Ba yếu tố làm nên chất thánh

Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 15.11.2012 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2012-2013

Tứ như ý túc

Như ý có nghĩa là vừa ý, là thỏa mãn ước vọng của mình. Tứ y như túc, tiếng Phạn là rddhi-pāda, còn được gọi là Tứ thần túc tức là bốn phép thần thông (the four psychic powers).

1. Dục 欲 (chanda)

Dục là muốn. Dục thần túc là sức mạnh của ý muốn, phải muốn thật nhiều mới thành công. Muốn đi xuất gia mà chỉ muốn 70% thì không thể thành công được. Ta phải muốn 100% hay 120% thì mới đi xuất gia. Dục là một sức mạnh tâm linh. Muốn ở đây không phải là chuyện xấu, không phải ta muốn danh, muốn lợi hay muốn sắc dục. Muốn là một sức mạnh, tại vì nếu cái muốn đó đủ mạnh rồi thì ta có thể buông bỏ được những cái khác. Nếu cái muốn quá yếu thì ta không buông bỏ được những hệ lụy. Ví dụ như mình đang coi ti vi, đang nghe nhạc Trịnh Công Sơn hay mình đang coi phim trên internet tại vì mình thấy buồn và trống trải và mình chìm đắm trong đó. Nhưng những cái đó rất giả tạo. Mình đang rong chơi trong thế giới internet, mình tìm cái này cái kia cho đỡ buồn tại vì trong lòng mình có một khối u sầu. Trong lòng mình có một khoảng trống mà mình không biết cách lấp nên mình tìm tới những chỗ đó để giải sầu, để bớt trống trải. Khi mở ti vi ra xem không hẳn là tại mình thích xem ti vi, khi nghe nhạc không hẳn là mình thích nghe nhạc. Nhưng tại vì cảm thấy trống trải, buồn khổ, cô đơn nên mình đi tìm chỗ để khỏa lấp.

Trong khi đó thì sự sống tràn đầy những mầu nhiệm. Cơ thể của mình đây là một mầu nhiệm lớn. Khoa sinh học đã đi khá xa nhưng vẫn chưa thấy hết được sự mầu nhiệm của cơ thể con người. Một lá cây, một bông hoa, một hành tinh hay một giọt sương chứa trong nó bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhưng mình không tiếp xúc được, mình không thấy được hết những mầu nhiệm của sự sống. Vì trống trải, buồn khổ, sầu đau nên mình tìm vào trong thế giới của giả tạo như internet, nhạc tình sầu, v.v..

Làm thế nào để giúp cho người kia ra khỏi thế giới giả tạo đó? Mình phải làm cho người kia muốn, muốn trở về với sự sống trong giây phút hiện tại để tiếp xúc với những mầu nhiệm đang có trong giây phút hiện tại. Ví dụ như thay vì nghe nhạc thì mình tắt nhạc để theo dõi hơi thở. Hơi thở của tôi vô cùng mầu nhiệm. Thở vào tôi biết là tôi đang thở vào và tôi thấy là tôi đang có một hình hài. Hình hài này rất mầu nhiệm, nó mang theo tất cả tổ tiên và các thế hệ tương lai. Tổ tiên đã trao cho tôi hình hài này và tôi sẽ trao nó lại cho con cháu tôi. Mình được có mặt trong sự sống mà mình không biết sống, mình không biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Mình cứ nói đời là khổ trong khi đời rất mầu nhiệm. Trong cuộc đời có chiến tranh, đói nghèo, áp bức nhưng cũng có những mầu nhiệm của sự sống như là bốn mùa rất đẹp, không khí rất trong, biển xanh rất hùng tráng. Mình phải nuôi dưỡng mình để mình có khả năng làm giảm thiểu những khổ đau trên trái đất. Và để làm được chuyện đó mình phải thực tập. Mình thực tập trở về với hơi thở, tiếp xúc với hình hài và làm hình hài lắng dịu. Mình thực tập xử lý những niềm đau nỗi khổ để có an lạc và niềm vui mà giúp đời. Đó là cái muốn, mà nếu cái muốn đó quá yếu thì mình chẳng làm gì được cả. Vì vậy thần thông đầu tiên là phải có cái muốn.

Mỗi người hãy tự hỏi: Mình có cái muốn hay không? Cái muốn của mình ít hay nhiều? Ở Làng Mai chúng ta nói: Nếu tâm muốn đi xuất gia chưa được tới 100% thì mình đừng nên xuất gia. Không ai có thể ép mình đi xuất gia. Siddharta có cái muốn rất lớn. Siddharta đã thấy những đau khổ trong cuộc đời. Siddharta đã thấy rằng làm một nhà chính trị thì không thể giúp được đời, cho nên Siddharta có cái muốn đi tìm đạo để tự chuyển hóa mình và giúp đời. Là một vị hoàng tử sống trong nhung lụa xa hoa nhưng Siddharta đã bỏ tất cả để sống một cuộc sống đơn sơ của một đạo sĩ, sống một mình trong rừng. Đó là thần thông. Thần thông này mình cũng có thể có mà không cần phải tu luyện lâu ngày.

Đang đi mà mình suy nghĩ vớ vẩn chuyện quá khứ, tương lai. Mình nói chuyện này chuyện nọ với người kia. Đó không phải là hạnh phúc. Nếu mình tiếp xúc với giáo lý đạo Bụt, thấy được phép thiền hành là mầu nhiệm thì mình ngưng lại sự suy tư, ngưng lại câu chuyện, mình để ý tới hơi thở và bước chân. Mình thấy rõ là mình đang còn sống và mình đang đặt những bước chân lên mặt đất. Đó là một phép lạ, đó là thần thông. Đi trên mặt đất, đó là đang làm phép thần thông. Thiền sư Lâm Tế nói đó là “địa hành thần thong” 地 行  神 通 (the miracle of walking on earth). Tất cả chúng ta đều có thể làm được phép địa hành thần thông. Ta đừng tưởng chỉ có tiên mới làm được phép lạ. Địa là đất, hành là đi, địa hành là đi trên mặt đất. Ta không cần đi trên lửa hay trên mây, ta chỉ cần đi trên đất thì đã là thần thông rồi. Mỗi bước có an lạc, có hạnh phúc, có tình thương. Nhờ có niệm, định và tuệ mình có thể tạo ra một thần thông.

Mình đừng nên mặc cảm là mình không biết làm phép lạ. Mình có thể làm được phép lạ. Người kia đang ở trong trạng thái buồn khổ, chán đời. Mình tới ngồi với người đó, mình mỉm cười và nói một vài câu giúp cho người ra khỏi địa ngục. Nhiều thiền sinh tới đây trong trạng thái buồn khổ, chán nản. Một thầy hay một sư cô ngồi đó với họ và trong vòng 10 hay 15 phút đã có thể giúp cho họ thoát ra khỏi địa ngục. Đó là thần thông. Nếu muốn, mỗi sư chú, mỗi sư cô, mỗi thầy đều có thể làm được như vậy. Giúp đời, cứu người là chuyện mình có thể làm được. Nhưng trước đó mình phải giúp mình và cứu mình.

Sư cô Chân Không là người chuyên tham vấn cho xóm Mới. Sư cô báo cáo rằng nhiều khi chỉ trong vòng 20 phút là mình có thể biến đổi được một con người, làm cho mắt họ sáng lên, họ nở được một nụ cười và họ ra về trong hạnh phúc. Đó gọi là giáo hóa thần thông tức là phép lạ của sự giáo hóa. Là người xuất gia mình làm thần thông cho mình rồi mình làm làm thần thông cho người khác. Khi cho một bài pháp thoại hay hướng dẫn một buổi pháp đàm có thể là mình đang làm phép thần thông. Mình nói pháp thoại hay hướng dẫn pháp đàm không phải là để chứng tỏ rằng mình có kiến thức về Phật pháp, mà là mình đang làm phép thần thông, tức là mình đang giúp cho người ta thoát ra khỏi nỗi khổ niềm đau của họ.

2. Tâm 心 (citta)

Tâm của mình rất mầu nhiệm. Tâm của mình bao gồm cả vũ trụ. Tất cả đều do tâm mà ra. Hạnh phúc hay khổ đau đều do tâm mà ra. Mình đừng cho rằng tại người kia làm mình khổ hay là tại vì không có người kia nên mình mới khổ. Hạnh phúc hay khổ đau là do mình mà ra.

Theo đạo Bụt thì có mười cảnh giới: thiên, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thanh văn, duyên giác, bồ tát, Bụt. Mười cảnh giới này đều có trong tâm mình. Muốn đi tìm Bụt thì mình đi tìm trong tâm mình mà muốn đi tìm địa ngục thì mình cũng đi tìm trong tâm mình. Địa ngục đi lên từ tâm mình chứ không phải là mình rớt xuống địa ngục. Mình phải chọn lựa, cũng như một đài truyền hình có mười kênh mình muốn kinh nào thì bấm kênh đó. Mình có phép thần thông để chọn lựa, tại sao mình lại chịu chết trong một cảnh giới trong khi mình có thể thoát ra khỏi nơi đó rất mau.

3. Cần 勤 (virya)

Cần là sự siêng năng, là năng lượng của sự tinh tấn. Chúng ta biết Tứ chánh cần là một phương pháp rất hay. Ở Làng Mai Tứ chánh cần là phương pháp tưới tẩm hạt giống. Chúng ta chỉ tưới tẩm hạt giống tốt mà không tưới tẩm hạt giống không tốt. Ta tưới tẩm những hạt giống tốt nơi ta và đừng tưới tẩm những hạt giống không tốt nơi ta thì tự nhiên hạnh phúc có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Ta chỉ tưới tẩm hạt giống tốt nơi người kia và đừng tưới tẩm những hạt giống không tốt nơi người kia. Đó là sự tưới tẩm có chọn lọc (selective watering). Người kia có hạt giống thiên đường, hạnh phúc; mình tưới tẩm hạt giống thiên đường, hạnh phúc thì người đó sẽ có hạnh phúc. Người kia có hạt giống xuất gia, mình tưới tẩm hạt giống xuất gia thì người kia sẽ đi xuất gia. Người kia có hạt giống Phật, mình tưới tẩm hạt giống Phật thì người đó sẽ thành Phật.

Cần là bốn phương pháp thực tập: đừng tưới tẩm những hạt giống xấu trong mình và trong người, nếu những hạt giống xấu đã lên rồi thì tìm cách mời nó xuống và mời những hạt giống khác lên. Với phương pháp tưới tẩm chọn lọc mình có thể làm cho sự sống hạnh phúc theo như ý mình. Mình biết cách xử lý nỗi khổ niềm đau để không bị nó làm cho tràn ngập. Mình cũng biết cách giúp cho người không bị tràn ngập bởi nỗi khổ niềm đau của họ. Mình kéo họ ra khỏi ngục tù của quá khứ và sự lo lắng cho tương lai, cho họ thấy được trời xanh, mây trắng và chim hót, thông reo, hoa nở để người đó có thể có cơ duyên được trị liệu và nuôi dưỡng. Đó là mình có thần thông, mình có thể làm được, mình đừng nên có mặc cảm.

4. Quán 觀 (mimamsa)

Quán là năng lượng giúp cho mình nhìn sâu và nghe thật sâu để hiểu. Khi có cái hiểu thì mình sẽ phá tung được mạng lưới của sự khổ đau, sự u mê. Ví dụ như mình quán về vô thường, vô ngã, về cái giận, về cái chết, về cái sống. Nhờ sự quán chiếu mà mình vượt thoát khỏi ý niệm có hay không, sống hay chết và mình có tự do, hạnh phúc.

Chúng ta không phải là thần linh hay Thượng đế nhưng ta có quyền năng trong tay của mình, ta có thể làm phép lạ. Ta có thần túc là dục như ý túc, tâm như ý túc, cần như ý túc và quán như ý túc. Và chúng ta phải thực tập, cũng như muốn chơi tennis hay chơi đánh bóng bàn thì chúng ta cũng phải tập.

Niệm, định, tuệ – ba yếu tố làm nên chất thánh

Chúng ta đã học về Bốn thần túc (the four psychic powers), và chúng ta biết rằng dù còn đang là phàm phu nhưng mình cũng làm được phép lạ.

Phàm phu là những con người chưa có chất thánh. Phàm phu tục tử là những người đời không có chất thánh. Nhưng theo đạo Bụt thì chất thánh được làm bằng chất phàm cũng như hoa sen được làm bằng bùn. Nếu biết cách chúng ta có thể sử dụng chất phàm để làm thành chất thánh.

Trong kinh có danh từ thánh đệ tử tức là những đệ tử có chất thánh. Ai biết tu chánh niệm, chánh định đều có chất thánh trong người, tại vì năng lượng niệm-định-tuệ là năng lượng của những bậc thánh. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm-định-tuệ, nếu biết tiếp xúc với hạt giống đó và làm chúng biểu hiện ra thành năng lượng thì ta có chất thánh trong con người của mình. Có chất thánh thì chúng ta có thể làm phép lạ, chúng ta không cần phải có mặc cảm. Đức giáo hoàng được gọi là “His Holiness“ tức là người ta nói Đức giáo hoàng có chất thánh. Chúng ta gọi Đức Đạt Lai Lạt Ma là “His Holiness“, có nghĩa là Đức Đạt Lai Lạt Ma có chất thánh.

Chúng ta cũng có chất thánh. Mỗi khi thở vào có chánh niệm là mình đã có chất thánh. Nếu sư cô, sư chú thở vào có chánh niệm thì sư cô, sư chú là “your Holiness“. Có chánh niệm, chánh định thì bước đi từng bước là địa hành thần thông. Nếu mỗi bước chân được soi sáng bởi chánh niệm và chánh định, ta sẽ thấy được những mầu nhiệm của đất trời và ta thấy đời sống thật là quí giá. Ta bước đi như một vị bồ tát, một vị Phật ngay trên trái đất này. Mỗi bước chân đó có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa. Chúng ta ai cũng có thể làm được chuyện đó. Ta có những cơ hội và những điều kiện để làm, nếu ta không làm thì rất uổng.

Luân lý học Phật giáo được căn cứ trên sự thực tập niệm, định và tuệ. Chúng ta, mỗi người đều có hạt giống của niệm, định và tuệ. Ta phải tin rằng chất thánh có trong ta, ta không cần phải mặc cảm.

Niệm 念  (smŗti) là trái tim của sự thực tập tại Làng Mai. Chúng ta biết cách đi như thế nào để chế tác năng lượng của niệm. Có năng lượng của niệm trong mình thì mình có chất thánh, mà có chất thánh thì mình bớt đau khổ ngay. Trong Cơ đốc giáo cho rằng khi có Chúa thánh thần (holy spirit) trong mình thì tự nhiên có sự nuôi dưỡng, trị liệu. Đó là năng lượng chánh niệm.

Trong niệm có năng lượng thứ hai là định. Khi ta chú tâm vào cái gì đó thì có sự tập trung tư tưởng. Sự tập trung tâm ý gọi là định 定 (samādhi). Định làm cho ta chỉ chú ý tới một hướng gọi là tâm nhất cảnh, tức là tâm ta chỉ chú vào một đối tượng. Khi có niệm và định thì ta có tuệ 慧  (prajña), nghĩa là ta có cái thấy. Cái thấy này làm thay đổi tất cả, giúp cho ta chuyển hóa rất mau.

Niệm, định và tuệ thường đi với nhau. Có được niệm thì có cơ hội có được tuệ. Có khi cả ba niệm, định và tuệ tới như một chớp nhoáng. Ví dụ như ta bước một bước có chánh niệm, ta chú tâm vào bước chân thì tự nhiên ta có mặt bây giờ và ở đây và ta tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ đang có mặt. Ta biết ta đang còn sống, ta đang có mặt. Ta là một thực thể mầu nhiệm và thế giới chung quanh ta như cây cỏ, suối đồi cũng là một thực thể mầu nhiệm. Tại sao ta lại muốn tìm hạnh phúc ở một nơi khác trong tương lai? Cái thấy đó tới ngay và làm cho ta hạnh phúc liền lập tức. Đó là tuệ, là giác ngộ, tuy chưa phải là sự giác ngộ hoàn toàn nhưng đó đã là giác ngộ. Giác ngộ lớn hay đại giác (maha-boddhi) được làm bằng những giác ngộ nhỏ hay tiểu giác (hina-boddhi), mà giác ngộ nhỏ được làm bằng hơi thở, bằng bước chân. Không có tiểu giác thì làm sao có đại giác?

Đạo đức học Phật giáo là làm sao cho bớt khổ, có được niềm vui, căn cứ trên niệm, định và tuệ mà không hẳn căn cứ trên niềm tin về luân hồi, nghiệp và quả báo. Những ý niệm về luân hồi, nghiệp và quá báo đã có sẵn trước khi Phật giáo ra đời. Bụt cũng chấp nhận những ý niệm đó nhưng Ngài không để nguyên mà đã sửa nó lại rất hay. Ý niệm về luân hồi, nghiệp và quả báo của Áo Nghĩa Thư và Phạm Thư trở thành một dụng cụ rất hay ở trong tay của Bụt. Niệm, định và tuệ mới là yếu tố đặc biệt của Phật pháp, nó có thể mở ra tất cả các cánh cửa của hạnh phúc và chuyển hóa được tất cả khổ đau của con người. Niệm-định-tuệ có công năng giải phóng con người, kéo con người ra khỏi ngục tù của khổ đau.

 

Khoá tu 21 ngày 2018 “Tri kỷ của Bụt”

Đã trở thành truyền thống, mỗi hai năm một lần tại Làng Mai Pháp thường diễn ra khóa tu 21 ngày vào tháng 6. Khóa tu được đại chúng Làng Mai trông chờ và chào đón với rất nhiều niềm vui, vì tăng thân tứ chúng được ở chung với nhau trong 21 ngày, có cơ hội đi sâu vào sự học hỏi và thực tập, rất khác với những khóa tu 7 ngày.

Khóa tu 21 ngày là một biểu hiện của tình thương mà Thầy dành cho các đệ tử của mình. Thầy biết rằng nhiều người rất khó tham dự được cả ba tháng của khóa An cư kiết đông, vậy nên Thầy đã tạo ra khóa tu 21 ngày để cho những ai tham dự khóa tu này cũng được lợi lạc khi thực tập miên mật cùng tăng thân trong một khoảng thời gian dài không gián đoạn. Chúng ta còn nhớ Thầy đã kể lại câu chuyện trong kinh Quán niệm hơi thở (Anapanasati sutta), khi Bụt quyết định kéo dài mùa an cư năm ấy thêm một tháng, bởi Bụt thấy được những thành quả tu học của quý thầy khi được tu tập miên mật chung với nhau.

Sau đây là một vài hình ảnh của khoá tu:

Lễ xuất gia cây Ngọc Lan (Magnolia Tree) ngày 20.05.2018

Sáng ngày 20.05.2018, với sự chứng minh của Sư Ông, Thầy Thủ Tọa và tứ chúng hơn 400 người tham dự, Tăng thân Làng Mai Thái Lan đã có lễ xuất gia cho 19 sư em trong gia đình xuất gia cây Ngọc Lan. Các sư em ra đời trong vòng tay thương yêu của tăng thân với những cái tên thật dễ thương:

Chân Trời Nguồn Sáng, Chân Trăng Rừng Tùng, Chân Trăng Rừng Xanh, Chân Trăng Thanh Thanh, Chân Trăng Mây Lành, Chân Trăng Thanh Nhã, Chân Trăng Hương Lành, Chân Trăng Thanh Minh,  Chân Trời Gió Xuân, Chân Trăng Tường Thanh, Chân Trăng Hà Thanh, Chân Trăng Sao Mai, Chân Trăng Ý Trong, Chân Trăng Nam Giao, Chân Trăng Vô Vi, Chân Trăng Biển Mây, Chân Trăng Diệu Trạm, Chân Trăng Ngàn Hoa, Chân Trăng Giếng Ngọc.

Lễ xuất gia còn nhận được sự yểm trợ và sách tấn từ Chư tôn đức, quý thầy quý sư cô từ Việt Nam sang tham dự.

Mời đại chúng xem qua những hình của lễ xuất gia.

Tu viện Bích Nham – Mười năm nhìn lại

Đi Tìm Đất Mới

Mới đó mà tu viện Bích Nham đã được thành lập 10 năm rồi. Nhớ ngày nào, quý thầy, quý sư cô đi tìm được “đất mới” trong vùng Catskill, New York.  Tôi cũng nằm trong nhóm các thầy, các sư cô đi tìm đất mới…

Trước đó, đại chúng đang còn ở Vermont: Đạo tràng Thanh Sơn dành cho quý sư cô và tu viện Rừng Phong dành cho quý thầy. Mỗi năm, hai tu viện đều tụ họp ở tu viện Rừng Phong để cùng tổ chức khóa tu mùa Hè (Summer Retreat). Vào năm 1997, ông triệu phú Pritam S. đã tặng Sư Ông và quý thầy một trong những ngôi nhà tọa lạc trên vùng đất của ông để làm tu viện Rừng Phong.

Khi khóa tu mùa Hè sắp bắt đầu thì chúng tôi hay tin ông Pritam bị mấy nhà hàng xóm khiếu nại lên tỉnh trưởng là mở khóa tu công cộng trên đất tư nhân, như thế là bất hợp pháp. Và vì thế khóa tu không thể tiến hành được tại Thanh Sơn. Vì thời gian gấp rút, chúng tôi đành phải đặt chỗ ngay ở trường đại học Stonehill ở tiểu bang Massachusetts. Kết quả là sau khóa tu chúng tôi bị hụt gần $20,000. Cũng may là có một số các vị thiền sinh hảo tâm đóng góp thêm để bớt một phần thiếu hụt cho tu viện.

Sau khi khóa tu mùa Hè chấm dứt, chúng tôi, các thầy và các sư cô từ tu viện Rừng Phong và Đạo tràng Thanh Sơn lên đường tìm chỗ cho tu viện tương lai. Chúng tôi đi xem nhiều nơi, trong đó có một số trung tâm, khách sạn và nhà nghỉ mát. Có nơi thì tiện nghi đầy đủ, phòng ăn có thể chứa cả 500-1000 người và nhà bếp rất khang trang, đủ chỗ ở, nhưng giá tiền khá cao nên cũng không thích hợp lắm. Có nơi thì rẻ hơn, nhưng nhà cửa hầu như đều xuống cấp, và gần phi trường cá nhân, nên cũng hơi ồn ào, về lâu dài sẽ rất tốn kém…

Tới chiều, khi chúng tôi cũng đã khá mệt mỏi sau khi xem vài nơi thì tình cờ lái xe qua khách sạn Jeronimo trong thành phố Pine Bush, New York. Nơi này có những rừng cây thật xanh tươi, và quang cảnh cũng thanh bình. Ai cũng trầm trồ: “Sao ở đây thấy quen thuộc và giống y một tu viện quá!” Anh chị em chúng tôi, các thầy Pháp Duyệt, Pháp Tâm, sư cô Thiều Nghiêm, tôi và vài sư cô nữa tấp xe vào, thăm hỏi người chủ. Lúc đó có ông chủ (dòng họ Jeronimo) và cô con gái của ông ra tiếp. Chúng tôi hỏi thăm thì mới biết quanh năm Jeronimo Hotel này đã từng nhận những cộng đồng tôn giáo khác nhau về sinh hoạt.

Cô con gái ông chủ đã từng tham dự khóa tu của Làng Mai và đọc sách của Sư Ông. Cô rất mừng khi biết chúng tôi có ý muốn mua đất của khách sạn để thành lập tu viện, nên cô tình nguyện dẫn chúng tôi đi tham quan. Cô đưa chúng tôi đi xem các phòng ăn, phòng họp, phòng giặt, phòng ở và cảnh trí xung quanh. Nhìn cách bố trí các phòng ốc, chúng tôi đùa nhau về những dự tính sẽ làm thiền đường chỗ này, văn phòng ghi danh chỗ kia, hay phòng sinh hoạt, tăng xá cho quý thầy, ni xá cho quý sư cô, và phòng ở cho thiền sinh, v.v.

Gia đình ông Jeronimo cho biết là nước dùng ở phía bên khách sạn là nước giếng, rất trong, rất sạch và khách sạn cũng gần trạm xe lửa, xe buýt cho khách tới từ New York, New Jersey và các thành phố, tiểu bang lân cận. Chúng tôi nghe vậy rất mừng, vì biết địa điểm này là trung tâm, sẽ thuận tiện cho thiền sinh lui tới hơn là ở Vermont. Rồi cô con gái ông chủ dẫn chúng tôi tham quan khu rừng cây phía sau. Chúng tôi thấy rừng cây xanh rất đẹp, có bờ hồ và dòng suối uốn khúc thật thiền vị. Chúng tôi ngồi xuống đất, đem bánh mì ra ăn, và ngồi bên hồ thưởng thức dòng suối mát lung linh dưới nắng chiều… Tôi thấy lòng mình lâng lâng niềm vui và nhẹ nhõm.

Khi ra về, chúng tôi ngỏ ý với ông chủ và cô con gái là muốn mua đất này. Ông nói cũng đã có vài người đặt trước rồi, nhưng nếu chúng tôi đồng ý mua luôn lô đất đối diện có sẵn khu biệt thự của ông thì ông có thể dành ưu tiên cho chúng tôi. Sẵn rất kính quý Sư Ông, cô con gái cứ nài nỉ ba cô nên bán khách sạn này cho chúng tôi. Ông chủ tỏ ra hoan hỉ. Sau khi thương lượng giá cả, chúng tôi ra về, lòng rất hân hoan vui sướng vì biết mình đã chọn được một nơi lý tưởng cho tu viện tương lai ở vùng đất Pine Bush, New York này. Đó chính là tu viện Bích Nham.

Chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ đầu tiên ở Bích Nham.

Sau khi chúng tôi dọn đến tu viện Bích Nham vài tháng thì đại chúng bắt đầu chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ. Đây là chuyến hoằng pháp đầu tiên xảy ra tại Bích Nham vào tháng 10 năm 2007. Lúc đó thiền đường Đại Đồng chưa được xây dựng, ban tổ chức chuyến đi phải mướn một cái lều trắng thật lớn che phủ bốn bên và một vài máy thổi “lửa” làm lò sưởi tạm thời. Buổi sáng vào “thiền đường – lều” ngồi thiền rất lạnh, ai cũng phải trùm áo thật dày, có người phải trùm thêm mền mới đủ ấm. Trước khi Sư Ông cho pháp thoại, các thầy các sư cô đứng trên cỏ nhựa (plastic grass carpet) lót xung quanh “bục giảng” của Sư Ông, vốn là một tảng đá trắng – để niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Tảng đá ấy vẫn còn được giữ lại để kỷ niệm, hiện giờ đang được dựng tại đầu đường dẫn đến thiền đường Đại Đồng.

Năm ấy, khóa tu tiếng Anh được tổ chức khi thời tiết thật lạnh. Có những hôm trời mưa gió tới tấp, làm mấy cái cột lều bật lên, có khoảng bốn năm thầy phải ôm ghì lấy mấy cái cột từ bốn phía để giữ cái lều xuống, nhìn thấy rất thương nhưng cũng rất buồn cười!

Trong khóa tu có hơn 800 người, vì vậy chúng tôi phải mướn thêm mấy cái lều trắng lớn làm nhà ăn. Nhà bếp của tu viện thì quá nhỏ, không đủ khả năng nấu cho số lượng lớn như vậy, nên chúng tôi phải đặt thức ăn (cater food) từ nhà hàng Tàu gần tu viện. Chúng tôi chỉ nấu cơm và luộc rau, còn nhà hàng mỗi ngày cung cấp hai món đồ xào và đồ kho để sẵn trong các khay lớn. Cứ tưởng tượng, ngày nào cũng chỉ ăn y chang hai món đồ xào và đồ kho, sau hai ba ngày là ai cũng “ngán ngẩm”… Bây giờ trong các khóa tu ngày nào cũng được đổi món, khi thì bún Huế, khi thì phở, khi thì hủ tiếu, bò kho chay, các món Tây phương và chè đủ loại, chúng ta thật là hạnh phúc và may mắn hơn hồi đó nhiều, có phải không? Mới vài tháng trước, trong khóa tu dành cho người Việt của chuyến hoằng pháp 2017, quý thầy quý sư cô đã đãi phở nóng và 10 loại chè khác nhau để ăn mừng tu viện Bích Nham mười tuổi đó, các bạn nhớ không?

Trở lại năm 2007, thời gian đầu tiên tu viện Bích Nham mới thành lập, bên quý thầy chưa có nhà ăn riêng nên quý thầy phải tìm cách nối thêm vào căn nhà “villa” để làm nhà ăn. Vì vậy, quý thầy phải làm sạch cây cỏ, và đành phải đốn một cây thông để xây nhà ăn mới. Quý thầy xóm Tùng Xanh tổ chức một buổi lễ tụng kinh cầu an và tẩy tịnh cho cái cây sắp bị đốn. Bánh trái, hương hoa quả phẩm được bày ra, và đại chúng hai xóm tụng kinh cầu nguyện. Sau buổi lễ, thầy Pháp Không nói: “Trong đại chúng nếu ai muốn thì có thể tới thiền ôm với cây này”. Một số vị đã thực tập thiền ôm cây.

Theo luật địa phương, vùng núi Catskill này là khu bảo tồn quốc gia, họ muốn bảo vệ cho cây rừng và thiên nhiên nên không cho phép ai đốn cây bừa bãi. Nếu người nào cần phải đốn cây thì phải lập tức trồng một cây khác thế vào. May mắn là ở Bích Nham có thầy Pháp Khôi làm tri vườn rất giỏi. Thầy đã trồng thêm rất nhiều cây cảnh và cây ăn trái trên đất của tu viện trong vòng mấy năm nay.

Vào năm đầu, quý sư cô cùng dọn dẹp dãy nhà Nguyệt Hồ làm ni xá tạm thời. Sau một thời gian, dãy nhà này trở nên quá sập xệ, xuống cấp nên chị em chúng tôi dọn qua dãy nhà Ngân Hà (Constellation). Vào những năm đầu, Sư Ông đã đặt tên cho mỗi dãy nhà, như nhà ăn là Đại Hòa, thiền đường là Đại Đồng, các dãy nhà cho khách cũng có nhiều tên thật đẹp như Phượng Vĩ, Mây Hồng, Sen Vàng, Nắng Thủy Tinh, v.v. Và Sư Ông cũng đặt tên xóm quý thầy là xóm Tùng Xanh, và xóm quý sư cô là Hạc Trắng. Sư Ông còn làm cho hai câu đối treo ở thiền đường Đại Đồng:

“Nước Bích lắng trong ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện
Non Nham tú lệ mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”

Trong 10 năm tu học ở tu viện Bích Nham, chúng tôi thường áp dụng hai câu này của Sư Ông làm phương châm sống cho mình. Những lúc trong lòng có những lăng xăng, những cảm thọ đi lên, chúng tôi đều tìm cách ngồi xuống tịnh tâm, với đại chúng hoặc đôi khi ngồi một mình bên dòng suối. Có những đêm trời trăng rất đẹp, nhất là vào Trung Thu, anh chị em chúng tôi tổ chức ngắm trăng ngoài sân nơi cốc Sư Ông, cùng uống trà, ăn bánh, thiền ca với nhau thật hạnh phúc. Và ở lâu trong tu viện thì cũng không tránh được những tâm hành buồn chán thỉnh thoảng biểu hiện, chúng tôi cũng tập quán chiếu, buông bỏ và thay đổi cái nhìn để “mỗi lần nhìn lại, mỗi lần mới tinh”.

Chúng tôi cũng có cơ hội thực tập thương yêu và chấp nhận nhau (vì đại chúng gồm nhiều vị đến từ nhiều truyền thống và quốc gia khác nhau: Mỹ, Úc, Việt Nam, Pháp, v.v.), tập thích nghi khí hậu, tập buông bỏ những tư kiến, tập xây dựng tình huynh đệ qua sự tu học, trong khi làm việc và uống trà chung với nhau. Chúng tôi cũng tập xây dựng bốn chúng bằng cách mở những ngày quán niệm cuối tuần cho các Phật tử và thiền sinh đến từ nhiều tôn giáo khác nhau. Ngoài ra mỗi năm chúng tôi còn mở nhiều khóa tu “theo nhu cầu” cho các luật sư, các giới văn nghệ sĩ, các nhà nội trợ, các vị giáo sư, các em sinh viên đại học, các bậc phụ huynh và các cháu, và khóa tu theo ngôn ngữ cho người Việt, người Mỹ, v.v.

Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là sự trở về với hải đảo tự thân, ý thức được những tập khí, khổ đau và hạnh phúc trong thân tâm và học chăm sóc cho chính mình. Sư Ông dạy, ngoài đời họ khổ nhiều rồi, mình đừng làm cho mình khổ thêm nữa, hãy giúp người vơi nỗi khổ và vun bồi hạnh phúc trong thân tâm. Chúng ta ai cũng có nhiệm vụ chế tác bình an, hạnh phúc và tuệ giác trong tự thân. Chăm sóc  tự thân cho tốt cũng là chăm sóc cho tăng thân, và nếu ta thực tập giỏi hơn thì có thể tập chăm sóc cho tăng thân như chăm sóc cho chính mình.

Mới đó mà tu viện Bích Nham đã hơn 10 năm thành lập. Lòng chúng con tràn ngập sự biết ơn đối với quý thầy, quý sư cô, quý vị cư sĩ đã từng và đang tiếp tục yểm trợ cho tu viện Bích Nham. Tu viện Bích Nham có được đến ngày hôm nay cũng nhờ rất nhiều bàn tay của quý thầy, quý sư cô và quý vị cư sĩ từ khắp nơi về hỗ trợ, đóng góp và xây dựng. Chúng con xin tri ơn tất cả những ai đã đóng góp tài vật, công sức, và sự tu tập cho tu viện Bích Nham càng ngày càng vững chãi hơn, an lạc hơn, và đẹp hơn trong những năm qua, và mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục công trình xây dựng tăng thân, xây dựng ngôi nhà tâm linh cho tứ chúng về tu học trong nhiều năm tới. Chúng con xin kính tặng Sư Ông và đại chúng bài Tri Ân này như lời cảm tạ:

Tri Ân

Cúi đầu lạy tạ ơn người
Từ bi che chở, hộ trì cho con
Tâm bồ đề nguyện giữ bền
Tu hành tinh tấn đáp đền ơn sâu.
Vun bồi hạnh phúc dài lâu
Cùng tăng thân bước lên đồi thảnh thơi
Duy trì hơi thở nụ cười
Đường về quê cũ sáng ngời niềm tin.

Chân Giới Nghiêm

Hoa trái ngọt đường về

Chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ

Năm 2017, Bích Nham được 10 tuổi. Từ đầu năm, thầy Pháp Khôi đã hỏi tôi: “Sư chị Hoa Nghiêm ơi, làm sao mình tổ chức ăn mừng sinh nhật 10 năm của Bích Nham cho thật vui hả chị?” Chúng tôi đồng ý với nhau là cứ mỗi khóa tu đều sẽ ăn mừng sinh nhật 10 năm Bích Nham. Đầu tiên là khoá tu dành cho Tiếp hiện vùng Đông Bắc Mỹ vào tháng Tư. Tiếp theo là trong ngày lễ Phật đản, số người tham dự hôm đó lên đến cả ngàn người. Sau buổi pháp thoại, trong lúc tôi đang giới thiệu về lễ mừng sinh nhật, thì gần năm mươi em thiếu nhi đi lên với cái bánh sinh nhật, hôm đó thật là vui! Lễ sinh nhật Bích Nham tiếp tục được diễn ra trong các khóa tu mùa Hè, khóa tu tiếng Anh và tiếng Việt trong chuyến hoằng pháp. Thế là chúng tôi được ăn bánh sinh nhật “đã đời luôn”!

Trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ năm 2017, Bích Nham có số lượng người tham dự khóa tu đông nhất. Người Mỹ đang trong tình trạng hoang mang và sợ hãi cho tương lai đất nước của họ. Mục đích của khóa tu là giúp người Mỹ đến được với nhau và trở về với nguồn gốc tổ tiên của mình. Những bài pháp thoại có công năng đem lại sự bình an và chuyển hóa những khổ đau tự thân. Thế giới hôm nay có nhiều khủng hoảng. Những cuộc xung đột giữa các nước Trung Đông, cuộc chiến tranh Hồi giáo và khủng bố đã tạo ra không biết bao nhiêu là chết chóc. Con người sống trong sự lo sợ rất nhiều, chưa nói đến thiên tai và bão lụt. Vì thế chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới. Cầu nguyện cho những người đã chết vì những nguyên nhân nêu trên. Có cầu thì có ứng, năng lực cầu nguyện của đại chúng sẽ cảm ứng đến những người đang bị rơi vào vòng chiến tranh, thiên tai và lũ lụt.

Khóa tu cho người Việt có trên hai trăm người tham dự, gồm các tăng thân Toronto, Florida, North Carolina, New York, New Jersey và các vùng lân cận. Về tu viện, đồng bào người Việt được nuôi dưỡng bởi năng lượng tươi mát của quý thầy, quý sư cô. Đây cũng là cơ hội cho người Việt Nam được gặp nhau, xây dựng tình đồng hương, cùng thở không khí trong lành và năng lượng bình an của núi rừng Bích Nham. Khóa tu chỉ có năm ngày mà ban tổ chức đã thực hiện được hai buổi lễ lớn là Bông hồng cài áo và Trung thu.

Sau chặng Bích Nham, phái đoàn Làng Mai tiếp tục tổ chức khóa tu tại tu viện Lộc Uyển. Riêng tôi, đây là cơ hội được gặp lại những huynh đệ ngày xưa. Chúng Làng Mai được thuyên chuyển khắp nơi và chúng tôi không bị kẹt vào một trú xứ nào, trú xứ nào cũng là quê hương. Tuy rằng chúng tôi cách xa nhau về địa lý, nhưng vì chung một lý tưởng, chung một pháp môn nên chúng tôi cảm thấy như mình chưa từng xa cách. Thật hạnh phúc khi thấy các sư già vẫn còn đó! Tôi tận hưởng thời gian bên các vị, vì cuộc đời vô thường, mình đâu biết được ngày mai? Thời gian ấy tôi cũng có dịp thăm lại các thân hữu của Lộc Uyển năm xưa. Có vị tóc đã hai màu rồi, có vị bận rộn vì đã có cháu nội, cháu ngoại. Chúng tôi được chú Ngọc chở đi thăm chú Thọ trong bệnh viện. Gặp chúng tôi, chú mừng rỡ nắm chặt tay chúng tôi. Chú cảm động khi biết tin Thầy đang dần phục hồi sức khoẻ. Nhớ năm nào chú là chủ biên của tờ báo Đất Lành, luôn kêu gọi chúng tôi viết bài cho báo. Sư em Đẳng Nghiêm cầm tay chú và nói: “Chú nhớ thường xuyên trở về với hơi thở nha chú!” Đã bao nhiêu năm qua, lòng trung kiên của chú dành cho Thầy và tăng thân Làng Mai không bao giờ suy giảm. Chúng tôi nắm tay chú và nói rằng: “Thầy và tăng thân Làng Mai luôn có mặt đó cho chú”. Chú cảm động rơi nước mắt.

Ngồi trên đỉnh núi vào đêm trăng sáng, những ngọn đèn đêm lấp lánh của thành phố Escondido như những ngôi sao dưới trần gian. Lộc Uyển là chốn đi về cho những người thành phố, khi cuộc sống tràn đầy những lo âu và bế tắc, chỉ cần lên núi ngắm trăng sao và thở không khí trong lành thì những lo âu, muộn phiền sẽ lắng xuống. Ngồi bên tôi là sư chị Trung Chính và các sư em. Tôi trân quý giây phút này biết bao. Đi đâu và ở bất cứ trung tâm nào của Làng, tôi cũng thấy người thương mình ở đó. Nơi nào tôi cũng thấy tình huynh đệ luôn chan hòa và đầy ắp. Thầy Pháp Dung và một nhóm quý thầy, quý sư cô trẻ đã cùng nhau khắc chữ “Breathe and Remember” (Thở và hãy nhớ) lên một hòn đá nằm trên đường lên núi theo nét chữ của Thầy. Mong rằng những ai đến Lộc Uyển, khi lên núi sẽ thấy lời nhắc nhở của Thầy luôn còn đó.

Sau chuyến hoằng pháp tại Lộc Uyển, chúng tôi đến tu viện Mộc Lan. Tu viện Mộc Lan “đến sau mà về trước”, chúng tôi thường đùa với nhau như vậy. Mộc Lan có mặt sau Bích Nham và Lộc Uyển, nhưng hiện nay cơ ngơi của Mộc Lan đã đầy đủ. Ni xá, thiền đường, phòng ăn, và bây giờ tăng xá cũng sắp hoàn tất. Phải nói rằng, sự hòa hợp giữa tu sĩ và cư sĩ ở tu viện Mộc Lan như “nước với sữa”.

Mỗi chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ đều có khóa tu dành cho xuất sĩ. Khóa tu xuất sĩ năm nay có chủ đề về sự tiếp nối của Thầy trong hướng đi tới của tăng thân Làng Mai. Chủ đề thật hấp dẫn! Ban tổ chức khóa tu gồm những vị đại diện cho các trung tâm của Làng Mai tại Pháp và Mỹ. Chúng tôi, hơn một trăm xuất sĩ, đã có thời gian ngồi với nhau, đã lắng nghe nhau, lắng nghe những niềm đau cũng như hạnh phúc. Có những bức xúc xảy ra do tri giác sai lầm và sự thiếu truyền thông giữa đôi bên. Ngồi yên lắng nghe, tôi không trách các sư anh, sư chị, vì tôi cũng là sư chị. Tôi không trách các sư em vì tôi cũng là sư em. Tôi biết rằng sự tu tập của chúng tôi vẫn còn yếu kém. Ái ngữ và lắng nghe là điều mà chúng tôi cần thực tập thêm cho sâu sắc. Chúng tôi đang trên con đường thực tập, đang trên đường chuyển hóa thì làm sao không có những lúc gây khổ đau cho nhau. Quan trọng là mình biết sửa đổi, tha thứ những lỗi lầm và chấp nhận nhau, như vậy mới gọi là xây dựng tình huynh đệ.

Mùa thu vẫn còn đó

Sau hai tháng trời ròng rã trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, chúng tôi trở về Bích Nham. Được chú Lân đón tại phi trường với thùng bánh mì chả lụa chay, chúng tôi rất hạnh phúc. Ngồi trên xe nhìn hai bên đường, lá vẫn còn vàng, chưa rụng. Tôi cứ ngỡ rằng khi về thì lá đã rụng hết rồi. Mùa thu đã đợi chúng tôi trở về chăng? Hạnh phúc vô cùng khi trở về căn phòng cũ. Thương làm sao không gian yên ắng! Ngồi yên bên cửa sổ nhìn ra ngoài, những chiếc lá phong đang đong đưa theo gió như chào đón tôi về. Mỉm cười với những chiếc lá, với cây phong tôi thấy lòng thật bình yên. Tôi đi thăm lại suối rừng Bích Nham, thăm lại con đường thiền hành quen thuộc, và gặp lại đàn nai rừng thân yêu. Thương vô cùng đàn nai rừng chỉ còn lại mấy con. Năm ngoái, con nai mẹ ba chân đã bị bắn. Khi nghe tin đó, tôi buồn lắm. Vì ngày mới đến, tôi đã gặp nai mẹ ba chân với cặp mắt to thật hiền lành và đàn nai bảy, tám con bao quanh. Mỗi lần đi ngang ni xá, nai mẹ hay dừng chân và nhìn về phía chúng tôi. Từ khi nai mẹ bị bắn đến nay, hầu như tôi không thấy đàn nai rừng nữa. Cầu nguyện sao cho mấy chú thợ săn không bắn trúng một con nai nào. Tôi yêu mùa thu vì nó đẹp, nhưng đàn nai rừng thì có nhiều sợ hãi, bởi vì mùa thu ở đây cũng là mùa săn bắn. Mình đâu biết rằng hạnh phúc của mình có thể là khổ đau của loài khác.

Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ

Khi cái lạnh buốt bắt đầu xuất hiện thì mùa An cư đã đến. Sáng nay chúng tôi sẽ làm lễ Đối thú an cư. “Chú voi con” đi bên tôi, tay cầm y và miệng cứ lặp đi lặp lại câu nói mà em sẽ phải thưa khi ra đối thú: “Con là sa di ni Chân Trăng…”, “Con là sa di ni Chân…” Là người Việt lớn lên ở Mỹ, từ nhỏ em đã được giáo dục và sống theo văn hóa Mỹ cho đến khi trưởng thành và đi làm, nên em không quen nói tiếng Việt trước đám đông. Năm ngoái, em đã cắn nhằm lưỡi khi đọc tên của mình. Năm nay em sợ bị như vậy nên phải thực tập trước. Có bao nhiêu người trẻ lớn lên và biết chọn cho mình một đời sống có hạnh phúc trong hiện tại và tương lai! Em đã chọn cho mình một hướng đi giúp mình và giúp người chuyển hoá những khổ đau. Em phải có nhiều nghị lực để dứt bỏ những thói quen trong đời sống thường nhật khi còn là một cư sĩ, và tập “làm ngơ” với những thú vui chơi và những thức ăn ngon đầy cám dỗ.

Có những người trẻ từ Việt Nam qua du học ở New York. Khi đến Bích Nham, các em như trở về quê hương của mình. Có những em bị căng thẳng vì cuộc sống. Có em bị rơi vào đường ma túy, nhờ có sự giúp đỡ của quý thầy, quý sư cô, em đã làm lại cuộc đời. “Chuông chùa làng xa chiều lại vang… Bếp ai lên khói ấm tình thương… bát cơm rau thắm mối tình quê…” Tiếng hát vang lên từ phòng ăn. Một nhóm quý thầy, quý sư cô cùng các em sinh viên Việt Nam từ New York xuống, đang ngồi quây quần bên nhau và hát những bài hát của quê hương. Lâu lắm rồi tôi mới tiếp xúc lại không khí của những người trẻ Việt Nam ở hải ngoại với những bản nhạc “bolero” Việt Nam. Tôi thầm cám ơn quý thầy, quý sư cô đã có mặt cho các em.

Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương

Trong khóa tu ở tu viện Mộc Lan, chúng tôi đã làm lễ xuất gia cho hai em Chân Trăng Quang Sơn và Chân Trăng Kim Sơn. Đã từ lâu, Thầy muốn tu viện Bích Nham sẽ là nơi thuận tiện để phát triển đạo Bụt ở Mỹ. Trong những năm qua, tôi thấy người Mỹ bắt đầu biết đến Bích Nham nhiều hơn. Có nhiều người trẻ lớn lên ở nước Mỹ muốn trở thành những vị xuất sĩ để phụng sự cho xã hội. Tuy có hai mươi ba sư cô, mà chúng tôi thuộc về sáu quốc gia rồi. Là một sư chị lớn tại đây, tôi phải thực tập thương các sư em cho đồng đều. Với những người dễ thương mà mình thương được thì dễ rồi, nhưng với người chưa dễ thương mà thương được mới là khó. Không phải đi tu rồi là trở nên bậc thánh nhân. Những tập khí mình huân tập từ nhỏ bởi gia đình và xã hội cũng đủ tạo những phiền phức cho nhau trong cuộc sống chung hàng ngày. Nếu lên non cao và chỉ tu có một mình thôi thì chắc chắn là mình không làm ai buồn và dĩ nhiên cũng không ai làm mình giận. Nhưng gốc rễ của phiền não thì còn y nguyên vì đâu có ai chạm đến. Sống trong tăng thân là một môi trường rất tốt để thấy rõ những thói quen đẹp hay xấu của mình, để mình có cơ hội nhìn lại và chuyển hóa những cái chưa hay, chưa đẹp. Tôi thấy rõ một điều: ban đầu, ai cũng lên xuống vì những phiền não do mình tạo ra. Nhưng tu một thời gian rồi ai cũng trở nên đằm thắm. Chỉ cần mình kiên nhẫn lúc ban đầu. Thầy đã từ bi và kiên nhẫn với những tập khí của mỗi chúng tôi. Tôi cũng đang đi theo bước chân của Thầy, kiên nhẫn trong tình thương với các sư em của mình.

Mấy ngày qua tuyết rơi nhiều, vùng Đông Bắc Mỹ đang có nhiều trận bão tuyết. Sáng nay mở cửa ra ngoài, trước mặt tôi là một biển tuyết mêng mông. Chỉ có một đêm thôi mà lớp tuyết đã dày lên trên hai tấc, và tuyết vẫn đang tiếp tục rơi. Tuyết rơi rất đẹp, như những bông hoa trắng được cõi trời rải xuống trần gian. Nhưng khi có bão tuyết thì tuyết như muốn lấp đầy cả trần gian làm cho mình sợ hãi. Con người mình cũng thế. Khi hiền thì ai trông cũng rất đẹp, rất dễ thương. Nhưng khi cơn giận nổi lên rồi thì mọi người hơi ngại tới gần. Tôi bước thật chậm. Lướt qua tôi là những bước chân thoăn thoắt của những sư cô trẻ, một sư em ngoái lại vẫy tay nhìn tôi cười. Dưới chân tôi là lớp tuyết mịn giống như đường, nhưng cũng giống như muối. Thực sự, dưới chân mình là tuyết chứ không phải là muối hay đường. Cuộc đời thật ra là ngọt ngào, hay đắng cay đều do ý niệm mình mang lại. Hãy thực tập chấp nhận những gì đang xảy ra cho mình với thái độ bình tĩnh. Hiện tại tôi đang bước từng bước chân trên lớp tuyết dày và thấy rằng đây là tuyết chứ không phải là “đường” hay “muối” gì cả. Nghĩ như thế, tôi thấy mình nên thực tập tâm không ưa thích cũng không ghét bỏ.

Sáng hôm nay trời nắng đẹp, mùa xuân sắp về và mùa An cư cũng sắp hoàn mãn. Chúng tôi thêm một tuổi đời và một tuổi đạo. Thêm một tuổi đời thì thấy mình đã gần kề bên cửa tử. Còn thêm một tuổi đạo thì mình đã về và đã tới hay chưa?

Chân Hoa Nghiêm

Cây tuệ Vườn Ươm

Muốn hiểu thương
Có Vườn Ươm
Bên Thầy bạn
Mỉm cười luôn
Sống miên mật
Cả ngày đêm
Nhàn hơi thở
Nhẹ bước chân
Mọi tiếp xúc
Niệm đơn thuần
Tăng phúc lạc
Lắng ưu phiền
Ân đất Mẹ
Lòng tăng thân
Chăm cây tuệ
Nẩy mầm xinh
Cùng vạn loại
Thông suối nguồn
Thắm nước Việt
Tươi hành tinh
Thơm hoa bưởi
Ngọt lời chim
Vỗ về trẻ
Hòa trăng thanh
Mát dịu cả
Ruột tre xanh
Lắng trong nước
Con sông hiền
Nuôi đồng lúa
Lành sạch thêm
Chảy dài đến
Tưới mọi miền
Khơi sự sống
Đượm nhân tình
Vừa khám phá
Chiều tâm linh
Niềm tin lớn
Nhờ đệ huynh
Đã thành một
Dòng sông thơm
Cầm giới luật
Trì pháp môn
Vui buồn tới
Được sẻ chia
Điều thầm kín
Được lắng nghe
Được sám hối
Những lỗi lầm
Đức như biển
Nơi(1) tăng thân
Nâng mọi giới
Thấy tự tâm
Thấy mình hiểu
Thấy mình thương
Thấy mình đã
Có con đường
Thấy mình đã
Con muôn phương
Nay biểu hiện
Cây Giáng Hương
Con Hồng Lạc
Cháu Thái Lan
May mắn nữa
Tay trong tay
Bao huynh đệ
Cây Trà Thơm
Bao huynh đệ
Chọn năm năm
Bao huynh đệ
Chọn gieo duyên
Bao huynh đệ
Hạt mầm lên
Bao huynh đệ
Khéo tán dương
Đều con Bụt
Con nhân duyên
Là con cháu
Sống hiểu thương
Thủy chung với
Nếp tổ tiên
Quá hiện vị
Suốt tam thiên
Tinh khôi nào đó
Đầy đủ nhân duyên(2)
Sao Mai bừng sáng
Lướt sóng tử sinh
Giữa rừng dâu bể
Tươi thắm hồng liên
Quê hương muôn thuở
Là chốn này đây
Đơn thuần nhận diện

Lồng lộng trời mây.

Ôn Thủ Toạ Làng Mai Thái Lan
Huế, ngày 10.12.2017

 

Phật Đản 2018

(tại xóm Thượng, Làng Mai, ngày 27.5.2018)

Bụt thở cho con

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 2.8.1998 tại xóm Hạ, Làng Mai)

Ngày xưa khi mới đi xuất gia, lúc mười sáu tuổi, tôi có học bài kệ thỉnh chuông:

“Văn chung thanh, phiền não khinh.
Trí tuệ trưởng, bồ đề sanh.
Ly địa ngục, xuất hỏa khanh.
Nguyện thành Phật, độ chúng sanh”.

Nghĩa là: Nghe tiếng chuông thì cảm thấy những phiền não trong lòng mình trở nên vơi nhẹ, trí tuệ trong mình phát triển, lìa khỏi những khổ đau của địa ngục, tức là những ngọn lửa thiêu đốt của tham dục, sợ hãi và hận thù. Con nguyện sẽ trở thành một vị Phật để độ cho chúng sanh. Và sau mỗi thời công phu, tôi cũng được đọc câu:

“Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.
Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.
Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.
Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành”.

Nghĩa là: Tất cả chúng sanh đang đau khổ số lượng đông đảo không thể đếm được, con muốn cứu độ tất cả, không bỏ sót một ai. Phiền não nhiều vô tận, con nguyện chuyển hóa hết. Những lời dạy thâm sâu của đức Phật và những pháp môn Ngài đưa ra nhiều không thể đo lường hết được, con nguyện tu tập hết. Con đường thành Phật cao viễn tột cùng, con nguyện đi tới tận cùng để thành Phật. Những bài kệ đó cho thấy rõ ràng mục đích của người tu là được thành Phật. Thành Phật là chuyện có thể làm được. Lý tưởng của người tu là để thành Phật, chứ không phải để làm những chuyện khác như là làm chùa lớn, hay lập hội để làm chủ tịch, làm hòa thượng pháp chủ, hay làm trụ trì.

Mục đích tu là để trở thành Phật thôi, đâu có thể nào khác được. Hồi mười sáu tuổi mình đã được học rất rõ ràng như vậy rồi. Nhưng lúc đó, mình còn nghĩ rằng thành Phật chắc lâu lắm mới được, phải từ kiếp này sang kiếp khác, đời này qua đời khác. Nếu có người tự xưng tôi là Phật Di Lặc giáng sinh, tôi là Phật Thích Ca, hay tôi là Bồ tát Quán Thế Âm đây, thì mình nghĩ: Ông này chắc là điên rồi. Mình còn là chúng sanh sờ sờ, tham, sân, si còn nhiều, tự ái còn nhiều, xưng là Phật thì ai mà tin được.

Nhưng có một hôm, đang đi thiền hành, đi rất hay, sự nhất tâm rất cao, có niệm, có định, và có tuệ, hạnh phúc rất lớn, tự nhiên tôi có cảm tưởng rằng đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một đức Phật đang đi. Trong con người mình lúc đó có một người đang đi thiền hành và một người đang quán sát. Người quán sát đó nói rằng: “Đây đâu phải là một chúng sanh đang đi, đây là một vị Phật đang đi”, tại vì mình thấy rõ ràng mỗi bước đều có niệm, có định, có tuệ, có hạnh phúc và có giải thoát, không luyến tiếc quá khứ, không mơ ước tương lai. Trong con người của mình có một quán sát viên và một diễn viên. Diễn viên này không có ý muốn trình diễn để cho người ta coi, mà thực sự đang đi với tất cả hạnh phúc. Đi không với mục đích để dạy người ta, để làm mẫu cho người ta đi theo, mà đi giống như một đức Phật đang đi vậy.

Nhớ lại năm đó, tôi và một số các vị xuất gia ở Làng Mai qua hoằng pháp ở Đại Hàn. Hôm đó, cảnh sát đã chặn đường một đại lộ lớn tại Hán Thành để cho mấy ngàn người đi thiền hành. Khởi đầu buổi thiền hành, tôi đứng trên cái bục cao để hướng dẫn mọi người thiền hành làm sao cho có an lạc trong từng bước chân. Sau khi hướng dẫn xong, bước xuống bục để bắt đầu đi thì tôi không có lối để đi. Thiên hạ bao quanh rất đông. Hàng trăm ống kính của máy chụp hình, máy quay phim bao quanh tôi. Không chỉ có những nhà báo mà thôi, người thường cũng có máy ảnh và máy quay phim rất nhiều.

Lúc đó, tôi thấy khó quá! Đi thiền hành như vậy làm sao đi được! Tôi tự nhủ rằng mình chịu thua thôi, mình để Bụt đi giùm mình. “Bụt ơi, con chịu thua rồi! Xin Ngài đi giùm con!” Tự nhiên trong tôi Bụt hiện ra, Bụt bước xuống, Bụt đi một bước, hai bước rất chánh niệm, rất vững chãi. Rừng người từ từ rẽ ra, nhường lối cho Bụt đi. Thật hay. Mình không yêu cầu quý đạo hữu rẽ ra để có đường cho mình đi, mình không phải nói với ai như vậy hết. Bụt ở trong mình lãnh trách nhiệm này. Ngài chỉ cần bước một bước, hai bước là tự nhiên hoàn cảnh trở nên rất thuận lợi. Nhìn cho kỹ thì đức Bụt đó không phải ở ngoài mình, đức Bụt đó ở trong mình. Mình đã tập luyện lâu ngày rồi. Khi Bụt đi thiền hành thì ngài không có cố gắng gì hết, Bụt đi thật tự nhiên, thảnh thơi, thật giải thoát.

Trong mỗi người của chúng ta có Bụt và có ma. Ma nói rằng: “Đi thiền hành mệt quá! Bây giờ mình muốn về nằm trên cái giường của mình cho khỏe”. Mình trốn đi thiền hành, đó là do ma ở trong con người mình xúi. Nhưng trong con người mình cũng có Bụt. Tại vì khi đi thiền hành, Bụt đi rất hay, rất hạnh phúc, đầy năng lượng. Mỗi bước chân đem tới an lạc, thảnh thơi, chuyển hóa, trị liệu, nuôi dưỡng. Trong con người mình có hai yếu tố: một là yếu tố Bụt, hai là yếu tố ma. Ma này cũng hiền thôi. Đó là ma làm biếng, ma nghi ngờ, ma mặc cảm cho rằng mình không giỏi, ma trốn đi công phu, ngủ nướng thêm mười lăm phút nữa… Ma đó cũng dễ thương thôi. Bụt đối với ma không hề có khiển trách, không đánh đập, không trừng phạt. Bụt rất dễ thương, Bụt luôn luôn nói: “Thôi mà! Dậy đi cho rồi, ma!” Bụt cư xử với ma như một người anh với người em của mình. Trong những tuần của khóa hè này, các thiền sinh của chúng ta đã được học rằng trong con người mình, Bụt luôn ôm lấy ma như một người anh ôm lấy đứa em vậy.

Làng Mai có nhiều thầy giỏi về máy tính, trong đó có thầy Pháp Ấn, hễ thấy sư em nào có khó khăn về máy vi tính thì sư anh Pháp Ấn tới giúp và giải quyết rất nhanh. Mình loay hoay với cái máy vi tính hơn một giờ đồng hồ rồi mà không làm gì được. Thấy sư anh đi ngang qua, mình mừng quá! Sư anh nói xích qua bên kia một chút. Sư anh ngồi vô mới có một hai phút đã xong. Rất hay. Sư anh đó tức là Bụt trong người của mình. Mỗi khi mình làm biếng, mình mệt nhọc, mình nghi ngờ, mình thấy khó khăn, thì mình nói: “Sư anh ơi, làm giùm em đi!” Sư anh giúp đỡ đó tức là Bụt ở trong mình.

Nếu mình thực tập khôn khéo thì mình để cho Bụt làm hết mấy chuyện mà mình làm biếng làm. Và tôi đã thực tập như vậy. Cho nên trong khóa này quí vị có một bài kệ mới để sử dụng trong khi đi thiền hành: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mà Bụt luôn luôn thở rất hay và đi rất hay. Trong khi Bụt thở, trong khi Bụt đi thì mình có thể làm biếng được. Bụt như một người anh luôn luôn ôm lấy em mình, thở và đi cho em mình. Trong khi Bụt thở, Bụt đi thì mình được hưởng cái thở và cái đi. Câu đầu là: “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Mầu nhiệm quá!

Sau khi thực tập được chừng vài ba phút, mình thực tập đoạn kệ thứ hai: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Trong mình có phần làm biếng và có phần siêng năng. Phần siêng năng ôm lấy phần làm biếng để đi giùm, và phần làm biếng được thừa hưởng. Quý vị cứ thực tập đi rồi biết. Khi nào thấy khó khăn, chán nản, làm biếng thì mình nói: “Thôi Bụt ơi, Bụt làm giùm con đi!” Bụt sẽ chấp nhận làm liền. Bụt làm rất hay.

“Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Sướng lắm, mình đâu có cần làm gì đâu, Bụt làm hết. Công nhận là Ngài đi thiền hành rất là hay! Và Ngài ở trong mình chứ không phải ngoài mình. Hạnh phúc lắm, được đi với Bụt và được Bụt làm cho hết, mình chỉ hưởng thụ thôi. “Để Bụt thở, để Bụt đi, mình khỏi thở, mình khỏi đi”. Kế tới là: “Bụt đang thở, Bụt đang đi, mình được thở, mình được đi”. Sau một ngày học hỏi hoặc làm việc mệt nhọc, mình được tắt đèn đi ngủ, nằm trên giường có nệm êm, chăn ấm, mình phải hưởng cái đó. Mình có thể nói: “Bụt nằm thở, Bụt nghỉ ngơi, mình được nằm thở, mình được nghỉ ngơi”. Nằm xuống, đừng suy nghĩ vớ vẩn, ý thức là mình đang có dịp được nghỉ ngơi, được nằm trên giường của mình, khỏi phải làm gì hết, chỉ thở cho nhẹ để hơi thở đưa mình vào giấc ngủ. Mình cũng mời Bụt thở, mời Bụt nghỉ ngơi, và mình cũng thở theo, nghỉ ngơi theo. Mình sẽ đi vào giấc ngủ rất dễ dàng.

Hôm ấy đi thiền hành, tôi đã đi thật hay, tại vì tôi đã mời Bụt đi và Bụt đã đi quá hay. Mình nhờ Bụt làm cái gì Bụt cũng làm hay cả. Có nhiều lúc tôi đánh răng, tôi mời Bụt đánh răng, thì Bụt đánh răng rất hay, đánh răng rất chánh niệm, rất hạnh phúc. Có một bữa, tôi viết thư pháp, vẽ vòng tròn, vẽ vòng tròn thì mình muốn vẽ cho thật tròn và cho tự nhiên. Bữa đó tôi nói: “Thôi để Bụt vẽ, mình vẽ làm chi cho mệt”. Bụt vẽ rất hay. Mình vẽ thì mình còn sợ đẹp hay không đẹp, còn Bụt vẽ, Bụt chẳng sợ gì hết. Và vì không sợ cho nên rất đẹp. Mình cứ thử đi. Mầu nhiệm lắm.

Bụt luôn luôn có mặt hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày cho mình. Vậy mà mình cứ đi kiếm Bụt ở đâu đâu. Kiếm ở trên trời, kiếm ở bên Tây phương, kiếm ở trên bàn thờ, kiếm ở trong chùa. Không phải. Bụt ở trong chùa là Bụt bằng đồng, Bụt bằng xi măng, còn Bụt ở trong mình là thật, là trí tuệ, từ bi, giải thoát, tha thứ, bao dung. Khi gặp một người khó chịu, mình thấy mệt quá, mình chịu thua. “Bụt nói chuyện gì với người này đi cho con khỏi nói”. Thì Bụt sẽ nói và sẽ nói rất hay, rất từ bi. Quý vị nên nương tựa vào Bụt ở trong mình. Bụt ở trong mình hay lắm. Mỗi lần mình nương tựa như vậy, mình giao phó cho Bụt làm thì Bụt càng ngày càng sáng, càng rõ trong mình. Đó là thực tập quy y Phật một cách rất thực tế. Nói con về nương tựa Phật, đó chỉ là nói thôi, chưa phải là quy y thật. Quy y thật là phải để cho Bụt có mặt trong mỗi giờ phút của đời sống hàng ngày.

Tôi đã quyết định rồi, đến giờ tôi chết thì tôi sẽ nói: “Bụt ơi chết giùm con”. Và Bụt sẽ chết một cách rất an nhiên, hạnh phúc. Mình được chết theo cái kiểu đó thì rất khỏe. Vấn đề thành Phật không phải là vấn đề xa xôi, kiếp sau hay là ngàn muôn kiếp sau. Vấn đề thành Phật là vấn đề bây giờ, ở đây. Mình thành Phật trong mỗi giây phút. Khi mình nương tựa Phật là mình để cho Bụt làm, để cho Bụt thở, để cho Bụt đi. Mình đang từ từ thành Phật đó. Và khi mình nói rằng mình là Phật, thì không phải là mình điên đâu. Trước đây, mình thấy ai tự xưng là Phật thì mình nghĩ người đó điên rồi. Nhưng theo đúng pháp môn này thì thành Phật là vấn đề mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút.

Tin ở hoa hồng

Chị Caroline: “Ta ta ta da…” 
Mọi người: “Ta da”

Khi chị Caroline cất giọng bằng dấu hiệu trên thì cả hội trường hơn 400 người đồng loạt đáp lời và sau đó là sự im lặng tuyệt đối. Đó là cách chị ấy kêu gọi sự chú ý của mọi người khi muốn thông báo một điều gì…

Xung quanh chúng tôi không phải là thiền đường, là chương trình trẻ em hay thanh thiếu niên, càng không phải là thiền sinh tìm về trong một khóa tu chánh niệm thông thường. Đó là trại hè thường niên vùng bờ đông nước Mỹ với tên gọi: Trại hè Văn hóa Việt Nam – đặc biệt dành cho các gia đình người Mỹ bản xứ nhận nuôi trẻ em mồ côi Việt Nam do Catalyst Foundation tổ chức. Đây là tổ chức thiện nguyện được sáng lập bởi chị Caroline cách đây 17 năm, là một nhịp cầu, một cánh tay đưa trẻ em mồ côi Việt Nam đến với các gia đình Mỹ. Và không dừng lại ở đó, tổ chức này còn thực hiện hai trại hè mỗi năm ngay sau khi thành lập để các gia đình được hội tụ, để các em được gặp gỡ và kết nối với nhau.

Các em, từng là trẻ mồ côi sống trong trại tế bần hay những vùng xa xôi, hẻo lánh của Việt Nam, bây giờ đến với trại hè này với gia đình mới, với cuộc đời mới. Có em bé chỉ mới 1 hoặc 2 tuổi, có em 5,6,7… tuổi, có em đã vào tuổi thiếu niên, thiếu nữ, có em đã trưởng thành cùng Catalyst, và nay quay trở lại làm tình nguyện viên trong các trại hè sau. Tất cả vì một lòng Việt Nam, dù không cần ai phải nói tiếng Việt cả. Điều đó không thành vấn đề, bởi các em cần hội nhập trong gia đình mới cùng với cha mẹ nuôi, anh chị em người bản xứ. Ngôn ngữ chỉ là phương tiện thôi. Điều tuyệt vời nhất là cả gia đình các em đều có mặt trong trại hè Văn hóa Việt Nam này. Chúng tôi gọi đây là nơi gặp gỡ của những trái tim, bởi điều mầu nhiệm này sẽ không xảy ra nếu ta không có trái tim và vòng tay lớn hơn chính mình. Và chính các em, những khuôn mặt bé trai, bé gái rất Việt Nam, chính sự có mặt và trở lại của các em, đã đưa chúng tôi về bên nhau.

Chúng tôi, những người tu sĩ áo nâu khởi nguồn từ Việt Nam cũng có mặt đó cho các em, chơi với các em, khơi dậy hình ảnh trong tâm khảm và tiềm thức xa xôi của các em một thế giới tâm linh, một điểm tựa hồn thiêng sông núi mà chúng tôi và các em đã được ngọn gió tổ tiên thổi qua tận nơi này. Chương trình với các em là những buổi thiền ca, thiền sỏi, thiền buông thư và cả thiền viết thư pháp. Tất cả các em từ tuổi thiếu nhi, thanh thiếu niên đều được tham dự những chương trình thích hợp với mình. Bao nhiêu cũng không đủ khi chúng tôi dạy các em nghệ thuật sống tỉnh thức, thương yêu, tha thứ và có mặt cho nhau. Nhưng thật ra chính các em lại dạy cho chúng tôi cách mở lòng đón nhận những tin yêu của cuộc sống; từ vũng bùn, đóa sen trong trái tim em đã nở rộ, để đón nhận một gia đình mới, hòa nhập một xã hội mới, làm sống dậy một cây đời mới. Các em đã dạy chúng tôi bài học không lời về khái niệm gia đình: nơi nào có tình thương yêu, nơi đó có sự ấm áp của gia đình.

Những người cha, người mẹ, chị Caroline và tất cả những người bạn đã chung tay đưa các em về đây, hội ngộ dưới một mái nhà Văn hóa Việt Nam này. Tất cả các em đều hiểu và chấp nhận một sự thật mình là con nuôi đến từ Việt Nam. Trại hè này dành riêng cho các em như một cuộc về nguồn, trở về để được tự do tắm mát trong nguồn cội của mình. Mà quý hơn cả là gia đình hiện tại của các em cũng được tham gia, tìm hiểu thêm về món ăn, câu chuyện, phong tục, tập quán, văn hoá của người Việt để nối thêm nhịp cầu hiểu và thương trong nhau. Vì một bước ngoặt bất ngờ của định mệnh, các em đến sống trong những trại mồ côi ở Việt Nam, và cũng chính tại nơi đó, các em lại bước qua một số phận khác là gặp gỡ các cha mẹ nuôi của mình. Phần lớn các em được bảo hộ và lớn lên trong môi trường Mỹ, cha mẹ nuôi là những người bản xứ, không phải là người Việt. Nhưng mỗi năm, nhờ những trại hè như vậy, các em được gặp nhau thường xuyên, được gắn kết từ gia đình nhỏ sang gia đình lớn, với chị Caroline, với các anh chị tình nguyện viên mà các em gọi trìu mến là nhóm ACM, nhóm Anh-Chị-Em. Chị Caroline như là người mẹ thứ hai, thứ ba, thứ n.., là người thân không thể tách rời trong gia đình của các em. Đa số các anh chị tình nguyện viên là người Mỹ gốc Việt, cũng có mặt, yêu thương, chia sẻ, quan tâm, trò chuyện, chơi đùa cùng các em hết mình, bằng cả trái tim, bằng những niềm vui, niềm cảm thông, bằng những trò chơi dân gian bình dị của tuổi thơ Việt Nam. Tất cả chúng tôi đều thấu hiểu sâu sắc rằng chỉ cần các em còn có gia đình, còn cơ hội sống, còn được thương yêu, thì các em sẽ còn có tương lai. Hạnh phúc ấy tuy nhỏ bé, âm thầm nhưng rất có ý nghĩa với hết thảy mọi người.

Chúng tôi có mặt ở đó, những vị xuất sĩ Việt, cùng với những người anh, người chị mang dòng máu Việt khác nữa, để chuyển tải một thông điệp là các em không bao giờ cô đơn cả. Ta luôn có cách để tìm về với nhau, với chính mình, tiếp xúc với cội nguồn sâu xa nhất của mình. Chúng tôi thở cùng các em, để thấy núi, thấy sông, thấy bầu trời bình yên thật sự có mặt, thật sự hiện hữu. Chúng tôi cùng nhau trở về với hơi thở vỡ lòng mà có khi em đã không có cơ hội được nhắc nhớ từ thuở xa xưa. Thở đi em, rồi các em sẽ thấy bình an này là thật, cả gia đình và những yêu thương này nữa. Em hãy hít thở thật sâu, còn được hít thở là ta còn có cơ hội sống, làm mới, yêu thương. Và cả thứ tha. Chúng ta cùng làm điều đó với nhau, yêu thương nhau đầy như trời cao, như biển cả để ta vẫn còn tin cuộc sống đẹp như đóa hồng ngát hương trong vườn mỗi sớm mai thức dậy. Và em hãy tự tin ngắt đóa hồng ngày hôm nay dành tặng cho những người thương đang có mặt cùng em. Em hãy biết ơn điều đó, tiếp xúc sâu trong tận cùng tế bào của mình để mỗi ngày em học cách yêu mình và yêu người nhiều hơn.

Đôi khi chúng tôi thấy mênh mông nỗi buồn trong những đôi mắt bé thơ kia. Sự cắt lìa với tình mẫu tử thiêng liêng để lại cho các em những tổn thương lớn lao không dễ gì xóa nhòa trong tàng thức. Có thể đó là điều không tránh khỏi, là sự sắp đặt tréo ngoe của số phận, nhưng tôi muốn nói với các em rằng chúng ta có thể vượt qua những khổ nạn đó của đời sống cùng với nhau, như một gia đình. Nếu cần thì tay chúng tôi đây, lòng chúng tôi đây, em hãy sà vào và khóc đi dù không cần biết lý do là gì. Trong vũ trụ này, không một điều gì có thể mất đi cả dù chỉ là một giọt nước. Hạt nước mắt khô, lên trời có khi lại thành mây, mây ra biển, lên núi, về sông biết đâu lại làm mưa. Mưa rơi xuống lại nẩy những mầm xanh hy vọng. Chúng tôi không biết sự có mặt của mình có thể đem lại điều gì tốt đẹp không, nhưng lòng tin nói với tôi và em rằng, yêu thương thì không cần diễn bày, món quà có mặt là vô giá. Khi tôi ôm một em bé trong tay, tôi đã ôm bằng tất cả cái ôm của những người mẹ, người em, người chị Việt Nam, mong rằng em cảm nhận được trọn vẹn tình cảm đó. Với tình thương yêu đích thực từ đáy lòng mình, ta đã có thể làm nên điều kỳ diệu rồi.

Chúng tôi cũng được ngồi chơi với những bậc sinh thành. Người Việt Nam gọi cha mẹ là những bậc sinh thành nên tôi xin phép gọi cha mẹ nuôi của các em cũng bằng danh từ thiêng liêng đó. Công sinh thành và công dưỡng dục là ngang nhau; huống chi, họ lại có công sinh ra các em trong một đời sống khác. Hành trình gặp nhau, kiếm tìm nhau giữa cha mẹ và con cái cũng gian nan không kém, ít nhất là khoảng cách nửa vòng trái đất và to rộng hơn là tiếng nói của con tim. Một bà mẹ đã nói với con gái nuôi của mình rằng: “Con không được sinh ra từ bụng mẹ mà được sinh ra từ trái tim của ba mẹ”. Lựa chọn từ trái tim bao giờ cũng là lựa chọn đúng đắn nhất dù ngoài kia cuộc sống còn đầy lo toan, vất vả và bất toàn.

Những bậc cha mẹ ấy khi ngồi tâm sự cùng chúng tôi, chỉ bày tỏ sự quan tâm sâu sắc và chia sẻ những yêu thương to như trời biển dành cho những đứa con của họ, gửi gắm niềm hy vọng, hạnh phúc và tương lai của mình vào những đứa con nuôi ấy. Họ chắc hẳn có nhiều lựa chọn, nhưng họ đã chọn các em. Và vì chúng tôi cũng mang dòng máu Việt nên chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến họ dẫu rằng họ không cần điều đó. Chúng tôi hiểu gia đình các em có thể chọn một trại hè khác thay vì đến đây hằng năm như thế này, họ hoàn toàn có thể bỏ qua quá khứ, quên đi mình từ đâu đến bởi ai ai cũng chỉ muốn nghĩ về tương lai… Thế mà nhiệm mầu thay, những gia đình ấy tiếp tục đưa con mình về trại hè, mỗi năm đều được mong chờ như lần đầu tiên. Họ lựa chọn đối diện với sự thật, tình gia đình và cả khổ đau để có thể sống hạnh phúc trong hiện tại và tương lai.

Khi chúng tôi ngồi giữa những bậc cha mẹ tóc vàng với những đứa con tóc đen ấy, chúng tôi lúng túng, luýnh quýnh và rơi tõm vào hố thẳm của tình yêu thương. Dù không lựa chọn đời sống gia đình vì mang nghiệp tu sĩ, chúng tôi đều hiểu ai cũng có những gánh nặng phải mang trên vai, bởi vậy chẳng ai đủ thảnh thơi để mang vác thêm gánh nặng của người khác trừ phi phải rất yêu thương, kiên nhẫn, bao dung, rộng lượng… Không từ ngữ nào có thể nói hết những gì họ đã mang đến cho những đứa con nuôi ấy… Chúng tôi chia sẻ với những bậc sinh thành ấy bằng lời chân thành của trái tim, bằng cách lắng nghe sâu như một phần làm nhẹ đi những gánh nặng vật chất và tinh thần của họ. Bằng pháp môn Làm mới, chúng tôi nhắc nhớ sự có mặt cho nhau hết lòng và sự trân quý từng phút giây hội ngộ của cuộc đời. Những cơ duyên hạnh ngộ và sống cùng nhau trong đời sống này không dễ có, nên khi đã tìm thấy nhau, chỉ cần ngồi bên nhau, thở cười với nhau trong tình thâm thì những phút giây ấy trở thành quan trọng và quý giá nhất rồi. Từ đó, họ sẽ tiếp tục gom góp nhiều phút giây ý nghĩa như vậy nữa cho gia đình. Chúng tôi thấy nụ cười đã nở trên môi, trong tim họ…

Ở trại hè còn có những chương trình văn hóa cho gia đình, có trò chơi, có món ăn Việt cho các em, có buổi chợ đêm gặp nhau trong niềm hân hoan, trong những chiếc áo dài các em đang mặc. Tôi thấy tà áo dài tung bay, tôi thấy hồn thiêng được trải dài. Các em sẽ mang nước Việt và hồn Việt đến mỗi căn nhà bằng những vẻ đẹp không hình tướng như thế. Các em sẽ lớn lên và trưởng thành, là người con của cả địa cầu chứ không chỉ còn là con của nước Việt nữa. Nhưng tôi mong em nhớ, mình vẫn nhỏ bé với quê hương, vẫn chảy dòng máu Việt Nam da vàng, kiên cường, lạc quan, khiêm cung, bình dị… như đã từng qua hơn 4000 năm. Chúng tôi nguyện sẽ luôn có mặt ở đó cho các em, vững bền như sông núi Việt Nam, nhẹ nhàng khơi nguồn dòng chảy tâm linh đưa những người con đất Việt đi thật xa rồi sẽ trở về. Chúng tôi tin rằng cho dù em có đi đâu xa nguồn cội của mình, nhưng những lúc như vậy là lúc tìm về, để cội rễ trong lòng em luôn tươi mới, vững bền; để các em luôn được tưới tắm từ nguồn giếng nước thơm trong, mát lành đã từng nuôi dưỡng tổ tiên của mình. Không hiểu sao tôi tin lắm sự trưởng thành và hóa giải những đau khổ của các em. Trời không mưa sao mắt tôi ngân ngấn nước.

Tôi lại muốn nói thêm với các em rằng các em không đơn độc trên hành trình cuộc sống này. Cuộc đời hẳn đã bày ra những trò chơi trốn tìm để các em từ gia đình này lại trở thành thành viên trong gia đình khác. Tất cả đều mang một tên gọi thôi: Gia đình. Mà theo đạo Bụt, đạo tỉnh thức của chúng tôi, chúng ta từ vô lượng kiếp đã từng hữu duyên gặp nhau, đã từng là anh-chị-em, gia đình của nhau rồi. Hội ngộ này chỉ là một mắt xích nhỏ để ta nối thêm niềm yêu thương, quan tâm, chia sẻ dành cho nhau, làm đầy đời sống trong nhau. Gia đình trở thành một khái niệm rộng lớn hơn. Có những nhân duyên dài lâu hay ngắn ngủi để có thể đi cùng nhau, nhiều lắm là 18 năm có lẻ thôi, nên em hãy trân quý dù đoạn đường nhiều hoa hồng hay trái đắng. Tôi đã nhìn thấy đủ nhiều, đã hiểu đủ sâu để biết rằng yêu thương không có nghĩa là phải gắn bó. Đôi khi, yêu thương là chấp nhận sự chia ly và hẹn ngày trở lại để gặp nhauNhư những con thuyền ra khơi và gửi lại những lời hẹn ở bến bờ. Tôi tin các em sẽ học được cách quay về sống với hiện tại, trân quý những điều bình thường đẹp đẽ lấp lánh trong tim, trong tay. Rồi ngày sẽ lại tươi mới phải không em, khi em biết hạnh phúc, bình an là có thật qua những cái ôm xiết, những nụ hôn, những bữa ăn chiều có nhau. Em cứ sống tốt, giữ gìn niềm vui qua tháng ngày và thả trôi những nỗi buồn phiền tiền kiếp. Đôi khi được sinh ra không phải là lựa chọn của chúng ta nhưng sống vui và đẹp như thế nào vẫn có thể nằm trong khả năng của em. Tôi biết em làm được điều đó vì tôi tin em. Tôi tin những người yêu thương em sẽ luôn nghĩ về em, luôn có em trong tim của họ. Và yêu thương em có bây giờ cũng là tình cảm từ trái tim bao la không biên giới. Em hãy dang tay đón nhận, hãy mỉm cười an yên rồi cuộc đời sẽ trả lại em những ngày tháng hồn nhiên. Cứ bình yên, nỗi đau nào cũng được chữa lành và cũng qua đi. Em nhớ nhé, đừng quên!

Khi tôi viết những dòng này thì những giờ khắc cuối năm cũng chậm rãi đi qua. Chút nữa thôi, chúng tôi sẽ đốt lên một đám lửa thật to giữa trời tuyết trắng và sẽ gửi những lời khấn nguyện hay những ước mong của mình cho năm mới trong ánh lửa hồng đó. Nguyện cầu bình an cho em, cho tôi và cho hết thảy nhân loại này. Thời gian đã đi hết một vòng 365 ngày, và mùa xuân sẽ tới sau một mùa đông đằng đẵng băng giá. Tuyết sẽ tan, đất Mẹ sẽ ươm những mầm xanh như bao giờ, bao giờ. Vì lẽ đó, chúng tôi còn niềm tin vui và hạnh phúc. Tôi chúc các em tôi dù ở nơi đâu cũng hưởng trọn những tin yêu và bình an trong sâu thẳm lòng mình. Giữa niềm vui còn được sống, ta còn có ý nghĩa của sự hồi sinh. Hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời không phải là tiền tài, địa vị mà chính là tìm thấy chính mình, không còn bơ vơ lạc loài nữa, là niềm vui mỗi ngày mở mắt nở nụ cười tươi bên những người thân thương. Em hãy mỉm cười và hát ca đi vì ta còn có nhau, còn tin tưởng nhau, tin vào tình yêu thương và cuộc sống như Hoàng tử bé luôn tin vào vẻ đẹp bất tận của đóa hồng.

Chân Lân Nghiêm

Thấy Bụt

Nhật ký chuyến đi Ấn Độ

Chân Đào Nghiêm

Nhiều ngày trước khi chuyến hành hương về đất Bụt bắt đầu, tôi cùng với các anh chị em xuất sĩ đã có mặt tại Ấn Độ để hướng dẫn một khóa tu. Và ngày hôm qua, chúng tôi đã gặp nhóm cư sĩ nói tiếng Pháp, thành viên của chuyến hành hương. Tôi cảm thấy thật vui sướng, thấy mình thật may mắn được tham gia vào chuyến đi này. Những người bạn cư sĩ đã góp phần rất lớn để chuyến đi được thực hiện. Hạnh phúc biết bao được đặt chân lại trên mảnh đất Ấn Độ sau bao năm tháng mong chờ. Tôi để cho mình được mặc lòng tắm trong hương vị, âm thanh, cảnh vật, con người… nơi đây. Năng lượng của Ấn Độ thật ấn tượng: rất đông người ở khắp nơi, âm thanh đủ loại và ô nhiễm… Sự thực tập là đây. Làm sao để giữ được sự điềm nhiên và bình an nội tâm trong khung cảnh náo động này, để vẫn mở lòng ra và đón nhận.

Đến thành phố cổ Ba La Nại (Varanasi), chúng tôi đi men theo bờ sông Hằng bằng thuyền. Có rất nhiều người cầu nguyện, tắm trên sông. Sự im lặng của mọi người trên thuyền đã giúp tôi tận hưởng được cảnh mặt trời lên và vẻ đẹp của sông Hằng. Cả người tôi rúng động trước sự thành kính, tôn thờ, niềm tin tha thiết, sự mộ đạo và tín ngưỡng sâu dày của những con người nơi đây.

Một cái xác phủ kín hoa đang chờ để được thiêu, một xác khác vừa được thiêu xong, tro đang được thu lượm… Nỗi buồn xâm chiếm lòng tôi. Trẻ em, người lớn cạo tóc trước khi đầm mình dưới dòng sông Hằng linh thiêng. Trò chơi của sự sống và cái chết… Đây quả là những phút giây khiến chúng ta hoặc sẽ mở lòng ra hoặc sẽ bị xáo trộn cực độ. Đối với tôi, sáng hôm ấy, trái tim tôi đã mở ra.

Chúng tôi đi thiền hành trên những con phố nhỏ ở Ba La Nại. Cuộc sống phơi bày trước mắt. Tôi thấy những cảnh đói nghèo, nheo nhóc, nhưng tôi cũng gặp rất nhiều những nụ cười, những ánh mắt thân thiện.

Dừng chân tại Lộc Uyển (Sarnath) nơi Bụt đã cho bài thuyết pháp đầu tiên sau ngày thành đạo, nơi Ngài nhận những vị đệ tử xuất gia và tại gia đầu tiên, cả đoàn cùng đi nhiễu quanh tháp. Thầy, tất cả huynh đệ ở Làng Mai và con gái tôi, Sivakami, đã cùng có mặt trong mỗi bước chân của tôi.

Hạnh phúc quá! Tôi đang đứng tại Bồ đề đạo tràng (Bodh Gaya) – Phật tích linh thiêng – nơi Bụt thành đạo. Từ rạng sáng, một nhóm nhỏ trong chúng tôi đã lên đường tới đây. Hàng ngàn con chim cùng hót vang đón chào ngày mới trên những cây đại thụ bên đường dẫn tới Bảo tháp Đại giác (Mahabodhi). Tôi tận hưởng từng bước chân an trú trong hiện tại của mình. Trời sáng hẳn, tiếng chim ngừng bặt nhường chỗ cho những lời đọc kinh, chú nguyện của hàng trăm người đang có mặt ở nơi này. Một lần nữa, tôi mở rộng mọi giác quan để đón nhận những gì đang hiện diện. Chiều tối, tôi quay lại đền và được chứng kiến một quang cảnh hoàn toàn khác. Tới giờ đóng cửa, hoa và các phẩm vật trên bàn thờ đã được lấy xuống. Chỉ còn lại năng lượng kính ngưỡng, chú tâm được chế tác bởi những người đã tới trong ngày và sự có mặt của những chú chó canh đền đứng nhìn chúng tôi cho tới khi chúng tôi ra về.

Ngày tiếp theo là ngày kỷ niệm mười bốn năm tôi được xuất gia. Hạnh phúc làm sao! Tôi có mặt tại Bồ đề đạo tràng vào đúng ngày này. Chúng tôi trở lại đây từ rất sớm, trước cả giờ mở cửa. Trong số những người đứng đợi có một vị thầy tu Tây Tạng. Tôi chắp tay chào thầy và được nhận lại một nụ cười nở trên khuôn mặt đầy từ bi, bao dung. Buổi sáng hôm ấy, bước chân tôi đã nhiều lần quay lại nơi vị thầy tu ấy ngồi trong an trú và tự tại.

Sau này, tôi cũng gặp một sư cô người Tây Tạng đã có tuổi, người nhỏ bé. Một người trẻ tuổi hơn đi theo đỡ sư cô. Khi sư cô ngồi dưới cội bồ đề ngắm nhìn những cành cây, một chiếc lá rời cành, rơi xuống ngay nơi chân sư cô. Sư cô cúi xuống nhặt chiếc lá rồi đứng dậy, khi đó tôi đã bắt gặp ánh mắt và gương mặt rạng rỡ của sư cô. Tôi như cảm nhận được trọn vẹn niềm vui sướng của sư cô, bởi vì ngày hôm trước tôi cũng đã hân hoan như vậy khi một chiếc lá bồ đề rơi xuống, đậu ngay trước mặt tôi.

Cả đoàn cùng ngồi dưới tán lá cây bồ đề. Tôi đọc một chương trong cuốn Đường xưa mây trắng của Thầy, chương Sao mai đã mọc. Chúng tôi đã cùng trải qua những phút giây thật kỳ diệu.

Sau đó chúng tôi trở lại khách sạn, dùng bữa sáng và chuẩn bị lên đường tới thành cổ Vương Xá (Rajgir).

Chiều hôm sau, cả đoàn tới thăm núi Linh Thứu. Chúng tôi cùng đi thiền hành trên con đường được vua Tần Bà Sa La (Bimbisara) xây dựng cho Bụt, cùng ngồi ngắm mặt trời lặn trên đỉnh núi trong sắc tím rồi chuyển thành vàng cam. Những ngọn núi xung quanh Linh Thứu đẹp rực rỡ. Tôi chiêm ngưỡng cảnh tượng huy hoàng này trong niềm hạnh phúc vô bờ. Đã tới lúc phải quay về vì trời sẽ tối rất nhanh, nhưng vài người trong chúng tôi vẫn cạo đầu và đắp y để làm mới lại tâm bồ đề trước khi rời khỏi thánh tích linh thiêng mang đậm dấu ấn của Bụt này.

Trong nhật ký hành trình ngày 29 tháng 10 ở Câu Thi Na (Kushinagar), tôi đã viết: “Sự yên tĩnh của buổi sáng hôm nay thật là một món quà tuyệt vời. Không một tiếng động, không một tiếng còi xe, không cả tiếng người, chỉ có duy nhất tiếng chim hót. Tâm tôi cần sự yên tĩnh lắng dịu và mát mẻ này biết bao bởi vì trong suốt chuyến đi, sự ồn ã, náo nhiệt của âm thanh không ngừng có mặt . Tôi chạm được sâu sắc phần con người của Bụt. Tôi cảm nhận Người rất gần với tôi, thật gần gũi như khi tôi cảm nhận được sự có mặt của Đức Chúa ở trong tôi và bên cạnh tôi”.

Trong suốt cuộc hành trình này, tôi đã để cho sự sống nhiệm mầu của Bụt thấm vào trong tôi. Dường như tôi đã được sống lại những gì Người đã trải qua, những gì Người đã từng nhìn, nghe, nếm, ngửi. Cảm giác này rất thật, rất cụ thể và sống động trong tôi. Đó không phải là một ý niệm hay một sự lý tưởng hóa. Người không còn là một nhân vật trừu tượng mà tôi nhìn thấy qua những bức tượng. Người là tổ tiên của tôi, Người rất thật, sống động trong tôi. Dường như trước đó tôi chỉ biết tới Người qua trí năng của mình. Tôi đã không cảm được mối liên hệ mật thiết giữa tôi và Người, tôi đã không thấy được Người có trong tôi.

Tại Xá Vệ (Vaishali), tôi được viếng thăm di tích của các ni viện nơi quý sư cô – những bậc tiền bối của tôi – ngày xưa từng tu tập trong nhiều năm tháng. Những người phụ nữ dũng cảm ấy đã đi ngược lại những cấm đoán của xã hội Ấn Độ thời đó, cầu xin xuất gia theo Bụt. Chúng tôi là hậu duệ của quý vị đây! Chúng tôi đang có mặt nơi này, nơi quý vị từng sống. Tôi thấy cảm động quá! Tôi để niềm xúc động ấy thấm vào trong tôi, đọng lại nơi trái tim. Tôi thấy mình không cần có bất cứ một ý niệm nào hết, chỉ để cho cảm xúc này được sống trong tôi.

Khi tăng thân cùng đi bộ tới chùa Niết Bàn (Mahaparinirvana), có nhiều bé gái tới xin ăn. Tôi nắm bàn tay một em gái nhỏ. Cả hai chúng tôi cùng bước đi. Trước mắt tôi hiện lên hình ảnh của Thầy cùng thiền hành với trẻ em. Bước chân tôi bỗng trở nên vững chãi, chánh niệm hơn để tận hưởng trọn vẹn khoảnh khắc rất đẹp này. Chúng tôi đi những bước thật đều, thật hòa điệu. Bé gái nhỏ đã tặng cho tôi sự tươi mát, nhẹ nhàng của em. Trước khi tới ngôi chùa, hai chúng tôi chia tay nhau. Người này trao tặng cho người kia một nụ cười thật tươi. Tôi trân quý biết bao những giây phút cùng có mặt với em.

Cả tăng thân đi thiền hành trong khuôn viên chùa. Một tượng Bụt nằm rất lớn chiếm trọn vẹn không gian. Chúng tôi có thể cảm nhận rõ ràng năng lượng chánh niệm của cả nhóm. Đại chúng cùng ngồi xuống, một thầy trong đoàn làm thiền hướng dẫn: “Để Bụt thở… Để Bụt ngồi…” Mỗi câu đi thẳng vào từng tế bào của cơ thể tôi. Chúng tôi thực tập tiếp xúc với sự bất sinh bất diệt qua hình ảnh của Bụt. Bụt vẫn đang có mặt trong cuộc đời…

Chúng tôi tới Nepal. Sáng hôm ấy, một cơn bão đã đi qua lòng tôi. May mắn sao, cả đoàn cùng đi thiền hành dọc theo khu rừng nơi Bụt được sinh ra. Thiên nhiên làm tôi dễ chịu hơn, tôi tập trung vào mỗi bước chân để đưa bình an về lại trong tâm. Một người bạn nắm tay tôi cùng bước đi. Sự hiện diện vững chãi, bao dung, đầy thương mến mà tôi cảm nhận được từ người bạn ấy đã giúp tôi trở về được với vẻ đẹp của giây phút hiện tại…

Trong tôi dâng lên lòng biết ơn những nhân duyên giúp tôi tham dự vào chuyến hành hương Phật tích này. Đây là ước mong của tôi từ năm 2008 khi Thầy và tăng thân đi thăm Ấn Độ mà tôi đã không thể tham dự cùng. Ngày hôm nay đây, mong ước của tôi đã thành hiện thực với sự có mặt của Thầy trong suốt chuyến đi. Thầy không cùng đi bên tôi nhưng Thầy ở trong tôi.

Bụt và Thầy luôn có đây, bước cùng tôi trên mọi nẻo đường tôi đi.