Tiếng gọi

Trong ngày tiếp nối của Sư Ông Làng Mai vào tháng 10 năm 2019, thầy Pháp Linh đã có cuộc trò chuyện với sư chú Chân Trời Thiện Ý và sư cô Chân Trăng Hiền Nhân (hai vị xuất gia trẻ thuộc gia đình xuất gia Cây Dẻ Gai, đang sống và thực tập ở Làng Mai, Pháp). Khi cuộc trao đổi này diễn ra thì chỉ còn một tuần nữa là kỷ niệm một năm ngày xuất gia của sư cô và sư chú. Nhân dịp này, thầy Pháp Linh muốn biết điều gì đã tạo cảm hứng và là động lực để sư cô và sư chú gia nhập vào gia đình Áo Nâu- Tăng thân xuất sĩ Làng Mai. Buổi phỏng vấn đã được BBT Làng Mai chuyển ngữ từ tiếng anh.

Thầy Pháp Linh:

Sư chú Chân Trời Thiện Ý là người Ý, hiện đang tu học tại chùa Sơn Hạ. Trước khi xuất gia, sư chú đã sống và làm việc ở London trong lĩnh vực tiếp thị. Sư chú thấy ngành nghề đó rất thú vị vì sư chú phải nghiên cứu môn Tâm lý học để hiểu được tâm lý của mọi người. Tuy nhiên, sư chú cảm thấy cái hiểu ấy đôi khi hơi bị lạm dụng để “dụ” người khác bỏ tiền và mua những thứ không thật sự cần thiết.

Vì ước mơ muốn trở thành một nhạc sĩ nên sư chú đã nghỉ công việc tiếp thị để dành một năm học chơi trống. Sư chú rất có khả năng âm nhạc. Sau một năm đầu tư vào lĩnh vực âm nhạc, sư chú vẫn không tìm thấy sự mãn nguyện, và cũng chính thời điểm ấy thì sư chú khám phá ra Thiền tập. Nhân duyên nào đã đưa sư chú đến với Làng Mai và lựa chọn con đường xuất gia này?

Làm sao sư chú có thể để hết tâm huyết vào sự thực tập?

Sư chú có thể chia sẻ đôi chút về hạnh nguyện và đời sống xuất sĩ của sư chú được không?

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con đã làm việc trong ngành tiếp thị, rồi sau đó là âm nhạc. Khi con quan sát và thấy hình ảnh những người sếp của mình- những người có bề dày kinh nghiệm hơn 30 năm trong nghề, con đã tưởng tượng và thấy được tương lai của mình. Con cảm thấy trong chiều sâu của tâm hồn, họ thật sự không có hạnh phúc. Lúc con nhận ra điều đó, con thật sự bị đánh động. Con không muốn trở thành họ trong tương lai. Có gì đó không ổn trong cuộc sống của họ.

Theo tiếng gọi của trái tim, con đã lên đường tới London để theo đuổi con đường âm nhạc. Cùng năm đó, con đã có cơ duyên tiếp xúc với pháp môn của Thầy (Sư Ông Làng Mai). Con nghe pháp thoại và thực tập theo những lời Thầy dạy.  Theo đó, cuộc sống của con có những thay đổi tích cực.

Khi kết thúc chương trình học một năm ở London, con nhận ra đây không phải là con đường của mình. Nghề Tiếp thị cũng không phải là con đường của con. Nếu muốn tìm thấy con đường và câu trả lời cho chính mình, con phải quay về với tự tâm. Sau đó con tìm tới Làng và tham gia vào chương trình “Happy Farm” (Nông Trại Hạnh Phúc), nhân duyên của con với Làng đã bắt đầu như thế đó.

Trong khoảng thời gian một năm ấy, con đã nhắc nhở mình là phải ưu tiên cho sự thực tập. Con dặn lòng là sẽ thực tập an trú 100 phần trăm ở đây, còn sau đó thì tính tiếp. Trước kia, lúc còn ở London, vì nhịp sống và sự bận rộn của công việc mà con chỉ “thực tập Thiền bán thời gian” được thôi. Có lẽ ước nguyện muốn xuất gia cũng đã được hình thành từ lúc ấy, nhưng con cũng chờ thời gian để nó thật sự chín muồi. Nếu thật sự đó là ước nguyện cả đời thì không việc gì mà con phải vội.

Con đã thực tập làm một người nông phu hạnh phúc tại nông trại của Làng, và con thương nếp sống này. Ở đây, con có cảm giác là mình “đang thật sự sống”. Niềm tin vào pháp môn, vào sự thực tập và con đường càng ngày càng lớn. Cuối cùng chương trình một năm ở Nông trại Hạnh phúc cũng kết thúc, con nóng lòng muốn viết thư  xin làm tập sự để có thể trở thành một người xuất gia và gia nhập vào dòng chảy của Tăng Thân.

Rất nhiều người muốn mang lại hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Ai cũng đều muốn đóng góp phần của mình. Nhưng trước hết chúng ta cần phải xây dựng một nền móng vững chắc cho chính mình trước khi giúp người khác. Chính vì vậy nên con ý thức rằng thời gian Sadi là thời gian mà còn cần phải chuyên tâm đầu tư vào sự học hỏi và thực tập để xây dựng cho mình nền tảng ấy.

Con thấy mình có rất nhiều may mắn khi được đầu toàn bộ thời gian để thực tập, được học hỏi và tiếp nhận tuệ giác của Thầy. Hiện tại, con hoàn toàn để tâm vào thực tập bước chân và hơi thở chánh niệm. Nhất là khi Thầy không có mặt ở đây với chúng con, và con cũng không có những kỷ niệm trực tiếp với Thầy. Nhiều lúc con tự hỏi: “Giờ này, Thầy đang ở đâu? Tại sao con lại ở trong Tăng Thân của Thầy”.

Tìm thấy Thầy là điều ý nghĩa nhất trong cuộc đời của con. Con có thể thấy hình ảnh của Thầy trong các sư anh, sư chị, trong thời khóa hàng ngày, trong những uy nghi mà con đang  được thực tập. Đó là động lực cho con thực tập hết lòng, vì con không muốn mình cảm thấy thiếu vắng Thầy.

Thầy Pháp Linh:

Đằng sau quyết định xuất gia, thế nào sư chú cũng phải có một cái thấy về vị trí của người xuất sĩ trong xã hội hiện tại. Tại sao sư chú chọn con đường xuất gia trong khi sư chú có thể tu tập mà không cần phải trở thành một người tu? Làm người tu có ý nghĩa đặc biệt gì?.

Sư chú Trời Thiện Ý:

Con thấy bây giờ ở khắp nơi trên thế giới có nhiều người đang cố gắng làm nhiều việc có ích. Con lớn lên trong một gia đình Thiên chúa giáo và cuộc sống của con luôn gắn liền với chiều hướng tâm linh. Con không bao giờ muốn sống một cuộc sống không có chiều hướng tâm linh. Con yêu nếp sống tâm linh cho đến nỗi con muốn nó hoàn toàn trở thành cuộc sống của mình. Con cũng thấy đó chính là điều mà thế giới đang cần. Con không nghĩ thế giới đang cần người giúp làm cái này hay cái kia, mà cần những người cố gắng sống một cuộc sống như chúng ta đang sống, cố gắng chạm tới một cái gì sâu xa hơn mà con không thể diễn đạt bằng lời. Con tin tưởng rằng đó chính là câu trả lời cho những gì mà thế giới đang phải đối diện. Đối với con thì bao nhiêu đó là đã đủ để cho con đầu tư tất cả năng lượng của mình rồi.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô Trăng Hiền Nhân là người Pháp, đang sống và tu tập ở xóm Hạ. Trước khi xuất gia, sư cô theo học ngành Triết ở Paris. Sư cô từng nghĩ rằng triết học sẽ giúp sư cô hiểu sâu sắc hơn và tìm được ý nghĩa của đời sống. Sư cô đã học khá sâu trong ngành học này và dự định sẽ trở thành một nhà văn. Nhưng dần dần, càng học lên cao, sư cô càng thấy cách giảng dạy trong trường thiên nhiều về kiến thức, mà ít chứa đựng tuệ giác. Dường như có một khoảng cách giữa những gì người ta nói và cái người ta có thể làm được. Ước muốn thì tốt đẹp nhưng có vẻ như ít người sống theo được.

Đến Làng Mai, phát hiện ra giáo pháp, giới luật và thiền tập, sư cô nghĩ: sự thực tập này có thể giúp san lấp đi khoảng cách ấy. Chúng ta thực ra có thể làm được những gì mình nói, thực hiện được những nguyện ước sâu xa nhất của mình. Xin sư cô chia sẻ một chút về quyết định xuất gia của mình. Đó là một quyết định khá “cấp tiến”. Chắc phải có điều gì đó hướng sư cô nhận ra đây chính là con đường của mình?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con biết con còn rất nhỏ tuổi tu và còn rất nhiều điều cần phải học hỏi trong tăng thân. Sau khi xuất gia, con đã tìm thấy nhiều cái đẹp và chiều sâu của con đường này. Con thật sự rất yêu cuộc sống xuất gia. Nếp sống này rất đẹp. Mình có thể hiến tặng những kinh nghiệm thực tế cho thế giới Tây phương, cho xã hội hiện nay.

Con đã nghe nhiều bài pháp thoại của Thầy. Thầy thường dạy rằng yếu tố căn bản để mang đạo Bụt vào Tây phương là sự có mặt của tăng thân xuất sĩ mà trong đó có những thầy, những sư cô Tây phương ở lại tu học lâu trong chúng. Con thấy mình được nuôi dưỡng và hài lòng với cuộc sống xuất gia. Đây là cái mà con muốn hiến tặng cho xã hội Tây phương.

Có một câu hỏi con luôn tự hỏi mình: Con có thể sống như thế nào để hạt giống xuất sĩ trong con được lớn lên mỗi ngày?

Hàng ngày con thực tập xá chào và nhường quý sư cô đi trước. Con xin được rửa bát cho quý sư cô sau mỗi bữa ăn. Con chủ động quét dọn phòng ở. Hoặc khi con đến phòng của một sư cô lớn, nếu sư cô đang ngồi trên đơn thì con luôn quỳ xuống, chắp tay để thưa chuyện với sư cô. ực tập rất nhiều những hành xử nho nhỏ như vậy nuôi dưỡng niềm vui, sự kính trọng

và đức khiêm cung trong con. Con thấy mình tiếp xúc được với hạt giống xuất gia trong con và giữ gìn, nuôi dưỡng hạt giống đẹp này lớn thêm mỗi ngày.

 

 

Thầy Pháp Linh:

Sư cô đang làm tri đậu hũ. Công việc làm đậu hũ liệu có liên quan gì đến việc thiết lập đạo Bụt ở Tây phương không?

Sư cô Trăng Hiền Nhân:

Con không biết nếu Thầy đang ở đây thì Thầy có gọi con lên Sơn Cốc và đặt thẳng vấn đề với con: “Sao con lại ở trong bếp? Con nên tổ chức một khóa tu cho các nhà triết học”.

Con cảm thấy tuệ giác của Thầy không chỉ là mang đạo Bụt vào thế giới phương Tây, ầy còn chia sẻ những châu báu trong văn hóa Việt Nam với người Tây phương. í dụ như khi còn nhỏ, con thấy mình thiếu thốn nhiều thứ như tình thương, sự nhẹ nhàng và sự bao dung. ời thơ ấu con không bao giờ được sống, được hít thở, được thả mình trong không khí yêu thương như ở đây. Tại xóm Hạ, trong cuộc sống hàng ngày, con cảm được trong tâm các sư cô người Việt có nhiều hạt giống của thương yêu, nhẹ nhàng, vui tươi, bao dung và đơn giản. Sự thực tập của con là thả mình vào để được hưởng những cái đẹp ấy của văn hóa Việt Nam.

Ở xóm Hạ, những sư em nhỏ nhất được chọn tri trước. Con đã chọn làm đậu hũ. Con không nói được tiếng Việt và chưa hề biết cách làm đậu hũ. Con chỉ có thể thấy rằng khi làm đậu hũ con rất hạnh phúc. Con được hưởng lợi lạc từ bầu không khí tràn đầy năng lượng nhẹ nhàng, vui tươi của quý sư cô. Năng lượng tập thể ấy giúp con trị liệu rất nhiều.

Con nhớ khi đọc quyển sách Đường xưa mây trắng của Sư Ông, đến chương nói về niềm vui của thầy Cát Tường (Svastika) khi nhìn thầy La Hầu La (Rahula) cưỡi trâu: “Nếu không đi tu mà ở lại hoàng cung để sau này làm vua, chắc hẳn Rahula sẽ không bao giờ có dịp cưỡi lên mình trâu mà đi như hôm nay”. Thầy Cát Tường đã nghĩ như vậy và khi con làm đậu hũ, con cũng có một niềm vui tương tự. Nếu không xuất gia, con sẽ không bao giờ biết đến niềm vui khi cùng được làm đậu hũ với quý sư cô người Việt.

Thầy Pháp Linh:

Sư cô và sư chú đã rất can đảm để xuất gia trong giai đoạn này, khi mà Thầy không trực tiếp có mặt ở đây để dạy dỗ cho chúng ta. Nhưng nếu biết cách, chúng ta vẫn có thể tìm ra Thầy, gặp Thầy trong mỗi giây mỗi phút, trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở. Sự quyết tâm, sức mạnh, tâm bồ đề và cách mà sư cô, sư chú đã tìm ra Thầy trong sự thực tập của mình tạo nguồn cảm hứng cho đại chúng rất nhiều. Cảm ơn sư cô và sư chú đã nuôi dưỡng tăng thân bằng sự tươi mát, niềm vui và hạnh nguyện của mình.

 

 

Quê hương mỗi bước chân về

Chân Thuần Khánh 

Tôi trở lại Huế vào mùa thu, rồi mùa đông. Lâu lắm rồi tôi mới lại được ngồi yên trong tiếng mưa ầm ào mênh mang, quen thuộc đến nao lòng này. Nhiều người sợ những cơn mưa dai dẳng của Huế, vậy mà tôi lại thấy thích, rất trân trọng không gian của những khoảnh khắc như thế này. Trong tiếng mưa và cái yên lặng của Huế, của chốn Từ An xưa, tôi cảm nghe như thời gian và không gian, cái xưa và cái nay, cái cũ và cái mới,… cùng một lần có mặt, ngay nơi tôi, ngay nơi mảnh đất này. 

Uống trà trong tiếng mưa  

Người ngồi từ muôn thuở  

Ta một cõi yên vui

Có nhau từng nhịp thở. 

Mây trắng trời phương ngoại 

Gần hai mươi năm quen biết, mỗi khi nghĩ về, tôi luôn cảm thấy mình nhận được đức độ và tình thương của sư chị, dù ở gần hay ở xa. Sư chị không ở với đại chúng lâu, nhưng sư em nào đã từng gần sư chị, đều như một lần uống được dòng nước mát trong nơi cái giếng cổ xưa trên núi, sẽ không bao giờ quên. Tôi vẫn nhớ xóm Hạ thời đó có nhiều “cái giếng nước trong vắt mát lành” như vậy, và tôi, một sa di nhỏ, đầy bỡ ngỡ nhưng không hề thấy xa lạ, tha hồ mà vẫy vùng! Có một sư chị lớn nhìn tôi tung tăng trong những ngày mới đến, mỉm cười và nói: “Thuần Khánh về Làng y như cá được thả về biển lớn, tha hồ mà bơi lội”. Sư chị cũng là một sư chị lớn thời đó, khoan dung, độ lượng, và giản đơn, bình dị. Sư chị lại hay cười. Hễ ai chọc cười là sư chị không dừng lại được. Cười hoài mệt quá, sư chị phải quay ra năn nỉ các chị em xung quanh đừng cười nữa, với cái giọng tha thiết, lúc đó sư chị mới hy vọng có thể ngưng cười. Mỗi lần như vậy, tôi lại không thể không tiếp tục cười, vừa buồn cười chuyện mọi người đang cười, vừa buồn cười cái cách sư chị cố gắng ngưng cười… Thế là cư xá Mây Tím như được nới rộng ra. 

Sư chị hòa đồng và có mặt với đại chúng trong mọi sinh hoạt, lại có đủ thì giờ chơi và chỉ dạy cho các sư em. Có thể thời đó, đời sống của tăng thân đơn giản hơn bây giờ nhiều. Mỗi đội luân phiên chỉ có hai người và mỗi bữa ăn chỉ cần nấu hai hay ba món, kể cả món luộc và xà lách. Không có nhiều lớp học như bây giờ, tôi học mọi thứ bằng cách huân tập, tự quan sát các sư chị và làm theo. Hô canh, ngồi chuông, xướng tán và bắt giọng tụng kinh, hay thỉnh chuông, thỉnh mõ đều học theo cách như vậy. 

Có lần sau buổi tụng kinh tối, đang loay hoay xếp kinh lên kệ, tôi nhận ra sư chị còn nán lại thiền đường khi đại chúng đã về hết, và sư chị đang tủm tỉm cười một mình. Xong việc, tôi lại gần sư chị và cũng mỉm cười. Lúc đó, sư chị không nhịn được, bèn cười phá lên… Tôi biết trong lúc hướng dẫn đại chúng tụng kinh, thế nào tôi cũng đã gây ra điều gì đó không hay rồi. Nhìn sư chị, tôi hỏi: “Chỗ nào vậy sư chị?”. Nhận ra chút lo lắng trong giọng nói của tôi, sư chị hết cười và bắt đầu chỉ cho tôi chỗ tôi đã làm sai. Hóa ra khi bắt giọng tụng bài Chuyển niệm – We are truly present, tôi đã tụng như “đọc truyện”, đã vậy còn thỉnh chuông rất “cảm hứng”, nghĩa là muốn thỉnh lúc nào thì thỉnh. Sư chị nói: “Nhìn em thỉnh chuông tự tin trên đó mà chị muốn… té khỏi bồ đoàn…”. 

Từ hôm đó, tôi theo sư chị học thỉnh chuông, hô canh, bắt giọng tụng kinh. Giọng sư chị thanh tao và ấm áp, giọng tôi thì tùy hứng, thỉnh thoảng còn phải cho thêm “ít muối, ít tiêu” mới mong đúng nhịp. Sư chị kiên nhẫn và vui tươi. Tôi siêng năng học từ sư chị. Vẫn không thể trở thành một sư cô tụng kinh và hô canh hay, nhưng tôi biết rằng mình là một đứa em được thương yêu, được chăm sóc. Tôi đã tiếp nhận tình thương của sư chị, một cách tự nhiên và trong trẻo, như một em bé uống được dòng nước mát lành nơi cái giếng cổ năm xưa, mà lớn lên. 

Năm kia, tôi nhận được soi sáng từ một sư chị: “Sư em không có nhiều khó khăn với các sư chị của mình. Sư em có mối liên hệ tốt với các sư chị, dù ở gần hay ở xa”.Đang là một sư chị, đã chấp nhận và thực tập vai trò sư chị một thời gian, tôi hơi ngạc nhiên và giật mình khi nghe lời soi sáng đó. Tôi xúc động và biết ơn sư chị đã khen ngợi, đồng thời là lời nhắc nhở cho tôi. Làm chị, và giữ gìn được mối liên hệ tốt với những người chị của mình, đó không phải là một may mắn phước đức của tôi hay sao! May mắn hạnh phúc lớn, và cũng là một gia tài quý báu. Thương được chị, bởi vì tôi đã được chị thương, thế thôi. Dù đang làm sư chị của nhiều sư em, tôi vẫn luôn nhận được tình thương của các sư chị. Tôi thích được làm sư em hơn, nhưng vì được các sư chị thương yêu và nuôi lớn, nên dù không hay không giỏi, tôi vẫn đang làm được một sư chị. Biết ơn các sư chị, tôi tập làm sư chị. Biết ơn Thầy, tôi tập làm sư chị, vậy thôi. 

Hôm nghe tin sư chị mất, tôi bàng hoàng. Lòng rưng rưng vần thơ năm nao sư chị đã viết: 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

Con đường nghe tiếng đôi chân 

Chân ơi rong ruổi dừng tâm là dừng. 

Đường xa cỏ non thênh thang 

Khi đi thanh thoát lúc về thảnh thơi 

Khổ đau đã hiểu đã từng

Rằng trong khổ vẫn có đường đi ra! 

Còn khi lên xuống thấp cao

Còn đây tâm lượng bình an là đường

Đường xa ấp ủ bao tình

Người xưa ở lại với người hôm nay. 

Trải lòng cho những đôi chân

Quê hương xưa Mẹ còn nuôi tình người 

Bàn chân ướm hỏi con đường

Rằng trong vô tận có dừng hay không? 

(“Bàn chân ướm hỏi con đường” – thơ sư cô Giải Nghiêm) 

ư chị lên đường, thong dong tự do như cụm mây trắng trên bầu trời trong xanh, như làn gió nhẹ thoảng đưa hương cau hương bưởi. Sư chị về với quê hương tuổi thơ ngàn năm không vướng bận, nơi mỗi nụ cười của đọt lá xanh non, nơi hạt sương mai long lanh tia nắng sớm, nơi bao nhiêu con đường độ lượng quanh đây… 

Ươm nắng cho vạn loài hoa 

Tôi chưa bao giờ gọi Thầy tôi là Sư phụ một cách trực tiếp. Từ ngày xuất gia, các chị em đều gọi Người là Sư, nhưng khi nói chuyện với nhau chúng tôi gọi là Sư phụ. Người Huế không quen xưng hô một cách thân mật, tình cảm thường kín đáo và chỉ ưa thể hiện qua hành động hay cử chỉ chăm sóc âm thầm. Về Huế lần này, tôi nhận ra cái chất đó vẫn còn thật sâu đậm quanh mình. 

Tôi xuất gia năm 18 tuổi, ở với Sư phụ hơn năm năm rồi đi, và đi cho đến tận bây giờ. Mỗi lần về chùa cũng chỉ ở qua loa. Vậy mà không lần nào tôi không cảm nghe cái chất liệu đậm đà tình người đó thấm vào từng ngõ ngách thân tâm tôi, nhất là lần này. Sư phụ tôi duy giọng nói vẫn còn chất Hội An, còn lại là một Sư bà Huế “toàn ròn”. Người tính tình phóng khoáng, cương nghị, lịch thiệp và quảng giao mà cũng lại cẩn trọng và tế nhị vô cùng. Cách hành xử của Người, có lúc thật kỳ lạ, thật can đảm. Điều cần làm thì Sư phụ làm, dứt khoát, mạnh mẽ và đặc biệt “Huế”. Tôi là một đứa học trò cứng đầu và không dễ dàng khuất phục, chỉ khi tự mình thấm được cái chất Huế đó nơi Người, tự mình chứng kiến cách dạy dỗ và nâng đỡ một cách tài tình những tâm hồn khác biệt của Người, tôi mới thật sự khâm phục. 

Hồi đó tôi theo học chương trình đại học ở đời nên đã tiêu tốn không ít thời gian. Tôi ít có cơ hội được làm những công việc của một người sơ cơ mới vào chùa. Sư phụ thường nhắc nhở tôi phải nhớ và thực hành bài học khiêm cung, bài học hòa đồng, chứ không phải học lên cho thật cao là giỏi, là hay. Sư phụ lại thường rầy la tôi, dù với những điều hết sức nhỏ nhặt mà đối với các chị em khác Người có thể dễ dàng bỏ qua. Tôi đã không thật sự hiểu rằng, Sư phụ làm như vậy bởi vì Người muốn rèn luyện, giữ gìn cho tôi, đồng thời muốn cho chị em tôi chấp nhận nhau, không có sự ganh tỵ, hiềm khích xảy ra giữa người đi học nhiều và người phải ở chùa làm việc nhiều. 

Tôi còn nhớ một hôm về chùa sau buổi học ở trường, trong tâm trạng cao hứng, tôi không nhìn ra được chị em mới vừa chấp tác nặng nhọc xong. Thế là vừa đến trước Sư phụ để chào, tôi đã bị rầy thật nặng vì những lý do “không đâu vào đâu”, tôi ngỡ ngàng không hiểu tại sao! Đứng yên chắp tay trước Người, mà tâm tôi không phục. Nghĩ rằng Sư phụ đã không hiểu mình, tôi thầm nhủ mình không được khóc, không cần phải khóc! Về phòng, đang đứng nhìn trân trân ra cửa sổ, cái tâm phân tích và phán xét trong tôi trào dâng. Thấp thoáng bên dưới là nỗi buồn, nỗi buồn cảm như mình không được thương, đang âm thầm len lỏi đâu đó. Nào ngờ, xuất hiện lặng lẽ bên ngoài song cửa là hình dáng Sư phụ. Người thoáng nhìn tôi, khuôn mặt trầm tĩnh và hiền dịu, không nói năng chi, nhẹ nhàng bỏ nơi bậu cửa một cái bánh bao, rồi quay đi. Tôi bật khóc! Có cái gì trong tôi như vỡ òa, như thấm thía, như miên man. Tôi đứng yên tại chỗ và khóc thật lâu. Sư phụ tôi là thế đó. Không cần thêm một lời giải thích nào, sự thấu hiểu có mặt tức thì, và mãi mãi. 

Sau này lớn lên, học làm chị, học cách lo việc chúng và chăm các em, tôi biết rằng, thực hành đức hy sinh ở nơi công việc đã là khó, hy sinh nhu yếu muốn được hiểu, được thương của riêng mình để rèn luyện và hướng dẫn các em lại càng khó hơn. Bài học giản đơn và thấm thía đó, tôi mang theo suốt đời. Hôm nay, Sư phụ đã về với Bụt nhưng ân đức của Người, từ Thể Thanh Pháp Uyển, đã lên đường, ươm nắng cho vạn loài hoa, nở thơm mát khắp muôn phương! 

Thầy ngồi đó, lửa niềm tin trao giữ
Tâm Bồ Đề thắp sáng trái tim con
Cương nghị, chở che, biển tuệ chung dòng Muôn sông nhỏ trở về lòng đại hải. 

 

 

Bình yên như hơi thở 

Mạ thủy chung âm thầm như nguồn cội Bãi vắng trưa xô gió cát lao xao
Mặc gió mưa giông bão thét gào
Mạ còn đó bình yên như hơi thở 

Tôi chẳng nhớ những câu thơ tôi viết cho Mạ khi nào, có lẽ đã lâu lắm rồi, lúc tôi còn là một cô sa di nhỏ. Mỗi lần cùng Mạ lên Diệu Trạm thăm, thế nào cũng có sư em rỉ tai tôi, giọng nghịch ngợm: “Sư cô ơi, sao con nhìn Mệ trẻ trung vui vẻ hơn sư cô nữa à nha!”. Các sư em gọi Mạ tôi là Mệ, như cách người Huế thường gọi người lớn tuổi. Tôi muốn viết và kể chuyện của Mạ, nhưng chưa biết bắt đầu từ đâu, bởi có quá nhiều điều vui buồn, khổ đau và hạnh phúc suốt cuộc đời của Mạ. Nhìn thấy tất cả nét vui tươi hồn nhiên trong mắt cùng giọng cười vui vẻ của Mạ, thật khó mà tin rằng Mạ đã đi qua bao nhiêu gian nan, lao nhọc và khó khăn, khổ đau chồng chất trong đời. 

Lúc mới hơn mười tuổi, tôi đã tròn xoe mắt khi Mạ dặn dò: “Ra đường phải vui vẻ và mỉm cười với mọi người nghe con. Dù con có đói ba ngày, con vẫn phải tử tế với người khác. Có khi người đang đứng trước mặt con còn khó khăn hơn con nhiều lắm, con không có gì để cho, nhưng con còn có nụ cười!”. Lớn lên tôi là một người hay cười, có lẽ cũng nhờ những lời dạy và cách hành xử của Mạ. 

Mạ không biết chữ, lúc mang thai tôi, là con thứ năm trong nhà, Mạ mới được vài ba đêm cầm cây đèn dầu đến nhà cô giáo làng ở xóm trên, theo lớp Bình dân học vụ. Ba mất, để lại cho Mạ bảy đứa con và lời trăn trối thiết tha: “Một là đừng cho đứa nào theo nghề của Ba đi đánh cá, hai là cố gắng cho con học hành tới nơi tới chốn”. Năm đó Mạ 38 tuổi. Ba mất, Mạ không còn cơ hội nào mơ đến những con chữ bí mật mà hấp dẫn đó nữa, dù niềm yêu thích đọc chữ vẫn không hề nguôi ngoai. Những người con của Mạ, hết người này đến người khác, học hành và ra trường, là những người đỗ đại học đầu tiên ở quê, sau này làm bác sĩ, làm kỹ sư, làm thầy giáo và là niềm tự hào của Mạ. Anh em tôi từ lâu đã có ý định bày cho Mạ học đọc, nhưng hình như chưa ai thật sự làm cả. 

Có một lần, anh Phong, anh thứ ba của tôi, lúc đó đã là thầy giáo, về thăm Mạ. Buổi trưa hôm đó, nằm thiu thiu nơi võng, anh Phong nghe giọng Mạ chầm chậm đánh vần từng chữ một, anh tỉnh hẳn và lắng tai nghe. Mạ đánh vần thật. Mạ biết đánh vần và đọc từng chữ, từng chữ nơi cuốn “kinh Nhật Tụng của Mạ”. Sư em Nguyên Tịnh đã chọn in một số bài kinh, bài sám với cỡ chữ lớn và làm quà tặng Mạ, trong một dịp các anh chị em xuất sĩ đi thăm các ba mẹ. Anh Phong ngồi dậy, len lén nhìn sang Mạ, có lẽ để biết chắc đó là Mạ. Mạ vẫn hồn nhiên chăm chú đánh vần, không biết rằng thằng con trai đã lớn của mình đang khóc. Anh Phong khóc, và các anh em tôi đều khóc khi nghe anh kể chuyện đó. 

Sau này mỗi lần về thăm, tôi đều nghe Mạ khoe: “Mạ đã thuộc lòng bài Ba sự quay về rồi nghe cô”, hay là: “Lần vừa rồi ở Diệu Trạm, Mạ đã tụng theo được với quý thầy, quý sư cô hết bài Quy nguyện luôn đó cô”. Tôi vui vẻ khen ngợi và động viên Mạ. Tôi vui với niềm vui của Mạ, lòng hân hoan như những tháng ngày mới vào chùa và học thuộc lòng thần chú Lăng Nghiêm. Khoảng sáu tháng trước, Mạ băn khoăn: “Cô nè, bài Sám nguyện dài quá, Mạ học có thuộc nổi không hè?”. Tôi mỉm cười, nói giọng tự tin và “tỉnh bơ”, dù lòng rưng rưng thương Mạ: “Đương nhiên là Mạ sẽ thuộc rồi, như là Mạ đã thuộc rất nhiều bài sám khác. Mạ học từ từ từng đoạn thôi. Bây chừ Mạ đọc ro ro rồi mà”. Mạ đã lớn tuổi, mỗi đêm, vẫn thắp hương lên bàn thờ Bụt, bàn thờ Tổ tiên và thầm khấn nguyện để kiếp sau được làm người xuất gia. 

Tôi và em tôi xuất gia, dù “đã là con của Phật chớ mô còn là con của mình” như lời Mạ thường trả lời các bác hàng xóm mỗi lần họ tán dương rằng Mạ quả thật phước đức khi có hai người con đi tu, tôi vẫn biết rằng thực tập để nuôi dưỡng và làm cho tươi mát niềm vui sống mãnh liệt trong tim là điều tôi sẽ học hỏi và thừa hưởng suốt đời từ Mạ. Hễ lúc nào cánh cửa còn hé mở, thì ánh sáng nhất định biết cách tràn vào. Hễ lúc nào trái tim còn để ngỏ thì tình thương và niềm tin sẽ mãi thắp sáng đôi mắt và mọi nẻo đường mình bước qua. Tôi nguyện giữ gìn nụ cười của Mạ để tâm hồn tôi được tắm mát trong dòng suối thanh lương đó. 

Mùa Đông, Huế, 04.01.2020 

 

Hạnh phúc bây giờ

Chân Pháp Ứng 

Áo nâu phai màu nắng

Người về đây với Bụt

Cành lá đi in dấu

Quê hương thoáng nhẹ bay 

Em có mặt đây nuôi dưỡng tôi 

Và tôi đang sống yểm trợ em 

Từng bước chân bé nhỏ 

Cùng chuyển cả đất trời 

Ngược dòng và xuôi dòng 

Đi vui hết cả lòng. 

Bài thơ lấy cảm hứng từ lời dạy Sư Ông về kinh Tam Di Đề (Tuổi trẻ và hạnh phúc) và từ những cảm nhận trong ba tháng khóa tu mùa Thu 1994. 

Bát Nhã xưa và nay

Chân Sùng Nghiêm 

Thời gian trôi qua thật nhanh, gia đình xuất gia Cây Vú Sữa gần đến sinh nhật lần thứ 15. Một quãng thời gian không phải là ngắn. Khi nhìn lại thì mình đã làm được gì? Chuyển hóa được gì? Và có bước tiến như thế nào cho bản thân? Bao nhiêu câu hỏi cần phải nhìn lại để chấn chỉnh đời sống tu học. 

Mỗi độ xuân về, năm hết, Tết cổ truyền sắp đến là chúng tôi luôn nhắc đến ngày xuất gia và tính xem mình xuất gia được bao nhiêu năm rồi. Ngồi lại với nhau là kể bao nhiêu chuyện, chuyện từ thời xin vào tập sự ở chùa Từ Đức, chuyện hái ổi trên đường đi rừng về mà không xin phép rồi được Sư Bá dạy tôi và thầy Pháp Toại (chú Cường hồi đó) dẫn các em đi sám hối, chuyện tổ chức ngày sinh nhật đầu tiên,… 

Tôi nhớ lần thôi nôi tròn một năm của gia đình Cây Vú Sữa, sư mẹ Thoại Nghiêm mua tặng mỗi người một cây vú sữa để trồng, sư cô Phúc Nghiêm thì mua rất nhiều trái vú sữa làm quà. Thế nhưng, tre chưa già mà măng đã mọc. Mấy tháng sau, gia đình Cây Hướng Dương xuất gia, chúng tôi có em. Trở thành sư anh, sư chị, hết được cưng như trước, nhưng thay vào đó thì có nhiều em để chơi cùng. Phải nói rằng chính môi trường, con người và pháp môn đã thu hút rất nhiều người trẻ sau khi chúng tôi đặt chân đến Bát Nhã. 

Những năm đầu, mỗi lần kỉ niệm ngày xuất gia, anh chị em chúng tôi ngồi lại chia sẻ chuyện tu học của mỗi người, chuyện khó khăn vặt vãnh, chuyện giận hờn vu vơ vì không hiểu nhau. Nhưng dần dần theo năm tháng, đề tài chuyển thành chuyện chúng, chuyện này chuyện khác trong chúng, chuyện công việc,… Rồi ý thức nhắc nhau mỗi lần họp mặt đừng nói chuyện công việc nữa, nhưng chỉ được vài phút, đề tài trở lại y như cũ, nóng hổi hơn, hấp dẫn hơn. 

Chúng tôi đặt chân đến Bát Nhã đúng ngày 12 tháng Tư âm lịch. Mọi thứ dường như rất mới với chúng tôi, từ cuộc sống, môi trường, con người. Thế nhưng chúng tôi không cần tốn thời gian để làm quen mà bắt tay ngay vào việc xây dựng cho một tương lai mới. Nào là trồng cây, trồng hoa, trồng rau,… Rồi làm các công việc như mua giường, ráp giường, đóng kệ, hay tổ chức thời khóa tu học. Chúng lúc đó còn ít người lắm, chỉ có vài sư cô lớn từ Làng về chăm sóc chúng tôi gồm 13 chị em gia đình Cây Vú Sữa và 11 sư chị “Huệ” đến từ chùa Kiều Đàm. Mọi thứ diễn ra thật nhẹ nhàng, dễ chịu. Mặc dù toàn tiểu thư, chỉ quen cầm viết nhưng chị em xúm xít chơi với nhau, cùng xây dựng cuộc sống đầy thú vị, làm việc gì cũng xong. Trong một thời gian ngắn mọi thứ đi vào ổn định. Quý sư cô bắt đầu tổ chức ngày quán niệm hàng tháng đầu tiên cho bà con đến tu tập. Rồi sau đó tổ chức các khóa tu lớn cho người trẻ đến tu học. Bát Nhã là một mảnh đất mới, một trung tâm theo phương pháp mới, không giống các chùa xưa nay đã có trên đất Việt Nam. Những khóa tu theo hình thức mới đó đã thu hút bao nhiêu người trẻ ở lại xin tập sự xuất gia. Và gia đình Vú Sữa bắt đầu có em để chăm. 

Một tu viện mới, tăng thân mới, hình ảnh người xuất sĩ mới cùng một pháp môn mới đang có mặt trên quê hương. Tất cả những điều đó đã gây ấn tượng mạnh đến tâm thức của người dân. Chỉ sau hơn một năm mà số lượng các vị xuất sĩ đã tăng lên gần hai trăm. Không chỉ những người trẻ phát tâm xuất gia theo Làng mà còn có quý thầy, quý sư cô đã xuất gia trong những truyền thống khác cũng đến xin tu học chung. Số lượng người xuất gia càng lúc càng tăng. Bốn năm sau, số lượng lên đến 400, toàn là người trẻ. Không biết nếu Bát Nhã còn thì con số sẽ lên đến bao nhiêu, có thể đến hàng ngàn? Một chuyện vui mà tôi nhớ là năm 2007 khi Sư Ông và phái đoàn về tổ chức khóa tu. Số lượng người tham dự khóa tu quá tải cho thiền đường, chỗ ngủ, chỗ ăn,… Tôi làm tri khách cùng với các sư cô khác bị choáng ngợp với lượng người đông như vậy, không biết cách giải quyết, rất khó khăn trong cách tổ chức sắp xếp cho thiền sinh. Sư cô Bích Nghiêm tình nguyện vào để giúp. Sư cô đã quen tổ chức cho hàng ngàn người đến khóa tu ở Làng. Chúng tôi khó khăn với việc sắp xếp chỗ ngủ, phải tận dụng hết tất cả thiền đường nhỏ, lớn và thiền đường Cánh Đại Bàng. Thiền đường Cánh Đại Bàng lúc đó có thể chứa cả ngàn người ngồi nghe pháp thoại, tối thì tận dụng để làm chỗ ngủ. Tôi và sư cô Bích Nghiêm chia ô theo hình chữ nhật chỉ đủ cho một người nằm, đánh số thứ tự để cho các vị ghi danh tiện chia người. Chia dọc, chia ngang không còn chỗ hở rồi dán số thứ tự. Vậy mà cũng ổn, không nghe ai phàn nàn sau đó. Chắc có lẽ bà con ham tu học nên chịu cực chịu khổ vài đêm mà không nề hà gì. Tôi tự hỏi nằm xếp lớp như vậy không biết với những ai khó ngủ thì sẽ ra sao? 

Mấy năm đi qua, chúng tôi được lớn lên trong sự bao bọc, chỉ dạy của Ôn Đức Nghi, của quý thầy, quý sư cô. Được nuôi dưỡng bởi những năng lượng trẻ, tươi vui của các chị em xung quanh nên đời sống xuất gia với tôi cũng đủ đầy hạnh phúc. Thời gian cứ trôi, mọi thứ dần ổn định, bắt đầu đi vào nề nếp tu tập, học hành. Quý thầy, quý sư cô mời thầy về dạy chữ Hán, tổ chức lớp Kinh, và thêm nhiều lớp học khác. Một hình ảnh nuôi dưỡng trong tôi là mỗi ngày đều thấy bóng dáng của Ôn Đức Nghi với bộ đồ màu vàng, đội nón lá xuống ni xá thăm quý sư cô. Ôn rất thương quý sư cô nên hay xuống thăm hỏi. Có lần Ôn khuyên quý sư cô gắng tu học hết lòng, sống hết lòng ở đây và chết ở đây. Ai chết Ôn sẽ chôn mỗi người dưới một gốc thông. Có dịp đi ngang vườn thông, tôi hay nhìn các cây thông để xem cây nào sẽ dành cho mình. 

Rồi vô thường đến, một ngọn gió đi qua, Bát Nhã trở thành huyền thoại, với bao kỉ niệm vui buồn… Mặc dù vậy nhưng trong thâm sâu, mỗi người đều mang ơn mảnh đất Bát Nhã. Cái nôi của bao nhiêu người trẻ từ lúc còn là những mầm xanh. Có lần ngồi trên xe buýt, Sư Ông nói với chị em tôi: “Cánh Đại Bàng đã đưa Bát Nhã đi rất xa, Bát Nhã ở Đức, ở Pháp, ở Úc, ở Mỹ, ở Hong Kong, Thái Lan,…”. Ở đâu anh chị em Bát Nhã cũng có mặt phụng sự và chung tay để xây dựng tăng thân. 

Bát Nhã ngày xưa nay đã thành mưa

Rơi xuống mặt đất thành hạt Bồ đề. 

(Sư cô Đôn Nghiêm) 

Những hạt Bồ đề mỗi ngày mỗi lớn. Các gốc thông giờ đây không một bóng người. Anh chị em Bát Nhã tung cánh khắp nơi để góp tay chung sức mang đạo Bụt đi vào cuộc đời. Những ai đang còn biểu hiện trong tăng thân dù ở trung tâm nào tôi cũng thấy rất quý, rất đáng trân trọng tâm huyết tu học của họ. 

Bát Nhã xưa đã chuyển mình để hôm nay người trẻ khắp nơi vẫn tiếp tục bước vào tăng thân, nguyện nắm tay nhau để xây dựng cho tương lai đạo pháp. Những hạt Bồ đề cuối cùng của thời kỳ Bát Nhã bây giờ cũng đã trưởng thành. Các sư em Cây Sen Hồng là những người trẻ cuối cùng bây giờ cũng đã lớn. Tháng 2 năm 2020 các sư em sẽ nhận truyền đăng làm giáo thọ rồi. 

Gần đến ngày sinh nhật, tôi điểm lại chuyện xưa, chuyện nay để khơi dậy những mầm xanh Bát Nhã, để chúng tôi tiếp tục trân quý nhau, động viên nhau làm động lực vững bước trên con đường tươi đẹp này. Hẹn sẽ viết tiếp vào lần sau. 

 

Ngày ấy bên nhau

Chân Thao Nghiêm 

Mười năm, bao nhiêu chuyện diễn ra, nơi đó chắc giờ đã thay đổi nhiều. Những ngày ấy dường như xưa lắm rồi mà cũng như mới từ hôm qua thôi. Nhắc về nơi ấy là nhắc về một chốn thiêng liêng, nơi mà ai ai cũng mến thương khi đã từng là một người con được sinh ra và lớn lên ở đó. Mất đi là một sự nuối tiếc, rời xa là một nỗi mất mát. Nhưng kỳ diệu thay, vết thương lành lặn theo tháng ngày. Những người con Bát Nhã giờ đã khôn lớn, đi khắp nơi và nếu nhắc lại thì không ai mà không nhớ về những kỷ niệm đẹp, xen lẫn tiếng cười rộn rã và cảm giác ấm áp trong lòng. Con hãnh diện vì mình từng có được cơ hội sống nơi đó, thuở ban sơ, còn thiếu thốn nhiều mặt nhưng tình huynh đệ thì đầy ắp, trong tâm mỗi người ngọn lửa lý tưởng vẫn sáng và mạnh mẽ hơn bao giờ. Nhắc lại đây để các anh chị em nhớ chút kỷ niệm xưa và rồi thế nào cũng đem về thêm nhiều câu chuyện đẹp nữa, bí mật nhưng tới lúc này ai cũng biết và chỉ mỉm cười thôi. Tuổi thơ mà. 

Bát Nhã lúc ban sơ chưa có nhà ăn xóm Bếp Lửa Hồng và thiền đường Tâm Bất Động. Sáng, trưa, chiều và tối, quý sư cô được lên ăn nhờ ở nhà ăn của quý thầy và ngồi thiền ké ở chánh 

điện của chùa. Mãi một thời gian sau mới hoàn tất được nhà bếp và thiền đường riêng ở dưới này. Nhờ ơn của Sư phụ sắp xếp, xây dựng cấp tốc mà ni xá tạm hoàn thành,

tạm đủ chỗ ở để chuyển vào coi như là có một tu viện của mình, nơi mà chị em có thể nương tựa, tu học và xây dựng tăng thân. Sáng sáng, trên đường đi lên chánh điện để ngồi thiền, chị em sẽ được nghe cô Diệu Ngọc và cô Diệu Ngộ thỉnh chuông đại hồng. Giọng hô chuông của các sư cô thật khỏe, niệm đều đều cả trăm biến Nam mô A Di Đà Phật. Lâu lâu các sư chú nhỏ, đệ tử Sư phụ cũng thỉnh chuông. Các chú khoái nhất là chờ quý sư cô nhiếp tâm trong chánh niệm lặng lẽ đi thiền hành ngang qua, và rồi giật mình la lên vì các chú thỉnh chuông quá bất ngờ ngay sau lưng. Cứ nhìn nét mặt và nụ cười của các sư chú thì biết ngay. Sau đó một thời gian, các chị em cũng được luân phiên thỉnh chuông đại hồng. Đại chúng có cơ hội tận hưởng nhiều giọng hô chuông của các sư chị, sư em. Sư phụ luôn nhắc nhở giờ giấc thỉnh chuông phải chính xác. Dân chúng quanh đó đã quen nghe theo tiếng chuông để thức dậy mỗi buổi sáng nên mình không thể nghỉ, phải có sự đều đặn dù đó là ngày làm biếng trong tu viện. 

Bát Nhã thuở ấy hầu hết là người trẻ, nhiều nhất là các sư em tuổi từ 13 đến 25, ham tu, vui vẻ, mạnh khỏe, mà cũng ham chơi, quậy phá và ham ngủ. Mỗi buổi ngồi thiền quý thầy và quý sư cô lớn phải thay phiên làm giám thiền cho cả hai xóm. Chỉ mỗi việc đánh thức các sư em đang gật gù hoặc xoay vòng để khỏi uổng phí thời gian thiền tập thôi cũng đủ vất vả cho quý vị lớn rồi. Thiền đường Tâm Bất Động dần dần không còn đủ chỗ cho quý sư cô nên phải dùng cả hai tầng dưới và trên. Con còn nhớ bước chân rón rén đi lên tầng trên của sư cô giám niệm. Ngại nhất là mỗi lần Sư phụ xuống thăm chúng vào giờ ngồi thiền, Sư phụ cũng đi quanh một vòng và luôn nói lại với quý sư cô lớn sau đó là “quý sư cô ngồi thiền còn ngủ gục nhiều quá”. A ha, mà đừng nghĩ là quý thầy không ngủ gục nhé. Tình cờ thôi, có bữa con đi làm đệ nhị thân cho quý sư cô ngang qua chánh điện của quý thầy đúng vào lúc kết thúc buổi ngồi thiền và nghe quý thầy đọc một bản danh sách. Không phải danh sách nghỉ ngồi thiền đâu, thời đó không ai vắng ngồi thiền cả. Dù có buồn ngủ, các anh chị em đều cố gắng thức dậy đi tới thiền đường để có mặt cho đại chúng. Danh sách này là danh sách các vị ngủ gục trong khi ngồi thiền. Đi qua thoáng nghe đọc tên quý sư chú mà con cứ cười khúc khích. May quá, bởi chắc con cũng có tên trong danh sách nếu những ngày qua con ngồi thiền trên này. Hai xóm gần nhau nên có thể nghe tiếng hô canh từ chánh điện quý thầy và tiếng niệm Bụt đáp lại hùng hồn của các em nhỏ trên xóm Rừng Phương Bối. Giờ thiền tọa không khí tu viện hoàn toàn yên tĩnh, chỉ cảm nhận được tất cả đại chúng đều đang làm chung một việc, đó là quay về chăm sóc tự thân và yểm trợ năng lượng tu học cho nhau. 

Bát Nhã mưa nắng thất thường. Nắng không gắt, chỉ nhè nhẹ thôi. Sáng chiều nào sương mù cũng giăng giăng khắp các sườn đồi quanh tu viện. Sống ở đây như sống ở tiên cảnh. Giờ thiền hành thường là sau giờ ăn sáng (trừ ngày quán niệm). Trời còn se se lạnh, sương còn đọng lại trên đồi cà phê, trà, sầu riêng và khi nắng lên thì ôi chao, đẹp lung linh. Có những buổi thiền hành sương mù quá không thấy hết cả đại chúng, chỉ theo chân các chị em trước mặt để đi thôi. Những lúc như vậy, thân tâm con hoàn toàn cảm nhận không khí mát lạnh và an trú trong từng bước chân mình. Có những ngày trời đang đãi nắng buổi trưa để phơi củi thì bất chợt mưa xuống, các chị em bị thức dậy thường xuyên khỏi giờ nghỉ trưa để ra gom củi giùm. Tinh thần tập thể là ở đó. 

Nếu buổi chiều mà có mưa rào thế nào cũng nhìn thấy cầu vồng đẹp ơi là đẹp ôm trọn vẹn chánh điện xóm Rừng Phương Bối. Lại có những buổi tối trước giờ ngồi thiền thì mưa tầm tã, con đường xuyên từ thiền đường đến ni xá ngắn thôi nhưng lại nằm lơ lửng giữa hai khu nhà, gió thổi mạnh, mưa tạt hết vào người nên không dễ gì tới được thiền đường mà giữ được khô ráo. Những ngày như vậy thời khóa được thay đổi thành “ngồi thiền trên giường”. Đây kia sẽ nghe vang vọng tiếng chuông và tiếng hô canh của từng phòng xen lẫn tiếng mưa, ôi thật êm ả. Có lần vị tri chung, nghĩ là cứ để các chị em ngồi thêm thưởng thức không khí yên tĩnh và tự xả thiền nên không thỉnh chuông để kết thúc. Vậy là các em nhỏ tha hồ ngồi vật vã gật gù trên giường một hồi lâu mới có các chị đến báo cho biết là giờ ngồi thiền đã hết lâu rồi và được đi ngủ. Cái hay thuở ấy là các chị em đều rất tinh tấn trong sự tu tập và rất là ngoan. 

Ngày ấy, mỗi tuần một lần, đại chúng được khất thực thức ăn sáng, thiền hành nhẹ nhàng xuống suối, ngồi bên nhau và thưởng thức bữa ăn im lặng. Tảng đá to ven suối thì ngồi được vài người, hoặc chỉ được hai, ba chị em thôi. Không gian yên tĩnh nghe tiếng suối róc rách, tiếng chim líu lo làm mọi người đều trân trọng tận hưởng hết lòng. Đẹp vậy đấy nên ai cũng cứ nhớ hoài, niềm vui không từ những câu chuyện, những trò chơi, không quan trọng trong bát cơm có gì mà là sự nối kết với nhau bằng công phu tu tập và tình chị em ấm áp bên nhau.

 

 

Nhà bên cạnh có mấy cây ổi 

Bát Nhã hồi ấy đôi khi có những trò nghịch của các em nhỏ còn năng động, ham chơi. Ở một hồi cũng biết có những bí mật xung quanh: cái quán bán bánh kẹo ở trước cổng tam quan, giờ nào là ông bán cà rem thường chạy xe qua và tiếng kèn của ông kêu ra sao, nhất là nhà bên cạnh có bán ổi. Ranh giới nghiêm ngặt, đặt chân ra ngoài là phải xin phép, mà xin thì làm sao được phép để đi mua quà vặt, nên thôi phải làm lén. Thế nào cũng phải có chị em yểm trợ nhau thì kế hoạch mới thành công. Một hai chị em canh chừng, hai vị còn lại nhảy qua được bên kia suối, băng qua hồ nước hàng xóm là có thể hỏi mua được ổi. Đại chúng cũng có dọn trái cây vào giờ ăn trưa nhưng sao vẫn thấy những gì mình tự tìm ra, người lớn không biết thì bỗng dưng thấy ngon hơn nhỉ. Sau này mới vỡ lẽ ra rằng thì ra những lúc đó quý sư cô cũng biết nhưng chỉ cười thôi và nhắm mắt cho qua. Thì ra quý sư cô cũng cảm thông cho những trò nghịch và thú vui của các em nhỏ. 

Chỉ tại chợ Bảo Lộc không bán nhiều kiểu dép
Giờ thiền hành ở Bát Nhã quý sư cô bắt buộc phải chít khăn, cho dù trời nắng. Lý do là vì không thể áp dụng được pháp môn nắm tay nhau đi thiền hành một cách ngẫu nhiên nếu không phân biệt được đâu là quý thầy, đâu là quý sư cô. Đồng phục chỉ có ba màu nâu, nâu và nâu. Dáng dấp thì thanh cảnh giống nhau, cũng nón lá, áo ấm đồng phục nên rất dễ nhầm. Nhìn xuống đôi dép thì cũng chỉ một loại. Chợ Bảo Lộc chỉ bán vài loại dép, mà thích hợp với người tu thì chỉ có một hay hai loại thôi. Chuyện lạc dép và nhầm dép là chuyện như cơm bữa, vì vậy trên dép và nón lá của ai cũng phải viết tên. Lâu lâu bắt gặp những câu thơ thật rõ và thật dài trên nón của các anh chị em, không hẳn là để khoe thơ mà chỉ để khỏi lạc. Còn nhìn vào những đôi dép thì tên của mỗi người là đặc điểm nhận diện rõ nhất trên cùng một kiểu dép. Cái đó chắc có thể được gọi là đồng chúng. 

Ăn thức ăn theo mùa 

Có bài hát của sư cô Chúc Tuệ mà đến hôm nay mỗi khi hát tới câu: “Ôn đi trước kế là đàn con đông thật là đông 300” thì chị em vẫn còn buồn cười. Chỉ hai năm sau thôi số lượng đã đổi thành 500. Ngày quán niệm hàng tuần thì con số đông hơn nhiều, còn quán niệm hàng tháng thì dễ lên tới cả ngàn người. Ban đầu thì rau cải đến từ chợ Bảo Lộc, có cô Khanh gom góp dùm và các sư cô mua thêm. Thời gian đầu còn đi bằng xe gắn máy để mua rau củ, 

một thời gian ngắn sau đó thì tu viện có một chiếc ô tô thùng. Mỗi tuần tri khố đi Đà Lạt một lần để mua rau củ cho rẻ. Bao nhiêu là rau củ dành cho cả tuần được mua về sau mỗi chuyến đi. Thức ăn được nấu theo mùa tùy vào những gì mình có trong vườn và những gì người ta trồng được lúc đó. Mình ăn những gì mình có. Không có ý niệm ngán nếu phải ăn suốt một tuần cùng một loại thực phẩm. Hạnh phúc với nhau là đủ rồi. Sướng nhất là những ngày quán niệm đầu tháng có đoàn cư sĩ ở Sài Gòn, Nha Trang, hay một thành phố nào đó lên tham dự, họ đem theo bao nhiêu là quà bánh và trái cây. Các anh chị em tha hồ mà hạnh phúc. 

Nghĩ lại con thấy thương quý sư anh, sư chị lớn. Làm sao chỉ có vài vị lớn thôi mà có thể lo hết cho các sư em đông ơi là đông như vậy nhỉ? Từ thời khóa sinh hoạt, việc tu học, tổ chức các khóa tu, ngày chánh niệm cho cư sĩ và còn lo chuyện cơm ăn áo mặc cho các em nữa chứ. Sống với nhau đông như vậy mà ngõ ngách nào các chị em cũng nhận được tình thương, bàn tay chăm sóc, sự nâng đỡ, dẫn dắt của quý sư anh, sư chị lớn. Chúng con xin gởi lòng biết ơn của chúng con đến các sư anh, sư chị, những người đã hy sinh rất nhiều cho đàn em thơ ngây, thay Thầy để ban trải tình thương và gieo trồng những hạt giống lành trên mảnh đất mới. Chắc chắn ngày ấy quý sư anh, sư chị đã gặp vô số những thử thách. Con đã thấy niềm tự hào và hạnh phúc lấp lánh trong mắt quý vị mỗi khi thấy các em mình lớn lên từng ngày, trưởng thành từ từ và đang còn đi trên con đường đẹp này. 

Ở trung tâm Làng Mai nào trên khắp thế giới cũng có sự hiện diện của những người con Bát Nhã xưa, đã và đang đóng góp hết sức mình vào công trình xây dựng tăng thân, chia sẻ tình thương và sự tu học cho những người cần đến. Bát Nhã không chỉ là một tu viện xưa, hay một mảnh đất thuộc về quá khứ. Bát Nhã đang được tiếp nối nơi những người con đã từng sinh ra và lớn lên từ đó. Nhớ về nơi đó là nhớ về những bài học, tình huynh đệ và sự bình an mà chúng ta đã từng hiến tặng cho nhau. Thương chúc các anh chị em tiếp tục có mặt một cách đẹp đẽ và vững vàng nơi mình đang sống. Mình luôn vẫn mãi trong nhau và rồi khi nào gặp lại, mình sẽ lại kể cho nhau nghe chuyện xưa để xây dựng một ngày mai. Ngày mai đó chắc chắn là đẹp lắm. 

 

Cho một miền quê hương

Chân Pháp Khả 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, ngày đó còn chưa đầy mười sáu tuổi. Chú theo một chuyến xe của quý thầy đi vào từ Huế. Xe đến xóm Bếp Lửa Hồng trước; xóm Bếp Lửa Hồng có một con đường nhuốm màu đất đỏ như cái sân nhà chú. Ngày đó, có nắng chiếu lên hàng liễu hai bên đường. Đồi chè xanh mát, con đường thoai thoải cong cong. Có hai sư cô ra giúp các thầy chuyển đồ đạc từ trên xe xuống, họ cười rất tươi. Đó là “những nụ cười Làng Mai” lần đầu tiên chú thấy. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, khi xe tiếp tục chạy lên xóm của quý thầy, xóm Rừng Phương Bối. Xe dừng trước tăng xá, có hai chú tiểu nhỏ, mặc áo tràng lam, chạy lon ton từ tăng xá ra chào quý thầy vừa về, nói cười hớn hở. Hai chú nói nhiều thế, một chú nói giọng Huế, một chú nói giọng Quảng Trị, cả hai giọng đều nặng rất đặc trưng. Sau này chú mới biết; tên của hai chú lần lượt là Quang Chính và Bá Khai. Hai chú cười nói với các thầy rất nhiều, mà chẳng nói với “người mới đến” này một câu nào cả. Có lẽ, đồng trang lứa mà lần đầu mới gặp nhau, không nói chuyện chưa hẳn là không thích nhau, mà vì ngại ngùng. Tranh thủ lúc đó, chú đưa mắt nhìn tăng xá, thấy gần gũi vì có ba tầng cao, y như ngôi trường phổ thông của mình. Cứ nghĩ là chùa thì sẽ có mái cong, khói hương nghi ngút, các thầy mặc áo vàng, cổ đeo chuỗi hạt, đi ra đi vào với một sắc thái nghiêm nghị, thậm chí lạnh lùng. Xưa nay sự lạnh lùng luôn là điều dễ làm chú ái ngại nhất. Nhưng các thầy ở đây bận đồ nâu, không đeo chuỗi hạt, dáng vẻ khoan thai, nhìn chú và mỉm cười. Chỉ thế thôi, chú bắt đầu thấy thích. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, món ăn ngày mới đến ấy là cơm nguội và mít kho. Chú đã ăn món đó nhiều lần lúc còn ở nhà rồi, nên không lấy gì làm háo hức lắm. Nhưng, giữa cái không gian núi đồi xanh cao gió mát ấy, chẳng hiểu sao món cơm nguội mít kho trở nên ngon đến diệu kỳ! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, cái phòng đầu tiên được ở tên là Lộng Gió. Tên nó như thế bởi vì mỗi lần mở cửa sổ là gió cao nguyên ùa vào, mát rượi. Gian phòng đó là một khoảng không gian có nhiều điều để nhớ. Có những đêm, bạn nhỏ ngủ giường tầng trên lăn té xuống nền nhà, rồi lại trèo lên ngủ tiếp, rồi lại té, đến ba lần, mà chẳng hề hấn gì cả. Hồi đó, chú chỉ vào để chơi, đâu biết thực tập chánh niệm là gì! Phòng đó U14 có, mà U40 cũng có, nghịch ngợm tới đâu đâu nhưng chưa bao giờ cãi nhau, thân nhau như ruột thịt. U14 thì đùa giỡn đuổi nhau chạy quanh phòng ầm ĩ, nhưng chú Kính – U40, vẫn điềm nhiên hát và gảy đàn guitar, không hề bị phân tâm bởi tiếng ồn lũ trẻ. Chú thích có mấy U14 trong phòng lắm! Nhờ chú Kính, chú bắt đầu biết đến thiền ca, với Lòng không bận về, hay Con cá dung thông. Thi thoảng còn có Nắng thủy tinh, Gọi tên bốn mùa hay Bốn mùa thay lá… nữa. Giọng chú Kính trầm ấm, rất Huế và mang cung cách của người hoài cổ, xa xưa. Sau này, rất muốn gặp lại chú Kính một lần, chỉ để nói lời cảm ơn đã là nguồn cảm hứng cho chú học đánh đàn guitar. Nhưng đã hơn mười hai năm, kể từ khi được ở chung trong cái phòng Lộng Gió thân thương ấy, chú chưa từng được gặp lại chú Kính, dù chỉ một lần. 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, hồi đó các thầy thương chú lắm! Biết chú chỉ vào chơi hè thôi, không phải vào thực tập, rất nghịch ngợm ham chơi, vậy mà vẫn thương. Có lẽ vì tình thương ấy, sau này chú đã quay lại. Thi thoảng đi thiền hành được các thầy nắm tay cùng đi, hễ thấy chú đi nhanh thì níu tay để đi chậm lại. Những buổi ngồi thiền sáng, chú hay được các thầy chỉnh lưng cho thẳng. Các thầy nói, lưng mà thẳng thì tính sẽ cương trực. Mỗi khi xuống xóm Bếp Lửa Hồng giúp các sư cô làm việc, sau buổi được đãi một tô chè trái cây. Khi về mỗi đứa còn “xơ-cua” cho riêng mình thêm một bát, để dành cho buổi tối. Quý thầy dạy chú rất tỉ mỉ về cách nấu ăn, cách xào rau muống làm sao để không bị chuyển màu, cách dùng hai vá lớn đảo thức ăn trong chảo bằng hai tay. Mỗi lần đi chợ tít trên Đà Lạt về, các thầy thường gọi chú đến phụ giúp chuyển thực phẩm vào kho. Giúp xong, thì cho ổi, bánh hay xoài… như là “trả công”. Nhưng lần nào cũng thế, dặn chú là không được hưởng một mình, mà nhớ đem về chia đều trong Lộng Gió. Ổi, xoài thì lần nào cũng chia, nhưng nếu là hồng xiêm (sapôchê), thì hình như chưa lần nào chú chịu phân phát cả! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, mỗi tuần hai lần được chơi đá bóng với các thầy trên cái sân Thạch Sỏi huyền thoại. Hồi đó, Bá Khai đâu có được các thầy cho phép chơi cùng đâu, thế mà chú lại được cái may mắn đó. Có lẽ hồi đó Bá Khai còn bé hơn cả chú. Sau này lớn lên, Bá Khai thi thoảng thường “kiện tụng” với chú lắm, kiểu như là một cái gì đó rất “bất công”. Tối đến làm biếng, chú và Bá Khai còn được quý thầy cho vào phòng riêng, ăn mì gói với rong biển. Ở nhà, mì gói đôi khi mẹ mua về đến mấy thùng, để đến nỗi hết hạn, có bao giờ chú nhìn đến đâu. Nhưng ở Bát Nhã, được ăn mì gói trong phòng với quý thầy, là một diễm phúc! 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, ba tháng hè trôi qua như cơn gió. Chú phải về lại để học tiếp cấp ba. Ngày chú đi, nắng cũng trong veo như ngày chú đến. Nhưng chú buồn lắm vì phải xa Bát Nhã, xa các thầy, các sư cô. Không được đi thiền hành dưới rừng thông, hay ngồi thiền trong thiền đường Cánh Đại Bàng với hàng trăm chiếc áo nâu nữa. Chú phải về để vẽ tiếp cái tương lai của mình. Ba tháng ở Bát Nhã, chú chưa hề giận ai, vì chung quanh đều là những con người bình dị. Mỗi lần nghe tiếng chuông, chú nương theo hơi thở, nhẹ nhõm cả thanh xuân. Đó là cái trải nghiệm mà những năm tháng học hành chú ít khi nếm được. Chú cảm thấy cuộc sống mình có lẽ phải gắn liền với cái cảm giác an yên đó. Môi trường ở ngoài thường cho chú cảm giác tầm thường, không thỏa mãn, vô định và bất an. Trong khi đó bóng áo nâu đi thảnh thơi giữa rừng thông là một dáng hình tiêu diêu đẹp đẽ. Có một sự so sánh âm thầm diễn ra trong tâm thức. Một lối sống đơn giản, những nụ cười thanh thoát, những lối mòn dẫn xuống suối, tự bao giờ chú xem nó là quê hương. Lúc đó, không thể giải thích thành lời vì chú còn bé quá, chỉ dùng trái tim để trực cảm. Biết rằng lối sống này sao sao đó, sẽ thỏa mãn cho những mơ ước thẳm sâu, ngay cả chính mình vẫn chưa thể gọi tên. Ba tháng ở Bát Nhã, thấy mình chỉ biết nghịch ngợm, rong chơi. Ấy thế mà đã xoay chuyển hoàn toàn, là một ngã rẽ lớn, hay là một bước đột phá mới toanh cho cuộc đời và tâm tư chú. Trước khi vào Bát Nhã, chưa bao giờ nghĩ mình sẽ đi trên con đường này, không quen với việc cạo đầu, đeo chuỗi hạt, và bận áo vàng. Nhưng giờ đây, xa nơi này, chú nghĩ là mình đang rời xa một vùng trời rất đẹp. 

Thầy từng dạy chú nấu ăn, cũng là người đã chở chú ra bến xe Bảo Lộc. Thầy xem chú như em trai, chú cảm nhận được điều đó. Khi xe chuyển bánh, mắt chú bỗng long lanh, chú lấy tay quẹt đi cái lưu luyến dại khờ và thiêng liêng tuổi nhỏ. Lần đầu tiên trong đời thấy mình tha thiết và đáng thương. Nhưng cũng chính cái lúc phải rời xa ấy, cũng chính là lúc chú biết rõ ràng và chắc chắn, một ngày không xa mình sẽ quay lại nơi này! 

 

 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, hồi đó chú làm sadi cũng được vài ba tháng rồi. Cái thời mà ca hát, làm thơ, sáng tác thiền ca dần trở nên một mảng màu nhiều sinh khí. Lúc ấy xóm Rừng Phương Bối có một nhóm các thầy mà ai đó đã đặt cho cái tên là ban văn nghệ sĩ dòng nhạc áo nâu, hay cổ xúy và khuấy động phong trào viết nhạc, ra thơ. Sau những giờ lớp học mỗi sớm ở thiền đường Cánh Đại Bàng, các thầy thường hẹn nhau ngồi lại hát thiền ca, hay đọc và phân tích thơ của tác giả nào đó, nghe có vẻ am hiểu lắm. Chú còn bé, hiển nhiên không được dự vào. Nhưng chú thích ngồi yên một góc chống cằm nhìn các thầy đàn hát. Chú biết, mình thích hát, và mình cũng thích nhìn mọi người chung quanh hát. Chú thích làm thơ, và chú cũng thích nghe mọi người đọc thơ. Ai mà trách chú lơ thơ bay bổng, học đòi bắt chước lối sống của tao nhân, chú cũng đành chịu. Chú chỉ thấy chúng làm cho lòng hân hoan, khai sáng, không làm mình mất đi nhựa sống, thì mình có sao sống vậy, khỏe khoắn và như nhiên. 

Khi nghe nhạc nghe thơ, mắt chú lúc thì tròn lên thưởng thức, lúc thì phải nhắm lại, vì ý thơ câu nhạc sâu lắng đến tim người. Tác giả đôi khi đã nói hộ giùm mình, những điều mà chú cũng có cùng cảm nhận nhưng không thể chắp bút viết thành chữ, thành câu. Các thầy, các sư cô làm nhạc và thơ hay lắm, những giai điệu ấy đã đôi lần đi vào trong chú với những giấc mơ trưa. Những bài thơ, bài nhạc nào hay, ngày nào chú cũng mang ra hát đi hát lại. Chú hay hát những câu như: “Trong đêm bao la, từng vì sao múa ca, thông reo vi vu, trò chuyện với trăng già…” Hay: “…Tình yêu anh em bắt đầu từ những gì… đơn sơ nhất. Yêu dáng ai ngồi rất thẳng, yêu em bé kể giấc mơ hoạ mi. Yêu thiền ca anh hát lòng đất tuôn mầm xuân. Nắm tay nhau cùng vui bước trên đường…” Đúng là các thầy, các sư cô nhà mình hay thiệt, những cái đẹp của thiên nhiên luôn được xem như một cái gì to lớn lắm! 

Và hễ lần nào chú đọc được những dòng như: 

… Nỗi đau của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối
Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu 

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi, cho tôi được nghe một lần tất cả
Những tiếng tôi khóc, tôi cười
Cho tôi thấy nỗi đau và niềm vui là một… 

(“Hãy gọi đúng tên tôi” – Sư Ông Làng Mai) 

hoặc là: 

… Đừng ghét bỏ thân thể em
Vì đó là đền thờ linh thiêng của linh hồn nhân loại
Mắt trong của em là minh châu ngời sáng, chứa đựng bóng hình tam thiên thế giới
Và tai em có quyền hạn tối cao với suối chim Với hải triều sớm tối

Và bàn tay em
Là những bông hoa thương yêu ngàn đời không cần ai hái
(Những bông hoa còn bừng nở nhiệm mầu Làm diễm lệ cả khu vườn nhân loại)
Và vầng trán em
Là bình minh sáng nhất của các bình minh… 

(“Kiến trúc chân như” – Sư Ông Làng Mai) 

là chú xúc động mà chưa rõ nguyên nhân là gì, chỉ mong tháng năm có thể trả lời cho chú. Có người còn nói rằng khi đọc những dòng thơ đó họ còn rung cảm mãnh liệt hơn, mong được chạy đến bên Thầy, sà vào lòng Thầy mà khóc. Dù là ai thì cũng có quyền một lần trong đời được khóc òa như đứa trẻ, dù gái hay trai thì cũng sẽ không bị chê cười, không bị quở trách là yếu đuối. Những giọt nước mắt đó sẽ cuốn đi bao tủi hờn, thổn thức. Cái chuyện khóc òa kia bỗng trở nên mầu nhiệm đến vô cùng! Chú 

mong lâu lâu mọi người ngồi chung lại, đàn hát hoặc đọc thơ cho nhau nghe, vì chúng ta là những người giàu có, biết thưởng thức sự sống, không bận bịu, có rất nhiều thời gian. Thật ấm cúng khi nuôi nhau bằng ý thơ, con chữ… 

Chú nhớ cái thời Bát Nhã, lúc đã làm sư chú được gần hai mùa an cư. Được thấy hai mùa hoa cà phê nở, trắng tinh và thơm ngào ngạt. Mỗi lần đặt tay lên đầu, là mỗi lần chú tự mỉm cười ngạc nhiên vì bây giờ mình là sư chú, trong khi thời gian ngắn trước đây thôi, cái ý niệm bận chiếc áo nâu trong đầu hẳn còn xa lạ. Thời gian cứ thế trôi… 

Đến một ngày, chú nhận tin là mình và một vài thầy nữa sẽ được chuyển đi trung tâm khác. Cảm thấy hơi bất ngờ và hụt hẫng, vì phải rời xa thiên đường có những ngõ ngách mình chưa biết trước để tranh thủ ghé thăm. Thôi thì cất đi những ngông cuồng tuổi trẻ, mang theo những gì chú có, một chút gió, chút trăng, những tháng ngày an vui, hay cái hương hoa cà phê ngào ngạt. Chú thấy an ủi là mình đã trọn vẹn với tinh thần “Đại chúng cử đâu, con đi đó!”, dù những ước muốn được ở lại nơi đây chưa kịp nói thành lời, chưa được lắng nghe, vô tình để lại một vết thương, không tên không tuổi. Những thương tích trẻ con, tưởng chừng như đến rồi đi, sao thi thoảng nghĩ về nó vẫn còn to lớn thế? Lại thêm một lần xe chuyển bánh, lại thêm một lần mắt chú hóa long lanh. Chú nhìn thật kỹ bóng dáng nâu sòng rảo bước giữa rừng thông, nhìn thiền đường Cánh Đại Bàng ẩn mình giữa những làn sương mai bàng bạc. Chú không thấy tiếc, dù đó đã là lần cuối chú được ngắm nhìn… 

Chỉ có khoảng hai năm ở đó, nhưng mỗi khi nhớ về, Bát Nhã trong chú là một miền quê hương sinh động, mầu nhiệm và an vui. Hễ khi nào thấy ai đó cất bước thảnh thơi, ai đó nở một nụ cười như nhiên thì chú mừng vui lắm, vì nó giúp chú gặp lại “những nụ cười Làng Mai” buổi đầu. Bát Nhã là cái nôi, nơi có một cuộc tao ngộ thật tình cờ giữa chú và những điều tươi đẹp. Chú hứa sẽ học cách không vô tình làm 

tổn thương bất cứ một sư em nào, thương tích ngày xưa luôn dặn dò chú thế. Ai cũng mong được khôn lớn một cách tự nhiên, có đủ không gian để phát giác những tinh hoa, được nói ra những điều mình muốn nói, được lắng nghe, hoặc dù vấp ngã đến đâu cũng sẽ còn nguyên cơ hội, nhận được sự đợi chờ, tha thứ. Nếu như thế, tâm người sẽ hé nụ những bông hoa, và niềm biết ơn sẽ ở trong tim hoài mãi. Không để lòng lắng nghe một tâm hồn thơ trẻ, chú thấy mình như có lỗi với cả một con đường… 

Bây giờ, hóa thân của Bát Nhã đã ở khắp nơi, nhưng chú vẫn hứa rằng một ngày không xa mình sẽ về thăm lại… 

 

Trời che đất chở

Chân Sắc Nghiêm

Con tin là người dân ở quốc độ nào, biên giới nào, quốc gia nào trên hành tinh xanh xinh đẹp này đều có tình thương cho đất. Dù có ý thức hay trong vô thức, tình thương đó luôn luôn hiện hữu. Tình thương có thể phát khởi từ lòng trắc ẩn khi thấy một chú cá heo qua đời vì hàng trăm mảnh nylon trong bụng. Tình thương có thể phát khởi từ lòng biết ơn vì nhờ đất sản sinh hoa màu, cây trái,… cung cấp đủ thực phẩm cho sự sống con người. Hay tình thương phát khởi khi hiểu rằng đất rên xiết chống chọi những trận thiên tai, hiểm họa… 

Người Việt từ bao đời được đất chở che, nuôi dưỡng. Nếp sống của cha ông từ ngàn đời luôn gần gũi với thiên nhiên. Tình thương cho đất đã đi vào kho tàng ca dao, tục ngữ: Đất lành chim đậu, Tấc đất tấc vàng,… 

Đất không chỉ là nguồn cội – Quê cha đất tổ. Đất còn là cơm áo, chỉ cần có đất là có ấm no, có sự nghiệp. Có “mảnh đất cắm dùi” thì yên tâm khởi nghiệp, không còn sợ nữa. Đất tạo ra vật chất, đất mang giá trị tinh thần. Khi gia cảnh túng thiếu, phải bán hết mọi thứ trong nhà nhưng “đất hương hỏa” thì không bao giờ được bán, nó như mạng mạch của gia đình. Cái tình với đất được biểu hiện rõ ràng nơi những người dân cày sâu cuốc bẫm, tiếp xúc và sống hàng ngày với đất, lên xuống theo diễn biến của những vụ mùa. 

Còn người dân thành phố như con, trước khi đi tu, liên hệ với đất không khắng khít, chặt chẽ như vậy. Sự hiểu biết của con về tương tức còn chưa được hình thành. Trên bề mặt nhận thức mình biết về sự tương quan, nhưng cái nhận thức đó chưa trở thành đời sống, thế nên cách sống của mình vẫn phản ánh cái nghĩ: mình và đất đai, khí hậu, môi trường là hai thực thể tách biệt. 

Những năm tháng trong chùa, những câu kinh tiếng kệ, rồi tâm thức cộng đồng và sự học, hiểu thêm về giáo lý tương tức đã cho con có cơ hội nhìn đất trong phạm trù tương tức. Con thấy mình biết thương đất nhiều hơn. Thương đất cũng là thương sông ngòi, núi non, không khí, cỏ cây,… Con thấy mình biết nhìn ngắm cái đẹp của đất trời. Biết trân trọng những buổi sáng huy hoàng khi mặt trời lên làm long lanh những giọt sương trên đầu ngọn cỏ. Biết trân trọng không khí trong lành buổi sớm mai cho mình hít thở những hơi thở đầu ngày. Biết quý những buổi chiều vàng mùa thu khi ánh nắng xuyên qua làm rạng rỡ những chiếc lá vàng đỏ… Tất cả những vẻ đẹp đó nuôi dưỡng tâm hồn, chữa trị những vết thương và cho con thêm niềm vui sống. 

Mỗi lần đọc Bài kinh Ca tụng đất Mẹ của Sư Ông là mỗi lần con xúc động trước sự bao dung, đẹp đẽ tròn đầy của đất Mẹ: 

Mẹ đã sinh ra bao chủng loại

Tạo bao mầu nhiệm ở trên đời 

Thương yêu hết mực, không kỳ thị 

Ôm lấy muôn loài chẳng sót ai 

Thuần hậu, bao dung và vững chãi 

Mẹ đang chuyên chở cả muôn loài. 

Khi mình thương, mình mong muốn biến tình thương của mình thành hành động. Hành động đến từ ước muốn tôn trọng và bảo vệ. Nhưng trước tiên, tình thương phải bắt đầu từ sự hiểu biết thì tình thương đó mới có thể bền chặt theo tháng năm. 

Niềm tin 

Con nhớ, năm 2016, con được về Việt Nam thăm nhà, sau năm năm sống ở Viện Phật học, Đức. Về đến sân bay Tân Sơn Nhất đã là mười giờ tối. Hình ảnh ấn tượng đầu tiên con bắt gặp đến từ một chú bán trái cây bên đường. Không hiểu sao lúc đó con rơi nước mắt. Thấy thương vô cùng! Thương người dân mình cơ cực! Gương mặt khắc khoải của chú, trong một buổi khuya Sài Gòn với hàng trái cây đơn sơ làm cho con xúc động. Việc mưu sinh đâu có dễ dàng. Cái quan tâm về cơm áo gạo tiền hàng ngày nó chiếm trọn tất cả các quan tâm khác. 

Có hôm bố hỏi con: “Muốn ăn sầu riêng không, bố mua cho?”. Mẹ nói: “Thôi, thuốc không à!”. Bố nói: “Có cái gì mà không có thuốc đâu!”. Rồi con biết thêm, người ta trồng rau cũng trồng thành hai luống. Một luống để bán, có thuốc và một luống để ăn, không có thuốc. Đi đâu con cũng nghe bàn tán những vấn đề về thực phẩm ô nhiễm. 

Lại thêm mật độ xe ở thành phố ngày càng dày hơn, phải làm thêm cầu vượt, phải mở rộng đường, khói bụi tỉ lệ thuận với số khẩu trang. Ra đường ngày trước đã khó nhận ra người quen, giờ còn khó hơn vì ai cũng che phủ từ đầu đến chân; đôi mắt cũng không thấy vì phải đeo kiếng chống bụi, chống nắng. Tham gia giao thông trên đường về, con thấy mình căng và mệt. Con cứ mải miết suy tư về môi trường sống. 

Rồi con nhớ đến thằng em trai. Có hôm nó đi học về, chạy chiếc xe Max, tay cầm bịch nước mía đã uống hết (có cái ống hút) trên tay. Con hỏi: “Sao không quăng cái bịch uống hết rồi đi em, cầm về nhà làm chi vậy?”. Nó nói: “Đi suốt đường mà không thấy cái thùng rác nào hết, chị Hai”. 

Nghe nó trả lời mà con thấy ấm lòng. Thằng em, té ra cũng có cách bảo vệ môi trường riêng của nó. 

Gần đây, con tình cờ nghe câu chuyện về dự án xe điện Datbike của Nguyễn Bá Cảnh Sơn, một bạn 9X ở Đà Nẵng. Một người đã có việc làm ổn định, là một kỹ sư phần mềm ở Silicon, thao thức về lại quê nhà với khát vọng cống hiến. Nghe bạn chia sẻ: Khi làm việc ở Silicon, em suy nghĩ mãi liệu những việc mình đang làm ở bên kia, làm cho những trang web chạy nhanh hơn, làm cho hệ thống xử lý dữ liệu chạy nhanh hơn có thật sự quan trọng không khi mà điều kiện căn bản nhất của cuộc sống là hít thở thì người thân và bạn bè của mình ở đây còn chưa có. Em quyết định về lại Việt Nam để thành lập Datbike... 

Không biết từ bao giờ mà việc mang khẩu trang này đi ra đường đối với người Việt Nam chúng ta trở thành một phần tất yếu của cuộc sống. Ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng. Đó không phải là những gì em đã từng có trước đây và điều đó làm em suy nghĩ mãi. Vì vậy em trở về Việt Nam, thành lập Datbike với một mục tiêu duy nhất làm sao để cho người Việt Nam chúng ta khi ra đường không ai phải đeo cái khẩu trang này nữa”. 

Nghe bạn chia sẻ con thấy mừng và có thêm niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ của Việt Nam. Các em 9X, sau con một thế hệ, dám sống, dám ước mơ, dám thực hiện. Khi khởi nghiệp, các em đã biết suy tư về vấn đề môi trường, về giá trị đạo đức, giá trị nhân văn của nghề nghiệp mình chọn. Đó là chánh mạng, nghề nghiệp chân chánh. 

 

 

Bé Thanh An 

Bé Thanh An sinh năm 2016, là thế hệ thứ ba của gia đình. Bé sinh ra đúng ngày thứ 50 sau khi ông ngoại bé qua đời. Vào bệnh viện, bế bé trên tay, con cảm nhận rõ ràng bé là một hiện hữu nhiệm mầu, là một món quà của vũ trụ, là sự tiếp nối đẹp đẽ trong gia đình. Ngày bé ra đời, con viết xuống trong quyển sổ nhỏ: 

Bé đã sinh ra rồi
Chân trời xôn xao dâng ánh sáng. 

(“Bé đã sinh ra rồi” – Thơ Sư Ông) 

Thương bé Thanh An cũng là thương 360 ngàn em bé sinh ra cùng ngày, thương 134 triệu em bé sinh ra cùng năm với Thanh An. Con thấy tình thương dành cho Thanh An – cháu ruột của mình – cũng dễ dàng nhân rộng ra cho hàng triệu em bé khác một cách tự nhiên. 

Những bất ổn về môi trường ở Việt Nam có lúc làm cho sự lo lắng trong con lên cao. Con nghĩ thế hệ của bé sẽ đối diện với nhiều khó khăn hơn về môi trường sống và về vấn đề tiêu thụ. Có lúc cái lo lắng trong mình nói với mình rằng hay là gia đình tìm cách nào cho bé ra sống ở nước ngoài, có môi trường sống xanh sạch hơn. Con mỉm cười với mình! Dùng lăng kính tương tức soi vào thì thấy dù có đi với tốc độ ánh sáng, đi hoài đi mãi không ngừng nghỉ cũng không thể đi ra khỏi thế giới tương tức này. Một tảng băng tan ở Nam Cực cũng có tầm ảnh hưởng đến tất cả địa cầu. Điều mà con có thể làm được cho bé có chăng là dạy bé biết thở bình an trước những thử thách, sợ hãi trong đời sống. Điều ước của con là ước gì Liên Hiệp Quốc có thể thêm vào quyền trẻ em một điều khoản: Mỗi đứa trẻ có quyền được đến Làng Mai một lần! Đến Làng, chỉ để được học cách sống đơn giản, có mặt và gần gũi với thiên nhiên. Rồi sau này, những chất liệu đó nơi tàng thức sẽ nuôi được các bé trong đời sống bộn bề. 

Tứ vô lượng tâm 

Khi mình thương một người, mình muốn bảo vệ, che chở cho người đó. Nhưng thử tưởng tượng ngày nào mình cũng than khóc, sợ hãi, tức giận vì người đó đang khổ đau. Mình quằn quại, đau đớn theo. Đặt bạn vào hoàn cảnh được thương như vậy bạn cảm thấy thế nào? Với con, chắc con buồn lắm. Bản thân đã khổ mà thấy người thương mình cũng khổ thì nỗi khổ ấy lại cộng thêm lên. Tình yêu đất Mẹ cũng như vậy! 

Những năm gần đây, sự sống của trái đất đang đi đến lằn biên báo động. Những cảnh báo ở mức độ toàn cầu về tình trạng của đất Mẹ ngày càng mạnh mẽ và khẩn thiết. Con thấy mình may mắn vì đang sống trong một tăng thân biết thương đất Mẹ và cũng biết thương nhau. Vì tình thương chung nên hành động cũng là hành động chung. Mình mạnh mẽ hơn nhiều khi làm cùng nhau, san sẻ chung với nhau một nỗi quan tâm. 

Mùa An cư kiết thu năm nay, anh chị em chúng con đã cùng nâng cao ý thức về vấn đề môi trường. Những buổi sinh hoạt theo chủ đề (workshop) được mở ra để cùng nhau học hỏi, hiểu biết thêm về thực trạng của đất Mẹ và từ đó có những hành động cụ thể. Những bảng khảo sát về mức độ quan tâm đến đất Mẹ trong đại chúng rất khả quan. Anh chị em nào bồ đề tâm cũng mạnh mẽ, dễ dàng xúc động, dễ có tình thương khi nhìn thấy các chú hải cẩu chết hàng loạt, những đàn dơi chết la liệt trên mặt đất hay khi thấy cây rừng bị tàn phá. Ngồi xem phim tài liệu chung với nhau, cảm nghe được năng lượng tập thể, ý thức cộng đồng lan tỏa mạnh mẽ trong thiền đường. 

Rồi sáu workshop được chuẩn bị chu đáo từ các nhóm nhỏ. Mỗi nhóm chăm sóc workshop đều đóng góp hết lòng. Khó nhất là phải nghiên cứu từ trong đời sống của đại chúng, để thấy được phương cách tăng thân đang sinh hoạt và từ đó cống hiến những buổi workshop gần gũi, cụ thể. Không khí của những buổi workshop thật vui tươi, người tham dự và người thuyết trình đều rạng rỡ. Thấy được tình trạng chung và cũng lạc quan thấy rằng những hành động nhỏ của mình như phân rác ra đúng loại, mua thực phẩm sạch, theo mùa, tiết kiệm nước, ăn thực phẩm thuần chay (vegan),… cũng đã thể hiện một phần sự quan tâm của mình đến đất Mẹ. Khi thấy biển Aral ở Trung Á khô cạn thì ý thức về việc bớt mua sắm quần áo cũng dễ dàng nâng cao. Rồi khi anh chị em trong workshop về năng lượng ước tính được lượng khí thải carbon (Carbon Footprint) của xóm thì vấn đề tiết kiệm sưởi, điện, giảm di chuyển bằng máy bay cũng được quan tâm nhiều hơn. 

Điều ấn tượng cho con là các anh chị em cùng học, cùng làm việc chung với nhiều niềm vui và tình huynh đệ. Nhóm nào cũng thể hiện được sự sáng tạo, hài hước, thông tin được chắt lọc phù hợp. Nhớ lại câu chuyện mất rác mà vẫn còn thấy vui. Chuyện là nhóm workshop về “chuyển hóa rác” có một yêu cầu rằng ai tham dự workshop cần phải tự gom rác cá nhân mà mình sử dụng trong tuần để mang đến workshop và cùng học cách phân loại. Có một thầy gom rác cả tuần, gần đến ngày tham dự workshop thì phát hiện ra… mình mất bao rác. Cái cảm giác chưa bao giờ việc mất bịch rác lại trở nên quan trọng và đáng tiếc đến như vậy! Có những thứ những tưởng không cần, vậy mà có lúc mất đi cũng khiến ta thấy tiếc vô cùng. 

Sáu workshop diễn ra hài hòa. Người hướng dẫn không thấy tự hào vì mình biết nhiều hơn, và cũng không đòi hỏi, áp đặt ý mình. Người tham dự cũng hết lòng trân trọng, lắng nghe bằng trái tim cùng đôi mắt mở to. Tất cả đều cùng một nhịp, không phán xét, không tạo áp lực cho nhau. 

Những chia sẻ dễ thương và nuôi dưỡng sau những giờ sinh hoạt, những giây phút mọi người cùng ngồi lại sau giờ thuyết trình để viết vào những bảng khảo sát cách mình hiểu, những gì học được và đưa ra những ước nguyện nhỏ bày tỏ tình thương với đất Mẹ: Con nguyện không mua thêm đồ nếu không cần thiết. Giảm tiêu thụ, lựa chọn sản phẩm BIO và giảm dùng nylon. Xem xét kỹ trước khi muốn mua hay vứt bỏ một thứ gì đó. Ít thay đổi giày dép, vật dụng cá nhân. Khi mua nên chọn đồ kỹ càng, yểm trợ thực phẩm, mặt hàng của địa phương,… 

Đối với câu hỏi: “Điều ấn tượng nhất trong suốt buổi thuyết trình là gì?”, đa số kết quả là hạnh phúc vì năng lượng tập thể, vì được cùng làm chung với nhau trong tinh thần sáng tạo, vui tươi. Cùng với nhau mình có thể làm hay hơn rất nhiều! 

Được nhìn ngắm anh chị em cùng học hỏi và chơi với nhau trong tinh thần ấy con thấy lòng ấm áp và con biết đất Mẹ cũng đang mỉm cười. Tình yêu cho đất Mẹ cũng cần lắm những chất liệu của hòa hợp và an vui! 

 

Đường về mây trắng gọi trời xanh

Chân Minh Hy

Thầy Pháp Lượng là một vị giáo thọ Làng Mai, xuất gia năm 2001, trong gia đình Cây Dâu Tây. Thầy đã thị tịch ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại Đức. Sau đây là những dòng tâm sự của quý thầy, quý sư cô trong buổi lễ Hộ niệm cho thầy diễn ra tại thiền đường Thánh Mẫu Ma-Gia ở Sơn Hạ vào sáng ngày 26.07.2019 được thầy Minh Hy ghi lại. 

Sư anh Pháp Lượng thương quý! 


Đã hơn một tháng nay ở Làng không có một giọt mưa. Có hai đợt nóng khủng khiếp từ 38 – 41°C. Thế mà từ tối hôm qua trời trở gió và hôm nay mưa khá nhiều. Ai cũng mừng. Nếu ghé thăm xóm Thượng, sư anh thế nào cũng mừng lắm. Sư anh là người yêu thiên nhiên mà. Mấy hồ sen nhờ trận mưa mà có thêm nhiều nước. Chắc sư anh sẽ vui khi nhìn đàn cá tung tăng bơi lội dưới hồ bên cạnh những bông sen trắng tinh khiết. Mưa làm cho những bông hoa chicorée càng thêm tươi thắm. Hoa chicorée đã nở khắp nơi trên xóm Thượng. Sư anh có thể ngồi ở đâu đó để ngắm hoa và thưởng thức từng ngụm trà nóng. 

Sư em rất thích hình ảnh ung dung tự tại của sư anh. Đi đâu sư anh cũng đeo cái bình thủy bên mình, trong đó có trà, trà đậm lắm, chắc là sư anh uống trà thay nước luôn. Đến bây giờ sư em mới tiếc là chưa bao giờ được tặng sư anh một gói trà hay một bông sen ướp trà Bắc. Tiếc thật! Mùa này sư em ướp được nhiều trà sen lắm. 

Mấy hôm nay sư em rất nhớ sư anh. Các anh em ở đây ai cũng nghĩ đến sư anh, hình ảnh của sư anh hiện rõ trong sư em hơn bao giờ hết. Có cảm tưởng như sư anh đang ở đây. Sư anh đang dạo chơi, đi ra vườn, đi xuống bếp thăm anh em nấu ăn, hay đang ngồi uống trà cùng với các huynh đệ. Thỉnh thoảng được nghe cái giọng cười khàn khàn của sư anh rất là thích. 

Hẳn sư anh còn nhớ cái buổi sư anh ngồi uống trà ở phòng sư anh Pháp Dung trong khóa tu xuất sĩ đầu năm chứ. Các sư anh nói chuyện gì mà cười vui quá làm mấy sư em ai cũng thèm được vào chơi. Sau buổi ngồi chơi đó, đại chúng được thấy một hình ảnh rất đẹp của tình huynh đệ: hai sư anh đã lên pháp tòa chung trong một buổi pháp thoại. Sáng hôm nay thầy Pháp Dung đã nhắc lại kỷ niệm đó trong buổi lễ. Trong buổi pháp thoại đó, sư anh đã nói một điều làm nhiều người tâm đắc, sư anh nói rằng: “…Sống trong tăng thân thì mình cố gắng đi ra phụng sự, mình đừng có ngại, mình đi ra giúp thì người khác mới có cơ hội được nghỉ ngơi”. Trong câu nói ấy chứa rất nhiều tình thương của sư anh. Còn nhớ nhiều năm về trước, khi Thầy và tăng thân cử sư anh đi tu viện Rừng Phong, sư anh hoan hỷ đi. Cử sư anh lên thiền đường Hơi Thở Nhẹ, sư anh hoan hỷ đi. Rồi lần sau đó cử sư anh đi xây dựng Học viện EIAB, sư anh cũng sẵn sàng đi. Hình như ở đâu có khó khăn, vất vả thì sư anh đều sẵn sàng đến. Sư em tu còn yếu, mỗi khi gặp khó khăn, nguy hiểm thì lòng còn e dè, run sợ, nhưng sư anh thì thường hay cười và nói: “Có gì đâu, có gì đâu!”. Sư anh có tình thương đủ, có sự hiểu biết đủ để thương Thầy và tăng thân trong mọi hoàn cảnh như thế. 

Sư cô Chân Không cũng có mặt trong buổi lễ sáng nay.Khi hay tin sư anh ra đi, sư cô đã lên Phật đường đốt trầm và mời sư anh cùng ngồi yên với sư cô. Thật kỳ diệu, sư anh đã có mặt đó và cùng ngồi với sư cô. Sư cô cũng đã mời các thầy, các sư cô bên Học viện cùng ngồi thở với sư cô, cùng ôm ấp, cùng tha thứ, cùng cảm thông, cùng trị liệu nỗi đau này. Sáng nay, sư cô
đã mời tăng thân và sư anh cùng ngồi yên trong thiền đường Thánh Mẫu Ma-Gia ở Sơn Hạ. Thiền đường tuy nhỏ nhưng có thể chứa đựng được tất cả. Trong thế giới bản môn, tất cả anh em mình đã gặp nhau. Có buồn đau, có tiếc nuối, có nước mắt nhưng sau cùng đã có được những nụ cười. “Có gì đâu!”. Chỉ là trò chơi trốn tìm thôi mà. 

Sư anh là một người tu rất giản dị. Chiếc áo tràng đã bạc màu nhiều năm rồi nhưng sư anh vẫn rất quý, hiếm khi thấy sư anh mặc đồ mới. Sư anh thích cây cảnh (bonsai). Sư anh kiếm đâu đó mấy cây con con, bỏ vào chậu, có khi thêm cục đá bên cạnh và nó trở thành một tác phẩm nghệ thuật. Đã không ít hơn một lần ở Học viện, quý thầy, quý sư cô đã mở lớp rồi mời sư anh hướng dẫn cho thiền sinh học cách làm bonsai. Điều ấy đã khiến Sư Ông lấy làm thích thú và thường hay sách tấn các sư em: “Thầy Pháp Lượng không nói được tiếng Đức hay tiếng Anh, vậy mà cũng có thể hướng dẫn thiền sinh làm bonsai đó con!”. Chỉ cần có một tấm lòng thôi phải không sư anh! 

 

 

Có một hôm, sư cô Bảo Nghiêm nói: “Pháp Lượng, xin sư em lên xóm Mới giúp các sư cô tỉa mấy cái cây”. Sư anh nói: “Sư em chỉ chăm cây ở xóm Thượng thôi, xóm Mới có các sư chị rồi”. Thế nhưng mỗi khi lên xóm Mới, trong túi của sư anh đều có sẵn cái kéo, thấy cái cành nào khô, mọc không đúng là sư anh tỉa cho nó gọn gàng. 

Nhiều khi các anh em khi về phòng thì bỗng thấy có một chậu bonsai, một cục đá hay một gói trà của ai đó để trên bàn. Nhiều khi đoán biết được người đó là sư anh, nhưng sư anh là thế, rất lặng lẽ, kín đáo, không muốn ai biết. Thương anh em thế là đủ rồi. 

Sư cô Giác Nghiêm cũng rất quý sư anh ở điều này. Sư cô đã nhắc đến một kỷ niệm rất đẹp lúc sư anh lên thiền đường Hơi Thở Nhẹ thuở ban đầu. Lần đó, sư anh đi vắng, vì cần chỗ nhiều ánh nắng để đặt mấy tấm pin năng lượng mặt trời nên quý sư cô đã chuyển khu vườn nho nhỏ với những chậu cà chua, chậu rau cải của sư anh sang một chỗ khác. Quý sư cô rất ngại vì thấy sư anh rất quý khu vườn ấy. Thế rồi, khi sư anh trở về, sư anh không nói gì cả, không hề than, không hề trách, vẫn tươi cười chơi với khu vườn của mình. Cho đến một tháng sau, khi cùng thưởng thức những trái cà chua đầu tiên, sư cô đã rất biết ơn sư anh vì sự yểm trợ âm thầm mà kín đáo ấy. “Có gì đâu” phải không sư anh! Thế nhưng đối với sư em, đó quả thật phải là một người có công phu tu học thâm sâu mới làm được. Đối với sư cô, sư anh là một người bạn tu rất tuyệt vời dù rằng không có nhiều truyền thông bằng ngôn ngữ. 

Ở Học viện EIAB, ai cũng biết quý thầy, quý sư cô đã gọi sư anh là Sư Bố. Bởi vì sư anh có dư tình thương để che chở cho các sư em, bên nam cũng như bên nữ. Ở đâu cần là sư anh có mặt. Sư anh có đủ tình thương và sự tin cậy để hiểu thầy Pháp Ấn, sư anh của mình. Sư anh không bao giờ đứng về một phía nào cả. Giống như một người có hai cánh tay thương yêu dang rộng và không chấp nhận mình là người chỉ yêu thương với một cánh tay. Sáng nay, những chia sẻ của sư cô Sắc Nghiêm về sư anh, về sự chăm sóc tận tụy và sự thủy chung của sư anh với Học viện khiến cho ai cũng cảm động. 

Có một kỷ niệm vui, không biết sư anh còn nhớ không? Lúc ấy, sư anh còn là một cư sĩ ở xóm Thượng. Một đêm trước ngày xuất gia của thầy Pháp Hải, không biết kiếm đâu ra được một chiếc áo nhật bình lam, sư anh đến với thầy Pháp Hải và nói: “Đây, anh cần nó cho ngày mai”. Lúc đó ở Làng rất hiếm đồ cho người tu. Thầy Pháp Hải đã rất mừng với chiếc áo đó. Mãi về sau thầy mới khám phá ra rằng đó là chiếc áo nhật bình dành cho bên quý sư cô! Nhưng chắc là sư anh không biết đâu, vì chỉ người xuất gia mới biết điều đó. Sư anh lúc ấy là cư sĩ mà. 

Kết thúc phần chia sẻ, thầy Pháp Ứng đọc lại bài kệ truyền đăng mà Sư Ông đã trao cho sư anh trong đại giới đàn Mùa Sen Mới: 

Pháp môn thi thiết tuy vô lượng 

Phật quả ngày mai quyết định thành 

Đất thơm hiến tặng mùa xuân mới 

Đường về mây trắng gọi trời xanh. 

Sau phần ôn lại những kỷ niệm với sư anh, đại chúng hòa lòng mình vào bài Sám Quy mạng như một lời thệ nguyện sắt son cùng nhau của tình huynh đệ. 

Kiếp này xin nguyện xây thêm
Cao tòa phước đức vững nền đạo tâm Chờ mong đạo nghiệp vun trồng
Từ bi trí tuệ nảy mầm tốt tươi
Kiếp sau xin được làm người
Sanh ra gặp Pháp sống đời chân tu
Dắt dìu nhờ bậc minh sư
Nương vào chánh tín hạnh từ xuất gia. 

Lời kinh thắm thiết, trầm hùng mà ngọt mát như những giọt cam lộ. 

Sau cùng, thầy Pháp Ứng đã mời đại chúng thực tập lạy Bụt, đã mời sư anh, mời quý thầy, quý sư cô ở Học viện cùng trở về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng, cùng học hiểu, học thương. Mình cần có nhau bây giờ và mãi mãi, phải không sư anh? 

Cảm ơn sư anh đã biểu hiện trong cuộc đời. Cảm ơn gia đình huyết thống, ba mẹ, tổ tiên đã gửi sư anh đến với tăng thân. Sư anh đã làm một người tu rất đẹp. Cảm ơn bài học yêu thương, vị tha của sư anh. 

“Có gì đâu”. Sư anh mãi là thế! 

Chúc sư anh tiếp tục rong chơi, tiếp tục làm đẹp cho cuộc đời. 

Thương kính 

 

Tình yêu

(Trích trong cuốn sách “Nói với tuổi 20” của Sư Ông Làng Mai)

Không ai cấm em, trong khi yêu, tạo dựng thần tượng. Em nói: đời này yêu thì yêu chứ thần tượng thì không. Tôi nghĩ không phải như vậy. Nếu không còn thần tượng thì không còn là yêu. Có lẽ tôi cổ hủ mất rồi, nhưng biết làm sao? Nếu em đồng ý rằng trong khi yêu ta không tránh khỏi sự tạo dựng thần tượng thì em nên bắt đầu tạo dựng ngay thực chất cho thần tượng ấy. Chỉ có một cách làm cho tình yêu bền vững mãi, đó là giữ cho người yêu mãi mãi là nguồn cần thiết và ngọt ngào của mình. Một mình người yêu của em làm việc ấy thì nặng quá: em phải giúp sức người yêu của em. Và phải giúp một cách thật tế nhị. Công việc này chỉ cần kiên nhẫn và sáng suốt là được; trong tình yêu, em rất dễ ảnh hưởng đến người em yêu. Tình yêu sẽ trợ lực em. Mãnh lực của tình yêu rất lớn lao.

Trước hết, em nên hiểu rằng danh vọng, sắc đẹp và tài ba không thể bảo đảm được rằng đối tượng kia sẽ là nguồn cần thiết và ngọt ngào bất tuyệt của mình. Tìm ra được người thích hợp với em không phải là dễ dàng. Em phải biết nguyện vọng, sở thích, tính khí, kiến thức và lý tưởng của người đó, và xem những thứ đó có hợp với em không. Hợp không có nghĩa là giống mà chỉ có nghĩa là không xung khắc, là có thể bổ túc cho nhau. Những thứ đó sẽ là những mối dây liên lạc, hợp nhất, những chất liệu nuôi dưỡng tình yêu.

Chính những đeo đuổi, những sở thích và những lo âu chung của hai người sau này sẽ là chất keo sơn gắn bó hai người với nhau, và gắn hai người với những người đồng tâm đồng điệu khác. Chính những thứ đó xua đuổi dần những bóng tối cô đơn vây phủ bản ngã. Lý tưởng chính nó là một thần tượng, do đó người yêu khôn ngoan bao giờ cũng đồng hóa hoặc liên hệ mình với lý tưởng của người mình yêu vì thế sẽ cũng bất diệt như thần tượng. Em sẽ không bao giờ mất người yêu nếu em sốt sắng với lý tưởng của người yêu. Có một người bạn trẻ bảo tôi, giọng đầy phẫn uất: tại sao tình yêu không thể tự nó là nó được mà phải nhờ đến những cái khác, như là ý tưởng, như là Thượng Đế…mới có thể tồn tại? Người bạn trẻ đã ghét cay ghét đắng câu nói của Saint Exupéry “yêu nhau không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn vế một hướng”. Thực ra tôi không có nói gì giống Exupéry, tôi chỉ nói đến cách bảo vệ nuôi dưỡng tình yêu thôi, nhưng tôi cũng xin trả lời người bạn trẻ: “không có cái gì có thể tự nó là nó được; cái gì cũng là hợp thể của nhân và duyên, nghĩa là của điều kiện. Cái này có nhờ cái kia có, cái này không thì cái kia không. Bản thân ta đã có thể tự nó là nó chưa, huống hồ tình yêu là một cái gì phát sinh từ bản thân ta. Không có cái gì có tự thể ; cái gì cũng phải nương trên những cái khác mới có thể có; cái gì cũng chỉ tồn tại trong liên hệ nhân duyên. Tình yêu cũng thế: anh có bổn phận nuôi dưỡng nó, nếu anh không muốn nó chết“. Nếu Exupéry nói tình yêu nam nữ chỉ có thể tồn tại qua tình yêu đối với đấng Thượng Đế thì ông mục sư của André Gide trong cuốn La symphonie pastorale lại không nói ngược lại rằng “Lạy Chúa, đôi khi con có cảm tưởng rằng con cần tình yêu của nàng mới có thể yêu được Chúa” hay sao?

 

 

Nhất định là tình yêu phải nương vào những điều kiện khác mà hiện hữu. Ngày nào em không bồi đắp cho tình yêu thì ngày đó em làm cho tình yêu ngắn đi, yếu đi. Không phải leo lên chiếc xe đạp và đạp vài vòng thì chiếc xe có thể đi mãi như một chiếc xe gắn máy. Em phải tiếp tục đạp, dù là thong thả. Nếu em không đạp thì khi hết đà, chiếc xe sẽ ngã. Khi đó, tình yêu sẽ cạn như một dòng suối khô cạn và sự phụ bạc có thể là sẽ tới một cách tự nhiên, bởi vì em đã biết tình yêu là một nhu yếu.

Xã hội kết án nhưng xã hội không chịu xem xét những nguyên nhân nào đã đưa tới sự phụ bạc. Hậu quả là một cái gì phải đến sau nguyên nhân; hậu quả không đáng trách, chỉ có nguyên nhân là đáng trách. Tình yêu cũng như bất cứ một hiện tượng tâm lý nào khác, gồm có một chủ thể và một đối tượng. Luật yêu thương đòi hỏi chủ thể một khả năng yêu thương và ở đối tượng những điều kiện để đựợc yêu thương. Đối tượng không đáng yêu hoặc đáng yêu mà không tự bảo tồn được tính cách đáng yêu của mình, hoặc đáng yêu nhưng không chịu phát triển những tính cách đáng yêu của mình để đáp ứng với nhu cầu của chủ thể yêu thương thì đối tượng ấy sẽ tự mình rút lui ra khỏi giới hạn đối tượng và không thể đòi hỏi ở chủ thể một tính cách chung thủy. Lẽ giản dị là muốn được yêu thì phải đáng yêu. Tự hủy bỏ tính cách đáng yêu nơi mình đi tức là tự ý thôi không muốn được yêu thương nữa. Hơn thế, trong khi chủ thể thương yêu thăng hóa tiến bộ mà đối tượng không chịu cố gắng để cùng thăng hóa tiến bộ, nghĩa là để được đẹp thêm, sáng thêm thì chủ thể có thể bỏ xa đối tượng. Trong trường hợp này lỗi cũng tại đối tượng. Không thể đòi hỏi tính cách chung thủy của chủ thể.

Như vậy trách nhiệm hoàn toàn nằm ở đối tượng sao? Không hẳn đâu em. Chủ thể cũng chịu chung một phần trách nhiệm. Yêu thương mà không hiểu được đối tượng thương yêu, không giúp được đối tượng thương yêu tự bảo tồn được tính cách đáng yêu không làm phát sinh được nơi đối tượng một sức mạnh đi tới để thêm đẹp, thêm sáng, để kịp thời lên cao một lần với mình thì chủ thể cũng có lỗi. Bởi vì thương yêu là chịu hết trách nhiệm về người mình yêu thương. Cái lỗi của chủ thể là thương yêu không đúng, không sáng, không đủ chân thành, không đủ mầu nhiệm, không đủ sức mạnh để bảo tồn, nuôi dưỡng và hướng dẫn đối tượng. Và đó chính là chỗ đáng trách của chủ thể.

Nếu cả hai bên đều cố gắng bồi đắp tiến bộ theo luật đó thì thủy chung là một hoa trái đẹp tất nhiên phải có. Còn nếu một bên thiếu cố gắng – cũng có nghĩa là hai bên thiêu cố gắng – thì phụ bạc là điều có thể xảy ra. Cả hai bên đều đáng trách, tuy rằng một bên đáng trách nhiều hơn. Nếu em nắm được nguyên lý đó thì em không còn sợ hãi nữa. Không sợ hãi em, không sợ hãi ai. Không sợ hãi cuộc đời. Em có thể đánh bại được mọi đe dọa.

Tìm được một người mà em có thể yêu với một tình yêu như thế, em nên biết rằng em đang sung sướng. Em hãy ý thức em đang ở vào một tuổi rất đẹp. Em đang được sống trong lòng tổ quốc có trời mây, có hoa lá, có sương mù buổi sớm, có sao trăng đầu hôm. Và em đang yêu, và đang được yêu. Với từng ấy điều kiện mà đâu phải chỉ từng ấy điều kiện- thì dù em đang có bao nhiêu vấn đề đi nữa em cũng là một người sung sướng thực sự rồi mà. Em nên nhắc em và nói cho người yêu của em biết là em đang sung sướng và may mắn hơn rất nhiều kẻ khác. Để em thận trọng đừng vụng dại làm đổ vỡ những gì quý báu em có trong tầm tay em. Thường thường khi mất đi một hạnh phúc người ta mới biết là hạnh phúc đó quý giá. Như hai con mắt chúng ta đây, có phải là lắm khi ta  quên rằng chúng quý giá vô cùng hay không. Tôi có nói với em rằng chỉ có người mất thị giác rồi mới thấy sự quý giá của đôi mắt. Vậy em đang sung sướng. Những hờn giận, ghen tuông chắc chắn sẽ xảy ra, làm sao tránh được. Tôi không khuyên em tránh chúng một chút nào, bởi vì những hiện tượng ấy chứng minh rằng em đang yêu, và người yêu của em cũng đang yêu em tha thiết. Hãy đón nhận những hờn giận ghen tuông ấy mà phần nhiều đều là do quá yêu và do vô minh nữa gây nên. Phần lớn đều xuất phát từ những nguyên nhân nhỏ như hạt cát, hoặc những nguyên nhân nhỏ hơn hạt cát nữa, như sự hiểu lầm vô cớ, bóng gió. Vậy hãy bình tĩnh đừng để cho chúng trở thành lớn hơn hạt cát. Sau những cái giận nho nhỏ ấy, các em lại càng thương yêu nhau hơn, càng quý chuộng nhau hơn không sao. Nhưng mà đừng vụng về đừng nên làm lớn chuyện những gì nhỏ như hạt cát. Cái khôn ngoan cần thiết nhất là ý thức về sự quý giá của hạnh phúc, của sự may mắn. Có sự khôn ngoan ấy rồi, em trở nên một người yêu chín chắn và tình yêu sẽ bền vững.

Và nếu em đã sung sướng thì em hãy nghĩ đến chúng tôi và nghĩ đến người khác. Tình yêu của em sẽ nhờ đó mà bền vững hơn lên và chúng tôi cũng sẽ nhờ đó mà sung sướng hơn lên.

 

 

 

Tu là một nghệ thuật và người tu là nghệ sĩ

(Trích trong pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 12 tháng 12 năm 1996 tại Xóm Mới- Làng Mai Pháp quốc)

 

 

Chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau truyền lại từ ông bà, cha mẹ. Nó có thể không phải là những nỗi khổ niềm đau mà chúng ta đã gom góp ở trong kiếp này. Trong mỗi chúng ta có thể có một ngọn núi lửa đang ngủ. Đó là những bực nhọc, những đau buồn, những giận hờn, những oán trách từ ngày xưa. Cho nên chúng ta phải ý thức về ngọn núi lửa ấy, và khi núi lửa cựa quậy thì ta bắt đầu phun lửa. Ta biến thành một hỏa diệm sơn, và ta sẽ đốt cháy hết tất cả. Khi núi lửa sắp phun, nó có những triệu chứng. Người hiểu về núi lửa thì khi nghe thấy những triệu chứng đó, họ tìm cách trốn chạy.

Khi có chánh niệm và biết là núi lửa sắp phun, chúng ta phải lo chạy để được an toàn. Nó phun ra bằng những lời nói không chánh ngữ, khiến cho người nghe khổ đau, và làm tan nát đổ vỡ cho những người chung quanh. Cho nên chúng ta phải học nhận diện ngọn núi lửa trong ta và trong những người khác. Nhận diện để mà hiểu mà thương. Tại vì không phải chỉ người kia mới có núi lửa mà chính ta cũng có núi lửa ở trong mình. Khi núi lửa trong ta phun lên thì tất cả đều tan nát, do đó chúng ta phải có cách để có thể đối phó với ngọn núi lửa ấy. Ta có những bực dọc, uất ức, đè nén, và ta có cảm tưởng rằng nếu nói ra không được thì ta sẽ chết. Tại sao vậy? Tại vì chúng ta không biết quản lý nó, không biết quản lý cái năng lượng núi lửa của chúng ta.

Đạo Bụt có phương pháp gọi là tịnh khẩu. Tịnh khẩu tức là không nói, làm cho miệng núi lửa đừng phun. Dù có lửa trong lòng nhưng ta không để cho nó phun ra, mà tìm cách cho lửa trở về nguyên quán. Giữ an ninh cho ta và mọi người.

Tịnh khẩu là một thực tập thương yêu: “Tôi biết nếu tôi mà nói là tôi sẽ nói những điều làm cho anh đau, làm cho chị đau, vì vậy tôi thực tập tịnh khẩu, để tôi không nói”. Nhưng tịnh khẩu không có nghĩa là đè nén xuống. Nếu đè nén thì tịnh khẩu trở thành một thực tập rất nguy hiểm. Tại vì nén xuống, đến khi nó phun lên, thì nó phun mạnh gấp mười lần, và nguy hiểm gấp mười lần! Vì vậy trong khi tịnh khẩu thì ta thực tập quán chiếu, tức là nhìn sâu. Nhìn sâu thì mới làm cho lửa tàn đi, làm cho sức nóng dịu xuống.

“Ngày hôm qua gặp ông kia, ông ta nói với mình một câu làm cho mình điên tiết! Mình có cảm tưởng nếu không nói lại được thì chắc mình chết quá! Giận ghê, ông ta nói xong thì ông ta bỏ đi, không cho mình cơ hội để trả đũa! Nếu trả đũa lại được, thì mình bớt khổ biết bao! Thành ra về nhà, mình đau khổ cả buổi chiều! Vậy mà không biết tại sao, sau một giấc ngủ ngon, sáng mai thức dậy, mình nghĩ lại thì thấy buồn cười quá. Tại sao mình lại muốn nói lại cho bằng được? Mình thấy rõ ràng không nói thì mình đâu có chết? Bây giờ nhớ lại thì thấy rất buồn cười! Cả mình và ông ta đều buồn cười. Ông ta nói câu ra đó rất là tội nghiệp, mà mình nổi nóng lên, và mình muốn trả đũa để ông ta đau, thì cũng tội nghiệp cho mình. Chỉ có một đêm ngủ ngon thôi là đủ cho mình thấy được sự thật. Còn trong lúc ấy thì mình là người mê mờ”.

Trong cơn mê, trong cơn cuồng si mình làm những điều tạo ra đổ vỡ, và khổ đau. Cho nên mình phải tìm ra phương pháp để những lúc mình sa vào giây phút cuồng si, thì mình sẽ được thiên thần bảo hộ. Thiên thần đó mình phải nuôi dưỡng, phải mang theo. Còn đến lúc đó mới cầu cứu thiên thần thì thiên thần không rảnh để đến với mình đâu. Trong đời sống hàng ngày ta phải biết đi, biết thở, biết cười, biết bảo hộ thân tâm, thì những lúc cần đến, thiên thần mới có mặt cho mình.

Dưới đây là một phương pháp tịnh khẩu mà tôi đã chỉ cho nhiều người. Phương pháp này cũng dễ thực tập. Mỗi khi thấy ngứa mắt, ngứa tai, muốn phát ngôn, thấy bực quá mà không nói thì không được, lúc ấy mình chỉ tập thở và đừng nói. Rồi vào phòng, lật cuốn vở ra, ghi lại câu mình muốn nói. Thay vì nói ra bằng miệng, thì mình chỉ tập thở và viết nguyên câu đó vào cuốn vở. Ví dụ: “Mày là đồ ngu! Mày là một người rất ác độc! Mày là người có ác ý, muốn làm đổ vỡ tất cả! Mày là một người vô ơn v.v…”

Mình viết lại và ghi luôn ngày giờ cho rõ ràng. Ghi lại cả câu người kia nói và câu mình muốn trả lời. Ghi được như vậy cũng đỡ khổ rồi. Ba ngày sau đem ra xem lại và tự hỏi: Nếu lúc đó mình nói câu này thì sẽ ra sao, sẽ có những đổ vỡ nào?

Sự thực tập này đâu có khó? Mình có thể thực tập tịnh khẩu trong hai tuần. Trong hai tuần đó mình làm như vậy, làm mà không đè nén. Chỉ không nói thẳng thôi, và viết hết tất cả những câu mình nghe xốn tai, và cả những câu mình muốn trả lời. Mình sẽ thấy rằng những đau khổ của cuộc đời mình, và những đau khổ của người khác, có thể là do mình tạo ra, do mình không biết nói, không biết thực tập chánh ngữ của mình tạo ra.

Nếu ta biết thực tập chánh ngữ, biết nghệ thuật nói thì chúng ta tạo hạnh phúc cho rất nhiều người. Người Việt thường nói: “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Lời  nói có thể làm cho người kia hoan hỷ, phấn chấn, thêm tự tin và hy vọng. Lời nói có thể giải tỏa những hiểu lầm, những giận hờn, những hiềm hận, và nhỏ nhen trong người kia. Tại sao chúng ta giàu có như vậy mà chúng ta lại không biết sử dụng gia tài của mình? Gia tài đó là khả năng chánh ngữ.

 

 

Chánh hay tà?

Muốn lời nói có chánh ngữ, mà muốn có chánh kiến thì chúng ta phải biết quán chiếu. Ngoài ra, chúng ta phải thực tập pháp môn gọi là Bẻ gãy thế tam giác. Đây là một phương pháp thực tập của Làng Mai.

Chúng ta thường ưa liệt người đó vào một phe, phe tà hay phe chánh. Đây là một điều rất nguy hiểm!

Nếu quý vị đọc “Tiểu ngạo giang hồ” thì biết triết lý của bộ tiểu thuyết trường thiên đó: Trong người gọi là phe chánh, luôn luôn có chất tà, và trong người phe tà luôn luôn có chất chánh. Tiếu Ngạo Giang Hồ là chuyện tình giữa hai người bạn. Họ đến với nhau vì âm nhạc. Khi hai người tới với nhau để chơi nhạc, một người thổi sáo, một người đánh đàn. Hạnh phúc của họ lớn như  không có hạnh phúc nào bằng. Bài nhạc đó tên là Tiếu Ngạo Giang Hồ. Họ là hai người bạn, nhưng oái ăm là một người thuộc chánh phái, còn người kia thuộc về tà phái. Theo nguyên tắc thì chánh không được chơi với tà, vì vậy cho nên khi hai người muốn hòa nhạc với nhau, họ phải rủ nhau đi đến nơi tận cùng hiểm trở, nơi mà không ai bén mảng tới. Họ phải nhìn quanh để chắc chắn là không có ai nhìn thấy, thì hai người mới hòa nhạc với nhau.

Cái chánh và cái tà nó không phải là thực chất của mình, tại vì trong chánh nó có tà, trong tà nó có chánh. Cái đó gọi là tương tức. Chúng ta phải tập để đừng suy tư theo chiều hướng của thiện- ác, đúng-sai và chánh-tà. Chúng ta nên làm ngược lại. Chúng ta tập suy tư trên cơ bản khéo hay không khéo. Có nghệ thuật nhiều hay có nghệ thuật ít. Tại vì thật tình ta không muốn cho người kia đau khổ. Ai trong chúng ta mà lại muốn làm cho anh, hay chị, hay em của mình đau khổ? Không có ai cả! Nhưng vì chúng ta vụng về mà thôi. Vụng khi nói, khi cười, khi hành xử nên ta làm cho người kia đau khổ.

Vì vậy nên tu là một vấn đề nghệ thuật hơn là một vấn đề chánh tà. Và chánh niệm là chất liệu của nghệ thuật. Vì khi có chánh niệm thì mình sẽ khéo hơn, mình sẽ có ý tứ hơn. Một bà mẹ dạy con gái, bà thường dặn: “Con ơi, con đi, đứng, nằm ngồi cho có ý tứ. Mà có ý tứ thì con đẹp thêm nhiều lắm”. Ý tứ đây là chánh niệm. Khi có ý tứ thì mình không để cho món trứng chiên của mình cháy. Khi có ý tứ thì bát canh của mình sẽ không mặn quá. Tại vì ý tứ cho mình biết mình đang làm cái gì, và mình có làm đúng hay không. Khi mình nói năng có ý tứ thì mình không gây những lầm lỡ, những vụng dại, gây đau khổ cho người, và cho mình.

Không ai trong chúng ta lại dám công nhận mình là một nghệ sĩ bậc nhất! Chúng ta đều đang học hỏi, chính tôi cũng vậy. Nếu học hỏi thì càng ngày chúng ta càng có chánh niệm hơn, và khéo léo hơn. Tu là một nghệ thuật, và người tu là một nghệ sĩ.

“Xin lỗi em, chị không có ý làm khổ em đâu, chỉ vì chị vụng về thôi. Chị xin lỗi em!” Đó là câu mà chúng ta phải học thuộc và có thể nói bất cứ lúc nào. Khi thấy người kia khổ là ta có thể nói ra được. Tôi đã từng xin lỗi học trò. Tôi nói: “Thầy xin lỗi con!

Chúng ta thực tập để đừng tạo ra thế tam giác ở trong gia đình, trong đoàn thể, và trong xã hội. Vì nếu có một thế tam giác rồi, nó sẽ tạo thế tam giác thứ hai, thứ ba, và mọi người sẽ đi vào một mê lộ. Hạnh phúc của chúng ta là do chính ta, chúng ta phải khéo léo. Ta phải ngồi lại với nhau để tìm ra phương pháp giúp chúng ta sống có hạnh phúcChúng ta đã có những phương pháp để thực tập hạnh phúc, trong đó phương pháp nghe và phương pháp nói là hai phương pháp mà chúng ta có thể thực tập mỗi ngày.

Cách nói còn quan trọng hơn là điều mình nói. Tại vì khi không hiểu được người nghe, khi không có chánh kiến và chánh tư duy, thì điều mình nói sẽ như nước đổ lá khoai, không ích lợi gì, không mang lại sự chuyển hóa cho người nghe. Ngày xưa trong những buổi pháp thoại của đức Thế Tôn, thỉnh thoảng có những người giác ngộ ngay trong khi nghe giảng. Vì trong buổi nghe giảng đó, những hạt giống lành của họ được Đức Thế Tôn tưới tẩm và chúng nở hoa ngay lập tức. Tại sao đức Thế Tôn làm được như vậy? Tại vì ngài nhìn thấu trái tim của người nghe. Ngài biết rằng người đó cần cơn mưa ấy, hay người đó cần phải có cái búa kia. Có nhiều khi ngài đã không ngại dùng những cái búa rất lớn để đập xuống. Cái đó gọi là chánh ngữ.

Chánh ngữ còn có một tác dụng khác nữa là gỡ bom. Trong mỗi chúng ta đều có một trái bom nho nhỏ và nó có thể nổ bất cứ lúc nào. Dù mình đã xuất gia, trái bom đó cũng vẫn còn. Nếu không cẩn thận, nó nổ một cái là mình tan xác.

Có một phương pháp để gỡ bom. Nhiều người vì đau khổ quá cho nên đã trở thành những trái bom. Nhìn vào, mình thấy người đó giống hệt như trái bom, rất nguy hiểm. Đụng tới người đó thì bom sẽ nổ và mình sẽ tan xác. Cho nên mình sợ, mình tránh xa, làm người đó tưởng là mình tẩy chay. Nhưng kỳ thực mình đâu có tẩy chay, mình thương nhưng chỉ tại mình sợ quá mà thôi!

Chánh ngữ là một phương pháp mầu nhiệm mà chúng ta có thể sử dụng để gỡ  bom ở trong người kia. Gỡ giùm bom ra để chúng ta được an toàn, và để người đó cũng được an toàn, vậy sẽ hạnh phúc hơn. Tháo bom là một pháp môn mà mọi người cần phải học để giúp cho mình và cho mọi người an toàn và hạnh phúc.