Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Chuyện kể về Thầy tôi… và Làng Cây Phong

(Chân Cơ)

Anh Chân Cơ là một trong những vị đầu tiên được Sư Ông Làng Mai truyền giới Tiếp hiện ở Tây phương vào năm 1986. Anh được truyền đăng vào năm 1990 và hiện đang là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Làng Cây Phong ở Montréal, Canada.

Em à,

Làng Cây Phong (LCP), Canada, bắt đầu thành hình từ năm 1985, khi Thầy tôi quyết định khởi sự đi hoằng pháp tại Canada. Như vậy LCP đã có mặt hơn 30 năm rồi, và gần như năm nào LCP cũng có khóa tu thiền tập theo truyền thống Làng Mai. Trong 5 năm đầu, Làng chỉ tổ chức mỗi năm một khóa, nhưng các khóa tu trong những năm đó lại đáng ghi nhớ hơn hết vì có Thầy Làng Mai mỗi năm mỗi qua để hướng dẫn. Vào những năm sau, LCP thường tổ chức mỗi năm ít nhất hai, ba khóa tu. Những năm gần đây, chúng tôi có tới ba, bốn hoặc năm khóa tu trong một năm. Nói chuyện với các anh chị kỳ cựu của LCP, tôi thường hay hỏi Thầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời của các anh chị ấy như thế nào. Gần như ai cũng có câu trả lời giống nhau: thật là may mắn và phước đức được gặp Thầy và được Thầy hướng dẫn, gặp pháp môn tu tập giản dị, thực tiễn và quý giá. Chỉ có bài học Hiểu và Thương từ khóa tu đầu tiên mà ai trong chúng tôi cũng cảm thấy mình có duyên lành, khởi sự nhìn cuộc sống bằng con mắt khác, tránh được bao nhiêu hiểu lầm và vượt qua bao buồn phiền trong cuộc sống, nhất là có khả năng tạo và giữ hòa khí với mọi người.

Bài học này, trong anh chị em chúng tôi, có lẽ bác Chân Hội Nguyễn Tấn Hồng – bác Cả của Làng Cây Phong, là người thấm nhuần hơn ai hết. Khi tôi viết những dòng chữ này, bác Chân Hội đã lên đường rong chơi trời phương ngoại được hơn một tuần rồi. Tôi xin kể về sự gặp gỡ của bác và Thầy tôi cho em nghe nhé.

Năm 1985, khi Thầy qua hướng dẫn khóa tu đầu tiên tại Canada, tuổi của bác đã là 63. Bác di cư qua Canada khi đã ngoài 50 tuổi, sau khi đã tạo bao công trình cùng sự nghiệp đáng kể tại quê nhà trước năm 1975. Qua Canada, với hai bàn tay trắng, ở tuổi không còn trẻ, bác đã phải học để lấy lại bằng y sĩ để hành nghề. Sau khi thi được bằng, bác tìm cách giúp những bác sĩ đến sau cùng hoàn cảnh có thể thi lấy bằng lại. Ngoài ra, bác còn tham gia nhiều sinh hoạt cộng đồng khác có tính cách giúp ích xã hội. Trong cộng đồng người Việt tại Montreal, Canada, nhắc đến bác ai cũng tỏ lòng kính trọng và ngưỡng mộ. Khi được gặp Thầy, bác lại càng nhận thấy rõ hướng đi trong cuộc đời, cho nên trong suốt hơn ba mươi năm qua, bác đã lèo lái và hướng dẫn anh chị em chúng tôi trong LCP cho đến ngày hôm nay. Một hai hôm trước ngày từ giã, bác còn dặn dò tôi về đường hướng tốt đẹp của Làng và lòng tin cậy của Thầy chúng tôi.

Chân lý trao truyền qua ngõ tâm

Một ngày sau khi bác Chân Hội ra đi, Sư cô Chân Không đã gởi e-mail, nhắc về bài kệ truyền đăng Thầy trao cho bác năm 1990:

Chân lý trao truyền qua ngõ tâm

Hội giải siêu nhiên vượt dị đồng

Hạt giống bồ đề gieo rải khắp

Ngại gì hai nẻo sắc và không.

Khi chúng ta gặp và được trao truyền giáo pháp, ta bắt đầu hiểu về sự sống, về cuộc đời hơn. Cái thấy của ta cũng rõ ràng, rộng rãi và siêu thoát hơn, không còn bị vướng mắc bởi những khó khăn với người và những khác biệt vì hoàn cảnh. Từ đó lòng ta mở ra và trải rộng, và ta mong muốn mang hạt giống bồ đề gieo rắc khắp mọi nơi, không màng khó nhọc. Khi được gặp Thầy, bác đã không còn trẻ, vậy mà đã được Thầy đặt niềm tin tưởng, mong muốn bác giúp trong việc hướng dẫn người đi sau.

Và đây là bài kệ kiến giải mà bác đã trình lên Thầy trong buổi lễ truyền đăng năm ấy:

Hạnh phúc rất đơn sơ,

Nhận cuộc đời chìm, nổi

Kiếm chi nơi xa xôi,

Sống an nhiên, tự tại.

Một bài kệ đơn sơ, giản dị nhưng chuyên chở một cái thấy sâu sắc về cuộc đời và về sự thực tập theo pháp môn Hiện pháp lạc trú, Bây giờ và ở đây. Bác đã có dịp chia sẻ về bài kệ kiến giải này trong pháp thoại của nhiều khóa tu tại LCP. Bác cũng có nhắc đến một kỷ niệm khi đi dạo cuối tuần cùng gia đình, trên đồi Mont-Royal. Lúc ấy gia đình bác mới định cư ở Canada, tiền bạc tài chánh còn rất eo hẹp. Ngày hôm ấy, bác ngắm nhìn cậu con trai út nhặt được một cái đuôi diều của ai bị đứt, rồi bé cầm đuôi diều chạy chơi sung sướng tung tăng; bác đã ngộ ra rằng hạnh phúc thật đơn sơ, không cần có nhiều điều kiện. Bác đã từng có nhà cao, cửa rộng tại quê nhà, nhưng cuộc sống của bác tại Canada lại hết sức giản dị, dù sau này đã được hành nghề y sĩ: bác vẫn ở nhà thuê trong suốt cuộc đời còn lại, chỉ có một chiếc xe bình dân để đi thăm viếng bệnh nhân, thường xuyên đóng góp giúp ích vào các quỹ từ thiện và dành thời gian chia sẻ hạt giống bồ đề được Thầy trao truyền.

Những hạnh phúc đơn sơ, khi được bác chia sẻ trong những lần pháp thoại đã khiến cho tôi nhiều phen bừng tỉnh. Chẳng hạn như những lần đi ngang nhà của người địa phương, bác đứng lại, xin phép ngắm nhìn hoa đẹp trong vườn của họ. Về sau, khi LCP đã có miếng đất, bác thường về Làng làm vườn, trồng hoa dọc hai ven đường vào thiền đường. Giờ đây, khi em viếng thăm LCP và thấy có hoa mọc như cỏ dại, rất có thể là em đang ngắm những bông hoa do bác Chân Hội trồng.

Tiếng chuông đại hồng

Miếng đất của LCP, sau gần hai năm tìm kiếm, chúng tôi đã chung nhau đóng góp và mua được từ năm 1987. Miếng đất lúc ấy còn hoang sơ, chỉ có hồ, đồi và rừng núi. Sang năm 1988, trong khóa tu với Thầy, chúng tôi đã mời Thầy đi thăm đất. Cũng bắt đầu từ năm 1987 đó, Thầy khởi sự đưa thiền ca vào công phu thực tập. Thầy dạy cho chúng tôi bài Tiếng chuông chùa cổ do Thầy sáng tác. Ngoài ra Thầy cũng khuyến khích tăng thân LCP phổ nhạc những ý thơ hoặc thi kệ đã học được. Từ lúc ấy chúng ta đã có được các bài thiền ca mà bây giờ rất phổ biến trong các trung tâm tu học Làng Mai, như:

In, out

Deep, slow

Calm, ease

Smile, release

Present moment,

Wonderful moment

                                (Phổ nhạc: Chân Hoa Lâm)

Je suis chez moi, je suis arrivé

Il n’y a qu’ici et maintenant

Bien solide, vraiment libre,

Je prend refuge en moi-même

……                                                                                       

(Phổ nhạc: Chân Hoa, Monique Mayers)

Trở lại bài Tiếng chuông chùa cổ, năm ấy chúng tôi đã cùng Thầy hát vang bản nhạc đó khi đứng trên một mỏm đá lớn trong rừng núi của Làng, sau khi đã băng rừng, vượt dốc quanh co. Hình ảnh tôi nhớ mãi là hình ảnh Thầy đứng cạnh bác Chân Hội; mỗi khi chúng tôi hát đến câu Boong, boong,… tôi là chuông đại hồng thì Thầy lại nắm tay, vỗ vào vai của bác theo nhịp của tiếng boong, boong,… có ý như bác là cái chuông đại hồng, giúp Thầy đưa tiếng chuông tỉnh thức vào khắp nẻo tăm tối, kể cả trong chốn rừng sâu núi thẳm.

Tháng 12 năm 2017, anh chị em LCP chúng tôi lại có dịp đi thăm Thầy tại Làng Mai Thái Lan. Chúng tôi cũng đã cùng nhau hát bài Tiếng chuông chùa cổ. Lần này bác Chân Hội đã quá lớn tuổi nên không thể đi theo. Khi hát đến câu Boong, boong… Sư cô Chân Không lại nắm tay, vỗ vào vai tôi theo nhịp hát. Lúc ấy, tôi đã biết chắc trong lòng, noi gương bác thì được, chứ làm được như bác trong nhiều năm qua thì thật là quá khó.

Hoa quỳnh hé nở tối nay

Trong khóa tu đầu tiên tại Camps Les Sommets, Katevale, Canada, Sư cô Chân Không (lúc đó còn gọi là dì Chín, chưa xuất gia) đã xin Thầy giới thiệu và cho chúng tôi tham gia buổi tụng giới Tiếp hiện. Lần đầu được nghe tụng đọc giới Tiếp hiện, tôi nhớ rất rõ, như được nghe tiếng sấm của sự hiểu biết bên tai. Tối hôm đó, sau khi được tiếp xúc với giới, tôi đi dạo trong đêm, nhìn thấy sao Bắc Đẩu mà nghĩ rằng có lẽ mình đã có được một ngôi sao Bắc Đẩu của chính mình, ngôi sao này ở ngay trong lòng của giới bản. Chỉ một năm sau thôi, tháng 6 năm 1986, Thầy đã cho sáu anh chị em chúng tôi thọ giới Tiếp hiện.

Câu chuyện về cái đêm trước ngày chúng tôi thọ giới thật đáng ghi nhớ, tôi không thể không kể cho em nghe. Trong khóa tu đó, chị Chân Huyền – Đỗ Quyên có mang lên khóa tu một cây hoa quỳnh nụ đã lớn, sắp đến ngày khai hoa. Chúng tôi đã để chậu hoa quỳnh đó trong phòng Thầy. Trong đêm trước ngày truyền giới, Thầy kể lại, trong khi tìm pháp danh và pháp hiệu cho người đầu tiên là bác Chân Hội, thì đóa hoa quỳnh hé nở, hương thơm lan tỏa khắp phòng. Thầy đặt ngay cho bác pháp danh Tâm Khai, pháp hiệu Chân Hội. Đúng vậy, Thầy đã cho chúng tôi “nhảy lớp”, truyền Tam quy Ngũ giới và giới Tiếp hiện cùng một lúc. Đêm hôm đó, Thầy lại tạo cho chúng tôi một kỷ niệm khó quên khác: thay cho thời ngồi thiền, chúng tôi đã được cùng Thầy thiền trà, ngắm hoa quỳnh, cũng như tận hưởng được hương hoa thơm ngát. Chúng tôi đã sống những giây phút đáng sống thật trọn vẹn; người thì kể chuyện, người thì hát, người khác lại ngâm thơ. Anh Chân Lễ, năm đó đi tháp tùng Thầy đến khóa tu, cũng đã ngâm thơ với một phong cách đặc biệt khiến tôi khâm phục và nhớ mãi.

Ngay trong khóa tu năm ấy, anh bác sĩ Nguyễn Ngọc Lang đã làm một bài thơ tặng sáu anh chị em chúng tôi trong ngày thọ giới. Bài thơ có tên của từng người, kể luôn cả pháp danh và pháp hiệu: Cơ Hội Thanh Văn Huyền Giác

Thọ giới hôm nay được sáu người

Tâm Khai, Chân Hội, ngắm hoa cười

Lan thơm, Nguyệt chiếu vườn chân Lý

Đạo mở, Tâm Nguyên tánh Giác khơi

Toàn Bửu, Chân Văn tròn nghĩa ý

Đỗ Quyên, Tâm Ngộ, sắc càng tươi

Chân Cơ, Tâm Tạng, cơ huyền diệu

Tiếp hiện ngày thêm mãi trẻ vui.

(Nguyễn Ngọc Lang)

Mới hôm trước đây, gặp lại anh Lang trong buổi tiễn đưa bác Chân Hội ra đi, anh còn nhắc lại và đọc vanh vách bài thơ cho tôi nghe. Khi mình được sống bên một người có sự tỉnh thức thì thời gian ấy rất dễ dàng trở nên huyền thoại. Thời gian ấy sẽ là vốn liếng hạnh phúc theo ta lâu dài, khuyến khích ta tu tập tinh chuyên để tiếp tục nuôi dưỡng hạt giống an vui trong ta và trong mọi người. Có phải như thế không em?

Làng Cây Phong có tự lúc nào?

Buổi sáng, sau buổi lễ truyền giới Tiếp hiện năm 1986 đó, Thầy lại cho chúng tôi một kỷ niệm khác. Trước giờ giảng pháp, khi mọi người đã ngồi yên chờ đợi, Thầy lần lượt gọi vài người lên bên Thầy. Trước khi gọi tên, Thầy đã nhắc nhở mọi người phải thực tập làm người tham dự, chứ không chỉ làm người quan sát người được gọi lên. Thầy đặt câu hỏi cho người được gọi nhưng cũng là câu hỏi cho mọi người. Ai cũng phải xem mỗi câu hỏi đều là cho mình. Hôm đó chị Chân Huyền được gọi lên, nhưng “may” cho chị, trong khi làm bếp cho buổi ăn sáng, chị bị phỏng tay. Chị Chân Huyền được Thầy “tha cho”, không đặt câu hỏi khó. Sau đó bác Chân Hội được mời lên. Sau đây là câu hỏi của Thầy và câu đáp của bác:

Thầy:                                               

  • Làng Cây Phong có tự lúc nào?  

Bác Chân Hội thật tình trả lời ngay:  

  • LCP có từ năm ngoái, năm 1985, ngay sau khóa tu đầu tiên với Thầy.

Thầy lại hỏi lại:

  • Làng Cây Phong có tự lúc nào?

Bác Chân Hội:

  • Làng Cây Phong đã có mặt tự ngàn xưa, trước khi Chân Hội được gặp Thầy…

Thầy:

  • Có thế chứ!

Bài học của Lá-nuôi-Cây, Con-nuôi-Mẹ, bài học của Vô-thỉ-Vô-chung, Không-sinh-Không-diệt,… bác Chân Hội đã hiểu rõ từ những năm đầu tiên đó. Không phụ lòng Thầy, với hạt giống của sự hiểu biết và thương yêu, bác đã biết vượt qua nhiều nẻo sắc, không để mang hạnh phúc đơn sơ đến mọi nơi. Có thể vì vậy mà trong một dịp gặp Thầy, Thầy đã tặng cho Làng Cây Phong, trao qua tay bác một thư pháp đặc biệt: Đừng phụ núi rừng. Có thể đây là bức thư pháp duy nhất trong các bức thư pháp của Thầy có câu thiền ngữ này. Bác rất tâm đắc với câu công án ấy và vẫn thường nhắc nhở anh chị em trong Làng về ý nghĩa thâm sâu của nó. Theo lời khuyên của bác, bức thư pháp này đang được treo trong thiền đường Nến Ngọc của Làng.

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Những ngày sau cùng của bác, khi đến thăm, trong lòng tôi đã hiện ra hai câu thơ đề tặng bác:

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Giữa đêm hoa nở, hương thơm ngát trời.

Vậy mà tôi đã không có dịp để đọc cho bác nghe, có lẽ vì trong những ngày đó bác vẫn còn nói chuyện rất tỉnh táo, hỏi thăm sức khỏe của Thầy bên Thái Lan, nhắc nhở tôi làm sao để đạo Bụt cắm rễ được trên đất phương Tây, làm sao xây dựng Làng Cây Phong cho người có chỗ về nương tựa, làm sao chăm sóc tăng thân Québec,… làm sao thì làm nhưng đừng phụ núi rừng… Những ngày sau, tôi lại thấy thêm trong lòng hai câu thơ sau để ghi ơn bác Cả Tâm Khai – Chân Hội của Làng Cây Phong:

Mở lòng hiểu thấu nguồn cơn

Giữa đêm hoa nở, hương thơm ngát trời

Một tâm, một dạ giúp đời

Xây làng, dựng cốc cho người người tu.

Bác ra đi với 96 năm tuổi đời. Tôi còn nhớ khi xưa, năm 1990, lúc tôi cùng bác qua Làng Mai để nhận đèn truyền đăng của Thầy, có người hỏi bác muốn ra đi như thế nào? Bác trả lời: “Tôi muốn ra đi trong chánh niệm”. Bác đã được toại nguyện, đã không phụ công ơn thầy tổ, đã giúp xây dựng nhiều tăng thân tại Canada, không chỉ có Làng Cây Phong mà thôi. Lòng từ bi, bao dung của bác sẽ ở mãi với những ai có duyên gặp bác trong cuộc đời.

Đất nước tình thương

 

Đất Nước mình đẹp lắm đấy em ơi
Biển trải rất xa và núi rừng xanh thẳm
Những con đường lúa đôi bờ xa tắp
Những hàng cây im lặng đợi mặt trời

 

Đất Nước mình đẹp lắm đấy em ơi
Từ Lũng Cú đến Cà Mau đất mũi
Đất Nước mình qua bao phen hờn tủi
Vẫn nở hoa, cây táo ấy sau nhà!

 

Em thương thôi, đừng hờn giận nữa nha
Bởi Đất Nước cần nhiều tình thương lắm!
Những khổ đau thấm sâu vào từng dặm
Hàn gắn đến bao giờ? Tổ Quốc mới đi lên?

 

Em đừng giận nữa, chỉ thở thôi nghe em
Nghe tiếng tim mình đập trong lòng Đất Nước
Bỏ hết xuống cái Tôi mình quá lớn
Chỉ để thương ngay nỗi khổ trong mình

 

Trước khi cất lời, em giữ lại lặng thinh
Dù nhìn thấy những điều tim buốt nhói
Hay trăn trở với muôn vàn câu hỏi
Phải làm sao để đỡ những muộn phiền?

 

Phải chăng Đất Nước là của những kẻ có tiền?
Hay những kẻ quên mình từ đâu nhỉ?
Bao gian khó trút lên người chăm chỉ
Mặn mồ hôi mà cay đắng chất chồng?

 

Em thấy đấy, nước mình đáng thương không?
Nếu thương thật thì em ngồi yên lại
Đừng để giận cuốn mất mình đi mãi
Bình an rồi, em sẽ rõ đúng – sai….

 

Đất Nước mình vẫn sẽ có ngày mai
Nếu từ hôm nay, em thương mình chân thành nhất…
Hãy yêu Đất Nước từ những gì có thật
Như yêu ba, yêu mẹ, yêu mình…
Như yêu chiều tà hay yêu ánh bình minh
Như yêu bão tố hay những ngày nắng hạn
Như yêu thầy, yêu bạn….
Yêu mùa hè đã đến cầm tay….

 

Em ạ, em phải thấy mình rất may
Khi thấy Đất Nước còn an bình như thế…
Dù những chuyện trái ngang vô kể
Thì niềm thương còn ở trái tim mình!

 

(Nguyễn Thùy Linh)

Hương vị của hôm nay

Sư cô Chân Trăng Mai Lâm là một sư cô người Pháp, hiện đang tu tập tại xóm Hạ, Làng Mai. Dưới đây là chia sẻ của sư cô về sự thực tập nuôi dưỡng tâm ban đầu của mình. Bài viết được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Có thể có nhiều người biết lý do vì sao con muốn chia sẻ về sự thực tập nuôi dưỡng tâm ban đầu của mình. Nhưng nếu có ai không biết thì con xin bắt đầu bằng cách nói về con một chút. Con đã được xuất gia với Thầy Làng Mai vào tháng Chạp năm 1999. Tháng Tám năm 2004, con xin rời đại chúng để trở về tìm hiểu gốc rễ tâm linh là đạo Cơ đốc, đạo gốc của con. Tháng Chạp năm 2017, con trở lại Làng xuất gia một lần nữa trong gia đình cây Mai Vàng.

Con nhớ lần đầu tiên tới xóm Mới, khi đó con không hề biết chút gì về đạo Bụt, hay về cuộc sống của người xuất sĩ dù con đã đọc sách và nghiên cứu rất nhiều. Trước đó con cũng có tập ngồi thiền và thăm viếng một số chùa ở Nhật, nhưng con chưa biết cách áp dụng sự thực tập vào đời sống hàng ngày. Và đó chính là điều mà con đang tìm kiếm. Vì vậy khi mới đến Làng, con rất hào hứng muốn biết, muốn làm tất cả mọi thứ. Nói chung con vô cùng nhiệt tình, dù bề ngoài rất yên lặng. Con muốn hiến tặng thời gian và năng lượng của mình để giúp người bớt khổ. Con mơ sẽ làm được một cái gì đó thật đẹp trong cuộc đời mình, làm một cái gì đó để… cứu thế giới này chẳng hạn…

Thực tế là con đã mang trong mình một gánh nặng do tổ tiên bao đời trao truyền lại, cụ thể là qua cuộc ly dị đầy sóng gió của ba mẹ khi con vừa lên ba tuổi. Con bị chia cắt với các anh chị em và về ở với mẹ. Thời thơ ấu, cứ mỗi hai hay ba năm con lại phải theo mẹ di chuyển chỗ ở. Con không có đủ thời gian để thực sự cắm rễ ở một nơi nào cả. Và khi con lên mười lăm tuổi, con bỗng nhận ra rằng mình cũng đang đi về hướng mà ba mẹ đang đi.

Con tự hỏi: “Mình phải làm gì đây?”

Con mơ đến chuyện bỏ nhà ra đi, để lại tất cả sau lưng, trở thành một người sống ở nước ngoài và bắt đầu lại tất cả trong một môi trường hoàn toàn xa lạ. Con bỏ ngang việc học đại học để du lịch sang các nước Á châu như Nhật, Thái Lan… Nhưng không lâu sau đó con nhận ra mình vẫn đang mang theo hành trang nặng nề ấy. Con cần một cái gì khác hơn và có ý nghĩa hơn là đi du lịch. Rồi con được đọc một quyển sách của Thầy Làng Mai. Mới đọc lần đầu tiên con đã thấy bị cuốn hút. Con đến Làng tham dự khóa tu mùa Hè và có cơ hội được có mặt trong một buổi lễ xuất gia.

Cạo sạch mái tóc

Nguyện cho mọi người

Dứt hết phiền não

Độ thoát cho đời.

Nghe bài kệ, con nhận ra rằng cuộc sống xuất gia chính là lời giải đáp cho khát khao tìm kiếm một con đường có ý nghĩa cho cuộc đời con.

Quả thật hạnh phúc đã hiện diện… Thế nhưng không lâu sau lễ xuất gia của mình, một lần nữa con lại nhận ra rằng khổ đau của mình đã không hề được cạo sạch cùng với mái tóc. Nỗi đau của con vẫn còn đó thật sâu ở bên trong, dù con đang ngồi trong thiền đường trên bồ đoàn, đang nấu ăn hay đang ngồi chơi với một sư cô. Bất cứ lúc nào hay nơi nào, con cũng đang phải đối diện với nỗi khổ niềm đau ở bên trong.

Con lại tự hỏi: “Mình phải làm gì đây?”

Con bắt đầu viết thư cho Thầy, mỗi khi thấy mình lâm vào một tình trạng quá phức tạp mà con không thể tự mình hiểu được. Con rất ý thức về những khó khăn của mình, nhưng đồng thời lại bị chúng nhấn chìm. Con học cách thở, cách đi và đặt niềm tin vào một vài sư cô trong tăng thân. Thời gian trôi qua, con vẫn tiếp tục xây giấc mơ cho cuộc đời mình. Giấc mơ của con là thực hiện những dự án thực sự như: vận động cho hòa bình theo đường lối bất bạo động, xây dựng tu viện ở các thành phố lớn hoặc thành lập các cộng đồng thực tập ở những nơi hẻo lánh. Từng chút, từng chút một, những ước vọng đó đã lấy đi tất cả sự bình an trong con. Nói chuyện với bất cứ thầy hoặc sư cô nào, con chỉ quan tâm khi cuộc nói chuyện đó có liên quan đến một dự án mới. Con hạnh phúc khi được tham gia vào một ban nào đó, hạnh phúc được làm một cái gì đó, bất cứ cái gì.

Trong khi đó, trái tim con không hề thấy thỏa mãn. Con không có bình an, không có đủ niềm vui (thiền duyệt) trong các sinh hoạt của mình. Thỉnh thoảng, nỗi khổ đau của con lại trở về, nhắc con phải chăm sóc nó và chăm sóc chính con. Mỗi lần như thế, con lại xin phép biến mất hai hoặc ba ngày. Con sợ làm phiền người khác, sợ mình có vẻ trẻ con, sợ nhất là bị phán xét rằng mình không phải là một người tu giỏi. Con thường đi dạo trên những ngọn đồi xung quanh hay trốn trong rừng. Con hay thức dậy trước chuông thức chúng để có một khoảng thời gian tĩnh lặng cho riêng mình, để viết, đọc và cảm thấy an toàn. Nhu yếu được yên lặng và sống một mình của con càng lúc càng lớn lên. Sở dĩ nhu yếu này trở nên quá lớn là vì chỉ khi nào những điều kiện của bình an, tĩnh lặng ở bên ngoài hiện diện thì khi đó con mới có thể tìm được sự bình an ở bên trong mà con đang thiếu thốn.

Vào những ngày đầu tiên sau khi con xuất gia, Thầy đã khuyến khích con nhìn sâu vào gốc rễ Cơ đốc giáo của mình. Con vâng lời Thầy, viếng thăm các linh mục và nữ tu trong những tu viện Cơ đốc giáo, đọc Thánh Kinh và nghe thánh ca. Đời sống nội tâm của con hấp thụ tất cả những thức ăn đó và con thấy được nuôi dưỡng khi nghiên cứu về các điều luật của dòng thánh Benedicto hoặc thánh Dominic. Con vui thích khi tưởng tượng về cuộc sống của một tu sĩ đạo Cơ đốc. Con đã trốn tránh khổ đau của mình bằng những hứa hẹn về một cuộc sống tốt đẹp hơn. Tâm ban đầu trong con hoàn toàn bị đánh mất. Con đã quên không làm mới lại, bắt đầu lại từ nơi mình đang đứng. Thay vì vậy, con lại đi tìm một khởi điểm khác: đó là khát khao được sống một cuộc sống khác, bay xa khỏi chính mình để tìm sự bình an…

Con đã liên lạc thư từ với Mẹ Bề trên của một tu viện nữ dòng Thánh Benedicto trong suốt hai năm, cho nên khi con chia sẻ về những ưu tư và nguyện ước của mình, Mẹ Bề trên đã đề nghị con đến tu viện học hỏi thêm về giáo lý. Con xin phép rời tăng thân đến đó hai tháng. Và con đã ở lại đó mười một năm.

Một thời gian sau, con quyết định gửi y lại và thưa rõ với Thầy về nhu yếu sâu sắc muốn tìm hiểu thêm về truyền thống và tổ tiên tâm linh của con. Trong khoảng thời gian con ở tu viện, có hai lần một số quý thầy và quý sư cô từ Làng đến viếng thăm. Niềm vui khi gặp lại các thầy, các sư cô y như khi gặp các anh chị em cùng huyết thống. Con chưa bao giờ thấy mối liên hệ này đứt đoạn. Con chỉ đi trên con đường của riêng mình mà chưa bao giờ quay lưng lại với những gì mà con đã được học hỏi từ Thầy. Và con vẫn thấy chánh niệm chính là một sự yểm trợ lớn lao giúp sự thực tập trong tu viện của con càng thêm sâu sắc.

Con lại trở thành một người thỉnh sinh (chủng sinh – postulant), một tập sinh (novitiate), rồi khấn tạm và khấn trọn đời. Con có cảm tưởng mình thật sự đã làm mới lại, theo những quy định không khác với những gì mà con đã trải qua. Cuộc sống xuất gia lại như mới mẻ, dễ dàng, hấp dẫn và thú vị! Những bức tường cao của một nhà tu kín nhìn có vẻ rất an toàn. Con có cảm giác đi vào trong tu viện cũng giống như mình đóng tất cả các cửa lại, không thể đi ra. Sự thật tuyệt đốicon từ nay sẽ phải đối diện nhau đến trọn đời. Điều đó cũng có nghĩa là con sẽ không còn chỗ nào để trốn tránh nữa…

Con lại phải nhìn vào những yếu tố đen tối nhất đã làm nên con người của mình: không có khả năng tiếp nhận tình thương, hèn nhát, sự kiêu hãnh, và trên tất cả là nhu cầu được công nhận, được thương. Thượng Đế – sự thật tuyệt đối- đang có mặt ngay đây, chắc chắn là như vậy, cũng như Người đang có mặt ở khắp nơi. Thế nhưng con không thể thấy bất cứ một cái gì khác hơn là cái tôi khó chịu của mình. Con không thể tiếp nhận bất cứ một sự soi sáng nào từ bên ngoài. Cuối cùng, sơ hướng dẫn lúc con còn là tập sinh, nhân dịp làm việc chung đã nói với con: “Em cần phải làm gì đó mới được, em không còn hạnh phúc nữa…”

Con phải làm gì bây giờ?

Con đã quay về với mình để quán chiếu một thời gian. Vào một buổi chiều tháng Sáu đầy nắng, con ngồi đọc sách dưới bóng một cây linden cổ thụ. Con ngồi đó khoảng một tiếng đồng hồ rồi đứng lên để ra về. Bước đi không đầy 100 mét, con bỗng nghe tiếng răng rắc lạ tai, ngoái nhìn lại, con thấy cây linden của con đã gãy đôi. Nếu như nó gãy khi con còn ngồi dưới gốc cây thì sao? Có thể con đã chết rồi, thế nhưng con vẫn đang còn sống. Nhận thức này thôi thúc con phải hành động.

Lần đầu tiên trong đời con quyết định phải hành động từ nội tại, không chuyển môi trường mà phải tìm hiểu ước muốn sâu sắc nhất của chính mình, cái mà Làng Mai gọi là tâm nguyện. Tại sao con lại chọn cuộc sống của một người xuất sĩ? Nếu muốn giúp người, con cần phải làm sao có đủ dũng lực và hạnh phúc để có thể làm được việc ấy. Nếu con chỉ muốn trốn chạy khó khăn, tốt hơn là con nên tìm cho mình một nơi nào có những điều kiện dễ chịu hơn. Nếu chỉ là để sống một mình với Thượng Đế, như là một người đồng hành thì con đã sai lầm: con đã cố đi trên con đường đó trong tám năm trời nhưng vẫn thấy thiếu một cái gì đó, thấy trống vắng. Trong con có một cái vực sâu mà con rất sợ phải rơi vào.

Con đã chia sẻ những suy tư của mình với một linh mục ở tu viện gần bên. Cha đã lắng nghe con với một sự thông cảm sâu sắc và một nụ cười đầy từ bi trong khi con khám phá ra một cảm giác mới mẻ trong tâm mình: “Con luôn cố gắng để trở thành một người khác, một người tốt hơn con, một người mạnh mẽ có thể thay đổi cả thể giới và thay đổi chính mình. Nhưng bây giờ thì con biết con chỉ là một người yếu đuối và cô độc, và con không thể tự mình làm bất cứ một cái gì”. “Tốt lắm!”- Cha không nói gì thêm mà chỉ khuyến khích con tiếp tục con đường mới mẻ này, con đường của sự khiêm cung, công nhận rằng mình có những giới hạn. Con bắt đầu cảm thấy khỏe nhẹ hơn rất nhiều. Một người rất bình thường, không phải là bậc thánh, cũng không phải bậc giác ngộ, mà chỉ là một người thảnh thơi, tự tại hơn đang dần dần trở lại trong con, bởi vì con không còn tự phán xét đòi hỏi mình nữa. Và chính con người tự do đó trong con đã giúp con quyết định rời khỏi tu viện dòng Benedicto.

Con luôn tự nhắc nhở mình rằng lý do duy nhất con rời tu viện là từ chính con, con không có khả năng sống cuộc sống của người xuất gia. Suy nghĩ được như thế, con thấy lòng mình rất vui và nhẹ nhõm. Trong thời gian quán chiếu sâu này, một câu nói của thánh Giăng (Saint Jean de la Croix) thường đi lên trong tâm con, chói sáng như một vì sao hướng con đi trên con đường mà con muốn bước: “Giờ đây chỉ còn một công việc duy nhất mà ta cần làm, đó là thương yêu”.

Con tìm được một nơi tạm trú trong giai đoạn chuyển tiếp. Đó là một cộng đồng gồm những người trẻ (và không còn trẻ nữa) sống chung với những người khuyết tật. Người sáng lập cộng đồng đặt tên nó là “l’Arche” (Con thuyền cứu thế Noah) với ước muốn xây dựng cộng đồng thành một nơi của lòng vị tha và tôn vinh sự sống. Có một số nữ tu cũng đến đây nương tựa và dần dần những vị này trở thành những người có thể hiểu con và giúp con tìm được lối ra. Sống chung với những người có thể mạnh dạn nói lên những điều mình nghĩ, yêu thương một cách chân thành và chia sẻ từ trái tim mình một cách không sợ hãi đem lại cho con rất nhiều trị liệu.

Cùng với cộng đồng ở đây, con khám phá ra hạnh phúc lớn nhất của con là khi con thực sự có mặt và để cho mọi sự diễn ra trong dòng chảy tự nhiên của nó. Con cũng khám phá ra chỉ cần thực sự có mặt trong chánh niệm có thể mang lại lợi ích lớn nhất và có thể làm giảm thiểu rất nhiều đau khổ của người khác. Con nhận ra nỗi khổ đau của chính con trong những người ở đây, và con không muốn ai phải khổ đau, chỉ muốn đem một giọt nước thanh lương làm dịu đi sự nóng bức cho người bất cứ khi nào con tiếp xúc với khổ đau.

Con được phép ở đó hai năm như một nữ tu, tuy không mặc áo dòng nhưng vẫn giữ trọn vẹn những lời khấn. Con có thể trở lại tu viện bất cứ lúc nào. Tuy nhiên trong suốt hai năm ấy con không muốn làm một quyết định nào cả.

Tháng 10 năm 2014, con nhận được một bức thư của Thầy nói rằng con có thể trở lại Làng Mai. Con đã không trả lời ngay. Rồi Thầy trở bệnh nặng. Con vẫn còn đang trong giai đoạn nhìn lại ước nguyện sâu sắc nhất của cuộc đời mình là gì. Thời gian này con về Làng dự khóa tu sức khoẻ và đến thăm Thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Mỗi lần như thế con đều cảm thấy mình đã về nhà. Thậm chí khi các thầy hay các sư cô mà con quen biết không còn ở đó, thậm chí khi Thầy không còn ở đó.

Con xin phép rời tu viện trở lại cuộc sống ngoài đời, và chỉ khi nhận được lá thư từ tu viện, chính thức cho phép con được ra đời thì con mới thấy thật rõ ràng đó là điều mình hoàn toàn không muốn. Con vẫn còn nhớ rất rõ câu: “Giờ đây chỉ còn một công việc duy nhất mà ta cần làm, đó là thương yêu”. Con biết chắc chắn có một nơi tại miền Nam nước Pháp, ở đó con có thể học cách hiến tặng tình thương đích thực… Vì vậy con đã xin tăng thân cho con trở lại, và con đã về Làng vào khóa tu 21 ngày năm 2016, mười hai năm kể từ khi con rời xóm Hạ.

Chắc chắn là con cần phải làm mới. Nhưng chẳng phải chúng ta cần làm mới mỗi ngày trong đời sống hay sao? Ngày hôm nay thiền hành có hương vị của hôm nay, thiền tọa cũng thế. Trò chuyện, chia sẻ với các sư chị sư em, ăn, ngủ… tất cả mọi cái mà chúng ta gọi là thực tập đều có thể có hương vị của hôm nay. Con có thể cho rằng mình đã biết cách thực tập và biết phải làm gì. Thế nhưng thực tế thì không phải như vậy.

Từ khi trở lại với tăng thân, con cảm thấy rằng hạnh phúc của mình tùy thuộc một cách hiển nhiên vào phẩm chất của sự tu tập mà không vào một cái gì khác. Sống trong tăng thân, con có rất nhiều khoảnh khắc rất đẹp, có nhiều lúc khó khăn, đôi khi không lường trước được, nhưng cũng có khi chúng lại giống như những người bạn cũ. Có một điều mà gần đây con cảm thấy rất trân quý trong nếp sống tăng thân, đó là con có thể học hỏi từ tất cả mọi điều để nuôi lớn thương yêu. Con có thể mở cửa một cách nhẹ nhàng và đầy chánh niệm vì thương, vì muốn thực tập chánh niệm, đồng thời vì các sư chị, sư em con cũng đang cần sự yên bình; vì muốn tạo cảm hứng cho các bạn thiền sinh, cho những người có thể đang nhìn vào mình để thực tập theo. Điều này cũng đúng cho tất cả mọi thứ khác: con có thể đi trong chánh niệm, chùi phòng vệ sinh, nấu ăn hoặc viết bài cho Lá Thư Làng Mai vì tình thương. Con thực tập để cho tình thương và lòng từ bi là ý nghĩa tối hậu cho tất cả mọi việc con làm. Nếu con có thể khắc ghi điều đó trong tâm thì dù cho con có mệt, có buồn, có bệnh, ánh sáng vẫn soi đường con đi: ánh sáng của từ bi và tương tức.

Con nhận ra rằng điều duy nhất mà con biết về sự liên hệ giữa con với vạn vật, đó là: tự riêng mình, con không là gì cả. Con không là gì cả nếu không có những giọt sương lóng lánh trên chiếc lá sen, nếu mặt trời không nhô lên trên đồi mận, nếu trẻ con không đu lên những cây tre vào mùa hè ở Làng, và nếu không có những nụ cười của các sư chị, sư em của con…

Chào tuổi trẻ tôi

Sư cô Trăng Hồ Sen xuất gia trong gia đình cây Hoàng Yến ngày 12.05.2016 tại Làng Mai Thái Lan, sau thời gian tập sự tại Diệu Trạm. Mười tám tuổi, cái tuổi mà ở bên ngoài ai cũng vạch ra cho mình một hướng đi và theo đuổi sự nghiệp cho tương lai với bao kỳ vọng của chính mình và gia đình, sư cô đã chọn con đường xuất gia, gia nhập vào gia đình Áo nâu. Là một người tu trẻ, sư cô đã thực tập và trải qua những thử thách đầu đời tu thật thú vị.

Tuổi trẻ vào chùa

Tuổi trẻ tôi vào chùa khi lên mười tám. Hai năm rồi, sao tôi lại vào chùa với cái tuổi này nhỉ? Tôi thích đàn, thích hát, thích thể thao và nhất là tôi không thích sống cuộc đời đã được lập trình sẵn: học, đi làm, lấy chồng, sinh con, chăm con… Nhiều người tuổi trẻ như tôi đồng ý với nhau rằng cuộc đời đã lập trình sẵn như vậy. Con người vốn dĩ phải bận rộn như vậy, nhưng tôi không chấp nhận, không thích cuộc sống đó. Tôi muốn cuộc đời mình ý nghĩa hơn. Mười tám tuổi, tôi nghĩ có thể mình sẽ trở thành giáo viên để có thể trao truyền những ý nghĩa cuộc đời lại cho thế hệ tương lai như thầy cô của tôi đang làm. Nhưng tôi lại cũng thích đi đây đi đó.

Rồi tôi khám phá ra được một ước mơ mà ngày xưa tuổi thơ đã gởi gắm cho tôi. Tôi nhớ lại những lời hỏi đáp giữa tôi và bạn bè lúc nhỏ:

– Ê, lớn lên mày muốn làm gì?
– Tao chắc chắn sẽ là một sư cô, tao sẽ đi tu.


Nói rồi tôi bật cười thiệt to. Tuổi thơ tôi cũng thường xem phim siêu nhân, nhưng tôi chẳng bao giờ muốn làm nữ anh hùng, tuổi thơ tôi chỉ thích đi tu thôi. Hồi đó, tôi thường theo ba mẹ đi chùa, thích mang những bộ quần áo thùng thình và thích những bước đi nhẹ nhàng của quý thầy. Trái tim nhỏ bé của tuổi thơ tôi đã cảm thấy thật bình an và ước chi mình cũng có thể đem lại sự bình an như vậy cho mọi người.

Tuổi trẻ tôi chỉ có sách vở, con chữ và con số. Mười tám tuổi, tôi bắt đầu nhận ra xung quanh tôi cuộc đời không phải đơn giản như vậy. Đằng sau sự đầy đủ và êm đềm mà ba mẹ cho chúng tôi là sự hy sinh và những lo lắng của ba mẹ. Đi tìm ý nghĩa của cuộc đời, tôi tự hỏi mình sinh ra để làm gì và giúp được gì? Chọn lấy một ngành nghề rồi đi học và kiếm tiền, tuân theo quy luật cũ kỹ ấy hay sao?

Một lần nữa, mầu nhiệm thay, những bóng áo nâu lại xuất hiện trong cuộc đời tôi, mở ra một ngã rẽ hoàn toàn khác mà ngày xưa tuổi thơ tôi đã từng ao ước đến. Một nếp sống mà tôi có thể dành tặng cho tuổi thơ của mình và cả cho tuổi trẻ của tôi nữa. Mãi đến khi đi tìm ý nghĩa của cuộc đời mình tôi mới bắt gặp tuổi thơ tôi. Vậy là tuổi trẻ tôi vào chùa.

Tuổi trẻ ngơ ngơ

Lúc còn tuổi thơ, tôi có cái ngơ ngơ của tuổi thơ. Bây giờ tuổi trẻ, tôi có cái ngơ ngơ của tuổi trẻ. Một trong những cái ngơ ngơ của tôi là hay quên. Đầu của tôi hay suy nghĩ lung tung và chẳng nhớ mình đã làm gì, nói gì. Tôi cũng hay để đồ đâu quên đó. Quý sư mẹ bảo người trẻ ngày xưa khác với người trẻ bây giờ. Thì người trẻ lúc nào cũng mới mà! Mới đây thôi, tôi thưa với sư mẹ là tôi sẽ khất thực cho sư mẹ. Nhưng rồi tôi quên và đã bưng bát đi tuốt lên trai đường ăn cơm với đại chúng. Ăn xong tôi mới nhớ sư mẹ đang ở nhà đợi cơm. Tôi ơi!

Tôi có lúc như là con nít nhưng có khi lại y chang bà già. Lúc mới vào chùa, tôi được gọi là tuổi trẻ… già. Bởi những suy nghĩ và hành động của tôi so với các bạn đồng trang lứa có vẻ như chững chạc hơn. Thực ra cũng tại tôi xa nhà đi học từ nhỏ nên không được sống với tuổi thơ được ba mẹ chăm sóc nhiều nên tính tự lập trong tôi được biểu hiện. Nhưng cũng có khi hạt giống tuổi thơ trong tôi lại biểu hiện thật rõ. Càng ngày tôi càng thấy mình con nít hơn hay sao ấy. Ở trong chùa lạ ghê, tôi được học biết bao nhiêu thứ: học nấu ăn, học cách chia sẻ trước đại chúng, học nói, học cách làm việc và tổ chức các ngày Tết cho đại chúng như tết Trung Thu, tết Tây… Càng ngày tôi càng biết làm nhiều việc hơn nhưng càng ngày tôi thấy mình cũng con nít hơn. Chắc bởi trong những điều đã học, tôi được học trở về nương tựa nơi các sư chị, sư em của mình nữa. Trước giờ tôi cứ quen tự giải quyết mọi vấn đề của mình. Tôi muốn làm mọi thứ thật hoàn hảo, nhưng bây chừ tôi có các sư chị sư em đó, mỗi người làm một chút và tôi không cần phải lo lắng chi cả, tôi chỉ cần làm hết lòng thôi. Tôi đã từng rất sợ mình bị ngơ ngơ, sợ làm sai cho nên tôi mới hay suy nghĩ cách này cách khác để mình được hoàn hảo. Tôi đâu biết là khi mình làm sai thì sẽ được dạy bảo, được chỉ bày. Đại chúng luôn có mặt đó để soi sáng cho tôi. Vậy là tôi đã bớt già rồi.

Nhưng mà tôi vẫn cứ ngơ ngơ nhiều thứ. Tôi đã bảo rồi mà, tôi hai mươi sẽ không lặp lại những ngơ ngơ của tuổi mười tám nhưng vẫn có cái ngơ ngơ của tuổi hai mươi. Có nhiều điều tôi chưa biết thành ra cứ ngơ ngơ vậy mà hay. Ngơ ngơ để tuổi hai mốt, hai hai học nữa. Tôi thở và không băn khoăn nữa. Tôi sẽ sống hết lòng với cái ngơ ngơ của mình.

Tuổi trẻ là phải gào như thác

“Tuổi trẻ là phải gào như thác”. Giới sư của tôi dạy vậy đó. Mà tôi thấy đúng như vậy. Có đôi khi bước ra khỏi nhà vệ sinh, tôi chầm chậm xỏ dép vào, bước từng bước chân thật chánh niệm. Chợt tôi dừng lại, nhìn bên trái, nhìn bên phải và không có ai. Vèo! Năm giây sau tôi đã ở trước cửa phòng mình và khoái chí cười thích thú. Có khi tôi đang chải răng chầm chậm rất có ý thức. Bỗng nhiên thấy nguồn năng lượng trẻ trong tôi dư thừa quá. Vậy là tôi… xoẹt…xoẹt…xoẹt. Xong! Tất nhiên tôi vẫn bước đi thật chậm rãi một cách khoan thai, đặt ý thức xuống lòng bàn chân và thưởng thức sự chậm rãi của bước chân mình.

Tuổi trẻ là thác gào. Tôi đang có sức khỏe và tinh thần hăng hái. Tôi gào thét cả bên trong lẫn bên ngoài. Tôi nhận thức những gì đang xảy ra xung quanh và đón nhận những thử thách mới mẻ và học làm những điều chưa bao giờ làm. Nhưng thác cũng chỉ là một phần của dòng chảy. Tôi cũng có những khúc sông thật bình yên vì tôi có một khoảng không gian của tâm hồn để trở về.

Tuổi trẻ về nhà

Ba bệnh, tôi và chị gái của tôi là sư em Trăng Hải Chiếu được phép về nhà gấp. Trên xe tôi ngồi thật bình an thở cho ba. Ở chùa, đại chúng đang ngồi thiền và tôi cũng đang thở cùng đại chúng. Tôi phải làm gì khi về nhà đây nhỉ? Chiều hôm ấy, tôi vừa đi chợ về thì được báo tin ba bị tai nạn và tôi cần đi liền, chẳng kịp chào quý sư cô vì sợ trễ xe. Tôi cũng không có giờ để được quý sư cô dặn dò sự thực tập khi về nhà, quý sư cô chỉ dặn qua một mình chị gái của tôi. Tôi chưa biết phải làm gì cả, chỉ có mặt với hơi thở thôi.

Vào bệnh viện gặp ba, tôi chắp tay búp sen và ba cũng làm vậy. Ba tôi đang nằm, mắt rưng rưng khi nhìn chị em tôi. Mắt tôi cũng ướt theo, tôi thật “mít ướt” nhưng chỉ chút xíu thôi, tôi và ba cùng trở về với hơi thở.

Mẹ bảo hai chị em tôi về nhà cho yên vì ở bệnh viện đông người và hơi xô bồ, cảnh bệnh nhân đau ốm khổ sở, cộng thêm người nhà của bệnh nhân khắp nơi đông đúc, mẹ nghĩ cảnh ở bệnh viện không hợp với chị em tôi. Tôi thấy hơi ấm ức, giá mà tôi không đi xuất gia, chỉ là một đứa con bình thường ở nhà thì tôi có thể ở lại giúp mẹ chăm ba. Tôi nhất quyết không chịu và giải thích cho mẹ hiểu, xin mẹ đừng bọc chị em tôi kỹ quá như vậy. Ở chùa quý sư cô đã dạy phải tiếp xúc với những khổ đau bên ngoài để trân quý hơn những bình yên trong tu viện. Chính tôi cũng ý thức được rằng những kinh nghiệm khó khăn sẽ giúp cho sự tu học của tôi rất nhiều, mẹ có thể tin ở chị em tôi.

Thời gian đó, tôi và chị tôi đã đem hết những gì mình đã được học và thực tập ra áp dụng. Tôi thực tập thiền hành dù chỉ vài bước chân thôi. Tôi chế tác ra năng lượng bình an để gởi cho ba mẹ trong mỗi món ăn tôi nấu. Từ từ, bóng áo nâu xuất hiện trong bệnh viện trở nên quen thuộc. Tôi thấy bình an hơn khi ở bên cạnh ba mẹ. Tôi hát cho ba nghe, tôi cười và cảm nhận được năng lượng bình an của tôi có mặt.

Tuy nhiên, trong cái đầu mới lớn của tôi có nhiều câu hỏi đặt ra. Một người trẻ đi tu có thể giúp được gì cho gia đình mình? Tôi cứ thở với công án đó. Về nhà, dù đã là một sư cô, tôi vẫn như hồi xưa, vẫn cứ nhe răng cười với bất cứ ai đang nhìn tôi. Nhờ đi tu tôi giữ được nụ cười ấy (chứ ở ngoài lắm khi người ta lại bảo mình cười vô duyên). Nhưng tôi cảm thấy bản thân mình vẫn chưa đủ lông đủ cánh. Tôi vẫn chưa giữ được sự bình an khi về nhà, tôi chưa giúp được gì nhiều cho ba mẹ. Tôi thấy thương ba mẹ lắm và ước chi mình có thể san sẻ được những lo lắng, buồn tủi của ba mẹ. Có lẽ công phu tu học của tôi chưa đủ, nhất định tôi sẽ trau dồi thêm phẩm chất chánh niệm trong tôi. Điều lớn nhất tôi có thể đem đến cho ba mẹ là sự bình an và hạnh phúc của mình.

Câu chuyện tuổi trẻ đi tu của tôi chẳng bao giờ kết thúc.

Đôi khi tôi cũng cần được nghỉ ngơi. Khi đặt lưng nằm xuống, tự thấy mình đã học và làm việc rất hết lòng nên tôi cũng cho phép mình nghỉ ngơi đôi chút. Tôi có được bao nhiêu thời gian? Tôi được quý sư cô nhắc nhở rằng tuổi trẻ sẽ đi qua nhanh lắm. Tôi có hết lòng với tuổi trẻ của mình hay chưa? Tôi thực tập, học hành, làm việc và chơi đã hết lòng và đã học thương hết lòng chưa?

Tôi từng nghĩ và muốn nói với chính tôi rằng tôi đã làm rất tốt mọi thứ với khả năng của tôi đang có. Thỉnh thoảng tôi vẫn sợ hãi, vẫn mặc cảm tự ti và thậm chí còn kiêu ngạo và tự hào nữa cơ. Nhưng những cái đó là tôi. Tôi cũng có niềm tin, có ý chí và tôi có tuổi trẻ. Những khúc sông êm ả hay những khúc sông thác gào cũng chính là tôi. Tôi hãy cứ thở, cứ thưởng thức con người của tôi để những điều tốt đẹp được hình thành và lớn lên trong chính tâm hồn tôi.

Chào tuổi trẻ tôi!

Chân Trăng Hồ Sen

Ba yếu tố làm nên chất thánh

Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 15.11.2012 tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, Làng Mai, trong khóa An Cư Kết Đông 2012-2013

Tứ như ý túc

Như ý có nghĩa là vừa ý, là thỏa mãn ước vọng của mình. Tứ y như túc, tiếng Phạn là rddhi-pāda, còn được gọi là Tứ thần túc tức là bốn phép thần thông (the four psychic powers).

1. Dục 欲 (chanda)

Dục là muốn. Dục thần túc là sức mạnh của ý muốn, phải muốn thật nhiều mới thành công. Muốn đi xuất gia mà chỉ muốn 70% thì không thể thành công được. Ta phải muốn 100% hay 120% thì mới đi xuất gia. Dục là một sức mạnh tâm linh. Muốn ở đây không phải là chuyện xấu, không phải ta muốn danh, muốn lợi hay muốn sắc dục. Muốn là một sức mạnh, tại vì nếu cái muốn đó đủ mạnh rồi thì ta có thể buông bỏ được những cái khác. Nếu cái muốn quá yếu thì ta không buông bỏ được những hệ lụy. Ví dụ như mình đang coi ti vi, đang nghe nhạc Trịnh Công Sơn hay mình đang coi phim trên internet tại vì mình thấy buồn và trống trải và mình chìm đắm trong đó. Nhưng những cái đó rất giả tạo. Mình đang rong chơi trong thế giới internet, mình tìm cái này cái kia cho đỡ buồn tại vì trong lòng mình có một khối u sầu. Trong lòng mình có một khoảng trống mà mình không biết cách lấp nên mình tìm tới những chỗ đó để giải sầu, để bớt trống trải. Khi mở ti vi ra xem không hẳn là tại mình thích xem ti vi, khi nghe nhạc không hẳn là mình thích nghe nhạc. Nhưng tại vì cảm thấy trống trải, buồn khổ, cô đơn nên mình đi tìm chỗ để khỏa lấp.

Trong khi đó thì sự sống tràn đầy những mầu nhiệm. Cơ thể của mình đây là một mầu nhiệm lớn. Khoa sinh học đã đi khá xa nhưng vẫn chưa thấy hết được sự mầu nhiệm của cơ thể con người. Một lá cây, một bông hoa, một hành tinh hay một giọt sương chứa trong nó bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhưng mình không tiếp xúc được, mình không thấy được hết những mầu nhiệm của sự sống. Vì trống trải, buồn khổ, sầu đau nên mình tìm vào trong thế giới của giả tạo như internet, nhạc tình sầu, v.v..

Làm thế nào để giúp cho người kia ra khỏi thế giới giả tạo đó? Mình phải làm cho người kia muốn, muốn trở về với sự sống trong giây phút hiện tại để tiếp xúc với những mầu nhiệm đang có trong giây phút hiện tại. Ví dụ như thay vì nghe nhạc thì mình tắt nhạc để theo dõi hơi thở. Hơi thở của tôi vô cùng mầu nhiệm. Thở vào tôi biết là tôi đang thở vào và tôi thấy là tôi đang có một hình hài. Hình hài này rất mầu nhiệm, nó mang theo tất cả tổ tiên và các thế hệ tương lai. Tổ tiên đã trao cho tôi hình hài này và tôi sẽ trao nó lại cho con cháu tôi. Mình được có mặt trong sự sống mà mình không biết sống, mình không biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Mình cứ nói đời là khổ trong khi đời rất mầu nhiệm. Trong cuộc đời có chiến tranh, đói nghèo, áp bức nhưng cũng có những mầu nhiệm của sự sống như là bốn mùa rất đẹp, không khí rất trong, biển xanh rất hùng tráng. Mình phải nuôi dưỡng mình để mình có khả năng làm giảm thiểu những khổ đau trên trái đất. Và để làm được chuyện đó mình phải thực tập. Mình thực tập trở về với hơi thở, tiếp xúc với hình hài và làm hình hài lắng dịu. Mình thực tập xử lý những niềm đau nỗi khổ để có an lạc và niềm vui mà giúp đời. Đó là cái muốn, mà nếu cái muốn đó quá yếu thì mình chẳng làm gì được cả. Vì vậy thần thông đầu tiên là phải có cái muốn.

Mỗi người hãy tự hỏi: Mình có cái muốn hay không? Cái muốn của mình ít hay nhiều? Ở Làng Mai chúng ta nói: Nếu tâm muốn đi xuất gia chưa được tới 100% thì mình đừng nên xuất gia. Không ai có thể ép mình đi xuất gia. Siddharta có cái muốn rất lớn. Siddharta đã thấy những đau khổ trong cuộc đời. Siddharta đã thấy rằng làm một nhà chính trị thì không thể giúp được đời, cho nên Siddharta có cái muốn đi tìm đạo để tự chuyển hóa mình và giúp đời. Là một vị hoàng tử sống trong nhung lụa xa hoa nhưng Siddharta đã bỏ tất cả để sống một cuộc sống đơn sơ của một đạo sĩ, sống một mình trong rừng. Đó là thần thông. Thần thông này mình cũng có thể có mà không cần phải tu luyện lâu ngày.

Đang đi mà mình suy nghĩ vớ vẩn chuyện quá khứ, tương lai. Mình nói chuyện này chuyện nọ với người kia. Đó không phải là hạnh phúc. Nếu mình tiếp xúc với giáo lý đạo Bụt, thấy được phép thiền hành là mầu nhiệm thì mình ngưng lại sự suy tư, ngưng lại câu chuyện, mình để ý tới hơi thở và bước chân. Mình thấy rõ là mình đang còn sống và mình đang đặt những bước chân lên mặt đất. Đó là một phép lạ, đó là thần thông. Đi trên mặt đất, đó là đang làm phép thần thông. Thiền sư Lâm Tế nói đó là “địa hành thần thong” 地 行  神 通 (the miracle of walking on earth). Tất cả chúng ta đều có thể làm được phép địa hành thần thông. Ta đừng tưởng chỉ có tiên mới làm được phép lạ. Địa là đất, hành là đi, địa hành là đi trên mặt đất. Ta không cần đi trên lửa hay trên mây, ta chỉ cần đi trên đất thì đã là thần thông rồi. Mỗi bước có an lạc, có hạnh phúc, có tình thương. Nhờ có niệm, định và tuệ mình có thể tạo ra một thần thông.

Mình đừng nên mặc cảm là mình không biết làm phép lạ. Mình có thể làm được phép lạ. Người kia đang ở trong trạng thái buồn khổ, chán đời. Mình tới ngồi với người đó, mình mỉm cười và nói một vài câu giúp cho người ra khỏi địa ngục. Nhiều thiền sinh tới đây trong trạng thái buồn khổ, chán nản. Một thầy hay một sư cô ngồi đó với họ và trong vòng 10 hay 15 phút đã có thể giúp cho họ thoát ra khỏi địa ngục. Đó là thần thông. Nếu muốn, mỗi sư chú, mỗi sư cô, mỗi thầy đều có thể làm được như vậy. Giúp đời, cứu người là chuyện mình có thể làm được. Nhưng trước đó mình phải giúp mình và cứu mình.

Sư cô Chân Không là người chuyên tham vấn cho xóm Mới. Sư cô báo cáo rằng nhiều khi chỉ trong vòng 20 phút là mình có thể biến đổi được một con người, làm cho mắt họ sáng lên, họ nở được một nụ cười và họ ra về trong hạnh phúc. Đó gọi là giáo hóa thần thông tức là phép lạ của sự giáo hóa. Là người xuất gia mình làm thần thông cho mình rồi mình làm làm thần thông cho người khác. Khi cho một bài pháp thoại hay hướng dẫn một buổi pháp đàm có thể là mình đang làm phép thần thông. Mình nói pháp thoại hay hướng dẫn pháp đàm không phải là để chứng tỏ rằng mình có kiến thức về Phật pháp, mà là mình đang làm phép thần thông, tức là mình đang giúp cho người ta thoát ra khỏi nỗi khổ niềm đau của họ.

2. Tâm 心 (citta)

Tâm của mình rất mầu nhiệm. Tâm của mình bao gồm cả vũ trụ. Tất cả đều do tâm mà ra. Hạnh phúc hay khổ đau đều do tâm mà ra. Mình đừng cho rằng tại người kia làm mình khổ hay là tại vì không có người kia nên mình mới khổ. Hạnh phúc hay khổ đau là do mình mà ra.

Theo đạo Bụt thì có mười cảnh giới: thiên, người, atula, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thanh văn, duyên giác, bồ tát, Bụt. Mười cảnh giới này đều có trong tâm mình. Muốn đi tìm Bụt thì mình đi tìm trong tâm mình mà muốn đi tìm địa ngục thì mình cũng đi tìm trong tâm mình. Địa ngục đi lên từ tâm mình chứ không phải là mình rớt xuống địa ngục. Mình phải chọn lựa, cũng như một đài truyền hình có mười kênh mình muốn kinh nào thì bấm kênh đó. Mình có phép thần thông để chọn lựa, tại sao mình lại chịu chết trong một cảnh giới trong khi mình có thể thoát ra khỏi nơi đó rất mau.

3. Cần 勤 (virya)

Cần là sự siêng năng, là năng lượng của sự tinh tấn. Chúng ta biết Tứ chánh cần là một phương pháp rất hay. Ở Làng Mai Tứ chánh cần là phương pháp tưới tẩm hạt giống. Chúng ta chỉ tưới tẩm hạt giống tốt mà không tưới tẩm hạt giống không tốt. Ta tưới tẩm những hạt giống tốt nơi ta và đừng tưới tẩm những hạt giống không tốt nơi ta thì tự nhiên hạnh phúc có mặt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Ta chỉ tưới tẩm hạt giống tốt nơi người kia và đừng tưới tẩm những hạt giống không tốt nơi người kia. Đó là sự tưới tẩm có chọn lọc (selective watering). Người kia có hạt giống thiên đường, hạnh phúc; mình tưới tẩm hạt giống thiên đường, hạnh phúc thì người đó sẽ có hạnh phúc. Người kia có hạt giống xuất gia, mình tưới tẩm hạt giống xuất gia thì người kia sẽ đi xuất gia. Người kia có hạt giống Phật, mình tưới tẩm hạt giống Phật thì người đó sẽ thành Phật.

Cần là bốn phương pháp thực tập: đừng tưới tẩm những hạt giống xấu trong mình và trong người, nếu những hạt giống xấu đã lên rồi thì tìm cách mời nó xuống và mời những hạt giống khác lên. Với phương pháp tưới tẩm chọn lọc mình có thể làm cho sự sống hạnh phúc theo như ý mình. Mình biết cách xử lý nỗi khổ niềm đau để không bị nó làm cho tràn ngập. Mình cũng biết cách giúp cho người không bị tràn ngập bởi nỗi khổ niềm đau của họ. Mình kéo họ ra khỏi ngục tù của quá khứ và sự lo lắng cho tương lai, cho họ thấy được trời xanh, mây trắng và chim hót, thông reo, hoa nở để người đó có thể có cơ duyên được trị liệu và nuôi dưỡng. Đó là mình có thần thông, mình có thể làm được, mình đừng nên có mặc cảm.

4. Quán 觀 (mimamsa)

Quán là năng lượng giúp cho mình nhìn sâu và nghe thật sâu để hiểu. Khi có cái hiểu thì mình sẽ phá tung được mạng lưới của sự khổ đau, sự u mê. Ví dụ như mình quán về vô thường, vô ngã, về cái giận, về cái chết, về cái sống. Nhờ sự quán chiếu mà mình vượt thoát khỏi ý niệm có hay không, sống hay chết và mình có tự do, hạnh phúc.

Chúng ta không phải là thần linh hay Thượng đế nhưng ta có quyền năng trong tay của mình, ta có thể làm phép lạ. Ta có thần túc là dục như ý túc, tâm như ý túc, cần như ý túc và quán như ý túc. Và chúng ta phải thực tập, cũng như muốn chơi tennis hay chơi đánh bóng bàn thì chúng ta cũng phải tập.

Niệm, định, tuệ – ba yếu tố làm nên chất thánh

Chúng ta đã học về Bốn thần túc (the four psychic powers), và chúng ta biết rằng dù còn đang là phàm phu nhưng mình cũng làm được phép lạ.

Phàm phu là những con người chưa có chất thánh. Phàm phu tục tử là những người đời không có chất thánh. Nhưng theo đạo Bụt thì chất thánh được làm bằng chất phàm cũng như hoa sen được làm bằng bùn. Nếu biết cách chúng ta có thể sử dụng chất phàm để làm thành chất thánh.

Trong kinh có danh từ thánh đệ tử tức là những đệ tử có chất thánh. Ai biết tu chánh niệm, chánh định đều có chất thánh trong người, tại vì năng lượng niệm-định-tuệ là năng lượng của những bậc thánh. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm-định-tuệ, nếu biết tiếp xúc với hạt giống đó và làm chúng biểu hiện ra thành năng lượng thì ta có chất thánh trong con người của mình. Có chất thánh thì chúng ta có thể làm phép lạ, chúng ta không cần phải có mặc cảm. Đức giáo hoàng được gọi là “His Holiness“ tức là người ta nói Đức giáo hoàng có chất thánh. Chúng ta gọi Đức Đạt Lai Lạt Ma là “His Holiness“, có nghĩa là Đức Đạt Lai Lạt Ma có chất thánh.

Chúng ta cũng có chất thánh. Mỗi khi thở vào có chánh niệm là mình đã có chất thánh. Nếu sư cô, sư chú thở vào có chánh niệm thì sư cô, sư chú là “your Holiness“. Có chánh niệm, chánh định thì bước đi từng bước là địa hành thần thông. Nếu mỗi bước chân được soi sáng bởi chánh niệm và chánh định, ta sẽ thấy được những mầu nhiệm của đất trời và ta thấy đời sống thật là quí giá. Ta bước đi như một vị bồ tát, một vị Phật ngay trên trái đất này. Mỗi bước chân đó có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu và chuyển hóa. Chúng ta ai cũng có thể làm được chuyện đó. Ta có những cơ hội và những điều kiện để làm, nếu ta không làm thì rất uổng.

Luân lý học Phật giáo được căn cứ trên sự thực tập niệm, định và tuệ. Chúng ta, mỗi người đều có hạt giống của niệm, định và tuệ. Ta phải tin rằng chất thánh có trong ta, ta không cần phải mặc cảm.

Niệm 念  (smŗti) là trái tim của sự thực tập tại Làng Mai. Chúng ta biết cách đi như thế nào để chế tác năng lượng của niệm. Có năng lượng của niệm trong mình thì mình có chất thánh, mà có chất thánh thì mình bớt đau khổ ngay. Trong Cơ đốc giáo cho rằng khi có Chúa thánh thần (holy spirit) trong mình thì tự nhiên có sự nuôi dưỡng, trị liệu. Đó là năng lượng chánh niệm.

Trong niệm có năng lượng thứ hai là định. Khi ta chú tâm vào cái gì đó thì có sự tập trung tư tưởng. Sự tập trung tâm ý gọi là định 定 (samādhi). Định làm cho ta chỉ chú ý tới một hướng gọi là tâm nhất cảnh, tức là tâm ta chỉ chú vào một đối tượng. Khi có niệm và định thì ta có tuệ 慧  (prajña), nghĩa là ta có cái thấy. Cái thấy này làm thay đổi tất cả, giúp cho ta chuyển hóa rất mau.

Niệm, định và tuệ thường đi với nhau. Có được niệm thì có cơ hội có được tuệ. Có khi cả ba niệm, định và tuệ tới như một chớp nhoáng. Ví dụ như ta bước một bước có chánh niệm, ta chú tâm vào bước chân thì tự nhiên ta có mặt bây giờ và ở đây và ta tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ đang có mặt. Ta biết ta đang còn sống, ta đang có mặt. Ta là một thực thể mầu nhiệm và thế giới chung quanh ta như cây cỏ, suối đồi cũng là một thực thể mầu nhiệm. Tại sao ta lại muốn tìm hạnh phúc ở một nơi khác trong tương lai? Cái thấy đó tới ngay và làm cho ta hạnh phúc liền lập tức. Đó là tuệ, là giác ngộ, tuy chưa phải là sự giác ngộ hoàn toàn nhưng đó đã là giác ngộ. Giác ngộ lớn hay đại giác (maha-boddhi) được làm bằng những giác ngộ nhỏ hay tiểu giác (hina-boddhi), mà giác ngộ nhỏ được làm bằng hơi thở, bằng bước chân. Không có tiểu giác thì làm sao có đại giác?

Đạo đức học Phật giáo là làm sao cho bớt khổ, có được niềm vui, căn cứ trên niệm, định và tuệ mà không hẳn căn cứ trên niềm tin về luân hồi, nghiệp và quả báo. Những ý niệm về luân hồi, nghiệp và quá báo đã có sẵn trước khi Phật giáo ra đời. Bụt cũng chấp nhận những ý niệm đó nhưng Ngài không để nguyên mà đã sửa nó lại rất hay. Ý niệm về luân hồi, nghiệp và quả báo của Áo Nghĩa Thư và Phạm Thư trở thành một dụng cụ rất hay ở trong tay của Bụt. Niệm, định và tuệ mới là yếu tố đặc biệt của Phật pháp, nó có thể mở ra tất cả các cánh cửa của hạnh phúc và chuyển hóa được tất cả khổ đau của con người. Niệm-định-tuệ có công năng giải phóng con người, kéo con người ra khỏi ngục tù của khổ đau.

 

Khoá tu 21 ngày 2018 “Tri kỷ của Bụt”

Đã trở thành truyền thống, mỗi hai năm một lần tại Làng Mai Pháp thường diễn ra khóa tu 21 ngày vào tháng 6. Khóa tu được đại chúng Làng Mai trông chờ và chào đón với rất nhiều niềm vui, vì tăng thân tứ chúng được ở chung với nhau trong 21 ngày, có cơ hội đi sâu vào sự học hỏi và thực tập, rất khác với những khóa tu 7 ngày.

Khóa tu 21 ngày là một biểu hiện của tình thương mà Thầy dành cho các đệ tử của mình. Thầy biết rằng nhiều người rất khó tham dự được cả ba tháng của khóa An cư kiết đông, vậy nên Thầy đã tạo ra khóa tu 21 ngày để cho những ai tham dự khóa tu này cũng được lợi lạc khi thực tập miên mật cùng tăng thân trong một khoảng thời gian dài không gián đoạn. Chúng ta còn nhớ Thầy đã kể lại câu chuyện trong kinh Quán niệm hơi thở (Anapanasati sutta), khi Bụt quyết định kéo dài mùa an cư năm ấy thêm một tháng, bởi Bụt thấy được những thành quả tu học của quý thầy khi được tu tập miên mật chung với nhau.

Sau đây là một vài hình ảnh của khoá tu:

Lễ xuất gia cây Ngọc Lan (Magnolia Tree) ngày 20.05.2018

Sáng ngày 20.05.2018, với sự chứng minh của Sư Ông, Thầy Thủ Tọa và tứ chúng hơn 400 người tham dự, Tăng thân Làng Mai Thái Lan đã có lễ xuất gia cho 19 sư em trong gia đình xuất gia cây Ngọc Lan. Các sư em ra đời trong vòng tay thương yêu của tăng thân với những cái tên thật dễ thương:

Chân Trời Nguồn Sáng, Chân Trăng Rừng Tùng, Chân Trăng Rừng Xanh, Chân Trăng Thanh Thanh, Chân Trăng Mây Lành, Chân Trăng Thanh Nhã, Chân Trăng Hương Lành, Chân Trăng Thanh Minh,  Chân Trời Gió Xuân, Chân Trăng Tường Thanh, Chân Trăng Hà Thanh, Chân Trăng Sao Mai, Chân Trăng Ý Trong, Chân Trăng Nam Giao, Chân Trăng Vô Vi, Chân Trăng Biển Mây, Chân Trăng Diệu Trạm, Chân Trăng Ngàn Hoa, Chân Trăng Giếng Ngọc.

Lễ xuất gia còn nhận được sự yểm trợ và sách tấn từ Chư tôn đức, quý thầy quý sư cô từ Việt Nam sang tham dự.

Mời đại chúng xem qua những hình của lễ xuất gia.

Tu viện Bích Nham – Mười năm nhìn lại

Đi Tìm Đất Mới

Mới đó mà tu viện Bích Nham đã được thành lập 10 năm rồi. Nhớ ngày nào, quý thầy, quý sư cô đi tìm được “đất mới” trong vùng Catskill, New York.  Tôi cũng nằm trong nhóm các thầy, các sư cô đi tìm đất mới…

Trước đó, đại chúng đang còn ở Vermont: Đạo tràng Thanh Sơn dành cho quý sư cô và tu viện Rừng Phong dành cho quý thầy. Mỗi năm, hai tu viện đều tụ họp ở tu viện Rừng Phong để cùng tổ chức khóa tu mùa Hè (Summer Retreat). Vào năm 1997, ông triệu phú Pritam S. đã tặng Sư Ông và quý thầy một trong những ngôi nhà tọa lạc trên vùng đất của ông để làm tu viện Rừng Phong.

Khi khóa tu mùa Hè sắp bắt đầu thì chúng tôi hay tin ông Pritam bị mấy nhà hàng xóm khiếu nại lên tỉnh trưởng là mở khóa tu công cộng trên đất tư nhân, như thế là bất hợp pháp. Và vì thế khóa tu không thể tiến hành được tại Thanh Sơn. Vì thời gian gấp rút, chúng tôi đành phải đặt chỗ ngay ở trường đại học Stonehill ở tiểu bang Massachusetts. Kết quả là sau khóa tu chúng tôi bị hụt gần $20,000. Cũng may là có một số các vị thiền sinh hảo tâm đóng góp thêm để bớt một phần thiếu hụt cho tu viện.

Sau khi khóa tu mùa Hè chấm dứt, chúng tôi, các thầy và các sư cô từ tu viện Rừng Phong và Đạo tràng Thanh Sơn lên đường tìm chỗ cho tu viện tương lai. Chúng tôi đi xem nhiều nơi, trong đó có một số trung tâm, khách sạn và nhà nghỉ mát. Có nơi thì tiện nghi đầy đủ, phòng ăn có thể chứa cả 500-1000 người và nhà bếp rất khang trang, đủ chỗ ở, nhưng giá tiền khá cao nên cũng không thích hợp lắm. Có nơi thì rẻ hơn, nhưng nhà cửa hầu như đều xuống cấp, và gần phi trường cá nhân, nên cũng hơi ồn ào, về lâu dài sẽ rất tốn kém…

Tới chiều, khi chúng tôi cũng đã khá mệt mỏi sau khi xem vài nơi thì tình cờ lái xe qua khách sạn Jeronimo trong thành phố Pine Bush, New York. Nơi này có những rừng cây thật xanh tươi, và quang cảnh cũng thanh bình. Ai cũng trầm trồ: “Sao ở đây thấy quen thuộc và giống y một tu viện quá!” Anh chị em chúng tôi, các thầy Pháp Duyệt, Pháp Tâm, sư cô Thiều Nghiêm, tôi và vài sư cô nữa tấp xe vào, thăm hỏi người chủ. Lúc đó có ông chủ (dòng họ Jeronimo) và cô con gái của ông ra tiếp. Chúng tôi hỏi thăm thì mới biết quanh năm Jeronimo Hotel này đã từng nhận những cộng đồng tôn giáo khác nhau về sinh hoạt.

Cô con gái ông chủ đã từng tham dự khóa tu của Làng Mai và đọc sách của Sư Ông. Cô rất mừng khi biết chúng tôi có ý muốn mua đất của khách sạn để thành lập tu viện, nên cô tình nguyện dẫn chúng tôi đi tham quan. Cô đưa chúng tôi đi xem các phòng ăn, phòng họp, phòng giặt, phòng ở và cảnh trí xung quanh. Nhìn cách bố trí các phòng ốc, chúng tôi đùa nhau về những dự tính sẽ làm thiền đường chỗ này, văn phòng ghi danh chỗ kia, hay phòng sinh hoạt, tăng xá cho quý thầy, ni xá cho quý sư cô, và phòng ở cho thiền sinh, v.v.

Gia đình ông Jeronimo cho biết là nước dùng ở phía bên khách sạn là nước giếng, rất trong, rất sạch và khách sạn cũng gần trạm xe lửa, xe buýt cho khách tới từ New York, New Jersey và các thành phố, tiểu bang lân cận. Chúng tôi nghe vậy rất mừng, vì biết địa điểm này là trung tâm, sẽ thuận tiện cho thiền sinh lui tới hơn là ở Vermont. Rồi cô con gái ông chủ dẫn chúng tôi tham quan khu rừng cây phía sau. Chúng tôi thấy rừng cây xanh rất đẹp, có bờ hồ và dòng suối uốn khúc thật thiền vị. Chúng tôi ngồi xuống đất, đem bánh mì ra ăn, và ngồi bên hồ thưởng thức dòng suối mát lung linh dưới nắng chiều… Tôi thấy lòng mình lâng lâng niềm vui và nhẹ nhõm.

Khi ra về, chúng tôi ngỏ ý với ông chủ và cô con gái là muốn mua đất này. Ông nói cũng đã có vài người đặt trước rồi, nhưng nếu chúng tôi đồng ý mua luôn lô đất đối diện có sẵn khu biệt thự của ông thì ông có thể dành ưu tiên cho chúng tôi. Sẵn rất kính quý Sư Ông, cô con gái cứ nài nỉ ba cô nên bán khách sạn này cho chúng tôi. Ông chủ tỏ ra hoan hỉ. Sau khi thương lượng giá cả, chúng tôi ra về, lòng rất hân hoan vui sướng vì biết mình đã chọn được một nơi lý tưởng cho tu viện tương lai ở vùng đất Pine Bush, New York này. Đó chính là tu viện Bích Nham.

Chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ đầu tiên ở Bích Nham.

Sau khi chúng tôi dọn đến tu viện Bích Nham vài tháng thì đại chúng bắt đầu chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ. Đây là chuyến hoằng pháp đầu tiên xảy ra tại Bích Nham vào tháng 10 năm 2007. Lúc đó thiền đường Đại Đồng chưa được xây dựng, ban tổ chức chuyến đi phải mướn một cái lều trắng thật lớn che phủ bốn bên và một vài máy thổi “lửa” làm lò sưởi tạm thời. Buổi sáng vào “thiền đường – lều” ngồi thiền rất lạnh, ai cũng phải trùm áo thật dày, có người phải trùm thêm mền mới đủ ấm. Trước khi Sư Ông cho pháp thoại, các thầy các sư cô đứng trên cỏ nhựa (plastic grass carpet) lót xung quanh “bục giảng” của Sư Ông, vốn là một tảng đá trắng – để niệm danh hiệu Bồ tát Quán Thế Âm. Tảng đá ấy vẫn còn được giữ lại để kỷ niệm, hiện giờ đang được dựng tại đầu đường dẫn đến thiền đường Đại Đồng.

Năm ấy, khóa tu tiếng Anh được tổ chức khi thời tiết thật lạnh. Có những hôm trời mưa gió tới tấp, làm mấy cái cột lều bật lên, có khoảng bốn năm thầy phải ôm ghì lấy mấy cái cột từ bốn phía để giữ cái lều xuống, nhìn thấy rất thương nhưng cũng rất buồn cười!

Trong khóa tu có hơn 800 người, vì vậy chúng tôi phải mướn thêm mấy cái lều trắng lớn làm nhà ăn. Nhà bếp của tu viện thì quá nhỏ, không đủ khả năng nấu cho số lượng lớn như vậy, nên chúng tôi phải đặt thức ăn (cater food) từ nhà hàng Tàu gần tu viện. Chúng tôi chỉ nấu cơm và luộc rau, còn nhà hàng mỗi ngày cung cấp hai món đồ xào và đồ kho để sẵn trong các khay lớn. Cứ tưởng tượng, ngày nào cũng chỉ ăn y chang hai món đồ xào và đồ kho, sau hai ba ngày là ai cũng “ngán ngẩm”… Bây giờ trong các khóa tu ngày nào cũng được đổi món, khi thì bún Huế, khi thì phở, khi thì hủ tiếu, bò kho chay, các món Tây phương và chè đủ loại, chúng ta thật là hạnh phúc và may mắn hơn hồi đó nhiều, có phải không? Mới vài tháng trước, trong khóa tu dành cho người Việt của chuyến hoằng pháp 2017, quý thầy quý sư cô đã đãi phở nóng và 10 loại chè khác nhau để ăn mừng tu viện Bích Nham mười tuổi đó, các bạn nhớ không?

Trở lại năm 2007, thời gian đầu tiên tu viện Bích Nham mới thành lập, bên quý thầy chưa có nhà ăn riêng nên quý thầy phải tìm cách nối thêm vào căn nhà “villa” để làm nhà ăn. Vì vậy, quý thầy phải làm sạch cây cỏ, và đành phải đốn một cây thông để xây nhà ăn mới. Quý thầy xóm Tùng Xanh tổ chức một buổi lễ tụng kinh cầu an và tẩy tịnh cho cái cây sắp bị đốn. Bánh trái, hương hoa quả phẩm được bày ra, và đại chúng hai xóm tụng kinh cầu nguyện. Sau buổi lễ, thầy Pháp Không nói: “Trong đại chúng nếu ai muốn thì có thể tới thiền ôm với cây này”. Một số vị đã thực tập thiền ôm cây.

Theo luật địa phương, vùng núi Catskill này là khu bảo tồn quốc gia, họ muốn bảo vệ cho cây rừng và thiên nhiên nên không cho phép ai đốn cây bừa bãi. Nếu người nào cần phải đốn cây thì phải lập tức trồng một cây khác thế vào. May mắn là ở Bích Nham có thầy Pháp Khôi làm tri vườn rất giỏi. Thầy đã trồng thêm rất nhiều cây cảnh và cây ăn trái trên đất của tu viện trong vòng mấy năm nay.

Vào năm đầu, quý sư cô cùng dọn dẹp dãy nhà Nguyệt Hồ làm ni xá tạm thời. Sau một thời gian, dãy nhà này trở nên quá sập xệ, xuống cấp nên chị em chúng tôi dọn qua dãy nhà Ngân Hà (Constellation). Vào những năm đầu, Sư Ông đã đặt tên cho mỗi dãy nhà, như nhà ăn là Đại Hòa, thiền đường là Đại Đồng, các dãy nhà cho khách cũng có nhiều tên thật đẹp như Phượng Vĩ, Mây Hồng, Sen Vàng, Nắng Thủy Tinh, v.v. Và Sư Ông cũng đặt tên xóm quý thầy là xóm Tùng Xanh, và xóm quý sư cô là Hạc Trắng. Sư Ông còn làm cho hai câu đối treo ở thiền đường Đại Đồng:

“Nước Bích lắng trong ngàn sông có nước ngàn sông trăng hiện
Non Nham tú lệ mỗi lần nhìn lại mỗi lần mới tinh”

Trong 10 năm tu học ở tu viện Bích Nham, chúng tôi thường áp dụng hai câu này của Sư Ông làm phương châm sống cho mình. Những lúc trong lòng có những lăng xăng, những cảm thọ đi lên, chúng tôi đều tìm cách ngồi xuống tịnh tâm, với đại chúng hoặc đôi khi ngồi một mình bên dòng suối. Có những đêm trời trăng rất đẹp, nhất là vào Trung Thu, anh chị em chúng tôi tổ chức ngắm trăng ngoài sân nơi cốc Sư Ông, cùng uống trà, ăn bánh, thiền ca với nhau thật hạnh phúc. Và ở lâu trong tu viện thì cũng không tránh được những tâm hành buồn chán thỉnh thoảng biểu hiện, chúng tôi cũng tập quán chiếu, buông bỏ và thay đổi cái nhìn để “mỗi lần nhìn lại, mỗi lần mới tinh”.

Chúng tôi cũng có cơ hội thực tập thương yêu và chấp nhận nhau (vì đại chúng gồm nhiều vị đến từ nhiều truyền thống và quốc gia khác nhau: Mỹ, Úc, Việt Nam, Pháp, v.v.), tập thích nghi khí hậu, tập buông bỏ những tư kiến, tập xây dựng tình huynh đệ qua sự tu học, trong khi làm việc và uống trà chung với nhau. Chúng tôi cũng tập xây dựng bốn chúng bằng cách mở những ngày quán niệm cuối tuần cho các Phật tử và thiền sinh đến từ nhiều tôn giáo khác nhau. Ngoài ra mỗi năm chúng tôi còn mở nhiều khóa tu “theo nhu cầu” cho các luật sư, các giới văn nghệ sĩ, các nhà nội trợ, các vị giáo sư, các em sinh viên đại học, các bậc phụ huynh và các cháu, và khóa tu theo ngôn ngữ cho người Việt, người Mỹ, v.v.

Nhưng điều quan trọng hơn hết vẫn là sự trở về với hải đảo tự thân, ý thức được những tập khí, khổ đau và hạnh phúc trong thân tâm và học chăm sóc cho chính mình. Sư Ông dạy, ngoài đời họ khổ nhiều rồi, mình đừng làm cho mình khổ thêm nữa, hãy giúp người vơi nỗi khổ và vun bồi hạnh phúc trong thân tâm. Chúng ta ai cũng có nhiệm vụ chế tác bình an, hạnh phúc và tuệ giác trong tự thân. Chăm sóc  tự thân cho tốt cũng là chăm sóc cho tăng thân, và nếu ta thực tập giỏi hơn thì có thể tập chăm sóc cho tăng thân như chăm sóc cho chính mình.

Mới đó mà tu viện Bích Nham đã hơn 10 năm thành lập. Lòng chúng con tràn ngập sự biết ơn đối với quý thầy, quý sư cô, quý vị cư sĩ đã từng và đang tiếp tục yểm trợ cho tu viện Bích Nham. Tu viện Bích Nham có được đến ngày hôm nay cũng nhờ rất nhiều bàn tay của quý thầy, quý sư cô và quý vị cư sĩ từ khắp nơi về hỗ trợ, đóng góp và xây dựng. Chúng con xin tri ơn tất cả những ai đã đóng góp tài vật, công sức, và sự tu tập cho tu viện Bích Nham càng ngày càng vững chãi hơn, an lạc hơn, và đẹp hơn trong những năm qua, và mong rằng chúng ta sẽ tiếp tục công trình xây dựng tăng thân, xây dựng ngôi nhà tâm linh cho tứ chúng về tu học trong nhiều năm tới. Chúng con xin kính tặng Sư Ông và đại chúng bài Tri Ân này như lời cảm tạ:

Tri Ân

Cúi đầu lạy tạ ơn người
Từ bi che chở, hộ trì cho con
Tâm bồ đề nguyện giữ bền
Tu hành tinh tấn đáp đền ơn sâu.
Vun bồi hạnh phúc dài lâu
Cùng tăng thân bước lên đồi thảnh thơi
Duy trì hơi thở nụ cười
Đường về quê cũ sáng ngời niềm tin.

Chân Giới Nghiêm

Hoa trái ngọt đường về

Chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ

Năm 2017, Bích Nham được 10 tuổi. Từ đầu năm, thầy Pháp Khôi đã hỏi tôi: “Sư chị Hoa Nghiêm ơi, làm sao mình tổ chức ăn mừng sinh nhật 10 năm của Bích Nham cho thật vui hả chị?” Chúng tôi đồng ý với nhau là cứ mỗi khóa tu đều sẽ ăn mừng sinh nhật 10 năm Bích Nham. Đầu tiên là khoá tu dành cho Tiếp hiện vùng Đông Bắc Mỹ vào tháng Tư. Tiếp theo là trong ngày lễ Phật đản, số người tham dự hôm đó lên đến cả ngàn người. Sau buổi pháp thoại, trong lúc tôi đang giới thiệu về lễ mừng sinh nhật, thì gần năm mươi em thiếu nhi đi lên với cái bánh sinh nhật, hôm đó thật là vui! Lễ sinh nhật Bích Nham tiếp tục được diễn ra trong các khóa tu mùa Hè, khóa tu tiếng Anh và tiếng Việt trong chuyến hoằng pháp. Thế là chúng tôi được ăn bánh sinh nhật “đã đời luôn”!

Trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ năm 2017, Bích Nham có số lượng người tham dự khóa tu đông nhất. Người Mỹ đang trong tình trạng hoang mang và sợ hãi cho tương lai đất nước của họ. Mục đích của khóa tu là giúp người Mỹ đến được với nhau và trở về với nguồn gốc tổ tiên của mình. Những bài pháp thoại có công năng đem lại sự bình an và chuyển hóa những khổ đau tự thân. Thế giới hôm nay có nhiều khủng hoảng. Những cuộc xung đột giữa các nước Trung Đông, cuộc chiến tranh Hồi giáo và khủng bố đã tạo ra không biết bao nhiêu là chết chóc. Con người sống trong sự lo sợ rất nhiều, chưa nói đến thiên tai và bão lụt. Vì thế chúng tôi đã tổ chức một buổi lễ cầu nguyện cho hòa bình trên thế giới. Cầu nguyện cho những người đã chết vì những nguyên nhân nêu trên. Có cầu thì có ứng, năng lực cầu nguyện của đại chúng sẽ cảm ứng đến những người đang bị rơi vào vòng chiến tranh, thiên tai và lũ lụt.

Khóa tu cho người Việt có trên hai trăm người tham dự, gồm các tăng thân Toronto, Florida, North Carolina, New York, New Jersey và các vùng lân cận. Về tu viện, đồng bào người Việt được nuôi dưỡng bởi năng lượng tươi mát của quý thầy, quý sư cô. Đây cũng là cơ hội cho người Việt Nam được gặp nhau, xây dựng tình đồng hương, cùng thở không khí trong lành và năng lượng bình an của núi rừng Bích Nham. Khóa tu chỉ có năm ngày mà ban tổ chức đã thực hiện được hai buổi lễ lớn là Bông hồng cài áo và Trung thu.

Sau chặng Bích Nham, phái đoàn Làng Mai tiếp tục tổ chức khóa tu tại tu viện Lộc Uyển. Riêng tôi, đây là cơ hội được gặp lại những huynh đệ ngày xưa. Chúng Làng Mai được thuyên chuyển khắp nơi và chúng tôi không bị kẹt vào một trú xứ nào, trú xứ nào cũng là quê hương. Tuy rằng chúng tôi cách xa nhau về địa lý, nhưng vì chung một lý tưởng, chung một pháp môn nên chúng tôi cảm thấy như mình chưa từng xa cách. Thật hạnh phúc khi thấy các sư già vẫn còn đó! Tôi tận hưởng thời gian bên các vị, vì cuộc đời vô thường, mình đâu biết được ngày mai? Thời gian ấy tôi cũng có dịp thăm lại các thân hữu của Lộc Uyển năm xưa. Có vị tóc đã hai màu rồi, có vị bận rộn vì đã có cháu nội, cháu ngoại. Chúng tôi được chú Ngọc chở đi thăm chú Thọ trong bệnh viện. Gặp chúng tôi, chú mừng rỡ nắm chặt tay chúng tôi. Chú cảm động khi biết tin Thầy đang dần phục hồi sức khoẻ. Nhớ năm nào chú là chủ biên của tờ báo Đất Lành, luôn kêu gọi chúng tôi viết bài cho báo. Sư em Đẳng Nghiêm cầm tay chú và nói: “Chú nhớ thường xuyên trở về với hơi thở nha chú!” Đã bao nhiêu năm qua, lòng trung kiên của chú dành cho Thầy và tăng thân Làng Mai không bao giờ suy giảm. Chúng tôi nắm tay chú và nói rằng: “Thầy và tăng thân Làng Mai luôn có mặt đó cho chú”. Chú cảm động rơi nước mắt.

Ngồi trên đỉnh núi vào đêm trăng sáng, những ngọn đèn đêm lấp lánh của thành phố Escondido như những ngôi sao dưới trần gian. Lộc Uyển là chốn đi về cho những người thành phố, khi cuộc sống tràn đầy những lo âu và bế tắc, chỉ cần lên núi ngắm trăng sao và thở không khí trong lành thì những lo âu, muộn phiền sẽ lắng xuống. Ngồi bên tôi là sư chị Trung Chính và các sư em. Tôi trân quý giây phút này biết bao. Đi đâu và ở bất cứ trung tâm nào của Làng, tôi cũng thấy người thương mình ở đó. Nơi nào tôi cũng thấy tình huynh đệ luôn chan hòa và đầy ắp. Thầy Pháp Dung và một nhóm quý thầy, quý sư cô trẻ đã cùng nhau khắc chữ “Breathe and Remember” (Thở và hãy nhớ) lên một hòn đá nằm trên đường lên núi theo nét chữ của Thầy. Mong rằng những ai đến Lộc Uyển, khi lên núi sẽ thấy lời nhắc nhở của Thầy luôn còn đó.

Sau chuyến hoằng pháp tại Lộc Uyển, chúng tôi đến tu viện Mộc Lan. Tu viện Mộc Lan “đến sau mà về trước”, chúng tôi thường đùa với nhau như vậy. Mộc Lan có mặt sau Bích Nham và Lộc Uyển, nhưng hiện nay cơ ngơi của Mộc Lan đã đầy đủ. Ni xá, thiền đường, phòng ăn, và bây giờ tăng xá cũng sắp hoàn tất. Phải nói rằng, sự hòa hợp giữa tu sĩ và cư sĩ ở tu viện Mộc Lan như “nước với sữa”.

Mỗi chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ đều có khóa tu dành cho xuất sĩ. Khóa tu xuất sĩ năm nay có chủ đề về sự tiếp nối của Thầy trong hướng đi tới của tăng thân Làng Mai. Chủ đề thật hấp dẫn! Ban tổ chức khóa tu gồm những vị đại diện cho các trung tâm của Làng Mai tại Pháp và Mỹ. Chúng tôi, hơn một trăm xuất sĩ, đã có thời gian ngồi với nhau, đã lắng nghe nhau, lắng nghe những niềm đau cũng như hạnh phúc. Có những bức xúc xảy ra do tri giác sai lầm và sự thiếu truyền thông giữa đôi bên. Ngồi yên lắng nghe, tôi không trách các sư anh, sư chị, vì tôi cũng là sư chị. Tôi không trách các sư em vì tôi cũng là sư em. Tôi biết rằng sự tu tập của chúng tôi vẫn còn yếu kém. Ái ngữ và lắng nghe là điều mà chúng tôi cần thực tập thêm cho sâu sắc. Chúng tôi đang trên con đường thực tập, đang trên đường chuyển hóa thì làm sao không có những lúc gây khổ đau cho nhau. Quan trọng là mình biết sửa đổi, tha thứ những lỗi lầm và chấp nhận nhau, như vậy mới gọi là xây dựng tình huynh đệ.

Mùa thu vẫn còn đó

Sau hai tháng trời ròng rã trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ, chúng tôi trở về Bích Nham. Được chú Lân đón tại phi trường với thùng bánh mì chả lụa chay, chúng tôi rất hạnh phúc. Ngồi trên xe nhìn hai bên đường, lá vẫn còn vàng, chưa rụng. Tôi cứ ngỡ rằng khi về thì lá đã rụng hết rồi. Mùa thu đã đợi chúng tôi trở về chăng? Hạnh phúc vô cùng khi trở về căn phòng cũ. Thương làm sao không gian yên ắng! Ngồi yên bên cửa sổ nhìn ra ngoài, những chiếc lá phong đang đong đưa theo gió như chào đón tôi về. Mỉm cười với những chiếc lá, với cây phong tôi thấy lòng thật bình yên. Tôi đi thăm lại suối rừng Bích Nham, thăm lại con đường thiền hành quen thuộc, và gặp lại đàn nai rừng thân yêu. Thương vô cùng đàn nai rừng chỉ còn lại mấy con. Năm ngoái, con nai mẹ ba chân đã bị bắn. Khi nghe tin đó, tôi buồn lắm. Vì ngày mới đến, tôi đã gặp nai mẹ ba chân với cặp mắt to thật hiền lành và đàn nai bảy, tám con bao quanh. Mỗi lần đi ngang ni xá, nai mẹ hay dừng chân và nhìn về phía chúng tôi. Từ khi nai mẹ bị bắn đến nay, hầu như tôi không thấy đàn nai rừng nữa. Cầu nguyện sao cho mấy chú thợ săn không bắn trúng một con nai nào. Tôi yêu mùa thu vì nó đẹp, nhưng đàn nai rừng thì có nhiều sợ hãi, bởi vì mùa thu ở đây cũng là mùa săn bắn. Mình đâu biết rằng hạnh phúc của mình có thể là khổ đau của loài khác.

Đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ

Khi cái lạnh buốt bắt đầu xuất hiện thì mùa An cư đã đến. Sáng nay chúng tôi sẽ làm lễ Đối thú an cư. “Chú voi con” đi bên tôi, tay cầm y và miệng cứ lặp đi lặp lại câu nói mà em sẽ phải thưa khi ra đối thú: “Con là sa di ni Chân Trăng…”, “Con là sa di ni Chân…” Là người Việt lớn lên ở Mỹ, từ nhỏ em đã được giáo dục và sống theo văn hóa Mỹ cho đến khi trưởng thành và đi làm, nên em không quen nói tiếng Việt trước đám đông. Năm ngoái, em đã cắn nhằm lưỡi khi đọc tên của mình. Năm nay em sợ bị như vậy nên phải thực tập trước. Có bao nhiêu người trẻ lớn lên và biết chọn cho mình một đời sống có hạnh phúc trong hiện tại và tương lai! Em đã chọn cho mình một hướng đi giúp mình và giúp người chuyển hoá những khổ đau. Em phải có nhiều nghị lực để dứt bỏ những thói quen trong đời sống thường nhật khi còn là một cư sĩ, và tập “làm ngơ” với những thú vui chơi và những thức ăn ngon đầy cám dỗ.

Có những người trẻ từ Việt Nam qua du học ở New York. Khi đến Bích Nham, các em như trở về quê hương của mình. Có những em bị căng thẳng vì cuộc sống. Có em bị rơi vào đường ma túy, nhờ có sự giúp đỡ của quý thầy, quý sư cô, em đã làm lại cuộc đời. “Chuông chùa làng xa chiều lại vang… Bếp ai lên khói ấm tình thương… bát cơm rau thắm mối tình quê…” Tiếng hát vang lên từ phòng ăn. Một nhóm quý thầy, quý sư cô cùng các em sinh viên Việt Nam từ New York xuống, đang ngồi quây quần bên nhau và hát những bài hát của quê hương. Lâu lắm rồi tôi mới tiếp xúc lại không khí của những người trẻ Việt Nam ở hải ngoại với những bản nhạc “bolero” Việt Nam. Tôi thầm cám ơn quý thầy, quý sư cô đã có mặt cho các em.

Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương

Trong khóa tu ở tu viện Mộc Lan, chúng tôi đã làm lễ xuất gia cho hai em Chân Trăng Quang Sơn và Chân Trăng Kim Sơn. Đã từ lâu, Thầy muốn tu viện Bích Nham sẽ là nơi thuận tiện để phát triển đạo Bụt ở Mỹ. Trong những năm qua, tôi thấy người Mỹ bắt đầu biết đến Bích Nham nhiều hơn. Có nhiều người trẻ lớn lên ở nước Mỹ muốn trở thành những vị xuất sĩ để phụng sự cho xã hội. Tuy có hai mươi ba sư cô, mà chúng tôi thuộc về sáu quốc gia rồi. Là một sư chị lớn tại đây, tôi phải thực tập thương các sư em cho đồng đều. Với những người dễ thương mà mình thương được thì dễ rồi, nhưng với người chưa dễ thương mà thương được mới là khó. Không phải đi tu rồi là trở nên bậc thánh nhân. Những tập khí mình huân tập từ nhỏ bởi gia đình và xã hội cũng đủ tạo những phiền phức cho nhau trong cuộc sống chung hàng ngày. Nếu lên non cao và chỉ tu có một mình thôi thì chắc chắn là mình không làm ai buồn và dĩ nhiên cũng không ai làm mình giận. Nhưng gốc rễ của phiền não thì còn y nguyên vì đâu có ai chạm đến. Sống trong tăng thân là một môi trường rất tốt để thấy rõ những thói quen đẹp hay xấu của mình, để mình có cơ hội nhìn lại và chuyển hóa những cái chưa hay, chưa đẹp. Tôi thấy rõ một điều: ban đầu, ai cũng lên xuống vì những phiền não do mình tạo ra. Nhưng tu một thời gian rồi ai cũng trở nên đằm thắm. Chỉ cần mình kiên nhẫn lúc ban đầu. Thầy đã từ bi và kiên nhẫn với những tập khí của mỗi chúng tôi. Tôi cũng đang đi theo bước chân của Thầy, kiên nhẫn trong tình thương với các sư em của mình.

Mấy ngày qua tuyết rơi nhiều, vùng Đông Bắc Mỹ đang có nhiều trận bão tuyết. Sáng nay mở cửa ra ngoài, trước mặt tôi là một biển tuyết mêng mông. Chỉ có một đêm thôi mà lớp tuyết đã dày lên trên hai tấc, và tuyết vẫn đang tiếp tục rơi. Tuyết rơi rất đẹp, như những bông hoa trắng được cõi trời rải xuống trần gian. Nhưng khi có bão tuyết thì tuyết như muốn lấp đầy cả trần gian làm cho mình sợ hãi. Con người mình cũng thế. Khi hiền thì ai trông cũng rất đẹp, rất dễ thương. Nhưng khi cơn giận nổi lên rồi thì mọi người hơi ngại tới gần. Tôi bước thật chậm. Lướt qua tôi là những bước chân thoăn thoắt của những sư cô trẻ, một sư em ngoái lại vẫy tay nhìn tôi cười. Dưới chân tôi là lớp tuyết mịn giống như đường, nhưng cũng giống như muối. Thực sự, dưới chân mình là tuyết chứ không phải là muối hay đường. Cuộc đời thật ra là ngọt ngào, hay đắng cay đều do ý niệm mình mang lại. Hãy thực tập chấp nhận những gì đang xảy ra cho mình với thái độ bình tĩnh. Hiện tại tôi đang bước từng bước chân trên lớp tuyết dày và thấy rằng đây là tuyết chứ không phải là “đường” hay “muối” gì cả. Nghĩ như thế, tôi thấy mình nên thực tập tâm không ưa thích cũng không ghét bỏ.

Sáng hôm nay trời nắng đẹp, mùa xuân sắp về và mùa An cư cũng sắp hoàn mãn. Chúng tôi thêm một tuổi đời và một tuổi đạo. Thêm một tuổi đời thì thấy mình đã gần kề bên cửa tử. Còn thêm một tuổi đạo thì mình đã về và đã tới hay chưa?

Chân Hoa Nghiêm

Cây tuệ Vườn Ươm

Muốn hiểu thương
Có Vườn Ươm
Bên Thầy bạn
Mỉm cười luôn
Sống miên mật
Cả ngày đêm
Nhàn hơi thở
Nhẹ bước chân
Mọi tiếp xúc
Niệm đơn thuần
Tăng phúc lạc
Lắng ưu phiền
Ân đất Mẹ
Lòng tăng thân
Chăm cây tuệ
Nẩy mầm xinh
Cùng vạn loại
Thông suối nguồn
Thắm nước Việt
Tươi hành tinh
Thơm hoa bưởi
Ngọt lời chim
Vỗ về trẻ
Hòa trăng thanh
Mát dịu cả
Ruột tre xanh
Lắng trong nước
Con sông hiền
Nuôi đồng lúa
Lành sạch thêm
Chảy dài đến
Tưới mọi miền
Khơi sự sống
Đượm nhân tình
Vừa khám phá
Chiều tâm linh
Niềm tin lớn
Nhờ đệ huynh
Đã thành một
Dòng sông thơm
Cầm giới luật
Trì pháp môn
Vui buồn tới
Được sẻ chia
Điều thầm kín
Được lắng nghe
Được sám hối
Những lỗi lầm
Đức như biển
Nơi(1) tăng thân
Nâng mọi giới
Thấy tự tâm
Thấy mình hiểu
Thấy mình thương
Thấy mình đã
Có con đường
Thấy mình đã
Con muôn phương
Nay biểu hiện
Cây Giáng Hương
Con Hồng Lạc
Cháu Thái Lan
May mắn nữa
Tay trong tay
Bao huynh đệ
Cây Trà Thơm
Bao huynh đệ
Chọn năm năm
Bao huynh đệ
Chọn gieo duyên
Bao huynh đệ
Hạt mầm lên
Bao huynh đệ
Khéo tán dương
Đều con Bụt
Con nhân duyên
Là con cháu
Sống hiểu thương
Thủy chung với
Nếp tổ tiên
Quá hiện vị
Suốt tam thiên
Tinh khôi nào đó
Đầy đủ nhân duyên(2)
Sao Mai bừng sáng
Lướt sóng tử sinh
Giữa rừng dâu bể
Tươi thắm hồng liên
Quê hương muôn thuở
Là chốn này đây
Đơn thuần nhận diện

Lồng lộng trời mây.

Ôn Thủ Toạ Làng Mai Thái Lan
Huế, ngày 10.12.2017