Con số đẹp

Nắng chiều tuy muộn nhưng thật đẹp. Cái nắng của Thâm Tâm làm cho người ta đứng lặng đi mà chiêm ngưỡng. Nắng về trên những rặng thông, vàng óng ả. Nắng đọng lại trong những hạt mưa đọng trên lá, đẹp như pha lê. Nắng phết lên tường, hiện lên những đường nét cổ kính rêu phong.

Tôi không có ý đợi em, nhưng em đã đến. Trên mặt còn dính chút bụi trần pha lẫn chút ngây ngô, khờ dại. Vai mang ba lô rón rén theo ba đi vào phòng khách. Tôi mời hai bố con ngồi chơi ở Lạc Nghĩa Đường. Cái nắng chiều dễ dàng để tôi đưa hai vị khách vào câu chuyện.

Người bố đã đến đây từ khi ông còn là một cậu bé, bây giờ ông đã ngoài ngũ tuần, ông đến đây để cào rác thông về nấu cơm. Bây giờ, cảnh chùa đã đổi khác, nhưng ông nói: “Lạ lắm, tôi thấy như là mới hôm qua, cái bình an ở núi đồi Dương Xuân nó vẫn còn đây.

Ông đến đây và đưa cậu con trai đến xin ở ít hôm. Nó có một ít vấn đề trong cuộc sống, và ông tin rằng ở đây là nơi có thể giúp đỡ cho con ông. Sau đôi lời hỏi thăm, tôi đưa hai người đến gặp sư huynh của tôi. Người rất hoan hỷ đồng ý. Đây cũng là chuyện dĩ nhiên thôi, vì chúng tôi là người tu nhưng cũng là những người bác sĩ.

Trong ngày đầu, tôi để cho em có rất nhiều không gian, tôi chỉ chia sẻ cho em cách trở về theo dõi hơi thở, lắng tai nghe và tập tiếp xúc với sự sống đang diễn ra xung quanh em. Đến ngày thứ hai, em vui hơn và dễ dàng đến với những người xung quanh. Em xuống bếp giúp đội nấu ăn, đi quét lá, đá bóng, chạy bộ, đi dạo, uống trà. Kết quả đến nhanh hơn tôi tưởng. Bởi vì đằng sau những nụ cười ấy, em có một quá khứ như một khối tơ vò không gỡ ra được.

Bước vào tuổi 15, cái tuổi của thần tiên, nhưng với em không được như vậy. Gia đình em đi kinh tế mới, cuộc sống cũng tạm đủ nhưng thiếu đi sự đùm bọc và chở che của người thân. Dù nghèo khó nhưng được sống trên mảnh đất “chôn nhau cắt rốn” thì vẫn hơn. Lên lớp tám, em là một học sinh giỏi, dễ thương và hiền của lớp, nhưng suốt học kỳ I không có tuần nào là em không bị đánh chảy máu cam, đánh không cần lý do, chỉ vì cái tội không có tiền nộp cho tụi đầu sói. Có nhiều lần em đã phải lấy trộm tiền đi chợ của mẹ đưa cho tụi nó, những hôm ấy em mới được yên thân, nhưng em không thể lấy hoài như vậy được. Mồ hôi, sức lực của cha mẹ làm quanh năm mới chắt chiu đủ tiền sinh hoạt cho cả gia đình. Ở cái nơi “tứ xứ” này, biết đâu là người thân để mà nương tựa.

Thế rồi, em đổi kiểu suy nghĩ, đổi tốt thành xấu, em gia nhập băng đảng để thoát khỏi thân phận yếu đuối. Cuộc sống từ đây đưa em sang một hướng khác. Từ một học sinh giỏi, em rớt xuống học sinh trung bình ở học kỳ II, từ dễ thương em trở thành hung dữ, em giờ không lấy tiền của mẹ nữa mà đi lấy của người khác. Trong sâu thẳm của tâm hồn, có ai đó nói với em rằng, em có bản lĩnh, có sự trưởng thành vì bây giờ em đã biết uống rượu, hút thuốc, cờ bạc và nhất là không còn bị ai bắt nạt như trước đây. Em thỏa mãn với cuộc sống hiện tại mà không biết rằng mình đang đi vào những nẻo đường đen tối của cuộc đời. Em như một con cá, cố gắng nhảy nhưng không thể nào thoát ra khỏi chiếc lưới.

Bao lần em muốn khóc, nhưng những khối khổ đau vẫn còn nghẹn ngào, mắc kẹt ở đâu đó mà chưa chảy thành dòng. Tôi vẫn lắng nghe và cầu mong cho em được khóc một lần, lòng em sẽ nhẹ hơn.

Một ngày đó, bố nhờ em lên thị xã để mua một ít đồ, vô ý làm sao em quên khóa cổ, vậy là ai đó “mượn” mất chiếc xe Dream II. Lòng ngổn ngang trăm mối, bần thần, hồi hộp, lo lắng. Làm mất một chiếc xe là một vấn đề lớn, lớn như thế nào thì em không biết nhưng em biết chắc  có một cơn bão đang kéo đến. Về tới cổng, em ước gì có một phép lạ, có một ai đó có đủ hiểu biết để thông cảm cho em, nhưng không, cái mà em nhận được là một trận mắng. Tội cho ông bố, chiếc xe là phương tiện sinh sống, đi lại của cả gia đình, chắt chiu lắm mới có được. “Mày là cái đồ vô tích sự, mày là…”.

Nói đến đây, em bật khóc, tôi mừng quá, em được khóc rồi. Nói đời là bể khổ nhưng đâu phải chàng trai nào cũng được khóc. Tự cho mình là nam nhi, gói khổ đau lại không cho nó chắp cánh bay cao. Tôi để cho em khóc, mãi nhìn em mà quên mất đưa khăn giấy cho em, cho đến khi em đưa tay lên quẹt nước mắt, tôi mới nhớ mình có khăn giấy trong túi. Ôm cả khối khổ đau trong lòng, cái khổ đau này không phải là khổ vì mình làm mất xe, cái khổ này nó còn nặng nề hơn, đó là sự trách móc, giận hờn của người mình thương. Mình cần có sự cảm thông mà không có, mình đưa tay cố bám víu vào một cái gì đó để đứng lên nhưng không có, vậy là em quyết định bỏ nhà ra đi vào lúc đêm khuya. Em không biết sẽ đi về đâu, nhưng em cần nghỉ ngơi, em thấy ngột ngạt trong ngôi nhà ấy. Tội cho ông bố. Mất xe, bây chừ rồi mất luôn cả đứa con.

Nói đến đây, em lại òa lên khóc, tay ôm mặt và toàn thân run theo tiếng nấc. Tôi nghẹn ngào nhìn em, chưa biết làm sao thì tiếng chuông điện thoại của em reo lên. May quá! Tôi liền nắm lấy hơi thở, bình tĩnh. À! Đã có cách giải quyết rồi. Nếu cứ để em khóc hoài trong khi năng lượng chánh niệm chưa vững vàng thì chỉ làm em càng chìm đắm trong quá khứ đau thương. Thế là tôi mời em đi ra vườn, tôi bước thật chậm và vững, em cũng bắt chước tôi, thở vào… chậm, thở ra… vững vàng.

Tuần sau, tôi sắp xếp được một buổi ngồi chơi với hai bố con bên bờ hồ Sao Mai. Gió chiều thật mát, cỏ thật xanh. Buổi ngồi chơi thật dễ chịu khi ông bố bắt đầu kể về tuổi thơ của mình. Đó là một làng quê ít ruộng nhiều rừng và không gian thì bao la. Tuổi thơ của ông thật đẹp, cho đến khi 18 tuổi ông phải xa quê đi kinh tế mới.

Cuộc sống thật nhiêu khê!…

Ông mỉm cười và nhìn cậu con trai rồi nhìn tôi: “Hy sinh đời bố củng cố đời con thầy à, nhưng bây giờ tôi thấy phương châm này phải đổi mới. Hy sinh đời bố thì cũng hy sinh luôn cả đời con. Tôi đã không có đủ thương yêu để chăm lo cho cả gia đình vì mải mê công việc”. Ông nói mà lòng nghẹn ngào. “Hy sinh là mất mát nhưng chưa hẳn đã là tình thương. Có tiền thì mua được tất cả, nhưng cũng phải đánh đổi nhiều thứ để có tiền, cuối cùng vẫn là con số không”. Ông nói và hai bàn tay nắm lại thật chặt như muốn ghi sâu vào trong lòng những điều mình muốn nói ra.

Tôi lắng tai nghe ông nói mà những dòng cảm xúc cứ chạy rần rần khắp cả người, tôi hay bị như vậy khi có điều gì đó chạy tuột thẳng vào tim. Nhìn sang cậu con trai, tôi thấy hai hàng nước mắt chạy dài trên má từ hồi nào.

“Ba… xin lỗi… con trai!”

Câu nói hơi ngượng, nhưng cũng được. Vì đã bao giờ ông nói được câu ấy đâu. Đây là lần đầu tiên. Sở dĩ ông nói được như vậy vì chiều qua tôi đã kể cho ông nghe những nỗi khổ niềm đau của cậu con trai mà nó chịu đựng trong năm năm qua. Từ hồi đi học, nhập băng đảng, bỏ nhà ra đi, nỗi khổ khi học nghề ở Sài Gòn….. cho đến khi ông tìm được nó. Nhưng có lẽ cảm động nhất là bức thư nó viết cho ông tối qua. Bức thư mà nó muốn làm mới với bố. Chắc trong thư em nó cũng đã tâm sự nhiều cho ông.

Nghĩ rằng chỉ ở mấy hôm, ai dè chàng thanh niên đã ở luôn hai tuần. Đó cũng là thời gian đủ để cậu mở lòng ra làm mới với bố. Chỉ có cách đó thì vết thương trong tâm cậu mới được chữa lành và sự truyền thông giữa cậu với bố mới được nối lại. Cũng nhờ phước đức của ông bà còn lớn nên họ đã được trở về…

Tối nay trăng lên thật đẹp, trăng rằm mà. Ngắm trăng và thưởng thức một ly trà Oolong thơm, tôi thấy đời thật thảnh thơi. Hai bố con đã đi từ tuần trước, nhiều kỷ niệm vẫn đọng trong tôi. Tôi thật sự muốn nói lời cảm ơn hai bố con họ thật nhiều. Họ đến và làm cuộc sống của tôi thêm ý nghĩa. Tôi thương họ vì họ đã sống cho tôi. Và tôi cũng nguyện sẽ sống cho họ, sống cho thật đẹp.

Cuộc sống lại bắt đầu…

Bông hoa đẹp giữa đời

Cách đây đã mấy năm, khi đọc những cuốn sách của Thầy Thích Nhất Hạnh, tìm hiểu về thân thế cùng những lý tưởng của Thầy,  và nhìn những bức ảnh đầy vui tươi, hạnh phúc của tăng thân của Làng Mai bên Pháp, tôi đã ao ước sẽ được tới Làng để sinh hoạt và tu tập cùng anh chị em. Tôi muốn được hưởng sự an lạc, đơn giản nhưng diệu kỳ và mầu nhiệm ấy. Nhưng mà tu viện của Thầy toàn bên Pháp, bên Mỹ, thành ra ước mơ ấy xa vời quá. Nó lắng dần vào một góc nhỏ trong tim tôi nhường chỗ cho các dự định, kế hoạch khác sắp tới.

“Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửasẽ mở cho”. Lời Chúa Jesus còn đó và quả thật đến hôm nay tôi lại được chứng nghiệm điều đó. Được tham dự khóa tu Wake Up do Làng Mai Thái Lan tổ chức thông qua sự hướng dẫn đăng ký từ thầy Từ Thông là một kỷ niệm không bao giờ quên đối với tôi. Nơi đây như một cộng đồng yên bình giữa một thế giới 24/7 toàn loan tin về những tin tức không mấy tốt lành. Đến với Làng, không phải ta trở nên cô lập với thế giới để an vui với các bạn đồng đạo; đơn giản chỉ là quay về với thiên nhiên, lọc sạch tiếng ồn ào huyên náo, trở về với nội tâm mình để cùng nhau thực tập những phút giây hạnh phúc.

Thực tập thì không khó, nhưng bền bỉ, liên tục, ngày qua ngày, từng giờ, từng phút từng giây thì quả là một thách thức. Vì thế các sư cô, sư thầy ở đây đã tổ chức rất nhiều hoạt động cho các bạn trẻ, để lúc nào mọi người cùng có cơ hội thực tập chánh niệm, có nhiều trải nghiệm phong phú và hứng thú. Hòa mình một cách tự nhiên vào các hoạt động như thế chưa bao giờ là một thói quen của tôi. Nhưng ở đây, tôi cảm thấy mình đã bị cuốn hút nhẹ nhàng như vậy. Khi hứng thú lên cao có lúc tôi đã cố gò mình thực tập hoàn hảo tất cả cho bằng được, vậy thì mệt quá, thế là tôi tịnh tâm để thư giãn, trở về tự nhiên, tự tại của chính mình, và rồi tôi lại tìm thấy mình yêu nơi đây theo một cách khác, tự do là chính mình trong một môi trường tôn trọng sự tự do ấy.

Có lẽ thoải mái và tuyệt vời nhất chính là được nhìn những gương mặt yêu mến, hạnh phúc, thoải mái của các sư cô, sư thầy, từ nhỏ tuổi đến lớn tuổi, ai ai cùng đều thật dễ thương và mình thì lúc nào cũng muốn dừng lại để chào hay mỉm cười với họ. Ôi, cuộc sống thường ngày, hiếm có làm sao những khoảnh khắc, những nụ cười chạm mặt chớp nhoáng như thế. Không phải nhìn thấy sự nhăn nhó, đăm chiêu, nặng nề là may lắm rồi; chứ còn lơ đãng thì… cứ như ở đô thị người ta đều mơ ngủ…

Tuyệt vời nhất là khi về đến nhà, những gì đẹp trong mình đã tưới tắm vẫn còn. Nụ cười của mình vẫn còn, dù nó hơi khó nở vì môi trường không còn thuận tiện nữa. Nhưng mà mỗi khi nhớ lại các bạn, tăng thân của Làng Mai và tự nhủ : “Nếu không ai cười thì mình cười để tự làm một bông hoa đẹp giữa đời vậy”. Chủ đề khoá tu: “Ta có là ta, ta mới đẹp ” mà.

Biết ơn Bụt, biết ơn Thầy, biết ơn tăng thân Làng Mai Thái Lan nói riêng và tăng thân Làng Mai nói chung, cùng các quý sư cô, sư thầy, các bạn trẻ Việt Nam và cả Thái Lan đã trao cho tôi những ngày tu tập, những ngày sống thật ý nghĩa. Và cũng thật tự hào khi tôi đã đón nhận nó hết sức mình và chia sẻ được với những người bạn của mình để hiểu thêm lẫn nhau, hiểu thêm hạnh phúc và truyền đi hạnh phúc và trí tuệ ấy cho những người mà mình thương yêu.

Mong cho pháp môn thực tập của Làng Mai lan tỏa tới người dân Việt Nam và rồi cả thế giới, chỉ một chút quán hơi thở, một tiếng chuông – tiếng của Bụt thôi cũng được rồi…

​Xem thêm bài viết có liên quan:

Wake Up Asia: Những giọt nước mắt hạnh phúc

Câu chuyện của Chanh

(Sư cô Chân Trăng Mai Thôn)

Trước ngày khai mạc khóa tu mùa hè chừng một hay hai ngày, sau khi ăn sáng, bé nghe nói con Chanh đã chết. Bé ngạc nhiên quá, nếu không nói là bị “sốc”. Chanh là tên của một con mèo trắng đốm đen, là dân thường trú của chùa Từ Nghiêm, xóm Mới. Thường thì chùa không nuôi thú. Nhưng ở đây lâu lâu lại có một con mèo hoang, hay là mèo lang thang, không biết có phải là chúng đã bỏ nhà đi hay không, tìm tới và ở lại. Chùa không thể đuổi chúng đi, thế là tự nhiên chúng trở thành “dân thường trú”. Nói cho đúng ra, mới đầu các sư cô cũng cố tìm người để họ nhận chúng về nuôi, nhưng khi không tìm được ai thì đành phải chịu.

Bé biết có những con mèo, khi chủ dời nhà, chúng nó không chịu đi theo mà cứ quyến luyến mãi nhà cũ, có khi ở lại với chủ mới, có khi bỏ đi lang lang. Trong trường hợp của con Chanh, không biết nó đến từ đâu. Chỉ biết là năm ngoái, vào một ngày Xuân, xóm Mới đến phiên tổ chức ngày tu quán niệm, quý thầy, thiền sinh xóm Thượng và quý sư cô cùng thiền sinh Xóm Hạ tới rất đông. Sau khi mọi người ra về, đến chiều thì xóm Mới phát hiện ra sự hiện diện của con Chanh. Dĩ nhiên là lúc đó nó chưa có tên, hay là có một cái tên nhưng nó đâu thể nói cho mình biết.

Nó là một con mèo kháu khỉnh, còn rất trẻ, nếu tính theo tuổi của bé thì chắc là nó hơn bé chừng 8 hay 10 tuổi (bé năm nay lên 8). Vậy là nó chừng 16-18 tuổi thôi. Lông nó trắng muốt, có những đốm đen, bụng hơi xệ xuống một chút, vì vậy lưng nó cũng hơi võng xuống dưới sức nặng của cái bụng, giống như một con heo mọi vậy. Mặt nó có vài đốm đen nho nhỏ gần miệng, trông hơi giống như những cái mụt ruồi, nhưng to hơn nhiều.

Mới đầu bé không thích nó, dù là nó trông rất xinh xắn. Bé không thích bởi vì nó trông gian gian làm sao ấy. Nó lại hành xử như đây là nhà của nó, nó nhảy lên bàn ăn, kê mũi vào dĩa thức ăn mà người ta đang ăn, rõ ràng là nó rất đói. Tuy vậy không ai được khuyến khích cho nó ăn vì sợ nó quen, vả lại chưa chắc những gì mình ăn đã tốt cho nó.

Bé không thích nó một phần vì bé đã quen với cách hành xử của mấy con mèo khác đã ở chùa lâu. Mấy con mèo kia, có tên là Muni, Tigre và con Grey cũng từ đâu tới rồi ở lại, nhưng khi bé tới đây thì chúng nó đã ra vẻ “thiền” lắm rồi, đi đứng khoan thai, chậm rãi, ngồi ra dáng có “oai nghi”, ăn uống thì tới giờ cho ăn mới vào ăn nhỏ nhẻ. Ngoài những cái ấy ra, còn lại thì chúng đều hành xử giống mèo, đó là cũng còn thích leo lên lòng mình ngồi, và lâu lâu thì đến cọ cọ vào chân mình một chút để đòi được vuốt ve, lâu lâu cũng rình bắt chuột, bắt chim, leo trèo… Mỗi lần bắt gặp chúng bắt chuột, bắt chim thì các sư cô đều phải tìm cách để dừng chúng lại. Tuy vậy những con mèo này so với con Chanh đều là những con mèo rất là hiền và lặng lẽ.

Con Chanh đã gây ra xáo trộn, nếu không nói là nhiều xáo trộn cho các cư dân mèo và cư dân chim chóc của Xóm Mới, một chút xáo trộn cho các cư dân khác, trong đó có các sư cô. Cả mấy con nhái dưới hai cái hồ sen cũng không yên với nó. Nó hành xử như đây là xóm của nó, chùa của nó, nó đi đi lại lại, nhảy nhót lung tung. Có hôm quý sư cô đi tham gia ngày quán niệm từ xóm khác trở về đã thấy chén bát vỡ tung tóe, miểng văng đầy dưới sàn nhà. Ở nhà nó đã nhảy lên bàn để chén bát có phủ vải và làm không biết bao nhiêu chén rơi xuống đất. Nó “huých” mấy con mèo kia ra ngoài, không màng đến việc con Tigre đã đánh dấu vào tất cả mọi nơi, bất cứ khi nào có thể để cho biết đâu là lãnh thổ mà nó có chủ quyền. Mấy cái đó có vẻ không có một chút ý nghĩa nào đối với con mèo mới tới. Nó muốn đi đâu thì đi, muốn nằm ở đâu thì nằm, bất kể mấy con mèo khác. Con Tigre bực lắm, nó là con mèo đực duy nhất ở đây nên nó cho là mọi nơi đều là lãnh thổ của nó. Vậy mà con mèo này lại lơ tuốt nó đi.

Sau một vài ngày kình nhau, con Muni đã “đơn phương giải giáp” và “rút lui có trật tự” qua bên nhà Giếng Thơm cách xóm Mới một cái nhà của hàng xóm, để cho con Chanh được hoàn toàn tự do.

Con Chanh tiếp tục là một trong các đề tài trong những buổi họp của các sư cô Xóm Mới. Ai cũng nghi là nó sắp có em bé vì cái bụng ỏng của nó. Thế là nó đã được mang đi khám thú y. Sau khi xác định là nó không có em bé, trong một thời gian khá lâu nó cũng không được khẳng định là được cho ở hay cho đi.

Nó không biết tất cả những chuyện ấy nên cứ tự nhiên tiếp tục coi đây là nhà nó. Nó lựa những chỗ êm ấm nhất để nằm, nhất là những chiếc áo ấm hay khăn quàng cổ để quên trên bàn, nó tiếp tục leo lên bàn ăn, tiếp tục kê mũi vào đĩa thức ăn của người ta. Nhưng vì nó có bề ngoài dễ thương và khá có cá tính nên mọi người hay đến chơi với nó, chọc ghẹo và đùa giỡn. Nó luôn đáp ứng lại mọi sự chú ý của bất cứ ai. Sự đáp ứng đó có khi rất là “nanh vuốt”. Khi đưa tay ra vuốt ve nó, nó thường quay người lại táp một cái, hoặc đưa hai chân trước ra chụp, quào hay quặp chặt. Vì vậy bao giờ cuộc thăm viếng cũng kết thúc bằng việc người thăm nó ôm tay, nhăn nhó, còn nó thì cong đuôi phóng đi chỗ khác. Bé đã một vài lần đến chơi với nó và bị nó quào. Bé để ý thấy hình như nó rất không thích bị tiếp cận từ phía sau lưng.

Nếu bạn lấy một cái que, một sợi dây, một nhánh lá hay một cái gì dài dài (để bạn được an toàn) và nhử nhử nó thì nó sẽ nhảy lên, chụp lấy và ngoạm ngay vào cái đó. Và nó cứ làm như thế hoài mà không chán. Nó lại thích chơi với cái bóng. Bất cứ là bóng của cái gì, cử động hay không cử động, nó mê mải đứng chụp. Sau khi phát hiện ra nó thích chơi với bóng, các sư cô hay cử động bàn tay và cánh tay để cho bóng in trên tường cho nó chụp. Vì vậy các sư cô cũng gọi nó là Shadow (Bóng).

Nó đến xóm Mới vào mùa xuân, mùa chim chóc làm tổ khắp nơi và ếch nhái kêu nhau inh ỏi tìm bạn dưới các hồ sen. Thỉnh thoảng các sư cô lại thấy lông chim bê bết máu nằm rải rác trong sân vườn, thấy con Chanh leo trèo lên trên mái nhà. Các sư cô bắt gặp nó rình rập các tổ chim. Rồi từ từ lại thấy các tổ chim biến mất hay bị rơi xuống đất. Còn mấy con ếch nhái thì từ từ im bặt, không thấy kêu nhau nữa. Nhiều người thấy nó rình rập quanh hồ sen nên ai cũng nghi là nó đã “xơi tái” hết mấy con nhái trong hồ. Đề tài bàn tán thường xuyên của mọi người dạo đó là về con Chanh. Nó có vẻ hay sát sanh quá. Có sư cô đề nghị là mình đừng gọi nó là Chanh, mình nên đổi tên cho nó là “Tu Đi” để kêu nó nên tu tâm dưỡng tánh lại, nên tu đi. Nhưng dĩ nhiên nó chẳng tu gì cả, nó tiếp tục làm những gì nó cần làm, theo bản năng. Bé cứ tưởng như thế, ấy vậy mà nó lại đang tu đó bạn ạ.

Những lúc nó không làm những việc sát sanh, hay rượt đánh mấy con mèo kia thì trông nó như là một thiên thần, rất là dễ thương, kháu khỉnh. Nhất là khi nó nằm yên một chỗ, để hai tay dưới cằm và bắt đầu thè lưỡi nút tay như một em bé đang bú tay. Ai thấy nó lúc ấy cũng rất là thương. Bé nghe nói mấy con mèo con, khi còn quá nhỏ mà bị mẹ bỏ thì chúng nó sẽ có thói quen đó.

Thời gian trôi đi, chẳng mấy chốc mà con Chanh đã ở xóm Mới được hơn một năm. Không thấy ai nói đến chuyện cho nó đi nữa. Nó mặc nhiên được chấp nhận vào xóm Mới. Cảm tình của mọi người đối với nó cũng tăng lên, ai đi ngang nó cũng phải chọc ghẹo nó một chút. Có người nhẹ nhàng, nhưng cũng có người chơi bạo. Từ từ nó bớt hung hăng, bởi nó thấy hễ nó hung hăng lên thì người ta hoặc bỏ đi, hoặc trợn mắt lên để cho nó bỏ chạy. Không khí yên tĩnh trong chùa cũng làm nó yên tâm, bớt cảnh giác hơn. Chỉ sau một thời gian ngắn nó đã không có thói quen kê mũi vào đĩa thức ăn của người khác nữa. Nó đã làm quen với thức ăn khô của mèo mà mỗi ngày nó được cho ăn một lần cùng với mấy con mèo khác. Chỉ có thói quen rình rập, bắt chuột, bắt nhái là nó không bỏ được. Càng ngày nó càng mập ra, ai cũng nói chắc “tại nó ăn mặn”, và lại càng hay răn đe, dặn dò, khuyên bảo nó.

Có một cái gì đó ở con Chanh làm cho hạt giống chọc ghẹo trong bé hay trổi dậy. Hễ thấy nó là thế nào bé cũng phải lại chọc nó hay nói chuyện với nó một chút. Nhưng bé cẩn thận, ít khi nào để cho nó cào cấu hay lên cơn tức giận. Bé chỉ chơi với nó bằng cái que, nhánh lá, làm bóng cho nó vồ, có khi vuốt ve nó một chút, thấy nó hơi nổi cơn cào cấu là bé bỏ ra ngay. Hình như từ từ nó nhận ra người ta không chơi với nó khi nó hung lên nên bắt đầu thay đổi.

Nó hay bị các sư cô rượt theo để cứu các con chuột mà nó bắt được, hay đuổi nó chạy khỏi khu vực rình rập tổ chim. Về phương diện này thì sự chuyển hóa của nó có hơi chậm một chút.

Bé hay nói với các sư cô là con Chanh chuyển hóa nhanh hơn bé rất nhiều. Khoảng hơn một tháng trước khi chết, con Chanh trở nên rất dễ thương, nó vào khóa tu 21 ngày một cách rất dễ dàng. Không thấy nó sợ hãi gì cả dù người rất là đông. Nó thường nằm ngủ trong khu trồng hoa, chỗ mấy sư cô khoanh lại bằng mấy khúc gỗ để trồng Tulip, ngủ ngay dưới đất. Mỗi lần đi ngang nó bé cứ sợ nó bị bệnh phong thấp vì hay ngủ dưới đất. Mẹ hay nói với bé như vậy. Có khi nó nằm ngay giữa đường đi, mọi người qua lại đông đúc mà nó vẫn tỉnh khô. Ai đến vuốt ve nó cũng không phản ứng gì cả, chỉ ngửng mặt lên nhìn thôi.

Một vài hôm trước đó, bé thấy nó đứng nhìn cái gì đó không biết, tính nghịch ngợm nổi lên, bé bèn đến đứng sát bên mình nó. Nó bước đi, bé bước đi theo bên cạnh, hễ nó dừng thì bé dừng, hễ nó đi thì bé đi. Có một lúc, nó dừng lại và ngửng lên nhìn bé. Chắc nó ngạc nhiên. Đi một khoảng khá dài như vậy, nó có vẻ như không biết làm gì. Rồi nó quyết định bước đến tô đựng thức ăn của nó và ăn. Lúc đó, bé mới buông tha cho nó. Bé thật là nghịch quá. Không biết làm như thế có ảnh hưởng đến trái tim bé nhỏ của nó hay không. Bây giờ nghĩ lại bé thấy có hơi ân hận.

Ngày hôm sau, bé thấy nó nằm ngoài sân nên đến chào bằng cách đưa tay ra kê sát dưới cằm nó. Nó ngửng mặt lên nhìn bé và không hề cử động gì cả, bé biết nó đáp ứng lại là vì nó hơi nghiêng mặt để cho tay bé sát vào mặt nó hơn thôi. Bé bèn nói với nó:“’You’” bây giờ giỏi quá, ‘you’ chuyển hóa còn nhiều hơn ‘me’ nữa đó.”

Vậy mà hai ngày sau, bé nghe tin nó chết. Nó nằm trong vườn hoa Glayeul đang nở trong một tư thế “rất là Chanh”. Nằm nghiêng nhưng một chân sau lại đưa lên, cứng đơ. Ai cũng thắc mắc, không biết nó chết kiểu gì mà lại như vậy. Chắc là nó bị một cú sốc, hay đột quỵ tim, đến nỗi cứ như vậy mà đi thôi, không kịp điều chỉnh lại tư thế gì cả. Mọi người đến để hoa lên mình nó, và khi ấy, bé nhận ra rằng thường ngày nó là một con mèo “lộn xộn” nhất của xóm Mới nhưng lại chiếm cảm tình của người khác nhất. Mọi người tìm cách xác định nguyên nhân cái chết của nó, có vẻ thuyết phục nhất là nguyên nhân phát xuất từ nguồn gốc lai giữa mèo nhà và mèo hoang của nó. Nghe nói những con mèo như thế thường có một trái tim rất yếu.

Con Chanh không tu nhưng có lẽ vì nó ở trong chùa, nơi mọi người đến tập hiều tập thương và tạo ra một năng lượng chánh niệm hùng hậu. Ở đây không có gì nguy hiểm cho nó, chắc bằng bản năng nó đã nhận ra được điều đó. Có lẽ những hạt giống bình an, thương yêu trong nó đã được tưới tẩm cho nên từ từ nó không cần phải cảnh giác nữa, nó đã trở nên rất ngọt ngào và thân thiện. Sự thay đổi của con Chanh là một sự thay đổi rất tự nhiên.

Cái chết của một con mèo thường thì đâu có gì quan trọng. Tuy nhiên đối với bé, đó chính là một sự nhắc nhở về một cái gì vừa có đó, lại ngay lập tức không có đó. Thỉnh thoảng bé nhớ đến nó, vẫn không tin là Xóm Mới bây giờ lại không có con Chanh. Nó quá sống động, quá linh hoạt nên bé không thể hình dung được là bây giờ nó không còn biểu hiện dưới hình thức đó nữa.

Trong khóa tu 21 ngày năm nay, Sư Ông dạy về “Chuyện gì sẽ xảy ra khi bạn chết”. Câu đó cũng có nghĩa là “Chuyện gì xảy ra khi bạn đang còn sống”. “Khi bạn chết, bạn không chết.” Cũng giống như đám mây kia, tối qua nó ở trên trời, cao ơi là cao, xa ơi là xa, bé muốn đến thăm đám mây đó thì chắc là phải mượn một chiếc phi thuyền không gian mới lên tới đó được. Vậy mà sáng nay, bé đã có thể đưa tay ra đụng vào đám mây ấy rồi. Bạn có biết tại sao không? Tại vì tối qua trời mưa, và đám mây đó đã biến thành một vũng nước nằm ở ven đường. Hôm nay bé đi thiền hành, bé đã đi ngang đó và đã tiếp xúc với đám mây trong hình thức của vũng nước được rồi. Như vậy thì đám mây đâu có chết phải không bạn. Nó bây giờ sống dưới một hình thức khác, đó là hình thức của nước. Bạn có thấy đó là một sự nhiệm mầu không?

Vậy thì khi con Chanh chết, con Chanh không chết. Đó là câu kết luận của bé dựa theo Sư Ông. Bé thấy con Chanh đã có một cuộc sống trong hình thức mèo thật là ngắn ngủi, nhưng nó đã biết tu, biết chuyển hóa. Nó đã hoàn tất những gì nó cần làm trong thời gian ngắn ngủi đó, trong biểu hiện mèo đó. Bây giờ, nó đang biểu hiện trong hình thức khác. Nó không chết. Nhưng bé phải biết cách nhận diện nó trong hình thức mới. Giống như bé đã nhận ra đám mây tối qua trong vũng nước bây giờ vậy. Thỉnh thoảng bé nhận ra con Chanh trong những cơn gió nghịch ngợm qua tán lá và cả trong sự nghịch ngợm của chính bé. Và bạn biết không, bé vẫn đang tiếp tục học cách để nhận ra những hình thức khác của con Chanh. Mời bạn cùng làm với bé cho vui.

Wake Up Asia: những giọt nước mắt hạnh phúc

 

 

Thường người ta nghĩ rằng đàn ông không khóc. Nhưng tôi đã bật khóc thật sự trước khi khóa tu “Wake Up Asia 2014″ kết thúc. Và tôi không thể không viết ra đây những cảm xúc của mình về những ngày đặc biệt mà chúng tôi may mắn được có mặt bên nhau.

Thật sự rằng tôi không có ý định tham gia khóa tu Wake Up Asia 2014 tại Thái Lan lần này bởi tôi khá bận bịu cho các chương trình nhân dịp sinh nhật Thái Hà Books lần thứ 7. Hơn nữa, khóa tu này dành riêng cho các bạn trẻ, tuổi từ 18 đến 30, trong khi tôi đã quá tuổi này lâu rồi.

Nhưng tôi quyết định đi để đưa theo 16 thành viên gia đình Thái Hà đến khóa thiền này để các bạn trẻ được nếm vị ngọt của Phật Pháp, của thiền. Bạn cũng sẽ ngạc nhiên khi không chỉ có những Thaihabookers đã đi làm và một số sinh viên, học sinh tham gia. Có 3 thành viên nhí mới chỉ tám đến mười tuổi cũng theo tôi tham gia khóa tu mà không hề có cha mẹ đi kèm. Đưa các bạn trẻ tham gia khóa tu ở nước ngoài thật hấp dẫn và có lẽ là cách “dụ” hấp dẫn nhất. Tôi vẫn luôn tin rằng cần mang đạo Phật đến với giới trẻ, rằng chúng ta cần tu tập càng sớm càng tốt.

Năm ngày của khóa tu tràn đầy niềm vui và hạnh phúc. Thật khó tin nổi khi tổng số thành viên tham dự là 450 nhưng trong đó có đến 160 quý sư thầy và sư cô lo toan chăm sóc. Điều đó có nghĩa là cứ 2 thiền sinh là có 1 quý thầy, quý sư cô kèm cặp, giúp đỡ và hướng dẫn. Tỷ lệ này thật hiếm đối với các khóa tu trong nước và ngay cả trên toàn thế giới.

Không bật khóc sao được khi tôi chứng kiến các quý thầy, quý sư cô cùng ăn, cùng sinh hoạt, ngồi thiền, thiền hành, pháp đàm…cùng với chúng tôi. Tất cả giản dị và gần gũi đến khó tin.

Mím chặt môi lại tôi vẫn bật khóc khi trực tiếp chứng kiến quý thầy, quý sư cô nấu ăn từ mờ sáng, lo sửa toilet bị hỏng, lấp đất đá làm đường đến tận 22 giờ đêm để chúng tôi có lối đi thiền hành.

Tôi không thể quên hình ảnh quý sư nhường nón, nhường mũ cho quý tu sinh cư sĩ chúng tôi đội khi đi thiền hành. Các thầy lo cho cư sĩ không quen cái nắng của đất Thái khi mới sang. Rồi những hình ảnh đẹp của quý sư khi nắm tay các em nhỏ, cười với các con, vui với các con để các con nhận được sự ân cần và chăm sóc hơn cả từ cha mẹ mình.

Nói thật nhé, tôi đã tham gia rất nhiều khóa tu ở nhiều nước trên thế giới nhưng ít ở đâu có nhiều nụ cười và cười tươi như thế này. Những nụ cười rất tươi không chỉ từ quý thầy, quý sư cô mà từ mỗi thiền sinh. Ai cũng mang những nụ cười đẹp để tặng cho bạn đạo của mình và cả cho chính mình nữa. Cả một rừng nụ cười giữa khu rừng 15 héc ta của tu viện.

Tôi thấy xúc động khi biết trong khóa tu có những vị chủ tịch doanh nghiệp, tổng giám đốc các công ty, các giáo sư đại học, bác sỹ, kỹ sư, tiến sỹ, thạc sỹ,… nhưng tất cả cùng màu áo nâu, áo lam, cùng ăn mặc rất giản dị để hòa đồng bên nhau. Tôi giật mình nhận ra rằng họ cũng đã dám hy sinh quỹ thời gian ít ỏi của mình để rời văn phòng, xa công ty, quyết đầu tư cho khóa tu này. Để thay đổi chính mình. Để được thức tỉnh và nạp năng lượng.

Tôi đứng lặng người ngắm những Phật tử tý hon mới học những lớp đầu của tiểu học mà tự mình lấy thức ăn cho vừa đủ, tự ăn trong chánh niệm, tự rửa bát. Tôi giật mình khi thấy các bé này (chứ không chỉ các anh chị trung học cơ sở hay trung học phổ thông và sinh viên) tự giác ngủ dậy sớm để tham gia thiền hành giữa núi rừng tràn ngập tiếng chim hót và cây xanh.

Tôi không thể không khóc khi chứng kiến tận mắt hai học trò của mình xuất gia. Trước giờ phút này, em Thuận quê Nam Định và em Thu Nhi  – sinh viên của tôi mấy năm trước khi còn là sinh viên của Đại học Duy Tân, TP Đà Nẵng, thành viên CLB yêu sách Thái Hà – còn gọi tôi là thầy. Còn sau khi xuất gia, các em chính thức trở thành sư chú Chân Trời Phạm Trú và sư cô Chân Trăng Chí Nguyện. Từ nay tôi gọi các em là thầy, là sư cô thay cho các em vẫn gọi tôi là thầy trước đây. Tôi nhớ rằng trong những ngày trước của khóa tu, tôi mặc đồ nâu còn các em mặc áo tràng lam, còn ngày xuất gia tôi quyết định mặc áo lam trong khi các em chuyển sang mặc bộ đồ nhật bình nâu và được nhận y vàng để đắp khi có khóa lễ. Xúc động lắm khi đổi vai. Xúc động lắm khi thấy các trò tiến bước xa hơn, nhanh hơn thầy.

Tôi đã khóc khi thấy sự thay đổi mỗi ngày của tất cả những ai có mặt trong khóa tu. Đặc biệt là 16 thành viên của gia đình Thái Hà Books đã thay đổi nhanh đến bất ngờ. Tôi xúc động khi các em khóc trong các buổi pháp đàm và sẻ chia bởi đã ngộ ra vấn đề của mình, bởi đã biết mình phải làm gì, bởi các em biết tận dụng mỗi ngày và giờ, mỗi phút và giây để thực hành lời Phật dạy. Đạo Phật không phải là để học mà để hành!

Nếu tính cả ngày đến và ngày rời tu viện, chúng tôi có đến 7 ngày ở Pakchong. Trên thực tế, có lẽ ngoài chùa Hoằng Pháp ra, chỉ có nơi đây mới tổ chức được khóa tu dài ngày cho số lượng tu sinh đông như vậy. Pháp môn mà các Phật tử thực tập ở đây là thiền, thiền trong mỗi phút mỗi giây. Mỗi thành viên tham dự khóa tu luôn nhắc mình và thực tập chánh niệm trong mỗi động tác, mỗi việc làm trong suốt những ngày này. Xúc động lắm khi nghĩ đến ban tổ chức, đến các quý thầy và quý sư cô, đến các tình nguyện viên (mà chủ yếu là các bạn Thái Lan) đã rất vất vả và dày công chuẩn bị cũng như phục vụ để mỗi ai đến đây nhận được nhiều nhất năng lượng và niềm vui.

Tôi không nhớ trong đời mình đã bật khóc mấy lần. Tháng 4 năm ngoái tôi cũng đã bật khóc trong khóa tu “Giờ đây bên nhau”. Và lần này nữa, tôi đã khóc trong hạnh phúc và cảm động. Sao mà tôi lại không khóc khi mà chính mình được wake up, được thức tỉnh cùng các bạn tu khác trong suốt 7 ngày này. Để rồi tự nhắc mình sống trong tỉnh thức mỗi ngày khi khóa tu đã kết thúc.

Tôi ngồi gõ những dòng chữ này. Tôi không khóc. Chỉ cần nhớ lại 7 ngày ở Thái Lan thôi, 7 ngày của Wake Up Asia 2014 thôi tôi đã thấy hạnh phúc và bình an lắm rồi. Hình như tôi đã nạp được một nguồn năng lượng lớn lắm thì phải. Tôi cũng muốn, thật sự muốn lan tỏa năng lượng và tình yêu thương này đến tất cả mọi người, nhất là những ai đang có may mắn đọc những dòng chữ này. Hãy mở tâm mình ra và đón nhận, bạn nhé.

 

TS Nguyễn Mạnh Hùng

Chủ tịch HĐQT kiêm TGĐ Công ty sách Thái Hà

Xem thêm hình ảnh về khóa tu Wake Up Asia 2014:

https://www.facebook.com/media/set/?set=a.739833426078770.1073741859.164494073612711&type=1

Bụt ơi!

Kính bạch Đức Thế Tôn!

Đêm nay, khi con đọc lại Sám Pháp Địa Xúc, con thấy như tìm được giọt sương  rơi trên bờ môi khô khan, thấy biển thương tràn về xua tan khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn trong lòng con. Đặt bàn tay lên ngực, con chạm được từng nhịp, từng nhịp thở đều đặn, dịu dàng và thuần chất…

Con nhắm mắt lại, thế giới bên trong con dừng lại và lắng nghe trái tim tâm tình:

“Con ý thức được rằng những vết tích khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn mà con đã có trong quá khứ vẫn còn đọng lưu trong con. Con hiểu rõ tất cả chúng có thể tàn hoại giây phút hiện tại đẹp đẽ của con.Con hiểu rõ tất cả chúng đang biểu hiện và kéo con rơi xuống vực khổ đau, chìm trong dòng chảy sầu bi một lần nữa.

Bụt ơi, con đang tập nhận diện, tập ôm ấp, tập chuyển hóa, tập Thở-Cười với chúng. Ngài đã dạy mọi thứ khổ đau, sợ hãi, lỗi lầm và giận hờn đều sinh ra từ Tâm, cũng do Tâm mà chuyển hóa. Con cúi lạy Bụt và xin thiết lập vững chãi lời phát nguyện của con: Hôm nay con nguyện sẽ tu tập tinh chuyên, gạn đục khơi trong Thân Tâm, để những vết thương ấy bắt đầu lành, không còn sưng tấy, mưng mủ nữa…”

Mỗi lúc con đi xe đạp, từng vòng từng vòng xe tiếp xúc mặt đường thì những câu từ này cũng tiếp xúc với lòng con rất nhẹ và an:

“Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm

Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm

Sám hối xong rồi, lòng nhẹ nhõm

Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong”.

Con ngước nhìn sự sống đang trổ sức tươi xanh…con nhìn thấy vạt cỏ Kusa và dấu chân Bụt in trên đường xưa mây trắng để rồi hạnh nguyện mang niềm vui đến cho người và giúp người bớt khổ trong con thêm rộng lớn.

Con xin lạy xuống trước Đức Thế Tôn – Bậc Tỉnh Thức Toàn vẹn.

Con,

Hồ Bé Linh (Chuông Mây) kính,

4/3/2014.

Thơm thảo gánh nước giếng quê

 

Chuyện được một lần hạnh ngộ với đêm giao thừa ở Làng Mai( Pháp quốc), hay là các tu viện khác ở Mỹ, Đức, Úc, Thái Lan, Hồng Kông, với tôi quả thực là chuyện chỉ có thể ở trong những giấc mơ. Ấy vậy mà cái giấc mơ ấy, trong dịp Tết Quí Tỵ (2013) vừa qua, đã dẫn đường tôi góp mặt trong buổi Thiền sư Nhất Hạnh cùng với Tăng đoàn Làng Mai quây quần với nhau tại Xóm Mới bình thơ đón giao thừa.

Nói cho chính xác hơn, là thơ tôi có mặt chứ không phải con người thịt xương bụi bặm của mình. Đấy là một bài thơ có tên “Khúc quê” tôi đã đăng trên một tờ báo Tết nào đó, đã có duyên lành lọt vào cái nhãn quan thi sĩ của thầy, để có dịp ngân lên một khúc quê nhà giữa Làng  Mai. Chẳng những thế, mà qua internet trực tuyến còn được đến với các tu viện ở nhiều nước khác.

Bình thơ đón giao thừa là một nét đẹp độc đáo trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống suốt tư nhiều năm nay ở Làng Mai. Chủ đề bình thơ đón Tết Quí Tỵ (2013) năm ấy, Thiền sư Nhất Hạnh chọn chủ đề “ Bếp lửa hồng”, bình một số những bài thơ và nhạc của các tác giả: Phạm Duy, Phạm Thế Mỹ, Nhất Hạnh, Nguyễn Nhã Tiên và Xuân Tiên. Đặc biệt thầy Nhất Hạnh đã dành phần nhiều thời lượng nói về âm nhạc của cố nhạc sĩ Phạm Duy.

Cái chất giọng văn hiền như tâm tình của mẹ nói với con của thầy đã làm tôi bồi hồi xao xuyến. Dường như gần một nửa thế kỷ xa quê, rong ruổi vạn dặm khắp mọi miền trên trái đất này, quê xứ chưa bao giờ rời xa Thầy nửa bước. Những làng Mai, xóm Thượng, xóm Hạ, xóm Mới, những hoa sen, hoa súng,hoa sim, hoa ổi, hoa chanh, những con đò, dòng sông, quả đồi , ngọn núi…, tất cả hòa tan trong máu huyết của Thầy, tất cả thần thánh cùng bước chân thiền hành của Thầy nhẹ như mây bay cùng trời cuối đất. Lời Thầy nói về cái chủ đề “ Bếp lửa hồng” nó ca dao, nó môc mạc, ruột rà, trong veo trong vắt sông suối như thế này đây:

Bếp lửa hồng tượng trưng cho sự đoàn tụ, cho sự ấm áp, cho tình thương, cho hạnh phúc. Bếp lửa đó nằm ở đâu? Nó nằm đây (Pháp), hay ở bên nhà ( Việt Nam)… Bếp lửa là hình ảnh rất thân quen. Chúng ta ai nấy đều mong muốn có một bếp lửa hồng, có một cái tổ ấm. Chính người xuất gia cũng vậy…Chất lửa phải từ trong trái tim đi ra. Đạo Bụt dạy chúng ta làm ra lửa, làm ra tình thương, làm ra sự hiểu biết. Và khi chúng ta học giáo lý Bụt thì chúng ta có thể chế tác được lửa, ngọn lửa ở trái tim chúng ta…

Bình bài thơ “Khúc quê” của tôi, Thầy nói cứ y như ở giữa lòng xứ sở quê nhà, chẳng văn hoa bóng bẩy, chẳng triết lý cao siêu, chẳng miên mật ngữ nghĩa nào. Cứ tuột tuồn tuột từ tim phổi gan ruột trôi ra, như chính Thầy là người mẹ, người chị, người em ra giếng gánh nước đêm giao thừa vậy.

Đối với văn hóa Việt Nam, hình ảnh của ngọn lửa đi đôi với hình ảnh gánh nước. Gánh nước đêm ba mươi. Có nhiều địa phương ở Việt Nam, đêm ba mươi gánh nước là một nghi lễ. Dù cho mấy cái chum, cái lu trong nhà đầy rồi thì mình vẫn đi gánh nước ở giếng như thường. Và đêm ba mươi người ta gặp nhau ngoài giếng, gánh một gánh nước cuối cùng, và người ta kể chuyện cho nhau nghe. Người ta nói hy vọng của nhau đối với một năm mới tới. Do đó gánh nước đêm ba mươi trở thành một đề tài thi ca.

Nếu chúng ta sinh ra trong thời đại mới nầy thì chúng ta nên biết là ở trong nhà ngày xưa, có người em gái, người mẹ đi ra giếng gánh nước cho đầy chum, đầy lu, đầy vại. Đó là chuyện phải làm trong ngày Tết…Lu nước ( đầy), chum nước ( đầy) tượng trưng cho những tiện nghi vật chất, nếu trong nhà đầy nước thì có nghĩa là chúng ta có nhà ở, có cơm ăn, có áo mặc, chúng ta có lương bổng đường hoàng…Điều này người nào cũng làm được. Không cần phải là người giàu. Bất cứ người nào dù nghèo cách mấy cũng có thể lấy thùng đi gánh một đôi nước về. Đó là điều bình đẳng.

Và giếng trong làng đóng vai một vị Đại Bồ Tát cung cấp nước cho tất cả dân ở trong làng mà không kỳ thị. Người giàu cũng nước đó. Người nghèo cũng nước đó. Vậy nên nhìn vào cái giếng chúng ta có thể thấy đó là một vị Bồ Tát không kỳ thị, không phân biệt, là một nguồn sống, nguồn hạnh phúc cho làng…

Theo dõi cuộc bình thơ đón giao thừa  của Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng đoàn làng Mai, tôi không thể ngăn nỗi cảm xúc đang òa vỡ. “Thầy ơi! Bài thơ con viết cũng là cho mẹ mình, chị mình. Và, cho cả con nữa. Mẹ con lúc còn sinh thời bảo rằng: Gánh nước đêm giao thừa là một mỹ tục có ý nghĩa chúc phúc cho một năm mới đủ đầy như nước đổ vào nhà. Bây giờ thì tất cả đã là người xưa. Đêm giao thừa con lại chạy ra giếng, cúi đầu vào giếng gọi tên mình thật to. Từ lòng giếng sâu tận đáy, tiếng hồi âm lại cho con là cả một thiên đường tuổi thơ. Trong cái thiên đường đó, con mãi là thằng Út nhỏ nhoi cầm đèn soi đường chạy trước cho mẹ gánh nước bao lần đêm giao thừa. Trong cái thiên đường đó, nhiều khi con nhận ra mình giông giống cái nhân vật cậu bé đứng bên bậu cửa trông ra đường ngắm mưa, đẹp như suối trong, như ánh sáng trong sách “Nẻo về của ý” của Thầy. Nghe lời bình thơ của Thầy là con đang hít thở đều đặn trong thế giới nhiệm mầu ấy. Đấy là diệu âm vô tận, hay nói khác hơn là cái đẹp hằng cửu trong ý niệm đức tin vĩnh hằng mà Dostoyevsky từng nói đến, rằng “Cái đẹp sẽ cứu rỗi thế giới”. Liệu rồi bài thơ “ Khúc quê” của con có là hạt cát trên bến sông Hằng lấp lánh một giấc mơ ?”.

Tôi lại chợt nhớ đến câu nói kinh điển của một nhà thơ phương Tây nào đó, rằng: “Những gì xuất phát từ trái tim thì đích tới là những trái tim”. Vâng, nguyên ủy của cái chân, cái thiện, cái mỹ bắt nguồn từ đấy. Một “ Khúc quê” nhỏ nhoi ấy có là gì đâu, thậm chí nó dễ bị mất hút giữa ngút ngàn rừng rừng thơ Tết. Ấy vậy mà duyên lành, cái gánh nước giếng quê thơm thảo đó có mặt giữa Làng Mai vào đúng cái giờ đón giao thừa. Nhiệm mầu hay những ý niệm bao la thuộc về siêu lý? Không, nó đích thực là: cái gì xuất phát từ trái tim thì đích tới là mọi trái tim!

NNT

 

KHÚC QUÊ

Nguyễn Nhã Tiên


Em va gàu vào giếng khuya gọi ngàn đêm

thức giấc

bếp lửa thức xa xôi rực đỏ một góc trời

ngọn gió thức ngoài đường chập chùng

cung bậc

trừ tịch thức gọi người đủ mặt lứa đôi

 

Đập vỡ thời gian hoa lửa rơi rơi

mọi ẩn nấp xô bật tường rêu nhú lời cỏ biếc

bấc se se ngập ngừng ngoài sân đợi Tết

nước tràn mái, tràn thùng, em gánh tiếp

niềm tin (*)

 

Giếng ngời ngời gương mặt của đêm

đêm cháy sáng

đêm giũ mình bóng tối

những cát bụi không còn nơi ẩn trốn

hạnh phúc từ ngực người nhuộm thắm cỏ hoa

 

Cả ngàn nhà, nước từ giếng chia ra

cười nói dội vang vang hồi âm của đất

có một thiên đường đêm ba mươi rất thật

trừ tịch chia đều mọi ngõ trầm hương

 

Khói bay trong nhà, khói bay hàng hiên

về em nhé

giao thừa đang điểm

có tiếng gàu ai bỏ quên ngoài giếng

chạm vào tôi ngân mãi khúc quê mùa .

NNT

(*) Mỹ tục người Quảng, gánh nước đêm giao thừa như chúc phúc cho một năm mới


Tranh vẽ lấy từ nguồn: www.songtho.net


Có khi nào

(Sư cô Chân Trăng Mai Thôn)

Này bạn, có khi nào bạn đang ngồi chơi trên một bãi cỏ thì bỗng nhiên có một con chim đáp xuống gần bên. Đó có thể là một con chim sẻ, một con chim sâu, hay một con bồ câu. Nó mổ mổ gì đó, chắc là ăn hạt cỏ, thật dễ thương. Nó đang từ từ đi  về phía bạn. Bạn không dám thở mạnh, không dám nhúc nhích. Bạn thích quá vì nó càng lúc càng gần chỗ bạn, tưởng như chỉ cần đưa tay ra là bạn có thể vuốt bộ lông rất óng mượt của nó. Bây giờ thì bạn không dám đến cả chớp mắt, bởi vì bất cứ một cử động nào dù là nhỏ nhất của bạn cũng sẽ làm nó hốt hoảng bay đi mất. Trong lòng bạn lúc ấy hẳn là vui lắm. Có cả một chút âu yếm, thương thương nữa. Đúng không?

Có bao giờ bạn tự hỏi mình là tại sao bạn lại thích một con thú nhỏ đến gần (hay đến gần một con thú nhỏ) như vậy? Có khi nào bạn để ý đến cảm giác thích thú, đến sự mềm đi của trái tim, đến nụ cười đang nở trên môi bạn khi đôi mắt bạn đang chăm chú nhìn nó đến gần?

Bạn có để ý không, ngoại trừ con chó mà mình nuôi ở nhà ra, không có con thú nào tự đến với chúng ta cả. À, có con mèo. Nhưng con mèo thì thất thường lắm, có khi mình kêu nó đâu thèm đến, có khi tự nó đến rồi cũng tự bỏ đi. Nói chung con mèo nó cũng đâu phải lúc nào cũng cho mình “cưng” nó.  Có thể có các con vật nuôi khác khi đã quen với mình thì nó sẽ đến với mình, hay sẽ cho phép mình đến gần chúng, thí dụ như trâu, bò, ngựa… Nhưng mà cũng tùy theo đó là con gì nữa. Thí dụ như con gà hay con vịt bạn nuôi đó, bạn thử đến gần nó mà xem. Bạn phải đuổi theo nó bở hơi tai đấy chứ. Chỉ có khi nào con gà nó nằm ổ để ấp trứng thì nó mới cam tâm cho bạn bắt thôi, vì nó không bao giờ rời ổ, ngoại trừ những lúc đi ăn và đi uống nước. Có khi nó còn không thèm ra ăn uống nữa, nó ốm o gầy mòn, mẹ bạn phải bắt nó bỏ xuống cho nó ăn uống nó mới chịu ăn. Nhưng mà nó cũng chỉ ăn qua quít rồi lại lên nằm trở lại. Bạn thấy nó có hết lòng không? Hơi bị lạc đề rồi bạn ạ, mình trở lại với việc các con thú nhé.

Các con thú hoang thì dễ gì mà mình đến gần nó được. Ngay cả con thằn lằn, con rắn mối. Con kiến và mấy con nhỏ như nó thì mình có thể bắt dễ dàng, vì chúng nó nhỏ quá, nhưng không thể nói là chúng tự nguyện đến với mình được (trừ trường hợp nó đến để ăn … mình, hay ăn đường, ăn mật dính trên tay mình), đúng không bạn? Còn mấy con lớn hơn mà mình thấy dễ thương, mình thích gần chúng như con chim, con nai, con kangooroo, con koala (là một loại gấu cù lần ở Úc) thì khó mà đến gần chúng được. Nhìn thấy những con ấy, tự nhiên mình lại thích đưa tay ra vuốt lên bộ lông chúng một cái, thấy trong lòng êm dịu lại, thấy vui, thấy tự nhiên mình mềm ra. Cũng như khi thấy một em bé, mình cũng muốn đến gần, đưa tay ra nựng một cái, muốn cười, muốn hôn má em một cái. Nhưng mà bạn cũng nên cẩn thận đấy nhé, không phải em bé nào cũng cho bạn làm vậy đâu. Có đứa còn nhìn bạn chăm chăm rồi miệng nó mếu lên, nó khóc. Thế là bạn hoảng quá, vội buông tay và đứng xa ra một chút. Bạn có nhớ không?

Tại sao vậy bạn nhỉ, tại sao chúng ta lại thích đến gần các con thú dễ thương hay đến gần một em bé? Có lẽ tại vì trong em bé hay trong những con thú ấy hoàn toàn không có sự tính toán nào cả, chỉ có một cái gì đó thật tươi mát, trong sáng, ngây thơ, hồn nhiên, tin cậy mà khi tiếp xúc, mình thấy ở trong lòng tươi mát, dễ chịu, thư giãn, không cần phải đề phòng hay đối phó gì cả. Chúng nó rất dễ thương và rất tự nhiên. Rất là thích, có đúng không bạn? Trong trường hợp mà chúng tự đến gần mình thì lại càng thích hơn nữa. Bạn nhớ lại mà xem, thí dụ như tự nhiên lúc bạn đang ngồi với rất nhiều người mà em bé không đi đến gần ai hết, nó lại đến gần bạn và cho phép bạn ôm nó, có phải là bạn thích “mê tơi” không? Bạn cảm thấy nó tin mình, nó thích mình hơn những người khác, có đúng không?

Thế nhưng dù ta có thích em bé hay thích mấy con thú ấy đến mấy đi nữa thì dễ gì chúng cho ta đến gần. Bao giờ chúng cũng giữ một khoảng cách an toàn nhất định. Có con còn không thích mình nhìn nó nữa ấy chứ. Nói gì đến chuyện cho mình đến gần và vuốt đầu nó một cái. Chẳng hạn trong trường hợp của một vài đứa con nít. Mẹ nó đang ẵm nó mà mình nhìn nó là nó dúi đầu vào ngực mẹ nó ngay. Hôm qua có một sư cô kể rằng bên tu viện Nhập Lưu ở Úc, khi các sư cô đi thiền hành thì mấy con kangooroo đứng phía bên kia cánh đồng cỏ và nhìn các sư cô. Nếu mình cứ tiếp tục đi, ra vẻ không chú ý đến chúng thì chúng sẽ đứng yên ở đó, nhưng nếu mình đứng lại nhìn chúng thì thế nào chúng cũng nhảy đi theo kiểu kangooroo. Bạn có bao giờ thấy kangooroo chưa? Chúng ít khi đi lắm, chúng chỉ nhảy thôi.

Trong mấy sở thú, có khi bạn được cho phép cầm thức ăn trên tay và mấy con kangooroo sẽ đến ăn từ tay bạn, khi ấy bạn có thể lợi dụng cơ hội may mắn ấy, dùng bàn tay đang còn rảnh để vuốt lưng hay vuốt đầu chúng một cái. Thích vô cùng. Ngoài công viên, bạn cũng có thể bỏ một vài hạt lúa vào lòng bàn tay rồi dang tay ra đứng chờ một chút, vài con chim sẽ bay đậu trên tay bạn và ăn các hạt lúa đó. Cũng rất là thích. Nhưng hơi mỏi tay một chút bạn à, bởi vì có khi phải đợi khá lâu chúng mới chịu đến. Bạn thấy đó, được tận tay tiếp xúc với mấy con thú như vậy thật là đặc biệt, đâu có dễ gì được chúng cho phép phải không bạn?

Vậy mà lại có một loại dù không phải do mình nuôi, nhưng bất cứ khi nào mình muốn đưa tay ra chạm vào cũng được. Bạn muốn ôm, muốn leo lên thân chúng lúc nào cũng được. Nói chung là bạn có thể làm bất cứ cái gì bạn thích cũng được hết. Chúng sẽ đứng yên đó, không nhúc nhích, không thở than, quá lắm thì chúng chỉ đong đưa thân mình một chút thôi. Đố bạn đó là cái gì? Cho bạn một phút để dừng lại thở và suy nghĩ đó. Bạn đừng vội đọc tiếp nhé. Thử suy nghĩ xem.

À, bạn đoán ra rồi phải không? Đó là cây cỏ, là các loài thực vật. Bạn có khi nào nghĩ  nếu các loài cây cối và thảo mộc biết bỏ chạy giống như các con thú thì khi mình đến gần chúng cũng không cho phép hay không? Thử tưởng tượng xem. Mấy cây mình tự tay trồng thì không kể rồi, cho là chúng như mấy con chó mình nuôi đi. Còn mấy cây “mình không quen” kìa. Thí dụ như bạn đi đến nhà ai đó, một công viên, hay một cánh rừng nào đó. Giả sử bạn mới quen với một đứa cùng lớp, nó mời bạn về nhà chơi, nhà nó có vườn rất rộng, lại có nuôi chó. Khi mới đến, có nhiều khả năng là con chó của nó sẽ sủa ầm lên. Con chó đó có khi nhìn rất dễ thương, nhưng nó lại không cho bạn vuốt ve. Phải một lúc sau, khi hơi quen với bạn rồi nó mới đến gần.

Ở vườn của đứa bạn mới quen, bạn thấy vô khối các cây mà bạn thích, thí dụ như mấy cây ổi, cây xoài hoặc cây mận đang có trái. Nếu mà mấy cây đó biết chạy như con chó thì chắc chắn là chúng sẽ không cho bạn đến gần đâu. Phải một thời gian sau, khi đã quen với bạn rồi thì may ra chúng mới cho bạn vuốt ve một cái. Tưởng tượng mấy cái cây đó, khi bạn đến gần chúng vội chạy ra góc vườn khác đứng, rồi khi bạn đi theo thì chúng lại chạy tiếp qua chỗ khác… Thử nghĩ mà xem… Mấy cánh rừng sẽ chạy dạt đi khi có ai đó đi vào, chỉ còn mặt đất trơ trọi, bởi vì cỏ cũng chạy theo luôn … Nhưng mà chắc là buổi tối, khi mình về rồi thì chúng sẽ trở lại, bạn có nghĩ vậy không? Nếu việc này mà là sự thật thì biết đâu chừng việc phá rừng sẽ hạn chế hơn, rừng cây sẽ có nhiều cơ hội được sống sót hơn bạn nhỉ…

May mắn thay, mấy cây đó không chạy được, thế là bạn có thể đưa tay với lấy một trái ổi. Không, bạn phải dùng móng tay bấm một cái trước đã, để coi trái ổi đó chua chưa rồi mới hái và đưa lên miệng cắn. Cây ổi không nói lời nào, cũng không có phản ứng gì. Đúng không? Ha, may thật. Có khi nào bạn nghĩ trái chính là “trứng của cây” không? Mấy cái trứng đó mình có thể đưa tay ra bứt lấy. Mình đâu thể đưa tay ra “bứt trứng” của một con gà, hay con vịt, đúng không bạn? Trong khi đó cây xoài, cây ổi, cây mận, cây dâu, chanh dây, cây chôm chôm, sầu riêng… mình có thể “bứt trứng” của chúng bất cứ khi nào mình thích, dù là “trứng” của cây chôm chôm hay sầu riêng có hơi … gai góc một chút. Bạn có thấy đó là một sự mầu nhiệm không?

Mầu nhiệm và may mắn làm sao khi tất cả các cây cối trên trái đất này đều đứng yên một chỗ. Lần sau khi bạn đến gần một cái cây nào đó, bạn nhớ nhắm mắt lại một giây bạn nhé. Chỉ một giây thôi để cám ơn cái cây đó đã đứng yên cho bạn được đến gần. Có khi bạn không đến để “bứt trứng của cây”. Bạn chỉ đến để hưởng bóng mát của nó thôi. Thật là cám ơn cái cây quá, nhờ nó đứng yên mà bạn mới có bóng mát để thưởng thức, nhất là khi bắn bi, hay chơi nhảy dây mà có một cái cây bóng mát, dưới gốc cây bằng phẳng thì thật là lý tưởng. Lần sau khi theo ba mẹ ra sở thú hay một công viên nào đó, bạn cũng nhớ làm như thế nhé. Nếu mấy cái cây ở công viên, hoa cỏ đều chạy dạt đi chỗ khác hết thì sở thú, công viên sẽ không còn là sở thú hay công viên mà bạn thấy nữa. Eo ơi, khi ấy sẽ buồn biết mấy phải không bạn.

Bạn nhớ nhé, nhắm mắt lại một giây thôi để cảm ơn cái cây mà bạn đến gần, cảm ơn chậu hoa mà bạn đứng bên để chụp hình. Nếu bạn để ý nhìn thật kỹ, bạn sẽ thấy những bàn tay trên cây đang vẫy chào bạn, còn những bông hoa thì đang mỉm cười cùng bạn đó.

(Tranh minh họa được sử dụng trong bài viết là của tác giả Wietzke Vriezen, trong tác phẩm Planting Seeds)

Một nén tâm hương

Vì vận nước nổi trôi, bất đắc dĩ chúng tôi phải rời quê hương mà đi, ngậm ngùi bỏ lại sau lưng biết bao kỷ niệm đã hằn sâu trong lòng thành những nỗi niềm…

Thông thường những ký ức êm đềm thơ mộng của tuổi thơ vẫn luôn là kho tàng vô giá được nâng niu gìn giữ trong một góc nhỏ của tâm hồn của bất cứ một ai. Song kỷ niệm đáng ghi nhớ và in lại thật đậm nét trong lòng chúng tôi lại là những tháng ngày hăng say với lý tưởng thanh cao, trong sáng, cùng các anh chị tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đi vào làng quê hàn gắn phần nào những đau thương mất mát của đồng bào do chiến tranh gây ra.

Sau bao năm xa cách quê hương, nay được về thăm quê cha đất tổ, thăm lại mái chùa xưa, lòng những nghẹn ngào xúc động. Cảnh vật giờ đã vật đổi sao dời quá lớn lao khiến ta phải ngỡ ngàng, nuối tiếc!

Đâu rồi mái chùa lá thân thương ngày xưa, và trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội nơi các thầy, sư cô cùng các anh chị tác viên đã miệt mài dấn thân cho hoài bão, lý tưởng cao đẹp.

Năm mươi năm đã trôi qua! Một khoảng thời gian của hơn nửa đời người! Về lại chùa xưa với biết bao kỷ niệm thương yêu chất chứa trong lòng, vừa đến thăm phần mộ của thầy Thanh Văn và các tác viên xã hội đã hy sinh, chúng tôi bật khóc nức nở, nhất là khi đọc tám câu thơ trong bài Đến đi thong dong của bậc Thầy khả kính được khắc ghi trên đá:

Chùa lá Pháp Vân

Gió vẫn còn bay con biết không
Khi mưa xa tiếp áng mây gần
Hạt nắng từ cao rơi xuống thấp
Cho lòng đất thấy bầu trời trong

Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản
Không tròn không khuyết một vầng trăng
.

Chúng tôi ngồi yên cho nước mắt tuôn chảy để xoa dịu những nỗi đau đã âm thầm đè nén chất chứa bao năm qua. Thả hồn quay về kỷ niệm xa xưa, cách đây năm mươi năm…

Ngày ấy quê hương còn tan tác bởi chiến tranh, tuổi trẻ chúng tôi lạc loài, bơ vơ, mất phương hướng. Những người an phận, không lý tưởng thì cứ an nhiên vui sống. Riêng lũ chúng tôi với niềm thao thức băn khoăn cho tương lai của dân tộc và đạo pháp thì thật khổ đau, trăn trở và mong muốn được đóng góp tâm huyết của mình cho quê hương.

May mắn thay cho chúng tôi lúc ấy, một quyển sách quý được truyền tay cho giới trẻ và là tiền đề cho sức bật của sự dấn thân của tuổi trẻ chúng tôi, nhất là các anh chị tác viên thanh niên phụng sự xã hội, quyển “Nói Với Tuổi Hai Mươi” của Thầy. Đó chính là một chiếc phao cứu chúng tôi giữa cơn chết đuối!

Một luồng sinh khí mới đã thổi đến giới trẻ khiến đôi mắt chúng tôi bỗng sáng lên, đôi vai như rắn chắc, bền vững hơn, sẵn sàng lăn xả, dấn thân đi vào thôn xóm bị tàn phá bởi chiến tranh để giúp đồng bào gầy dựng lại cuộc sống.

Các anh chị tác viên xã hội dấn thân trực tiếp với dân làng, đi sâu sát để giúp người dân dựng trường, xây lớp cho con em có nơi học tập, chỉ bảo cách trồng lúa cho tăng năng suất, cách chăn nuôi gia súc theo phương pháp mới để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn nhằm cải thiện cuộc sống đang rất khó khăn vì chiến tranh triền miên.

Chúng tôi là thân hữu của Trường nên luôn sát cánh với các anh chị bằng cách đi xin học bổng của bạn bè và những vị mạnh thường quân giàu của, giàu lòng. Chúng tôi luôn giới thiệu và nhắc nhớ đến mọi người đang có một nhóm các anh chị tác viên Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, là đệ tử của Thầy Thích Nhất Hạnh đang âm thầm đi xây dựng lại thôn làng sau cuộc chiến.

Càng ngày số người cho học bổng càng đông, tuy số tiền giúp không nhiều vì đa số là những Phật tử nghèo có lòng, nhưng người ta đã hiểu và biết đến hoạt động của Trường.

Các học viên của Trường TNPSXH

Những tưởng những hoài bão cao đẹp, những âm thầm dấn thân cho đồng bào dân tộc sẽ được mọi người thương yêu, ngưỡng mộ. Ai ngờ bóng tối của vô minh quá lớn, nghi ngờ và sợ hãi đã chiếm ngự cõi lòng con người quá nhiều. Hậu quả là mạng sống của một số các anh chị đã bị sự vô mình ấy cướp đi cùng những hoài bão thanh cao, trong sáng của họ trong những ngày tháng 4, tháng 6 và tháng 7 năm 1967.

Và để rồi chị Nhất Chi Mai, người chị cả đáng yêu và trân quý của dòng Tu Tiếp Hiện đã phải đem thân mình làm đuốc sống để gióng lên tiếng nói lương tri của con người, mong  mọi sự giết chóc dừng lại, để máu xương dân mình thôi đổ, trong đó có một phần xương thịt của các anh, các chị.

Đã gần năm mươi năm trôi qua, mỗi năm các anh chị Tiếp Hiện cựu tác viên TNPSXH đều tổ chức lễ Hiệp kỵ cho các anh, chị đã hy sinh cho lý tưởng phụng sự. Năm nay, ở phương trời xa, không về được để dự lễ, chúng tôi xin mạo muội viết đôi dòng như một nén hương thành kính dâng lên các anh, các chị để tự nhắc nhở mình và để cho giới trẻ ngày nay hiểu rằng: vì quê hương yêu dấu, vì hoài bão cao đẹp, vì thiết tha tâm huyết đi băng bó những đau thương, mất mát cho đồng bào ruột thịt, các anh, các chị đã hy sinh thân mình khi tuổi đang độ thanh xuân, tràn đầy nhựa sống.

Tinh thần phụng sự, cách sống đầy tình thương, đầy trách nhiệm, luôn luôn sẵn sàng hy sinh thân mạng cho lý tưởng phụng sự cao đẹp của các anh chị thật đáng cho tất cả chúng ta hãnh diện, ngưỡng mộ và noi theo.

Chúng tôi nguyện sẽ luôn gìn giữ thật bền bỉ và truyền mãi ngọn lửa phụng sự, thương yêu đến giới trẻ sau này và mãi mãi… như là phẩm vật dâng lên các anh chị nhân Lễ Hiệp kỵ.

Thành kính nghiêng mình trước hương linh các anh các chị

Chân Bảo Nguyện (chanbaonguyen.blogspot.com)

Ta có là ta, ta mới đẹp

Thư pháp “Ta có là ta, ta mới đẹp” do Sư Ông Làng Mai viết là một đề tài thực tập rất sâu sắc cho mỗi chúng ta. Nó giúp chúng ta chấp nhận cả hai mặt tài năng và yếu kém của chính mình. Nếu chúng ta chấp nhận được mình, chúng ta biết mình là ai thì chúng ta cũng chấp nhận được người khác và biết được người khác là ai. Chúng ta sẽ có thái độ khiêm cung với cả những tài năng lẫn yếu kém của mình. Với tài năng, chúng ta giữ gìn và phát triển. Với yếu kém, ta nhận diện và chuyển hóa. BBT xin giới thiệu đến các bạn cái thấy rất chân tình của một bạn trẻ về đề tài này. Tuy rằng chúng ta còn một con đường rất dài trước mặt, nhưng cái thấy này là một bước mở đầu quan trọng trong việc chấp nhận chính mình.

Thiền hành cùng quý thầy, quý sư cô ở EIAB

Tôi vừa tham dự một khóa tu 4 ngày có đề tài “Mindful Leadership” (từ 24.4.14 đến 27.4.14) tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB, Waldbroel, Đức), do thầy Pháp Nhật và Federico Pagni hướng dẫn. Trong ngày đầu tiên của khóa tu, thầy đề nghị mỗi thiền sinh chia sẻ về một điều gì đó mình làm tốt nhất hoặc một tính cách nào đó của mình mà mình thấy tự hào. Đến lượt tôi, tôi chia sẻ với mọi người rằng tôi là một người thành thật. Tôi luôn cố gắng sống thật với chính mình và với tất cả mọi người. Tôi chỉ nói những gì tôi thật sự nghĩ. Và tôi tự hào về điều đó.

Thực ra có lúc tôi cũng hoang mang với chính mình. Trong xã hội cạnh tranh khốc liệt hiện nay, nhiều người nói “thật thà là cha đứa dại, là ông ngoại đứa ngu”. Một số người cho rằng phải biết sống “khôn khéo, luồn lách” mới thăng tiến, mới thành công được. Những người thật thà là những người suốt đời chịu thiệt thòi thôi. Có lần tôi chia sẻ băn khoăn này với một người bạn thân. Bạn ấy bảo: “Châu chân thật và nhiều khi trẻ con. Cái gì cũng có hai mặt. Không phải ai cũng giữ được sự trong sáng và hồn nhiên như Châu đâu.” Tôi ậm ừ, nhưng trong lòng vẫn trăn trở. Liệu tôi có nên thay đổi, có nên khôn lanh hơn không?

Và rồi tôi tìm được câu trả lời cho những day dứt ấy trong 4 ngày ở EIAB. Đây là lần đầu tiên tôi đến EIAB, nhưng chỉ sau một ngày tôi đã cảm thấy nơi đây gần gũi và thân thương lắm. Bởi vì các thầy, các sư cô ở đây đối xử với tôi như người nhà, như một người em sau nhiều năm gặp lại, chứ không phải như với người mới gặp lần đầu. Suốt khoảng thời gian tu học và sinh hoạt ở EIAB, một cách rất tự nhiên, tôi đã được trở về với chính mình. Có lẽ vì khi người ta có cảm giác là người ta đang ở nhà (I am home), người ta có khuynh hướng sống thật với chính mình nhiều nhất. Tôi cảm thấy vô cùng thoải mái, dễ chịu, và bình an trong thời gian ở EIAB.

Hôm cuối cùng ở EIAB, tôi có tham gia một buổi pháp đàm với các sư cô. Tôi chia sẻ là tôi cảm thấy an vui và hạnh phúc rất nhiều ở EIAB. Một sư cô nói: “Không chỉ EIAB mang lại hạnh phúc cho em đâu. Chính em cũng đã mang lại rất nhiều niềm vui cho mọi người trong thời gian em ở đây.” Một sư cô khác nói: “Con (ở đây các thầy và sư cô đều xưng “con” khi giao tiếp với người khác) rất thích sự hồn nhiên và trong sáng của Minh Châu. Rất là dễ thương!” Trước khi tôi về, một sư cô kéo tôi lại bảo: “Chị (sư cô xưng hô như vậy thôi chứ thực ra sư cô đã đứng tuổi) cứ giữ mãi tính cách chân thật này nhé! Đáng yêu lắm!” Trước khi chia tay ra về, một người bạn cùng tham dự khóa tu đã nói với tôi: “You’re wonderful! Don’t forget it!”

Thầy Pháp Nhật, người cùng tham gia hướng dẫn khóa tu, cũng nói với tôi rằng: “Thầy chưa gặp một người Việt trẻ nào đặc biệt như con. Con luôn có đủ can đảm để thể hiện suy nghĩ, quan điểm của mình, để bộc lộ cảm xúc thật của mình.” Và thầy tặng tôi món quà chia tay là một bức  thư pháp do chính tay thầy viết: “Be beautiful, be yourself”.

Các bạn, mỗi người chúng ta là một thực thể duy nhất trên thế giới, không ai hoàn toàn giống ai, dù là anh chị em sinh đôi. Mỗi người trong chúng ta đều có những vẻ đẹp riêng. Vì thế, hãy luôn là chính mình, sống thật với bản thân và với mọi người, “be beautiful, be yourself”, các bạn nhé!

Chúc các bạn luôn nhìn thấy vẻ đẹp riêng của mình và hoàn thiện vẻ đẹp đó từng ngày!

Bùi Thị Minh Châu

Pháp thoại cần tham khảo về đề tài “Ta có là ta, ta mới đẹp”: http://langmai.org/phapduong/phap-thoai-phien-ta/chap-nhan-chinh-minh-va-cau-than-chu-thu-6

Một gia đình với hai tấm lòng Phật – Chúa

Tôi vừa bước xuống cầu thang thì anh Tài, quản lý quán ăn chay thực dưỡng Liên Hương cho biết có hai cô chú đang chờ tôi. Tôi tiến lại gần thì nhận ra một cặp vợ chồng rất hạnh phúc đang nở những nụ cười hiền từ và thân thiện chào đón tôi. Họ gọi tôi là “thầy” và rất khiêm nhường cám ơn những bài viết của tôi trên những tờ báo mạng.

Thì ra hai vợ chồng biết đến quán chay dinh dưỡng này nhờ bài viết mới đây của tôi. Hóa ra bác Phong là “đệ tử” của thiền sư Thích Nhất Hạnh dù chưa một lần gặp mặt. Ngạc nhiên hơn nữa khi tôi biết rằng bác và người vợ yêu quý của mình, bác Ly, sống với nhau từ năm 1976 đến nay mặc cho người là con Phật, người là con Chúa.

Bác Ly nói liên hồi những lời cám ơn tôi vì những bài viết về đạo Phật. Bác hết mình khen ngợi thầy Thích Nhất Hạnh, bởi những cuốn sách hay và cách hướng dẫn thực tập giản dị của thầy. Tôi giật mình khi thấy một người theo đạo Chúa mà ca ngợi một vị sư Phật giáo như vậy và lại biết rất rõ những bài viết của tôi, một Phật tử.

Tâm sự với hai bác, tôi tìm ra nguyên nhân của hạnh phúc trong một gia đình hai tôn giáo này. Hóa ra cả hai đều quan niệm rằng tôn giáo không thể làm mất hạnh phúc gia đình, rằng tôn chỉ của tôn giáo luôn là tình yêu thương.

Chiều nay tôi gọi điện đến thăm hai bác. May thay tôi có được số điện thoại của cả hai người để có hai cuộc nói chuyện riêng đầy thú vị.

Bác Phong kể rằng mẹ bác là một Phật tử, quy y tại chùa, có pháp danh và tại nhà có thờ một tượng Phật nhỏ. Bác tâm sự rằng mới biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh cách đây có hơn ba năm sau khi tình cờ mua được cuốn “Nẻo về của ý”. Đọc thấy hay, dễ hiểu nên mua tiếp những cuốn khác của thiền sư về đọc. Rồi bác liên tục vào trang nhà Làng Mai. Rồi bác biết đến các bài viết của tôi. Cứ thế lần mò ra để đọc thêm nhiều cuốn sách của thầy Nhất Hạnh. Cứ vậy đọc hết tất cả các bài viết của tôi trên mọi tờ báo trên internet. Bác tâm sự rằng, sự thay đổi thật lớn lao.

Bác Phong cho biết rằng vợ bác đi nhà thờ đều đặn mỗi cuối tuần. Bác hay kể những câu chuyện Phật giáo, những nội dung hay từ những cuốn sách. Thấy bác gái thích thú, bác cứ thế kể tiếp. Trước đây bác Ly không biết gì về Phật giáo nhưng bây giờ bác ấy đã khá rành. Quý hóa vô cùng.

Tâm sự với bác Phong, bác thú nhận rằng trước đây hay hờn, giận, nóng tính, bực tức, và tự làm khổ mình. Tuy nhiên nhờ những cuốn sách của thiền sư Thích Nhất Hạnh bác đã dần tự chuyển hóa mình, giúp mình tự thay đổi bản thân và thấy sống bình an, hạnh phúc hơn hẳn.

Bác nói khá nhiều về tôi, rằng khi mới gặp cũng ngại, bởi những vị tiến sỹ hay chủ tịch thường không dễ gần. Bác nói rằng chính sự ăn mặc giản dị của tôi làm cho bác thấy gần gũi và tiếp xúc thoải mái hơn hẳn. Bác cũng bất ngờ khi tôi gọi điện nói chuyện, cứ tưởng tôi chỉ xin điện thoại chơi vậy mà thôi. Tôi giật mình: Thì ra cách ăn mặc mộc mạc, giản dị cũng có nhiều cái lợi khi giao lưu bên ngoài.

Trong khi nói chuyện với bác Ly, tôi chủ yếu nghe những nụ cười nhẹ nhàng rất dễ thương và những âm thanh “dạ dạ, thưa thầy…”. Nếu không tu tập nghiêm túc làm sao có thể có những nụ cười vui, nhẹ nhàng và tràn đầy năng lượng đến vậy. Bác kể rằng trong gần 40 năm chung sống, không tránh khỏi những lúc này khác. Tuy nhiên vào những lúc đó bác luôn cầu nguyện Phật và Chúa che chở và giúp bác vượt qua.

Bác Ly tâm sự với tôi rằng từ ngày biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh, chồng bác bớt nóng tính hơn hẳn. Bác Phong đã thật sự biết nhẫn nhịn, biết mang lại niềm vui cho cuộc đời và những người xung quanh. Bác bảo rằng bác rất ấn tượng với câu nói của tôi được đăng trên báo, rằng nếu yêu thương ai đó thì phải mang niềm vui cho người ta, phải để cho người mình thương được hạnh phúc. Câu nói này nghe ra có vẻ rất giản đơn nhưng làm thay đổi cả gia đình bác. Tôi giật mình.

Điều mà bác Ly tâm huyết nhất trong đạo Phật là luật nhân quả. Bác đã biết rằng nếu gieo nhân gì sẽ gặt quả đó. Bác tâm sự rằng, chính bác đã phát hiện ra mình trồng mấy cây ớt. Ớt thì lại cay. Và bác đã quyết tâm nhổ mấy cây ớt đó đi để trồng xoài. Bây giờ bác đang thu hoạch xoài ngọt. Bác chia sẻ thêm rằng vào chính lúc này bác đang chăm sóc ba đứa cháu của mình. Vui lắm. Bác lấy “xoài ngọt” cung cấp và nuôi dưỡng các con, cháu mình.

Bác Ly nói rằng hai bác đã xem kỹ đĩa “Hoa mặt trời” do tôi tặng. Bác bảo: Phật hay Chúa thì vẫn là một mà thôi, vẫn dạy chúng ta sống trong yêu thương. Bác nhắc lại là bác đã nghe tôi nói trong đĩa rằng tôi đã từng đến nhà thờ nghe cha giảng và sau này mới là Phật tử. Vậy nên dù là con Phật hay con Chúa thì quan trọng nhất vẫn là sống tốt, sống thiện.

Khi gõ những dòng chữ này tôi vẫn nhớ như in khuôn mặt hiền từ của hai bác. Tôi vẫn thấy văng vẳng những nụ cười và giọng nói hiền từ, khiêm nhường của hai bác. Tôi vẫn nhớ câu cuối cùng trước khi tắt máy “Con gái tôi cũng lấy chồng Phật giáo đấy thầy Hùng ạ. Mà chúng nó hạnh phúc lắm”.

Tôi mỉm cười thật tươi và vào phòng thờ Phật thắp một nén hương thơm. Cầu mong cho xã hội có thêm nhiều gia đình hạnh phúc như vợ chồng hai bác Phong – Ly. Cầu mong cho Phật Pháp nhiệm màu lan tỏa khắp năm châu. Con thành tâm kính lễ Đức Phật và các quý thầy, nhất là thiền sư Thích Nhất Hạnh. Bao cuộc đời đã được đổi thay rồi. Con mừng quá đi thôi.

 

 

Thiện Đức Nguyễn Mạnh Hùng