Học cười

Sư cô Chân Trăng Thanh Khê

Sư cô Trăng Thanh Khê xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế.

Con có một niềm vui!
Con đã làm xong bìa của quyển sổ có tên là Nhật ký hạnh phúc. Bìa chỉ có một chữ Smile (Mỉm cười), không có chữ gì mang ý nghĩa là hạnh phúc cả. Xung quanh con trang trí bằng một “nùi” những chấm tròn đủ màu sắc giống hình cầu vồng vậy. Smile là một trong những câu thư pháp của Sư Ông mà con thích nhất. Đặt bút xuống trang trí bìa quyển sổ, con liền nghĩ ngay tới chữ Smile.

 

 

Con cũng có một bức thư pháp với chữ Smile trong vòng tròn. Tết năm 2017, khi con xin một thầy viết cho con bức thư pháp, thầy hỏi con thích chữ gì, con trả lời là chữ gì cũng được, và con nhận được bức thư pháp này. Hồi đó con thích chữ gì mà nghe có vẻ “đao to búa lớn” một chút, chứ chữ “Mỉm cười” thì ai cũng mỉm cười mà. Con cũng chưa nhìn lại bản thân mình để tìm hiểu xem vì sao thầy lại tặng chữ Smile cho con thay vì một chữ nào khác. Con chưng câu thư pháp trên bàn học từ tháng này qua năm nọ.

Vào một ngày, con đến chùa xin làm tập sự xuất gia. Con bắt đầu tập sống chung trong một cộng đồng lớn. Suốt quãng thời gian đó, câu mà con được nghe quý sư cô nhắc mỗi ngày là “cười lên em!”. Có khi con được nhắc một ngày đến mấy lần. Sáng, trưa, chiều mọi người cứ thấy con trầm trầm, cúi đầu mà đi, nhìn có vẻ buồn buồn là… “cười đi em!”. Con không biết là khuôn mặt con nhìn buồn nên nghĩ thầm “mình bình thường mà”. Chuyện không bình thường nhất với con là việc tập mỉm cười mỗi ngày. Lúc đó, sự thực tập quan trọng nhất của con là “cười”. Phải cười cả ngày ư? Làm sao mình có thể vui vẻ để cười cả ngày cho được? Thôi thì không sao, mình cứ nhe răng ra cười cái đã, còn chuyện vui vẻ gì gì đó tính sau vậy. Nghĩ rồi con bắt đầu thực tập cười.

Chưa hết, ngay ngày đầu tiên con chuyển vào phòng mới với quý sư cô, con lượm được một cái quạt tay trên đó ghi chữ Smile. Nhìn cái quạt, con cảm thấy sao mà Smile nó đeo đuổi con quá chừng vậy nè! Con kể với sư chị về sự nghiệp thực tập smile của con. Sư chị nói có lần bạn của sư chị tới chùa chơi, khi qua cổng gặp một vị cư sĩ chào người bạn đó với một nụ cười, bạn sư chị rất vui và thấy trong lòng rất ấm áp. Đến chùa, ai cũng có thể mỉm cười vui vẻ, gần gũi với nhau dù không phải người quen, ở ngoài hiếm khi được như vậy. Đó là ấn tượng của bạn sư chị khi đến chùa. Con nghe mà thấy ốt dột quá. Mình ở chùa nè, sao mình thực tập dở quá vậy.

Trời đang mưa. Con đang ngồi bên bàn học của mình, uống một ly trà gừng và… mỉm cười. Bây giờ con đã có thể mỉm cười được với chính mình. Khi hạnh phúc, mình mỉm cười và khi mỉm cười, mình có hạnh phúc. Con không tin là con đã có thể thay đổi được như vậy. Con đã từng là một cô bé không biết cười, chỉ biết sống một mình, nhìn mọi người, mọi vật xung quanh bằng sự xa cách như không dính líu gì đến mình. Con không biết hòa vào năng lượng chung, niềm vui chung của mọi người. Con phớt lờ đi vẻ đẹp của bông hoa tim tím đang dành cho con. Vườn cây xanh mát, tiếng mưa tí tách… con cũng bỏ quên.

Sự chuyển hóa của con không phải chỉ tự riêng con làm ra. Nó còn đến từ những gì con nhận được từ xung quanh: tình thương, sự kiên nhẫn… đã cho con được như bây giờ, cho con biết mỉm cười, biết hạnh phúc với cuộc sống mà con đang sống. Tình thương của quý sư cô quá lớn và con không thể nào không hạnh phúc cho được. Mỗi lần sờ lên cái đầu trọc của mình, con không hề bớt hạnh phúc một chút nào!

 

Lại mưa về nguồn

Sư chú Chân Trời Đức Định

                                                                                      Nước đi ra biển lại mưa về nguồn

                                                                                                      (Thề non nước – Tản Đà)

Sư chú Trời Đức Định là người Pháp, xuất gia năm 2016, tại Làng Mai, Pháp, trong gia đình cây Mai Vàng. Hiện sư chú đang sống và thực tập tại trung tâm Suối Tuệ, Paris. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh.

Dưới đây là bức thư con gửi đến các huynh đệ trong gia đình xuất gia cây Mai Vàng sau thời gian con về nhà chăm sóc cho cha. Từ lúc gia đình con biết cha bị ung thư cho đến khi cha qua đời chỉ có hai tháng rưỡi. Trong suốt thời gian ấy, con đã có mặt với gia đình. Ngày nào con và chị gái cũng dành thời gian kề cận, chăm sóc cho cha. Khi con trở lại tăng thân để tham gia khóa tu xuất sĩ tại Đức, các huynh đệ trong gia đình xuất gia đã rất ân cần và hết lòng yểm trợ con.

Bức thư này ghi lại một vài trải nghiệm rất riêng tư của con. Con mong rằng nó có thể phản ánh tinh thần tôn trọng sâu sắc sự sống, nhất là khi con vẫn còn đang đi qua quá trình trị liệu, hòa giải, học hỏi và chế tác bình an trên tất cả mọi phương diện.

Gia đình cây Mai Vàng thương quý,

Cho phép con được cảm ơn các sư anh, sư chị, sư em đã thương yêu và ôm ấp con, nhất là trong khóa tu xuất sĩ vừa qua. Con đã được nâng đỡ rất nhiều. Lúc thì một huynh đệ lắng nghe con, lúc khác thì cả gia đình có mặt, lắng nghe nhau, rất dễ thương. Có khi các sư chú đến phòng con, ngồi chờ con về cùng uống trà. Các sư cô cũng có mặt cho con hết lòng. Con cảm được sự quan tâm thầm lặng của huynh đệ, thấy mình thật sự được hiểu và yểm trợ. Nghĩ về những giây phút ấy, con rất cảm động. Con thấy mình thật may mắn và giàu có.

Từ khi con rời Làng lên trung tâm Suối Tuệ, mỗi lần huynh đệ có dịp gặp nhau, con cảm nhận sự hiểu biết và kết nối trở nên sâu sắc, tự nhiên hơn. Lần gặp nào cũng có phẩm chất. Con rất vui khi thấy sự trưởng thành của từng sư anh, sư chị, sư em trong gia đình; thấy chất liệu của tự do và vững chãi có mặt trong mỗi người.

Con sẽ tiếp tục học hỏi để chấp nhận chính mình và mở lòng hơn để có thể thật sự có mặt cho gia đình, có cơ hội kết nối tốt hơn với mọi người và có thể yểm trợ các huynh đệ khi cần thiết.

Con muốn chia sẻ một chút những trải nghiệm của con khi được chăm sóc cha. Với con, điều này giống như một bó hoa nhỏ gồm những bông hoa và những cành lá đủ kiểu, đủ màu mà con đã góp nhặt trên chặng đường đồng hành với cha khi cha ra đi.

Thiên nhiên quả là một phước lành. Thực tập với thiên nhiên đã giúp con rất nhiều. Những khi khổ đau đi lên, con ra ngoài đi dạo, nhìn ngắm cây cối, sông nước và những bờ cát. Rồi đột nhiên con có thể chạm được đến sự bình an và thấy khỏe hẳn ra. Có lần con nhìn thấy một thân cây có vẻ là thân cây chết. Nó lớn nhưng chỉ có một vài chồi xanh dưới gốc, cứ như một cố gắng sau cùng để níu lấy sự sống. Nó như nói với con rằng dù sự sống mang hình tướng cái cây đang đi đến hồi kết thúc thì sự sống mang những hình tướng khác đã bắt đầu rồi. Trong thân cây chết chứa đầy những hình thức khác của sự sống. Sự tiếc nuối khi thấy gốc cây chết chỉ là một ý niệm mà thôi. Tâm ý thông thoáng một chút là con đã có thể thấy được bao nhiêu nhiệm mầu ở xung quanh. Ngay cả chính nỗi buồn về cái cây cũng là một phần của sự mầu nhiệm. Bởi nó không chỉ được ôm ấp bởi tình thương của con, của cái cây mà còn của một cái gì đó lớn lao hơn.

 

 

Một ngày nọ con cùng với sư chú Đức Trí-đệ nhị thân đến để yểm trợ cho con – dắt con chó của cha đi dạo trên một bãi biển tuyệt đẹp. Một làn “gió trời” thổi tung lớp cát mỏng xung quanh lên cao khoảng 10cm. Thật là một cảnh tượng tuyệt vời! Một cảm giác mầu nhiệm, đầy ấn tượng đi lên trong con. Ngọn gió ấy đã chữa lành một cái gì đó sâu xa hơn những gì ý thức con có thể nắm bắt được.

Con quan sát gió thổi tung và đẩy cát đi dọc theo bãi biển, tạo thành những đụn cát mới. Có lúc nó đi qua những vùng cát ướt, nhìn giống như những thung lũng hoang vu hay sa mạc khô cằn nằm giữa những vách đá nhọn do gió khắc chạm. Trong khi quan sát, con thấy những khó khăn và khổ đau mà cha con và con đã đi qua. Con thấy cát phải rời khỏi nơi trú ngụ, bỏ lại sau lưng hình dạng cũ, đi qua những khó khăn để tạo nên những đụn cát mới, tròn, láng. Những mầu nhiệm mới – sự sống mới đã ra đời. Lòng con dâng lên một nỗi dịu dàng sâu lắng, giúp con nhìn vào hoàn cảnh gia đình và sự sống bằng con mắt không phân biệt. Trong khoảnh khắc ấy, bên trong và bên ngoài con giao hòa, dung thông. Niềm tin tưởng, sự cảm nhận ý nghĩa đời sống và tình thương cũng đồng thời có mặt .

Quá trình chữa lành tổn thương từ tận gốc rễ này đã diễn ra không theo sự điều khiển của ý chí, nhưng với sự hậu thuẫn rất lớn của thiên nhiên. Con đã có thể tiếp xúc và thấy rõ ràng hơn mặt mũi của những nỗi khổ niềm đau sâu kín trong con. Con biết điều này rất lợi lạc cho con và con cũng ước mong nó sẽ giúp con tập trung vào những gì thực sự quan trọng, giúp con chạm vào được sự quyết tâm, lòng can đảm và nuôi lớn năng lượng chánh niệm và hạnh phúc trong con.

Trong quá trình cha con từ giã sự sống, con đã có một vài cái thấy mà con muốn chia sẻ với huynh đệ, mong rằng mọi người có chút lợi lạc từ trải nghiệm của con. Khi thấy cha phải chịu khổ đau cả về thân lẫn tâm, con không chấp nhận được. Thật khó quá! Nó có vẻ bất bình thường và không thể chấp nhận được. Sau này nhìn lại, con thấy đó chỉ là một phần của sự sống mà ta phải trải qua, nó không phải là cái gì mà ta không thể chấp nhận. Hình hài của tất cả chúng ta, kể cả của con, đều có cùng bản chất, đều phải đi qua bệnh tật, tất cả các bộ phận trong cơ thể đều phải đi qua sự tàn hoại. Tâm của con cũng là đối tượng của những sự thay đổi. Hạnh phúc và khổ đau cũng vậy. Đó không phải là việc bất bình thường. Một khía cạnh quan trọng là ý niệm của ta làm trầm trọng thêm sự đau khổ, trong khi thực tế những khổ đau và khó khăn chính là nguồn gốc của tình yêu và lòng từ bi một khi chúng ta có thể nhìn rõ được mặt mũi của chúng

Chấp nhận thực tại đã khơi nguồn cho tình thương và từ bi hiển lộ, giúp con thay đổi cách mình đối diện với hoàn cảnh. Nếu trong những khoảnh khắc ấy con không bị lạc trong các ý tưởng đúng sai, có lẽ con đã có thể ôm ấp nỗi khổ của cha con như là người mẹ ôm ấp đứa con sơ sinh của mình. Cũng giống như khi con không đủ hiểu nhu cầu của cha khi người không còn khả năng diễn đạt nữa, thay vì dằn vặt bản thân ,lẽ ra con nên ôm ấp và gửi lòng từ bi đến cho chính mình. Dù đã không có khả năng làm như vậy ngay thời điểm đó, con vẫn còn cơ hội để làm ngay bây giờ. Con có thể chữa lành vết thương quá khứ qua hiện tại. Hiện giờ, con đã sẵn sàng hơn để học cách làm bạn với những đau đớn trong thân, có lẽ do con nghĩ mình cần chuẩn bị đối diện với những khó khăn lớn hơn. Con học nhìn những cơn đau nhỏ như là cơ hội để huấn luyện tâm mình, giữ bình an để không bắn vào mình mũi tên thứ hai. Nhờ đi qua quá trình đó với cha mà con biết mình có khả năng đi qua nó. Kinh nghiệm này mang lại cho con một sức mạnh nội tâm mới để có thể đối diện với nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Đôi khi trong lòng con không an ổn chút nào khi nghĩ rằng cha chưa làm xong một vài điều trước khi ra đi. Thí dụ như hòa giải với người này, người kia, hay làm lành lại mối quan hệ giữa hai cha con ở một khía cạnh nào đó… Sâu kín trong lòng, con có cảm giác “dở dang”. Con nghĩ là vòng đời của cha chưa hoàn tất. Ý nghĩ này làm cho con đau khổ. Nhưng có những lúc con thấy không có cái gì được gọi là một cuộc đời hoàn tất, một vòng tròn khép kín như tâm con đã vẽ ra. Cây cỏ, thú vật và con người là những minh chứng cho điều đó. Có những cái phát triển thật to lớn, đến một mức độ trưởng thành tương đối, rồi chết đi sau một vòng đời. Con có khuynh hướng tiếp nhận tri giác này như là một tiêu chuẩn. Nhưng trên thực tế, trong cuộc sống, có những chúng sanh hoại diệt rất sớm, có loại khá nhỏ bé hoặc có hình dáng lạ lùng, một số bị tàn tật, thiên hình vạn trạng. Trong bất kỳ trường hợp nào, bao giờ cũng có những cái không hoàn hảo, không hoàn tất, cũng có cái “không bình thường”. Thậm chí trong những trường hợp được coi là bình thường, hoàn chỉnh, con nghĩ là bao giờ cũng có cái chưa được làm, chưa được nói. Bao giờ cũng có những trường hợp người ta đinh ninh rằng nếu như họ có thể sống thêm vài ngày, vài tháng thì họ đã có thể làm lành, chữa lành thương tích trước khi ra đi. Trên thực tế, cuộc sống vẫn tiếp diễn và có sự tiếp nối. Vậy thì tại sao con lại muốn hoàn tất cái này hay cái khác? Bởi vì mọi cái phải dựa vào nhau để biểu hiện và tồn tại, và vì mọi cái trở thành cái khác khi chúng tàn hoại. Tại sao con lại muốn cuộc đời của cha, của con, hay bất cứ cái gì khác phải hoàn hảo?

 

Đôi khi con cũng nhận ra những cái mà con cho là cha chưa hoàn thành đang nằm trong tay con ở hiện tại. Con có cơ hội để tiếp tục những gì mà cha đã nỗ lực hoàn thiện, bằng chính con người và tâm tư của con. Ngay từ nơi con đang đứng, con có thể tiếp tục làm cho cha. Con hiểu rằng, tại thời điểm này, ngoài tình thương yêu và sự hiểu biết, tất cả những gì hời hợt mà chúng ta đang đầu tư vào: những đề án, ước muốn được công nhận, những vẻ bề ngoài của phẩm cách, tất cả những giá trị và ý tưởng về cuộc sống mà ta bám víu vào,…Tất cả những cái đó chúng ta cần phải buông bỏ hết.

Cha con đã thương yêu, chăm sóc người khác bằng những cách rất cụ thể. Và cha cũng nhận lại những tình cảm đó qua sự có mặt và chăm sóc từ hai chị em con cũng như từ bạn bè, đồng nghiệp khi họ bày tỏ sự cảm kích đối với cha. Cha con là người khó bày tỏ suy nghĩ của mình, ít khi công nhận những cái đẹp của bản thân và của con cái. Khó khăn này đã đi lên trong những giây phút cha ra đi. May mắn thay hai chị em con đã sẵn sàng chào đón nó, đã bày tỏ tình thương yêu với cha cũng như nói cho cha nghe những điều tốt đẹp.

Nhờ ơn Tam Bảo mà con đã thấy rằng sự tiếp nối của tất cả mọi thứ đang xảy ra ngay bây giờ. Con là sự tiếp nối của tất cả các phẩm chất tốt đẹp và cả những khó khăn mà con đang học hỏi để chuyển hóa. Con làm việc này, ngay trong giây phút hiện tại, với tư cách của một người đại diện, một đại sứ của dòng chảy tâm linh và huyết thống không gián đoạn. Con làm cho chính con, cho cha, và cho tất cả. Như vậy đó, thưa cha. Cha con mình hãy để cho điều đó diễn ra nhé! Con dừng lại, thở một chút cho tâm lắng dịu, cho những ý niệm được giải phóng, cho bức tường ngăn cách giữa mọi thứ trở nên trong suốt, thông thoáng. Lúc ấy sự truyền thông đích thực có thể xảy ra.

Con thường đi dạo dọc theo dòng suối bắt nguồn từ một ngọn núi nhỏ. Dòng nước mát trong này đã luôn chảy ngang qua khung cảnh tuổi thơ con. Đây là vùng đất nơi con lớn lên. Con thích đi dạo ở đó và có thể buông xuống nhiều cảm xúc tiêu cực. Con có cảm giác mình được gột sạch và chữa trị. Trong những lần con đến đó, bài thơ nhỏ này đi lên trong con. Đó không hẳn là một bài thơ mà là một trải nghiệm. Con cảm được nước, ý thức được dòng chảy của nó, của sự đồng nhất trong dòng nước đang chảy tới, như một cuộn băng vô tận liên tục mở ra.

Cá từng đàn bơi lội

Không một bóng trên sông

Ta thưởng thức trọn lòng

Con biết có những chú cá dưới sông dù con chưa nhìn thấy chúng. Nhưng con có thể thấy cách chúng cùng bơi với nhau, ngược dòng, trong một điệu múa tự do nhưng có thứ tự, như những cá nhân, nhưng đồng thời cũng như một gia đình. Con biết đó là những con cá, nhưng chúng cũng là dòng sông, liên tục tương tác với môi trường xung quanh. Ý niệm của con về sự tách biệt giữa con cá này với những con cá khác và với chính dòng sông đã được hóa giải bởi ý thức về sự tương duyên miên mật này.

Trải nghiệm của con về những con cá và dòng sông thật rõ ràng, sống động. Một niềm hạnh phúc lớn lao dâng lên trong lòng con. Sau đó từng chữ của bài thơ nhỏ này đã đi lên trong con. Khi câu thơ thứ ba ngân lên, con tiếp xúc được với sự có mặt của mình trong tăng thân. Tương tự như một đàn cá, chúng ta hạnh phúc được là chính mình, đồng thời chúng ta cũng là một cơ thể đồng nhất, là một dòng sông không ngừng trôi chảy.

Xin cảm ơn các sư anh ,sư chị ,sư em đã lắng nghe con.

Con rất hạnh phúc có tăng thân và có tất cả các đệ huynh.

 

Mưa bên núi xanh

Sư cô Chân Duyệt Nghiêm

Bây giờ là một buổi chiều “vô sự” của ngày lễ Tạ ơn ở đây. Một buổi chiều có thể “ngồi hát ca rất tự do” hay một mình yên lặng như thế cả buổi chiều nếu muốn, vì không có gì cần nói và cần làm cả. Đôi khi tôi yêu cái sang trọng của sự xa xỉ về thời gian. Có người nói: “Trong sự sang trọng có sự tĩnh lặng!”. Có lẽ điều này khá đúng đối với thời gian. Khi đó, mình không cần tất tả chạy đi làm cái này cái nọ, tính toán bàn chuyện cho cái kia hay là tiếp chuyện ai. Mình có thể “ngồi không”, “ngồi chơi”, để thở, để cảm nhận và để đôi khi chợt nhận ra có những thứ mình đã để quá lâu ở trong lòng…

Trước mặt tôi lại là một khung cửa sổ rộng nhìn ra cánh rừng cuối thu, đất trời vẽ thành một bức tranh trầm mặc. Bên ngoài bây giờ là nắng vàng thật đầy, cái nắng chiều cuối thu này thường vàng lên rực rỡ rồi cũng vụt tắt thật nhanh vì ngày trở nên càng lúc càng ngắn, bầu trời cao xanh bên trên những hàng cây xám bạc, và dưới đất, xung quanh, lá vàng khô ngập đầy không gian.

Cuối cùng tôi đã trở lại Bích Nham. Thời gian trôi thật nhanh, mới đó mà đã gần bốn năm kể từ lần đến trước. Giữa hai đầu thời gian đó, trí nhớ tôi đã nhiều lần quay về, thấy mình đi vào rừng, đi dọc theo con suối, ngồi trên băng ghế để nghe ngắm dòng suối, đi từ nhà ăn lên ni xá, đi đến thiền đường, thấy mình đứng yên để ngắm đàn nai đang dạo chơi hoặc chạy theo dậm chân vờ hù dọa những chú sóc béo mập… trong những ngày cỏ xanh hay những ngày tuyết phủ. Tôi đã không chắc là mình có thể quay lại nơi đây trong thời buổi dịch bệnh rối ren này, nhưng có lẽ vì đã nhiều lần nghĩ đến nên cuối cùng tôi cũng đã quay trở lại.

Sáng nay sau buổi ngồi thiền, khi đi từ thiền đường về lại nhà ăn, tôi lại nghe tiếng suối đổ ầm ào trong rừng và từ chỗ tôi đứng nhìn qua, cánh rừng đang mờ ảo dưới làn mưa bụi. Có lẽ con suối nhỏ ẩn nấp trong rừng không len lỏi, róc rách nữa mà đang lớn mạnh và ào ạt tuôn tràn. Tôi đứng lại một hồi lâu, nhìn về phía cánh rừng, lắng nghe tiếng suối rừng trầm hùng ấy và có cảm giác, lại thêm một lần, giấc mơ và hiện thực gặp được nhau. Thật đẹp!

 

 

Tái sinh trần tạ ơn Người từ bi…

Pháp thoại sáng nay nói về niềm biết ơn, chánh niệm và hạnh phúc. Nên tôi cũng ngồi yên và để cho những niềm biết ơn dâng lên trong lòng mình.

Trong những nỗi nhớ về Thầy, tôi cứ nhớ ngày Thầy đọc xong bài viết của tôi về chuyện tôi đã khó khăn với gia đình như thế nào khi rời nhà đi tu. Sáng đó, ngày quán niệm ở xóm Hạ, Thầy vừa đến là cho thị giả đi tìm tôi. Tôi vào phòng Thầy, ngồi xuống bên võng Thầy đang ngồi, Thầy đưa bàn tay mềm, ấm của Thầy bảo tôi nắm lấy, để ủ bàn tay tôi vào hai bàn tay Thầy, Thầy nói: “Thầy vừa đọc bài viết của con”. Rồi từ ngày đó cho đến ngày tôi về Việt Nam thăm nhà, không có chuyện gì nghĩ là có thể giúp ích cho tôi mà Thầy và Sư cô không làm. Tôi nhớ hình ảnh Thầy dẫn tôi vào thư viện ở Sơn Cốc, trải xuống sàn những tấm thư pháp mà Thầy đã viết để tặng cho tôi mang về nhà. Hai thầy trò ngồi xem những tấm thư pháp, Thầy hỏi: “Con thích tấm nào?”. Tôi thưa: “Dạ, thưa Thầy, con thấy… tấm nào cũng đẹp hết!”. Rồi Thầy nói: “Thôi vậy cho con hết đó!”. Thầy gọi tôi lên Sơn Cốc và xóm Mới ăn cơm nhiều lần để dạy tôi cách về thăm nhà sẽ làm gì, nói gì với ba mẹ… Thầy còn dạy tôi nhớ chít khăn cho đẹp. Thầy nói: “Một mảnh khăn vuông đó mà là truyền thống của cả ngàn năm rồi đó con!”. Sư cô Chân Không thì tặng tôi bộ sách của Sư cô lúc đó mới xuất bản. Sư cô viết lời đề tặng tôi kín hết cả trang đầu tiên, mà thực ra là tưới hoa tôi để cho… ba má tôi đọc. Rồi ngày tôi về, Sư cô còn gọi điện về Long Thành nhắn các sư chị, sư em ra sân bay đón tôi và về nhà tôi chơi. Thành ra, có một số chị em trước đó tôi chưa từng biết mặt và chỉ gặp nhau những ngày đó nhưng tôi thấy thương quý và biết ơn các chị em rất nhiều cho đến bây giờ. Thế nhưng, lần đó tôi “làm ăn” thất bại quá. Cái nút thắt đó tôi gỡ không ra. Cho đến khi tôi qua lại, Thầy hiểu ra sự việc, không khuyên tôi cố gắng làm gì với gia đình nữa, mà chỉ “ráng tu” thôi và “những gì mà con muốn ba con làm cho con thì bây giờ con làm điều đó với các sư em mình!”. Thầy tinh tế và bao dung quá, nên từ đó tôi thấy lòng mình cũng nhẹ nhàng và có nhiều không gian hơn. Cho nên, đôi khi sau này tôi cũng làm chuyện này, chuyện kia với gia đình, nhưng tôi không còn quá cố gắng và trông đợi gì cả. Để cho đến một ngày đột nhiên nhận ra, mọi người ai cũng đã bình tâm trở lại và chấp nhận nhau, thương yêu nhau như ngày nào.

Từ ngày Thầy bệnh đến nay, tôi không gặp được Thầy nữa. Đôi khi tôi thấy thiếu Thầy và nhớ Thầy nhiều lắm! Thầy như một bếp lửa để mọi người có thể đến ngồi quây quần hơ tay, sưởi ấm vào mùa đông và như một mặt hồ rộng mát để cho ai cũng có thể nhảy xuống mặc tình tắm gội mùa hè. Đặc biệt là khi trong chúng có chuyện lộn xộn, tôi cứ ước ao có Thầy, chỉ để đưa một ánh nhìn, nói một câu nói, mà làm thông thương và giải tỏa hết những buồn phiền, mâu thuẫn, ấm ức. Còn bây giờ nếu có giây phút nào tôi có Thầy, tôi sẽ chỉ ngồi yên thôi, ủ chén trà nóng của Thầy cho trong tay và cảm nhận sự có mặt quý báu của Thầy…

 

 

Tôi gặp Làng, gặp đất trời của Làng, gặp quý thầy, quý sư cô, rồi mới gặp Sư cô Chân Không và gặp Thầy…Mỗi sự gặp gỡ đó đều là một điều kiện cần và đủ trên con đường tôi đi, mà nếu thiếu một điều kiện nào cũng sẽ không có tôi trong phút giây này.

Cũng như tôi nhớ ngày đó, lần đầu đến gặp sư cô Chân Không, xin Sư cô giúp tôi làm giấy tờ để tôi có thể ở lại Làng an cư ba tháng. Đó là mùa đông năm 2006. Tôi đã kết thúc những việc học hành, thay vì về Việt Nam thì tôi đến Làng. Và vì tôi có ý định ở lại Làng an cư ba tháng “thử” cho biết nên tôi thưa điều này với sư cô Song Nghiêm. Sư cô nói sẽ thưa sư cô Chân Không dùm tôi. Vậy nên ngày tôi vào gặp sư cô Chân Không để nói chuyện làm giấy tờ, tôi nghĩ Sư cô chỉ làm giấy cho tôi ở ba tháng, vậy đã là quý lắm rồi. Nhưng khi tôi mới mở miệng tính giải thích chuyện học hành đi ở của mình thì Sư cô chỉ nói: “Con đưa passport cho sư cô. Sư cô làm giấy cho con một năm luôn”. Rồi Sư cô còn nhìn tôi – một cái nhìn “sấm sét” và nói thêm: “Sư cô tin con!”. Có lẽ ngày đó, Sư cô không biết là Sư cô đã… điểm trúng huyệt của tôi. Nên sau này, lúc nào có… chạm dây chạm mạch, tâm tư bất thường hay manh động muốn “lên núi”, thì tôi cũng “đành” nắm lấy cái niềm tin, niềm thương năm nào của Sư cô đã dành cho mình để đi tiếp, để “làm mới”, để sống tốt hơn và nguyện tiếp tục những gì mà Sư Ông và Sư cô đang làm và muốn các con làm… Vì rằng, ngày đó, Sư cô đâu biết tôi là ai, có muốn tu học gì không mà Sư cô vẫn tin, vẫn thương và gia hạn giấy tờ cho tôi; nếu không thì lấy đâu mà tôi ở lại Làng an cư, rồi làm tập sự, rồi xuất gia tu học đến bây giờ! Còn những câu chuyện về “thương người, giúp người” của Sư cô có lẽ phải làm thành sách nhiều tập, và mọi người trong chúng hay ngoài chúng, đều có thể viết cho quyển sách ấy. Sư cô ơi, cầu nguyện Bụt Tổ gia hộ cho Sư cô khỏe mạnh để sống lâu với chúng con, để thương chúng con, thương Đời và để chúng con được thương Sư cô ạ!

Khi ngồi nghe bài pháp thoại sáng nay, trong tôi còn đi lên một hình ảnh là tôi ngồi viết xuống những điều mà mình biết ơn với một sư chị. Mỗi điều đó tôi viết vào một tấm giấy nhỏ hình tròn, tổng cộng là ba mươi mấy tấm, bằng với số tuổi sư chị. Rồi tôi cột tất cả lại để tặng cho sư chị nhân dịp sinh nhật.

Nhân duyên gặp gỡ sư chị thật lạ và tương đối dài lâu. Đó là khi tôi mới chân ướt chân ráo đến Làng, ở xóm Hạ làm cư sĩ dài hạn trong ba tháng an cư, còn sư chị làm giáo thọ tập sự. Sư chị đã nhận tôi làm y chỉ muội. Và cho đến tận ngày tôi rời Làng, sau hơn mười năm, cũng là sư chị ra đứng tươi cười vẫy chào cho đến khi xe tôi đi khuất, khi biết trong lòng tôi đang có bao nhiêu cảm xúc rối bời…

Nhớ những ngày đầu tiên ấy, tôi ngáo ngơ lắm, chưa có chút mùi vị tương chao gì, từ nhỏ đến lớn chỉ biết học hành nên đâu có biết cách sống trong chùa như thế nào cho phải phép. Sư chị phải “dạy dỗ” tôi từ đầu, từ cách ăn, cách đứng, cách ngồi cho đến việc nấu ăn, thưa hỏi quý sư cô… Mà tôi cũng đâu phải là người dễ dạy! Vì “trót” học hành nhiều quá nên người khác nói gì mình cũng hay lý luận, chất vấn. Sư chị đã phải nhiều phen “vất vả”. Thậm chí tôi còn nhất định không chịu viết thư lúc quý sư cô họp để xét tập sự và xét cho xuất gia vì cái thói tật “không thích hình thức” lẫn “ám ảnh” về những thủ tục hành chính từ thuở còn đi học ở Pháp, làm sư chị phải khuyên nhủ, giải thích, thuyết phục, lẫn năn nỉ và “đe dọa”… Để rồi cuối cùng tôi viết thư cho quý sư cô, mà nghĩ lại là vì thương sư chị đã phải vất vả với mình nên mới viết(!) Ngày tôi xuất gia, mấy cô trò ai cũng vui, sau buổi lễ, sư chị là người cạo tóc cho tôi, cho tôi bộ đồ vạt hò và cái áo nhật bình mà tôi mặc lần đầu trong cuộc đời xuất sĩ. Nhìn lại đoạn đường của mười mấy năm ấy, biết bao nhiêu chuyện buồn vui, lên xuống, thất thường của tôi đã xảy ra, như cái buổi đầu lơ ngơ đó. Tôi may mắn luôn có sư chị kiên nhẫn, thầm lặng, bao dung để sẻ chia, cho dù ở gần hay xa. Và tôi biết trong những tháng ngày sắp tới, sư chị sẽ vẫn luôn ở đâu đó để động viên, an ủi và khích lệ tôi những khi tôi buồn vui hay có những bất an, dao động. Tôi vẫn nhớ năm đầu tiên ấy, sau buổi lễ đối thú an cư của ba xóm, còn có thêm nghi thức các y chỉ sư và y chỉ muội đối thú với nhau tại mỗi xóm. Lúc đó, sư chị làm y chỉ sư cho một mình tôi và theo đúng nghi thức, các y chỉ muội sẽ thưa thỉnh và lạy y chỉ sư ba lạy trước khi vị y chỉ sư nói lời hoan hỷ nhận những vị đó làm y chỉ muội của mình! Tôi vẫn còn nhớ mãi buổi tối hôm đó. Không phải tình cờ là như vậy!

Và cũng vì niềm tin yêu đó mà bây giờ tôi mới thấy thương quý và mến phục các sư em của mình. Như mình ngày đó còn khờ dại, chẳng biết phép tắc gì mà rồi cũng “ráng tu”, đến một lúc thấy lòng tha thiết và trân quý biết bao nhiêu việc được làm một người tu, thì mới thấy các em mình bây giờ mới dễ thương, mới “chùa” làm sao và hẳn là… có tương lai! Nhìn các sư em ngoan hiền, siêng năng làm việc và đi công phu, hồn nhiên vui buồn… tôi luôn thầm cầu mong cho các em giữ hoài được cái tâm trong sáng, hiền lành ấy của mình, dù có thể đôi khi các em sẽ phải chịu ít nhiều thiệt thòi nào đó… Tôi gửi niềm tin và niềm thương ấy vào vũ trụ rồi đó, các em có nhận được chưa?

Tôi nhớ tôi viết một bài thơ sinh nhật có câu:

Sinh nhật mùa thu…

Cúi tạ đất trời vô cùng

Bao nhiêu nghĩa tình làm sao nói hết

Bao nhiêu thâm sâu làm sao thấy được…

Và:

Tạ ơn đời sống đã cho ta có mặt
Tạ ơn đời sống đã vì ta có mặt
Để ta biết yêu thêm, yêu hoài những nỗi đời riêng…

Thật lòng, đó là một hình ảnh mà tôi luôn cố gắng tỏ bày, dù không thể. Bao nhiêu niềm biết ơn sâu xa tự trong đáy lòng, đối với đất trời, với Thầy, với đại chúng, với mọi người và với tất cả những nhân duyên đẹp đẽ cho những cuộc hội ngộ vẫn luôn còn đó trong tôi!

Xin đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau

Xin đi từ thơ ấu, đi vui và bên nhau…

                                              (Kỷ niệm- Phạm Duy)

 

 

Tôi nhớ ngày tôi lên Sơn Cốc để chào sư cô Chân Đức trước khi sang Mỹ. Sư cô dạy tôi và một sư em: “Mình nhớ đi đâu thì cũng ‘mang’ Thầy theo – cách mình thở, cách mình đi, cách mình nói năng, tiếp xử… – mình làm như Thầy đang làm”. Chỉ có vậy thôi đó. Đủ để tôi làm hành trang mang theo với mình. Tôi nghĩ, sẽ có những công trình xây dựng và những chương trình hoằng hóa càng ngày càng quy mô để theo kịp thời đại, nhưng có lẽ cũng sẽ không lớn hơn hay cần thiết hơn những điều mà sư cô Chân Đức đã thay Thầy dạy tôi ngày ấy.

Mùa thu đông này, là một mùa đẹp cho tôi “quay về”, đúng nơi chốn và thời điểm. Những ngày về đây, tôi đã thỏa lòng đi vào rừng, bước những bước chân không thành tiếng trên lối đi đầy rêu mềm hay lá mục, đưa tay khẽ sờ vào những thân cây to lớn xù xì hay tựa người vào đó, cảm nhận năng lượng trầm hùng, bao dung của cánh rừng và đất Mẹ. Tôi muốn đi nhẹ nhàng cho trái đất yên bình trở lại. Và không cần khua động, tôi chỉ muốn có mặt tròn đầy để cảm nhận sự có mặt của tất cả sự sống quanh mình. Thiên nhiên không yêu mình theo kiểu quan tâm, chăm sóc; thiên nhiên chỉ cho mình không gian, vẻ đẹp, sự trong lành và tĩnh lặng đầy cảm thấu để mình có thể an lòng mà vui tươi và độ lượng.

Lúc này, tôi cảm thấy rất hạnh phúc. Một trang sách mới mở ra, tôi tự nhủ lòng sẽ cẩn trọng để đọc và viết lên đó, cho hôm nay và cả những ngày sau. Tôi đang có tất cả những gì mình cần – để nghỉ ngơi, để bắt đầu lại và đi tiếp. Có thiền đường, có những con đường thiền hành, thư viện, nhà ăn… Có những người có thể cùng tôi bước đi những bước chân thảnh thơi và chánh niệm. Có vạt nắng, có cánh rừng, có con suối nhỏ hát ca, có những chú sóc hồn nhiên, có đàn nai bình yên ăn lá cỏ. Có những giây phút lặng lẽ “ngồi nghĩ lại mình” và buông xuống tất cả để lòng nhẹ nhõm… Chợt nhận ra đôi khi lòng mình chỉ khát khao những điều bình thường, giản dị như thế này thôi. Bây giờ là tháng Mười hai. Trời nhiều khi rất lạnh, nhưng tôi luôn yêu những buổi khuya đi từ phòng ngủ đến phòng học hoặc đến thiền đường; bước ra cùng trăng sao và chìm đắm vào cái tịch lặng không cùng của đất trời. Như những ngày tháng đầu tiên năm nào mới đến Làng, được thức dậy sớm để đi ngồi thiền cũng như thế. Đi như được trở về.

Những đợt tuyết đầu tiên của mùa đông đã bắt đầu rơi. Và với tuyết ai cũng có thể trở thành em bé, hồn nhiên để trông đợi, đón nhận và chơi đùa. Mùa lạnh đang đến rồi, nhưng tôi sẽ gắng giữ cho hồn mình ấm áp…

Pháp thoại trực tuyến: Xin nguyện làm mới thân tâm

(Thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung bài tụng “Sám Nguyện” trong sách Nhật Tụng Thiền Môn)

Trong đạo Bụt, chúng ta có danh từ tụng kinh. Tụng kinh có nghĩa là ôn lại, đọc lại những lời Bụt dạy. Có khi chúng ta tụng một mình, có khi chúng ta tụng với tăng thân. Có khi chúng ta tụng thầm, có khi chúng ta tụng thành tiếng. Có lúc trong khi tụng, ta có năng lượng của chánh niệm, của đức tin, của tình thương. Tụng kinh là để chúng ta có cơ hội tiếp xúc với lời Bụt dạy, tiếp xúc với tuệ giác của Bụt. Đồng thời ta có dịp tưới tẩm những hạt giống đẹp, lành, và tươi tốt ở trong ta. Từ đó, phát nguyện làm mới lại thân tâm mình bằng những hành động cụ thể đã được chỉ dạy trong mỗi lời kinh.

Đệ tử xin nguyền trở lại

Sống trong hiện tại nhiệm mầu

Vườn tâm ươm hạt giống tốt

Vun trồng hiểu biết, thương yêu.

(Trích từ bài tụng “Sám Nguyện” trong Nhật Tụng Thiền Môn)

Để dễ dàng trong việc học hỏi và hành trì những lời dạy được trình bày trong mỗi bài kinh, chúng ta nên dành thì giờ tìm hiểu và học cho thật sâu sắc ý kinh.

Kính mời đại chúng trở về thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng, Làng Mai (Pháp) để được lắng nghe thầy Minh Hy chia sẻ về nội dung của bài tụng “Sám Nguyện”. Bài tụng này có trong cuốn sách Nhật Tụng Thiền Môn – là một trong những cuốn kinh hiện đang sử dụng trong các buổi tụng kinh tại một số chùa và tư gia của người Việt. Đây cũng là cuốn kinh đang được lưu hành và sử dụng trong các thời công phu tại các tu viện Làng Mai khắp nơi.

Buổi chia sẻ với chủ đề “Xin nguyện làm mới thân tâm” sẽ được phát trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai lúc 9:30 sáng (giờ Châu Âu), vào khoảng 14:30 chiều (giờ Việt Nam) Chủ Nhật ngày 26/9/2021. Kính mời đại chúng truy cập vào liên kết dưới đây để cùng tham dự lắng nghe:

 

Mưa tình thương nảy mầm sự sống

Sư cô Chân Quy Nghiêm 

Hôm đó sau buổi thiền hành trên xóm quý thầy, sư em đang lững thững đi sau lưng một sư anh thì đột nhiên sư anh quay lại nhìn sư em và nói: “Mây mù che đỉnh núi”, rồi sư anh tiếp tục bước đi. 

Sư em giật mình, rõ ràng sư em đang suy nghĩ vẩn vơ không để ý đến bước chân hơi thở nên không thấy được quang cảnh trước mắt. Sư anh đi trước mà vẫn thấy được sư em đi sau đang làm gì, nghĩ gì để mà nhắc nhở. Đúng là con của Bụt, không lơ là chút nào. Sư em mỉm cười thầm cảm ơn sư anh. 

Hôm đó đúng là trời không có nắng, rặng núi Khao Yai hùng vĩ bị mây mù che, quang cảnh núi mây mờ ảo như trong tranh rất đẹp. Núi bị mây che có vẻ mơ màng nhưng sư em vẫn thấy được sự vững vàng của núi. Dù núi cao hùng vĩ bao nhiêu vẫn có lúc bị mây mù che phủ, núi biết điều đó, và núi cũng biết rằng rồi mây mù sẽ tan, nên núi không để mất sự vững chãi. Núi cũng thấy được rằng nhờ có mây mù mà có mưa, mưa làm lòng đất trở nên mềm mại, xanh tươi và nở đầy hoa. 

Mấy hôm nay sau buổi thiền hành, đi qua mấy lối cỏ về lại xóm mình, sư em để ý thấy có mấy cánh hoa trắng như tuyết nằm khiêm tốn đây đó trên mặt đất. Cỏ mới được phát sạch, hoa mới biểu hiện ra, mong manh và tinh khiết. Chắc chắn khi nằm trong lòng cỏ rậm, hoa vẫn nở thật tươi thắm, dù không ai trông thấy, hoa vẫn hiến tặng hết lòng sự có mặt tươi mát của mình. Đóa hoa nhỏ nhắn mà mầu nhiệm thay, giúp cho sư em khám phá lại chính mình, cũng như lời nhắc nhở của sư anh, ngắn gọn mà đầy đủ, giúp cho sư em nhìn lại sâu hơn. 

Sư em rất trân quý sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em trong Đại Chúng. Một đại gia đình có đủ mọi người đủ mọi lứa tuổi và trình độ khác nhau, cho nên sự thực tập có nhiều màu sắc rất phong phú. Sư em thấy ai cũng đóng góp yểm trợ cho nhau trong sự tu tập bằng nhiều phương cách. Đôi khi sự đóng góp yểm trợ không qua lời nói mà rất thầm lặng, kín đáo và sâu. 

Cho nên qua thời gian, sư em thấy ai cũng trở nên dịu dàng và chín chắn. Cái gì cũng cần thời gian để chuyển hóa, để phát triển. Chỉ cần mình có đủ kiên nhẫn, đủ niềm tin và sự tinh tấn, thì rác sẽ nở ra hoa và kết trái mà thôi. 

 

 

Đất mới bây giờ xanh mát và đầy hoa tươi thắm, một vùng cỏ cây chen đá, lá chen hoa ( Qua Đèo Ngang- Bà Huyện Thanh Quan)  rất là ngoạn mục. Không gian thênh thang, trời mây lãng đãng, về đây tự nhiên ai cũng trở thành thi sĩ và nhạc sĩ mà không cần cố gắng. Thiên nhiên đất trời tự nó đã là thơ là nhạc, mình chỉ cần có mặt ở đó để thưởng thức và được nuôi dưỡng. 

Sống được những gì Bụt dạy trong đời sống hàng ngày, sư em thấy tình thương tức thì được biểu hiện một cách tự nhiên, và mình thấy được tình thương luôn có mặt trong mỗi người mỗi vật chung quanh. Mình tu tập là để tiếp tục chăm sóc tưới tẩm cho tình thương đó luôn được bồi đắp và phát triển, không để nó trở nên héo hắt khô cằn. 

Mưa pháp mưa tình thương luôn làm cho sự sống nảy mầm tươi tốt.

Sư em thật hạnh phúc và tràn đầy biết ơn. 

 

Huyền thoại một chuyến đi

 

Thầy Chân Pháp Nguyện 

Ngày được thông tin về tình hình sức khỏe của Thầy đang trên đà xuống dốc, anh em tôi tranh thủ sắp xếp công việc để về có mặt bên Thầy. 

Chuyến bay hồi hương 

Tất cả các chuyến bay dân sự và thương mại quốc tế không được phép hoạt động trong thời gian đại dịch Covid-19, nên bốn anh em tôi từ tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan được Đại sứ quán Việt Nam ở Bangkok sắp xếp cho đi chuyến bay ‘hồi hương’ giải cứu đồng bào Việt Nam đang bị kẹt tại Thái Lan. Chúng tôi được thông báo chuyến bay sẽ hạ cánh tại phi trường Tân Sơn Nhất và sau đó sẽ được xe chuyển về cách ly tại trại quân đội ở Cần Thơ. 

Tại cổng bay, nhân viên hàng không phát cho mỗi hành khách một bộ dụng cụ phòng chống dịch Covid-19. Họ bảo: “Quý thầy mặc đồ này vào trước khi lên máy bay”. Tôi mở bao dụng cụ ra thì thấy trong đó gồm có: một bộ đồ phòng chống dịch màu xanh, một cái khẩu trang, một đôi găng tay và một cặp mắt kính bảo hộ. Tôi nhìn quanh thì thấy ai cũng tháo ra mặc vào. Thấy thế anh em tôi cũng làm theo. Mặc bộ đồ này cho tôi một cảm giác như là một phi hành gia và tôi đang chuẩn bị đi qua một hành tinh khác. Tiếp theo đó là những cảm giác nóng nực, khó chịu, v.v… Nghĩ đến những người phi hành gia phải mặc những bộ đồ còn cồng kềnh khủng khiếp hơn, thì tự nhiên bao nhiêu nóng nực, khó chịu trở nên lắng dịu. 

Chuyến bay VN 604 của hãng hàng không Vietnam Airlines bắt đầu khởi hành từ sân bay quốc tế Suvarnabhumi (Bangkok, Thái Lan) vào lúc 12:20 chiều, ngày 01 tháng 10 năm 2020. Chuyến bay gồm có 290 hành khách và tất cả đều mặc đồ đồng phục màu xanh bao phủ từ đầu cho đến chân, kể cả cặp mắt và cái miệng. Những người tiếp viên hàng không cũng không ngoại lệ. Không ai nói chuyện với ai. Tất cả đều chìm trong im lặng. Tôi thầm nghĩ đây là chuyến bay đầu tiên thực tập im lặng hùng tráng tuyệt đỉnh. Đúng 2 giờ 5 phút chiều, máy bay hạ cánh xuống phi trường Tân Sơn Nhất.

 

 

Chuyến xe ân tình 

Xuống tới lầu dưới, có một vài người vì quá nóng nên đã tháo bộ đồ phòng chống dịch ra. Thấy thế một anh nhân viên tiến tới nhắc nhở mọi người không được cởi đồ và khẩu trang ra cho đến khi về tới trại cách ly. Nhìn ra, tôi thấy sáu chiếc xe buýt lớn đang chờ sẵn ở phía ngoài cửa hông của phi trường quốc nội. Có một anh hài hước nói rằng: “Ôi! Có một chiếc xe buýt nhìn giống như xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’ của thập niên 70”. Chúng tôi xếp hàng từng nhóm lên xe buýt. Tới phiên anh em chúng tôi là đúng chiếc xe buýt ‘Bến Thành – Chợ Lớn’. Anh em tôi cười ríu rít! Tôi vui miệng nói đùa: “Đây là duyên của mình”. Đặc điểm của chiếc xe buýt này là không có máy lạnh và tất cả các cửa sổ đều được đóng lại và dán kín băng keo. Tôi thầm nghĩ bụng: “Nếu có một con Covid-19 nào trên xe thì cũng đừng mong mà tẩu thoát”. Tôi hỏi chú tài xế từ đây về trại cách ly ở Cần Thơ khoảng bao lâu. Chú bảo: “Mình về Đồng Nai”. Lúc này tôi mới biết Đồng Nai là nơi mà chúng tôi sẽ được cách ly. 

Trước đoàn xe buýt là một chiếc xe gíp do hai chú cảnh sát giao thông dẫn đường và phía hông là một chiếc xe mô tô do hai chú cảnh sát giao thông khác thổi kèn hộ tống. Đoàn xe vừa chạy vừa thổi kèn báo động, nên xe nào cũng phải tránh ra. Không khí tưng bừng nhộn nhịp như đưa đón tổng thống! Có một người hành khách bảo rằng: “Le quá! Mình được hộ tống như tổng thống Obama”. Một người khác nghe vậy rồi hài hước đáp rằng: “Không đâu, hộ tống Covid đó!”. Tôi ngồi im lặng mà thầm biết ơn chú tài xế và chiếc xe buýt rất nhiều. Chú tài xế lái xe rất chuyên nghiệp với nhiều bình an. Tôi nghĩ việc lái xe thì không khó, nhưng để làm một người tài xế bình an đưa những người có khả năng bị nhiễm Covid-19 đòi hỏi tình thương và sự can đảm. Một công việc ít ai muốn làm vì nó mang nhiều mạo hiểm. Trong khi đó thì chiếc xe buýt tuy trông rất cũ kỹ nhưng lại rất chung tình. Tôi thầm niệm đây là chiếc xe ân tình chứa đầy tình thương đưa người về chốn bình an, trong đó có sự giãn cách bất an và lo lắng. 

Tình người trong trại cách ly 

Chúng tôi may mắn được xếp ở chung với nhau cùng tám người khác. Trong đó có ba thầy từ truyền thống khác và năm người cư sĩ nam. Trại cách ly được chia ra thành hai khu vực, một bên nam một bên nữ. Mỗi phòng có khoảng từ 10 đến 12 người ở chung. Đây là Trường Trung cấp Cảnh sát Nhân dân VI, nên hạ tầng cơ sở được thiết kế theo kiểu quân đội. Trại gồm có bốn tòa nhà tập thể thiết kế theo mô hình chữ nhật, ở giữa là sân thể thao. Phòng ốc thì đơn giản chỉ có giường tầng, nhà vệ sinh tập thể, còn phần ăn uống thì có cơm hộp được đặt ở ngoài đưa vào mỗi ngày ba buổi.

Hiện tại, miền Trung đang bị bão lụt, nên thời tiết ở Đồng Nai cũng bị ảnh hưởng. Phần nhiều là ngày nào cũng mưa. Để sống sót được 14 ngày cách ly mà không bị trầm cảm thì phải có một biện pháp nuôi dưỡng chung. Nếu không thì suốt ngày chỉ biết nằm ngồi trên giường. Để cho căn phòng được ấm cúng hơn, anh em tôi quyết định sắp xếp lại căn phòng. Chúng tôi dời vài cái giường tầng lại gần với nhau để tạo thêm không gian ở khoảng giữa làm nơi ngồi chơi uống trà. May mắn cho chúng tôi là trại cách ly không xa ni xá Trạm Tịch, nên quý sư cô đã thương tình gửi vào cho một chiếc chiếu, năm cái tọa cụ, vài cây nến và một cây đàn ghi- ta. Phía sau nhà có một cái hàng rào với nhiều hoa dại mọc xen lẫn với nhau, thầy Pháp Niệm nhẹ tay hái một bó đem vào cắm trong bình nước và đặt giữa phòng trà. Thế là chúng tôi có được một phòng trà dã chiến ấm cúng hạnh phúc. Đây không chỉ đơn thuần là một phòng trà mà còn là thiền đường, phòng ăn và chỗ giao lưu kết nối nuôi dưỡng anh em tôi trong thời gian ở đây. 

Sau khi vào trại cách ly, chúng tôi mới biết các em thanh niên mà chúng tôi nhìn thấy ở phi trường Bangkok sáng nay là các em đi làm bất hợp pháp ở Thái Lan, nên đã bị giam giữ trong thời gian dịch bệnh. Tổng cộng có hơn 70 em được phép hồi hương kỳ này. Chúng tôi có cơ hội ngồi chơi và trò chuyện cùng các em. Có những em hoàn cảnh gia đình rất đáng thương, phần lớn từ Quảng Bình và Thanh Hóa. Vì kinh tế gia đình nên buộc phải đi qua Thái Lan kiếm sống. Có một em trai chia sẻ: “Ở Quảng Bình không có việc làm, nếu cứ ngồi không thì chết đói cả nhà, nên con qua Thái Lan tìm việc làm để giúp gia đình. Một tháng nếu con gói ghém, không xài, ít nhất con có thể dành dụm gửi về phụ giúp gia đình từ 7 đến 10 triệu đồng”. Tôi hỏi: “Em làm công việc gì ở Thái Lan?”. Em đáp: “Dạ, con giúp việc ở nhà hàng”. Phần lớn các em đến từ gia đình nghèo, ít học, nên công việc chỉ là lao động chân tay. Có em làm thợ hồ, có em phụ vựa rau, nhà hàng, hay bán hàng rong. Một em trai khác chia sẻ: “Cách ly ở đây quá sướng. Ở đây được cho ăn một ngày ba bữa đàng hoàng và có giường ngủ riêng”. Nghe những mảnh đời gian nan vất vả của các em, tôi cảm thấy chạnh lòng thương xót. 

Ngày nào chúng tôi cũng có cơ hội uống trà và ăn cơm chung với nhau ba buổi. Cứ vài hôm thì quý sư cô gửi thức ăn vô tiếp tế, nhờ thế mà chúng tôi có cơ hội san sẻ với các em. Một hộp mì gói hay một vài trái quýt, có lẽ không đáng giá là bao nhưng nó chứa đựng tình người. Có một em quê ở Sóc Trăng nói: “Đây là lần đầu tiên con được ở chung phòng với quý thầy. Con thấy năng lượng rất khác. Thật là một phước đức lớn cho con”. Trước khi rời trại, em cúng dường một chút tịnh tài để tiếp tục gieo duyên với quý thầy. Tôi cảm được lòng quý kính Tam bảo và âm thầm hồi hướng công đức cho em. 

Mỗi ngày trong trại tôi tự nuôi mình bằng những pháp môn căn bản như thiền tọa, thiền hành, uống trà, tập thể dục, v.v. Tôi không xem đó là thời khóa mà thấy nó là lẽ sống rất tự nhiên, là thức ăn nuôi dưỡng hàng ngày không thể thiếu. Tuy không gian trong trại nhỏ bé, nhưng tôi cảm thấy đủ thoải mái và hạnh phúc. Tôi tự nhắc mình hai tuần cách ly này là món quà vô giá để nghỉ ngơi. Nhờ thế mà tôi tìm được niềm vui, lấy được sự quân bình, và thấy được nhiều ý nghĩa trong cuộc sống. 

 

 

Về bên Thầy 

Trước cửa thất Lắng Nghe có để vài chai khử trùng, một hộp khẩu trang y tế, và một hộp bao giầy. Vào thời điểm này, đó là quy định trước khi vào thất, mọi người phải khử trùng và mang khẩu trang. Tôi thở ba hơi dài trước khi bước vào thất. Cảnh tượng và không khí trong thất rất thân thương và sống động như ngày nào. Nó cho tôi một cảm giác quen thuộc lạ thường. Tôi rất hạnh phúc vì Thầy vẫn còn đó. Tôi im lặng bước đến, nắm lấy tay Thầy rồi ngồi yên thưởng thức sự hiện hữu của nhau. 

Lần sau tôi trở lại thăm Thầy vào buổi tối. Tôi bước đến xá Thầy, rồi nhấc cái ghế ngồi bên tay trái Thầy, vì Thầy thuận nhìn bên trái. Tôi chắp tay nhìn Thầy, thưa: “Thưa Thầy! Con là Pháp Nguyện. Con đã tới và con đã về bên Thầy đây!”. Tôi quan sát và thấy rằng tuy Thầy yếu nhưng vẫn tỉnh táo, đặc biệt là đôi mắt rất trong. Sau thời gian ngồi thở trong im lặng với Thầy vài phút, tôi nắm lấy tay Thầy rồi bắt đầu chia sẻ: “Thưa Thầy! Chúng con rất biết ơn sự hiện hữu của Thầy. Hôm nay là ngày 11 tháng 11, đúng sáu năm từ khi Thầy bị đột quỵ. Trong sáu năm qua, Thầy đã từ bi thị hiện để tiếp tục làm chỗ nương tựa tinh thần cho chúng con. Thầy đã cho chúng con rất nhiều thời gian cũng như không gian để trưởng thành, để lớn lên ,và để củng cố sự tu học. Nhờ vào lòng từ bi và đức độ của Thầy, tăng thân của mình bây giờ khá vững mạnh, tứ chúng tu học hết lòng. Con biết lúc nào Thầy cũng thong dong tự tại. Việc cần làm đã làm. Chúng con nguyện đặt hết tâm sức để tiếp tục sự nghiệp của Thầy. Xin Thầy hãy yên lòng!”. Trong khi trò chuyện với Thầy, tôi cảm được hơi ấm từ bàn tay của Thầy như một nguồn năng lượng dâng trào. Thầy nhìn tôi chăm chú với khuôn mặt đầy sức sống và thấm nhuần lòng từ bi như đang gửi gắm một niềm tin trọn vẹn. 

Nhờ Bụt Tổ gia hộ, sức khỏe của Thầy trở nên khá hơn mỗi ngày. Đến lúc này thì tay và chân trái của Thầy đã cử động được khá nhiều mà Thầy thường dùng để biểu lộ cảm giác. Bên cạnh đó, Thầy cũng dùng cặp mắt tinh anh để truyền đạt ý nghĩ của Thầy. Hơn ba tháng qua, có thể nói Thầy đã đủ khỏe để lấy lại chủ quyền của một vị thiền sư. Vì thế, trong mấy ngày này các anh chị em thị giả cũng phải cẩn thận lắm. Nếu không thì sẽ bị “quất một gậy”. Cây gậy của Thầy rất từ bi, nhưng rất hữu hiệu, đó chính là đôi mắt. Chỉ cần nhìn anh em thị giả chúng tôi một cái thôi thì cũng đủ làm cho chúng tôi “hú hồn”. 

Chuyến về Việt Nam thăm Thầy kỳ này, đối với tôi là một chuyến đi huyền thoại, có một không hai. Nó không thể nào có được nếu không có những tấm lòng Bồ tát đứng phía sau giúp đỡ, cũng như những tấm lòng bền sắt tươi son luôn có mặt đó để chăm lo cho Thầy. Tôi xin tri ân đại chúng cũng như những người hảo tâm đã yểm trợ và giúp đỡ chúng tôi có được visa. Chúng tôi nghĩ rằng chuyến này về là để chuẩn bị hậu sự cho Thầy. May mắn thay, con cháu về đông vui nên sức khỏe của Thầy khá lên. Chúng tôi biết tất cả đại chúng khắp nơi trên thế giới cũng đã và đang tiếp tục đồng hành cùng chúng tôi cầu nguyện cho sức khỏe của Thầy. Chúng tôi rất biết ơn đại chúng. Theo kinh nghiệm trong thời gian qua cho thấy năng lượng tập thể rất quan trọng. Nếu chúng ta đều suy nghĩ tích cực, hướng về cái thật, cái thiện và cái đẹp thì năng lượng tập thể đó có thể thay đổi được tình hình. 

Tôi đã trải nghiệm và học hỏi được rất nhiều điều trong chuyến đi này từ lúc khởi hành. Ý chí mạnh mẽ của Thầy đã dạy cho tôi một bài học vô giá: dù cuộc đời có bão táp phong ba ra sao cũng đừng vì thế mà bỏ cuộc. Hãy can đảm đứng lên sau khi vấp ngã, hãy can đảm sống thực với lòng mình, và hãy can đảm làm một con người vô sự. 

 

 

Nắng lên rực rỡ ngày khai hội

Sư cô Chân Trăng Khai Hội 

Sư cô Trăng Khai Hội xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế. 

Diệu Trạm, mùa đông 2020 

“Con kính bạch Sư Ông, con là Chân Trăng Khai Hội. Con chính thức là đệ tử, là con của Sư Ông trong gia đình xuất gia cây Hoa Mộc ạ!”. Đã nhiều lần con muốn hô thật to câu ấy để khoe với Sư Ông và cho núi đồi Dương Xuân biết. Nhưng nếu Sư Ông khỏe, chắc Sư Ông sẽ nhắc y chỉ sư của con: “Con nhà thiền sao có người tăng động như thế”, hoặc sẽ dạy con: “Ngồi xuống thở đi con!”. Nghĩ vậy nên con không hô to câu ấy nữa mà làm một việc khác thiền vị và có sự thực tập hơn: viết thư. Con viết thư cảm ơn mọi người thân của con khắp Bắc, Trung, Nam, tiện thể khoe với mọi người về cái tên mới của mình. Sự kiện sinh ra trong gia đình cây Hoa Mộc với 18 anh chị em, được làm con của Sư Ông và tăng thân là một niềm hạnh phúc lớn đối với con. 

Những kỷ niệm, những lần được đảnh lễ Sư Ông, thiền hành cùng Sư Ông là liều thuốc bổ nuôi dưỡng con mỗi ngày. Lúc đầu, con nghĩ niềm vui đó con muốn giữ cho riêng con, vì với ngòi bút vụng về của mình, con chẳng thể diễn tả hết những cảm xúc trong lòng lúc được gặp Sư Ông. 

Ngày con tới ni xá Diệu Trạm, cũng là lần đầu tiên con tiếp xúc trực tiếp với Làng Mai. Nhìn quý sư cô với tà áo nâu, thong dong nơi từng bước chân, con đã “phải lòng” pháp môn. Ngay khi ấy ý muốn xuất gia của con từ lâu được nuôi dưỡng trở lại nên con về nhà thu xếp mọi thứ. Sau hai tháng, con có mặt tại Diệu Trạm để xin tập sự xuất gia. Từ giây phút đó con đã có con đường để đi, có Sư Ông và tăng thân là nơi con nương tựa tu học. 

Con rất thích pháp môn thiền hành. Vào một buổi sáng cuối xuân đẹp trời ngày 28 tháng 3 năm 2020, đại chúng Diệu Trạm vừa thiền hành về thì nghe tin Sư Ông đang thiền hành. Tất cả mọi người từ cổng phụ quay đầu hướng về thất Lắng Nghe. Tuy vẫn bước đi nhẹ nhàng nhưng trong đại chúng có một niềm hân hoan lớn. Con cũng bước đi nhưng quả thực trong lòng có chút vội vàng. Không vội sao được khi chúng con rất ít được trực tiếp gặp Sư Ông và thiền hành cùng Người. Con nhận ra ngay tâm vội vàng của con lúc ấy, cười với chính con và trở về theo dõi hơi thở. Đấy là sự thực tập của con. Chúng con được đi thiền với Sư Ông từ thất ra tới hồ bán nguyệt. Năng lượng bình an của Sư Ông rất lớn, con cảm nhận được khi thiền hành cùng Người. Con thấy trong con không có những lao xao, thấy lòng thật êm ái và nhẹ nhàng. Khi đại chúng dừng lại nghỉ trước hồ Bán Nguyệt, sư cô Định Nghiêm giới thiệu mọi người với Sư Ông, trong đó có các chị em tập sự chúng con. Lần đầu tiên được chính thức đảnh lễ Sư Ông, con hạnh phúc vô cùng! Sư Ông nhìn con thật kỹ, yên lặng và đưa tay trái lên xá chào. Con thấy thật bình an và hạnh phúc. Năng lượng bình an, tĩnh tại của Sư Ông bao trùm tất cả từ không gian, mặt trời, tới gió mây. Nắng hôm đó thật đẹp, mặt trời xuyên qua những tán cây bàng, cây thông tạo ra những tia sáng lấp lánh nhiều màu sắc như hào quang tỏa sáng vậy. Gió thoảng, mây trắng nhẹ nhàng bay như vui với niềm vui của đại chúng.

 

 Một lần khác, đó là ngày an cư thứ 12 trong năm 2020, Sư Ông qua thăm Diệu Trạm. Hôm đó chỉ có các sư bé ở nhà, quý sư cô lớn đã đi Bố tát tại chùa Diệu Hỷ. Sư Ông thăm phòng và sau đó quyết định ở lại dùng sáng. Thị giả dọn bàn ăn của Sư Ông trên hành lang phòng khách. Chị em con trải chiếu và xếp ghế ngồi ngoài sân, cạnh cây Nguyệt Quế, hướng về phía Sư Ông. Mọi người ngồi yên theo dõi hơi thở và ngắm Sư Ông. Khi Sư Ông đưa tay lên quán nguyện, chúng con cũng làm theo. Rồi Sư Ông đưa tay mời mọi người. Con ngồi nhìn cách Sư Ông đưa muỗng lên bằng tay trái rất gọn và từ tốn. Đã lâu lắm rồi đại chúng mới được ngồi gần và thưởng thức bữa sáng cùng Sư Ông nên mọi người cứ mải ngắm mà không chịu ăn. Thế là Sư Ông đưa tay ra hiệu bảo chúng con ăn đi. Cả đại chúng cười vui vẻ và tiếp tục ăn cùng Sư Ông. Ánh mặt trời đã bắt đầu chiếu sáng, hòa cùng niềm vui của mọi người tạo thành một khung cảnh thật đẹp, thật ấm áp. Thỉnh thoảng Sư Ông lại nhìn kỹ từng người, khoảnh khắc đó cũng làm mọi người vui sướng. Lâu lâu Sư Ông lại ra hiệu cho chúng con ăn đi và thế là chúng con ăn hết thức ăn của bữa sáng, ăn tới món chè đậu đen mà tri khố chuẩn bị cho bữa trưa luôn. Bữa sáng vừa được ngồi ăn, vừa được ngồi chơi với Sư Ông thật hạnh phúc. Lúc đó, con đã tự nhắc mình “đây là giây phút hạnh phúc”. Với tất cả sự tôn kính, con thấy Sư Ông là một người ngồi ăn “dễ thương” nhất. Từng muỗng thức ăn đưa lên, Sư Ông dùng rất cẩn trọng. Con có cảm giác việc quan trọng nhất của Sư Ông lúc đó là nâng muỗng thức ăn và nhai rất kỹ, kể cả sữa. Điều này rất nuôi dưỡng con. Sau đó là tiết mục hát cúng dường. Sư Ông lắng nghe chăm chú và khi bài hát kết thúc, Sư Ông đưa tay lên động viên tinh thần các sư con của mình. Khung cảnh đó đã đi vào trong con, nuôi dưỡng tình thầy trò. Con thật biết ơn giây phút nhiệm mầu ấy! 

Còn có những niềm vui nho nhỏ khác bên Sư Ông, nhưng con xin giữ lại để nuôi dưỡng con. Giờ phút này đây trong con dâng lên lòng biết ơn rất lớn. Nếu không có Sư Ông, nếu không có pháp môn thì con đâu có được niềm hạnh phúc lớn lao như ngày hôm nay. Ngày xuất gia, con đã hạnh phúc biết bao, con được gọi Sư Ông là Thầy. Tiếng gọi ấy thiêng liêng và khó diễn tả lắm! Con không biết tả thế nào nhưng nó không giống như con gọi một vị thầy khác. Nó thân thương, gần gũi mà cũng đầy tôn kính. Con biết ơn Thầy và tăng thân đã sinh ra con trong gia đình tâm linh. 

Tôi sẽ xin rằng tất cả

Nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu

Tôi sẽ xin rằng “tất cả”.

Tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam cực độ,

Cả ngài, cả tôi, cả người thiên hạ.

Núi sông, cây cỏ,

Xuôi về, sáng hôm nay, trong duy-nhất nhiệm mầu.

Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau.

Tách ra ngoài đại-thể !

Đã từ lâu, ngàn vạn đời,                                                                           

Chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù an vui.         

Sáng hôm nay em tôi trở về quỳ dưới Phật đài

Mắt đầm đìa lệ.

Ôi ! một  linh hồn đi tìm bến đỗ.

(Hình bóng của tôi xưa,

phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ!)

Hãy để yên cho em quỳ lâu, rất lâu trên Phật điện.

Cho lệ em thầm lặng chảy, cho lệ em mặc sức tràn trề.

Cứ để yên cho quỳ lâu thêm nữa,

Đủ thì giờ cho lệ em khô ráo.

Bởi vì, người ơi, một mai kia,

Tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em ở ven đồi,

Túp lều duy-nhất còn lại của đời em.

Cho lửa cháy lên cao,

Cho tan-hoang tất cả,

Cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã.

Cũng như chiếc bè, trong đại-dương, tan rã.

Để vỏ cứng hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu,

Sẽ vỡ toang. Tràn trề ánh sáng.

Tôi sẽ đợi em, bên ánh lửa hồng cháy rực rỡ của túp lều.

Nước mắt sung-sướng chan hoà,

Tôi nhìn em.

Rồi khi cầm tay em, tôi hỏi rằng: “em muốn bao nhiêu

Tất nhiên em sẽ cười mà  xin rằng “tất cả ”.

Bài thơ này được in lần đầu trong tạp chí Phật Giáo Việt Nam (số 13, rằm tháng tám Đinh Dậu, 1956), cơ quan ngôn luận chính thức của Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam do Hoà Thượng Huệ Quang làm chủ nhiệm và thầy làm chủ bút. Trong Phật Giáo Việt Nam số 16 (ngày rằm tháng 11 Đinh Dậu, 1956) có một bài ký tên Thiều Chi đàm luận về bài thơ này. 

Lê Minh,

Đã hai tháng rồi, chú hứa giảng cho cháu bài thơ đăng ở số 13. Thế mà lận-đận mãi chẳng viết cho cháu được một chữ. Hôm nay, năm gần hết, Tết gần đến, chú cũng muốn làm cho xong công việc mà chú đã hứa với cháu. Để còn sửa-soạn ăn Tết nữa chứ. Để dây-dưa qua sang năm thì có lẽ cả chú cháu ta đều không an lòng. Có phải không hở Lê-Minh?

Tác-giả bài “Tôi sẽ xin rằng tất cả” chỉ mỉm cười khi nghe chú nói đến câu chuyện giảng thơ. Thì cũng như chú đã viết cho cháu trong thơ trước đấy. Giảng thơ là một việc mà các tác-giả không bao giờ muốn làm. Giảng thơ, cũng như “chữa giúp” một bài thơ, đều là những việc làm gượng gạo, máy móc, và có khi tàn nhẫn nữa. Tàn-nhẫn là bởi người ta không thể nào nói cho hết được cái hay sâu-xa của bài thơ, cái hay mà mỗi người chỉ có thể nhận thấy một cách trực-tiếp khi đọc bài thơ ấy. Và như thế là giết chết giá-trị bài thơ. Còn gì mà không tàn-nhẫn. Có khi ta đọc một bài thơ, thấy hay “đến tận xương tủy”, mà nói cái hay ấy ra thì không thể nào nói được.

Vậy hôm nay chú giảng một bài thơ, tức là chú đã gượng- gạo và tàn-nhẫn đấy. Nhưng biết làm sao hơn? Cháu đọc bài thơ, cháu không hiểu, không cảm, và nhất định đòi chú phải giảng cho bằng được. Mà chiều cháu, tức là làm trái ý tác-giả bài thơ. Thôi cũng đành. Nhưng trước hết, chú phải nói rằng những lời giảng của chú chỉ có thể “giúp” cháu nhận được cái hay của bài thơ mà thôi chứ không phải là để “nói” ra cái hay của bài thơ đâu, cháu nhé. Có như thế chú mới không mang tội với tác-giả, và không làm ngược lại với điều mà chú nghĩ.

Giảng một bài thơ đã là chuyện khó, huống nữa lại là giảng một bài thơ đạo. Bởi vì những tình-cảm và những ý-tưởng trong một bài thơ đạo rất khác với những tình-cảm và những ý-tưởng của một bài thơ thường. Trong thơ thường, các thi-sĩ nói lên những buồn nhớ, thương yêu, giận ghét, nói tóm lại, là những tình-cảm rất “con người” của họ. Những tình-cảm ấy, đã là con người (nhất là con người phàm-tục chúng ta) ai cũng có. Và vì vậy, mỗi khi chúng ta đọc thơ của họ là chúng ta thấy rung-cảm ngay.

Chúng ta sống với những tình-cảm mà thi-sĩ đã sống: tâm-hồn chúng ta đã được rung-động theo chiều-hướng rung-động của tâm-hồn thi-sĩ. Thi-ca đã tác-động được trên tâm-hồn chúng ta, vì thế mà chúng ta thấy cái hay. Tóm lại, ta cảm được nghệ-phẩm là vì ta rất gần nghệ-sĩ. Khi ta mang một tâm-trạng u-buồn chẳng-hạn, ta sẽ nghe thấy tiếng tiêu buồn-bã hơn ngày thường. Nhưng giá ta đang vui (như khi cháu được tin thi đỗ chẳng hạn) ta sẽ thấy tiếng tiêu ấy không còn buồn bã như thế nữa.

Cháu bảo rằng cháu không thấy bài thơ ấy hay, vì bài thơ ấy không gây được rung-cảm trên tâm-hồn cháu. Đúng như thế. Nhưng không phải vì cháu không rung-cảm mà cháu có thể nói rằng bài thơ kia thiếu mất yếu-tố tình-cảm. Không! Đối với chú, tình- cảm bài thơ ấy rất dồi-dào. Trong một bài thơ đạo, tình-cảm không phải là những thứ tình- cảm đau khổ vui buồn nặng-nề và phàm-tục. Tình-cảm ở đây là những tình-cảm siêu-thoát, an-lạc, mà chỉ những tâm-hồn thanh-tịnh mới cảm thấy được. Mang một tâm-hồn trĩu- nặng những tình-cảm thế-nhân mà đọc thơ giải-thoát thì làm sao mà rung-cảm, mà nhận được cái hay, hở cháu?

Cho nên người xưa rất thận-trọng trong việc đọc thơ. Họ đọc thơ cũng như đọc kinh. Trước khi xem một bài thơ, có người đã ăn chay ba bốn hôm, tắm rửa sạch-sẽ. Họ ngồi bên án-thư, đốt trầm lên cho không-khí thanh-khiết mới bắt đầu thưởng-thức bài thơ. Bao nhiêu hận-phiền lắng xuống. Tâm hồn họ lúc bấy giờ đã thanh-thoát lắm rồi. Như thế họ mới mong tiếp-nhận những tình-cảm siêu- thoát mà thi-nhân trang-trọng gửi cho họ. Giọng ngâm thơ có thể biểu-lộ một phần nào tính-cách siêu-thoát của những tình cảm trong thơ. Cháu có nghe người ta ngâm thơ trên các đài Phát-thanh đấy chứ? Cháu có thấy giọng ngâm nào cũng buồn, và nếu không buồn thấm-thía thì cũng buồn xa-vắng mênh-mông không? Đấy! Không buồn thì không hay, bởi vì chính tình-cảm của các tác-giả đều là những tình-cảm thế- nhân, nặng-nề, sầu đau ngàn kiếp. Thơ mà cứ một hướng đi như thế, chả trách có người đã bảo chất thơ là một chất sầu-não ma-túy, làm héo hắt tâm hồn con người.

Cũng bởi vì vậy mà chú ít ưa nghe những bản-nhạc sầu đau, những giọng thơ lâm-ly thống thiết. Nghe những thứ ấy, tâm hồn của chúng ta phải trở về sống với những tình cảm sầu đau, biết bao giờ vươn lên để sống trong thế-giới của tình-cảm siêu-thoát cho được? Hôm nào cháu ít việc, cháu thử lên chùa Báo-Quốc nhờ một thầy ngâm cho nghe theo điệu nhà Thiền một vài bài thơ ngày xưa, như bài “Vô biên phiền não đoạn” hay bài “Tào khê thủy” chẳng hạn. Cháu sẽ thấy giọng ngâm rất lạ kỳ, và nhạc-điệu mang rất nhiều màu-sắc giải thoát, siêu việt. Lối ngâm thơ ấy rất khó tập, chú bắt chước mãi mà hiện giờ mới chỉ tạm ngâm được thôi. Chính nhạc-sĩ Nguyễn-hữu-Ba đã nghiên-cứu kỹ-lưỡng về giọng ngâm ấy, và cũng công nhận là rất khó. Đôi khi phải tập nghe hằng năm cho quen tai mới bắt chước được đấy, cháu ạ.

Sở dĩ điệu ngâm khác hẳn giọng ngâm mà cháu thường nghe bởi vì có như thế mới diễn tả nổi những tình cảm siêu-thoát trong thơ. Mà trong khi nghe, chúng ta phải lắng lặng tâm tư, đem hết năng-khiếu của chúng ta ra để mà trực nhận. Hơn thế nữa, chúng ta phải biết sống với đời tâm-linh thanh-thoát. Phải thường thường gạt bỏ những mầu sống tình cảm thấp kém, để tập sống với những tình cảm cao thượng, giải-phóng. Có như thế, tâm hồn ta mới thanh- thoát, và có như thế ta mới trực-nhận được những tình cảm siêu-việt của bài thơ. Cháu không có rung cảm khi cháu đọc một bài thơ bởi vì cháu cách xa với tác-giả bài thơ quá. Nếp sống tình cảm của cháu còn cách xa nếp sống tâm-linh sâu xa của tác-giả quá. Cho nên, không có sự thông cảm, không có sự đồng thanh tương-ứng. Cháu “ghét” bài thơ là phải. Cháu bảo: “Cháu có cảm tình với tác-giả TIẾNG ĐỊCH CHIỀU THU bao nhiêu, thì nay cháu lại có ác-cảm với tác giả bài thơ kia bấy nhiêu.” Nhưng cháu có hiểu đâu rằng “Tiếng Địch Chiều Thu” phản chiếu một nếp sống tình cảm chưa lấy gì làm siêu-việt, vì thế rất gần với nếp sống tình cảm của cháu. Trong khi ấy, bài kia là một sản-phẩm gần đây của tác giả, lại phản chiếu một nếp sống tâm-linh giàu có và thanh thoát hơn nhiều. Giữa hai tác phẩm: một thời gian gần mười năm! Trong mười năm, tác-giả đã đi từ một nếp sống tình cảm tầm thường đến một nếp sống thanh-tịnh giải-thoát.

Đó chỉ là nói chuyện tình-cảm trong thơ. Nhưng thơ không phải chỉ là tình cảm. Thơ còn là hình bóng (images) nữa. Thơ mà không có hình bóng thì không còn vẻ đẹp. Những bài thơ hay tự cổ chí kim đều là những bài thơ mang đầy những hình bóng đẹp. Cháu đọc nhiều thơ chắc cháu đã nhận thấy như thế. Chúng ta thử đọc hai câu sau đây của Nguyễn-Gia- Thiều:

Sóng cồn cửa biển nhấp-nhô
Chiếc thuyền bảo ảnh lô-xô mặt ghềnh

Cháu có thấy đó là một hình bóng tuyệt- đẹp và tân-kỳ không? Qua hình-bóng đẹp ấy, chúng ta lại trực-nhận ngay được tính cách vô thường mong manh của cuộc đời. Đấy, những câu thơ như thế là những câu thơ hay; tác giả đã thành công. Nhưng trong một bài thơ đạo, hình bóng sẽ là những hình-bóng siêu-việt và linh-động hơn. Ta phải lột bớt những lớp màng mỏng trong con mắt ta thì mới nhận được những hình bóng linh diệu đó. Chú đã đọc nhiều bài thơ của các Thiền gia đời Lý đời Trần, đọc với một tâm hồn thanh-tịnh. Mỗi lần đọc là mỗi lần khám-phá. Có những hình bóng mà ban đầu chú đã không có thể nhận ra. Cháu thử đọc vài câu xem:

Càn khôn tận thị mao đầu thượng

Nhật nguyệt bao hàm giới tử-trung.

Dịch:

Càn khôn rút lại đầu lông xíu

Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mòng.

                                        (Ngô-Tất-Tố)

hay

Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận,

Liên phát lô trung thấp vị can.

Dịch:

Trên núi, ngọc thiêu màu vẫn nhuận,

Trong lò sen nở sắc thường tươi.

(Ngô-Tất-Tố)

Những hình bóng đó có thể không là gì hết đối với cháu, nhưng đối với chú lại là những hình-bóng tuyệt-kỳ. Cháu có nghe nói đến hình bóng “cành mai” của Mãn- Giác thiền-sư không? Đấy, đó cũng lại là một hình bóng của lối thơ giải-thoát. Nếu cháu chịu khó đi sâu vào đời sống tâm-linh nội hướng, cháu sẽ khám-phá được nhiều mới lạ khi cháu đi vào trong nền văn-nghệ đạo học. Chưa chừng cháu sẽ có thể “đạt” hơn chú, và khám-phá nhiều hơn chú. Nhưng thôi, ta nói chuyện cũng đã lâu rồi, mà bài thơ thì chú chưa đề cập gì tới. Chú không tự- hào là đã hiểu và đã cảm được toàn thể bài thơ. Chú chỉ diễn tả một phần nào cái hiểu và cái cảm của chú mà thôi. Nếu những lời chú nói mà có thể làm cho cháu hé thấy một phần nào cái hay của bài thơ thì như thế chú cũng đã thành công vậy.

Bài thơ mà chúng ta đang nói đến đây, theo chú, đã có đủ hai yếu-tố để thành-công: đó là tình-cảm và hình- bóng. Chú đã nói cho cháu nghe qua quan-niệm về thi-ca của chú. Nhờ vậy, có lẽ chú sẽ diễn-bày nhận-xét của chú một cách dễ-dàng hơn.

Tác-giả bài thơ “Tôi sẽ xin rằng tất cả” đã muốn diễn-tả một trực-giác nội-tâm. Trực-giác nội-tâm ấy, nếu chúng ta miễn- cưỡng mà nói, là sự thể-nhận cái Ta rộng lớn và bao trùm tất cả vạn loại hữu-tình vô- tình. Cháu có thấy bài thơ chia làm hai đoạn rõ-ràng đấy không? Đoạn đầu trình-bày trực- giác đó, và đoạn kế tiếp là đoạn diễn-tả. Nếu đọc kỹ, cháu sẽ thấy đoạn sau này rất giàu hình-bóng và tình-cảm.

Chúng ta từ lúc sinh ra, ai nấy cũng đều mang theo một thứ trực-giác sai-lầm (nhà Phật gọi là tợ – hiện – lượng): đó là trực-giác ngã – chấp. Chúng ta tự tách riêng ra khỏi đại-thể bao-la, tự xem mình là một cá- thể biệt-lập, một cái Ta trường cữu bất biến. Thứ trực-giác sai lầm ấy là nguyên-nhân cho tất cả những tham vọng, ích kỷ và khổ đau. Đã có một cái Ta biệt lập (Ngã) cố nhiên cũng phải có những vật sở-thuộc của cái Ta ấy (Phi Ngã). Thế là đã có một ranh giới phân-biệt cái này và cái kia, ta và người. Ta tham cầu, là tham cầu cho cái Ta nhỏ bé. Ta vui, buồn, thương, ghét cũng là vì cái Ta nhỏ bé. Ta khổ đau cũng vì cái Ta nhỏ bé. Nếu nhận thức được (một cách thực nghiệm) rằng cái Ta nhỏ bé chỉ là giả-ảnh, ta sẽ thể nhập vào cái Ta rộng lớn tức là cái đại thể.

Nếu hỏi rằng “người muốn bao nhiêu
Tôi sẽ xin rằng “tất cả ”.

Đó là lối diễn tả. Nếu không muốn “tất cả”, tức là đã muốn một phần. Mà muốn một phần, tức là còn chấp có Ta và những cái thuộc về Ta, nghĩa là còn phân biệt những ranh giới ảo-vọng. Xin rằng “tất cả”, có nghĩa là nhận thấy mối liên lạc mật thiết giữa mình và muôn loài, hơn nữa ,là nhận thấy vạn vật là những hiện tường diệu dụng cùng chung bản thể nhiệm mầu:

Tôi tham lam hơn ngày xưa, tham lam tột độ,
Cả ngài, cả tôi, cả người thiên hạ.
Núi sông, cây cỏ,
Xuôi về sáng hôm nay, trong duy nhất nhiệm mầu.

Tham lam” ở đây không còn có nghĩa là tham lam nữa. Bởi vì trong đại thể duy-nhất làm gì còn có Ta và cái phụ thuộc vào Ta để mà tham lam. Cực-độ của sự tham lam chính lại là sự chấm dứt của tham lam vậy. Tất cả đều là cái Ta rộng lớn thì ngoài ra còn có gì nữa mà để tham lam? Cái tiểu-ngã đã về hợp nhất với đại-ngã. Nếu chưa trở về thì vẫn còn là những mảnh riêng biệt, khổ đau:

Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau
Tách ra ngoài đại thể !
Đã từ lâu, ngàn vạn đời,
Chúng tôi tự tìm, sờ soạng, trong ngục tù an vui.

Có phải cháu đã thắc mắc nhiều về những tiếng “ngục tù an vui” không? CÓ gì là khó hiểu đâu. Cháu nên nhớ rằng chúng ta, bất cứ là ai, bao giờ cũng muốn có một chỗ nương tựa, về tinh thần cũng như về vật chất. Về tinh thần, chúng ta mong muốn có một tình yêu bền chặt, một uy thế, một cái danh. Nhưng tất cả đều phờ phỉnh, đều vô thường, đều phản bội ta. Chính chỗ nương tựa cuối cùng của bao nhiêu người là sự nương tựa vào một đấng Tạo hoá cũng lại là mong manh, dễ đổ. Vì sao? Vì tất cả đều được xây dựng trên tư dục, trên ước mong. Về vật chất, ta lại càng thấy rõ. Tiền tài, sắc đẹp, là những thứ không thể nương tựa. Tất cả đều là những vô thường, phờ phĩnh, dối gạt. Ta nương tựa trên nó (nghĩa là nương tựa ngay trên dục vọng của chính ta) thì có ngày ta sẽ khổ đau, vì tất cả những thứ mà ta dựa nương đó, dù là tinh thần hay vật chất, đều là những thứ phải có ngày tan vỡ.

Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, chúng ta đã đi tìm một chỗ nương tựa cho bản thân ta. Bao nhiêu lần chỗ nương tựa tan rã là bấy nhiêu lần ta khổ đau sầu hận. Chỉ vì một nguyên nhân duy nhất: đó là vọng chấp hữu-ngã. Ta đã đi tìm toàn những chỗ nương tựa giả trá phờ phĩnh và tưởng rằng đó là những chỗ an vui của ta. Cứ như thế, ta loanh quanh luẩn quẩn mải với cuộc đời tư dục, không thoát ra ngoài được. Đó là một chốn ngục tù: ngục tù của dục giới. Lại cũng là ngục tù của bản ngã: cái vỏ cứng mà ta tự bọc mình vào chính là cái vỏ tự ngã ngăn cách ta với thế giới đại thể. Bao giờ ta thoát được vỏ cứng ấy, bao giờ ta không còn tìm những chỗ nương tựa an vui giả trá nữa, ta sẽ hoà mình vào với đại thể bao la.

Sáng hôm nay, em tôi trở về quỳ dưới phật đài
Mắt đầm đìa lệ.
Ôi! một linh hồn đi tìm bến đỗ
(Hình bóng của tôi xưa,
phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ!)

Hình ảnh của “người em” tức là hình ảnh của một con người đã bao nhiêu phen khổ đau vì cuộc thế vô thường. Đó là một con người, như muôn triệu con người khác, đã buồn đau sau bao nhiêu cuộc biến thiên, đã luống công tìm một nơi nương tựa lâu dài. Tất cả những nơi nương tựa căn cứ trên dục vọng mê lầm đều đã theo luật vô thường tan rã. Trong sự khổ đau vô biên của tâm hồn, con người chỉ biết quay về tìm sự an ủi vỗ về của tín  ngưỡng. Hình bóng của một con người mắt đầm-đìa-lệ trở về quỳ dưới Phật đài, cũng là hình bóng của một chiếc thuyền rã rời đi tìm bến đỗ. Đó cũng có thể là hình bóng của chính chúng ta, và của tác giả ngày xưa:

(Hình bóng của tôi xưa,
phiêu lưu ngàn năm, một hôm sầu khổ, khao khát bến bờ !)

Chúng ta hãy để yên cho người ta khóc! Nước mắt sẽ làm dịu bớt nỗi khổ trong lòng. Tín ngưỡng, tuy chưa phải là yếu tố tối hậu của giải thoát, nhưng là một thứ thuốc nhiệm mầu làm dịu bớt khổ đau:

Hãy để yên cho em quỳ lâu, rất lâu trên Phật điện.
Cho lệ em thầm lặng chảy, cho lệ em mặt sức tràn trề.
Cứ để yên cho quỳ lâu thêm nữa,
Đủ thì giờ cho lệ em khô ráo.

Biết bao nhiêu người đã tìm được sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Nhưng dù sao, tín ngưỡng vẫn là một phương tiện. Ở những tôn giáo thần truyền, tín ngưỡng đóng vai trò giải phóng con người. Ở đạo Phật, tín ngưỡng chỉ là tín ngưỡng. Tín ngưỡng cần thiết cho mọi chúng ta, những con người yếu đuối. Tín ngưỡng để bớt khổ đau, để chữa lành những vết thương tâm hồn mà ta đã mang lấy từ muôn ngàn kiếp khổ. Nhưng một ngày kia ta sẽ lành mạnh. Và có thể ta lại nối kiếp phiêu lãng tử sinh.

Nếu đã nhận thức được cái khổ của cuộc sống bồng bềnh phiêu dạt, ta sẽ không còn muốn trở về với kiếp đau khổ luân hồi. Ta sẽ tìm đường giải thoát. Nhưng giải thoát không phải chỉ là tìm kiếm sự an tĩnh của tâm hồn trong tín ngưỡng. Không! nếu tín ngưỡng là một phương tiện, thì mãi mãi nó vẫn là một phương tiện… Không thể để cho người ta an tâm trú ẩn trong túp lều phương tiện đó:

Bởi vì, người ơi, một sáng mai kia,
Tôi sẽ đến châm lửa vào túp lều nho nhỏ của em ở ven đồi,
Túp lều duy nhất còn lại của đời em.

Đấy, bao nhiêu kiếp khổ đau, rốt cuộc người ta đã rời bỏ tất cả những nơi nương tựa phĩnh phờ: chỗ nương tựa cuối cùng chỉ là một túp lều tín ngưỡng. Nhưng không lẽ để người ta an trú mãi trong túp lều nghèo khổ và tiêu cực đó. Cuộc đời đại ngã, không khổ đau, không ước vọng. Thời gian ẩn náu trong túp lều tín ngưỡng đã giúp người lành mạnh. Người đã đủ sức trở về. Chỉ cần một biến động cuối cùng, một sự khai ngộ để đưa người về cuộc sống. Túp lều sáng nay đã cháy và chỗ nương tựa cuối cùng tan rã.

Cho lửa cháy lên cao,
Cho tan hoang tất cả,
Cho chỗ nương tựa cuối cùng tan rã,
Cũng như chiếc bè trong đại dương tan rã.
Để vỏ cứng của hồn em, trong hỗn độn nhiệm mầu
Sẽ vở toang. Tràn trề ánh sáng.

Nếu cháu có đọc những sách thiền học, cháu sẽ thấy lối khai thị nhiệm mầu của các vị Tổ sư khi truyền tâm ấn. Còn gì hoảng hốt cho bằng khi thấy chiếc bè chở mình tan rã giữa đại dương? Còn gì khổ đau bằng khi chỗ nương tựa cuối cùng của mình tan rã? Sự hỗn độn ấy gây nên một trạng thái khủng hoảng. Ở đây không phải là một sự khủng hoảng thất bại mà là một sự khủng hoảng trưởng thành, một sự khủng hoảng vỡ da (crise de croissance), một sự thoát hình. Sự hỗn độn ở đây, vì vậy, là một sự hỗn độn nhiệm mầu. Và chính trong sự  hổn độn nhiệm màu ấy, vỏ cứng của bản ngã tan vỡ.

Dấu chấm sau chữ “toang” diễn tả sự đột biến một cách tài tình. Tiếp ngay đó là một kết quả rực rỡ tràn trề ánh sáng.

Bây giờ đây là một cảnh tượng đẹp đẽ, oai hùng và cảm động, cảnh tượng của thành công:

Tôi sẽ đợi em, bên ánh lửa hồng cháy rực của túp lều,
Nước mắt sung sướng chan hoà,
Tôi nhìn em

Những con người vừa được cởi mở bỗng nhiên đẹp hẳn lên bên ánh lửa hồng rực rỡ của chiếc lều bừng cháy. Hình ảnh tàn tích của bao nhiêu kiếp sống vô minh như đang bị thiêu đốt tan tành theo túp lều tranh cùng với những mảnh vỏ vỡ toang của bản ngã. Nước mắt ở đây không còn là thứ nước mắt sầu đau. Cái nhìn ở đây không còn có lời gì mô tả. Còn nói năng gì được trong cảnh tượng hùng vĩ của giờ giải phóng. Cái nhìn ở đây cô đọng và mênh mang, chứa đầy những ý nghĩa mà ngàn vạn lời nói đi nữa cũng không thể nào diễn tả cho được:

Nước mắt sung sướng chan hoà,
Tôi nhìn em

(Đến đây, ta trở về với ý tưởng đoạn đầu, ý tưởng của sự trực nhận đại ngã:)

Rồi khi cầm tay em tôi hỏi rằng “em muốn bao nhiêu
Tất nhiên em sẽ cười mà xin rằng “tất cả”.

Lẽ đương nhiên như thế; con người đã trở về với đại ngã, làm gì còn có ý tưởng phân biệt ra những biên giới mê mờ.

Đọc toàn bài, chúng ta thấy phát ra tự thâm tâm những rung-động tinh-khiết, nhẹ-nhàng. Cháu có thấy một hồn thơ bàng-bạc từ đầu đến cuối bài thơ không? Sự rung-cảm ấy chỉ có thể có khi chúng ta “thấy” được hình bóng và hiểu được ý thơ.

Về phương-diện hình thức, cháu thấy thơ hoàn-toàn tự-do. Tính-cách hạn- cuộc của số câu số chữ sẽ ngăn cản ý thơ rất nhiều. Dùng đến ngữ-ngôn đã là bị hạn-cuộc một từng. Nếu còn bị bó vào khuôn-khổ của số câu số chữ thì làm sao diễn tả những trực-giác nội tâm cho được. Tuy nhiên, đọc kỹ lại, cháu cũng sẽ thấy được âm điệu đặc biệt của lời thơ. Có một vài vần khép lại rất nhẹ. Nhưng tính cách phóng-khoáng thì chúng ta thấy rất rõ.

Cháu viết: “Hay đó cũng là một lối thơ như thơ báo Sáng tạo”.

Không, cháu đừng so-sánh. Thơ họ cứ để mặc họ. Lối thơ đạo đã có từ xưa, và hình- thức hoàn-toàn tự-do. Cháu tìm đọc một vài bài thơ xưa của các thiền-sư hay cứ đọc ngay thơ của Tagore, của Chrisnamurti, của Trang- Chu chẳng hạn, cháu sẽ thấy rõ.

Có lẽ chú đã viết nhiều quá. Nhưng chú vẫn thấy bất-mãn. Hình như chú không nói được gì. Chú đã biết trước như thế, bởi vì giảng thơ quả thật là một việc tàn-nhẫn. Có lẽ đây là lần đầu tiên mà cũng là lần cuối cùng trong đời chú. Tác-giả bài thơ có cười chú, chú cũng ráng chịu. Trước sau, chú vẫn vì cháu đấy.

Thôi năm hết Tết đến, nợ cháu chú đã trả rồi đấy. Chúc cháu một mùa Xuân mới thanh- tịnh, giải-thoát, và nhớ viết thơ cho chú.

Anh trai và em gái

Cách đây khoảng mười lăm năm, có một cậu con trai gốc Việt sinh ra và lớn lên tại nước Thụy Sĩ, đến Làng Mai vào những khóa tu mùa Hè. Mỗi năm cậu trai trẻ ấy đều đến Làng Mai tu tập cùng với em gái. Cậu ấy có nội kết và không truyền thông được với ba. Cậu rất giận ba cậu vì ba cậu thường hay la rầy và nói chuyện không ôn hòa với mọi người trong gia đình. Mỗi khi cậu làm điều gì sơ ý, thay vì tới hỏi han giúp đỡ và nói vài lời an ủi vỗ về để biểu lộ tình thương và sự chăm sóc của người cha thì ba thường hay la rầy cậu nặng lời. Ông thường la: ”Đồ ngu! Tại sao mày chơi để rồi bị té như vậy?” Cậu không hiểu được tại sao ba lại đối xử với mình như thế. Từ đó cậu trở nên hờn ghét ba và tự hứa với chính mình là sau này lớn lên sẽ không bao giờ hành xử như ba mình. Cậu nghĩ là sau này cậu sẽ làm hay hơn ba: “Nếu có con và nếu con mình có lỡ làm điều lầm lỗi, thiếu cẩn trọng như mình bây giờ thì mình sẽ tới giúp đỡ và an ủi nó thay vì giáng cho nó một câu nặng nề như ba đã đối xử với mình”. 

Một hôm tại chùa Cam Lộ, Xóm Hạ, trong lúc đang ngồi trông em gái của mình chơi giỡn với một đứa bạn gái khác trên võng. Cả hai đứa đu đưa qua lại trên võng rất khoái chí. Bất chợt chiếc võng bị lật, hai đứa té nhào xuống đất. Em gái của cậu bị trầy trên trán, chảy máu một chút. Thấy vậy, cậu rất giận dữ, định chạy tới la rầy em mình một trận. Cậu định nói: ”Đồ ngu! Tại sao mày vô ý như vậy!” Nhưng nhờ đã biết phương pháp tu tập, cậu lập tức trở về với hơi thở và thực tập đi thiền hành để chăm sóc cảm thọ của mình thay vì tới la em. Cố nhiên lúc đó đã có người tới chăm sóc em gái của cậu rồi. Trong khi đi thiền hành, cậu khám phá ra một điều mầu nhiệm. Cậu thấy rằng mình rất giống ba. Trong cậu có nguồn năng lượng muốn rầy la, muốn trừng phạt giống hệt như ba thường hay la rầy mình. Năng lượng đó cậu cho nó là sự ngu dại.

 

 

Khi người thương của quý vị đang khổ, thay vì đem tâm phiền giận để la rầy, trách móc thì quý vị nên tới an ủi, vỗ về, bày tỏ sự yêu thương, ân cần và nâng đỡ của mình để người kia bớt khổ. Cậu trai trẻ kia nhận thấy trong mình có nguồn năng lượng muốn trừng phạt giống hệt như ba mình. Nhưng cậu đã có khả năng dừng lại kịp thời. Đó chính là tuệ giác, là khả năng nhận diện được cái gì đang xảy ra trong mình và chung quanh mình. Cậu trai trẻ này mới mười bốn tuổi thôi, nhưng cậu đã có khả năng thực tập dừng lại và nhận diện được như vậy rồi. Cậu nhận thấy mình là sự tiếp nối rõ ràng của ba. Cậu đã tiếp nhận năng lượng tập khí muốn la rầy, trừng phạt ấy từ ba. Tiếp tục thực tập đi trong chánh niệm, cậu thấy rằng hạt giống giận trong cậu không thể nào chuyển hóa được nếu cậu không thực tập. Nếu như không thực tập bây giờ thì sau này cậu sẽ trao truyền năng lượng tập khí ấy lại cho con cái cậu. 

Đối với một cậu bé mới mười bốn hai tuổi mà đã có thể thực tập thành công như vậy, thì đó là sự kiện thật phi thường, thật mầu nhiệm. Cậu bé đạt được hai cái thấy chỉ trong vòng mười lăm phút thực tập thiền đi. Cậu nghĩ rằng khi về lại Thụy Sĩ, cậu sẽ chia sẻ cái thấy ấy với ba. Cậu sẽ khéo léo mời ba cùng thực tập thiền đi và thở trong chánh niệm cùng với cậu để cả hai cha con có thể chuyển hóa năng lượng tập khí tiêu cực ấy. Với cái thấy thứ ba, cậu đã làm tan biến cơn giận, nội kết đối với ba. Vì cậu đã hiểu ba cũng chỉ là nạn nhân của sự trao truyền. Có thể ba đã tiếp nhận những hạt giống tiêu cực từ ông nội. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy cậu bé ấy có khả năng đạt tới cái thấy thứ ba này.

Nếu một em thiếu niên có thể thực tập được như vậy thì chắc chắn là chúng ta đều có khả năng làm được như thế.

Pháp thoại trực tuyến: Bình An Trong Từng Hơi Thở, Bình An Trong Mỗi Con Người

Chúng ta phải làm gì để giúp đem lại bình an cho thế giới trong khi đại dịch Covid – 19 đang lan tràn khắp nơi và là mối lo âu, sợ hãi cho biết bao người trong hiện tại?

Câu trả lời là: Chúng ta phải bắt đầu từ chính tự thân. Chúng ta phải học làm thế nào để chính ta là sự bình an. Ta phải làm cho thân, cảm thọ, tri giác và cách ta suy nghĩ, nói năng cũng có bình an. Nếu ta biết cách làm thì ta sẽ tạo cảm hứng cho người khác cũng làm được như vậy. Và thế giới sẽ được bình an.

Nếu có nhiều căng thẳng, đau nhức trong thân thì ta sẽ không có bình an. Vì vậy ta phải thực tập để làm thư giãn sự căng thẳng và làm dịu đi sự đau nhức trong thân thì ta sẽ có nhiều bình an hơn.

Kính mời đại chúng có mặt và lắng nghe bài pháp thoại của thầy Pháp Dung với chủ đề “Bình An Trong Từng Hơi Thở, Bình An Trong Mỗi Con Người”. Buổi chia sẻ sẽ được truyền trực tiếp từ Thiền đường Thái Bình Dương – Tu viện Lộc Uyển, Làng Mai (Mỹ) vào lúc 19.00 thứ 7 ngày 18.9.2021 (giờ địa phương) vào khoảng 9.00 sáng Chủ Nhật ngày 19.9.2021 (giờ Việt Nam).

Để tham dự lắng nghe buổi chia sẻ qua Zoom, kính mời đại chúng bấm vào ô vàng dưới đây:

Tham dự trực tiếp qua Zoom

Meeting ID: 922 2793 2181

Mật khẩu: langmai

Hoặc theo dõi trực tiếp trên kênh Youtube Làng Mai với đường dẫn sau: