Thiên nhiên và tuệ giác tương tức

(Trích trong cuốn sách “Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh” của Sư Ông Làng Mai)

Khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống lòng đất ẩm, khoảng một tuần sau hạt bắp sẽ nảy mầm và dần dần trở thành một cây bắp con. Ta có thể hỏi cây bắp con: “bắp ơi, em có nhớ lúc em còn là một hạt bắp không?” Có thể cây bắp con không nhớ, nhưng nhờ quan sát, ta biết cây bắp con đã đến từ hạt bắp.

Khi nhìn vào cây bắp, ta không còn thấy hạt bắp, và ta tưởng là hạt bắp đã chết, nhưng kỳ thực hạt bắp đâu có chết, mà hạt bắp đã trở thành cây bắp. Khi chúng ta thấy được hạt bắp trong cây bắp là chúng ta có thứ tuệ giác mà Bụt gọi là vô phân biệt trí. Vô phân biệt trí là không có sự phân biệt giữa hạt bắp và cây bắp, vì hạt bắp và cây bắp có trong nhau, chúng chỉ là một thứ. Ta không thể tách hạt bắp ra khỏi cây bắp và ngược lại. Nhìn sâu vào cây bắp con ta có thể thấy được hạt bắp, hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp.

Nhờ có thiền tập, ta thấy được những điều mà người khác không thấy. Nhờ có quán chiếu, ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái, giữa cây bắp và hạt bắp. Cho nên chúng ta cần sự thực tập để giúp ta thấy rằng chúng ta tương tức với nhau. Khổ đau của một người là khổ đau của tất cả mọi người. Nếu người Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, hay người Ấn Độ giáo và Hồi giáo, người Do Thái và người Palestin nhận ra rằng họ đều là anh em với nhau, khổ đau của bên này cũng là khổ đau của bên kia thì chiến tranh sẽ chấm dứt mau chóng. Nếu chúng ta thấy được rằng chúng ta và các loài sinh vật khác đều có chung một bản thể thì đâu có sự chia cách hay phân biệt, chúng ta sẽ sống chung hòa bình với mọi loài, với thiên nhiên. Thấu suốt được tính tương tức, ta sẽ không còn phàn nàn, đổ lỗi cho nhau, sẽ không còn bóc lột, chém giết nhau. Chỉ với ý thức sáng tỏ đó mới mong cứu vãn được trái đất xinh đẹp của chúng ta.

Là người, chúng ta vẫn nghĩ rằng ta và thế giới thực vật và động vật khác biệt nhau, chẳng có gì liên quan với nhau. Cho nên đôi khi ta bâng khuâng không biết nên đối xử với thiên nhiên như thế nào. Nếu chúng ta hiểu rằng con người và thiên nhiên không thể tách rời nhau thì ta sẽ biết cách đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình, với tất cả sự cẩn trọng nhẹ nhàng, với tất cả tình thương yêu, không có sự bạo động. Cho nên nếu chúng ta không muốn mình bị thương tổn thì không nên làm thương tổn thiên nhiên, vì làm thương tổn thiên nhiên là làm thương tổn chính mình và ngược lại.

Chúng ta không biết rằng khi chúng ta gây thiệt hại cho người khác là chúng ta gây thiệt hại cho chính mình. Vì muốn tích lủy của cải mà ta đã không ngần ngại khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, và ta tước đoạt quyền sinh sống của bao nhiêu người đồng loại. Những áp bức và bất công xã hội đã tạo ra hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, và ta tiếp tục dung túng những tệ nạn xã hội, thản nhiên để chiến tranh leo thang mà không biết rằng khổ đau của con người là khổ đau chung của cả đại gia đình nhân loại. Trong khi bao nhiêu người phải chịu khổ đau vì chiến tranh, vì đói khát, ta vẫn đắm chìm trong những ảo vọng của tiền tài, tưởng rằng có thể tìm đựợc một nơi an toàn cho riêng mình.

Chúng ta cần phải thấy rõ rằng số phận của mỗi người đóng góp vào số phận chung của toàn thể nhân loại. Nếu chúng ta muốn sống bình an hạnh phúc, chúng ta cũng phải giúp cho những loài khác sống bình an hạnh phúc. Một nền văn minh mà trong đó ta phải chém giết và bóc lột lẫn nhau để sống là một nền văn minh không lành mạnh. Muốn có một nền văn minh lành mạnh, tất cả mọi người dân phải có quyền bình đẳng về giáo dục, về công việc làm, có đủ thức ăn, chỗ ở, không khí và nước uống trong sạch. Họ có tự do đi lại và có thể ở bất cứ nơi đâu. Nền kinh tế, chính trị nào phủ nhận những quyền lợi này của con người là phá sản toàn bộ nhân loại. Ý thức được những gì đang xảy ra cho nhân loại là việc làm cấp thiết để kịp thời sửa chữa những tổn hại đang có mặt khắp nơi.

Muốn cho nhân loại sống chung với nhau trong hòa bình, chúng ta phải biết hợp tác với nhau trong tinh thần hòa hợp để giúp nhau tồn tại. Nếu chúng ta cứ tiếp tục sống tách biệt nhau, chỉ để tâm đến những nhu yếu nhỏ bé của riêng mình thì chúng ta không đóng góp gì cho nền hòa bình chung rất thiết yếu cho sự sinh tồn của cả nhân loại. Con người là một phần của thiên nhiên, chúng ta cần ý thức rõ điều này trước khi biết cách tạo dựng một đời sống hòa hợp giữa con người với nhau. Nếu ta vẫn còn tâm độc ác, muốn chia cắt, thì ta phá hủy tính hài hòa nơi con người và nơi thiên nhiên. Chúng ta cần những đạo luật có nội dung từ bi giúp ta biết hành xử nhẹ nhàng với chính bản thân mình và với thiên nhiên, nhờ đó ta có thể chữa trị được những thương tích và chấm dứt được tình trạng độc ác đối với con người và thiên nhiên.

Chúng ta cần phải học cách sống hài hòa với thiên nhiên, vì chúng ta là một phần của thiên nhiên. Thiên nhiên có thể rất tàn bạo, có thể gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Nhưng ta cần phải đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình. Nếu chúng ta tìm cách khống chế thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ nổi loạn. Chúng ta phải là những người bạn đầy chân tình đối với thiên nhiên thì chúng ta mới biết cách xử dụng những điều kiện thuận lợi của thiên nhiên để tạo dựng một môi trường sống hài hòa. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết đúng đắn về thiên nhiên. Cuồng phong, bão tố, hạn hán, lũ lụt, núi lửa, sự sinh sôi nẩy nở của những loài sâu bọ độc, tất cả những hiện tượng này gây nguy hại cho sự sống. Chúng ta có thể dễ dàng ngăn ngừa những tai họa này nếu chúng ta biết nghiên cứu ngay từ lúc đầu địa chất của vùng đất ta đang sống. Nhờ nắm rõ tình hình địa chất, ta có thể có những phương án xây dựng để phòng ngừa, thay vì tìm cách áp đảo thiên nhiên bằng những đập ngăn nước, hay phá rừng và những chính sách thiết bị khác mà cuối cùng chỉ gây thêm tổn hại cho môi trường.

Vì muốn ức chế thiên nhiên mà ta đã sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, giết hại không biết bao nhiêu loại côn trùng và chim chóc, làm xáo trộn đời sống tự nhiên của muôn loài. Nền kinh tế phát triển gây ô nhiễm môi trường, làm kiệt quệ nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hũy chỗ cư trú của bao nhiêu loài sinh vật. Phát triển kinh tế như thế chỉ đem lợi lộc cho một số ít người, và trong thực tế đã dần dần phá hủy toàn bộ đời sống thiên nhiên.

Vì vậy mà con người trở nên bệnh hoạn, xã hội trở nên bệnh hoạn, thiên nhiên trở nên bệnh hoạn.

Ta phải làm gì đây để tái lập sự quân bình? Phải bắt đầu từ đâu để tìm cách chữa trị? Bắt đầu từ mỗi cá nhân, hay từ xã hội? Hay từ thiên nhiên ?

Ta phải làm việc chữa trị trong cả ba lĩnh vực cùng một lúc.

Các ngành khác thường chỉ chú tâm đến lĩnh vực riêng của họ. Các nhà chính trị thì nghĩ rằng một xã hội trật tự là cần thiết để bảo vệ con người và thiên nhiên, vì thế họ khuyến khích mọi người tham gia vào cuộc đấu tranh thay đổi guồng máy chính trị.

Các tu sĩ phật giáo thì giống như những bác sĩ tâm lý trị liệu thấy được vấn đề từ quan điểm tâm lý. Mục đích của thiền tập là để giúp ta tìm lại sự cân bằng trong đời sống. Thực tập thiền trong đạo Bụt là để điều hòa thân và tâm, thực tập hơi thở giúp làm lắng dịu thân tâm. Cũng như những phương pháp chữa bệnh khác, bệnh nhân được đặt trong một môi trường có những điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục lại sức khỏe. Thông thường các bác sĩ tâm lý trị liệu để nhiều thì giờ quan sát bệnh nhân, sau đó có những lời khuyên thích ứng với mỗi bệnh nhân. Cũng có một số bác sĩ biết thực tập như các tu sĩ là biết quán sát bản thân trước, biết nhận diện để vượt thoát được những sợ hãi, giận hờn và tuyệt vọng trong lòng họ. Ða số các bác sĩ khác thì thường nghĩ rằng họ không có vấn đề gì về tâm lý cả. Người tu sĩ, trái lại, luôn nhận diện được rằng là người, họ rất dễ bị sợ hãi, lo âu trấn ngự, nhất là dễ bị ảnh hưởng bởi những căn bệnh trầm kha của thời đại mới.

Người phật tử tin vào mối tương quan mật thiết của mọi cá nhân trong xã hội và môi trường sống, cho nên khi họ lành bệnh là xã hội và môi trường sống cũng lành bệnh, vì vậy mà họ chấm dứt được những lo âu sợ hãi trong lòng. Người phật tử biết rằng chính họ phải bắt đầu sự chuyển hóa trong nội thân thì xã hội và thiên nhiên sẽ tự động chuyển hóa theo. Cho nên muốn cho xã hội và môi trường sống trở lại lành mạnh, mỗi người chúng ta phải biết cách khôi phục trở lại sức khỏe tinh thần của mình.

Muốn khôi phục lại tinh thần lành mạnh không có nghĩa là phải thích ứng với những điều kiện mới của đời sống hiện đại. Bởi vì đời sống hiện đại không lành mạnh chút nào, thích nghi với đời sống đó chỉ làm mình thêm bệnh hoạn. Những người tìm đến các bác sĩ tâm lý trị liệu đều là nạn nhân của lối sống hiện đại. Lối sống này chỉ làm con người xa cách nhau, gia đình nhân loại bị phân tán. Cách hay nhất là chuyển về sinh sống ở miền quê, nơi đó ta được cuốc đất, trồng rau, sản xuất hoa màu, giặt quần áo trên sông, sống nếp sống đơn giản như hàng triệu người nông dân trên thế giới.

Muốn việc chữa trị có hiệu quả, ta cần phải thay đổi môi trường sinh sống. Thay đổi guồng máy hoạt động chính trị chưa phải là phương án duy nhất. Tìm cách tự trấn an mình khỏi những bức xúc bằng lối tiêu thụ bừa bãi cũng không giải quyết được vấn đề. Bởi vì nguồn gốc của mọi tâm bệnh hiện nay đều phát xuất từ sự phát triển quá mức của nền kinh tế, đưa đến nhiều tệ nạn xã hội như là ô nhiễm môi sinh, quá nhiều tiếng ồn, nơi nào bạo động cũng có mặt, và hầu như ai cũng bị áp lực thời gian đè nặng. Muốn chấm dứt tình trạng này thì phải biết phòng bệnh.

Khi ta hiểu được trách nhiệm của mình đối với nhân loại thì ta biết giữ gìn cho tinh thần luôn được lành mạnh. Làm được như vậy cho ta là đồng thời giúp cho người khác không bị bệnh hoạn. Dù ta là ai đi nữa, thầy tu hay thầy cô giáo, bác sĩ trị liệu, nghệ sĩ, thợ mộc, hay là chính trị gia, chúng ta cũng đều là con người như nhau. Nếu chính ta không áp dụng được những gì ta dạy cho người khác trong đời sống hàng ngày thì ta cũng mắc bệnh tâm thần như họ thôi. Nếu ta cứ tiếp tục sống theo lề lối hiện tại thì có ngày ta cũng trở thành nạn nhân của lối sống vị kỷ, đầy sợ hãi và lo âu.

Một người nghệ sĩ chỉ thấy rõ được cái cây khi ông ta có được mối giao cảm nào đó với cây. Một con người không có nhân tính thì không nhìn thấy được một con người khác, cũng như không nhìn thấy được cái cây. Phần đông chúng ta không thấy rõ được sự vật bởi vì chúng ta không trọn vẹn là mình. Chỉ khi nào ta là ta một cách trọn vẹn, ta mới có thể hiểu rằng một người thôi cũng đủ để chứng minh cho mọi người khác thấy là đời sống có giá trị, ta có thể tin vào tương lai nếu ta biết sống một cách trọn vẹn trong hiện tại. Nhưng tin vào tương lai để làm gì khi hàng triệu người sống đau khổ và chết dần mòn quanh ta mà ta vẫn không hay biết. Chỉ khi nào ta thấy được những gì đang xảy ra quanh ta, ta mới thấy rõ được chính mình, mới thấy rõ được vạn vật.

Ta hãy nhớ lại cơn sóng thần năm 2000 ở Ấn Độ Dương, hàng trăm ngàn người ở Indonesia, Tích Lan, Thái Lan, Ấn Độ và Phi Châu đã bị cơn sóng cuốn đi. Rất nhiều khách du lịch đến từ Âu châu, Úc châu và Mỹ châu cũng bị mất xác trong cơn sóng thần. Mọi người trên thế giới đều kinh hoàng và ai cũng đặt câu hỏi tại sao, tại sao Chúa lại để cho chuyện này xảy ra, tại sao những người này phải chết? Tôi cũng đau đớn như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ có thực tập, tôi ngồi yên được, tôi nhìn sâu và thấy được rằng khi những người này chết thì lòng chúng ta cũng chết theo họ, bởi vì tất cả chúng ta đều có liên hệ mật thiết với nhau.

Chúng ta biết rằng khi những người thương của chúng ta chết thì một phần của chúng ta cũng chết theo. Chúng ta chết theo người thương, điều này cũng dễ hiểu thôi. Nếu chúng ta có hiểu biết, có thương yêu, thì khi người khác chết, dù người đó là một người ta chưa hề quen biết ở bên kia đại dương, ta vẫn cảm thấy đau khổ và chết theo họ như thường. Ta nhận thấy ra một điều là họ đã chết thay cho chúng ta. Vì thế ta phải sống cho họ. Ta phải sống như thế nào để con em chúng ta có một tương lai tươi sáng hơn.

Cái chết của họ có ý nghĩa hay không, cách sống của ta sẽ chứng minh điều đó. Khi ta thấy được họ chính là ta, và ta chính là họ, họ chết thì ta cũng chết, ta sống thì họ cũng sống, nếu ta có được tuệ giác tương tức này, ta sẽ thấy ít đau khổ hơn và ta biết phải tiếp tục sống như thế nào, để lúc nào họ cũng có mặt trong ta, và khi hiểu được như vậy, ta có được sự bình an trong lòng.

Ta thực tập chánh niệm và nhìn sâu vào bản chất của sự vật để khám phá được thực tướng của sự vật, thực tướng đó chính là tính tương tức. Thấy được tính tương tức trong mọi sự vật, ta mới có được sự bình an, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với mọi thứ. Với tuệ giác này, ta sẽ thực hiện dễ dàng công trình thương yêu và bảo vệ lâu dài cho trái đất cũng như cho mọi người mọi loài sống trên trái đất.

Yểm trợ xây dựng Thiền đường tại EIAB

Thư Thỉnh Cầu Tham Gia Xây Dựng

Chánh Điện Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu EIAB

Waldbröl, ngày 19 tháng 02 năm 2018

Kính thưa Quý Vị Thân Hữu, Quý Vị Đạo Hữu, Quý Cô Bác, Anh Chị, Các Em và Các Cháu,

Nhân dịp xuân về, quý Thầy quý Sư Cô Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu thành kính nguyện cầu Hồng Ân Chư Bụt, Chư Vị Bồ Tát và Chư Vị Tổ Sư bảo hộ cho tất cả Quý vị một Năm Mới Mậu Tuất 2018 an khang thịnh vượng, gia đình và thân quyến êm ấm hòa thuận, có nhiều sức khỏe, hạnh phúc, bình an và tu tập vững chãi trong năm Mậu Tuất này.

Ngày hôm nay, vào lúc 6:30 sáng ngày mồng 4 Tết năm Mậu Tuất, tứ chúng Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu đã long trọng tổ chức buổi lễ cầu nguyện để khởi công xây dựng chánh điện và thiền đường của Viện Phật Học cũng như tiếp tục trùng tu Viện Vô Ưu theo yêu cầu của chính quyền địa phương. Buổi lễ đã diễn ra trong không khí ấm cúng, linh thiêng đầy đạo vị với sự tham dự của toàn thể đại chúng khắp nơi về đón Tết tại Viện Phật Học và sự tham gia của ông Frank Jungjohann-Feltens, vị kiến trúc sư chính cho các công trình xây dựng sắp tới.

Trong những năm qua, nhờ sự thương yêu và yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới mà chương trình xây dựng một trung tâm tu học theo tinh thần Đạo Bụt Ứng Dụng và Nhập Thế của Sư Ông cho toàn thể Châu Âu đã được thành hình và phát triển cho đến ngày hôm nay. Chúng tôi xin phép thay mặt cho Sư Ông và đại chúng Viện Phật Học thành kính tri ân toàn thể quý vị đã yểm trợ cho tâm nguyện hoằng pháp độ sanh của Sư Ông trên toàn thế giới thể hiện qua sự hình thành và phát triển Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu.

Theo lời dạy của Bụt cũng như trong các truyện tiền thân của Ngài, trải qua vô lượng kiếp tu hành đức Bụt đã thực tập rất nhiều Bồ Tát Hạnh. Theo truyện Đại Vương Vessantara (truyện tiền thân cuối cùng số 547 trong Tiểu Bộ Kinh), trong kiếp cuối cùng này trước khi Bồ Tát tái sanh thêm một lần nữa để rồi hạ sanh lần cuối trên trái đất, tầm đạo, tu tập và chứng đắc quả vị Bụt với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni, đức Bổn Sư của chúng ta đã thực hiện toàn vẹn và rốt ráo Hạnh Bố Thí Ba La Mật, một trong mười Hạnh Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Đọc truyện này, chúng ta cảm nhận rõ ràng công đức Bố Thí thật là thù thắng và vi diệu, tạo ra vô lượng công đức để chúng ta có thể khai mở tâm thức, thực hiện được sự nghiệp giải thoát cho mình và cho tất cả mọi loài.

Ngày xưa khi còn là người xuất gia trẻ, chúng tôi nghiêng về Thiền tập và cảm thấy rất là ái ngại khi phải đứng ra để kêu gọi sự đóng góp của thập phương bá tánh cho các chương trình tu học và xây cất. Tuy nhiên, càng lớn tuổi và có thời gian lớn lên trong sự tu tập, chúng tôi nhận ra được công đức vô lượng của việc hành trì Bố Thí Ba La Mật theo tinh thần tam luân không tịch (bố thí mà không thấy có người bố thí, không thấy có người được nhận bố thí và không thấy có vật bố thí). Công đức hành trì Bố Thí Ba La Mật có thể giúp chúng ta thể nhận được tánh không của vạn pháp và có công năng giải thoát chúng ta ra khỏi sanh tử.

Vì thế chúng tôi, trong đầu năm nay, đã không ngần ngại đứng ra để khởi xướng công trình xây dựng chánh điện và thiền đường của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu cũng như tiếp tục trùng tu Viện Vô Ưu theo yêu cầu của chính quyền địa phương để đại chúng có cơ sở ổn định cho sự tu học. Trong mười năm qua, mỗi khi có khóa tu lớn vào mùa hè, đại chúng phải sử dụng lều để làm thiền đường, phòng ăn hoặc để ngủ qua đêm. Vào mùa đông, đại chúng phải ngồi trong hành lang lạnh cóng để nghe pháp thoại, tham dự pháp đàm hay tham gia các chương trình tu học khác. Nhìn thấy các em bé cũng như người lớn phải quấn nhiều lớp chăn len để tham dự tu học, chúng tôi rất là thương cảm. Công trình xây dựng chánh điện và thiền đường vì thế là một thửa công đức lớn để cho tất cả chúng ta có cơ hội tu tập và hộ trì Tam Bảo, hoằng dương chánh pháp.

Chúng tôi thỉnh cầu quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới tham gia vào chương trình xây dựng này, để một phần nào chúng ta có thể cùng Sư Ông đem đạo Bụt đi vào cuộc sống hiện đại, nuôi dưỡng chí nguyện tu hành của chúng ta và giúp cho đạo Bụt làm chỗ nương tựa cho mọi người trên thế giới đầy khủng hoảng và rối loạn ngày hôm nay.

Một lần nữa, chúng tôi nguyện cầu Hồng Ân chư Bụt, chư vị Bồ Tát và chư vị Tổ Sư bảo hộ cho tất cả quý vị thân hữu, quý cô bác, anh chị, các em và các cháu có nhiều sức khỏe, bình an và vững chãi trong Năm Mới Mậu Tuất 2018.

Trân quý,

Tỳ kheo Thích Chân Pháp Ấn cùng quý thầy và quý sư cô của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Làng Mai tại Đức

Ngày 19 tháng 02 năm 2018

(Nhằm ngày 4 tháng giêng năm Mậu Tuất)

Xin quý vị phát tâm đóng góp chuyển ngân đến Viện Phật Học theo số tài khoản bên dưới. Nếu quý vị muốn có giấy khai thuế, xin ghi địa chỉ của mình khi chuyển ngân, để cuối năm quý Thầy quý Sư Cô có thể gởi giấy chứng nhận khai thuế cho quý vị. Xin cảm ơn quý vị phát tâm cúng dường.

Chuyển tiền đến ngân hàng của EIAB :

Người nhận : Tên ngân hàng : Số trương mục : S.W.I.F.T – BIC

EIAB ( European Institute of Applied Buddhism gGmbH ) Kreissparkasse Köln
IBAN: DE27 3705 0299 0341 5529 32
COKSDE33XXX

Đi như một dòng sông

Khởi nguồn

Chúng tôi, những người con sinh ra và lớn lên từ những vùng quê khác nhau của miền Bắc Việt Nam, không hẹn mà cùng xuất gia, về sống chung dưới mái chùa có tên Làng Mai. Tuy xa gia đình và người thân nhưng sống trong chùa chúng tôi luôn có đầy ắp niềm vui và tiếng cười. Chúng tôi coi nhau như anh chị em ruột thịt, cùng nâng đỡ, chăm sóc nhau, coi niềm vui nỗi buồn của người khác cũng chính là niềm vui nỗi buồn của mình. Và một ngày chúng tôi cùng nhau, cả đoàn về thăm lần lượt gia đình từng người.

Tới nhà mỗi sư anh, sư chị, sư em, chúng tôi coi đó như nhà của mình, coi bố mẹ của người đó như bố mẹ của mình, và những người thân như những người thân của chính mình. Chúng tôi không làm gì nhiều ngoài nhiệm vụ của những người con, có mặt ở đó – trọn vẹn – cho bố, cho mẹ, cho các anh chị em. Sau bao năm tháng tu học ở chùa, món quà quý nhất mà chúng tôi mang về dâng tặng cho những người thân yêu là năng lượng bình an, là tình thương và lòng chân thành từ sâu thẳm trong tim mỗi người.

Dòng nước mát trong

Trong những buổi ngồi chơi, tất cả mọi thành viên trong gia đình cùng ngồi quây quần thành vòng tròn bên nhau, có hoa, có trà, có bánh. Thường thường những người ở nhà chưa quen với cách ngồi chơi như vậy nên ban đầu hơi lúng túng và có phần gượng ép. Từ từ chúng tôi chia sẻ và mời mọi người ngồi cho yên, cùng lắng nghe tiếng chuông, cùng thưởng thức trà và bánh trong im lặng, cùng trân quý sự có mặt của từng thành viên trong gia đình. Mọi người dần quen hơn và không khí trở nên thân mật hơn.

Những người con cùng gia đình ôn lại kỷ niệm vui buồn ngày xưa, chia sẻ niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, và bày tỏ lòng biết ơn đối với công lao sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ và người thân. Thậm chí những hiểu lầm và đổ vỡ trong quá khứ cũng có thể được nói lên để mọi người cùng nhìn lại, hiểu nhau hơn và hàn gắn lại chuyện cũ. Một sư cô trong niềm xúc động nghẹn ngào, đã tới bên người em trai của mình để nói lời xin lỗi: “Trong quá khứ, đã nhiều lúc chị không hiểu được những tâm tư của em, chị lo lắng cho em nhưng chị hành động theo cảm tính, chị chỉ biết trách mắng em khiến em bị tổn thương. Chị rất biết ơn em đã không giận chị nhiều, mà trong thời gian chị đi xa, em đã giúp chị trông nom việc nhà và còn thay chị chăm sóc mẹ”. Trong không khí tràn đầy năng lượng thương yêu, lòng chân thành có khả năng chạm tới những tình cảm sâu sắc trong lòng người, những giận hờn được chuyển hóa, tình thương được bồi đắp thêm.

Một ngày, chúng tôi cùng về thăm gia đình một thầy trong đoàn. Mẹ thầy mất sớm, bố thầy đi bước nữa. Người mẹ thứ hai của thầy có những khó khăn trong việc truyền thông với mọi người trong gia đình do chịu khá nhiều sức ép từ phía gia đình bên nội. Trong buổi ngồi chơi, mẹ ngồi khá trầm lặng, và có lẽ do tủi thân nên giữa buổi mẹ đứng dậy bỏ vào trong phòng. Cuối cùng mẹ cũng chịu ra trở lại, tuy nhiên khi được mời thực tập thiền ôm thì mẹ nhất định không đứng lên. Thầy chủ tọa đã mời thầy – người con của gia đình ra quỳ trước mặt mẹ, chắp tay búp sen trong khi thầy chủ tọa chia sẻ như một người con:

“Thưa mẹ, con xin chân thành cảm ơn mẹ đã thay anh em chúng con chăm lo việc nhà khi chúng con đi xa. Cảm ơn mẹ đã chăm sóc bố của con thay chúng con. Con biết mẹ rất thương anh em chúng con nhưng nhiều khi mẹ không nói ra được thành lời. Và chúng con, do rất nhiều vụng về nên ít khi thể hiện được tình thương đối với mẹ. Dù mẹ không phải là người dứt ruột sinh ra chúng con, nhưng chúng con muốn mẹ biết rằng chúng con luôn thương và kính mẹ như người mẹ ruột của chúng con. Bây giờ con mời mẹ cùng thực tập thiền ôm với chúng con, nhưng nếu mẹ không muốn thì con mời mẹ ngồi đó, để chúng con được lạy mẹ thay lời tri ân của chúng con”.

Sau lời chia sẻ đó, mẹ đứng dậy thực tập thiền ôm với hai người con của chồng và tiếp đó là thiền ôm với người em gái chồng. Lòng người mẹ đã mở ra. Sau buổi sinh hoạt, mẹ còn tiếp tục chia sẻ về những tâm sự của mình và hứa sẽ thực tập sâu  hơn nữa về tình thương và lòng bao dung. Thực tập thiền ôm là những giây phút xúc động nhất của những buổi sinh hoạt gia đình, hầu như ai cũng rưng rưng nước mắt – những giọt nước mắt của tình thương và hạnh phúc.

Nhìn sâu vào giọt nước

Anh chị em chúng tôi, hầu hết là những người trẻ, được học hành, được lớn lên trong tình yêu thương của gia đình, cùng với đó là kỳ vọng của gia đình về một tương lai tươi sáng như nếp nghĩ thông thường của cuộc đời. Nhưng chúng tôi lại chọn con đường xuất gia, hoàn toàn khác xa với trông đợi của những người thân yêu. Điều đó khiến gia đình chúng tôi bất ngờ, hụt hẫng đến thất vọng, đau khổ, có cảm tưởng như mất hẳn một người con, rằng bao nhiêu công lao nuôi nấng dạy dỗ đều trở thành số không. Thực tế khi vào chùa, mỗi người đều có cơ hội phát huy hết tài năng của mình để cống hiến cho xã hội. Một thầy có chuyên môn về ngành y vẫn có thể chăm sóc sức khỏe cho các sư anh, sư chị, sư em. Một sư cô trước đây học ngành kế toán vẫn có thể giúp nhà chùa trong việc quản lý sổ sách tài chính. Người có kiến thức về xây dựng có cơ hội thi triển tài năng trong việc kiến thiết nhà chùa. Nhưng hơn thế nữa, thiền sinh đến với vị bác sĩ áo nâu không những được tư vấn chăm sóc sức khỏe thân thể mà còn được học phương pháp chăm sóc sức khỏe tinh thần, đặc biệt trong môi trường xã hội ngày nay đầy sức ép và căng thẳng. Những tư vấn của vị tu sĩ có kinh nghiệm về mặt tài chính – kế toán còn hướng về sự phát triển bền vững của xã hội, cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, không để những mặt trái của vòng xoáy kinh tế cuốn con người theo những nẻo đường bất thiện.

Tới mỗi nhà, chúng tôi đều xin phép thắp hương lên bàn thờ tổ tiên, cùng tụng một bài kinh và cầu nguyện cho mọi người trong gia đình được mạnh khỏe, an vui. Một sư chú đã mời cả đoàn đến thăm ông bà của mình. Sư chú quỳ trước ông bà, thay bố mẹ nói lời biết ơn với ông bà và lạy xuống ba lạy để tỏ lòng thành kính của những người con, người cháu. Ông bà đã cảm động trào nước mắt, nói không nên lời, bày tỏ niềm vui khi người cháu của mình về thăm cùng với rất đông các thầy, các sư cô khác. Mỗi chúng tôi đều là con, là cháu trong gia đình, và bố mẹ chúng tôi thấy rằng gia đình không những không mất đi một người con, trái lại còn có thêm rất nhiều người con khác nữa.

Chúng tôi mỗi người có một hoàn cảnh gia đình khác nhau. Nhiều người sau nhiều năm xuất gia mà gia đình vẫn còn phản đối rất gay gắt. Với năng lượng bình an, bằng những chia sẻ rất chân thành của những người con, chúng tôi đã giúp bố mẹ hiểu được con đường mình đang đi. Gia đình đã có những chuyển hóa rất lớn, rồi dần dần chấp nhận và ủng hộ sự lựa chọn của chúng tôi. Có người bố ban đầu rất giận vì con trai đi tu, không muốn chúng tôi tới chơi nhà, cũng không muốn nhìn mặt chúng tôi, nhất định giữ con ở lại không cho quay lại chùa. Sau một buổi ngồi chơi và chia sẻ thân tình với những người con áo nâu, bố thấy rằng con trai mình đang được sống trong một môi trường rất thiện, rất lành, xung quanh là những người con khác đầy nhiệt huyết và lý tưởng của tuổi trẻ. Thế là bố chấp nhận và ngỏ lời gửi gắm đứa con ruột của mình. Quả là một niềm hạnh phúc vô bờ bến đối với chúng tôi khi đi xuất gia và nhận được sự yểm trợ về mặt tinh thần từ gia đình.

Hạnh phúc về với cánh đồng xưa

Trong hành trình về thăm quê hương, những buổi sinh hoạt, ngồi chơi chia sẻ của quý thầy, quý sư cô với bà con làng xóm, với những vị cư sĩ ở địa phương cũng đem lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc. Hình ảnh những người tu còn rất trẻ, nụ cười rạng rỡ luôn nở trên môi cùng phong cách nhẹ nhàng, giản dị đã đem lại rất nhiều chất liệu nuôi dưỡng cho bà con. Thông điệp chính chúng tôi muốn nhắn nhủ là thông điệp của tình thương. Tình thương là món quà quý nhất chúng ta có thể hiến tặng cho nhau. Cho dù cuộc sống có thể còn nhiều khó khăn, khó khăn về đời sống cơm áo gạo tiền, hay khó khăn trong việc truyền thông khiến mọi người không hiểu được nhau, nhưng bằng tình thương chân thành, mọi khó khăn đều có thể được hóa giải để người với người có thể tới với nhau mà thương nhau.

Chúng tôi trở về không chỉ làm một việc là đem hoa trái sự thực tập của mình làm quà cho gia đình và những người xung quanh. Chúng tôi trở về còn để chính bản thân mình được nuôi dưỡng bằng tình thương của gia đình và bằng truyền thống tâm linh đã có từ ngàn đời.

Những người con đi xa lâu ngày, trở về được đón tiếp bằng tình cảm nồng hậu của người thân và bà con xóm giềng cùng những đặc sản của quê hương. Chúng tôi vô cùng thích thú khi được thưởng thức lại những món ăn đã gắn bó với tuổi thơ như kẹo lạc, bánh gai, bánh giò chay hay bánh đúc chấm tương. Chúng tôi được tắm mình trong không khí đậm chất văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ, về Bắc Ninh được nghe hát quan họ, về Hải Dương được thưởng thức màn múa rối nước cùng những làn điệu chèo do chính những nghệ nhân của quê hương trình diễn. Chúng tôi tung tăng đi dạo trên con đường làng trong một đêm trăng sáng với hàng ngàn, hàng ngàn ánh đom đóm nhấp nháy, hít căng lồng ngực không khí của đồng quê đang mùa gặt còn thơm nức mùi rơm tươi.

Hạnh phúc biết bao khi lần này trở về, được ngồi quây quần bên gia đình, cùng nhắc lại những kỷ niệm thuở ấu thơ. Những bữa cơm chiều mùa hè có khi kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Cả nhà không ai có việc gì phải vội vã, ăn xong rồi để bát đũa đó, cùng ngắm những vì sao lấp lánh và nghe bố ân cần kể lại những câu chuyện ngày xưa. Những món ăn tinh thần đó vẫn còn đi theo chúng tôi, vẫn luôn là những chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi dù đã lớn khôn.

Nguồn cội tâm linh

Trở về quê hương, nơi có truyền thống văn hiến mấy nghìn năm, chúng tôi được đi thăm lại những ngôi chùa cổ như chùa Dâu, chùa Thầy, thăm lại đỉnh thiêng Yên Tử… để được tiếp xúc với gốc rễ tâm linh của chính mình. Tới mỗi miền quê, chúng tôi còn được thăm những ngôi chùa làng. Chùa nào may mắn thì có vị tu sĩ về chăm sóc, có chùa không có thầy tu cũng được dân làng cử người quét dọn, trông coi nhang đèn. Có mái chùa cổ kính, tường đất dù đã nát nhưng còn được giữ vững bằng những chiếc rễ to khỏe của một cây đa cổ thụ ôm từ đỉnh nóc chùa phủ xuống. Tất cả những điều đó đều là những chứng tích cho một đời sống tâm linh sâu sắc và phong phú của tổ tiên từ bao đời – những thời đại của các Tổ Tăng Hội, Vạn Hạnh, Trúc Lâm… Chúng tôi chia sẻ với gia đình rằng chúng tôi không làm điều gì mới mẻ hay khác thường cả. Con đường tâm linh đó đã có tự ngàn đời, đã hun đúc nên tâm hồn của con người Việt Nam. Chúng tôi, thế hệ ngày nay chỉ làm một việc đơn giản là tiếp nối con đường của các bậc tiền nhân đã đi qua. Chúng tôi chỉ góp phần đánh thức lại những tinh hoa văn hóa của dân tộc vốn đã rất giàu và đẹp, nay bị vùi lấp do những biến động lịch sử – xã hội hay những cơn bão của nền văn minh vật chất từ phương Tây tràn tới.

Tới thăm một ngôi chùa làng ở Vĩnh Phúc, tuy không có vị xuất gia trông nom nhưng các cụ trong làng vẫn chăm sóc chùa khá chu đáo. Chúng tôi vô cùng hạnh phúc khi được gần trăm cụ tới tiếp đón. Chúng tôi còn hạnh phúc hơn nữa khi được biết số lượng các cụ ở làng còn nhiều gấp mấy lần, cụ nào cũng sống rất thọ, trên 80, 90 tuổi và rất khỏe mạnh. Chúng tôi thấy dân làng thật có phúc đức, mà đám con cháu chúng tôi cũng thật có phúc đức khi được gặp các cụ. Buổi ngồi chơi với các cụ rất thân mật và ấm áp. Chúng tôi được các cụ hát cho nghe theo lối hát kể hạnh, vốn là một sinh hoạt truyền thống rất phổ biến ngày xưa, lời ca ghi lại những sự tích, đức hạnh của những vị Thánh nhân, Cao tăng… thời trước.

Thảnh thơi

Thầy chúng tôi thường dạy “Xuất gia là để trở về”. Trước hết là trở về với chính bản thân, sống một cuộc sống có nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc hơn, có thể cống hiến được nhiều hơn cho cuộc đời. Trở về với gia đình huyết thống, chúng tôi học được cách kết nối, truyền thông lại với bố mẹ và những người thân. Học cách lắng nghe nhau, học nói lời hòa ái để tránh gây đổ vỡ, để hiểu nhau và thương nhau nhiều hơn. Trở về kết nối lại với truyền thống tâm linh, chúng tôi được nuôi dưỡng từ những nét đẹp văn hóa, những tinh hoa của ông cha ngàn đời để lại. Lần trở về này, chúng tôi đã không đi riêng lẻ như những giọt nước mà đã đi như một dòng sông. Dòng sông đó, sau khi đi qua bao nhiêu chặng đường – trắc trở gập ghềnh cũng có mà dịu mát hiền hòa cũng có, trở nên lớn hơn mà cũng đằm thắm hơn, nay chảy về quê hương, tưới nhuần những vùng đất dòng sông đi qua, đồng thời đón nhận những chất liệu nuôi dưỡng từ những vùng đất ấy.

Chân Trời Đại Đồng

Thanh lương dòng cam lộ

(Bài viết của sư cô Chân Đức, được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

 

Bài viết này ghi lại lòng biết ơn của con đối với Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (Học viện). Nếu không có lòng biết ơn thì sẽ không thể có hạnh phúc, và bày tỏ lòng biết ơn chính là một cách chia sẻ hạnh phúc của con.

 

 

Với tổ tiên đất đai

Trước tiên, con xin bày tỏ lòng biết ơn đối với tổ tiên đất đai của Học viện, đặc biệt là với Mục sư Hollenberg và bác sĩ Karl Venn. Hơn 100 năm về trước, hai vị đã thành lập một bệnh viện dành cho những người nghèo bị khuyết tật cả về thể chất lẫn tinh thần trên khu đất mà bây giờ Học viện đang tọa lạc. Động cơ thành lập bệnh viện của quý vị dựa trên lòng hảo tâm đối với những người không nhận được sự giúp đỡ từ bất cứ nơi nào khác. Với tuệ giác của mình, Thầy đã dạy đại chúng vinh danh hai vị ấy và Thầy đã viết tên của họ để đặt cùng với di ảnh trên bàn thờ tổ tiên tại Học viện. Hành động từ bi của quý vị đang tiếp tục yểm trợ chúng con.

Năm 1938, Đức quốc xã có kế hoạch đem 700 tù nhân – bệnh nhân khuyết tật của bệnh viện đi thủ tiêu, một phần trong chính sách thanh lọc hóa giống dân Aryan. Có những vị bác sĩ đầy can đảm và từ bi, bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng, đã tìm cách cứu mạng bệnh nhân bằng cách không khai báo, hoặc không chứng nhận là họ có khuyết tật. Chúng con không rõ tên của những vị bác sĩ này nhưng lòng từ bi và sự can đảm của họ vẫn đang tiếp tục yểm trợ chúng con.

Sau Chiến tranh Thế giới thứ hai, tòa nhà vốn được Đức quốc xã xây dựng ngay trên nền của bệnh viện cũ đã trở thành bệnh viện cho thành phố Waldbroel (nay chính là Học viện). Sự chăm sóc từng ngày đầy từ bi của các bác sĩ và y tá đối với bệnh nhân nơi đây vẫn đang tiếp tục yểm trợ chúng con.

Khi một bệnh viện khác được thành lập cho thành phố Waldbroel, tòa nhà này đã trở thành học viện quân sự, chuyên nghiên cứu về chiến tranh hóa học. Con rất biết ơn những người dân địa phương đã từng đến đây biểu tình chống chiến tranh hóa học. Hành động đầy tình thương ấy của họ vẫn đang tiếp tục yểm trợ chúng con.

Tổ tiên đất đai của chúng con ở đây bao gồm cả cây cối, những chú sóc và chim muông. Con rất biết ơn những thân cây cổ thụ đứng bao quanh Học viện như là những vị Hộ pháp. Học viện được tách khỏi con đường náo nhiệt phía dưới bằng một công viên, nơi mà Thầy thường thích đến mắc võng nằm mỗi khi rảnh rỗi. Trong công viên ấy có một cây sồi và một cây dẻ gai hơn 100 năm tuổi. Công viên đã từng là một phần của bệnh viện ngày xưa và ngay lối vào vẫn còn lưu giữ một biển báo nhắc nhở mọi người rằng đây là nơi nghỉ dưỡng và trị liệu nên không gian yên tĩnh cần được tôn trọng. Xung quanh Học viện, nơi đâu cũng có những tàng cây to lớn và xum xuê. Tầm vóc mà cây cối ở đây có được chắc hẳn là nhờ lượng nước mưa mà thành phố Waldbroel thường xuyên được hưởng. Những cội cây ấy là nơi cư trú của rất nhiều sóc và chim. Thầy đã từng nhắc tới tiếng chim hót tại Học viện trong một bài pháp thoại. Chim ở đây hót rất to, rất vui tươi, thường là trước lúc bình minh. Chúng đã tìm được một nơi nương tựa an lành xa thành phố và đem niềm vui đến cho chúng con. Chứng kiến một chú sóc đỏ chuyền từ cành này sang cành khác hoặc đứng gặm hạt, ta có thể thấy được thế nào là biết cách thưởng thức phút giây hiện tại.

 

 

Với tổ tiên tâm linh

Thầy đã đem đến cho Waldbroel một dòng chảy tâm linh vốn đã được trao truyền qua nhiều thế hệ. Chúng con xin tri ân tuệ giác và lòng từ bi của Thầy. Nhiều người Đức không thể hiểu tại sao Thầy lại đồng ý đến Waldbroel để thành lập Học viện. Họ nghĩ rằng chọn tòa nhà của Đức quốc xã đồng nghĩa với sự yểm trợ chế độ Đức quốc xã. Theo họ thì Học viện phải được thiết lập ở một nơi có đủ năng lượng bình an và một lịch sử lành mạnh. Họ không muốn bị nhắc nhở về quá khứ đen tối ấy.

Thầy dạy rằng: chúng ta đã không chọn Waldbroel, chính Waldbroel đã chọn chúng ta. Chư vị tổ tiên đất đai ở đây đã chấp nhận và yểm trợ cho chúng ta, và dĩ nhiên tất cả chư vị tổ tiên tâm linh cũng thế. Chúng ta cần phải đến đây để giúp chuyển hóa sự tàn bạo, thiếu bao dung và kỳ thị của quá khứ bằng sự hiểu biết và thương yêu. Thầy kính thương, chính Thầy, và nhiều người khác nữa, đã nhận xét rằng sau một vài năm chúng con tu tập ở đây, không khí nặng nề và u uất của tòa nhà đã bắt đầu trở nên nhẹ nhàng hơn. Dân cư trong vùng, trên đường đến nơi làm việc thường phải đi ngang qua khuôn viên Học viện, đã cho biết rằng họ cảm thấy năng lượng bây giờ đã khác, bình an hơn. Những thiền sinh lúc trước không muốn mình thành lập Học viện tại Waldbroel, nay đã rất cảm động vì sự chuyển hóa của nơi này. Chúng con kính cảm ơn Thầy đã viết một bức thư cho các hương linh – những bệnh nhân đã từng bị làm mất đi khả năng sinh sản, bị đối xử tàn nhẫn hoặc bị giết hại. Lá thư cũng dành cho những người đã gây nên những hành động ấy trong thập niên 1930. Chúng con đã đọc lá thư này trong buổi lễ cúng thí thực. Lá thư luôn tưới tẩm hạt giống từ bi và tha thứ trong tâm của mỗi chúng con.

 

 

Xin tri ân Thầy đã sang đây vào tháng 9 năm 2008 nhân dịp EIAB bắt đầu mở cửa, và đã lần lượt đi vào tất cả 400 phòng, niệm danh hiệu Đức Bồ tát Quán Thế Âm để tẩy tịnh tòa nhà bằng nước Cam Lộ, bằng năng lượng thiền định và từ bi của Thầy.

Xin tri ân tất cả những bức thư pháp của Thầy được triển lãm dọc theo 500 mét hành lang bên trong Học viện; đặc biệt là bức thư pháp “Với chất bùn của sự cuồng tín và thiếu bao dung, chúng ta nuôi lớn đóa sen của tính không kỳ thị và lòng độ lượng” (With the mud of fanaticism and intolerance we grow the lotus of non-discrimination and inclusiveness). Bức thư pháp luôn nhắc nhở chúng con về nguyên do vì sao chúng con có mặt tại nơi này. Các bức thư pháp thực sự đã giúp cho quá trình chuyển hóa năng lượng của tòa nhà và luôn nhắc nhở chúng con về bản chất của sự thực tập.

Thầy kính thương, thường thì mỗi lần Thầy qua Học viện, nhất là những năm gần đây, sức khỏe của Thầy không được tốt cho mấy. Tuy thế Thầy vẫn cho pháp thoại trong các khóa tu dành cho người nói tiếng Đức và tiếng Hà Lan, đem niềm vui và sự chuyển hóa đến cho rất nhiều người. Tháng 8 năm 2014, dù chỉ sống bằng tư niệm thực, Thầy đã tân tu Tâm Kinh Bát Nhã một cách thật tuyệt vời trong căn phòng nhỏ trên tầng thứ ba của Viện Vô Ưu. Văn bản Tâm Kinh Bát Nhã tân tu rất thiết yếu cho sự hiểu biết và sự thực tập đạo Bụt một cách đúng đắn và chúng con thật vinh dự vì văn bản ấy đã ra đời tại Học viện.

Kính bạch Thầy, Thầy dạy chúng con an vị các bức tượng Bụt (được làm ở Indonesia), trong tư thế thiền tọa, trên đồi táo ở hướng nam của Học viện để được nâng đỡ và bảo hộ. Ba tượng Bụt đã được đặt ở đó. Đáng tiếc là một số thanh niên địa phương đã vô tâm bẻ gãy một ngón tay của một trong ba bức tượng ấy. Một vị thiền sinh, chuyên tu sửa tượng, đã đắp lại ngón tay cho tượng Bụt, sau đó nó lại bị bẻ gãy. Bạn thiền sinh phải đắp ngón tay lại một lần nữa. Hiện giờ thì mọi việc đã ổn, ngón tay vẫn còn đó. Chúng con không dám đặt thêm tượng Bụt ở đó vì sợ sẽ bị đập vỡ, tuy trong thâm tâm, chúng con vẫn muốn đặt hết các tượng Bụt trên đồi ấy như lời Thầy dạy. Thật là tuyệt diệu mỗi khi được đi thiền hành lên đồi và được ngồi một cách bình an quanh các tượng Bụt thật đẹp, tỏa rạng năng lượng an lạc.

 

 

Với tăng thân bốn chúng

Nhiều thiền sinh được gây cảm hứng bởi sự có mặt của Học viện, đã dọn nhà đến ở gần bên để tham gia thiền tọa, thiền hành với các thầy các sư cô, đồng thời tham gia sinh hoạt hàng tuần với tăng thân cư sĩ của Waldbroel. Thầy đã dạy chúng con nên hiến tặng sự thực tập cho người dân địa phương Waldbroel. Vì vậy lúc ban đầu chúng con tổ chức cho họ sinh hoạt trong một căn phòng trên lầu của thư viện thành phố. Hiện nay tăng thân đang thực tập tại Học viện với sự yểm trợ của quý thầy và quý sư cô. Không những các bạn thiền sinh này đóng góp cho năng lượng thực tập, họ còn tình nguyện làm việc cho văn phòng và giúp chăm sóc vườn rau của Học viện.

Con rất biết ơn quý thầy, quý sư cô, tuy còn rất trẻ tuổi đời và tuổi đạo, đã tự tổ chức các chương trình tu học cho chính mình. Điều này rất hợp với ý của Thầy. Thầy đã dạy rằng bốn chúng của Học viện có thể được tượng trưng bằng hình ảnh của một trái đào. Quý thầy và quý sư cô là phần hạt đào và các vị cư sĩ là phần thịt đào. Phần hạt có chương trình tu học riêng. Các vị giáo thọ cùng bốn hoặc năm thầy và sư cô trẻ luân phiên hướng dẫn sự thực tập cho thiền sinh, rời phần hạt để qua phần thịt một thời gian rồi lại trở về phần hạt để hướng dẫn quý thầy, quý sư cô trẻ. Thầy nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chăm sóc phần hạt.

Đã có một số quý thầy, quý sư cô học được tiếng Đức và điều này đã đem lại rất nhiều niềm vui cho thiền sinh người Đức. Tiếng Đức không phải là một ngôn ngữ dễ học vì rất khác với tiếng Việt, phải cần rất nhiều thời gian và sự quyết tâm mới có thể học được. Các bạn thiền sinh có chia sẻ rằng trong năm đầu tiên của Học viện, họ không cảm thấy được chào đón thân tình. Con nghĩ rằng lúc ấy, chúng con đang bận rộn để thích ứng với môi trường mới. Bây giờ thì thiền sinh rất hoan hỷ khi luôn được quý thầy và quý sư cô đón chào một cách ấm áp.

Con rất biết ơn quý thầy, quý sư cô lớn đã cáng đáng những công việc nặng nhọc như điều hành và tài chánh, tham dự những buổi họp dài và rất kiên nhẫn trước sự phức tạp của giấy tờ hành chánh tại nước Đức. Thật không dễ tránh khỏi lo lắng khi làm những công việc này nếu không có sự thực tập vững vàng trong hơi thở, bước chân và nụ cười chánh niệm. Trong những năm đầu của Học viện, con cũng có tham dự những buổi họp như vậy nhưng đã không kham nổi. Nếu không có quý thầy và quý sư cô lớn đảm đương thì Học viện đã không thể tiếp tục hoạt động. Đôi lúc chúng con may mắn gặp được một viên chức dễ thương, bỏ qua vài việc chưa đáp ứng đủ với những tiêu chuẩn gắt gao của nước Đức, nhưng một người như vậy rất hiếm có. Quý thầy, quý sư cô lớn là gương mặt đối ngoại của Học viện, trực tiếp làm việc với luật pháp và chính quyền. Đây là một công việc không ai thích làm nhưng lại cần thiết và cần phải làm như thế nào để cho những người không biết thực tập thiền càng lúc càng có thêm niềm tin vào đời sống tâm linh. Con rất biết ơn sự hy sinh của quý thầy, quý sư cô làm việc trong lĩnh vực này.

Trong 10 năm qua, Học viện đã đi qua nhiều sự đổi thay. Tòa nhà đồ sộ này đang dần dần được sửa sang lại. Nhiều thầy, nhiều sư cô đã đến và đã ra đi, nhưng ai cũng đã để lại đây một cái gì thật quý giá và ai cũng có một cái gì đó để tri ân. Có lẽ điều mà chúng con ghi nhớ nhất chính là tình huynh đệ mà chúng con đã thưởng thức khi cùng có mặt với nhau trong thời gian ở đây. Chừng nào còn tình huynh đệ, chừng đó Học viện vẫn còn có thể tiếp tục hiến tặng năng lượng chuyển hóa cho thành phố Waldbroel, nước Đức, cho châu Âu và cho thế giới.

 

CHƯƠNG 5: Nghi thức truyền thọ Ba Quy và Năm Giới

Người ch lễ nghi thức này một người đạo đức được đại chúng kính nể, đang hành trì Giới Khất Sĩ, Giới Nữ Khất Sĩ, Giới Bồ Tát Xuất Gia hay Giới Tiếp Hiện Xuất Gia đã được truyền đăng làm Giáo Thọ hoặc đã được đặc biệt cho phép trao truyền Năm Giới.

  1. 1. Thiền Hành

(30 phút, sau khi được hướng dẫn)

  1. 2. Thiền Toạ

(12 phút, sau khi được hướng dẫn)

  1. 3. Dâng Hương

Đại chúng chp tay trước bàn thờ. Vị ch lễ dâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Lò báu đốt danh hương

Khói trầm quyện toả khắp mười phương

Tâm Bồ Đề dũng liệt phi thường

Tiếp xúc đâu cũng phóng hào quang

Khắp chốn an định tỏ tường

Kính thành phụng hiến đức Từ Tôn.

Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

  1. 4. Tán Dương

Hương đã cắm vào bình, v ch l xướng, đại chúng chp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen

Rạng ngời như Bắc Đẩu

Xin quay về nương náu

Bậc Thầy của nhân, thiên.

Sen quý nở đài giác ngộ

Hào quang chiếu rạng mười phương

Trí tuệ vượt tầm pháp giới

Từ bi thấm nhuận non sông.

Vừa thấy dung nhan Điều Ngự

Trăm ngàn phiền não sạch không

Hướng về tán dương công đức

Tinh chuyên Đạo nghiệp vun trồng.

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

  1. 5. Lạy Bụt

Vị chủ lễ xướng các danh hiu sau đây, và đi chúng lạy xung một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp, và Tăng thường trú trong mười phương (C)

Nhất tâm kính lể Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)

Nhất tâm kính lễ Đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)

Nhất tâm kính lễ Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền. (C)

Nhất tâm kính lễ Đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm. (C)

Nhất tâm kính lễ Đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Ma Ha Ca Diếp. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Xá Lợi Phất. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Ma Ha Mục Kiền Liên. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư Ưu Ba Ly. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà. (C)

Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Kiều Đàm Di. (C)

Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc cho đến Việt Nam. (CC.)

  1. 6. Trì Tụng

Đại chúng an toạ trên toạ c thành hai hàng đi diện nhau. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Vị chủ lễ xướng Kệ Khai Kinh Tâm Kinh:

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (ba lần) (C)

Giới luật cao siêu mầu nhiệm

Cơ duyên may được thọ trì

Xin nguyện đi vào biển tuệ

Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (CC.)

TÂM KINH TUỆ GIÁC QUA BỜ

Avalokita
Khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng
Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;
Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (C)
“Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)
Chư Bụt trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn.” (C)
Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.
Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)

 

  1. 7. Tác Pháp Yết Ma

Vị Yết Ma: Đại chúng đã tập họp đầy đủ chưa?

Vị Thủ Chúng: Thưa, đại chúng đã tập họp đầy đủ.

Vị Yết Ma: Có sự hoà hợp không?

Vị Thủ Chúng: Thưa, có sự hoà hợp.

Vị Yết Ma: Đại chúng hôm nay tập họp có chủ đích gì?

Vị Thủ Chúng: Thưa, để thục hiện Yết Ma truyền Năm Giới.

Vị Yết Ma: Xin đại chúng lắng nghe! Hôm nay là ngày (…/…/…), ngày được chọn để truyền thọ Tam Quy và Ngũ Giới, chúng ta đã tập họp đúng giờ giấc, đại chúng đồng ý sẵn sàng hộ niệm việc truyền thọ quy giới trong tinh thần hoà hợp, như vậy, việc truyền giới là hợp pháp. Bạch như thế, thì phép tác bạch có thành hay không?

(Đại chúng đáp:) Thành.

  1. 8. Khai Thị

Hôm nay đại chúng tập họp để chứng minh và hộ niệm cho lễ Quay Về và Nương Tựa Tam Bảo của các vị … và … Xin đại chúng theo dõi hơi thở và an trú trong chánh niệm khi nghe ba tiếng chuông gia trì. Tiếng chuông là tiếng gọi của Bụt để mọi người trở về trong trạng thái tỉnh thức. (CCC)

(Khong thi gian gia hai tiếng chuông là ba hơi th o và ba hơi th ra)

  1. 9. Lạy Báo Ân

Các vị Giới Tử có tên sau đây đứng dậy, chắp tay thành búp sen trình diện trước Tam Bảo (đọc tên.) Nghe lời xướng và tiếng chuông thì lạy xuống một lạy:

Giới tử mang ơn cha mẹ sinh thành, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

Giới tử mang ơn sư trưởng giáo huấn, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

Giới tử mang ơn bằng hữu và các bậc thiện tri thức đã tác thành cho, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

Giới tử mang ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (CC)

  1. 10. Truyền Thọ Tam Quy

Hôm nay đại chúng tập họp để chứng minh và hộ niệm cho các vị… trong lễ phát nguyện thọ trì pháp Quy Y Tam Bảo. Là người có duyên với Đạo, quý vị đã thấy rõ được con đường của tình thương và sự hiểu biết mà tổ tiên chúng ta đã đi theo trong bao nhiêu thế hệ, và hôm nay quý vị đã có chủ ý phát tâm quy y Tam Bảo.

Quy y Tam Bảo là quay về nương tựa nơi Bụt, nơi Pháp, và nơi Tăng. Bụt, Pháp, và Tăng là ba viên ngọc quý. Quay về nương tựa nơi Bụt là quay về nương tựa nơi bậc tỉnh thức, có khả năng đưa đường chỉ lối cho ta trong cuộc đời. Quay về nương tựa Pháp là quay về với con đường của trí tuệ và từ bi, nghĩ là con đường của hiểu biết và thương yêu. Quay về nương tựa Tăng là quay về nương tựa nơi đoàn thể của những người đang thực tập theo con đường trí tuệ và từ bi và sống trong tỉnh thức.

Bụt, Pháp, và Tăng có mặt trong mười phương thế giới mà cũng có mặt trong mọi người và mọi loài. Quay về nương tựa nơi Bụt, nơi Pháp, và nơi Tăng cũng có nghĩa là tin tưởng ở khả năng giác ngộ nơi tự tánh mình, ở khả năng khai mở và phát triển hiểu biết và thương yêu nơi bản thân mình và khả năng thực tập hành đạo của cá nhân và đoàn thể mình.

Xin các vị giới tử cung kính đọc theo đây ba lời phát nguyện lớn:

– Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.

(lp lại, chuông)

– Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

(lp lại, chuông)

– Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức.

(lp lại, chuông)

  1. 11. Khai Thị

Quý vị Phật tử! Quý vị đã chính thức tiếp nhận pháp Tam Quy, đưa Ba Viên Ngọc Quý vào lòng và vào đời sống hàng ngày của quý vị. Hôm nay quý vị đã trở nên những người học trò của bậc Giác Ngộ, và đã nguyện sống theo nếp sống tỉnh thức của Người. Bắt đầu từ hôm nay, quý vị phải để tâm hàng ngày học hỏi và hành trì theo con đường của trí tuệ và từ bi, nghĩa là để phát triển khả năng hiểu biết và thương yêu nơi quý vị. Và cũng bắt đầu từ hôm nay, quý vị phải biết nương tựa vào đoàn thể của quý vị để học hỏi và hành trì, tham dự những khoá tĩnh tu, tham dự những buổi đọc tụng quy giới và những sinh hoạt tu học khác của đoàn thể. Thầy giáo thọ của quý vị là Hoà Thượng (Thượng Toạ, Đại Đức) … và pháp danh của quý vị là do chính Hoà Thượng (Thượng Toạ, Đại Đức) ban cho. Quý vị phải nương vào thầy của quý vị mà học Đạo và tu Đạo.

  1. 12. Truyền Thọ Năm Giới

Các giới tử! Đây là giây phút long trọng của sự truyền thọ Năm Giới. Năm Giới là nền tảng cho một cuộc sống có hạnh phúc và có chí hướng vị tha, có năng lực bảo vệ sự sống và làm đẹp cho cuộc đời.

Năm Giới là những nguyên tắc hướng dẫn chúng ta về hướng an lạc, giải thoát và giác ngộ. Năm Giới là nền tảng của hạnh phúc cá nhân, hạnh phúc gia đình và xã hội. Học hỏi và thực hành theo Năm Giới, ta sẽ đi đúng con đường chánh pháp, ta sẽ tránh được lỗi lầm, khổ đau, sợ hãi và thất vọng, ta sẽ xây dựng được an lạc hạnh phúc cho ta, cho gia đình ta và đóng góp vào phẩm chất an lạc và hoà bình của xã hội.

Đây là Giới tướng của Năm Giới. Xin quý vị lắng nghe từng Giới một với tâm hồn thanh tịnh. Xin trả lời ‘dạ có’ mỗi khi thấy mình có khả năng tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới luật được tuyên đọc.

Các vị đã sẵn sàng chưa? (trả lời: Sn sàng.)

Đây Giới Thứ Nhất:

“Ý thức được những khổ đau do sự sát hại gây ra, con xin học theo hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự giết chóc và không để kẻ khác giết hại, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hàng ngày của con.”

Đó là Giới Thứ Nhất của Năm Giới. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì Giới ấy hay không? (đáp: ‘Dạ có’, chuông)

Đây Giới Thứ Hai:

“Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin học theo hạnh đại từ để đem lại niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia xẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương tên sự đau khổ của con người và của muôn loại.”

Đó là Giới Thứ Hai của Năm Giới. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì Giới ấy hay không? (đáp: ‘Dạ có’, chuông)

Đây Giới Thứ Ba:

“Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo vệ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người và mọi gia đình trong xã hội. Con nguyện không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của con. Con ý thức được rằng những hành động bất chính sẽ gây ra những đau khổ cho kẻ khác và cho chính con. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những cam kết của mình và của kẻ khác. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa.”

Đó là Giới Thứ Ba của Năm Giới. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì Giới ấy hay không? (đáp: ‘Dạ có’, chuông)

Đây Giới Thứ Tư:

“Ý thức được những khổ đau đo lời nói thiếu chánh niệm gây ra, con xin học theo hạnh ái ngữ và lắng nghe để dâng tặng niềm vui cho người và làm vơi bớt khổ đau của người. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hoặc khổ đau cho người, con nguyện chỉ nói những lời có thể gây thêm niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng sự hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói những điều sai với sự thật, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những điều con không biết chắc. Con nguyện không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và đoàn thể, những điều có thể làm tan vỡ gia đình và đoàn thể.”

Đó là Giới Thứ Tư của Năm Giới. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì Giới ấy hay không? (đáp: ‘Dạ có’, chuông)

Đây Giới Thứ Năm:

“Ý thức được những khổ đau do sự sử dụng ma túy và độc tố gây ra, con xin học cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe thân thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện chỉ tiêu thụ những gì có thể đem lại an lạc cho thân tâm con, và cho thân tâm gia đình và xã hội con. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ những sản phẩm có độc tố trong đó có một số sản phẩm truyền thanh, truyền hình, sách báo, phim ảnh và chuyện trò. Con biết rằng tàn hoại thân tâm bằng rượu và các độc tố ấy là phản bội tổ tiên, cha mẹ và cũng là phản bội các thế hệ tương lai. Con nguyện chuyển hóa bạo động, căm thù, sợ hãi và buồn giận bằng cách thực tập phép kiêng cữ cho con, cho gia đình con và cho xã hội. Con biết phép kiêng khem này rất thiết yếu để chuyển hóa tự thân, tâm thức cộng đồng và xã hội.”

Đó là Giới Thứ Năm của Năm Giới. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì Giới ấy hay không? (đáp: ‘Dạ có’, chuông)

Quý vị Phật tử! Quý vị đã tiếp nhận xong Năm Giới Quý Báu, nền tảng của hạnh phúc gia đình và chất liệu của chí nguyện lợi tha. Quý vị phải ôn tụng thường xuyên giới tướng mỗi tháng ít nhất là một lần, đề sự học hỏi và hành trì Năm Giới càng ngày càng sâu sắc và lớn rộng.

Lễ tụng giới được tổ chức tại chùa, tại thiền đường, niệm phật đường, hay tại tư gia, có sự tham dự của những người bạn tu của mình. Quý vị cũng có thể tổ chức lễ tụng giới trong phạm vi gia đình mình, hoặc nếu sống độc thân xa chùa, xa bạn, thì cũng có thể tụng giới một mình. Nếu trong vòng ba tháng mà không tụng giới ít nhất là một lần thì quý vị tự động mất giới thể và lễ Quy Y Truyền Giới này sẽ mất hiệu lực.

Quý vị Phật tử! Là đệ tử của Bụt, quý vị nên tinh tiến tu học theo con đường mà Bụt đã dày công chỉ dạy để tạo an lạc và hạnh phúc cho chính mình và cho mọi người. Nghe chuông, xin đứng dậy và lạy xuống ba lạy để tỏ lòng tôn kính và biết ơn Tam Bảo.

  1. 13. Tuyên Đọc Phái Quy Y

Các Phật tử! Xin quý vị lắng tai nghe thầy tuyên đọc phái quy y (đc phái quy y, trong đó pháp danh của người mới được quy y của vị bổn mình. Đọc xong, phái quy y được trao lại cho đương sự. Giới tử đã quy y ra quỳ trước điện Bụt để nghe đọc phái nhận phái.)

  1. 14. H Niệm

Để hộ niệm cho các Phật tử mới thọ phép Quy Y được đạo tâm kiên cố và đạo nghiệp tăng trưởng, xin đại chúng nhiếp tâm trì niệm hồng danh chư Bụt và chư vị Bồ Tát theo phương pháp trì danh nhất tâm bất loạn. (mỗi danh hiệu ba lần)

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)

Nam mô Đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)

Nam mô Đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)

Nam mô Đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)

Nam mô Đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

  1. 15. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.

Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.

Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hoá.

Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được Giác Tính, Sớm mở lòng Bồ Đề.

Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hoá.

Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hoá được muôn loài. (CC)

  1. 16. Hi Hưng

Truyền trì Giới thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học

Ân nghĩa xin nguyện đền

Phiền não xin nguyện đoạn

Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

CHƯƠNG 4: Kinh người áo trắng

(Ưu Bà Tc Kinh, Kinh số 128 của B Trung A Hàm, Gotama Sanghadeva đời Đông Tấn (397-398) dịch từ Phạn ra Hán. Nhất Hạnh dịch ra Quốc Văn, năm 1992. Tham khảo Anguttara Nikaya, A. III.211.)

Đây là những điều tôi nghe Bụt nói vào một thời mà người còn lưu trú tại tu viện Cấp Cô Độc, trong vườn cây Kỳ Đà. Hôm ấy, cư sĩ Cấp Cô Độc cùng với năm trăm vị cư sĩ khác đã tìm đến nơi cư ngụ của thầy Xá Lợi Phất. Các vị cúi đầu làm lễ thầy và ngồi xuống một bên. Tôn giả Xá Lợi Phất đã sử dụng nhiều phương tiện khéo léo để thuyết pháp cho các vị cư sĩ này, đem lại cho họ niềm vui và làm phát khởi nơi họ niềm khát ngưỡng đối với Tam Bảo và sự hành trì chánh pháp. Sau đó, tôn giả tới viếng Bụt, làm lễ dưới chân Người và ngồi xuống một bên. Cư sĩ Cấp Cô Độc và năm trăm vị khất sĩ cũng theo gót thầy, đến viếng Bụt, làm lễ dưới chân Người rồi ngồi xuống một bên Bụt. Sau khi thấy mọi người đã an tọa, Bụt bảo thầy Xá Lợi Phất:

“Này thầy Xá Lợi Phất, thầy có biết rằng nếu một vị đệ tử áo trắng đạo hạnh biết hộ trì năm Giới pháp và tu tập bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm) thì có thể dạt tới rất dễ dàng và không khó khăn gì khả năng an trú hạnh phúc ngay trong hiện tại, và biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn đọa lạc vào địa ngục, ngạ quỷ, bàng sinh và các nẻo ác khác trong tương lai?

Một người như thế là đã đắc quả Vào Dòng, không sợ còn bị rơi vào đường ác, chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác. Người ấy chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên Giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.

Xá Lợi Phất, vị đệ tử áo trắng hộ trì năm Giới pháp tu tập và bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm) như thế nào?

Vị đệ tử áo trắng xa lìa sự giết hại, chấm dứt sự giết hại, buông bỏ khí Giới, biết hổ thẹn, tập từ tập bi, bảo hộ cho mọi loài sinh vật, kể cả các loại côn trùng. Vị ấy diệt trừ tận gốc tâm niệm giết hại.

Đó là Giới pháp thứ nhất mà người đệ tử áo trắng hộ trì.

Vị đệ tử áo trắng xa lìa sự không cho mà lấy, chấm dứt sự không cho mà lấy, thường ưa bố thí, tìm niềm vui trong sự bố thí và bố thí mà không cầu đền đáp. Vị này không bị tâm trạng tham lam che lấp, luôn luôn bảo hộ sự liêm khiết của mình và diệt trừ tận gốc sự không cho mà lấy.

Đó là Giới pháp thứ hai mà người đệ tử áo trắng hộ trì.

Vị đệ tử áo trắng xa lìa tà dâm, chấm dứt sự tà dâm, bảo vệ cho bất cứ ai, dù người ấy nằm trong sự bảo hộ của cha, mẹ, hoặc cả cha lẫn mẹ, hoặc chị em, hoặc anh em, hoặc cha mẹ bên sui gia, hoặc gia đình sui gia, hoặc bởi người đồng tính, hoặc là vợ con hay chồng con kẻ khác, kể cả kẻ bị cuồng dâm khủng bố, hoặc kẻ bán phấn buôn hương. Vị này diệt trừ tận gốc tâm niệm tà dâm.

Đó là Giới pháp thứ ba mà người đệ tử áo trắng hộ trì.

Vị đệ tử áo trắng xa lìa nói dối, chấm dứt sự nói dối, chỉ nói sự thật, tìm niềm vui trong sự nói lên sự thật, an trú nơi sự thật không lúc nào đổi dời, có thể được tin cậy hoàn toàn và không bao giờ dám miệt thị kẻ khác. Vị ấy diệt trừ tận gốc sự nói dối.

Đó là Giới pháp thứ tư mà người đệ tử áo trắng hộ trì.

Vị đệ tử áo trắng xa lìa rượu, chấm dứt sự uống rượu, diệt trừ tận gốc thói quen uống rượu.

Đó là Giới pháp thứ năm mà người đệ từ áo trắng hộ trì.

Này thầy Xá Lợi Phất, các vị đệ tử áo trắng làm thế nào thế để đạt tới bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm) và an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng và không có khó khăn? Trước hết, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Như Lai. Vị ấy quán niệm như sau: Như Lai là bậc giác ngộ chân chính không còn dính mắc, là bậc Minh Hạnh túc, là bậc Thiện thệ, là bậc Thế gian giải, là bậc Vô thượng sĩ, là bậc Điều ngự trượng phu, là bậc Thiên nhân sư, là Bụt, là Thế tôn. Quán niệm về Như Lai như thế thì những dục vọng xấu xa đều được tiêu diệt, trong tâm người quán niệm không còn những yếu tố bất thiện, uế nhiễm, sầu khổ và lo âu.

Nhờ tưởng niệm tới Như Lai mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui, và người ấy đạt tới tâm cao đẹp thứ nhất, an trú trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì.

Xá Lợi Phất, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Pháp. Vị ấy quán niệm như sau: Giáo pháp được đức Thế tôn giảng dạy là giáp pháp diễn bày khéo léo, có khả năng đưa tới giải thoát hoàn toàn, đưa tới trạng thái không phiền não, không nóng bức, có tính cách thường tại và không dời đổi. Quán niệm và giác tri như thế về pháp thì những dục vọng xấu xa đều được tiêu diệt, trong tâm người quán niệm không còn những yếu tố bất thiện, uế nhiễm và lo âu.

Nhờ tưởng niệm tới Pháp mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui và đạt tới tâm cao đẹp thứ hai, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì.

Xá Lợi Phất, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Tăng. Vị ấy quán niệm như sau: Thánh chúng của Như lai đang đi về nẻo thiện, đang đi trên đường chánh, đang hướng theo giáo pháp, đang thực tập theo giáo pháp và sống đúng tinh thần giáo pháp. Trong thánh chúng ấy có các bậc A la hán đã thành và đang thành, các bậc A na hàm đã thành và đang thành, các bậc Tư đà hàm đã thành và đang thành, các bậc Tu đà hoàn đã thành và đang thành, tức là có đủ cả bốn đôi và tám bậc. Thánh chúng của Như lai đã thành tựu được Giới, được tam muội, được bát nhã, được giải thoát, được tri kiến giải thoát; thánh chúng này đáng được tôn kính, đáng được quý trọng, đáng được phụng sự, đáng được cúng dường, và đó là ruộng phước tốt đẹp cho cuộc đời.

Nhờ tưởng niệm tới tăng mà tâm tư người quán niệm lắng trong, có được niềm vui và người ấy đạt tới tâm cao đẹp thứ ba, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì.

Xá Lợi Phất, vị đệ tử áo trắng thực tập quán niệm về Giới. Vị ấy quán niệm như sau: Giới luật này không có khuyết điểm, không bị sứt mẻ, không bị cấu uế, không bị ô trược, có khả năng giúp ta an trú trong lĩnh thổ của Như lai. Giới luật này không có tính cách giả dối, thường được các bậc hiền thánh khen ngợi, tiếp nhận, thực tập và hộ trì.

Nhờ tưởng niệm tới Giới mà tâm tư người ấy lắng trong, có được niềm vui và người ấy dạt tới tâm tư cao đẹp thứ tư, an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng, không khó khăn gì.

Xá Lợi Phất, thầy nên ghi nhớ rằng một người đệ tử áo trắng nếu thực tập được như thế là đã chấm dứt được sự sa đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và các đường dữ khác, đã chứng đạt được quả vị Tu đà hoàn, không còn thối đọa vào các ác pháp. Người ấy chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác và chỉ cần qua lại tối đa là bảy lần nữa trong các cõi trời và người là có thể đạt tới biên Giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.

Bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài tụng sau đây:

“K trí sng tại gia

Thấy sợ cảnh địa ngục

Nên thọ t chánh pháp

Dứt trừ mọi nẻo ác.

Học hiểu hành trì

Không giết hại chúng sanh

Chân thật không nói dối

Không lấy của không cho.

Trung kiên bạn hôn phối

Thói dâm kìa bỏ

Nhất quyết không ung rượu

Để tâm chẳng loạn cuồng

Thường thực tập niệm Bụt

Thường thực tập niệm Pháp

Niệm Tăng và niệm Giới

Tâm an lạc thảnh thơi.

Muốn thực tập bố thí

Để vun trồng phước đức

Người ấy học tiêu chuẩn

Giải thoát giác ngộ.

Lợi Phất lng nghe

Ta nói về điểm này

Hãy nhìn đàn kia

Và thử quan sát chúng:

con vàng, con trắng

con đỏ, con đen

Màu nâu đốm vàng

Hoặc màu chim bồ câu.

chúng màu sắc

Hoặc xuất xứ từ đâu

Giá trị thật của chúng

sức chuyên chở.

Những con nào mạnh khe

Kéo xe mạnh nhanh

Chuyên chở được nhiều chuyến

những con hữu dụng.

Trong cõi nhân gian này

các Giới phạm chí

Sát đế lợi,

Thương gia công nhân.

Những ai trì tịnh Giới

Thực chứng được giải thoát

Trở thành bậc cao đức

Bc Thiện thệ thảnh thơi.

Cúng dường những bậc ấy

Là được quả phúc lớn.

Ta không cần phân biệt

Giai cấp nguồn gốc.

Kẻ thiếu đức nghèo tuệ

Không soi sáng cho ai,

Cúng dường những kẻ y

Quả phúc không đáng kể.

Người con Bụt tu huệ

Tâm hướng v Thế tôn

Gốc lành thêm vững chãi

Chỉ sinh về nẻo lành.

Qua li cõi nhân thiên

Nhiều lắm bảy lần

Cuối cùng sẽ đạt được

Cảnh Niết bàn tịnh lạc.”

Bụt nói như thế, Tôn giả Xá Lợi Phất, các vị khất sĩ, cư sĩ Cấp Cô Độc và năm trăm vị cư sĩ khác nghe lời Bụt dạy, vui vẻ làm theo.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

159 | Tương lai trong bàn tay

Tương lai trong bàn tay

‘Bạn tu gì?’ Nhiều hành giả trong đạo Bụt sẽ cho rằng câu hỏi này nhắm vào loại thiền mà họ thực tập, vì họ có khuynh hướng trả lời: ‘Tôi theo thiền Minh Sát (vipassana),’ hay ‘thiền Dzogchen [19],’ hay ‘Chỉ quản đả toạ (shikantaza)[20].’ Những câu trả lời như vậy phản ảnh một quan niệm phổ biến rằng tu tập cốt yếu là vấn đề kỹ thuật tâm linh. Đạo đức, theo phối cảnh này, được xem như là tập hợp của các giá trị và lề luật hỗ trợ cho sự tu tập.

Tuy nhiên, Bụt lại nói đến việc tu học (siksa) như là bao gồm ba mặt: giới đức, thiền định, và trí tuệ. Song, đến khi các đệ tử Bụt tìm cách thể hiện mình trong văn hoá lấy kỹ thuật làm trung tâm điểm của Tây Phương, họ thường hiểu việc tu ‘hành’ chủ yếu theo mặt thứ hai của Tam Học, tức là thiền định. Bởi vì cái nhìn này khớp với thế giới quan trong đó cách giải quyết vấn đề bằng biện pháp kỹ thuật được xem là cao hơn cả.

Khía cạnh đáng kể nhất của phong trào đạo Bụt nhập thế đang lên là việc định nghĩa lại thế nào là ‘tu học.’ Do nhấn mạnh mặt dấn thân, trọng tâm của sự tu tập chuyển từ chỗ gắn bó riêng đối với thiền sang chỗ kể vào phần đạo đức. Điều nguy hiểm ở đây là ‘các Phật tử dấn thân’ trở nên xem thường một cách vi tế (hay ít vi tế) những Phật tử khác ‘chỉ’ có hành thiền. Vì với khuynh hướng lấy kỹ thuật làm trọng tâm của các thiền giả, Phật tử dấn thân lại có nguy cơ thua thêm lần nữa nỗi ám ảnh khác của Tây Phương: niềm tin rằng chỉ có hành động mới đáng kể mà thôi.

Đạo đức, như là sự thực tập, bắt đầu bằng việc đưa những vấn đề đạo đức nan giải vào phạm vi thiền quán – ý thức về những thôi thúc trái ngược xâm chiếm lấy tâm thức trong khi thiền tập. Thay vì gạt bỏ chúng như những thứ làm ta phân tán (điều hoàn toàn chính đáng khi tu bồi định), ta nhận diện chúng như những tiềm năng của những hành động có thể mang lại khổ đau cho mình hay cho người.

Thực tập chánh niệm như vậy làm tăng thêm sự nhạy bén với sự trồi lên của các ý tưởng và cảm xúc trong từng giây từng phút. Thường thì phải đợi cho đến khi bị cảm xúc, như cơn giận chẳng hạn, kéo đi rồi mình mới bắt đầu nhận ra nó. Tập thiền như vậy luyện cho mình quan sát các trạng thái của tâm ngay từ lúc chúng mới chớm.

Điều này không có nghĩa là mình đè nén hoặc coi nhẹ những thôi thúc không phù hợp với hình tượng tâm linh của mình. Chánh niệm có nghĩa là chấp nhận những gì đang xảy ra và nhận diện chúng như tự thân sự việc. Tận sâu nơi gốc rễ của sự tu tập giới đức của mình là khả năng chấp nhận rằng mình cũng có tiềm năng của một kẻ sát nhân, ăn trộm, cưỡng hiếp, và lạm dụng ma túy như những kẻ phạm tội trong tù. Tu tập giới đức tức là chấp nhận được sự thực của những thôi thúc ấy – và buông xả chúng. Buông xả chúng có nghĩa là để cho chúng đi qua một cách tự nhiên. Vì chỉ khi nào mình xác nhận một lực thúc đẩy (‘Ừ, tôi ghét hắn!’), mình mới kéo theo một loạt hiện hành khác, cuối cùng dẫn đến hành động bằng thân hay bằng lời.

Khi niệm lực gia tăng, mình có thêm tự do chọn lựa những gì phải làm. Chánh niệm được cho thêm sức mạnh, nhưng không phải chỉ bằng vào khả năng chánh niệm lớn hơn – tất cả chúng ta có lẽ đều đã từng có kinh nghiệm ngồi nhìn một cách rất chánh niệm sự phá giới của mình. Chánh niệm còn được cho thêm sức mạnh bởi các năng lực ‘chị em’ với nó là tín, tấn, định và tuệ (bốn năng lực khác của giáo lý Ngũ Lực, indriya, mà Bụt đã dạy.) Giả như chánh niệm ấy hoàn toàn vắng mặt, thì mọi chọn lựa gần như chỉ lệ thuộc vào sức ép của thói quen tâm lý và ước định xã hội. Chỉ khi nào chánh niệm có đầy đủ sức mạnh mình mới hoàn toàn đầy đủ tự do để chọn lựa.

Cái gì khiến mình bảo cái này là đối nghịch với cái kia? Cái gì khiến mình tin tưởng rằng hành động này là đúng còn hành động kia là sai? Chánh niệm có thể giúp mình nhận ra được những động lực nào đang khởi lên trong từng giây phút, nhưng nó không bảo mình niệm nào nên nắm và niệm nào nên xả. Để biết điều này, mình cần phải ý thức được những gì mình đặt giá trị và ưu tiên vào. Và ý thức ấy nằm ngay cốt lõi niềm tin Phật giáo của mình.

Sự thực tập giới đức đạo Bụt đặt nền tảng nơi lòng tin. Bởi vì mình không thể chứng minh được bằng luận lý (logic) hay quán sát được bằng giác quan những gì mình cho là đúng sai, thiện ác. Cho dù mình có thể biện hộ cho sự xác quyết của mình về đúng và sai bằng cách viện đến lương tâm, trực giác, hay Phật tánh đi nữa, thì sự viện dẫn đó cũng vẫn là một hành động của đức tin, tin vào một cái gì (lương tâm chẳng hạn) mình không thể nào chứng minh hay quán sát được.

‘Luân lý Phật giáo’ thường chỉ cho các nhóm giới luật mà mình tự nguyện theo với tư cách một người tại gia, một người xuất gia, một người theo Bồ Tát hạnh, một người tu theo Thiền Tông, hay một người theo Kim Cương Thừa (Vajrayana.) Giới luật là những tuyên ngôn về những giá trị mình chọn, căn cứ trên niềm tin, để sống theo. Mình phải nương vào các giá trị tàng trữ trong Giới luật này mỗi khi làm một chọn lựa có tính chất luân lý.

Khi được trình bày một cách khô khan (như ‘Không được giết’), Giới có vẻ như chỉ đơn thuần ra lệnh cấm đoán điều nọ điều kia. Tuy nhiên, làm nền tảng cho những giới này là các giá trị, rằng: sự sống là quý, làm vơi nhẹ khổ đau là tốt, lòng thường là tốt, bảo vệ và nâng cao sự sống là tốt.

Ở mỗi truyền thống đạo Bụt đều có một sự găng go giữa những người chú trọng ý nghĩa dựa trên chữ nghĩa của Giới luật và những người chú trọng các giá trị làm nền tảng cho những Giới luật ấy. Trong nhiều truyền thống đều có câu chuyện về hai vị sư thấy người đàn bà đang sắp chết đuối dưới sông. Một vị lao xuống nước cứu, trong khi vị kia nhìn một cách không bằng lòng. Khi họ về đến tu viện, vị sau bảo vị trước phạm vào Giới xúc chạm đến thân thể phụ nữ. Bạn ông ta trả lời: ‘Tôi đã để cô ta lại bờ sông. Thầy vẫn còn giữ hoài cô ấy.’

Mỗi vấn đề nan giải của luân lý đều trình bày cho mình thấy một tình huống phức tạp, có một không hai, chưa từng xảy ra trước đó, và sẽ không xảy ra lại bao giờ. Bao nhiêu giới cũng sẽ chẳng đủ để đề luật cho con số vô hạn của những vấn đề luân lý nan giải trên đời, những vấn đề mình có thể phải đối mặt. Trong khi Giới có thể đề ra phương hướng cho nhiều chọn lựa đơn giản, thì những vấn đề nan giải trong đời, khiến ta phải trăn trở, lại đòi hỏi sự trau dồi giới đức. Vì những vấn đề ấy buộc ta phải nhìn sâu vào tình trạng và chọn lựa, với trí tuệ, những gì phải làm. Trí tuệ ấy đòi hỏi ta phải nhìn vượt ra ngoài ngôn từ của giới luật để thấy được các giá trị mà chúng giữ gìn.

Bụt nói hành động (nghiệp, karma) là ý hướng. Định làm gì, tức là chọn hành động theo một cách nào đó. Song, mỗi chọn lựa như vậy là một sự mạo hiểm; bởi vì mình không sao biết được kết quả của một hành động. Tất cả những gì ta có thể mong đợi đó là trí tuệ biết được cái gì là tốt nhất – một trí tuệ đòi hỏi sự khiêm tốn để nhận rằng mình có thể sai.

Cho nên, sự tu tập giới đức cũng kéo theo sự tu tập định, tuệ. Ba Phép Trau Dồi (Tam Học) của Bụt có mặt trong bất cứ một hành động có tính chất luân lý đáng kể nào: như sự cam kết sống theo một loạt giá trị gói ghém trong các giới luật; như tính trong sáng, an tịnh, và vô ngại của chánh niệm, cho phép ta ý thức được những gì đang xảy ra trong phút giây hiện tại; như trí tuệ để chọn lựa điều gì là hay nhất nên làm.

Mùa xuân năm 1993, tôi may mắn nằm trong một nhóm giáo thọ Phật giáo Tây Phương gặp gỡ Đức Dalai Lama để thảo luận, cùng với nhiều việc khác, vấn đề đạo đức của Phật giáo, đặc biệt là đạo đức giữa các vị thầy với nhau. Đức Dalai Lama đồng thời là một cột trụ ưu tú của dòng Pháp thuộc về lịch sử, và một trong những người diễn giải lỗi lạc nhất ý nghĩa của dòng Pháp ấy. Ngài, cùng một lúc, hoàn toàn phóng khoáng trên phương diện diễn dịch giáo lý, trong khi lại hết sức bảo thủ trong các vấn đề mang tính chính thống đạo đức.

Đức Dalai Lama bảo chính người đệ tử đã tuyệt đối trao quyền cho thầy khi đặt người thầy vào vai trò đó. Tại sao một số giáo thọ ở Mỹ và Âu Châu đã bị lôi kéo vào các vụ tai tiếng? Tại sao họ đã có thể lợi dụng và đối xử tồi tệ với đệ tử của mình? Đó là vấn đề mà Đức Dalai Lama đã hết sức quan tâm.

Người đệ tử, Ngài nhận xét, thường không xem xét đủ các phẩm chất đạo đức và tâm linh của người kia trước khi nhận ông ta (thường là ‘ông’) làm thầy. Tuy nhiên, truyền thống Tây Tạng nói rõ rằng một người cần phải dành nhiều năm xem xét kỹ lưỡng trước khi đi đến bước nhận thầy. Nhưng lỗi phần lớn nằm ở người thầy. Đức Dalai Lama nhận xét: ‘Nhiều người bạn mà tôi biết ở đây [ở Ấn Độ và Tây Tạng] rất khiêm tốn, nhưng sang Tây Phương thì họ lại trở nên kiêu mạn tự hào.’ Một ông thầy tu giản dị, bay từ một khu định cư cùng kiệt của Ấn Độ đến một đô thị châu Âu hay châu Mỹ để được tôn sùng và ồ ạt trút vào phú quí, thì, dễ hiểu thôi, sẽ có khuynh hướng để cho sự ưu đãi ấy làm cho mình kiêu mạn. ”Rượu,” Ngài bàn, ”thường là căn do của những vấn đề này.” Lẽ đương nhiên: một chiến lược hấp dẫn cho một người bị bứng khỏi văn hoá quen thuộc của mình, rồi ném vào một thế giới đầy hoang mang và đòi hỏi mà anh ta thiếu các kỹ năng cần thiết trên phương diện xã hội và tình cảm để đương đầu.

Mọi chuyện như thế cũng chưa đến nỗi gì, ngoại trừ sự kiện hầu hết các vị thầy Á Châu, và những đệ tử kế thừa người Tây phương của họ đều được xem là giác ngộ. ”Giác Ngộ” có nghĩa gì nếu như những người giác ngộ vẫn còn lệ thuộc vào những cung cách thiếu đạo đức mà những kẻ phàm phu chưa giác ngộ chúng ta đang tìm cách thoát ra khỏi sự kìm kẹp của chúng? Tối thiểu nhất, ta mong rằng sự giác ngộ hàm nghĩa một trình độ thoả mãn, không còn khao khát nữa. Nhưng nếu một người đã thoả mãn, hết khát khao, tại sao người ấy lại chịu thua thói kiêu căng cho mình là quan trọng? Tại sao người ấy lại trở nên lệ thuộc vào rượu? Tại sao người ấy lại theo đuổi một chuỗi truy hoan nhất thời? Ngay những người hài lòng chưa giác ngộ cũng còn chẳng cần đến những thứ này.

Nếu hành vi của vị thầy là phi đạo đức, Đức Dalai Lama trả lời, thì cho dù vị đó có tu lâu năm đi nữa, sự tu tập cũng sai lầm. Rất đơn giản, họ không có một sự hiểu biết đúng đắn về Giáo Pháp. Có một ”khoảng cách” giữa Pháp và đời sống của họ. Ngài bác bỏ tư tưởng một khi đã có tuệ giác về chân lý tối hậu của tính Không, thì người ta không còn bị ràng buộc bởi những quy tắc đạo đức nữa. Ngược lại: nhờ khám phá được mạng lưới liên hệ nối kết mọi loài chúng sanh một cách thuận theo luân thường đạo lý, cái hiểu về tính Không không bí hiểm vượt ra ngoài đạo đức mà truyền thụ cho lĩnh vực này (đạo đức) những hiểu biết vững vàng về kinh nghiệm.

Đức Dalai Lama đã bày tỏ sự quan ngại rằng thỉnh thoảng kinh nghiệm Ngộ (satori) của Thiền Tông bị lần lẫn với trạng thái định (samadhi) hay chỉ đơn thuần là trạng thái vô tưởng, trong tự thân chúng, chẳng có trạng thái nào hàm chỉ về cái hiểu có tính chất chuyển hoá cả. Sự chú trọng vào những mức độ chứng ngộ cao của Thiền Tông, Ngài nhận xét, có thể dẫn theo nguy cơ bỏ bê, không chăm sóc những mức độ thấp hơn, đó là tu chỉnh từ những hành vi đơn giản. Ngài cũng băn khoăn về những Phật tử mà Ngài đã gặp, nói về chứng nhập tánh Không nhưng xem ra nguội lạnh tình người, chứng tỏ họ đã đi lạc vào chỗ hoàn toàn vô tưởng, hay ”trầm trệ” (một dạng vi tế của sự mờ độn.) ”Vì vậy,” Ngài kết luận, ”tôi thích con đường từ từ từng bước hơn.”

Một người trong số chúng tôi nhận xét rằng những ngày gặp gỡ đó ”có một nhận thức đúng đắn đến tận xương tủy” về họ. Cuộc gặp gỡ với Đức Dalai Lama đã làm công việc khẳng định những gì nhiều người trong chúng tôi đã trực nhận là đúng, nhưng chưa tìm ra can đảm hay ngôn từ để nói ra. ”Quá khứ là quá khứ,” Đức Dalai Lama nói vào bữa chót của cuộc gặp gỡ. ”Cái gì là quan trọng? Tương lai. Chúng ta là những người sáng tạo. Tương lai trong bàn tay chúng ta. Cho dù có thất bại, cũng không gì hối tiếc – chúng ta phải nỗ lực.”

[19]. Dzogchen: ”Đại Viên Mãn” hay ”sự hoàn hảo lớn lao” nằm trong mạch Phật giáo Tây Tạng. ‘Theo Tạng Thư Sống Chết’ của Sogyal Rinpoche thì ”Dzogchen là trạng thái đã toàn hảo của bản tính nguyên ủy của ta, không cần phải làm cho toàn, vì nó ngay từ khởi thủy đã toàn vẹn, như bầu trời.” ”Sự tu luyện theo Dzogchen được mô tả là ”Kiến, Thiền, Hành. Thấy được một cách trực tiếp trạng thái tuyệt đối, CẢNH hay nền tảng bản thể chúng ta – tự tánh, tánh bản nhiên – đó là Kiến; cái cách để làm cho cái thấy ấy không gián đoạn gọi là Thiền; và hội nhập cái thấy ấy vào trong toàn thể thực tại và cuộc đời chúng ta, gọi là Hành.” (chương 10, bản dịch của Ni Sư Trí Hải.) [chú thích của người nhuận.]

[20]. Shikantaza (只管打座): ”Chỉ Quản Đả Toạ” (only focused on doing sitting), ”chỉ cần chăm sóc việc ngồi thôi”, là chủ trương của Thiền Sư Đạo Nguyên (Dogen Zenji 1200-1253), người du nhập phái thiền Tào Động (Toso) từ Trung Quốc sang Nhật Bản. [chú thích của người nhuận]

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Lưới đế châu của chúng ta

Trong trang cuối của bài tiểu luận ‘Mạng lưới của vua trời Đế Thích dưới dạng Dây Chuyền Thực Phẩm – Viễn cảnh Sinh Thái của Gary Snyder,’ David Barnhill nói: ‘Theo Snyder, lưới Đế Châu được áp dụng trong việc săn bắt và ăn thịt, trong đó loài bị săn bắt/ăn thịt biểu lộ lòng thương, và kẻ săn bắt/ăn thịt biểu lộ sự trong sạch và tôn trọng.[11]‘ Tôi xin nới rộng câu ấy để nói rằng bất cứ hình thức thu hoạch hay trồng tỉa nào cũng đều cần đến lòng thương, sự trong sạch, và tôn trọng từ mọi phía: kẻ ăn chay và người săn bắt đều đòi hỏi phải có bằng đó chánh niệm như nhau. David Barnhill nói tiếp rằng: ”Đạo Bụt, theo truyền thống, đương nhiên cấm ăn thịt, nhưng ta có thể thấy vì sao Snyder lại chọn không theo nguyên tắc đó.” Kỳ thực, tôi chấp nhận nguyên tắc đó, như một quan niệm, một thách đố, và một mục đích, tùy thời phải chỗ. Chọn không ăn thịt là một bước triển khai sơ đẳng của Giới thứ Nhất, ahimsa, bất hại, không gây ”tổn hại không cần thiết.” Nhưng đây là thế giới Ta-bà (saba) của khổ đau hệ lụy (dukkha), con người sống trong sự thiếu nghèo, cỏ cây, cầm thú sống trên sự sống của nhau. Cõi này được diễn tả trong Kinh như là cảnh giới của Dục (kama), của ham muốn và nhu cầu sinh học vốn đang chi phối tất cả. Hễ có thở tức có đói.

Đến khi Barnhill dường như đi đến lý luận rằng người ta do đó nên ăn thịt, thì tôi phải xin phép không đồng ý. Đó là kết luận của Barnhill, không phải kết luận của tôi, rằng ”nếu chúng ta gượng ép rút mình ra khỏi thân phận ăn thịt trong mạng lưới lương thực … thì chúng ta có vẻ như đang khẳng định cho mình một vị trí đặc biệt trong mạng lưới.” Quan điểm của riêng tôi là bất cứ lúc nào, ở đâu nếu người ta có thể sống được toàn bằng rau quả và ngũ cốc, thì điều ấy rất đáng hoan nghênh. Song, với nhiều người, đây không phải là một chọn lựa có thể đứng vững. Dân miền cực Bắc là trường hợp rõ ràng nhất, nhưng còn có những người ở vùng thảo nguyên, sa mạc, những người ở vùng ven biển, vùng núi đã quen sống nhiều đời với các thực phẩm không đến từ thảo mộc. Hầu hết mọi người phải thường xuyên sống bằng một nền kinh tế lương thực hỗn hợp, trong đó có cả sự sống động vật. Những người đạo Bụt chúng ta có nên gạt họ ra ngoài rìa chăng? ”Lũ dân biên địa không thể nắm được Chánh Pháp” (quan niệm xưa của Tây Tạng.) Tinh thần Bồ Tát chắc chắn không cho phép chúng ta lập tức loại ra ngoài các nền văn hoá và kinh tế lương thực khác trên thế giới. Theo cách sản xuất lương thực hiện đại, mặc dù rõ ràng ngành kinh tế thịt bò của Hoa Kỳ và một số nước khác là một sự xa xỉ phí phạm, thì cũng không chắc gì Thế Giới Thứ Ba lại có thể sống sót được nếu không nhờ đến bò, gà, heo, cừu, và hải sản.

Câu hỏi sâu hơn là câu hỏi ta trì Giới Thứ Nhất như thế nào. Khi Lão Sư (Roshi) Oda Sesso, vị thầy ở Daitokuji sodo của tôi, dạy đến công án 14 trong Vô Môn Quan (Mumonkan), ‘Nam Tuyền trảm miêu’ [12], ông đã không ngồi trên toà cao, mà chọn ngồi dưới chiếu Tatami, ngang hàng với người cầu đạo (unsui)[13] . Lão sư nói: ‘Đây là trường hợp dễ bị hiểu lầm. Ở Nhật, chúng ta đôi lúc có lẽ đã lạm dụng nó.’ Lúc ấy, tôi nghĩ ông đang nói đến tình trạng thiếu phản kháng rõ rệt của giới Thiền Môn trước sự trỗi dậy của chủ nghĩa quân phiệt Nhật vào những năm ba mươi, dẫn đến Thế Chiến thứ hai. Bây giờ tôi lại nghĩ ông ngụ ý rằng: trong cuộc thảo luận, bất cứ ai nêu lên câu hỏi về việc cố tình đoạt đi mạng sống đều đáng phải ngồi dưới đất. Với vấn đề này, người ta không thể không khiêm nhượng. Khi lắng nghe lời khai thị (teisho) của Lão Sư vào năm 1961, tôi phải thú nhận tôi đã cảm thấy mình khá chân chính, tôi là người cả đời theo chủ nghĩa hoà bình (và là người ăn chay từng giai đoạn), và tôi nghĩ mình đã biết cách hiểu giới. Đâu dễ vậy.

Tôi cũng để ý thấy có một số roshis (chưa kể các thầy tu) đã ăn cá khi ra ngoài tu viện. Có lần tôi đang viếng chùa của một roshi gần núi Fuji, tôi đã hỏi ông: tại sao có một số thầy tế và thầy tu ăn cá thịt? Ông đã trả lời rất ngon lành: ‘Một thiền giả phải có khả năng ăn được cứt chó và uống được dầu hôi.’ Thầy tôi, Oda Roshi, là một người ăn chay nghiêm túc. Nhưng có lần ông nói với tôi: ‘Chẳng phải vì tôi ăn chay tịnh, còn các thầy khác không ăn, mà có nghĩa là tôi hơn họ. Đây là cách tu của tôi. Những vị khác có cách của họ. Mỗi người đều phải lấy Giới Thứ Nhất làm thử thách lớn của mình, và tìm ra con đường riêng qua sự sống của mình với nó.’

Tôi không phải và cũng chưa bao giờ là người đi săn theo nghĩa người ta thường gọi. Tôi vẫn đang là một học trò săn bắt và thu thập các nền văn hoá, và vẫn cố tìm hiểu vai trò cơ bản của con người trong khi quán chiếu kinh nghiệm đánh phá hàng nghìn năm của nhân loại. Tôi đã từng giết vài con vật trong sự quá khích để được bảo đảm. Trong hai lần, tôi đã hạ những con hươu bị những kẻ đi săn giải trí làm bị thương, và lang thang quanh quãng rừng của chúng tôi trong tình trạng đó. Khi nuôi gà, chúng tôi bảo quản bầy đàn, sinh thái, và kinh tế, bằng cách ăn những chú trống choi nhiều quá lượng và, ở chiều bên kia của chu kỳ sự sống, hầm một con gà mái già lỡ cỡ lứa. Làm như vậy tôi mới biết được nỗi buồn và cái thế chẳng đặng đừng đang vây ép người nông dân ngoài đời. Họ (và tôi) không thể làm sao hơn là cai quản đàn gia súc theo cách ấy, vì làm khác hơn là xa xỉ, hay còn gọi là phi kinh tế.

Còn nữa, đàn gà mái của tôi (không giống những con gà công nghiệp nhốt trong chuồng chật ních) được chạy nhảy tự do và bươi đất suốt ngày, chúng có anh trống cồ làm bạn, và sống một cuộc sống sinh động, thoải mái của những con chim rừng. Thỉnh thoảng chúng bị mèo rừng, gấu trúc, chó rừng, và chó sói bắt đi. Vậy tôi có ghét mèo rừng và chó sói không? Đôi lúc, về phe mấy con gà, tôi cũng hơi ghét chúng. Chúng ta phải chịu khó gác lại ý riêng của mình, và khiêm tốn đứng sang một bên khi Guồng Máy Lớn đi băng qua những bước đường của nó. Tôi bỏ nuôi gà vì tôi thấy việc ấy không mang lại lợi gì. Những đàn gà sung sướng được thả lỏng không sao cạnh tranh nổi với ngành sản xuất trứng công nghiệp, nơi những con gà bị biến thành những cái máy đẻ (nhưng được bảo vệ khỏi hoạ mèo rừng.) Trong thâm sâu, tôi thấy mình khó mà chấp nhận việc thuần hoá chim, thú: bản chất hoang dã, độc lập của chúng bị tước đoạt quá nhiều.

Còn với thịt hươu nai: bao nhiêu năm nay vài gia đình trong vùng này đã tận dụng kỹ lưỡng xác hươu nai vừa bị xe cộ cán chết dọc đường thay vì để thịt phí bỏ. (Thế nhưng, để xác ấy cho kên kên hay dòi bọ ăn thì đâu phải là phí bỏ.) Chỗ chúng tôi ở, nghề vườn tược không được tốt mấy, nhưng rừng rậm lại mênh mông.

Sự phân biệt đơn giản giữa ”ăn chay hay ăn mặn” quả là quá đơn giản. Dân cư một số vùng, đặc biệt ở Ấn Độ và Đông Nam Á, là những người ăn chay tự nguyện. Hầu hết phần còn lại của dân chúng các nước Thế Giới Thứ Ba là những người ăn chay bán phần, do không đủ cá thịt. Người Mỹ, Úc, Tân Tây Lan, và một số người châu Âu là giới đại tiêu thụ thịt của thế giới hiện đại. Ở các nước đã phát triển, giới ăn chay thường là những thành phần có học thuộc giai cấp được ưu đãi. Phần lớn Phật tử Bắc Mỹ không có nhu cầu ăn thịt, và tôi cũng không khuyên họ nên ăn thịt bao giờ. Thay vào đó, có lẽ họ nên tìm hiểu thêm nền kinh tế lệ thuộc vào nhiên liệu và nền nông nghiệp sản xuất rau quả và ngũ cốc bằng cách làm suy thoái đất, nước, không khí, và gây nguy hiểm cho sức khoẻ những người di dân làm công với đồng lương rẻ mạt. Thực vậy, chúng ta đều nên tìm những phương cách sản xuất lương thực khác để thay thế.

Cách đến với thực phẩm của riêng tôi là tò mò và biết ơn. Tôi muốn biết thức ăn của mình đến từ đâu, và là gì, thảo mộc hay động vật. (Đậu Bắp thuộc họ Cẩn (Hibiscus) [14], xuất xứ từ Phi Châu! Cà Chua, Thuốc Lá, Khoai Tây, Cà Tím – giống Nhật (Nasubi), Ấn Độ (Brinjal), hay Pháp (Aubergine) –, và Cà Độc Dược đều cùng là họ nhà Cà (Solanaceae [15]), với những bông hoa hình phểu. Những sự thật này làm tôi thấy biết ơn hơn.) Cả nhà tôi đều nói lời tạ ơn và thực tập quán nguyện về thức ăn trước bữa, như được thực hiện trong các kỳ đả thất (sesshin [16].) Trong phần kết của quyển ‘Sự Hành Trì của Hoang Dã [17],’ với tiêu đề ‘Ân Điển,’ tôi có viết một đoạn về ‘nói lời tạ ơn.’

Vậy thì tại sao, với tư cách một hành giả trong đạo Bụt, tôi lại làm thơ, viết văn về những người đi săn, những người cắt cỏ nuôi gia súc, và về dây chuyền thực phẩm. Là vì: trên bình diện vật lý Giới thứ nhất là căn bản, và sự sống của chúng ta, theo góc độ thực phẩm, là câu hỏi hàng đầu của ngành kinh tế và sinh thái. Thực phẩm là lĩnh vực trong đó ta mỗi ngày khám phá ”việc gây tổn hại” của mình đối với thế giới, cũng như cách ta đối phó với việc này. Hẳn nhiên, đơn giản dừng lại đó và bảo rằng đời là bể khổ còn chúng ta đều vô minh sẽ không phải là cách giải quyết. Thay vào đó, chúng ta đòi hỏi phải tu tập.

Trong quá trình tu tập, chúng ta sẽ không thay đổi thực tại, nhưng chúng ta có thể chuyển hoá chính mình. Mặc cảm tội lỗi và trách móc bản thân không phải là hoa trái của sự thực tập, nhưng ta có thể trông chờ một cái nhìn thoáng rộng hơn. Cái nhìn thoáng rộng là cái nhìn có thể công nhận niềm đau đang có mặt cũng như cái đẹp của thực tại tương quan chằng chịt này. Chính sự nhận thức này, phần nào, là những gì mà hình ảnh lưới Đế Châu cố gắng biểu thị. Cho đến nay, chính những nền văn minh sơ khai còn tồn tại trên thế giới, đặc biệt nơi những người thợ săn và hái lượm, thật nghịch lý, lại là nơi người ta biểu hiện lòng biết ơn của mình đối với trái đất và muôn loài một cách thâm thúy nhất. Phật tử chúng ta cần phải học nhiều vì lẽ đó.

Những điều tôi vừa nói trên, không một điều nào nên bị xem là sự hợp thức hoá, hay bào chữa cho việc ‘phá’ giới. Như Ryo Imamura [18] gần đây có viết: ‘Trong đạo Bụt, không có cái gọi là cuộc chiến tranh ‘có chính nghĩa.” Nếu thấy mình đang đi ngược giới bất hại trong một tình huống quyết liệt, giết hoặc gây thương tích cho ai, để tự vệ chẳng hạn, chúng ta cũng chớ tìm cách biện minh cho hành vi ấy. Chúng ta chỉ có thể nói: Đây là quyết định của tôi, tôi rất tiếc sự việc đã xảy ra như vậy, và tôi chấp nhận mọi hậu quả có thể xảy ra.

Giới là Giới, đóng vai trò của kim chỉ nam, thước đo, lý tưởng, và công án. Giới không phải là một lề luật hiểu theo nghĩa đen như một trong Mười Điều Răn của Chúa. ”Không tước đoạt sự sống” hay ”không làm hại” là điều không thể nào giữ được một cách tuyệt đối. Những người Kỳ Na giáo (Jains) ở Ấn Độ đã cố giữ giới bất hại (ahimsa) theo nghĩa đen (bất kể logic), và những kẻ trong sạch nhất trong họ đã mở đầu một tông phái lấy việc nhịn đói cho đến chết làm một hành động đạo đức. Nhưng đây là sự bạo hành đối với thân thể của chính mình.

Mỗi sinh vật đều tác động đến từng sinh vật khác. Thuyết Darwin phổ cập, với sự nhấn mạnh vào quá trình chọn lọc tự nhiên (loài nào thích nghi thì sống sót), đã hiểu câu trên theo nghĩa thiên nhiên là một bãi chiến trường cạnh tranh đẫm máu. ‘Thiên nhiên đỏ ngầu nanh vuốt’ như người châu Âu ưa trích dẫn. Quan niệm này ngầm nâng con người lên vị thế đứng cao hơn những thành phần khác của thiên nhiên về mặt đạo đức. Gần đây khoa học sinh thái, với những luận chứng về sự cùng-tiến-hoá, sự cộng sinh, sự giúp đỡ hỗ tương, tính tương liên, tương đới suốt mọi hệ thống tự nhiên, đã dạy chúng ta thái độ khiêm tốn trong vấn đề tính đặc biệt của loài người. Khoa học sinh thái cũng dạy chúng ta rằng sự hiểu biết của chúng ta về những gì có hại và không có hại trong lĩnh vực thiên nhiên hoang dã còn quá thô thiển, do vậy chúng ta chớ vội theo phe kẻ săn mồi hay vật bị săn, các loài cây xanh tự dưỡng hay các loài bọ, nấm ký sinh, sự sống hay cái chết.

Thầy Nhất Hạnh đã có lần nói tại một buổi họp mặt các nhà lãnh đạo Hội Ái Hữu Phật tử cho Hoà Bình (Buddhist Peace Fellowship) ở Tassajara Zen Mountain Center rằng chúng ta nên biết ơn từng biểu hiện bé nhỏ của bất hại (ahimsa) dù bắt gặp nơi đâu trong cuộc đời. Tôi tin Thầy nói rằng nếu một vị sĩ quan trong cuộc chiến cầm quân với ít nhiều tinh thần bất hại, thì điều ấy đáng được tán thán. Đó là cách hiểu của tôi, rằng mỗi người chúng ta phải tự tìm cách riêng của mình để thực tập giới bất hại, trong phạm vi rộng rãi của những điều ta có thể làm, biết rằng sẽ không có gì hoàn toàn trắng trẻo cả, và cho dù bất cứ chuyện gì xảy ra, cũng không theo đuổi mục đích rằng mình phải đúng. Đây thật sự là ‘công án sống còn’ của ta. Đó là vì sao tôi đã chú giải giới này, trong tinh thần Đại Thừa, như ‘Không gây tổn hại không cần thiết.’

Người ta có thể tự hỏi không biết đối với loài mèo rừng thì sự trì giới bất hại (ahimsa), trong Phật cảnh của chúng, sẽ ra sao? Như lời thiền sư Đạo Nguyên (Dogen) nói: ”Loài rồng xem nước là lâu đài,” thì với loài mèo rừng, rừng có lẽ là một jikido (thực đường) sang trọng trong đó chúng thì thầm các bài kệ (gathas) lặng lẽ biết ơn loài chim cút, chia xẻ (trong tâm tưởng) phần ăn với dạ xoa và quỷ đói. ”Người học Bụt không nên giới hạn vào những quan điểm của con người khi học về nước.” Và thế giới đối với loài chim cút sẽ như thế nào? Tôi chỉ biết điều này: khi chết, nỗi khổ và cái chết ấy là của riêng tôi, và tôi hy vọng mình sẽ không đổ lỗi cho con cọp (hay ung thư, hay gì gì đi nữa) đã làm tôi ngã xuống. Với con cọp, tôi sẽ chỉ yêu cầu: ‘Làm ơn đừng phí phạm.’ Và có thể cùng gầm gừ chung với nó.

Khi bắt gặp một chiếc đũa bị vất bỏ trong cống rãnh, vị thầy sẽ quở đệ tử rằng: ”Chú đã làm rồi đời chiếc đũa,” chúng ta có thể nhìn vào chiếc đũa bị phí phạm, và biết nó đã bị xử tệ như thế nào. Và câu này cũng đáng được thêm vào: ”Chú đang giết rừng già,” bởi vì việc sử dụng một cách đại trà loại đũa dùng một lần rồi bỏ ở Nhật và Mỹ đã cho thấy điều ấy.

Vị Thầy có biết bước kế theo? Không hẳn. Áp dụng tình thương tích cực đối với muôn loại ở nước Trung Hoa Phật giáo thường có nghĩa là làm lễ phóng sanh cho cá, chim bị bẫy bắt. Lòng từ bi đối với những mảnh đời riêng chỉ là một phần của câu chuyện. Nước Trung Hoa Phật giáo đã buộc phải chứng kiến sự tuyệt chủng đáng kể của các loài, và sự mất rừng hàng loạt trong khoảng thời gian giữa thế kỷ thứ năm và thứ mười lăm. Ấn Độ thì đã mất đi phần lớn rừng từ trước thời cận đại. Lòng từ bi đối với những mảnh đời khốn khổ phải được nới rộng đến phạm vi của toàn bộ lưu vực một con sông, hệ thống tự nhiên, môi trường sống của sinh vật. Cứu mạng một con vẹt hay một con khỉ là điều đáng quí. Nhưng chúng sẽ chết, nếu rừng không được cứu. Cả hành tinh rên siết dưới sự bất chấp thô bạo giới bất hại của những xã hội tổ chức cao và các nền kinh tế tập đoàn trên thế giới. Hàng ngàn loài động vật, và hàng vạn loài thực vật có thể đi đến tuyệt chủng trong thế kỷ tới. Tôi mong rằng các bạn đọc của cuốn sách này sẽ hiểu phong trào bảo vệ hoà bình, phong trào bảo vệ môi sinh, và Hội Ái Hữu Phật tử vì Hoà Bình của chính chúng ta dưới ánh sáng này, và sẽ đặt nỗ lực CỨU VÃN MÔI TRƯỜNG SINH SỐNG CỦA MỌI LOÀI vào một vị trí ưu tiên hàng đầu.

[11]. Xuất bản trong tạp chí Thập Phương (The Ten Directions), của Zen Center of Los Angeles, số Spring/Summer 1990. Barnhill mô tả lưới Đế Châu như sau: ‘Để nêu lên bản chất của mạng lưới tương liên tương đới, Hua Yen đã khai triển hình tượng mạng lưới của Đế Thiên (Indra.) Trong hình tượng này, vũ trụ được xem như một màng lưới rộng lớn làm bằng những hạt châu đa diện, sáng loáng, mỗi hạt châu là một tấm gương nhiều mặt. Theo một nghĩa, mỗi hạt châu là một thực thể đơn độc. Nhưng khi nhìn vào một hạt châu, ta chẳng thấy gì hơn ngoài sự phản chiếu của những hạt châu khác, mà những hạt châu khác lại chính là sự phản chiếu của những hạt châu kia, cứ như vậy trong một hệ thống phản chiếu bất tận. Và như vậy, trong mỗi hạt châu chứa đựng hình ảnh của toàn bộ tấm lưới. Theo Hua Yen, mục đích của tôn giáo là đạt đến một trạng thái tâm, thấy thế giới là sự soi bóng lẫn nhau, và khiến ta sống đời sống của mình theo ý nghĩa của sự tương quan từ căn bản ấy.’ Xin cũng xem bài trả lời của David Barnhill trong tờ Tam Luân (Tricycle), số Summer 1993. [chú thích của tác giả.]

[12]. Các nhà sư ở hai viện Đông và Tây tranh giành một con mèo. Hoà thượng Nam Tuyền nhấc con mèo lên, bảo rằng: ‘Các ông nói được chuyển ngữ thì tha mèo, còn không thì mèo phải chém.’ Đại chúng không ứng đối được. Nam Tuyền bèn chém con mèo. Đến tối Triệu Châu về, Nam Tuyền kể lại chuyện. Châu bèn cởi dép, đội lên đầu mình mà bước ra ngoài. Nam Tuyền nói: ‘Nếu có ông lúc ấy, mèo đã được cứu rồi.’ [chú thích nguời nhuận]

[13]. Unsui: Vân Thủy, là ‘hành vân lưu thủy’, chỉ người học trò đi đây đi đó để cầu Đạo. [chú thích người nhuận bản dịch.]

[14]. Còn gọi là cây Dâm Bụt, cây Bông Bụt. [chú thích của người nhuận]

[15]. Solanaceae đến từ tiếng Latin là solanum, có nghĩa là ‘bóng mát của đêm’, nhưng nghĩa của từ này không rõ. Người ta cho rằng từ Solanaceae đến từ động từ ‘solari’ trong tiếng Latin, có nghĩa là ‘làm dịu’ vì dược tính an thần của một số cây trong họ. Tuy nhiên, tên này phần lớn đến từ hình dáng của hoa, xoè ra như những chiếc dù dưới ánh mặt trời. [chú thích của người nhuận]

[16]. Sesshin (‘tiếp tâm’), chúng ta quen gọi là ‘đả thất’ là thời gian thực tập nghiêm ngặt, bảy hay nhiều ngày, trong Thiền Tông. Hầu hết thời gian là im lặng, và thực tập thiền toạ, thiền hành. Kỳ đả thất được kết thúc bằng buổi tham vấn với Thiền Sư (chủ trì kỳ đả thất.) [chú thích của người nhuận]

[17]. ‘The Practice of the Wild’, Berkeley: North Point Press 1992.

[18]. Ryo Imamura: tân tăng Nhật thuộc Tịnh Độ Tông (Jodo), giáo sư đại học Evergreen State College ở Olympia, Washington State, USA. [chú thích của người nhuận]

 

 

 

 

 

Giới

Với tôi, Giới có một sức thu hút lớn. Điều tôi muốn nói đây, không phải là việc giữ Giới, mà là tính chất muôn màu muôn vẻ của Giới ở khắp mọi nơi. Qui tắc đạo đức của các thời đại và các nền văn hoá khác nhau cho ta thấy nét phong phú trong tính cách đa dạng của con người; chính sự đa dạng này thu hút tôi. Sự thích thú ấy làm tôi liên tưởng đến hộp nút áo của mẹ tôi hồi tôi lên năm tuổi; hay những chiếc vỏ sò tôi nhặt về sau một chuyến đi dạo buổi sáng ngoài bãi biển, bày biện trên bàn theo kích cỡ, màu sắc và hình dáng. Đó là sự thích thú đầu tiên của con người trước cái đồng trong cái dị, và cái dị trong cái đồng.

Anh Graham Carey bạn tôi đã khơi được nguồn rung cảm này khi dành cho các con anh sự ngạc nhiên trong một dịp Giáng Sinh nọ, với quyển sách do anh tự làm lấy; cuốn sách sau này được xuất bản với nhan đề ”Kể chuyện đuôi”: từ trang này sang trang khác chỉ toàn là hình đuôi động vật, từ cáo tới thằn lằn, từ sư tử tới chim én, từ chiếc quạt của con công cho tới đốt xương cụt gần như không thấy được của con người. Trẻ con chưa bao giờ quên tìm sự thích thú trong những biến thiên. Và đứa trẻ trong mỗi chúng ta cũng chưa hề nhàm chán với những biến thiên ấy, chúng là các biến tấu của Mozart trong ‘Twinkle, Twinkle, Little Start’ (Lấp lánh vì sao nhỏ) hay vô vàn biến thái của Bà Mẹ Thiên Nhiên trên vòm trời đêm. Đó là một trong những lý do vì sao tôi thấy tính chất đa dạng khắp nơi của Giới và các điều cấm kỵ thật là thú vị.

Với chiếc mũ chõm và bao trùm tai, anh bạn đi nhờ xe, tôi cho quá giang dọc đường ở New England bữa nọ, đã lo lắng nhìn chằm chặp vào con dao nhíp Thụy Sĩ tôi sắp dùng để cắt táo và phó mát ra chia nhau. Tôi đã từng cắt gì với con dao này? Thịt? Tôi khâm phục sự ý tứ của anh trong việc cất các vật dụng dùng cho thực phẩm làm từ sữa riêng biệt với những vật dùng cho thịt, theo luật của Chính Thống Giáo Do Thái. Tôi cũng đã tôn trọng cùng một mối lưu tâm và lòng tận tụy ấy, khi chúng tôi phải lái xe nhanh để đưa anh đến nhà bạn trước khi mặt trời lặn tối thứ Sáu hôm đó, khi ngày nghỉ Sabbath bắt đầu.

Cùng những mối quan tâm trong việc giữ giới ấy đã gây ấn tượng cho tôi phía bên kia địa cầu, nơi xứ Tân Tây Lan. Aotearoa, ”Miền Mây Trắng”, như cách gọi của thổ dân Maori, là một trong số ít vùng mà dân số bản địa chưa hề bị lấn lướt bởi nhóm người da trắng thống trị. Pakiha (người da trắng), sống bên cạnh người Maori, nhưng lại thường không hay biết gì đến những cấm kỵ của người láng giềng. Tôi nhớ đến sự rầu rĩ của một người đàn bà Maori khi những người hàng xóm Pakiha mới của bà đem phơi khăn lau chén cạnh những chiếc áo thun. Chớ! chớ bao giờ lại để cho vật dùng với thức ăn chung đụng với áo quần.

Ở Ấn Độ, một du khách đầy thiện chí cũng có thể làm náo động đám đông nếu vô ý đi ngược chiều kim đồng hồ quanh một hình ảnh thiêng liêng. Hướng vai trái về phía những gì thiêng liêng ở Calcutta còn thậm tệ hơn chuyện chìa tay trái cho người ta bắt ở Luân Đôn nữa. Dĩ nhiên, lằn ranh giữa những giới luật thiêng liêng và tập tục xã hội nhập nhằng ở đây. Thế nhưng, hai lĩnh vực này có thể liên quan mật thiết hơn chúng ta tưởng. Nhìn kỹ vào những giới luật, cấm kỵ, và tập tục có vẻ như tùy tiện đối với chúng ta, chúng ta có thể bắt gặp ở phía dưới bề mặt một nền tảng chung cho tính khác biệt lớn lao của các hiện tượng. Lắng nghe sự khác biệt đến hoang mang của các giới điều, ta có thể bắt đầu nhận ra giai điệu mà các giới điều này là biến tấu.

Ở đây, chúng ta phải đối diện với câu hỏi có tính chất quyết định: liệu có một chủ đề nhất quán thể hiện trong tính chất muôn màu muôn vẻ của các giới luật trên đời? Câu trả lời của tôi là có, và chủ đề ấy là ý thức đồng điệu, thấy mình thuộc về đâu đó.

Ta có thể gọi đó là ”lạ lùng, lạc điệu,” khi một ai đó dùng tay trái để bắt, thay vì dùng tay phải. Nói một cách chính xác: đó không phải là cách một người đồng xứ với ta làm. Một người của chúng ta sẽ không làm như vậy. Với các tín đồ ở Ấn Độ, đi kinh hành ngược chiều kim đồng hồ cũng đồng với lạ lùng, nhưng còn cộng thêm vào khía cạnh lề luật tôn giáo nữa. Mỗi hành động tín ngưỡng làm mạnh thêm những mối dây liên hệ gắn bó ta với cái Vô Cùng. Đồng thời, làm mạnh thêm các sợi dây liên hệ gắn bó ta với những người cùng đang sùng kính như ta. Sùng kính – theo nghĩa gốc – là sự thể hiện lòng tôn kính với những gì đáng kính nhất. Từ này không bắt buộc phải nằm trong phạm vi hạn hẹp của thuyết hữu thần hay của tôn giáo. Mặt khác, nó mang lại sức thuyết phục tôn giáo cho những gì ta làm với tâm ý hướng về những giá trị tuyệt đối. Trong nghĩa này, làm theo những giới luật tôn giáo là một hành động sùng kính.

Với những người Maori, sự cắm rễ của họ trong truyền thống là một giá trị tuyệt đối. Điều này nối liền họ với tổ tiên và những gì tổ tiên họ cho là linh thiêng – Đất, Biển, Trời, mọi loài chung sống với chúng ta, và các đấng vô hình đang có mặt trong trần thế. Việc giữ điều cấm kỵ làm mạnh thêm những sợi dây gắn bó, thấy mình thuộc về ngôi nhà của tất cả chúng ta, nơi mà Gary Snyder đã gọi một cách rất thích đáng là Căn Nhà Trái Đất.

Anh bạn theo Chính Thống Giáo Do Thái của chúng ta mang trong tâm một cộng đồng nhỏ hơn, cái vòng hạn hẹp của những người thờ phụng giống anh ta. Song, chính ra, anh ta có mang con người nào trong tâm đâu, ngoài Thượng Đế. Nhưng anh học giới luật của Thượng Đế từ đâu, nếu không phải là từ cộng đồng? Và há không phải do liên hệ gắn bó với cộng đồng ấy mà anh ta thuộc về Thượng Đế? Và há không phải cảm giác thuộc về Thượng Đế ấy là hạnh phúc mà anh ta theo đuổi qua những lưu ý tỉ mỉ trong thực tập hằng ngày? Từ những điều, mà theo một số người, dường như chỉ là tục lệ xã hội, cho đến chỗ mến Chúa và yêu người bên cạnh, giới luật gồm thâu tất cả, theo các tín đồ chính thống, vì giới luật là nhiều cách thể hiện khác nhau của việc đồng thuộc về tuyệt đối.

Và chính chuyện thuộc về này dẫn đến sự ngăn chia với những người không thuộc về. Trên thực tế, bao nhiêu luật lệ về sự phân chia – tách sản phẩm từ sữa ra khỏi sản phẩm từ thịt, tách việc ăn ra khỏi các hoạt động khác của cơ thể, và vô số các điều cấm kỵ tương tự trong những truyền thống khác – tất cả đều bày tỏ và nhấn mạnh chủ đề: tách khỏi những người không thuộc phe ta. Đây là cái bóng của chủ đề thấy mình thuộc về đâu đó. Chủ tố tích cực của mỗi quy tắc đạo đức, nếu có, có thể được tóm tắt trong những lời này: đây là cách người ta cư xử với những người họ thuộc về phe. Vượt qua vòng hạn thuộc này là người ngoài. Qui tắc đạo đức này khác với qui tắc đạo đức kia không phải ở tự trong cơ bản, hoàn toàn không phải vậy, mà đơn thuần ở nơi cách chúng ta, loại trừ hay bao gồm, vạch ra vòng hạn thuộc.

Ngày hôm nay, chúng ta đã bước tới một ngưỡng cửa trong lịch sử nhân loại. Từ nay trở đi đạo đức phải bao dung tất cả, bằng không thì trở thành vô đạo đức. Trong thế giới của chúng ta, không còn chỗ cho người ngoại cuộc nữa. Và ý thức thuộc về, đồng điệu của chúng ta phải bao gồm không chỉ con người, mà còn cả cầm thú, cỏ cây, và vạn vật vô tri nơi Căn Nhà Trái Đất của chúng ta. Sẽ chẳng có gì phù hợp nữa ngoài chân trời bao la nhất có thể đạt của sự đồng điệu.

Đó là tại sao chúng ta thấy hai biến cải quan trọng về đạo đức xảy ra trong thời đại chúng ta. Mọi cấu trúc giới luật căn cứ trên sự loại trừ đều đang phân rã, và thuộc về quá khứ. Trào lưu mới cho những giới luật căn cứ trên ý thức hoà đồng cùng vũ trụ đang đi tới rất nhanh, và thuộc về tương lai. Trong tất cả các giới luật tôn giáo của chúng ta, chỉ những giới luật nào diễn đạt ý thức hoà đồng không biên giới mới tồn tại được, nhưng chúng sẽ thật sự tồn tại. Chúng sẽ định hình cho tương lai nếu có một tương lai.

Càng ngày người ta càng bắt đầu nhận ra rằng sự sống còn của hành tinh chúng ta tùy thuộc vào ý thức hoà đồng của chúng ta – với tất cả mọi người, với những con cá heo bị bắt trong lưới vét, với những con gà, con lợn, con bê nuôi trong các trại tập trung súc vật, với những khu rừng đan mộc ôn đới và những cánh rừng già nhiệt đới, với những lớp tảo bẹ dưới đại dương, và với tầng ozone. Càng ngày người ta càng bắt đầu ý thức rằng mỗi hành động khẳng định sự hoà đồng này là một hành động đạo đức của sự sùng kính, là sự thực hành giới luật sẵn ghi trong tâm khảm mỗi người.

 

Đó là lý do sau chót tại sao giới luật thu hút tôi, những điều bị bỏ đi không dùng đến, cũng như những điều sẽ tồn tại khi nào con người vẫn còn là con người: chúng là những biến tấu của cùng một giai điệu, giai điệu đòi hỏi trái tim con người phải mới qua mỗi thời đại. Điều đã lôi cuốn tôi ngay từ đầu là tính chất hết sức đa dạng của giới. Điều làm tôi thích thú sau khi nghiền ngẫm là sự thách đố lớn lao, nói lên bằng bao nhiêu loại ngôn ngữ khác nhau ấy, sự thách đố nói ‘vâng’ một cách hết lòng, chữ ‘vâng’ không giới hạn với sự hoà đồng.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Xã hội có thể trì giới cách nào?

Tất cả những người theo đạo Bụt đều chấp nhận Năm Giới (panca-sila) như những nguyên tắc căn bản về đạo đức. Nắm vững được Năm Giới chúng ta sẽ biết cách giải quyết những vấn đề thực tế hằng ngày.

Giới thứ nhất là ‘Con nguyn không giết hi sinh mạng.’ Giết thú vật và ăn thịt chẳng hạn, có thể thích hợp cho một xã hội tiểu nông hay cho nếp sống thu hẹp sau lũy tre làng, nhưng trong những xã hội công nghiệp, thịt được xem như một trong mọi sản phẩm, và sự sản xuất thịt hàng loạt là không tôn trọng sự sống của loài vật một chút nào. Nếu người dân trong những nước có ăn thịt có thể cố gắng làm giảm bớt việc chăn nuôi để tiêu thụ, thì đó không phải chỉ là từ bi với loài vật mà còn với cả những người đang lất lây trong cảnh bần cùng, cần đến lúa gạo để sống. Thực phẩm trên trái đất có đủ để nuôi sống tất cả mọi người. Đói là do sự phân phối không đồng đều, và thường những người thiếu thốn lại là những người sản xuất.

Ta cũng phải nhìn vào các vụ buôn bán vũ khí và thách thức những cơ cấu đang gây ra giết chóc tương tàn. Sự giết hại tràn ngập cuộc sống đương đại – các cuộc chiến tranh, các xung đột về chủng tộc, việc chăn nuôi để cung cấp cho thị trường của con người, và việc sử dụng các loại thuốc trừ sâu độc hại. Làm sao ta có thể cưỡng lại dòng chảy ấy và giúp tạo nên một xã hội không bạo tàn? Giới thứ Nhất và những công năng hướng thượng của nó có thể được áp dụng như thế nào để kiến tạo một thế giới công bằng và nhân ái? Tôi sẽ không tìm cách trả lời những câu hỏi này. Tôi chỉ muốn nêu chúng ra để chúng ta cùng suy gẫm.

Giới thứ Hai là ‘Con nguyn không trộm cắp.’ Trong ‘Kinh Chuyển luân Thánh Vương Sư Tử Hống’ (Cakkavatti Sihanada Sutta [8]), Bụt nói rằng một khi nhà vua để cho sự nghèo đói xảy ra trong nước, người dân sẽ trộm cắp dài dài để sống. Chánh Mạng gắn liền với công bằng kinh tế. Chúng ta phải bỏ công dốc sức để bảo đảm có được công ăn việc làm hợp lý cho những người có khả năng lao động.

Chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm về sự trộm cắp ẩn tiềm trong các hệ thống kinh tế của chúng ta. Sống nếp sống Chánh Mạng và giản dị một cách tự nguyện vì thương xót vạn loài, và từ bỏ việc đuổi theo danh, lợi, quyền hành là tự đặt mình vào thế đối kháng với sự bạo tàn từ trong cơ cấu của tình trạng áp bức hiện nay. Nhưng sống cuộc sống giản dị tự nguyện liệu đã đủ chưa nếu ta không đồng thời ra sức lật đổ những cơ cấu đang buộc bao nhiêu người phải sống trong cảnh nghèo nàn bất đắc dĩ?

Sự thiết lập một trật tự công bằng trong nền kinh tế quốc tế là một phần thiết yếu và có tính hỗ tương trong việc xây dựng một thế giới hòa bình. Sự bạo tàn trong mọi hình thức – đế quốc, dân sự, và giữa người với người – đều lập căn cứ trên khát vọng chung về tiềm năng kinh tế và quyền lực chính trị. Mọi người nên được khuyến khích nghiên cứu và luận bàn về một ‘Trật tự Mới trên Thế Giới’ từ viễn cảnh của đạo Bụt, lấy đó làm tiêu chuẩn để xét các mô hình phát triển là thích hợp hay không thích hợp, sự tiêu dùng là hợp lý hay sai lầm, việc khuyến mại là chân chánh hay bất chánh, sử dụng hợp lý hay làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên, và những biện pháp làm vơi đi những bất hạnh của cuộc đời. Quan điểm của người theo đạo Bụt như thế nào về một đạo đức mới trong phạm vi quốc gia và quốc tế? Nhiều nhóm Thiên Chúa Giáo đã nghiên cứu trường hợp của các công ty liên quốc gia và hệ thống ngân hàng quốc tế. Chúng ta nên học hỏi và sử dụng những khám phá từ phía họ.

Giới thứ ba là ‘Con nguyện không dâm.’ Cũng như những giới khác, chúng ta phải thực tập giới này trong chính đời tư mình, đồng thời không lợi dụng hoặc hại người khác. Thêm vào đó, ta còn phải xét lại các cơ cấu xã hội thiên vị đàn ông cũng như sự bóc lột phụ nữ khắp nơi trên thế giới. Những cơ cấu của tham lam, thù hận, và si mê với tính chất phụ quyền có liên hệ đến sự bạo tàn trên thế giới. Chủ nghĩa quân phiệt hiện đại cũng liên quan mật thiết với chế độ phụ quyền. Sự tu tập trong đạo Bụt hướng tới sự phát triển những con người toàn diện và quân bình, vượt thoát được những lề lối suy nghĩ, nói năng và hành xử đã huân tập từ xã hội về thế nào là ‘Nam’, ‘Nữ’, tiếp xúc được với cả hai khía cạnh ấy nơi chính con người mình.

Giới thứ tư là ‘Con nguyn không vọng ng.’ Chúng ta cần nhìn kỹ lại các phương tiện truyền thông đại chúng, nền giáo dục và những kiểu thông tin quyết định cách chúng ta nhận thức thế giới. Phật tử chúng ta đi sau xa những anh chị em Hồi Giáo và Thiên Chúa Giáo về phương diện này. Các cơ quan giáo dục Hồi Giáo Pesantran ở Nam Dương áp dụng những nguyên tắc Hồi giáo cổ truyền trong bối cảnh hiện đại để dạy những người trẻ sự thật về thế giới và dự phóng một viễn tượng tương lai [9]. Người phái Quaker có phép thực tập ‘nói lên sự thật với bực quyền hành.’ Ta chỉ có thể thoát khỏi căn bệnh nói dối có hệ thống nhan nhãn trong hiện trạng xã hội nếu chúng ta cùng nhau cam kết nói lên sự thật.

Phẩm cách con người phải được chú trọng hơn là việc khuyến khích sự tiêu thụ cho đến độ con người ham muốn nhiều hơn là họ thực sự cần. Lấy sự trung thực làm nguyên tắc chỉ đạo, bậc đại học phải có các nghiên cứu về việc đặt giới hạn cho các tuyên truyền chính trị và quảng cáo thương mại. Dù vẫn không quên những giá trị quí báu của tự do ngôn luận và tự do báo chí, nhưng nếu chúng ta không mở được những đường lối truyền thông mới thay thế cung cách loan truyền những điều dối trá và phóng đại hiện thời, thì chúng ta sẽ không thể vượt qua được tình trạng nhồi sọ đang diễn ra khắp nơi nhân danh an ninh quốc gia và ấm no vật chất.

Giới thứ Năm là ‘Con nguyn không tiêu thụ sn phm có độc t làm che mờ tâm trí cũng nguyện giúp cho người khác không làm tối mờ tâm trí của mình.’ Trong đạo Bụt, tâm sáng tỏ là một viên ngọc quí. Chúng ta phải nhìn vào nội tâm và thực sự đối phó với những nguyên sâu xa của nạn nghiện rượu và lạm dụng ma túy.

Đồng thời, chúng ta phải kiểm tra các kỹ nghệ sản xuất rượu và ma túy để nhận diện được căn cứ quyền lực của họ. Chúng ta phải lật đổ các thế lực khuyến khích sự say sưa, nghiện rượu và nghiện ma túy. Đây là một vấn đề liên quan đến hòa bình và công bình quốc tế. Nông dân ở những nước thế giới thứ ba trồng bạch phiến, ka-cao, cà-phê, và thuốc lá bởi vì hệ thống kinh tế đã khiến cho họ không thể sống nổi nếu họ trồng lúa hay trồng rau. Những côn đồ có súng đóng vai trò trung gian cho họ, và đó thường là những du kích dân tộc, những kẻ cướp đội lốt chính trị, quân đội riêng của các chính trị gia khuynh hữu, hay một thứ cách mạng gia nào đó.

Cơ quan tình báo trung ương của Hoa Kỳ (CIA) buôn ma túy ở Việt nam, du kích quân Miến Điện buôn ma túy, và những nhà cách mạng Nam Mỹ buôn ma túy. Những cuộc chiến tranh toàn diện, như Chiến Tranh Á Phiện, đã được gây ra bởi các chính phủ muốn duy trì việc buôn bán ma túy [10]. Không kém phần nghiêm trọng là sự cưỡng bức kinh tế trong việc ép nông dân phải trồng các loại cây xuất cảng như cà phê hay trà và trong việc bán tống bán đổ những thuốc lá thặng dư cho người tiêu thụ ở các nước thế giới thứ ba bằng những chiến dịch quảng cáo ào ạt.

Ma túy và tội ác lan tràn trong các nền văn hóa đã bị làm cho què quặt bởi sự phân bố bất bình đẳng tài sản trong xã hội, nạn thất nghiệp, và sự chán ghét nghề nghiệp. Việc Reagan và Bush dùng quân đội Hoa kỳ để chống nạn buôn bán ma túy rốt cuộc cũng vô nghĩa như chiến dịch chống nạn nghiện rượu trong giới công nhân của Gorbachev; cả hai cách giải quyết đều nhắm vào ngọn (triệu chứng) mà không nhắm vào gốc (nguyên nhân) của bịnh. Theo Đạo Bụt thì giải pháp duy nhất có hiệu quả cho những vấn đề này có thể xảy ra trong sự thay đổi toàn diện những giá trị của con người.

Những giáo lý đạo đức căn bản này ứng hợp với chúng ta như những cá nhân và như những thành viên của xã hội. Những ý kiến của tôi về Năm Giới và làm sao để áp dụng Năm Giới vào tình trạng thế giới hiện nay chỉ được khơi ra như một bước mở đầu. Tôi mong rằng những vấn đề này sẽ tiếp tục được bàn thảo. Chúng ta cần một nền tảng đạo đức cho cách ăn ở và cách giải quyết vấn đề của chúng ta.

[8]. Nguyên bản viết là Cakkavatti Sahananda Sutta tức là viết sai, chỉ có Kinh Cakkavatti Sihanada Sutta = Chuyển Luân Thánh Vương Sư Tử Hống mà thôi. (Sihanada = Sư Tử Hống, Lion’s Roar. Còn Sahananda = khánh lữ, delightful companion.) Chúng tôi chỉnh lại trong bản dịch. [cước chú của người nhuận bản dịch.]

[9]. Điều này chưa hẳn đã tốt, ta phải hết sức chánh niệm và cẩn trọng. Tôn giáo có thể giáo dục nhồi sọ, nhồi nhét những cái thấy chủ quan của những người trong tôn giáo về cái gọi là ‘sự thật về thế giới.’ Gần đây thế giới đã thấy sự thật của các tệ nạn này trong các nước mà giáo quyền đóng vai trò thế quyền (và ngược lại, khi thế quyền đóng vai trò lãnh đạo tôn giáo thì tình trạng cũng nguy hại không kém.) Mặc dù Tôn giáo, chính trị và giáo dục có thể hỗ tương cho nhau nhưng mỗi lĩnh vực nên đứng ở đúng vị trí của nó, không nên trộn lẫn vai trò. Các nước Tây phương có truyền thống Ki Tô giáo (mà ngày xưa nền giáo dục chủ yếu do nhà thờ chủ trì) đã học kinh nghiệm và tách rời hệ thống tôn giáo khỏi nhà trường, các trường tư thục của đạo Ki Tô (ngoại trừ trường Dòng) cũng phải tôn trọng nguyên tắc này. (Ý kiến của người nhuận bản dịch.)

[10]. Các cuộc chiến tranh Ma Túy (Opium Wars) xảy ra từ đầu đến giữa thế kỷ 19 (1800-1858) do các nước Anh, Pháp (và sau này là Mỹ và Nga) muốn ép Trung Quốc (nhà Thanh) phải cho họ tiếp tục bán ma túy vào Trung Quốc (nhà Thanh muốn ngăn cấm việc các nước Tây Phương buôn ma túy vào, đầu độc và làm cho nước Trung Quốc yếu đi vì tình trạng nghiệp ngập.) Cuộc chiến Ma Túy này đã mở đường cho Thiên Chúa Giáo và các thế lực Tây Phương đi vào Trung Quốc. [Cước chú của người nhuận bản dịch.]