Nơi nương tựa vững chãi

Trích trong sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai

Nơi nương tựa vững chãi

Mỗi khi trở về sau một chuyến đi dài mệt nhọc, vừa mở cửa bước vào nhà là chúng ta lập tức thấy khoẻ nhẹ, thoải mái ngay. Cũng như sau một ngày làm việc, phải đối phó với những biến cố, những khó khăn của đời sống hàng ngày, khi được về nhà, được ngồi hoặc nằm nghỉ trong căn phòng của mình ta thấy rất dễ chịu, và căn phòng đó thật quen thuộc, ấm áp. Thực tập trở về hải đảo tự thân cũng giống như vậy. Trong ta có sẵn một vùng rất êm ấm, an ninh. Mỗi khi ta nương theo hơi thở để trở về vùng đất đó thì ta cảm thấy rất bình an, thấy mình được che chở. Cái đó gọi là hải đảo tự thân. Trước khi đức Thế Tôn nhập diệt Ngài cũng có dạy về điều này, nương tựa hải đảo tự thân.

Quê hương bình yên, êm ấm ấy vốn đã có sẵn trong tâm ta. Mỗi khi muốn trở về, ta không cần tốn tiền và mất thời gian đi máy bay hay tàu hỏa mà chỉ cần nương vào hơi thở có ý thức là chúng ta lập tức chạm chân tới miền đất an lành đó. Và quê hương ấy, căn nhà an toàn ấy đi đâu ta cũng mang theo. Tại vì cái hải đảo đó không nằm ở không gian hay ở thời gian ngoài kia mà nó nằm ở trong tâm ta.

 

 

Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải thường xuyên trở về với hải đảo tự thân của mình. Khi mở những cánh cửa giác quan thì chúng ta tiếp xúc với những cái thấy, cái nghe, cái xúc chạm từ bên ngoài. Những pháp trần này như những luồng gió thổi vào căn nhà của ta. Nó làm xáo trộn tâm ta. Cho nên khi trở về, chúng ta phải đóng bớt những cánh cửa giác quan lại.

Đạo Bụt nói tới hai loại tâm thức: một phần tâm thức lớn gọi là tàng thức; một cái thức nhỏ hơn gọi là ý thức, đây là cánh cửa mở ra đón nhận thế giới bên ngoài. Trong đời sống hàng ngày, những âm thanh, những hình ảnh, những bận rộn, lo toan, những ồn ào cụ thể ở bên ngoài sẽ đi vào trong ý thức để rồi rơi vào tàng thức. Nếu những ngọn gió đó mang nhiều ô nhiễm mà cứ ồ ạt thổi vào những cánh cửa giác quan của ta thì sẽ làm cho ta mệt mỏi. Những lúc ấy ta nên đóng cửa lại, ở yên trong “ngôi nhà của mình”. Duy trì hơi thở vào ra có ý thức trong khoảng vài phút thì tâm sẽ bình an trở lại. Đối với người biết thực tập thì chỉ cần một, hai phút là lấy lại được trạng thái cân bằng.

Mỗi khi lên giường tắt đèn đi ngủ, ta nằm nghiêng trong tư thế “Sư tử toạ” đó là thế nằm nghiêng về phía bên phải, trở về với ngôi nhà chân thật của mình và thở. Ta không còn nghe gì nữa, không nói gì nữa. Ta hoàn toàn trở về với chính mình và thở thật bình an. Sau vài ba hơi thở, tự nhiên căn phòng đó trở nên êm dịu, ấm áp, rất thoải mái. Nếu đã quen với phương pháp thở có ý thức, thì chỉ nội trong vài phút là tâm ta có sự lắng dịu và bình an. Và sự lắng dịu, bình an ấy sẽ thấm nhuần giúp nuôi dưỡng và trị liệu những khổ đau trong thân tâm ta.

Có những người không bao giờ cưỡng lại được sự rong ruổi. Họ không biết cách trở về hải đảo tự thân để được nuôi dưỡng. Chúng ta là những người có rất nhiều phước đức nên đã may mắn biết tới phương pháp theo dõi hơi thở để trở về nơi hải đảo tự thân. Và phải biết thêm rằng, nếu thực tập cho giỏi thì trong cái hải đảo tự thân đó vốn có sẵn chim muông, cỏ cây, hoa lá; có suối, bướm, hoa, trời xanh, mây trắng ở trong. Ban đầu ta nghĩ, chỉ có thế giới bên ngoài mới có mặt trời, mới có hoa lá cỏ cây. Nhưng kỳ thực, ở trong này cũng có. Và có khi nó còn đẹp hơn cả ở bên  ngoài. Chúng ta từng đi qua những giấc mơ, trong đó có những hình ảnh, những âm thanh còn đẹp hơn bên ngoài. Vì vậy, ở trong thế giới này cũng có thể có trời xanh, mây trắng. Và tất cả những cái đó đều là những hạt giống ta đã gieo, nay nó trở về và biểu hiện lên bề mặt ý thức. Mây và nắng không hẳn chỉ ở ngoài, mây và nắng nằm cả ở bên trong. Mỗi người phải biết tự chế ra mây, gầy ra nắng, để tới khi bên ngoài không còn mây, không còn nắng thì trong lòng mình vẫn đầy ắp mây trắng nắng vàng. Nhà thơ Mai Thảo đã viết: 

“Hãy chế lấy mây và gầy lấy nắng.
Chế lấy đừng vay mượn đất trời.
Để khi nhật nguyệt còn xa vắng,
Đầu hè vẫn có ánh trăng soi.”

Ánh trăng này là từ trong tâm chiếu ra. Hàng ngày, mỗi khi thực tập thiền hành, thiền toạ ; mỗi khi tiếp xúc được với những mầu nhiệm như nụ hoa, đám mây, giọt nắng, bầu trời xanh, thì tất cả những cái đó đều đi vào tàng thức của ta và trở thành “của để dành” của ta. Thay vì để dành tiền bạc thì ta để dành nắng, để dành mây, để dành niềm hạnh phúc, để dành sự bình an. Đó chính là tu tập.

 

 

Chăm sóc hải đảo tự thân

Có một dạo, cứ vào buổi trưa, sau nửa ngày làm việc tôi hay đi nghỉ một chút. Khi ấy tôi hay mở CD tụng kinh của Thượng toạ Tịnh Quang ra nghe khoảng năm mười phút để cho những bài tụng đó thấm vào trong lòng. Nhưng tới giai đoạn sau, tôi nghĩ rằng không cần phải nghe kinh nữa tại vì kinh đã ngấm sâu vào tàng thức của tôi rồi. Bên trong đã có sẵn nên không cần nhận từ bên ngoài nữa. Lúc đó, tôi chỉ nằm thở và để cho kinh ở trong tôi đi ra. Bấy giờ, sự ấm cúng từ bên trong đi ra còn lớn hơn là sự ấm cúng từ bên ngoài đi vào. Khi theo dõi hơi thở, có sự lắng dịu trong tâm thì ta thấy ở trong mình có đủ hết rồi, và ta không còn cần bất cứ một cái gì từ bên ngoài nữa hết. Rất mong rằng quý vị tập được thói quen này.

Tuỳ theo sự thực tập của ta mà hải đảo tự thân đó có thể trở nên đẹp đẽ tới mức nào. Cũng như khi bước vào một căn phòng sạch sẽ, có treo những bức tranh hay những bức thư pháp thì ta cảm thấy rất thích thú, vì căn phòng gọn gàng và đẹp đẽ quá. Ý thức của ta cũng như vậy. Nếu có tu tập thì trong tâm ta sẽ có hoa, có bướm, có thông reo, có suối chảy. Mỗi khi trở về, ta đều cảm thấy thoải mái, hạnh phúc. Mỗi ngày ta nên trở về nhiều lần. Ban đêm trước khi đi ngủ, nằm trên giường và vui thú với cái vùng an ninh đó. Chỉ có mình với mình thôi. Rất là khỏe.

Khi ta trở về với hải đảo tự thân, ta nuôi dưỡng hơi thở, sống với hơi thở và hơi thở sẽ làm cho thân tâm êm dịu. Bên trong ta có thể hơi có sự xáo trộn, nhưng khi đã trở về rồi thì với hơi thở, ta chăm sóc được thân và tâm, và sự xáo trộn đó sẽ lắng xuống. Chỉ cần trong một hai phút là ta hưởng được sự an tịnh của hải đảo bên trong rồi. Khi có hơi thở chánh niệm và sự lắng dịu rồi thì Tam bảo cũng nằm ngay ở trong đó. Và nương tựa vào cái vùng an ninh đó tức là đang nương tựa vào Phật, Pháp và Tăng. Giây phút đó là giây phút ta thật sự đang Quy y, đang được che chở bởi Bụt, Pháp và Tăng. Quy y không phải là chắp tay lại và chỉ đọc ba câu con về nương tựa Bụt, Pháp, Tăng. Quy y là trở về với hơi thở chánh niệm, an trú trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây. Khi tâm bình an, thoải mái tức là khi ấy trong ta đang có Tam Bảo che chở. Trong hải đảo tự thân luôn luôn có Bụt, Pháp, Tăng; có đạo hữu, tổ tiên, bạn bè ở trong.

 

 

Pháp thoại trực tuyến: Nương tựa hải đảo tự thân

“Khi thấy mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm, khó khăn hoặc đang đánh mất mình, chúng ta có thể thực tập quay về nương tựa. Thay vì hoang mang, hốt hoảng hoặc để mình chìm đắm trong tuyệt vọng, chúng ta phải tin vào khả năng tự chữa trị, tin vào sức mạnh của sự hiểu biết và thương yêu trong chính chúng ta. Chúng ta gọi đó là hải đảo tự thân, là hải đảo của bình an, của niềm tin, của vững chãi, thảnh thơi và thương yêu. Chúng ta có thể quay về đó để nương tựa. Chúng ta không cần đi tìm ở một nơi nào khác. Hãy là hải đảo cho chính mình.”

Kính mời đại chúng trở về Học Viện Ứng Dụng Châu Âu – Làng Mai tại Đức để cùng có mặt và lắng nghe bài pháp thoại của sư cô Đoan Nghiêm với chủ đề “Nương tựa hải đảo tự thân“. Bài pháp thoại sẽ được phát trực tiếp qua Zoom và trên kênh Youtube Làng Mai vào lúc 9.00 sáng (Châu Âu) – vào khoảng 15.00 chiều (giờ Việt Nam) Chủ Nhật ngày 31.10.2021.

Để tham dự trực tiếp qua Zoom, kính mời đại chúng nhấp vào ô vàng dưới đây:

THAM DỰ LẮNG NGHE QUA ZOOM

Mật khẩu: langmai

Dưới đây là liên kết của bài pháp thoại trên kênh Youtube Làng Mai:

 

 

 

Lắng nghe đất mẹ – Món quà mừng ngày tiếp nối thứ 95 của Thầy

Trong cuộc đời hành đạo của mình, Sư Ông đã dành nhiều tâm huyết để trao truyền, giảng dạy và nhấn mạnh về sự tương tức giữa chúng ta và đất Mẹ. Đất Mẹ là chúng ta, chúng ta là đất Mẹ. Sư Ông dạy chúng ta thương yêu đất Mẹ như chính bản thân mình, bởi vì đất Mẹ là hiện tại và cũng là tương lai của chúng ta và con cháu chúng ta. Cuốn sách Tâm tình với Đất Mẹ là một hướng dẫn cụ thể của Sư Ông về sự thực tập thương yêu, tôn trọng và bảo hộ đất Mẹ.

Từ những năm đầu của thập niên 70, Sư Ông đã tiên phong trong lĩnh vực bảo hộ môi trường sinh thái. Người đã vận động và tổ chức cho Phật tử, các nhà khoa học và các cộng đồng địa phương trong việc chăm sóc và bảo hộ đất Mẹ. Sư Ông dạy rằng bước đầu tiên trong việc chăm sóc tự thân và chăm sóc hành tinh của chúng ta chính là sự thực tập lắng nghe sâu. Đây là một hành động mang tính cách mạng trong thế giới đầy huyên náo và ồn ào của xã hội hiện đại.

Để bày tỏ tình thương và lòng biết ơn đến Sư Ông nhân ngày tiếp nối thứ 95 của Người, chúng ta đã được mời cùng thực tập và chia sẻ với nhau về sự chăm sóc, bảo hộ đất Mẹ của mình; cùng nhau học hỏi các phương cách hiệu quả hơn trong sự thực tập này. Trong đó, quan trọng nhất chính là cách chúng ta thực tập lắng nghe chính mình, lắng nghe người thương và lắng nghe đất Mẹ – qua một phương cách của riêng mình. Sự thực tập chánh niệm của mỗi chúng ta chính là món quà quý giá nhất mà ta có thể dâng lên Người để ăn mừng ngày tiếp nối.

BBT đã nhận được những bức thư chia sẻ về sự thực tập này với hình thức của những bài viết, bài thơ, hình ảnh, bức tranh… Tất cả đã được BBT gom lại và gửi tới Sư Ông nhân ngày tiếp nối năm nay.

Kệ truyền đăng trong Đại giới đàn “Qua Bờ” từ 1-4/10/2021

Quý thầy, quý sư cô Giáo thọ mới:

Trong khoá tu an cư kiết đông 2021 “Vô phân biệt trí” tại Lộc Uyển, Tăng thân đã trao đèn cho 2 thầy dưới đây: 

1. Thầy Thích Chân Pháp Giới

(Lê Anh Tuấn)

Pháp mầu Như Lai người đã tỏ

Giới châu, tâm ấn, liễu vô sanh

Kế thế, truyền đăng dòng sư tử

Thừa tiếp Tâm tông đạo quả thành

2.Thầy Thích Chân Trời Ngộ Không

(Michael Becka)

Ngộ tâm chẳng thuộc thời gian

Không môn nào phải rộn ràng đến đi

Đá mòn mưa pháp khắc ghi

Thiên nhiên nở đóa tường vi cho đời.

Trong đại giới đàn “Qua Bờ” 2021 có những các thầy, các sư cô dưới đây:

1. Thầy Mãn Thức

(Phan Văn Tư

Pd: Tâm Duy)

Trí mầu hoa tạng đã mãn khai
Thức tỉnh hồn say thoát mộng dài
Nắm giữ luật nghi trì mật hạnh
Bồ đề ngự trị giữa trần ai.

 
 

2. Thầy Chân Pháp Thắng

(Đào Hoàng Long

Pd: Tâm Giác Thanh)

An nơi hiện pháp công phu

Nghĩa trả ơn đền tối thắng tu

Đã thấy quê nhà khương kiện bước

Rừng xanh mây bạc cảnh nhàn cư

3. Thầy Chân Pháp Nhiếp

(Pd: Tâm Thọ Bấu)

Pháp mầu truyền lại còn nguyên        
Bao môn nhiếp phục tinh chuyên thở cười
Tới về từng bước thảnh thơi
Trăng thu sáng tỏ chân trời lặng thinh.

4. Thầy Chân Trời An Lạc

(Pd: Tâm Phương Lâm)

Mây tan sấm lặng thấy chân trời
Ra vào an lạc chốn thảnh thơi
Thương yêu nuôi lớn thời thơ ấu
Thở cười sâu lắng mới tinh khôi

5. Thầy Chân Trời Sáng Tỏ

(Lê Minh Cường

Pd: Tâm Nguyên Phước)

Chân trời sáng tỏ đèn tâm

Thở đi nhận diện báo ân hai dòng

Sát na ẩn hiện trùng trùng

Nhìn sâu tự tánh duyên nhân như là.

6. Thầy Chân Trời Tinh Khôi

(Mai Văn Khẩn

Pd: Tâm Thiện Phát)

Chân trời chứa cả thân tâm
Tinh khôi phụng hiến Từ ân trọn đời
Bước chân hơi thở thảnh thơi
Nhìn sâu hiện pháp sáng lời dấn thân.

7. Thầy Chân Trời Tĩnh Lặng

(Nguyễn Văn Sơn

Pd: Tâm Quảng Thái)

Trời khuya vang vọng tiếng chuông ngân

Tĩnh lặng sáu căn gột sáu trân

Đi vào thiền định không vô tướng

Dứt trừ vọng kiến trở về chân

8. Thầy Chân Trời Bao Dung

(Pd: Tâm Quảng Hội)

Chân trời thương hiểu bao dung
Đệ huynh hôm sớm thuỷ chung một dòng
Bước chân địa xúc rỗng không
Đoá hoa hàm tiếu mây hồng có nhau

9. Thầy Chân Trời Tuệ Chiếu

(Pd: Tâm Thanh Trung)

Chí trai cân cả đất trời
Sẵn gươm trí tuệ vào đời độ sinh
Chớ quên soi chiếu lại mình
Chứng nên Phật quả hoàn thành nguyện xưa

10. Sư cô Thích Nữ Chân Quán Nghiêm

(Phan Thị Ngọc Hải

Pd: Tâm Diệu Ngọc)

Chân tướng mài trong ánh lửa hồng
Quán
giới Nghiêm lòng mãi sáng trong
Ngày đêm an trú trên thánh địa
Tự tại rong chơi đến thoả lòng.

11. Sư cô Thích Nữ Chân Tiếp Nghiêm

(Phạm Thị Ngoan

Pd: Tâm Quảng Lê)

Tay Bụt trao truyền nguyện tiếp nhận

Chân pháp an ban giữ nghiêm thân

Rừng thiêng bến cũ cùng quay gót

Ngàn thông khe suối vẫn reo mừng

12. Sư cô Thích Nữ Chân Vũ Nghiêm

(Lê Thị Kim Phương)

trụ phô bày muôn sắc thắm

Lăng già ảnh chiếu cảnh trang nghiêm

Vạn Pháp ẩn hiện tùng duyên khởi

Đất trời hoà tấu khúc tịch nhiên.

13.  Sư cô Thích Nữ Chân Điều Nghiêm

(Lê Thị Hương

Pd: Tâm Diệu Huệ)

Chân thân có mặt tại phàm thân
Điều phục tâm ta hiện rõ dần
Nghiêm tịnh một đời tam tuệ học
Hoàn thành bổn nguyện đáp bốn ân.

14. Sư cô Thích Nữ Chân Dự Nghiêm

(Nguyễn Thị Cẩm Vân

Pd: Tâm Quảng Ngọc)

Hội vui về tới dự trang nghiêm

Bến đỗ tâm linh mãn thệ nguyền

Thân giáo diễn bày pho kinh sử

Đạo tình nuôi lớn đoá bạch liên

15. Sư cô Thích Nữ Chân Cương Nghiêm

(Dư Thị Thủy

Pd: Tâm Nhuận Ngọc)

Cương lĩnh người tu em nắm được

Nghiêm thân vui bước mặc đường xa

Hoa sen vẫn nở hồn tươi thắm

Cát bụi trần gian chẳng bỏ lòng

16.  Sư cô Thích Nữ Chân Ân Nghiêm

(Trần Thị Hồng Phấn

Pd: Tâm Diệu Quỳnh)

Chân vững chãi giữa miền đất tịnh
Ân luôn là chất liệu chuyển tâm
Nghiêm trang nuôi Đại nguyện nơi lòng
Sống viên mãn, trăm năm hiện tiền.

17. Sư cô Thích Nữ Chân Trừng Nghiêm

(Phạm Thị Hoa

Pd: Tâm Thục Huệ)

Tâm trừng thanh ý sáng

Niệm định giữ nghiêm minh

Đất trời nuôi chí lớn

Hoa tuệ hé môi cười.

18. Sư cô Thích Nữ Chân Tu Nghiêm

(Phime Hau Wan Lee

Pd: Tâm Thanh Phong –

Soft Breeze of the Heart)

海衆同修終一味 Chân tu nhất một niệm
莊嚴實地所歸依 Nghiêm hạnh đạo từ tâm
常行 一向如持地 Ưu đàm hoa vẫn nở
建立安般絕是非  Lục độ ngát hương trầm.

19. Sư cô Thích Nữ Chân Hiệp Nghiêm

(Bùi Ngọc Hân

Pd: Tâm Huyền Vi)

協 女 出 釋 女 Hiệp nữ xuất thích nữ

嚴 身 現 戒 身 Nghiêm thân hiện giới thân

功 夫 乘 法 寶 Công phu thừa pháp bảo

處 處 潤 洪 恩 Xứ xứ nhuận hồng ân

20. Sư cô Thích Nữ Chân Thương Nghiêm

(Lê Thị Hạnh

Pd: Tâm Liên Hoa)

Chân trời sáng rỡ bước chân thiền
Lòng thương nuôi trí rộng vô biên
Nghiêm trang dâng Bụt tròn cuộc sống
Liên hoa một nụ, nở hồn nhiên.

21. Sư cô Thích Nữ Chân Her Xuan

(Tan Lay Kuang)

六和爲禪杖 Lục hoà thường quán chiếu
遇義玄無憂 Ái ngữ là huyền âm
舉足登聖地 Dựng xây tình huynh đệ
含笑視春秋 Hợp xướng cùng tăng thân.

22. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Thanh Lương

(Pd: Tâm Giác Chúng)

Chân Trăng toả chiếu Thanh Lương
Nhìn sâu mặc cảm tỏ tường nẻo ra
Thở đi pháp trở về nhà
Đầu kia sen nở ngát toà hương thơm.

23. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Huyền Diệu

(Pd: Tâm Nhật Thuyên)

Thanh lương cổ nguyệt minh hoàn lộ
Gia cơ tông chỉ kiến huyền quan
Vô sanh pháp nhẫn an thường trụ
Diệu khúc hòa âm cử xướng tu

24. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Bích Nham

(Pd: Tâm Liên Tú)

Chân Trăng toả chiếu Bích Nham
Non sông cẩm tú chim ngàn về chơi
Lắng nghe ái ngữ không lơi
Khổ đau vượt thoát vào đời có nhau

25. Sư cô Thích Nữ Chân Trăng Phổ Đà

(Pui Wah Camilla Law

Pd: Peaceful Direction of the Heart)

誓日普陀靈鷲山
法音處處利天人
家歸一步千方月
一步同名報衆恩

Trăng treo trên núi Phổ Đà
Vững thân thiền định tâm hoà cùng trăng
Ta bà tịnh độ đồng thanh
Chân Tăng, chân Bụt đồng hành dạo chơi.

Các vị giáo thọ cư sĩ mới:

1.  Chân Minh Hiện

(Trương Thị Anh Phương)

Tâm an rạng ánh trăng rằm

Thủy mưa cam lộ rã vành lưới mê

Minh vương hạt giống Bồ-đề

Hiện pháp lạc trú đường về bổn môn.

2.True Emerald Ocean – Juliete Hwang

When spirit shines with emerald-pure light
Containing rivers, the vast ocean swells
The Bodhi tree is here, right in plain sight
Each bow we heal with the ancestral bell

3.Chân Chánh Uyển

(Trần Hoàng Phương)

Tâm Bụt tâm con vốn không hai

Quang rạng chơn như tọa liên đài

Chánh kiến ba thân vươn trời rộng

Uyển vườn tuệ giác đã đơm bông.

4.Chân Lưu Phong (True Flowing Tradition)

Lê Chân Tâm (Phi)

Tâm cẩn trọng tư duy chánh ngữ

Nụ hoa cười khởi niệm vô tư

Sống chết một đời không hệ lụy

Chân lưu phong rỗng thể thái hư.

5.Chân Lương Uyển

(Phan Thị Thương Châu)

Chân Lương Uyển chân không thường tại

Tâm Bảo Ngọc diệu thể bất sinh

Niệm, định công phu mặt trời tuệ

Vượt ái sông mê lộ chơn hình.

6.True Land of Happiness (Chân Lạc Độ) (David Hughes)

Grass roots in land twice-blessed by damp and sun
True happiness finds root right here right now
Its voice invites us to no longer run
Our gentle step on earth imprints our vow

7.True Buddha Mountain (Chân Phật Sơn)  (Alex Cline)

The bliss of silence is the Buddha jewel
The wind through pines reveals the mountain’s call
Transcending ebb and flow, all passions cooled
In praise or blame the moon’s still free to soar

8.True Ocean of Jewels (Chân Châu Hải) (Natascha Bruckner)

In oceans lie the rivers, clouds and rain
True jewels refracting light that wakes the deep
Compassion heals by embracing pain
Good friends reveal the path beneath our feet

9.True Land of Joy (Chân Hỷ Độ)

(Theodate Lawlor)

Gardens of joy bloom from Earth’s living crust
Across the land people eat, laugh and play
To harvest fruit we sow patience and trust
And sing to stars that turn to light of day

10.True Ocean of Grace (Chân Ân Hải)

(Joseph Reilly)

The sound of grace bends the wind of the mind
Oceans bring rain to quench the flames of fear
The roots that dig down deep know what they find—
Earth penetrates them all with love right here

11.True Land of Fortunes (Chân Hạnh Độ) 

(John Wadsworth)

Fortunes beginningless and without end
When we maintain virtue within this land
The wooden fish drum’s even beat now blends
With rising tide that floods the shifting sand

 

12.True Lotus Concentration (Chân Liên Định)

(Brian Otto Kimmel)

The beaded drop on lotus leaf now glides
In concentration learning how to fall
Not long nor short in motion it arrives
And chants in silence water’s native call

13.True Mountain of Spirituality (Chân Linh Sơn) (Susan Glogovac)

Fresh mountainflanking flowers fetch dawn dew
A spirit-breath now heals across the land
Each solid step arrives at life still new
Our boundless heart love’s refuge here expands

 

14. True Source of Treasure (Chân Bảo Nguyên)

(Joseph Spaeder)

The stream’s high source continues clouds and snow
True nature’s treasure lies within its flow
The ground of mind is clear and free as is
It has no net or view, just letting go

 

Trái Tim Tương Tức

Sư cô Chân Đức

Mùa an cư năm nay (17.9.2020-15.12.2020), đại chúng đã có cơ hội nhìn sâu vào chủ đề “không phân biệt” dưới góc nhìn tâm phân biệt biểu hiện nơi cá nhân mình và sự biểu hiện của nó trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội để tìm cách làm lớn mạnh hạt giống không phân biệt trong mỗi người chúng ta. Chân Đức xin chia sẻ dưới đây một chút những gì mình đã học hỏi được.

 

 

Trong bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, thầy có nhắc đến cuộc thí nghiệm do một cô giáo người Mỹ thực hiện trong lớp học với học sinh người da trắng thuộc các gia đình trung lưu. Cô giáo đã chia lớp học ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các em mắt xanh, và nhóm thứ hai gồm các em mắt nâu. Trước tiên cô bảo các học sinh mắt xanh rằng vì có mắt xanh nên các em thông minh, và bảo các em học sinh mắt nâu là vì mắt nâu nên các em không thông minh. Khi Chân Đức nghe nói về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức nghĩ thầm: “Một nhà giáo sao lại có thể làm như vậy?”. Cô giáo cũng có nói rằng cô cảm thấy không thoải mái chút nào trong suốt cuộc thí nghiệm, nhưng cô nghĩ rằng nó rất đáng công để thử. Các em học sinh sẽ có thể học được một bài học thực tế từ đời sống thật.

Sau khi các em học sinh mắt xanh nghe nói tính thông minh có thể được căn cứ theo màu mắt, sự tự tin của các em gia tăng và các em học khá hẳn lên. Trong khi đó, các em học sinh mắt nâu mất hết tự tin và học kém đi. Ngày hôm sau, cô giáo lại nói với các em điều ngược lại làm sự tự tin của các em học sinh mắt nâu tăng lên, và các em mắt xanh thì mất hết tự tin. Cuối cùng, cô cho cả lớp biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm. Sau đó, cả lớp đều học khá hẳn lên vì các em đều nhận ra rằng khả năng học tốt là một khả năng bẩm sinh, có sẵn trong mỗi cá nhân. Một điều quan trọng khác nữa mà các em học được là không nên kỳ thị người khác vì vẻ ngoài của họ.

Cô giáo theo dõi học sinh trong lớp cho đến khi các em trưởng thành. Sau khi các em đã ra đời đi làm, các thành viên trong lớp vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm về sự thực tập không kỳ thị theo cách thức mà người da trắng tầng lớp trung lưu thường không làm.

Sau khi nghe chia sẻ về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức có dịp nhìn vào tâm phân biệt của chính mình và tự hỏi: “Mình có đánh giá người khác dựa vào bề ngoài của họ không?”. Chân Đức bắt đầu thấy mình phân biệt như thế nào khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Khi thấy một sư cô hay một thầy mà Chân Đức có ấn tượng tốt, trong lòng Chân Đức ghi nhận “mình thích người này”, trong trường hợp ngược lại thì “mình không thích người này”. Chân Đức không thấy người ấy trong hiện tại như chính họ. Đây là một tập khí sâu dày mà Chân Đức có thể sửa đổi bằng cách dùng chánh niệm quán chiếu về cảm thọ và tri giác. Trong những buổi pháp đàm sau bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, quý thầy, quý sư cô và nhiều vị thiền sinh đến từ các quốc gia khác nhau đã chia sẻ về tâm phân biệt biểu hiện dưới kinh nghiệm cá nhân của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc. Thí dụ như ở Việt Nam, người miền Nam phân biệt người miền Bắc; tại Guatemala, người gốc Latinh phân biệt người bản địa.

Trong một đoạn video ngắn do thầy Pháp Linh chia sẻ, chúng ta nhận thấy trẻ con có thể kỳ thị chính mình dựa trên vẻ bề ngoài. Một em bé da màu có thể nói rằng con búp bê da màu là không đẹp, con búp bê da trắng mới đẹp. Người ta có thể mất tự tin vì những thông điệp nhận được từ xung quanh. Một sư cô sang Úc tị nạn nói với Chân Đức rằng trở ngại lớn nhất của sư cô là mặc cảm sâu dày mình là một người tị nạn. Sư cô đã nhận ra việc chuyển hóa mặc cảm tự ti ấy có ý nghĩa đến mức nào. Chân Đức cũng nhận ra rằng việc làm người khác tự tin hơn quan trọng đến thế nào. Có những người vì vẻ bên ngoài hay vị trí xã hội (thí dụ người tị nạn) bằng cách này hay cách khác đã nhận được thông điệp rằng họ là thấp kém. Họ đã nhận thông điệp ấy từ khi còn thơ ấu, hay có khi trước đó nữa, do tổ tiên trao truyền lại. Bởi vì tổ tiên của họ có thể cũng đã nhận cùng một thông điệp ấy.

Thầy Pháp Linh cũng chia sẻ một đoạn video với một thí nghiệm khác được tiến hành ở Ba Lan. Ở đó, người tị nạn từ Trung Đông, Syria được sắp xếp thành cặp với người Ba Lan. Một người Ba Lan bản xứ ngồi đối diện với một người tị nạn, và họ chỉ ngồi nhìn vào mắt nhau, không nói năng hoặc suy nghĩ gì cả. Đã có một sự cảm thông vượt thoát ngôn từ được thiết lập giữa hai người, một sự thấu hiểu lẫn nhau vượt lên trên giới hạn của kiến thức và tâm phân biệt. Chúng ta học từ Bồ tát Quán Thế Âm cách nhìn bằng con mắt từ bi, và đây là khả năng mà tất cả loài người chúng ta đều có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tập luyện qua những tương tác hàng ngày, để có thể nhận ra khi nào chúng ta đang không nhìn bằng mắt thương.

 

 

Chân Đức cũng có dịp lắng nghe vài cô thiền sinh da đen, thành viên của tăng thân, qua Zoom. Nhóm có bốn người, hai người da trắng và hai người Mỹ da đen. Sau một lần họp mặt, Chân Đức mời một thầy người Tây phương hướng dẫn lần gặp kế tiếp vì nghĩ rằng thầy làm khá tốt. Thầy ấy từ chối và bảo rằng tại sao chúng ta không mời một người khác? Vì thế Chân Đức đã mời một cô người da đen và thấy cô đã hạnh phúc như thế nào khi được mời làm chủ tọa buổi lắng nghe sâu sau đó.

Năm 2016, khi Chân Đức đến Hội Chủng viện Thần học ở New York đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp, tại đó có lễ khánh thành một phân khoa mới với ba giảng viên là người da đen. Chúng tôi được cho biết là Hội dự định sẽ có 50% người da màu trong phân khoa. Ở đây, người ta muốn gửi đi một thông điệp mới thay thế cho thông điệp cũ mà mọi người đã tiếp nhận từ lâu nay là một người da đen không học giỏi bằng một người da trắng. Chúng ta có thể cho rằng hướng đi này là phù hợp với đạo đức. Nó không phải là việc sửa sai quá khứ mà hơn thế nữa, nó cung cấp cho xã hội một cái nhìn mới.

Một số thành viên tăng thân người da đen và da màu đặt câu hỏi là tăng thân của chúng ta góp phần như thế nào trong thông điệp này? Ai trong chúng ta cũng muốn đem giáo pháp chia sẻ cho đồng bào của mình. Các thầy, các sư cô người Việt muốn đem pháp môn Làng Mai về chia sẻ ở Việt Nam; các thầy, các sư cô người Trung hoa muốn đem pháp môn Làng Mai về Trung quốc, vậy thì lẽ đương nhiên người Mỹ da đen cũng muốn chia sẻ pháp môn với đồng bào người Mỹ da đen của họ. Ở Baltimore, tăng thân người da màu đã sở hữu được một nhà thờ cũ, đủ rộng rãi cho vài trăm người, biến nó thành một nơi mà người da đen và người da màu có thể đến với nhau như một tăng thân, cùng chia sẻ và tham gia các sinh hoạt văn hóa. Họ nói rằng các pháp môn cần được chia sẻ trong một bối cảnh hoàn toàn không mang tính tôn giáo.

Ngôn ngữ sử dụng để chia sẻ giáo pháp phải phù hợp với người tiếp nhận. Do đó, khi giới thiệu sự thực tập cho người da màu, tiếng Mỹ được sử dụng có thể sẽ rất khác với tiếng Mỹ dùng giới thiệu pháp môn cho người da trắng, là nhóm của đa số. Người sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất cho người da màu chính là người da màu. Giáo pháp luôn luôn nhu nhuyến như thế. Cũng như ở Việt Nam, giáo pháp đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa Việt thời trước đạo Bụt, như bàn thờ Tổ tiên chẳng hạn. Ở Tây Tạng và Nhật, đạo Bụt cũng tiếp thu văn hóa của các nước này. Ở Tây phương đạo Bụt cũng cần phải như vậy. Có nghĩa là người Mỹ da đen, người Mỹ bản xứ… cần một đạo Bụt thấm nhuần văn hóa Mỹ. Bạn có thể thắc mắc là: chúng ta không thể chỉ có một đạo Bụt Bắc Mỹ duy nhất cho tất cả mọi người tới từ bất cứ nguồn gốc nào hay sao? Không ai muốn có sự chia rẽ, càng có nhiều điểm chung càng tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn cần chăm sóc những nhu cầu riêng của mình. Nhưng nếu thực sự muốn làm lớn lên tâm không phân biệt của mình, chúng ta cần chăm sóc những nhu cầu riêng này trong tinh thần tương tức “hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi, và khổ đau của bạn cũng là khổ đau của chính tôi”.

Chúng ta công nhận nhu cầu của người Mỹ da đen trong việc phát triển một ngôn ngữ mà họ thấy phù hợp cho chính đồng bào của họ. Thế nhưng sau cùng, chúng ta cũng vẫn cần đến với nhau. Thí dụ như trường hợp những khóa tu cho nhiều lứa tuổi đã được tổ chức. Chúng ta cần phong trào Wake Up của người trẻ bởi vì những người trẻ có những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều đó không ngăn ta tổ chức các khóa tu cho mọi lứa tuổi để tất cả mọi người có thể cùng chia sẻ kinh nghiệm và sự thực tập với nhau. Ai thực tập niệm, định, tuệ cũng sẽ có sự giác ngộ. Sự giác ngộ ấy vượt thoát màu da, chủng tộc và, một cách rất tự nhiên, sẽ mang mọi người đến với nhau.

Trong bài pháp thoại về lập trường đạo đức kiên định (moral courage), sư cô Lăng Nghiêm chia sẻ về khuynh hướng thủ thế tiềm ẩn trong ta, về bản năng bảo tồn bản sắc nằm sâu trong mỗi chúng ta. Thật khó để chúng ta đôi khi nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác nếu như ta không có tuệ giác tương tức. Lập trường đạo đức kiên định là khả năng buông bỏ tự tánh riêng biệt của ta. Sư cô Giác Nghiêm cũng nói về ao ước nguyên thủy và cái sợ nguyên thủy làm ta không có khả năng hiểu và chấp nhận người khác.

Sư cô Thuận Nghiêm nói về việc ta sinh ra trong những đặc quyền hoặc trong sự thua thiệt như thế nào. Tương lai của một em bé sơ sinh da trắng trên phương diện giáo dục, vị trí xã hội, chăm sóc y tế hơn hẳn so với những gì  mà một em bé sơ sinh da đen sinh ra trong cùng một thời điểm tại nước Mỹ nhận được.

Trong khóa an cư năm nay, Chân Đức có ý thức hơn về những khổ đau do sự phân biệt chủng tộc gây ra trong thời đại của chúng ta. Chân Đức bắt đầu thấy, trong tư cách là một người thực tập, mình có thể làm gì để gửi một thông điệp khác ra thế giới. Chân Đức có thể có chánh niệm hơn về tâm phân biệt của mình. Đôi khi sự phân biệt cần thiết và hữu ích, nhưng có lúc nó lại dẫn đến những tri giác sai lầm và khổ đau. Trong một buổi vấn đáp, thầy Pháp Biểu có nói rằng ngôn ngữ tự nó đã có tính phân biệt. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ để phân biệt ta nên để ý một chút. Thí dụ như khi nói: “Các sư cô là như thế này…” hay “Các thầy là như thế kia…”, có thể sẽ có một ít sự thật trong câu nói mang tính khái quát hóa đó. Nhưng chúng ta đừng nên bị kẹt và nên biết là ta đang nói một câu có tính cách phân biệt. Ta cũng hay nói những câu như “các thầy, các sư cô người Việt” trong nghĩa đối đãi với “các thầy, các sư cô người Tây phương”. Có khi nói như vậy cũng có vẻ thích hợp, nhưng điều quan trọng là khi sự phân biệt ấy đi lên trong tâm thì ta phải tự hỏi chính mình về giá trị của nó và biết rằng ta đang khái quát hóa một điều chưa chắc đã 100% chính xác.

Trong khóa an cư này, Chân Đức cùng một thầy nữa có cơ hội thực tập lắng nghe sâu với một vài thành viên người da đen trong tăng thân. Lắng nghe sâu là một trong những pháp môn quý báu nhất mà Sư Ông đã trao truyền cho chúng ta. Và thật may mắn, trước khi đại dịch Covid xảy ra chúng ta đã có phương tiện truyền thông trực tuyến để có thể chia sẻ và lắng nghe nhau mà không cần phải di chuyển. Việc lắng nghe sâu là một yếu tố căn bản trong công tác xây dựng tăng thân. Nó cũng là bước thứ nhất và quan trọng nhất trong sự thực tập bao dung. Ta có thể hỏi người kia: “Bạn có thể nói cho tôi nghe tôi đã hành xử như thế nào làm cho bạn khổ?”. Chỉ cần lắng nghe sâu thôi chúng ta đã có thể biết mình cần phải làm gì cho tình trạng khá hơn. Chúng ta có thời gian. Nếu ta cần có ba buổi lắng nghe sâu thì ta không nên cố gắng dồn tất cả vào một buổi.

Loài người chúng ta có vẻ dẫn đầu tất cả các loài trong vấn đề kỳ thị. Việc ông George Floyd bị sát hại là một tiếng chuông cảnh tỉnh cả thế giới về thực trạng này. Chỉ có một con đường duy nhất để đi tới mà thôi: ta phải có một tâm thức và trái tim tương tức. Thực tập chánh niệm, nói năng nhẹ nhàng, nhìn và lắng nghe sâu như một tăng thân sẽ giúp chúng ta đạt tới vô phân biệt trí.

Chùa Cam Lộ, xóm Hạ, ngày 20.12.2020

 

Giải thích buông dần triêng gióng

Thanh khí tương ứng tương cầu

Thương yêu sâu thẳm trong tâm

Sau 52 năm tu học, từ năm 1966 em Chung vào chùa, 1969 được thọ giới Sadi, 1973 thọ giới Tỳ kheo, pháp tự là Giác Viên, con đã có một năng lượng thúc đẩy làm sao để biết áp dụng giáo pháp qua các sinh hoạt. Mãi đến 1994, con qua Làng mới được tu với tăng thân nhiều xóm, nhất là nhờ Thầy (Làng Mai) khéo léo, nhẹ nhàng đầy kiên nhẫn và lời lẽ sâu sắc rõ ràng, biểu hiện sự sống của tuệ giác chân thực nơi Thầy, đã in sâu nhiều ấn tượng vào thân tâm, giúp con cảm nhận được rằng, con đang nhờ ân đức của Tổ tiên huyết thống tâm linh, khí thiêng của non nước Lạc Hồng đã un đúc cho con thêm, cái chất “Thương” đã có từ lúc học lớp 6 và lớn theo năm tháng.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho

Thương yêu trải khắp không thời

Ân đức đó cho con, lúc ở nhà nhờ tình thương bao la, phẩm chất tháo vát của mẹ, nhờ quý thầy dạy cho học từ lớp bình dân nơi thôn xóm, thầy cô cấp1, cấp2, lại nhờ bạn bè đầy ắp tình nghĩa chân quê un đúc. Lúc mới vào chùa, con nhờ nương náu quý Thầy, nhất là sư ôn Trú trì, nhờ các điệu tác động, nhờ đạo hữu mến Thầy giúp điệu hết lòng mà tạo dựng, tác thành cho con.

Sau Mậu Thân (1968) con đã có cơ may rất lớn là sư ôn Trú trì đã ân cần căn dặn rằng: thầy mà sắp ra đây làm chánh đại diện là đệ tử của ôn, điệu mặc áo lên xin thầy nương tựa. Thế là Thầy mới ra hôm trước, ngày sau con liền mặc áo, lên xin như lời sư ôn dạy. Thầy hoan hỷ chấp nhận. Thầy có lối giáo dục bằng sự sống hằng ngày của Thầy. Con cảm nhận Thầy có tâm bao dung độ lượng, sống nghiêm túc, tận tụy về mọi lĩnh vực. Thầy đã chu đáo lo cho tăng chúng, cho đệ tử, đến đạo hữu, và khéo léo kiện toàn từng bước về tổ chức giáo hội tỉnh nhà, đến các khuôn hội, nhất là ở những vùng xa xôi, những nơi đời sống dân chúng thường gánh chịu nhiều thiên tai khắc nghiệt, nghèo đói, thiếu cơm áo quanh năm, song rất giàu tình đạo, nghĩa Thầy. Lâu ngày, người Quảng Trị gọi Thầy là “Cha”.

Thương yêu bảo hộ quê hương

Thầy chăm sóc chu đáo đoàn tác viên của Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội như chú Phúc, chú Đính, chú Hà, anh Tuấn và một sư cô người miền Nam.

Các tác viên trẻ này đang cùng dân chúng xây dựng các làng kiểu mẫu về các mặt giáo dục, y tế, kinh tế. Nội dung xây dựng là đánh thức và nuôi lớn tâm chủ động vươn lên để thoát sự trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp, hay buông xuôi bất lực giữa xu thế vọng ngoại, cùng lúc ấy chiến tranh mỗi ngày mỗi tàn phá khốc liệt khắp nơi. Thầy đang tiếp sức với trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội để cùng nhau xây dựng hướng đi độc lập tự chủ cho quê hương, một hướng đi nhân bản, đậm đà văn hóa Văn Lang. Đây là nền tảng của đạo Phật ở giữa cuộc đời và đó cũng là sự vận hành đổi thay tất yếu, song rất bền vững chất sống của dân tộc Việt Nam.

Thương yêu con cháu trưởng thành

Thầy sống rất tình nghĩa mà hết lòng. Con học nhìn, nghe, cảm, thấm năng lượng thân giáo đầy kiên nhẫn, sâu sắc bền bỉ quý hiếm ấy nơi Thầy qua năm tháng. Thầy chú trọng sự hành trì tu tập, gìn giữ thời khóa công phu nghiêm mật, nhưng đời sống thì rất nông thôn chất phác, từ y phục, lời nói,… cái chất quê ấy là vốn liếng lâu đời của Quảng Trị quanh năm thiếu áo thiếu cơm ai cũng phải “khéo ăn mới no, khéo co mới ấm”.

Nhờ thế có lúc việc chùa, việc học ở trường Bồ Đề, khiến con có một thời gian đau đầu đến mức không nói chuyện tiếp xúc với ai, và không thể học hành bình thường được nữa, con lại may mắn có bác sĩ Hoán, cũng là hiệu trưởng trường Bồ Đề Quảng Trị cho thuốc uống. Cái thâm tình của Thầy, của cuộc sống đã tiếp sức cho con vượt qua một cách tự nhiên dễ dàng hơn.

Những nơi đào tạo tăng tài

Sau khi cho con thọ giới Sadi ở Tổ đình Tây Thiên, Huế vào năm 1969 với pháp tự Giác Viên. Cuối năm đó, Thầy cho con vào Báo Quốc Huế tiếp tục tu học. Con học lớp 11 ở Tư thục Bồ Đề, và học Di Đà sớ sao với Hòa thượng Thiện Hạnh, luật Sadi trường hàng với Hòa thượng Đức Phương. Con thu xếp để có thời gian làm sạch cỏ gấu (cỏ cú) ở vườn cam cạnh nhà bếp của chùa Báo Quốc. Con dần dần bớt bệnh. Dịp này, con thỉnh thoảng lên hầu thăm Sư ông Kim Tiên.

Cuối năm 1970 Thầy gởi con vào Phật Học viện Hải Đức Nha trang học Trung đẳng chuyên khoa II. Con phải dự thính một năm mới đỗ vào chính thức, vì chưa học sơ đẳng Phật học. Năm 1973 con còn được Phật Học viện cho thọ giới Tỳ kheo và Bồ tát xuất gia. Cuối năm 1974, tốt nghiệp Trung đẳng chuyên khoa, con được dự lễ khai giảng lớp cao đẳng do Hòa thượng Từ Đàm làm hiệu trưởng. Đầu năm 1975, lớp cao đẳng gián đoạn, chỉ học gia giáo tại Phật Học viện với chư Tôn đức. Con lại được tham dự lớp dịch Trung A hàm, gồm có 10 huynh đệ, do thầy Tuệ Sỹ trực tiếp cố vấn.

Vào Cam Ranh

Cũng trong thời gian này, với sự chấp thuận của Giáo hội tỉnh Khánh Hòa do Hòa thượng Thiện Bình làm chánh đại diện, con được Phật Học viện cử vào trông coi chùa Từ Đức, thôn Quảng Đức. Nơi đây có 300 hộ dân Quảng Trị vào định cư tránh bom đạn đã mấy năm rồi.

Mẹ con bán nhà, đất, rồi vào chùa ăn chay niệm Phật, thỉnh chuông đại hồng và chăm sóc bữa ăn cho con, đứa con duy nhất còn lại nhờ nương náu thiền môn mới còn tồn tại. Anh con đã chết năm 1974 tại bệnh viện Mang Cá Huế. Thay mặt gia đình, con chủ động mai táng anh con. Ra ở Mang Cá con bị cảm, sư Như Minh cho đệ tử giúp đem thức ăn thức uống, thuốc men. Con nhớ ân ấy thường thăm hỏi Sư qua những lá thư, nên đó là dịp con được Sư xin cho qua Làng tu học.

Ở chùa Từ Đức, con và mẹ hôm sớm có nhau rất đầm ấm như khoảng 30 năm trước ở trọ nhà bác ngoài quê. Hai mẹ con cùng xay lúa làm gạo đem bán ở chợ Chùa làng Lưỡng Kim.

Ở Chùa Từ Đức

Phẩm chất của một ngôi chùa

Đất chùa rộng hơn 2 héc-ta. Đạo hữu phát tâm công quả trồng khoai mì, khoai lang, bắp, lúa gieo… Nhờ thế, kinh tế chùa đầy đủ sung túc hơn bất cứ hộ gia đình nào nơi này. Lúc ấy, đạo hữu rất bận việc mưu sinh, tối còn đi họp để nghe cán bộ phổ biến nhiều tin cần thiết, nhưng đạo hữu đi chùa đều đặn, đông đúc, nhờ cái tâm tín mộ Phật sâu sắc ở ngoài quê Quảng Trị lâu đời. Con thương đạo hữu nên đêm đêm con trao đổi một vài nét giáo pháp thuộc chánh tín, duyên khởi, nhân quả, vô ngã, vô thường. Kinh Pháp cú trong tạng Nikaya là kinh con thường sử dụng vào các buổi chia sẻ ấy. Con viết Pháp cú lên vách ván của chùa cho mọi người học. Con dùng Pháp cú để lạy sám hối thay nghi lạy Hồng danh. Con lại sử dụng Pháp cú và Nikaya tóm tắt vào cả thời khóa ở chùa, thay vì trì tụng Lăng nghiêm, Thập chú, Mông sơn,… chùa chỉ tụng Tâm kinh Bát nhã. Những lúc cầu an, cầu siêu, đám tang… con đều vận dụng lối hành trì như thế.

Thời gian này, những giáo lý đã học bốn năm ở Phật Học viện Nha Trang trước đây giúp con rất nhiều. Con triển khai rộng hơn tinh thần ấy vào các ngày 30, 14, và lễ lớn tại chánh điện.

Tu là yêu nước thương nòi

Những lúc dự họp ở ủy ban xã hay hội trường Mặt trận tổ quốc huyện, khi nào được gọi phát biểu trước các cán bộ, quý thầy, quý linh mục, mục sư, chức sắc Cao đài, Phật giáo Hòa hảo, các nữ tu Thiên chúa và các trưởng ban hộ tự nơi chưa có trú trì, thì con cũng vận dụng tinh thần nội dung giáo pháp ấy vào. Con dùng cách chia sẻ sao cho thích ứng với những gì cán bộ vừa phổ biến. Con diễn đạt không mang tính tôn giáo, chỉ mang tính xã hội có lợi ích chung mà mọi người trong hội trường dù địa vị rất khác nhau vẫn có thể chấp nhận một cách tự nhiên. Phát biểu về luật pháp, kinh tế, văn hóa, an ninh, từ thiện hay mê tín và không mê tín tùy theo yêu cầu… Mỗi lần phát biểu như thế con thấy có an lạc, thêm niềm tin chánh pháp, rằng chánh pháp đã cho con cảm nhận sao đó mà có thể góp một phần dù rất nhỏ, để xây dựng cuộc sống chung. Tuệ giác là chánh pháp rất thiết thực, rất sung mãn.

Mỗi lần cần tiếp xúc riêng với cán bộ, công an, con cũng nhờ tinh thần ấy mà dần dần tạo được sự thân tình, cởi mở, như là sự đàm đạo đậm sắc tình bạn cùng chung xây dựng quê hương đất Việt. Sự xây dựng thích ứng với tình hình trong xã, trong huyện sao cho ngày càng tốt đẹp hơn. Con thấy rất vui khi sống với nhau, dù ở đâu cũng thắm thiết tình người, tình đồng bào ruột thịt.

Biết mình phát khởi ưu tâm

Tuy có hạnh phúc nhiều mặt như vậy ngay sau 1975, nhưng trong sâu thẳm, con vẫn tự thấy mình chưa thực sự có cái thấy rõ ràng về phương cách thực tập hằng ngày. Con luôn nuôi khát vọng và lưu tâm học hỏi để tìm ra và hy vọng một ngày nào đó sẽ thấy được.

Ngày mẹ qua đời

Mười ba năm sau, mẹ mất ngày 28 tháng 9 năm Mậu Thìn (1988). Năm giờ chiều mẹ không ăn, người thở rất yên, không thấy có gì là đau đớn, như người nằm ngủ. Thở mũi rồi thở miệng và hết thở lúc tám giờ tối. Con ở bên mẹ, giữ yên lặng. Có bác Cát, chị Tâm ở Tân Thành, người phát tâm giúp mẹ việc ăn uống, tắm rửa vào thời gian cuối đời và vài đạo hữu địa phương.

 

 

Đám tang lợi lạc cho nhau

Một đám tang hướng về sự yên tĩnh tối đa. Không chiêng trống nhạc theo tập quán. Chỉ trang trí các câu Pháp cú về vô thường, vô ngã, duyên khởi. Không thỉnh mời, báo tin. Mọi người đến là Phật tử, bà con tại địa phương rỉ tai nhau. Có 17 chư Tôn đức tăng ni ở trong tỉnh, Phật tử Nha Trang như chị Sáu, chị Kỳ vào tham dự một xe ca. Có hai linh mục Bình và Dụ là người bà con trong họ. Niệm Phật được yểm trợ bằng loa và điện là bình ắc quy đặt trên xe quan tài đẩy đi. Mỗi người cầm một nén hương. Một đoàn người lặng lẽ từ chùa ra nghĩa trang khoảng một cây số, chỉ có tiếng loa niệm Phật rõ ràng vang xa trong không khí yên tĩnh của buổi sáng miền quê. Tối 30 con chia sẻ, sáng ngày mồng Một di quan. Nội dung chia sẻ về hiếu qua giáo lý Phật dạy. Con lưu tâm rất nhiều là trong tang lễ làm sao đem được an lạc đến cho người còn sống, người tham dự đều biết rõ giáo lý ấy để linh động áp dụng vào cuộc sống hằng ngày. Mọi người còn được hướng dẫn lưu ý tối đa về việc bảo vệ môi trường: không xả rác, thức ăn uống trong tang lễ hoàn toàn chay tịnh, đạm bạc, thiên nhiên và đầy đủ, trang trí giản đơn từ chánh điện đến bàn linh… Như vậy tang lễ không chỉ thuần túy là đau buồn ủ rũ, mà cần biến niềm đau ấy thành chất liệu nuôi dưỡng cả người chết lẫn người còn sống và cuộc đời hiện tại. Từ ấy, các tuần thất, giỗ, nhất là sau năm 1996 thì cúng giỗ hàng năm trở thành ngày quán niệm đều mang tinh thần ấy. Các vị tham dự ngày quán niệm đều là do lòng thương tưởng và muốn tu mà đến. Số người tham dự càng ngày càng đông, càng ngày càng đi vào nội dung thực tập chánh niệm, như con hằng ngày mong ước. Mộ mẹ thật đơn giản, có câu đối:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Anh Tuấn cùng xóm giúp khắc chữ lên tấm xi măng cốt thép đính vào vách mộ bằng đá chẻ hình chữ nhật, được xây xong vài ngày sau đó.

Tiền phúng điếu quý bác ban hộ tự tiếp nhận và chi tiêu. Số vàng mẹ bán đất và nhà còn nguyên, con trao lại cho ban hộ tự sửa chánh điện, con chỉ xin một chỉ mua năng lượng mặt trời sạc bình ắc quy do hợp tác xã thanh lý.

Năng lượng duyên khởi, năng lượng “thương” hồi bé đã cho con cái hướng để hành xử qua sự tiếp nhận những thực tế bấy lâu trong chùa cũng như ở xã hội. Con đã học hỏi và chắt lọc để hình thành.

Biết ơn là được bảo hộ

Năm 1994 con được qua Làng tu học với Thầy Làng Mai và tăng thân, một phần nhờ vào những bức thư thăm viếng vì nhớ ơn sư Tây Linh qua đám tang anh con năm 1974 góp phần vào. Quả là còn biết ơn là còn hạnh phúc mà con được học sau này ở Làng.

Có được tuổi thơ

Nguồn mạch thiêng liêng

Giờ đây, từ lúc vào chùa cho đến 2019, trải qua 52 năm tu học, con mới cảm nhận được rằng, chúng ta có thể có tuổi thơ bất cứ lúc nào trước mọi thăng trầm của cuộc sống. Tuổi thơ rất đẹp này chưa hẳn chỉ thuần túy nhờ vào sự tu học của bản thân, mà còn rất cần nhờ vào năng lượng chở che của mạch sống huyết thống và tâm linh vô thỉ vô chung. Mạch sống này trôi chảy qua mọi ngõ ngách sinh tồn và tiếp nối không ngừng.

Trôi chảy mãi là sự vắng mặt ý niệm vĩnh hằng và đoạn diệt, ý niệm có và không. Chính năng lượng ấy giúp con hình thành cái nhìn tươi sáng trong mọi biểu hiện và ẩn tàng của sự sống giữa trần gian. Cho nên mỗi lần con chợt nhớ đến chiếc áo chữ “Thương” là như có mẹ, có Thầy…, có nguồn mạch của hồn thiêng sông núi đã qua mấy ngàn năm lịch sử. Trên đây là cái nhìn tương tức, chính là cái nhìn của tuổi thơ có được từ lúc còn chú bé cho tới bây giờ. Bây giờ mà rõ nhất là tháng 8 năm 2018 tại Pak Chong, Thái Lan.

Hồi tưởng làm giàu hiện tại

Nay hồi tưởng lại các cơ duyên may mắn có được thì sự may mắn ấy con đã nhận từ vô lượng ân nghĩa, song ở đây con chỉ xin điểm lại những mốc chính mà thôi. Con có một gia đình nhà quê, đầy tình làng nghĩa xóm. Con có mẹ là người giàu năng lượng kiên trì tháo vát giữa những cuộc chiến thảm khốc, trong lúc gia đình chẳng có nhà cửa vốn liếng gì cả mà mẹ vẫn nuôi hai anh em con ăn học đầy đủ. Cho đến lúc vào chùa Tỉnh Hội Quảng Trị, con được sống với quý thầy và tám điệu. Rồi lại gặp được Bổn sư, Thầy đã ân cần giáo huấn từ thuở ban đầu. Sau đó được Thầy cho phép vào sống ở Phật Học viện Báo Quốc, rồi vào Nha Trang. Tại Phật Học viện này bốn năm, với sự giáo dục tận tụy của chư Tôn đức. Đặt biệt ở Nha Trang, Hòa thượng Từ Đàm làm Giáo thọ trưởng, thầy Đổng Minh làm giám học, lại được sự yểm trợ hết lòng của ôn Giám viện Già Lam và Hải Đức nên sự học hành của huynh đệ chúng con về mặt tổ chức rất nghiêm túc và có căn bản ý niệm giáo pháp. Vốn liếng bốn năm học giáo lý ấy giúp con sống vững hơn trong môi trường Từ Đức vào năm 1975. Ở Từ Đức, đạo hữu ban đầu phần lớn người quê Quảng Trị giàu tâm đạo, đã yểm trợ hộ trì đúng mức. Nhờ thế, con đã linh động ứng dụng giáo pháp trong nghi lễ và trong hành trì. Con đã chuyên tâm đi về hướng cùng đạo hữu nắm tay nhau trao đổi ứng dụng giáo pháp vào cuộc sống, lúc ấy tuy đang còn thiếu thốn mọi bề, song mọi người vẫn thực hiện được và chưa bao giờ gián đoạn suốt hơn 45 năm qua.

Đó là sự lưu nhuận đổi thay đi lên của tuổi thơ tươi sáng dần dần đầy ân nghĩa thâm sâu của vô lượng nhân duyên đã nuôi dưỡng thân tâm con.

Nỗi khổ dưỡng nuôi

Tuy vậy, do chưa biết thở, biết đi chánh niệm từng giây phút, nên khổ đau vẫn trỗi dậy, có lúc âm ỉ, có lúc bùng phát đến mức như thiêu đốt tâm can của con.

Nỗi đau này lưu lại bao vết thương sâu nặng trong con, nhưng lại là động cơ thúc đẩy con tu học như một chú điệu nhà quê mới vào chùa từ khi được qua Làng năm 1994.

Qua Làng tu học

Ở Làng, cũng học duyên khởi, tứ niệm xứ, quán niệm hơi thở, vô ngã, vô thường, tương tức như ở Việt Nam. Song Thầy Mai Thôn dạy rất kỹ, rất nhiều lần. Thầy có cách trình bày khéo léo, với ngôn ngữ tươi mới, nhẹ nhàng, sâu lắng. Thầy nhấn mạnh nội dung tương tức ở nhiều lãnh vực: giáo pháp, thân và tâm, con người với con người, con người với sinh môi. Thầy trình bày rõ ràng, khúc chiết cách áp dụng nội dung ấy vào mọi sinh hoạt hằng ngày: “Giác ngộ không rời khỏi rửa bát, lặt rau”.

Nhờ cách giáo dục ấy, lại nhờ tuổi thơ quá khứ giúp con nhận ra, biết cách thực tập từ từ, khiến thân tâm con thanh thản, mỗi ngày mỗi sáng tỏ điều mơ ước lưu tâm trước đây. Đây là tuổi thơ trong sáng lành đẹp nơi con nhờ thừa tự chánh pháp chân truyền.

 

 

Về lại Việt Nam

Sau hơn 2 năm 3 tháng (27 tháng ở Pháp) con trở lại quê hương vào năm 1996. Đến Tân Sơn Nhất, con được mời vào trạm an ninh, lập biên bản, an ninh tạm giữ hộ chiếu.

Trong lúc làm việc, con thấy an tĩnh, có niềm vui tự nhiên phát khởi. Hai ngày sau đúng hẹn, con đem hồ sơ được ký ở Việt Nam cho phép đi Pháp và bản tường thuật đã làm gì, đi đâu ở bên đó, nộp cho an ninh.

Sau khi nghiên cứu, vị công an hỏi con rằng tại sao đi trễ quá lâu? Tại sao cho qua Pháp mà đi Đức, Hoà Lan, Thuỵ Sĩ?

Con trả lời tự nhiên. Có sao nói vậy. Rất thật lòng, nên thấy người con rất thanh thản.

Anh công an mới nói “tôi làm việc này là để bảo vệ người dân trong nước cũng như đi ra nước ngoài”. Nghe vậy, con càng vui hơn, con liền kể cho anh ấy nghe về sự chia sẻ của con ở Làng với nội dung cái lạy làm phát khởi lòng biết ơn tổ tiên đất nước đã bao đời ra sức lập quốc và xây dựng nếp sống ngày một tươi đẹp. Nghe xong, anh ấy nói rằng tôi mong có những người đi ra nước ngoài có tâm như thầy. Anh trao cho con giấy bút, gợi ý cho con viết cảm tưởng sau mấy ngày làm việc. Con đã viết: “Cách làm việc trao đổi của anh đã khích lệ tôi rất nhiều cho việc tu học và xây dựng cuộc sống chung ở quê nhà”.

Con đi xe hơi về Từ Đức, đến chùa đã chiều tối. Đạo hữu đã đông đủ đón chờ. Ai cũng vui. Con chào hỏi tất cả, con cũng rất vui. Vào lễ Phật xong, con xin phép đi tắm rồi ra tiếp xúc với mọi người. Con chia sẻ tổng quát việc tu học trong thời gian ở Pháp và nói một ví dụ chi tiết, đó là thiền hành, giúp cho thân tâm nhẹ nhàng an lạc, lại lưu thông khí huyết, dễ chịu mà tránh được buồn ngủ. Rồi cùng đạo hữu đi thiền quanh chùa, yên tĩnh, mát mẻ.

Từ đó, đêm nào đạo hữu cũng đến làm lễ, đi thiền hành và nghe chia sẻ từ từ về thiền ngồi, thiền lạy, tụng kinh, ăn cơm, làm việc kết hợp với hơi thở có ý thức.

Con rất vui, vì được sống ở miền quê thôn dã cùng với bà con chất phác, chăm làm chăm tu. Hoa trái từ Tân Sơn Nhất theo đó mà lớn lên, vì việc làm lời nói đều hướng về sự thật, rất thực tế, chuyển hoá và trị liệu thân tâm và cộng đồng. Cho đến hôm nay sự chia sẻ thực tập có niềm vui ấy mỗi ngày mỗi phát triển, và lan rộng nhiều nơi vì nhờ có tăng thân khắp chốn.

An Bằng Việt Nam

Bây giờ đi tắm biển, bất chợt thấy đòn gánh mà con liền chấn động. Đó là sự biểu hiện của tuổi thơ mang hướng tương nhiếp tương dung ấy. Từ lâu, sự lưu nhuận của năng lượng mọi cái là nhau, biểu hiện qua chất thương trên chiếc áo nông dân thuở bé, con lại có thêm nhiều cơ may được tưới tẩm liên tục từ thuở vào chùa cho đến lúc qua Làng, mà thời điểm rõ nhất là vào tháng 8 năm 2018, con đã trình bày điều ấy ở bài pháp thoại tổng kết 52 năm tu học vào mùa an cư năm 2018. Câu 41 đến câu 44 ở bài Buông dần triêng gióng con đã viết:

Con tiếp tuệ tương tức

Đường hiếu vẫn mở tung

Con lắng là mẹ lắng

Mạch tiên tổ gia phong

Cái nhìn tương tức là sinh khí biến đòn gánh cũ trở thành một pháp ngữ, nuôi lớn sơ tâm đứa con của mẹ mỗi ngày. Sinh khí ấy là cái tâm thiết tha xây dựng cuộc sống bây giờ ở đây nơi tự thân, nơi huynh đệ, nơi tăng thân, nơi gia đình huyết thống, nơi đất nước và sinh môi theo hướng vô ngã, vô thường, niết bàn.

Hiện Pháp giúp mẹ nuôi con

Hồi tưởng về mẹ là con tiếp xúc với niềm thương ấy lúc mẹ còn sống cũng như lúc mẹ qua đời, trong giây phút hiện tại ở thân tâm con, đứa con của mẹ và ở cuộc sống này. Cuộc sống này cũng là mẹ và con:

Trông xác vữa mẹ già chết để lại

Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi

Nhờ thế mà sự đầu tư của con thường dồn về giáo pháp dấn thân ngay tại đây. Năng lượng ấy phát khởi nuôi dưỡng con và lớn dần theo năm tháng. Chân trời mầu nhiệm của sự sống hé mở, giúp con ý thức rằng con đang mãi mãi chỉ mới bước được một bước đầu tiên rất khiêm tốn trước sự thật vô ngã vô thường vô lượng vô biên. Ý thức như vậy, giúp con càng cẩn trọng trong từng bước khám phá qua bước chân hơi thở mỗi ngày:

Hơi thở đơn thuần đường thoát khổ

Bước chân địa xúc nẻo giáng trần

Trân quý hai cõi âm dương

Đời con bao phen chìm nổi do sự u mê sâu dày của bản thân, nay một bước khiêm tốn này đã là vô cùng quý báu, con cần hết lòng trân quý mới có sự tiếp tục đi tới.

Có thêm duyên để sống mà tiếp tục thì rất tốt, nếu duyên đến phải chết, thì bước đi hôm nay sẽ che chở bảo hộ cho con. Đó là niềm tin của con đối với Bụt, Tổ, Thầy và huynh đệ gần xa mãi mãi giúp con khám phá không ngừng.

Do vậy, có được 52 năm tu học là một may mắn cho con thừa hưởng thâm ân của Tam Bảo.

Tương tức thực tại nhiệm mầu

Trong mạch sống huyết thống, tâm linh vô lượng, mọi hiện hữu đều là mẹ, là Thầy, là huynh đệ của con.

Ân Thầy hôm sớm đệ huynh
Càn khôn tỏa rạng khai thông suối nguồn.

Quả thực như Thầy đã dạy:

“Cuộc đời như một ảo ảnh, một giấc mộng hay một thực tại nhiệm mầu, điều đó hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn, tùy thuộc nơi sự tỉnh thức của bạn”.

(Trích Trái tim mặt trời- Sư Ông Làng Mai)

Hiện pháp đắc an tịnh cư

Ngày 08 tháng 8 năm 2019 (Kỷ Hợi)

 

 

Buông dần triêng gióng (1)

Thầy Thủ tọa Thích Giác Viên

   1.

Con nhặt đòn gánh cũ

Nơi để rác bên đường

Do chợt nhớ về mẹ

Lòng thương cảm kính thương

 

5.     

Ngày con còn lớp sáu

Chiến tranh ngập máu xương.

Chết sau lưng trước mặt

Say ngủ thở bình yên

 

10. 

Pháo đâu xuyên thủng mái

Nổ già trẻ chịu chung

Đớn đau khô suối lệ

Kêu trời ngoài hay trong?

 

15.   

Nguồn lực nào xui khiến

Con may áo nông dân 

Bao mì đà hết bột

Tự thêu một chữ thương

Mỗi lần mặc áo ấy

Lòng nhẹ nhõm lạ thường

 

20.  

Muốn xuất gia xin mẹ.

Không do dự vấn vương

Ngàn lần con chẳng muốn

Khoác súng ra chiến trường

 

25. 

Mẹ nhìn con lâu lắm

Với đôi mắt tỏ tường 

Một cái nhìn sâu thẳm

Sâu hơn lòng đại dương

Không hề lộ dấu hiệu

Lệ đang nhỏ vào tim

 

30.

Ở chùa con nhớ mẹ 

Xin mẹ chớ vào thăm

Con hình dung nỗi khổ

Đôi quang gánh trĩu vai

Quãng đường dài sỏi đỏ

Lửa lựu đẫm nắng nung

 

35.

Mắt con thành suối lệ

Lệ mẹ đã tuôn dòng

Năm (mươi) hai năm tu tập

Sóng cồn lắng tâm trong

Mẹ hiền con quá vãng (1988)

 

40.

Đã trên ba mươi năm

Con tiếp tuệ tương tức

Đường hiếu vẫn mở tung

Con lắng là mẹ lắng

Mạch tiên tổ gia phong

 

45.

Nay nhìn đòn gánh cũ

Con mẹ lớn sơ tâm

Nguyện chí thành phụng hiến

Sống nếp sống bỏ buông.(2)

 

Ân thầy hôm sớm đệ huynh

Càn khôn tỏa rạng suối nguồn khai thông

 

                                              Hiện pháp đắc an tịnh cư

                                   An Bằng, ngày 16 tháng 05 năm 2019

 

(1) Triêng gióng: Gióng là chiếc quang nhỏ bằng tre hay mây. Gióng là quang, triêng là đòn gánh thường được làm bằng tre. Triêng gióng (quang gánh) là dụng cụ thường dùng của dân tộc Việt Nam, nhất là nông thôn.

Cụ Phan Bội Châu có câu thơ: Một triêng đủng đỉnh hai đầu thúng

(2) Bỏ  buông: câu đối ở mộ mẹ 1988:

                                                                               Trông xác vữa mẹ già chết để lại
                                                                             Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi.

.

   

Nụ cười

(Lời Việt: Sư cô Chân Không dựa theo bài hát Pháp Je souris à l’étoile)

 

Thương tặng các em tôi đã đi cứu trợ lũ lụt

Cười cùng vầng trăng đang lấp lánh trên cao

Cười cùng vầng đông đưa ta ra khỏi đêm sâu

Cười cùng ngày mới đang lên,

cùng tiếng chim lao xao.

Thế gian đang mỉm cười với ta,

ta cũng vui theo.

 

Cười cùng em thơ đang bơ vơ chẳng có ăn

Mười ngày trôi qua mưa tuôn, gạo cơm hết đã lâu.

Buồng chuối sạch từ lâu, nồi sắn cũng cạn khô

Thức ăn chẳng có gì, gạo muối cũng không còn

 

Lòng thầm cầu mong

Ấp dưới có chút cơm

Nhưng nghe: đường cùng sạt luôn,

xe cấp cứu khó lái lên.

 

Người cứu không thể nào lên.

Chỉ còn cách lên núi mà đi,

Gặp sạt lở ráng tránh kiếm lối đi

Nguy hiểm cũng cứ đi…

Ô kìa ruộng lúa còn đâu…

chỉ thấy cả biển khơi

Xà lách, cải làm dưa, hành,

tỏi bán Tết cũng mất tăm…

Ôi, tất cả đã thành mưa,

 

Ngồi mênh mông giữa xóm thôn nhưng như đang giữa biển khơi.

Hồi nào, mới hôm qua là làng xóm ngát tiếng trẻ thơ

Nay sao chỉ thấy biển mù giăng, đường sá mất biệt tăm?

Ôi thế gian đang nghĩ gì khi mưa, gió bão tung hoành

 

Lòng thầm niệm luôn Bồ tát Quán Thế Âm

Chỉ xin một mình con cực khổ đến thế thôi

Bồ tát… ôi… giang tay, và giúp các xóm xa

 

Thế gian đang rất cần nhiều nắng sau cơn mưa…

Rồi một ngày kia khi giá buốt tỏa khắp nơi

Đừng tìm tôi, bạn ơi, không tìm ra,

hình bóng của tôi đâu

Hãy thấy tôi là mưa,

là cả vũ trụ trong vòng tay.

Tôi vẫn múa ca suốt đời cuộc sống nhiệm mầu

 

Rồi một ngày kia có cháu bé mới sinh

Nhoẻn nụ cười yêu, em ôm hết cả thế gian

Rồi bé sẽ ngọt ngào hơn, và bé hát ca luôn

Bé cứ đi, mãi hoài,

múa ca trên sông núi đất Mẹ.

 

Thư cảm ơn

Chương trình Hiểu & Thương năm 2020

Sư cô Chân Không

Kính thưa quý đạo hữu và ân nhân,
Lại một năm nữa trôi qua với nhiều sự kiện và biến cố xảy ra trên thế giới và trên quê hương thân yêu của chúng ta. Bà con đồng bào, nhất là những người sống ở vùng núi, vùng sâu, vùng xa, vừa phải đối diện với đói nghèo, cơ cực, vừa phải chống chọi với đại dịch Covid và bão lụt. Chương trình Hiểu và Thương với sự yểm trợ của quý đạo hữu và ân nhân tiếp tục góp một phần nhỏ của mình để đem những giọt nước từ bi thanh lương đến với đồng bào.

 

 

Chương trình Hiểu và Thương xin chân thành tri ân những bàn tay từ bi, lân mẫn và tấm lòng của quý đạo hữu và ân nhân, thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Chương trình sẽ không thể nào tiếp tục nếu không có những yểm trợ quý báu này.

Kính chúc quý đạo hữu và ân nhân cũng như quý cô bác, anh chị và gia quyến một năm mới an lành và hạnh phúc.

Báo cáo cứu trợ lũ lụt

Từ ngày 8 tháng 10, mình đi cứu lụt quá sức là nhiều ở ngay thành nội, thành phố Huế. Nhiều chỗ ngập lút đầu nên chỉ dám đi ba chuyến quanh ngoại ô Huế gần gần, như Hương Sơ, v.v. Khi đi những nơi xa như Phong Điền, Lương Mai, các sư cô về báo cáo thấy thương và nguy hiểm cho các sư cô lắm. Nhân viên tiếp cứu của nhà nước mà mất tích 13 người, qua ngày sau 22 người mất tích ở Quảng Trị (trong đó có 2 vị tướng). Vậy mà hôm sau ba đoàn đi cứu trợ có quý thầy Từ Minh, Pháp Hương, quý sư cô Như Hiếu, một đoàn đi Quảng Trị, một đoàn đi Phong Điền, Thừa Thiên, rồi hôm sau cũng lại đi Thừa Thiên nhưng ra đảo Ma Nê và Tân Bình. Ôi chao là nguy hiểm! Mới hôm trước là đường đi và ruộng, nay nước lên có cảm tưởng là đi giữa biển nước mênh mông. Những vùng này là thương nhất, người lớn trẻ con đều sống bấp bênh trên nước. Còn nhiều nơi lũ lụt ở Thừa Thiên, còn nhiều nơi lắm, khổ lắm.

 

 

May mắn là mình có gửi đi trực tiếp 100 triệu tiền mặt cho thầy Huyền Diệu (đệ tử Ôn Khế Chơn, Thiên Minh, Huế) ở Phong Điền. 100 triệu nhờ Ni sư Như Minh ở Huế và 100 triệu nhờ Ni sư Diệu Đàm tạm lo giúp Hương Trà, Phú Vang, Phú Lộc.

Nhưng bình tâm mà xét thì lụt và đói nhiều nhất là Phong Điền, Thanh Hà, Quảng Điền, Thành Trung thuộc Thừa Thiên nên Ban Cứu Trợ đã giúp anh em Tiếp Hiện HIỂU & THƯƠNG ở Thừa Thiên lo đi cứu cấp Thành Trung, Thanh Hà (quê bên chị của Sư Ông Làng Mai).

Theo hướng dẫn của thầy Từ Minh, sư cô Chân Không và thầy Từ Hải nhờ thư ký là sư cô Trăng Thương Yêu ghi rõ ràng như sau:

Chương Trình Từ Thiện Hiểu & Thương của Từ Hiếu và Diệu Trạm cứu trợ lũ lụt 2020

1. Trưởng ban cố vấn: Ni trưởng Thích Nữ Chân Không
2. Phó ban cố vấn: Thầy Chân Pháp Ứng, thầy lớn ở xóm Thượng, Làng Mai
3. Ban điều hành: Thầy Từ Hải, thầy Pháp Nhiệm, sư cô Chơn Tâm, sư cô Phát Nghiêm

Thư ký: Sư cô Trăng Thương Yêu

Cứu trợ đợt một

Tại Quảng Bình

Gồm có hai đoàn cứu trợ đi Quảng Bình với 10.000 phần quà.

– Đoàn thứ nhất do thầy Từ Hải, Tổ đình Từ Hiếu hướng dẫn cùng với các sư cô Diệu Trạm.
– Đoàn thứ hai do thầy Pháp Ứng từ xóm Thượng, Làng Mai hướng dẫn cùng với các sư cô Diệu Trạm.

Cả hai đoàn chia nhau leo núi cao đi đến những thôn làng sạt lở phía trên núi Bản Rục, xã Thượng Hóa huyện Minh Hóa, huyện Quảng Ninh, Quảng Trạch, huyện Lệ Thủy rồi Tuyên Hóa, xuống các xã đồng bằng bị lũ lụt. Đoàn cũng niệm Bồ tát Quán Thế Âm, hát những bài tu học thật thấm thía và vui thêm cho đồng bào. Đoàn leo núi thăm viếng từng thôn hẻo lánh bị lấp vùi, thật tận tụy. Nhờ vào tình thương và sự đóng góp tài chánh của các anh chị em cùng khắp năm châu và cả những chùa cùng khắp trên thế giới gửi về tận tay đồng bào các huyện lũ lụt nặng nề nhất Quảng Bình.

 

 

Tại Quảng Trị

Có một đoàn đi Quảng Trị với 10 nghìn phần quà do quý thầy Pháp Hương, Mãn Thành, sư cô Chơn Tâm cùng ba sư cô khác ở Diệu Trạm, cũng leo núi rất hiểm nguy, gởi quà cứu trợ đến các thôn làng. Leo núi cứu trợ rất vất vả, nhất là vùng huyện Đakrông, Hướng Hóa, Quảng Trị.

Tại Thừa Thiêncũng có hai đoàn đi cứu lụt:

–  Đoàn thứ nhất do thầy Pháp Nhiệm, quý sư cô Diệu Trạm cứu trợ 300 phần quà ở A Lưới.

–  Đoàn thứ hai đem 250 phần quà do tăng thân Hiểu và Thương Thừa Thiên gồm anh Lê A, Nguyễn Nam, anh Sum, chị Chân Hỷ Hạnh, chị Cecile Phạm, nhóm Pháp Việt giúp trẻ em mồ côi Việt Nam và vợ chồng chú Minh, con trai út của Bác Em (chị ruột của Sư Ông Làng Mai). Vợ chồng chú ra Huế dự hiệp kỵ ba mẹ Sư Ông tại Diệu Trạm nên cùng được đi phát quà ở Nam Đông Hương Hữu cheo leo, rất vất vả.

 

 

Cứu trợ đợt hai:

Quảng Nam và Quảng Ngãi

Hai đoàn cho Quảng Bình do quý thầy Pháp Ứng và Từ Hải hướng dẫn phát quà, ăn nghỉ tại chỗ luôn 10 ngày nên đa số khá mệt rồi.

Sau hai chuyến đi dài ở Quảng Bình và Quảng Trị, thầy Pháp Ứng vẫn cố gắng đi Quảng Ngãi và Quảng Nam thăm nạn nhân trung tâm bão số 9 tại Quảng Ngãi Thứ Bảy, ngày 7 tháng 11, lúc 4 giờ sáng, vài thầy ở chùa Từ Hiếu và vài sư cô ở ni xá Diệu Trạm sẽ hướng dẫn chuyến đi vì thầy Pháp Ứng, sư cô Chơn Tâm đi Quảng Trị 10 ngày về khá vất vả. Tuy khá mệt nhưng vẫn quyết định đi Quảng Ngãi giúp nhiều ấp thật nghèo ở huyện Mộ Đức và cùng giúp với nhóm chị Cecile Phạm Phi Long cho các thôn trên núi sạt lở ở Nam Giang, Tây Giang. Các sư cô Chơn Tâm, Tại Nghiêm lại đi sau chuyến dài ở Quảng Bình và Quảng Trị.

 

 

 

 

Ở Mộ Đức, Quảng Ngãi, mình chỉ đủ tiền giúp 300 cái nhà hoàn toàn tan nát. Mỗi gia đình 800.000 đồng VN (tương đương khoảng 38 Euro cho xây lại một mái nhà của 7 người trong gia đình mà nóc vách đều không còn). Họ vẫn chưa có điện để dùng, chưa có mùng mền và thức ăn, nhưng chắc cũng sẽ có đoàn cứu trợ khác vì mình đã lỡ hứa đi phát ở Quảng Nam: 400 phần quà, 300 phần thị xã, 400 phần quà ở hai nơi là Cà Dy và Tây Giang.

 

 

13 giờ ngày 7 tháng 11 mới tới Đức Phong, Mộ Đức. Sư cô Chân Không dặn cho thêm 10 gia đình phát sinh mỗi nhà một triệu. Tới nơi hiểu ra mới thấy không đến nỗi nào. Họ có cơm ăn, chỗ tạm trú trong khi chờ đợi cứu trợ.

 

 

Cứu trợ trẻ em nghèo ở vùng núi:

Sư cô Trăng Thương Yêu nói so với Quảng Trị, vùng núi sạt lở, trẻ em đen đủi nghèo xác xơ. Bố mẹ mỗi cháu chỉ cần nộp 10.000 đồng Việt Nam cho bữa ăn trưa lúc 10 giờ 30, bữa lỡ lúc 13 giờ. Các cháu ngủ dậy ăn bữa lỡ, chơi và hát, 15 giờ ăn cháo chiều rồi về nhà ngủ. Nhà nước mời ba mẹ các em cho con đi học để biết chữ, biết mẫu giáo. Ban đầu chương trình Hiểu và Thương tài trợ 10.000 đồng cho bữa ăn sáng cho ba ấp, tất cả là 300 cháu. Người dân tộc thiểu số không quen cho con đi học vì bị mất cánh tay giữ em mà còn đóng tiền ăn tới 10.000 đồng. Nhưng trẻ của ba ấp đầu đều đã được đi học, được uống sữa lúc 13 giờ, ăn củ khoai trước khi về nhà, được cô giáo rửa tay chân, thích quá nên ấp 4, ấp 5, ấp 6 đòi đi học mà không chịu trả tiền. Sư cô Chân Không nói Sư cô không đủ tiền vì đã nuôi nhiều trẻ rồi. Các cô giáo tùy nghi mà sử dụng số tiền 200 đô Mỹ lúc ban đầu Sư cô cho ba lớp đó, thế là họ xài cũng chỉ có 200 mỹ kim cho 6 lớp. Rồi 3 ấp chót của A-vao cũng đòi đi học mà cũng không đủ sức đóng tiền cơm. Vậy là chỉ riêng A-vao mình đã nuôi mỗi tháng 900 em, mỗi em chỉ có 3000 đồng một bữa ăn. Các xã Nam Đông cũng đang kêu gọi chỉ có 3000 đồng VN một ngày cơm cho các cháu. Tóm lại năm 2020, Làng và Maitreya Fonds tài trợ bữa ăn trưa cho 5966 cháu, chỉ có 3000 đồng một cháu mỗi ngày (thay vì 10.000 đồng).

 

 

 

 

Thưa quý thân hữu và ân nhân

Mọi đóng góp cho chương trình Hiểu và Thương, xin gửi về các địa chỉ hoặc tại các ngân hàng như sau:

Tại Việt Nam, miền Trung và Trung Bắc

Tài khoản dưới tên: Cao Thị Mỹ Hà – VIETCOMBANK chi nhánh Hùng Vương Huế TK tiền Việt Nam số 0161001757893
TK tiền Euros số 016114175 8236
TK tiền USD 0161 37 175 8235

SWIFT Code BFTVVNVX 016

Tại Việt Nam, miền Tây Nam

Tài khoản dưới tên: Đỗ Thị Hồng Vân
Số tài khoản: 0421000419439, ngân hàng Vietcombank
chi nhánh Phú Thọ, Tp Hồ Chí Minh E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Số tài khoản: 0421000419439, ngân hàng Vietcombank
chi nhánh Phú Thọ, Tp Hồ Chí Minh E-mail: cxcaonguyen2013@gmail.com

Tại Mỹ

Địa chỉ: Thich Nhat Hanh Foundation
(Chương trình Giọt Nước Cánh Chim – Love and Understanding), Deer Park Monastery
2944 Melru Lane, Escondido CA 92026 USA Email: info@tnhf.org
https://tnhf.org/donate

Tại châu Âu

Địa chỉ: CBZ Village des Pruniers, Banque CREDIT AGRICOLE
IBAN FR76 1330 6003 4242 9011 9901 196 BIC AGRIFRPP833

Tại Đức

Maitreya Fonds e.V. – Spenden-Konto: Munchner Bank e. G.
Konto-Nr.: 2520010 – BLZ: 701 900 00
IBAN: DE 92701900000002520010

BIC: GENODEF 1M01
E-mail: hilfe@maitreya-fonds.de

Tại Hà Lan

Stichting Leven in Aandacht
Dorpsstraat 25, 7221 BN Steenderen, Holland IBAN: NL52INGB0006839039
E-mail: administratie@aandacht.net

Kính mến và tri ân,

Sư Cô Chân Không.

 

Rạng nẻo đường vui

Sư cô Chân Trăng Mây Lành

 

Đường đồi núi quanh co hiểm trở

Nhưng ta thấy ý nguyện thẳng băng

Gửi thiện tâm của mạnh thường quân

Tới bà con đồng bào bão lũ.

 

Dù ngoài kia gió mưa vần vũ

Nhưng trong lòng rực rỡ nắng lên

Nghe trong ta rơi rụng ưu phiền

Vùng đất tâm trời quang mây tạnh.

 

Đây: gạo, chăn, mền, quần áo lạnh

Và tịnh tài, dù một chút thôi

Kèm tình thương làm ấm lòng người

Lân mẫn nhau những khi khốn khó.

 

Nhìn bà con nhận quà hớn hở

Chắp tay hoa bày tỏ biết ơn

Trong ánh mắt vơi bớt nỗi buồn

Niềm vui rạng những ngày mưa lụt.

 

Con cũng chắp tay tri ân Bụt

Và mọi người ở khắp bốn phương

Gieo mầm san sẻ, sống yêu thương

Con đường Bụt ngàn xưa mở lối.

                      (Cảm nhận sau chuyến đi cứu trợ ở Quảng Ngãi)