Ước (Thệ Ước Thiên), Chân Trăng Non Cao (Cao Sơn Nguyệt), Chân Trăng Kiều Diễm, Chân Trời Hồn Nhiên (Thiên Chân Thiên), Chân Trời Nắng Mai (Thần Hy Thiên), Chân Trăng Rừng Thơm (Hương Lâm Nguyệt), Chân Trời Kỳ Diệu, Chân Trăng Truyền Kỳ và Chân Trời Trong Sáng (Tinh Minh Thiên). Cùng xuất gia với gia đình Cây Hoa Gạo còn có sư cô Chân Thuần Định đệ tử của ni sư Như Minh trụ trì chùa Tây Linh, Huế.

Gia đình cây Hoa Gạo là gia đình xuất gia đầu tiên tại Đất Mới, Tu viện Vườn Ươm.

Cây Hoa Mộc (gia đình) Nhóm 18 vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020. Lễ truyền giới tiến hành tại Tổ đình Từ Hiếu. Gia đình Cây Hoa Mộc gồm các sư chú và các sư cô: Chân Trời Phương Ngoại, Chân Trăng Hương Thiền, Chân Trăng Yên Hòa, Chân Trời Biển Đức, Chân Trăng Yên Thảo, Chân Trăng Biển Tuệ, Chân Trời Vắng Lặng, Chân Trăng Khai Hội, Chân Trăng Yên Hiếu, Chân Trăng Yên Phương, Chân Trăng Yên Thuần, Chân Trăng Bảo Tích, Chân Trăng Phương Ân, Chân Trăng Yên Thư, Chân Trăng Thanh Khê, Chân Trăng Yên Thanh, Chân Trăng Yên Nhã, Chân Trời Thênh Thang.

Cây Hoàng Yến (gia đình) Nhóm 15 vị cùng được xuất gia ngày 12 tháng 05 năm 2016. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Hoàng Yến gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Đại Ẩn, Chân Trăng Viên Dung, Chân Trời Rừng Phong, Chân Trăng Ngự Bình, Chân Trời Thệ Nhật, Chân Trăng Giếng Thơm, Chân Trăng Tao Ngộ, Chân Trăng Thuận Hoá, Chân Trăng Phú Xuân, Chân Trời Yên Tử, Chân Trăng Tinh Khôi, Chân Trăng Hồ Sen, Chân Trăng Linh Thứu, Chân Trời Thiên Thai, Chân Trăng Bồ Đề.

Cây Hồ Đào (gia đình) Nhóm 18 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 02 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Hồ Đào gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Ngạn, Chân Pháp Chương, Chân Pháp Không, Chân Tùng Nghiêm, Chân Pháp Liệu, Chân Pháp Thanh, Chân Pháp Hộ, Chân Lăng Nghiêm, Chân Quỳnh Nghiêm, Chân Pháp Xả, Chân Pháp Tâm, Chân Pháp Duyệt, Chân Pháp Sỹ, Chân Pháp Bi, Chân Pháp Quán, Chân Pháp Hỷ, Chân Bách Nghiêm, Chân Hạc Nghiêm.

Cây Hồng Giòn (gia đình) Nhóm 49 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 01 năm 2006. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai và truyền về tu viện Bát Nhã qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Hồng Giòn gồm các thầy và các sư cô: Chân Khôi Nghiêm, Chân Pháp Thuyên, Chân Pháp Thượng, Chân Lĩnh Nghiêm, Chân Cảnh Nghiêm, Chân Pháp Hoằng, Chân Pháp Thái, Chân Ích Nghiêm, Chân Pháp Cứu, Chân Pháp Căn, Chân Pháp Sung, Chân Pháp Biện, Chân Pháp Tri, Chân Pháp Cao, Chân Cẩn Nghiêm, Chân Lý Nghiêm, Chân Sách Nghiêm, Chân Đan Nghiêm, Chân Đáo Nghiêm, Chân Lịch Nghiêm, Chân Ước Nghiêm, Chân Siêu Nghiêm, Chân Báo Nghiêm, Chân Luyện Nghiêm, Chân Pháp Thọ, Chân Pháp Bình, Chân Tuyết Nghiêm, Chân Duyên Nghiêm, Chân Băng Nghiêm, Chân Pháp Khuyến, Chân Pháp Tường, Chân Pháp Huấn, Chân Pháp Xứ, Chân Pháp Giao, Chân Pháp Năng, Chân Khương Nghiêm, Chân Khán Nghiêm, Chân Khoan Nghiêm, Chân Phương Nghiêm, Chân Cẩm Nghiêm, Chân Hy Nghiêm, Chân Thể Nghiêm, Chân Pháp Hưởng, Chân Pháp Hậu, Chân Pháp Hiến, Chân Pháp Cảm, Chân Pháp Thâm, Chân Quảng Nghiêm, Chân Lộc Nghiêm, Chân Pháp Nhàn.

Cây Hướng Dương (gia đình)Nhóm 76 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 08 năm 2005. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền về tu viện Bát Nhã qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Hướng Dương gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Kế, Chân Uyển Nghiêm, Chân Pháp Chúc, Chân Hạ Nghiêm, Chân Pháp Hy, Chân Thính Nghiêm, Chân Pháp Hoạt, Chân Mãn Nghiêm, Chân Kiện Nghiêm, Chân Lễ Nghiêm, Chân Pháp Dược, Chân Văn Nghiêm, Chân Trình Nghiêm, Chân Pháp Thiên, Chân Pháp Thừa, Chân Pháp Nhật, Chân Pháp Thăng, Chân Pháp Võng, Chân Khiết Nghiêm, Chân Pháp Xương, Chân Pháp Trung, Chân Pháp Cương, Chân Bội Nghiêm, Chân Pháp Ngọc, Chân Pháp Triệu, Chân Pháp Tánh, Chân Tráng Nghiêm, Chân Thức Nghiêm, Chân Pháp Lãm, Chân Pháp Lập, Chân Trực Nghiêm, Chân Trường Nghiêm, Chân Pháp Nhĩ, Chân Pháp Tân, Chân Pháp Ngưỡng, Chân Pháp Tư, Chân Pháp Tiên, Chân Pháp Tú, Chân Pháp Thủy, Chân Trú Nghiêm, Chân Tân Nghiêm, Chân Thùy Nghiêm, Chân Pháp Vĩnh, Chân Pháp Vượng, Chân Pháp Trọng, Chân Luật Nghiêm, Chân Pháp Nhiệm, Chân Thâm Nghiêm, Chân Pháp Cự, Chân Sắc Nghiêm, Chân Pháp Tại, Chân Thiền Nghiêm, Chân Pháp Nguyệt, Chân Pháp Thạch, Chân Pháp Tồn, Chân Pháp Túc, Chân Tri Nghiêm, Chân Doãn Nghiêm, Chân Triệu Nghiêm, Chân Pháp Thiệu, Chân Điển Nghiêm, Chân Thám Nghiêm, Chân Thánh Nghiêm, Chân Kiến Nghiêm, Chân Quyết Nghiêm, Chân Tông Nghiêm, Chân Tứ Nghiêm, Chân Hướng Nghiêm, Chân Xướng Nghiêm, Chân Đồng Nghiêm, Chân Khanh Nghiêm, Chân Triết Nghiêm, Chân Nhu Nghiêm, Chân Tuyền Nghiêm, Chân Pháp Ngôn, Chân Pháp Xa. Cùng xuất gia với Cây Hướng Dương còn có các thầy và sư cô: Huệ Thiện, Trí Hiếu, Mãn Định, Mãn Nguyện, Mãn Ứng, Mãn Bi, Mãn Thành, Mãn Tựu, Mãn Túc, Thanh Bình, Đồng Hậu, Hỷ Hải, Viên Huy, Diệu Thu, Hương Quế.

Cây Khế (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 1996 tại Làng Mai. Gia đình Cây Khế gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Thuận, Chân Thắng Nghiêm, Chân Tường Nghiêm, Chân Pháp Châu.

Cây Kim Ngân Hoa (gia đình) Nhóm 16 vị cùng được xuất gia ngày 05 tháng 11 năm 2012. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai- Pháp, đồng thời truyền về Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Kim Ngân Hoa gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Hồng Ân, Chân Trăng Thong Dong, Chân Trăng Lý Tưởng, Chân Trời Giải Thoát, Chân Trăng Thành Tựu, Chân Trăng Hạnh Nguyện, Chân Trăng Thường Trú, Chân Trăng Chiếu Diệu, Chân Trăng Cơ Duyên, Chân Trời Hiện Tại, Chân Trời Quán Chiếu, Chân Trăng Chí Thành, Chân Trời Bồ Đề, Chân Trăng Sáng Soi, Chân Trăng Lưu Ly, Chân Trăng Tỏ Tường.

Cây Lê (gia đình) Nhóm 45 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 2 năm 2008. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền qua mạng lưới Internet về tu viện Bát Nhã. Gia đình Cây Lê gồm các thầy và các sư cô: Chân Duyệt Nghiêm, Chân Pháp Linh, Chân Hiến Nghiêm, Chân Pháp Diện, Chân Hài Nghiêm, Chân Sỹ Nghiêm, Chân Pháp Mật, Chân Xứ Nghiêm, Chân Pháp Nguyện, Chân Lực Nghiêm, Chân Xả Nghiêm, Chân Pháp Áo, Chân Biểu Nghiêm, Chân Diễn Nghiêm, Chân Pháp Cứ, Chân Cư Nghiêm, Chân Chỉnh Nghiêm, Chân Duy Nghiêm, Chân Dũng Nghiêm, Chân Diên Nghiêm, Chân Đạm Nghiêm, Chân Giản Nghiêm, Chân Hậu Nghiêm, Chân Pháp Ảnh, Chân Hào Nghiêm, Chân Hiểu Nghiêm, Chân Hữu Nghiêm, Chân Kế Nghiêm, Chân Pháp Chiêu, Chân Pháp Dũng, Chân Hoàng Nghiêm, Chân Hồi Nghiêm, Chân Lâm Nghiêm, Chân Pháp Dự, Chân Pháp Định, Chân Huy Nghiêm, Chân Pháp Hàng, Chân Pháp Khả, Chân Huấn Nghiêm, Chân Pháp Kim, Chân Pháp Khương, Chân Hiện Nghiêm, Chân Pháp Hoan, Chân Pháp Hương, Chân Pháp Lợi, Chân Pháp Lộc.

Cây Mai Vàng (gia đình) Nhóm 49 vị cùng được xuất gia ngày 14 tháng 12 năm 2016. Lễ truyền giới tiến hành tại 3 Trung tâm trong đó 17 vị được xuất gia tại Làng Mai–Pháp, 30 vị tại Tu viện Vườn Ươm và 3 tại tu viện Bích Nham–Mỹ. Gia đình Cây Mai Vàng gồm các thầy và các sư cô: , Chân Trăng Mai Lâm, Chân Trời Đức Hành, Chân Trăng Mai Sơn, Chân Trời Đức Hiền, Chân Trời Minh Thiện, Chân Trăng Mai Trang, Chân Trăng Mai Viên, Chân Trăng Mai Điền, Chân Trời Đức Niệm, Chân Trời Đức Định, Chân Trời Đức Phổ, Chân Trời Đức Bản, Chân Trời Đức Trí, Chân Trời Đức An, Chân Trời Đức Dũng, Chân Trời Kiên Tuệ, Chân Trăng Định Chiếu, Chân Trăng Mai Phương, Chân Trăng Hoàng Anh, Chân Trăng Hoàng Yên, Chân Trăng Tịch Chiếu, Chân Trăng Tuệ Chiếu, Chân Trăng Hải Chiếu, Chân Trời Giác Tuệ, Chân Trăng Viên Chiếu, Chân Trời Phước Tuệ, Chân Trời Biển Tuệ, Chân Trăng Minh Chiếu, Chân Trăng Từ Chiếu, Chân Trăng Thông Chiếu, Chân Trăng Quang Chiếu, Chân Trăng Nhiên Chiếu, Chân Trăng Phổ Chiếu, Chân Trời Đức Khiêm, Chân Trời Đức Trú, Chân Trăng Mãn Chiếu, Chân Trăng Linh Chiếu, Chân Trăng Bảo Chiếu, Chân Trăng An Chiếu, Chân Trăng Học Chiếu, Chân Trăng Liên Chiếu, Chân Trăng Ngọc Chiếu, Chân Trăng Thiện Chiếu, Chân Trăng Phương Chiếu, Chân Trăng Hằng Chiếu, Chân Trăng Huyền Chiếu, Chân Trời Đuốc Tuệ, Chân Trăng Huy Chiếu, Chân Trời Đức Tuệ, Chân Trăng Mẫn Chiếu.

Cây Mãng Cầu (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 11 năm 2004 tại Làng Mai. Gia đình Cây Mãng Cầu gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp An, Chân Tư Nghiêm, Chân Kỳ Nghiêm, Chân Pháp Tuấn, Chân Trí Nghiêm.

Cây Me (gia đình) Sư chú Chân Trời Trí Độ, xuất gia ngày 22 tháng 3 năm 2020 tại Tu viện Vườn Ươm.

Cây Mộc Lan (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 23 tháng 03 năm 1999 tại Làng Mai, gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Hưng, Chân Lệ Nghiêm, Chân Pháp Bảo, Chân Hòa Nghiêm.

Cây Mướp Hương (gia đình) Gồm 2 sư cô Chân Lân Nghiêm và Chân Mạnh Nghiêm cùng được xuất gia ngày 20 tháng 10 năm 2009. Lễ truyền giới tiến hành tại tu viện Bích Nham- Mỹ.

Cây Ngọc Am (gia đình) Nhóm 14 vị cùng được xuất gia ngày 15 tháng 12 năm 2019. Lễ truyền giới được tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Ngọc Am (Tên tiếng Anh là Cupressus funebris) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Giác Sơn, Chân Trời Bảo Sơn, Chân Trời Phúc Sơn, Chân Trời Đức Sơn, Chân Trăng Hương Bình, Chân Trăng Hương Nguyện, Chân Trăng Hương Tịnh, Chân Trời Quy Sơn, Chân Trời Thiện Sơn, Giác Trọng (đệ tử Hòa thượng chùa Giác Nguyên) Chân Trăng Hương Giới, Chân Trời Học Sơn, Chân Trời Kim Sơn, Chân Trăng Hương Hải, Chân Trăng Hương Bối.

Cây Ngọc Lan (gia đình) Nhóm 18 vị cùng được xuất gia ngày 20 tháng 05 năm 2018. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Ngọc Lan(Tên tiếng Anh là Magnolia Tree) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Nguồn Sáng, Chân Trăng Rừng Tùng, Chân Trăng Rừng Xanh, Chân Trăng Thanh Thanh, Chân Trăng Mây Lành, Chân Trăng Thanh Nhã, Chân Trăng Hương Lành, Chân Trăng Thanh Minh,  Chân Trời Gió Xuân, Chân Trăng Tường Thanh, Chân Trăng Hà Thanh, Chân Trăng Sao Mai, Chân Trăng Ý Trong, Chân Trăng Nam Giao, Chân Trăng Vô Vi, Chân Trăng Biển Mây, Chân Trăng Diệu Trạm, Chân Trăng Ngàn Hoa, Chân Trăng Giếng Ngọc.

Cây Ngô Đồng (gia đình) Nhóm 27 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 06 năm 2008 tại Tu viện Bát Nhã. Lễ truyền giới được tổ chức tại tu viện Bát Nhã trong chuyến về Việt Nam lần thứ 3 của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Gia đình Cây Ngô Đồng gồm các thầy và các sư cô: Chân Vĩ Nghiêm, Chân Cao Nghiêm, Chân Pháp Lễ, Chân Pháp Kính, Chân Phong Nghiêm, Chân Pháp Đạo, Chân Kiên Nghiêm, Chân Kiệt Nghiêm, Chân Pháp Đương, Chân Giáo Nghiêm, Chân Vượng Nghiêm, Chân Thiện Nghiêm, Chân Ý Nghiêm, Chân Pháp Điển, Chân Ưu Nghiêm, Chân Trinh Nghiêm, Chân Xương Nghiêm, Chân Pháp Chất, Chân Vũ Nghiêm, Chân Pháp Chuẩn, Chân Pháp Trực, Chân Pháp Chấn, Chân Tài Nghiêm, Chân Nhất Nghiêm, Chân Pháp Hồi, Chân Pháp Hiểu, Chân Pháp Diên. Cùng thọ giới với Cây Ngô Đồng còn có các thầy Thích Mãn Đạt, Thích Mãn Lạc, Thích Mãn Hữu, Thích Mãn Chí, Thích Mãn Hưng và Thích Mãn Tạng.

Cây Nguyệt Quế(gia đình) Nhóm 17 vị cùng được xuất gia ngày 16 tháng 06 năm 2019. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Nguyệt Quế gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Vững Chãi, Chân Trời Bạch Vân , Chân Trăng Dung Hoà,  Chân Trăng Phúc Châu, Chân Trăng Lắng Yên,  Chân Trăng Rộng Mở,  Chân  Trời Hải Vân,  Chân Trăng Hoà Thuận,  Chân Trăng Thuận Thảo, Chân Trăng Đức Hạnh,  Chân Trăng Non Sông,  Chân Trăng Khiêm Hạ,  Chân Trăng Sáng Tỏ,  Chân Trăng Thanh Bình,  Chân Trăng Hoà Nhã,  Chân Trăng Mây Trắng,  Chân Trời Tịnh Vân.

Cây Olive (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 30 tháng 08 năm 2004 tại Làng Mai. Gia đình Cây Olive gồm các thầy và các sư cô: Chân Song Nghiêm, Chân Pháp Sinh, Chân Pháp Tuyên, Chân Như Nghiêm, Chân Triêu Nghiêm.

Cây Phong (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 09 tháng 08 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Phong gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Viên, Chân Tố Nghiêm, Chân Tú Nghiêm, Chân Xuân Nghiêm, Chân Tín Nghiêm.

Cây Phượng (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 11 năm 1997 tại Key West tiểu bang Florida nước Mỹ. Gia đình Cây Phượng gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Ân, Chân Hằng Nghiêm, Chân Pháp Lạc, Chân Uy Nghiêm.

Cây Quế (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 13 tháng 12 năm 2003 tại Làng Mai. Gia đình Cây Quế gồm các thầy và các sư cô: Chân Đắc Nghiêm, Chân Pháp Vũ, Chân Pháp Trì, Chân Thư Nghiêm, Chân Pháp Lưu, Chân Pháp Tụ, Chân Pháp Cầu, Chân Uyên Nghiêm, Chân Phùng Nghiêm.

Cây Quỳnh Hương (gia đình) Gồm 2 sư cô Chân Hoa Nghiêm và Chân Từ Nghiêm cùng được xuất gia ngày 26 tháng 1 năm 1991 tại Làng Mai.

Cây Sala (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 02 tháng 08 năm 2015. Lễ truyền giới tiến hành tại Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Sala gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Rộng Mở,  Chân Trời Thanh Bình, Chân Trời Núi Biếc, Chân Trời Xanh Trong, Chân Trời An Định, Chân Trời Tỏ Rạng, Chân Trời Vô Cấu, Chân Trời Phương Đông và Chân Trăng Bát Nhã. Tháng 8 năm 2015, có 4 sư cô theo chương trình xuất gia gieo duyên 3 tháng dành cho người Thái rồi sau đó xin xuất gia chính thức trở thành những thành viên mới của gia đình Cây Sala: Chân Trăng Thanh Nhàn, Chân Trăng Thanh Tâm, Chân Trăng Thanh Thủy, Chân Trăng Thanh Thiên.

Cây Sen Hồng (gia đình) Nhóm 33 vị cùng được xuất gia ngày 21 tháng 11 năm 2009. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai và được truyền qua mạng lưới Internet về chùa Từ Hiếu. Gia đình Cây Sen Hồng gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Kinh, Chân Pháp Như, Chân Pháp Nhất, Chân Thiệu Nghiêm, Chân Pháp Triều, Chân Hiệp Nghiêm, Chân Pháp Ngân, Chân Tại Nghiêm, Chân Tu Nghiêm, Chân Pháp Giang, Chân Pháp Đan, Chân Sáng Nghiêm, Chân Trai Nghiêm, Chân Pháp Lý, Chân Pháp Tài, Chân Đính Nghiêm, Chân Tảo Nghiêm, Chân Pháp Quảng, Chân Pháp Thắng, Chân Pháp Ngự, Chân Tuyển Nghiêm, Chân Pháp Quyền, Chân Tuân Nghiêm, Chân Pháp Nhiếp,  Chân Nhuệ Nghiêm, Chân Pháp Sự, Chân Nhàn Nghiêm, Chân Pháp Bằng, Chân Pháp Tiếp, Chân Pháp Quyết, Chân Pháp Trình, Chân Sung Nghiêm, Chân Lượng Nghiêm.

 (Cây Sen Trắng  gia đình) Nhóm 42 vị cùng được xuất gia ngày 20 tháng 09 năm 2008. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai và được truyền qua mạng lưới Internet về chùa Từ Hiếu, Huế. Gia đình Cây Sen Trắng gồm các thầy và các sư cô: Chân Bình Nghiêm, Chân An Nghiêm, Chân Pháp Đàm, Chân Pháp Giới, Chân Pháp Liên, Chân Pháp Ẩn, Chân Chất Nghiêm, Chân Pháp Âu, Chân Chiêu Nghiêm, Chân Phú Nghiêm, Chân Nhị Nghiêm, Chân Sứ Nghiêm, Chân Pháp Ánh, Chân Chuẩn Nghiêm, Chân Căn Nghiêm, Chân Thân Nghiêm, Chân Chức Nghiêm, Chân Chuyên Nghiêm, Chân Pháp Bối, Chân Pháp Xúc, Chân Pháp Côn, Chân Pháp Cú, Chân Chứng Nghiêm, Chân Diễm Nghiêm, Chân Diện Nghiêm, Chân Dương Nghiêm, Chân Điều Nghiêm, Chân Pháp Cửu, Chân Pháp Chỉnh, Chân Pháp Biểu, Chân Dự Nghiêm, Chân Pháp Chúng, Chân Đế Nghiêm, Chân Pháp Doanh, Chân Địa Nghiêm, Chân Đảm Nghiêm, Chân Pháp Du, Chân Pháp Đại, Chân Pháp Đảo, Chân Hoan Nghiêm, Chân Đôn Nghiêm, Chân Pháp Đỉnh.

Cây Sen Vàng 
(gia đình) Nhóm 46 vị cùng được xuất gia ngày 08 tháng 03 năm 2009. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai và được truyền qua mạng lưới Internet về chùa Từ Hiếu. Gia đình Cây Sen Vàng gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Thuật, Chân Thúc Nghiêm, Chân Pháp Luyện, Chân Pháp Lân, Chân Tự Nghiêm, Chân Pháp Khải, Chân Trì Nghiêm, Chân Pháp Thi, Chân Sinh Nghiêm, Chân Hoàn Nghiêm, Chân Trượng Nghiêm, Chân Cương Nghiêm, Chân Pháp Tín, Chân Pháp Hiệu, Chân Pháp Doãn, Chân Thưởng Nghiêm, Chân Công Nghiêm, Chân Trợ Nghiêm, Chân Pháp Lịch, Chân Pháp Đối, Chân Pháp Mạch, Chân Ân Nghiêm, Chân Nguyện Nghiêm, Chân Trừng Nghiêm, Chân Pháp Nghị, Chân Cứu Nghiêm, Chân Pháp Hiệp, Chân Thiệp Nghiêm, Chân Đương Nghiêm, Chân Biện Nghiêm, Chân Pháp Mẫn, Chân Pháp Thệ, Chân Pháp Kỳ, Chân Thật Nghiêm, Chân Pháp Nhạc, Chân Thoát Nghiêm, Chân Pháp Nghiệm, Chân Pháp Mặc, Chân Pháp Luận, Chân Thảo Nghiêm, Chân Pháp Mục, Chân Pháp Dĩnh, Chân Thương Nghiêm, Chân Pháp Nhi, Chân Pháp Liêm, Chân Pháp Triển.

Cây Sen Xanh (gia đình) Nhóm 17 vị cùng được xuất gia ngày 27 tháng 05 năm 2010. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai-Pháp, đồng thời truyền về Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Sen Xanh gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Độ Lượng (Độ LượngThiên), Chân Trăng Phương Bối (Phương Bối Nguyệt), Chân Trời Cao Rộng(Cao Quảng Thiên), Chân Trời An Lạc (An Lạc Thiên), Chân Trời Sáng Tỏ (Minh Chiếu Thiên), Chân Trăng Phương Đông (Đông Phương Nguyệt), Chân Trăng Thượng Phương (Thượng Phương Nguyệt), Chân Trăng Thanh Lương (Thanh Lương Nguyệt), Chân Trăng Phương Nam (Nam Phương Nguyệt), Chân Trời Huyền Thoại (Huyền Thoại Thiên), Chân Trăng Rằm (Mãn Nguyệt), Chân Trời Thân Hữu (Thân Hữu Thiên), Chân Trăng Mười Sáu (Thập Lục Nguyệt), Chân Trời Tịnh Lạc (Tịnh Lạc Thiên), Chân Trăng Quê Hương (Cố Hương Nguyệt), Chân Trăng Mới Lên (Sơ Dạ Nguyệt), Chân Trăng Đầu Hạ (Sơ Hạ Nguyệt).

Gia đình cây Sen Xanh là gia đình đệ tử xuất gia của Sư Ông Làng Mai thế hệ Trời-Trăng đầu tiên, kết thúc thế hệ Pháp-Nghiêm.

Cây Sồi (gia đình) Nhóm 5 vị cùng được xuất gia ngày 3 tháng 8 năm 1994 tại Làng Mai. Gia đình cây Sồi gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Niệm, Chân Giải Nghiêm, Chân Pháp Cảnh, Chân Pháp Trú, Chân Khai Nghiêm.

Cây Sồi Đỏ (gia đình) Nhóm 42 vị cùng được xuất gia ngày 18 tháng 12 năm 2014. Lễ truyền giới tiến hành tại 3 Trung tâm trong đó 10 vị được xuất gia tại Làng Mai – Pháp, 31 vị tại Tu viện Vườn Ươm và 1 tại tu viện Lộc Uyển – Mỹ. Gia đình Cây Sồi Đỏ gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Trúc Lâm, Chân Trăng Chánh Định, Chân Trời Bến Giác, Chân Trăng Thuần Hậu , Chân Trăng Chánh Niệm, Chân Trăng Chánh Tuệ, Chân Trăng Mặc Chiếu, Chân Trời Hải Thượng, Chân Trăng Thương Yêu (Bác Ái Nguyệt), Chân Trời Hồng Bàng, Chân Trời Văn Lang, Chân Trời Tịnh Trú, ChânTrăng Từ Hòa, Chân Trăng Thảnh Thơi (Tự Tại Nguyệt), Chân Trời Vững Chãi, Chân Trăng Viên Mãn, Chân Trăng Thiên Lý, Chân Trăng Từ Mãn, Chân Trăng Thiên Ý, Chân Trăng Bình An, Chân Trời Đại Địa, Chân Trăng Khiêm Cung, Chân Trăng Ngân Hà, Chân Trăng Bao Dung, Chân Trời Hoan Hỷ, Chân Trời Dương Xuân, Chân Trời Đại Việt, Chân Trăng Từ Bi, Chân Trăng Hòa Hợp, Chân Trăng Trung Hậu, Chân Trăng Từ Hiếu, Chân Trăng Tinh Tấn, Chân Trăng Vô Ưu, Chân Trăng Thiên Ân, Chân Trăng An Lạc, Chân Trời An Trú, Chân Trăng Cát Tường, Chân Trăng Tịnh Mặc, Chân Trăng Tuổi Ngọc, Chân Trăng Hòa Ái, Chân Trăng Lam Điền, Chân Trăng An Hòa.

Cây Sơn Thù Du (gia đình) Nhóm 3 vị cùng được xuất gia ngày 20 tháng 10 năm 2017 tại tu viện Mộc Lan- Mỹ. Gia đình Cây Sơn Thù Du gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Minh Dung, Chân Trăng Kim Sơn, Chân Trăng Quang Sơn.

Cây Sơn Trà (gia đình) Nhóm 11 vị cùng được xuất gia ngày 16 tháng 12 năm 2018 tại tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Sơn Trà gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Trí Niệm, Chân Trăng Tường Niệm, Chân Trăng Ân Niệm, Chân Trăng Hỷ Niệm, Chân Trăng An Niệm, Chân Trời Nắng Mới, Chân Trời Phương Vân, Chân Trời Nhất Vị, Chân Trăng Trú Niệm, Chân Trời Nhập Lưu và Chân Trăng Khánh Niệm.

Cây Sung (gia đình) Nhóm 7 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 10 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Sung gồm các thầy và các sư cô: Chân Y Nghiêm, Chân Pháp Minh, Chân Anh Nghiêm, Chân Thường Nghiêm, Chân Lương Nghiêm, Chân Pháp Ngộ, Chân Quang Nghiêm.

Cây Táo (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 04 tháng 02 năm 1998 tại Làng Mai. Gia đình Cây Táo gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Khâm, Chân Linh Nghiêm, Chân Bi Nghiêm, Chân Pháp Dung, Chân Khánh Nghiêm, Chân Huyền Nghiêm, Chân Hân Nghiêm, Chân Pháp Nguyên, Chân Kính Nghiêm.

Cây Thế Kỷ (gia đình) Nhóm 3 vị cùng được xuất gia ngày 23 tháng 10 năm 2015 tại tu viện Lộc Uyển, Mỹ. Gia đình Cây Thế Kỷ gồm 3 sư chú Chân Trời Minh Tâm, Chân Trời Minh Hoá và Chân Trời Minh Nguyên.

Cây Thốt Nốt (gia đình) Nhóm 21 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 02 năm 2002 tại Làng Mai. Gia đình Cây Thốt Nốt gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Khôi, Chân Cơ Nghiêm, Chân Doanh Nghiêm, Chân Cần Nghiêm, Chân Chỉ Nghiêm, Chân Pháp Điền, Chân Thịnh Nghiêm, Chân Pháp Luân, Chân Pháp Nhẫn, Chân Cung Nghiêm, Chân Thi Nghiêm, Chân Pháp Thân, Chân Thần Nghiêm, Chân Pháp Tự, Chân Pháp Môn, Chân Pháp Hiển, Chân Việt Nghiêm, Chân Nho Nghiêm, Chân Pháp Chiếu, Chân Đàn Nghiêm, Chân Pháp Hữu.

Cây Trà My (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 12 tháng 02 năm 2001 tại Làng Mai. Gia đình Cây Trà My gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Chuyên, Chân Pháp Vinh, Chân Túc Nghiêm, Chân Pháp Trạch, Chân Quý Nghiêm, Chân Pháp Huy, Chân Cát Nghiêm, Chân Hành Nghiêm, Chân Pháp Duệ.

Cây Trắc Bá (gia đình) Nhóm 29 vị cùng được xuất gia ngày 02 tháng 07 năm 2014. Lễ truyền giới tiến hành tại Làng Mai- Pháp và Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Trắc Bá gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Đại Nghĩa, Chân Trăng Linh Mẫn, Chân Trăng Linh Dị, Chân Trăng Linh Tuệ, Chân Trời Đại Đạo, Chân Trời Đại Đồng, Chân Trời Phạm Trú, Chân Trời Đại Dụng, Chân Trăng Thiên Nga, Chân Trời Quang Thái, Chân Trăng Bối Diệp, Chân Trăng Linh Các, Chân Trăng Thanh Khí, Chân Trăng Chí Nguyện, Chân Trăng Linh Tú, Chân Trời Quang Minh, Chân Trăng Kỳ Vọng, Chân Trăng Bích Thủy, Chân Trời Đại Lượng, Chân Trăng Thanh Sơn, Chân Trời Nhất Quán, Chân Trời Quang Huy, Chân Trời Quy Nguyện, Chân Trăng Cố Quận, Chân Trăng Cổ Tích, Chân Trời Tây Nguyên, Chân Trời Tây Sơn, Chân Trăng Linh Ứng, Chân Trăng Linh Bảo.

Cây Trầm Hương (gia đình) Nhóm 77 vị cùng được xuất gia ngày 3 tháng 3 năm 2007 tại tu viện Bát Nhã. Gia đình Cây Trầm Hương gồm các thầy và các sư cô: Chân Chiếu Nghiêm, Chân Pháp Cẩn, Chân Pháp Công, Chân Quế Nghiêm, Chân Phẩm Nghiêm, Chân Pháp Cử, Chân Pháp Chí, Chân Pháp Chứng, Chân Chương Nghiêm, Chân Minh Nghiêm, Chân Pháp Diễn, Chân Pháp Dương, Chân Quán Nghiêm, Chân Dụng Nghiêm, Chân Nghĩa Nghiêm, Chân Pháp Duy, Chân Nhãn Nghiêm, Chân Tiên Nghiêm, Chân Hiển Nghiêm, Chân Tuấn Nghiêm, Chân Khoa Nghiêm, Chân Thúy Nghiêm, Chân Tuyển Nghiêm, Chân Đài Nghiêm, Chân Thuyết Nghiêm, Chân Pháp Đài, Chân Tĩnh Nghiêm, Chân Thượng Nghiêm, Chân Hưng Nghiêm, Chân Viên Nghiêm, Chân Nhuận Nghiêm, Chân Pháp Đế, Chân Pháp Điều, Chân Pháp Đường, Chân Pháp Giải, Chân Xứng Nghiêm, Chân Hải Nghiêm, Chân Tựu Nghiêm, Chân Lạc Nghiêm, Chân Pháp Hảo, Chân Pháp Hoàn, Chân Vinh Nghiêm, Chân Hoằng Nghiêm, Chân Tạng Nghiêm, Chân Liên Nghiêm, Chân Lập Nghiêm, Chân Truyền Nghiêm, Chân Chung Nghiêm, Chân Huân Nghiêm, Chân Lưu Nghiêm, Chân Pháp Hiên, Chân Pháp Hoạch, Chân Khuyến Nghiêm, Chân Liệu Nghiêm, Chân Toàn Nghiêm, Chân Đăng Nghiêm, Chân Lãm Nghiêm, Chân Thuyên Nghiêm, Chân Huệ Nghiêm, Chân Pháp Hiện, Chân Lữ Nghiêm, Chân Nhiếp Nghiêm, Chân Ngộ Nghiêm, Chân Chúc Nghiêm, Chân Ngọc Nghiêm, Chân Luận Nghiêm, Chân Pháp Hợp, Chân Phượng Nghiêm, Chân Hoạt Nghiêm, Chân Tiếp Nghiêm, Chân Năng Nghiêm, Chân Nguyệt Nghiêm, Chân Pháp Khoa, Chân Trọng Nghiêm, Chân Tiến Nghiêm, Chân Toại Nghiêm, Chân Tùy Nghiêm. Cùng xuất gia với Cây Trầm Hương còn có các thầy và sư cô: Mãn Hướng, Mãn Luân, Mãn Hiện, Mãn Thức, Khánh Đạt, Đồng Phương, Quảng Biên, Nhuận Viên, Đồng Minh, Nhuận Tính, Quảng Hiện, Diệu Âm.

Cây Trúc (gia đình) Gồm các thầy Chân Pháp Thông, Chân Pháp Hòa, Chân Pháp Nghĩa cùng được xuất gia ngày 12 tháng 5 năm 1998 tại Làng Mai.

Cây Trúc Tím (gia đình) Nhóm 13 vị cùng được xuất gia ngày 03 tháng 07 năm 2011. Lễ truyền giới tổ chức tại Làng Mai và trực tuyến sang thiền đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm qua mạng lưới Internet. Gia đình Cây Trúc Tím gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Tự Tại, Chân Trời Bảo Tạng, Chân Trăng Đoàn Tụ, Chân Trăng Tùng Hạc , Chân Trăng Yên Tử., Chân Trời Ngộ Không , Chân Trăng Phổ Đà , Chân Trăng Mai Thôn , Chân Trăng Nga Mi , Chân Trời Đại Nhẫn , Chân Trời Tái Sinh, Chân Trời Bảo Tích, Chân Trời Huynh Đệ.

Cây Trúc Vàng (gia đình) Nhóm 13 vị cùng được xuất gia ngày 17 tháng 10 năm 2010. Lễ truyền giới tiến hành tại Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Trúc Vàng gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Chùa Xưa, Chân Trăng Huyền Diệu, Chân Trăng Từ Ái , Chân Trăng Huyền Không, Chân Trăng Bích Nham, Chân Trăng Nguyền Ước, Chân Trăng Lộc Uyển, Chân Trăng Tuổi Thơ, Chân Trăng Xóm Mới, Chân Trăng An Vui, Chân Trời Kỳ Ngộ, Chân Trời Tinh Khôi, Chân Trời Tĩnh Lặng.

Cây Trúc Xanh (gia đình) Nhóm 13 vị cùng được xuất gia ngày 23 tháng 03 năm 2011. Lễ truyền giới tiến hành tại Thiền Đường Trời Phương Ngoại, Tu viện Vườn Ươm. Gia đình Cây Trúc Xanh gồm các thầy và các sư cô: Chân Trời Bao Dung, Chân Trời Thảnh Thơi, Chân Trăng Ngoại Phương, Chân Trời Năm Sắc, Chân Trời Rạng Đông, Chân Trăng Phương Bắc, Chân Trăng Huyền Thoại, Chân Trăng Tuyết Hoa, Chân Trăng Tuyết Sơn, Chân Trăng Đầu Non, Chân Trăng Một Phương, Chân Trời Tỉnh Thức, Chân Trời Tuệ Chiếu.

Cây Tùng (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 2 năm 1997 tại Làng Mai, gồm các thầy: Chân Pháp Sơn, Chân Pháp Kiên, Chân Pháp Hải, Chân Pháp Hội.

Cây Vô Ưu (gia đình) Nhóm 13 vị cùng được xuất gia ngày 07 tháng 07 năm 2003. Lễ truyền giới được tiến hành tại Làng Mai, đồng thời truyền qua mạng lưới Internet về chùa Đình Quán – Hà Nội. Gia đình Cây Vô Ưu gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Đệ, Chân Pháp Tập, Chân Lan Nghiêm, Chân Pháp Quang, Chân Thái Nghiêm, Chân Pháp Tịnh, Chân Pháp Ngữ, Chân Khải Nghiêm, Chân Khuê Nghiêm, Chân Pháp Lâm, Chân Pháp Toàn, Chân Pháp Huân, Chân Bối Nghiêm.

Cây Vú Sữa (gia đình) Nhóm 19 vị cùng được xuất gia ngày 01 tháng 02 năm 2005 tại Việt Nam, trong khóa tu tăng ni tại chùa Hoằng Pháp, Hóc môn. Gia đình Cây Vú Sữa gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Nhã, Chân Sùng Nghiêm, Chân Pháp Toại, Chân Tánh Nghiêm, Chân Thẩm Nghiêm, Chân Phổ Nghiêm, Chân Pháp Ninh, Chân Pháp Chung, Chân Mặc Nghiêm, Chân Ứng Nghiêm, Chân Tập Nghiêm, Chân Giai Nghiêm, Chân Mỹ Nghiêm, Chân Tôn Nghiêm, Chân Chí Nghiêm, Chân Dung Nghiêm, Chân Duệ Nghiêm, Chân Pháp Anh, Chân Thao Nghiêm.

Cây Xoài (gia đình) Gồm sư cô Chân Trung Nghiêm, Chân Nhã Nghiêm và thầy Chân Pháp Âm cùng được xuất gia ngày 27 tháng 7 năm 1999 tại Làng Mai.

Cây Xoan (gia đình) Nhóm 12 vị cùng được xuất gia ngày 26 tháng 05 năm 2002 tại Làng Mai. Gia đình Cây Xoan gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Lộ, Chân Gia Nghiêm, Chân Liễu Nghiêm, Chân Hồng Nghiêm, Chân Trúc Nghiêm, Chân Pháp Lai, Chân Hiền Nghiêm, Chân Thanh Nghiêm, Chân Pháp Uyển, Chân Pháp Hành, Chân Trang Nghiêm, Chân Mai Nghiêm.

Cây Xô Gai (gia đình) Nhóm 3 vị cùng được xuất gia ngày 6 tháng 9 năm 2020 tại tu viện Lộc Uyển – Mỹ. Gia đình cây Xô Gai (tiếng Anh là White Sage) gồm các sư chú: Chân Trời Minh Niệm, Chân Trời Minh Định, Chân Trời Minh Lực.

Cây Xô Thơm (gia đình) Nhóm 9 vị cùng được xuất gia ngày 9 tháng 9 năm 2018 tại tu viện Lộc Uyển- Mỹ. Gia đình cây Xô Thơm (tiếng Anh là Cleveland Sage) gồm các thầy và các sư cô: Chân Trăng Thanh Ân, Chân Trời Minh An, Chân Trời Minh Lượng, Chân Trăng Thanh Trí, Chân Trăng Thanh Như, Chân Trời Minh Lưu , Chân Trăng Thanh Hương, Chân Trời Minh Nhân, Chân Trời Minh Thắng.

Cậu Đồng (sách) Một phóng tác kịch của Thầy Làng Mai từ vở hài kịch Le Tartuffe của Molière, do nhà Sen Vàng xuất bản năm 1958. Kịch này đã được Gia Đình Phật Tử Cầu Đất trình diễn mùa Xuân năm 1959.

Chánh Định (Trăng Chánh Định) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người gốc Philippine, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1979. Thọ giới Sa Di Ni ngày 18 tháng 12 năm 2014 (35 tuổi) tại Làng Mai Pháp, pháp danh Compassionate Voice of the Heart, pháp tự Chân Trăng Chánh Định. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sồi Đỏ. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 02 năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây tại Làng Mai Pháp. Là đệ tử thứ 871 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chánh Định thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chánh Niệm (thuật ngữ, phép tu, tên gọi)
1. Năng lượng giúp ta có mặt thật sự trong giây phút hiện tại và nhận diện được những gì đang xảy ra tại đây trong giây phút ấy. Năng lượng này nếu được duy trì sẽ làm phát sinh ra năng lượng chuyên chú, tập trung của tâm ý vào một đối tượng được lựa chọn, gọi là chánh định. Năng lượng chánh định nếu đủ hùng hậu sẽ giúp ta khám phá được thực chất của đối tượng kia, gọi là tuệ. Niệm, định và tuệ là ba năng lượng được chế tác trong khi tu tập. Chánh niệm được chế tác không những trong thời gian thực tập thiền ngồi, thiền đi, mà còn được chế tác trong bất cứ sinh hoạt nào của đời sống hàng ngày như tưới rau, rửa bát, giặt áo, nấu cơm, lái xe, lau nhà, ăn cơm, uống nước, làm việc, trong cả bốn tư thế đi, đứng, nằm và ngồi. Có năng lượng chánh niệm ta thật sự có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày và sống được sâu sắc những giây phút ấy. Chánh niệm giúp ta tiếp xúc được với những gì mầu nhiệm trong ta và xung quanh ta, những gì có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa. Chánh niệm cũng giúp ta nhận diện và ôm ấp những niềm đau trong ta, để ta có thể làm vơi nhẹ chúng, và cùng với chánh định, giúp ta nhìn sâu vào thực chất của niềm đau để thấy được gốc nguồn của nó và do đó chuyển hóa được niềm đau. Chánh niệm là trái tim của thiền tập. Chữ Phạn là Smrti, chữ Pali là Sati, dịch sang tiếng Pháp là la pleine conscience, tiếng Anh là mindfulness, tiếng Đức là achksamkeit. Kinh căn bản dạy về chánh niệm là kinh Niệm Xứ, Satipatthana sutta.
2. (Trăng Chánh Niệm) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người gốc Ireland, quốc tịch Đức, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2014 (34 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 18 tháng 12 năm 2014 tại Làng Mai Pháp, pháp danh Courageous Transformation of the Heart, pháp tự Chân Trăng Chánh Niệm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sồi Đỏ. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 02 năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây tại Làng Mai Pháp. Là đệ tử thứ 874 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chánh Niệm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chánh Tuệ (Trăng Chánh Tuệ) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Pháp, thọ giới Sa Di Ni ngày 18 tháng 12 năm 2014, pháp danh Energie Rayonnante du Coeur, pháp tự Chân Trăng Chánh Tuệ. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sồi Đỏ. Là đệ tử thứ 875 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chánh Tuệ thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chanting from the Heart Chanting from the Heart (sách)
Một cuốn sách gồm tất cả các kinh và nghi thức căn bản theo truyền thống Làng Mai bằng tiếng Anh, tương đương với sách Nghi thức Tụng niệm Đại toàn tiếng Việt.
Nhà xuất bản Parallax ấn hành tại Hoa Kỳ năm 2006.

Chắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng HiệnChắp Tay Nguyện Cầu Cho Bồ Câu Trắng Hiện (sách)
Một tập thơ của Thầy Làng Mai do nhà Lá Bối, Sài Gòn ấn hành năm 1965,
họa sĩ Hiếu Đệ trình bày bìa. Tập thơ này khi đưa lên kiểm duyệt đã bị bỏ chỉ còn hai bài, sau đó được in chui không có giấy phép. Tập thơ có nhiều bài được gọi là thơ phản chiến (anti-war poetry) vì diễn tả được nỗi khổ đau của chiến tranh và ước vọng hòa bình của dân chúng, nên đã bị cảnh sát của chế độ Sài Gòn tịch thu

Chắp tay trong chánh niệm (phép tu)
Gặp nhau trong khuôn viện Làng Mai, ta chắp tay xá nhau trong chánh niệm. Chắp hai tay lên thành búp sen, ta thầm niệm “Sen búp xin tặng người”. Cúi xuống trước người đối diện, ta thầm niệm “Một vị Bụt tương lai”. Ta làm động tác này với tất cả sự cung kính, dù là với một em bé, bởi vì em bé cũng có tính Bụt trong tâm. Chắp tay và xá như thế, ta tiếp xúc được với Phật tính trong ta và trong người đối diện, đồng thời ta cũng giúp người ấy làm như thế. Đây không phải là lễ nghi ước lệ mà là một sự thực tập.

Chân An Bình (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Lâm Xuân Thời, quốc tịch NaUy. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Tâm an thế giới sẽ bình.
Núi xanh từ buổi đăng trình vẫn xanh.
Tinh chuyên nguyện mãn công thành.
Về nơi suối ngọt cây lành năm xưa.

Chân An Định (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Trish Thompson. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Tâm an cảnh tịch định lực sinh quang
Từ bi vô ngại, hỷ xả thanh lương
Pháp môn nguyện học, giới pháp nguyện hành
Phiền não nguyện đoạn, tịnh độ nguyện sanh.

Chân An Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Tô Xuân Kỷ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Bước chân hơi thở bình an
Vun trồng bốn Đức, không màng lợi danh
Lắng nghe, nói những lời lành
Gieo mầm hỷ lạc, viên thành nguyện xưa.

Chân An Đường (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Silvestre Anthony. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Thân an tâm tịnh đấy thiên đường
Một dạ đi về hướng hiểu thương
Trái ngọt hoa lành dâng đất mẹ
Công phu địa xúc đạt chân thường.

Chân An Hải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Ger Levert. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:
Trăng rằm mỉm nụ bình an.
Hải triều vọng tiếng hân hoan đón mời.
Xuân về liễu biếc hoa tươi.
Biển xanh sóng lặng ra khơi thuyền từ.

Chân An Hành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Sue Bridge, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
An nhiên trên nẻo thiền Hành.
Mây hồng mời gọi trời xanh đón chào.
Đêm nay mở hội ngàn sao.
Trăng đi theo nước cùng vào đại dương.

Chân An Hỷ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Murielle Dionnet. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
An trú đêm ngày hỷ lạc thiên
Hoa lòng chánh niệm nở tinh chuyên
Ân xưa nghĩa cũ nguyền xin trả
Mỗi bước chân đi mãn thệ nguyền.

Chân An Lành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Simone Giusti. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Ngày an lành đêm cũng an lành
Sẵn nguồn hỷ lạc chẳng đua tranh
Đường rộng thênh thang trời tuệ chiếu
Đâu mà chẳng có mảnh trời xanh?

Chân An Lực (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Chantal Jacques. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
An trú ngay trong hiện pháp
Ngày đêm niệm lực duy trì
Thân với tâm thường hợp nhất
Bình an mỗi bước chân đi.

Chân An Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Marjolijn Van Leeuwen, người Hòa Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
An vui tìm lại uyên Nguyên
Trăng treo lối cũ về miền thảnh thơi
Ngựa ăn cỏ tuyết trên đồi
Mài gươm bên suối, tiếng cười âm vang.

Chân An Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Ernestine Enomoto, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Bước chân thuần nhất trong An Niệm
Đầu ngõ tan sương nguyệt sáng lòa
Túc trái tiền oan rơi rụng hết
Một vùng mây nước đẹp bao la. 

Chân An Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Rochelle Griffin, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
An trú nơi hiện pháp
Quang minh chiếu đại thiên
Lắng nghe đời than thở
Từ ái tỏa chân thiền. 

Chân An Sơn (tên gọi)
1. Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Dennis Bohn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Năm tháng an cư trên đất tịnh
Ngắm nhìn sơn thủy cảnh thần tiên
Nắng xuân về lại trên quê cũ
Hạt giống đầy gieo thửa phước điền.

2. Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Vivien Ephraimson Abt, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
The clouds that gather around the mountain
Are the peace that the Dharma doors offer.
The gentle flow of the breath is music
That ennobles the sangha far and wide.

Chân An Thừa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jan Boswijk, người Hòa Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Bước đi từng bước chân An lạc
Thượng thừa mở lối tới đài sen
Khúc hát mùa xuân vang bất tuyệt
Hào quang đại địa chiếu tam thiên.

Chân An Tĩnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Bùi Hữu Tường. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Thiền lực chuyên vào một điểm an
Trăng soi biển tĩnh đẹp huy hoàng
Trời khuya thắp sáng ngời muôn nến
Gió mát trăng hiền đẹp thế gian.

Chân An Trú (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Francoise Pottier. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Bản môn chốn ấy an lành
Trú trong hiện pháp anh linh tuyệt vời
Nhìn ra thiên địa tinh khôi
Vén màn đêm, thắp sáng trời tương lai.

Chân Anh Chân (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Laureen Osborne. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Tăng thân hòa hợp nẩy anh tài
Bao đóa chân tình đã mãn khai
Mỗi bước chân đi thành Tịnh độ
Đất trời trình diễn hội Hoa Mai.

Chân Ân Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Juan Gregorio Hidalgo Ruiz, người Tây Ban Nha. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
The path is in the depths of consciousness
Nourishing gratitude since childhood years.
Once the transmission has been received
There is no more need to search for it.
(tiếng Tây Ban Nha)
El camino está en las profundidades de la conciencia
Nutriendo la gratitud desde la infancia.
Una vez que la transmisión ha sido recibida
No hay más necesidad de buscarla.

Chân Ấn Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Charles Al Lingo, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:
Diệu trì hiện nguyệt ấn
Đức cảnh lộ chân nhân
Thù đồ quy nhất điểm
Giới định dĩ nghiêm thân.

Chân Bản Địa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Terry Helbick-White. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Bản địa vốn là chân thật địa
Tình thương chân thật chẳng biên cương
Niệm lực dưỡng nuôi đường bát chính
Quán vô thường thấy được chân thường.

Chân Bản Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Peggy Rowe, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Bản môn nở giữa lòng sen thắm
Nguyên vẹn trăng thề trải mấy thu
Tuyết chở sương che tường giới định
Hoa đào năm ngoái thắm như xưa.

Chân Bản Thệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Caleb Cushing. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Bước chân về tới bản môn
Lời xưa thệ nguyện chẳng còn hồ nghi
Thong dong một cõi đi về
Tào khê dòng biếc hương quê ngọt ngào

Chân Bản Thiện (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên David Flint. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Đường về thấy lại bản nguyên
Bàn tay thiện hữu trợ duyên vững bền
Tăng thân tìm lối đi lên
Nguyền xưa ân trả nghĩa đền đẹp sao.

Chân Bảo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Reed Caitriona, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tăng ở khắp chốn
Bảo sát tại trong lòng
Nụ cười vừa nhẹ chớm
Thanh thoát khoảng trời trong.

Chân Bảo Bi (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Seija Mauro, người Phần Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:
Tìm thấy bảo châu trong vạt áo
Trái tim bi nguyện vẫn còn nguyên
Sáu chiếc tay chèo theo nhịp sóng
Đèn tâm tiếp nối lửa chân truyền

Chân Bảo Châu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Patricia Hunt-Perry, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Bảo kiếm trao tay một sáng thu
Châu về hợp phố thỏa nguyền xưa
Rừng tía bụi hồng nay đã một
Giang đầu liễu gọi có oanh thưa.

Chân Bảo Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Lodro Ani. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Bảo châu vạt áo còn đây
Một ngày tu đạo, một ngày an vui
Trông ra mầu nhiệm đất trời
Bước chân an lạc thảnh thơi chốn này.

Chân Bảo Địa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Shalom, người Tân Tây Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Hạt giống gieo trồng nơi Bảo Địa
Đây rồi cơ hội thấm mưa Xuân
Ngày đêm an trú trong địa xúc
Khắp miền hoa nở sáng chân tâm.

Chân Bảo Giang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Rosa María Serrano Salcedo, người Tây Ban Nha. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Precious is this lifetime on Mother Earth
When the river of the sangha holds us.
Joyfully accepting the gifts of Dharma
Our heart brims to the full with gratitude.
(tiếng Tây Ban Nha)
Preciosa es esta vida sobre la Madre Tierra
Cuando el río de la sangha nos sostiene.
Aceptando alegremente los dones del Dharma
Nuestro corazón rebosa de gratitud.

Chân Bảo Nguyện (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Hoàng Thị Hiệp. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Nâng niu pháp bảo nguyện hành trì
Hoa lá bên đường mở lối đi
An trú thân tâm vào giới định
Quê hương trong mỗi bước chân về.

Chân Bảo Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Cheryll Ann Maples, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:
Tam bảo nương vào chuyên nhất niệm
Hành trì giới định đạt tâm an
Vườn xưa đào lý đua nhau nở
Dấu chân đại sĩ vẫn chưa mòn.

Chân Bảo Sơn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Luis Del Val Martinez, người Tây Ban Nha. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Each moment a precious eternity
The jewelled mountain is always there.
Why wait another day to touch the truth,
Whose message is found in clouds and rain?
(tiếng Tây Ban Nha)
Cada momento una preciosa eternidad
La montaña enjoyada siempre está ahí.
¿Por qué esperar otro día para tocar la verdad,
cuyo mensaje se encuentra en las nubes y la lluvia?

Chân Bảo Tâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Baruch Shalev. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Đã quyết nương nhờ tam bảo
Đường về quý ở nhất tâm
Hôm sớm xây tình huynh đệ
Quê hương xa mấy cũng gần.

Chân Bảo Thể (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Ilona Schmied, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Lên chơi ngọn bảo sơn
Tìm ra nguồn chân thể
Hai tay ôm mây hồng
Hát ca mừng nhân thế. 

Chân Bảo Thủ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Jeanne Marie Anselmo. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Tam bảo nương về mỗi bước chân
An ban thủ hộ cả thân tâm
Chùa xưa trên đỉnh non mây trắng
Trăng sáng hiên ngoài hiện pháp luân.

Chân Bảo Tích (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Tâm Cao Phong, tên Thân Trọng Nguyên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Mỗi bước đưa về kho Bảo Tích
Nương hơi thở nhẹ tới Lam điền
Sáng nay nghe tiếng hoàng oanh gọi
Thông rung trống kệ, hải triều lên. 

Chân Bảo Trì (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jean Claude Blootaker. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Châu ngọc không gì bằng Tam Bảo
Công phu nhật dụng khéo duy trì
Mùa xuân đạo lý ngời an lạc
Đất trời hợp tấu khúc từ bi.

Chân Bi Định (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Claude Godin. Được nhận truyền đăng năm 2016 trong đại giới đàn Ân Nghĩa với bài kệ như sau:
Chân Như thường vắng lặng
Bi tâm đã sẵn dành
Định Tuệ khơi dòng pháp
Bồ đề quả vị thành.

Chân Bi Lực (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Line Lacombe. Được nhận truyền đăng năm 2016 trong đại giới đàn Ân Nghĩa với bài kệ như sau:
Chân Trời Tây rộng mở
Bi tâm trải muôn phương
Bờ Sông tăng thân trú
Hùng Lực thật phi thường.

Chân Bi Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Johnson Wendy, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính luôn từ ái
Bi Nghiêm hạnh nguyện đầu
Chốn kỳ viên chăm sóc
Xanh tốt vạn đời sau.

Chân Bi Niệm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Behrends Jim Scott. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Nhiệm mầu thay giọt từ bi
Con đường chánh niệm đưa về chân tâm
Suối thương chảy thấm vạn lòng
Thảnh thơi đường trước, thong dong dặm về.

Chân Bi Trú (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hồ Thanh Bình. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Phật bảo từ bi trú thế gian
Pháp môn khai thị vạn con đường
Gieo hạt giống lành về khắp hướng
Bốn mùa gặt hái hiểu và thương

Chân Bi Tu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Eevi Elizabeth Beck, người Na Uy. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2008 trong đại giới đàn Thanh Lương Địa với bài kệ truyền đăng như sau:
Pháp môn hé cánh từ bi
Công phu tu luyện độ trì nhân gian
Giới hương tỏa ngát hoa Đàm
Mây bay đầu ngõ, sương tan cuối trời.

Chân Bi Viên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Margriet Versteeg. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Trời đại bi xanh biếc
Trăng viên giác trong lành
Tâm đã về đã tới
Liễu biếc có hoàng oanh.

Chân Bích Trì (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Caitlin Bush, người New Zealand. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
The emerald stream wends its way through life
Reaching the lake of true understanding.
Look at its water! All is reflected.
Inclusiveness dissolves all complexes.

Chân Bình Địa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lebris Helene. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Tâm an thế giới bình an
Đi trên thật địa vững vàng bước chân
Nghe trong thanh khí tương tầm
Vang vang có tiếng pháp thân gọi về.

Chân Bồ Đề (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Văn Minh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tâm gốc rễ vẫn tài bồi
Bóng mát bồ đề rợp khắp nơi
Then cửa nhiệm màu tay nắm giữ
Nhìn trong hiện pháp thấy tương lai.

Chân Cam Lộ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Kim Lê Việt. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Tào khê một giọt chân cam lộ
Sống dậy niềm tin cả vạn đời
Cứu hộ trần gian thường ứng hiện
Tâm lành cảm ứng đẹp muôn nơi.

Chân Cảm Ứng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Karl Riedl, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tu tạo chân lực
Cảm Ứng xuất vạn năng
Trí bi tráp lưỡng dực
Bằng trình siêu vạn tầm. 

Chân Cơ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Trịnh Đình Tấn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân ý ngàn đời vẫn sáng trong
duyên đốn ngộ ở ngay lòng
Một thấy trời cao lồng lộng sáng
Tha hồ mây bạc cứ thong dong.

Chân Diệu Hải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Phi Thị Nhung. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Diệu pháp trao truyền đi bốn hướng
Hải triều vang vọng tiếng kinh xưa
Quê hương một thoáng bừng xuân sắc
Ngày về một gọi có ngàn thưa.

Chân Diệu Học (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Mihaela Andronic. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Diệu pháp trao truyền sáng tỏ
Ba học phòng hộ sáu căn
Trái tim ứa đầy cam lộ
Hạt gieo hạnh phúc xa gần.

Chân Diệu Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Helga Riedl, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân niệm thường an trú
Diệu Từ là nguồn vui
Hạt xuân gieo bất tận
Hoa nở độ muôn người.

Chân Diệu Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Silvia Lombardi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân như tìm diệu ý
Lắng nghe tiếng hải triều
Dựng xây tình huynh đệ
Đồi thế kỷ cùng leo.

Chân Đắc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Kotler Arnold, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tông không Bắc cũng không Nam
Đắc pháp truyền tâm thánh chuyển phàm
Thông điệp từ bi về vạn nẻo
Nối liền Tịnh Độ với nhân gian.

Chân Đại Âm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Larry Ward, người Mỹ-Phi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại cổ vừa rung tiếng sấm ran
Âm thanh chấn động ánh trăng vàng
Bốn phương chiếu dụng tâm thuần nhất
Tiếng cầm tiếng sắt vẫn hiên ngang.

Chân Đại Đồng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Manfred Folkers, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại địa trình kiến giải
Đồng tâm mạch sống dâng
Bảo tháp Như Lai hiện.
Năm sắc chói tường vân.

Chân Đại Hiếu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Anton Bank. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Thế giới vươn lên hướng Đại Đồng
Trên đường Hiếu Thuận bước thong dong
Trái tim Bồ tát hằng nuôi dưỡng
Hóa độ nhân gian thỏa nguyện lòng.

Chân Đại Kiều (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lisi Hà Vĩnh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại nghĩa xưa nay vững một lòng
Vượt muôn Kiều lộ bước thong dong
Hành vân lưu thủy chân thường tại
Hát khúc vô sinh mỗi sáng hồng.

Chân Đại Lượng (tên gọi)
1. Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Hilsberg Karen. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại bi tâm ấy là vô lượng
Ôm lấy trần gian cả mọi loài
Sáng sáng oanh vàng ca liễu lục
Mùa xuân nhân loại nở tinh khôi.
2. Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Dương Thị Mỹ. Được nhận truyền đăng năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân thành hướng đạo một nhà
Đại từ lân mẫn gần xa chung lòng
Nhờ thầy độ lượng khai thông
Lợi hành đồng sự thong dong tháng ngày.

Chân Đại Tập (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Murray Corke. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại hành vừa chuyển pháp luân
Năm châu vân tập xa gần ngợi khen
Thiền ca một khúc tấu lên
Địa cầu chấn động, chư thiên chúc mừng.

Chân Đại Trí (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Thomas Barth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Quán chiếu tánh không chân đại trí
Trần gian lưu lộ biển từ bi
Công phu nuôi dưỡng nguồn tư niệm
Độ sinh sự nghiệp nguyện duy trì.

Chân Đại Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hà Vĩnh Thọ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chí lớn nam nhi hướng đại đồng
Tài bồi tuệ nghiệp rạng tông phong
Lòng đất hạt thương lên tiếng gọi
Rực rỡ hoa đào đón gió đông.

Chân Đại Ứng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jerry Brazza, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đại bi suối ấy đã lên đường
Ứng hiện muôn ngày ức hóa thân
Dạt dào thấm nhuận cơn mưa pháp
Đất lành gieo mãi hạt yêu thương. 

Chân Đại Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Stefano Carboni, người Ý. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau:
Huyền môn trình đại ý
Diệu pháp đã lên đường
Đông Tây vốn là một
Mở lối Hiểu và Thương.

Chân Đăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Kiera Eileen, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính nào đâu có bớt thêm
Đăng tâm nối sáng lửa chân truyền
Biển Đông một sáng bừng trang sử
Mặt trời trí tuệ chiếu tam thiên.

Chân Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jean-Pierre Maradan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tướng vốn là vô tướng
Đạo mầu trăng dạo thái không
Chim hót vọng từ đỉnh núi
Thông reo pháp diễn diệu âm.

Chân Đạo Hành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Tâm Vô Tướng, tên Hoàng Khôi, người Việt Nam quốc tịch Úc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đạo xưa tìm thấy nẻo vô Hành
Thanh khí tương tầm dặm liễu xanh
Hoa đào suối cũ còn nguyên đó
Ngửng đầu bắt gặp ánh trăng thanh.

Chân Đạo Lữ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Andre Velino. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Chánh pháp dựng xây tình đạo lữ
Tăng thân hòa hợp đất trời vui
Ngoài kia chìm đắm bao nhiêu kẻ
Biển khổ thuyền dong cứu độ người.

Chân Đạo Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Lê Đình Du. Được nhận truyền đăng năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng như sau:
Tâm đạo luôn tiếp nối
Nguyên vẹn niềm tin sâu
Trẻ thơ vang tiếng hát
Bình minh ánh nhiệm mầu.

Chân Đạo Trị (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam, tên George Giroud. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1996 trong đại giới đàn Nến Ngọc với bài kệ truyền đăng như sau:
Đạo tâm khơi mở nguồn an lạc
Trị thế không ngoài hiểu với thương
Tiếp nối đèn tâm truyền pháp lạc
Soi chiếu ngày mai lối tỏ tường.

Chân Đạo Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Joelle Grosjean. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Bát chánh con đường thánh đạo
Dưỡng nuôi trí tuệ từ bi
Quán chiếu tuôn dòng suối ngọt
Công phu sớm tối hành trì.

Chân Đạo Xả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Diana Daoud. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Trái tim tầm đạo năm xưa ấy
Mang đầy hỷ xả với từ bi
Hơi thở bước chân mang hạnh phúc
Công phu nhật dụng khéo duy trì.

Chân Đạt (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Hữu Chí, người Việt Nam quốc tịch Úc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính luôn có mặt
Đạt ngộ trong tầm tay
Ngồi yên vững như núi
Ngoài kia trăng sáng đầy.

Chân Đạt Hỷ  (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Ewald Müller. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Dòng tâm vừa chứng đạt
Cõi diệu hỷ đã sinh
Ngàn sông xuôi biển lớn
Trăng tuệ chiếu an lành.

Chân Đắc Định (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Glen Schneider. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Đường về pháp thân chứng đắc
Công phu ba định truyền trao
Tới được chân trời phương ngoại
Nuôi nguồn hạnh phúc dài lâu.

Chân Địa An (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Salerno-White John. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Đứng trên đại địa vững an
Lắng nghe thế giới ba ngàn nở hoa
Nắng lên ca khúc thái hòa
Đi trên đất tịnh, ngồi tòa chân như.

Chân Định Quả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Phan  Hà. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Công phu giới định mãi tinh cần
Chánh quả viên thành, đạt pháp thân
Sinh diệt trở thành không sinh diệt
Vườn xưa đào lý vẫn đơm bông.

Chân Định Trú (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Joseph Emet, người Canada. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Về đây ổn Định tâm ta
Về đây an Trú một nhà tăng thân
Đếm chi số cát sông Hằng
Triều âm đã động, chim bằng tung mây.

Chân Đức (tên gọi). Xem Đức Nghiêm

Chân Đức Âm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lê Phương Chi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Hãy lắng lòng nghe khúc Đức Âm
Hải triều xô vỡ khối trần tâm
Bụi hồng khép lại sau khung cửa
Rừng tía đây rồi hiện pháp thân.
Xem thêm Song Nghiêm.

Chân Đức Ân (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Seward-Magee Jeanie. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Ba đức vun bồi công hạnh mãn
Bốn ân đền trả nghĩa tình sâu
Tình đời ý đạo luôn thu nhiếp
Phật pháp hưng long ý sở cầu.

Chân Đức Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Martha Martinez. Được nhận truyền đăng năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tâm thuần hậu được vun bồi
Nhân từ đức hạnh khắp mọi nơi
Bao dung ôm trọn không kỳ thị
Đem đạo giúp đời sống thảnh thơi.

Chân Đức Hạnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Cortes Vega Terry. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Ba đức vun bồi công hạnh mãn
Pháp thân mầu nhiệm vẫn trong ta
Trăng trong mây bạc là gia sản
Xuân về lòng đất đã đơm hoa.

Chân Đức Ngạn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Pittman Joan Jennifer. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Nguồn ân biển đức rạt rào
Nhìn lên bỉ ngạn ánh sao rạng ngời
Cát tường một ấn tinh khôi
Chân trời đến lúc đón mời bình minh.

Chân Đức Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Annette Saager. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Đuốc tuệ sáng soi nguồn hạnh đức
Mơ xưa tìm lại chốn uyên nguyên
Mùa xuân đạo hạnh dâng hương sắc
Giác ngạn là đây bến đợi thuyền.

Chân Đức Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Chung Minh Fei. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đức hậu đương xuân phương thảo thịnh
Nhãn minh vô xứ bất tri huyền
Dạ quang nguyệt sắc vô nhân tảo
Nhất kiến đào hoa sự lý thuyên.

Chân Đức Sơn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Hữu Hùng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Phước đức vun từ Đại Ẩn Sơn
Hạt lành bay tới tận ngàn phương
Chí trai núi Thứu tuôn hào khí
Hoa cải vườn xưa đã rực vàng.

Chân Đức Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Brendan Sillifant, người Tân Tây Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Non cao lập Đức càng cao
Biển sâu Từ ái không đào cũng sâu
Phút giây hiện tại nhiệm màu
Uổng công tìm kiếm nơi đâu nhọc lòng?

Chân Giác Điền (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Hoàng Hùng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Đuốc sáng soi về Giác ngạn
Gia phong còn lại phước điền
Quán chiếu đây nguồn niệm lực
Trên tay đèn tuệ quang minh.

Chân Giác Dụng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Margret de Backere, người Đức. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
How wonderful that the tree is there:
The tree itself is the tree’s function
We awaken to life’s miracle
Our true home is the present moment.

Chân Giác Hoa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Jane Coates Worth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Giác Hoa nở khắp mọi miền
Thênh thang gió đẩy hương thiền xa bay
Tăng thân tụ hội đông đầy
Phật tâm nam bắc xưa nay vẫn đồng.

Chân Giác Lưu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Bùi Thị Kiều Trang. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Tuyển chọn đó đây vườn giác uyển
Kết thành liên đóa thật xinh tươi
Lưu truyền hậu thế ngàn muôn thuở
Vốn liếng tâm linh đẹp đất trời.

Chân Giác Sơn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Minh Chánh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Nguồn tâm xuôi về Giác ngạn
Chân tình gửi lại Thứu sơn
Bên tai vẳng lời nguyện cũ
Vững chân từng bước an tường.

Chân Giác Thọ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Bettina Romhardt, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Giác Thọ dâng hoa trái
Gốc rễ càng vững bền
Dòng thiêng còn tiếp nối.
Khí hùng lực vô biên.

Chân Giác Uyển (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Steffi Höltje. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Giác hoa vừa hé trong thiền uyển
Áo mới xuân về đẹp sắc xuân
Thuyền xưa lướt sóng tìm chân tế
Mây trắng về non thấy cội nguồn.

Chân Giác Xứ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Leslie Rawls, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Giác tính thời thời năng thật trú
Tâm tư xứ xứ đắc an bình
Vô đắc môn khai chân tự tại
Bất lao khổ tụng liễu tâm kinh.

Chân Giải Thoát (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Schaibly Robert, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân đạo từ tâm tỏ
Giải Thoát cảnh hiện tiền
Sóng sinh tử vừa lặn
Trăng sáng rọi ngoài hiên.

Chân Giới Hương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Annabelle Zinser, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Thiền duyệt tâm thành đốt Giới Hương
Lửa hồng bếp cũ ấm hơi sương
Hồng chung ngân rã trần gian mộng
Muôn hướng về chung một nẻo đường.

Chân Hành Trì (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Travis Masch, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Vững tin nơi pháp Hành Trì
Nước non đá tạc vàng ghi có ngày
Hỏi thăm những nước cùng mây
Lời lời châu ngọc giải bày thế gian.

Chân Hạnh Bi (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Ava Avalos, người Botswana. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Right action goes hand in hand with right view.
The rain of compassion waters good seeds.
Looking into the eyes of suffering,
Self and other dissolve into oneness.

Chân Hảo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nguyễn Đào Như Tuyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân và tục hai đế
Hảo tướng thường viên dung
Từng bước trên đất thật
Pháp giới sáng vô cùng.

Chân Hiện Quán (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Trung Quân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Phút giây Hiện tại vừa tham Quán
Trăng thu đã dọi sáng bên thềm
Bài hát bản môn tuôn bất tuyệt
Vườn xưa đào lý nở trang nghiêm.

Chân Hòa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Eveline Beumkes. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tăng là vùng nương náu
Hòa bình tỏa rạng mai sau
Đại bàng xòe hai cánh rộng
Bóng che mát quả địa cầu.

Chân Hòa Hạnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Ehrhardt Jan-Michael. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Tăng thân xây dựng lục hòa
Vun cây hạnh nguyện nở hoa cho đời
Mùa xuân khoác áo xanh tươi
Hóa bao phương tiện độ người trầm luân.

Chân Học (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Martin Pitt. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân pháp duy thân chứng
Học đạo cần nhất tâm
Rừng thiền muôn chim hót
Hoa nở hiện chân nhân.

Chân Hộ Tăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Pritam Singh, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Nguyền xưa bảo Hộ Tăng thân
Trời xưa đã sáng hương trầm nhẹ bay
Biển xưa chẳng có vơi đầy
Vườn xưa xanh tốt hạt cây nảy mầm.

Chân Hội (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Tấn Hồng, người Việt Nam quốc tịch Hoa Kỳ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân lý trao truyền qua ngõ tâm
Hội giải siêu nhiên vượt dị đồng
Hạt giống bồ đề gieo rải khắp
Ngại gì hai nẻo sắc và không.

Chân Huy (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Trần Minh Dũng. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tâm một biểu lộ
Pháp giới sẽ quang Huy
Tuệ nhật chiếu thật địa
Thong dong từng bước đi.

Chân Huyền (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Hà Dương Đỗ Quyên, người Việt Nam quốc tịch Hoa Kỳ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân pháp vang rền tiếng diệu âm
Huyền cơ soi thấu khối sơ tâm
Một buông pháp giới bừng hương sắc
Linh Thứu tuy xa cũng thật gần.

Chân Huyền Chỉ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Thị Ngọc Bích. Được nhận truyền đăng năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân như hiển bày trong nhịp thở
Huyền pháp tinh thông bước kiện hành
Ý chỉ Bụt truyền trong chớp mắt
Nụ cười thanh thoát nở ngay đây.

Chân Huyền Diệu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Rachel Maori. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Giáo pháp tiếp thu huyền diệu
Đi vào đẳng quả dự lưu
Mỗi bước đã về đã tới
Quê hương còn đó nhiệm mầu.

Chân Hương Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Christiane Terrier, người Pháp. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Fragrant is the incense of the heart.
It turns the endless path to joy.
Faith always gives rise to inner strength.
Birth and death are no obstacle.
(tiếng Pháp)
Parfumé est l’encens du coeur
Le chemin éternel se transforme en joie
De la foi s’élève la force intérieure
Naissance et mort ne font plus obstacle.

Chân Hương Sơn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Ann Johnston, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Vầng trăng trên biển bạc
Đã về ngự Hương Sơn
Sóng không sinh chẳng diệt
Mưa biển lại về nguồn. 

Chân Hướng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Lawler John Joseph, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nhân thường đối diện
Một Hướng nẻo đại đồng
Nắm tay nhau cùng bước
Khúc hát trời rạng đông.

Chân Hữu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Gia Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân Hữu là đây một cánh tay
Tình sông nghĩa biển lượng đong đầy
Dậu thu vừa nảy dò sương ấy
Thiền trà hương ngát chén hồng mai.

Chân Hỷ Căn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nongluck Somri, người Thái Lan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau:
Thực tập từ bi nuôi hỷ xả
Hành trì định tuệ nối căn duyên
Hơi thở bước chân tròn chánh niệm
Pháp thân sáng rỡ nối chân truyền.

Chân Hỷ Lạc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Khoa Diệu Dung. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Hành giả ngày đêm thường quán chiếu
Tạo nguồn hỷ lạc, vốn tư lương
Lấy nguyện dựng tăng làm sự nghiệp
Lắng nghe ái ngữ đẹp khôn lường.

Chân Khai (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Laurie Lawlor, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tình tô thắm nước cùng mây
Khai bút trời xuân hương thắm bay
Tuổi ngọc thấm nhuần ơn giáo dưỡng
Pháp thân tỏa chiếu nước non này.

Chân Không (tên gọi) Xem Không Nghiêm.

Chân Kính (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, nam tên David Dimack, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân như trúc tím hoa vàng
Thủy chung một niệm muôn vàn Kính thương
Sao mai vừa hiện tỏ tường
Ý đầu tâm hợp muôn phương thái hòa.

Chân Lạc Định (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hoàng Xuân Đắc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Bước chân lạc trú trong thiền định
Theo dõi an ban chánh niệm thành
Cùng với tăng thân xây sự nghiệp
Pháp môn vô lượng độ quần sinh.

Chân Lạc Thi (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Joanne Friday, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng:
Hương quốc đi về an Lạc
Thi ân chẳng bận lòng ai
Huệ lan một nhà sực nức
Từ bi tiếp xử muôn loài.

Chân Lạc Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Đỗ Thị Thủy. Được nhận truyền đăng năm 2019 trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng như sau:
Suối lạc tuôn về biển
Mây tuệ bay về nguồn
Tử sinh là biểu hiện
Độ người khắp hằng muôn.

Chân Linh Giải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Sheila Canal, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
The spiritual path is limitless love;
Understanding that removes division.
Together we advance a global ethics
To lessen the suffering of the world.

Chân Linh Thông (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Barbara Caseys, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng:
Đường về Linh Thứu hoa sen nở
Thông đạt nguồn tâm đuốc Tuệ soi
Bếp hồng lửa ấm ngày đông giá
Một kho chữ nghĩa sáng sao trời. 

Chân Linh Tụ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Giuseppe Gambadella. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Về đây linh khí chốn thiêng liêng
Tụ lại non sông đẹp một miền
Cùng bao thiện hữu ngời tri thức
Phúc tuệ song hành đủ phước duyên.

Chân Linh Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jean-Pierre Roussel. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Nhìn lên núi Thứu, đỉnh linh từ
Thanh thoát tâm hồn dậy ý thơ
Tục lụy trần gian buông bỏ hết
Phút giây nào cũng đẹp như mơ.

Chân Lương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, pháp danh Tâm Chất, tên Nguyễn Bạch Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân pháp một lần khám phá
Lương y sẵn có trong nhà
Đạt tới mùa xuân chuyển hóa
Công phu chỉ tại lòng ta.

Chân Lượng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Fred Eppsteiner, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân quán luyện thành ngọc báu
Lượng từ che chở cho nhau
Cánh cửa vô sinh đã hé
Nhất tâm thành tựu đạo màu.

Chân Mật Chiếu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Denise Bergez. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Tuệ nhật miên mật chiếu
Từ nhãn thị nhân gian
Bộ bộ trước thật địa
Xúc xứ phóng hào quang.

Chân Mật Hạnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Alexa Singer-Telles. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Siêu việt lưỡng nguyên chân mật ý
Hành vô hành hạnh phước không cùng
Tháng năm nuôi dưỡng tình huynh đệ
Công phu làm vững mạnh tăng thân.

Chân Mật Lâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lennis Lyon. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Thâm mật một kho giáo nghĩa
Trao truyền tự chốn thiền lâm
Tĩnh lặng trái tim mầu nhiệm
Phút giây tiếp thọ ân cần.

Chân Minh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Văn Ân. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nghĩa không quản ngại
Quang minh đường lớn đi
Nguyền xưa nay trọn vẹn
Một lối thênh thang về.

Chân Minh Đăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Hữu Xương. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Minh châu vạt áo đẹp tinh khôi
Đăng hòa mười năm đã sáng trời
Cơ nghiệp tổ tiên cùng dựng lại
Vườn xưa đào lý vẫn xinh tươi.

Chân Minh Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Trần Kim Quế. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Minh thấy vô minh chúm chím cười
Ðức nhà phân phát đủ muôn nơi
Huệ lan sực nức vườn xuân mới
Bước chân đem tới một trời vui.

Chân Minh Khai (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Tấn Thọ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Thiện duyên thấy được nẻo quang minh
Khai mở đường văn hạt giống lành
Đất mới lên xanh màu triển vọng
Mùa xuân tiếp nối nét đan thanh.

Chân Minh Kính (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Thị Hải. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Chọn được tình thâm trả nghĩa thâm
Minh kính đài gương chẳng nhiễm trần
Nghe hải triều lên bừng tỉnh ngộ
Sáu trần thoát lạc, nhẹ thân tâm.

Chân Minh Lộ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Đặng Văn Thành. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Phương Đông bừng ánh quang minh
Lên đường sẵn có lộ trình tin yêu
Tình huynh nghĩa đệ còn nhiều
Cùng theo chí nguyện cao siêu một dòng.

Chân Minh Trí (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hồ Văn Quyền. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đông sơn vừa lộ ánh quang minh
Trí đã bừng câu tráng sĩ hành
Khánh bạc chuông vàng phương tiện cũ
Đường mây cao vút cánh chim xanh.

Chân Minh Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Viên, người Việt Nam quốc tịch Hoa Kỳ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Quang Minh vầng nhật chiếu trời sương
Trí tuệ bừng lên tỏ ngọn nguồn
Diệu khúc muôn đời nên cử xướng
Đường về quê cũ rạng yêu thương.

Chân Môn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Svein Myreng, người Na Uy. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nghĩa hùng lực lớn
Môn lưu ngàn thuở truyền
Thân và tâm nhất quán
Diệu pháp thường có duyên.

Chân Mỹ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Thị Tuyết Mai. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân như cười nhẹ khung trời nắng
Mỹ diệu trăng lồng một biển thu
Mây trắng đường xưa luôn biểu hiện
Lối về quê cũ đẹp như thơ.

Chân Ngộ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Duy Vinh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nhân trước mặt cười không nói
Ngộ đạo ngồi nhìn mây trắng bay
Trúc tím hoa vàng bày diệu hữu
Trăng trong mây bạc vẫn còn đây.

Chân Nguyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Cynthia Jurs. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân giác không ngoài cõi diệu tâm
Nguyên lưu vằng vặc ánh trăng rằm
Lắng nghe được tiếng hoa đào nở
Sẽ thấy trần gian Bụt giáng lâm.

Chân Nguyên An (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Josselyne Letort-Vanel, người Pháp. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Stopping to look deeply you see the source,
From which comes peace now and for the future.
Spring flowers of the heart can bloom afresh.
The gifts of the Dharma are falling rain.
(tiếng Pháp)
T’arrêtant pour regarder profondément tu vois la source
D’où vient la paix de maintenant et pour le futur.
Les fleurs printanières peuvent à nouveau éclore
Les cadeaux du Dharma sont la pluie qui tombe.

Chân Nguyên Lạc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Jack Bertho, người Pháp. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Sur le Chemin où me ramènent mes pas la lune brille
Tout le paysage intérieur et alentour scintille d’une joie originelle
La présence de nos frères et de nos sœurs tel un sourire
Fait s’épanouir la fleur de cet instant précieux .

Chân Nguyên Ngôn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Serge Letort, người Pháp. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
La nature en soi est silencieuse
Une parole apporte le bonheur à tous les êtres
Pratiquer la parole aimante au quotidien
C’est comprendre et aimer en action.
(tiếng Anh)
Nature by itself is silent
One word brings happiness to all beings.
Practicing loving speech in daily life
Is understanding and love in action.

Chân Nguyện (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Công Huyền Tôn Nữ Huyền Châu. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân giải ý thâm diệu
Nguyện phát túc siêu phương
Cước lập bản môn địa
Ưng liễu thế vô thường.
Xem thêm Quy Nghiêm.

Chân Nguyệt Đăng (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Lê Diễm Trang. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Mở lòng, tâm lượng bao dung
Sông in bóng nguyệt tuệ đăng rạng ngời
Tìm về xứ sở thảnh thơi
Đi theo tăng bảo, cuộc đời vững an.

Chân Nguyệt Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Claudia Weiland. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nhật phá mây sầu ám
Nguyệt Quang tiếp xúc địa cầu
Tăng thân bước về một hướng
Ngàn đời ta vẫn còn nhau.

Chân Nguyệt Sắc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Peggy Smith. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Trời khuya ánh nguyệt sáng ngời
Long lanh không sắc, tuyệt vời khúc ca
Bước chân đưa tới quê nhà
Lắng nghe ngôn thuyết rụng sa bao lần.

Chân Nguyệt Tâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Terry Barber, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Lung linh bóng Nguyệt soi thềm
Cõi Tâm mở sáng đêm đêm ngân hà
Nhiệm mầu tiếng hạc bay qua
Vén mây trông rõ phá tòa nguyên sơ.

Chân Nghĩa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Tâm Khai Ngộ, tên Lê Văn Đán. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân Nghĩa thượng thừa mong liễu ngộ
Thiền trà nên cạn chén hồng mai
Long lanh đáy nước trăng vàng chiếu
Một thiên tuyệt bút để dành ai.

Chân Nhã Hương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Tineke Spruytenburg, người Hà Lan. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Graceful is the practice of the Dharma
The incense of the heart is lit for all
Being able to adapt as needed
Brings all beings to the shore of freedom.

Chân Niệm Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Denise Ségor, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
The source of mindfulness is a seed
Nurtured in mind’s earth by virtue’s rain
Harmonizing different voices
The future Buddha is the sangha.

Chân Niệm Hỷ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Neufeld Kenley. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Niệm định chuyên trì hỷ lạc sinh
Bao nhiêu phiền não bấy an lành
Đóa sen mầu nhiệm tinh khôi ấy
Tự chốn bùn lầy đã nẩy sinh.

Chân Pháp (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Peen Kristen. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính không sinh diệt
Pháp giới vẫn hiện tiền
Nước cam lồ một giọt
Rửa sạch mọi tiền khiên.

Chân Pháp Kiều (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Richard Brady, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Mưa pháp thấm nhuần cõi đất tâm
Đại Kiều mong nối lại tình thâm
Một sân hòe quế ngày chăm bón
Sạch hết bao nhiêu lớp cát lầm.

Chân Pháp Lực (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Rowan Conrad, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Tương thử sơ tâm chân Pháp Lực
Tiếp độ lục đạo chư quần mê
Chưởng thượng minh châu thường quảng nhiếp
Năng linh u xứ hướng bồ đề.

Chân Pháp Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Karl Schmied, người Đức. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân quán vừa tùy thuận
Pháp Nhãn đã trao truyền
Trên đường về tự tại
Cười dứt vạn trần duyên.

Chân Phúc Hải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Bruce Nichols, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Navigating the deep Dharma ocean
The boat of merit, lighthouse of wisdom
Teach the practice with the Dharma-body,
Accept, embrace, listen to suffering.

Chân Phước Quả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Trần Dung Hạnh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Phước đức gieo trồng tự kiếp xưa
Bao nhiêu quả báu thấy bây giờ
Đường tu một hướng, tâm bền vững
Tiếp nối duyên lành đẹp nét thơ.

Chân Quả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Nora Houtmann De Graaf. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính không sinh diệt
Quả báo trong tầm tay
Không đi cũng không tới
Cõi tâm trăng sáng đầy.

Chân Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Therese Fitzgerald, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính vốn là ánh sáng
Quang minh soi chiếu tỏ tường
Đất tâm gieo hạt giống quý
Hoa đàm nở ngát mười phương.

Chân Quang Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên John Barclays. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Hào Quang sáng tỏ ngời chân Đạo
Hàng vạn bông hoa ngoảnh mặt nhìn
Từng bước thảnh thơi trên cõi Tịnh
Từng hơi thở nhẹ chở niềm tin.

Chân Quang Lâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Firm Virtue of the Source, tên Tony Mills. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Lâm Tế với bài kệ truyền đăng như sau:
Quang minh vầng nguyệt chiếu Lâm tuyền
Lặng lẽ tinh cầu quán đại thiên
Cát tường nở trắng bông tinh khiết
Thế giới ba ngàn đứng lặng yên.

Chân Sắc (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Bossert Judith. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nguyên nước tĩnh tưới trần gian
Sắc khác gì không, pháp bảo đàn
Gió sớm mây hồng tuyên Bát Nhã
Hoa cười ngọc thốt vẫn đoan trang.

Chân Sinh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hoàng Phúc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân như là bản môn
Sinh diệt nào động tới?
Thức dậy sớm mai hồng
An nhiên không chờ đợi.

Chân Tăng Lực (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Valerie Brown, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
In the true Sangha is the true Buddha.
The power of cutting through afflictions
comes from the power of understanding.
All bow down in the spirit of oneness.

Chân Thành Tựu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Marcel Geisser. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân pháp chỉ là một
Thành Tựu có muôn đường
Tâm từ trùm pháp giới
Gia nghiệp khéo thừa đương.

Chân Thắng Giải (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Patrick Lacoste. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Phúc duyên thù Thắng nơi đây
Lòng riêng một tấc Giải bày núi sông
Mới hay thanh khí tương tầm
Vàng gieo đáy nước cây lồng bóng sân. 

Chân Thâm Hạnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Marc Puissant, người Pháp. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân kinh hàm chứa nghĩa cao Thâm
Hạnh giải vang lừng khúc phạm âm
Biển khổ thuyền từ dong một lá
Nhờ tay tế độ vớt trầm luân.

Chân Thâm Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Châu Yoder, người Việt Nam quốc tịch Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Một đi về hướng cao Thâm
Vun bồi Tuệ giác, chuyên cần sớm trưa
Ra công học đạo chân thừa
Vườn tâm xanh tốt bốn mùa nở hoa.

Chân Thật (tên gọi) Vị đệ tử út của tổ Cương Kỷ tăng cang chùa Từ Hiếu, pháp danh Thanh Quý, bổn sư của Thầy Làng Mai. Tổ được sư huynh Tuệ Minh phó pháp truyền đăng với bài kệ sau đây:
Chân Thật duy tùng thể tính không
Thâm cùng vọng thức bản lai không
Thỉ tư thị vật nguyên vô vật
Diệu dụng vô khuy chỉ tự công.

Chân Thật Đạo (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Tâm Hiền, tên Shantum Seth, người Ấn Độ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Quán tâm Thật tướng tợ trăng rằm
Đạo cũng tâm mà cảnh cũng tâm
Sông Hằng cát trắng ai ngồi đếm?
Môi bé thơ cười giữa Trúc Lâm.

Chân Thiện (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lynn Fine, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân ý không nề biên giới
Thiện căn ở tại lòng ta
Tình nghĩa hai bờ trọn vẹn
Chiếu soi đuốc sáng Phật đà.

Chân Thiện Căn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Đỗ Văn Hòa. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng:
Chân tính vốn nguồn gia bảo
Thiện căn ở tại trong lòng
Tam bảo thuyền từ bảo hộ
Mặt trời rạng rỡ phương đông.

Chân Thiện Quả (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Hà Quốc Ngọc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Ngàn năm nhân thiện, quả lành
Giữ sao được mãi tâm thành, ý trong
Nhớ câu lấy Bụt làm lòng
Bước chân nhẹ nhõm, thong dong đường về.

Chân Thiện Sinh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Elisabeth Ann Wood, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Nga mi sương giải niềm Chân Thiện
Mỹ diệu trăng lồng ý độ Sinh
Đốt cháy thành sầu đây đuốc tuệ
Một trời mây nước chiếu quang minh.

Chân Thuyên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Đỗ Trọng Lễ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Tình sông nghĩa núi, khối chân tâm
Thuyên giải thiền cơ xướng phạm âm
Nắng lên soi thấu trời phương ngoại
Trăng thề còn đó, ngọc thành văn.

Chân Thừa (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Harrison Hoblitezelle. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nguyên duy có một
Thừa đâu phải là ba?
Một bước vào pháp giới
Soi rạng cõi ta bà.

Chân Thường Đức (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Theresa Payne, người Anh. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Ever-present the miracle of life.
Indestructible the virtue of love.
Being there with the breath for another
Will reveal the truth of interbeing.

Chân Thường Hỷ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Tôn Nữ Diệu Liên. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Chánh niệm thường xuyên tu tập
Là nguồn hỷ lạc thân tâm
Đóa sen nhiệm mầu tinh khiết
Phát huy diệu dụng siêu trần.

Chân Tiếp (tên gọi) Một vị giáo cư sĩ nữ, tên Halifax Joan, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân quả hình thành tự thủa xưa
Tiếp độ công phu của thượng thừa
Trí sáng xoay về soi bản thể
Sẵn thuyền Bát nhã đón rồi đưa.

Chân Tính Không (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Vũ Thị Dung. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân kinh thường trì tụng
Tính Không trăng hiện tiền
Tai ương rơi rụng hết
Bến giác cùng bước lên.

Chân Tịnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Larry Rosenberg, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân không là chân sắc
Tịnh ý tức tịnh thân
Siêu việt được năng sở
Chi sá đám bụi hồng.

Chân Tịnh Giới (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Trọng Phu. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tâm là ánh sáng
Tịnh Giới cõi trang nghiêm
Pháp đăng soi nhật dụng
Ấn Bụt mãi lưu truyền. 

Chân Tịnh Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Văn Kỳ Cương. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân thân là Phật độ
Tịnh Nhãn chuyển ta bà
Trên bùn sen ngọc nở
Bến giác chở người qua.

Chân Tịnh Sinh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Michelle Pillot. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Mỗi bước đi vào Tịnh độ
Góp vào sự nghiệp độ sinh
Lắng nghe niềm đau nỗi khổ
Đưa người tới cõi an lành.

Chân Tịnh Tâm (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Corine Marquis. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Tịnh giới đóa sen tinh khiết
Hương thiền xông ngát chân tâm
Nuôi lớn trái tim đại nguyện
Mắt thương quán chiếu cõi trần.

Chân Trì Hỷ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Matt Sherman. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Công phu chánh niệm tu trì
Khơi nguồn hỷ lạc từ bi cho đời
Bắc cầu hòa giải nơi nơi
Giong thuyền cứu độ bao người trầm luân.

Chân Trí (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Bá Thư, người Việt Nam quốc tịch Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nguyệt thường lặng chiếu
Trí cảnh vẫn dung thông
Lối về soi chánh niệm
Thắp sáng một mai hồng.

Chân Trí Cảnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Mitchell Ratner, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2001 trong đại giới đàn Kỷ Nguyên Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Tỉnh giấc kê vàng Chân Trí sinh
Muôn ngàn Cảnh giới sáng lung linh
Rừng tía thảnh thơi ngồi tĩnh lự
Thanh sơn nhẹ bước thỏa chân tình.

Chân Trí Viên (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Dominique Le Moine, người Pháp. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Trí tuệ như gương trong
Viên mãn tựa trăng rằm
Tâm từ bi trải rộng
Hỷ lạc luôn hanh thông.
(tiếng Pháp)
La sagesse est comme un pur miroir
Reflétant la perfection telle la pleine lune
La compassion est partout présente
Joie et bonheur se manifestent à chaque moment.

Chân Trú An (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Greg Gallo, người Hoa Kỳ. Được nhận truyền đăng năm 2018 trong khóa tu 21 ngày Tri kỷ của Bụt với bài kệ như sau:
Right mindfulness is the safest abode.
Right view is the source for peace in the world.
Coming back to our true home, mother earth
We care for the future generations.

Chân Truyền (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, pháp danh Tâm Điểm, tên Đinh Thị Vân Khanh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tính là cam lộ
Truyền đạt vốn từ nguồn
Một lòng chuyên hướng thượng
Niềm an lạc trào tuôn.

Chân Tu (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1953, thọ giới Sa Di Ni năm 1990 tại Làng Mai, pháp danh Tâm Đồng Quang, pháp tự Chân Tu. Là đệ tử thứ 5 của Thầy Làng Mai, sư cô Chân Tu thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chân Tuệ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Hữu Lợi. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1990 với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân trí soi vào cõi huyễn mê
Tuệ giác bừng lên tỏ lối về
Giây phút đại bàng vừa vỗ cánh
Sá gì mấy vạn dặm sơn khê.

Chân Tuệ Hà (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Rosen Joann. Được nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Điểm tô tuệ nghiệp đẹp sơn
Một sáng oanh về trên liễu ca
Thấy được vườn xuân hoa chúm chím
Nhận ra tịnh độ giữa ta bà.

Chân Tuệ Hương (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, pháp danh Tâm Tương Tri, tên Hoàng Dung, người Việt Nam quốc tịch Úc. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Giới định hương và trí Tuệ Hương
Quê xưa giáp mặt lộ chân thường
Tình sông nghĩa biển sâu dài lắm
Dậu thu vừa mới nảy dò sương.

Chân Tuệ Lưu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Odette Bauweleers. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Nhiệm màu dòng Tuệ luân Lưu
Trăng vàng đã hiện trên đầu núi xanh
Sẵn gươm tuệ giác bên mình
Thảnh thơi hạc trắng, mặc tình rong chơi.

Chân Tuệ Ngạn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên William Menzas, người Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Trí tuệ đưa về nơi bỉ ngạn
Ðất thiêng vọng tiếng hải triều lên.
Tốt tươi hồng lục xuân thường tại
Mỗi bước chân ngời đóa thủy tiên.

Chân Tuệ Quán (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Marjorie Markus. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Quảng đại trí tuệ quán
Hạnh nguyện Quan âm xưa
Hiểu thương là sự nghiệp
Thành tựu pháp chân thừa.

Chân Tuệ Thân (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Ian Prattis, người Canada. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Đuốc Tuệ bừng lên rạng pháp Thân
Trong mây xa có hạt mưa gần
Vòng tay nhận thức ôm năng sở
Một đóa trà mi nở trước sân.

Chân Tuệ Tu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Adrianna Rocco, người Ý. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Sự nghiệp duy hướng Tuệ
Mây tuyết thuận đường Tu
Tịnh độ trong từng bước
Sen nở ngát xuân thu.

Chân Tuệ Uyển (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Võ Thị Minh Tri, người Việt Nam quốc tịch Pháp. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Tài bồi Tuệ Uyển trăm hoa
Minh tri hạnh ấy cũng là tương tri
Nước non lắng tiếng Chung Kỳ
Bè từ vượt khỏi sông mê khó gì?

Chân Từ Hạnh (tên gọi) 1. Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Gioacchino Difeo. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Sen quê nở ngát hương Từ
Trăng vàng Hạnh nguyện năm xưa sáng đầy
Lời nguyền đỉnh báu hương bay
Cho thân ngữ ý diễn bày Phật tâm.
2. Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Mcluskie Vari. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Lấy mắt từ bi quán thế gian
Lắng nghe hạnh nguyện trái tim vàng
Lật được hôm nay trang sách mới
Con đường hóa độ rộng thênh thang.

Chân Từ Nhãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Jorgen Hannibal. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân quán thanh tịnh quán
Từ Nhãn nhìn chúng sanh
Thầy hay có linh dược
Không bệnh nào không lành.

Chân Từ Tiếu (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Lily Gozlan. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Tịnh bình từ bi thủ
Ngọc diện hàm tiếu thiền
Do hiện pháp lạc trú
Thử địa xuất kim liên.

Chân Từ Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Diana Petech. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau:
Từ ý mây lành dâng bốn hướng
Dòng mưa Cam lộ rưới tình thương
Năm tháng công phu nuôi giới định
Tăng thân bảo hộ, nguyện lên đường.

Chân Tự Tại (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, pháp danh Tâm Bảo Ấn, tên Đặng Phước Nhường. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Liễu biếc oanh vàng chân Tự Tại
Gió quang mây tạnh đã an bài
Châu về hợp phố trong thanh khí
Sân ngoài tuyết điểm một nhành mai.

Chân Văn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Đỗ Quý Toàn. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân Văn huyền ý cao sâu
Về đây khai ngộ ném châu gieo vàng
Ngại gì bèo hợp mây tan
Một trời phong nguyệt rõ ràng đôi ta.

Chân Vị (tên gọi) Xem Vị Nghiêm.

Chân Viên Cảnh (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Ngọc Hạnh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Ước xưa viên mãn tựa trăng rằm
Cảnh giới muôn đời vẫn một tâm
Liệu pháp Đông Tây hằng phối hợp
Thân tâm bất nhị, hạnh tinh cần.

Chân Viên Dung (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Nguyễn Văn Tuyến, người Việt Nam quốc tịch Canada. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Lắng lòng nghe thấu Viên âm
Ấn thiêng tam muội Dung thông nhiệm màu
Đường về quê cũ xưa sau
Trí bi nguyện mãn bắc cầu độ sinh.

Chân Viên Hỷ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Martine Serrano. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Thâm tín đạo mầu viên giác
Chế nên hỷ lạc từ bi
Ân nghĩa đôi đường trọn vẹn
Tiếp thu sự sống diệu kỳ.

Chân Viên Mãn (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Burg Eliane. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Trong ta giác tính thường viên mãn
Như một đài gương phủ bụi mờ
Công phu niệm định từng giây phút
Giữ đài gương ấy sáng như xưa.

Chân Viên Minh – Chân Viên Giác (tên gọi) Hai vợ chồng giáo thọ cư sĩ, tên Jacques Gaudin và Jacqueline Gaudin, người Pháp. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Viên Minh tỏa chiếu nguyệt trời cao
Tuệ Giác xua tan bóng khổ sầu
Cùng đến cùng đi trên đất tịnh
Đá mòn sông cạn vẫn còn nhau.

Chân Viên Thành (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nam, tên Tư Đồ Minh. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 với bài kệ truyền đăng như sau:
Biến kế buông rồi sáng cõi tâm
Viên Thành tự tánh hiện ba thân
Giọt nắng mùa thu mang viễn vọng
Xuân về rạng rỡ chốn non sông.

Chân Viên Tụ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Letizia Di Fonzo. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị với bài kệ truyền đăng như sau:
Giới đàn gặp hội đoàn viên
Đất trời quy tụ thánh hiền bốn phương
Bước chân hơi thở an tường
Đắp xây truyền thống, mở đường tương lai.

Chân Viên Từ (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Regis Eliane. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng như sau:
Nhật quang lộ ánh viên minh
Lượng từ ôm lấy sinh linh mọi loài
Chào mừng buổi mới tinh khôi
Nắng lên ấm áp phương trời độ sinh.

Chân Xả Ân (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Francine Châu Cialvadini. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân đạo bước hành xả
Bốn ân nguyện đáp đền
Tâm là nhà danh họa
Tạo dựng cõi thần tiên.

Chân Y (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ, tên Barry Roth. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1994 trong đại giới đàn Hương Tích với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân nguyện là chân đạo
Y vương tức Pháp vương
Dưới cội bồ đề mát
Có pháp tọa kim cương.

Chân Ý (tên gọi) Một vị giáo thọ cư sĩ nữ, tên Nguyễn Anh Hương, người Việt Nam quốc tịch Mỹ. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 1992 trong đại giới đàn Cam Lộ với bài kệ truyền đăng như sau:
Chân tâm ươm hạt quý
Ý vun bón vườn nhà
Thanh thản cùng năm tháng
Lòng đất tự đơm hoa.

Chấp tác (thuật ngữ, phép tu) Làm việc trong chánh niệm. Những công việc như dọn dẹp thiền đường, chăm sóc vườn rau, nấu cơm, lái xe, giặt giũ, chăm sóc thiền sinh,… tất cả đều là chấp tác. Các công việc cần được làm trong chánh niệm và niềm vui, vì đây là cơ hội để chế tác chánh niệm và phụng sự tăng thân, đem niềm vui và tiện nghi đến cho tăng thân để tăng thân có đủ điều kiện tu học.

Chấp tác ba xóm (sinh hoạt) Buổi thiền làm việc chung của đại chúng cả ba xóm bốn chùa Làng Mai tại một xóm để giúp công việc cho xóm đó. Đại chúng làm việc với tinh thần không phân biệt, coi công việc của một xóm cũng là công việc của cả tăng thân nên ngày chấp tác ba xóm đầy niềm vui và là ví dụ rất cụ thể về xây dựng tình huynh đệ.

Chất Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1978, tập sự xuất gia năm 2007 (29 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Quảng Duyên, pháp tự Chân Chất Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Thọ giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ. Nhận truyền đăng trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây năm 2019 tại Tu viện Vườn Ươm với bài kệ truyền đăng:
Hơi thở vào ra đã hài hoà
Đến đi tự tại vượt người ta
Chân chất tự ngàn xưa nghiêm mật
Bỉ thử không bờ tự tại ca.
Là đệ tử thứ 554 của Thầy Làng Mai, sư cô Chất Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Châu Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người  gốc Mỹ-Phi, quốc tịch Mỹ, sinh năm 1974, tập sự xuất gia năm 1999 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 12 năm 1999 (25 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Bringing Peace and Joy Of The Heart, pháp tự Chân Châu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Anh Đào. Thọ giới lớn ngày 9 tháng 1 năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới. Nhận truyền đăng năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối với bài kệ truyền đăng:
Tìm được bảo châu tà áo cũ
Khắp nơi đại địa bỗng trang nghiêm
Chín tầng năm sắc mây vừa hiện
Tiếp nhận trên tay đạo chính truyền.
Là đệ tử thứ 96 của Thầy Làng Mai, sư cô Châu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Châu Toàn (tên gọi) Vị giám đốc điều hành thứ hai của trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, trụ trì chùa Trúc Lâm, Gò Vấp, đệ tử của thiền sư Mật Thể.

Chí Mãn (tên gọi) Một trong những vị đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Viên, trụ trì chùa Pháp Vân, Đà Nẵng. Thị tịch năm 2017.

Chí Mậu (tên gọi) Một trong những vị đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Tuệ, giám tự tổ đình Từ Hiếu. Được Thầy Làng Mai phó pháp truyền đăng năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ với bài kệ truyền đăng như sau:
Công phu Chí quả nuôi từ quán.
Nẻo về thịnh Mậu núi Dương Xuân.
Quyết tâm nuôi lớn tình huynh đệ.
Đất thiêng rạng rỡ bước siêu trần.
Thị tịch năm 2009.

Chí Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2004 (18 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 1 tháng 2 năm 2005 (19 tuổi) tại chùa Hoằng Pháp, Việt Nam, pháp danh Tâm Hải Tâm, pháp tự Chân Chí Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Vú Sữa. Thọ giới lớn ngày 5 tháng 1 năm 2008 tại Làng Mai trong đại giới đàn Thanh Lương Địa. Nhận truyền đăng ngày 1 tháng 3 năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ tại Làng Mai với bài kệ:
Đi cho chí nguyện vững bền
Ngồi cho thế giới trang nghiêm chốn này
Núi cao còn ẩn am mây
Quê xưa còn giữ cao dày đạo phong.
Là đệ tử thứ 230 của Thầy Làng Mai, sư cô Chí Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chí Niệm (tên gọi) Một trong những vị đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Trì, giám tự tổ đình Từ Hiếu.

Chí Thắng (tên gọi) Một trong những vị đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Sơn, trụ trì chùa Phước Thành, Huế.

Chí Viên (tên gọi) Một trong những vị đệ tử xuất gia của tổ Thanh Quý Chân Thật, pháp danh Trừng Dũng, trụ trì chùa Linh Phong, Nha Trang.

Chỉ (phép tu) Chỉ tức là dừng lại. Dừng lại sự tán loạn, dừng lại sự quên lãng. Dừng lại để tập trung tâm ý vào một đối tượng (để mà xét nghiệm đối tượng đó). Dừng lại để sống trong giây phút hiện tại, để ý thức những gì đang diễn ra trong giờ phút hiện tại. Để thực hiện sự tập trung tâm ý, hành giả thực tập phép đếm hơi thở, hay theo dõi hơi thở. Trong khi thở, ta để hết tâm ý vào hơi thở. Hơi thở cần nhẹ nhàng, khoan thai và liên tục như một dòng nước nhỏ chảy trong cát mịn. Khi thở vào, ta biết là ta đang thở vào. Khi thở ra, ta cũng thở nhẹ nhàng, khoan thai và liên tục. Thở tới đâu thì biết tới đó. Đời sống hàng ngày có đầy rẫy những lo âu và áp lực. Nếu không biết thực tập dừng lại bằng cách hành thiền thì thần kinh và bắp thịt của ta sẽ trở nên căng thẳng và lâu ngày tình trạng có thể trở thành nguy hiểm.

Chỉ cần các thầy đồng ý
(giai thoại) Năm nọ, tại Làng Mai, đại chúng đang chuẩn bị cho khóa tu mùa hè. Một buổi trưa tại Xóm Thượng, sau khi ăn cơm trưa xong thầy Pháp Ấn đang ngồi nghỉ một chút trước khi vào buổi chấp tác buổi chiều, bỗng thầy chợp mắt thiếp đi thì lập tức thầy chiêm bao thấy có một đoàn xe thiết giáp chở đầy những người lính Pháp đi vào Làng. Khi xe dừng lại, người chỉ huy trưởng bước xuống khỏi xe rồi đi đến chỗ thầy Pháp Ấn đang ngồi và nói:
“Thưa thầy, chúng tôi là những người lính trong quân đội Pháp, chúng tôi muốn đăng ký để tham dự khóa tu mùa hè này với các thầy. Xin các thầy giúp cho.”
Thầy Pháp Ấn nhìn ông ta và nói: “Thưa ông, rất tiếc là khóa tu mùa hè này chúng tôi đã không còn chỗ cho thiền sinh nữa rồi.”
Ông ta lại nói: “Thưa thầy, không sao cả, chỉ cần các thầy đồng ý cho chúng tôi tham dự khóa tu, tất cả các chuyện ăn ở chúng tôi sẽ tự lo liệu được.”
Vừa lúc đó thì thầy Pháp Ấn tỉnh dậy và vẫn còn thấy rất rõ giấc mơ kỳ lạ vừa rồi. Ngồi một chút thầy Pháp Ấn nhớ lại là thầy được nghe kể rằng, hồi đó trong chiến tranh thế giới thứ hai, Xóm Thượng bây giờ là nơi mà người ta dùng làm nơi xử bắn người, và đã có rất nhiều người lính Pháp bị xử bắn tại đây. Thầy chợt hiểu về giấc mơ kỳ lạ này. Và trong khóa tu mùa hè năm đó tại Xóm Thượng quý thầy đã cúng cô hồn (hungry ghost offering) mỗi ngày.

Chỉ Nam Thiền Tập (sách) Một cuốn sách do Thầy Làng Mai viết riêng cho người trẻ, trình bày những phương pháp thực tập cụ thể mà giới trẻ có thể áp dụng vào cuộc sống hàng ngày trong bối cảnh xã hội hiện đại ngày nay.

Chỉ Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1960, tập sự xuất gia năm 2001 (41 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 2 năm 2002 tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Diệu Thể, pháp tự Chân Chỉ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Nhận truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng:
Con đường chỉ quán tinh nghiêm
Chân như hiển lộ nơi miền tử sinh
Phút giây khám phá chân hình
Thong dong mây trắng trời xanh gọi mời.
Là đệ tử thứ 133 của Thầy Làng Mai, sư cô Chỉ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chỉ quán (phép tu) Chỉ là sự ngưng tụ, làm lắng dịu, tập trung. Tiếng Phạn là samatha. Quán là nhìn sâu để thấy tự tánh của đối tượng quán chiếu. Tiếng Phạn là vipasyana. Sau khi đã có chỉ, tức là đã có sự tập trung tâm ý vào đối tượng, hành giả tiếp tục thực tập nhìn sâu. Nhìn sâu để thấy được bản chất đích thực của đối tượng quán sát. Cái thấy này là tuệ, là sự hiểu biết là cái thấy chính xác về sự thật. Nếu chỉ đưa tới định thì quán đưa tới tuệ. Có chỉ tức là có quán và khi đã có quán tức đã có chỉ.

Chỉ quán song hành (thuật ngữ) Chỉ và quán đi đôi với nhau. Nếu chỉ vững chãi thì quán bắt đầu xuất hiện. Nếu quán đã có mặt thì chỉ cũng đã có mặt. Chỉ giúp cho quán và quán giúp cho chỉ, đó là chỉ quán song hành. Xem Chỉ quánMười bốn bài kệ chỉ quán.

Chỉ Quán Yếu Lược (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do Hội Phật Học Nam Việt xuất bản năm 1955, in lại từ tạp chí Từ Quang. Đây là một bài giảng của Thầy Làng Mai tại giảng đường hội Phật Học Nam Việt trụ sở tại chùa Phước Hòa, Bàn Cờ, Sài Gòn, trước khi Chùa Xá Lợi được bắt đầu khởi công.

Chí Đạo (Trời Chí Đạo) (tên gọi) Một vị xuất gia nam của Làng Mai. Người Hoa Kỳ, sinh năm 1992, thọ giới Sa Di ngày 19 tháng 10 năm 2019 (27 tuổi), pháp danh Solid Mountain of the Heart, pháp tự Chân Trời Chí Đạo. Sư chú thuộc gia đình xuất gia Cây Bạch Quả. Là đệ tử thứ 1130 của Thầy Làng Mai, sư chú Trời Chí Đạo thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chí Nguyện (Trăng Chí Nguyện) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1989, thọ giới Sa Di Ni ngày 2 tháng 7 năm 2014 (25 tuổi), pháp danh Tâm Nhuận Thiện, pháp tự Chân Trăng Chí Nguyện. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Là đệ tử thứ 854 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chí Nguyện thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chí Thành (Trăng Chí Thành) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1988, thọ giới Sa Di Ni ngày 5 tháng 11 năm 2012 (24 tuổi), pháp danh Tâm Hạnh Niệm, pháp tự Chân Trăng Chí Thành. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Kim Ngân. Thọ giới lớn ngày 23 tháng 3 năm 2016 trong đại giới đàn Ân Nghĩa. Là đệ tử thứ 783 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chí Thành thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chiêu Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2008 (28 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Liên Thanh, pháp tự Chân Chiêu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Thọ giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 tại trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ. Nhận truyền đăng năm 2018 trong Khoá tu xuất sĩ diễn ra tại Đạo tràng Mai Thôn với bài kệ truyền đăng:
Một lòng khiêm hạ thoả chiêu minh
Nghiêm xây cõi Bụt khắp mọi miền
Một sớm vang ca lời diệu pháp
Tuổi trăng tuổi núi nhập chân nguyên.
Là đệ tử thứ 556 của Thầy Làng Mai, sư cô Chiêu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chiếu Diệu (Trăng Chiếu Diệu) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1986, thọ giới Sa Di Ni ngày 5 tháng 11 năm 2012, pháp danh Tâm An Diên, pháp tự Chân Trăng Chiếu Diệu. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Kim Ngân. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 2 năm 2017 trong đại giới đàn Tánh Thiên tại Tu viện Vườn Ươm. Là đệ tử thứ 779 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chiếu Diệu thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chiếu Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1976, tập sự xuất gia năm 2006 (30 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (31 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Trần, pháp tự Chân Chiếu Nghiêm. Thọ giới lớn năm 2010 trong đại giới đàn Thủy Tiên. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Nhận truyền đăng trong khóa tu xuất sĩ năm 2020 tại Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu với bài kệ truyền đăng:
Tâm thể hằng minh chiếu
Tổ tổ tự trang nghiêm
Tông đăng viên bổn nguyện 
Bi hỏa mãn Sa-bà
Là đệ tử thứ 397 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Chiếu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chim Về Trên Không (sách) Một cuốn sách do Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất xuất bản năm 1971 để tưởng niệm chị Nhất Chi Mai – một trong sáu người đệ tử đầu tiên thọ giới Tiếp Hiện với Thầy Làng Mai, người đã tự thiêu ngày 16 tháng 5 năm 1967 tại Sài Gòn để cầu nguyện cho hòa bình. Bài viết của Thầy ký bút hiệu Thạc Đức và Nhất Hạnh.

Chính Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2005 (23 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 10 tháng 5 năm 2006 (24 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Thanh Quy, pháp tự Chân Chính Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Hải Đường. Là đệ tử thứ 368 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Chính Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chỉnh Độ (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam. Thầy Chỉnh Độ thuộc thế hệ thứ 45 của tông Lâm Tế. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng như sau:
Phong quang nghiêm Chỉnh Độ người.
Mùa xuân đạo pháp xinh tươi đến gần.
Soi sao cho thấu nguồn chân.
Nước non ghi nét tương phùng hôm nay.

Chỉnh Đức (tên gọi) Một vị xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, xuất gia năm 2003 tại Việt Nam. Đến Làng Mai từ năm 2007. Thầy Chỉnh Đức thuộc thế hệ thứ 46 của tông Lâm Tế.

Chỉnh Long (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam. Đến Làng Mai từ năm 2006. Thầy Chỉnh Long thuộc thế hệ thứ 46 của tông Lâm Tế. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Tăng già chấn Chỉnh, pháp hưng Long.
Thế giới giang tay kết đại đồng.
Bàn chân tịnh độ quen in dấu.
Đường về thanh thản gió mùa xuân.

Chỉnh Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2007 (25 tuổi), thọ giới Sa Di ngày 17 tháng 2 năm 2008 tại tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Nhuận Hồng, pháp tự Chân Chỉnh Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 2 năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe. Nhận truyền đăng trong khoá tu xuất sĩ năm 2018 tại Làng Mai Pháp với bài kệ truyền đăng:
Chỉnh trang dạo bước trời phương ngoại
Nghiêm trì lĩnh hội ý tăng thân
Nụ cười tỏa chiếu hồn thơ trẻ
Mỗi bước đi về bụt hiện thân.
Là đệ tử thứ 491 của Thầy Làng Mai, sư cô Chỉnh Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chỉnh Phúc (tên gọi) Một vị xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, xuất gia năm 2000 tại Huế, pháp danh Nhuận Phổ, pháp tự Chỉnh Phúc. Thọ giới lớn ngày 16 tháng 12 năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang. Đến Làng Mai từ năm 2006. Thầy Chỉnh Phúc thuộc thế hệ thứ 46 của tông Lâm Tế.

Chỉnh Quang (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, xuất gia năm 1996 tại Việt Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng như sau:
Giới thân hoàn Chỉnh định sinh Quang.
Tuệ nhật sum lâm chiếu đạo tràng.
Điệp khúc thiên thần vừa khởi xướng.
Nhiệm mầu cánh cửa mở yêu thương.
Đến Làng Mai từ năm 2007. Thầy Chỉnh Quang thuộc thế hệ thứ 46 của tông Lâm Tế. Hiện đang sinh hoạt với tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chơn Đệ (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1972, xuất gia tại Việt Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối với bài kệ truyền đăng:
Chân huynh Chân Đệ tợ trăng rằm.
Nhìn kỹ Tăng thân thấy Phật thân.
Trái tim Thích nữ thơm nguyền ước.
Tịnh độ xây nên giữa cõi trần.
Đến Làng Mai từ năm 2003. Hiện đang sinh hoạt với tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chơn Tạng (tên gọi) Một vị xuất nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Canada sinh năm 2000, thọ giới Sa Di ngày 06 tháng 06 năm 2003 (3 tuổi), pháp danh Trung Chánh, pháp tự Thích Chơn Tạng, là đệ tử của Thượng Toạ Thích Pháp Hoà Trú trì tu viện Trúc Lâm, Canada. Đến Làng Mai từ năm 2019, sư chú Chơn Tạng thuộc thế hệ thứ 43 tông Lâm Tế Chánh Tông. Hiện đang sinh hoạt với tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chơn Tâm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 1993 (7 tuổi), thọ giới Sa Di Ni năm 2000 (15 tuổi) tại tu viện Viên Thông. Thọ giới lớn ngày 12 tháng 3 năm 2007 trong đại giới đàn Phương Bối. Nhận truyền đăng năm 2012 trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ với bài kệ truyền đăng:
Suối nguồn tuệ giác tự Chân Tâm
Giới định nghiêm trì lộ pháp thân
Trúc tím hoa vàng luôn hiện sắc
Thong dong đường lớn một mùa xuân.
Đến Làng Mai năm 2008. Hiện đang sinh hoạt với tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chùa Lá (cơ sở) Xem Pháp Vân.

Chùa Non (cơ sở) Một ngôi chùa ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, ngoại thành Hà Nội, nằm bên cạnh Học Viện Phật Giáo Việt Nam, vị trụ trì là Thượng tọa Thích Thanh Quyết. Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan thứ ba trong chuyến về của Tăng thân Làng Mai đã được tổ chức tại đây từ ngày 20.04.2007 đến ngày 22.04.2007. Chủ sám của Đại Trai Đàn là Thượng Tọa Thích Thanh Nhã và Thượng Tọa Thích Quảng Hà.

Chùa Làng Mai (sách) Một cuốn sách trích đăng các bài viết của Thầy Làng Mai từ Lá Thư Làng Mai năm 1999, in tại Việt Nam năm 2000.

Chùa Xưa (Trăng Chùa Xưa) (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1981, thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 10 năm 2010, pháp danh Tâm Thanh Tịnh, pháp tự Chân Trăng Chùa Xưa. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trúc Vàng. Thọ giới lớn ngày 25 tháng 5 năm 2014 trong đại giới đàn Cam Lộ Vị. Nhận truyền đăng trong khóa tu xuất sĩ năm 2020 tại Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu với bài kệ truyền đăng:
Vằng vặc trời trong trăng dọi bóng
Chùa xưa vang vọng pháp âm không
Chuyển gieo bi trí về muôn hướng 
Che mát địa cầu mãn ước mong.
Là đệ tử thứ 688 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Chùa Xưa thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chuẩn Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1983, tập sự xuất gia năm 2008 (25 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Liên Hòa, pháp tự Chân Chuẩn Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Nhận truyền đăng trong khóa tu xuất sĩ “Còn nhau ta còn tương lai” tại Làng Mai Pháp với bài kệ truyền đăng:
Nhẹ nhàng và Chuẩn mực
Ân cần từng nụ hoa
Nghiêm trang bồi giới đức
Tịnh độ có đâu xa.
Là đệ tử thứ 561 của Thầy Làng Mai, sư cô Chuẩn Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chúc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1991, tập sự xuất gia năm 2006 (15 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 (16 tuổi) tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Quảng Hòa, pháp tự Chân Chúc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 460 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Chúc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chúc Thịnh (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nam tu học theo pháp môn Làng Mai. Người Việt Nam, xuất gia năm 1989 tại Việt Nam. Được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2006 trong đại giới đàn Văn Lang với bài kệ truyền đăng:
Sen búp ngàn phương chầu Chúc tụng
Mùa xuân Thịnh trị đã về đây
Năm châu vang vọng tình huynh đệ
Lắng tiếng triều dâng, trăng sáng đầy.
Đến Làng Mai từ năm 2003. Thầy Chúc Thịnh thuộc thế hệ thứ 44 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 11 của phái Chúc Thánh.

Chung Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1989, tập sự xuất gia năm 2006 (17 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Diệu Hoàng, pháp tự Chân Chung Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Thọ giới lớn năm 2010 trong đại giới đàn Hoa Thủy Tiên. Nhận truyền đăng trong đại giới đàn Tánh Thiên năm 2017 tại Tu viện Vườn Ươm với bài kệ truyền đăng:
Bàn tay của chân tình
Chung vui tịnh độ sinh
Hơi thở và ánh mắt
Nghiêm toả rạng bình minh.
Là đệ tử thứ 445 của Thầy Làng Mai, sư cô Chung Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chúng học (giới điều) Bảy mươi giới trong 250 giới của vị khất sĩ, một trăm mười lăm giới trong 348 giới của vị khất sĩ nữ, Giới bản tân tu. Tính chất của các giới này là uy nghi. Chúng học hoặc Chúng học pháp, tiếng Phạn là Shaiksha, dịch tiếng Anh là Fine Manners Offenses.

Chủng Thiện (tên gọi) Thượng tọa Thích Chủng Thiện. Một vị giáo thọ xuất gia nam được Thầy Làng Mai truyền đăng năm 2003 trong đại giới đàn Đã Về Đã Tới với bài kệ truyền đăng như sau:
Chủng đức trên đường về chí Thiện
Gió quang mây tạnh ánh trăng hiền
Châu về hợp phố an lòng đất
Non sông bình trị hãy ngồi yên.

Chủng tử (thuật ngữ) Hạt giống trong tâm thức, tiềm năng phát hiện ra các hiện tượng tâm lý, sinh lý và vật lý. Tiếng Phạn là bija. Thức A lại gia, tàng thức, có công năng tiếp nhận và duy trì các chủng tử. Tất cả những học vấn, tài năng, hạnh phúc, kiến thức, khổ đau, kinh nghiệm… của ta đều đang có mặt trong dạng chủng tử. Các tâm hành (tâm sở) của ta, gồm có 51 loại, tích cực hay tiêu cực, hữu lậu hay vô lậu đều có mặt trong thức A lại gia dưới dạng chủng tử, chờ đợi điều kiện để phát khởi. Hoàn cảnh có tác dụng đánh động những chủng tử ấy để giúp chúng phát khởi, vì vậy ta có thể chọn môi trường tốt mà sống để những chủng tử tốt có nhiều cơ hội phát khởi và những chủng tử xấu không có nhiều cơ hội phát khởi. Chủng tử có hai loại: bản hữu (sẵn có) và tân huân (mới gieo trồng). Sự tu tập có công năng tưới tẩm hạt giống tốt và chuyển hóa hạt giống xấu. Chánh niệm nhận diện được sự có mặt và phát khởi của những hạt giống tốt và xấu. Chủng tử có sáu đặc tính:
1- Sát na diệt, luôn luôn biến chuyển trong từng sát na.
2- Quả câu hữu, có mặt cùng một lần với thức và căn, không tồn tại độc lập với thức và căn.
3- Hằng tùy chuyển, chuyển biến theo thức, không cách biệt với thức.
4- Tính quyết định, duy trì được tính chất Tích cực hay tiêu cực của mình.
5- Đãi chúng duyên, chờ đợi nhiều điều kiện để phát khởi.
6- Dẫn tự quả,
Đưa tới kết quả cùng chủng loại, như chủng tử tâm lý đưa tới kết quả tâm lý, chủng tử sinh lý đưa tới kết quả sinh lý, chủng tử vật lý đưa đến kết quả vật lý. Khi phát hiện, chủng tử trở nên hiện hành. Và hiện hành lại làm phát sinh chủng tử trở lại. Xin đọc sách Duy Biểu Học, 50 bài tụng Duy Biểu.

Chuyên Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1985, tập sự xuất gia năm 2007 (22 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Phước Hải, pháp tự Chân Chuyên Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Thọ giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 tại trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ. Nhận truyền đăng năm 2018 trong Khoá tu xuất sĩ diễn ra tại Đạo tràng Mai Thôn với bài kệ truyền đăng:
Chuyên tâm vun xới đức từ hòa
Nếp học nghiêm thông dưỡng khiêm cung
Một sáng trần gian lên tiếng gọi
Lối cũ quay về rạng tổ tông.
Là đệ tử thứ 565 của Thầy Làng Mai, sư cô Chuyên Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chuyển hóa (điện đường, bài hát)
1. Một thiền đường thuộc chùa Pháp Vân, Xóm Thượng.
2. Một bài hát do Thầy Làng Mai viết lời, nhạc sĩ Trần Quốc Bảo phổ nhạc.
Nước giữ hoa tươi.
Hoa nở cho người.
Hoa thở tôi thở.
Hoa cười tôi cười.
Bên nắng hoa tươi.
Hoa mời ong lại.
Hoa vời bướm bay.
Tâm hoa kết nụ.
Dâng cho cuộc đời.
Trái ngọt ngon này.
Hóa làm thân tôi.
Uống nước giếng trong.
Tôi ngậm trong lòng.
Tôi nghe biển mặn.
Sóng vỗ mênh mông.
Thân tôi sông rộng.
Quê hương nghìn dòng.
Chung một dòng chung.
Nước đã nuôi tôi.
Thắm nhuận muôn loài.
Nước chảy tôi chảy.
Nước buồn tôi buồn.
Nước ấy hoa đây.
Khác gì thân này.
Trăm năm hồ mộng.
Cát bụi lầm vương.
Vạn pháp nương chuyển.
Thường trong vô thường.

Chuyển hóa tập khí (thuật ngữ)
Chuyển hóa những thói quen phản ứng và hành xử tiêu cực thường gây khổ đau và đổ vỡ cho mình và cho những người khác. Tập khí (tiếng Phạn vasana), là năng lượng thúc đẩy ta nói, làm, đối xử và phản ứng theo thói quen. Có khi ta biết hành xử và phản ứng như thế sẽ đưa đến đổ vỡ và khổ đau, nhưng ta vẫn cứ hành xử và phản ứng như thế, bởi vì tập khí ấy rất mạnh. Sau khi hành xử và phản ứng gây ra sự đổ vỡ, ta cương quyết tự hứa là lần sau ta sẽ không hành xử và phản ứng như thế, nhưng lần sau khi một tình huống tương tự xẩy ra, ta vẫn hành xử và phản ứng theo tập khí như thường. Vì vậy ta phải thực tập để chuyển hóa tập khí. Phương pháp thực tập là nhận diện năng lượng tập khí khi nó bắt đầu xuất hiện. Ta tự bảo: Đây là năng lượng tập khí (habit energy) đang bắt đầu xuất hiện. Ta phải cẩn thận lắm mới được. Ta nhất định sẽ không làm gì và nói gì khi năng lượng ấy đang có mặt. Mỗi lần ta nhận diện được nó (nhận diện bằng năng lượng chánh niệm – xem chánh niệm) thì nó yếu bớt đi một chút. Ta có thể nhờ một người bạn tu giúp ta trong việc nhận diện này. Người kia nếu có thực tập chánh niệm sẽ có khả năng báo cho ta biết là tập khí trong ta bắt đầu xuất hiện, và năng lượng chánh niệm của người ấy giúp cho ta có một năng lượng chánh niệm hùng hậu hơn để thực tập nhận diện tập khí của ta. Ta chỉ cần nhận diện mà không cần đàn áp. Đó là phương pháp nhận diện đơn thuần. Nhận diện được tập khí của mình thì tập khí ấy sẽ không còn đủ sức thao túng mình nữa.

Chuyển Niệm (bài tụng) Một bài tụng được sử dụng trong các công phu sáng hoặc chiều tại các thiền viện, có thể dùng cho cả hai phái Thiền tông và Tịnh Độ tông. Có trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 và Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn.

Chuyển rác thành hoa (thuật ngữ) Chuyển phiền não thành bồ đề. Những tâm hành như giận dữ, buồn phiền, lo lắng, sầu khổ, kỳ thị, tuyệt vọng, v.v… là những tâm hành tiêu cực gọi là những phiền não (tiếng Phạn: klesa) được ví dụ với phân rác, nhờ công phu tu học có thể được chuyển thành những tâm hành tích cực như từ bi, an lạc, vô ưu, hỷ xả, bao dung, được ví với những đóa hoa. Vì hoa và rác đều là những vật hữu cơ, hoa có thể trở thành rác, rác có thể chuyển thành phân để nuôi hoa, thì phiền não và bồ đề cũng có tính chất hữu cơ, và phiền não cũng có thể chuyển hóa thành bồ đề. Bồ đề là giác ngộ, giải thoát, hạnh phúc, từ bi, trong khi phiền não là tham giận, kiêu căng, si mê, lầm lạc. Người làm vườn có khả năng thấy được rác là hữu cơ nên ủ rác làm phân, lấy phân để nuôi hoa. Người tu tập thấy được phiền não là hữu cơ nên không trốn chạy hoặc vứt bỏ phiền não, mà biết sử dụng và quán chiếu phiền não để chế tác tuệ giác và từ bi. Nhìn vào hoa thấy được rác, nhìn vào rác thấy được hoa, hành giả có cái nhìn bất nhị. Nhờ cái thấy bất nhị, hành giả không sợ hãi phiền não và biết cách chuyển hóa phiền não thành bồ đề. Trong đạo Bụt, ta thường nghe câu ‘phiền não tức bồ đề’ là do thế.

Chuyển thức (thuật ngữ) Bảy tác dụng nhận thức dựa trên nền tảng của tàng thức (thức A lại gia) mà phát hiện và hoạt dụng, đó là bảy chuyển thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, và mạt na thức. Tàng thức thường được gọi là thức thứ tám, hoặc nhất thiết chủng thức (sarvabijaka) hoặc căn bản thức (mulavijnana). Căn bản thức là nền tảng trên đó bảy thức kia được phát khởi.

Chức Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1984, tập sự xuất gia năm 2008 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Liên Sắc, pháp tự Chân Chức Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Thọ giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 tại trong đại giới đàn Tình Huynh Đệ. Nhận truyền đăng trong đại giới đàn Bây Giờ Ở Đây với bài kệ truyền đăng:
Huynh đệ tình thâm nguyện chức thành
Nghiêm soi cõi Bụt tuyệt vô tranh
Ngồi yên tịch tĩnh mâu ni hiện
Rạng rỡ hồng liên sắc nhuận lành.
Là đệ tử thứ 564 của Thầy Làng Mai, sư cô Chức Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chứng Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, quốc tịch Việt Nam, sinh năm 1986, tập sự xuất gia năm 2008 (22 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 20 tháng 09 năm 2008 (22 tuổi) tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Quảng Tuệ, pháp tự Chân Chứng Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Trắng. Thọ  giới lớn ngày 27 tháng 2 năm 2012 trong đại giới đàn Tình huynh đệ tại Tu viện Vườn Ươm. Nhận truyền đăng năm 2020 trong khóa tu xuất sĩ tại Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu với bài kệ truyền đăng:
Hiếu ân chứng đạt đã từ lâu
Công phu tu tập quả nhiệm mầu
Trang nghiêm cõi tịnh từng hơi thở 
Trần gian cứu độ trả ơn sâu.
Là đệ tử thứ 570 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Chứng Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Chương Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2006 (24 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 3 tháng 3 năm 2007 tại Tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Nguyên Anh, pháp tự Chân Chương Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trầm Hương. Là đệ tử thứ 406 của Thầy Làng Mai, sư cô Chương Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Chương trình Phật học bốn năm trước 2002 (chương trình đào tạo)
Chương trình học này được áp dụng trước năm 2002 và đã được trao đổi với Hòa Thượng Thiện Siêu năm 1991. Chương trình như sau:

  • Năm thứ Nhất: Kinh – Phước Đức, Chuyển Pháp Luân, Người Áo Trắng, Thương Yêu, Kinh Quán Niệm Hơi Thở. Luật – Quay Về Nương Tựa, Hai Lời Hứa, Năm Giới Quý Báu, Mười Giới, Uy Nghi Sa Di, Thi Kệ Nhật Dụng, Từng Bước Nở Hoa Sen. Luận – Phật Học Căn Bản (1), Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức, An Trú Trong Hiện Tại, Đạo Phật Áp Dụng Trong Đời Sống Hàng Ngày, Hiệp Ước Sống Chung An Lạc. Thực Tập thiền đi, thiền ngồi, thiền trà, nghe chuông, chắp tay, dâng hương, niệm Bụt, xướng tán, tụng Giới, thiền ca. Sử – Đường Xưa Mây Trắng. Học – các ngôn ngữ Việt, Anh, Hán, Pali và Sanskrit.
  • Năm thứ nhì: Kinh – Niệm Xứ, Người Bắt Rắn, Người Biết Sống Một Mình, Vô Ngã Tướng, Tâm Kinh, Trung Đạo Nhân Duyên, Giáo Hóa Người Bệnh, A Nậu La Độ, Tam Pháp Ấn, Tám Điều Giác Ngộ của Các Bậc Đại Nhân. Luật – Giới Tiếp Hiện, Giới Bồ Tát, Lục Hòa, Diệt Tránh Pháp. Luận – Phật Học Căn Bản (2), Trái Tim Mặt Trời, năm mươi bài tụng Duy Biểu, pháp số, Đạo Phật Hiện Đại Hóa, Tương Lai Thiền Học Việt Nam. Thực Tập hóa giải nội kết, hướng dẫn thiền đi, thiền ngồi, thiền trà, ngày chánh niệm, thiền ca. Sử – Việt Nam Phật Giáo Sử Luận (1), Phật Giáo Ấn Độ. Học – các ngôn ngữ Việt, Anh, Hán, Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm Tâm Lý Học Xã Hội, Khoa Học, Văn Minh và Văn Hóa Thế Giới.
  • Năm thứ ba: Kinh – Đại Tạng Nam Truyền- so sánh với A Hàm, Bát Thiên Tụng Bát Nhã, Phật Mẫu Bảo Đức Tạng. Luật – Giới Bản Khất Sĩ Tân Tu và Truyền Thống, Tứ Phần, Yết Ma Chỉ Nam. Luận – Phật Học Căn Bản (3), Thắng Pháp Tập Yếu Tam Thập Tụng, Bát Thức Quy Củ Tụng. Thực Tập – hướng dẫn nghi lễ, pháp thoại, tổ chức khóa tu. Sử – Phật Giáo Sử Luận (2), Phật Giáo Trung Hoa, Truyền Thống Sinh Động của Thiền Tập, Phật Giáo Tây Tạng, Nhật Bản, Các Tông Phái. Học – các ngôn ngữ Việt, Anh, Hán-Hoa, Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm khoa học hiện đại, sinh vật học, môi trường.
  • Năm thứ Tư: Kinh – Đại Tạng Bắc Truyền, Bảo Tích, Úc Già, Duy Ma, Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Lăng Nghiêm Tam Muội, Lăng Già. Luật – ôn lại và đi sâu thêm, nắm thật vững Hiệp Ước Sống Chung An Lạc, Giải Tỏa Nội Kết, Thiết Lập Truyền Thông, Năm Giới và Giới Tiếp Hiện. Luận – Câu Xá, Thanh Tịnh Đạo, Trung Quán (lược), Đại Trí Độ (lược), Nhiếp Đại Thừa, Dị Bộ Tông Luân Luận. Sử – Phật Giáo Sử Luận (3 và 4), Phật Giáo Hiện Đại ở các nước, tôn giáo bạn. Ngữ Lục – Lâm Tế Lục. Học – các ngôn ngữ Việt, Anh, Hán-Hoa, Pali, Sanskrit, nghiên cứu thêm khoa học hiện đại, sinh vật học, môi trường. Bi Chú – các bài học về Phật Học Căn Bản được phân phối từ các băng giảng tại Làng Mai như Nhị Đế, Tam Bảo, Nhị Chướng, Tứ Niệm Xứ, Tứ Đế, Ngũ Lực, Lục Hòa, Thất Diệt Tránh, Thất Bồ Đề Phần, Bát Chánh Đạo, Thập Mục Ngưu Đồ, Thập Nhị Nhân Duyên, v.v…

Chương trình Phật học bốn năm áp dụng từ 2002
(chương trình đào tạo) Chương trình học này được áp dụng từ sau tháng 4 năm 2002. Chương trình như sau:

  • Năm thứ Nhất: Thiền tập – Ngồi, thiền ngồi (ngồi thẳng, ngồi yên, có an lạc, không buồn ngủ, ngồi để quán chiếu); Đi, thiền đi (thảnh thơi, vững chãi, đi trong Tịnh Độ); Nằm, thiền nằm (buông thư, nhận diện cơ thể và các phần trong cơ thể); Ăn, thiền ăn (hiện pháp, năm quán); Lạy, thiền lạy (5 lạy); Chấp tác, thiền chấp tác (có thực tập an trú, xây dựng tình huynh đệ, tinh thần làm việc chung, tinh thần đồng đội); Nói, thiền nói (học phát biểu, pháp đàm, soi sáng, làm mới, họp chúng); Viết, thiền viết (tập viết thư cho Thầy, cho sư anh/sư chị, cho chúng, cho cha mẹ, cho gia đình, tưới tẩm hạt giống tốt); Và làm thị giả, học xướng tán, hô canh, tổ chức thiền trà, hát thiền ca. Kinh Văn – Niệm Xứ, Quán Niệm Hơi Thở, Diệt Trừ Phiền Giận, Tam Di Đề (băng và sách). Luật – Tam Quy (trong băng Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh và băng giảng kinh Người Áo Trắng), Hai Lời Hứa, Năm Giới, Mười Giới, Thi Kệ Nhật Dụng, sách Từng Bước Nở Hoa Sen, và Bốn Mươi Mốt Thiên Uy Nghi (trong sách Bước Tới Thảnh Thơi). Luận – Trái Tim Của Bụt, Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức, An Trú Trong Hiện Tại, Đạo Bụt Áp Dụng Trong Đời Sống Hằng Ngày. Sử – Đường Xưa Mây Trắng (phần 1), những phép thực tập của Làng Mai (1), Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (1), Tam Di Đề (1), Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập (1), Đại Tạng Nam Truyền (1), Đại Tạng Bắc Truyền (1), Bát Thức Quy Cũ Tụng (1), Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (1). 
  • Năm thứ Nhì: Đường Xưa Mây Trắng (2), Những Phép Thực Tập của Làng Mai (2), Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh (2), Tam Di Đề (2), Truyền Thống Sinh Động Của Thiền Tập (2), Đại Tạng Nam Truyền (2) (so sánh với A Hàm), Đại Tạng Bắc Truyền (2) (lịch sử tư tưởng Phật giáo Đại Thừa), Bát Thức Quy Cũ Tụng (2), Năm Mươi Bài Tụng Duy Biểu (2). Năm thứ Ba: Nhiếp Đại Thừa Luận (1), Trung Quán Luận (1), Đại Tạng Nam Truyền (tiếp theo) (so sánh với A Hàm) Đại Tạng Bắc Truyền (tiếp theo), (lịch sử tư tưởng Phật giáo Đại Thừa), Lâm Tế Lục, Giới Lớn, Giới Tiếp Hiện, hướng dẫn tổ chức khóa tu, ngày quán niệm, viết thông báo, xây dựng tăng thân địa phương. Năm thứ tư: Nhiếp Đại Thừa Luận (2), Trung Quán Luận (2), Đại Tạng Bắc Truyền (3), Dị Bộ Tông Luân Luận, thiền sư Tăng Hội, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, văn minh Trung Quốc, văn minh Ấn Độ, văn minh Hy Lạp.

Con Cá (gia đình)
Nhóm 6 vị cùng được xuất gia ngày 11 tháng 12 năm 1993 tại Làng Mai. Gia đình Con Cá gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Thành, Chân Thoại Nghiêm, Chân Pháp Dụng, Chân Pháp Ứng, Chân Định Nghiêm, Chân Tuệ Nghiêm.

Con Chim (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 24 tháng 05 năm 1994 tại Làng Mai. Gia đình Con Chim gồm các thầy và các sư cô: Chân Pháp Truyền, Chân Pháp Nghiêm, Chân Pháp Hướng, Chân Bích Nghiêm.

Con đã có đường đi (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, tổng hợp những bài pháp thoại về chủ đề “Con Đường Của Bụt, những đóng góp của đạo Bụt cho một nền đạo đức toàn cầu.”

Con đang làm gì đó (thoại đầu) Một câu Thầy Làng Mai hay hỏi thiền sinh khi gặp vị đó đang làm việc. Đây thật sự là một tiếng chuông chánh niệm hay một thoại đầu chứ không phải là một câu hỏi. Nếu vị thiền sinh trả lời ‘con đang nhặt rau’ hoặc ‘con đang dọn dẹp thiền đường’ thì vị thiền sinh ấy không trả lời đúng câu hỏi. Nếu câu trả lời là ‘con đâu có làm gì đâu’ hoặc ‘con đang trở về với hơi thở chánh niệm’ thì có thể được chấp nhận. Một nụ cười hoặc một câu ‘cảm ơn thầy’ cũng có thể được chấp nhận. Câu hỏi này có mục đích giúp thiền giả trở về với sự thực tập của mình và đi sâu vào sự quán chiếu trong khi chấp tác. Xem Thoại đầu.

Con đi cho cha (thuật ngữ) Thực tập đi từng bước an lạc và thảnh thơi, không phải chỉ có lợi lạc cho người hành giả mà còn lợi lạc cho cha mẹ trong ta. Có thể trong quá khứ cha mẹ ta chưa có cơ hội thực tập thiền đi, vì vậy bước một bước thảnh thơi an lạc cũng là bước một bước cho tổ tiên, cho cha mẹ, cho thầy, cho em và cho mọi người thân.

Con đường của Bụt – những đóng góp của Phật giáo cho một nền đạo đức toàn cầu (thuật ngữ)
Chủ đề của khoá an cư kiết Đông 2008-2009 từ ngày 19.11.2008 đến 18.02.2009 tại Làng Mai. Tiếng Anh là The Path of the Buddha – Buddhist Contributions to a Global Ethics.

Con Đường Chuyển Hóa (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai do nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành lần đầu năm 1990. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và được tái bản nhiều lần ở nhiều nước trên thế giới. Bản dịch tiếng Anh lấy tựa đề Transformation and Healing. Sách giảng giải về Kinh Niệm Xứ, một kinh căn bản về thiền tập của đạo Bụt Nguyên Thỉ, và đưa ra những phương pháp thực tập cụ thể đưa tới chuyển hóa và trị liệu.

Con đường Giác ngộ (lễ lược) Tên của chuyến hành hương thăm viếng Phật tích trong khuôn khổ chuyến hoằng pháp Ấn Độ 2008. Chuyến hành hương bắt đầu từ ngày 19 tới ngày 29.10.2008. Thành viên của chuyến đi, ngoài tăng thân xuất sĩ Làng Mai còn có 300 thiền sinh tới từ hơn 30 quốc gia về sum họp như một cuộc đoàn tụ đại gia đình. Tuy gọi là chuyến hành hương nhưng thực sự là một khoá tu lưu động vì có thiền toạ, thiền hành, pháp thoại, ăn cơm chánh niệm… Sư Ông nói pháp thoại về Tứ Diệu Đế thế kỷ 21 tại Vườn Lộc Uyển; một ngày chánh niệm tại Bồ Đề Đạo Tràng, pháp thoại Sư Ông với đề tài Thảnh thơi ở bất cứ nơi nào (Be Free where you are); đi thiền hành và ngồi thiền trên khu đồi gần tháp Sujata bên bờ Ni Liên Thuyền; ngồi thiền và đi thiền hành tại Trúc Lâm Tịnh Xá; viếng thăm Đại học Nalanda, pháp thoại Sư Ông với đề tài Thân Bụt – Tâm Bụt (Buddha body – Buddha mind); trọn một ngày sinh hoạt chánh niệm trên Núi Thứu (ngồi thiền ngắm mặt trời lên, ăn sáng trong chánh niệm, lễ truyền Ba quy Năm giới và giới Tiếp Hiện, ăn trưa, pháp đàm, thiền toạ ngắm mặt trời lặn và thiền hành xuống núi).

Con Đường Giải Thoát (khóa tu)
Tên một khóa tu 21 ngày được tổ chức tại tiểu bang Vermont, Hoa Kỳ năm 1998. Tiếng Anh là The Path of Emancipation.

Con gà đẻ trứng vàng (sách) Một cuốn sách viết cho thiếu nhi của Thầy Làng Mai, do Phan Book phát hành tại Việt Nam năm 2018.

Con Khỉ (gia đình)
Gồm sư cô Chân Tịnh Nghiêm, Chân Hương Nghiêm và thầy Chân Pháp Tạng, cùng được xuất gia ngày 31 tháng 12 năm 1992 tại Làng Mai.

Con Nghé Nhỏ (cơ sở) Quán sách tại Xóm Mới.

Con người thật (thuật ngữ) Tiếp xúc với con người thật của ta, không bị thời gian và không gian khuôn khổ và khống chế, đó là mục đích của thiền tập. Con người đó được thiền tổ Lâm Tế gọi là vô vị chân nhân, con người thật không cần xác định vị trí trong khung thời gian, con người thật không sinh diệt của bản môn.

Con Sư Tử (gia đình) Nhóm 4 vị cùng được xuất gia ngày 27 tháng 12 năm 1990 tại Làng Mai. Gia đình Con Sư Tử gồm các thầy và sư cô: Chân Bảo Nghiêm, Chân Nguyện Hải, Chân Pháp Đăng, Chân Vô Ngại.

Con sư tử vàng của thầy Pháp Tạng (sách) Một cuốn sách của Thầy Làng Mai, giảng giải tác phẩm Hoa Nghiêm Kim sư tử chương của thầy Pháp Tạng đời nhà Đường (Trung Hoa), do Phương Nam Book xuất bản tại Việt Nam năm 2012

Cổ Đạo Bạch Vân (sách) Ấn bản tiếng Hoa của tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng do nhà Trung Quốc Hoa Kiều Xuất Bản Xã ấn hành năm 1999 tại Bắc Kinh. Địa chỉ nhà xuất bản: số 12, đường An Định, khu Triêu Dương, Bắc Kinh.

Cổ Pháp (lễ lược) Tên một đại giới đàn được tổ chức tại Làng Mai từ ngày 12 đến 17 tháng 1 năm 2006 trong khóa An Cư Kiết Đông 2005-2006.

Cổ Phật khất thực (pháp môn) Những buổi các vị xuất gia ôm bình bát đi khất thực theo kiểu Tăng đoàn của Bụt ngày xưa. Tăng đoàn Làng Mai đã có những buổi cổ Phật khất thực ở San Diego, Los Angeles, San Jose, Huế, Bình Định, Hóc Môn, Bảo Lộc, v.v…

Cố Hương (Trăng Cố Hương) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1987, thọ giới Sa Di Ni ngày 4 tháng 7 năm 2012 (25 tuổi), pháp danh Tâm Thanh Nhàn, pháp tự Chân Trăng Cố Hương. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Đỗ Quyên. Là đệ tử thứ 764 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cố Hương thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn sinh hoạt trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cố Quận (Trăng Cố Quận) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1994, thọ giới Sa Di Ni ngày 2 tháng 7 năm 2014 (20 tuổi), pháp danh Tâm Nhật Lệ, pháp tự Chân Trăng Cố Quận. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Là đệ tử thứ 864 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cố Quận thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cổ Tích (Trăng Cổ Tích) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1995, thọ giới Sa Di Ni ngày 2 tháng 7 năm 2014 (19 tuổi), pháp danh Tâm Diệu Tịnh, pháp tự Chân Trăng Cổ Tích. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Là đệ tử thứ 865 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cổ Tích thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Công án (thuật ngữ) Xem Thoại đầu.

Công Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2008 (26 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 08 tháng 03 năm 2009 (27 tuổi) tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Nhật Kim, pháp tự Chân Công Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Vàng. Là đệ tử thứ 604 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Công Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cộng sản thứ thiệt (thuật ngữ) Trong buổi giảng ngày 18 tháng 03 năm 2005 tại Học viện Chính trị Hồ Chí Minh, Thầy Làng Mai có nói: “Chúng tôi ở Làng Mai không ai có trương mục ngân hàng riêng, không ai có xe riêng, điện thoại riêng, nhà cửa riêng, tất cả các tiện nghi của đời sống đều là của chung. Chúng tôi là Cộng sản thứ thiệt”.

Cơ Duyên (Trăng Cơ Duyên) (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1984, tập sự xuất gia năm 2012 (28 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 5 tháng 11 năm 2012, pháp danh Tâm Tuệ Khai, pháp tự Chân Trăng Cơ Duyên. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Kim Ngân. Thọ giới lớn ngày 23 tháng 3 năm 2016 trong đại giới đàn Ân Nghĩa. Là đệ tử thứ 780 của Thầy Làng Mai, sư cô Trăng Cơ Duyên thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cơ Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1936, tập sự xuất gia năm 2001 (65 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 2 năm 2002 (66 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Tín Huệ, pháp tự Chân Cơ Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Nhận truyền đăng năm 2010 trong đại giới đàn Thuỷ Tiên tại Đạo tràng Mai Thôn với bài kệ:
Thiền vượt tử siêu sinh
Hoa vàng trúc tím tự mình trang nghiêm
Tâm an trăng chiếu bên thềm

Trời quang mây tạnh oan khiên sạch rồi
Là đệ tử thứ 130 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cơ Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện đang không ở Làng Mai.

Creating True PeaceCreating True Peace (sách)
Một cuốn sách nguyên bản tiếng Anh của Thầy Làng Mai xuất bản năm 2003 tại Hoa Kỳ do nhà Free Press, và tại Anh do Rider ấn hành.

Cry of Viet NamCry of Viet Nam (sách)
Một tập thơ dịch sang tiếng Anh của Thầy Làng Mai xuất bản năm 1966 tại Hoa Kỳ do nhà Unicorn ấn hành.

CTC (chức vụ) Xem Ban chăm sóc.

cultivating the mind of loveCultivating The Mind of Love (sách)
Một cuốn sách nguyên bản tiếng Anh của Thầy Làng Mai do nhà Parallax xuất bản năm 1996 tại Hoa Kỳ. Được dịch ra nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước trên thế giới.

Cúc cu… Thầy đây (giai thoại) Một năm nọ, trong khóa An Cư Kiết Đông tại tu viện Lộc Uyển. Một buổi chiều Thầy cùng vị thị giả đang đi dạo quanh tu viện, bỗng Thầy sai vị thị giả đi lấy đồ cho Thầy. Vị thị giả (một sư cô trẻ) đi một hồi rồi quay trở lại thì không thấy Thầy đâu cả. Sư cô đi tới đi lui, chạy lên xóm trên (xóm quý thầy ở) rồi chạy xuống xóm dưới (xóm quý sư cô ở), gặp ai sư cô cũng hỏi thăm xem có ai thấy Thầy đâu không, nhưng không ai biết Thầy đang ở đâu. Trời đã bắt đầu tối và sư cô càng lúc càng lo lắng hơn. Rồi khi vừa đi ngang qua thư viện của xóm quý thầy ở, sư cô bỗng nghe có tiếng: “Cúc cu… Thầy đây!” Sư cô thở phào nhẹ nhõm. Thì ra là Thầy đã ở trong thư viện đọc sách. Thầy Làng Mai luôn luôn bước từng bước chân nhẹ nhàng như hôn trên mặt đất như vậy đó, nhưng nếu chỉ cần sơ ý một chút thôi là ta có thể bị mệt nhoài mà vẫn không theo kịp Thầy!

Cúc Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Hòa Lan. Thọ giới Sa Di Ni ngày 26 tháng 10 năm 2003 tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp tự Chân Cúc Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Cẩm Lai. Là đệ tử thứ 193 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cúc Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.

Cung Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1973, tập sự xuất gia năm 2001 (28 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 7 tháng 2 năm 2002 (29 tuổi) tại chùa Từ Nghiêm – Làng Mai, pháp danh Tâm Nguyên Mỹ, pháp tự Chân Cung Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Thốt Nốt. Thọ giới lớn ngày 10 tháng 11 năm 2004 trong đại giới đàn Đoàn Tụ. Nhận truyền đăng năm 2009 trong đại giới đàn Mùa Sen Mới với bài kệ truyền đăng:
Sen vàng Cung kính dâng lên.
Muôn ngàn cõi Bụt trang Nghiêm gọi mời.
Đóa sen tuệ giác hồng tươi.
Theo chân Điều Ngự độ người trầm luân.
Là đệ tử thứ 137 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cung Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện đang không ở Làng Mai.

Cư Nghiêm (tên gọi) Một vị giáo thọ xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1980, tập sự xuất gia năm 2007 (27 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 17 tháng 2 năm 2008 tại tu viện Bát Nhã, pháp danh Tâm Phước Quảng, pháp tự Chân Cư Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Thọ giới lớn ngày 22 tháng 2 năm 2011 trong đại giới đàn Lắng Nghe. Nhận truyền đăng trong đại giới đàn Tánh Thiên năm 2017 tại Tu viện Vườn Ươm với bài kệ truyền đăng:
Vui nếp tĩnh trên thật địa
Thâm ân đáp trọn đạo uy nghiêm
Trước sau bền vững lời nguyện ước
Theo dòng nhập thế ngát hương thiền.
Là đệ tử thứ 490 của Thầy Làng Mai, sư cô Cư Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cư sĩ (thuật ngữ) xem Xuất sĩ

Cửa Tùng Đôi Cánh Gài (sách)
Một tập truyện ngắn của Thầy Làng Mai.
Gồm các truyện Cửa Tùng Đôi Cánh Gài, Tùng, Giọt Nước Cánh Chim và Một Bó Hoa Đồng.
Nhà xuất bản Lá Bối, Hoa Kỳ ấn hành năm 1993.
NXB Văn Hóa Sài Gòn ấn hành tại Việt Nam năm 2007.
Được dịch sang nhiều thứ tiếng và xuất bản ở nhiều nước.

Cửa vô sinh mở rồi (thuật ngữ)
Ta có thể tiếp xúc với bản môn (xem bản môn) hoặc niết bàn, ngay trong giây phút hiện tại và ngay nơi chỗ ta đang ngồi, bởi vì cánh cửa của bản môn, cánh cửa của niết bàn luôn luôn mở ra. Vô sinh là niết bàn, là tự tính của các pháp. Các pháp vốn không sinh, không diệt, không tới, không đi, không một, không khác, không có, không không. Vô sinh là không sinh, đại diện cho bảy cái không khác. Sống sâu sắc trong giây phút hiện tại, ta tiếp xúc được sâu sắc thế giới hiện tượng, thế giới bản môn, và vì vậy có cơ duyên tiếp xúc với tự tính vô sinh, tự tính niết bàn vốn là nền tảng của mọi hiện tượng. Thế giới hiện tượng mới nhìn thì như có sinh – diệt, có có – không, nhưng nếu quán chiếu cho sâu sắc ta có thể tiếp xúc với tính không sinh – diệt, không có – không của nó.

Cương Kỷ (tên gọi) Một vị đệ tử lớn của thiền sư Nhất Định. Tổ sinh năm 1810 tại Quảng Trị, năm 24 tuổi tập sự xuất gia một năm, năm sau thọ giới sa di pháp danh là Hải Thiệu. Năm 31 tuổi, Tổ được thọ giới lớn, sau đó theo thầy là Tổ Nhất Định lên núi Dương Xuân lập am An Dưỡng. Năm 35 tuổi được Tổ Nhất Định truyền đăng phó pháp với bài kệ:
Cương Kỷ kinh quyền bất chấp phương.
Tùy cơ ứng dụng thiên tư lương.
Triêu triêu tương thức nan tầm tích.
Nhật nhật xuyên y nghiết phạn thường.

Sau khi tổ Nhất Định viên tịch, tổ xây dựng thảo am thành chùa Từ Hiếu với sự ủng hộ của các quan thái giám. Năm 1848 vua Tự Đức ban danh hiệu “Sắc Tứ Từ Hiếu Tự” cho chùa. Năm 1848 dưới triều vua Thành Thái, tổ trùng tu lại chùa Từ Hiếu. Làm trụ trì chùa Từ Hiếu, tổ có phát mười lăm đại nguyện như sau:
1. Thân hình dị tục, bất tơ bạch y.
2. Khẩu thường thanh tịnh, bất thuyết thị phi.
3. Ý hành bình chính, vô gián tôn ti.
4. Tâm thường nhẫn nhục, xả tham sân si.
5. Ngọ trung nhất thực, bất quá hậu kỳ.
6. Căn trì tế hạnh, bất thất uy nghi.
7. Phạm vũ lao cố, Phật điện quang huy.
8. Cư hằng an ổn, nhật dụng vô khuy.
9. Đệ tử chúng đẳng, tai nạn vĩnh ly.
10. Đàn na thí chủ, phước thọ khương hy.
11. Oán thân bình đẳng, đồng phó liên trì.
12. Tịch diệt thần chí, hoạch dự tiên tri.
13. Đoan nhiên tọa hóa, chính lý tây quy.
14. Bất sinh bất diệt, liễu chứng vô vi.
15. Tảo thành Phật đạo, quảng độ quần mê.

Cương Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1982, tập sự xuất gia năm 2008 (26 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 08 tháng 03 năm 2009 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Nhuận Ngọc, pháp tự Chân Cương Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Vàng. Là đệ tử thứ 601 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cương Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán.

Cứu Nghiêm (tên gọi) Một vị xuất gia nữ của Làng Mai. Người Việt Nam, sinh năm 1988, tập sự xuất gia năm 2008 (20 tuổi), thọ giới Sa Di Ni ngày 08 tháng 03 năm 2009 tại Chùa Từ Hiếu, pháp danh Tâm Thuận Giáo, pháp tự Chân Cứu Nghiêm. Sư cô thuộc gia đình xuất gia Cây Sen Vàng. Là đệ tử thứ 614 của Sư Ông Làng Mai. Sư cô Cứu Nghiêm thuộc thế hệ thứ 43 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 9 của phái Liễu Quán. Hiện không còn thuộc tăng thân xuất sĩ Làng Mai.