Google tìm cầu tuệ giác của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian ngày 5.9.2013)

Các tập đoàn công nghệ toàn cầu đang tìm cách ứng dụng sự thực tập chánh niệm và thiền định vào hoạt động của mình để có được hạnh phúc và sự phát triển bền vững.

Tại sao nhiều tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới, trong đó có Google, lại dành sự quan tâm đặc biệt đối với một vị thiền sư Phật giáo người Việt đã 87 tuổi?

Câu trả lời là tất cả các tập đoàn này đều mong muốn tìm hiểu: Làm thế nào những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh – thường được hàng trăm ngàn đệ tử trên khắp thế giới gọi một cách thương kính là Thầy – có thể giúp cho tổ chức của họ hoạt động một cách hiệu quả hơn và mang lại nhiều hạnh phúc hơn.

Thầy Nhất Hạnh được mời hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm tại trụ sở chính của Google tại California vào cuối tháng này – đây là một dấu hiệu cho thấy sự thực tập chánh niệm đang bắt đầu trở nên phổ biến trong xã hội hiện nay. Thầy – tác giả của hơn hai triệu cuốn sách được bán ra ở Mỹ – sẽ có một buổi gặp gỡ với hơn 20 Giám đốc Điều hành (CEO) của các tập đoàn công nghệ có trụ sở tại Thung lũng Silicon để chia sẻ tuệ giác của Thầy về nghệ thuật an trú trong hiện tại.

Trong buổi gặp gỡ này, Thầy dự định sẽ thảo luận với các CEO của các tập đoàn công nghệ về cách thức làm thế nào để họ có được một sự hiểu biết sâu sắc về bản chất gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi loài. Với hiểu biết đó, họ có thể hiến tặng những công cụ thực tiễn để đưa chánh niệm trở thành một phần thiết yếu trong công việc hàng ngày của họ, trong những sản phẩm mà họ chế tạo ra cũng như trong chiến lược mà họ hoạch định để khoa học công nghệ có thể mang lại sự thay đổi cho thế giới này. Buổi gặp gỡ sẽ kết thúc bằng sự thực tập thiền hành.

Những nỗ lực của Thầy trong hơn 50 năm qua đã được nhiều nhà lãnh đạo thế giới ghi nhận. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã nói rằng phương pháp thực tập của Thầy Nhất Hạnh là phương pháp “giúp cho chúng ta có thể cảm thông và thương yêu một cách sâu sắc đối với những người đang khổ đau”. Thầy cũng đã từng được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967 vì những nỗ lực của Thầy trong việc kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Mục sư Luther King nói rằng việc trao giải Nobel Hòa bình cho Thầy Nhất Hạnh “sẽ một lần nữa làm cho nhân loại thức tỉnh trước bài học lớn về cái đẹp và tình yêu được tìm thấy trong hòa bình. Nó làm sống dậy niềm hy vọng về một trật tự mới mang tính công bằng và hòa hợp cho thế giới này”.

Thầy Nhất Hạnh xuất gia đã được 71 năm. Mặc dù tuổi đã cao, Thầy vẫn liên tục đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới. Thầy hiện đang trong chuyến đi hoằng pháp ba tháng tại Bắc Mỹ với lịch trình khá nặng. Trước đó, Thầy đã có chuyến đi hoằng pháp tại châu Á cũng trong ba tháng.

Tăng thân xuất sĩ của Thầy Nhất Hạnh được đánh giá là tăng thân có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Vé tham dự những khóa tu do Thầy hướng dẫn trong một tuần tại Toronto, Canada hay tại New York, Mississippi và California – mỗi khóa tu đều có hơn 1.000 người tham dự – đều được bán hết chỉ trong vài ngày.

Nền kinh tế chạy theo ham muốn

Thầy Nhất Hạnh cảnh báo rằng nền văn minh của chúng ta đang có nguy cơ sụp đổ trước những thiệt hại nghiêm trọng về xã hội cũng như môi trường sinh thái do nền kinh tế chạy theo ham muốn gây nên. Thầy cũng đồng thời chỉ ra cho chúng ta một hướng đi mới, đó là xây dựng một nền kinh tế lấy hạnh phúc chân thực làm mục tiêu, thay vì hy sinh hạnh phúc của mình để thờ phụng chủ nghĩa vật chất như bấy lâu nay chúng ta vẫn làm.

Những lời dạy của Thầy tập trung chủ yếu vào sự thực tập chuyển hóa khổ đau bằng cách buông bỏ những ưu sầu của quá khứ cũng như những lo lắng về tương lai, thông qua thiền định và nếp sống chánh niệm.

Thầy đã chỉ ra rằng tình trạng đam mê tiêu thụ hiện nay là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang cố gắng khỏa lấp khổ đau trong chính mình. Và Thầy đề nghị chúng ta nên đi theo hướng ngược lại, đó là trở về tiếp xúc trực tiếp với nỗi khổ, niềm đau trong ta để có thể vượt thoát những khổ đau đó.

Thầy cho rằng để các doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc chận lại con tàu tư bản đang chạy trật đường ray thì trước tiên các nhà lãnh đạo tập đoàn cần phải nhận ra sai lầm căn bản của mình, đó là cách tư duy hạn hẹp, lấy lợi nhuận làm thước đo duy nhất cho sự thành công của tập đoàn.

Cần có sự thay đổi căn bản trong nhận thức của các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần phải trải qua một quá trình chuyển đổi căn bản về nhận thức. Họ cần phải nhận ra tầm quan trọng của việc đưa những giá trị tâm linh vào trong đời sống hàng ngày.

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian vào cuối khóa tu tuần trước tại Catskill Mountains về nghệ thuật chuyển hóa khổ đau, Thầy chia sẻ rằng: “Chúng ta cần phải xem lại quan niệm của chúng ta về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có được khi nào chúng ta giành thắng lợi, khi chúng ta giành được vị trí đứng đầu. Tuy nhiên, sự thực thì không cần thiết phải như vậy. Bởi vì ngay cả khi chúng ta kiếm được nhiều tiền hơn, chúng ta vẫn khổ đau như thường. Chúng ta cạnh tranh bởi vì chúng ta không hạnh phúc. Thiền tập có thể giúp cho chúng ta bớt khổ hơn. “Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi nào chúng ta vượt lên trên những người khác, khi nào chúng ta trở thành nhân vật số 1. Sự thực là chúng ta không cần phải trở thành number one mới có thể hạnh phúc.

“Chúng ta cần phải có một hướng đi tâm linh trong đời sống của mình cũng như trong công việc kinh doanh, nếu không thì chúng ta chẳng thể nào xử lý được những khổ đau do công việc và đời sống hàng ngày tạo ra.”

Những cuộc gặp gỡ với Mục sư Martin Luther King

Nhớ lại những lần gặp gỡ với Mục sư Luther King – những cuộc gặp gỡ này có ảnh hưởng rất quan trọng đến quyết định đấu tranh cho hòa bình và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam của nhà tranh đấu cho dân quyền nổi tiếng thế giới này, Thầy Nhất Hạnh nói rằng Tổng thống Obama đã bỏ sót một yếu tố quan trọng trong bài phát biểu của mình vào tuần trước, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Mục sư Martin Luther King đọc bài diễn văn bất hủ có tựa đề “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream).

“Khi Tổng thống Obama kêu gọi hãy để cho tự do được vang tiếng bay xa, Tổng thống chỉ nói về tự do đến từ bên ngoài như tự do chính trị, tự do xã hội. Nhưng thực tế là ngay cả khi chúng ta có rất nhiều tự do về tổ chức, về ngôn luận, về báo chí, v.v. chúng ta vẫn có thể khổ đau như thường, bởi vì chúng ta không có tự do ở bên trong, đó là sự tự do khỏi những giận hờn và sợ hãi”, Thầy chia sẻ.

Một trong những điều tâm huyết của Mục sư Luther King là xây dựng những cộng đồng, những đoàn thể sống hạnh phúc mà ông gọi là Beloved Community (tạm dịch là Tăng thân yêu quý). Cũng với mong ước đó, Thầy Nhất Hạnh đã dành hết tâm lực của mình cho việc xây dựng hơn một ngàn tăng thân cư sĩ trên khắp thế giới.

Tuy nhiên, liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể tạo ra một sự thay đổi tích cực hơn thông qua việc xây dựng tinh thần cộng đồng, xây dựng văn hóa tập thể trong doanh nghiệp của mình?

Chánh niệm và thiền tập tại công sở

Thầy Nhất Hạnh cho rằng phương pháp thực tập chánh niệm và thiền tập nếu được áp dụng vào các doanh nghiệp sẽ giúp cho họ thay đổi được cách sống, cách làm việc có tính tiêu cực, đồng thời giúp họ nhận ra được bản chất tương tức và phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi loài.

“Thiền tập có thể giúp cho các thành viên trong doanh nghiệp vơi bớt khổ đau,” Thầy nói. “Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ hữu ích rồi, bởi vì nếu nhân viên của một doanh nghiệp có đủ hạnh phúc thì doanh nghiệp đó sẽ làm ăn hiệu quả hơn.

“Trong trường hợp công ty của anh đang có những hoạt động gây tổn hại môi trường, và bởi vì anh đã thực tập thiền nên anh có thể có được một cái thấy, cái thấy này sẽ giúp anh tìm ra cách thức điều hành công ty của mình theo hướng làm giảm nhẹ những tổn hại đối với môi trường.

“Thiền tập có tác dụng làm lắng dịu nỗi khổ, niềm đau trong ta, đồng thời mang lại cho ta nhiều tuệ giác và một cái thấy chân thực (chánh kiến) về chính bản thân mình và về thế giới. Và nếu ta có được tuệ giác của một tập thể thì chắc chắn là ta sẽ tổ chức và điều hành hoạt động của doanh nghiệp mình theo hướng làm cho thế giới này vơi bớt khổ đau”.

Theo Thầy, đem chánh niệm vào công sở, vào các doanh nghiệp còn có tác dụng giúp cho các nhân viên tránh được tình trạng bị quá tải bởi công việc, tuy nhiên để làm được điều này thì các chủ doanh nghiệp, các giám đốc công ty cần phải làm gương trước.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải biết chăm sóc chính mình trước tiên

Thầy cho rằng nhiều lãnh đạo cao cấp của các tập đoàn đã bắt đầu đề cập đến tầm quan trọng của sự phát triển bền vững, tuy nhiên rất ít người trong số đó thấy được mối liên hệ giữa sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp với văn hóa bên trong của doanh nghiệp mà họ đang điều hành.

“Nếu người giám đốc doanh nghiệp dành toàn bộ thời gian của mình cho công việc của doanh nghiệp, người đó sẽ không còn thời gian để chăm sóc cho chính mình hay cho gia đình mình. Người giám đốc đó cần phải nhận ra rằng doanh nghiệp của mình sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu người đó trở nên lắng dịu, tươi mát hơn, có khả năng cảm thông và thương yêu nhiều hơn”, Thầy nói.

Trong điều kiện hiện nay, khi mà máy tính trở nên quá phổ biến và tiện dụng với tốc độ xử lý ngày càng nhanh thì các giám đốc doanh nghiệp lại càng khó có được thời gian cho riêng mình, thời gian để nhìn lại bản thân và tìm niềm cảm hứng cho cuộc đời.

Sức mạnh của vô tác

Thầy chia sẻ về tầm quan trọng của sự thực tập vô tác, tức là không chờ đợi kết quả, không mong cầu gì hết khi hành động, không có đối tượng nào để chạy theo. Thông thường chúng ta hay có thói quen chạy theo hết dự án này đến dự án khác, không ngừng nghỉ.

“Chúng ta thường cho rằng hạnh phúc nằm ở tương lai, vì vậy sự thực tập vô tác là dừng lại, không đuổi theo một đối tượng nào nữa cả và tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây”, Thầy nói.

“Hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có bình an. Nếu ta cứ mãi đuổi theo một đối tượng nào đó thì làm sao ta có thể có bình an. Ta cứ chạy hoài, chạy mãi, ngay cả trong giấc mơ chúng ta vẫn còn chạy. Đó là thực trạng của nền văn minh chúng ta.

“Chúng ta phải đi ngược lại xu hướng này. Chúng ta phải trở về với chính mình, trở về với những người thân yêu, trở về với thiên nhiên. Lâu nay chúng ta để cho các thiết bị điện tử kéo chúng ta ra khỏi chính mình. Chúng ta đánh mất mình trong internet, trong các dự án, các kế hoạch kinh doanh, vì vậy chúng ta không có thời gian cho chính mình. Chúng ta không có thời gian để chăm sóc những người mà ta thương yêu và cũng đồng thời không để cho Đất Mẹ có cơ hội trị liệu cho chúng ta. Chúng ta luôn có xu hướng trốn chạy khỏi chính mình, khỏi gia đình và khỏi thiên nhiên xung quanh”.

Hầu hết các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều khó nói ra những áp lực mà họ đang phải gánh chịu. Tuy nhiên gần đây một số Giám đốc Điều hành của những tập đoàn nổi tiếng đã can đảm chia sẻ với công chúng về những áp lực trong công việc của mình, tương tự như những lo ngại của Thầy Nhất Hạnh.

Từ chức một vài tháng trước khi tập đoàn của mình bị phá sản, Erin Callan, cựu Giám đốc Tài chính của tập đoàn Lehman Brothers, đã can đảm viết lại những trải nghiệm của mình khi bị công việc lôi kéo hoàn toàn và chia sẻ điều đó với công chúng vào đầu năm nay.

“Khi quyết định nghỉ việc ở công ty, tôi cảm thấy suy sụp và buồn khổ vô cùng”, Erin Callan chia sẻ trên tờ New York Times. “Tôi không thể nào lấy lại sức lực và đi tiếp được nữa. Tôi không biết phải dựa vào đâu để khẳng định chính mình nếu không có công việc.

“Vào ngày nghỉ cuối tuần, nếu không phải làm thêm việc của công ty thì tôi cũng dành thời gian để sạc lại năng lượng cho một tuần làm việc kế tiếp. Nói chung, đối với tôi lúc đó, công việc luôn chiếm vị trí ưu tiên số 1, trên cả gia đình, bạn bè và cả việc hôn nhân – chuyện hôn nhân của tôi cũng chỉ kéo dài được một vài năm”.

Bản chất lưỡng nguyên của công nghệ

Mặc dù lo ngại về những tác dụng tiêu cực của công nghệ, Thầy vẫn nhận thấy bản chất lưỡng nguyên của công nghệ, nghĩa là bên cạnh những tác dụng tiêu cực, công nghệ cũng rất hữu ích. Đó là lý do vì sao trong cuộc gặp gỡ sắp tới, Thầy sẽ kêu gọi các CEO của các tập đoàn công nghệ tập trung phát triển các phần mềm ứng dụng và những thiết bị công nghệ khác để giúp đưa mọi người trở về với một cuộc sống cân bằng.

“Chúng ta cần phải có sự tỉnh thức. Khi nói chuyện với Google và các tập đoàn công nghệ khác, tôi sẽ đề nghị họ sử dụng trí tuệ và thiện chí của mình để tạo ra những phương tiện, những công cụ có khả năng giúp cho mọi người trở về với chính mình, để trị liệu cho chính mình”, Thầy nói. “Chúng ta không loại trừ hay vứt bỏ tất cả các thiết bị công nghệ này, mà chúng ta có thể hoàn toàn tận dụng được những tiến bộ của công nghệ”.

Thầy gợi ý về việc phát triển những phần mềm ứng dụng có khả năng giúp mọi người lắng dịu cơn giận khi nó phát khởi. Thầy cũng đề cập đến loại đồng hồ Now Watch được Thầy thiết kế với mục đích giúp mọi người trở về với phút giây hiện tại: Trên mặt đồng hồ, mỗi giờ được đánh dấu bằng chữ “Now” (nghĩa là Bây giờ) thay vì số giờ như thông thường.

Google đã mời Thầy chia sẻ về những nội dung như: xây dựng mục tiêu trong công việc, sự sáng tạo và tuệ giác. Thầy nói rằng chúng ta đều có thể đạt được những điều này thông qua sự thực tập chánh niệm.

Thầy đã được mời đến thăm tập đoàn Google vào năm 2011 và kể từ đó, sự thực tập chánh niệm đã được áp dụng nhanh chóng tại tập đoàn công nghệ hàng đầu này. Số lượng người tham gia vào chương trình “Tìm kiếm trong tự thân” (Search Inside Yourself) – chương trình thiền tập chính thức của Google – ngày càng tăng. Các phòng dành cho thiền tập cũng đã được thiết kế bên trong nhiều tòa nhà làm việc của Google.

Thầy nói rằng: “Cũng như mọi người, các nhân viên của Google cũng mong muốn học hỏi cách thức chuyển hóa khổ đau của chính mình”.

“Đa số các nhân viên ở đây đều còn rất trẻ và tài năng, vì vậy họ có thể hiểu và thực tập những điều Thầy dạy một cách nhanh chóng. Họ còn có đủ phương tiện để đem sự thực tập này đến được với rất nhiều người.”

“Sẽ rất hữu ích nếu họ biết rằng ai trong chúng ta cũng có ước mong làm những điều đẹp và lành, bởi vì mỗi người trong chúng ta đều có tính Bụt. Khi nhìn vào con đường bất thiện, không chân chính, chúng ta có thể tìm thấy trong đó một con đường ngược lại. Cũng như nhìn vào khổ đau, chúng ta sẽ thấy được con đường đưa tới hạnh phúc. Đây là giáo lý Tứ diệu đế trong đạo Bụt, nhưng chúng ta không cần phải là một Phật tử mới có thể hiểu được điều đó.”

“Xã hội của chúng ta đang cần một sự tỉnh thức tập thể để có thể cứu chúng ta ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Vì vậy chúng ta cần phải thực tập để chế tác năng lượng tỉnh thức trong từng bước chân và từng hơi thở. Nếu ta có được sự tỉnh thức thì cũng có nghĩa là ta đang đi trên con đường hạnh phúc, ta có thể chuyển hóa được khổ đau trong ta. Và khi đó ta có thể giúp những người khác làm được tương tự.”

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/global-technology-ceos-wisdom-zen-master-thich-nhat-hanh

Có Bụt trong ta

 

Andrea Miller

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là tờ Shambhala Sun – ngày 13.11.2013)

Trong suốt thời gian tham dự khóa tu tại tu viện Bích Nham, tôi hay thắc mắc về một ngôi nhà nhỏ đơn sơ mà các thầy, các sư cô gọi là “cốc” của Thầy. Mãi rồi vào ngày cuối cùng, tôi đã được mời vào bên trong ngôi nhà ấy. Tôi thấy một căn phòng ấm cúng sáng hẳn lên nhờ các cành hoa phong lan, một bức hình Bụt đang bắt ấn địa xúc, một chân nến với những ngọn nến trắng thuôn dài và được trang trí bằng họa tiết chim muông.

Thầy đang ngồi nơi một cái bàn thấp, thô sơ. Tôi được hướng dẫn đến ngồi trên một bồ đoàn cạnh Thầy. Trong suốt cuộc phỏng vấn, Thầy đã tiết lộ những chi tiết riêng tư về gia đình, về cuộc đời của một vị thiền sư rất lỗi lạc mà không phải ai cũng biết. Thầy cũng giải thích tại sao Bụt luôn luôn thuyết pháp – nếu ta có một đôi tai và một cặp mắt chánh niệm thì ta sẽ nghe thấy. Ngồi với Thầy được một lúc thì Jo Confino, ký giả của tờ báo The Guardian, Anh quốc đến tham gia. Và câu chuyện chuyển qua đề tài làm thế nào để thiền tập có thể đem lại ích lợi cho các doanh nhân, các công ty và cho xã hội.

Khi các bạn đọc những dòng ghi lại buổi phỏng vấn này, xin lưu ý rằng có một điều mà tôi không thể ghi lại trên mặt giấy, đó là nụ cười tươi vui thường xuyên nở trên gương mặt của Thầy.

Thưa Thầy, vai trò của một người thầy trên con đường thực tập tâm linh là gì?

Một người bạn, một người đồng đạo và ngay chính bạn cũng có thể là một người thầy. Người thầy là người có thể giúp bạn tu tập và có nhiều tự do hơn – thậm chí bạn có đủ tự do để không còn bám víu vào vị thầy đó nữa.

Bạn phải thông minh và không nên phụ thuộc vào vị thầy của mình. Nếu bạn theo vị thầy ấy một cách mù quáng thì không tốt chút nào. Không có người thầy nào là hoàn hảo. Bạn có thể học những điều hay từ thầy, và bạn cũng có thể giúp cho thầy mình tốt hơn. Chẳng bao lâu, bạn sẽ tìm thấy người thầy trong chính tự thân và bạn có thể theo người thầy đó.

Vì thế một người thầy giỏi là một người giúp bạn không phụ thuộc vào vị ấy suốt đời. Đó là lý do tại sao Bụt nói trước khi nhập diệt: “Quý vị phải thực tập làm hải đảo tự thân, biết nương tựa nơi chính mình mà đừng nương tựa vào một ai khác”.

Có như vậy bạn sẽ không bị bơ vơ khi thầy của bạn không còn trong hình tướng này nữa, bởi vì bạn sẽ thấy rằng thầy luôn có trong bạn và trong tất cả các đệ tử của thầy. Khi tôi viết thư pháp, có khi tôi mời thầy của tôi lên viết cùng tôi, và thầy trò cùng viết rất là vui. Thở vào, vẽ nửa vòng tròn. Thở ra, vẽ nửa vòng còn lại. Khi tôi mỉm cười, thầy của tôi cũng mỉm cười.

Tôi cũng mời tất cả những vị thầy trong quá khứ cùng vẽ vòng tròn thư pháp với tôi, và tôi biết rằng bàn tay này không chỉ là bàn tay của tôi. Bàn tay này đồng thời cũng là bàn tay của cha, của mẹ tôi. Đôi khi tôi mời tất cả bạn bè của tôi cùng viết với tôi, bởi vì họ cũng là tôi.

Thầy có thể kể một chút về cha của Thầy?

Cha của tôi từng là một viên quan trong quân đội của triều đình nhà Nguyễn. Khi ấy ở Việt Nam, nhà vua và triều đình bị người Pháp khống chế, vì vậy nhiệm vụ chính của cha là đi tìm kiếm những vùng đất thích hợp cho người dân nghèo có thể tái định cư. Cha thích công việc ấy. Lâu lâu tôi được theo mẹ đi thăm cha ở những vùng rất xa trên núi.

Cha tôi mang theo một cái chuông và một số kinh để tụng. Cha muốn thực tập đạo Bụt, nhưng vì luôn bận rộn nên cha không thực hiện được. Tôi thấy rất vui vì giờ đây tôi có thể làm việc đó cho cha.

Sở dĩ tôi có thể làm như thế bởi tôi cũng như tất cả các bạn đều là sự tiếp nối của cha mẹ và ông bà tổ tiên. Đó là sự thật. Khi bạn đi thiền hành, tất cả những vị ấy cùng đi với bạn. Khi bạn bước những bước chân bình an, hạnh phúc, họ cũng vậy. Bạn không phải là một cái ngã riêng biệt, vì vậy bạn có thể thực tập cho tất cả tổ tiên của bạn. Nếu bạn đã gặp được pháp môn tu tập và có chuyển hóa, trị liệu thì tất cả tổ tiên của bạn cũng được lợi lạc. Vì vậy tôi thấy cha mẹ trong tôi đang rất hạnh phúc.

Thầy có nói trong pháp thoại là mẹ của Thầy bị sẩy thai một lần trước khi có Thầy. Khi còn nhỏ Thầy nghĩ là em bé bị mất đó chính là Thầy, và mẹ bị sẩy thai bởi vì Thầy chưa sẵn sàng để ra đời. Con tự hỏi không biết bây giờ Thầy nghĩ sao về em bé bị mất đó. Một em bé mất trước khi chào đời vẫn tiếp tục được tái sinh có phải vậy không?

Em bé đó không phải là một thực thể riêng biệt. Em bé được làm nên bởi cha, mẹ và nhiều yếu tố khác. Vì vậy những yếu tố này sẽ hội tụ lại và em bé biểu hiện sau này không hẳn là em bé đã mất khi xưa, mà cũng không hẳn là một em bé hoàn toàn mới.

Nếu bạn buồn đau khi mất em bé, đó là vì bạn bị kẹt vào ý niệm về ngã. Chính tuệ giác vô ngã sẽ giải phóng cho bạn khỏi buồn đau. Bạn không có một cái ngã riêng biệt và em bé nhỏ xíu đó cũng không có ngã. Cũng giống như khi bạn cố gắng xây một lâu đài bằng cát, nếu điều kiện không đủ thì lâu đài cát đó sẽ sụp đổ. Bạn có thể xây một lâu đài khác, nhưng bạn không thể nói đây là một lâu đài khác, bởi vì nó cũng được làm từ cùng vật liệu. Không có cái gì mất đi cả.

Xin Thầy chia sẻ một chút về thiền ở Việt Nam. Thiền Việt Nam có những đặc điểm nào để phân biệt với các dòng thiền đang được thực tập ở các nước khác?

Vào nửa đầu thế kỷ thứ III, có một tu sĩ Phật giáo – sinh ra tại Việt Nam – đã trở thành một thiền sư, đó là thiền sư Tăng Hội. Đây là một người có thật trong lịch sử, không phải như đức Bồ Đề Đạt Ma – người được các truyền thống cho rằng đã đem dòng thiền tới Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI. Rất nhiều sự kiện đã được tưởng tượng hoặc sáng tác ra về cuộc đời của đức Bồ Đề Đạt Ma. Trong khi đó thiền sư Tăng Hội đã để lại các bài viết hiện vẫn còn được lưu giữ.

Thiền ở Việt Nam là sự tiếp nối của những điều mà thiền sư Tăng Hội đã dạy. Ở Việt Nam có khuynh hướng là lúc nào cũng dựa trên các kinh nguyên thủy. Khi thiền sư Tăng Hội dạy thiền, phần lớn ngài sử dụng các kinh nguyên thủy nhưng giảng dạy theo tinh thần của đạo Bụt đại thừa. Vì vậy ở Việt Nam chúng tôi được thừa hưởng điều đó. Không bao giờ quá bay bổng mà mất đi gốc rễ.

Thiền tập ở Việt Nam đồng thời cũng có tính cách nhập thế. Chúng tôi đã có những vị vua tu thiền và thường cung thỉnh những thiền sư cao đức đến hoàng cung để tham vấn. Các vị vua này lúc nào cũng có một thiền đường trong cung điện và áp dụng rất rốt ráo giáo lý cũng như sự thực tập đạo Bụt vào trong chính sự. Vua Trần Nhân Tông vào thế kỷ thứ XIII đã nhường ngôi lại cho con trai để trở thành một ông thầy tu Phật giáo. Ngài chăm lo phần tâm linh cho dân tộc và để con trai chăm sóc đất nước về phương diện chính trị. Ngài đã du hành đến vương quốc Champa để giao hòa. Vương quốc này nằm trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam và theo Ấn Độ giáo. Ngài đi bộ khắp cả nước để dạy dân chúng thực hành Năm giới và bỏ bớt những hủ tục mê tín.

Vì vậy tinh thần đạo Bụt ở Việt Nam là chính trị và tâm linh yểm trợ lẫn nhau. Tâm linh không hề tách rời thế giới thực tại. Thiền tập không phải là để trốn tránh thực tại.

Tại sao cần phải làm mới đạo Bụt?

Xã hội luôn thay đổi. Người trẻ có rất nhiều khổ đau và hoang mang. Nếu ta muốn họ ngồi đó chiêm nghiệm về những công án thiền như tiếng vỗ của một bàn tay, hoặc hỏi họ con chó có tính Bụt hay không thì làm sao họ chịu nổi. Nếu cứ tiếp tục giảng dạy như vậy thì họ sẽ bỏ đi. Đạo Bụt ở Hàn Quốc và Nhật Bản không còn thu hút được nhiều người là vì vậy.

Trong lịch sử đạo Bụt, các vị thầy đã cống hiến giáo pháp một cách khế lý, khế cơ để đáp ứng lại nhu cầu của thời đại mà các vị đang sống. Sở dĩ các vị tổ sáng chế ra thiền công án, thiền mặc chiếu là vì những pháp môn này thích ứng với thời đại đó. Thế nhưng khi những pháp môn ấy không còn hiệu quả nữa thì tại sao phải giữ chúng lại?

Sự thực tập đạo Bụt của chúng ta phải đáp ứng được, giải quyết được những khổ đau của con người trong xã hội hiện đại. Đó là lý do tại sao những phương pháp thực tập về truyền thông và hòa giải rất quan trọng. Những phương pháp này rất dễ hiểu, thậm chí trẻ con cũng có thể hiểu được. Nhưng điều đó không có nghĩa là những phương pháp này không dựa trên nền tảng giáo lý đạo Bụt vững chắc. Nền tảng của chúng là vô ngã, vô thường và tương tức.

Chúng ta phải là những đệ tử thông minh của Bụt. Ta phải biết sử dụng giáo pháp một cách hữu hiệu, phải biết trình bày giáo lý và sự thực tập như thế nào để người ta có thể áp dụng và đem lại sự chuyển hóa.

Như tôi đã nói, đạo Bụt Việt Nam rất gần với đạo Bụt Nguyên thủy, nhưng chúng tôi biết kết hợp với tinh thần của đạo Bụt Đại thừa. Có rất nhiều châu báu trong đạo Bụt Đại thừa. Thí dụ như trong đạo Bụt Nguyên thủy, thân Bụt chính là báo thân, là thân của một con người. Nhưng trong đạo Bụt Đại thừa, thân Bụt đích thực chính là pháp thân, là nền tảng bản thể cho tất cả mầu nhiệm của vũ trụ và thân đó không bao giờ hoại diệt.

Nếu ta biết cách lắng nghe trong chánh niệm, ta sẽ thấy rằng Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp. Trái đất này chính là một bài pháp tuyệt vời của Người. Gió, hoa, cỏ cây đang không ngừng thuyết pháp về vô thường và vô ngã. Đó chính là thân của Bụt, thân này không bao giờ hoại diệt. Vì vậy nếu ta có đôi mắt và đôi tai chánh niệm, ta sẽ tiếp tục thấy Bụt. Điều này cũng gần với quan niệm Thiên quốc đang có mặt ngay bây giờ và ở đây trong Cơ Đốc giáo. Ta thậm chí có thể giúp cho các đạo hữu Cơ Đốc giáo thay đổi quan niệm về Thiên quốc. Thượng đế có thể là pháp thân, thân đích thực của Bụt.

Có người nói rằng một khi ai đó đã được giải thoát thì họ không còn tạo nghiệp nữa. Thầy nghĩ sao thưa Thầy?

Trong đạo Bụt, nghiệp gồm có ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi ta khởi lên một ý nghĩ thì đó là ta đang tạo nghiệp, có thể nghiệp thiện hoặc bất thiện. Khi ta nói một điều gì, làm một điều gì, đó cũng là tạo nghiệp.

Khi một người đã giải thoát thì nghiệp của người đó chỉ có thể là nghiệp tốt. Khi ấy, người đó không còn kỳ thị, giận dữ hay sợ hãi nữa. Vì vậy suy nghĩ, lời nói, hành động của người ấy chỉ đem lại kết quả tốt đẹp mà thôi. Sự chấm dứt luân hồi chính là sự chấm dứt những điều tiêu cực. Tại sao ta lại muốn những điều tốt đẹp phải dừng lại? Ta muốn chúng nên tiếp tục. Vì vậy sự thực tập của chúng ta là làm sao cho những điều tốt đẹp được duy trì càng lâu càng tốt. Đó chính là nghiệp lành.

Nếu nhìn Bụt, chúng ta sẽ thấy Bụt vẫn đang tiếp tục có mặt với chúng ta. Ngài đang thuyết pháp, đang làm việc, bởi vì các đệ tử của Ngài đang tiếp nối Ngài. Vậy nên Bụt vẫn đang tiếp tục tạo ra nghiệp – những nghiệp lành! Vì vậy ta không thể nói rằng vì Bụt đã giải thoát nên Ngài đã dứt nghiệp. Đó không phải là sự thật.

Trong đạo Bụt, Bụt, Pháp và Tăng được gọi là Tam Bảo. Tam Bảo liên hệ như thế nào đến sự thực tập của chúng ta?

Tam Bảo có trong ta. Bụt có trong ta. Đó chính là khả năng tỉnh thức, thương yêu, hiểu biết của mỗi người trong chúng ta. Nếu ai đó có những phẩm chất này thì người đó chính là một vị Bụt, và ta muốn có thật nhiều những vị Bụt như thế.

Ta cũng có Pháp trong ta. Những phương pháp để chế tác từ bi, hiểu biết và tự do, đó chính là Pháp. Pháp trong mỗi người có thể yếu hay mạnh, tùy thuộc vào sự thực tập của người đó.

Và để chế tác được năng lượng giải thoát, từ bi, hiểu biết một cách hùng hậu, ta cần một tăng thân, một đoàn thể. Ta xây dựng một tăng thân để cùng yểm trợ nhau nuôi lớn Bụt và Pháp trong mỗi người.

Tam Bảo rất là cụ thể, mà không phải là đối tượng của sự tín ngưỡng. Ta không thể chối bỏ sự hiện diện của Tam Bảo. Đó không phải là một cái gì ở bên ngoài ta. Bụt không phải ở trên mây. Bụt chính là sự tỉnh thức, hiểu biết và từ bi trong ta, đó chính là tính Bụt trong ta. Ta tu tập để làm tính Bụt đó lớn lên và bảo hộ ta. Đó chính là cái mà chúng ta có thể nương tựa. Điều đó rất khoa học.

Trong đạo Bụt có đạo Bụt tín mộ và đạo Bụt tuệ giác. Đối với đạo Bụt tín mộ, người ta nghĩ rằng Tam bảo ở bên ngoài họ. Sự tín ngưỡng đó mang lại lợi ích cho họ. Tuy nhiên, có một đạo Bụt sâu sắc hơn – một đạo Bụt tuệ giác – đó là khi ta có thể chế tác ra được năng lượng của Bụt cho chính mình và cho cộng đồng của mình. Đạo Bụt tuệ giác này có khuynh hướng bị mất đi, nhường chỗ cho đạo Bụt tín mộ, vì vậy ta phải cố gắng giúp cho đạo Bụt tuệ giác được tiếp tục. Nếu không thì đạo Bụt sẽ trở thành một tôn giáo như bất kỳ tôn giáo nào khác, chỉ dựa trên sự cứu độ của một đấng quyền năng tối thượng.

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ, Thầy có gặp gỡ với một số Giám đốc Điều hành (CEO) của các công ty hàng đầu về công nghệ. Thầy nghĩ sao khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên của họ học hỏi về thiền?

Chúng ta không cần phải lo lắng về vấn đề liệu thiền có bị lợi dụng để làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Sự thực là thiền chỉ có thể đem lại lợi ích mà thôi. Thiền không chỉ giúp làm lắng dịu cảm xúc mà còn đem lại cho ta một cái thấy chân thực về chính bản thân và về thế giới. Nếu doanh nghiệp của bạn gây ra những vấn đề về môi sinh mà bạn lại là một thiền giả, thì bạn sẽ biết vận hành doanh nghiệp như thế nào để giảm thiểu tác hại đến môi trường thiên nhiên. Khi bạn có được những cái thấy (hay tuệ giác) nhờ thiền tập thì tự nhiên bạn sẽ muốn vận hành doanh nghiệp làm sao để cho thế giới này bớt khổ đau.

Vì vậy không cần lo là thiền tập sẽ phục vụ cho sự bất thiện. Thiền tập có thể giúp thay đổi từ bất thiện sang hảo ý.

Xin Thầy chia sẻ cái thấy của Thầy về sự cạnh tranh trong doanh nghiệp, trong chính trị và trong đời sống cá nhân?

Rất nhiều người trong chúng ta tin rằng hạnh phúc chỉ có được khi mình giành được vị trí số một, mình vượt thắng tất cả những người khác. Nhưng mình đâu cần phải là số một mới có hạnh phúc. Thầy không muốn mình là số một (cười).

Ta cần phải xem lại ý niệm của ta về hạnh phúc. Thậm chí ngay khi ta thành công và kiếm được nhiều tiền, ta vẫn khổ đau như thường. Trong khi đó có thể đối thủ cạnh tranh của ta không làm ra nhiều tiền bằng ta nhưng họ lại hạnh phúc hơn. Vậy thì ta chọn hạnh phúc hay thành công theo kiểu đó?

Có hạnh phúc chính là một thành công đích thực. Khi có hạnh phúc, bạn không cần phải cạnh tranh nữa. Bạn cạnh tranh là vì bạn không có hạnh phúc. Thiền tập có thể giúp bạn bớt khổ đau và sống hạnh phúc hơn.

Trong xã hội của chúng ta, có vẻ như tất cả mọi thứ đều tăng tốc, và mọi người cảm thấy bị quá tải. Vấn đề là ở chỗ người ta tin rằng hạnh phúc nằm ở tương lai. Nhưng nếu bạn dừng lại đừng chạy nữa, đừng tăng tốc nữa, thì bạn sẽ tìm được hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Hạnh phúc chân thực không thể có được nếu thiếu sự bình an. Nếu bạn cứ tiếp tục chạy, làm sao bạn có được bình an? Chúng ta thường chạy trốn bản thân, gia đình và xa rời thiên nhiên. Xã hội bây giờ là như vậy. Chúng ta sợ phải quay về với chính mình để chăm sóc tự thân. Chúng ta không có thì giờ để chăm sóc những người thương của chúng ta. Và ta cũng không cho phép đất Mẹ giúp ta chữa lành thương tích.

Chúng ta đắm chìm trong các thiết bị điện tử. Nhưng các công ty có thể sử dụng sự thông minh và thiện chí của họ để sáng chế ra các công cụ có thể giúp mọi người quay về với chính mình để trị liệu. Thí dụ như một thiết bị có thể nhận ra lượng adrenaline trong máu đang lên quá cao, và báo động qua một tiếng chuông, giúp ta dừng lại để thở vào, thở ra. Thiết bị đó rất là ích lợi. Nó nhắc ta rằng: Bạn đang có một cảm xúc mạnh. Hãy ngưng những gì bạn đang làm lại, ôm ấp cảm xúc của bạn và nhìn xem tại sao bạn lại có cảm xúc đó. Loại thiết bị điện tử đó sẽ giúp ta trở về với mình chứ không phải là đánh mất mình. Vì vậy ta không cần xa lánh hay vứt bỏ các thiết bị điện tử, mà trái lại có thể sử dụng chúng một cách hữu ích.

Chính tôi cũng có một cái đồng hồ “Now” (Bây giờ). Khi tôi xem giờ, bất cứ lúc nào đồng hồ cũng chỉ thời gian là “bây giờ”. Tôi có thể để đồng hồ lên tai rồi thở vào thở ra theo tiếng tíc tắc của đồng hồ. Thường thường hơi thở vào của tôi là bốn giây còn thở ra là sáu giây. Tôi ngưng lại mọi suy tư và chỉ thưởng thức hơi thở mà thôi. Vì vậy tôi đã sử dụng hữu hiệu một thiết bị điện tử rất đơn giản. Nhưng người ta cũng có thể làm ra những thiết bị hiện đại hơn nhiều để giúp cho ta thực tập.

Làm thế nào để có được một mục đích sống tích cực?

Ai cũng muốn làm việc tốt bởi vì ai cũng có tính Bụt trong tự thân. Khi tìm ra được một con đường giúp ta làm những việc tốt, ta sẽ thấy lòng mình bình an và hạnh phúc. Nhưng ta phải dùng trí thông minh của mình để tìm ra con đường đó. Con đường đúng đắn, con đường lành thì đối lập với con đường bất thiện. Con đường bất thiện luôn đem lại cho ta khổ đau. Vì vậy thay vì có cái nhìn lệch lạc, sai lầm, ta muốn có một cái nhìn đúng đắn. Thay vì suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực, ta muốn phát khởi tư duy đúng đắn – nghĩa là tư duy với tâm từ bi và hiểu biết.

Khi nhìn một con đường không đúng đắn, ta có thể thấy được những con đường khác. Vì vậy nhìn vào khổ đau, ta có thể thấy được con đường của hạnh phúc. Đó là giáo lý của Tứ diệu đế. Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể hiểu được điều này. Cái mà bạn cần làm là dành thời gian để nhìn sâu vào khổ đau và hạnh phúc của chính bạn.

Theo Thầy thì chìa khóa của hạnh phúc là gì?

Một sinh viên có thể nghĩ rằng mình sẽ không thỏa mãn cho đến khi có bằng đại học. Nhưng khi có tấm bằng rồi, em chỉ hạnh phúc được vài ngày trước khi nói: “Mình cần phải tìm việc làm và mua một cái nhà”. Vậy nên, không có gì thỏa mãn được một người nếu người đó lúc nào cũng chạy về tương lai.

Dừng lại và học cách sống hạnh phúc trong hiện tại chính là chìa khóa. Ta gọi đó là vô nguyện hay vô tác. Đó chính là giải thoát. Vì vậy một sinh viên có thể rất hạnh phúc ngay cả khi chưa lấy được bằng đại học. Những điều kiện của hạnh phúc luôn có sẵn trong hiện tại, nhưng có thể bạn không biết làm sao để tận hưởng chúng. Bạn không nhận diện được chúng và vì vậy bạn đi tìm hạnh phúc ở tương lai.

Giáo lý của đạo Bụt là giáo lý tỉnh thức. Xã hội của chúng ta đang rất cần một sự tỉnh thức tập thể để có thể ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay. Vì vậy sự thực tập tỉnh thức cần phải xảy ra trong mỗi bước chân, ở khắp mọi nơi. Một khi có sự tỉnh thức, bạn biết rằng bạn đang đi trên con đường của hạnh phúc. Bạn không còn khổ đau nữa, và bạn có thể giúp rất nhiều người làm được như vậy.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/you-have-the-buddha-in-you-an-interview-with-thich-nhat-hanh-january-2014/

Đem chánh niệm vào doanh nghiệp: Điều này có làm thay đổi bản chất của chánh niệm?

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian ngày 28.3.2014)

Thực tập chánh niệm ngày càng trở thành một đề tài được ưa chuộng trong giới lãnh đạo doanh nghiệp. Vài tháng gần đây, nhiều Giám đốc Điều hành (CEO) của các tập đoàn nổi tiếng đã công khai chia sẻ về sự thực tập chánh niệm giúp họ như thế nào trong việc tăng lợi nhuận doanh nghiệp.

Tuần qua, Khajax Keledjian, Giám đốc Điều hành của Intermix đã tiết lộ bí quyết chế tác bình an trong nội tâm với tờ Nhật báo Phố Wall (Wall Street Journal). Arianna Huffington, tổng biên tập của The Huffington Post cũng chia sẻ về chánh niệm trong quyển sách mới của bà có nhan đề “Thrive” (“Thành công đâu chỉ tiền – quyền”) được phát hành trong tuần này. Có thể kể tên nhiều gương mặt tiêu biểu trong giới doanh thương đã và đang thực tập thiền như Mark Bertolini – CEO của Aetna, Marc Benioff – CEO của Salesforce.com, Tony Hsieh – CEO của Zappos. com, v.v…

Tháng trước, trên blog của mình, Huffington đã viết như sau: “Không có gì phải quá bức xúc về việc tăng lợi nhuận trong kinh doanh. Nền kinh tế bây giờ tương đối khó khăn… Thực tập để giảm căng thẳng và áp dụng chánh niệm không những giúp chúng ta hạnh phúc và khỏe mạnh hơn mà còn giúp cho doanh nghiệp có thêm lợi thế cạnh tranh nếu muốn.”

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Khi tận dụng những lợi ích do thực tập chánh niệm mang lại để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, phải chăng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đang làm biến chất những giáo lý cốt tủy của đạo Bụt?

Thích Nhất Hạnh, vị thiền sư 87 tuổi được nhiều người xem là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở Tây phương nói rằng, miễn là các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thực tập chánh niệm “thật sự”, thì cho dù động cơ ban đầu khiến họ thực tập là để làm việc có hiệu quả hơn hay làm ra nhiều lợi nhuận hơn cũng không sao. Bởi vì sự thực tập chánh niệm sẽ làm cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thay đổi một cách căn bản quan niệm của họ về cuộc sống. Với sự thực tập, trái tim của họ tự nhiên sẽ mở ra và lòng từ bi càng thêm lớn rộng, khi đó trong họ sẽ phát khởi ước muốn giúp người bớt khổ.

Tại trung tâm thực tập chánh niệm Làng Mai, gần thành phố Bordeaux, nước Pháp, trong tư thế ngồi kiết già, Thầy chia sẻ với phóng viên báo The Guardian: “Nếu quý vị biết cách thực tập chánh niệm, quý vị sẽ chế tác được bình an và niềm vui ngay bây giờ và ở đây. Quý vị sẽ trân quý điều đó và nó sẽ làm quý vị thay đổi. Ban đầu, quý vị có thể nghĩ là nếu không trở thành nhân vật “số một” thì mình không thể nào hạnh phúc. Nhưng nếu thực tập chánh niệm, quý vị sẽ sẵn sàng buông bỏ quan niệm đó. Chúng ta không cần lo sợ chánh niệm chỉ có thể là phương tiện mà không phải là cứu cánh. Bởi vì trong chánh niệm, cứu cánh và phương tiện chỉ là một mà thôi. Không có con đường đưa đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.”

Tuy nhiên, Thầy cũng chỉ rõ rằng nếu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp chỉ thực tập vì những lý do ích kỷ cá nhân thì họ chỉ thấy được cái bóng rất mờ nhạt của chánh niệm mà thôi.

“Nếu anh coi chánh niệm chỉ là phương tiện để kiếm thật nhiều tiền thì anh chưa tiếp xúc được với mục đích thật sự của nó”, Thầy nói. “Về hình thức, có vẻ như đó là sự thực tập chánh niệm nhưng về nội dung thì không có sự bình an, niềm vui và hạnh phúc được chế tác. Đó chỉ là một sự sao chép giả hiệu mà thôi. Nếu anh không cảm nhận được năng lượng của tình huynh đệ, tình bằng hữu tỏa chiếu ở nơi làm việc thì đó không phải là chánh niệm.”

Và Thầy nói thêm rằng: “Nếu anh hạnh phúc, anh không thể nào là nạn nhân của hạnh phúc. Nhưng nếu anh thành công, anh có thể trở thành nạn nhân của sự thành công.”

Nguy cơ bị công kích và chế giễu

Cho dù phương pháp thực tập chánh niệm đang đi vào dòng chảy chính thống của xã hội, thì nhiều tổ chức, doanh nghiệp vẫn còn lo ngại là bị công kích và chế giễu khi có liên hệ trực tiếp với một phương pháp thực tập đạo Bụt cổ xưa như thế.

Gần đây Thầy đã được ông Jim Yong Kim, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới mời đến trụ sở chính của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm – một sự kiện được các nhân viên của Ngân hàng Thế giới hoan nghênh nhiệt liệt. Một trong những quyển sách ưa thích nhất của ông Kim là quyển Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông ca ngợi phương pháp thực tập của Thầy có khả năng giúp chúng ta phát khởi “lòng lân mẫn và từ bi sâu sắc đối với những người đang khổ đau”.

Tuy nhiên, điều này cũng không ngăn được sự chỉ trích từ những người đồng sự cao cấp của ông trước khi chuyến thăm của Thầy đến trụ sở Ngân hàng Thế giới diễn ra. Những quan chức này lo ngại không biết dư luận sẽ phản ứng thế nào. Thực tế là tờ The Economist đã có một bài báo chỉ trích Ngân hàng Thế giới về sự kiện này.

Mặc dù vậy, ông Kim vẫn không hề bị lung lay. Ông chia sẻ với tờ The Guardian là ông đã vô hiệu hóa những lời chỉ trích bằng cách viện dẫn rất nhiều nghiên cứu khoa học để chứng minh cho những lợi ích của chánh niệm.

Sự giao thoa giữa chánh niệm và khoa học kỹ thuật

Có lẽ sự giao thoa thú vị nhất trong thế giới kinh doanh là sự giao thoa giữa chánh niệm và khoa học kỹ thuật, bởi vì nhìn bề ngoài thì hai lĩnh vực này có vẻ hoàn toàn trái ngược nhau. Thực tập chánh niệm có công năng làm cho những hoạt động của tâm ý chậm lại và giúp cho đầu óc ta rỗng rang, trong khi đó cuộc cách mạng kỹ thuật số lại làm nhịp sống của ta trở nên nhanh hơn và nạp đầy đầu óc con người một lượng thông tin khổng lồ.

Dù vậy, cả hai lĩnh vực tưởng như rất khác biệt này lại có một lịch sử gắn bó rất lâu dài với nhau. Tại California nơi hội tụ của rất nhiều tập đoàn công nghệ, chánh niệm đã hòa quyện và trở thành một phần nếp sống của thành phố này trong nhiều thập kỷ qua. Steve Jobs, nhà sáng lập của tập đoàn Apple cũng rất yêu thích pháp môn Thiền trong đạo Bụt.

Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi Thầy – tác giả có lượng sách phát hành lên tới con số hai triệu bản ở Hoa Kỳ – đã được Google mời tới Thung lũng Silicon để hướng dẫn một ngày chánh niệm dành riêng cho các Giám đốc Điều hành của 15 tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới.

Thông điệp quan trọng mà Thầy gửi đến các nhà lãnh đạo của các tập đoàn công nghệ trong dịp này là: Cần sử dụng ảnh hưởng có tầm cỡ thế giới của mình để tập trung vào việc làm thế nào góp phần xây dựng thế giới này trở nên tốt đẹp hơn, thay vì chỉ hướng vào mục tiêu làm ra càng nhiều tiền càng tốt.

Thầy và tăng đoàn xuất sĩ Làng Mai đã có một ngày gặp gỡ các vị lãnh đạo cao cấp của tập đoàn tại trụ sở Google, đồng thời hướng dẫn cho khoảng 700 nhân viên của Google thực tập thiền tọa, thiền hành và pháp đàm về chánh niệm. Số nhân viên muốn đến tham dự quá đông nên tập đoàn này đã phải sắp xếp thêm hai địa điểm bên ngoài thính đường chính để mọi người có thể đồng thời theo dõi pháp thoại của Thầy trên màn ảnh.

Thầy nói về sự tương phản rõ rệt giữa nhịp độ làm việc nhanh đến chóng mặt ở tập đoàn công nghệ khổng lồ này và sự bình an được chế tác khi mọi người ở đây cùng ngồi thiền im lặng trong ngày chánh niệm tại khuôn viên của Googleplex. “Không khí hoàn toàn khác hẳn”, Thầy nói. “Có một sự tĩnh lặng, một sự bình an được chế tác từ hành động ngồi yên và không làm gì cả. Chính trong không gian ấy, mọi người có thể nhận ra được sự quý giá của thời gian”.

Những lời khuyên dành cho giới khoa học công nghệ

Trong chuyến viếng thăm Google với chủ đề “Mục đích, Sáng kiến và Tuệ giác” (Intention, Innovation, Insight), Thầy đã gặp gỡ một số kỹ sư hàng đầu của Google để bàn thảo về việc làm thế nào Google có thể sử dụng khoa học công nghệ một cách từ bi và hiệu quả hơn để giúp đem lại những thay đổi tích cực cho thế giới này, thay vì làm cho con người càng ngày càng bị căng thẳng và tăng thêm sự cô lập giữa con người với con người cũng như giữa con người với thiên nhiên.

Khi sáng chế ra một thiết bị điện tử, các kỹ sư của Google có thể quán chiếu xem mặt hàng mới này có nguy cơ làm cho con người xa cách bản thân, gia đình và thiên nhiên hay không. Thầy nói: “Thay vào đó, các kỹ sư có thể chế tạo ra một thiết bị hay phần mềm có thể giúp con người quay trở về với chính mình và chăm sóc cảm thọ trong mình. Làm như thế, họ sẽ cảm thấy vui trong lòng, bởi vì họ đang làm một điều tốt đẹp cho xã hội”.

Trong ngày chánh niệm dành riêng cho các CEO, Thầy đã hướng dẫn họ ngồi thiền trong yên lặng và hiến tặng một buổi thiền trà trước khi nói pháp thoại cho nhóm người mà phần lớn là các nhà tỷ phú này. Thầy chia sẻ với họ về tầm quan trọng của sự dừng lại, không để cho công việc lấy hết thì giờ mà lẽ ra họ có thể dành cho gia đình của mình. “Thời gian không phải là tiền bạc,” Thầy nói. “Thời gian là sự sống, thời gian là tình thương”.

Sau khi trở về Làng Mai, Thầy nói về chuyến đi ấy như sau: “Lần nào đến Google, tôi cũng chia sẻ với họ là: Quý vị cần tổ chức việc kinh doanh như thế nào để hạnh phúc có thể đến với tất cả mọi người trong tập đoàn. Có thêm nhiều tiền để làm gì, nếu điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải khổ đau hơn? Quý vị cũng cần phải hiểu rằng nếu có một chí nguyện đẹp và lành, quý vị sẽ hạnh phúc hơn bởi vì việc giúp cho xã hội thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn sẽ làm cho cuộc sống của quý vị trở nên có ý nghĩa”.

“Chuyến viếng thăm ấy chỉ là một sự khởi đầu”, Thầy nói thêm. “Tôi nghĩ là chúng tôi đã gieo được nhiều hạt giống tốt và cần có thời gian để cho những hạt giống này nẩy mầm”, Thầy tiếp. “Nếu các nhà lãnh đạo và nhân viên của Google bắt đầu thực tập chánh niệm, họ sẽ nếm được niềm vui, niềm hạnh phúc, và sự chuyển hóa. Khi ấy họ có thể tìm ra cho mình một sự hứng khởi, một chí nguyện mới. Danh vọng, quyền hành và tiền tài không chắc sẽ mang đến cho quý vị hạnh phúc chân thực so với việc chọn cho mình một lối sống mà quý vị có thể chăm sóc hình hài và cảm thọ của mình”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/thich-nhat-hanh-mindfulness-google-tech

Ta hạnh phúc liền giây phút này

 

Claudio Gallo

Ngày 10.9.2014, nhật báo La Stampa – một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý – có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Claudio Gallo – Biên tập viên phụ trách chuyên mục Văn hóa (Culture Editor) của tờ báo đã tham dự trọn vẹn khóa tu dành cho người Ý được tổ chức tại Làng Mai trong tuần lễ cuối của tháng 8, và anh đã tự mình trải nghiệm được cái gọi là “hiện pháp lạc trú”. Sau đây là bài tường thuật của anh với tựa đề “Happiness is Now” đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Có một cái gì thật dịu ngọt mà cũng thật hùng tráng tỏa ra từ những ruộng nho, những cánh rừng, những đồng cỏ xanh mướt trải dài nối đuôi nhau lướt qua ô cửa sổ của chuyến tàu đi về miền quê nước Pháp, từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sự nhẹ nhàng đầy hùng lực mà ta có thể tìm thấy trong những lời giảng của Thầy Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt, Thầy sống với tăng thân của mình tại Làng Mai, một trung tâm tu học tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi Thầy một cách giản dị là “Thầy” (nghĩa là “một vị thầy tâm linh”).

Thầy đã 88 tuổi, gương mặt trông có vẻ nghiêm khắc nhưng có thể bất ngờ nở một nụ cười trẻ thơ khiến cho ai nhìn thấy cũng phải mỉm cười theo. Năm 1973, Thầy bị chính quyền miền Nam Việt Nam buộc phải lưu vong và Thầy đã chọn Tây phương nơi mà Thầy được Mục sư Martin Luther King và Linh mục Thomas Merton vô cùng trân quý. Ở Mỹ, Thầy cũng được biết đến thông qua các chuyến đi vận động hòa bình cho Việt Nam.

Là tác giả của trên 100 cuốn sách, Thầy đã đem đến cho người Tây phương một phương pháp thực tập dựa trên giáo lý căn bản của đạo Bụt, đó là phương pháp thực tập chánh niệm – sự thực tập tỉnh thức và có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong Phật giáo, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy có lẽ là vị thầy nổi tiếng nhất trên thế giới với rất nhiều trung tâm tu học ở khắp các châu lục và có số người theo tu học lên đến hàng trăm nghìn người. Điều đáng chú ý là Thầy không đòi hỏi các đệ tử Tây phương phải từ bỏ đạo gốc của mình. Rất nhiều người trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 vừa qua tại Làng Mai là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Thưa Thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay – thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào internet?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.

Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho thân tâm ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.

Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.

Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình, ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác. Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh. Đạo Bụt gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).

Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Bụt đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.

Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình. Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn. Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người mà ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: Không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.

Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: Đám mây có thể chết không? Đám mây có thể từ mà trở thành không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Bụt cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực. Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi ta có khả năng dừng lại, ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nguồn: http://plumvillage.org/news/an-italian-journalist-reports-from-plum-village/

Vị “anh hùng ẩn danh” đằng sau công cuộc chống biến đổi khí hậu trên thế giới

 

Jo Confino

(Đăng trên The Huffington Post ngày 22.01.2016)

Một trong những động lực ở hậu trường dẫn dắt vòng đàm phán Paris và đem lại bản thỏa thuận lịch sử về biến đổi khí hậu là vị thiền sư 89 tuổi người Việt Nam.

Christina Figueres, kiến trúc sư trưởng của những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu tại Paris, đã thừa nhận vai trò then chốt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong việc giúp bà phát triển sức mạnh nội tâm, trí tuệ và lòng từ bi cần thiết để có thể thúc đẩy các bên liên quan đi đến Thỏa thuận Paris – một bản thỏa thuận toàn cầu đầu tiên về biến đổi khí hậu được sự thông qua bởi 196 quốc gia.

Bà Figueres, Tổng thư ký điều hành Công ước khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi Khí hậu (UNFCCC) nói rằng những lời dạy của Thầy đến với bà một cách rất tình cờ khi bà đang trải qua một cuộc khủng hoảng cá nhân sâu sắc cách đây ba năm. (“Thầy” là cách gọi thân thương mà hàng trăm ngàn đệ tử trên thế giới dành cho Thiền sư Thích Nhất Hạnh.)

Những giáo lý đạo Bụt qua cách diễn bày của Thầy – người hiện đang trong quá trình phục hồi sau một cơn xuất huyết não nghiêm trọng – đã giúp bà đối diện được với những khó khăn của chính mình trong giai đoạn đó, đồng thời giữ được sự định tâm trong các cuộc đàm phán về khí hậu.

“Tôi cần có một cái gì đó ngay trong tầm tay để nương vào, nếu không thì tôi chẳng thể nào hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Một điều quá rõ ràng là lúc ấy tôi không có cơ hội để nghỉ ngơi, dù chỉ một ngày. Đó là một cuộc chạy đua kéo dài sáu năm không ngừng, tôi thực sự cần một cái gì đó để nương tựa. Nếu không được dẫn dắt bởi những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã không thể có được sức mạnh nội tâm, niềm lạc quan sâu sắc, sự tận tâm và niềm cảm hứng mạnh mẽ như vậy” – Bà Figueres chia sẻ với phóng viên của The Huffington Post trong thời gian diễn ra Diễn đàn Kinh tế Thế giới thường niên tại Davos, Thụy Sĩ.

Vậy, Thầy đã dạy cho người phụ nữ này điều gì?

Bà Figueres làm sáng tỏ điều đó qua câu chuyện về chuyến thăm của bà tại Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) do Thầy thành lập, tại Waldbröl, Đức. Nơi đây từng là bệnh viện tâm thần với 700 bệnh nhân cho tới khi Đức Quốc xã (Nazis) xuất hiện, thủ tiêu hoàn toàn những bệnh nhân và biến nơi này thành cơ sở cho Đảng thanh niên Hitler (Hitler Youth).

Bà kể rằng Thầy đã chọn nơi này để thành lập tu viện vì “Thầy muốn chỉ ra rằng chuyển hóa niềm đau thành tình thương, nạn nhân thành người chiến thắng, hận thù thành thương yêu và tha thứ là điều có thể làm được. Thầy muốn điều đó được thực hiện ở ngay chính mảnh đất này, nơi đã từng xảy ra những hành động bạo tàn và phi nhân tính”.

“Việc làm đầu tiên của Thầy là viết thư cho cộng đồng Phật giáo. Trong thư Thầy nói rằng: Thầy muốn có những trái tim được khâu bằng tay, mỗi trái tim dành cho một bệnh nhân bị thủ tiêu, để chúng ta có thể bắt đầu chuyển hóa tòa nhà này, không gian này và năng lượng nơi đây”– bà Figueres chia sẻ tiếp.

“Đó là một câu chuyện vô cùng chấn động đối với tôi. Bởi vì dưới nhiều góc độ, đây chính là hành trình mà chúng tôi đã đi qua để tới được với nhau trong những cuộc đàm phán về khí hậu. Đó là hành trình từ lên án, trách móc lẫn nhau đi tới hợp tác thật sự với nhau. Đó là hành trình từ cảm giác hoàn toàn tê liệt, bất lực, dễ tổn thương đi tới cảm giác thực sự thấy mình có khả năng cùng nhau hành động… Hành trình đó đồng thời đem đến cho tôi rất nhiều trị liệu. Bởi vì ngay chính trong tôi cũng còn có những khó khăn, khổ đau cần được chuyển hóa”. Bà nói thêm: “Chưa thể nói rằng tôi đã đi qua giai đoạn khó khăn của cá nhân mình, nhưng tôi sẽ chuyển hóa nó. Tôi cần làm điều đó cho chính mình.”

Bà tiếp tục chia sẻ: “Tôi cảm nhận đây chính là năng lượng mà những cuộc đàm phán về biến đổi khí hậu cần phải có. Tôi thực sự rất hứng khởi khi được nghe những lời chỉ dạy tuyệt vời như vậy”.

Lần đầu tiên tới cơ sở cũ của Đức Quốc xã, nơi có 400 phòng ở này, Thầy đã viết một bức thư cho những người đã bị giết hại. Lá thư được các thầy, các sư cô sống tại đây đọc lên mỗi ngày:

“Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay tăng thân đã tới, tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý Ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa.

Xin hộ trì cho tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbröl mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.”

Thầy được coi là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở phương Tây, là nhà hoạt động môi trường tích cực từ hơn hai thập kỷ qua. Người đã thành lập nhiều trung tâm thiền tập ở khắp nơi và xây dựng nên một tăng thân xuất sĩ có tốc độ phát triển nhanh nhất trên thế giới. Các nhà lãnh đạo lớn của Mỹ rất kính trọng vị thiền sư này.

Năm ngoái, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã mời Thầy tới trụ sở của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày chánh niệm cho các nhân viên của ông. Cuốn sách yêu thích nhất của ông Kim là cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông Kim đã ca ngợi sự thực tập của Thầy – vị thiền sư “có sự cảm thông và lòng từ bi sâu sắc đối với những người đau khổ”.

Năm 2013, Google cũng mời Thầy tới thăm Thung lũng Silicon và hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm cho các tổng giám đốc của 15 tập đoàn mạnh nhất trên thế giới trong lĩnh vực công nghệ cao. Marc Benioff, Giám đốc Điều hành của tập đoàn Salesforce – người khổng lồ của lĩnh vực điện toán đám mây (cloud computing) – đã và đang hỗ trợ rất tích cực quá trình hồi phục sức khỏe sau tai biến của Thầy.

Thầy sống một cuộc đời thật phi thường. Năm 1967, Martin Luther King đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình vì những cống hiến của Thầy giúp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Trong lí do đề cử của mình, Mục sư Luther King đã tuyên bố: “Tôi không thấy ai xứng đáng nhận giải thưởng Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Việt Nam hiền lành này. Những tư tưởng vì hòa bình của ông, nếu được áp dụng, sẽ tạo nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Nguồn: http://www.huffingtonpost.com/entry/thich-nhat-hanh-paris-climate-agreement_ us_56a24b7ae4b076aadcc64321

Bình an

Sáng tác: Sư cô Giải Nghiêm

Trình bày: Sư cô Thi Nghiêm

 

 

Tôi vẫn sống như bao người đang sống

Thắp mặt trời làm trái tim chung

Sáng mở cửa đất trời thơm thơm lạ

Bước đầu ngày xin bước bước yêu thương.

Lời mẹ ru xưa gửi bài ca dao vào giấc ngủ

Nghìn năm rồi ôi quen quá lời ru.

Ngày hôm nay đất trời đâu xa lạ!

Mắt ai nhìn? Mới cả, cả lòng tôi.

Nghìn yêu thương gửi vào đôi chân nhỏ

Hăm bốn giờ trao đổi chỉ yêu thương.

Hoa lá vì tôi giữ nụ cười muôn thuở

Đất Mẹ hiền đưa tôi đến bao phen

Hoa là nụ cười của Đất

Em  là cuộc tình của tôi

Mặt trời là trái tim chung

Bình an trong từng hơi thở

Bình an trong mỗi con người.

Hương vị mùa xuân

Thư gửi bạn hiền mùa cô vy (Phần 2)

Đời sống nông trại

Mùa xuân này tôi được ở Làng để ngắm những cành dâu trơ trụi đột nhiên một ngày chi chít đọt non xanh mát. Lá dâu non nhú ra, cả những quả dâu bé tí màu xanh. Những trái mận non cũng ra đời còn dính vào cuống hoa chưa rụng. Cả vũ trụ như đang bừng lên sức sống. Đọt dâu lớn rất nhanh thành những chiếc lá be bé và còn mềm, nên chúng tôi bỗng thành những cô gái “hái dâu” khi tôi tỉa những cành dâu mọc vô trật tự. Chỉ cần tỉa chừng hai cây được khoảng mười cành là đại chúng ăn lá dâu… hai ngày. Chúng tôi cười với nhau thấy mình như tằm ăn dâu, các sư em bảo mình thành Ỷ Lan đi hái dâu hết rồi.

 

 

Mà cả xóm có hơn chục cây dâu lận, ăn sao hết. Lá dâu có vị béo và thơm, lại là một loại lá có nhiều công dụng hỗ trợ cho sức khoẻ: bổ phổi, giúp thanh lọc gan, giải nhiệt cơ thể, trị nám da, cải thiện trí nhớ, làm sáng mắt, hạ cao máu, cholesterol… Thế là mâm cơm hầu như ngày nào cũng có lá dâu không luộc thì xào. Ăn thả cửa đến nửa tháng sau thì lá đã sẫm màu và bắt đầu dai, bấy giờ phải đi hái đọt thôi chứ không ăn hết tất tần tật mọi lá như trước. Lá dâu gần hết “mùa” thì sư cô Chân Đức cho thị giả đem măng bên Sơn Cốc qua. Thế là lại tha hồ ăn măng cho nhớ Thầy (vì Thầy thích tự tay kho măng đãi học trò), ăn hết măng Sơn Cốc thì đi quanh hai bụi trúc Xóm Mới, rồi Xóm Trung, rồi vào xin nhà hàng xóm “đạp măng”. Cứ cách mấy ngày lại có măng kho mà ăn hoài không ngán. Rồi thì măng nướng chấm muối tiêu, bún măng, gỏi măng… Ngày xưa các cụ bảo “thu ăn măng trúc đông ăn giá”, mình thì mùa xuân cũng ăn măng luôn. Ăn măng “ta” chưa đủ, còn măng tây. Nhà hàng xóm trồng măng tây nên thu hoạch xong còn loại vụn vụn, không đạt tiêu chuẩn xuất bán ra thị trường, là tới phiên mình lấy về. Thế là dù măng tây bán ở ngoài mắc ơi là mắc, mà Xóm Mới thì cứ hết măng tây luộc lại tới măng tây đút lò. Các sư em còn làm măng tây ngâm chua ngọt nữa chứ.

Sống ở đồng quê, rau trái tươi ngon nên bữa cơm nào cũng ngon. Sáng nào cũng có hạt dẻ (hazel) rang vừa bùi vừa béo. Năm ngoái đi lượm được quá nhiều, năm nay lại không có khoá tu nên tới giờ vẫn còn hạt để ăn. Mùa hè năm nay Làng sẽ không mở cửa vì vẫn chưa hết dịch bệnh. Mấy cây mận, mấy cây dâu tằm, cây sung tím chắc là ế khách vì không có thiền sinh, không có mấy cháu nhỏ tới Làng thì ăn sao hết. Bữa nay mấy cây anh đào (cherry) đã đầy trái và có trái bắt đầu đỏ rồi. Nghe nói mùa anh đào năm ngoái đại chúng ăn no cả bụng mà vẫn còn trái, năm nay mất mùa tuy trái không trĩu cành nhưng thấy cũng nhiều, trái non vẫn chi chít.

Cùng nhau mùa cách ly

Mấy hôm nay nghe nói nhiều thân hữu quan tâm đã gởi tiền cúng dường Làng vì sợ chúng tôi không có nguồn thu nhập trong mùa dịch bệnh bị đói. Ôi những tấm lòng để chúng tôi tri ân. Đức của Sư Ông lớn lao nên con cháu được hưởng. Chúng tôi chưa thiếu ăn, chưa đói, chỉ ăn rau và đậu nên cũng không tốn kém lắm. Tuy nhiên dịch bệnh kéo dài, khoá tu không có thì cũng khá chật vật với các chi tiêu khác như thuế đất, thuế nhà, bảo hiểm nhà, bảo hiểm xe, bảo hiểm sức khoẻ, điện, nước, ga, phí điện thoại, linh tinh… Nghe nói bên Việt Nam đã hết cách ly, mọi người có thể đi làm lại. Ở Pháp vẫn còn lệnh phong toả. Từ ngày 15/5 thì ra đường không còn phải đem giấy tờ chứng minh là đi đâu nhưng nạn dịch vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Tuy nhiên có lẽ thiên hạ không thể ở nhà thêm nữa nên mấy ngày rồi con đường trước mặt xóm bắt đầu có nhiều xe chạy qua trở lại.

Sau mấy tháng cách ly, bây giờ mọi người học làm quen với các vấn đề trực tuyến. Chúng tôi không giỏi giang gì về kỹ thuật, đường truyền internet thì chậm rì rì vì là “vùng sâu vùng xa”, (công nhận internet ở Việt Nam ngon lành hơn nhiều), nhưng cũng bắt đầu chuyển tải những buổi tu tập của mình đến thân hữu gần xa. Các nhóm lo về sinh hoạt tiếng Anh, tiếng Việt, tiếng Pháp và ban kỹ thuật luôn luôn bận với những pháp thoại trực tuyến và thu hình sinh hoạt. Ban giáo thọ họp về việc cho các khoá tu trực tuyến để thế cho những khoá tu không thể tổ chức ở Làng. Ai có việc đó. Sinh hoạt tu tập vẫn đều đặn. Những buổi ngồi thiền, tụng giới, thiền hành đều hướng tâm cầu nguyện cho dịch bệnh sớm tiêu trừ và mọi người đều được bình an vượt qua giai đoạn khó khăn này.

Hương vị mùa xuân

 

 

Ngày hôm nay tôi nhất định phải khoe với bạn hiền về món xà lách mới vừa làm. Tôi ôm rổ đi chơi, ngắt ở đây một ít, kia một ít hoa lá trong vườn. Nắng rất trong, cỏ thật xanh, và những đoá hoa dại đủ màu nhàn nhã đu đưa trong gió. Hôm kia nông trại hạnh phúc của Sơn Hạ vừa mới gởi lên những búp xà lách xanh non bụ bẫm nên tôi nhất định phải làm một thau xà lách đủ màu cúng dường lên đại chúng. Đi quanh một chút, vừa ngắm vừa hái, hương thơm của rau thì là, của hoa hồng, của hoa xô thơm thật ngọt ngào. Bạn hiền biết món xà lách này có bao nhiêu thứ không? Kể cho bạn hiền nghe nhé: xà lách, arugula, xà lách xoong, ngò, rau răm, rau bạc hà, thì là, bồ công anh, mùi tây, hẹ và mười loại hoa: hoa hồng năm loại (đỏ, hồng, vàng, trắng, tím), cúc vạn thọ vàng nhạt, vàng đậm, hoa bồ công anh, kim ngân hoa trắng và vàng, hoa xô thơm, hoa sen cạn (nasturtium). Đây đều là những loại hoa và rau trong xóm, vừa là cây trồng vừa là hoa dại. Hầu như thứ nào cũng có chút vị thuốc. Tôi ngâm hoa vào chậu nước lạnh mà nghe mùi thơm dìu dịu phảng phất. Nhìn màu sắc tươi sáng chen lẫn, lòng thật thoả mãn như ôm cả hương vị mùa xuân vào người.

Mấy hôm trước đi thiền hành lên đồi mận. Trời nắng ấm. Hoa dại màu xanh nhạt dập dềnh chen lẫn những đoá hoa hồng, tím, vàng, trắng. Cả một cánh đồng hoa dại đẹp sững sờ. Có lẽ mọi năm mưa ít hơn, hay cỏ cắt thường hơn mà tôi không thấy nhiều hoa như năm nay. Chắc vì mảnh vườn sắp sang tay nên chủ vườn không buồn cắt cỏ, do đó nhiều loại hoa hiếm thấy, năm nay có cơ hội lớn lên đầy cả vườn. Có một loại lan đất nhỏ xíu, tên là lan ong (bee orchid) vì thu hút ong, rất giống loại lan nhỏ xíu ở Việt Nam màu xanh và tím. Có một loại lan dại hình tháp màu tím hồng, vốn dĩ là nằm trong dạng được bảo tồn vì sắp tuyệt chủng, hai mươi năm trước ở xóm hạ tôi đã biết là không được hái mà bây giờ không ngờ vườn mận lại đầy hoa này. Hôm lễ Phật đản vừa ăn trưa xong thấy ông hàng xóm đem cái máy cắt cỏ (tractor) qua cắt cỏ chúng tôi vội vàng đi bứng những gốc lan đó về trồng trong khu vườn nhỏ trước thiền đường. Bứng chỉ được một số, không kịp nổi, chúng tôi đành cắt về trước khi những đoá hoa đó tan nát dưới cái máy cắt cỏ. Bởi vậy hoa trước giờ chỉ dám ngắm mà bây giờ lại đầy nhà, cắm mấy bình cúng Bụt rồi cắm chưng khắp trong phòng ăn, nhìn thấy cả mùa xuân tràn ngập.

 

 

Mặt trăng và tổ chim

Có một ngày trăng vàng “ửng chín”, sáng và gần, thu hút ánh mắt mọi người sau giờ ngồi thiền. Tôi đang đứng chiêm ngưỡng chung với một số sư em thì sư em Trăng Phương Nam lí lắc hoa tay trước mắt tôi: “con đẹp không?” Tôi ngớ ra một chút mới nhận được em đang chơi chữ vì em là “Trăng” mà, nên tôi lắc đầu: “ trên kia mới đẹp”, và chỉ về phía mặt trăng. Em nương theo hướng tay tôi là sư em Trăng Khương Giới đang đứng, lắc đầu nguầy nguậy: “ không, trăng này (chỉ vào mình) mới đẹp, trăng kia không đẹp bằng.” rồi cười lém lỉnh.

Ừ, mình có nhiều “Trăng” quá, nên lúc nào trăng cũng sáng trong lòng.

Hôm trước tỉa cái hàng rào quanh bình đựng ga trước phòng Sư Ông, cây lên cao khỏi cái hàng rào cả mấy tấc, ra hoa trắng khá đẹp. Đang cắt ngắn xuống bỗng sư em thị giả thấy một cái tổ chim có một con chim non và hai cái trứng giữa bụi cây. Thế là cắt hết xung quanh nhưng chừa lại mấy cái nhánh cây trên đầu tổ để che mưa che nắng cho nó. Hai con chim mẹ chim cha bay về có chút ngẩn ngơ nhưng tổ còn nguyên vẹn nên chim mẹ lại vào ấp trứng cho đến ngày cả bầy biết bay và cùng bay đi hết. Cuối cùng để lại cái hàng rào chữ nhật có một túm cao cao như dấu tích của một ngôi nhà đã hết được sử dụng. Cái tổ trống không nhưng không ai muốn dọn đi, thỉnh thoảng mấy sư cô đi ra văn phòng ghé ngang, vạch cây nhìn xem có con chim nào mượn tổ đẻ trứng nữa không.

Rồi tới cây mận trước phòng ngủ của mình có một cặp bồ câu tha cỏ, cây về làm tổ. Các sư cô thấy chim bay đi tìm nhánh nhỏ nên đi lượm dùm, đem về chất đống dưới gốc cây mận nhưng con chim này không biết vì sợ hơi người hay chọn lựa gỗ tốt cho tổ ấm mà không thèm động vào nhánh nào hết, tự mình bay đi ngậm từng cọng cây về. Cái tổ này thật là vui, chỉ toàn cành cây xếp lên nhau chứ không có rêu, cỏ đan lại tròn ủm như cái tổ chim kia. Vậy mà chị bồ câu nằm rất êm ái. Cái tổ chỉ đủ cho một con béo ú, con còn lại nhảy nhảy rồi bay mất, sau này mới biết chúng thay nhau ấp trứng. Đứng trên hành lang nhìn xuống cái tổ và cặp chim rất rõ ràng. Ấp đúng hai tuần nở ra một con chim bồ câu con, vừa hé mắt thấy mấy cặp mắt trên lầu đang nhìn xuống chằm chằm quan sát bé sợ quá dúi đầu vào bụng mẹ. Vẫn còn mấy cái trứng chưa nở nên chim mẹ vẫn còn nằm ì đó cho chúng tôi ngắm. Nghe nói có hai con cú con bị lạc mẹ nên đêm nào cũng kêu, sư em Trăng Thường Chiếu chụp được hình con cú đưa tôi xem khá xinh. Sư em Trăng Giác Hoà kể có hai con nai ở trong rừng bên cạnh chạy ra đồi mận, bây giờ cỏ cắt hết không biết còn ra nữa không.

 

 

Bạn hiền thương. Đây là lá thư thứ hai cho bạn hiền mùa cô vy. Kể bạn hiền nghe chút chút về đời sống của tôi. Trong khi dịch bệnh vẫn còn, lòng người vẫn chưa an, nỗi sợ vẫn còn lớn lao thì trăng vẫn sáng và hoa vẫn nở, nụ cười vẫn tươi. Ai đó đã nói là bầu khí quyển này tốt hơn nhiều, đất Mẹ đang được chữa lành nhờ sự bớt tiêu thụ, và vì chúng ta đang tương tức nên sự khoẻ mạnh ở đây cũng giúp cho mọi người ở nơi khác có thêm chút bình an và hy vọng, phải không bạn hiền?

 

Chân Thoại Nghiêm

 

 

Thệ nhật yêu thương

Sáng tác: Thầy Pháp Thiên

Trình bày: Quý thầy, quý sư cô trẻ Làng Mai

 

 

Vượt trùng khơi đến đây

Khơi nguồn dòng Tào Khê

Thấm mát đất trời Phương Tây

Thệ Nhật Sơn – vòng tay rừng thiêng ôm lấy người con đất Việt.

Một am tranh tháng ngày thong dong bước

Bàn tay gieo hạt để mùa xuân nắng ấm

Ngàn thuỷ tiên vươn mình trong nắng

Ngàn Bồ Tát tùng địa dõng xuất

Từ Pháp Thân Tạng mang lời thề năm xưa đi vào cuộc đời

Đại dương sâu lan tràn nước mắt

Bàn tay yêu thương

Gọi nắng cho thêm hồng cánh đồng xanh mát thơm mùi mạ non

Hoá từ muối mặn đại dương.

Ngàn thuỷ tiên vươn mình trong nắng

Ngàn Bồ Tát tùng địa dõng xuất

Từ Pháp Thân Tạng mang lời thề năm xưa đi vào cuộc đời

Đoàn quân nâu

An ban trường kiếm

Dù phong ba, bão táp hay biển lửa

Vững niềm tin sắt son

Khải hoàn ca

Khúc hát vô sinh.