Vừa qua, tại Làng Mai đã diễn ra khoá tu dành cho người Ý. Có 320 thiền sinh về tham dự. Trong khoá tu có hơn 100 người nhận 5 Giới và 3 người nhận 14 Giới. Khoá tu đã rất thành công trong niềm vui và hạnh phúc của tứ chúng Làng Mai.
Vừa qua, tại Làng Mai đã diễn ra khoá tu dành cho người Ý. Có 320 thiền sinh về tham dự. Trong khoá tu có hơn 100 người nhận 5 Giới và 3 người nhận 14 Giới. Khoá tu đã rất thành công trong niềm vui và hạnh phúc của tứ chúng Làng Mai.
(Bài của sư chú Chân Trời Đức Định. BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Tối nay, sau buổi thiền tọa, toàn bộ ngọn đồi xóm Thượng được phủ kín trong sương. Sương làm cho những ngọn đèn dọc các lối đi như tỏa hào quang. Ngôi tháp chuông một lần nữa gửi những chùm ánh sáng từ bốn góc tháp tỏa trên mặt đất xung quanh và hắt lên bầu trời sẫm đen đang được tô điểm bởi muôn vì sao lấp lánh.
Từ thiền đường lớn dạo bước về tăng xá, tôi gặp người bạn thân quý của tôi – cội lê cổ thụ. Tôi dừng lại cách cây vài mét. Thỉnh thoảng một thầy hoặc một sư chú trở về tăng xá và ngọn đèn tự động bật lên rồi lại tắt đi. Tôi đứng đó, thẳng hàng với cây lê và ngọn đèn nên tôi không bị ánh sáng làm chói mắt. Từ góc này tôi có thể thưởng thức cây lê trong đường nét sắc sảo của hình ảnh tương phản trắng đen, được vẽ nên bằng ánh sáng của màn sương phủ khắp xung quanh.
Vài ngày trước, quý thầy đã làm công việc cắt tỉa cây trong xóm, trong đó có cả người bạn cổ thụ này của tôi. Thường thì tôi không thấy dễ chịu gì với việc cắt tỉa cây, vì tôi có cảm giác việc đó làm mấy cái cây đau đớn. Nhưng đêm nay khi ngắm cội lê già, một cảm xúc bỗng đi lên trong tôi: Bạn ấy trông thật hạnh phúc và tươi mát!
Đứng trước cội lê, tôi hỏi: “Bạn có vui lòng nếu chúng tôi cắt tỉa cho bạn không?” Và câu trả lời mà tôi nhận được đêm nay đã thật sự làm tôi chấn động. Câu trả lời đó chính là: “Bạn hạnh phúc là tôi hạnh phúc”. Nghe cứ như là một câu thần chú vậy.
Tôi bị chấn động, tôi cảm thấy một niềm kính ngưỡng và biết ơn sâu xa. Khi ôm lấy người bạn cổ thụ, tôi xin bạn giúp tôi nuôi dưỡng đức hạnh đó trong trái tim tôi.

Nhìn lại trải nghiệm này, tôi cảm thấy thật hạnh phúc bởi tôi có thể nhận ra tăng thân mình cũng đang sống và tu tập với tinh thần ấy.
Đối với bản thân tôi, mỗi khi cơn giận hay khổ đau phát khởi, tôi học cách có mặt mà không trốn chạy hoặc đè nén cảm thọ đó và coi nó như một phần của chính mình để có thể chăm sóc, ôm ấp nó. Còn nếu một người trong tăng thân làm cho những người khác khổ đau thì tăng thân sẽ không phản ứng theo hướng trách móc, mà sẽ thực tập nhìn sâu cho tới khi có thể tìm ra cách thức giúp đỡ mà không dựa trên tâm phân biệt, kỳ thị. Tôi nhớ đến sự kiện ở tu viện Bát Nhã cách đây gần chín năm, khi ấy quý thầy, quý sư cô Bát Nhã đã đứng yên như cội lê cổ thụ, dù đang bị đe dọa. Cắm rễ trong giáo pháp, các thầy các sư cô đã không phản ứng vì giận dữ hay sợ hãi.
Tôi cảm thấy cội lê già, bằng sự tĩnh lặng của mình, đã phản chiếu lại tâm tôi một cách giản đơn: “Cách bạn nhìn tôi phản ánh những gì xảy ra trong tâm bạn. Những gì bạn đối xử với tôi là cách bạn đối xử với chính mình”.
Lễ xuất gia Cây Giáng Hương diễn ra tại Làng Mai Thái Lan vào ngày 02.07.2017, gồm 4 sư chú và 4 sư cô : Chân Trời Trúc Lâm, Chân Trăng Tuệ Phương, Chân Trăng Tuệ Khai, Chân Trăng Tuệ Nhã, Chân Trời Đại Lão, Chân Trời Uyên Nguyên, Chân Trăng Tuệ Uyển và Chân Trời Hồng Lĩnh
Đến từ hai nước khác nhau: Việt Nam và Indonesia, Gia đình xuất gia Sen Xanh có 17 vị đã được làm lễ xuất gia vào ngày 27 tháng 05 năm 2010. Đây là bài hát do Sư chị Ân Nghiêm sáng tác để tặng các Sư em nhân ngày xuất gia.
Bây giờ và mãi mãi!
Chân Trăng Hương Tích
Vừa qua, tại Làng Mai, Pháp đã diễn ra khoá tu dành cho người nói tiếng Pháp. Có khoảng 600 thiền sinh về tham dự khóa tu.
(Trích trong cuốn sách “Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh” của Sư Ông Làng Mai)
Khi chúng ta gieo một hạt bắp xuống lòng đất ẩm, khoảng một tuần sau hạt bắp sẽ nảy mầm và dần dần trở thành một cây bắp con. Ta có thể hỏi cây bắp con: “bắp ơi, em có nhớ lúc em còn là một hạt bắp không?” Có thể cây bắp con không nhớ, nhưng nhờ quan sát, ta biết cây bắp con đã đến từ hạt bắp.
Khi nhìn vào cây bắp, ta không còn thấy hạt bắp, và ta tưởng là hạt bắp đã chết, nhưng kỳ thực hạt bắp đâu có chết, mà hạt bắp đã trở thành cây bắp. Khi chúng ta thấy được hạt bắp trong cây bắp là chúng ta có thứ tuệ giác mà Bụt gọi là vô phân biệt trí. Vô phân biệt trí là không có sự phân biệt giữa hạt bắp và cây bắp, vì hạt bắp và cây bắp có trong nhau, chúng chỉ là một thứ. Ta không thể tách hạt bắp ra khỏi cây bắp và ngược lại. Nhìn sâu vào cây bắp con ta có thể thấy được hạt bắp, hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp.
Nhờ có thiền tập, ta thấy được những điều mà người khác không thấy. Nhờ có quán chiếu, ta thấy được mối quan hệ mật thiết giữa cha mẹ và con cái, giữa cây bắp và hạt bắp. Cho nên chúng ta cần sự thực tập để giúp ta thấy rằng chúng ta tương tức với nhau. Khổ đau của một người là khổ đau của tất cả mọi người. Nếu người Hồi giáo và Cơ Đốc giáo, hay người Ấn Độ giáo và Hồi giáo, người Do Thái và người Palestin nhận ra rằng họ đều là anh em với nhau, khổ đau của bên này cũng là khổ đau của bên kia thì chiến tranh sẽ chấm dứt mau chóng. Nếu chúng ta thấy được rằng chúng ta và các loài sinh vật khác đều có chung một bản thể thì đâu có sự chia cách hay phân biệt, chúng ta sẽ sống chung hòa bình với mọi loài, với thiên nhiên. Thấu suốt được tính tương tức, ta sẽ không còn phàn nàn, đổ lỗi cho nhau, sẽ không còn bóc lột, chém giết nhau. Chỉ với ý thức sáng tỏ đó mới mong cứu vãn được trái đất xinh đẹp của chúng ta.
Là người, chúng ta vẫn nghĩ rằng ta và thế giới thực vật và động vật khác biệt nhau, chẳng có gì liên quan với nhau. Cho nên đôi khi ta bâng khuâng không biết nên đối xử với thiên nhiên như thế nào. Nếu chúng ta hiểu rằng con người và thiên nhiên không thể tách rời nhau thì ta sẽ biết cách đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình, với tất cả sự cẩn trọng nhẹ nhàng, với tất cả tình thương yêu, không có sự bạo động. Cho nên nếu chúng ta không muốn mình bị thương tổn thì không nên làm thương tổn thiên nhiên, vì làm thương tổn thiên nhiên là làm thương tổn chính mình và ngược lại.
Chúng ta không biết rằng khi chúng ta gây thiệt hại cho người khác là chúng ta gây thiệt hại cho chính mình. Vì muốn tích lủy của cải mà ta đã không ngần ngại khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên, và ta tước đoạt quyền sinh sống của bao nhiêu người đồng loại. Những áp bức và bất công xã hội đã tạo ra hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, và ta tiếp tục dung túng những tệ nạn xã hội, thản nhiên để chiến tranh leo thang mà không biết rằng khổ đau của con người là khổ đau chung của cả đại gia đình nhân loại. Trong khi bao nhiêu người phải chịu khổ đau vì chiến tranh, vì đói khát, ta vẫn đắm chìm trong những ảo vọng của tiền tài, tưởng rằng có thể tìm đựợc một nơi an toàn cho riêng mình.
Chúng ta cần phải thấy rõ rằng số phận của mỗi người đóng góp vào số phận chung của toàn thể nhân loại. Nếu chúng ta muốn sống bình an hạnh phúc, chúng ta cũng phải giúp cho những loài khác sống bình an hạnh phúc. Một nền văn minh mà trong đó ta phải chém giết và bóc lột lẫn nhau để sống là một nền văn minh không lành mạnh. Muốn có một nền văn minh lành mạnh, tất cả mọi người dân phải có quyền bình đẳng về giáo dục, về công việc làm, có đủ thức ăn, chỗ ở, không khí và nước uống trong sạch. Họ có tự do đi lại và có thể ở bất cứ nơi đâu. Nền kinh tế, chính trị nào phủ nhận những quyền lợi này của con người là phá sản toàn bộ nhân loại. Ý thức được những gì đang xảy ra cho nhân loại là việc làm cấp thiết để kịp thời sửa chữa những tổn hại đang có mặt khắp nơi.
Muốn cho nhân loại sống chung với nhau trong hòa bình, chúng ta phải biết hợp tác với nhau trong tinh thần hòa hợp để giúp nhau tồn tại. Nếu chúng ta cứ tiếp tục sống tách biệt nhau, chỉ để tâm đến những nhu yếu nhỏ bé của riêng mình thì chúng ta không đóng góp gì cho nền hòa bình chung rất thiết yếu cho sự sinh tồn của cả nhân loại. Con người là một phần của thiên nhiên, chúng ta cần ý thức rõ điều này trước khi biết cách tạo dựng một đời sống hòa hợp giữa con người với nhau. Nếu ta vẫn còn tâm độc ác, muốn chia cắt, thì ta phá hủy tính hài hòa nơi con người và nơi thiên nhiên. Chúng ta cần những đạo luật có nội dung từ bi giúp ta biết hành xử nhẹ nhàng với chính bản thân mình và với thiên nhiên, nhờ đó ta có thể chữa trị được những thương tích và chấm dứt được tình trạng độc ác đối với con người và thiên nhiên.
Chúng ta cần phải học cách sống hài hòa với thiên nhiên, vì chúng ta là một phần của thiên nhiên. Thiên nhiên có thể rất tàn bạo, có thể gây cho ta rất nhiều thiệt hại. Nhưng ta cần phải đối xử với thiên nhiên như đối xử với chính bản thân mình. Nếu chúng ta tìm cách khống chế thiên nhiên thì thiên nhiên sẽ nổi loạn. Chúng ta phải là những người bạn đầy chân tình đối với thiên nhiên thì chúng ta mới biết cách xử dụng những điều kiện thuận lợi của thiên nhiên để tạo dựng một môi trường sống hài hòa. Điều này đòi hỏi một sự hiểu biết đúng đắn về thiên nhiên. Cuồng phong, bão tố, hạn hán, lũ lụt, núi lửa, sự sinh sôi nẩy nở của những loài sâu bọ độc, tất cả những hiện tượng này gây nguy hại cho sự sống. Chúng ta có thể dễ dàng ngăn ngừa những tai họa này nếu chúng ta biết nghiên cứu ngay từ lúc đầu địa chất của vùng đất ta đang sống. Nhờ nắm rõ tình hình địa chất, ta có thể có những phương án xây dựng để phòng ngừa, thay vì tìm cách áp đảo thiên nhiên bằng những đập ngăn nước, hay phá rừng và những chính sách thiết bị khác mà cuối cùng chỉ gây thêm tổn hại cho môi trường.
Vì muốn ức chế thiên nhiên mà ta đã sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu, giết hại không biết bao nhiêu loại côn trùng và chim chóc, làm xáo trộn đời sống tự nhiên của muôn loài. Nền kinh tế phát triển gây ô nhiễm môi trường, làm kiệt quệ nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên, phá hũy chỗ cư trú của bao nhiêu loài sinh vật. Phát triển kinh tế như thế chỉ đem lợi lộc cho một số ít người, và trong thực tế đã dần dần phá hủy toàn bộ đời sống thiên nhiên.
Vì vậy mà con người trở nên bệnh hoạn, xã hội trở nên bệnh hoạn, thiên nhiên trở nên bệnh hoạn.
Ta phải làm gì đây để tái lập sự quân bình? Phải bắt đầu từ đâu để tìm cách chữa trị? Bắt đầu từ mỗi cá nhân, hay từ xã hội? Hay từ thiên nhiên ?
Ta phải làm việc chữa trị trong cả ba lĩnh vực cùng một lúc.
Các ngành khác thường chỉ chú tâm đến lĩnh vực riêng của họ. Các nhà chính trị thì nghĩ rằng một xã hội trật tự là cần thiết để bảo vệ con người và thiên nhiên, vì thế họ khuyến khích mọi người tham gia vào cuộc đấu tranh thay đổi guồng máy chính trị.
Các tu sĩ phật giáo thì giống như những bác sĩ tâm lý trị liệu thấy được vấn đề từ quan điểm tâm lý. Mục đích của thiền tập là để giúp ta tìm lại sự cân bằng trong đời sống. Thực tập thiền trong đạo Bụt là để điều hòa thân và tâm, thực tập hơi thở giúp làm lắng dịu thân tâm. Cũng như những phương pháp chữa bệnh khác, bệnh nhân được đặt trong một môi trường có những điều kiện thuận lợi cho việc khôi phục lại sức khỏe. Thông thường các bác sĩ tâm lý trị liệu để nhiều thì giờ quan sát bệnh nhân, sau đó có những lời khuyên thích ứng với mỗi bệnh nhân. Cũng có một số bác sĩ biết thực tập như các tu sĩ là biết quán sát bản thân trước, biết nhận diện để vượt thoát được những sợ hãi, giận hờn và tuyệt vọng trong lòng họ. Ða số các bác sĩ khác thì thường nghĩ rằng họ không có vấn đề gì về tâm lý cả. Người tu sĩ, trái lại, luôn nhận diện được rằng là người, họ rất dễ bị sợ hãi, lo âu trấn ngự, nhất là dễ bị ảnh hưởng bởi những căn bệnh trầm kha của thời đại mới.
Người phật tử tin vào mối tương quan mật thiết của mọi cá nhân trong xã hội và môi trường sống, cho nên khi họ lành bệnh là xã hội và môi trường sống cũng lành bệnh, vì vậy mà họ chấm dứt được những lo âu sợ hãi trong lòng. Người phật tử biết rằng chính họ phải bắt đầu sự chuyển hóa trong nội thân thì xã hội và thiên nhiên sẽ tự động chuyển hóa theo. Cho nên muốn cho xã hội và môi trường sống trở lại lành mạnh, mỗi người chúng ta phải biết cách khôi phục trở lại sức khỏe tinh thần của mình.
Muốn khôi phục lại tinh thần lành mạnh không có nghĩa là phải thích ứng với những điều kiện mới của đời sống hiện đại. Bởi vì đời sống hiện đại không lành mạnh chút nào, thích nghi với đời sống đó chỉ làm mình thêm bệnh hoạn. Những người tìm đến các bác sĩ tâm lý trị liệu đều là nạn nhân của lối sống hiện đại. Lối sống này chỉ làm con người xa cách nhau, gia đình nhân loại bị phân tán. Cách hay nhất là chuyển về sinh sống ở miền quê, nơi đó ta được cuốc đất, trồng rau, sản xuất hoa màu, giặt quần áo trên sông, sống nếp sống đơn giản như hàng triệu người nông dân trên thế giới.
Muốn việc chữa trị có hiệu quả, ta cần phải thay đổi môi trường sinh sống. Thay đổi guồng máy hoạt động chính trị chưa phải là phương án duy nhất. Tìm cách tự trấn an mình khỏi những bức xúc bằng lối tiêu thụ bừa bãi cũng không giải quyết được vấn đề. Bởi vì nguồn gốc của mọi tâm bệnh hiện nay đều phát xuất từ sự phát triển quá mức của nền kinh tế, đưa đến nhiều tệ nạn xã hội như là ô nhiễm môi sinh, quá nhiều tiếng ồn, nơi nào bạo động cũng có mặt, và hầu như ai cũng bị áp lực thời gian đè nặng. Muốn chấm dứt tình trạng này thì phải biết phòng bệnh.
Khi ta hiểu được trách nhiệm của mình đối với nhân loại thì ta biết giữ gìn cho tinh thần luôn được lành mạnh. Làm được như vậy cho ta là đồng thời giúp cho người khác không bị bệnh hoạn. Dù ta là ai đi nữa, thầy tu hay thầy cô giáo, bác sĩ trị liệu, nghệ sĩ, thợ mộc, hay là chính trị gia, chúng ta cũng đều là con người như nhau. Nếu chính ta không áp dụng được những gì ta dạy cho người khác trong đời sống hàng ngày thì ta cũng mắc bệnh tâm thần như họ thôi. Nếu ta cứ tiếp tục sống theo lề lối hiện tại thì có ngày ta cũng trở thành nạn nhân của lối sống vị kỷ, đầy sợ hãi và lo âu.
Một người nghệ sĩ chỉ thấy rõ được cái cây khi ông ta có được mối giao cảm nào đó với cây. Một con người không có nhân tính thì không nhìn thấy được một con người khác, cũng như không nhìn thấy được cái cây. Phần đông chúng ta không thấy rõ được sự vật bởi vì chúng ta không trọn vẹn là mình. Chỉ khi nào ta là ta một cách trọn vẹn, ta mới có thể hiểu rằng một người thôi cũng đủ để chứng minh cho mọi người khác thấy là đời sống có giá trị, ta có thể tin vào tương lai nếu ta biết sống một cách trọn vẹn trong hiện tại. Nhưng tin vào tương lai để làm gì khi hàng triệu người sống đau khổ và chết dần mòn quanh ta mà ta vẫn không hay biết. Chỉ khi nào ta thấy được những gì đang xảy ra quanh ta, ta mới thấy rõ được chính mình, mới thấy rõ được vạn vật.
Ta hãy nhớ lại cơn sóng thần năm 2000 ở Ấn Độ Dương, hàng trăm ngàn người ở Indonesia, Tích Lan, Thái Lan, Ấn Độ và Phi Châu đã bị cơn sóng cuốn đi. Rất nhiều khách du lịch đến từ Âu châu, Úc châu và Mỹ châu cũng bị mất xác trong cơn sóng thần. Mọi người trên thế giới đều kinh hoàng và ai cũng đặt câu hỏi tại sao, tại sao Chúa lại để cho chuyện này xảy ra, tại sao những người này phải chết? Tôi cũng đau đớn như bao nhiêu người khác, nhưng nhờ có thực tập, tôi ngồi yên được, tôi nhìn sâu và thấy được rằng khi những người này chết thì lòng chúng ta cũng chết theo họ, bởi vì tất cả chúng ta đều có liên hệ mật thiết với nhau.
Chúng ta biết rằng khi những người thương của chúng ta chết thì một phần của chúng ta cũng chết theo. Chúng ta chết theo người thương, điều này cũng dễ hiểu thôi. Nếu chúng ta có hiểu biết, có thương yêu, thì khi người khác chết, dù người đó là một người ta chưa hề quen biết ở bên kia đại dương, ta vẫn cảm thấy đau khổ và chết theo họ như thường. Ta nhận thấy ra một điều là họ đã chết thay cho chúng ta. Vì thế ta phải sống cho họ. Ta phải sống như thế nào để con em chúng ta có một tương lai tươi sáng hơn.
Cái chết của họ có ý nghĩa hay không, cách sống của ta sẽ chứng minh điều đó. Khi ta thấy được họ chính là ta, và ta chính là họ, họ chết thì ta cũng chết, ta sống thì họ cũng sống, nếu ta có được tuệ giác tương tức này, ta sẽ thấy ít đau khổ hơn và ta biết phải tiếp tục sống như thế nào, để lúc nào họ cũng có mặt trong ta, và khi hiểu được như vậy, ta có được sự bình an trong lòng.
Ta thực tập chánh niệm và nhìn sâu vào bản chất của sự vật để khám phá được thực tướng của sự vật, thực tướng đó chính là tính tương tức. Thấy được tính tương tức trong mọi sự vật, ta mới có được sự bình an, từ đó mới có đủ sức mạnh để đương đầu với mọi thứ. Với tuệ giác này, ta sẽ thực hiện dễ dàng công trình thương yêu và bảo vệ lâu dài cho trái đất cũng như cho mọi người mọi loài sống trên trái đất.
Thư Thỉnh Cầu Tham Gia Xây Dựng
Chánh Điện Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu EIAB
Waldbröl, ngày 19 tháng 02 năm 2018
Kính thưa Quý Vị Thân Hữu, Quý Vị Đạo Hữu, Quý Cô Bác, Anh Chị, Các Em và Các Cháu,
Nhân dịp xuân về, quý Thầy quý Sư Cô Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu thành kính nguyện cầu Hồng Ân Chư Bụt, Chư Vị Bồ Tát và Chư Vị Tổ Sư bảo hộ cho tất cả Quý vị một Năm Mới Mậu Tuất 2018 an khang thịnh vượng, gia đình và thân quyến êm ấm hòa thuận, có nhiều sức khỏe, hạnh phúc, bình an và tu tập vững chãi trong năm Mậu Tuất này.
Ngày hôm nay, vào lúc 6:30 sáng ngày mồng 4 Tết năm Mậu Tuất, tứ chúng Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu đã long trọng tổ chức buổi lễ cầu nguyện để khởi công xây dựng chánh điện và thiền đường của Viện Phật Học cũng như tiếp tục trùng tu Viện Vô Ưu theo yêu cầu của chính quyền địa phương. Buổi lễ đã diễn ra trong không khí ấm cúng, linh thiêng đầy đạo vị với sự tham dự của toàn thể đại chúng khắp nơi về đón Tết tại Viện Phật Học và sự tham gia của ông Frank Jungjohann-Feltens, vị kiến trúc sư chính cho các công trình xây dựng sắp tới.
Trong những năm qua, nhờ sự thương yêu và yểm trợ của quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới mà chương trình xây dựng một trung tâm tu học theo tinh thần Đạo Bụt Ứng Dụng và Nhập Thế của Sư Ông cho toàn thể Châu Âu đã được thành hình và phát triển cho đến ngày hôm nay. Chúng tôi xin phép thay mặt cho Sư Ông và đại chúng Viện Phật Học thành kính tri ân toàn thể quý vị đã yểm trợ cho tâm nguyện hoằng pháp độ sanh của Sư Ông trên toàn thế giới thể hiện qua sự hình thành và phát triển Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu.
Theo lời dạy của Bụt cũng như trong các truyện tiền thân của Ngài, trải qua vô lượng kiếp tu hành đức Bụt đã thực tập rất nhiều Bồ Tát Hạnh. Theo truyện Đại Vương Vessantara (truyện tiền thân cuối cùng số 547 trong Tiểu Bộ Kinh), trong kiếp cuối cùng này trước khi Bồ Tát tái sanh thêm một lần nữa để rồi hạ sanh lần cuối trên trái đất, tầm đạo, tu tập và chứng đắc quả vị Bụt với danh hiệu Thích Ca Mâu Ni, đức Bổn Sư của chúng ta đã thực hiện toàn vẹn và rốt ráo Hạnh Bố Thí Ba La Mật, một trong mười Hạnh Ba La Mật của một vị Bồ Tát. Đọc truyện này, chúng ta cảm nhận rõ ràng công đức Bố Thí thật là thù thắng và vi diệu, tạo ra vô lượng công đức để chúng ta có thể khai mở tâm thức, thực hiện được sự nghiệp giải thoát cho mình và cho tất cả mọi loài.
Ngày xưa khi còn là người xuất gia trẻ, chúng tôi nghiêng về Thiền tập và cảm thấy rất là ái ngại khi phải đứng ra để kêu gọi sự đóng góp của thập phương bá tánh cho các chương trình tu học và xây cất. Tuy nhiên, càng lớn tuổi và có thời gian lớn lên trong sự tu tập, chúng tôi nhận ra được công đức vô lượng của việc hành trì Bố Thí Ba La Mật theo tinh thần tam luân không tịch (bố thí mà không thấy có người bố thí, không thấy có người được nhận bố thí và không thấy có vật bố thí). Công đức hành trì Bố Thí Ba La Mật có thể giúp chúng ta thể nhận được tánh không của vạn pháp và có công năng giải thoát chúng ta ra khỏi sanh tử.
Vì thế chúng tôi, trong đầu năm nay, đã không ngần ngại đứng ra để khởi xướng công trình xây dựng chánh điện và thiền đường của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu cũng như tiếp tục trùng tu Viện Vô Ưu theo yêu cầu của chính quyền địa phương để đại chúng có cơ sở ổn định cho sự tu học. Trong mười năm qua, mỗi khi có khóa tu lớn vào mùa hè, đại chúng phải sử dụng lều để làm thiền đường, phòng ăn hoặc để ngủ qua đêm. Vào mùa đông, đại chúng phải ngồi trong hành lang lạnh cóng để nghe pháp thoại, tham dự pháp đàm hay tham gia các chương trình tu học khác. Nhìn thấy các em bé cũng như người lớn phải quấn nhiều lớp chăn len để tham dự tu học, chúng tôi rất là thương cảm. Công trình xây dựng chánh điện và thiền đường vì thế là một thửa công đức lớn để cho tất cả chúng ta có cơ hội tu tập và hộ trì Tam Bảo, hoằng dương chánh pháp.
Chúng tôi thỉnh cầu quý vị đạo hữu và thân hữu khắp nơi trên thế giới tham gia vào chương trình xây dựng này, để một phần nào chúng ta có thể cùng Sư Ông đem đạo Bụt đi vào cuộc sống hiện đại, nuôi dưỡng chí nguyện tu hành của chúng ta và giúp cho đạo Bụt làm chỗ nương tựa cho mọi người trên thế giới đầy khủng hoảng và rối loạn ngày hôm nay.
Một lần nữa, chúng tôi nguyện cầu Hồng Ân chư Bụt, chư vị Bồ Tát và chư vị Tổ Sư bảo hộ cho tất cả quý vị thân hữu, quý cô bác, anh chị, các em và các cháu có nhiều sức khỏe, bình an và vững chãi trong Năm Mới Mậu Tuất 2018.
Trân quý,
Tỳ kheo Thích Chân Pháp Ấn cùng quý thầy và quý sư cô của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, Làng Mai tại Đức
Ngày 19 tháng 02 năm 2018
(Nhằm ngày 4 tháng giêng năm Mậu Tuất)
Xin quý vị phát tâm đóng góp chuyển ngân đến Viện Phật Học theo số tài khoản bên dưới. Nếu quý vị muốn có giấy khai thuế, xin ghi địa chỉ của mình khi chuyển ngân, để cuối năm quý Thầy quý Sư Cô có thể gởi giấy chứng nhận khai thuế cho quý vị. Xin cảm ơn quý vị phát tâm cúng dường.
Chuyển tiền đến ngân hàng của EIAB :
Người nhận : Tên ngân hàng : Số trương mục : S.W.I.F.T – BIC
EIAB ( European Institute of Applied Buddhism gGmbH ) Kreissparkasse Köln
IBAN: DE27 3705 0299 0341 5529 32
COKSDE33XXX
Khởi nguồn
Chúng tôi, những người con sinh ra và lớn lên từ những vùng quê khác nhau của miền Bắc Việt Nam, không hẹn mà cùng xuất gia, về sống chung dưới mái chùa có tên Làng Mai. Tuy xa gia đình và người thân nhưng sống trong chùa chúng tôi luôn có đầy ắp niềm vui và tiếng cười. Chúng tôi coi nhau như anh chị em ruột thịt, cùng nâng đỡ, chăm sóc nhau, coi niềm vui nỗi buồn của người khác cũng chính là niềm vui nỗi buồn của mình. Và một ngày chúng tôi cùng nhau, cả đoàn về thăm lần lượt gia đình từng người.
Tới nhà mỗi sư anh, sư chị, sư em, chúng tôi coi đó như nhà của mình, coi bố mẹ của người đó như bố mẹ của mình, và những người thân như những người thân của chính mình. Chúng tôi không làm gì nhiều ngoài nhiệm vụ của những người con, có mặt ở đó – trọn vẹn – cho bố, cho mẹ, cho các anh chị em. Sau bao năm tháng tu học ở chùa, món quà quý nhất mà chúng tôi mang về dâng tặng cho những người thân yêu là năng lượng bình an, là tình thương và lòng chân thành từ sâu thẳm trong tim mỗi người.
Dòng nước mát trong
Trong những buổi ngồi chơi, tất cả mọi thành viên trong gia đình cùng ngồi quây quần thành vòng tròn bên nhau, có hoa, có trà, có bánh. Thường thường những người ở nhà chưa quen với cách ngồi chơi như vậy nên ban đầu hơi lúng túng và có phần gượng ép. Từ từ chúng tôi chia sẻ và mời mọi người ngồi cho yên, cùng lắng nghe tiếng chuông, cùng thưởng thức trà và bánh trong im lặng, cùng trân quý sự có mặt của từng thành viên trong gia đình. Mọi người dần quen hơn và không khí trở nên thân mật hơn.
Những người con cùng gia đình ôn lại kỷ niệm vui buồn ngày xưa, chia sẻ niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống hiện tại, và bày tỏ lòng biết ơn đối với công lao sinh thành, dưỡng dục của bố mẹ và người thân. Thậm chí những hiểu lầm và đổ vỡ trong quá khứ cũng có thể được nói lên để mọi người cùng nhìn lại, hiểu nhau hơn và hàn gắn lại chuyện cũ. Một sư cô trong niềm xúc động nghẹn ngào, đã tới bên người em trai của mình để nói lời xin lỗi: “Trong quá khứ, đã nhiều lúc chị không hiểu được những tâm tư của em, chị lo lắng cho em nhưng chị hành động theo cảm tính, chị chỉ biết trách mắng em khiến em bị tổn thương. Chị rất biết ơn em đã không giận chị nhiều, mà trong thời gian chị đi xa, em đã giúp chị trông nom việc nhà và còn thay chị chăm sóc mẹ”. Trong không khí tràn đầy năng lượng thương yêu, lòng chân thành có khả năng chạm tới những tình cảm sâu sắc trong lòng người, những giận hờn được chuyển hóa, tình thương được bồi đắp thêm.
Một ngày, chúng tôi cùng về thăm gia đình một thầy trong đoàn. Mẹ thầy mất sớm, bố thầy đi bước nữa. Người mẹ thứ hai của thầy có những khó khăn trong việc truyền thông với mọi người trong gia đình do chịu khá nhiều sức ép từ phía gia đình bên nội. Trong buổi ngồi chơi, mẹ ngồi khá trầm lặng, và có lẽ do tủi thân nên giữa buổi mẹ đứng dậy bỏ vào trong phòng. Cuối cùng mẹ cũng chịu ra trở lại, tuy nhiên khi được mời thực tập thiền ôm thì mẹ nhất định không đứng lên. Thầy chủ tọa đã mời thầy – người con của gia đình ra quỳ trước mặt mẹ, chắp tay búp sen trong khi thầy chủ tọa chia sẻ như một người con:
“Thưa mẹ, con xin chân thành cảm ơn mẹ đã thay anh em chúng con chăm lo việc nhà khi chúng con đi xa. Cảm ơn mẹ đã chăm sóc bố của con thay chúng con. Con biết mẹ rất thương anh em chúng con nhưng nhiều khi mẹ không nói ra được thành lời. Và chúng con, do rất nhiều vụng về nên ít khi thể hiện được tình thương đối với mẹ. Dù mẹ không phải là người dứt ruột sinh ra chúng con, nhưng chúng con muốn mẹ biết rằng chúng con luôn thương và kính mẹ như người mẹ ruột của chúng con. Bây giờ con mời mẹ cùng thực tập thiền ôm với chúng con, nhưng nếu mẹ không muốn thì con mời mẹ ngồi đó, để chúng con được lạy mẹ thay lời tri ân của chúng con”.
Sau lời chia sẻ đó, mẹ đứng dậy thực tập thiền ôm với hai người con của chồng và tiếp đó là thiền ôm với người em gái chồng. Lòng người mẹ đã mở ra. Sau buổi sinh hoạt, mẹ còn tiếp tục chia sẻ về những tâm sự của mình và hứa sẽ thực tập sâu hơn nữa về tình thương và lòng bao dung. Thực tập thiền ôm là những giây phút xúc động nhất của những buổi sinh hoạt gia đình, hầu như ai cũng rưng rưng nước mắt – những giọt nước mắt của tình thương và hạnh phúc.
Nhìn sâu vào giọt nước
Anh chị em chúng tôi, hầu hết là những người trẻ, được học hành, được lớn lên trong tình yêu thương của gia đình, cùng với đó là kỳ vọng của gia đình về một tương lai tươi sáng như nếp nghĩ thông thường của cuộc đời. Nhưng chúng tôi lại chọn con đường xuất gia, hoàn toàn khác xa với trông đợi của những người thân yêu. Điều đó khiến gia đình chúng tôi bất ngờ, hụt hẫng đến thất vọng, đau khổ, có cảm tưởng như mất hẳn một người con, rằng bao nhiêu công lao nuôi nấng dạy dỗ đều trở thành số không. Thực tế khi vào chùa, mỗi người đều có cơ hội phát huy hết tài năng của mình để cống hiến cho xã hội. Một thầy có chuyên môn về ngành y vẫn có thể chăm sóc sức khỏe cho các sư anh, sư chị, sư em. Một sư cô trước đây học ngành kế toán vẫn có thể giúp nhà chùa trong việc quản lý sổ sách tài chính. Người có kiến thức về xây dựng có cơ hội thi triển tài năng trong việc kiến thiết nhà chùa. Nhưng hơn thế nữa, thiền sinh đến với vị bác sĩ áo nâu không những được tư vấn chăm sóc sức khỏe thân thể mà còn được học phương pháp chăm sóc sức khỏe tinh thần, đặc biệt trong môi trường xã hội ngày nay đầy sức ép và căng thẳng. Những tư vấn của vị tu sĩ có kinh nghiệm về mặt tài chính – kế toán còn hướng về sự phát triển bền vững của xã hội, cân bằng giữa đời sống vật chất và tinh thần, không để những mặt trái của vòng xoáy kinh tế cuốn con người theo những nẻo đường bất thiện.
Tới mỗi nhà, chúng tôi đều xin phép thắp hương lên bàn thờ tổ tiên, cùng tụng một bài kinh và cầu nguyện cho mọi người trong gia đình được mạnh khỏe, an vui. Một sư chú đã mời cả đoàn đến thăm ông bà của mình. Sư chú quỳ trước ông bà, thay bố mẹ nói lời biết ơn với ông bà và lạy xuống ba lạy để tỏ lòng thành kính của những người con, người cháu. Ông bà đã cảm động trào nước mắt, nói không nên lời, bày tỏ niềm vui khi người cháu của mình về thăm cùng với rất đông các thầy, các sư cô khác. Mỗi chúng tôi đều là con, là cháu trong gia đình, và bố mẹ chúng tôi thấy rằng gia đình không những không mất đi một người con, trái lại còn có thêm rất nhiều người con khác nữa.
Chúng tôi mỗi người có một hoàn cảnh gia đình khác nhau. Nhiều người sau nhiều năm xuất gia mà gia đình vẫn còn phản đối rất gay gắt. Với năng lượng bình an, bằng những chia sẻ rất chân thành của những người con, chúng tôi đã giúp bố mẹ hiểu được con đường mình đang đi. Gia đình đã có những chuyển hóa rất lớn, rồi dần dần chấp nhận và ủng hộ sự lựa chọn của chúng tôi. Có người bố ban đầu rất giận vì con trai đi tu, không muốn chúng tôi tới chơi nhà, cũng không muốn nhìn mặt chúng tôi, nhất định giữ con ở lại không cho quay lại chùa. Sau một buổi ngồi chơi và chia sẻ thân tình với những người con áo nâu, bố thấy rằng con trai mình đang được sống trong một môi trường rất thiện, rất lành, xung quanh là những người con khác đầy nhiệt huyết và lý tưởng của tuổi trẻ. Thế là bố chấp nhận và ngỏ lời gửi gắm đứa con ruột của mình. Quả là một niềm hạnh phúc vô bờ bến đối với chúng tôi khi đi xuất gia và nhận được sự yểm trợ về mặt tinh thần từ gia đình.
Hạnh phúc về với cánh đồng xưa
Trong hành trình về thăm quê hương, những buổi sinh hoạt, ngồi chơi chia sẻ của quý thầy, quý sư cô với bà con làng xóm, với những vị cư sĩ ở địa phương cũng đem lại rất nhiều niềm vui và hạnh phúc. Hình ảnh những người tu còn rất trẻ, nụ cười rạng rỡ luôn nở trên môi cùng phong cách nhẹ nhàng, giản dị đã đem lại rất nhiều chất liệu nuôi dưỡng cho bà con. Thông điệp chính chúng tôi muốn nhắn nhủ là thông điệp của tình thương. Tình thương là món quà quý nhất chúng ta có thể hiến tặng cho nhau. Cho dù cuộc sống có thể còn nhiều khó khăn, khó khăn về đời sống cơm áo gạo tiền, hay khó khăn trong việc truyền thông khiến mọi người không hiểu được nhau, nhưng bằng tình thương chân thành, mọi khó khăn đều có thể được hóa giải để người với người có thể tới với nhau mà thương nhau.
Chúng tôi trở về không chỉ làm một việc là đem hoa trái sự thực tập của mình làm quà cho gia đình và những người xung quanh. Chúng tôi trở về còn để chính bản thân mình được nuôi dưỡng bằng tình thương của gia đình và bằng truyền thống tâm linh đã có từ ngàn đời.
Những người con đi xa lâu ngày, trở về được đón tiếp bằng tình cảm nồng hậu của người thân và bà con xóm giềng cùng những đặc sản của quê hương. Chúng tôi vô cùng thích thú khi được thưởng thức lại những món ăn đã gắn bó với tuổi thơ như kẹo lạc, bánh gai, bánh giò chay hay bánh đúc chấm tương. Chúng tôi được tắm mình trong không khí đậm chất văn hóa vùng đồng bằng Bắc Bộ, về Bắc Ninh được nghe hát quan họ, về Hải Dương được thưởng thức màn múa rối nước cùng những làn điệu chèo do chính những nghệ nhân của quê hương trình diễn. Chúng tôi tung tăng đi dạo trên con đường làng trong một đêm trăng sáng với hàng ngàn, hàng ngàn ánh đom đóm nhấp nháy, hít căng lồng ngực không khí của đồng quê đang mùa gặt còn thơm nức mùi rơm tươi.
Hạnh phúc biết bao khi lần này trở về, được ngồi quây quần bên gia đình, cùng nhắc lại những kỷ niệm thuở ấu thơ. Những bữa cơm chiều mùa hè có khi kéo dài mấy tiếng đồng hồ. Cả nhà không ai có việc gì phải vội vã, ăn xong rồi để bát đũa đó, cùng ngắm những vì sao lấp lánh và nghe bố ân cần kể lại những câu chuyện ngày xưa. Những món ăn tinh thần đó vẫn còn đi theo chúng tôi, vẫn luôn là những chất liệu nuôi dưỡng tâm hồn chúng tôi dù đã lớn khôn.
Nguồn cội tâm linh
Trở về quê hương, nơi có truyền thống văn hiến mấy nghìn năm, chúng tôi được đi thăm lại những ngôi chùa cổ như chùa Dâu, chùa Thầy, thăm lại đỉnh thiêng Yên Tử… để được tiếp xúc với gốc rễ tâm linh của chính mình. Tới mỗi miền quê, chúng tôi còn được thăm những ngôi chùa làng. Chùa nào may mắn thì có vị tu sĩ về chăm sóc, có chùa không có thầy tu cũng được dân làng cử người quét dọn, trông coi nhang đèn. Có mái chùa cổ kính, tường đất dù đã nát nhưng còn được giữ vững bằng những chiếc rễ to khỏe của một cây đa cổ thụ ôm từ đỉnh nóc chùa phủ xuống. Tất cả những điều đó đều là những chứng tích cho một đời sống tâm linh sâu sắc và phong phú của tổ tiên từ bao đời – những thời đại của các Tổ Tăng Hội, Vạn Hạnh, Trúc Lâm… Chúng tôi chia sẻ với gia đình rằng chúng tôi không làm điều gì mới mẻ hay khác thường cả. Con đường tâm linh đó đã có tự ngàn đời, đã hun đúc nên tâm hồn của con người Việt Nam. Chúng tôi, thế hệ ngày nay chỉ làm một việc đơn giản là tiếp nối con đường của các bậc tiền nhân đã đi qua. Chúng tôi chỉ góp phần đánh thức lại những tinh hoa văn hóa của dân tộc vốn đã rất giàu và đẹp, nay bị vùi lấp do những biến động lịch sử – xã hội hay những cơn bão của nền văn minh vật chất từ phương Tây tràn tới.
Tới thăm một ngôi chùa làng ở Vĩnh Phúc, tuy không có vị xuất gia trông nom nhưng các cụ trong làng vẫn chăm sóc chùa khá chu đáo. Chúng tôi vô cùng hạnh phúc khi được gần trăm cụ tới tiếp đón. Chúng tôi còn hạnh phúc hơn nữa khi được biết số lượng các cụ ở làng còn nhiều gấp mấy lần, cụ nào cũng sống rất thọ, trên 80, 90 tuổi và rất khỏe mạnh. Chúng tôi thấy dân làng thật có phúc đức, mà đám con cháu chúng tôi cũng thật có phúc đức khi được gặp các cụ. Buổi ngồi chơi với các cụ rất thân mật và ấm áp. Chúng tôi được các cụ hát cho nghe theo lối hát kể hạnh, vốn là một sinh hoạt truyền thống rất phổ biến ngày xưa, lời ca ghi lại những sự tích, đức hạnh của những vị Thánh nhân, Cao tăng… thời trước.
Thảnh thơi
Thầy chúng tôi thường dạy “Xuất gia là để trở về”. Trước hết là trở về với chính bản thân, sống một cuộc sống có nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc hơn, có thể cống hiến được nhiều hơn cho cuộc đời. Trở về với gia đình huyết thống, chúng tôi học được cách kết nối, truyền thông lại với bố mẹ và những người thân. Học cách lắng nghe nhau, học nói lời hòa ái để tránh gây đổ vỡ, để hiểu nhau và thương nhau nhiều hơn. Trở về kết nối lại với truyền thống tâm linh, chúng tôi được nuôi dưỡng từ những nét đẹp văn hóa, những tinh hoa của ông cha ngàn đời để lại. Lần trở về này, chúng tôi đã không đi riêng lẻ như những giọt nước mà đã đi như một dòng sông. Dòng sông đó, sau khi đi qua bao nhiêu chặng đường – trắc trở gập ghềnh cũng có mà dịu mát hiền hòa cũng có, trở nên lớn hơn mà cũng đằm thắm hơn, nay chảy về quê hương, tưới nhuần những vùng đất dòng sông đi qua, đồng thời đón nhận những chất liệu nuôi dưỡng từ những vùng đất ấy.
Chân Trời Đại Đồng