Mẹ – Nguồn thương yêu

Hôm qua, tôi gọi điện về nhà, cô Lành bạn mẹ nói rằng thần sắc của mẹ tôi khá hơn nhiều lắm, tươi lên và vui hơn, chứ trước đó thì không được vậy. Nghe vậy. trong lòng tôi vừa vui vừa xót xa, không biết thiếu tôi bên cạnh ai sẽ chăm sóc mẹ? Những người xung quanh liệu có chăm sóc mẹ kỹ giùm tôi không? Tôi nhớ mỗi lần tôi bị bệnh, dù chỉ một chút xíu thì mẹ cũng lo lắng và vội vã đưa tôi đi khám bác sĩ. Mẹ nhân từ và rất đỗi dịu dàng, mẹ luôn trấn an tôi bằng ánh mắt hiền dịu.

Tôi cũng chưa thấy ai hiếu thảo như mẹ, bà ngoại bị bệnh phải đi bằng xe lăn, mẹ hết lòng chăm sóc bà từng miếng cháo ngụm nước. Hằng đêm mẹ cứ phải thức canh chừng bà, đêm nào mẹ cũng phải thức giấc ba bốn lượt để thay tã cho bà. Mẹ đối xử với an cũng bằng tấm lòng nhân ái và khiêm hạ.

 

Tôi biết sự đi tu của tôi làm mẹ hạnh phúc mà cũng đồng thời làm mẹ héo dần vì phải xa con, vì một sự quyết định quá đỗi mau chóng. Tôi chạnh lòng thương mẹ, thương mình. Nhưng tôi biết đây là con đường thoát khỏi ngục tù của sợ hãi, khổ đau, mờ mịt cho tôi và mẹ. Mẹ là người mẹ cách mạng đã cho tôi đi tu và tôi sẽ giữ gìn hành động cách mạng này cho tôi, cho mẹ. Sự quân bình và hạnh phúc trên con đường của tôi mẹ tôi đều nhận được hết, tôi thế nào thì mẹ tôi thế ấy. Và vì thế tôi xin nguyện sẽ sống có hạnh phúc, là một người có hạnh phúc và thực hiện chí nguyện trong mỗi giờ, mỗi phút cho ba, cho mẹ!

Mẹ là khung trời bình an của tôi, và tôi cũng là điểm tựa của cuộc đời mẹ. Tôi luôn tự hứa với lòng là sẽ tu cho mẹ và cho cuộc đời. Bên dòng chảy tâm linh, tâm lắng lại an trú trong hơi thở tôi mỉm cười chắp tay nguyện cầu chư Bụt gia hộ cho mẹ được bình an.

Đường táo và đường Quyên

rung taoĐƯỜNG TÁO

Đường táo là con đường mòn nhỏ đi xuyên qua rừng táo. Rừng táo là một khu vườn rộng chừng 3 mẫu tây nằm sau lưng Viện Vô Ưu, được bao quanh bằng một vành đai rừng cây thưa nhưng cổ kính. Nói là rừng táo nhưng thực ra ngoài cây táo cũng còn có vài cây hồ đào do những người trẻ trong phong trào Wake – Up trồng năm ngoái, còn có vài cây anh đào và vài cây lê nữa. Lối mòn này chắc chắn là được tạo nên một cách vừa ngẫu nhiên vừa có chủ ý. Ngẫu nhiên là vì nó hình thành theo cảm hứng của người đi dạo vườn táo. Chân bước theo hơi thở. Tâm ý, ánh mắt và các cơ quan có khả năng cảm nhận khác đều để cả vào bước chân; để vào những dáng thân cổ kính, dáng hoa thanh thoát tự nhiên; và để cả vào ý thức về sự xúc tiếp hân hoan đó chứ đâu có chủ ý dùng cái sức lực mong manh của đôi chân quê mùa ấy mà tạo đường tạo lối trên mặt đất mông mênh oai hùng này! Những đôi chân cứ theo cái cảm quan vô tư mà đi, cứ theo cái an tĩnh hồn nhiên mà dừng… lần này qua lần khác, người này qua người khác… cuối cùng một lối mòn bỗng biểu hiện như tự ý nó muốn ghi lại những dấu chân cẩn trọng ấy. Nhưng nếu nói ngẫu nhiên thôi e rằng không đủ, mà còn có cả chút chủ ý nữa. Nhìn từ chùa Đại Bi, thảm cỏ của khu rừng táo uốn lượn mềm mại như một tấm lụa xanh điểm bồ công anh vàng và  cúc dại trắng. Lối mòn này bọc quanh những đám hoa vàng và những đám hoa trắng ấy. Những đôi chân không muốn dẫm lên những đám hoa tươi đẹp kia nên đã cố tình tránh ra mà đi vòng quanh. Một đôi chân muốn gìn giữ, nhiều đôi chân muốn che chở, lần này qua lần khác, ngày này qua ngày khác… lối mòn hình thành theo chủ ý giữ gìn và che chở ấy. Vậy là có chủ ý đàng hoàng rồi chứ gì nữa? Và vì lối mòn ấy loanh quanh trong rừng táo nên gọi là Đường Táo.

 

Những ngày ở Viện Vô Ưu, tôi hay rong chơi theo Đường Táo. Trước khi vào Đường Táo bạn sẽ đi ngang qua hai gốc táo cổ thụ. Tôi không biết đếm tuổi cho hai gốc táo này, nhưng nhìn cái dáng bề thế và hiên ngang của chúng thì tôi không dám cho mình già dặn hơn, nên tôi thường cúi mình chào hai người anh ấy. Gốc cây tôi ôm vừa chặt, những cành lớn chỉ còn trơ lại khúc xương mục. Nhưng lạ thay, từ cái thân cằn cỗi và những khúc xương khô mục ấy, những tán hoa trắng năm cánh điểm hồng tươi tắn và trẻ trung đến độ làm người ta lúng túng khi muốn dán cho chúng cái nhãn trẻ hay già. Trẻ ư? Gốc cây cổ kính như không còn chút sức sống kia mà trẻ ư? Thân cây sù sì nứt nẻ không còn chút da, để rêu cỏ phong kín từng mảng lớn ấy mà trẻ ư? Nhưng già thì sao những bông hoa hồng phấn kia lại tươi đến vậy? Những bông hoa ấy vui tươi đến nỗi làm cho ai có cảm giác rằng mình là kẻ già cỗi bỗng thấy cái cảm giác ấy vô lý một cách không giải thích được. Tôi thường lắng nghe bài học vô thường trong những lần đi vào Đường Táo ấy.

Cánh hoa táo đầy đặn nhưng không thô. Khi còn chưa nở, nó mang màu hồng thật tươi. Nhưng khi mặt trời ươm chín cái hồng ấy thì cánh táo nở ra, trả bớt màu hồng cho mặt trời, chỉ giữ lại một chút thật nhạt ở cánh ngoài như muốn giúp người ta phân biệt chúng với hoa lê, vốn thuần màu trắng. Những ngày cuối xuân, những cơn mưa thêm với gió đã mang những cánh hoa ấy trải trên thảm cỏ xanh vốn đã lấm tấm vàng bồ công anh và trắng cúc dại thêm một lớp mỏng màu hồng phấn làm cho những đôi chân đi trên Đường Táo phải dừng lại lâu hơn. Nhạc sĩ Hoàn Nguyên trong Bài Ca Hoa Đào cũng đã nói về hình ảnh đó: “Ai lên Xứ Hoa Đào đừng quên bước lần theo Đường Hoa. Hoa bay đến bên người, ngại ngần, rồi hoa theo chân ai”. Hoa đào cũng có màu hồng, nhưng hồng đào không nhẹ nhàng và thanh thoát như hồng táo, hồng đào đậm đà và có vẻ như thiếu một chút vô tư. Nếu không như vậy thì tại sao hoa đào lại theo chân người vào Xứ Hoa Đào? Hoa táo ở Đường Táo không ngần ngại khi có người nhìn ngắm mà cũng không theo chân người mà rời Đường Táo. Hay là do những đôi chân vào Đường Táo cũng nhẹ nhàng và thanh thoát như hoa táo? Tôi muốn mời nhạc sĩ Hoàn Nguyên một lần vào Đường Táo. Và tôi tin rằng một khi đã vào Đường Táo, nhạc sĩ Hoàn Nguyên sẽ không còn hài lòng với đoạn kết trong ca từ Bài Ca Hoa Đào của mình: “Lạc dần vào quên lãng rồi Đường Hoa lặng bước trong lãng quên”. Nếu có dịp, tôi cũng sẽ hân hạnh cùng nhạc sĩ Hoàn Nguyên trở lại Đường Hoa ở Xứ Hoa Đào của nhạc sĩ. Nhưng đó là chuyện sau này, bây giờ tôi tạm rời Đường Táo, tôi đưa bạn đi vào một con đường khác, Đường Quyên.

ĐƯỜNG QUYÊN

hoa do quyenĐường Quyên, nghe có vẻ như là tên của một nhân vật nữ trong tiểu thuyết của Quỳnh Dao hay truyện kiếm hiệp của Kim Dung quá phải không? Trong một tiểu thuyết dài của một nhà văn trẻ Trung Hoa viết về những vùng bí ẩn của văn minh cổ Tây Tạng và Maja có một nhân vật nữ cũng tên Đường Quyên, nhưng Đường Quyên mà tôi sắp đưa bạn đi dạo đây không phải là nhân vật nữ này của nhà văn Hà Mã, mà là một con đường hẳn hoi. Đường Quyên là những con đường mà hai bên có nhiều hoa đỗ quyên. Không những nhiều, hoa đỗ quyên ở những con đường này thật đẹp, thật lạ, thật… nên gọi là Đường Quyên. Ngoài Đường Táo ra, ở Viện Vô Ưu chỉ có Đường Quyên. Bạn sẽ hỏi tôi rằng phải chăng ở Viện Vô Ưu chỉ có 2 con đường. Và chắc chắn là tôi sẽ khó mà tìm đủ lý do để cho bạn một câu trả lời phủ định. Ngoài những chương trình sinh hoạt và làm việc, tôi thường cùng anh em đi dạo. Và ở Viện Vô Ưu, ngoài Đường Táo thì chỉ còn Đường Quyên cho mình đi dạo mà thôi. Những ngày đầu ở Viện Vô Ưu, tôi đã có cái nhận định này, những lúc ấy tôi còn tự cười mình, cho rằng chỉ vì mình quá thích hoa đỗ quyên nên mới cho điều ấy là đúng. 1 tháng qua, tôi đã cùng anh em đi dạo không biết bao nhiêu lần, qua nhiều con đường… và tôi không thể tìm được một ngõ ngách nào để ra khỏi Đường Quyên.

Công việc đầu tiên tôi làm ở Viện Vô Ưu lần này là tỉa cây. Và cành cây đầu tiên tôi cắt là một cành đỗ quyên, vườn cây tôi hoàn thành đầu tiên cũng là một vườn đỗ quyên. Lưng chừng núi Bạch Mã, một trong những rừng quốc gia lớn nhất Việt Nam có một con thác cao tới hơn 40 mét. Nước đổ xuống những gờ đá tung bọt trắng xóa. Vách đá ấy chỉ có một lối nhỏ dẫn xuống. Lối đi này hoàn toàn không có bậc thang, chỉ có mong manh và nguy hiểm. Vậy mà biết bao kẻ đã không ngần ngại sự mạo hiểm mà lần xuống tận chân thác dù trước đó đã mất 4 tiếng đồng hồ leo lên từ chân núi. Tôi cũng một lần mạo hiểm xuống chân ngọn thác này chỉ để thỏa mãn sự tò mò của mình. Con thác này tên là thác Đỗ Quyên, và nghe nói, dưới chân thác có một loài hoa đẹp tên là hoa đỗ quyên. Đó là chuyện hơn 10 năm trước, tôi cùng vài người bạn mạo hiểm trong cái màn mù trắng xóa của con thác Đỗ Quyên ấy để sau đó được chiêm ngưởng những bụi hoa đỗ quyên. Đó là những khoảnh khắc thật đẹp. Có lẽ do sự mạo hiểm ấy mà sau này tôi thích hoa đỗ quyên. Những bông hoa đỗ quyên đầu tiên lưu lại trong ký ức tôi có màu đỏ thẫm, trông buồn và u uất. Nhưng khi có ánh mặt trời, chúng trở nên rạng rỡ lạ thường. Sau này tôi được thấy hoa đỗ quyên dưới nhiều màu sắc và hình dạng khác nhau. Một lần tôi mua được một chậu đỗ quyên để chưng trong phòng vào dịp Tết, tôi cón nhớ niềm hạnh phúc đó. Mấy năm trở lại đây, năm nào tôi cũng chưng đổ quyên trong phòng vào dịp Tết. Nhiều anh em tôi cũng đã làm như tôi.

Đỗ quyên Pháp cũng như đỗ quyên ở Việt Nam, chỉ có vài màu và hiếm hoi mới có một chậu đẹp. Lần này ở Viện Vô Ưu, tôi được biết thêm một thế giới khác của đỗ quyên với thật nhiều màu sắc và chủng loại khác nhau. Vì vậy mà từ ngày đầu tôi đã có cái cảm tưởng là con đường nào tôi đi qua cũng có đỗ quyên. Và vì con đường nào cũng có đỗ quyên nên tôi không thể không gọi những con đường tôi đi là Đường Quyên. Bụi đỗ quyên tôi tỉa giờ đã cho hoa, màu cam, cánh đơn, mong manh nhưng rực rỡ. Vườn đỗ quyên ấy còn cả một bụi hồng, một bụi tím, một bụi trắng, một vụi vàng và một bụi đỏ tươi nữa. Đỗ quyên tôi biết trước đây là đỗ quyên đơn, cánh mỏng và một chồi chỉ cho một hoa. Đỗ quyên ở Viện Vô Ưu có những loại cánh kép, một chồi, nhưng cho nhiều hoa. Có chồi đến cả hơn mười hoa. Cũng lần đầu tiên tôi được một bụi đỗ quyên che nắng, điều mà tôi chưa hề dám mơ. Có khi nào bạn tin rằng bạn trú nắng dưới một cây nấm rơm? Có chăng là trong truyện cổ tích. Vậy mà tôi đã ngồi đọc sách cả buổi trưa dưới một bụi đỗ quyên tím nhạt.

Quanh Viện Vô Ưu là những khu biệt thự thật đẹp. Mỗi nhà đều có một khu vườn nhỏ và khu vườn nào cũng có những bụi đỗ quyên. Đa số những ngôi biệt thự này đều không có tường thành kiên cố, thay vào đó là những hàng cây. Có nhà làm hàng rào bằng tùng, có nhà làm hàng rào bằng gỗ, và cũng có nhiều nhà làm hàng rào bằng những giậu hoa đỗ quyên. Tôi không dám nghĩ rằng người ta có thể trồng hoa đỗ quyên để làm hàng rào. Bạn đừng tưởng tôi cho rằng làm hàng rào là không đáng với vị trí của đỗ quyên. Điều tôi muốn nói là tôi quá hạnh phúc khi thấy đỗ quyên được có thêm một thuộc từ mới, không chỉ còn là cây đỗ quyên, bụi đổ quyên mà là giậu đỗ quyên. Giậu đỗ quyên, nghe sao thân thiết! Tôi nhớ thi sĩ Quách Thoại với cái niềm hạnh phúc của đóa thược dược đứng bên giậu dâm bụt. Tôi nghĩ là thi sĩ Quách Thoại sẽ không chỉ cúi đầu trước những đóa thược dược nếu cái giậu ấy là giậu đỗ quyên.

Tôi đã đi qua Đường Quyên không biết bao nhiêu lần, và lần  nào tôi cũng khám phá ra rằng mình chưa biết đủ về Đường Quyên. Mỗi khi đi vào rừng, tôi đều đi qua Đường Quyên. Từ cư xá ra sân cũng đi qua Đường Quyên. Đi xuống phố ăn kem cũng đi qua Đường Quyên. Đi ra sân chơi thể thao tôi cũng đi qua Đường Quyên… Mùa này đúng vào mùa hoa đỗ quyên cho nên những Đường Quyên càng rực rỡ và vui tươi.

Mùa này không còn là mùa hoa táo, nhưng lối mòn trong rừng táo vẫn còn mới vì những bàn chân đi qua Đường Táo vẫn cẩn trọng và vô tư. Tuy tôi chưa khám phá hết Đường Quyên, nhưng phải chăng vì vậy mà Đường Quyên đối với tôi khi nào cũng mới mẻ và thân thuộc?

Bạn vừa rong chơi nơi Đường Táo và Đường Quyên của Viện Vô Ưu. Cùng với Đường Tùng ở Sơn Hạ, Đường Mận ở Xóm Hạ… ta thêm vào gia tài “Những Con Đường Đi Vào Huyền Thoại” thêm hai con đường khiêm tốn: Đường Táo và Đường Quyên.

 

(Thầy Trung Hải,
Khóa tu tại EIAB, năm 2010)

Mùa xuân đằng sau cánh cửa

I.
Chị thường xem mình là nạn nhân của cuộc đời. Sau này, chị mới nhận ra đó chỉ là thói quen lâu ngày của mình. Em hiểu không, đau khổ cũng chỉ là một thói quen mà thôi. Chị đã ngồi thật yên trong căn phòng trống trơn, lạnh ngắt, không một người thân quen, không một niềm an ủi, vỗ về, để mà suy ngẫm về cuộc đời của mình. Lạ thay, chính ở một nơi chị mất hết tự do, phải ở yên một chỗ, không được di động theo ý muốn của mình, thì chị mới tìm thấy sự thong dong ở trong lòng để mà suy ngẫm. Cả cuộc đời, chị đã chạy, đã đuổi theo những hình bóng mơ hồ của đam mê, ưa thích, và chưa bao giờ biết dừng lại, chậm lại để mà suy tư, chiêm nghiệm. Trong khi lao mình trong cuộc sống, chị vấp ngã không biết bao nhiêu lần. Mỗi lần như vậy, chị đều đắng cay, chỉ trích, và giận hờn những người chung quanh. Chị thấy mình là nạn nhân của những phản bội, lừa lọc.

Mà chị không phải là người duy nhất. Chúng ta thường đau khổ vì thói quen nhận thức của mình. Thay đổi được thói quen đó, chị thấy cuộc đời thật đẹp. Thì ra, không có ai lường gạt chúng ta cả. Chỉ có mình tự phản bội lấy mình mà thôi. Chị đã để mình đắm chìm trong niềm ham muốn, tham lam của mình. Chị mong mỏi sự thành công, và trở nên thật ích kỷ lúc nào không biết. Mỗi người đều đang sống đời sống của họ. Thoát khỏi sự ích kỷ của mình rồi, chị không thấy ai đang phản bội mình cả. Thật ra, chính chị là người đã bỏ quên sự sống. Chị xem thường những gì tốt đẹp nhất mà mình đã có quyền đón nhận. Ở trong căn phòng trống này, chị không còn có ba, không có má bên cạnh, để mà cảm thấy nhỏ bé, ấm áp, hạnh phúc nữa. Chị muốn nói một câu thật ngọt ngào với ba, với má thì cũng không còn được nữa. Chị đã bỏ những gì đẹp nhất ở trong cuộc đời để đi tìm cái gì? Ba đã kiên nhẫn với chị, mong rằng một ngày nào đó chị lớn lên, trưởng thành, và hiểu được tình thương người cha luôn dành cho đứa con của mình.

Bây giờ ba không còn nữa, sự lớn lên, trưởng thành của chị còn có ích lợi gì không hả em? Chính chị đã khiến cho má đau khổ cho đến giây phút cuối của cuộc đời. Vậy mà chị luôn luôn xem mình là nạn nhân. Chị mù quáng, và trách móc cả ba má nữa. Chị tưởng rằng ba má chỉ thương các em mà thôi. Dù sao, thì các em cũng xứng đáng nhận được sự ưu ái của ba và của má. Các em đã biết an ủi ba má ở những giây phút khó khăn nhất của gia đình.Còn chị, chị chỉ biết đòi hỏi và cảm thấy bị bỏ rơi, phản bội. Ba có cho chị bao nhiêu tình thương, thì chị cũng thấy không đủ. Chị đã lầm, tưởng rằng thương yêu con cái là bổn phận của người làm cha. Bây giờ chị mới thấy tình thương đó không phải là bổn phận, mà là một món quà. Món quà tình thương đã được ba gói lại cẩn thận, và trao tặng chị mỗi ngày, nhưng chị không biết quí. Chị chỉ biết trách móc, hờn giận mỗi khi ba làm điều gì mình không hài lòng mà thôi. Chị đã từng giận hờn, im lặng, không nói chuyện với ba cả tháng trời để mà trừng phạt ba. Và chị đã hài lòng khi thấy ba oằn người, cong lại trong sự đau khổ.

Trong gia đình, chị đặt mình trong vị trí của một nạn nhân. Chị từng chọn theo phe của má mỗi khi ba má cãi cọ với nhau. Lạ thật, nếu thương má thì chị đã không nên chọn phe như vậy. Gia đình là để cho mình hạnh phúc với nhau. Khi chọn phe là mình đã để cho mình rơi vào trong đau khổ. Khi có hạnh phúc, mình ôm được tất cả mọi người vào lòng. Chị đã chọn phe của má vì chị có những niềm đau nỗi khổ mà không nhận ra; chị tưởng rằng mình thương má. Tội nghiệp cho má biết mấy. Chị đã không góp phần tạo dựng được hạnh phúc cho gia đình, bởi vì chị là một người đang đi tìm. Chị đi tìm một thế giới hạnh phúc ở bên ngoài. Chị muốn chứng minh cho ba thấy là mình có thể thành công. Chị dại thật. Ba không cần chị chứng minh điều gì cả. Ba chỉ cần chị nói một câu nói ngọt ngào, chứng tỏ chị hiểu được tình thương ông dành cho chị. Chị chỉ có sự trách móc dành cho ba mà thôi. Vậy mà chị lại tưởng mình là nạn nhân của ba. Chị còn kéo theo má; cho rằng má cũng là nạn nhân của sự độc tài của ba. Chị có quyền hưởng thật nhiều nhưng chị đã đánh mất tất cả. Cuộc đời này có lập lại một lần nữa không em? Chị muốn làm lại từ đầu, để thấy mình có thể hạnh phúc trong vòng tay của gia đình.

II.
Mới đó mà ba mươi năm đã trôi qua rồi. Em không ngờ mình gặp lại chị qua những lá thư như vầy. Hồi đó, chị còn nhỏ quá. Chị nhỏ hơn em bây giờ nhiều lắm. Và em nhìn chị, không như một người chị lớn của em, mà như đang nhìn một đứa em còn nhỏ dại, có một vài lỡ lầm. Trong căn phòng trống, chị đã có thì giờ để nhìn lại. Em có cảm tưởng như chị đang tu tập. Vậy thì nơi đó, chị không đang mất hết tự do, mà đang giành lại tự do cho chính mình. Tự do được làm bằng cái gì hả chị? Tự do được làm bằng khả năng sống có hạnh phúc. Biết bao nhiêu người đang đánh mất tự do, chỉ vì họ xem thường hạnh phúc mình đang có. Chị đã từng xem thường tình thương ba dành cho chị. Chị coi đó là lẽ thường tình. Và chị dễ dàng nổi giận biết mấy, mỗi khi ba không đáp ứng một đòi hỏi, yêu cầu của chị. Chị có biết là ba cưng chìu chị nhất nhà không? Chị đã không thấy điều này. Và tất nhiên chị cũng không biết ba đau khổ đến mức nào mỗi khi chị bỏ rơi, tỏ ra không quan tâm đến ba. Nhưng rồi ba đã học được bài học của mình. Càng đòi hỏi nơi chị, ba càng dễ rơi vào đau khổ. Ba đã học cách chăm sóc lấy bản thân của mình.

Đối với các em, ba không chìu chuộng như cách ba dành cho chị. Nhìn bề ngoài, có vẻ như ba nghiêm khắc với các em hơn. Nhưng các em không buồn. Các em chỉ muốn ba sống cho có hạnh phúc. Ba đã cực khổ cả cuộc đời để tạo một cơ sở vững chắc cho gia đình mình. Và ba có quyền có hạnh phúc. Em vẫn thường hỏi ba: “Ba có hạnh phúc không ba?” Em hỏi ba thật nhiều lần. Đó là cách em bày tỏ tình thương đối với ba. Chị muốn chứng minh cho ba thấy là mình có thể thành công ở trong cuộc đời này. Điều đó em có thấy. Em thấy chị phấn đấu, cố gắng thành công ở trong cuộc sống. Ba cũng muốn chị thành công. Và mỗi khi chị thất bại, ngã xuống, em thấy ba đau buồn, khổ sở. Chính trong những lúc như vậy, các em đã đưa cánh tay của mình ra để mà nâng đỡ ba. Ba cần sự nâng đỡ của mình biết mấy. Nhưng điều em phục ba nhất là ông biết cách để chăm sóc lấy tự thân của mình. Càng về già, ba càng tự do hơn. Và sự tự do đó là hoa trái của một sự luyện tập. Em thấy ba ít bận bịu hơn. Ba thong dong, làm những việc mình ưa thích bằng tất cả sự thoải mái, hạnh phúc của mình.

Ba đã tìm thấy hạnh phúc. Chị cũng vậy. Lá thư của chị gửi cho em, đã cho em thấy là chị đang có hạnh phúc. Em mừng cho chị. Mỗi người trong chúng ta, đều phải tìm thấy tự do của mình. Cánh cửa của căn phòng chị đang ở, đã đóng chặt, khóa kín. Nhưng sự tự do trong lòng chị đang mở ra cho chị thấy một khung trời mùa xuân. Chị đã nhìn lại quá khứ của mình với thật nhiều thông cảm và bao dung. Và qua đó, chị đang sống lại quá khứ một cách sâu sắc hơn. Cuộc đời này có lập lại không? Có chứ. Cuộc đời này lặp lại mỗi ngày. Để rồi mỗi ngày mình nhìn cuộc đời này bằng một đôi mắt mới hơn, hạnh phúc hơn. Nhìn như vậy, chị sẽ thấy là ba vẫn còn đó, để cho chị khám phá thêm về ba, mỗi ngày. Chị sẽ thấy ở ba những gì mà chị chưa từng thấy xưa kia. Mỗi lần mùa xuân trở về, là ta lại có dịp khám phá ra một vẻ đẹp mà ta chưa kịp nhìn, kịp thấy ở trong những năm trước. Cuộc đời này cũng giống như mùa xuân vậy. Nó lặp lại, và cho phép ta có cơ hội sống hạnh phúc hơn. Trong quá khứ, em đã từng trách móc chị. Em biết chị thương ba má và các em. Nhưng em vẫn thấy chị bỏ rơi gia đình. Nhiều lần, chị bỏ rơi ba. Nhưng may thay, em đã sống lại quá khứ đó thật nhiều lần, và khám phá không biết bao nhiêu là hoa thơm cỏ lạ ở trong mùa xuân của quá khứ đó. Em thấy mình thông cảm và biết ơn chị nhiều hơn.

III.
Cám ơn em. Chị đã khám phá ra một mùa xuân ở đằng sau cánh cửa im lìm và lạnh lùng này. Em có thể nói là cánh cửa lòng chị đã mở ra, và chị đã gặp lại ba. Mỗi ngày, chị nói chuyện với ba thật nhiều. Chị học em, hỏi ba:

– Ba có hạnh phúc không?

Ba đã nhìn chị, mỉm cười. Đôi mắt của ba chứa thật nhiều niềm vui. Ở trong đó, chị bắt gặp ánh sáng của hạnh phúc. Mỗi khi ba vui, ông trở nên thật khôi hài. Từ lâu, chị quên mất ba là người khôi hài nhất nhà. Đúng là chị đang khám phá lại mùa xuân ở trong ba. Em thì có tánh nghiêm trang, ít nói. Nhưng mỗi lần em mở miệng là cả nhà phải chú ý. Về điềm đó, em giống má. Chị giống ba hơn. Có phải vì vậy mà ba và chị có nhiều xung khắc với nhau hơn không? Có ông thầy bói đã từng nói với má là ba với chị không hạp tuổi với nhau đó em. Chị đâu có tin mấy cái chuyện bói toán đó.

Ba mỉm cười, và hỏi:

– Con chờ đợi một cuộc hội ngộ giữa hai cha con mình như vầy lâu lắm rồi phải không?

muaxuansaucua2.JPGNghe ba hỏi vậy thì chị bật khóc. Một nỗi cô đơn dâng lên, xâm chiếm tâm hồn chị. Phải rồi, chị đã đi tìm ba suốt cuộc đời của mình. Chị đi tìm ba, và chị đi tìm chính bản thân của mình. Chị đi tìm một mùa xuân, nơi mà sự sống thật sự có mặt. Ba không đợi chị trả lời, mà nói tiếp:

– Ba đã gặp con, và nói chuyện với con như vầy lâu lắm rồi. Con đừng nghĩ rằng thời gian là một con đường thẳng. Cha con mình không phải đang gặp nhau trong hiện tại, mà cũng không phải gặp nhau trong quá khứ. Ba đã gặp con, nói chuyện với con, hiểu thêm về con từ khi ba tiếp xúc được với sự sống. Mỗi người trong chúng ta đều có một cuộc đời để sống, và một con đường để đi. Ba đã thấy là ba không thể đi con đường của con được. Nhưng ba biết, mình sẽ gặp nhau khi mỗi người trong chúng ta mở được cánh cửa của mùa xuân. Con có thể cho rằng ba đã mở ra cánh cửa mùa xuân trước con. Nơi đó, ba đã gặp con, như con đang gặp ba ngày hôm nay.

Nghe ba nói, chị vừa khóc, lại vừa cười. Chị hiểu từng lời ba nói với chị. Chị nói:

– Phải rồi. Con đã đi con đường của chính mình. Thật ra thì con chưa bao giờ mong chờ ba đi con đường này cho mình. Có phải vì vậy mà con đã từ chối mọi sự dìu dắt, chỉ vẽ của ba? Và con cũng hiểu ra, có lúc, ba đã phải can đảm buông cánh tay con ra, để cho con tự đi trên con đường của mình. Con đã gây ra quá nhiều sai lầm; những sai lầm mà ba đã mong con tránh khỏi. Nhưng con không tránh được một sai lầm nào cả. Con vấp té không biết bao nhiêu lần. Rồi lần này nữa. Con tưởng rằng cánh cửa của cuộc đời đã đóng lại, không chừa cho con một nẻo sống. Vậy mà trong lúc bế tắc nhất; con ngỡ rằng mọi cánh cửa của sự sống đã đóng chặt; trong lúc con tuyệt vọng nhất, chán chường nhất, thì cánh cửa mùa xuân lại mở ra. Sự sống trong con, tưởng như đã chết sau những ngày dài trong mùa đông buốt giá, lại đâm chồi nẩy lộc. Em con nói đúng, sự sống luôn bắt đầu trở lại, mới tinh, và chờ đợi chúng ta khám phá. Con đang khám phá lại mình, phám phá lại ba má, và các em. Con khám phá lại sự sống chung quanh con.

– Con có hạnh phúc không con?

– Ba hỏi con câu hỏi con vừa hỏi ba. Và ba biết con hơn ai hết. Không, chính con mới biết mình rõ nhất. Con nhận ra hạnh phúc là một cái gì có thật. Cũng như mùa xuân có thật. Sự sống đang có mặt. Sự sống nơi ba, tưởng như đã tắt ngấm, nay lại bừng dậy trong một không gian, gần như không có không gian; ở một thời gian gần như không có thời gian. Em con nói rằng ba đã học chăm sóc lấy chính mình. Và con đang học chăm sóc lấy chính con đây. Ba hỏi con có hạnh phúc không? Ba ơi, con đang có hạnh phúc. Con không còn nghi ngờ gì nữa là ngay giữa khổ đau, hạnh phúc vẫn là một cái gì có thật. Trong một căn phòng trống, với cánh cửa im lìm khóa kín, con đã mở được khung trời mùa xuân. Con đang mất tự do, nhưng không còn đánh mất hạnh phúc được nữa. Mùa xuân đã hé mở những chiếc lá non đầu tiên và không còn dừng lại được nữa…

Em có tin là chị đã nói những lời như vậy với ba không? Có thể chị đã nói với chính mình. Nhưng hình ảnh của ba mà chị tiếp xúc được sao mà sống động vậy. Rồi chị nhìn thấy má. Má nhìn chị mà mỉm cười. Mỗi khi chị nói chuyện được với ba thì má luôn luôn mỉm cười, hạnh phúc.

Pháp, 09-12-2008

Thiên thu

 

Trang khuya

 

Trăng tối nay lên muộn quá! Tôi đã pha một tách trà, ngồi một mình nhưng tôi không hề cảm thấy cô đơn. Vẫn nơi trở về quen thuộc ấy, tôi đợi trăng lên, không gian thật yên và thú vị. Trà đã ngấm dần nghe vị ngọt xuống tới cổ họng. Tôi muốn viết một vài dòng cho em.
Không gian và thời gian có thể làm chúng ta trở nên xa cách, nhưng tôi biết giờ này tôi đang ngồi đây thưởng thức những phút giây yên lành, sâu lắng, thì ở nơi khung trời nào đó em cũng đang đi dạo dưới vòm trời vằng vặc ánh trăng. Hãy ngước lên bầu trời – nơi có con trăng, và chúng ta sẽ thấy nhau qua nghìn trùng xa cách. Cuộc sống đã cho tôi nhận ra rằng những con người biêt trân quý, biết gìn giữ, biết tận hưởng, sống cho trọn vẹn ngày hôm nay với tất cả những gì đã và đang đến, kể cả những gì đã đi qua, thì không còn chờ đợi gì cho ngày mai nữa. Mọi thứ sẽ trở nên tươi sáng, tốt đẹp và vui vẻ hơn khi ta thay đổi cách nhìn nhận, cách suy nghĩ về chúng. Và khi không gian đêm nay trở nên thênh thang, tự do như thế này thì bận lòng gì nữa những đau buồn của ngày hôm qua phải không em?

 

…Ta hẹn lòng ta giờ hội ngộ
Giữa đất trời chọn tri kỷ phiêu du
Nơi trăng nước yên bình đang ngự trị
Cho trà, cho nến gặp vầng trăng.

…Đợi một đêm dài hẹn vầng trăng
Một trà, một nến, một hương trầm
Ta ngồi đây giữa đất trời thinh lặng
Bước em về đầy túi gió trăng…

Gối đầu lên đất Mẹ, tạm biệt trăng…

Cho tôi quay lại trang giấy cũ của môt năm về trước để nói với em. Hôm nay là ngày đáng nhớ, ngồi dưới bầu trời đầy ắp những vì sao, gió nhẹ làm rơi ngọan mục những chiếc lá vàng trước sân chùa, tôi ngồi điểm lại những gì đã đi qua trong cuộc đời mình…
Như đang trở về với những ngày tháng xưa, những ngày tháng thanh bình và con người thật bé thơ, hồn nhiên. Đã qua rồi, thời gian vụt qua trong nháy mắt, như tia nắng chiếu qua từng phiến lá, như giọt sương mong manh đầu ngọn cỏ, và những khóm cúc dại nở rộ ven con đường sỏi thân quen. Giờ đây mỗi người một nơi, một phương trời xa cách, thế mà cũng đã ba năm dài dẳng trôi qua rồi phải không? Em còn nhớ hay đã quên? Xin làm ơn đừng quên chính em ngày hôm ấy! Những hôm trời chuyển hồng hay tím nhạt, những lần nghiêm trang quỳ trước bảo điện và trái tim em khẩn thiết, chân thành. Từng ngày rồi từng giờ, ngày tháng sao vội đi trôi qua không hẹn, không đợi chờ. Biết bao nhiêu cho vừa, cho lặng yên, cho dừng lại, cho một cuộc phiêu lưu trở về!
“ Những bằng hữu lên đường
Những người em ở lại
Tôi xin im lặng cúi đầu
không nói được đôi câu
dẫu một lời vụng dại…
Trong hồn tôi,
sương phủ mấy nhịp cầu
Tôi chẳng biết nơi nao là quán trọ,
kiếp vốn tha hương
cố quận bao giờ?
Nếu còn thở,
tôi vẫn còn bày tỏ
Yêu cuộc đời với muôn vẹn tình thơ!…”

Mấy ngày gần đây trời trở nên khó chịu, cái nắng như hắt vào hồn người, cơn gió hững hờ lại ngẫn ngơ đứng im không vui đùa như mùa xuân vừa khép lại, nghe như mùa hạ đang bước sang…
Vẫn góc trở về quen thuộc ấy, đó là nơi tôi chọn để ngồi xuống mỗi khi trong lòng mình đầy ắp những vui buồn. Hôm nay tôi muốn nói cho em nghe rằng đã đến lúc ta cần tập chấp nhận những cái vô thường đến và đi qua cuộc đời mình. Tôi đang cởi trói cho chính mình, cởi trói khỏi những suy tư dường như là niềm tuyệt vọng đã ngự trị trong trái tim mình bấy lâu. Ngồi nhìn lá rụng đầy sân càng lâu, dường như tôi thấy hai chữ “vô thường” lại càng rõ nét hơn. Ngẫm nghĩ một mình về lối sống của ngày hôm qua, thấy đời thật thú vị phải không em? Tôi phì cười, trong cuộc sống có những điều đến hay thoáng qua chỉ để tôi nhìn nhận, quan sát, học hỏi và cảm được các mùi vị, chất liệu của chúng thôi mà ngôn ngữ của mình không làm sao nói lên được…

Đá

Ở Vườn Nai có các thầy, các cô rất dễ thương. Xe đến nơi, bước lên sườn đồi, nhìn thấy khuôn mặt một sư cô, một sư chú thôi, là tự nhiên hai lá phổi mình tự động hít một hơi dài sung sướng. Thế là quên hết những gió bụi dọc đường. Gặp một người quen, chắp tay búp sen, mỉm cười; chẳng cần nói một câu, trong giây lát trao đổi nhau biết bao nhiêu niềm thân thiết.

Thế nhưng mà (phải xin quý thầy, quý cô ở Vườn Nai tha lỗi), mỗi lần trên đường tới Vườn Nai, trong lòng tôi nôn nao một niềm vui nho nhỏ. Muốn quên nó đi không được, cứ dìm nó xuống lâu lâu nó lại ngoi lên. Đó là cái cảm giác hạnh phúc biết mình sắp được gặp các tảng đá. Khi xe leo lên dốc quanh sườn đồi, miệng mở ra nhoẻn những nụ cười đầu tiên, là lúc nhìn thấy mặt các anh chị đá xếp hàng hai bên đường, như những người bạn cũ chung thủy. Mà cứ y như rằng, hễ mình mỉm miệng cười thì các anh các chị đá cũng cười theo đáp lễ. Còn như nếu mình mải nói chuyện quên không cười chào thì các anh chị đá vẫn bình tĩnh trầm ngâm, không một lời hờn trách bao giờ!

Có lần đi lang thang trong tu viện, qua xóm Vững Chãi, qua các dãy nhà tạm trú của các thiền sinh, đi sâu vào phía trong, sau những mảnh kiếng thu điện mặt trời, theo con đường mòn xuống thung lũng, tôi gặp một tảng đá thật lớn, cao quá đầu người, bề mặt phẳng gần bằng một cái chiếu vuông. Đây rồi! Đứng lại, chắp tay chào, nhìn tảng đá mà thở một hơi dài, không khí núi ngập đầy hai lá phổi! Tảng đá này chắc phải là anh, chị em ruột với một tảng đá ở Làng Cây Phong mà tôi vẫn đến chào mỗi khi về Làng. Leo lên trên mặt bằng phẳng, tôi cũng ngồi xuống, xếp hai chân lại, thẳng lưng lên, sung sướng được thở ra thở vào cùng với đá. Một vài lần như vậy, tới một bữa tôi liếc nhìn sang phiến đá bên cạnh, chợt thấy một cái tọa cụ có ai đã cất dưới chùm lá cây. Tọa cụ được giấu kín dưới khe đá để che cho khỏi ướt nếu trời mưa! Thật là vui, khi biết có thêm người đã ngồi trên tảng đá này! Chắc một thầy, hay một sư cô nào đó đã tới đây xin kết bạn thân với anh, chị Đá này nhiều lần trước. Chắc từ lâu rồi, người bạn đá ấy đã tới đây ngồi nhiều lần cho nên mới đem cả tọa cụ tới cất một chỗ! Khi đứng dậy chắp tay vái chào từ giã anh Đá, tôi cũng gửi một lời chào cho người bạn đá ấy – mà tới giờ tôi chưa biết là ai, hay là những ai!

Không biết tu đến kiếp nào mình mới buông bỏ được tấm lòng yêu đá. Tình yêu, như chúng ta thường bảo nhau, chẳng ai biết nó là thế nào! Đó là một tâm trạng rất khó phân tách rõ ngọn nguồn. Chỉ biết, không gặp mặt thì nhớ, chờ nhau lòng khấp khởi, trông thấy nhau thì hớn hở vui mừng. Gặp nhau không ai nói với ai một lời, nhưng biết bao nhiêu nỗi niềm được truyền qua lại, không thể định nghĩa đó là những nỗi niềm gì. Từ nhỏ chúng ta đã trải qua những kinh nghiệm như thế. Đối với một người bạn cùng xóm, một thầy giáo, một cô giáo, hoặc ông chú, bà cô nào đó. Đến tuổi dậy thì tâm trạng đó càng hay xãy ra. Ai chưa yêu thì không thể nào hiểu được. Người yêu đá cũng vậy. Ngồi quán chiếu về đá, về tình yêu mình đối với đá, về lẽ vô thường của vạn hữu, về lịch sử trái đất, lịch sử địa chất, cả lịch sử thành hình vũ trụ. Cứ như thế hết lần này sang lần khác, cũng khó hiểu được tại sao mình bị lòng yêu đá ràng buộc đến như thế. Không hiểu rõ nguồn cơn, thì chưa biết làm sao để mà rũ bỏ.

Cho nên, xin quý vị hãy coi đây là một bài sám hối. Hoặc nói như anh chị em tin thờ Chúa, đây là những lời ăn ăn xưng tội, confessions. Tôi yêu đá. Yêu chưa thể nào bỏ được. Phải tới rặng Rocky Mountains ở Alberta, Canada. Đứng đó mà nhìn lên, chiếm đầy cả bầu trời chỉ toàn là đá. Phải tới Vân Nam, nhìn những bức đại tự chính tay đá vẽ trên vách núi nét bút thảo lượn phơi phới như rồng bay. Phải thức dậy ở Làng Cây Phong sau một đêm mưa tuyết, nhìn xuống vườn thấy những tảng đá hôm qua đã biến mất, chỉ còn những gò tuyết trắng êm như nhung! Đá, ở dưới lớp tuyết âu yếm che giấu đó là đá! Ở bên làng, có lúc người ngồi yên trên tảng đá giữa rừng, đàn nai thản nhiên đi qua không sợ hãi, nghĩ con người cũng hiền như tảng đá. Phải nằm soải trên nền đá ấm áp một buổi trưa mùa Thu, nhìn lên những hàng lá đổi màu. Phải lượm một hòn sỏi trong khe suối, hay trên bãi biển, đưa lên nhìn không chán mắt, không nỡ rời tay. Có những lúc nhìn thấy đá, bỗng ngây người, tự biết mình si ngốc mà không bỏ được, không hiểu vì sao. Đó là tình yêu.

Đến Vườn Nai, nhìn chung quanh đầy bè bạn, bát ngát, trùng trùng, lố nhố, trên ngó xuống dưới ngó lên, đàn đúm với nhau những đá là đá! Hỏi không dao động trong lòng sao được?

Ở Vườn Nai có những trường thành đá xếp hàng trên lưng dãy núi cao tuốt luốt, trông xa như đám trẻ em nối đuôi nhau lom khom chơi trò Rồng Rắn, em này đặt tay trên lưng em kia, vừa bước đi vừa hát nhịp nhàng. Có những tảng cao ngất trời tụm năm, tụm bảy lưng chừng non, như mấy người bạn vừa ngồi ngắm cảnh vừa trò chuyện cùng nhau. Những tảng đá hùng vĩ trên đỉnh cao đứng thản nhiên nhìn xuống đám chúng sinh dưới chân đồi bước chân theo nhau thiền hành. Người đang bước chân đi, qua một khúc rẽ, bỗng đứng sững lại, ngẩn người, vì trước mắt hiện ra một khuôn mặt đá rạng ngời! Có những bức vách đá sừng sững, phơi mặt với gió sương trên lưng chừng núi qua bao nhiêu triệu năm trông như có người đã phạc thành một bức tường, phơi một mặt đá xám như trang giấy chờ họa sư tới đưa tay, đưa một đường tuyệt bút. Nhìn kỹ thì thấy chẳng cần ai đem bút tới vẽ vời làm chi. Chính những đường gân trên mặt đá, ánh sáng chiếu vào, đang lung linh hiện lên những thư pháp nhiệm mầu!

Cả những hòn đá cuội nằm rải hai bên đường, cũng đầy tình ý. Có người nhặt đá nắm trên tay âu yếm. Hình như óc chiếm hữu chưa bỏ được, đem về nhà rồi cũng không biết bầy đâu cho hết. Ngày xưa bên Tàu có ông Ngưu Tăng Nhụ (Niu Seng Ju, 779 – 847, đời Đường) được mô tả là người “yêu đá như yêu con cháu, cung kính với đá như đối với bạn bè.” Nhưng ông cũng quý đá như bảo ngọc. Nói đến châu ngọc, không khỏi dấy lên lòng chiếm hữu. Nhiều anh chị em đi qua Vườn Nai đã xếp các hòn đá cuội lại như muốn gửi những thông điệp cho chính mình hay cho người một kiếp sau nào sẽ đi qua. Vẫn muốn sử dụng đá như những phương tiện truyền đạt không lời.

Locuyen_da1

Nhưng mà khi chúng ta đứng đối diện, nhìn tận mặt một tảng đá đứng hay ngồi tĩnh tọa bên đường, lúc đó mới là lúc người cùng đá giao cảm với nhau với tấm lòng mở rộng, bình đẳng, thấm sâu và bền chặt nhất. Mình nhìn đá, đá nhìn mình. Mình mỉm cười, đá nháy mắt. Mình không cần nói một câu, đá hiểu hết. Mình chắp tay, cúi đầu vái đá. Đá lặng thinh, coi như mình đang vái một cõi vô thường.

Tôi không nhớ mình đã có thói quen vái chào các tảng đá tự năm nào, ba hay bốn chục năm trước. Nhưng gần đây càng ngày thói quen càng nặng, gặp đá là cúi đầu thi lễ. Đứng chụm hai chân, thẳng lưng, nhìn đá như là đá, chắp hay bàn tay lại, cung kính nghiêng mình. Bởi vì không biết cách diễn tả nào khác. Mình không thể nói với đá được, vì đá không có tai nghe. Ôm đá cũng là một hành động dễ thương, nhưng đá không thể đáp lại đưa hai tay ôm mình để đáp lễ được. Yêu ai mình không nên đặt người ta vào một hoàn cảnh bố rối như thế. Cho nên, cứ cúi chào nhau, nghiêng mình một lúc lâu, trong giây phút đó những tâm tình được truyền qua lại, biết không thể truyền bằng lời nói được.

Có lẽ lần đầu tôi cúi chào đá là do ảnh hưởng của bốn chữ “bái thạch vi huynh,” nghĩa là người lạy đá, để kết nghĩa nhận đá làm anh. Trước khi Phan Bội Châu viết bài phú mang tên đó, bài này rất nổi tiếng, thì nhiều nhà văn bên Trung Hoa đã hành động như thế rồi. Một người nổi tiếng nhất là ông Thẩm Quát, vào thế kỷ 11. Một lần tôi hỏi ông Tạ Trọng Hiệp, một nhà thư tịch học uyên thâm, về điển tích“bái thạch vi huynh,” không ngờ ông về nhà viết cho một lá thư dài cho biết những ai đã làm công việc đó. Không ngờ thói quen này đã được truyền thụ qua nhiều đời như thế!

Thói quen gặp đá cúi chào tôi đã nhiễm từ mấy chục năm nay, nhưng gần đây tôi hay vái chào hơn, và chào một cách chân thành, kính cẩn, thấm thía hơn, cũng nhờ ảnh hưởng của Anica.

Năm Anica chưa đầy một tuổi thì cha mẹ cháu từ Mỹ sang Thái Lan làm việc. Cháu lớn lên với các chị giữ em người Thái, đến vườn trẻ chơi với trẻ con Thái, được các sinh viên học trò của bố mẹ bồng bế. Cháu học được thói quen nghiêng mình vái lạy mỗi khi đi qua trước bàn thờ Bụt; mà ở Thái Lan thì mỗi ngã tư lại thấy một bàn thờ. Cháu học được tiếng “Vái,” một tiếng Thái Lan giống tiếng Việt.

Một lần về California thăm ông bà ngoại, lúc lên 3 tuổi, Anica ở ngoài sân chơi tha thẩn với mấy khóm hoa trong vườn. Cháu đưa tay xoa trên mấy bông hoa lavender (tiếng Việt gọi là hoa oải hương), rồi bước tới đưa hai tay cho ông ngoại ngửi mùi thơm. Cháu vuốt, vuốt mấy chùm hoa tím mỏng manh nhoi lên từ mặt đất, cao ngang tầm tay cháu, như vuốt má một em bé. Bỗng nhiên có lúc cháu ngưng tay vuốt hoa; cháu chắp hai tay lại và nghiêng mình rất sâu, vái lạy mấy bông hoa.

“Anica! Tại sao Anica vái bông hoa?”

Anica quay nhìn ông ngoại, miệng trả lời ngay không cần suy nghĩ, bằng tiếng Anh: “Because, it’s beautiful!” (Bởi vì hoa đẹp quá!)

Chúng ta đâu có cách nào nói cho một bông hoa hiểu, rằng, “Hoa ơi, bạn đẹp quá!” Hoặc “Bác Hoa ơi, bác đẹp quá!” hay “Cô Hoa ơi, cô đẹp quá!” Đối với một em bé lên ba chưa biết nói tiếng người đầy đủ, làm sao diễn tả được tấm lòng yêu mến, hâm mộ nức lên trong lòng? Làm sao xin kết bạn được với bông hoa? Không ai dậy cháu cách diễn tả nào khác. Anica đã chắp tay vái; như vẫn vái Bụt.

Kể từ khi học Anica, tôi đã thay đổi những lần tôi vái chào các tảng đá. Trước kia, tôi chào tảng đá như một người anh, một người mình kính trọng nhưng không dám gần gũi thân mật quá, sợ gần gũi quá thì thiếu niềm tôn kính. Tôi đoán các cụ đời xưa như Thẩm Quát hoặc Phan Bội Châu “bái thạch vi huynh” cũng mang cùng một thái độ cung kính mà xa cách như thế.

Nhưng cháu Anica đã dậy tôi sống với thái độ mới. Chúng ta có thể vái chào bông hoa, vái chào tảng đá, giống như mình vái Bụt. Bụt ở trong mình, mình ở trong Bụt. Đá ở trong mình, mình cũng trong đá, hai bên cảm ứng với nhau. Cảm ứng đó phải được thực tập nhiều lần một kinh nghiệm sống, sống một cách tự nhiên, để cho lòng mình thật sự cung kính, chuyên tâm chú ý cúi đầu vái lạy. Cảm ứng đó cũng không thể suy nghĩ, không thể thảo luận hay giải thích được.
Khi nói đến đá chúng ta tưởng đó là tiêu biểu của sự trường tồn. Nhiều người vẫn chỉ đá, chỉ sông nước mà thề nguyền với nhau, coi như không bao giờ thay đổi! Ông Thẩm Quát (1031 – 1095, đời Tống) lạy đá nhận làm anh; nhưng ông cũng nghiên cứu đá như một nhà địa chất học. Nhờ thế đã nhìn thấu trong đá thấy lẽ vô thường.

Thẩm Quát là một người bác văn quảng kiến, người đầu tiên viết về đặc tính kim nam châm làm la bàn (trong sách Mộng Khê Bút Đàm in năm 1088, 100 năm trước cuốn sách De naturis rerum và De ustensilibus của Alexander Neckam ở Âu châu bàn về chuyện này).

Nhờ quan sát ông khám phá ra sao Bắc Đẩu không phải là phương Bắc “thật” theo từ tính của kim nam châm. Ông là người đứng đầu viện thiên văn tại triều đình, bỏ 5 năm nghiên cứu quan sát, ghi chép chuyển động của mặt trăng trước khi bị triều đình xóa bỏ hết công trình. Ông thật là một “người thời Phục Hưng’ mấy trăm năm trước thời Phục Hưng ở Âu châu, vừa là một nhà toán học, một nhà phát minh, một thi sĩ, một người tham thiền, nghiên cứu y học và dược tính cây cỏ; có lúc lại làm bộ trưởng tài chánh, làm tổng thanh tra trong chính phủ, trước khi bị tước bỏ hết chức tước vì theo phái cải cách Vương An Thạch.

Những người yêu đá chú ý đến Thẩm Quát vì ông “lạy đá gọi bằng anh”. Nhưng cũng còn vì ông đã nêu ra những giả thuyết về sự biến chuyển hình thái đất đá (geomorphology). Năm 1074 đi thăm rặng núi Thái Hàng (phân chia hai vùng Sơn Đông và Sơn Tây bên Tầu), ông thấy trên núi có những vỏ sò hóa thạch mặc dù ngọn núi ở cách xa biển mấy trăm cây số; ông đưa ra giả thiết vùng này trước kia phải là bãi biển. Ông cũng khám phá những cây tre hóa thạch ở một vùng khí hậu lạnh, chung quanh không hề có bóng tre; để đưa ra giả thuyết khí hậu trong thiên hạ từng thay đổi nóng hóa lạnh, lạnh trở thành nóng. Khi quan sát đất bồi ở giữa các dãy núi trong rặng Thái Hàng và trong khe núi Nhạn Đãng (gần Ôn Châu bây giờ) ông nhận thấy những vùng đất phù sa tích lũy biết bao đời trước sau đó đã bị soi mòn trải qua nhiều thời đại kế tiếp, để lại các tảng đá hình dung cổ quái, chứng tỏ mặt đất đã thay đổi với thời gian, khi lên khi xuống. Trên mặt đất, trong núi non vững như thế mà cũng là những cuộc bể dâu chẳng có gì thường tồn cả.

Một người chứng kiến và suy ngẫm về lẽ vô thường một cách sâu xa như thế, lại là người đã bái thạch vi huynh!

Cho nên, khi nghiêng mình vái chào các ông anh bà chị đá của chúng ta trong Tu viện Vườn Nai, chúng ta lâu lâu có dịp nhắc nhở cùng nhau: Các anh, các chị đá ơi, chẳng ai thường tồn đâu, lũ chúng ta đều như vậy cả.

Những ai đã qua Vườn Nai trong 10 năm qua thì chắc ghi nhận bên phải đường leo trên lối vào có hình ảnh một tảng đã đã vỡ làm đôi. Mấy năm đầu còn trông thấy một tảng đá gần như nguyên con, bị nứt ở giữa, hé ra một khe nhỏ hình chữ V nhỏ, rồi mỗi năm kẽ đá vỡ lại tách rộng thêm ra. Thế rồi kẽ nứt mở rộng thêm, hai mảng nghiêng qua hai phía, vẽ thành một chữ V lớn, càng ngày càng rộng. Chắc sẽ có ngày hai tảng đá mới mới tìm được thế thăng bằng, ngưng không nghiêng thêm nữa. Hay là sẽ có ngày một tảng, hoặc cả hai tảng, cùng sụp đổ và nằm xuống?

 

Locuyen_da2

Bao nhiêu tảng đá khác ở các sườn núi, trong thung lũng Vườn Nai, cũng đang nhúc nhích như thế? Đá di động, đá nhích từng bước. Mặt đất lâu lâu lại rùng mình. Cả trái đất đêm ngày cựa quậy. Gió, cát, hơi nước cũng lưu chuyển tuần hoàn. Nếu mắt chúng ta có khả năng nhìn được phong cảnh đó biến chuyển suốt một trăm triệu năm, một tỷ năm, chắc chúng ta sẽ thấy chung quanh ta là một vũ khúc! Vũ điệu của đá, cũng giống như các điệu múa của loài người, đều biểu diễn tính vô thường. Vũ công không thể đứng yên bất động. Vũ điệu là cái gì diễn ra giữa hai vị trí của bàn chân, giữa hai vị trí của một cánh tay. Nhưng nó chính là chuyển động, hay nó là khoảng trống giữa hai chuyển động? Hay là cả hai? Hoặc không là gì cả? Múa là nghệ thuật của vô thường. Giống như khi Thẩm Quát nhìn rặng núi Thái Hàng mà thấy những biến hóa địa chất kéo dài hàng trăm triệu năm, chúng ta có thể nhìn các tảng đá giang tay nhau quây quần ở bốn phía Vườn Nai mà nghiệm thấy hình ảnh mặt đất đã thay đổi suốt những thế kỷ qua như thế nào, trước khi loài người có mặt trên trái đất. Những tảng đá đứng lặng yên kia thực sự đã tham dự vào một điệu múa muôn đời của vũ trụ. Ngay bây giờ đá vẫn còn đang múa lượn!

Gia đình tâm linh

 

Sau nhiều lần đến San Diego tham dự các khóa tu ở Lộc Uyển, tôi đã say mê vùng núi đồi hoang sơ tĩnh lặng và phong cảnh hữu tình này. Vì vậy tôi đã rủ chồng tôi chọn San Diego làm nơi định cư lần thứ hai và Lộc Uyển làm ngôi nhà tâm linh. Từ đó mỗi lần lên Lộc Uyển, lòng tôi vui như những ngày xa xưa cùng với mẹ đi thăm các chùa ở Huế. Khi đến Lộc Uyển, tôi cảm thấy mình được bao phủ, được ôm ấp bởi năng lượng của tình thương, của sự an ủi và vỗ về; cùng với năng lượng thanh bình của đồi núi nơi đây. Tôi như con cá nhỏ vốn từ dòng sông Hương, sóng gió đã đẩy tôi ra đại dương và may mắn thay, nay được bơi lội thong dong trong dòng nước mát của Lộc Uyển, tôi nghe lòng trống vắng nhưng ấm áp ngọt ngào và tĩnh lặng lạ thường.

 

_DSC0033

 

Vào một ngày đẹp trời, khi quý vị đến thăm Lộc Uyển, mời quý vị cùng tôi đi một vòng chung quanh để ngắm nhìn phong cảnh hùng vĩ nên thơ và hít thở không khí trong lành nơi đây. Quý vị đừng mang theo gì cho thêm nặng gánh, chỉ cần một nụ cười thật tươi, những bước chân an lạc và nhớ đừng quên chú tâm vào hơi thở để tận hưởng giây phút hiện tại và những gì trước mắt.

Tôi sẽ đưa quý vị đi thăm rừng Sồi với những cây Sồi lâu năm, cành lá đan xen vào nhau thành một mái nhà rộng lớn, làm bóng mát cho vườn cỏ xanh rì và nhiều tảng đá lớn ngồi im bên con suối nhỏ. Rừng Sồi cũng là nơi cắm trại trong các khóa tu, và cũng là “thiền đường lộ thiên”, vì Sư Ông thường ngồi trên “pháp tòa” được dựng nên bằng nhiều tảng đá xếp gần nhau để nói pháp. Đây còn là tổ ấm của nhiều loài chim chóc; chúng ca hát líu lo suốt ngày như để chào mừng khách thập phương và thiền sinh đến tu học. Chúng ta có thể nghỉ chân nơi đây để uống trà, nghe chim hót và để lòng mình lắng dịu trong khung cảnh tịch mịch của núi rừng.

Mời quý vị ghé qua thăm thiền đường Xóm Trong Sáng của quý sư cô. Sư cô Trung Chính là trụ trì và cũng là người đã có mặt cho Lộc Uyển vào lúc sơ khai. Chúng ta vào lễ Phật, thăm vườn hoa lan và vườn rau. Vườn rau các sư cô có đủ các loại rau của quê hương mình; nào là tía tô, kinh giới, rau húng, rau ngò, rau thơm, rau răm, cải lạn, cải xanh, v.v. Trong vườn cây ăn trái thì nào là bưởi Biên Hòa, bưởi đỏ, ổi xá lị, mận, táo, hồng dòn; xen lẫn với nhiều cây kiểng và đặc biệt có cây hoa mộc lan cao vút, mùi thơm tỏa cả một vùng làm tôi có cảm tưởng như đang lạc vào một cảnh chùa cổ kính ở quê nhà.

Cốc của Sư Ông nằm trên một ngọn đồi nho nhỏ trông đơn sơ nhưng rất trang nghiêm và thanh tịnh. Tôi có cảm tưởng như Sư Ông thường xuyên có mặt ở đó và Người đang ngồi yên và mỉm cười. Hồ sen trước cốc vừa được tu bổ thành một nơi uống trà ngắm trăng hoặc thưởng thức hoa sen nở vào mùa hè. Tôi thích nhất là ngồi bên hòn non bộ kế cận, dưới gốc cây sồi già, bên chân tượng Quan Thế Âm; ngài đang lắng nghe nỗi khổ niềm đau của chúng sanh. Đi quanh theo các lối mòn thiền hành, quý vị sẽ rất ngạc nhiên khi đi qua một hồ đầy nước vào mùa mưa và khi màn đêm buông xuống, tiếng ếch nhái gọi nhau nghe inh ỏi liên tục trong sự tịch mịch của núi rừng.

Dọc theo đường lên thiền đường lớn là một khu rừng trước đây rất hoang vu nhưng nhờ bàn tay và công sức đóng góp của nhiều người, bây giờ thành nơi cắm trại cho thiền sinh trong các khóa tu mùa hè; đủ chỗ cho 200 đến 500 người và đôi lúc lên đến 1000 người. Dựa vào mé rừng là một túp lều tranh bé nhỏ đơn sơ, nằm khuất sau cây sồi lớn. Đây là biểu tượng cho nếp sống khiêm cung đơn giản và thanh bạch của thầy Giác Thanh, vị trụ trì đầu tiên của Lộc Uyển đã quá cố. Bên cạnh là tượng Quan Thế Âm lớn bằng đá trắng đang tĩnh tọa dưới tàng cây. Phía trước là vườn rau nhỏ của quý thầy và máy làm compost, để chuyển rác thành phân bón. Chúng ta phải thực tập biết trân quý rác và chuyển hóa rác, vì không có rác làm sao có hoa? Bên kia đường là vườn Chanh có nhiều chanh, lẫn với vài cây ổi, cây lựu, thanh long và mận.

_DSC0039

Đi lên đồi sẽ đến Thiền đường Thái Bình Dương và Tháp Chuông đại hồng. Thiền đường này là tác phẩm kiến trúc của thầy Pháp Dung, trụ trì xóm Vững Chãi. Với một hình dáng độc đáo, trông uy nghi nhưng rất hòa nhã, nằm trên một ngọn đồi cao. Chung quanh thiền đường trồng rất nhiều cây Bồ Đề và hoa phượng tím. Bãi cỏ xanh bao quanh thường dùng làm chỗ ngồi cho gần 1000 thiền sinh vào các khóa tu lớn. Với mái cong màu cam rực rỡ nổi bật giữa một vùng núi xanh rì bát ngát bao la, thiền đường này là biểu tượng cho tu viện Lộc Uyển và cho Đạo Bụt Dấn Thân – đem Thiền xuống núi, đem Đạo vào đời.
Mời quý vị lên xem tháp chuông. Tiếng chuông đại hồng này sớm chiều vang vọng khắp nơi, cảnh tỉnh biết bao nhiêu người và bao loài. Vào những buổi sáng nhiều sương mù, đứng trên tháp chuông nhìn xuống thung lũng, mình tưởng như đang đến một cõi trời xa xăm nào khác…

Theo các bậc thang sẽ lên đến nhà ăn lớn và chúng ta sẽ có một bữa cơm gia đình trong chánh niệm, với những món ăn chay Âu Á, hòa điệu rất đặc biệt và đầy tình thương do quý thầy và quý sư cô đã chuẩn bị chu đáo. Sau đó, chúng ta sẽ vào thiền đường lớn để nghỉ ngơi theo lối thiền buông thư, một cơ hội để thư giãn thân tâm và tạo thêm năng lượng cho thời gian còn lại trong ngày.

Buổi chiều, mời quý vị đi leo núi lớn. Chúng ta đi theo những con đường nhỏ quanh co ven triền núi, nhìn xuống là thung lũng sâu được tô điểm bởi nhiều loại hoa rừng đủ màu, xanh, vàng, tím, đỏ, vẽ thành một bức tranh tuyệt đẹp. Mình sẽ đi thong thả, đi mà không cần tới, chỉ cần tận hưởng vẻ đẹp thiên nhiên và hòa mình với vạn vật. Đây là những giờ phút hạnh phúc nhất; tuy đường dài và dốc cao nhưng mình sẽ đến đỉnh núi hồi nào mà không hay! Chúng ta sẽ ngồi trên các tảng đá khổng lồ mát lạnh hoặc nằm xuống nghỉ lưng và ngắm mặt trời lặn. “Đây là tịnh độ, tịnh độ là đây”; cuộc sống mầu nhiệm và hạnh phúc không đâu xa, ngay bây giờ và ở đây.

Sau buổi cơm chiều mình lên núi Yên Tử đảnh lễ đức Thế Tôn. Ngài vẫn ngồi đó, dựa lưng vào vách núi cao; nhìn nét mặt nhân từ trầm tĩnh, lòng ta tự nhiên thấy nhẹ và bình an như đang được bảo bọc bởi tâm từ bi vô biên của Ngài. Bước xuống vài bậc thang sẽ đến tháp Thầy Giác Thanh nằm bên sườn núi nhìn xuống xóm Vững Chãi. Thầy đang nhìn chúng ta và thầy sẽ rất vui khi thấy chúng ta biết sống trong chánh niệm, sống hòa hợp và xem Lộc Uyển như một đại gia đình tâm linh, biết nuôi dưỡng tình huynh đệ, đối xử với nhau trong tinh thần hiểu và thương, không phân biệt màu da, tôn giáo, giàu nghèo, sang hèn, xấu tốt, dễ thương dễ ghét, quen hay lạ, mới và cũ, trước và sau… Đuợc như vậy tức là chúng ta đang thương Thầy và đang hiến tặng Thầy một món quà đúng với lòng mong ước và chí nguyện của Thầy. Thầy cũng rất vui khi thấy rất nhiều người Tây phương đến tu học, mừng cho Đạo Bụt đang được lan rộng khắp năm châu. Thầy đã có mặt cho Lộc Uyển từ thuở mới thành lập, đã âm thầm sống và đóng góp hết mình vào công tác xây dựng tu viện rồi mỉm cười lặng lẽ ra đi. Chúng ta hãy ngồi bên tháp Thầy uống trà, vì ngày trước Thầy thường mời khách thập phương vào cốc uống trà làm mọi người thấy lòng ấm áp và gần gũi với Thầy.

Trên đường xuống núi mình sẽ ghé thăm xóm Vững Chãi của quý thầy. Đây là nơi sinh hoạt đầu tiên của Lộc Uyển vào lúc ban đầu, với một thiền đường nhỏ theo truyền thống, có bàn thờ Bụt, thờ tổ và thờ vong. Phía trước là vườn hoa phượng tím, tượng Quán Thế Âm và hòn non bộ có suối nước róc rách chảy ra một hồ sen khá rộng. Mời quý vị ngồi nghỉ chân, ngắm nhìn bầy cá và rùa đang bơi lội và sống rất hòa hợp với nhau. Nhìn thật kỹ sẽ thấy con cá một mắt bơi lội thảnh thơi không chút mặc cảm, hình như nó có niềm tin rất vững vào những khả năng đặc biệt của nó. Bầy cá này sống ở đây rất thảnh thơi và an lạc.
Hôm nay nhằm ngày trăng tròn, chúng ta có thể ráng lại ngồi chơi với trăng, ngắm nhìn chú cuội, cây đa, uống trà và nghe chó rừng thỉnh thoảng gọi nhau – Ôi! Không gian sao mà sâu lắng và hùng vĩ thế này! Có lẽ vầng trăng kia đã xoa dịu và chuyển hóa những ai có duyên may đến đây.
Xin đa tạ Bụt, đa tạ Tổ, Thầy, quý thầy, quý sư cô, các bác và các anh chị đã tạo dựng nên Lộc Uyển, một ngôi nhà tâm linh cho mọi người nương tựa. Công ơn của quý vị được ghi mãi trong lòng người và là một dấu ấn đã khắc sâu vào núi đồi Lộc Uyển. Làm sao quên được bao nhiêu tà áo nâu, bao nhiêu bàn tay, bao nhiêu giọt mồ hôi đã đóng góp và xây dựng nên Lộc Uyển từ thưở sơ khai cho đến bây giờ và mãi mãi? Từ một vùng đất bỏ hoang lâu ngày với vài doanh trại đổ nát, phế thải không ai dám lai vãng, và Lộc Uyển đã thay đổi nhanh chóng nay trở thành một tu viện trang nghiêm thanh tịnh với nhiều hình bóng của Tăng, Ni và thiền sinh đến từ khắp nơi trên thế giới.

Lộc Uyển đã được 10 tuổi! Chúng ta hãy cùng đi như một dòng sông, kết chặt tình huynh đệ, cùng thực tập chánh niệm để nuôi dưỡng và chuyển hóa thân tâm. Mỗi chúng ta là một viên gạch, là một nụ hoa, là bóng mát, đang bồi đắp và tô điểm cho mái nhà tâm linh Lộc Uyển ngày thêm tốt đẹp. Để tạo cơ hội và điều kiện, để làm nơi nương tựa cho biết bao nhiêu người đang hụp lặn trong biển khổ mênh mông.

Chốn bình yên

 

thuphap

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Những ngày đầu mới đến, vùng đất này đã cho tôi thật nhiều ấn tượng với dáng vẻ trầm hùng của nó. Thật khác hẳn với những gì tôi đã được nghe, được biết từ những chia sẻ của các anh em và về lịch sử của nó. Toàn bộ khuôn viên tu viện được bao bọc bởi các dãy núi, chỉ chừa một phía nhỏ nhìn xuống phố thị. Nơi đây, có những ngày mà sương lam giăng phủ bốn bề làm cho ta có cảm giác rằng mình đang lạc giữa chốn thiên thai, không có bất cứ một vướng bận nào nơi trần thế.

Mười năm rồi hiện diện nơi này, Lộc Uyển Tự đã là nơi bình yên, chuyên chở và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau cho biết bao người. Nhiều sư anh, sư chị và sư em cũng đã từng trưởng thành từ cái nôi yêu thương này, cùng thay phiên nhau, đến và đi như những cụm mây trắng thong dong. Chỉ có thung lũng núi rừng thì vẫn vậy, mỉm cười đôn hậu như một bà mẹ dịu dàng bao dung, đón chào và tiễn biệt những đứa con thơ.

Kỷ niệm mười năm Lộc Uyển trong khung cảnh hiền hòa chợt làm tôi nhớ đến hai câu thư pháp của Thầy từ nhiều năm về trước:

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ
Làm người một kiếp cũng như không”.

Tôi đã tình cờ đọc được câu thư pháp này trong một tờ tạp chí và rất lấy làm tâm đắc. Đến khi xuất gia với Thầy rồi, lại được dịp gặp câu này giữa vô vàn các thư pháp khác. Lần đó, Thầy ban tặng cho các anh chị em trong gia đình xuất gia chúng tôi mỗi người một bức tự chọn. Phần tôi đã không do dự chọn ngay nó trong niềm hân hoan. Không phải tự dưng mà tôi liên tưởng đến hai câu này mà là bởi vì tôi thấy Tăng thân Lộc Uyển đang sinh hoạt và tu học theo tinh thần đó. Những ngày làm biếng có nhiều anh chị em thường rủ nhau leo lên những ngọn núi cao, thưởng thức thiên nhiên, chuyện trò và vui chơi trong tình đạo vị. Hoặc có những buổi chiều tà cùng nhau đi bách bộ trên con đường dài ra đầu cổng tu viện ngắm mặt trời lặn, rồi lại cùng nhau lui về. Có một vị Tôn túc đã thốt lên tán thán rằng “Tăng chúng ở đây có hình thức sinh hoạt giải trí thật lành mạnh và đẹp”. Đi bộ, leo núi, thưởng thức thiên nhiên mà đâu cần xuống phố thị shopping như bao người, vừa khỏe khoắn lại không tốn tiền. Nhu cầu hạnh phúc đơn giản vậy đó, và mặc dù vui chơi với nhau nhiều nhưng vẫn không xao lãng công phu tu học và độ đời. Có biết bao khóa tu trong năm cho thiền sinh với đủ các thành phần, tuổi tác mà vẫn không ngăn được tiếng cười giòn tan của đại chúng.

Sau những khóa tu có rất nhiều thiền sinh đăng ký xin được thọ nhận năm giới. Nhìn những gương mặt tươi tắn ấy đã bớt đi căng thẳng, lo âu, bước đi được những bước khoan thai, quả tình đã làm anh chị em chúng tôi cảm động và hạnh phúc, Tâm Bồ Đề được nuôi dưỡng thêm lên. Nếu nhìn sâu thì đó là cả một công trình nghệ thuật được đóng góp bằng sự tu học của tất cả mọi người cộng lại chứ không đơn giản mà có được. Chính điều này đã tạo nên niềm tin và mang lại nhiều chuyển hóa cho thiền sinh khắp chốn.

Giờ đây sau vài năm tu học và quán chiếu tôi biết tại sao hồi ấy tâm thức tôi lại thích hai câu thư pháp đó của Thầy. Không hẳn là trước kia tôi không đủ thông minh để thiết kế cho mình một đời sống tốt đẹp. Biết sắp xếp thời gian thật hợp lý và khoa học để có nhiều lợi ích nhất. Dù là phải bận rộn công việc và trách nhiệm ở công ty, buổi tối tôi cũng biết tham gia các nơi giải trí lành mạnh như các lớp học thể thao, nghệ thuật v.v để giao lưu và có thêm những bằng hữu mới. Thỉnh thoảng tôi cũng đi du lịch đó đây để giải trí, thay đổi môi trường và cũng để học cách sống hài hòa với thiên nhiên. Nói chung, nếp sống có vẻ thật khoa học và tốt đẹp. Nhưng sao vẫn thấy trầm ngâm, mất mát và thiếu thốn điều chi sâu thẳm ở trong lòng.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã viết: “Bao nhiêu năm rồi còn mãi ra đi, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”. Thật vậy, tôi đã từng thấy mình đi lang thang tìm kiếm, mà cũng chẳng biết tìm kiếm gì. Để rồi: “Trong khi ta về lại nhớ ta đi”. Tôi chắc rằng ai trong chúng ta cũng đã nhiều lần kinh nghiệm điều này. Ví dụ gần nhất là hằng ngày khi ăn cơm với gia đình trong ngôi nhà ấp áp nhưng thường thì tâm trí mình lại rong ruổi khắp nơi, hết nghĩ chuyện nọ lại lo chuyện kia. Tốn tiền đi du lịch ở những nơi thật đẹp nhưng lòng thì vẫn chứa đựng với bao nỗi lo toan muộn phiền. Lúc ở nhà thì lại nghĩ chuyện đi, đến nơi thì lại mong về, cứ thế và cứ thế cho đến một ngày bỗng giật mình “Chợt một ngày tóc trắng như vôi, cho trăm năm vào chết một ngày”. Phải chăng đời sống là một chuỗi ngày chạy quanh, kiếm tìm những giá trị ảo trong vô vọng.

… Và rồi Thầy đã hiện diện trong cuộc đời tôi và khai thị rằng sự sống mầu nhiệm chính là phút giây hiện tại. Chính là cái lúc chúng ta xác nhận ra cái tâm “khỉ” của mình, vận hành một cách tùy tiện và kéo lôi chúng ta đi bốn phương tám hướng vào nẻo trần ai. Bao nhiêu khổ sầu hệ lụy phát sinh cũng bởi từ đây. Khi thấy được nó rồi thì mình có cơ hội dừng lại, trời xanh mây trắng với sự sống nhiệm mầu đang hiển hiện ra trước mắt đó. Và ta quyết định phải thật sự là một con người tự do, chấm dứt sự “Trầm luân sinh tử”. Sự khai thị đó quả thật là món quà hết sức quý giá cho chính tôi và cũng cho biết bao người trong thời đại này.

“This is a happy moment”. Đây là phút giây hạnh phúc nhất, ngoài ra không có phút giây nào khác. “This is it!”. Chính là nó, ngoài ra không gì khác. Nhận chân được rồi chúng ta sẽ thôi rong ruổi kiếm tìm, mà sẽ trở về an trú, với từng bước chân, từng hơi thở, và tiếng chuông chánh niệm luôn nhắc ta trở về với phút giây hiện tại. Từng câu, từng lời của Thầy như âm vang khắc vào tâm khảm, tôi hiểu rất sâu nhưng cũng hay quên lắm. Tuy nhiên nhờ có Tăng thân, có môi trường tốt nên tôi thấy mình luôn được bảo hộ, nhắc nhở và nuôi dưỡng. Lộc Uyển mười năm kỷ niệm cũng là cơ hội cho tôi nhìn lại chặng đường thực tập còn ngắn ngủi và non trẻ của mình. Nhưng hơn lúc nào hết tôi thấy mình đã thôi tìm kiếm và đòi hỏi thêm ở cuộc đời này. Tôi vẫn đang tiếp tục học hỏi cách rong chơi nơi miền Tịnh Độ bây giờ và ở đây cùng với các anh chị em của tôi trong niềm biết ơn Tam Bảo sâu xa. Mỗi vị là một viên bảo châu cho tôi thưởng thức và học hỏi. Bất chợt tôi thấy mình trở nên giàu có hơn bao giờ hết.

Là thiền sinh mới lần đầu đến Lộc Uyển có lẽ sẽ thấy các thầy và các sư cô trong bóng dáng màu nâu rất giống nhau, khó mà phân biệt ai với ai. Trong khi một bóng dáng áo nâu đang hướng dẫn tập thể dục buổi sáng thì một bóng áo nâu khác giúp nấu ăn, vị khác thì chuyển hóa rác, hướng dẫn thiền hành…Rồi thì lại đổi vị trí cho nhau. Cứ như vậy, tất cả hòa điệu như những cánh tay của cùng một cơ thể. Làm được như vậy phải chăng vì chúng tôi có cùng chung lý tưởng, chất keo sơn của tình anh chị em chung một mái nhà. Phải rồi, khi có một tiếng chuông được thỉnh lên thì tất cả mọi người đều dừng lại mọi hành động, lời nói và tâm tưởng, để trở về với hơi thở. Ngay bây giờ và ở đây, tất cả chúng ta đâu có gì khác biệt, ngôn ngữ, màu da, chủng tộc…Chỉ có duy nhất là hơi thở ra vào tự nhiên của sự sống, tất cả đang chung một bầu không khí thênh thang.

Mặt trời hồng rạng đông đã báo hiệu một ngày mới bắt đầu rồi đó. Ai trong chúng ta cũng có chủ quyền hai mươi bốn giờ tinh khôi trong tay để rong chơi nơi miền Tịnh Độ. Để rồi khi mặt trời xuống núi đi ngủ, ta lại gặp nhau trong nụ cười với niềm hân hoan. Tôi thấy thầy trụ trì ở đây “rong chơi” rất giỏi. Vừa lo chăm sóc chúng, xử lý bao việc trong ngoài, hội họp, khóa tu mà thầy vẫn thảnh thơi, vui chơi hết lòng cùng các anh chị em và các cháu nhỏ. Có lúc tôi tự hỏi rằng dường như thầy có phép lạ hay sao mà hai mươi bốn giờ của thầy nhiều vô cùng, với dường ấy việc mà vẫn luôn cười đùa hồn nhiên. Có lẽ tôi nên đi phỏng vấn thầy để học hỏi, rồi chia sẻ cho tất cả mọi người để được sống như thầy, có thêm thời gian hơn nữa cho mình và những người thương.

Mùa xuân đang nở rộ những đóa hoa rừng thật đẹp, một vẻ đẹp bình dị, hài hòa và lan tỏa khắp nơi. Tôi nghe kể lại mười năm về trước thì thiên nhiên không được như bây giờ. Nơi đây là một trại huấn luyện quân sự, có nhiều súng đạn tập dượt và căng thẳng nên mọi thứ khô cằn và không nhiều sức sống lắm. Nhưng giờ đây núi rừng trở nên xanh hơn, chim chóc quây quần làm tổ và hót líu lo suốt ngày. Thỏ, sóc trở nên rất gần gũi với mọi người, kể cả rắn rung chuông và chó rừng đã từng làm mọi người sợ hãi khi nghe đến tên. Nhưng đến nay tất cả đối với chúng tôi đều là những người bạn hiền đáng mến. Thiên nhiên nơi đây đã được chuyển hóa, con người về đây cũng được chuyển hóa. Con người và thiên nhiên nương tựa vào nhau, bảo vệ cho nhau để cùng chuyển hóa, đang từng bước hướng về nẻo sáng của sự tốt đẹp. Làm sao để chốn bình yên này ngày càng mang lại hạnh phúc nhiều hơn nữa, không chỉ cho thế hệ chúng ta mà còn cho thế hệ con cháu kế thừa. Chính vì vậy mà gần đây thầy trụ trì và nhiều người trong vùng kêu gọi sự góp tay bảo vệ thiên nhiên nơi này, không cho sự đầu tư xây dựng làm ô nhiễm dãy núi phía Tây, để nơi đây tiếp tục là chốn bình yên cho mọi người và mọi loài. Mong rằng ước muốn tốt đẹp đó sẽ được toại nguyện.

Đại Ẩn Sơn, cái tên thật thích hợp như chính sự hiện diện của nó. Lặng yên, hùng tráng mà bất cứ ai muốn lên thăm đều phải đi thêm một đoạn đường dài, buông bỏ bớt bụi trần, ồn ào rồi mới tới. Mười năm rồi nó vẫn trầm lặng hài hòa cùng thiên nhiên. Bên kia sườn núi, ngọn tháp thầy trụ trì khai sơn vẫn một màu giản dị vững chắc. Bức hình của thầy luôn ở đó với nụ cười trên môi thật hiền hòa, ánh mắt thân thương vẫn dõi theo đàn cháu con. Chắc thầy cũng rất vui khi biết Lộc Uyển được mười tuổi, dù rằng tất cả đều còn rất non trẻ nhưng đã và đang từng bước lớn lên trong hạnh nguyện độ sinh. Ngoài kia dưới ánh nắng chiều, tiếng chuông đại hồng đang ngân vang giữa thinh không thanh bình: “…Nguyện người nghe tỉnh thức, vượt thoát nẻo đau buồn”. Đâu đó có tiếng trẻ cười hồn nhiên, nghe sao thật trong trẻo.

Núi vẫn còn đây

 

Locuyen.jpg

Ở Lộc Uyển tôi thích nhất là ngày làm biếng. Ngày này mà ai muốn gặp tôi thì phải lên núi. Mà núi ở Lộc Uyển rất mênh mông, có lên đó cũng khó mà gặp. Thường thì lên núi tôi ít khi đi một mình; tôi thường rủ các sư em có tâm hồn đi núi, nhất là phải đi lúc trời còn tờ mờ để khi lên đỉnh núi chúng ta có thể ngắm mặt trời vừa mới lên – đẹp vô cùng.

Khi mà bạn thấy hai xóm của tu viện bao phủ trong sương mù, thì lên núi ngồi trên tảng đá cao, nhìn xuống bạn sẽ thấy cả một không gian bao trùm một lớp mây dày, nhưng nhìn lên bạn lại thấy một bầu trời xanh biếc. Xa xa ló dạng vài chóp núi. Ngồi đấy chúng ta như ở cảnh non bồng. Ngồi yên trên núi tâm thanh thản, lòng nhẹ nhàng tiếp xúc với đất trời bao la.

Các thầy các sư cô có khi thay vì toạ thiền ở thiền đường Thái Bình Dương vào buổi sáng, thì lại tổ chức lên núi ngồi thiền, tập thể dục, ăn sáng, xong rồi trở về xóm để chấp tác. Tôi nhớ có một lần loay hoay công việc gì đó mà tôi nghĩ là mình đã trễ giờ nên vội vàng lấy xe golfcart một mình chạy lên núi. Khi đậu xe xong tôi đi vào trong dãy núi tìm cho mình một tảng đá để tọa thiền. Xung quanh rất yên lặng, và tôi nghĩ các thầy các sư cô cũng đang ngồi thiền đâu đó. Vào buổi toạ thiền trên núi, đội chuông phải mang theo chuông để hô canh ngồi thiền và thỉnh chuông để đại chúng xả thiền. Hôm đó tôi chờ mãi mà vẫn không nghe chuông, đến lúc nhìn quanh thấy núi không một bóng người. Tôi gọi các thầy các sư cô, nhưng không ai trả lời. Lúc đó tôi mới biết là hôm nay không có ai đi núi cả, và đó là lần đầu tiên tôi đi núi một mình và bằng chiếc xe golfcart. Sau này các sư em có tâm hồn đi núi với mình phải đổi xóm, ngày làm biếng ít ai chịu đi, có đi thì cũng đi trễ hay khi mặt trời đã lên. Núi gọi. Không ai đi thì mình đi một mình. Một bữa nọ, sau khi uống vài chung trà xong, tôi chuẩn bị thắp nhang để toạ thiền, thì không xa tôi nghe tiếng chó rừng tru thật lớn và tru mãi. Tôi ngồi lắng tai nghe nếu nó có đến gần mình không. Cũng hơi sợ sợ. Nhưng lúc đó tôi rải tâm từ đến nó, và nghĩ chắc nó bị bịnh nên kêu khóc, thôi mình cầu cho nó bình an. Suốt thời toạ thiền đó tôi quán âm thanh và không sợ hãi, cho đến lúc xả thiền thì không còn nghe tiếng tru nữa. Về kể lại cho các sư em nghe chuyện tôi đi núi một mình, các sư em tôi nói, Sư chị không nên đi núi một mình rất nguy hiểm. Nhưng rồi núi gọi, thỉnh thoảng tôi lại đi một mình vào những ngày làm biếng, đi thật sớm để ngồi yên nhìn buổi sáng thật bình yên. Hạnh phúc của tôi tràn đầy với núi và đá, tôi tung tăng trên những tảng đá, ngắm nhìn đất trời bao la mà lòng nhẹ như mây.

Trong tôi tràn đầy niềm biết ơn Tổ tiên đất đai nơi này. Ngày xưa các vị đã từng ở đây sống hài hoà với thiên nhiên. Dù bây giờ các vị không còn ở đây, tôi vẫn có niềm tin là các vị vẫn có mặt, để bảo vệ cho mảnh đất này và bảo hộ cho chúng tôi. Vì vậy mỗi lần dọn dẹp hay khai hoang những khu đất nào tôi luôn khấn nguyện xin phép các vị, cỏ cây, đất đá và cầm thú. Tôi cũng trân quý và biết ơn Sư Ông Làng Mai, vì có Sư Ông chúng ta mới có tu viện này. Tôi nguyện với lòng sống cho sâu sắc nhẹ nhàng, cùng tăng thân xây dựng nơi này an lành để những ai về đây cũng được tiếp nhận không khí trong lành bình an trên mỗi bước chân, buông bỏ mọi âu lo dưới phố. Có những thiền sinh về đây chia sẻ có những lúc ở nhà họ có nhiều vần đề với gia đình việc làm con cái, tâm hồn tràn ngập âu lo. Những lúc như vậy họ về lại đây để được sống với các thầy các sư cô, và lòng họ nhẹ xuống liền. Có lần tôi với một sư cô xuống núi để xin phân nấm về trồng rau quả. Tôi gặp một vị láng giềng ở chân núi tại đó. Vừa gặp chúng tôi ông ta liền nói: “Có phải quý vị là Buddhas ở trên núi đó không? Chúng tôi biết ơn quý vị vô cùng. Từ ngày quý vị về ở trên đó dưới này chúng tôi được bình yên, mỗi ngày không còn nghe tiếng súng. Còn nữa, có quý vị ở rồi, chính phủ không còn dự định xây nhà tù cho tội nhân nữa. Chúng tôi cảm ơn nhiều lắm…” Chúng tôi sống ở Lộc Uyển tới năm thứ ba thì có một tờ báo địa phương đến thăm, chụp hình đại chúng thiền hành trong ngày quán niệm. Họ viết một bài đăng ở trang đầu hình quý thầy hướng dẫn thiền hành, họ nói về mảnh đất này rằng ngày trước không có sự sống, từ ngày các vị tu sĩ về, làm cho mảnh đất có sự sống, cây cối xanh tươi, chim chóc thú rừng về sống hài hoà, bình an. Đọc báo nhiều người kéo lên xem tu viện.

Mảnh đất này ngày đầu rất hoang vu, cỏ cây um tùm, là nơi cảnh sát lên tập bắn, cho nên xung quanh rất nhiều vỏ đạn. Các khu nhà cửa đều bị đập phá như một bãi chiến trường. Các thân hữu địa phương, quận cam, Los Angeles, và gia đình Phật Tử chùa Vạn Hạnh mỗi cuối tuần về đây giúp chúng tôi dọn dẹp. Các thân hữu đã hết lòng với chúng tôi, đóng góp công sức, tài vật để xây dựng Lộc Uyển từ thuở ban đầu. Nay Lộc Uyển sắp kỷ niệm 10 năm, ngồi nhớ lại những ngày đầu, tôi nhớ những bàn tay, và những khuôn mặt thân thương hiện rõ trong tôi. Tôi thấy các thân hữu vẫn có mặt với tôi ở Lộc Uyển mỗi khi thiền hành. Hay lúc ở trên núi, tôi nhớ từng vị với lòng thương mến và biết ơn. Có những vị vẫn còn gắn bó với tu viện. Có những vị vì tuổi già sức yếu hay một nhân duyên nào đó ít khi về tu viện. Tôi vẫn nhớ đến quý vị, luôn cầu nguyện Tam Bảo hộ trì và nâng đỡ cho quý vị.

Nhìn lại Lộc Uyển 10 năm qua, tôi thấy mình hạnh phúc và lòng ấm áp vô cùng. Ấm áp tình huynh đệ. Ấm áp tình Tăng thân. Lộc Uyển vẫn thay đổi thường xuyên. Dù có đổi thay nhưng núi vẫn hiền hoà, đất vẫn bình yên cho mọi người về đây. Tôi rất quý tình huynh đệ ở đây, sống với nhau hết lòng và xứng đáng với cái tên mà Sư Ông đã đặt cho hai Xóm: Vững Chãi và Trong Sáng. Cầu mong tình huynh đệ mãi mãi vững bền.

Những nấc thang chuyển hóa

“Ai cho tôi tình yêu để làm đẹp cuộc đời”

image_preview.jpg

Tôi ngồi đây, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, tại Đức để viết những dòng này gửi về Thảo, cùng những người bạn, người chị, người em khác…

Thảo thương, mình vẫn luôn mang theo hình ảnh một cô gái miền Tây Nam Bộ có nụ cười tươi và chất phác trong chiếc áo bà ba trắng đơn sơ và mái tóc dài thùy mị. Đó là những ngày chúng ta gặp nhau ở ký túc xá, cùng đạp xe đến giảng đường mỗi sáng, mỗi chiều… Rồi một ngày nọ, mình gặp Thảo bên một tòa nhà cao tầng với mái tóc nửa màu hung cháy và trang phục đời mới ôm lấy thân hình thon thả của Thảo. Mình đã dụi mắt để không cho hạt bụt che mắt mình. Sự đổi thay dáng hình của Thảo không ngăn được lời tâm sự năm  xưa vọng về: “Thảo sợ một ngày nào đó, Thảo phải đổi thay, Thảo không còn là Thảo nữa…” Giọt nước mắt lấp ló chực trào qua mi, Thảo khẽ chớp mắt để giữ nó lại. Rồi giọng Thảo nghẹn ngào: “Chắc má Thảo sẽ buồn lắm!” (Má Thảo là một giáo viên miền quê hiền hậu mà Thảo đã từng kể cho mình nghe qua lời tâm sự đầy tin yêu và cách sống giản dị của Thảo trong những ngày Thảo mới rời quê lên thành phố).

Lúng túng, tôi buột miệng hỏi: “Thế còn Tùng?” (bạn trai của Thảo đang ở thành phố). Thảo oà khóc. Tôi bối rối vì mình điểm trúng huyệt của bạn. Tôi ngồi yên, đặt nhẹ bàn tay lên vai Thảo và cảm nhận nỗi nợ hãi trước quyết định mình phải thay đổi chính mình của Thảo. Một cảm giác hoang mang cơ hồ chặn ngang lối về của chúng tôi. Đưa cho Thảo mẩu khăn giấy, tôi thấy lòng mình chùng xuống khi nhìn thấy sức mạnh quyến rũ của nhu cầu muốn sống sót ở thành phố trong cái tuổi mới lớn nhiều ham muốn của chúng tôi. Tôi chạnh nhớ lời ba tôi cùng cái nhíu mày, nhăn trán khi tôi xin Ba cho phép tôi sống xa gia đình. Ba tôi lạnh lùng buông tiếng: “đi đâu cũng được, làm gì cũng được, nhưng đừng đem cái không hay về nhà này…”  Lời cảnh báo của ba tôi càng làm cho tôi muốn rời gia đình để học nhiều điều khác, để mở mang kiến thức và sự hiểu biết của một đứa trẻ có óc tò mò như tôi. Nhưng đồng thời tôi cũng muốn tìm học cách phòng thủ, ngăn chặn những thói hư tật xấu. Để khi xa nhà tôi không bị kéo theo phong cách của thời đại mới mà ba tôi thường nhắc: “Nó không thích hợp với cái nhà này”. Đầu óc trẻ con khôn ngoan của tôi lúc đó vừa muốn khám phá, học hỏi cái thế giới quyến rũ trước mắt cùng các bạn nhưng vẫn là một đứa trẻ cần tổ ấm gia đình trong tình thương của ba mẹ. Vẫn luôn muốn là một đứa con ngoan, trò giỏi và biết nghe lời…

suchisuem.JPGGiờ đây những ngày đi học xa, tôi mới biết thương sự bảo bọc trong lời răn nghiêm khắc và cái nhìn nghiêm nghị của ba tôi. Bây giờ ngồi đây tôi thấy thương cho vầng trán của Ba. Tự nhiên tình thương của tôi ứa ra vị ngọt của hiểu, nó có mặt và xóa dần những nếp nhăn đầy lo lắng của ba tôi, và làm lắng dịu dòng cảm xúc mỗi lần tôi bắt gặp hình ảnh Thảo đi xe đời mới với Tùng, mái tóc Thảo tung bay cùng với nụ cười vang trên phố. Những lúc đó tôi không biết Thảo có hạnh phúc không? Nhưng tôi thấy Thảo không còn thời gian để đến lớp, đến thư viện hay quanh quẩn bên hiên chùa học bài, không còn thời gian hát những bài dân ca cho chúng tôi nghe nữa… Giọng ca mượt mà đồng quê của Thảo đã kéo Thảo đến với vũ trường, nhạc hội, khách sạn cho đến khuya mới trả Thảo về như một cái xác không hồn. Rồi Thảo ra nhà trọ ở, và tôi không còn gặp Thảo nữa. Nhưng có rất nhiều Thảo chị, Thảo em cũng đã rơi vào hoàn cảnh như Thảo. Để rồi mỗi khi đi ngang qua cầu thang ký túc xá, tôi bắt gặp hình ảnh từng đôi bạn quấn chặt lấy nhau là tôi lại nhớ về Thảo, những bước chân của tôi trở nên nặng chịch như đang mang một cái gông. Tôi leo lên mấy tầng lầu xong là hết sức…

Hôm nay, sống trong lòng Học viện, những nấc thang bỗng nhiên đưa tôi về gặp Thảo, một chút gì chợt len lỏi trong lòng tôi. Tôi mỉm cười xác nhận sự hiện diện của Thảo trong bước chân và hơi thở của mình. Trước mặt tôi, sau lưng tôi vang vọng từng nhịp bước vững vàng cùng tà áo nâu thân thương. Tôi đã nhìn thấy Thảo trong bước chân, tà áo của sư chị, sư em mình. Thảo sống lại, lành lặn, hồn nhiên, đầy nhiệt huyết… Tôi cười vì được gặp lại Thảo nguyên vẹn như chưa hề thay đổi. Những bước chân lên cầu thang của tôi thật nhẹ và vui mà không còn đeo gông như lúc trước nữa. Thảo hiển hiện trong tôi và các sư chị sư em tôi như những ngày chúng tôi mới gặp nhau. Thảo ơi, tôi muốn nói với Thảo một điều: “Thảo có thể sống tốt mà không cần phải đánh mất mình, Thảo có thể làm mới lại cuộc đời mình khi Thảo còn hơi thở và bước chân.”

Cửa Tùng Đôi Cánh Gài

 

cuatungcanhgaiKhi chàng dũng sĩ về đến chân núi thì trăng cũng vừa lên. Trăng mười chín soi sáng cảnh núi rừng cô tịch. Ánh trăng nhấp nháy đùa giỡn trên lá câỵ Đêm thu mát lạnh. Cảnh vật hình như không có gì đổi thay sau bảy năm xa cách. Cảnh vật tuy không xa lạ, nhưng cũng không thân mật chào đón người cũ từ phương lạ trở về. Chàng dũng sĩ dừng lại ở chân núi, nhìn lên.
Trước mặt chàng, con đường mòn lên núi đã bị đôi cánh cửa tùng khép chặt. Chàng đưa tay cố đẩy nhưng hai cánh cửa kiên cố vẫn im lìm không lay chuyển dưới sức mạnh của đôi cánh tay chàng. Chàng lấy làm lạ. Ngày xưa chẳng bao giờ sư phụ chàng lại cho đóng chặt cửa lên núi như thế nàỵ Chỉ có một con đường đưa tới am sư phụ mà thôi, nhưng bây giờ lại bị đóng chặt. Hớn hở chàng vỗ tay vào đốc kiếm, phi thân nhảy qua. Nhưng chàng không nhảy qua khỏi. Một mãnh lực gì níu thân chàng trở lại, khiến chàng không cất mình lên khỏi hai cánh cửa tùng. Chàng rút gươm định chém rời cánh cửa. Nhưng khi chạm tới cánh cửa, lưỡi gươm văng trở lại như vừa chạm vào thép cứng. Chàng chùn tay, đưa lưỡi gươm lên nhìn. Lưỡi thép sáng loáng dưới ánh trăng. Cánh cửa tùng rắn quá, và hình như đã thu nhận thần lực của sư phụ chàng, nên đã đóng kín đường mòn lại một cách hết sức vững chãi. Chàng thở dài cho gươm vào vỏ rồi ngồi phịch xuống tấm đá lớn gần bên, ôm đầu nghĩ ngợi. Bảy năm về trước, chàng còn nhớ rõ khi chàng xuống núi, sư phụ chàng đã lặng lẽ nhìn chàng một hồi lâu, không nói năng gì. Cái nhìn của Người tuy dịu dàng nhưng có lẫn đôi chút xót thương. Chàng đã cúi đầu im lặng trước đôi mắt dịu hiền và cái nhìn bao dung của sư phụ. Hồi lâu Người mới thong thả bảo chàng:
-“Ta không thể giữ con ở mãi bên ta. Thế nào con cũng phải xuống núi để hành đạo, để cứu người và giúp đời. Ta cho rằng con có thể ở lại cùng ta trong một thời gian nữa trước khi con rời ta xuống núi. Nay con đã muốn xuống thì con cứ xuống. Nhưng con ạ, ta mong con nhớ những điều ta dặn khi con đã đi vào cuộc sống đồng sự và lợi hành.” Rồi Người cặn kẽ dặn chàng về những điều chàng nên tránh, và về những điều chàng nên làm. Sau hết, Người từ tốn và dịu dàng để tay trên vai chàng:

– “Con phải nhớ những tiêu chuẩn hành động mà ta đã truyền thọ cho con trong năm sáu năm trời học tập. Chớ bao giờ làm một việc gì có thể gây khổ đau cho mình và cho kẻ khác, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Hãy tiến bước mạnh dạn trên con đường mà con chắc có thể đưa con và mọi người về nơi giác ngộ. Nên nhớ muôn đời những tiêu chuẩn khổ vui và mê ngộ mà hành Đạo, độ đời. Thanh bảo kiếm mà ta đã trao cho con, con hãy sử dụng nó để diệt trừ ma chướng. Hãy xem đó như lưỡi gươm trí tuệ nơi tâm con sẽ dùng để hàng phục mê chướng và si vọng. Nhưng để giúp con, ta cho con thêm một bảo bối này để con có thể thành tựu công quả một cách dễ dàng.”

Người thong thả lấy trong tay áo ra một chiếc kính nhỏ và đưa cho chàng: “Đây là Mê Ngộ Cảnh. Tấm kính này sẽ giúp con biết rõ thiện ác, chính, tà. Có người gọi nó là kính chiếu yêu, bởi vì qua tấm kính này, con có thể thấy được nguyên hình của loài yêu quái.”

Chàng nhận bảo kính và cảm động đến nói không nên lời. Tờ mờ sáng hôm sau, chàng lên bái biệt sư phụ xuống núp. Người tiễn chàng xuống tận dòng Hổ Khê và thầy trò từ biệt nhau trong tiếng suối róc rách chảy. Sư phụ đặt bàn tay hiền dịu trên vai chàng nhìn thẳng vào cặp mắt chàng. Và nhìn theo chàng dũng sĩ ra đi. Người còn dặn theo: “Nhớ không con, nghèo khổ không thay đổi, vũ lực không khuất phục, giàu sang không mờ ám nhé. Ta ở đây đợi ngày con mang đạt nguyện trở về”

Chàng nhớ lại những ngày đầu tiên xuống núi tiếp xúc với cuộc đời. Chàng đã gặp trên con đường hành đạo bao bộ mặt khác nhau của con người, đã dùng bảo kiếm và mê ngộ cảnh của sư phụ chàng một cách có hiệu quả. Chàng còn nhớ có một lần kia, trên con đường hành đạo, chàng gặp một vị đạo sĩ tay cầm phất trần, đi lại gần chàng và mời chàng về động để bàn tính công việc giúp đời. Đạo sĩ tỏ ra rất hăng hái với việc cứu nhân độ thế và giúp ích mọi loài. Ban đầu, chàng say sưa nghe theo lời đạo sĩ. Nhưng trong lúc tiếp xúc với vị đạo sĩ, chàng nhận thấy người này có vẻ khả nghi. Chàng đưa tay rút mê ngộ cảnh ra chiếu. Trước mắt chàng, không phải là một đạo sĩ mà là một con yêu lớn có hai nanh dài, một cặp sừng trên trán và hai con mắt xanh lè đổ lửa. Chàng vội nhảy lui lại và rút bảo kiếm chém. Yêu quái cố sức kháng cự, nhưng cuối cùng, chàng thắng, và yêu quái hiện nguyên hình quỳ dưới chân chàng xin dung toàn tánh mạng. Chàng bằng lòng tha tội nhưng buộc yêu quái phải trân trọng hứa lui về tu luyện để thoát xác thành người mà không được trá hình đạo sĩ để lừa bịp và tìm cách nuốt sống những kẻ khờ dại dễ tin.

Một lần khác, chàng gặp một vị đường quan, rất có dáng dấp một bậc cha mẹ dân. Vị đường quan râu dài bạc phơ, hứa sẽ trọng dụng chàng và đã chịu khó thức suốt một đêm để bàn với chàng về những điều chánh trị ích quốc lợi dân. Vị đường quan đã tỏ ra mình là một người thiết tha đến hạnh phúc muôn dân, nhưng khi đưa mê ngộ cảnh lên, chàng hoảng hốt nhận đó là một con heo khổng lồ với cặp mắt háu đói, thèm khát, vô cùng khủng khiếp. Chàng đứng dậy rút gươm chém. Yêu quái bỏ chạy nhưng chàng đã nhảy ra đứng chận giữa cửa công đường và hét bảo nó hiện nguyên hình. Con heo kinh khiếp hiện hình quỳ dưới chân chàng cầu xin tha tội và hứa sẽ về tu luyện tinh tấn, thoát xác biếng lười, không còn dám trá hình để rúc rỉa xương thịt người dân vô tội.

Có một hôm, đi ngang qua chợ, chàng thấy thiên hạ già trẻ trai gái xúm quanh ngôi hàng sách. Người đang bày bán sách và tranh cho mọi người là một cô gái mặt hoa da phấn, trên miệng luôn luôn sẵn có một nụ cười. Thiên hạ trầm trồ khen ngợi tranh vẽ và thi nhau mua sách. Bên cạnh cô ta lại có một cô gái khác, cũng mặt hoa da phấn, tay ôm đàn, miệng cất tiếng hát khiến mọi người đã mua sách phải mê mẩn tâm thần không muốn ra khỏi cửa hàng. Thật là một cảnh thái bình nên thơ. Chàng cũng ngây ngất đứng nghe, và cuối cùng chàng lại gần cầm lên một bức họa. Màu sắc làm chàng choáng ngợp, nhưng qua nội dung chàng thấy thoáng gợn trong tâm linh một ít nghi ngờ. Đưa mê ngộ cảnh lên nhìn, chàng hốt hoảng thấy nguyên hình hai con rắn độc, phun nọc phè phè. Chàng vội gạt mọi người ra, rút bảo kiếm, quát lên: – Nghiệt súc! đừng phun nọc độc hại người. Mọi người chạy tán loạn. Hai con rắn độc văng mình tới. Nhưng trước thần lực của lưỡi bảo kiếm, cuối cùng đành phải khoanh tròn dưới gối chàng van xin thứ tội. Chàng dùng bảo kiếm cắt đứt nọc độc, đốt cháy cửa hàng và tha cho yêu súc, buộc cả hai phải hứa trở về núi tu luyện cho thoát kiếp ngậm nọc phun người. Cứ thế, chàng đã sử dụng bảo kiếm và mê ngộ cảnh theo đúng lời sư phụ dặn để cứu người và giúp đờị .

Chàng đã sống miệt mài với nhiệm vụ. Đã từ lâu chàng vẫn tự cho rằng chàng là người dũng sĩ cần thiết cho cuộc đời. Cuộc đời không thể vắng bóng chàng. Chàng đã trà trộn trong cuộc sống, có khi thành công, nhưng cũng nhiều khi thất bại. Đối diện với cuộc sống đầy mưu mô gian trá, nhiều lúc chàng phải uốn mình, linh động theo hoàn cảnh để chinh phục và chiến thắng. Có lúc chàng say sưa miệt mài trong công việc. Chàng cảm thấy thích thú khi hành động. Có khi chàng say mê quên cả ăn cả nghỉ, vì một sự theo đuổi mà chàng cảm thấy vì vui thích mà thực hiện hơn là ý thức rằng mình cần hoạt động để mà phụng sự. Thời gian trôi cứ như thế cho đến bảy năm. Một hôm trong lúc ngồi nghỉ bên một dòng sông, nhìn dòng nước lặng lẽ trôi, chàng giật mình thấy đã từ lâu, gần hai năm nay, chàng không dùng đến mê ngộ cảnh. Chàng không dùng, không phải là chàng quên rằng mình có ngộ cảnh, mà chỉ vì chàng thấy không thích dùng. Chàng nhớ lại trước đây đã có một thời chàng dùng mê ngộ cảnh một cách miễn cưỡng. Chàng nhớ lại những ngày mới xuống núi ấy, chàng đã chiến đấu rất hăng hái khi thấy nguyên hình những yêu quái xuất hiện trên mê ngộ cảnh. Chàng cũng cảm thấy hân hoan vô hạn khi soi thấy trên mê ngộ cảnh hình dáng các bậc hiền nhân. Nhưng trong thời gian trước đây, một cái gì khác lạ đã đến trong tâm hồn chàng, đến lúc nào chàng không nhận rõ. Chàng đã không thiết tha lắm khi nhìn thấy hình bóng một bậc hiền nhân, mà cũng không giận dữ lắm khi thấy một bóng hình yêu quái. Trong bóng hình yêu quái đó, đôi khi chàng lại nhận ra một vài nét hơi quen thuộc,và lưỡi bảo kiếm đã có thờ ơ khi có những bóng hình yêu quái xuất hiện trước kính thần.

Cho đến những ngày gần đây, chàng không dùng mê ngộ cảnh nữa. Chiếc kính vẫn nằm trong túi áo chàng, nhưng đã từ lâu không còn được sử dụng. Chàng lấy làm lạ và đã nói nhiều lần định quay về hỏi sư phụ. Nhưng đã ba tháng qua, bận bịu những gì không đâu, chàng chưa thể trở về. Mãi cho đến hôm mười hai tháng tám trước đây, đi qua một rừng mai hoa nở, thấy sắc hoa trắng như tuyết lấp lánh dưới ánh trăng thu, nhớ đến những ngày thơ ấu bên rừng mai già học tập dưới chân thầy, chàng mới quyết định trở về. Đường về sao chàng thấy xa quá. Bảy ngày trèo non lội suối mới về tới được chỗ cũ.

Nhưng đến chân núi thì trời đã tối. Trăng cũng vừa lên và hai cánh cửa tùng cũng đã khép chặt lối mòn. Chàng đành phải đợi. Buổi sáng, người sư đệ của chàng thế nào cũng phải xuống suối múc nước, và như vậy sẽ mở cửa cho chàng. Trăng đã lên tới quá đỉnh đầu, ánh trăng vằng vặc chiếu xuống rừng núi âm u. Trời càng về khuya càng lạnh. Chàng lại rút kiếm ra nhìn. Ánh trăng lại lấp lánh trên lưỡi kiếm. Chàng lại tra kiếm vào vỏ. Trên mặt chàng thoáng nét ưu tư sầu muộn. Chàng đứng dậỵ Trăng sáng quá. Núi rừng vẫn u tịch và lạnh lùng. Chàng ngồi xuống phiến đá chờ đợi. Quãng đời bảy năm qua lại trở về trong trí óc chàng. Trăng dần dần về phía núi xa. Ngàn sao lấp lánh linh động hơn, và cuối cùng bắt đầu mờ nhạt. Phương đông đã nhuộm dần ánh sáng mờ mờ.
Đường viền ngọn núi đã nổi dần trên vầng sáng nhạt. Bình minh sắp về. Chàng nghe tiếng lá khô xào xạc trên núi. Ngửng lên chàng thấy một bóng người mờ nhạt từ trên đi xuống. Chắc hẳn là người sư đệ của chàng. Trời đang tối quá chàng nhìn không rõ, chỉ thấy hình bóng.

Nhưng chắc chắn đó là người sư đệ, bởi vì tay có cầm tịnh bình. Chàng đứng dậỵ Bóng người tiến xuống và khi đến gần cánh cửa thì cũng vừa nhận ra được chàng dũng sĩ.

– “Đại huynh”

– Sư đệ!

– Đại huynh về bao giờ thế ?

– Ta về lúc trăng mới lên và phải đợi cả đêm dưới này. Tại sao sư phụ lại cho đóng bít lối lên như thế ? Người sư đệ mỉm cười đưa nhẹ tay mở cửa. Hai cánh cửa tùng bật ra một cách dễ dàng. Bước ra nắm lấy tay chàng và nhìn chàng tận mặt.

-“Đại huynh ở một đêm giữa trời chắc lạnh lắm. Sương phủ ướt áo thế này mà, thôi để tiểu đệ phủi bớt cho. Trước kia đệ thường ở dưới núi hái rau nhặt củi và luôn tiện canh chừng người lên núi. Lâu lâu mới có một người lên núi. Nếu tiểu đệ thấy ai đáng lên hầu sư phụ thì tiểu đệ cho lên, nếu họ không đáng lên thì em lẩn tránh để cho họ lạc đường. Sư huynh biết rằng sư phụ không bao giờ muốn tiếp những người lên núi với tâm niệm không lành. Độ này tiểu đệ bận tập luyện luôn mà sư phụ cũng bận ngồi tĩnh tọa trong thạch động nên người dặn đệ khép cửa chắng ngang lối lên dưới này. Sư phụ có trao phép lạ khiến cho cửa tự động mở ra khi các bậc hiền nhân đến. Nhưng khi những kẻ phàm tục lên thì cửa cứ đóng chặt không thể nào vượt qua được. Nhất là khi kẻ ấy có yêu khí thì đừng mong lên núi.”

Chàng dũng sĩ cau mày:

– “Nhưng không lẽ ta mà lại là yêu quái? Sao cửa lại đóng chặt?” Người sư đệ cười lớn:

– “Vâng đại huynh sao lại là yêu quái được! Đệ cũng quên đi mất là tại sao cửa lại đóng. Nhưng bây giờ dù sao thì đại huynh cũng lên núi được rồi cơ mà, vì cửa đã mở. Nhưng đại huynh đợi em chút nhé. Để tiểu đệ xuống suối múc nước rồi cùng lên một thể. Hay đại huynh xuống suối với đệ cho vui. Cười lên chứ, đại huynh giận ai mà nét mặt trông khó đăm đăm như vậy”

Hai anh em cười vang. Chàng dũng sĩ đi theo người sư đệ xuống suối. Mặt trời vẫn chưa lên, nhưng phương đông đã rạng. Hai người đã có thể nhìn rõ mặt nhau. Mặt suối lặng trong, in màu hồng của rạng đông. Bóng hai người đứng song song in hình trên mặt suối. Chàng dũng sĩ trong bộ võ phục hiên ngang, lưng đeo trường kiếm. Người sư đệ trong y phục tiểu đồng hòa nhã, tay cầm tịnh bình. Hai người cùng nhìn bóng mình in trên mặt nước mỉm cười. Một con bọ nước nhảy, làm mặt nước hồng gợn nhẹ và bóng hai người rung rung theo làn sóng nước gợn. “Bóng chúng ta trên mặt nước đẹp quá nhỉ! Nếu bây giờ tiểu đệ múc nước thì sóng dậy và bóng tan mất. À này đại huynh “mê ngộ cảnh” sư phụ cho đại huynh còn giữ đó không?” Chàng dũng sĩ cho tay vào túi trả lời:

– Còn đây

– Tại sao chúng ta không đem ra chiếu hình chúng ta xem nào.

Chàng sực nhớ là từ lâu chàng chưa chiếu mê thử trước hình bóng mình. Chàng lấy kính thần ra, lau bụi vào vạt áo, chiếu trên mặt nước. Hai anh em châu đầu vào mặt kính.

Nhưng bỗng cả hai người cùng hét lên một tiếng kinh hoàng, khủng khiếp, và tiếp theo đó chàng dũng sĩ ngã quỵ trên bờ suối bất tỉnh. Tiếng thét kinh khủng làm chấn động cả núi rừng hoang dại. Một con nai đang uống nước phía trên dòng hoảng hốt đưa đầu lên nhìn, ngơ ngác kinh sợ. Người sư đệ vừa trông thấy trong kính thần, hình bóng của mình đứng bên cạnh hình bóng một con yêu to lớn với đôi mắt tối sâu như hai miệng giếng không đáy, hai chiếc răng dài quập sâu vào chiếc càm vuông, trên một khuôn mặt xám ngoẹt như gà cắt tiết.

Người sư đệ rùng mình dụi mắt nhìn lại, trên bờ suối đá xanh, chàng dũng sĩ vẫn nằm ngã lăn bất tỉnh, trên mặt vẫn còn in rõ nét kinh hoàng, đau khổ hiện hình một cách thảm hại trên con người đã từng xông pha lăn lộn bảy năm trong cuộc đời đầy cát bụi.

Người sư đệ đến ôm lấy chàng dũng sĩ và lấy nước suối vã vào mặt chàng. Vài phút sau, chàng tỉnh dậy, nét mặt vô cùng bi thảm. Hình bóng trên mê ngộ cảnh hiện ra bất ngờ quá và ý thức tự giác trong nháy mắt đã làm cho chàng ngã quỵ. Chàng đã mất hết nghị lực, mất hết sự sống. Tứ chi chàng rời rã, chàng không thể đứng dậy được nữa. Một chân quỵ xuống cát, người sư đệ dịu dàng nâng chàng ngồi dậỵ Nét thiểu não và khổ đau còn in rõ trên khuôn mặt chàng.

– “Thôi, đại huynh vui lên. Chúng ta sẽ lại lên núi”

Giọng nói của người sư đệ êm như một hơi gió thoảng, nhẹ như một tiếng thì thầm. Nhưng chàng lắc đầu một cách thất vọng. Chàng không còn muốn sống. Đau khổ đã làm chàng thảm não và tâm hồn chàng vừa bị tàn phá tang thương như mặt đất sau cơn phong vũ điên cuồng. Chàng không còn dám có ý tưởng lên núi để nhìn mặt sư phụ. Người sư đệ vuốt tóc chàng, an ủi: “Thầy thương anh lắm. Không sao đâu, đại huynh sẽ ở mãi bên thầy (vỗ về). Đại huynh sẽ sống bên em như những ngày xưa êm đẹp cũ (khóc). Em không ngờ bao nhiêu năm dưới núi đã tàn hại anh đến thế.”

Và người ta thấy trên con đường mòn cheo leo lên núi, bóng người sư đệ lần từng bước dìu chàng dũng sĩ trở lên động. Trời vẫn còn chưa sáng hẳn, bóng hai người in trên màn sương mỏng nhẹ của núi rừng buổi sáng. Tia nắng đầu tiên soi rõ dáng điệu thiểu não rời rã của chàng dũng sĩ bên cạnh dáng điệu dịu dàng từ hòa của người sư đệ. Mặt trời đã nhô khỏi đỉnh núi xa.