Vị “anh hùng ẩn danh” đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

 

Jo Confino

(Đăng trên The Huffington Post ngày 22.01.2016)

Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.

Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua bởi 196 quốc gia.

Bà Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh.)

Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.

“Tôi cần có một cái gì đó ngay trong tầm tay để nương vào, nếu không thì tôi chẳng thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy” – Bà Figueres chia sẻ với phóng viên của The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sĩ.

Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?

Bà Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbröl, Đức. Nơi đây từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân và biến nơi này thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).

Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.

“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim dành cho một bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”– bà Figueres chia sẻ tiếp.

“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”

Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.

Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay tăng thân đã tới, tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin hộ trì cho tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbröl mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”

Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.

Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy – vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.

Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Thung lũng Silicon và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, Giám đốc Điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.

Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do đề cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/thich-nhat-hanh-paris-climate-agreement_ us_56a24b7ae4b076aadcc64321

Bình an

Sáng tác: Sư cô Giải Nghiêm

Trình bày: Sư cô Thi Nghiêm

 

 

Tôi vẫn sống như bao người đang sống

Thắp mặt trời làm trái tim chung

Sáng mở cửa đất trời thơm thơm lạ

Bước đầu ngày xin bước bước yêu thương.

Lời mẹ ru xưa gửi bài ca dao vào giấc ngủ

Nghìn năm rồi ôi quen quá lời ru.

Ngày hôm nay đất trời đâu xa lạ!

Mắt ai nhìn? Mới cả, cả lòng tôi.

Nghìn yêu thương gửi vào đôi chân nhỏ

Hăm bốn giờ trao đổi chỉ yêu thương.

Hoa lá vì tôi giữ nụ cười muôn thuở

Đất Mẹ hiền đưa tôi đến bao phen

Hoa là nụ cười của Đất

Em  là cuộc tình của tôi

Mặt trời là trái tim chung

Bình an trong từng hơi thở

Bình an trong mỗi con người.

Hương vị mùa xuân

Thư gửi bạn hiền mùa cô vy (Phần 2)

Đời sống nông trại

Mùa xuân này tôi được ở Làng để ngắm những cành dâu trơ trụi đột nhiên một ngày chi chít đọt non xanh mát. Lá dâu non nhú ra, cả những quả dâu bé tí màu xanh. Những trái mận non cũng ra đời còn dính vào cuống hoa chưa rụng. Cả vũ trụ như đang bừng lên sức sống. Đọt dâu lớn rất nhanh thành những chiếc lá be bé và còn mềm, nên chúng tôi bỗng thành những cô gái “hái dâu” khi tôi tỉa những cành dâu mọc vô trật tự. Chỉ cần tỉa chừng hai cây được khoảng mười cành là đại chúng ăn lá dâu… hai ngày. Chúng tôi cười với nhau thấy mình như tằm ăn dâu, các sư em bảo mình thành Ỷ Lan đi hái dâu hết rồi.

 

 

Mà cả xóm có hơn chục cây dâu lận, ăn sao hết. Lá dâu có vị béo và thơm, lại là một loại lá có nhiều công dụng hỗ trợ cho sức khoẻ: bổ phổi, giúp thanh lọc gan, giải nhiệt cơ thể, trị nám da, cải thiện trí nhớ, làm sáng mắt, hạ cao máu, cholesterol… Thế là mâm cơm hầu như ngày nào cũng có lá dâu không luộc thì xào. Ăn thả cửa đến nửa tháng sau thì lá đã sẫm màu và bắt đầu dai, bấy giờ phải đi hái đọt thôi chứ không ăn hết tất tần tật mọi lá như trước. Lá dâu gần hết “mùa” thì sư cô Chân Đức cho thị giả đem măng bên Sơn Cốc qua. Thế là lại tha hồ ăn măng cho nhớ Thầy (vì Thầy thích tự tay kho măng đãi học trò), ăn hết măng Sơn Cốc thì đi quanh hai bụi trúc Xóm Mới, rồi Xóm Trung, rồi vào xin nhà hàng xóm “đạp măng”. Cứ cách mấy ngày lại có măng kho mà ăn hoài không ngán. Rồi thì măng nướng chấm muối tiêu, bún măng, gỏi măng… Ngày xưa các cụ bảo “thu ăn măng trúc đông ăn giá”, mình thì mùa xuân cũng ăn măng luôn. Ăn măng “ta” chưa đủ, còn măng tây. Nhà hàng xóm trồng măng tây nên thu hoạch xong còn loại vụn vụn, không đạt tiêu chuẩn xuất bán ra thị trường, là tới phiên mình lấy về. Thế là dù măng tây bán ở ngoài mắc ơi là mắc, mà Xóm Mới thì cứ hết măng tây luộc lại tới măng tây đút lò. Các sư em còn làm măng tây ngâm chua ngọt nữa chứ.

Sống ở đồng quê, rau trái tươi ngon nên bữa cơm nào cũng ngon. Sáng nào cũng có hạt dẻ (hazel) rang vừa bùi vừa béo. Năm ngoái đi lượm được quá nhiều, năm nay lại không có khoá tu nên tới giờ vẫn còn hạt để ăn. Mùa hè năm nay Làng sẽ không mở cửa vì vẫn chưa hết dịch bệnh. Mấy cây mận, mấy cây dâu tằm, cây sung tím chắc là ế khách vì không có thiền sinh, không có mấy cháu nhỏ tới Làng thì ăn sao hết. Bữa nay mấy cây anh đào (cherry) đã đầy trái và có trái bắt đầu đỏ rồi. Nghe nói mùa anh đào năm ngoái đại chúng ăn no cả bụng mà vẫn còn trái, năm nay mất mùa tuy trái không trĩu cành nhưng thấy cũng nhiều, trái non vẫn chi chít.

Cùng nhau mùa cách ly

Mấy hôm nay nghe nói nhiều thân hữu quan tâm đã gởi tiền cúng dường Làng vì sợ chúng tôi không có nguồn thu nhập trong mùa dịch bệnh bị đói. Ôi những tấm lòng để chúng tôi tri ân. Đức của Sư Ông lớn lao nên con cháu được hưởng. Chúng tôi chưa thiếu ăn, chưa đói, chỉ ăn rau và đậu nên cũng không tốn kém lắm. Tuy nhiên dịch bệnh kéo dài, khoá tu không có thì cũng khá chật vật với các chi tiêu khác như thuế đất, thuế nhà, bảo hiểm nhà, bảo hiểm xe, bảo hiểm sức khoẻ, điện, nước, ga, phí điện thoại, linh tinh… Nghe nói bên Việt Nam đã hết cách ly, mọi người có thể đi làm lại. Ở Pháp vẫn còn lệnh phong toả. Từ ngày 15/5 thì ra đường không còn phải đem giấy tờ chứng minh là đi đâu nhưng nạn dịch vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Tuy nhiên có lẽ thiên hạ không thể ở nhà thêm nữa nên mấy ngày rồi con đường trước mặt xóm bắt đầu có nhiều xe chạy qua trở lại.

Sau mấy tháng cách ly, bây giờ mọi người học làm quen với các vấn đề trực tuyến. Chúng tôi không giỏi giang gì về kỹ thuật, đường truyền internet thì chậm rì rì vì là “vùng sâu vùng xa”, (công nhận internet ở Việt Nam ngon lành hơn nhiều), nhưng cũng bắt đầu chuyển tải những buổi tu tập của mình đến thân hữu gần xa. Các nhóm lo về sinh hoạt tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp và ban kỹ thuật luôn luôn bận với những pháp thoại trực tuyến và thu hình sinh hoạt. Ban giáo thọ họp về việc cho các khoá tu trực tuyến để thế cho những khoá tu không thể tổ chức ở Làng. Ai có việc đó. Sinh hoạt tu tập vẫn đều đặn. Những buổi ngồi thiền, tụng giới, thiền hành đều hướng tâm cầu nguyện cho dịch bệnh sớm tiêu trừ và mọi người đều được bình an vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Hương vị mùa xuân

 

 

Ngày hôm nay tôi nhất định phải khoe với bạn hiền về món xà lách mới vừa làm. Tôi ôm rổ đi chơi, ngắt ở đây một ít, kia một ít hoa lá trong vườn. Nắng rất trong, cỏ thật xanh, và những đoá hoa dại đủ màu nhàn nhã đu đưa trong gió. Hôm kia nông trại hạnh phúc của Sơn Hạ vừa mới gởi lên những búp xà lách xanh non bụ bẫm nên tôi nhất định phải làm một thau xà lách đủ màu cúng dường lên đại chúng. Đi quanh một chút, vừa ngắm vừa hái, hương thơm của rau thì là, của hoa hồng, của hoa xô thơm thật ngọt ngào. Bạn hiền biết món xà lách này có bao nhiêu thứ không? Kể cho bạn hiền nghe nhé: xà lách, arugula, xà lách xoong, ngò, rau răm, rau bạc hà, thì là, bồ công anh, mùi tây, hẹ và mười loại hoa: hoa hồng năm loại (đỏ, hồng, vàng, trắng, tím), cúc vạn thọ vàng nhạt, vàng đậm, hoa bồ công anh, kim ngân hoa trắng và vàng, hoa xô thơm, hoa sen cạn (nasturtium). Đây đều là những loại hoa và rau trong xóm, vừa là cây trồng vừa là hoa dại. Hầu như thứ nào cũng có chút vị thuốc. Tôi ngâm hoa vào chậu nước lạnh mà nghe mùi thơm dìu dịu phảng phất. Nhìn màu sắc tươi sáng chen lẫn, lòng thật thoả mãn như ôm cả hương vị mùa xuân vào người.

Mấy hôm trước đi thiền hành lên đồi mận. Trời nắng ấm. Hoa dại màu xanh nhạt dập dềnh chen lẫn những đoá hoa hồng, tím, vàng, trắng. Cả một cánh đồng hoa dại đẹp sững sờ. Có lẽ mọi năm mưa ít hơn, hay cỏ cắt thường hơn mà tôi không thấy nhiều hoa như năm nay. Chắc vì mảnh vườn sắp sang tay nên chủ vườn không buồn cắt cỏ, do đó nhiều loại hoa hiếm thấy, năm nay có cơ hội lớn lên đầy cả vườn. Có một loại lan đất nhỏ xíu, tên là lan ong (bee orchid) vì thu hút ong, rất giống loại lan nhỏ xíu ở Việt Nam màu xanh và tím. Có một loại lan dại hình tháp màu tím hồng, vốn dĩ là nằm trong dạng được bảo tồn vì sắp tuyệt chủng, hai mươi năm trước ở xóm hạ tôi đã biết là không được hái mà bây giờ không ngờ vườn mận lại đầy hoa này. Hôm lễ Phật đản vừa ăn trưa xong thấy ông hàng xóm đem cái máy cắt cỏ (tractor) qua cắt cỏ chúng tôi vội vàng đi bứng những gốc lan đó về trồng trong khu vườn nhỏ trước thiền đường. Bứng chỉ được một số, không kịp nổi, chúng tôi đành cắt về trước khi những đoá hoa đó tan nát dưới cái máy cắt cỏ. Bởi vậy hoa trước giờ chỉ dám ngắm mà bây giờ lại đầy nhà, cắm mấy bình cúng Bụt rồi cắm chưng khắp trong phòng ăn, nhìn thấy cả mùa xuân tràn ngập.

 

 

Mặt trăng và tổ chim

Có một ngày trăng vàng “ửng chín”, sáng và gần, thu hút ánh mắt mọi người sau giờ ngồi thiền. Tôi đang đứng chiêm ngưỡng chung với một số sư em thì sư em Trăng Phương Nam lí lắc hoa tay trước mắt tôi: “con đẹp không?” Tôi ngớ ra một chút mới nhận được em đang chơi chữ vì em là “Trăng” mà, nên tôi lắc đầu: “ trên kia mới đẹp”, và chỉ về phía mặt trăng. Em nương theo hướng tay tôi là sư em Trăng Khương Giới đang đứng, lắc đầu nguầy nguậy: “ không, trăng này (chỉ vào mình) mới đẹp, trăng kia không đẹp bằng.” rồi cười lém lỉnh.

Ừ, mình có nhiều “Trăng” quá, nên lúc nào trăng cũng sáng trong lòng.

Hôm trước tỉa cái hàng rào quanh bình đựng ga trước phòng Sư Ông, cây lên cao khỏi cái hàng rào cả mấy tấc, ra hoa trắng khá đẹp. Đang cắt ngắn xuống bỗng sư em thị giả thấy một cái tổ chim có một con chim non và hai cái trứng giữa bụi cây. Thế là cắt hết xung quanh nhưng chừa lại mấy cái nhánh cây trên đầu tổ để che mưa che nắng cho nó. Hai con chim mẹ chim cha bay về có chút ngẩn ngơ nhưng tổ còn nguyên vẹn nên chim mẹ lại vào ấp trứng cho đến ngày cả bầy biết bay và cùng bay đi hết. Cuối cùng để lại cái hàng rào chữ nhật có một túm cao cao như dấu tích của một ngôi nhà đã hết được sử dụng. Cái tổ trống không nhưng không ai muốn dọn đi, thỉnh thoảng mấy sư cô đi ra văn phòng ghé ngang, vạch cây nhìn xem có con chim nào mượn tổ đẻ trứng nữa không.

Rồi tới cây mận trước phòng ngủ của mình có một cặp bồ câu tha cỏ, cây về làm tổ. Các sư cô thấy chim bay đi tìm nhánh nhỏ nên đi lượm dùm, đem về chất đống dưới gốc cây mận nhưng con chim này không biết vì sợ hơi người hay chọn lựa gỗ tốt cho tổ ấm mà không thèm động vào nhánh nào hết, tự mình bay đi ngậm từng cọng cây về. Cái tổ này thật là vui, chỉ toàn cành cây xếp lên nhau chứ không có rêu, cỏ đan lại tròn ủm như cái tổ chim kia. Vậy mà chị bồ câu nằm rất êm ái. Cái tổ chỉ đủ cho một con béo ú, con còn lại nhảy nhảy rồi bay mất, sau này mới biết chúng thay nhau ấp trứng. Đứng trên hành lang nhìn xuống cái tổ và cặp chim rất rõ ràng. Ấp đúng hai tuần nở ra một con chim bồ câu con, vừa hé mắt thấy mấy cặp mắt trên lầu đang nhìn xuống chằm chằm quan sát bé sợ quá dúi đầu vào bụng mẹ. Vẫn còn mấy cái trứng chưa nở nên chim mẹ vẫn còn nằm ì đó cho chúng tôi ngắm. Nghe nói có hai con cú con bị lạc mẹ nên đêm nào cũng kêu, sư em Trăng Thường Chiếu chụp được hình con cú đưa tôi xem khá xinh. Sư em Trăng Giác Hoà kể có hai con nai ở trong rừng bên cạnh chạy ra đồi mận, bây giờ cỏ cắt hết không biết còn ra nữa không.

 

 

Bạn hiền thương. Đây là lá thư thứ hai cho bạn hiền mùa cô vy. Kể bạn hiền nghe chút chút về đời sống của tôi. Trong khi dịch bệnh vẫn còn, lòng người vẫn chưa an, nỗi sợ vẫn còn lớn lao thì trăng vẫn sáng và hoa vẫn nở, nụ cười vẫn tươi. Ai đó đã nói là bầu khí quyển này tốt hơn nhiều, đất Mẹ đang được chữa lành nhờ sự bớt tiêu thụ, và vì chúng ta đang tương tức nên sự khoẻ mạnh ở đây cũng giúp cho mọi người ở nơi khác có thêm chút bình an và hy vọng, phải không bạn hiền?

 

Chân Thoại Nghiêm

 

 

Thệ nhật yêu thương

Sáng tác: Thầy Pháp Thiên

Trình bày: Quý thầy, quý sư cô trẻ Làng Mai

 

 

Vượt trùng khơi đến đây

Khơi nguồn dòng Tào Khê

Thấm mát đất trời Phương Tây

Thệ Nhật Sơn – vòng tay rừng thiêng ôm lấy người con đất Việt.

Một am tranh tháng ngày thong dong bước

Bàn tay gieo hạt để mùa xuân nắng ấm

Ngàn thuỷ tiên vươn mình trong nắng

Ngàn Bồ Tát tùng địa dõng xuất

Từ Pháp Thân Tạng mang lời thề năm xưa đi vào cuộc đời

Đại dương sâu lan tràn nước mắt

Bàn tay yêu thương

Gọi nắng cho thêm hồng cánh đồng xanh mát thơm mùi mạ non

Hoá từ muối mặn đại dương.

Ngàn thuỷ tiên vươn mình trong nắng

Ngàn Bồ Tát tùng địa dõng xuất

Từ Pháp Thân Tạng mang lời thề năm xưa đi vào cuộc đời

Đoàn quân nâu

An ban trường kiếm

Dù phong ba, bão táp hay biển lửa

Vững niềm tin sắt son

Khải hoàn ca

Khúc hát vô sinh.

Tiếng hát mùa xuân

Thơ: Sư Ông Làng Mai (viết về cuộc đời sư cô Chân Không)
Nhạc và trình bày: Sư cô Tuyết Nghiêm và Chỉnh Nghiêm

 

 

Từ cát bụi, từ lòng đất

Từ sương sớm

Từ nắng mai

Từ trăng sao

Từ một bông hoa đứng hát trong rừng sâu

Mẹ đã biểu hiện hình hài.

Tuổi hai mươi,

Mẹ thị hiện thành đàn bồ câu trắng tinh

Bay đi muôn phương

Đem những hạt gạo quý muôn nhà

Về nuôi bầy con thơ nơi chốn quê hương

Bầy con thơ muôn màu muôn sắc.

Trên đỉnh Linh Sơn

Mẹ khoác áo nâu sòng

Cho con đường mở rộng

Dòng tóc mẹ từ đỉnh cao Hy Mã trải dài

Hóa thân làm chín con rồng,

Nuôi dưỡng đất đai phì nhiêu.

Trước khi đi vào biển lớn

Hai tay mẹ xuôi về muôn triệu

Trở nên hàng vạn cánh chim.

 

Mỗi lần đưa lên ẵm lấy bé thơ

Và đứa bé lại tự nhiên nín khóc

Nhìn vào mắt mẹ là thấy được dáng thiên thần.

 

Nhận được dáng dấp Âu Cơ

Mỗi lần mẹ xuất hiện

Mọi buồn tủi âu lo trong lòng tự nhiên biến mất.

Tiếng hát mẹ đã khơi thành dòng sông hy vọng

Ca ngợi lòng từ bi

Nhắc nhở đàn con rằng chỉ nên sợ không có tình thương

Mà đừng sợ đói nghèo

Bởi vì tình thương đem tới muôn hộp sữa thơm và mật ngọt

Là suối nguồn vô ưu

Không bao giờ khô cạn.

Những ngày sóng gió xô nghiêng vịnh Thái Lan

Mẹ đã biến thành cá Ông

Và những đàn cá hồng bơi lội khắp biển xanh

Tìm vớt người chìm đắm

Nước mắt mẹ còn lưu lại trên đại dương

Như những cụm long chiên hương thơm ngát cho đến bây giờ.

Vào tuổi không còn nghi hoặc

Mẹ hiến thân thành đàn tiên nữ diễm lệ

Từ cõi phàm thiên vỗ cánh bay xuống địa cầu

Tất cả đều là những thanh nữ đồng trinh như mẹ

Hai tay nâng đầy hạt giống tốt lành của hiểu, của thương

Sẵn sàng gieo rắc trên mọi nẻo đường đất nước

Dù đất trời có khi tăm tối

Tất cả dù khoác áo màu nâu sòng đạm bạc

Nhưng vị Bồ Tát nào cũng có dáng dấp của lụa trắng Hà Đông

Của quê hương Âu Cơ muôn thuở,

Dù mũi kim đường chỉ chẳng bao giờ thấy chạm đến tơ tằm.

Tiếng hát Mẹ đã trở thành tiếng hát mùa xuân,

Có cả hàng ngàn con chim họa mi tiếp nối

Tiếng hát đi vào trái tim

Đi vào dòng máu

Trở nên khúc tình ca trong sáng

Đem đến cho mọi loài an vui

Tha thứ

Đầm ấm

Thảnh thơi

Và bao dung.

 

Thiền sư

Thơ: Nhất Hạnh

Trình bày: Quý sư cô trẻ Làng Mai

 

 

Gặp thanh gặp sắc

Như hoa mọc đầu non

Thấy lợi thấy danh

Như bụi rơi xốn mắt

Thênh thang giữa chợ đời

Vững chãi và thảnh thơi

Ngồi yên như núi

Đi lại như mây

Thở giữa rừng cây

Lời vang tiếng sóng

An nhiên giữa cuộc đời

Độ thoát biết bao người.

Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai

Thơ: Nhất Hạnh
Nhạc: Anh Việt
Trình bày: Hà Thanh

 

 

Thầy đi tìm con
Từ lúc non sông còn tăm tối
Thầy đi tìm con
Khi mọi loài còn chờ đợi ánh dương lên

Thầy đi tìm con
Khi con còn đắm chìm trong một giấc ngủ triền miên
Dù tiếng tù và đã vọng lên từng hồi giục giã
Không rời non xưa
Thầy đưa mắt về phương trời lạ và nhận ra được trên vạn nẻo đường từng dấu chân của con

Con đi đâu
Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn
Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ
Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở
Tin rằng dù con đang còn lạc loài đi về bên nớ
Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni
Có khi Thầy xuất hiện ngay giữa đường con đi
Nhưng mắt con vẫn nhìn Thầy như nhìn một người xa lạ
Không thấy được mối túc duyên
Không nhớ được lời nguyền xưa vàng đá
Con đã không nhận ra được Thầy
Vì tâm con còn vướng bận những hình bóng xa xôi

Trong kiếp xưa con đã từng nhiều lần nắm tay Thầy rong chơi
Thầy trò ta đã ngồi thật lâu cạnh những gốc thông già trăm tuổi
Đã từng đứng yên cùng lắng nghe tiếng gió thì thào mời gọi và ngắm nhìn những cụm mây trắng bay
Con đã từng nhặt đưa Thầy những chiếc lá ngô đồng đầu thu đỏ thắm
Thầy đã từng đưa con vượt qua những khu rừng tuyết phủ giá băng
Nhưng đi đâu Thầy trò ta cũng luôn luôn trở về nơi non xưa chốn cũ, để được gần gũi sao trăng
Để được mỗi khuya gióng tiếng chuông đại hồng cho mọi loài tỉnh thức
Thầy trò ta đã từng ngồi yên trên An Tử Sơn cùng đại sĩ Trúc Lâm bên những cây đại già nở hoa thơm ngát
Đã từng đưa tàu ra khơi vớt người thuyền nhân phiêu dạt
Đã từng giúp thiền sư Vạn Hạnh thiết kế thành Thăng Long.
Đã từng cùng nhau đánh tranh dựng chiếc thảo am bên sông
và giăng lưới vớt Trạc Tuyền khi Tiền Đường đang đùng đùng dậy sóng

Thầy trò ta đã mở lối bước lên trời ngoại phương lồng lộng
Sau bao tháng ngày công phu chọc thủng lưới thời gian
Đã từng cất giữ được ánh sáng của những vì sao băng
Làm đuốc soi đường cho những ai muốn trở về sau những tháng ngày rong ruổi
Nhưng cũng có khi hạt giống lãng tử trong con bừng sống dậy
Con đã rời bỏ Thầy, rời bỏ huynh đệ một mình thất thểu ra đi…
Thầy nhìn con xót thương
Tuy biết rằng đây không thực sự là một cuộc phân kỳ
Bởi vì con đang có Thầy nơi từng tế bào trong cơ thể
Biết con còn phải thêm một lần đóng vai người cùng tử
Nên Thầy đã nguyện sẽ có mặt đó cho con mỗi lần con gặp bước gian nguy
Có khi con nằm thiếp đi trên cát nóng sa mạc chốn biên thùy
Thầy đã hoá thân làm đám bạch vân đem cho con bóng mát
Đến giữa khuya đám mây đọng lại thành sương, cam lộ rơi từng hạt để con uống lấy trong cơn mê
Có khi con ngồi dưới vực sâu tăm tối, hoàn toàn cách biệt trời quê
Thầy đã hoá thân thành chiếc thang dài và nhẹ nhàng bắc xuống
Cho con leo lên vùng chan hoà áng sáng
Để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối tiếng chim

Có lúc Thầy nhận ra con ở Birmingham
Ở quận Do Linh hay miền Tân Anh Cát Lợi
Có lúc Thầy gặp con ở Hàng Châu, Hạ Môn hay Thượng Hải
Có lúc Thầy tìm được con ở St Petersburg, hoặc ở Tây Bá Linh
Có khi mới lên năm mà thấy con, Thầy cũng nhận được chân hình
Thấy được hạt giống bồ đề nơi con, mang trong trái tim còn niên thiếu
Thấy con, Thầy đã luôn luôn đưa tay làm dấu hiệu
Dù nơi gặp con là ở miền Kinh Bắc vùng Bến Nghé hay ở cửa biển Thuận An
Có khi con là trái trăng vàng ửng chín lơ lửng treo trên đỉnh Kim Sơn
Hay là con chim con chiêm chiếp kêu đêm đông bay qua rừng Đại Lão
Rất nhiều khi Thầy thấy được con nhưng con không thấy được Thầy,
dù trên nẻo đường con đi sương chiều đã thấm vào ướt áo
Vậy mà cuối cùng con cũng đã trở về

Con trở về ngồi dưới chân Thầy nơi chốn non xưa
Để rồi tiếng chim kêu tiếng vượn hú lại cùng hòa với tiếng công phu sớm trưa
Con đã về bên Thầy, thực sự muốn chấm dứt cuộc đời lãng tử

Sáng nay chim chóc ca mừng vầng ô lên rạng rỡ
Con có hay
Trên bầu xanh mây trắng vẫn còn bay?
Con ở đâu? Cảnh núi xưa còn đó nơi hiện pháp chốn này
Dù đợt sóng bạc đầu vẫn còn đang muốn vươn mình đi về phương lạ
Nhìn lại đi, Thầy đang ở trong con, và trong từng nụ hoa, chiếc lá
Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay
Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay
Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt
Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.

Bướm bay vườn cải hoa vàng

Thơ: Sư Ông Làng Mai

Nhạc: Nguyên Phượng

Ghita: Thầy Pháp Biểu; Giọng hát: Sư cô Trăng Non Cao

 

 

Mười năm vườn xưa xanh tốt
Hai mươi năm nắng dọi lều tranh
Mẹ tôi gọi tôi về
Bên bếp nước rửa chân
Hơ tay trên bếp lửa hồng
Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

Tôi không bao giờ khôn lớn
Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm
Mới hôm qua đây, tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã
trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở
Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi?

Gió mang tiếng ca. Ngày ra đi em dặn :
“Nếu ngày về thấy khung trời đổ nát,
thì tìm tôi trong tận đáy hồn anh”
Tôi đã về. Có tiếng hát ca, bàn tay trên liếp cửa
Hỏi rằng : “Có tôi hôm nay đây, tôi giúp được gì?”
Gió thì thầm : em nên hát ca
Bởi vì hiện hữu nhiệm mầu
Hãy là đóa hoa, hãy là nụ cười,
Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch?

Hãy thôi là nguồn khổ đau cho nhau
Tôi tìm em.
(Như đêm giông tố loạn cuồng
Rừng sâu đen tối
Những cành cây sờ soạng
Đợi ánh chớp lòe ngắn ngủi
Thấy cần được hiện hữu bên nhau, tìm nhau)
Em hãy là đóa hoa đứng yên bên hàng dậu
Hãy là nụ cười, là một phần của hiện hữu nhiệm mầu.

Tôi đứng đây. Chúng ta không cần khởi hành
Quê hương chúng tôi đẹp như quê hương của tuổi thơ
Xin đừng ai xâm phạm – tôi vẫn còn hát ca.
Đầu còn gối trên thánh kinh,
sáng nay tôi nghe xôn xao trong nắng mai vũ trụ đang được những con ong vàng
siêng năng bắt đầu khởi công tạo dựng
Công trình xây dựng ngàn đời
Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất
Bánh xe mầu nhiệm chuyển hoài đưa chúng ta đi tới
Nắm lấy tay tôi, em sẽ thấy chúng ta đã cùng có mặt tự ngàn xưa
trong hiện hữu nhiệm mầu.

Tóc mẹ tôi còn xanh, và dài chấm gót
Áo em tôi phơi còn phất phơ bay trước dậu
Nắng sớm mùa thu
Tôi ở đây. Chính thực là vườn xưa
Những cây ổi trái chín thơm
Những lá bàng khô thắm
Đẹp
Rụng
Còn chạy chơi la cà trên sân gạch
Tiếng hát vẳng bên sông
Những gánh rơm thơm vàng óng ả
Trăng lên, quây quần trước ngõ
Vườn cải hoa vàng, chính mắt tôi vừa thấy sáng qua.

Tôi không ngủ mơ đâu,
Ngày hôm nay đẹp lắm, thật mà
Em không về chơi trò bắt tìm nơi quá khứ
Chúng mình còn đây, hôm nay, và ngày mai nữa,
Đến đây
Khi khát ta cùng uống ở một giếng nước thơm trong.

Ai nói cho em nghe rằng Thượng Đế đã bằng lòng
cho con người khổ đau đứng dậy hợp tác cùng người ?
Chúng ta đã từng nắm tay nhau từ muôn vạn kiếp,
Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa
Em hát ca đi. Bông cúc cười theo em bên hàng dậu,
Đừng bắt chúng tôi nhúng hai tay vào vôi cát,
Những ngôi sao trời không bao giờ xây ngục thất cho chính mình.
Để cho chúng tôi hát ca. Để cho chúng tôi là những đóa hoa.
Chúng tôi đang ở trong cuộc đời –
mắt chúng tôi chứng minh cho điều ấy.
Bàn tay cũng là hoa. Đừng biến bàn tay em tôi thành dây chằng
Thành khớp răng cưa
Thành móc sắt.
Hiện hữu không kêu gọi tình thương.
Hiện hữu không cần ai phải thương ai
Nhưng em phải là em, là đóa hoa, là bình minh hát ca,
không đắn đo suy tính
Xin ghi vào đây một tân ước nữa của tất cả chúng ta
Và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng sáng

Em về, đưa Mẹ về cho tôi thăm
Cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc Mẹ.